P. 1
Danh Gia Thuc Trang Moi Truong Kinh Doanh Cua Nganh Cong Nghiep Dien Tu Viet Nam

Danh Gia Thuc Trang Moi Truong Kinh Doanh Cua Nganh Cong Nghiep Dien Tu Viet Nam

|Views: 193|Likes:
Được xuất bản bởiLavie Enrose
thuc trang nganh cong nghiep dien tu viet nam
thuc trang nganh cong nghiep dien tu viet nam

More info:

Published by: Lavie Enrose on Jul 22, 2012
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

07/22/2012

pdf

text

original

Sections

1

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG .............................................................................. 4 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................ 5 LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1 CHƢ ƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ MÔI TRƢỜNG KINH DOANH VÀ MÔI TRƢỜNG KINH DOANH CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ ......................................................................................... 6 1.1. Tổng quan chung về môi trƣờng kinh doanh ........................................ 6 1.1.1. Khái niệm................................................................................................ 6 1.1.2. Các yếu tố cấu thành môi trường kinh doanh...................................... 7 1.1.2.1. Yếu tố kinh tế ........................................................................................ 7 1.1.2.2. Yếu tố thể chế ....................................................................................... 8 1.1.2.3. Yếu tố văn hóa – xã hội ........................................................................ 9 1.1.3. Các chỉ tiêu đánh giá môi trường kinh doanh...................................... 9 1.1.4. Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh ... 10 1.1.4.1. Sự phát triển kinh tế thị trường trong nước ....................................... 10 1.1.4.2. Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ............................... 11 1.1.4.3. Yếu tố khoa học kỹ thuật và công nghệ.............................................. 12 1.2. Tổng quan chung về môi trƣ ờng kinh doanh ngành công nghiệp điện từ ..................................................................................................................... 12 1.2.1.Tổng quan về ngành công nghiệp điện tử ........................................... 12 1.2.1.1. Khái niệm ........................................................................................... 12 1.2.1.2. Đặc điểm ............................................................................................ 13 1.2.2. Tổng quan về môi trường kinh doanh ngành công nghiệp điện tử . 15 1.2.2.1. Khái niệm ........................................................................................... 15 1.2.2.2. Vai trò của môi trường kinh doanh với ngành công nghiệp điện tử.. 16 1.3. Kinh nghiệm một số nƣớc nhằm hoàn thiện môi trƣờng kinh doanh cho ngành công nghiệp điện tử và bài học cho Việt Nam.......................... 17 1.3.1. Thái lan................................................................................................. 17
http://svnckh.com.vn

1

2

1.3.1.1. Khái quát ngành công nghiệp điện tử Thái Lan ................................ 18 1.3.1.2. Những chính sách nhằm hoàn thiện môi trường kinh doanh mà Thái Lan đang sử dụng ............................................................................................ 19 1.3.2. Trung Quốc .......................................................................................... 20 1.3.2.1. Khái quát ngành công nghiệp điện tử Trung Quốc ........................... 20 1.3.2.2. Những chính sách nhằm hoàn thiện môi trường kinh doanh mà Trung Quốc đang sử dụng ......................................................................................... 21 1.3.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam.......................................... 22 CHƢ ƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MÔI TRƢỜNG KINH DOANH CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ VIỆT NAM ........... 24 2.1. Thực trạng ngành công nghiệp điện tử Việt Nam .............................. 24 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển ..................................................... 24 2.1.1.1. Khái quát quá trình phát triển ngành công nghiệp điện tử thế giới .. 24 2.1.1.2. Khái quát quá trình phát triển của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam ................................................................................................................. 25 2.1.2. Thực trạng ngành công nghiệp điện tử Việt Nam ............................. 28 2.1.2.1. Hoạt động sản xuất và lắp ráp.......................................................... 28 2.1.2.2. Hoạt động thương mại xuất nhập khẩu ............................................. 31 2.2. Đánh giá thực trạng môi trƣờng kinh doanh của ngành công nghiệp điện tử ở Việt Nam ........................................................................................ 34 2.2.1. Đánh giá thực trạng môi trường kinh doanh của Việt Nam theo tiêu chuẩn xếp hạng của World Bank .................................................................. 34 2.2.1.1. Thực trạng môi trường kinh doanh của Việt Nam ............................. 35 2.2.1.2. Đánh giá những cải thiện về môi trường kinh doanh Việt Nam ........ 41 2.2.2. Đánh giá thực trạng môi trường kinh doanh ngành công nghiệp điện tử qua mô hình cạnh tranh 5 nguồn lực của Michael Porter ..................... 43 2.2.2.1. Những vấn đề về nguồn cung của ngành CNĐT................................ 43 2.2.2.2. Những vấn đề về nguồn tiêu thụ của ngành CNĐT ........................... 46 2.2.2.3. Nguy cơ từ những công ty sắp gia nhập ............................................ 47
http://svnckh.com.vn

2

3

2.2.2.4. Sản phẩm thay thế .............................................................................. 48 2.2.2.5.Cạnh tranh nội bộ ngành .................................................................... 49 2.3. Đánh giá môi trƣờng kinh doanh của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam................................................................................................................. 51 2.3.1. Những thành tựu đạt được .................................................................. 51 2.3.2. Những khó khăn còn hạn chế ............................................................. 52 CHƢ ƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MÔI TRƢỜNG KINH DOANH NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ VIỆT NAM.................... 55 3.1. Quan điểm và định hướng phát triển................................................... 55 3.1.1. Quan điểm phát triển ........................................................................... 55 3.1.2. Mục tiêu phát triển ............................................................................... 56 3.1.3. Định hướng phát triển ......................................................................... 56 3.2. Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện môi trƣờng kinh doanh của ngành công nghiệp điện tử......................................................... 58 3.2.1. Đối với Chính phủ ................................................................................ 58 3.2.1.1. Hoàn thiện môi trường pháp lý .......................................................... 58 3.2.1.2. Hoàn thiện các chính sách thuế ......................................................... 59 3.2.1.3. Đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng .................................................... 60 3.2.1.4. Thu hút và sử dụng FDI có hiệu quả ................................................. 60 3.2.1.5. Giải pháp nâng cao trình độ khoa học công nghệ............................. 62 3.2.1.6. Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ............................... 62 3.2.1.7. Phát triển ngành công nghiệp phụ trợ ............................................... 63 3.2.2. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành điện tử ................ 65 3.2.2.1. Xây dựng chiến lược phát triển.......................................................... 65 3.2.2.2. Xác định thị trường mục tiêu ............................................................. 66 3.2.2.3. Đào tạo nguồn nhân lực..................................................................... 67 KẾT LUẬN .................................................................................................... 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................... 70

http://svnckh.com.vn

3

4

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Công nghiệp điện tử Thái Lan ........................................................... 22 Bảng 2: Tổng sản lượng ngành công nghiệp điện tử Việt Nam ..................... 31 Bảng 3: Tổng giá trị xuất khẩu hàng điện tử................................................... 31 Bảng 4 : Báo cáo xếp hạng môi trường của WB năm 2008 – (2009)............. 35 Bảng 5: Tình hình thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam ................................. 36 Bảng 6: Tình hình thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam ................................. 38 Bảng 7: Xếp hạng vay vốn một số quốc gia trong khu vực ASEAN ............. 39 Bảng 8 : Những cải thiện gần đây đối với môi trường kinh doanh ................ 42 Bảng 9: Mối quan hệ giữa ngành công nghiệp phụ trợ và lắp ráp hàng điện tử ......................................................................................................................... 44 Bảng 10 :Chỉ số năng lực cạnh tranh ngành CNĐT các nước Đông Á 20002007 ................................................................................................................. 50

http://svnckh.com.vn

4

5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tên thông thƣờng Môi trường kinh doanh Chủ thể kinh tế Kinh tế thị trường Công nghiệp điện tử Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhà nước Công nghệ thông tin Trách nhiệm hữu hạn Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam Business Monitor International Nhập một nửa linh kiện Nhập tất cả các linh kiện Nhập một phần linh kiện BMI SKD CKD IDK MTKD CTKT KTTT CNĐT DN DNNN CNTT TNHH VEIA

Tên viết tắt

http://svnckh.com.vn

5

1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài Bước vào năm 2009, các doanh nghiệp công nghiệp điện tử của Việt Nam đang đối mặt với cả hai khó khăn lớn cùng lúc: cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu mức tối đa theo hiệp định tự do theo ngành (theo cam kết WTO) và cam kết mở cửa thị trường bán lẻ, phân phối. Theo đó, sẽ bãi bỏ trợ cấp với hàng thay thế nhập khẩu, bãi bỏ trợ cấp xuất khẩu, bãi bỏ các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp. Riêng cam kết chung quy định, giảm mức thuế nhập khẩu bình quân của sản phẩm công nghiệp từ 16,1% xuống 12,6% trong vòng 5-7 năm; cắt giảm ngay đối với các mặt hàng đang có thuế suất cao trên 20% và 30%, trong đó gồm nhiều loại máy móc, thiết bị điện, điện tử. Những yếu tố trên sẽ tác động tích cực, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước huy động mọi nguồn lực, thay đổi công nghệ và tăng sức cạnh tranh. Vào ngày 7/8/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 153/2004/QD – TTg ban hành Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam nhằm mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Một trong những ngành sản xuất công nghiệp sẽ chiếm vị trí then chốt đó là công nghiệp điện tử. Tuy nhiên đến thời điểm năm 2010, những đóng góp của ngành công nghiệp điện tử vẫn còn rất nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có. Theo một thống kê từ Bộ Công Thương trong tổng số doanh thu gần 3 tỉ đô la Mỹ do ngành công nghiệp này mang lại, xuất khẩu đạt trên 2 tỉ đô la Mỹ nhưng 95 - 98% doanh thu xuất khẩu thuộc về các doanh nghiệp vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài . Còn các sản phẩm điện tử của Việt Nam dù xuất khẩu với số lượng lớn nhưng giá trị gia tăng lại rất thấp và chỉ đứng ở giai đoạn đầu (gia công, lắp ráp sản phẩm) trong chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu.
1

1

Công nghiệp điện tử Việt Nam: cần tập trung http://haiduongintrade.vn/News/content/viewer.html?a=2302&z=157

đầu

theo

chiều

sâu;

http://svnckh.com.vn

1

2

Trong Hội nghị đánh giá thực trạng công nghiệp điện tử Việt Nam tổ chức ngày 8/6/2009 tại Hà Nội đã nêu lên một hiện thực: Mặc dù luôn đƣ ợc tuyên bố chú trọng quan tâm phát triển, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin, nhƣng chƣ a một lần điện tử Việt Nam có đƣ ợc một chiến lƣợc phát triển toàn diện .
2

Điều này khiến các doanh nghiệp không có một hành lang định hướng phát triển cho mình, không có cơ sở để các cơ quan chức năng duyệt triển khai các dự án. Thậm chí phải chịu những bất hợp lý có nguyên nhân từ sự không đồng nhất về chính sách như khung thuế cho linh kiện và sản phẩm nguyên chiếc của máy tính. Chính những lý do đó cần đòi hỏi phải có sự đánh giá về môi trường kinh doanh của ngành công nghiệp điện tử ở Việt Nam trong thời gian qua. Chỉ trên cơ sở môi trường kinh doanh thuận lợi thì mới xây dựng được chiến lược kinh doanh phù hợp cho các doanh nghiệp. Đó chính là nền tảng cốt lõi, và chỉ khi giải quyết được vấn đề đó thì mới có thể đặt ra niềm tin cho ngành công nghiệp điện tử của Việt Nam sẽ phát triển có định hướng. Tổng hợp các lý do nêu trên, nhóm đề tài quyết định chọn :‟ ‟ Đánh giá thực trạng môi trường kinh doanh của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam’’ làm nội dung nghiên cứu. 3. Tổng quan nghiên cứu Do xác định công nghiệp điện tử là một trong những ngành chiến lược của Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên những kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện ra, do vậy đã có khá nhiều các nghiên cứu của các nhà khoa học nhằm đưa ra một giải pháp để cải thiện vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu hay tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu. Có thể kể đến một số nghiên cứu như sau: Đề tài cấp Bộ của nhóm PGS.TS Nguyễn Hoàng Ánh (ĐH Ngoại Thương) – Nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu (Global value chain) và khả năng tham gia của các doanh nghiệp ngành điện tử của Việt Nam hay LATS kinh tế của Hoàng Thị Hoan (2005) – Nâng cao năng lực

2

Ngành điện tử Việt Nam được ưu tiên nhưng không có chiến lược, http://kysubachkhoa.com/tintuc/nganh - di%E1%BB%87n-t%E1%BB%AD-vn-d%C6%B0%E1%BB%A3c%C6%B0u-tien-nh%C6%B0ng-khongco-chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c/
http://svnckh.com.vn

2

3

cạnh tranh của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Và để một ngành phát triển thì cần phải xây dựng một môi trường kinh doanh thuận lợi, đây là điều kiện tiên quyết ảnh hưởng đến chính sách phát triển một ngành. Trong đó có thế kể đến một số nghiên cứu như sau: GS.TS. Nguyễn Đình Giao (1996 )chủ biên - Phát triển môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp công nghiệp và chế biến thực phẩm hoạt động có hiệu quả’’ hay LATS khoa học kinh tế của Ngô Kim Thanh (2005) – Biện pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước sản xuất hàng tiêu dùng ở Việt Nam. Tuy nhiên cho đến thời điểm này, trong quá trình tìm hiểu nhóm đề tài nhận thấy chưa có đề tài nào nghiên cứu về môi trường kinh doanh của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam. 4. Đối tƣợng và mục tiêu nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp điện tử. Với mục tiêu phân tích và đánh giá thực trạng môi trường kinh doanh của ngành trong thời gian vừa qua nhằm đưa ra những giải pháp góp phần vào nâng cao hiệu quả của ngành công nghiệp điện tử. 5. Phƣ ơng pháp nghiên cứu Thông qua những số liệu từ báo cáo Môi trường Kinh doanh được World Bank (WB) và tập đoàn tài chính IFC, Báo cáo Chỉ số Tự do Kinh tế (IEF) của tổ chức Heritage Foundation và Báo cáo Chỉ số Cạnh tranh Toàn cầu (GCI) của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) kết hợp những số liệu phân tích SWOT về công nghiệp điện tử của Business Monitor International, nhóm đề tài đã tổng hợp và phân tích theo 10 chỉ tiêu chính của WB đưa ra. Do nội dung nghiên cứu về môi trường kinh doanh ngành nên ngoài những yếu tố khách quan tác động từ bên ngoài còn có những yếu tố nội tại ảnh hưởng đến các doanh nghiệp. Vì vậy, phương pháp phân tích được thực hiện một cách phổ biến

http://svnckh.com.vn

3

4

hiện nay là mô hình Five Forces của M. Porter nhắm đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của những doanh nghiệp sản xuất hàng điện tử. Trên cơ sở những khó khăn còn tồn tại, nhóm đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh ngành công nghiệp điện tử.

6.Phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu tổng quan chung về môi trường kinh doanh Việt Nam theo 10 tiêu chí đánh giá của World Bank (WB), bên cạnh việc đánh giá môi trường kinh doanh ngành công nghiệp điện tử theo yếu tố cạnh tranh 5 nguồn lực của Michael Porter. Một trong những nhân tố cũng ảnh hưởng đến MTKD của ngành công nghiệp điện tử chính là các doanh nghiệp hoạt động trong ngành. Tuy nhiên, hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất còn nhỏ lẻ và gặp nhiều khó khăn khi chưa xác định được chiến lược phát triển, do đó những tác động của DN đến MTKD ngành là khá hạn chế. Và chỉ khi hoàn thiện được MTKD quốc gia kết hợp với những chính sách phát triển ngành thì các DN mới có điều kiện để xác định hướng đi cho mình. Do đó, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vào 2 nhân tố ảnh hưởng lớn đó là :MTKD quốc gia và MTKD ngành CNĐT. 7. Kết quả nghiên cứu dự kiến Dựa trên tìm hiểu thực tế về tình hình phát triển của ngành công nghiệp điện tử ở Việt Nam, nhóm đề tài mong muốn đạt được một số kết quả sau : - Đánh giá môi trường kinh doanh của ngành công nghiệp điện tử ở Việt Nam hiện nay ra sao. - Qua những khó khăn còn tồn tại, tìm hiểu lý do để giải thích cho câu hỏi : vì sao một ngành công nghiệp đầy tiềm năng và được đưa ra là một trong những ngành mũi nhọn trong công cuộc xây dựng đất nước lại chưa đạt được kết quả tương xứng.

http://svnckh.com.vn

4

5

- Từ những điều kiện thuận lợi, nhóm tác giả muốn xây dựng một môi trường kinh doanh thuận lợi nhằm cải thiện vị trí của ngành công nghiệp điện tử trong chuỗi giá trị toàn cầu, đồng nghĩa với việc tìm giải pháp để nâng cao giá trị gia tăng của mặt hàng này. 8. Kết cấu đề tài Chƣơng 1: Tổng quan chung về môi trƣờng kinh doanh và môi trƣờng kinh doanh của ngành công nghiệp điện tử Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng môi trƣờng kinh doanh của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện môi trƣờng kinh doanh cho ngành công nghiệp điện tử Việt Nam

http://svnckh.com.vn

5

6

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ MÔI TRƢỜNG KINH DOANH VÀ MÔI TRƢỜNG KINH DOANH CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ
1.1. Tổng quan chung về môi trƣờng kinh doanh
1.1.1. Khái niệm Môi trường được hiểu một cách đơn giản là tập hợp các yếu tố, điều kiện gắn liền với một không gian hữu hạn cho sự tồn tại và phát triển của một chủ thể hay một hệ thống hữu sinh nào đó như môi trường không khí, môi trường văn hóa, môi trường sống…. Tuy nhiên môi trường kinh doanh (MTKD) là một khái niệm đặc thù có quan hệ chặt chẽ với đời sống kinh tế. MTKD là khái niệm có nội hàm rộng và đa dạng. Tùy theo lĩnh vực hay giác độ xem xét khác nhau, người ta có thể đưa ra những định nghĩa hoặc cách phân loại khác nhau. MTKD xét theo quan điểm phạm vi, quy mô có MTKD của một DN, một ngành, một quốc gia, một khu vực hay thế giới. Nhưng nếu xét về chức năng hay tính chất nó lại gồm môi trường kinh tế, môi trường văn hóa, môi trường khoa học – công nghệ, môi trường thể chế…do vậy, hiện nay có rất nhiều các quan niệm khác nhau về MTKD, nhưng tựu chung lại có thể khái quát thành các quan niệm sau: Quan niệm thứ nhất: MTKD là tổng hợp những yếu tố, điều kiện mà chủ thể kinh tế (CTKT) sử dụng để tiến hành toàn bộ quá trình sản xuất và kinh
3

3

TS. Võ Tá Tri (2007), Luận văn Tiến sĩ - Môi trường kinh doanh thương mại nước ta hiện nay.
http://svnckh.com.vn

6

7

doanh . Đó là tổng thể những điều kiện bên trong và bên ngoài CTKT, nhằm đảm bảo cho hoạt động được bình thường và có hiệu quả. Ưu điểm của quan điểm này là đã xác định được các yếu tố, điều kiện của MTKD, đặc biệt nó chỉ rõ được các yếu tố bên trong và bên ngoài có tác động đến toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của CTKT. Quan điểm thứ hai: MTKD là tập hợp các yếu tố, điều kiện thiết lập nên khung cảnh sống của một chủ thể, hay tập hợp các CTKT trong nền Kinh tế thị trường (KTTT). Quan điểm này nhấn mạnh đến các điều kiện mang tính khách quan ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của các CTKT. Quan điểm nay làm rõ được tính chất, mức độ tác động của các yếu tố, điều kiện của MTKD đối với các CTKT, sự tác động khách quan với mức độ gián tiếp hay trực tiếp. Nhưng thực tế có một bộ phận rất quan trọng hình thành MTKD vốn là sản phẩm có tính chất chủ quan như luật pháp, chính sách ban hành, đường lối phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, khu vực… Bên cạnh đó ngoài các yếu tố ngoại sinh thì còn có các yếu tố nội sinh ảnh hưởng trực tiếp đến mỗi CTKT. Theo quan điểm của nhóm đề tài: MTKD là sự kết hợp, tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố, điều kiện bên trong và bên ngoài phù hợp các yêu cầu nội tại nền kinh tế thị trường với những cơ chế nhất định, tác động trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của mọi CTKT. 1.1.2. Các yếu tố cấu thành môi trường kinh doanh 1.1.2.1. Yếu tố kinh tế Các yếu tố kinh tế thường phản ánh những đặc trưng của một hệ thống kinh tế mà trong đó các đơn vị kinh doanh hoạt động. Nó bao gồm một tổ hợp rộng lớn với những nội dung, điều kiện như: quy mô, phạm vi thị trường; khả năng cung ứng hàng hóa dịch vụ của người sản xuất hay người kinh doanh thương mại; quy mô tính chất của nhu cầu xã hội; tăng trưởng kinh tế, tình hình cạnh tranh thị trường, sự biến động của hàng hóa, dịch vụ; cơ cấu nền kinh tế…Nói chung đó là tất cả các
4

4

5

Ngô Đình Giao (1996), Phát triển môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp công nghiệp và chế biến thực phẩm hoạt động có hiệu quả, NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội.
5

PGS.TS Trần Văn Chu (2006), DN Việt Nam với thị trường Hoa Kỳ, NXB Thế giới.
http://svnckh.com.vn

7

8

vấn đề nội dung kinh tế đã hoặc sẽ xảy ra trong nền KTTT, hình thành cơ hội chung hay thách thức đối với các hoạt động kinh doanh. Trên một mức độ nào đó, một bộ phận không kém phần quan trọng của cấc yếu tố kinh tế đó là các chính sách kinh tế của nhà nước như các chính sách tài chính, tiền tệ, thuế, chính sách kinh tế đối ngoại, về tỷ giá hối đoái…được coi như là sự nhận thức và tác động chủ quan, tích cực của Nhà nước trước những tất yếu khách quan của nền KTTT. Yếu tố kinh tế là yếu tố căn bản nhất cấu thành nội dung của MTKD với những tương tác của hàng loạt các yếu tố xảy ra thậm chí không chỉ trong một ngành, quốc gia mà còn trong khu vực ma còn trên một không gian rộng hơn mang tính quốc tế gắn liền với nền kinh tế mở. 1.1.2.2. Yếu tố thể chế Theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Đình Phan , yếu tố thể chế bao gồm: „‟phần mềm‟ ‟ đó là chính sách, cơ chế quản lý, các quy định thỏa ước của cộng đồng địa phương và „‟phần cứng‟‟ đó là bộ máy tổ chức quản lý nhà nước.  Nhóm các chính sách, cơ chế quản lý, các quy định thỏa ước: tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của các CTKT. Trong nhóm này hệ thống các quy định pháp lý có vai trò đặc biệt quan trọng. Chúng là các chuẩn mực chung được thừa nhận, là căn cứ để các CTKD tổ chức thực hiện các hoạt động của mình, là căn cứ để phân xử các tranh chấp trong quá trình kinh doanh. Đồng thời là công cụ để nhà nước tiến hành điều tiết nền kinh tế vận hành theo hướng mà mình dự kiến. Trên cơ sở ban hành các văn bản pháp lý, kết hợp với việc phân tích, đánh giá tình hình trong và ngoài nước, Chính phủ, các ban ngành xây dựng các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế xã hội phù hợp với tình hình đất nước.  Nhóm tổ chức quản lý nhà nước: để đưa ra những chính sách, các quy định thỏa ước cần đòi hỏi phải có các cơ quản quản lý có trách nhiệm trong việc xây dựng nội dung và đưa ra các biện pháp thực thi. Đây là một yếu tố quan trọng đòi hỏi phải được đặc biệt chú ý, vì chỉ trên cơ sở hình thành các cơ quan chủ quản với
6

6

GS.TS. Nguyễn Đình Phan: Về môi trường thể chế nhằm phát triển các hoạt động dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp ở nông thông, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội.
http://svnckh.com.vn

8

9

công việc phù hợp thì mới đảm bảo cho hệ thống được hoạt động một cách ổn định và phát triển. Hai nhóm yếu tố trên phải tương thích với nhau, tác động tích cực tạo điều kiện thuận lợi cho các CTKT hoạt động có hiệu quả, đảm bảo quyền lợi cho các CTKT. Chỉ trên cơ sở đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất giữa hai nhóm thể chế thì mới đảm bảo cho hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội…của một quốc gia hoạt động an toàn và vững mạnh. 1.1.2.3. Yếu tố văn hóa – xã hội Một trong những yếu tố tác động đến KTKD bên cạnh nhóm yếu tố về kinh tế và thể chế thì không thể bỏ qua yếu tố về văn hóa – xã hội. Chính yếu tố này đã tác động qua lại một cách mạnh mẽ khiến cho tầng mức MTKD có thể thay đổi theo hướng tích cực hay tiêu cực. Văn hóa xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế, sự tương tác giữa hai bên diễn ra phức tạp với các nhân tố chủ quan và khách quan tác động, một trong đó có thể kể đến như: cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các yếu tố tự nhiên… Yếu tố văn hóa – xã hội sẽ là cơ sở để hình thành các hình thái kinh tế, để từ đó MTKD sẽ phát triển theo các khác nhau. Tùy thuộc vào mỗi quốc gia với thể chế chính trị văn hóa mà sẽ có những chính sách đưa ra phù hợp nhằm thúc đẩy MTKD, phù hợp với xu hướng phát triển đặt ra. 1.1.3. Các chỉ tiêu đánh giá môi trường kinh doanh Để đánh giá được môi trường kinh doanh ra sao cần phải dựa trên những tiêu chí nhất định, điều này phụ thuộc vào tính chủ quan của các CTKT trong cuộc điều tra hoặc rà soát lại những chính sách tạo lập môi trường kinh doanh, bên cạnh việc phân tích những số liệu của các báo cáo có được. Dựa trên những báo cáo phân tích này mà các tổ chức có những tiêu chí khác nhau để đánh giá môi trường kinh doanh của một quốc gia nói chung hay các đối với các ngành, DN nói riêng. Một số báo cáo với những chỉ tiêu đánh giá khác nhau.  giới (WEF):
http://svnckh.com.vn

