P. 1
[YRC]-Tac Dong Cua Chinh Sach Tien Te Nham Kiem Soat Lam Phat Tai Viet Nam Trong Giai Doan Hien Nay

[YRC]-Tac Dong Cua Chinh Sach Tien Te Nham Kiem Soat Lam Phat Tai Viet Nam Trong Giai Doan Hien Nay

|Views: 143|Likes:
Được xuất bản bởiYRCFTU

More info:

Published by: YRCFTU on Aug 18, 2012
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

07/13/2015

pdf

text

original

http://svnckh.com.

vn
1

C«ng tr×nh tham dù cuéc thi:
“ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRƯỜNG
ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG NĂM 2007”


Đề tài:

TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM KIỂM
SOÁT LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY





Nhóm sinh viên thực hiện:
CaoThị Tĩnh – A18 K44H- KTNT
Nguyễn Thị Thanh Loan – N3 K44F- KTNT
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Quy



http://svnckh.com.vn
2

MỤC LỤC
MỤC LỤC ........................................................................................................ 2
Danh lục biểu đồ .............................................................................................. 4
Danh mục hình vẽ ............................................................................................ 4
Danh mục bảng biểu ....................................................................................... 4
Danh mục chữ viết tắt ..................................................................................... 5
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................. 5
Chương I: TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 8
I. Khái niệm và nguyên nhân cơ bản gây lạm phát .................................... 8
1. Định nghĩa .............................................................................................. 8
1.1. Lạm phát .......................................................................................... 8
1.2. Phân loại......................................................................................... 10
1.3. Thước đo lạm phát ......................................................................... 12
1.4. Quan hệ giữa lạm phát, giá cả và lãi suất. ..................................... 14
2. Hậu quả của lạm phát .......................................................................... 16
2.1. Lạm phát tạo nên sự bất ổn cho môi trường kinh tế xã hội ........... 16
2.2. Lạm phát phân phối lại thu nhập quốc dân và của cải xã hội. ....... 17
2.3. Lạm phát làm lãi suất tăng lên ....................................................... 17
2.4. Lạm phát tác động đến cán cân thanh toán quốc tế ....................... 17
3. Nguyên nhân cơ bản gây lạm phát. ...................................................... 18
3.1. Lạm phát do mất cân đối về cơ cấu kinh tế. .................................. 18
3.2. Lạm phát do tăng cung tiền tệ ........................................................ 19
3.3. Lạm phát do cầu kéo. ..................................................................... 20
3.4. Lạm phát do chi phí đẩy. ............................................................... 21
II. Ngân hàng Nhà nước và chính sách tiền tệ ......................................... 22
1. Ngân hàng nhà nước ............................................................................ 22
1.1. Khái niệm ....................................................................................... 22
1.2. Chức năng của NHNN ................................................................... 22
2. Chính sách tiền tệ ................................................................................. 23
2.1. Khái niệm ....................................................................................... 23
2.2. Các công cụ chính của chính sách tiền tệ ...................................... 24
III. Kinh nghiệm sử dụng CSTT nhằm kiểm soát lạm phát ở một số nước
trên thế giới ................................................................................................. 31
1. Cộng hoà Liên Bang Nga. ................................................................... 32
2. Hàn Quốc. ............................................................................................ 32
3. Trung Quốc........................................................................................... 33
4. Các bài học kinh nghiệm rút ra ............................................................ 34
4.1. CSTT thắt chặt cần chú trọng vào các nguyên nhân gây lạm phát 34
4.2. Thực hiện đồng bộ các công cụ CSTT để đạt được các mục tiêu ổn
định kinh tế-xã hội ................................................................................ 35

http://svnckh.com.vn
3

4.3. Kết hợp chặt chẽ CSTT với các biện pháp khác............................ 36
Chương II: TÌNH HÌNH LẠM PHÁT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CSTT
NHẰM KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN
QUA ................................................................................................................ 37
I. Thực trạng lạm phát của Việt Nam ........................................................ 37
1. Bối cảnh nền kinh tế toàn cầu .............................................................. 37
2. Tình hình lạm phát Việt Nam năm 2007 .............................................. 39
3. Tình hình lạm phát đầu năm 2008. ...................................................... 41
II. Nguyên nhân gây lạm phát ở Việt Nam ............................................... 43
1. Lạm phát do chi phí đẩy ....................................................................... 43
2. Gia tăng tổng cầu gây lên tăng trưởng quá nóng ở Việt Nam ............. 46
3. Tăng trưởng tiền tệ và tín dụng ............................................................ 47
III. Ảnh hưởng của lạm phát tới nền kinh tế Việt Nam. .......................... 51
1. Lạm phát tác động tới đời sống xã hội. ................................................ 51
2. Lạm phát gây bất ổn kinh tế vĩ mô, nguy cơ khủng hoảng kinh tế. ...... 52
I V. Chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát và tác động của các
chính sách này ............................................................................................ 54
1. Chính sách điều chỉnh lãi suất ............................................................. 55
2. Chính sách tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc .................................................. 56
3. Nghiệp vụ thị trường mở ...................................................................... 58
4. Chính sách tỷ giá hối đoái. .................................................................. 60
5. Đánh giá mức độ hiệu quả của CSTT trong việc kiềm chế lạm phát
thời gian qua............................................................................................. 62
5.1. Các kết quả đạt được ...................................................................... 62
5.2. Các hạn chế và nguyên nhân ......................................................... 63
Chương III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CSTT NHẰM KIỀM CHẾ
LẠM PHÁT GIAI ĐOẠN TỪ NAY ĐẾN 2010 ......................................... 68
I. Dự báo tình hình lạm phát giai đoạn từ nay tới năm 2010. ................. 68
1. Cơ sở dự báo ........................................................................................ 68
2. Dự báo mức độ lạm phát 2008-2010 ................................................... 69
II. Một số giải pháp và kiến nghị ............................................................... 71
1. Kết hợp đồng bộ CSTT với các chính sách khác ................................. 71
2. Theo sát biến động của thị trường tài chính để kiểm soát mức tăng
trưởng tín dụng phù hợp với thị trường tăng trưởng kinh tế ................... 73
3. Minh bạch hoá NSNN và tăng cường giám sát và bình ổn thị trường
ngoại hối. .................................................................................................. 75
4. Thực hiện phát hành tín phiếu Ngân hàng bằng ngoại tệ. ................... 76
5. Thực hiện đồng bộ các biện pháp thắt chặt tiền tệ và bình ổn giá cả . 77
KẾT LUẬN .................................................................................................... 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 83
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 85

