P. 1
Giang. Moi Quan He Viet NAM LAO.in

Giang. Moi Quan He Viet NAM LAO.in

|Views: 153|Likes:
Được xuất bản bởithugiang040506

More info:

Published by: thugiang040506 on Aug 10, 2012
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

10/08/2012

pdf

text

original

Giáo viên: HOÀNG THỊ GIANG Ngề nghiệp: Giáo viên Đơn vị công tác: Khoa Quản trị

Kinh doanh Trường: Trung học Bưu chính Viễn thông và Công nghệ thông tin I

BÀI DỰ THI
TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM-LÀO, LÀO-VIỆT NAM
Nói về tình nghĩa đặc biệt giữa hai Đảng, hai dân tộc, hai quân đội Việt Nam và Lào, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã có những câu thơ bất hủ: “Thương nhau mấy núi cũng trèo; mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua; Việt - Lào hai nước chúng ta; tình sâu hơn nước Hồng Hà - Cửu Long”. Hoàng thân Xu-pha-nu-vông đã nhận xét: “Tình hữu nghị Việt – Lào cao hơn núi, dài hơn sông, rộng hơn biển cả, sáng hơn trăng rằm, ngát hương thơm hơn đoá hoa nào thơm nhất”.

1. Cơ sở hình thành mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt
Nam Từ bao đời qua, Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng, gần gũi bên nhau như làng trên xóm dưới. Nhân dân Việt Nam thường nói “láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau” tương tự như cách nhân dân Lào gọi nhân dân Việt Nam là “bản cạy hươn khiêng” (bản kề, nhà cạnh). Quan hệ Việt Nam- Lào; Lào – Việt Nam (Việt Nam, Lào) là mối quan hệ nhân hòa, nảy sinh từ đời sống thích ứng với tự nhiên và dựng xây xã hội của biết bao thế hệ cộng đồng dân cư hai nước có nhiều lợi ích tương đồng, cao hơn hết là vận mệnh hai dân tộc gắn bó với nhau rất khăng khít và được phát triển thành quan hệ đặc biệt chưa từng có trong lịch sử quan hệ quốc tế. Cơ sở hình thành mối quan hệ Việt Nam, Lào gồm: Thứ nhất, Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý. Việt Nam và Lào có vị trí chiến lược quan trọng ở vùng Đông Nam Á do nằm kề con đường giao thương hàng hải hàng đầu thế giới, nối liền Đông Bắc Á, Nam Á qua Tây

1

Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương nơi có nguồn trữ lượng dầu khí và tiềm năng tài nguyên khoáng sản khá dồi dào. Dãy Trường Sơn, biên giới tự nhiên giữa Việt Nam và Lào là bức tường thành hiểm yếu, tạo điều kiện cho hai nước tựa lưng vào nhau, phối hợp giúp đỡ lẫn nhau trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước.

Hai nước Việt Nam, Lào cùng dựa lưng vào dãy núi Trường Sơn

Cánh đồng chum bí ẩn dưới chân núi Trường Sơn ở Lào
Thứ 2, Nhân dân hai nước giàu lòng nhân ái, bao dung và văn hóa của hai dân tộc có nhiều nét tương đồng. Sự hài hòa giữa lòng nhân ái và tinh thần cộng đồng là một nét đặc sắc trong triết lý nhân sinh người Việt Nam cũng như người Lào. Ngạn ngữ Lào có câu: “Nói hợp lòng thì xin ăn cho cũng chả tiếc, nói trái ý thì dẫu xin mua cũng chẳng bán”. Đó cũng là những tình cảm bình dị nhưng chân thành mà người dân nước Việt dành cho người bạn láng giềng của mình, còn được lưu lại trong thư tịch cổ: “người Lào thuần hậu chất phác”, trong giao dịch buôn bán thì “họ vui lòng đổi chác”.

2

Nhờ lòng nhân ái bao la và đời sống tâm linh phong phú, trong đó có những ảnh hưởng sâu đậm của đạo Phật mà trong cách đối nhân xử thế của mình, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào bao giờ cũng nêu cao những phẩm chất yêu thương và hướng thiện.