Báo cáo chỉ số cạnh tranh toàn cầu GCI của Diễn đàn kinh tế thế

9

1 0

thì dựa trên những số liệu thống kê được công bố rộng rãi tại mỗi quốc gia, và cả những số liệu khảo sát được cung cấp bởi các đối tác là các viện nghiên cứu về kinh tế, các tổ chức kinh doanh tại địa phương và các công ty đa quốc gia lớn trên thế giới. Báo cáo của WEF nhằm cung cấp một bức tranh tổng thể về những yếu tố đang tác động đến môi trường kinh doanh của mỗi nền kinh tế, cũng như khả năng của mỗi quốc gia đạt được sự bền vững trong tăng trưởng và phát triển.  Báo cáo chỉ số tự do kinh tế IEF của tổ chức Heritage Foundation: chủ yếu dựa vào những chính sách và môi trường vĩ mô để đánh giá mức độ can thiệp của chính phủ vào các hoạt động doanh nghiệp, và là một chỉ số trung bình của mười yếu tố bao quát nhiều chủ điểm khác nhau của nền kinh tế như chính sách thương mại, chính sách tài khóa, tiền tệ, luồn vốn vào ra, đầu tư nước ngoài, tài chính và ngân hàng, giá cả và tiền lương, luật sở hữu và thị trường phi chính thức.  Báo cáo môi trường kinh doanh do tổ chức World Bank và tập đoàn tài chính IFC : dựa trên các cuộc điều tra từ các công ty tư vấn luật, đánh giá mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh các quốc gia thông qua việc rà soát những quy định pháp luật thúc đẩy hoặc kìm hãm các hoạt động doanh nghiệp trong từng lĩnh vực như thành lập doanh nghiệp, tuyển dụng và sa thải lao động, thực thi hợp đồng, vay vốn, đóng cửa kinh doanh, thương mại quốc tế, cấp giấy phép, đóng cửa kinh doanh, bảo vệ nhà đầu tư và đăng kí bất động sản. Như vậy, báo cáo không tính đến các yếu tố như các chính sách vĩ mô, chất lượng cơ sở hạ tầng hay biến động tiền tệ...  Các bản báo cáo của Business International Monitor về môi trường kinh doanh của các ngành hay các DN sản xuất trong ngành. Trên cơ sở phân tích SWOT BMI đã đánh giá từ các yếu tố chủ quan , khách quan tác động đến đối tượng ngành hay các DN hoạt động trong ngành. Đây là một trong những báo cáo có đánh giá đến tác động của những một môi trường kinh doanh hiệu quả. 1.1.4. Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh 1.1.4.1. Sự phát triển kinh tế thị trường trong nước

http://svnckh.com.vn

10

1 1

Đối với mỗi quốc gia thì đây là yếu tố cơ bản nhất quyết định xu hướng vận động của MTKD. Đặc biệt khi nền kinh tế thị trường phát triển, điều này cũng đồng nghĩa với việc sẽ có nhiều chủ thể tham gia thị trường, tiềm năng nâng cao giá trị gia tăng của các ngành khiến cho sự cạnh tranh cũng trở nên gay gắt. Sự phát triển kinh tế trong nước là điều kiện để hấp thụ tốt các yếu tố tích cực từ bên ngoài, đồng thời tăng khả năng canh tranh, tác động lại những yếu tố bên ngoài. Với nền kinh tế bao gồm nhiều chủ thể và các mối quan hệ đan xen, thì sự liên kết phát triển kinh tế thị trường trong nước sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến MTKD của quốc gia đó. Những chính sách được đưa ra với mục đích cải thiện MTKD thì nhóm đối tượng tác động chủ yếu là các DN hoạt động trong một quốc gia. Bởi vậy có thể nói rằng, có mối quan hệ tác động qua lại bền chặt giữa nền KTTT với MTKD. Nền kinh tế có phát triển chỉ trên cơ sở MTKD thuận lợi, tạo điều kiện cho các DN hoạt động, sản xuất, kinh doanh, và khi MTKD tốt thì thị trường đó mới lớn mạnh và đi lên. 1.1.4.2. Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Hiện nay toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu của thời đại, không chỉ do những yếu tố như : sự phân bố không đều về các yếu tố sản xuất, sự phân công lao động quốc tế, thương mại quốc tế….‟‟toàn cầu hóa‟‟ còn do những nhân tố mới, nó bắt nguồn từ cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và nền KTTT hiện đại như sự tăng trưởng thị trường tài chính toàn cầu, sự mở rộng liên kết kinh tế thế giới, vai trò của các công ty đa quốc gia như là nhân tố kết dính các nền kinh tế riêng biệt thành một hệ thống kinh tế toàn cầu, vừa hợp tác vừa cạnh tranh gay gắt. Việc tham gia các tổ chức khác nhau như EU, khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Hiệp hội quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC)…đã tác động rất lớn đến MTKD của mỗi nước. Từ những cơ chế thông thoáng và tự do hóa trao đổi giao thương giữa các quốc gia, bên cạnh sự hợp tác kết hợp những ưu đãi trong quan hệ hợp tác giữa các nước đã khiến cho tình hình MTKD của mỗi nước cần phải thay đổi cho phù hợp. Với sự tác động từ các yếu tố bên trong và bên ngoài đã thúc đẩy các nước cần cải
http://svnckh.com.vn

11

1 2

thiện MTKD để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, khuyến khích nền kinh tế phát triển hơn. 1.1.4.3. Yếu tố khoa học kỹ thuật và công nghệ Sự bùng nổ công nghệ thông tin đã khiến cho nhiều nước đạt tới đỉnh cao của tri thức với việc biết áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật nhằm phát triển kinh tế. Chính điều này đã thúc đẩy sự tự do hóa, tạo ra mối liên kết linh hoạt giữa các nguồn lực ở các quốc gia khác nhau. Do đó, MTKD cũng sẽ chịu những tác động nhằm thay đổi để phù hợp với xu hướng thế giới, nâng cao vị trí nhằm gia tăng sự cạnh tranh. Với những quốc gia biết tận dụng khoa học kỹ thuật thì nhanh chóng sẽ chiếm lĩnh được tri thức, phát triển vững mạnh nền kinh tế. Bởi vậy mà kéo theo MTKD cũng sẽ thay đổi và phải đáp ứng được với những yếu cầu đặt ra của mỗi quốc gia. Với những chiến lược phát triển riêng mà mỗi quốc gia sẽ xây dựng cho mình những chính sách, hệ thống pháp lý, cơ cấu quản lý…khác nhau. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến MTKD mỗi quốc gia.

1.2. Tổng quan chung về môi trƣ ờng kinh doanh ngành công nghiệp điện từ
1.2.1.Tổng quan về ngành công nghiệp điện tử 1.2.1.1. Khái niệm Theo Dumer (1983) : công nghiệp điện tử là việc tạo ra, thiết kế, sản xuất, và kinh doanh các thiết bị như radio, TV, âm thanh nổi, máy tính, bán dẫn, bóng bán dẫn, và mạch tích hợp…Ngành điện tử thế giới ra đời và phát triển gắn liền với sáng kiễn vĩ đại về chất bán dẫn (semi conductor). Có thể nói ngành CNĐT ngày nay trở thành ngành công nghiệp của tất cả các ngành công nghiệp. Linh kiện chủ đạo trong các thiết bị điện tử là chất bán dẫn đã nổi lên với tầm ảnh hưởng cục bộ đến nhiều lĩnh vực đời sống xã hội. Ngành công nghiệp ra đời với phát minh của ống điện tử hai nguyên tố (1904) do John Ambrose Flemming, và ống ba nguyên tố (1906) của Lee De Forest
7

7

D. W. A. Dummer, Electronics Inventions and Discoveries (1983);

http://svnckh.com.vn

12

De Forest, Lee, 1873-1961. Những sáng chế đã dẫn đến sự phát triển của đài phát thanh thương mại trong những năm 1920. Năm 1947, ngành công nghiệp điện tử được thực hiện một bước tiến quan trọng khi John Bardeen, Walter Brattain và William Shockley đã phát minh ra bóng bán dẫn tranzito, ba ga-, trạng thái rắn thiết bị điện tử được sử dụng để khuếch đại và chuyển đổi. Đây là trạng thái rắn tương tự với ống điện tử triode; các bóng bán dẫn đã thay thế các ống điện tử cho hầu như tất cả các ứng dụng phổ biến. Mạch tích hợp, được xây dựng vào những năm 1950, cho phép tích hợp của một số mạch vào trong một mạch, và giới thiệu những thiết bị tương tự vào những năm 1960 đã gia tăng số lượng thông tin mà có thể được lưu trữ trên một chip silicon duy nhất. Ngành công nghiệp điện tử đã có những bước tiến tuyệt vời từ những năm 1970 bao gồm sự xuất hiện laser và điện tử quang học, điện tử kỹ thuật số, và điện tử vi sóng. Tiến bộ trong lĩnh vực điện tử cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của công nghệ vũ trụ và truyền thông vệ tinh; khánh thành một cuộc cách mạng trong ngành công nghiệp máy tính đã dẫn đến sự ra đời của máy tính cá nhân; kết quả là sự ra đời của robot máy tính hướng dẫn tại các nhà máy ; các hệ thống sản xuất để lưu trữ và truyền dữ liệu điện tử. Nhiều sáng kiến, như transistor, có nguồn gốc trong nghiên cứu quân sự, mà cần thiết ngày càng phức tạp thiết bị điện tử cho chiến tranh công nghệ cao hiện đại. 1.2.1.2. Đặc điểm Mặc dù ra đời chậm hơn so với nhiều ngành công nghiệp khác. Tuy nhiên ngành công nghiệp điện tử lại phát triển nhanh và mạnh nhất trong vòng 30 năm trở lại đây. Ngành công nghiệp điện tử có một số đặc điểm sau:  Công nghiệp điện tử là ngành công nghiệp hiện đại có công nghệ cao, ứng dụng nhiều kết quá nghiên cứu khoa học tiên tiến: CNĐT được xây dựng dựa trên các thành tựu tiên tiến nhất trong lĩnh vực vật lý bán dẫn, quang học và công nghệ laser…Điều này thấy rõ qua công nghệ chế tạo các mạch tích hợp lớn như bộ
8

8

http://encyclopedia2.thefreedictionary.com/electronics+industry

http://svnckh.com.vn

13

vi xử lý, một trong những bộ phận quan trọng của các thiết bị điện tử tin học. các bộ vi xử lý hiện có trên thị trường là kết quả của nhiều cải tiến liên tiếp về công nghệ trong ngành công nghiệp chế tạo bán dẫn. các công nghệ chế tạo bán dẫn mới nhất được đưa vào chế tạo bộ vi xử lý như công nghệ làm tăng số lượng transitor/chip, công nghệ cấu trúc khoảng cách giữa các thành phần tử trong bộ vi xử lý…  Công nghiệp điện tử có tốc độ phát triển rất nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng: Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường cùng với làn sóng đổi mới công nghệ và nhanh chóng áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới nhất vào sản xuất đã thúc đẩy CNĐT phát triển nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng. khả năng đổi mới liên tục và đưa nhanh sản phẩm vào thị trường đã trở thành ưu thế cạnh tranh quan trọng. khoảng thời gian từ khi đưa sản phẩm ra thị truwongf cho đến ngày bị thay thê ngày càng rút ngắn. sự phát triển như vũ bão của CNTT trong thời gian qua cũng là kết quả của các tiến bộ công nghệ trong lĩnh vực điện tử.  Công nghiệp điện tử là ngành đòi hỏi có sự đầu tư lớn, thu lợi nhuận cao. Cạnh tranh thị trường gay gắt, và độ rủi ro cao: Với những cấu trúc phức tạp và sự vận dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật đã khiến cho ngành công nghiệp điện tử cần phải có nguồn vốn lớn để đầu tư; nghiên cứu và phát triển sản phẩm, thị trường; đầu tư cơ sở hạ tầng nhằm mục đích phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm; bên cạnh những quảng cáo, tiếp thị cho sản phẩm…Tuy đòi hỏi một lượng vốn lớn ban đầu nhưng đây là ngành tạo ra lợi nhuận lớn. Chính những tiện ích của các thiết bị điện tử khi áp dụng công nghệ cao đã khiến cho nhu cầu về mặt hàng này ngày càng gia tăng. Chính những giá trị gia tăng thu về là lớn, đã khiến cho rất nhiều nước tham gia vào mạng lưới sản xuất hàng điện tử khiến cho thị trường càng trở nên gay gắt.  CNĐT có xu hướng chuyển dịch công nghệ từ các nước phát triển sang có nước đang phát triển nơi có nguồn nhân công dồi dào và rẻ: Toàn cầu hóa đang trở thành xu hướng phát triển của thế giới. theo xu hướng toàn cầu hóa, để tăng khả năng cạnh tranh và có lợi nhuận cao, các nước có nền CNĐT phát triển
http://svnckh.com.vn

14

dịch chuyển việc sản xuất sản phẩm có công nghệ thấp sang các nước đang phát triển có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ. nhờ đó các nước đang phát triển có điều kiện và cơ hội tiếp thu công nghệ, đầu tư đào tạo nguồn nhân lực nhằm phát triển sản phẩm công nghệ cao. 1.2.2. Tổng quan về môi trường kinh doanh ngành công nghiệp điện tử 1.2.2.1. Khái niệm Theo quan điểm của Jauch và Glueck (1988) : Môi trường kinh doanh của ngành công nghiệp điện tử là tập hợp những điều kiện bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động trong ngành trên cơ sở được chia ra bởi các tầng mức khác nhau. Bao gồm :  Tầng mức môi trường nội tại là một số yếu tố tác động bên trong ngành, mà các yếu tố này có thể kiểm soát được. Nó có thể bao gồm các yếu tố cung cầu, sản phẩm thay thế, hay đối thủ cạnh tranh trực tiếp hay gián tiếp….  Tầng mức môi trường bên ngoài liên quan đến các yếu tố ngành (điều kiện chung cho tất cả các doanh nghiệp hoạt động của ngành), quốc gia (hệ thống các yếu tố rộng và bao quát những ngành hoạt động khác nhau của nền kinh tế như ngân hàng, giáo dục, thương mại, công nghiệp, …), khu vực và thế giới (các điều kiện ảnh hưởng đến quốc gia). Tầng mức môi trường bên ngoài các DN sẽ không thể kiểm soát được mà chỉ có thể phản hồi hoặc tương tác lại. Do vậy, các DN trong ngành CNĐT sẽ phải tự điều chỉnh những thành tố môi trường nội tại để nắm bắt được những cơ hội cũng như để đối mặt với những thách thức từ môi trường bên ngoài. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu hiện tại định nghĩa môi trường kinh doanh chỉ bao gồm những yếu tố bên ngoài của doanh nghiệp.
9

9

Jauch, L. R and W.F. Glueck (1988), Strategic Management and Business Policy, 3rd ed., NY: McGrawHill
http://svnckh.com.vn

15

Theo Robin Wood (2000)

10

cho rằng : Môi trường kinh doanh của ngành

công nghiệp điện tử là một tập hợp các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, công nghệ và được gọi là phân tích PEST (Political, Economic, Socio-cultural, Technology) hoặc STEP (Social, Technological, Political, Economic). Những yếu tố này nằm ngoài tầm kiểm soát và có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của các DN điện tử. Theo VCCI (2008) đã thu hẹp khái niệm hơn nữa khi cho rằng môi trường kinh doanh chủ yếu là các chính sách, quy định mà chính phủ áp dụng để điều tiết các hoạt động kinh doanh của ngành công nghiệp điện tử, kể cả hoạt động sắp xếp về mặt tổ chức xung quanh của doanh nghiệp. Như vậy, có khá nhiều các khái niệm về môi trường kinh doanh nhưng những chủ điểm chính bao gồm các thủ tục hành chính, quản lý, các chính sách hỗ trợ/ can thiệp của nhà nước, khả năng tiếp cận các nguồn lực…là những nhân tố chính tác động đến hoạt động của các DN trong phạm vi một quốc gia, cũng như có sự gắn bó mật thiết với thể chế cũng như pháp luật, quy định của chính phủ đối với khu vực DN. 1.2.2.2. Vai trò của môi trường kinh doanh với ngành công nghiệp điện tử Một MTKD thuận lợi là nhân tố quan trọng nhằm thúc đẩy sự gia nhập nhằm của các DN. Chính điều này đã tạo nên sự cạnh tranh khiến cho ngành ngày càng phát triển. Đó là tác động ngược khi chính yếu tố các DN đã có ảnh hưởng đến MTKD vậy tác động thuận của MTKD sẽ đóng vai trò to lớn như thế nào đối với ngành CNĐT.  MTKD thuận lợi là điều kiện để thu hút các đối tượng gia nhập ngành. Bên cạnh những DN đang sản xuất và kinh doanh, đã xây dựng được chỗ đứng cho riêng mình thì với nhận định đây là thị trường tiềm năng với MTKD tốt, sẽ có các DN mới cũng sẽ tham gia hoạt động. Chính điều này sẽ góp phần vào việc củng cố vị trí chiến lược của ngành so với các ngành công nghiệp khác.
11

10

Robin Wood (2000): Managing Complexity: How Businesses Can Adapt and Prosper in the Connected Economy, Economist Books 11 VCCI (2008), Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ, NXB chính trị quốc gia 62008
http://svnckh.com.vn

16

MTKD là nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và thực hiện các

chiến lược kinh doanh, chính sách phát triển của mỗi DN. DN chỉ phát triển khi đã xây dựng được một chiến lược cụ thể, rõ ràng, có định hướng. Với một MTKD tạo điều kiện cho các mặt hàng, các sản phẩm khác nhau. Trên cơ sở đó, các DN sẽ lựa chọn và đưa ra những chính sách phát triển phù hợp  MTKD ngành điện tử của một quốc gia có nhiều điểm nổi bật sẽ tạo điều kiện thu hút các nguồn vốn đầu tư lớn từ nước ngoài. Đây là một ngành đòi hỏi có sự đầu tư lớn về cơ sở hạ tầng và công nghệ. Do đó MTKD thuận lợi với những cơ chế thông thoáng và khuyến khích, sẽ thúc đẩy sự đầu tư từ các nước khác, đặc biệt đối với các nước đang phát triển thì đây là một cơ hội lớn trong việc tiếp nhận và chuyển giao công nghệ. Từng bước thực hiện đi tắt đón đầu để theo kịp với các nước phát triển  MTKD thuận lợi sẽ góp phần nâng cao vị thế của các quốc gia trong mạng lưới sản xuất toàn cầu. Trong xu thế hội nhập, tự do hóa quốc tế, ngày nay các mặt hàng điện tử không chỉ đơn thuần sản xuất ở một quốc gia, mà nó được chuyển giao và sản xuất ở nhiều nước khác nhau với sự chuyên môn hóa cao. Chính điều này đã chứng tỏ nếu MTKD ngành của quốc gia mà thuận lợi sẽ là một trong những yếu tố quan trọng để nước đó tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu. Và dần nâng cao vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu với những giai đoạn đem lại lợi nhuận lớn.

1.3. Kinh nghiệm một số nƣớc nhằm hoàn thiện môi trƣờng kinh doanh cho ngành công nghiệp điện tử và bài học cho Việt Nam
Theo lý luận đã được nêu ở phần đầu, MTKD là sự tổng hòa những yếu tố bên trong và ngoài DN, do đó để đánh giá MTKD của một ngành thì cần phải dựa trên nhiều yếu tố. Nhưng hiện nay, có khá nhiều báo cáo cho rằng nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến MTKD là các chính sách được đưa ra, do đó do tính chất hạn chế của đề tài, nhóm nghiên cứu chỉ đi sâu nghiên cứu về những chính sách mà Thái Lan và Trung Quốc đã thực hiện nhằm cải thiện MTKD ngành CNĐT. 1.3.1. Thái lan
http://svnckh.com.vn

17

1.3.1.1. Khái quát ngành công nghiệp điện tử Thái Lan Các nước có nền công nghiệp điện tử phát triển hầu hết đều phát triển mạnh mẽ và gặt hái nhiều thành công chủ yếu nhờ vào mối liên hệ, liên kết hợp tác giữa các nhà sản xuất linh kiện và các nhà lắp ráp các sản phẩm thiết bị. Nhất là trong quá trình toàn cầu hóa, khi mà các yếu tố về mặt thể chế thông qua tự do hóa, sự phát triển của công nghệ thông tin và những lợi thế cạnh tranh đã thúc đẩy hình thành nên mạng lưới sản xuất toàn cầu thì sự kết nối giữa các DN tham gia ngành là tất yếu. Tuy nhiên, đặc điểm của ngành công nghiệp điện tử ở Thái Lan là các doanh nghiệp sản xuất hàng điện tử lại hoạt động một cách độc lập, không phụ thuộc nhau. Cũng như nhiều nước khác trong khu vực, Thái Lan là nơi sản xuất chính của các hãng điện tử Nhật Bản, và bị chi phối chủ yếu bởi những DN FDI. Công nghiệp điện tử Thái Lan bắt đầu phát triển từ những năm 1960 và xuất khẩu với số lượng lớn từ năm 1980. Hiện nay đã trở thành cơ sở sản xuất điện tử gia dụng lớn nhất ASEAN với một số điểm đáng chú ý sau: Về xuất khẩu, sản phẩm điện tử của Thái Lan, đặc biệt là thiết bị bán dẫn, mạch tích hợp, bảng mạch in và máy tính, phụ thuộc chủ yếu vào thị trường thế giới. Theo dõi giá trị xuất khẩu ngành có thể nhận ra qui mô và tốc độ tăng trưởng thị trường điện tử bởi vì 80% sản phẩm được sản xuất phục vụ xuất khẩu. Trong 5 năm gần đây, công nghiệp điện, điện tử đã đóng góp khoảng 1/3 vào tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia. Thị trường xuất khẩu chính là ASEAN (22%), Mỹ (20%), Nhật (16%), EU (17%). Hiện nay Thái Lan dẫn đầu về sản xuất máy lạnh, tủ lạnh, lò viba, máy in, máy photocopy; thứ nhì về phần cứng máy tính và máy fax chỉ sau Singapore.
13 12

Về cơ cấu, có thể thấy máy tính chiếm tỷ trọng cao nhất tổng sản phẩm điện tử, chiếm tới 45%, tiếp theo đến bộ phận và linh kiện điện tử chiếm 32%, sản phẩm điện tử công nghiệp chỉ đóng vai trò rất nhỏ bé trong cơ cấu sản xuất của Thái Lan,

12

Hisami Mitarai (2005) – Issues in the ASEAN Electronic and Electronics Industry and Implications for VietNam 13 Sector Overview - The Electronic Industry In Thailand - Royal Danish Embassy, Bangkok - 23/06/2006
http://svnckh.com.vn

18

chỉ từ 1-2%.

14

Về đầu tư, Công nghiệp điện tử Thái Lan phụ thuộc chủ yếu vào đầu tư nước ngoài. Khoảng 80% vốn đăng ký trong ngành này là của nước ngoài đặc biệt là từ Nhật Bản. Để khuyến khích các công ty nước ngoài trong lĩnh vực phần cứng, chính phủ Thái Lan đã cho các công ty này hưởng ưu đãi thuế trong vòng 8 năm chỉ cần các công ty này đáp ứng được tiêu chuẩn đầu vào R&D và chuyển giao công nghệ đối với các nhà cung ứng linh kiện của họ. Thái Lan đang nỗ lực nhằm nâng cao giá trị gia tăng trong ngành công nghiệp phần cứng bằng việc hỗ trợ về tài chính, chính sách cho các DN sản xuất ngành hàng này. 1.3.1.2. Những chính sách nhằm hoàn thiện môi trường kinh doanh mà Thái Lan đang sử dụng Thái Lan luôn thực hiện chủ trương khuyến khích xuất khẩu hàng điện tử thông qua những khuyến khích về thuế quan. Bên cạnh đó, nước này còn phát triển các khu công nghiệp, các cơ sở hạ tầng khác đồng thời thực hiện những cải cách luật pháp bao gồm luật liên quan đến tỷ lệ góp vốn để đảm bảo môi trường sản xuất kinh doanh tự do cho các công ty nước ngoài. Điều này đã đưa đến kết quả là một số lượng lớn các nhà đầu tư với định hướng đầu tư vốn vào Thái Lan từ Nhật Bản và nhiều quốc gia khác. Thái Lan đã thực hiện rất nhiều chính sách để nhằm phát triển môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các DN tham gia sản xuất trong ngành.  Thực hiện những chính sách khuyến khích dành cho nhà đầu tư nước ngoài được Ủy Ban Đầu Tư (BOI) đưa ra nhằm đạt một sự cân bằng giữa các DN nước ngoài và DN trong nước. Có một đặc điểm nổi bật của hệ thống chính sách này là chính phủ Thái Lan điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo ưu đãi từng vùng, theo đó mỗi vùng sẽ có những sự khuyến khích khác nhau cho các nhà đầu tư với những ưu đãi thuế quan. Điều này đã tạo cho sự cân bằng phát triển công nghiệp giữa các vùng.

14

Electronics industry in Thailand http://www.electronics.ca/reports/industrial/data_thailand.htlm
http://svnckh.com.vn

19

Khuyến khích những dự án phát triển khoa học và công nghệ, các

dự án nghiên cứu và phát triển nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Thái Lan. Song song với đó là thành lập cơ quan Chiến lược Khoa học và Công nghệ Quốc Gia. Trọng tâm chính là hình thành mạng lưới khoa học và công nghệ, xúc tiến việc hợp tác giữa các cơ quan tư nhân và nhà nước bao gồm: DN sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ, các cơ quan tài chính, giáo dục…..  Có những kế hoạch hành động cụ thể nhằm thay đổi cơ cấu ngành công nghiệp với sự ra đời của Viện Điện và Điện tử (EEI). Viện đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo ra cầu nối giữa khu vực tư nhân và khu vực nhà nước; cũng như phối hợp lợi ích từ việc hợp tác giữa các DN tư nhân với nhau. Và những chức năng như thiết lập chính sách cho ngành, dự thảo ngân sách, các dịch vụ dành cho DN tư nhân cũng đã được chuyển từ Bộ Công nghiệp sang cho Viện thực hiện. 1.3.2. Trung Quốc 1.3.2.1. Khái quát ngành công nghiệp điện tử Trung Quốc Trung Quốc với lợi thế chi phí nhân công rẻ, năng lực công nghệ tương đối cao, đang là nơi hấp dẫn của nhà đầu tư nước ngoài do đã kết hợp được các yếu tố sau: bùng nổ thị trường sản phẩm ITC và dịch vụ, khả năng cung cấp năng lực lao động lành nghề không giới hạn trong lĩnh vực công nghệ thông tin và FDI liên tục tăng. Trong lĩnh vực công nghệ điện tử, Trung Quốc đóng vai trò là nhà sản xuất theo hợp đồng của GNP, chủ yếu sản xuất ra các sản phẩm trung gian, máy tính nguyên chiếc và thiết bị truyền thông. Hoạt động sản xuất ra các sản phẩm trung gian đang được đẩy mạnh tại Trung Quốc với mục tiêu hoà nhập vào mạng lưới sản xuất. Năm 2015, theo dự báo của các nhà sản xuất các mặt hàng điện tử gia dụng, Trung Quốc sẽ sản xuất ra 1/2 số lượng đầu DVD, máy ảnh kỹ thuật số, 1/3 số ổ đĩa DVD-ROM, máy tính để bàn và máy tính xách tay, 1/4 số lượng điện thoại di động và TV màu của cả thế giới. Hiện nay, Trung Quốc cũng đầu tư lớn vào sản xuất các sản phẩm phần mềm
http://svnckh.com.vn

20

dịch vụ thông tin. Trung Quốc đang tập trung phát triển 10 hệ thống phần mềm lớn. Tại Trung Quốc đã có ba công viên phần mềm quan trọng, đó là Quilu Software Park tại tỉnh Sơn Đông, Pudong Software Park tại Thượng Hải và Yangtze River Software Park. Tuy nhiên các nhà sản xuất Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với mối đe doạ từ các nhà sản xuất sản phẩm điện tử trung gian từ Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan. Bởi vì trong khi các sơ sở sản xuất tại các quốc gia khác đang được nâng cấp thì các cơ sở sản xuất tại Trung Quốc vẫn đối mặt với các khó khăn là chất lượng sản phẩm thấp, nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu. Chênh lệch giữa nhập khẩu và xuất khẩu tuy đang ngày càng giảm đi nhưng vẫn còn khá lớn. Do đó, để đuổi kịp với mức phat triển công nghiệp điện tử, Trung Quốc đang tích cực đầu tư cho hạ tầng cơ sở, thành lập các khu công nghiệp lớn chuyên sản xuất thiết bị điện tử, đầu tư cho R&D và nguồn nhân lực cos kỹ năng ở mức cao để nâng cao năng lực tiếp thu, làm chủ công nghệ và khả năng thiết kế tạo ra sản phẩm mới. 1.3.2.2. Những chính sách nhằm hoàn thiện môi trường kinh doanh mà Trung Quốc đang sử dụng Các DN sản xuất hàng điện tử của Trung Quốc được biết đến như là các nhà sản xuất bán dẫn, các nhà sản xuất theo hợp đồng, sản xuất các thiết bị cứng, các dịch vụ phần mềm. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã nỗ lực đổi mới công nghệ nhằm bắt kịp với các quốc gia khác trên thế giới và thúc đẩy nền kinh tế nói chung cũng như ngành công nghiệp điện tử nói riêng. Những thành quả đổi mới công nghệ của Trung Quốc được thực hiên qua những chính sách như sau: Thứ nhất, chuyển từ sao chép đến sáng tạo. Trước đây chỉ ở các tổ chức nghiên cứu khoa học tại Trung Quốc mới có các hoạt R&D. Ngày nay, các chính sách khoa học và công nghệ đã chuyển đổi thành chính sách công nghệ quốc gia. Năm 2005, mức chi cho hoạt động R&D của Trung Quốc là 1,5% GDP, mục tiêu vào năm 2020 là 2,5% GDP, tương ứng với 115 tỷ USD. Trong bản báo cáo đầu tư thế giới năm 2005, Trung Quốc đứng thứ 2 sau Hong Kong về hoạt động R&D. Thứ hai, chuyển từ người làm thuê sang vị trí làm chủ công ty. Sự nổi lên
http://svnckh.com.vn