http://svnckh.com.vn
4

Danh lục biểu đồ
Biểu đồ 1: Mức độ tăng của giá dầu thế giới. ................................................. 38
Biểu đồ 2: Chỉ số giá tiêu dùng năm 2007 ...................................................... 40
Biểu đồ 3: Lạm phát năm 2008 ....................................................................... 42
Biểu đồ 4: Giá nhập khẩu trung bình 1 số mặt hàng ....................................... 46
Biểu đồ 5: Vốn FDI đầu tư vào Việt Nam từ 2003-2008 ............................... 48
Biểu đồ 6: Tăng trưởng tiền tệ và tín dụng ..................................................... 50
Biểu đồ 8: Biến động lãi suất liên NH ............................................................ 60
Biểu đồ 9: Lượng giảm cung tiền dưới tác động của CSTT ........................... 63
Danh mục hình vẽ
Hình1: Lạm phát do cầu kéo ........................................................................... 20
Hình2: Lạm phát do chi phí đẩy ...................................................................... 21
Hình 3 : Chính sách tiền tệ dưới chế độ tỷ giá cố định. .................................. 64
Danh mục bảng biểu
Bảng 1: Bảng điều chỉnh giá xăng ................................................................. 44
Bảng 2: Số lượng NH từ năm 1991 - 2008 ..................................................... 49
Bảng 3: Dự báo tình hình kinh tế VN năm 2008-2010 ................................... 70



http://svnckh.com.vn
5

Danh mục chữ viết tắt

CPI Chỉ số giá tiêu dùng chung
CSTT Chính sách tiền tệ
DTTB Dự trữ bắt buộc
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Tổng sản phẩm quốc nội.
NH Ngân hàng
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng Thương mại
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
TCT Tổng công ty
TCTD Tổ chức tín dụng
TCTK Tổng cục Thống kê.
TĐKT Tập đoàn kinh tế
TGHĐ tỷ giá hối đoái.
CPI: Consumer Price index
FDI: Foreign Direct Investment.
GDP: Gross Domestic Product.






T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

5
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lạm phát là một vấn đề kinh tế cơ bản và quan trọng đối với bất kỳ
quốc gia nào trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội. Nếu mức độ lạm phát ở
mức vừa phải sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế, nhưng nếu tỉ lệ ở mức hai con
số thường sẽ làm cho nền kinh tế mất cân đối và gây ra những hậu quả
nghiêm trọng. Trong khi đó ngăn chặn vấn đề lạm phát không phải là vấn đề
đơn giản mà cần có các giải pháp thống nhất, đồng bộ và khôn ngoan.
Việt Nam đã trải qua hơn 20 năm đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội,
đã từng trải qua giai đoạn kinh tế khủng hoảng và lạm phát cao lên tới 3 con
số như năm 1985 (lên tới 700%). Từ năm 1986, thực hiện cải cách, nền kinh
tế đã bước đầu có những bước chuyển dịch tích cực, tỷ lệ lạm phát đã giảm
hẳn. Sau đó trong giai đoạn năm 2004-2005, lạm phát lại có nguy cơ bùng
phát lên cao khi tỷ lệ lạm phát năm 2004 lên 9.5% gần ở mức hai con số và
mới đây, năm 2007 lên tới 12.5%, năm 2008 dự đoán sẽ lên tới hơn 25%. Nếu
trước kia tình hình lạm phát chủ yếu do thời kỳ quan liêu bao cấp, và ở trong
nền kinh tế đóng thì nay các biện pháp và chính sách phải phù hợp với các
yếu tố của nền kinh tế thị trường và hội nhập với quốc tế. Cuối năm 2006,
Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Vì vậy, nền
kinh tế Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của các biến động nền kinh tế toàn
cầu, đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách thực hiện kiềm chế lạm phát
không chỉ tính đến các nhân tố bên trong mà còn phải dự tính đến các yếu tố
tác động bên ngoài.
So các nước có nền kinh tế mới nổi khác, họ cũng có nhiều điều kiện
phát triển kinh tế giống với nước ta như nhóm các nước ASEAN-5 (Singapo,
Thái Lan, Philipin, Inđônêxia và Malaixia) nhưng tỷ lệ lạm phát của Việt
Nam năm 2007 và 2008 gấp đôi so với mức trung bình các nước này. Hơn
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

6
nữa, Việt Nam lại vấp phải khó khăn trong việc kiềm chế lạm phát so với các
nước khác vì thâm hụt cán cân thanh toán lớn và thâm hụt tài khoá, điều kiện
vĩ mô kém ổn định, nợ nước ngoài nhiều trong khi dự trữ ngoại tệ thì quá ít
1
.
Vì vậy cuộc chiến lạm phát ở Việt Nam trở nên khó khăn và căng thẳng hơn.
Trong khi đó chính phủ Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm điều hành phát
triển kinh tế trong điều kiện nền kinh tế mở cửa và hội nhập nên gặp phải
không ít những trở ngại và vấp váp ban đầu. Nhưng sau đó nhờ có kinh
nghiệm và rút ra bài học từ các nền kinh tế khác, các chính sách dần dần đã đi
đúng hướng.
Với tất cả lý do trên, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài “ Tác động
của chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát tại Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay” để lạm rõ tình hình lạm phát và tác dụng của các chính sách tiền tệ
của NHNN.
2. Mục đích nghiên cứu
Dựa trên số liệu cụ thể và thực tế diễn biến tình hình lạm phát và động
thái của Nhà nước nhằm thấy rõ được các nguyên nhân gây ra lạm phát, các
tác động tích cực và tiêu cực của từng chính sách cụ thể. Từ đó, dự đoán tình
hình lạm phát sắp tới và đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ để
kiềm chế lạm phát hiệu quả hơn.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm: các chỉ số giá cả các mặt
hàng, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô căn bản nhằm đánh giá thực trạng lạm phát và
ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế nói chung; các chính sách tiền tệ của
NHNN, chính sách tài khoá và các chính sách khác của Nhà nước có liên
quan đến việc kiềm chế lạm phát hiện nay.