Chùa Đồng tại Yên Tử, Việt Nam

Biểu tượng hùng vĩ của đất nước bạn Lào

Thứ 3, Nhân dân hai nước có truyền thống bang giao hòa hiếu, cưu mang đùm bọc lẫn nhau từ lâu đời Điểm nổi bật về quan hệ giữa nhân dân hai nước và mối bang giao giữa các triều đại, thời kỳ chống thực dân Pháp, phong trào giải phóng dân tộc là thân thiện, hữu hảo. Giữa hai dân tộc không có sự áp bức và nô dịch nhau, không có hiềm khích và thù hằn nhau; mặt khác, nhân dân hai nước lại có cả ngàn năm giúp đỡ, che chở lẫn nhau, là láng giềng chí cốt của nhau. Thứ 4, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm xác định con đường giải phóng dân tộc Việt Nam và dân tộc Lào. Lào là địa bàn đầu tiên trên hành trình trở về Đông Dương của Nguyễn Ái Quốc, nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức của Người về phong trào giải phóng dân tộc ở ba nước Đông Dương. Sau khi thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp sáng lập vào tháng 6 năm 1925 tại Quảng Châu đến tháng 2 năm 1927 Hội này gây dựng được cơ sở tại Lào. Thông qua hoạt động của Hội ở Lào, Nguyễn Ái Quốc thấy đây là điều kiện thuận lợi để người Việt Nam vừa tham gia cuộc vận động cứu nước tại Lào, vừa sát cánh cùng nhân dân Lào xây dựng mối quan hệ đoàn kết khăng khít giữa Việt Nam, Lào.

2. Bản chất và đặc điểm của quan hệ đặc biệt Việt Nam, Lào.  Bản chất 3

Bản chất của quan hệ đặc biệt Việt Nam, Lào bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng; tình đoàn kết thủy chung và niềm tin về lòng chắc thành, trong sáng mà hai dân tộc Việt Nam, Lào dành cho nhau. Bản chất của quan hệ đặc biệt Việt Nam, Lào được nuôi dưỡng, phát triển bằng sức cảm hóa sâu sắc của quan điểm “giúp bạn là mình tự giúp mình” do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn.

 Đặc điểm
- Quan hệ đặc biệt Việt Nam, Lào được phát triển từ quan hệ truyền thống lên quan hệ đặc biệt. - Quan hệ đặc biệt Việt Nam, Lào do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Cayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước dày công vun đắp. - Quan hệ đặc biệt Việt Nam, Lào là sự nghiệp của nhân dân Việt Nam-Lào. - Quan hệ đặc biệt Việt Nam, Lào mang tính xuyên suốt, toàn diện và bền vững. 3. Những thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam, Lào.

 Một là, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là quy luật giành
thắng lợi và nguồn sức mạnh vụ tận của cách mạng Việt Nam, Lào; là di sản văn hóa của hai dân tộc Việt Nam, Lào, nơi hội tụ biết bao giá trị cao đẹp và sâu sắc mà trí tuệ và tình cảm của nhân loại hằng ngưỡng mộ, tôn vinh.

- Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là quy luật giành thắng lợi
của hai dân tộc Việt Nam, Lào. - Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là nguồn lực vô tận quý giá nhất của hai dân tộc Việt Nam, Lào.

 Quan hệ đặc biệt Việt Nam, Lào đưa cách mạng Việt Nam, Lào đi tới nhiều
kỳ tích lịch sử.

- Dân tộc Việt Nam, Lào sát cánh bên nhau giành độc lập dân tộc. Trung tuần
tháng 8 năm 1945, thời cơ giành độc lập cho Đông Dương xuất hiện, lãnh tụ Hồ Chí Minh và BCH Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định Tổng khởi nghĩa và tiến hành Hội nghị toàn Đảng tại Tân Trào, Tuyên Quang. Vào thời điểm này, lãnh tụ Hồ Chí Minh gặp các đồng chí đại biểu Xứ uỷ Lào, Người dặn: thời cơ rất thuận lợi cho nhân dân Đông Dương, ở đâu có điều kiện, phải giành được chính quyền trước khi Đồng minh vào. Nhân dân hai nước Việt, Lào chớp thời cơ, tiến hành khởi nghĩa thành công tháng 8 năm 1945. Đó là kỳ tích đầu tiên của hai nước Việt Nam, Lào, của quan hệ đặc biệt Việt Nam Lào, Lào - Việt Nam.