21

của Trung Quốc với tư cách là nhà sản xuất các sản phẩm hàng hoá ITC đã luôn đồng hành với vai trò ngày càng tăng lên của các công ty đa quốc gia nước ngoài ở Trung Quốc. Ban đầu những người điều hành cấp cao của các công ty này đều đến từ các cơ sở của công ty mẹ, tuy nhiên tốc độ địa phương hoá đã tiến triển rất nhanh. Không chỉ tham gia, nhiều người bản địa đã từ bỏ công ty nước ngoài, đứng ra thành lập các công ty của mình, kinh doanh có hiệu quả. Thứ ba, tạo lập các quy tắc cạnh tranh mới. Do là người đến sau trong cuộc cạnh tranh về chế tạo và đổi mới, Trung Quốc phải đối mặt với những đối thủ mạnh. Muốn có giá trị gia tăng cao phải tạo ra những phát minh có tính đột phá hoặc đưa ra các tiêu chuẩn công nghệ của riêng mình. Trung Quốc cũng đang nỗ lực từng bước bảo đảm cho các công ty trong nước trong lĩnh vực truyền thông và truyền hình, không bỏ lỡ cơ hội thâm nhập vào một thị trường lớn, bằng cách đưa ra các tiêu chuẩn của riêng mình về truyền hình di động. 1.3.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam Bài học rút ra từ Thái Lan là nước này đã thực hiện tốt những chính sách nhằm thúc đẩy môi trường kinh doanh tạo điều kiện thuận lợi cho các DN nước ngoài vào đầu tư. Bên cạnh đó, Thái Lan đã có chiến lược rõ ràng và cụ thể bằng việc hình thành các cơ quan hay các viện có nhiệm vụ quan trọng khuyến khích hoạt động nghiên cứu phát triển sản xuất, tạo cầu nối cho các DN tư nhân và DN nhà nước. Chính điều này đã đưa Thái Lan trở thành một trong những nước có nền công nghiệp điện tử đứng đầu trong khu vực với giá trị sản lượng ngày càng gia tăng. Bảng 1: Công nghiệp điện tử Thái Lan

http://svnckh.com.vn

22

Nguồn: Electronics industry in Thailand –
http://www.electronics.ca/reports/industrial/data_thailand.htlm

Bài học rút ra từ Trung Quốc là có những chính sách phát triển cụ thể, rõ ràng. Đây là yếu tố quan trọng thúc đẩy ngành CNĐT có định hướng trong việc xây dựng các sản phẩm trọng tâm, các thị trường mục tiêu. Với những nét tương đồng về kinh tế, chính trị, yếu tố tự nhiên, văn hóa…những chính sách mà Trung Quốc là bài học để Việt Nam có thể áp dụng. Việt Nam cần phải đầu tư vốn và nguồn lực nhằm vượt ra được vị trí thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu khi hầu hết chỉ mới gia công, lắp ráp sản phẩm mà cần phải tranh thủ áp dụng học hỏi chuyển giao công nghệ để tiếp cận giai đoạn đem lại lợi nhuận cao hơn như: thiết kế và nghiên cứu sản phẩm…

http://svnckh.com.vn

23

CHƢƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MÔI TRƢ ỜNG KINH DOANH CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ VIỆT NAM
2.1. Thực trạng ngành công nghiệp điện tử Việt Nam
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 2.1.1.1. Khái quát quá trình phát triển ngành công nghiệp điện tử thế giới Công nghiệp điện tử đang trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Với những lợi ích mà các sản phẩm điện tử mang lại đã khiến cho cuộc cạnh tranh giữa các nước trong lĩnh vực này ngày càng trở mạnh mẽ. Chính điều này đã tạo ra những bước nhảy vọt thần kỳ trong ngành công nghiệp điện tử khi các sản phẩm được đa dạng với các tính năng vượt trội. Thập kỷ 50: là thời kỳ phát triển công nghiệp máy tính cỡ lớn, với sự kiện Mỹ cho ra đời chiếc máy tính điện tử đầu tiên (1946) và phát minh ra bóng đèn bán dẫn (1952). Trong thập kỷ này, máy điện thoại, tổng đài nội bộ cũng xuất hiện. Thập kỷ 60: là thời kỳ chế tạo các loại máy tính điện tử có tính năng cao, đặc biệt là việc mỹ chế tạo ra mạch tổ hợp IC và máy tính thế hệ 360, 370. Đây cũng là thời kỳ chế tạo ra tivi đen trắng, tivi màu, máy bắt sóng vô tuyến, bóng bán dẫn, mạch tích hợp, bóng diot, bảng in đèn hình. Thập kỷ 70: CNĐT bắt đầu có sự tiến bộ vượt bậc khi Mỹ tung ra loại máy tính thế hệ thứ tư FS có tận dụng các mạch tích hợp cực lớn. Trong giai đoạn này, thế giới đã phát triển và khai thác thị trường DRAM 1K và DRAM 64K. Máy FAX, máy photocopy, bóng điot phát quang, bàn phím thiết bị đầu cuối, monitor bắt đầu được đưa vào sử dụng trong sản xuất và đời sống xã hội. Thập kỷ 80: CNĐT có sự tiến bộ nhanh với bước đi thần tốc, với sự ra đời của máy in, máy vi tính, bộ điều khiển đĩa, máy quét ảnh, thiết bị tiếp sóng TiVi vệ tinh,… Thập kỷ 90: là sự phát triển các sản phẩm điện tử có độ tích hợp cao, hệ thống hóa, tăng thêm tính năng, siêu nhỏ, nhẹ hơn và giá thấp đi nhiều. Trong thời
http://svnckh.com.vn

24

gian này, máy tính siêu nhỏ đã đưa vào sử dụng, công nghệ bán dẫn đã tiến hành sản xuất hàng loạt dram 4m (88) - 64m (2000), trong công nghiệp micro xử lý, tần số đã tăng từ 30 MHz (1989) lên 200MHz (2000) số BITS tăng từ 32 BITS MPU thế hệ thứ hai lên 64 BITS thế hệ thứ nhất. 2.1.1.2. Khái quát quá trình phát triển của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam Ngành công nghiệp điện tử nước ta ra đời muộn hơn nhiều so với sự ra đời của ngành công nghiệp điện tử thế giới. Với những tiến bộ vượt bậc về công nghệ thông tin đã ảnh hưởng lớn đến sản phẩm điện tử thì Việt Nam chỉ mới tham gia vào giai đoạn đầu (gia công, lắp ráp) trong chuỗi giá trị toàn cầu. Chính điều này đã khiến cho ngành công nghiệp điện tử của Việt Nam còn lạc hậu so với các nước trong khu vực từ 10-20 năm. Tuy nhiên trải qua các giai đoạn đã có những sự chuyển biến rõ rệt nhằm phát triển và định hướng để trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn trong quá trình hiện đại hóa đất nước. Có thể chia quá trình hình thành và phát triển của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam ra làm 2 giai đoạn chính như sau: Giai đoạn trước năm 1975 Trước năm 1975 khi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ còn xâm chiếm thì ngành công nghiệp điện tử ở miền Bắc gần như hoàn toàn không phát triển. Trong suốt thời gian này nhiệm vụ của miền Bắc là tự cung tự cấp nhằm phục vụ đời sống và đánh đuổi giặc ngoại xâm. Chỉ có khu vực miền Nam, thực dân Pháp đã cho xây dựng nhiều công trình xây dựng, các nhà máy, xưởng cơ khí lớn nhằm khai thác thuộc địa. Tính đến thời điểm năm 1957 – 1959 tư bản nước ngoài đầu tư vào miền Nam với số vốn rầm rộ lên đến hơn 2 tỉ USD. Trong đó phải kể đến một loạt các nhà máy sản xuất hàng điện tử tiêu dùng có thể kể đến như: nhà máy sản xuất bóng đèn Coteco, nhà máy sản xuất pin Accu Videco… Đến thời điểm năm 1975, Sài Gòn đã sở hữu đến 38.000 sơ sở sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, trong đó có 766 công ti và 8.548 cơ sở sản xuất công nghiệp tư nhân. Trong đó có các nhà máy sản xuất hàng điện tử với khả năng lắp ráp nhiều loại máy như Vicasa, Vikimco, Vinappro, Sony…có từ 500 đến 1.000 thợ
http://svnckh.com.vn

25

lắp ráp. Bên cạnh đó chính ngành cơ khí, luyện kim với các xí nghiệp có quy mô lớn như Caric và Citronen đã khiến cho ngành công nghiệp điện tử trong thời kỳ này cũng có điều kiện để phát triển.
15

Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1986 Có thể nói trong giai đoạn này, nền kinh tế nước ta còn gặp nhiều khó khăn khi đất nước hoàn toàn thống nhất. Miền Bắc từng bước xây dựng kinh tế trong khi miền Nam sau khi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ rút ra khỏi lãnh thổ, các kế hoạch đầu tư viện trợ cũng bị dỡ bỏ, chính điều này đã khiến cho các cơ sở sản xuất có nhiều vấn đề cần phải giải quyết, ảnh hưởng lớn đến môi trường kinh doanh cho các DN. Một số đặc điểm chung có thể nhận thấy rõ nét về ngành công nghiệp điện tử trong thời gian này như sau:  Thiếu đồng bộ giữa sản xuất linh kiện, vật liệu và thiết bị, sản phẩm chưa đạt tiêu chuẩn. Cở sở vật chất nghèo nàn lạc hậu. Với đặc điểm của ngành công nghiệp điện tử đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn chính điều này đã gây cản trở cho quá trình phát triển ngành này trong giai đoạn sau năm 1975. Hạ tầng cơ sở từng bước được xây dựng nhưng còn gặp rất nhiều khó khăn, mặc dù ở Miền Nam hệ thống các nhà máy, xí nghiệp vẫn còn hoạt động tốt, tuy nhiên cũng cần vốn để sửa chữa và duy trì các máy móc.  Trình độ thiết kế và công nghệ: trong lĩnh vực chế tạo vật liệu bán dẫn, Việt Nam đã sử dụng công nghệ nóng chảy vùng, kéo đơn tinh thể, gia công cơ học các phiến bán dẫn…trong chế tạo linh kiện bán dãn đã chủ động về công nghệ Plannar, thiết kế các linh kiện bán dẫn rời, các vi mạch điện tử cỡ nhỏ (lưỡng cực và MOS), trong chế tạo thiết bị, đã chủ động công nghệ làm mạch in, lắp ráp theo dây chuyền.  Trong thời gian này đã thành lập Liên hiệp các xí nghiệp điện tử trực thuộc Bộ cơ khí luyện kim. Chính điều này đã củng cố tổ chức, ổn định sản xuất, có định hướng để đặt nền móng cho ngành công nghiệp điện tử phát triển. Đặc biệt sản

15

http://my.opera.com/tahcm/blog/show.dml/5888291
http://svnckh.com.vn

26

phẩm nghe nhìn thương hiệu Viettronics của các xí nghiệp thành viên đã trở nên quen thuộc với người tiêu dùng trong cả nước.  Đã đầu tư các dây chuyền sản xuất điện trở, tụ hóa, mạch in của Pháp, Ý, Tiệp Khắc (cũ). Ngoài ra còn sản xuất được tụ xoay, chuyển mạch, chiếp áp cung cấp cho các xí nghiệp trong nước và xuất khẩu sang các nước Xã hội chủ nghĩa cũ. Giai đoạn từ năm 1986 đến nay  Sử dụng chủ yếu là các công nghệ bán tự động và bước đầu ứng dụng

công nghệ dán bề mặt (SMT0). Công nghiệp sản xuất linh, phụ kiện được triển khai như chế tạo đèn hình, cuộn lái tia… công nghệ phụ trợ như công nghệ ép các chi tiết và sản phẩm nhựa cũng đã đc hình thành phát triển để phục vụ nội địa hóa các sản phẩm.  Sản phẩm hàng điện tử tiêu dùng chiếm tỷ lệ khá cao (80%) trong cơ cấu sản phẩm ngành điện tử tại Việt Nam; trong khi công nghiệp sản xuất phụ tùng, linh kiện và công nghiệp phụ trợ lại phát triển chậm nên tỷ lệ nội địa hóa cũng như giá trị gia tăng của sản phẩm còn thấp. các doanh nghiệp FDI như Sony, Panasonic, Toshiba, Samsung, JVC, ... cùng một số doanh nghiệp Việt Nam như VTB (Viettronics Tân Bình) Belco (Viettronics Biên Hòa), Tiến Đạt... chủ yếu lắp ráp sản phẩm điện tử tiêu dùng và điện lạnh phục vụ thị trường tiêu thụ nội địa. 
16

Ngày càng có nhiều tập đoàn điện tử, viễn thông nước ngoài quyết

định chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất để xuất khẩu ra toàn thế giới. Khởi đầu cho xu hướng này là các tập đoàn điện tử Nhật Bản, như Nidec, Canon và Sanyo. Tiếp đến là các tập đoàn đến từ Mỹ, Hàn Quốc và Đài Loan, trong đó đáng kể nhất là dự án của Intel, Hon Hai Foxconn, và Samsung Electronics. 
17

Công nghiệp phụ trợ đã chuyển biến tích cực do chiến lược của các

tập đoàn đầu tư với các dự án sản xuất mạch in điện tử, máy biến dòng, linh kệ chống nhiễm từ, linh kiện cộng hưởng âm thanh, thẻ cảm ứng, bộ nối cáp quang, chip điện tử…
16 17

http://www.thv.vn/News/Detail/?gID=13&tID=58&cID=8112 http://veer.vn/News/9137/phat-trien-nganh-cong-nghiep-phu-tro-co-hoi-da-den.aspx
http://svnckh.com.vn

27

2.1.2. Thực trạng ngành công nghiệp điện tử Việt Nam Ngành công nghiệp điện tử Việt Nam xuất hiện từ những năm 70. Nhìn chung, ngành công nghiệp điện tử Việt Nam còn non trẻ, tiềm lực tài chính cũng như công nghệ lạc hậu so khu vực và thế giới. Sau hơn 30 năm phát triển, đến nay theo báo cáo thống kê của Hiệp hội Công nghiệp Điện tử Việt Nam, có 38 DN nước ngoài, 41 Công ty thương mại cổ phẩn, 20 Công ty TNHH và 9 DN Nhà nước đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực này.
18

Lý do chính khiến cho ngành công nghiệp điện tử

chậm phát triển là do thiếu một chiến lược và tầm nhìn; khuyến khích các DN sản xuất để xuất khẩu hơn là tập trung vào thị trường nội địa, trong khi đó vẫn chưa có một chính sách ưu đãi về thuế quan nhằm mục đích thu hút đa dạng hóa sản phầm trong nước. Các hoạt động chủ yếu của ngành bao gồm sản xuất và lắp ráp và hoạt động xuất nhập khẩu. 2.1.2.1. Hoạt động sản xuất và lắp ráp Xuất phát điểm của CNĐT Việt Nam là lắp ráp các thiết bị điện tử gia dụng dưới dạng SKD (nhập một nửa linh kiện ), CKD (nhập tất cả các linh kiện), và IKD (nhập một phần linh kiện) là chính. Ngoài ra, chúng ta còn tiến hành sản xuất, chế tạo các thiết bị điện tử công nghiệp, các hệ thống cân đo điện tử, điều khiển tự động, các thiết bị điện tử y tế và chuyên dụng, tiếp đó là công đoạn lắp ráp máy vi tính, gia công xuất khẩu các bảng mạch điện tử và thực hiện các dịch vụ khác. Tuy nhiên có một thực tế là hiện nay cơ cấu của ngành thiên về hướng tiêu thụ hơn là sản xuất. DN tập trung nhiều ở lĩnh vực thương mại. Điều này có thể giải thích thông qua rào cản gia nhập ngành, lĩnh vực sản xuất điện tử đòi hỏi vốn lớn và công nghệ nên các DN nhỏ khó có thể gia nhập vào lĩnh vực sản xuất mà tập trung ở lĩnh vực phân phối lưu thông sản phẩm. Và cơ cấu của ngành chú trọng đầu tư sản xuất
19

18 19

Consumer Electronic Market in Vietnam 1/2009, Internationa Business Strategies Vietnam Consumer Electronics and Electronics Industry Market Q1/2010, Business Monitor International
http://svnckh.com.vn

28

thành phẩm hơn là linh phụ kiện và bán thành phẩm, chính điều này khiến cho mức độ quốc tế hóa ngược (nhập khẩu) của ngành tương đối cao. chính như sau: Điện tử gia dụng: Đa số các DN điện tử chủ yếu tham gia vào loại hình chế tác và lắp ráp đơn giản, dạng CKD chiếm tới 80%. Khoảng 70% tổng số tivi và radio, cassette bán trên thị trường nội địa là lắp ráp trong nước, nhưng lại dùng linh kiện và các đầu vào khác của nước ngoài. Đây là ngành có quy mô sản xuất lớn nhất, có sự tham gia của cả doanh nghiệp Việt Nam xác định đây nhóm sản phẩm chủ lực, song lại là những sản phẩm mà ta chậm hơn các nước trong khu vực từ 1015 năm công nghệ. Thiết bị thông tin: Chủ yếu là kinh doanh lắp ráp máy tính, thiết bị mạng và thiết bị ngoại vi. Từ năm 1998, Việt Nam đã lắp ráp máy tính mang thương hiệu Việt Nam như CMS, T&H…nhưng toàn bộ linh kiện điện từ chip vi xử lý, chipset, connector, điện trở, tụ điện, socket thậm chí cả pin, dung môi hàn, mạch PCB đế dây chuyền công nghệ lắp ráp đều là nhập khẩu. Thiết bị viễn thông: Đây là lĩnh vực được nhà nước quan tâm nên đã được đầu tư chiều sâu với quy mô thích hợp có công nghệ hiện đại: sản xuất được một số sản phẩm có chất lượng cao, thay thế nhập khẩu và bước đầu có sản phẩm xuất khẩu. Tuy nhiên vẫn chỉ dừng ở mức độ lắp ráp và vẫn nhập khẩu phần lớn linh kiện. Sản xuất phụ kiện và vật liệu: Hiện nay, Việt Nam đã sản xuất được một số loại linh phụ kiện như đế mạch in, tụ điện các loại, cuộn cao áp, cuộn cảm, cuộn lái tia, chi tiết nhựa, tuy nhiên năng lực sản xuất phụ kiện và vật liệu của Việt Nam vẫn còn hạn chế. Sản xuất điện tử chuyên dụng và công nghiệp: Bao gồm các máy móc và các thiết bị điện tử phục vụ các ngành công nghiệp khác như an ninh, y tế.
20

Về cơ cấu sản xuất, công nghiệp điện tử Việt Nam có thể chia thành 5 nhóm

20

PGS.TS Nguyễn Hoàng Ánh (2008), Nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu và khả năng tham gia của các doanh nghiệp ngành điện tử của Việt Nam
http://svnckh.com.vn

29

Cơ cấu ngành công nghiệp điện tử của Việt Nam còn tương đối mất cân xứng trong đó hàng điện tử gia dụng chiếm tỷ lệ cao hơn 80%, còn lại là các sản phẩm điện tử chuyên dụng và linh kiện, phụ kiện điện tử. Về quy mô, giá trị sản xuất toàn ngành liên tục tăng lên từ năm 1997 nhưng tốc độ tăng trưởng không thực sự lớn. Tỷ trọng ngành công nghiệp điện tử cũng không được cải thiện đáng kể, chỉ xấp xỉ mức 3% trong khi các nước khác trong khu vực tỷ trọng này trên 18%. Hiện nay số DN đóng vai trò sản xuất hàng gia công theo thiết kế và thương hiệu của người mua (OEM) chiếm chủ yếu, còn số DN đóng vai trò ODM, sản xuất bằng thiết kế của mình với DN sản xuất sản phẩm bằng thương hiệu của mình chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Số các DN xuất khẩu hàng bằng thương hiệu của DN phần lớn lại là các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Điều này cho thấy năng lực thiết kế cũng như marketing sản phẩm điện tử các DN nội địa chưa cao. Hiện nay trong chuỗi giá trị toàn cầu, DN Việt Nam thường ở vị trí là gia công, lắp ráp là chủ yếu. DN điện tử Việt Nam thường là nhà sản xuất các sản phẩm gia công xuất khẩu và cũng có một số các DN sản xuất hàng xuất khẩu băng thiết kế của DN. Nếu so sánh với các nước ASEAN 5 (gồm Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonexia và Philippines) ngành CNĐT Việt Nam mới đang ở cuối giai đoạn 1 (lắp ráp sản phẩm từ phụ kiện nhập khẩu), đầu giai đoạn đầu tư sản xuất linh kiện phụ tùng phát triển công nghiệp phụ trợ. Trong khi đó các nước ASENA 5 đang phát triển ở giai đoạn 3 (nghiên cứu thiết kế sản phẩm, đầu tư công nghệ cao, đẩy mạnh xuất khẩu).
22 21

Công tác nghiên cứu phát triển sản phẩm của ngành này cũng được

đánh giá ở mức yếu kém. Tỷ lệ đầu tư cho đổi mới công nghệ rất thấp, chỉ ở mức 0,2% - 0,3% doanh thu. Ngay cả DN lớn, tỷ lệ này cũng chỉ dao động quanh con số 1%. Trong khi đó tại Ấn Độ, tỷ lệ đầu tư đạt 5%, Hàn Quốc 10% và Trung Quốc

21

Trong đề tài „‟ Nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu và khả năng tham gia của các doanh nghiệp ngành điện tử của Việt Nam‟‟ với quy mô chọn 38 mẫu quan sát thì có 16 DN là sản xuất OEM, 9 DN sản xuất ODM, 13 DN sản xuất OBM 22 http://www.vnmedia.vn/print.asp?newsid=55158
http://svnckh.com.vn

30

12%. Chính vì vậy giá trị gia tăng của sản phẩm điện tử Việt Nam đạt thấp, chỉ từ 510% dẫn đến khả năng cạnh trang của sản phẩm không cao.
23

Trong chuỗi giá trị toàn cầu, DN Việt Nam thường ở vị trí là nhà sản xuất mặc dù trên thị trường nội địa, tỷ trọng các DN trong hoạt động lĩnh vực phân phối lớn hơn tỷ trọng DN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất. Tỷ trọng các DN hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao lớn hơn tỷ trọng DN hoạt động trong lĩnh vực điện tử tiêu dùng. Và số lượng nhà sản xuất thành phẩm chiếm tỷ trọng lớn hơn nhà sản xuất linh kiện hay bán thành phẩm. Và tính đến thời điểm năm 2009, theo đánh giá của Business Monitor Internation thì sản lượng công nghiệp điện tử Việt Nam đạt khoảng gần 3.5 tỷ USD, và dự đoán sẽ gia tăng CAGR đạt 26% tới năm 2013. Và giá trị của ngành CNĐT trong thu nhập GDP sẽ tăng từ 4% năm 2009 đến dao động quanh 6.3% năm 2014. Tuy nhiên điều này sẽ phụ thuộc nhiều vào sự nỗ lực của chính phủ trong việc thực hiện cải cách thuế và sử dụng những sự điều tiết hỗ trợ phát triển ngành. Bảng 2: Tổng sản lƣợng ngành công nghiệp điện tử Việt Nam
Đơn vị: triệu USD

2006 Tổng lƣ ợng CNĐT Tỷ lƣợng CNĐT/GDP lệ sản 3% sản 1.770 ngành

2007 2.200

2008 3050

2009f 3.720

2010f 4.451

2011f 5.510

2012f 7.181

3%

3%

4%

4%

5%

5%

Nguồn : Vietnam Consumer Electronics and Electronics Industry Report Q1/2010, BMI.

2.1.2.2. Hoạt động thương mại xuất nhập khẩu a/ Xuấ t khẩ u Bảng 3: Tổng giá trị xuất khẩu hàng điện tử
Đơn vị: Triệu đôla

23

http://www.crmvietnam.com/index.php?q=node/550
http://svnckh.com.vn

31

Series 3

1606 1880

2300

2070

2006

2007

2008

2009

Nguồn : Vietnam Consumer Electronics and Electronics Industry Report Q1/2010

Về tốc độ tăng trưởng, so với các ngành công nghiệp khác, công nghiệp điện tử vốn là một trong những ngành non trẻ của nước ta. Trước đây, nhóm hàng này chưa thực sự được quan tâm phát triển nhưng với bước nhảy vọt về kim ngạch xuất khẩu trong mấy năm gần đây, điện tử và linh kiện máy tính đang là một trong những nhóm hàng được xếp vào danh sách “ các mặt hàng xuất khẩu tiềm năng”. Kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng qua các năm với tốc độ rất nhanh. Qua các năm 2006, 2007 sau khi Việt Nam gia nhập WTO sản lượng gia tăng đáng kể, tuy nhiên sau cuộc khủng hoảng năm 2008, các nền kinh tế lớn trên thế giới có xu hướng cắt giảm chi tiêu. Chính bởi vậy trong năm 2009, giá trị kim ngạch xuất khẩu có xu hướng giảm. Theo VEIA thì tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng năm ước đạt 25-30%. Nhưng tỷ trọng xuất khẩu hàng điện tử trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn chỉ ở mức thấp, hơn 4%, trong khi tỷ lệ này ở Singapore là 45% và ở Philippines tới 63%. Về cơ cấu xuất khẩu, cũng như cơ cấu sản xuất, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu hàng điện tử dân dụng, máy tính, linh phụ kiện giản đơn, chủ yếu là các sản phẩm có hàm lượng công nghệ trung bình. Về thị trường xuất khẩu hiện tại hàng điện tử Việt Nam đã có mặt trên 70 quốc gia, trong đó tập trung chủ yếu là Châu Âu và Châu Á. Trong đó, Châu Á và các nước trong khối Đông Á là thị trường rộng lớn nhất của xuất khẩu điện tử Việt Nam. Xuất khẩu điện tử của Việt Nam ra các nước Đông Á chủ yếu là hoạt động
http://svnckh.com.vn

32

xuất nhập khẩu đan chéo giữa các chi nhánh, các nhà máy, tập đoàn đa quốc gia. Trong đó thị trường Nhật Bản luôn đứng đầu, tiếp theo là Hàn Quốc, Singapore. b/ Nhậ p khẩ u Như đã đề cập ở trên, sản xuất của Việt Nam mới chỉ dừng lại ở khâu lắp ráp là chính nên để hoạt động lắp ráp có thể thực hiện được trong điều kiện ngành công nghiệp phụ trợ nước ta chưa thể cung cấp linh kiện cho sản xuất thì việc nhập khẩu linh kiện điện tử có ý nghĩa quan trọng để duy trì sự phát triền của ngành CNĐT nước ta. Về cơ cấu nhập khẩu, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu các sản phẩm sau: Nhập khẩu hàng nguyên chiếc: trước đây các cơ sở lắp ráp điện tử chưa phát triển, cho nên để đáp ứng nhu cầu tiều dùng trong nước, chúng ta phải nhập khẩu sác sản phẩm nguyên chiếc từ nước ngoài. Hiện nay mặc dù đã lắp ráp được nhiều sản phẩm điện tử nhưng với những sản phẩm công nghệ cao như màn hình tinh thể lỏng cỡ lớn, ti vi plasma. Đầu DVD vẫn phải nhập khẩu nguyên chiếc vì chưa có dây chuyền công nghệ, vốn đầu tư và trình độ tay nghề của công nhân còn hạn chế. Nhập khẩu linh kiện điện tử: nguồn linh kiện điện tử đóng vai trò hết sức quan trọng đối với ngành CNĐT và đặc biệt là CNĐT hướng vào lắp ráp như ở Việt Nam. Thông thường chúng ta nhập khẩu CKD (80%), SKD và IKD. Với cơ cấu nhập khẩu như hiện nay, các doanh nghiệp điện tử Việt Nam chỉ đóng vai trò như nhà phân phối lại sản phẩm của các công ty nước ngoài. Tuy só linh kiện điện tử nhập khẩu lớn nhưng khồn đem lại sự chủ động chiếm lĩnh thị trường cho các nhà sản xuất trong nước. Về thị trường nhập khẩu, các doanh nghiệp điện tử ở Việt Nam chủ yếu nhập khẩu từ các nước trong khu vực Đông Á: đặc biệt là Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan và Malaysia. Trong Kế hoạch phát triển ngành công nghiệp điện tử, Chính phủ đã đề cao vai trò của ngành này như một trong những bộ phận chính tạo nên sự tăng trưởng của kinh tế nội địa. Chính phủ cũng tạo những điều kiện thuận lợi để phát triển
http://svnckh.com.vn

33

ngành với mục tiêu mang lại doanh thu từ 4-6 tỷ USD trong năm nay, đạt tỷ lệ tăng trưởng hàng năm trên 20%.