1
: dự trữ mới tăng lên 2008 là 20.8 tỷ USD bằng 20 tuần nhập khẩu trong khi Trung Quốc 1.7 nghìn tỷ USD
bằng 19 tháng xuất khẩu. (Nguồn : Bản thảo luận số 2 của Harvard Kenedy School và “ASEAN: contrasts
with Viet Nam 13/06/2008 của UBS)
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

7

4. Phạm vi nghiên cứu
Các số liệu tập trung nghiên cứu trong năm 2007 và năm 2008 do Tổng
cục thống kê và NHNN, Bộ tài chính chính thức ban hành. Ngoài ra còn có
các số liệu, công trình nghiên cứu và nhận xét về tình hình lạm phát và biến
động nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam do các tổ chức quốc tế như IMF, WB và
các tạp chí kinh tế nước ngoài đưa ra….Tình hình lạm phát và chính sách của
các nước khác như: Cộng Hoà Liên Bang Nga, Hàn Quốc và Trung Quốc
cùng nằm trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài.
5. Phương pháp nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp,
thống kê, và phân tích các số liệu. Ngoài ra còn nghiên cứu và tham khảo lý
luận về các vấn đề căn bản của nền kinh tế vĩ mô; từ đó kết hợp với thực tiễn
để đưa ra nhận xét và lý giải đầy đủ hơn.
6. Kết cấu của đề tài
Công trình nghiên cứu ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm có 3 phần
chính như sau:
Chương I: Tổng quan về lạm phát và chính sách tiền tệ
Chương II: Tình hình lạm phát và tác động của các CSTT trong việc kiểm
soát lạm phát trong thời gian qua
Chương III: Các giải pháp hoàn thiện CSTT nhằm kiểm soát lạm phát giai
đoạn từ nay đến 2010.




T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

8
Chương I: TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH
TIỀN TỆ
I. Khái niệm và nguyên nhân cơ bản gây lạm phát
1. Định nghĩa
1.1. Lạm phát
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế phổ biến của hầu hết các nước trên
thế giới. Các nước phát triển, các nước đang và chậm phát triển đều xảy ra
tình trạng lạm phát ở các mức độ khác nhau trong từng thời kỳ khác nhau, có
thể lúc đang tăng trưởng nóng, cũng có thể là lúc suy thoái xảy ra. Đặc biệt
hiện nay, toàn cầu đang phải đối diện với giá nguyên vật liệu và lương thực
đang tăng mạnh, hiện tượng kinh tế này lại xảy ra ngày càng trầm trọng hơn.
Vậy lạm phát được hiểu đúng đắn như thế nào? Đã có nhiều quan điểm khác
nhau về bản chất và nguyên nhân gây lạm phát. Hiện nay vẫn tồn tại nhiều
cuộc tranh luận kéo dài của các trường phái khác nhau xoay quanh vấn đề
này.
Theo trường phái “lạm phát giá cả”, A.Samuelson và William
D.Nordhaus cho rằng “ lạm phát xảy ra khi mức giá cả chung tăng lên”. Đây
là cách lý giải theo biểu hiện của lạm phát và hậu quả của nó tới nền kinh tế.
Thực tế cho thấy, dù lạm phát xảy ra bởi nguyên nhân gì thì biểu hiện đầu tiên
cũng là tăng giá cả của một vài nhóm các mặt hàng, ảnh hưởng của nó cũng là
làm cho giá trị tiền tệ giảm xuống, các thước đo giá trị bị ảnh hưởng.
Theo C.Mark, lạm phát là do lượng tiền trong lưu thông Kt vượt quá
nhu cầu về tiền tệ của lưu thông trong hàng hoá Kc. Vấn đề rất rõ ràng rằng
Mark định nghĩa lạm phát xuất phát từ nguyên nhân của nó, và theo Mark chỉ
có nguyên nhân là do lượng tiền tăng lên Kt > Kc, giá cả hàng hoá sẽ tăng.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

9
Một khái niệm khác, lạm phát là khối lượng tiền được lưu hành trong
dân chúng tăng lên do Nhà nước in và phát hành thêm tiền vì những nhu cầu
cấp thiết (chiến tranh, nội chiến, thâm hụt Ngân sách v.v…). Trong khi đó,
lượng hàng hoá không tăng lên khiến dân chúng cầm trong tay quá nhiều tiền
sẽ tranh mua khiến giá cả tăng vọt có khi đi đến siêu lạm phát. Một ví dụ điển
hình là thời kỳ thế chiến II, chính phủ Đức phải trả những khoản bồi thường
chiến tranh khổng làm thâm hụt Ngân sách lớn và phải phát hành một lượng
tiền lớn từ 1/1992 đến 12/1924. Tỷ lệ lạm phát lên tới 3.25 x 106 lần mỗi
tháng.
Milton Friedman, nhà kinh tế tiền tệ vĩ đại, người được giải thưởng
Nobel về kinh tế năm 1976, đã cho rằng: “Lạm phát luôn luôn và lúc nào
cũng là một hiện tượng của tiền tệ”. Ông đã đưa ra định nghĩa phản ánh được
cả biểu hiện và bản chất của lạm phát. Tuy nhiên lý luận của ông có tính thực
nghiệm chứ không có tính lý thuyết, ông đã xây dựng quan điểm của mình về
lạm phát trong khi tìm hiểu về lịch sử tiền tệ, nhằm xác định nguồn gốc và tác
động của những thay đổi trong khối lượng tiền tệ từ đầu thế kỷ XX.
Một định nghĩa về lạm phát được công nhận rộng rãi hiện nay là theo
quan điểm của trường phái trọng tiền hiện đại. Họ đã định nghĩa “lạm phát là
hiện tượng giá cả tăng nhanh và liên tục trong một thời gian dài”. Theo trường
phái này, sự tăng lên của mức giá chung mới chỉ phản ánh hình thức biểu hiện
của lạm phát, bản chất của lạm phát được thể hiện ở tính chất của sự gia tăng
đó: đó là sự tăng giá ở mức độ cao và kéo dài. Chính sự tăng giá cao và liên
tục từ thời gian này đến thời gian khác mới tạo ra những tác động đặc thù của
lạm phát. Định nghĩa này được các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes
ủng hộ, và đặc biệt thích hợp với các nhà điều hành chính sách tiền tệ vì
Ngân hàng trung ương chỉ có thể điều hành chính sách giá cả trong dài hạn
chứ không thể điều chỉnh trong ngắn hạn.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