 Hai dân tộc Việt Nam, Lào kề vai, sát cánh, xây dựng thực lực, kiên cường
chiến đấu, đưa cuộc chiến tranh cách mạng kéo dài 30 năm (1945-1975) đi tới thắng lợi hoàn toàn, cụ thể là:

4

- Chiến thắng trong đấu tranh chống thực dân Pháp.
+ Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, chiến trường Đông Dương bị kẻ thù bao vây, cô lập. Nhưng quân dân hai nước vẫn mở đường từ Việt Nam xuyên qua đất Lào tới nhiều nước tuyên truyền cho cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Đông Dương; thu hút sự ủng hộ, chi viện của bạn bè quốc tế; chuyển về Lào và Việt Nam nhiều cán bộ, chiến sĩ Việt kiều, bổ sung lực lượng kháng chiến.

Liên quân Việt - Lào trước giờ xuất trận năm 1946

Liên quân Việt - Lào phối hợp chiến đấu tại Lao Bảo (Quảng Trị) năm 1946.

+ Xây dựng đội ngũ lãnh đạo chủ chốt đầu tiên của quan hệ đặc biệt Việt Nam, Lào. Phía Việt Nam, đó là nhiều cán bộ cấp cao của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Phía Lào, những nhà cách mạng tiêu biểu như đồng chí Cayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và nhiều đồng chí lãnh đạo khác giàu tài năng, đạo đức cách mạng. Trên các chặng đường cách mạng tiếp theo, với trọng trách của người lãnh đạo cách mạng Lào và chung sức với các đồng chí lãnh đạo cách mạng Việt Nam vun đắp, phát triển quan hệ

5

Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào, đồng chí Cayxỏn Phụmvihản đã đảm đương xuất sắc hai sứ mệnh đó. Cuộc gặp gỡ thân tình giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Xuphanuvụng diễn ra gần trọn tháng 9 năm 1945, tại Hà Nội, tác động tích cực tới sự nghiệp cách mạng của Hoàng thân như ông cho biết: “Tôi bắt đầu sự nghiệp đấu tranh vào năm 1945… Nhờ có dịp được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội, tôi đó học được rất nhiều điều bổ ích… Sau đó tôi về nước để lãnh đạo đấu tranh giải phóng cho nhân dân Lào” Giữa tháng 8/1950, tại tỉnh Tuyên Quang (Việt Nam), Đại hội Quốc dân Lào quyết định những vấn đề quan trọng về cách mạng Lào, thành lập Chính phủ Lào kháng chiến và Neo Lào Itsxala. Sự kiện đó tạo ra bước phát triển mới về việc tăng cường cơ quan chỉ đạo kháng chiến và mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết các tầng lớp nhân dân, các phần tử yêu nước và phát huy mạnh mẽ hơn sức mạnh của cuộc chiến tranh cách mạng Lào góp phần tăng cường quan hệ đặc biệt Lào-Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Souphanouvong tại chiến khu Việt Bắc năm 1951

Tháng 4/1953, Liên quân Lào- Việt mở chiến dịch Thượng Lào. Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, thắng lợi của các chiến dịch Trung Lào, Hạ Lào đã củng cố và mở rộng căn cứ ở vùng trọng yếu này, buộc đối phương phải đưa quân tới đây để đối phó với liên quân Lào-Việt.

6

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (người thứ 3 từ trái sang) và Hoàng thân Souphanuovong (người thứ tư từ trái sang) cùng các cán bộ quân đội Việt - Lào bàn kế hoạch mở chiến dịch Thượng Lào năm 1953.