2.2. Đánh giá thực trạng môi trƣ ờng kinh doanh của ngành công nghiệp điện tử ở Việt Nam
Môi trường kinh doanh của một ngành bao gồm các yếu tố nội tại trong ngành và những yếu tố khách quan tác động đến các doanh nghiệp. Hai yếu tố sẽ tác động qua lại, tương trợ, bổ sung lẫn nhau. Chỉ trên cơ sở vừa hoàn thiện được MTKD quốc gia và phải kết hợp với chính các nhân tố trong nội bộ ngành thì MTKD mới có cơ hội được cải thiện. 2.2.1. Đánh giá thực trạng môi trường kinh doanh của Việt Nam theo tiêu chuẩn xếp hạng của World Bank Hiện nay trên thế giới, có nhiều các báo cáo đánh giá về MTKD với những chỉ tiêu khác nhau như : Môi trường Kinh doanh được WB và tập đoàn tài chính IFC, Báo cáo Chỉ số Tự do Kinh tế (IEF) của tổ chức Heritage Foundation và Báo cáo Chỉ số Cạnh tranh Toàn cầu (GCI) của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF). Tuy nhiên theo nhóm nghiên cứu, để đánh giá MTKD của một quốc gia không chỉ dựa trên những yếu tố vĩ mô : tình hình xuất nhập khẩu, tăng trưởng kinh tế, dân số, mức sống, điều kiện tự nhiên, xã hội, yếu tố chính trị…thì mới chỉ nhận định được thực trạng phát triển, quy mô của nền kinh tế đó. Xem nền kinh tế mạnh hay yếu ở điểm nào và có các điều kiện dễ dàng để thực hiện kinh doanh ở khía cạnh nào : chính trị, yếu tố tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực con người…Tuy nhiên đây có thể coi chỉ là những yếu tố cần của MTKD mà chưa phải là yếu tố đủ, vì có thể kể đến một số nước có MTKD rất tốt theo đánh giá của thế giới nhưng lại có điều kiện thiên nhiên, nguồn lực không thuận lợi. Vậy tại sao những nước đó lại được nhận định là nơi có điều kiện MTKD tốt, là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư. Môi trường kinh doanh được đánh giá dựa trên những ý kiến khảo sát từ các DN tham gia thị trường. Do đó cần một công cụ đo lường định tính các quy định pháp lý áp dụng cho các DN , trên cơ sở đó nhận định được những yếu tố cản trở hành chính trong quá trình hoạt động của DN. Điều này có ảnh hưởng rất quan
http://svnckh.com.vn

34

trọng, thúc đẩy hay hạn chế sự phát triển của một DN tại quốc gia đó. Việt Nam trong thời gian qua đã vươn lên làm một trong những quốc gia dẫn đầu về thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhưng cũng theo nhận định của nhiều chuyên gia: Việt Nam đang gây khó khăn cho mình khi có những cản trở cho các DN nước ngoài khi tham gia thị trường. Bởi vậy, nhóm nghiên cứu chỉ thực hiện đánh giá MTKD của Việt Nam thông qua các tiêu chí ảnh hưởng đến hoạt động của một DN. Và một trong những báo cáo uy tín mà các nhà chính sách, các nhà đầu tư…quan tâm khi xem xét MTKD của Việt Nam đó là báo cáo của WB với 10 chỉ tiêu đánh giá.

2.2.1.1. Thực trạng môi trường kinh doanh của Việt Nam Với những tiêu chí đáng giá về môi trường kinh doanh của các quốc gia là khác nhau khiến cho vị trí của MTKD của Việt Nam có sự thay đổi. Tuy nhiên theo các báo cáo thường niên của các tổ chức quốc tế thì MTKD của Việt Nam rất thấp trong các bảng xếp hạng và so với các nước trong khu vực, Việt Nam vẫn ở thứ hạng dưới xa. Theo báo cáo MTKD của WB thì Việt Nam xếp hạng 91/92 (2008/2009) với với hạng 15/13 của Thái Lan và 93/83 của Trung Quốc. Bảng 4 : Báo cáo xếp hạng môi trƣờng của WB năm 2008 – (2009) Tiêu chí xếp hạng Xếp hạng môi trường kinh doanh Tiêu chí 1: Thành lập doanh nghiệp Tiêu chí 2: Cấp giấy phép Tiêu chí 3: Tuyển dụng và sa thải lao động Tiêu chí 4: Đăng ký tài sản Tiêu chí 5: Vay vốn Tiêu chí 6: Bảo vệ nhà đầu tư Tiêu chí 7: Đóng thuế Thái Lan 15 (13) 36 (44) 12 (12) 49 (56) 20 (5) 36 (68) 33 (11) 89 (82) Trung Quốc 93 (83) 135 (151) 175 (176) 86 (111) 29 (30) 84 (59) 83 (88) 168 (132)
http://svnckh.com.vn

Việt Nam 91 (92) 97 (108) 63 (67) 84 (90) 38 (37) 48 (43) 165 (170) 128 (140)
35

Tiêu chí 8: Thương mại quốc tế Tiêu chí 9: Thực thi hợp đồng Tiêu chí 10: Giải thể doanh nghiệp Tiêu chí 1: Thành lập doanh nghiệp

50 (10) 26 (25) 44 (46)

42 (48) 20 (18) 57 (62)

63 (73) 40 (42) 121 (124)
Nguồn: World Bank

Trước đây để khởi sự một doanh nghiệp, nhà kinh doanh phải trải qua 11 bước thủ tục, mất 50 ngày và một khoản chi phí tương đương với 20% thu nhập bình quân đầu người.
24

Tuy nhiên, Việt Nam đã tiến hành một số cải cách nhằm giảm

thời gian thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam, đặc biệt từ khi luật doanh nghiệp mới có hiệu lực tháng 7/2006 đã giảm số ngày cấp phép đăng ký kinh doanh ở Việt Nam. Và việc thực hiện quy trình một cửa được tiến hành từ tháng 3/2007 đã có những cải cách về cấp mã số thuế, và giấy phép khắc dấu cũng chưa được đưa vào báo cáo năm nay. Vì vậy, chỉ số “thời gian thành lập doanh nghiệp của Việt Nam” vẫn giữ nguyên 50 ngày như năm ngoái. So với năm 2008 thì trong năm 2009 vị trí của Việt Nam không thay đổi vẫn ở hạng 116. Bảng 5: Tình hình thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam

24

http://svnckh.com.vn

36

Nguồn: Doing Business in Viet Nam 2010 - IFC

Tiêu chí 2: Cấp giấy phép Một trong những lý do khiến môi trường cạnh tranh của Việt Nam bị giảm là do thủ tục hành chính (TTHC) còn rườm rà, sách nhiễu. Các TTHC đặc biệt các thủ tục về thuế, hải quan, giấy phép kinh doanh và quan hệ lao động là những lĩnh vực then chốt trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, nhằm thu hút đầu tư. Chính vì vậy chính phủ đã đưa ra đề án đơn giản hóa TTHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (gọi tắt là Đề án 30). Trong đó, lĩnh vực tài chính có tới 840 TTHC được thực hiện tại các cấp có liên quan thiết thực đến người dân và DN như thuế, phí, lệ phí, hải quan, tài chính doanh nghiệp, quản lý giá...Theo VCCI, nếu chi phí hành chính ngày càng cao, chi phí ngoài lề ngày càng lớn sẽ khiến doanh nghiệp bị giảm năng lực cạnh tranh. Vì vậy, việc cắt bỏ hơn 1.000 TTHC trong giai đoạn 1 của Đề án 30 đã được thực hiện theo hướng thuận lợi, hiệu quả hơn cho người dân và doanh nghiệp; đồng thời đề cao vai trò giám sát quá trình văn bản đi vào cuộc sống của người dân và doanh nghiệp. Các bước thủ tục, thời gian và chi phí bỏ ra để giải quyết các giấy phép hoạt động kinh doanh ở Việt Nam tương đối cao so với các nước trong khu vực. Ví dụ như trong ngành xây dựng nhà đầu tư mất 13 bước thủ tục, 194 ngày và 248.1% thu nhập bình quân đầu người, trong khi mức bình quân toàn khu vực là 185% mức thu nhập bình quân; thậm chí nước láng giềng Thái Lan chỉ là 10,7% . Bức tranh về giấy phép ở Việt Nam đã tụt 38 bậc từ hạng 25 xuống hạng 63. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, đây là thứ hạng trung thực hơn so với năm ngoái bởi vì vấn đề giấy phép trên thực tế vẫn đang đặt ra nhiều khó khăn cho Việt Nam hiện nay. Tiêu chí 3: Tuyển dụng và sa thải lao động Những khó khăn khi tuyển dụng và sa thải công nhân, tập trung ở 6 yếu tố: độ khó khi thuê người, tính khắt khe của giờ làm việc, độ khó khi sa thải lao động, độ khắt khe trong chế độ thuê lao động, chi phí tuyển dụng (tỷ lệ so với tiền lương)
25

25

Rand, J. and Finn Tarp (2007), Characteristics of the Vietnamese Business Environment: Evidence from a SME Survey in 2005
http://svnckh.com.vn

37

và chi phí sa thải (số tuần lương phải bồi hoàn). So sánh với các nước trong khu vực, tuyển dụng lao động ở Việt Nam dễ dàng. Tuy nhiên, việc sa thải lao động ở Việt Nam khó khăn hơn và được xếp ở gần như nhóm khó khăn nhất. Cụ thể, độ khó trong việc sa thải lao động ở Việt Nam là 40 (trong thang từ 1 đến 100), chi phí sa thải lao động là 87 tuần lương. Tiêu chí 4: Đăng ký tài sản Tiêu chí này để xem doanh nghiệp có dễ dàng bảo đảm quyền sở hữu tài sản hay không. Ở Việt Nam doanh nghiệp cần trải qua 4 bước thủ tục, mất 67 ngày và tốn 1,2% giá trị tài sản để có được sự bảo đảm này. Tuy nhiên, so với các nước đứng đầu trong bảng xếp hạng doanh nghiệp Việt Nam vẫn mất nhiều thời gian đăng ký tài sản. Ngoài ra, vẫn còn một số vấn đề bất cập trong lĩnh vực này: giao dịch không chính thức vẫn khá phổ biến, quy trình hợp thức hoá hiện còn khó khăn. Quản lý đất đai chưa hiệu quả nên việc doanh nghiệp thiếu chứng nhận sở hữu đất ai và tài sản là khá phổ biến. Bảng 6: Tình hình thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam

Nguồn: Doing Business in Viet Nam 2010- IFC

Tiêu chí 5: Vay vốn

http://svnckh.com.vn

38

Tiêu chí này xem xét các mức độ quyền lợi theo luật định của người vay và người cho vay, mức độ đầy đủ của thông tin tín dụng, độ phủ của đăng ký công cộng và tư nhân. Vào năm 2009 mức độ của quyền lợi theo luật định này được tăng thêm hai điểm lên 6/10, nghĩa là sự tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp đã dễ dàng hơn. Dưới đây là bảng đánh giá về tiêu chí vay vốn của Việt Nam so với một số nền kinh tế trong khu vực

Bảng 7: Xếp hạng vay vốn một số quốc gia trong khu vực ASEAN

Nguồn: Doing Business in Viet Nam 2010- IFC

Hiện nay, ở Việt Nam thông tin về độ tin cậy tín dụng của cá nhân cũng như công ty không được chia sẻ và các tổ chức đăng ký thông tin tín dụng tư nhân chưa phát triển. Nếu không có các dữ liệu về độ tin cậy tín dụng, ngân hàng sẽ rất e ngại việc cho vay, và vì thế việc tiếp cận tín dụng sẽ bị hạn chế. Việt Nam đang xúc tiến việc xây dựng tổ chức đăng ký thông tin tín dụng tư nhân. Khi tổ chức này được
http://svnckh.com.vn

39

hình thành và các điều kiện pháp lý cần thiết cho hoạt động của nó được ban hành chắc chắn sẽ giúp cho việc tiếp cận thông tin tín dụng ở Việt Nam được dễ dàng hơn. Tiêu chí 6: Bảo vệ nhà đầu tƣ Tâm lý ngần ngại khi đầu tư vào Việt Nam thể hiện trong các chỉ số này. Tiêu chí 6 xem xét ba phương diện bảo vệ nhà đầu tư gồm có tính minh bạch trong giao dịch, trách nhiệm pháp lý của giám đốc và khả năng của cổ đông kiện các nhà quản trị có hành vi sai trái. Tính tổng thể Việt Nam chỉ đạt 2,7/10. Chỉ số về trách nhiệm của giám đốc nằm trong nhóm thấp nhất thế giới (0/10), quyền khiếu kiện của cổ đông và tính minh bạch đều thấp (2/10 và 6/10). Năm nay, thứ hạng của tiêu chí này là 165/178.

Tiêu chí 7: Đóng thuế Các doanh nghiệp Việt Nam thuộc nhóm tiêu tốn nhiều thời gian nhất để đáp ứng các yêu cầu về thuế. Nhưng thủ tục thuế nhiêu khê, làm mất nhiều thời gian của doanh nghiệp là vấn đề đáng lưu ý. Bình quân doanh nghiệp phải nộp 32 lần trong một năm và mất khoảng 1.050 giờ làm việc trong khi ở Indonesia là 266 giờ làm việc. Báo cáo của Hiệp hội doanh nghiệp trẻ Việt Nam (2009) cũng cho thấy 39% doanh nghiệp được hỏi cho rằng thủ tục thuế hiện nay là phức tạp trong khi chỉ có 16% cho là đơn giản. Hơn 40% doanh nghiệp đánh giá chính sách thuế thiếu minh bạch và thiếu ổn định, chỉ có 13% cho là minh bạch và 5% cho là ổn định. Trong khi đó tình trạng trốn thuế diễn ra khá trầm trọng, có đến 14% DN không trả đồng thuế nào, trong đó 91% là những DN không đăng kí chính thức. Bên cạnh năng lực thu thuế có vấn đề - khi có đến 90% thuế được thu bởi những quan chức cấp xã và huyện với khả năng hạn chế, thì vấn đề còn bị trầm trọng hơn bởi tình trạng tham nhũng và hối lộ của những nhân viên và quan chức ngành thuế. Tiêu chí 8: Thƣ ơng mại quốc tế
26

26

Toan (2007) - “Impact of Government Policies on the Development of Private Small and Medium Size Enterprises (PSMEs) in Vietnam”
http://svnckh.com.vn

40

Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam đã cải thiện nhiều, chi phí và thủ tục đã giảm nhưng vẫn còn mất thời gian. Để xuất một container hàng, doanh nghiệp phải có sáu loại hồ sơ, mất 24 ngày và tốn 669 USD. Trong khi đó, Trung Quốc chi phí thời gian không thấp hơn Việt Nam là 21 ngày nhưng chi phí tiền bạc lại thấp hơn đáng kể, chỉ 390 USD. Tương tự để nhập khẩu một container, doanh nghiệp cần có 8 loại hồ sơ, mất 23 ngày và 881 USD. Việc phải chịu chi phí cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực đang gây ảnh hưởng không nhỏ cho tính cạnh tranh của Việt Nam. Năm nay, Việt Nam xếp hạng trung bình 63/178. Tiêu chí 9: Thực thi hợp đồng Ở Việt Nam, doanh nghiệp chỉ phải trải qua 34 bước thủ tục tốn 295 ngày và 31% giá trị món nợ là hợp đồng được thi hành. Với các chỉ số này năm nay Việt Nam đang ở vị trí 40/178. Tuy nhiên, theo một số chuyên gia, Việt Nam không nên quá lạc quan về vị trí này bởi vì thực tế việc chấp hành thực thi các phán quyết của toà án vẫn chưa ổn, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng, việc thu hồi nợ quá hạn đang là khó khăn lớn. Tiêu chí 10: Giải thể doanh nghiệp Việc giải quyết các trường hợp phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam còn kém hiệu quả, xếp hạng 121/178. Thủ tục phá sản phải mất ít nhất 5 năm, tốn kém đến 15% giá trị tài sản của doanh nghiệp. Đối với những doanh nghiệp vỡ nợ thì các bên liên quan chỉ thu hồi được 18% giá trị tài sản. Vì thế, rất ít doanh nghiệp tuân theo các quy định và thủ tục chính thức khi muốn đóng cửa hoạt động. 2.2.1.2. Đánh giá những cải thiện về môi trường kinh doanh Việt Nam Gần một nửa (45%) doanh nghiệp ghi nhận có sự tiến bộ trong thủ tục hành chính và gia nhập thị trường, phản ánh nỗ lực không ngừng của chính phủ trong lĩnh vực này, đặc biệt là việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong việc thành lập doanh nghiệp thông qua cơ chế một cửa trong khâu đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, một số lĩnh vực quan trọng khác như nguồn cung lao động hay nộp thuế thì lại ít khả quan hơn.
http://svnckh.com.vn

41

Các doanh nghiệp nước ngoài ghi nhận những chuyển biến tích cực của Việt Nam trong việc xây dựng một môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn và cải tiến hệ thống luật lệ kinh doanh phù hợp hơn với thông lệ quốc tế. Đây chính là kết quả tác động trực tiếp của việc gia nhập WTO mang lại. Có 46,6%
27

doanh nghiệp nước

ngoài cảm nhận được các thay đổi tích cực trong đối xử bình đẳng hơn giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn nước ngoài, và 39,6 % doanh nghiệp nước ngoài tham gia điều tra ghi nhận có cải thiện trong lĩnh vực tăng cường tuân thủ các quy tắc và thông lệ kinh doanh quốc tế.

Bảng 8 : Những cải thiện gần đây đối với môi trƣờng kinh doanh

Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư, năm 2010.

27

VCCI (2008), Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ, NXB chính trị quốc gia 62008
http://svnckh.com.vn

42

Chi tiết của 10 tiêu chí đánh giá kể trên cho thấy môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam được cải thiện nhiều so với trước đây và so với các nước láng giềng. Tuy nhiên, do các nước đang phát triển khác cũng đang tích cực thực hiện cải cách thậm chí nhanh hơn ở Việt Nam. Đó là lý do tại sao Việt Nam dù thăng hạng trong bảng xếp hạng chung nhưng vẫn cần cải cách mạnh mẽ và liên tục hơn nữa. Chính vì vậy: nếu không tiếp tục cải cách, các nước khác sẽ vượt lên. Bởi vì trên thực tế, ở Đông Nam Á, môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫn còn kém xa so với các nước Singapore (hạng 1), Thái Lan (15) và Malaysia (24), song tốt hơn nhiều so với Indonesia (123), Philippines (133), Campuchia (145). Trong báo cáo đánh giá năm 2009 của World Bank về môi trường kinh doanh thì quốc gia kinh tế lớn lân cận là Trung Quốc tăng hạng từ hạng 93 lên 83. Đây chính là một cảnh báo cho thấy Việt Nam cần đẩy mạnh cải cách nhanh hơn nữa, triệt để hơn nữa nếu muốn cạnh tranh về thu hút đầu tư. Nhận định chung của các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước là Việt Nam không thể chỉ so sánh với chính mình mà phải nỗ lực cải cách triệt để trong bối cảnh các nước khác cũng đang cải cách mạnh mẽ mới mong cải thiện môi trường kinh doanh trong những năm sau. 2.2.2. Đánh giá thực trạng môi trường kinh doanh ngành công nghiệp điện tử qua mô hình cạnh tranh 5 nguồn lực của Michael Porter Để đánh giá những yếu tố tác động đến hoạt động kinh doanh của DN trong một ngành được sử dụng phổ biến hiện nay là mô hình cạnh tranh 5 nguồn lực (Five Forces) nổi tiếng của Michael Porter. Mô hình đã đánh giá toàn diện những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự cạnh tranh của một ngành. Thông qua những tìm hiểu lý luận về 5 nguồn lực kết hợp với số liệu tổng hợp, đề tài có những đánh giá về các yếu tố như sau: 2.2.2.1. Những vấn đề về nguồn cung của ngành CNĐT Có hai vấn đề nổi trội nhất về nguồn cung của ngành CNĐT là sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ (CNPT) và nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao.

http://svnckh.com.vn

43

Thứ nhất, ngành công nghiệp phụ trợ là yếu tố có ảnh hưởng rất cao tới sự phát triển của một ngành công nghiệp. Riêng đối với ngành công nghiệp điện tử thì ngành công nghiệp phụ trợ càng đóng vai trò quan trọng, có thể nói sự “sống còn” của ngành công nghiệp điện tử được đặt lên “vai” của khối ngành công nghiệp phụ trợ. Nhìn chung ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam vẫn đang ở trong giai đoạn sơ khai, yếu kém và manh mún. Số lượng các DN phụ trợ nội địa mới chỉ dừng lại ở khâu sản xuất các chi tiết, linh kiện đơn giản và cơ cấu giá trị NĐH rất nhỏ. Do tính chất và đặc thù của các sản phẩm, loại sản phẩm phụ trợ như phụ tùng, linh kiện, nguyên phụ kiện... Các danh nghiệp Việt Nam hiện chỉ có thể tập trung đầu tư và phát triển sản xuất các loại phụ tùng linh kiện có kích cỡ cồng kềnh với công nghệ sản xuất không phức tạp và chỉ với mục tiêu đáp ứng nhu cầu, yêu cầu của các DN FDI. Thêm nữa, yêu cầu đặt ra cũng như chính sách thu mua từ phía các Cty FDI rất khắt khe về chất lượng, thông số kỹ thuật, nguồn nguyên vật liệu và thời hạn giao hàng. Thực tế, các DN nội địa khó có khả năng đáp ứng một cách toàn diện các yêu cầu này. Đại diện Cty Daihatsu (NB) đã từng cho biết họ đi khảo sát hàng tháng trời tại 64 DN tìm nhà cung cấp ốc vít theo chuẩn quốc tế nhưng tất cả đều không đáp ứng. Còn Cty Canon, khảo sát hàng năm trời, trầy trật mãi mới tìm được các nhà cung cấp linh kiện phụ tùng tại VN. Nhưng oái oăm là, trong số vài chục nhà cung cấp thì có đến hơn 90% là các DN FDI
28.