10
1.2. Phân loại
Phân loại lạm phát sẽ có nhiều cách khác nhau tuỳ thuộc vào từng quan
điểm và những tiêu thức khác nhau:
1.2.1. Phân loại theo mức độ
Dựa theo mức độ lạm phát được chia thành các loại sau:
Lạm phát vừa phải (Lạm phát một con số):
Mức lạm phát tương ứng với tỷ lệ tăng giá dưới 10% một năm. Lạm
phát ở mức độ này thường không gây ra những tác động đáng kể đối với nền
kinh tế. Tuỳ theo chiến lược phát triển kinh tế từng thời kỳ, chính phủ có thể
chủ động định hướng mức khống chế trên cơ sở duy trì một tỷ lệ lạm phát là
bao nhiêu để phục vụ cho một số mục tiêu kinh tế khác như : kích thích tăng
trưởng kinh tế, tăng trưởng xuất khẩu và giảm tỷ lệ thất nghiệp trong các năm
tài khoá nhất định v.v…Tuy nhiên chỉ có thể chấp nhận lạm phát này trong
điều kiện nền kinh tế còn chưa đạt tới giá trị sản lượng tiềm năng so với điều
kiện hiện tại.
Lạm phát cao (Lạm phát phi mã):
Mức lạm phát tương ứng với tỷ lệ tăng giá nhanh ở hai hoặc 3 con số
trong một năm. Loại lạm phát này khi đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những
biến dạng kinh tế nghiêm trọng. Giải pháp để kiềm chế hiện tượng lạm phát
này đòi hỏi phải tổng hợp lực lượng của toàn nền kinh tế quốc dân trong các
nỗ lực thắt chặt tiền tệ, đẩy mạnh sản xuất, thu hút và nâng cao hiệu quả đầu
tư, cải cách lại cơ cấu nền kinh tế, nâng cao trình độ công nghệ … Nước ta đã
trải qua và chống đỡ với loại lạm phát này trong thời kỳ hiện nay và thời kỳ từ
năm 1985 đến 1988.
Siêu lạm phát:
Lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao, vượt xa lạm phát phi mã.
Siêu lạm phát thường gây ra những thiệt hại cực kỳ nặng nề và nghiêm trọng;
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

11
tuy nhiên chúng ít xảy ra. Hình ảnh siêu lạm phát điển hình trong lịch sử lạm
phát thế giới là lạm phát ở Đức năm 1922-1923, giá cả tăng từ 1 đến 10 triệu
lần trong vòng 1 năm.
1.2.2. Phân loại theo tính chất
Dựa vào tính chất của lạm phát, lạm phát được chia thành 3 loại: Lạm
phát thuần tuý, lạm phát dự kiến và lạm phát không dự kiến.
Lạm phát thuần tuý:
Lạm phát thuần tuý xảy ra khi giá của tất cả các hàng hoá dịch vụ tăng
với tốc độ như nhau. Lúc đó, giá cả tương đối của các hàng hoá (giá của hàng
hoá này so với giá trung bình của hàng hoá khác) không thay đổi. Vì vậy, lạm
phát thuần tuý không khuyến khích người tiêu dùng thay thế hàng hoá này
bằng hàng hoá khác ( nếu xuất phát từ động lực thu nhập).
Lạm phát dự kiến (lạm phát ì):
Lạm phát dự kiến có tỷ lệ lạm phát giữ ở mức định và có thể dự đoán
trước được. Mọi hoạt động kinh tế sẽ trông đợi vào nó để tính toán điều chỉnh
(ví dụ điều chỉnh lãi suất danh nghĩa, tiền lương danh nghĩa, giá cả trong các
hợp đồng kinh tế, các khoản chi, tiêu chuẩn ngân sách…). Sở dĩ lạm phát này
gọi là lạm phát ì vì khi đã hình thành thì trở nên ổn định và tự duy trì trong
một thời gian. Những cú sốc mới trong nền kinh tế (có thể từ trong nước hoặc
từ nước ngoài) sẽ đẩy lạm phát khỏi trạng thái ì.
Lạm phát không dự kiến:
Lạm phát không dự kiến xảy ra mang tính đột biến mà trước đó chưa hề
xuất hiện. Kiểu lạm phát này thường duy trì ở mức độ phi mã và có ảnh
hưởng lớn đến nền kinh tế. Vì xảy ra đột ngột nên sẽ tạo ra một cú sốc về kinh
tế, tạo tâm lý bất ổn định trong người dân và sự mất tin tưởng vào chính
quyền đương đại.
1.2.3. Phân loại theo nguyên nhân.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