Tháng 1/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay đổi phương châm tác chiến tại chiến dịch Điện Biên Phủ từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, bộ đội Việt Nam phối hợp với quân giải phóng Lào và được nhân dân Lào chi viện vật chất, tấn công khu vực sông Nậm U, tiến sát kinh đô Luông Pha băng, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đẩy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ vào thế hoàn toàn cô lập. Ngày 13/3/1954, quân và dân Việt Nam mở cuộc quyết chiến chiến lược ở Điện Biên Phủ. Quân dân Lào đã anh dũng chiến đấu, chặt đứt con đường chiến lược của địch chi viện cho Điện Biên Phủ từ phía Lào; góp phần xứng đáng vào thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, đưa tới sự kiện kí kết Hiệp định Giơnevơ.

- Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào Việt Nam phát triển vượt bậc tạo nên sức mạnh kỳ diệu mới, đưa cách mạng giải phóng dân tộc của hai nước tới thắng lợi hoàn toàn Hơn 20 năm chống Mĩ là chặng đường kế tục, phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, trong đó nổi bật lên những hoạt động tiêu biểu: + Sự phối hợp giữa lãnh đạo, quân dân hai nước Việt Nam, Lào phá vỡ mưu đồ tiêu diệt lực lượng vũ trang Pathet Lào và hãm hại bộ phận đầu não cơ quan lãnh đạo cách mạng Lào do đế quốc Mĩ và bè lũ tay sai tiến hành. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Đảng Lao động Việt Nam, ngày 3/6/1959, bàn về vấn đề Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên phương pháp đấu tranh của cách mạng Lào là phải dùng du kích, phải trường kì gian khổ, phải chú ý dân vận, địch vận. Đến tháng 7/1959, hai Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào nhất trí quyết định phát động cuộc đấu tranh vũ trang trong mùa mưa năm 1959 lấy trọng tâm là chiến tranh du kích, phát động phong trào quần chúng nổi dậy, giành chính quyền tại thôn xã.

7

Chủ tịch Hồ Chí Minh trao đổi với Chủ tịch Kaysone Phomvihane tại Hà Nội năm 1966.

+ Tuyến đường chiến lược Trường Sơn là một công trình vĩ đại , biểu tượng cao đẹp của quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam Năm 1959, đáp ứng nhu cầu chi viện sức người, sức của cho các chiến trường miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia, việc mở đường chiến lược Trường Sơn càng trở nên cấp thiết. Theo đề nghị của Việt Nam, tại cuộc hội đàm cấp cao giữa lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào cuối năm 1960, phía Lào hoàn toàn ủng hộ chủ trương mở đường Tây Trường Sơn và phát biểu: “Vận mệnh của hai nước chúng ta gắn bó mật thiết với nhau. Nhân dân Lào sẽ làm hết sức mình để góp phần vào thắng lợi của nhân dân Việt Nam anh em”. Công cuộc mở đường diễn ra với sự phối hợp lực lượng Lào, Việt Nam cùng tiến hành.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (giữa) và trung tướng Đồng Sỹ Nguyên (bên phải) trong chiến dịch đường 9 Nam Lào

Đường Trường Sơn vừa là tuyến đường chuyển vận người và của từ hậu phương lớn miền Bắc Việt Nam chi viện cho chiến trường ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia; cũng là nơi thiết lập căn cứ hậu cần khổng lồ, dự trữ và cung cấp vũ khí, hàng quân dụng, dân dụng cho tiền tuyến.

8

Đoàn xe vận tải hùng hậu và quân đội trong chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 trên đường Trường Sơn

Tuyến đường ống dẫn xăng dầu ở Vinh (Nghệ An) - Lào và vươn tới thung lũng A Sầu (Thừa Thiên Huế)

Thắng lợi vĩ đại của hai dân tộc Việt Nam, Lào diễn ra năm 1975, kết thúc 30 năm chiến tranh cách mạng, lập hai kì tích chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược; đánh dấu sự tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ và sự thất bại của chủ nghĩa thực dân mới, dù đế quốc Pháp, Mĩ đã cố gắng hết sức nhưng không thể nào cứu vãn nổi.