Ngay những ngày đầu đặt chân vào

VN, Cty LD Toyota VN đã khảo sát và tìm được vài DN VN cung cấp linh kiện, phụ tùng, nhưng đến khi mang mẫu về NB kiểm nghiệm thì không đạt chất lượng. Bảng 9: Mối quan hệ giữa ngành công nghiệp phụ trợ và lắp ráp hàng điện tử

28

Ước mơ công nghiệp phụ trợ Việt Nam còn trên giấy, http://www.laodong.com.vn/Home/Uoc-mo-congnghiep-phu-tro-Viet-Nam-con--tren-giay/20093/129868.laodong
http://svnckh.com.vn

44

Nguồn : Xây dựng và tăng cường ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt nam; Báo cáo điều tra KYOSHIRO ICHIKAWA

Việc ngành CNPT trong nước còn yếu khiến cho nguồn cung chủ yếu cho ngành CNĐT phải phụ thuộc vào nhập khẩu của nước ngoài. Việc nhập khẩu khiến cho các doanh nghiệp sản xuất hàng điện tử ở Việt Nam hoàn toàn bị động trước những biến động của kinh tế thế giới cũng như làm mất đi khả năng thương lượng của mình khi mua hàng bởi nguồn cung ứng là khá hạn hẹp. Nhập khẩu nguyên vật liệu, linh kiện sẽ chịu một phần thuế nhập khẩu. Mặc dù trong năm 2009, Bộ Tài chính đã chấp thuận đề nghị giảm bớt thuế suất với một số loại linh kiện điện tử
29

nhưng với mức thuế suất mới thì giá thành sản phẩm điện tử trong nước vẫn chưa thể cạnh tranh được với sản phẩm điện tử nhập khảu nguyên chiếc, đặc biệt là sản phẩm từ các nước trong khu vực ASEAN. Linh kiện nhập khẩu sẽ tạo ra sức ép cho ngành CNĐT bởi lẽ chi phí chuyển đổi nhà cung ứng trong trường hợp này cũng cao hơn nhiều so với trường hợp có sẵn các nhà cung ứng trong nước.
29

Ống nhựa, máy bơm khí, bơm chân không, máy nén, quạt không khí, nắp chụp điều hòa gió, van điện tử, van xả, bánh răng và cụm bánh răng, bộ định thời gian, động cơ điện xoay chiều một pha, linh kiện, phụ tùng của động cơ diezel, linh kiện phụ tùng của động cơ dầu, chốt trục, gương chưa có khung (gương được uốn cong để sản xuất gương chiếu hậu xe máy) giảm từ mức 5-10% trước đó xuống mức thuế áp dụng phổ biến từ 0% đến 10. Một số mặt hàng khác như các loại quạt bàn, quạt sàn, quạt trần có công suất không quá 125W, máy hút bụi, máy đánh bóng sàn nhà, máy nghiền hoặc trộn thức ăn, máy vắt ép nước rau quả… áp dụng mức thuế mới 40% thay cho mức 50% hiện hành. Nguồn: http://www.linhkiendientutmg.com/NewsDetail.aspx?cate=82&tuto=40
http://svnckh.com.vn

45

Thứ hai, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao là vấn đề mà hiện nay tất cả các ngành ở Việt Nam đều gặp phải, đối với riêng ngành CNĐT, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao là chìa khóa để nâng cao vị thế của ngành trong chuỗi sản xuất toàn cầu. Bởi lẽ nếu không thể có một đội ngũ kĩ sư cao cấp cũng với những công nhân lành nghề thì không thể nào Việt Nam có thể tự sản xuất những sản phẩm cao cấp hay xa hơn là nghiên cứu và tạo ra những sản phẩm của riêng mình, đạt đến những bậc cao hơn của chuỗi giá trị thay vì chỉ dừng ở mức thấp nhất là gia công và lắp ráp như hiện nay. Thêm vào đó, ngành CNĐT của Việt Nam hiện nay cũng còn thiếu những cán bộ quản lí trung cấp, những người vừa có khả sản xuất vừa có đủ trình độ lãnh đạo, nâng cao hiệu quả sản xuất. Hiện nay, khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với quốc tế thì việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài ngày càng đạt được những thành tựu đáng kể. Khi đó Việt Nam sẽ tận dụng được nhiều tiến bộ về khoa học kĩ thuật và càng có thêm cơ hội phát triển ngành CNĐT bởi lẽ đây vẫn là một trong nhưng ngành thu hút nhiều vốn đầu tư nhất của Việt Nam. 2.2.2.2. Những vấn đề về nguồn tiêu thụ của ngành CNĐT Châu Á hiện đang nổi lên như một thị trường đầy tiềm năng cho sự phát triển của ngành công nghiệp điện tử. Với số lượng dân số đông, thị trường mới phát triển tạo cơ hội cho các quốc gia châu Á có cơ hội phát triển các sản phẩm điện tử hiện đại. Cùng với những quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Singapore… Việt Nam cũng thể hiện những triển vọng của mình với tiềm năng Internet phát triển, dân số trẻ và lượng người sử dụng internet ngày càng cao, những sản phẩm hiện đại như điện thoại di động truy cập Internet, smartfone, notebook,… đang chiếm được sự quan tâm và yêu thích của khách hàng. Do đó thị trường công nghiệp điện tử tiêu dùng ở Việt Nam đang trở thành một trong những thị trường đầy tài năng của các nhà đầu tư. Thị trường điện tử bao gồm các thiết bị máy tính, thiết bị điện tử cầm tay, thiết bị nghe nhìn và các sản phẩm game được dự đoán sẽ đạt được 4.4 tỷ USD năm 2010 và kỳ vọng sẽ tăng trưởng đến 6.8% năm 2014.
30

30

Vietnam Consumer Electronics Report Q1/2010, Business Monitor International.
http://svnckh.com.vn

46

Không chỉ có nhiều cơ hội trong thị trường nội địa, trong giai đoạn tới, sản phẩm điện tử của Việt Nam có khả năng xuất khẩu sang các thị trường như: Hoa Kì, Nhật Bản, Bỉ, châu Phi, Argentina, Braxin… Có thể nói rằng, tiềm năng của ngành này là vô cùng lớn. Với sự tiến bộ vượt bậc về khoa học kỹ thuật, đã khiến cho các mặt hàng điện tử ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống của người dân. Chính điều này khiến cho nhu cầu trở nên cao hơn bao giờ hết, đặc biệt là các sản phẩm điện tử tiêu dùng. 2.2.2.3. Nguy cơ từ những công ty sắp gia nhập Sự gia nhập của các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (công ty FDI): Thị trường xuất khẩu các sản phẩm điện tử lắp ráp từ năm 2000 đến nay hầu hết là thị phần của các doanh nghiệp FDI. Theo thống kế của VEIA, trong tổng số vốn của ngành điện tử, DNNN có tổng số vốn khoảng 38 triệu USD (chiếm 4,64% tổng số vốn đầu tư vào CNĐT), DNTN đầu tư khoảng 18,5% triệu USD (chiếm 2,2%) và DN có vốn FDI là 762 triệu USD (chiếm 93,1%) . Trong thời gian tới, hứa hẹn ngành CNĐT sẽ còn thu hút nhiều vốn đầu tư FDI hơn nữa bởi lẽ ngành CNĐT của Việt Nam vẫn còn nằm trong giai đoạn sơ khai, còn rất nhiều tiềm năng để khai thác. Một xu thế khác trong khu vực nữa nhà các nhà đầu tư từ Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia… còn đang xem xét để chuyển nhà máy ở các nước này về Việt Nam, một mặt là tận dụng quỹ đất dồi dào mặt khác là nguồn nhân công lao động 'phổ thông giá còn rẻ hơn các nước trong khu vực. Với lợi thế về vốn, công nghệ. Theo thống kê của Hội Tin học Việt Nam, chỉ tính riêng trong năm 2006, giá trị xuất khẩu của Canon đạt 650 triệu USD, Fujitsu khoảng 500 triệu USD. Nhóm các công ty liên doanh có tên tuổi như Hanel, Panasonic…hoặc nhóm các công ty của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Mỹ…có nhà máy tại khu chế xuất hoặc khu công nghiệp có doanh số khoảng vài trăm triệu USD. Hiện nay có rất
31

31

32

Báo cáo Xúc tiến xuất khẩu 2009-2010, Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Phát triển (Depocen) thực hiện. Nguồn: http://www.tapchitaichinh.vn/tabid/56/Key/ViewArticleContent/ArticleId/2084/Default.aspx 32 Thúy Hiên, Công nghiệp Việt Nam trước thử thách hội nhập , http://www.tcvn.gov.vn/web_pub_pri/magazine/index.php?p=show_page&cid=&parent=83&sid=96&iid=1 810
http://svnckh.com.vn

47

nhiều tập đoàn nước ngoài đầu tư vốn nhiều vào ngành công nghiệp điện tử Việt Nam bao gồm: tập đoàn Intel Mỹ với số vốn đầu tư 1 tỷ USD; tập đoàn Nidec (Nhật Bản) với số vốn 1 tỷ USD đầu tư tại Bình Dương sản xuất đầu quang học dùng cho đầu DVD, VCD; tập đoàn Foxcon (Đài Loan) đầu tư 5 tỷ…Chính điều này đã cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến của các nhà đầu tư. Sự gia nhập của các doanh nghiệp tư nhân: Mặc dù sự góp mặt của khối doanh nghiệp trong nước là không nhiều đối với diện mạo của ngành CNĐT của Việt Nam hiện nay, tuy nhiên, ngược lại với sự trì trệ vốn có của doanh nghiệp nhà nước, khối doanh nghiệp tư nhân đang có nhiều cơ hội hơn để gia nhập ngành này. Cùng với những chính sách khuyến khích của nhà nước, trong thời gian tới, chắc chắn các doanh nghiệp tư nhân sẽ có nhiều cơ hội để phát triển hơn. Hiện nay công ty Viettronics Tân Bình (VTB) chuyên sản xuất linh kiện tivi, Công tử Điện tử Bình Hòa thuộc Tổng Công ty cổ phần Điện tử và Tin học Việt Nam (VEIC) chuyên gia công các sản phẩm điện tử dành cho xe hơi hay một số DN vừa và nhỏ khác chuyên về các linh kiện như bộ biến áp đèn dành cho ampli, loa… Một trong số các DN lớn ở trong nước, mỗi năm xuất khẩu vào khu vực Đông Nam Á lượng hàng giá trị 3,4 triệu USD/năm, chủ yếu là hàng gia công với mức tăng trưởng hàng năm khoảng 5%. 2.2.2.4. Sản phẩm thay thế Có lẽ sản phẩm thay thế nguy hiểm nhất đối với các sản phẩm điện tử trong thời gian tới chính là các sản phẩm điện tử, với những tính năng mới hơn, hiện đại hơn. Sản phẩm điện tử là những thứ không thể thiếu trong đời sống hiện đại, tuy nhiên với một sản phẩm điện tử nhất định thì vòng đời của nó là không dài. Ví dụ như Công ty liên doanh Sản xuất bóng đèn hình Orion-Hanel trước đây, đã có thời kỳ làm ăn rất thịnh vượng. Nhưng do đối tác nước ngoài rút lui khỏi thị trường khi sản xuất ti-vi công nghệ mới không còn sử dụng bóng đèn hình và những chính sách ưu đãi, bảo hộ cho ngành công nghiệp điện tử ở Việt Nam giảm dần, thì cái tên liên doanh này cũng không còn nữa.

http://svnckh.com.vn

48

Tuy nhiên có một thực tế hiện nay các thiết bị điện tử như: tivi, tủ lạnh, đầu máy video, máy tính, micro, bàn ủi, nồi cơm điện…đang bị làm nhái, làm giả rất nhiều. Chỉ tính riêng nhãn hiệu Sony, sản phẩm kỹ thuật số, hàng trôi nổi, hàng giả, hàng nhái chiếm phần lớn thị trường như: máy chụp hình, máy quay, hàng chính hãng chỉ chiếm 30% thị phần (70% còn lại là hàng nhập khẩu qua đường xách tay, nhập lậu, trốn thuế, không có hóa đơn chứng từ). Máy MP3, hàng giả chiếm hơn 90% và thẻ nhớ, hàng giả chiếm hơn 95% thị phần. Và một trong những mặt hàng bị nhái nhiều nhất có thể kể đến là điện thoại di động có đến 17 -20% thị trường là hàng nhái từ Trung Quốc . Với những chiếc điện thoại “nhái” có vẻ bề ngoài y hệt những chiếc điện thoại thật của các thương hiệu nổi tiếng, các công ty sản xuất hàng giả của Trung Quốc cũng bổ sung thêm những tính năng đặc biệt như màn hình rộng hơn, chế độ 2 thẻ SIM, thậm chí cả ống kính telescopic cho camera của điện thoại…Với những sản phẩm này nổi bật, bắt mắt, rất giống hàng thật trong khi đó giá thành lại rất rẻ đã khiến cho hàng nhái ngày càng có điều kiện để phát triển. Tuy nhiên hiện nay, chưa có một chính sách chặt chẽ nhằm ngăn chặn nạn hàng giả đang tràn lan trên thị trường và các cơ quan chủ quan chưa thực hiện một cách thống nhất trong cuộc chiến này. Chính vì thế mà áp lực nghiên cứu cải tiến sản phẩm, tạo ra những sản phẩm mới, ưu việt hơn chính là khó khăn lớn nhất đối với các doanh nghiệp. 2.2.2.5.Cạnh tranh nội bộ ngành a/ Năng lực cạnh tranh của ngành Trong cuốn “Biến động kinh tế Đông Á và con đường Công nghiệp hoá Việt Nam” của GS.TS Trần Văn Thọ đã khảo sát chỉ số cạnh tranh của từng nước trong một số ngành công nghiệp tiêu biểu bằng cách: nếu gọi X là nước khẩu và N là nước nhập khẩu, chỉ số cạnh tranh của một số nước trong một ngành công nghiệp nào đó được tính theo công thức sau: Z= (X-N)/(X+N) Z= - 1: chủ yếu nhập khẩu và hầu như không xuất khẩu
33 34

33

34

Tràn lan hàng giả hàng nhái, http://vietbao.vn/Kinh-te/Tran-lan-hang-gia-hang-nhai/65041066/88/ Khám phá điện thoại nhái ở Trung Quốc, http://www.thongtincongnghe.com/article/15921
http://svnckh.com.vn

49

Z= 1: hầu như chỉ xuất khẩu và không nhập khẩu Z= 0: xuất khẩu và nhập khẩu gần như bằng nhau (trong đó, nếu kim ngạch xuất và nhập khẩu rất nhỏ, đó là hiện tượng ngành công nghiệp đã qua đã qua giai đoạn thay thế nhập khẩu và bắt đầu chuyển sang giai đoạn xuất khẩu. Nếu kim ngạch xuất và nhập khá lớn thì đó là hiện tượng của sự phân công trong nội bộ một ngành công nghiệp (intra-industry division of labor). Bảng 10 :Chỉ số năng lực cạnh tranh ngành CNĐT các nƣớc Đông Á 2000-2007 Năm Hồng Kông Singapore Nhật Bản Hàn Quốc Malaysia Thái Lan Philipines Indonesia Việt Nam 2000 -0,050 0,047 0,411 0,133 0,010 -0,005 0,168 0,654 -0.455 2001 2002 2003 0,172 0,245 0,492 -1,783 -0,927 0,859 1,127 1,319 -1,093 -0,387 2004 -0,047 -0,025 0,110 0,361 0,234 0,045 0,021 0,011 0,405 -0,333 2005 0,160 -0,020 0,111 0,331 0,246 0,064 -0,062 -0,010 0,375 -0,322 2006 0,118 0,127 0,308 0,238 0,026 0,007 0,402 -0,276 2007 0,055 0,135 0,298 0,223 0,018 0,093 0,250 Trung Quốc -0,048 -0,043 -0,061 -0,043 -0,071 0,071 0,339 0,134 0,050 0,063 0,619 0,209 -0,095 0,005 0,658 -0,457 -0,028

-0,024 -0,018

-0,047 0,794

-0,041 -0,039

-0,337 -0,149

Nguồn: Biến động kinh tế Đông Á và con đường Công nghiệp hoá Việt Nam, NXB Chính trị Quốc Gia (2005)

Qua bảng số liệu ta nhận thấy trong khi hầu hết so với các quốc gia Đông Á có chỉ số dương thì Việt Nam vẫn ở mức âm. Chính điều này đã thể hiện năng lực cạnh tranh ngành CNĐT của nước ta còn nhiều yếu, chủ yếu vẫn là nhập siêu. Như vậy có thể thấy, dù đã xác định là ngành chủ lực trong chiến lược phát triển kinh tế song phần lớn các sản phẩm lại chủ yếu là nhập khẩu. b/Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Tham gia thị trường công nghiệp điện tử có sự đa dạng hóa giữa các chủ thể tham gia. Ngoài các DNNN với sự đầu tư vốn của chính phủ thì còn có các DNTN và DN FDI, đây mới là đối tượng sản xuất chính của ngành điện tử. Tuy nhiên có một thực tế là các doanh nghiệp điện tử hiện nay còn gặp nhiều khó khăn bởi chưa
http://svnckh.com.vn

50

có định hướng chiến lược phát triển cụ thể, phù hợp với tình hình sản xuất trong nước. Điều này có nghĩa là các danh nghiệp điện tử Việt Nam hiện nay thiếu một cơ sở quan trọng để vạch ra hướng đi cho riêng mình. Mức độ liên kết và hợp tác giữa các doanh nghiệp điện tử cũng như với các doanh nghiệp khác còn rất hạn chế, chưa tạo được mới liên kết chặt chẽ để phát triển theo hướng hơptác, chuyên môn hoá phù hợp với cơ chế thị trường và xu thể toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới. Không chỉ thế, năng lực của các doanh nghiệp Việt Nam còn thua kém về khả năng thiết kế,sáng tạo sản phẩm, thiếu kinh nghiệm quản lý và tác phong công nghiệp, chưa đáp ứng yêu cầu của ngành. Bên cạnh đó, năng lực cạnh tranh nganh còn thể hiện ở khía cạnh rào cản rút lui cho ngành CNĐT là khá cao bởi để đầu tư phát triển trong ngành này, nhà đầu tư phải bỏ ra một lượng vốn lớn cho các dây chuyền máy móc, công nghệ, đầu tư cho nguồn nhân lực…

2.3. Đánh giá môi trƣ ờng kinh doanh của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam
2.3.1. Những thành tựu đạt được Với giá trị sản lượng ngành CNĐT gia tăng đáng kể trong thời gian vừa qua, kết hợp với ngày càng thu hút những dự án đầu tư lớn vào Việt Nam, điều đó chứng tỏ môi trường kinh doanh ngành này đã được cải thiện đáng kể. Xét trên những khía cạnh vĩ mô và vi mô ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các DN trong ngành CNĐT, có thể thấy rằng những thành tựu đã đạt được là rất lớn:  Chính sách cải cách thủ tục hành chính: Ban hành các quyết định nhằm từng bước đơn giản hóa và nâng cao tính khả thi các thủ tục liên quan đến hoạt động của người dân và DN (Quyết định số 181/2003/QĐ –TTg) hay thành lập các tổ công tác liên ngành xử lý các vướng mắc và kiến nghị của DN về thủ tục hành chính (Quyết định số 23/2005/QĐ-TTg)….Chính điều này khiến cho việc gia nhập ngành trở nên đơn giản và dễ dàng hơn cho các DN điện tử.

http://svnckh.com.vn

51

Hành lang pháp lý liên quan đến môi trường kinh doanh: Bên cạnh

Luật đầu tư chung (số 59/2005/QH11) với nội dung quan trọng là việc đảm bảo đầu tư, hỗ trợ, ưu đãi đầu tư đã được chỉnh sửa cho phù hợp với các nguyên tắc và quy định WTO. Luật Cạnh tranh (27/2004/QH11) giúp cho các DN cạnh tranh trong môi trường bình đẳng và an toàn hơn. Ngoài ra bên cạnh đó còn có Luật thương mại (số 36/2005/QH11) và Luật sở hữu trí tuệ (số 50/2005/QH11) đã góp phần vào việc thúc đẩy bảo vệ các DN nói chung và các DN điện tử nói riêng.  Cải cách DN Nhà nước: Hiện nay có rất nhiều các DN sản xuất hàng điện tử sau khi sắp xếp đánh giá, hoạt động thì sẽ tiến hành chuyển đổi sở hữu dần dần theo hình thức công nghiệp hóa. Và đối với những DN thực sự thua lỗ nghiêm trọng thì sẽ giải thể. Chính điều này đã làm động lực cho MTKD của ngành có sự cạnh tranh lớn, đòi hỏi các DN cần phải có những chiến lược kinh doanh nhằm tồn tại và phát triển.  Thực hiện những chính sách nhằm ưu đãi, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp điện tử. Đặc điểm của ngành này là cần một lượng vốn lớn khi sử dụng những kỹ thuật và công nghệ cao, đòi hỏi những công nhân có kỹ thuật cao…Với những thuận lợi về nguồn nhân công giá rẻ và tài nguyên khoáng sản quan trọng cần thiết để phát triển công nghiệp vật liệu điện tử với thị trường tiêu thụ sản phẩm lớn đã khiến cho đây Việt Nam trở thành điểm đến tiềm năng để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.  Chính sách ưu đãi về thuế quan nhằm thúc đẩy ngành CNĐT phát triển. Năm 2009, bộ Tài chính đã thực hiện giảm thuế đối với một số linh kiện điện tử. Bên cạnh đó, Nhà nước còn có chiến lược phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, là nền tảng cơ bản góp phần vào sự phát triển của ngành CNĐT. 2.3.2. Những khó khăn còn hạn chế Bên cạnh những thành tựu đạt được thì môi trường kinh doanh của ngành CNĐT còn có những khó khăn tồn tại nhất định:  MTKD quốc gia đang ở ví trị thấp, còn rất nhiều bất cập trong việc tạo điều kiện phát triển cho các DN. Chính điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt
http://svnckh.com.vn

52

động của các DN trong ngành CNĐT. MTKD chung sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của một ngành, và CNĐT không phải là ngoại lệ. MTKD quốc gia không tốt sẽ khiến cho thu hút FDI bị giảm sút, đặc biệt đối với ngành CNĐT luôn đòi hỏi vốn lớn chính vì vậy sự tham gia đầu tư của nước ngoài là cần thiết. Bên cạnh đó sẽ là sự chuyển giao công nghệ, có như vậy thì chúng ta mới bắt kịp được với sự phát triển của khu vực và thế giới trong lĩnh vực này.  Chưa có một chiến lược cụ thể phát triển ngành CNĐT một cách cụ thể. Chính điều này đã gây khó khăn cho việc định hướng và xây dựng chiến lược kinh doanh cho các DN trong ngành. Một trong những nội dung quan trọng là cần phải xác định được mục tiêu các sản phẩm mà chúng ta cần hướng tới. Tuy nhiên trong thời gian qua, ngành CNĐT chưa làm được điều này, khi mà các sản phẩm chủ yếu chỉ được gia công và lắp ráp, chưa có những chính sách nhằm nghiên cứu và phát triển một số mặt hàng nhất định. Trên cơ sở đó mới tiến hành sản xuất.  Chính sách đưa ra còn nhiều mâu thuẫn: đặc biệt được thể hiện trong chính sách thuế và thủ tục hải quan chưa linh hoạt. Với việc nhập khẩu Tivi nguyên chiếc, nếu nhập từ ASEAN thì thuế suất chỉ có 5%. Nhưng nhiều linh kiện để lắp ráp tivi thuế suất vẫn rất cao như cuộn biến áp (28%); cầu chì (29%); phím nguồn, phím điều khiển (18%), các chi tiết nhựa (18%)… Mặc dù các linh kiện, chi tiết này trong nước không thể sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng không đáp ứng được những yêu cầu về thông số kỹ thuật cũng như độ chính xác. Thuế suất đánh vào các linh kiện điện tử có khi còn cao hơn so với việc nhập khẩu nguyên chiếc, chính điều này đã khuyến khích các DN điện tử chuyển sang làm kênh phân phối cho các sản phẩm điện tử nước ngoài.  Công nghiệp phụ trợ sơ khai và manh mún dẫn đến tình trạng tỉ lệ nội địa hóa thấp: đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển ngành CNĐT, tuy nhiên cho đến thời điểm hiện nay thì ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Nhìn chung ở nước ta hiện nay CNPT còn hết sức đơn giản, chưa có nhiều sản phẩm, quy mô SX nhỏ lẻ,chủ yếu sản xuất các linh kiện chi tiết giản

http://svnckh.com.vn

53

đơn,giá trị gia tăng thấp và còn có sự chênh lệch về năng lực phụ trợ giữa các DN vừa và nhỏ nội địa của Việt Nam với các yêu cầu của các hãng sản xuất toàn cầu.  Thị trường hàng giả hàng nhái hạn chế sự phát triển ngành CNĐT ở Việt Nam. Có thể nói thị trường nội địa đầy tiềm năng để các DN điện tử có thể xác định làm mục tiêu cho sản xuất và kinh doanh. Tuy nhiên, hiện nay thị trường này đang bị đe dọa bởi các sản phẩm nhái, có mẫu mã rất giống hàng thật, mà giá thành lại rẻ hơn rất nhiều. Do không có sự kiểm soát chặt chẽ của các ban ngành, chức năng đã khiến cho hàng điện tử giả tràn lan trên thị trường trong một vài năm trở lại đây.

http://svnckh.com.vn

54

CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MÔI TRƢ ỜNG KINH DOANH NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ VIỆT NAM
3.1. Quan điểm và định hướng phát triển
3.1.1. Quan điểm phát triển Theo quyết định số: 75/2007/QĐ-TTg được ban hành vào ngày 28 tháng 5 năm 2007 về kế hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp điện tử Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 đã đưa ra những quan điểm và mục tiêu phát triển rõ ràng và có tính định hình nhằm xây dựng ngành điện tử trở thành mũi nhọn trong công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. Với quan điểm phát triển công nghiệp điện tử trở thành một trong những ngành công nghiệp quan trọng của nền kinh tế với định hướng xuất khẩu và đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa, Nhà nước đã khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư với các quy mô, loại hình khác nhau, từ lắp ráp thành phẩm đến sản xuất linh kiện, phụ tùng và các sản phẩm phụ trợ, trong đó đặc biệt chú trọng đến thu hút đầu tư nước ngoài từ các tập đoàn đa quốc gia. Một trong những khó khăn cơ bản để phát triển ngành công nghiệp điện tử là yếu tố đặc trưng của một ngành đòi hòi phải có nguồn vốn đầu tư lớn. Do đó, Chính phủ tạo nên tạo điều kiện thuận lợi về chính sách, thủ tục, giấy tờ…cho các công ty, tập đoàn có ý định đầu tư vào các doanh nghiệp điện tử. Bên cạnh đó, sau khi gia nhập WTO, rất nhiều doanh nghiệp điện tử rơi vào tình trạng khó khăn, một trong những lý do chính là chưa tìm được hướng đi cho riêng mình, với cơ cấu sản xuất được xác định rõ ràng. Chính vì vậy, trong thời gian tới các doanh nghiệp trong nước cần phải chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển, trước hết là điện tử chuyên dùng; bao gồm sản xuất sản phẩm, linh kiện, phụ tùng và sản phẩm phụ trợ cho các lĩnh vực tin học, viễn thông, điện tử y tế, điện tử công nghiệp, cơ điện tử, đo lường và tự động hóa.
http://svnckh.com.vn

55

Với mục tiêu phát triển ngành công nghiệp điện tử trở thành công nghiệp mũi nhọn, một trong những yếu tố quan trọng là cần phải có nguồn nhân lực đủ cả về số lượng lẫn chất lượng. Đây là ngành công nghiệp đòi hỏi đội ngũ công nhân phải có trình độ tay nghề cao nhằm đáp ứng được công nghệ hiện đại, tiên tiến. Do đó cần phải có những chính sách đào tạo bài bản, hợp lý đối với nhân lực trong ngành này. Có như vậy thì ngành công nghiệp điện tử mới thật sự phát triển. 3.1.2. Mục tiêu phát triển Với mục tiêu nhằm xây dựng công nghiệp điện tử Việt Nam phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của đất nước, có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới. Chính phủ đề ra mục tiêu đến năm 2010 phấn đấu danh số sản xuất đạt từ 4 tỷ đến 6 tỷ USD; kim ngạch xuất khẩu đạt từ 3 tỷ đến 5 tỷ USD; tạo việc làm cho 300 nghìn lao động; có tốc độ tăng trưởng từ 20% đến 30%/ năm.  Ngoài việc đề ra mục tiêu đến năm 2010, Chính phủ cũng xây dựng tầm nhìn đến năm 2020 : Công nghiệp điện tử là động lực phát triển, có đóng góp lớn cho xuất khẩu.  Tạo việc làm cho 500 nghìn lao động; xây dựng được đội ngũ kỹ sư Năng lực sản xuất trong nước có khả năng đáp ứng phần lớn nhu cầu Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ đáp ứng được nhu cầu sản Các cơ sở sản xuất phân bố hợp lý theo định hướng phát triển vùng. và kỹ thuật viên có trình độ quốc tế.  thị trường, không phụ thuộc vào các sản phẩm nhập khẩu.  xuất trong nước và xuất khẩu.  3.1.3. Định hướng phát triển Theo Kế hoạch tổng thể phát triển công nghiệp điện tử Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 nước ta chủ chương : Về sản phẩm và cơ cấu sản phẩm: tập trung vào các sản phẩm chủ lực gồm máy tính và các thiết bị ngoại vi; thông tin - viễn thông; điện tử y tế, điện tử công nghiệp, đo lường và tự động hóa; sản xuất linh kiện, phụ tùng và sản phẩm phụ trợ.
http://svnckh.com.vn

56

Trong đó sẽ phải tăng tỷ trọng sản phẩm điện tử chuyên dụng và phụ tùng linh kiện bằng việc tập trung sản xuất, lắp ráp các sản phẩm điện tử chuyên dụng, các sản phẩm công nghệ cao để nâng cao năng lực công nghệ của các doanh nghiệp. Để làm điều này chính phủ chủ chương tận dụng tiềm năng sản xuất vật liệu điện tử, lĩnh vực mà Việt Nam có nhiều lợi thế về tài nguyên. Ưu tiên phát triển một số lĩnh vực của công nghiệp phụ trợ như: chế tạo khuôn mẫu, đúc, ép nhựa, đột dập kim loại, xử lý bề mặt (sơn, mạ…) phục vụ cho quá trình sản xuất phụ tùng linh kiện cho ngành công nghiệp điện tử Về thị trường: sẽ phát triển theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm để đáp ứng được thị trường trong nước, tiếp cận thị trường khu vực và thế giới theo định hướng xuất khẩu và tập trung nghiên cứu và phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và có tính cạnh tranh trong khu vực và thế giới. Về nguồn nhân lực: Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế trong xã hội tham gia phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp điện tử. Tập trung đào tạo nguồn nhân lực bao gồm đội ngũ các chuyên gia thiết kế, nghiên cứu và phát triển các sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu thị trường, có giá trị gia tăng cao và có tính cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới; các kỹ sư công nghệ có trình độ cao, có khả năng tiếp thu công nghệ tiên tiến, ứng dụng có hiệu quả tại Việt Nam và có thể sáng tạo các công nghệ mới; đội ngũ công nhân lành nghề thực thi nhiệm vụ sản xuất và đảm bảo chất lượng sản phẩm; và các nhà quản lý cấp trung gian giỏi, quản lý có hiệu quả các quá trình sản xuất Về công tác nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm và công nghệ: Nước ta sẽ tập trung nghiên cứu thiết kế các sản phẩm điện tử dân dụng, chuyên dùng, phụ tùng linh kiện đơn giản, có mức độ phức tạp vừa phải, mẫu mã đa dạng đáp ứng nhu cầu của thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. Bên cạnh đó vẫn chú trọng việc xây dựng và đào tạo đội ngũ nghiên cứu thiết kế và phát triển các sản phẩm công nghệ cao, có hàm lượng trí tuệ cao, tận dụng lợi thế về thiết kế, tích hợp hệ thống và khả năng lập trình để có những sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.
http://svnckh.com.vn

57

Đồng thời, cần phối hợp chặt chẽ giữa các trường đại học, viện nghiên cứu với các doanh nghiệp để tận dụng năng lực, trang thiết bị và kết quả nghiên cứu. Khuyến khích đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất kinh doanh và hỗ trợ phát triển các sản phẩm mới. Ngoài ra, thay vì đi đường vòng, cần đi thẳng vào công nghệ hiện đại, tiếp nhận công nghệ trực tiếp từ các công ty nước ngoài sáng tạo ra công nghệ nguồn.