12
Lạm phát xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, mỗi một nguyên
nhân lại tạo ra loại lạm phát có tính chất khác nhau. Có thể chia lạm phát
thành: Lạm phát cầu kéo, lạm phát chi phí đẩy, lạm phát cơ cấu, lạm phát tiền
tệ và các nguyên nhân khác. Xác định kỹ nguyên nhân chính và đặc tính của
lạm phát là yếu tố căn bản để kiềm chế lạm phát. Các loại lạm phát này sẽ
được phân tích rõ hơn trong phần “Nguyên nhân cơ bản gây lạm phát”.
1.3. Thước đo lạm phát
Vì biểu hiện của lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung nên để đo
lường mức lạm phát, người ta căn cứ vào tốc độ tăng của mức giá chung. Tốc
độ tăng của mức giá chung còn được gọi là tỷ lệ lạm phát được tính theo công
thức sau:
I
t
= (P
t
- P
t-1
)/ P
t-1
x 100. (1)
Trong đó:
- t là giai đoạn tính lạm phát
- I
t
là tỷ lệ lạm phát giai đoạn thứ t
- P
t
là tổng giá cả giai đoạn t
- P
t-1
là tổng giá cả giai đoạn t-1.
(t và t-1 là hai giai đoạn kế tiếp nhau)
Mức giá chung được xác định theo hai phương pháp sau:
1.3.1. Phương pháp xác định dựa trên chỉ số giá.
Chỉ số giá bao gồm: chỉ số giá tiêu dùng (CPI); chỉ số giá bán lẻ (RPI);
chỉ số giá sản xuất (PPI); chỉ số giá hàng hoá bán buôn (WPI). Cách xác
định các chỉ số giá này gần tương tự như nhau tuy nhiên chỉ có chỉ số giá
tiêu dùng (CPI) được dùng phổ biến nhất vì việc thu thập số liệu và xác định
tỷ trọng của các chỉ số giá còn lại rất phức tạp và khó tính.
Việc dùng chỉ số giá để đo lường lạm phát thường không được chính
xác, bởi nó luôn có khuynh hướng phóng đại lạm phát thực. Lý do ở đây là
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

13
do nó không phản ánh đầy đủ sự cải thiện chất lượng sản phẩm và không
phản ánh sự cải tiến kỹ thuật sản xuất.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) phản ánh mức giá cả bình quân của nhóm
hàng hoá và dịch vụ cho nhu cầu tiêu dùng của các thành viên tham gia
trong nền kinh tế. Người ta chọn ra rổ hàng hoá và dịch vụ tiêu biểu cho cơ
cấu tiêu dùng của cả nền kinh tế trong một thời gian nhất định và đồng thời
xác định lượng tiêu dùng tương ứng với các hàng hoá và dịch vụ đó. Ở Việt
Nam, tổng cục thống kê cũng áp dụng theo phương pháp này và chủ yếu
dùng theo công thức Laspeyres:

n
i
n
i
PioQio
PitQio
CPI
1
1
(2)
Trong đó:
P
it
là giá hàng hoá sản phẩm i trong giai đoạn t
P
io
là giá hàng hoá sản phẩm i trong giai đoạn cơ sở
Q
io
là trọng số của sản phẩm i trong giai đoạn cơ sở trong rỏ hàng hoá
n là số lượng hàng hoá tiêu dùng.
Nước ta sử dụng trọng số cố định trong 5 năm, kỳ gốc 2000 sử dụng
trong thời kỳ 2001- 2005; năm 2005 dùng cho thời kỳ 2006-2010. Do nhu cầu
tiêu dùng của người dân thay đổi theo thời gian: năm gốc 1995 (296 mặt
hàng), 2000 (390 mặt hàng), 2005 (494 mặt hàng). Các mặt hàng trong rổ
hàng hóa CPI hiện được phân chia thành các nhóm, chi tiết theo các cấp: cấp
1: 10 nhóm, cấp 2: 32 nhóm, cấp 3: 86 nhóm, cấp 4: 237 nhóm.
2

Có 4 cách tính CPI theo gốc mà Tổng Cục Thống Kê dùng là :
1. CPI hàng tháng so với tháng trước;
2. CPI hàng tháng so với tháng 12 năm trước;
3. CPI hàng tháng so với cùng tháng (cùng kỳ) năm trước;

2
Xem phụ lục rỏ hàng hoá năm 2005.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

14
4. CPI so với năm gốc cố định (thay đổi 5 năm một lần và hiện tính theo
năm gốc 2005).
1.3.2. Phương pháp xác định dựa trên chỉ số giá giảm phát GDP
Chỉ số này đo lường mức giá bình quân của tất cả các hàng hoá và
dịch vụ tạo nên tổng sản phẩm được sản xuất trong nước. Do vậy, chỉ số
này có thể nói là toàn diện hơn chỉ số CPI vì bao quát được tất cả các loại
hàng hoá và dịch vụ; nó hay được các nước Mỹ và châu Âu sử dụng để tính
lạm phát. Chỉ số này được tính bằng tỷ lệ giảm phát giữa GDP danh nghĩa
và GDP thực tế theo công thức sau:

n
i
n
GDP
PioQit
PitQit
GDPthucte
ia GDPdanhngh
L
1
1 1
(3)
Trong đó:
L
GDP
là chỉ số giảm phát GDP (chỉ số Paasche)
Q
it
là lượng hàng hoá sản phẩm i (i=1 đến n) trong giai đoạn t.
1.4. Quan hệ giữa lạm phát, giá cả và lãi suất.
Lạm phát cao sẽ ảnh hưởng tới mức giá cả và lãi suất. Bản chất của
vấn đề này là tác động của khối lượng tiền tệ được lưu thông tới nền kinh
tế. Vì tiền là một lượng tài sản được sử dụng vào mục đích trao đổi; khối
lượng tiền là khối lượng tài sản đó. Mọi người có thể sử dụng những tài sản
khác nhau để giao dịch. Tài sản rõ ràng nhất cần đưa vào khối lượng tiền tệ
là tiền mặt tức là tiền xu và tiền giấy hiện có. Loại tài sản thứ 2 là tiền gửi
không kỳ hạn tức là tài sản mọi người gửi tài khoản trong ngân hàng và có
thể rút ra thanh toán bất kỳ lúc nào…Vì khó có thể lý giải một cách chính
xác loại tài sản nào cần được tính vào thành phần của khối lượng tiền tệ
nên có nhiều chỉ tiêu khác nhau: C, M1,M2, M3 và L… Tuy nhiên M1 và
M2 được sử dụng thông dụng nhất. M1 là tổng của tiền mặt, tiền gửi không
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