9

4. Quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam, Lào tiếp tục phát triển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của hai dân tộc Việt Nam, Lào (1976-2020)  Trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao, quốc phòng, an ninh: - Sau khi thu được thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, hai nước Việt Nam, Lào kí kết Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ngày 18/7/1977 thúc đẩy quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam trong khung cảnh mới, mang tính chính trị, pháp lí cơ bản, bền vững lâu dài. - Trên thế giới, từ năm 1987 đến năm 1991, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu lâm vào tình trạng khủng hoảng dẫn tới sụp đổ chế độ XHCN. Trước tình hình đó, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào đưa ra những nguyên tắc đổi mới: giữ vững mục tiêu XHCN và nhận thức đúng hơn, có phương pháp phù hợp hơn để xây dựng thành công CNXH; giữ vững định hướng XHCN và sự lãnh đạo của Đảng; kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin , không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. - Từ 1976 đến nay, Việt Nam và Lào bị nhiều thế lực thù địch từ bên ngoài vừa tấn công, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, vừa sử dụng những phần tử phản động lưu vong quay trở về phá hoại an ninh quốc gia. Vì vậy, Lào-Việt Nam phối hợp chặt chẽ thực hiện các nhiệm vụ chống ngoại xâm, chống phỉ, dẹp bạo loạn, trừ diệt bọn phản động vượt qua lãnh thổ Lào xâm nhập lãnh thổ Việt Nam...Mặt khác, hai bên giúp đỡ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và trang bị kĩ thuật hậu cần.

Nhà nước Lào trao Huân chương cho tướng lĩnh Việt Nam tháng 7 năm 2012

10

Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Đặng Ngọc Tùng (phải) trao Huân chương Hữu nghị của Nhà nước Việt Nam tặng ông Khamla Lolonsy (trái)

 Hợp tác phát triển kinh tế, giáo dục, đào tạo cán bộ
- Trên lĩnh vực kinh tế, hai bên chấp hành nguyên tắc hợp tác là bình đẳng, tôn trọng chủ quyền quốc gia, cùng có lợi và hết lòng giúp đỡ nhau; mặt khác còn căn cứ vào tình hình cụ thể của mỗi nước mà giành ưu tiên, ưu đã cho nhau.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Lào Thongsing Thammavong đồng chủ trì Hội nghị hợp tác đầu tư Việt Nam (tháng 9/2010) - Sự hợp tác giáo dục và đào tạo cán bộ Lào- Việt Nam được lãnh đạo hai Đảng và Nhà nước đặt ở tầm chiến lược, mở đầu từ thời kì chống Mĩ và liên tục phát triển cho dù vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ của chiến tranh và những biến động hiểm nghèo của phe XHCN.

11

Nhìn chung quá trình hợp tác Việt Nam – Lào, Lào- Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo cán bộ đã góp phần quan trọng và to lớn tạo nên nguồn lực cơ bản, bền vững cho sự phát triển của quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.

Trung tá Văng Kẹo Xô Phăn Nha (bên phải), Cục phó Cục Phòng không, đoàn trưởng đoàn cán bộ quân sự Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trao quà lưu niệm cho Học viện PK-KQ.

5. Giữ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam trong lịch sử của hai dân tộc và trên những chặng đường phát triển mới. - Bổ sung và điều chỉnh cơ chế, chính sách, chương trình và tổ chức chỉ đạo hợp tác Việt Nam-Lào, Lào – Việt Nam. - Tiếp tục thực hiện những chương trình hợp tác đã kí kết và xây dựng chiến lược hợp tác Việt Nam- Lào giao đoạn từ nay đến năm 2020. - Tăng cường tuyên truyền, giáo dục về mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam. Định hướng cơ bản của chiến lược hợp tác Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam giai đoạn 2011-2020 là: “Phát huy truyền thống quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào - Việt Nam trở thành động lực tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong hợp tác kinh tế, gúp phần thùc hiện mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập của mỗi nước”. Trong đó, không ngừng nâng cao nhận thức và làm sâu sắc thờm quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào - Việt Nam trong hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật tạo sự chuyển biến mạnh mẽ thúc đẩy hợp tác kinh tế ngang tầm với quan hệ truyền thống giữa hai nước. 6. Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.  Ý nghĩa lịch sử - Quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam là nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh vô địch của hai dân tộc Việt Nam- Lào. - Đứng ở vị trí chiến lược của vùng Đông Nam Á, nơi đối đầu quyết liệt giữa phong trào giải phóng dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội với các thế lực xâm lược, khối