3.2. Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện môi trƣ ờng kinh doanh của ngành công nghiệp điện tử.
3.2.1. Đối với Chính phủ 3.2.1.1. Hoàn thiện môi trường pháp lý Hoàn thiện môi trường pháp lý nhằm cải thiện môi trường đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngành công nghiệp điện tử. Môi trường kinh doanh thuận lợi là một trong những điều kiện nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư lớn từ các nhà đầu tư nước ngoài. Một trong những việc làm cần thiết để hoàn thiện môi trường pháp lý là Nhà nước phải cải cách mạnh mẽ và triệt để khâu hành chính, đặc biệt là đổi mới tư duy của đội ngũ cán bộ. Họ phải biết mình làm gì và làm bằng cách nào để giúp doanh nghiệp phát triển, tạo hành lang pháp lý an toàn cho doanh nghiệp hoạt động. Bên cạnh đó, Nhà nước cần nhìn nhận tầm quan trọng của các Hiệp hội ngành nghề. Ngoài việc đại diện quyền lợi cho doanh nghiệp, Hiệp hội còn đóng vai trò tham mưu cho Chính phủ những vấn đề liên quan đến doanh nghiệp. Qua đó, để tạo điều kiện cho các Hiệp hội hoạt động hiệu quả, Quốc hội và Chính phủ cần sớm ban hành điều Luật Hội. Khi có một định chế hoạt động, Hiệp hội sẽ có đầy đủ cơ sở pháp lý để can thiệp và hỗ trợ các doanh nghiệp thành viên hoạt động hiệu quả. Việt Nam đang ngày càng hòa nhập mạnh mẽ vào cuộc chơi toàn cầu. Do đó, chúng ta đang trải qua hàng loạt những thay đổi về hành lang pháp lý và những quy định mới. Theo các chuyên gia kinh tế, Chính phủ cần cho phép sự tham gia của các tổ chức thương mại quốc tế trong giai đoạn đầu của cuộc đối thoại nhằm chia sẻ

http://svnckh.com.vn

58

những kinh nghiệm quốc tế cũng như những đề xuất tốt nhất trước khi những điều luật này được Quốc hội thông qua. Ngoài những chính sách nhằm hoàn thiện khung pháp lý cần phải củng cố bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp điện tử bằng các văn bản pháp luật. Hệ thống bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp cần được coi như một công cụ của chính sách kinh tế nhằm khuyến khích phát triển các năng lực sáng tạo về công nghệ trong nước bằng cách khích lệ các tác giả. Trên thực tế, hệ thống bảo hộ này có tác dụng như một lá chắn đủ mạnh cho sự phát triển nền công nghiệp điện tử hứa hẹn nhiều sáng tạo trong nước mặc dù hiện đang còn ở mức vừa và nhỏ. Ngoài ra, hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cần được xem như một sự đầu tư dài hạn về cơ sở hạ tầng để phát triển thị trường trong nước, có sự bảo hộ quyền sở hữu thì mới có sự sáng tạo trong lĩnh vực này. 3.2.1.2. Hoàn thiện các chính sách thuế

Hoàn thiện các chính sách thuế theo hướng tạo điều kiện và tính đến lợi ích cho cả các doanh nghiệp lắp ráp và sản xuất, tạo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, bình đẳng.
Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng điện tử trong nước đang gặp nhiều khó khăn, chi phí sản xuất trong nước cao do giá thành nhiều nguyên vật liệu và các dịch vụ đầu vào đều tăng. Trong khi đó, doanh nghiệp Việt Nam đang phải nhập khẩu nhiều loại linh kiện từ các nước ngoài khối ASEAN và chịu thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) với mức thuế suất cao, bình quân từ 15% đến 20%, còn sản phẩm nguyên chiếc nhập từ các nước ASEAN chỉ có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 5%. Điều này khiến cho các doanh nghiệp sản xuất điện tử có xu hướng chuyển sang thành các doanh nghiệp phân phối. Gía trị gia tăng của ngành mang lại không cao do Việt Nam gần như chỉ thực hiện ở giai đoạn gia công và lắp ráp sản phẩm, trong khi ngành công nghiệp phụ trợ kém phát triển do đó rất nhiều các thiết bị linh kiện phải nhập khẩu. Do đó trong thời gian tới, Chính phủ cần ban hành quyết định về thuế suất nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp lắp ráp và sản xuất, tạo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh và bình đẳng.
http://svnckh.com.vn

59

3.2.1.3. Đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: cung cấp nguồn điện ổn định và đảm bảo mạng thông tin, mạng lưới giao thông thuận tiện; xây dựng các khu công nghệ thông tin tập trung Công nghiệp điện tử là ngành công nghệ kĩ thuật cao, do đó cần phải đáp ứng được hệ thống cơ sở hạ tầng đạt được chất lượng tốt nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Tập trung phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, chủ yếu là hệ thống đường xá, cảng biển, sân bay, được xác định tại các vùng đã và sẽ có dung lượng lưu thông hàng hoá lớn, những vùng có tác động lan toả mạnh tới các vùng khác. Ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng, trước hết là năng lượng điện. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các nhà máy điện có lợi ích tổng hợp (sản xuất điện, chống lũ, cấp nước, du lịch); phát triển hợp lý các nguồn nhiệt điện khí; phát triển mạnh nhiệt điện than; phát triển các nguồn điện gió và mặt trời thân thiện với môi trường; chuẩn bị kỹ để triển khai xây dựng điện hạt nhân đầu tiên trong thời gian gần. Áp dụng đồng bộ các biện pháp về kỹ thuật, kinh tế và tổ chức nhằm sử dụng hợp lý và tiết kiệm điện, giảm tổn thất điện năng. 3.2.1.4. Thu hút và sử dụng FDI có hiệu quả nhà nước giải pháp Vốn đóng vai trò hàng đầu trong việc phát triển công nghiệp điện tử. Để nâng cao vị trí của công nghiệp điện tử trong mạng lưới sản xuất thì Việt Nam cần trước hết chính là vốn. Công nghiệp điện tử cần vốn để sản xuất thiết bị điện tử với linh kiện, phụ kiện chế tạo trong nước. Xa hơn nữa, còn phải tiến tới sản xuất được các loại vật liệu điện tử cơ bản như: bán dẫn, vật liệu từ, điện môi, các vật liệu quang dẫn, quang học…Tuy nhiên, chế tạo vật liệu, linh kiện điện tử đều thuộc phạm vi công nghiệp đòi hỏi trình độ công nghệ cao và vốn đầu tư lớn, cho nên Nhà nước cần đầu tư vốn hợp lý vào hoạt động sản xuất, lắp ráp điện tử so với các ngành kinh tế khác. Tuy nhiên, với thực trạng kinh tế của nước ta thì việc đầu tư lớn vào ngành công nghiệp điện tử là rất khó thực hiện cho nên một chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài hợp lý để tranh thủ vốn và công nghệ nước ngoài sẽ đem lại những hiệu quả cao. Đầu tư nước ngoài dưới hình thức liên doanh và doanh nghiệp
http://svnckh.com.vn

60

100% vốn nước ngoài là con đường nhanh nhất hiện nay để chúng ta có thể đi ngay vào các lĩnh vực hiện đại, chế tạo sản phẩm chất lượng cao, là cơ hội tốt để nhanh chóng đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ ngành công nghiệp điện tử nước ta. Chính vì vậy, phải có chính sách thu hút FDI một cách hợp lý để các doanh nghiệp trong nước có cơ hội phát triển. Cụ thể là: a/ Hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật và giải quyêt các thủ tục cấp phép đầu tư một cách nhanh chóng, chính xác. Để thu hút nhiều FDI vào các ngành kinh tế nói chung và CNĐT nói riêng thì trước hết chúng ta cần có một hệ thống văn bản luật pháp đầu tư minh bạch, không chồng chéo, không tuỳ tiện thay đổi. Đồng thời cần hoàn chính nội dung các bộ luật liên quan tới chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ sao cho phù hợp với các yêu cầu của thế giới. Đồng thời chúng ta cũng nên bổ sung các văn bản dưới luật hướng dẫn chi tiết việc thực hiện các bộ luật này. Không chỉ thế, cải cách triệt để thủ tục hành chính phù hợp trong khâu cấp phép đầu tư, tránh để các nhà đầu tư chờ đội lâu, thủ tục rườm rà, tốn kém mất thời gian. Bên cạnh đó cần phát triển hệ thống thông tin, dịch vụ tư vấn pháp lý nhanh chóng, chuẩn xác và trung thực giúp cho hoạt động đầu tư đi đúng hướng, chặt chẽ, đồng thời tạo tối đa điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài. b/Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại Nhà nước cần lập trung tâm xúc tiến thương mại tại các Bộ ngoại giao, Bộ công thương, Bộ kế hoạch đầu tư, Bộ công nghiệp, các UBND các tỉnh, thành phố để chủ động quảng bá vận động thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Xây dựng danh mục các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư là các dự án vật liệu điện tử mới, sản xuất linh kiện điện tử, cụm linh kiện điện tử ứng dụng công nghệ mới để Việt Nam có thể thực sự trở thành đầu mối sản xuất và cung cấp các sản phẩm điện tử cho các nhà cung cấp trong khu vực và trên thế giới.

http://svnckh.com.vn

61

Các dự án khi đã được lựa chọn đưa vào danh mục kêu gọi đầu tư nước ngoài phải được thống nhất vể chủ trương và quy hoạch. Các cơ quan hữu quan cần cụ thể hoá mục tiêu, nội dung của dự án, địa điểm và hình thức đầu tư. 3.2.1.5. Giải pháp nâng cao trình độ khoa học công nghệ Một trong những những khó khăn lớn nhất của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam là công nghệ quá lạc hậu so với thế giới và các nước trong khu vực. Theo các chuyên gia thì công nghệ của ta lạc hậu so với thế giới 20-30 năm. Điều này sở dĩ là do Việt Nam là nước đến sau, vì vậy để theo kịp trình độ thế giới, thay vì chạy theo các nước trong khu vực, nhập công nghệ cũ, chúng ta nên đi tắt đón đầu, cố gắng đạt công nghệ tiến tiến nhất. Để làm được điều này cần tăng cường thu hut các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư và chuyển giao công nghệ vào các sản phẩm công nghệ cao, hàm lượng trí tuệ cao. Nhà nước cần khuyến khích các DN nghiên cứu, sủ dụng công nghệ mới. Bên cạnh việc tận dụng các nguồn lực bên ngoài, nhà nước cần chủ động hơn trong việc khuyến khích các doanh nghiệp trong nước nghiên cứu và sử dụng các công nghệ mới như cấp tín dụng hay bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp sử dụng công nghệ mới, hoặc giảm thuế, hoàn thuế cho các danh nghiệp này. Cuối cùng chúng ta cần xây dựng hệ thống đo lường chuẩn quốc tế và cải thiện hệ thông qản lý chất lượng, một cơ chế thích hợp để thương mại hoá các kết quả nghiên cứu khoa học. Xây dựng hệ thống các phòng đo kiểm chất lượng sản phẩm điện tử theo tiêu chuẩn quốc tế. Tư vấn, hướng dẫn, hỗ trợ và khuyến khích cho các doanh nghiệp tham gia chương trình xây dựng hệ thống quản lý chất lượng. Hướng dẫn đăng ký sở hữu công nghiệp và đăng ký nhãn hàng. 3.2.1.6. Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Phát triển lực lượng kỹ sư : Với lực lượng lao động khoảng 46 triệu người, Việt nam có thể cung cấp một lượng lao động lớn mà không gặp bất kỳ một trở ngại nào. Tuy nhiên, Việt nam lại thiếu lực lượng kỹ sư có trình độ từ trung cấp đến cao cấp. Số lượng kỹ sư tốt nghiệp đại học được tuyển dụng có đủ năng lực thể đáp ứng các nhu cầu về quản lý lại rất thiếu, đặc biệt là ở miền Bắc.
http://svnckh.com.vn

62

Một phần của thực trạng này là do việc đào tạo thực hành khoa học và kỹ thuật (kỹ thuật cơ khí, kỹ thuật điện, hoá ứng dụng...) trong các trường đại học còn rất yếu, nguyên nhân chính là trang thiết bị phục vụ cho thực hành trong nhà trường còn thiếu cả về lượng lẫn chất làm giảm nhiệt tình trong quá trình tiếp thu những kiến thức thực tế của sinh viên. Mặt khác, chính ý thức tự giác trong tiếp thu những kiến thức lý thuyết và thực tế của sinh viên cũng là một hạn chế lớn làm giảm chất lượng nguồn nhân lực. Cần phải kết hợp hai nhân tố thứ nhất là phần cứng (bằng trang thiết bị) và phần mềm (chương trình đào tạo và phương thức giảng dạy), để có một khối lượng lớn kỹ sư có thể làm việc trong ngành công nghiệp điện tử. Tăng cường tổ chức các chương trình liên thông giữa các trường đại học và các tổ chức học thuật trong và ngoài nước, ví dụ như chương trình thực tập ngắn hạn, cần phải có hiệu quả để sinh viên có điều kiện nâng cao kỹ năng thực hành và có thái độ đúng đắn với môi trường làm việc của một doanh nghiệp sản xuất. Để có được một lực lượng kỹ sư có trình độ trung cấp, việc mở rộng các trường cao đẳng kỹ thuật và các trung tầm đào tạo nghề là điều hết sức cần thiết. Một ví dụ điển hình là, từ năm 2002, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) giúp trường Cao đẳng Công nghiệp Hà nội trang bị lại cơ sở đào tạo bằng việc hỗ trợ máy móc và thiết bị, đào tạo giảng viên Việt nam, và tìm kiếm đầu ra cho việc sản xuất linh phụ kiện. Những việc làm như thế nên được tiến hành ở các trường cao đẳng kỹ thuật ở miền Nam để thúc đẩy trình độ kỹ thuật của cả nước. 3.2.1.7. Phát triển ngành công nghiệp phụ trợ Mặc dù, Chính phủ rất quan tâm đến sự phát triển của các ngành CNPT trong nước, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một chiến lược lâu dài và ổn định để phát triển các ngành này. Để có thể tạo ra những sự thay đổi lớn,phát triển mạnh mẽ đối với CNPT ở nước ta hiện nay thì giữa các chủ thể SXKD với nhà nước cần có sự hợp tác và thực hiện đồng bộ các giải pháp tổng thể. Hiện nay trong hệ thống luật pháp nước ta vẫn chưa có định nghĩa về ngành CNPT, điều đó dẫn đến việc trong các quy định pháp quy không hề có chính sách
http://svnckh.com.vn

63

khuyến khích đầu tư và phát triển ngành CNPT. Bởi vậy vấn đề đầu tiên đặt ra là Chính phủ cần phải xây dựng khái niệm CNPT trong hệ thống luật pháp. Hơn nữa thì Chính phủ cũng cần phải nhận diện lại vấn đề và tham gia tích cực vào cuộc chơi này hơn nữa bằng cách lập ra một cơ quan đầu mối để mối lái cho các DN cung cấp chi tiết linh kiện. Ngoài ra các cơ quan chính sách phải xây dựng và công khai chiến lược, quy hoạch đối với CNPT. Để tận dụng hiệu quả các nguồn lực còn hạn hẹp. Cần có các chính sách xác định rõ các lĩnh vực cần được ưu tiên để phát triển CNPT. Chẳng hạn như hiện nay phải tập trung nâng cao năng lực các ngành gia công thiết yếu như: đột dập chi tiết kim loại, đúc, mạ, chế tạo khuôn mẫu trong khuôn khổ chương trình phát triển công nghiệp phụ trợ quốc gia. Phải đẩy mạnh cải cách các doanh nghiệp quốc doanh trong ngành cơ khí, nhựa, đúc thành các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cho công nghiệp phụ trợ với mức độ chuyên môn hoá cao vì những lĩnh vuẹc này công nghệ còn rất lạc hậu CNPT đòi hỏi có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Phía Nhà nước nên đầu tư vào CNPT đối với những ngành quan trọng cần chi phối, những ngành công nghệ cao, những ngành tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội... Các DNNN cũng có thể liên doanh liên kết để thành lập các DN vệ tinh , sản suất sản phẩm phụ trợ phục vụ cho bản thân DN và cho xã hội. Trong thời điểm này chúng ta cũng không nên đánh thuế linh kiện điện tử cao để ép các công ty đa lắp ráp đồ điện gia dụng phải tăng cường nội địa hoá. Mặc dù mục tiêu của chính sách về lâu dài là đúng vì muốn nhanh chóng tạo điều kiện xây dựng các ngành phụ trợ, tuy nhiên, tình hình hiện nay cho thấy là nên làm ngược lại để giữ chân các công ty đã đầu tư lắp ráp (đối phó trước thách thức AFTA và WTO ), nghĩa là nên cho nhập khẩu tự do, miễn thuế các linh kiện bộ phận lắp ráp để giảm giá thành sản phẩm, duy trì khả năng cạnh tranh với các nước ASEAN khác. Thay vì đó, nhà nước nên tăng cường hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, hỗ trợ về thuế và về thông tin và sự hợp tác quốc tế ở bình diện quốc gia. Đặc biệt cần phải nâng
http://svnckh.com.vn

64

cao khả năng cấp tín dụng cho DN đầu tư CNPT, đồng thời với nó là đưa ra những ưu đãi về chính sách kết hợp giữa tín dụng và chính sách hỗ trợ cho CNPT, tín dụng ưu đãi kết hợp giữa chế độ bảo đảm tín dụng và bù lãi suất đối với ngành CNPT. 3.2.2. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành điện tử MTKD ngành có phát triển chỉ khi các DN hoạt động trong ngành cũng cần phải có những chiến lược kinh doanh, chiến lược phát triển. Đó là tác động hai chiều và cần phải có sự tương tác từ cả hai phía.

3.2.2.1. Xây dựng chiến lược phát triển Có thể dễ dàng nhận thấy yếu tố quan trọng trong việc hình thành và thúc đẩy sự phát triển của ngành CNPT là nhận thức của bản thân các DN về tầm quan trọng của nó đối với việc nâng cao sức cạnh tranh của công nghiệp điênh tử Việt Nam. Mặc dù gần đây, các cơ quan nhà nước mới bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển CNPT, nhưng các DNNN (chủ thể chính trong lĩnh vực này) từ trước đến nay lại thường hoạt động theo kiểu trọn gói (sản xuất từ A đến Z). Do đó, họ hầu như không có khái niệm về ngành CNPT và chưa có một chiến lược phát triển một cách cụ thể. Khi tham gia sản xuất từ A đến Z, hiệu quả sản xuất của công ty đó sẽ không cao vì cần rất nhiều vốn đầu tư. Và vì thế vốn đầu tư của họ buộc phải dàn trải... Do đó các công ty hoạt động trong ngành CNPT chỉ nên chọn, tham gia vào một lĩnh vực sản xuất. Các DN cần đa dạng hoá trong hợp tác, liên doanh liên kết với các nhà đầu tư nước ngoài nhất là với các DN nhỏ và vừa của Nhật. Đó là những công ty có trình độ kỹ thuật cao và có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực này vào Việt Nam để cung ứng các linh kiện, sản phẩm phụ trợ, tiếp nhận sự chi viện về công nghệ từ nước ngoài. Đây cũng là chính sách cần thiết để tăng khả năng cạnh tranh của các DN trong nước với những DN của Trung Quốc sẽ đầu tư vào nước ta trong thời gian tới. Do vậy chỉ có đa dạng hoá liên doanh liên kết, hợp tác đầu tư thì các DN Việt Nam mới là một mắt xích trong dây chuyền sản xuất toàn cầu.
http://svnckh.com.vn

65

Từ trước đến nay chúng ta mới quan tâm đến liên doanh thông qua việc góp vốn đầu tư, gia công sản phẩm đơn giản thì đã đến lúc các DN cần phải coi trọng liên doanh, liên kết dưới dạng đối tác chiến lược, DN vệ tinh, chuyển nhượng bản quyền, thương hiệu. Trước mắt với những chi tiết tương đối dễ gia công, chế tạo, các DN Việt Nam có đủ khả năng đảm nhận được ngay và điều này cũng rất quan trọng bởi việc hỗ trợ cho các DN Việt Nam phát triển trình độ kỹ thuật của mình, sẵn sàng đón nhận chuyển giao kỹ thuật, sản xuất từ các DN có vốn nước ngoài là hết sức cần thiết còn việc sản xuất những chi tiết quan trọng, đòi hỏi kỹ thuật gia công cao ở Việt Nam sẽ do các DN có vốn nước ngoài đảm nhận. Trong tương laicông việc đó sẽ chuyển sang cho các DN Việt Nam. Chúng ta đang trong quá trình CNH-HDH đất nước bởi vậy việc xây dựng một nền tảng vững chắc cho sự phát triển nghành công nghiệp nói chung và công nghiệp điện tử nói riêng là hết sức quan trọng.CNPT chính là một trong những nền tảng đó bởi vậy việc cải thiện và đẩy nhanh sự phát triển nghành này trong tương lai là hết sức cần thiết. 3.2.2.2. Xác định thị trường mục tiêu Đây là yếu tố quan trọng mà các DN cần phải xác định. Do hàng điện tử được phân loại theo nhiều hình thức với sự đa dạng về các chủng loại. Trong khi đó các DN Việt Nam đang còn nhiều yếu kém về công nghệ, thì DN chỉ nên xác định trong một số sản phẩm nhất định và phục vụ tới một số nhóm đối tượng nhất định. Có như vậy, DN mới tập trung được nguồn lực từng bước xây dựng thương hiệu và chiếm lĩnh thị trường. Có được thương hiệu là có được sức sống vững chắc. Câu nói này đã lí giải tại sao xây dựng thương hiệu đối với các nhà sản xuất điện tử lại đóng vai trò quan trọng đến thế. Đặc biệt khi xảy ra khủng hoảng, thương hiệu chính là thứ giá trị nhất, giúp doanh nghiệp tồn tại. Tuy nhiên hiện nay, chưa có một thương hiệu điện tử mạnh nào của Việt Nam chiếm được sự tin tưởng của người tiêu dùng. Bởi vậy, ngay từ bây giờ, các DN sản xuất hàng điện tử Việt Nam nên bắt đầu xây dựng thƣơng hiệu cho riêng mình. Đặc biệt khi thị trường phân phối bán lẻ của Việt
http://svnckh.com.vn

66

Nam phát triển với tốc độ chóng mặt như hiện nay, bên cạnh việc nhiều khi nhập khẩu nguyên chiếc lại có giá thành rẻ hơn so với các sản phẩm sản xuất trong nước. Chính điều này khiến cho các DN cần phải xác định được sản phẩm cần cạnh tranh, có đủ sức, lực để cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu và với các DN FDI vốn đã có thương hiệu lớn trên thị trường. 3.2.2.3. Đào tạo nguồn nhân lực Nhân tố con người là một nhân tố vô cùng quan trọng, đóng vai trò quyết định đối với sự thành bại của mỗi DN, đặc biệt là ngành đòi hỏi công nhân kỹ thuật cao như trong ngành CNĐT. Vì vậy, các DN điện tử Việt Nam phải luôn chú trọng đến việc đào tạo các kỹ sư, công nhân có trình độ tay nghề vững vàng, cố gắng tạo điều kiện cho các cán bộ chủ chốt đi đào tạo ở các nước chính hãng theo định kỳ để không ngừng cập nhật và nâng cao kiến thức chuyên ngành. Các công ty phải có chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công nhân viên từ những kiến thức cơ bản đến những kiến thức chuyên ngành, tránh tình trạng đào tạo tràn lan nhưng kém chất lượng, vừa tốn tiền vừa không đạt hiệu quả. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nên thực hiện nguyên tắc 4Đ trong chính sách tuyển người là đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao và đào thải để lựa chọn những người có kiến thức, có năng lực nhằm phục vụ cho mục tiêu chung là nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường. Để có thể tuyển chọn được đội ngũ cán bộ trẻ, nhanh nhạy, nắm bắt được công nghệ hiện đại và có khả năng sáng tạo thì ngay từ bây giờ, các DN điện tử Việt Nam nên quan tâm đến sinh viên ở các trường đại học, đặc biệt là khối kinh tế, kỹ thuật như trao quà tặng, cấp học bổng… Việc làm này sẽ đem lại lợi ích trong tương lai cho doanh nghiệp. Riêng đối với các cán bộ đang tại chức, các doanh nghiệp cần tiếp tục mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, nhằm rà soát lại toàn bộ lượng lao động hiện có để thay thế những người quá kém. Đồng thời, khuyến khích đội ngũ công nhân viên nâng cao tay nghề qua các cuộc thi nhằm tạo động lực để họ phấn đấu.

http://svnckh.com.vn

67

KẾT LUẬN
Hiện nay có một thực trạng là ngành công nghiệp điện tử Việt Nam có tiềm năng phát triển, nhưng những kết quả đạt được chưa tương xứng với nguồn lực sẵn có. Một trong những lý do chính là nhà nước chưa có một chính sách phát triển hoàn thiện, có định hướng và các doanh nghiệp chưa xác định được chiến lược kinh doanh rõ ràng. Và để thực hiện được những điều này thì trước hết cần phải có sự đánh giá tổng quan tình hình môi trường kinh doanh ngành công nghiệp điện tử. Chỉ trên cơ sở xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến sự kinh doanh, phát triển của DN hoạt động trong ngành thì mới có thể đề ra những chiến lược, chính sách phù hợp. Với lý do này, nhóm đề tài muốn qua những số liệu tổng hợp sẽ đánh giá những khó khăn, thuận lợi ảnh hưởng đến MTKD của ngành CNĐT, từ đó sẽ góp phần định hướng xây dựng những chiến lược cho các DN điện tử Việt Nam trong thời gian sắp tới. Trong quá trình nghiên cứu, nhóm đề tài đã đạt được một số kết quả sau:  Thứ nhất, đề tài đã tổng hợp, hệ thống hóa tổng quan chung về môi trường kinh doanh và môi trường kinh doanh của ngành công nghiệp điện tử. Trên cơ sở kinh nghiệm của Thái Lan và Trung Quốc, rút ra bài học cho Việt Nam  Thứ hai, đề tài đánh giá thực trạng môi trường kinh doanh của ngành công nghiệp điện tử ở Việt Nam. Ảnh hưởng trước hết đó là các yếu tố vĩ mô với 10 chỉ tiêu đánh giá của WB, nhóm đề tài đã tổng hợp số liệu, phân tích MTKD của Việt Nam hiện nay ở vị trí rất thấp so với các nước khác trong khu vực. Và đánh giá MTKD của ngành công nghiệp điện tử thông qua mô hình phân tích 5 nguồn lực cạnh trang của Michael Porter.  Cuối cùng, đề tài đã đề xuất những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển MTKD của ngành CNĐT. Do tính chất hạn chế về quy mô nghiên cứu của sinh viên, MTKD mà nhóm đề tài thực hiện không đo lường tất cả các khía cạnh liên quan tới DN và nhà đầu tư, chưa đánh giá đến độ an toàn, ổn định của nền kinh tế vĩ mô, yếu tố tham nhũng,
http://svnckh.com.vn