15
kỳ hạn, séc du lịch và các khoản tiền có thể viết bằng séc. M2 là tổng của
M1 và lượng tiền gửi có kỳ hạn ngắn. M2 được các nước đang phát triển
trong đó có Việt Nam sử dụng để tính lượng cung tiền.
Người ta cần tiền để mua hàng hoá và dịch vụ. Khi cần tiền hơn để
trao đổi, họ sẽ giữ nhiều tiền hơn. Do đó, số lượng tiền tệ trong nền kinh tế
có quan hệ mật thiết với số lượng tiền trao đổi trong các giao dịch. Khối
lượng tiền tệ được xoay vòng trong nền kinh tế (tốc độ giao dịch của nền
kinh tế) chính bằng giá trị hàng hoá giao dịch của cả nền kinh tế.
Ta có phương trình số lượng tiền tệ:
Khối lượng tiền tệ x Tốc độ lưu thông = Giá cả x sản lượng.
M x V = P x Y (4)
Trong đó : M là số lượng tiền tệ cung ứng
V là tốc độ chu chuyển của tiền
Y là tổng sản lượng quốc dân hay GDP thực tế
P là giá cả các mặt hàng nói chung.
Do đó: % thay đổi M + % thay đổi V = % thay đổi P + % thay đổi Y.
Sự biến đổi của giá cả là lạm phát theo như định nghĩa, sự thay đổi Y
được coi là tăng trưởng, tốc độ chu chuyển tiền đều được coi là không đổi.
Như vậy, tốc độ cung ứng tiền mặt bằng tổng của tăng trưởng và tỷ lệ lạm
phát. Khi lượng tiền tệ cung ứng cao hơn nhiều so với lượng hàng hoá sản
xuất ra, tốc độ tăng trưởng ít trong khi tốc độ tăng cung tiền tăng thì đương
nhiên tỷ lệ lạm phát tăng cao hay còn gọi là mức độ tiền tệ hoá cao của một
nền kinh tế. Chỉ số để đo mức độ tiền tệ hoá này là M2/ GDP thực tế và đây
cũng là một chỉ số quan trọng phản ánh khái quát quy mô nguồn gốc luân
chuyển tiền tệ của một nền kinh tế.
Về lãi suất, có hai loại lãi suất là lãi suất thực tế và lãi suất danh
nghĩa. Lãi suất ngân hàng được gọi là lãi suất danh nghĩa và sự gia tăng sức
mua tiền tệ theo thời gian gọi là lãi suất thực tế. Lãi suất thực tế là thước đo
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

16
hiệu quả cho chi phí vốn của các hoạt động kinh doanh. I.Fisher (1887-1947)
đã đưa ra phương trình quan hệ giữa 2 loại lãi suất này và lạm phát. Sự biến
đổi của lãi suất danh nghĩa phụ thuộc vào biến động của lãi suất thực tế và
lạm phát theo phương trình sau: = i - r. Thông thường khi nhìn vào lãi suất
niêm yết ở ngân hàng khá cao, thường thu hút được người dân gửi tiền vì kỳ
vọng lượng tiền sẽ tăng lên trong tương lai.Thế nhưng nếu trong tương lai
mức giá hàng hóa tăng cao, thậm chí cao hơn cả mức lãi suất đương nhiên
lượng tiền sau đó sẽ mua được ít hàng hoá, dịch vụ hơn so với lúc ban đầu,
như vậy việc hi sinh tiêu dùng hiện tại để kỳ vọng trong tương lai tỏ ra không
có hiệu quả . Khi đó lãi suất thực là âm. Quyết định đúng đắn là tích trữ các
tài sản có giá khác thay vì gửi tiết kiệm.
2. Hậu quả của lạm phát
Lạm phát không đơn thuần là sự tăng lên của giá cả các mặt hàng. Đặc
biệt khi tình hình lạm phát biến động ngoài dự tính lên đến 2 con số như ở
Việt Nam hiện nay, nó tạo nên sự biến động bất thường về giá trị tiền tệ và
làm sai lệch thước đo trong quan hệ giá trị và ảnh hưởng đến mọi hoạt động
kinh tế xã hội.
2.1. Lạm phát tạo nên sự bất ổn cho môi trường kinh tế xã hội
Sự biến động bất thường của tỷ lệ lạm phát gây khó khăn trong việc xác
định mức sinh lời chính xác của các khoản đầu tư. Điều này tạo nên tâm lý
ngần ngại khi quyết định đầu tư, đặc biệt là đầu tư dài hạn. Hơn nữa, để giữ
được giá trị tài sản, nhà đầu tư thường đầu cơ các tài sản có giá trị để giữ
nguyên giá tài sản ban đầu của họ như nhà đất, vàng bạc… khiến cho thị
trường này tăng giá đột ngột, khó kiểm soát nổi.
Trong điều kiện lạm phát biến động, các quyết định đầu tư bị bóp méo,
các doanh nghiệp thích vay ngắn hạn hơn là với các hợp đồng dài hạn luôn
chứa đựng rủi ro tiềm năng.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