12

đoàn kết Việt Nam- Lào, Lào –Việt Nam trở thành lực lượng nòng cốt, chặn đứng, làm thất bại những mưu đồ và hành động của kẻ thù, góp phần quan trọng tạo dựng môi trường hòa bình, hợp tác, hữu nghị giữa các quốc gia Đông Nam Á. - Quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam là một tấm gương mẫu mực, thủy chung, trong sáng, vững bền, chưa từng có trong quan hệ giữa các dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do, hòa bình và tiến bộ xã hội.  Bài học kinh nghiệm - Xác định đúng đắn hệ thống quan điểm lí luận về mối quan hệ dân tộc và quốc tế trong thời đại mới giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong quá trình xây dựng, phát triển quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam. - Xác định nội dung, phương thức xây dựng quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt NamLào, Lào-Việt Nam là cụ thể hóa hệ thống quan điểm lí luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về quan hệ quốc gia và quốc tế trong điều kiện cụ thể của hai nước để hướng dẫn hoạt động của Đảng, của hệ thống chính trị và quân, dân hai nước Việt Nam-Lào nhằm đạt tới mục tiêu cách mạng do hai bên xác lập. - Tình cảm cách mạng thủy chung, trong sáng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào là một nhân tố trọng yếu tạo nên độ bền vững và phát triển của mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam. - Biết khai thác, phát huy các nhân tố, điều kiện cần thiết để xây dựng, phát triển quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam. Qua tìm hiểu về mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam, Lào tôi thấy rất vui mừng và tự hào về những thắng lợi vẻ vang của nhân dân hai nước đã giành được, càng vui mừng và tự hào về mối quan hệ mẫu mực, vô cùng trong sáng, rất mực thủy chung giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào. Đó là mối quan hệ không giống bất cứ mối quan hệ nào trong lịch sử thế giới đương đại, được xây đắp và nuôi dưỡng, phát triển bằng công sức, mồ hôi, xương máu của nhiều thế hệ cách mạng Việt Nam và Lào trong suốt chiều dài lịch sử. Tôi tin tưởng vững chắc rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam mãi mãi sẽ được các thế hệ nhân dân hai nước giữ gìn và phát triển trên con đường tiến tới phồn vinh và hạnh phúc, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước. Đồng thời qua cuộc thi tìm hiểu này tôi đã được hiểu biết thêm nhiều về đất nước và con người nước Lào. Thật khâm phục và yêu mến biết bao, có lẽ ai cũng mong được đến thăm đất nước bạn Lào dù chỉ là một lần. Phủ Lý , tháng 8 năm 2012 (Người viết)

13

HOÀNG THỊ GIANG

Hội chợ thương mại Việt Lào

Đồng chí Thiếu tướng Phết Sa Moon (hàng đầu tiên, thứ hai từ phải sang), Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Lào tiếp các cựu chiến binh Đoàn 100. Ảnh do Ban liên lạc Đoàn 100 cung cấp.

Bức ảnh này chụp năm 1965 trên đất Lào.Ông Luận Bút tích ông Nguyễn Trọng Vĩnh, đứng hàng đầu, bên phải. Người mặc áo vét đen đứng nguyên trưởng đoàn cố vấn VN tại bên cạnh là ông Nguyễn Trọng Vĩnh. Lào 1964 - 1973.

14

Chiến sỹ quân tình nguyện VN Phan Đức Luận trong trang phục quân đội giải phóng Pa-Thét Lào tại Sầm Nưa (Lào) năm 1965

15

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->