68

tay nghề lao động, độ mạnh của thế chế, hoặc chất lượng cơ sở hạ tầng. Cũng như không tập trung vào các quy định về đầu tư nước ngoài, luật lệ về kinh doanh và các mục tiêu luật lệ thuộc bất cứ nền kinh tế nào. Tuy nhiên do nhận định, hiện nay Việt Nam đang có nhiều bất cập và hạn chế về những chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các DN nên nhóm đề tài mới chỉ đánh giá trên 10 chỉ tiêu chủ yếu. Hiện nay, Việt Nam là nước nổi lên trong khu vực về thu hút đầu tư nước ngoài. Một trong những nguyên nhân được lý giải là do những nền chính trị ổn định với một thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng. Tuy nhiên, những chính sách, thể chế còn nhiều bất cập đã gây khó khăn cho các nhà đầu tư khi thực hiện kinh doanh ở Việt Nam. Chính điều này đã khiến cho việc nghiên cứu để hoàn thiện MTKD quốc gia nói chung và MTKD ngành CNĐT nói riêng là rất cần thiết trong thời gian sắp tới. Có như vậy ngành CNĐT mới có thể phát triển, trở thành một trong những ngành công nghiệp chủ đạo của Việt Nam. Trong quá trình nghiên cứu, không khỏi những hạn chế về kiến thức chuyên môn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Tuy nhiên, nhóm đề tài mong muốn đây sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích góp phần vào việc nghiên cứu, hoàn thiện những chính sách phát triển ngành CNĐT và định hướng để xây dựng những chiến lược kinh doanh phù hợp cho các DN điện tử Việt Nam.

http://svnckh.com.vn

69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt 1. TS. Võ Tá Tri (2007), Môi trường kinh doanh thương mại nước ta hiện nay, 2. Ngô Đình Giao (1996), Phát triển môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp công nghiệp và chế biến thực phẩm hoạt động có hiệu quả, NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội. 3. PGS.TS Trần Văn Chu (2006), DN Việt Nam với thị trường Hoa Kỳ, NXB Thế giới. 4. GS.TS. Nguyễn Đình Phan: Về môi trường thể chế nhằm phát triển các hoạt động dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp ở nông thông, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội. 5. VCCI (2008), Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ, NXB chính trị quốc gia 6-2008 6. PGS.TS Nguyễn Hoàng Ánh (2008), Nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu và khả năng tham gia của các doanh nghiệp ngành điện tử của Việt Nam 7. LATS kinh tế của Hoàng Thị Hoan (2005) – Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. 8. LATS khoa học kinh tế của Ngô Kim Thanh (2005) – Biện pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước sản xuất hàng tiêu dùng ở Việt Nam. 9. Nguyễn Đình Tài (2003), những yếu tố bất lợi đối với môi trường kinh doanh của doanh nghiệp dân doanh và một số giải pháp, trình bày tại Hội thảo “Phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay: thực trạng và giải pháp” – CIEM năm 2003 10. Nguyễn Đình Cung (2008), Thực hiện luật đầu tư và luật doanh nghiệp từ góc độ cải cách thể chế”, Tạp chí quản lý kinh tế, số 18 (3+4/2008),

http://svnckh.com.vn

70

11. MPI (2008), Báo Cáo Thường Niên Doanh Nghiệp Vừa và Nhỏ Việt Nam 2008 12. Porter, Michael (2008), Cạnh tranh toàn cầu và lợi thế của Việt Nam, Hồ Chí Minh - Việt Nam 1.12.2008 13. VCCI (2008), Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ, NXB chính trị quốc gia 6-2008 Tài liệu tiếng Anh 1. Business Monitor International, Vietnam Consumer Electronics and Electronics Industry Market Q1/2010 2. Hisami Mitarai (2005) – Issues in the ASEAN Electronic and Electronics Industry and Implications for VietNam 3. Sector Overview - The Electronic Industry In Thailand - Royal Danish Embassy, Bangkok - 23/06/2006 4. Robin Wood (2000): Managing Complexity: How Businesses Can Adapt and Prosper in the Connected Economy, Economist Books 5. Jauch, L. R and W.F. Glueck (1988), Strategic Management and Business Policy, 3rd ed., NY: McGraw-Hill 6. D. W. A. Dummer, Electronics Inventions and Discoveries (1983); 7. Andersen, T.B. and Rand, J. (2006). Does e-Government Reduce Corruption, University of Copenhagen, Department of Economics Working Paper, Mimeo. 8. Rand, J. and Finn Tarp (2007), Characteristics of the Vietnamese Business Environment: Evidence from a SME Survey in 2005, A Study Prepared under Component 5 – Business Sector Research of the Danida Funded Business Sector Programme Supporat (BSPS) 9. Tenev, Stoyan, Amanda Carlier, , Omar Chaudry, and Nguyen Quynh Trang (2003), Informality and the Playing Field in Vietnam‟s Business Sector, World Bank and IFC,Washington, D.C. Một số trang web tham khảo
http://svnckh.com.vn

71

1. http://encyclopedia2.thefreedictionary.com/electronics+industry 2. http://www.electronics.ca/reports/industrial/data_thailand.htlm 3. http://my.opera.com/tahcm/blog/show.dml/5888291 4. http://www.thv.vn/News/Detail/?gID=13&tID=58&cID=8112 5. http://veer.vn/News/9137/phat-trien-nganh-cong-nghiep-phu-tro-co-hoi-daden.aspx 6. http://www.vnmedia.vn/print.asp?newsid=55158 7. http://www.crmvietnam.com/index.php?q=node/550 8. http://www.laodong.com.vn/Home/Uoc-mo-cong-nghiep-phu-tro-Viet-Namcon--tren-giay/20093/129868.laodong 9. http://www.tapchitaichinh.vn/tabid/56/Key/ViewArticleContent/ArticleId/20 84/Default.aspx 10. http://www.tcvn.gov.vn/web_pub_pri/magazine/index.php?p=show_page&ci d=&parent=83&sid=96&iid=1810 11. http://vietbao.vn/Kinh-te/Tran-lan-hang-gia-hang-nhai/65041066/88/ 12. http://www.thongtincongnghe.com/article/15921 13. http://www.veia.org.vn 14. http://vneconomy.vn 15. http://thegioisaigon.cm

http://svnckh.com.vn

72

THỦ TƢỚNG CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Số: 75/2007/QĐ-TTg Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2007

QUYẾT ĐỊNH Phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển công nghiệp điện tử Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020

THỦ TƢỚNG CHÍNH PHỦ Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Căn cứ Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 6 năm 2006; Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông, QUYẾT ĐỊNH : Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển công nghiệp điện tử Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau đây: I. QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN A. QUAN ĐIỂM 1. Phát triển công nghiệp điện tử trở thành một trong các ngành công nghiệp quan trọng của nền kinh tế với định hướng xuất khẩu và đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 2. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào ngành công nghiệp điện tử với các quy mô, loại hình khác nhau, từ lắp ráp thành phẩm đến sản xuất linh kiện, phụ tùng và các sản phẩm phụ trợ, trong đó đặc biệt chú trọng thu hút đầu tư nước ngoài từ các tập đoàn đa quốc gia. 3. Định hướng phát triển của các doanh nghiệp trong nước trong thời gian tới là: chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển điện tử chuyên dùng, bao gồm sản xuất sản phẩm, linh kiện, phụ tùng và sản phẩm phụ trợ cho các lĩnh vực tin học, viễn thông, điện tử y tế, điện tử công nghiệp, cơ điện tử, đo lường, tự động hóa. 4. Yếu tố quan trọng trong phát triển công nghiệp điện tử tại Việt Nam là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng. B. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN 1. Mục tiêu tổng quát
http://svnckh.com.vn

73

Xây dựng công nghiệp điện tử Việt Nam phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của đất nước, có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới. 2. Mục tiêu đến năm 2010 Doanh số sản xuất đạt từ 4 đến 6 tỷ USD; kim ngạch xuất khẩu đạt từ 3 đến 5 tỷ USD; tạo việc làm cho 300 nghìn lao động; có tốc độ tăng trưởng từ 20% đến 30%/năm. 3. Tầm nhìn đến năm 2020 a) Công nghiệp điện tử là động lực phát triển, có đóng góp lớn cho xuất khẩu. b) Tạo việc làm cho 500 nghìn lao động; xây dựng được đội ngũ kỹ sư và kỹ thuật viên có trình độ quốc tế. c) Năng lực sản xuất trong nước có khả năng đáp ứng phần lớn nhu cầu thị trường, không phụ thuộc vào các sản phẩm nhập khẩu. d) Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ đáp ứng được nhu cầu sản xuất trong nước và xuất khẩu. đ) Các cơ sở sản xuất phân bố hợp lý theo định hướng phát triển vùng. II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN 1. Định hướng sản phẩm và cơ cấu sản phẩm a) Nhóm sản phẩm định hướng phát triển bao gồm: máy tính và các thiết bị ngoại vi; thông tin - viễn thông; điện tử y tế, điện tử công nghiệp, đo lường và tự động hóa; sản xuất linh kiện, phụ tùng và sản phẩm phụ trợ. b) Tăng tỷ trọng sản phẩm điện tử chuyên dùng và phụ tùng linh kiện bằng việc tập trung sản xuất, lắp ráp các sản phẩm điện tử chuyên dùng, các sản phẩm công nghệ cao để nâng cao năng lực công nghệ của các doanh nghiệp. c) Tận dụng tiềm năng sản xuất vật liệu điện tử, lĩnh vực mà Việt Nam có nhiều lợi thế về tài nguyên. Ưu tiên phát triển một số lĩnh vực của công nghiệp phụ trợ như: chế tạo khuôn mẫu, đúc, ép nhựa, đột dập kim loại, xử lý bề mặt (sơn, mạ…) phục vụ cho quá trình sản xuất phụ tùng linh kiện cho ngành công nghiệp điện tử. 2. Định hướng thị trường Đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm để đáp ứng được thị trường trong nước, tiếp cận thị trường khu vực và thế giới theo định hướng xuất khẩu. Tập trung nghiên cứu và phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và có tính cạnh tranh trong khu vực và thế giới. 3. Định hướng nguồn nhân lực Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế trong xã hội tham gia phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp điện tử. Tập trung đào tạo nguồn nhân lực theo hướng:
http://svnckh.com.vn

74

a) Các chuyên gia thiết kế, nghiên cứu và phát triển các sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu thị trường, có giá trị gia tăng cao và có tính cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới; b) Các kỹ sư công nghệ có trình độ cao, có khả năng tiếp thu công nghệ tiên tiến, ứng dụng có hiệu quả tại Việt Nam và có thể sáng tạo các công nghệ mới; c) Đội ngũ công nhân lành nghề thực thi nhiệm vụ sản xuất và đảm bảo chất lượng sản phẩm; d) Các nhà quản lý cấp trung gian giỏi, quản lý có hiệu quả các quá trình sản xuất. 4. Định hướng nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm và công nghệ Nghiên cứu thiết kế các sản phẩm điện tử dân dụng, chuyên dùng, phụ tùng linh kiện đơn giản, có mức độ phức tạp vừa phải, mẫu mã đa dạng đáp ứng nhu cầu của thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. Tiếp tục xây dựng và đào tạo đội ngũ nghiên cứu thiết kế và phát triển các sản phẩm công nghệ cao, có hàm lượng trí tuệ cao, tận dụng lợi thế về thiết kế, tích hợp hệ thống và khả năng lập trình để có những sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Phối hợp chặt chẽ giữa các trường đại học, viện nghiên cứu với các doanh nghiệp để tận dụng năng lực, trang thiết bị và kết quả nghiên cứu. Khuyến khích đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất kinh doanh và hỗ trợ phát triển các sản phẩm mới. Tập trung đi thẳng vào công nghệ hiện đại, tiếp nhận công nghệ trực tiếp từ các công ty nước ngoài sáng tạo ra công nghệ nguồn, không qua trung gian với mục tiêu lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chuẩn hàng đầu. 5. Định hướng phát triển công nghiệp điện tử theo vùng Tập trung đầu tư phát triển công nghiệp điện tử ở các khu công nghiệp và khu chế xuất tại các vùng kinh tế trọng điểm theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội các vùng này đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 của Chính phủ. III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 1. Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách a) Hoàn thiện môi trường pháp lý nhằm cải thiện môi trường đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngành công nghiệp điện tử. b) Hoàn thiện các chính sách thuế theo hướng tạo điều kiện và tính đến lợi ích cho cả các doanh nghiệp lắp ráp và sản xuất, tạo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, bình đẳng. c) Thực hiện đúng cam kết trong các thoả thuận quốc tế (AFTA/CEPT, WTO…). d) Đẩy mạnh cải cách thủ tụchành chính; nâng cao năng lực quản lý nhà nước về ngành công nghiệp điện tử; minh bạch hoá cơ chế chính sách; tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm cải thiện môi trường đầu tư.
http://svnckh.com.vn

75

đ) Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: cung cấp nguồn điện ổn định và đảm bảo mạng thông tin, mạng lưới giao thông thuận tiện; xây dựng các khu công nghệ thông tin tập trung. 2. Nhóm giải pháp về vốn đầu tư a) Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào ngành công nghiệp điện tử; đặc biệt là thu hút nguồn vốnđầu tư nước ngoài từ các tập đoàn lớn, tập đoàn đa quốc gia và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sản xuất kinh doanh tại Việt Nam. b) Huy động tối đacác nguồn vốn trong nước đầu tư vào ngành công nghiệp điện tử. c) Ưu tiên đầu tư vốn ngân sách nhà nước cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu phát triển, xúc tiến thương mại công nghiệp điện tử. Ưu tiên sử dụng vốn ODA vay lại của Chính phủ đối với các dự án phát triển công nghiệp điện tử. 3. Nhóm giải pháp về sản phẩm trọng điểm Trong từng thời kỳ, Chương trình phát triển sản phẩm trọng điểm được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đồng bộ với các cơ chế khuyến khích đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất kinh doanh, quy định về tỷ lệ chi phí nghiên cứu phát triển tối thiểu cho doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện hỗ trợ phát triển các sản phẩm mới. Doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia phát triển sản phẩm trọng điểm được hưởng các hỗ trợ ưu đãi đầu tư thông qua việc xem xét ưu đãi hỗ trợ đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước cho công đoạn nghiên cứu - phát triển, sản xuất thử nghiệm sản phẩm và các chương trình xúc tiến thương mại, các hỗ trợ đầu tư sản xuất tại khu công nghệ thông tin tập trung. Kinh phí hỗ trợ cho phát triển các sản phẩm trọng điểm nêu trên được trích từ nguồn ngân sách nhà nước dành cho chương trình phát triển sản phẩm công nghệ thông tin trọng điểm do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. 4. Nhóm giải pháp về thị trường a) Thị trường trong nước: - Đối với các sản phẩm điện tử chuyên dùng và phụ tùng linh kiện: các doanh nghiệp cần có biện pháp nâng cao chất lượng, tăng cường tính năng sản phẩm để đạt được giá trị gia tăng cao. - Đối với nhóm sản phẩm điện tử dân dụng: áp dụng các biện pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành, cải thiện mẫu mã để tăng thị phần và thị trường trong nước. b) Thị trường xuất khẩu: tạo ra sản phẩm điện tử phù hợp với nhu cầu thị trường, có chất lượng và giá cả cạnh tranh. Tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế, xúc tiến thương mại, tiếp cận thị trường độc lập hoặc trong khuôn khổ Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, tham gia các hội chợ, triển lãm ở nước ngoài để có thông tin,
http://svnckh.com.vn

76

thị trường, đối tác. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thành lập các chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp hoặc các trung tâm thương mại ở nước ngoài để tìm hiểu về nhu cầu, thị hiếu của thị trường, quảng bá sản phẩm, thương hiệu và ký kết hợp đồng, tổ chức tiêu thụ sản phẩm. 5. Nhóm giải pháp về công nghệ a) Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư và chuyển giao công nghệ vào các lĩnh vực sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, hàm lượng trí tuệ cao. b) Đầu tư có trọng điểm cho các công nghệ chiến lược, sản phẩm trọng điểm trên cơ sở tăng ngân sách cho nghiên cứu khoa học công nghệ; cung cấp tín dụng và bảo lãnh tín dụng cho việc ứng dụng công nghệ mới. c) Xây dựng cơ chế thích hợp để thương mại hoá các kết quả nghiên cứu khoa học. Xây dựng hệ thống các phòng đo kiểm chất lượng sản phẩm điện tử theo tiêu chuẩn quốc tế. Tư vấn, hướng dẫn, hỗ trợ cho các doanh nghiệp tham gia chương trình xây dựng hệ thống quản lý chất lượng. Hướng dẫn đăng ký sở hữu công nghiệp và đăng ký nhãn hàng. 6. Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực a) Cải tiến mạnh mẽ phương pháp đào tạo và chương trình giảng dạy tại các khoa điện tử - viễn thông, công nghệ thông tin các trường đại học và cao đẳng kỹ thuật. Đẩy mạnh đào tạođội ngũ các nhà quản lý,đội ngũ kỹ thuật viên và thợ lành nghề. Tiếp thu có chọn lọc chương trình, kinh nghiệm đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp điện tử từ nước ngoài, liên kết chặt chẽ với các tổ chức và cơ sở đào tạo có uy tín của thế giới và khu vực để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. b) Khuyến khích áp dụng mô hình đào tạo liên kết 3 bên (doanh nghiệp -viện, trường - cơ quan quản lý nhà nước) để đào tạo nguồn nhân lực tay nghề cao theo yêu cầu của doanh nghiệp, trong đó cơ sở đào tạo đặt dưới sự quản lý của doanh nghiệp hoặc khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung. c) Giải quyết thoả đáng mối liên quan giữa đào tạo, sử dụng và đãi ngộ; giữa đào tạo và đào tạo lại. Có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong ngành công nghiệp điện tử tự tổ chức đào tạo nguồn nhân lực. 7. Nhóm giải pháp về công nghiệp phụ trợ a) Nâng cao năng lực các ngành gia công thiết yếu như: đột dập chi tiết kim loại, đúc, mạ, chế tạo khuôn mẫu trong khuôn khổ chương trình phát triển công nghiệp phụ trợ quốc gia. b) Đẩy mạnh cải cách các doanh nghiệp quốc doanh trong ngành cơ khí, nhựa, đúc thành các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cho công nghiệp phụ trợ với mức độ chuyên môn hoá cao.
http://svnckh.com.vn

77

IV. CÁC DỰ ÁN TRỌNG ĐIỂM 1. Dự án Xây dựng khu tổ hợp công nghiệp công nghệ thông tin - truyền thông do Bộ Bưu chính, Viễn thông chủ trì, phối hợp với các tập đoàn, doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp điện tử thực hiện. 2. Dự án Tái cơ cấu sản xuất sản phẩm điện tử do Hiệp hội các doanh nghiệp điện tử Việt Nam chủ trì thực hiện. 3. Dự án Xây dựng Trung tâm thông tin về công nghiệp điện tử do Bộ Bưu chính, Viễn thông chủ trì thực hiện. 4. Dự án Đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp điện tử do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện. Điều 2. Trách nhiệm của các Bộ, ngành và địa phương 1. Bộ Bưu chính, Viễn thông: a) Chủ trì công bố và tổ chức thực hiện Kế hoạch phát triển công nghiệp điện tử; xây dựng, ban hành danh mục các sản phẩm công nghệ thông tin trọng điểm; quản lý hiệu quả phần nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư vào các dự án phát triển sản phẩm trọng điểm; b) Phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng các chính sách tạo điều kiện thu hút đầu tư vào phát triển công nghiệp điện tử; xây dựng, ban hành các quy chuẩn chất lượng, kỹ thuật cho các sản phẩm công nghiệp điện tử. Kết hợp với các địa phương, đặc biệt những vùng kinh tế được Kế hoạch phát triển theo vùng, miền tạo nên cơ chế, chính sách định hướng cho các nhà đầu tư phát triển sản xuất tập trung, thực hiện theo đúng định hướng phát triển của Kế hoạch tổng thể; c) Là đầu mối kết nối thị trường cho các doanh nghiệp trong nước, cung cấp thông tin về xu hướng công nghệ, kiểu dáng sản phẩm, phân tích, dự báo và đưa ra những số liệu thống kê tổng hợp theo quốc gia, vùng, ngành giúp các doanh nghiệp chủ động trong việc sản xuất sản phẩm theo nhu cầu thị trường, nghiên cứu phát triển công nghệ. 2. Bộ Công nghiệp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng các chương trình, chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ tương xứng với sự phát triển của công nghiệp điện tử. 3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và Bộ Bưu chính, Viễn thông xây dựng các chính sách xúc tiến đầu tư, tăng cường khả năng thu hút đầu tư vào phát triển công nghiệp điện tử; cân đối nguồn vốn đầu tư phát triển tập trung của Nhà nước cho các chương trình phát triển công nghiệp điện tử theo từng thời kỳ. 4. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, đề xuất, sửa đổi, bổ sung ban hành các chính sách thuế, nguồn vốn tạo điều kiện thuận lợi
http://svnckh.com.vn

78

cho các doanh nghiệp trong quá trình đầu tư sản xuất; nghiên cứu ban hành các chính sách ưu đãi để khuyến khích phát triển công nghiệp điện tử phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. 5. Bộ Thương mạichủ trì, phối hợp với Bộ Bưu chính, Viễn thông và các Bộ, ngành liên quan tổ chức triển khai thực hiện các giải pháp, chương trình, dự án nhằm đẩy mạnh xúc tiến thương mại, phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu cho ngành công nghiệp điện tử. Ưu tiên công nghiệp điện tử trong Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia. 6. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì xây dựng, ban hành các chính sách khuyến khích hoạt động nghiên cứu phát triển, nhập khẩu công nghệ, thương mại hoá kết quả khoa học và công nghệ, khuyến khích doanh nghiệp phát triển, đổi mới công nghệ; phối hợp với Bộ Bưu chính, Viễn thông ban hành quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, các quy định về chuyển giao công nghệ đặc thù trong lĩnh vực công nghiệp điện tử. 7. Bộ Giáo dục và Đào tạochủ trì xây dựng chính sách đào tạo, nội dung đào tạo; phối hợp với Bộ Bưu chính, Viễn thông xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực bao gồm: chuyên gia, kỹ sư, lao động tay nghề sẵn sàng cho Kế hoạch phát triển công nghiệp điện tử. 8. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hộichủ trì xây dựng các chính sách về đào tạo lao động tay nghề, lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động đối với người lao động; quan hệ giữa người lao động và sử dụng lao động trong ngành công nghiệp điện tử. 9. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư, sử dụng tiềm lực tái đầu tư vào xây dựng, cải tạo cơ sở hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính, liên kết vùng miền, phát huy lợi thế về địa lý, kinh tế, nhân lực để thu hút đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung tại địa phương. 10. Các Hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp Các Hiệp hội là đầu mối liên kết giữa các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. Các Hiệp hội ngành hàng phải thực sự nhanh chóng phản hồi những ý kiến của doanh nghiệp, những vướng mắc về các thủ tục hành chính, yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước tích cực giúp đỡ các doanh nghiệp cùng tháo gỡ những trở ngại; mặt khác phải giúp các doanh nghiệp nắm bắt được thông tin từ cơ quan quản lý nhà nước về các chỉ tiêu thống kê, thông tin về thị trường, sản phẩm. Các doanh nghiệp tích cực tham gia vào chương trình đổi mới cơ cấu doanh nghiệp, cải tiến phương thức làm việc phù hợp với tính chuyên nghiệp của các tập đoàn kinh tế quốc tế, các công ty đa quốc gia. Chú trọng hình thức tái đầu tư cho hoạt
http://svnckh.com.vn

79

động nghiên cứu phát triển công nghệ, sản phẩm mới, phát triển sản phẩm công nghiệp trọng điểm. Khi tham gia vào các chương trình này, doanh nghiệp được hưởng các ưu đãi theo quy định của pháp luật. Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Điều 4. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Nơi nhận: - Ban Bí thư Trung ương Đảng; - Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; - VPBCĐTW về phòng, chống tham nhũng; - HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng; - Văn phòng Chủ tịch nước; - Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; - Văn phòng Quốc hội; - Tòa án nhân dân tối cao; Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; - Kiểm toán Nhà nước - UBTƯ Mặt trận Tổ quốc VN; - Cơ quan Trung ương của các đoàn thể; - VPCP: BTCN, các PCN, Website Chính phủ, Ban Điều hành 112, Người phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo; - Lưu: Văn thư, CN (5b). A.