17
Lạm phát cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến lao động khi các công đoàn
tìm cách đấu tranh đòi tăng lương danh nghĩa. Điều này làm tăng chi phí sản
xuất của doanh nghiệp và làm ngừng trệ sự tăng trưởng kinh tế.
2.2. Lạm phát phân phối lại thu nhập quốc dân và của cải xã hội.
Giá cả biến động mạnh làm giảm sức mua của đồng tiền, khiến cho
nhiều hộ gia đình bị đẩy tới mức nghèo và cận nghèo. Mức lương của công
nhân chưa được điều chỉnh trong khi giá cả biến động các mặt hàng thiết yếu
nhiều nhất thì sẽ bần cùng hoá một nhóm người dân. Các nhà đầu cơ thì được
lợi do giá cả tăng lên. Điều này khiến cho phân hoá xã hội ngày càng sâu sắc
hơn.
2.3. Lạm phát làm lãi suất tăng lên
Lạm phát làm lãi suất danh nghĩa tăng lên. Lãi suất danh nghĩa được ấn
định theo công thức ở trên phụ thuộc vào lãi thực tế và tỷ lệ lạm phát dự tính.
Ngân hàng sẽ điều chỉnh lãi suất này theo biến động lạm phát trên thị trường.
Trong trường hợp lạm phát biến động mạnh, không phù hợp với lạm phát dự
tính thì mức lãi suất danh nghĩa sẽ ảnh hưởng đến giá trị của lãi suất thực tế,
tác động đến tiết kiệm và đầu tư, cuối cùng là tăng trưởng kinh tế. Nếu lãi
suất danh nghĩa quá cao, làm tăng chi phí huy động vốn của doanh nghiệp,
dẫn đến giảm số lượng các dự án đầu tư. Ngược lại, nếu lãi suất danh nghĩa
không theo kịp với mức lạm phát, tạo ra lãi suất thực âm, làm các ngân hàng
khó khăn trong quá trình huy động vốn trong khi nhu cầu tín dụng tăng cao.
2.4. Lạm phát tác động đến cán cân thanh toán quốc tế
Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn nước ngoài, trong điều kiện tỷ
giá cố định hàng hoá trong nước sẽ trở nên đắt hơn trong khi hàng nhập khẩu
lại rẻ hơn tương đối, thúc đẩy hoạt động nhập khẩu, ảnh hưởng tới cán cân
vãng lai và gây áp lực nhiều tới tỷ giá. Nếu tỷ giá được điều chỉnh nó có thể
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

18
thúc đẩy mức lạm phát trong nước cao hơn bởi giá nội địa của hàng nhập
khẩu trở nên đắt hơn và đẩy mức giá cả chung tăng lên.
3. Nguyên nhân cơ bản gây lạm phát.
3.1. Lạm phát do mất cân đối về cơ cấu kinh tế.
Nguyên nhân của lạm phát là do sự mất cân đối về cơ cấu kinh tế, mâu
thuẫn về phân phối gây ra tăng giá. Điều này xảy ra khi trong nền kinh tế có
xuất hiện quan hệ không bình thường trong các cân đối lớn của nền kinh tế
như công nghiệp- nông nghiệp, công nghiệp nặng - công nghiệp nhẹ, sản xuất
- dịch vụ, xuất khẩu - nhập khẩu, tích luỹ - tiêu dùng. Tình trạng này sẽ càng
gây căng thẳng thêm các mâu thuẫn đó theo cơ chế lan truyền và dẫn tới lạm
phát tăng thêm. Thường tình trạng này xảy ra ở các nước đang phát triển,
đang thực hiện cải cách kinh tế, công nghiệp hóa hiện đại hóa nhưng gặp phải
khó khăn về cơ sở hạ tầng, nhân lực và tri thức dẫn tới năng lực sản xuất chưa
được khai thác hết, trạng thái vừa thừa vừa thiếu xuất hiện. Biểu hiện cụ thể
là: Mất cân đối giữa cung và cầu lương thực thực phẩm; ngoại tệ có hạn do
nhập khẩu nhiều hơn xuất; ngân sách thâm hụt và bị hạn chế do thu được ít
nhưng nhu cầu chi cao.
Lạm phát cơ cấu có thể viết dưới phương trình sau:
I = . d/ GDP + . Log(GDP) + . Log(e) + (5)
Trong đó: d là mức thâm hụt ngân sách nhà nước
e là tỷ giá hối đoái
l là tỷ lệ lạm phát.
Có thể giải thích hiện tượng như sau: Do tốc độ đô thị hoá cao, lượng
đất nông nghiệp giảm xuống trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng lên với lượng
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

19
cung hạn chế và kết quả là làm cho cầu nhiều hơn cung đẩy giá lương thực lên
cao.
Khi nền kinh tế đòi hỏi tăng trưởng cao, nhu cầu nhập khẩu phục vụ
sản xuất tăng, nhập siêu gia tăng, Ngân sách Nhà nước thâm hụt do nhu cầu
chi tiêu cho các dự án cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế;các yếu tố này tạo áp
lực phá giá nội tệ và phát hành thêm tiền để đam bảo chi tiêu.
Để kiểm soát được lạm phát đòi hỏi phải loại bỏ những cân đối nêu trên
như phát triển sản xuất nông nghiệp; tăng cường sản xuất các mặt hàng có thế
mạnh để xuất khẩu, cải thiện tỷ giá và hạn chế chi tiêu chính phủ và xã hội.
3.2. Lạm phát do tăng cung tiền tệ
Nguyên nhân này do trường phái trọng tiền đưa ra. Lạm phát xuất hiện
khi có một khối lượng tiền bơm vào trong lưu thông lớn hơn khối lượng cần
thiết cho lưu thông của thị trường. Khi đó, tiền nội địa sẽ mất giá, người dân
không muốn gửi tiết kiệm ở ngân hàng vì nguyên tắc lãi suất dương thường bị
vi phạm, hơn nữa mất lòng tin vào giá trị của đồng tiền mà tích trữ ngoại tệ,
vàng hoặc bất động sản… Theo công thức (4) ta có thể suy ra được mức độ
lạm phát phụ thuộc vào mức cung tiền và mức độ tăng trưởng kinh tế. Có thể
lượng hoá theo phương trình sau:
I = . m + .g + (6)
Trong đó: m là tốc độ tăng trưởng tiền tệ
g là tốc độ tăng trưởng GDP thực.
Để kiềm chế được lạm phát trong trường hợp này, biện pháp tốt nhất là
giảm lượng tiền cung ứng trên thị trường thông qua các chính sách tiền tệ và
tài khóa của chính phủ, đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư vừa giúp tăng
trưởng kinh tế vừa giảm lạm phát.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