THỦ TƢỚNG Nguyễn Tấn Dũng đã ký

http://svnckh.com.vn

80

THỦ TƢỚNG CHÍNH PHỦ Số: 160/2008/QĐ-TTg

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày 04 tháng 12 năm 2008

QUYẾT ĐỊNH Phê duyệt Chiến lược tổng thể và chính sách bảo hộ sản xuất công nghiệp trong nước phù hợp các cam kết quốc tế, quy định của WTO giai đoạn đến năm 2020

THỦ TƢỚNG CHÍNH PHỦ Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công Thương, QUYẾT ĐỊNH: Điều 1. Phê duyệt Chiến lược tổng thể và chính sách bảo hộ sản xuất công nghiệp trong nước phù hợp các cam kết quốc tế, quy định của WTO giai đoạn đến năm 2020, với các nội dung chủ yếu sau: I. QUAN ĐIỂM 1. Các biện pháp bảo hộ sản xuất phải hợp lý, có điều kiện và có lộ trình cắt giảm phù hợp với các cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các cam kết khác của Việt Nam. 2. Các biện pháp bảo hộ của Nhà nước phải hướng tới thúc đẩy và tạo lập lợi thế cạnh tranh cho các ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn nói riêng và cho ngành công nghiệp Việt Nam nói chung trên thị trường trong nước và quốc tế. 3. Các biện pháp bảo hộ phải được thực hiện thống nhất bình đẳng đối với mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. 4. Gắn bảo hộ sản xuất trong nước với việc tiếp tục điều chỉnh chức năng quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. II. MỤC TIÊU 1. Tạo điều kiện trợ giúp các nhà sản xuất trong nước từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và từng bước mở rộng thị trường ngoài nước.
http://svnckh.com.vn

81

2. Tạo điều kiện huy động các nguồn lực trong và ngoài nước vào việc khai thác tiềm năng và lợi thế nhằm đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 3. Góp phần ổn định kinh tế - xã hội đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở tạo thêm việc làm, nâng cao đời sống người lao động, đáp ứng nhu cầu hàng hoá của nền kinh tế. 4. Bảo hộ sản xuất trong nước không chỉ hướng tới những mục tiêu kinh tế và bảo vệ lợi ích của các nhà sản xuất, mà còn hướng tới những mục tiêu xã hội và bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng trên thị trường nội địa. III. CHIẾN LƢỢC BẢO HỘ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP TRONG NƢ ỚC PHÙ HỢP VỚI CÁC CAM KẾT QUỐC TẾ, QUY ĐỊNH CỦA WTO Trên cơ sở các cam kết quốc tế và quy định của WTO, tận dụng các biện pháp thuế và phi thuế nhằm trợ giúp các doanh nghiệp công nghiệp trong nước thuộc mọi thành phần kinh tế, mà trước mắt là tập trung cho các ngành công nghiệp ưu tiên, ngành công nghiệp mũi nhọn, nhằm tạo lập và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và từng bước mở rộng thị trường ngoài nước. Bảo hộ phải hướng đến từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia cũng như năng lực cạnh tranh của ngành và sản phẩm công nghiệp. Ngược lại, việc nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ góp phần bảo hộ sản xuất công nghiệp. IV. CÁC CHÍNH SÁCH BẢO HỘ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP TRONG NƢ ỚC PHÙ HỢP VỚI CÁC CAM KẾT QUỐC TẾ, QUY ĐỊNH CỦA WTO 1. Nhóm chính sách liên quan đến các biện pháp thuế và phi thuế a) Chính sách liên quan đến thuế Tiếp tục bảo hộ thông qua các chính sách thuế phù hợp với các quy định của WTO và cam kết quốc tế của Việt Nam. Áp dụng linh hoạt các phương pháp tính thuế, sử dụng có hiệu quả thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng nhằm bảo vệ sản xuất trong nước. b) Chính sách liên quan đến các biện pháp phi thuế - Thực hiện các chính sách hiện hành về đầu tư; bảo vệ thương mại tạm thời; tổ chức quản lý cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp; hàng rào kỹ thuật, an toàn vệ sinh dịch tễ…; - Cải cách chính sách và các quy định liên quan đến thủ tục hải quan. Tiếp tục quản lý chặt chẽ dịch vụ phân phối các mặt hàng có tác động quan trọng đến kinh tế - xã hội (như xăng dầu, dược phẩm, sách, báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại quý, phân bón, xi măng…); - Áp dụng các chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm ngăn chặn các hoạt động gian lận thương mại, vi phạm bản quyền trên cơ sở các quy định của
http://svnckh.com.vn

82

WTO và cam kết quốc tế của Việt Nam. 2. Nhóm chính sách liên quan đến nâng cao khả năng cạnh tranh a) Chính sách về đầu tư - Ưu tiên đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nhất là tại các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, vùng nông thôn, miền núi, tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng. - Kết hợp đồng thời giữa đầu tư mới và đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh. Ưu tiên đầu tư vào các ngành công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường, công nghệ tiêu tốn ít tài nguyên vật chất, tạo nên sản phẩm có chất lượng và giá cả cạnh tranh. - Nâng cao hiệu quả đầu tư. Tiếp tục phát huy mọi nguồn lực trong nước, thu hút nguồn lực bên ngoài, kết hợp có hiệu quả với các nguồn lực bên trong để thực hiện đầu tư. b) Chính sách về sản xuất, kinh doanh, dịch vụ công nghiệp - Đẩy mạnh phát triển các ngành, các sản phẩm sản xuất dựa trên lợi thế cạnh tranh động của nền kinh tế; đồng thời bảo đảm sản xuất, đáp ứng nhu cầu những sản phẩm thiết yếu nhằm góp phần giữ ổn định kinh tế - xã hội và tăng trưởng xuất khẩu. - Thực hiện các chính sách bảo hộ trên cơ sở phân loại hệ thống các mặt hàng công nghiệp thành các nhóm hàng theo những tiêu chí nhất định và xác định rõ các nhóm hàng hoá được bảo hộ để lựa chọn. - Phát triển sản xuất kinh doanh những sản phẩm có lợi thế, hoàn thiện dịch vụ công nghiệp, thực hiện mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh là biện pháp bảo vệ hữu hiệu nhất đối với sản xuất trong nước. c) Chính sách về thị trường - Từng bước giảm dần tiến đến xoá bỏ sự can thiệp của Nhà nước vào giá cả hàng hoá (trừ một số mặt hàng chiến lược, thiết yếu) trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. - Nhà nước hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp phù hợp với các cam kết quốc tế, quy định của WTO. - Phát triển đồng bộ hệ thống thị trường (như thị trường hàng hoá và dịch vụ, thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường lao động và thị trường khoa học - công nghệ) và quản lý có hiệu quả sự vận hành của các loại thị trường. d) Chính sách về huy động vốn - Thực hiện nhất quán chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và đa dạng hoá các loại hình tổ chức kinh doanh nhằm huy động tốt nhất các
http://svnckh.com.vn

83

nguồn lực trong và ngoài nước vào đầu tư phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng. - Phát triển vững chắc thị trường tài chính bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ theo hướng đồng bộ, có cơ cấu hoàn chỉnh. Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động của thị trường vốn, thị trường chứng khoán. Huy động mọi nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Hiện đại hoá và đa dạng hoá các hoạt động của thị trường tiền tệ. Mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng theo lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế. đ) Chính sách về khoa học - công nghệ - Nâng cao năng lực của các cơ quan khoa học và công nghệ về mọi mặt nhằm từng bước nâng cao hàm lượng khoa học và công nghệ trong các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp trọng điểm; đồng thời tạo mối liên kết hữu cơ giữa cơ quan nghiên cứu với các doanh nghiệp nhằm chuyển giao các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào sản xuất kinh doanh. - Đẩy nhanh quá trình hình thành và phát triển thị trường khoa học - công nghệ tạo cơ sở thuận lợi cho các doanh nghiệp áp dụng các thành tựu khoa học - công nghệ vào đầu tư và sản xuất, kinh doanh. Đẩy mạnh việc ứng dụng các công nghệ quản lý tiên tiến trong công tác quản lý sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp. - Coi trọng việc nghiên cứu và phát triển công nghệ nội sinh; đồng thời kết hợp với ưu tiên ứng dụng các công nghệ nguồn, công nghệ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới trong các lĩnh vực hoạt động của ngành công nghiệp. Tăng cường nhận thức của doanh nghiệp và cơ quan quản lý về tầm quan trọng của công tác tiêu chuẩn hoá và sở hữu trí tuệ. e) Chính sách về môi trường - Ưu tiên công tác xây dựng các tiêu chuẩn tiên tiến về môi trường trong sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm công nghiệp. Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn môi trường công nghiệp hài hòa với tiêu chuẩn của các nước công nghiệp phát triển; đồng thời tăng cường đầu tư các phương tiện, trang thiết bị để thực hiện việc kiểm soát thực hiện. - Xây dựng lộ trình đổi mới các công nghệ lạc hậu và ứng dụng công nghệ mới tiên tiến, giảm thiểu các tác nhân gây ô nhiễm môi trường trong các ngành sản xuất. - Đẩy mạnh nghiên cứu và xây dựng ngành công nghiệp môi trường. g) Chính sách về nguồn nhân lực - Tiếp tục đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình và phương pháp đào tạo, từ đào tạo nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng đến đại học, đạt chuẩn khu vực và quốc tế. Chú trọng đào tạo và xây dựng đội ngũ giảng viên, giáo viên có trình độ và chất lượng cao.
http://svnckh.com.vn

84

- Kết hợp đầu tư của Nhà nước với việc thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục để huy động nguồn lực của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước cho phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo; coi trọng hình thức đào tạo tại chỗ của các doanh nghiệp, phát triển hình thức đào tạo ngoài nước để tiếp cận nhanh với kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. - Xây dựng chính sách ưu đãi nhằm thu hút nhân tài trong một số ngành, lĩnh vực ưu tiên, áp dụng thí điểm, có đánh giá tổng kết, điều chỉnh chính sách phù hợp với từng địa bàn. V. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 1. Nhóm giải pháp liên quan đến thuế và phi thuế a) Nhóm giải pháp liên quan đến thuế - Trong điều kiện cho phép và phù hợp với các quy định của WTO và cam kết của Việt Nam về lộ trình giảm thuế suất nhập khẩu, tiếp tục bảo hộ bằng thuế đối với một số loại ngành hàng cần được hỗ trợ. Việc điều chỉnh mức thuế suất đối với một mặt hàng phải có thời gian chuyển đổi và được công bố rộng rãi trước khi áp dụng. - Thực hiện cam kết tuân thủ hiệp định về xác định trị giá tính thuế hải quan của WTO. Bãi bỏ các khoản phụ thu đối với hàng nhập khẩu. - Áp dụng linh hoạt các phương pháp tính thuế, chủ yếu áp dụng thuế phần trăm để đảm bảo tính minh bạch, hạn chế áp dụng thuế tuyệt đối. Nếu một dòng thuế nhập khẩu được chuyển đổi sang thuế tuyệt đối hoặc hỗn hợp, phải đảm bảo có mục đích rõ ràng, và mức thuế suất mới không vượt quá mức Việt Nam đã cam kết. - Tiếp tục nghiên cứu, áp dụng có hiệu quả thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng nhằm bảo vệ sản xuất trong nước tránh khỏi những cạnh tranh không bình đẳng của hàng nhập khẩu. Quá trình áp dụng thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng dựa trên cơ sở quy định của WTO và cam kết của Việt Nam. b) Nhóm giải pháp liên quan đến phi thuế - Duy trì các chính sách đầu tư, chính sách ưu đãi đầu tư đang thực hiện mà không trái với quy định của WTO như các hình thức ưu đãi gián tiếp, ưu đãi các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển nông nghiệp, nông thôn, đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn... - Nghiên cứu, đề xuất các chính sách đầu tư, ưu đãi đầu tư dưới các hình thức như hỗ trợ nghiên cứu phát triển, giáo dục đào tạo, đầu tư cải tiến trang thiết bị đang sử dụng để đáp ứng các quy định mới về môi trường... - Nghiên cứu sử dụng các biện pháp phi thuế như bảo vệ thương mại tạm thời (như tự vệ, trợ cấp, các biện pháp đối kháng, biện pháp chống bán phá giá). - Hoàn thiện cơ chế và tổ chức quản lý cạnh tranh, chống bán phá giá, chống
http://svnckh.com.vn

85

trợ cấp để tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh. Xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm phù hợp với Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) và Hiệp định về các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) để bảo vệ thị trường nội địa và người tiêu dùng. - Thực hiện các chính sách về an toàn vệ sinh dịch tễ trên cơ sở các tiêu chuẩn quốc tế, phù hợp với quy định của WTO nhằm bảo vệ kinh tế nông nghiệp và sức khỏe người tiêu dùng. Thực hiện hài hòa hóa các tiêu chuẩn và quy định về kiểm dịch động, thực vật với tiêu chuẩn khu vực và tiêu chuẩn quốc tế. - Duy trì hạn ngạch và chế độ cấp phép nhập khẩu đối với những sản phẩm được phép, theo cam kết và phù hợp quy định của WTO, những mặt hàng ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng, bảo vệ nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường, sức khỏe con người, truyền thống văn hóa… và phải đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử. - Hoàn thiện hệ thống chính sách về cạnh tranh và giảm độc quyền để tăng cường mở cửa và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho phát triển. Ngăn ngừa các hoạt động kinh tế có thể tạo ra rào cản cho sự phát triển thị trường và cạnh tranh, làm giảm đầu tư và cơ hội tham gia thị trường của doanh nghiệp. - Thực hiện nghiêm túc Luật Hải quan. Cải cách thủ tục hải quan, đảm bảo minh mạch và chuẩn hóa theo quy định quốc tế, tạo điều kiện cho hoạt động thương mại và đầu tư thông suốt. - Mở cửa thị trường dịch vụ phân phối theo lộ trình cam kết. Tiếp tục quản lý chặt chẽ hoạt động phân phối các mặt hàng có tác động quan trọng đến kinh tế - xã hội như xăng dầu, dược phẩm, sách, báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại quý, phân bón, xi măng. - Nghiên cứu áp dụng các hình thức bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm ngăn chặn các hoạt động gian lận thương mại, vi phạm bản quyền trên cơ sở các quy định của WTO và cam kết của Việt Nam. Việc áp dụng các biện pháp bảo hộ thông qua thủ tục thực thi các quyền sở hữu trí tuệ không trở thành rào cản đối với hoạt động thương mại hợp pháp, và phải gắn với thời hạn bảo hộ theo quy định của WTO. 2. Nhóm giải pháp liên quan đến nâng cao khả năng cạnh tranh a) Giải pháp về đầu tư - Tập trung phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, chủ yếu là hệ thống đường xá, cảng biển, sân bay, được xác định tại các vùng đã và sẽ có dung lượng lưu thông hàng hoá lớn, những vùng có tác động lan toả mạnh tới các vùng khác. Ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng, trước hết là năng lượng điện. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các nhà máy điện có lợi ích tổng hợp (sản xuất điện, chống
http://svnckh.com.vn

86

lũ, cấp nước, du lịch); phát triển hợp lý các nguồn nhiệt điện khí; phát triển mạnh nhiệt điện than; phát triển các nguồn điện gió và mặt trời thân thiện với môi trường; chuẩn bị kỹ để triển khai xây dựng điện hạt nhân đầu tiên trong thời gian gần. Áp dụng đồng bộ các biện pháp về kỹ thuật, kinh tế và tổ chức nhằm sử dụng hợp lý và tiết kiệm điện, giảm tổn thất điện năng. - Điều chỉnh chiến lược và chính sách đầu tư phát triển các ngành (nhóm sản phẩm) công nghiệp trên cơ sở ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn. Theo đó: + Tập trung phát triển các sản phẩm trong nước có lợi thế cạnh tranh cả trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế từ khai thác các lợi thế so sánh của đất nước và của từng vùng lãnh thổ về nhân lực, tài nguyên và truyền thống nghề nghiệp. + Phát triển có chọn lọc một số sản phẩm có tiềm lực cải thiện lợi thế cạnh tranh, trong đó có các ngành công nghệ cao, với sự trợ giúp của Nhà nước trong khuôn khổ các cam kết quốc tế và quy định của WTO. + Tập trung đầu tư phát triển một số sản phẩm (bộ phận, chi tiết sản phẩm) để tham gia vào “chuỗi giá trị toàn cầu” trên cơ sở thiết lập quan hệ với các đối tác thích hợp, chủ yếu là các tập đoàn xuyên quốc gia (TNC) có mạng sản xuất và phân phối toàn cầu. - Khắc phục cơ bản tình trạng đầu tư dàn trải (nhất là đối với nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước) và đầu tư mang tính tình thế, thiếu chiến lược dài hạn bảo đảm khả năng phát triển bền vững. Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành, các lĩnh vực cần nhiều vốn, có công nghệ cao, thân thiện với môi trường, tiêu hao ít tài nguyên. b) Giải pháp về sản xuất, kinh doanh, dịch vụ công nghiệp - Khẩn trương triển khai thực hiện Quyết định số 55/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 4 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Danh mục các ngành công nghiệp ưu tiên, ngành công nghiệp mũi nhọn giai đoạn 2007 - 2010, tầm nhìn đến năm 2020 và một số chính sách khuyến khích phát triển. - Nghiên cứu, phân loại các mặt hàng công nghiệp thành các nhóm hàng theo những tiêu chí nhất định, như: hàng hoá thông thường, hàng hoá có tác động quan trọng đến kinh tế - xã hội; hàng hoá của các ngành truyền thống, hàng hoá của các ngành công nghiệp “non trẻ”; theo khả năng cạnh tranh… để có những biện pháp và mức độ bảo hộ phù hợp. - Tăng cường thu hút đầu tư phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp nền tảng cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Bảo đảm sản xuất, đáp ứng nhu cầu những sản phẩm thiết yếu nhằm góp phần giữ ổn định nền kinh tế - xã hội và tăng trưởng xuất khẩu.
http://svnckh.com.vn

87

Chú trọng đầu tư phát triển các hoạt động dịch vụ công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh công nghiệp, bao gồm dịch vụ hậu cần kinh doanh (logistique), dịch vụ tư vấn kinh doanh và tư vấn pháp luật; dịch vụ tài chính, ngân hàng; dịch vụ bảo hiểm; các dịch vụ xúc tiến thương mại; dịch vụ đào tạo nhân lực theo yêu cầu của các doanh nghiệp. c) Giải pháp về thị trường - Giải pháp về xoá bỏ sự can thiệp của Nhà nước vào giá cả + Trong dài hạn, chuyển dần sang giá thị trường đối với những mặt hàng hiện còn áp dụng cơ chế Nhà nước định giá. Từng bước xoá bỏ mọi hình thức bao cấp, trong đó có bao cấp qua giá, thực hiện giá thị trường cho mọi loại hàng hoá và dịch vụ theo lộ trình đã cam kết với WTO. + Hoàn thiện chính sách về giá, về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền phù hợp với cam kết hội nhập kinh tế quốc tế và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. + Hỗ trợ và khuyến khích các hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp xây dựng lộ trình về giá sản phẩm quan trọng, có sản lượng lớn, nhằm tạo môi trường cạnh tranh về giá, bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững và hài hoà các lợi ích. - Giải pháp về hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh + Hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các biện pháp xúc tiến đầu tư và xúc tiến thương mại; cung cấp thông tin thị trường để hoạch định chiến lược kinh doanh thích hợp. + Tiếp tục rà soát, hoàn thiện các chính sách, các quy định pháp lý liên quan đến ký kết và thực hiện hợp đồng, giám sát, điều tiết thị trường và xúc tiến thương mại, đầu tư, giải quyết tranh chấp phù hợp với cam kết quốc tế. + Khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quan hệ liên kết bảo đảm nguyên liệu, chế biến, phân phối sản phẩm trên thị trường. + Tăng cường đầu tư về vốn, cơ sở vật chất và nhân lực cho hoạt động nghiên cứu triển khai (R-D); phát triển các doanh nghiệp khoa học công nghệ; gắn kết hoạt động giữa các viện nghiên cứu, các trường đại học với các doanh nghiệp. + Hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động nghiên cứu ứng dụng và cải tiến đào tạo nguồn nhân lực (cả nhân lực quản lý) có chất lượng cao. + Phát huy vai trò của các hiệp hội ngành hàng trong việc hợp tác, thống nhất hành động giữa các doanh nghiệp trong hiệp hội, nâng cao năng lực cạnh tranh. - Giải pháp về tạo lập đồng bộ hệ thống thị trường + Phát triển đồng bộ hệ thống thị trường nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận nhanh chóng và thuận lợi với các nguồn lực; tận dụng chi tiêu của Nhà nước để kích thích sản xuất và tiêu dùng.
http://svnckh.com.vn

88

+ Từng bước xoá bỏ tình trạng độc quyền, khuyến khích và bảo hộ cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp. + Nhà nước có kế hoạch chi tiêu hợp lý nhằm kích thích sản xuất và tiêu dùng. + Kết hợp bảo hộ của Nhà nước với khuyến khích và bảo hộ cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp tạo điều kiện cải thiện khả năng cạnh tranh để vươn dần ra thị trường nước ngoài. + Nghiên cứu ban hành các quy định pháp lý về quyền sở hữu của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam. d) Giải pháp về huy động vốn - Giải pháp về phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần + Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ chế, chính sách ưu đãi đối với những sản phẩm và địa bàn đầu tư - kinh doanh thuộc diện được phép bảo hộ nhằm bảo đảm sự bình đẳng thực sự giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. + Nhà nước thực hiện vai trò định hướng, tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư lựa chọn cơ hội kinh doanh và loại hình tổ chức kinh doanh thích hợp với điều kiện của mình. + Xây dựng một hệ thống doanh nghiệp Việt Nam có chất lượng, có sức cạnh tranh cao, có thương hiệu uy tín, trong đó chủ lực là một số tập đoàn kinh tế lớn. - Giải pháp về xây dựng và phát triển thị trường tài chính + Phát triển mạnh các kênh cung cấp vốn cả trong và ngoài nước; kết hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá; tăng cường công tác quản lý và thanh tra, giám sát hoạt động của thị trường vốn. + Đẩy mạnh cải cách trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo đảm cho các ngân hàng thương mại thực sự là những đơn vị kinh tế tự chủ, không có sự phân biệt đối xử về hình thức sở hữu và thành phần kinh tế. Đảm bảo các điều kiện và môi trường để các ngân hàng thương mại và sàn giao dịch chứng khoán hoạt động theo nguyên lý thị trường, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính. + Hoàn thiện cơ chế hoạt động tín dụng theo nguyên lý thị trường; hoàn thiện các quy định về thủ tục giao dịch tín dụng theo hướng thuận tiện nhất. + Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, đảm bảo tính hiệu quả, thực hiện đúng mục đích cổ phần hóa. + Khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nhân tiếp cận mọi nguồn vốn. Chú trọng hỗ trợ các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa từ các nguồn vốn hỗ trợ của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ quốc tế. Tạo cơ chế hình thành các nguồn vốn hỗ trợ ban đầu cho các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường.
http://svnckh.com.vn

89

đ) Giải pháp về khoa học - công nghệ - Giải pháp về nâng cao năng lực của các cơ quan khoa học - công nghệ + Tạo điều kiện để các cơ quan khoa học - công nghệ tăng cường tính tự chủ, tự hạch toán, gắn kết hoạt động với doanh nghiệp để thúc đẩy đổi mới công nghệ. + Nhà nước tăng đầu tư ngân sách cho các chương trình, đề tài có tác động tích cực đến khai thác các nguồn lực trong nước, nâng cao năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của các loại hàng hoá. Xây dựng cơ chế ràng buộc trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân thực hiện các chương trình, dự án nhằm bảo đảm hiệu quả công tác nghiên cứu. + Lập Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia và Quỹ đầu tư mạo hiểm trong lĩnh vực khoa học - công nghệ. - Giải pháp về xây dựng và phát triển thị trường khoa học - công nghệ + Có chính sách hỗ trợ ban đầu cho các cơ sở nghiên cứu ứng dụng tham gia thị trường khoa học - công nghệ; hình thành thị trường công nghệ rộng khắp và thông suốt trong cả nước. + Có chính sách khuyến khích phát triển dịch vụ hỗ trợ về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, dịch vụ tư vấn, phát triển các loại hình chợ công nghệ, hội chợ công nghệ, triển lãm công nghệ, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ; hình thành các trung tâm giao dịch công nghệ tại các vùng kinh tế lớn. - Giải pháp về nghiên cứu - phát triển công nghệ và sở hữu trí tuệ + Khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các thành tựu khoa học - công nghệ vào đầu tư, kinh doanh đi đôi với việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. + Khuyến khích phát triển các dịch vụ thiết kế, đo lường, đánh giá, thẩm định, giám sát chất lượng, thông tin, môi giới, chuyển giao công nghệ, tư vấn pháp lý về sở hữu trí tuệ. + Xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật với các loại hàng hoá xuất phát từ lợi ích của người tiêu dùng và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. + Nâng cao hàm lượng khoa học - công nghệ trong các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp trọng điểm; đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ quản lý tiên tiến vào hoạt động của các doanh nghiệp. + Trợ giúp doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản trị chất lượng hiện đại; tăng cường kiểm soát việc chấp hành các tiêu chuẩn chất lượng. + Hoàn thiện cơ chế thẩm định công nghệ, thiết bị nhập khẩu nhằm đảm bảo tính hiện đại và hiệu quả trong quá trình ứng dụng vào Việt Nam. + Hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo hộ bản quyền và sở hữu trí tuệ. e) Nhóm giải pháp về môi trường
http://svnckh.com.vn

90

- Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn tiên tiến về môi trường phù hợp với điều kiện Việt Nam và từng bước theo tiêu chuẩn của các nước công nghiệp phát triển; xử lý nghiêm khắc những vi phạm tiêu chuẩn đã ban hành. - Có cơ chế tài chính trợ giúp các doanh nghiệp trong hoạt động bảo vệ môi trường tại cơ sở sản xuất, kinh doanh. - Từng bước xây dựng ngành công nghiệp môi trường thành một ngành công nghiệp mạnh đảm bảo cung cấp các công nghệ và thiết bị xử lý môi trường trong sản xuất công nghiệp và phục vụ dân sinh. g) Giải pháp về nguồn nhân lực - Từng bước thực hiện chương trình cải cách hệ thống giáo dục quốc gia theo yêu cầu bảo đảm tính hệ thống và liên thông, đạt chuẩn khu vực và quốc tế; gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, nhất là đào tạo nghề. - Tăng dần các khoản đầu tư của Nhà nước kết hợp với thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục để huy động nguồn lực cho phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo. - Tăng cường đào tạo nghề (cả hệ cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và công nhân) để đảm bảo nguồn nhân lực cho các dự án đầu tư mới và đầu tư mở rộng. - Có cơ chế, chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, tay nghề của người lao động; khuyến khích khu vực tư nhân, doanh nghiệp tham gia dạy nghề. - Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục đào tạo; phát triển hình thức đào tạo ngoài nước để tiếp cận nhanh với kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Điều 2. Tổ chức thực hiện 1. Trách nhiệm của các Bộ, ngành: a) Bộ Công Thương có trách nhiệm công bố chiến lược sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; hướng dẫn, đôn đốc triển khai và kiểm tra việc thực hiện Quyết định này; theo dõi, kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh cơ chế, chính sách cho phù hợp với tình hình thực tế. b) Bộ Công Thương phối hợp với các Bộ, ngành liên quan triển khai cụ thể hoá các giải pháp, chính sách liên quan đến sản xuất, kinh doanh, dịch vụ công nghiệp, xúc tiến thương mại, phát triển thị trường và giải quyết tranh chấp phù hợp với cam kết quốc tế. c) Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì triển khai cụ thể hoá các giải pháp, chính sách về đầu tư; các giải pháp, chính sách phi thuế liên quan đến đầu tư, ưu đãi đầu tư.

http://svnckh.com.vn

91

d) Bộ Tài chính chủ trì triển khai cụ thể hoá các giải pháp, chính sách liên quan đến thuế; cải cách chính sách và các quy định liên quan đến thủ tục hải quan; huy động vốn và phát triển thị trường tài chính. đ) Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì triển khai cụ thể hoá các giải pháp, chính sách liên quan đến phát triển khoa học công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; hàng rào kỹ thuật trong thương mại. e) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì triển khai cụ thể hoá các giải pháp, chính sách liên quan đến các biện pháp kiểm dịch động thực vật. g) Bộ Y tế chủ trì triển khai cụ thể hoá các giải pháp, chính sách liên quan đến các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và quản lý dược phẩm. h) Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì triển khai cụ thể hoá các giải pháp, chính sách liên quan đến cải cách giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. i) Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì triển khai cụ thể hoá các giải pháp, chính sách liên quan đến xây dựng các tiêu chuẩn tiên tiến về môi trường trong sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm công nghiệp; phát triển ngành công nghiệp môi trường. k) Các Bộ, ngành khác trong phạm vi chức trách được giao, có trách nhiệm phối hợp với các Bộ chủ trì triển khai cụ thể hoá các giải pháp, chính sách nhằm đảm bảo thực hiện thành công chiến lược. 2. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần quán triệt tinh thần của chiến lược và phổ biến cho các đơn vị, doanh nghiệp; đồng thời có kế hoạch triển khai xây dựng và thực hiện các chính sách và giải pháp của chiến lược phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. 3. Chế độ báo cáo: - Trước ngày 20 tháng 11 hàng năm, các Bộ, ngành và địa phương báo cáo về Bộ Công Thương tình hình triển khai, kết quả thực hiện trong năm về các giải pháp, chính sách của Chiến lược để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ. - Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành tổ chức sơ kết, đánh giá tình hình thực hiện Chiến lược lần thứ nhất vào năm 2010; sơ kết giữa kỳ vào năm 2015 và tổng kết vào năm 2020. Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Điều 4. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
http://svnckh.com.vn

92

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->