20
3.3. Lạm phát do cầu kéo.
Lạm phát cầu kéo là do tổng cầu tăng lên mạnh mẽ, vượt quá khả năng
cung ứng của xã hội, dẫn đến áp lực tăng giá cả. Bản chất của hiện tượng này
là do chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng cung hàng hoá hạn chế. Lý do
chính là do chính phủ, hộ gia đình hoặc các doanh nghiệp tăng nhu cầu tiêu
dùng hoặc đầu tư; cũng có thể là lượng tiền lưu thông quá nhiều làm tăng nhu
cầu chi tiêu đẩy giá cả lên cao. Tuy nhiên nếu trong điều kiện nền kinh tế vẫn
chưa đạt được sản lượng tiềm năng thì việc tăng tổng cầu sẽ làm giá cả tăng ít
trong khi sản lượng tăng nhiều và do đó nó lại trở thành một chính sách lạm
phát có hiệu quả để đẩy mạnh khả năng sản xuất của xã hội. Đó là lý do tại
sao mà các nước muốn duy trì một tỷ lệ lạm phát nhỏ tương đối vì nó có vai
trò làm tăng trưởng kinh tế và không ảnh hưỏng nhiều đến xã hội. Hoặc là
tình trạng suy thoái mạnh, tổng cầu giảm trầm trọng chính phủ cần có biện
pháp kích thích tổng cầu tăng lên trở lại.

Hình1: Lạm phát do cầu kéo
Mức độ lạm phát do cầu kéo phụ thuộc vào độ co giãn theo giá của
cung hàng hoá và dịch vụ. Khi giá tăng, cung hàng hoá và dịch vụ có thể tăng
nhanh và đáp ứng được tổng cầu và sẽ giảm áp lực tăng giá. Mặt khác, nếu
giá
P1
P2
AS
AD0
AD1
GDP
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

21
nền kinh tế có sẵn ngoại tệ sẽ tăng nhập khẩu các hàng hoá rẻ hơn trong nước
sẽ tạo điều kiện giảm áp lực tăng giá và không gây lạm phát.
3.4. Lạm phát do chi phí đẩy.
Lạm phát do chi phí đẩy là loại lạm phát do áp lực tăng giá cả xuất phát
từ sự tăng lên của chi phí sản xuất vượt quá mức tăng của năng suất lao động
và làm giảm mức cung ứng hàng hoá của xã hội. Chi phí sản xuất tăng có thể
do các nguyên nhân sau: Mức tăng tiền lương lao động vượt quá mức tăng
năng suất lao động do áp lực khan hiếm lao động trên thị trường, hoặc do yêu
cầu đòi tăng lương của công đoàn hoặc do mức lạm phát dự kiến tăng lên; Giá
nội địa của hàng nhập khẩu tăng lên, nếu các hàng hoá này được sử dụng cho
nhu cầu tiêu dùng thì nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới giá cả nội địa, nếu nó được
sử dụng như đầu vào của quá trình sản xuất thì sẽ làm tăng giá thành sản xuất
và do đó tăng giá tiêu dùng; Sự tăng lên của thuế và các khoản nghĩa vụ với
ngân sách Nhà nước, từ đó ảnh hưởng đến mức sinh lời của hoạt động đầu tư,
giá cả sẽ tăng lên để duy trì mức sinh lời thực tế.(hình2)
Hình2: Lạm phát do chi phí đẩy
Tuy nhiên các lý do này chỉ dẫn đến sự tăng giá về mặt ngắn hạn. Sau
đó mức giá sẽ trở về vị trí cũ để duy trì mức sản lượng tiềm năng dưới cơ chế
giá
P1
P2
AD
AS0
AS1
GDP
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

22
tự điều chỉnh của thị trường. Nhưng nếu tổng cầu tăng do chính phủ điều
chỉnh để ưu tiên tăng trưởng hoặc giảm thất nghiệp sẽ tạo phản ứng tăng mức
giá mới, làm cho giá cả tiếp tục tăng và lạm phát sẽ kéo dài hơn.
II. Ngân hàng Nhà nước và chính sách tiền tệ
1. Ngân hàng nhà nước
1.1. Khái niệm
Ngân hàng nhà nước (Ngân hàng trung ương) – NHNN là một định chế
công cộng, có thể độc lập hoặc trực thuộc phủ; thực hiện chức năng độc
quyền phát hành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng của chính
phủ và chịu trách nhiệm trong việc quản lý nhà nước về các hoạt động tiền tệ,
tín dụng, ngân hàng. Ở Việt Nam, NHNN trực thuộc chính phủ, chịu sự điều
tiết và chi phối của chính phủ về nhân sự, tài chính và đặc biệt các quyết định
liên quan đến việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ. Điểm hạn chế của
nó là không chủ động được trong việc thực hiện các chính sách tiền tệ.
1.2. Chức năng của NHNN
NHNN vừa thực hiện chức năng là ngân hàng của chính phủ và ngân
hàng của các ngân hàng. Ngân hàng của chính phủ tức là giữ các tài khoản
cho chính phủ, nhận tiền gửi và cho vay đối với kho bạc, hỗ trợ chính sách tài
khoá của chính phủ bằng việc mua trái phiếu chính phủ. Ngoài ra còn kiểm
soát mức cung tiền tệ để thực hiện chính sách tiền tệ nhằm ổn định và phát
triển kinh tế; hỗ trợ và giám sát hoạt động của các thị trường tài chính. Với
chức năng là ngân hàng của các ngân hàng thương mại (NHTM), NHNN giữ
các tài khoản dự trữ của NHTM, thực hiện tiến trình thanh toán cho hệ thống
NHTM và như người cho vay cuối cùng trong trường hợp khẩn cấp.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

23
2. Chính sách tiền tệ
2.1. Khái niệm
Chính sách tiền tệ (CSTT) là chính sách kinh tế vĩ mô trong đó NHNN
thông qua các công cụ của mình, thực hiện kiểm soát và điều tiết khối lượng
tiền cung ứng nhằm ổn định giá trị đồng tiền và đạt được các mục tiêu kinh
tế-xã hội đề ra.
CSTT thường tập trung vào các mục tiêu sau:
- Ổn định giá cả (kiểm soát lạm phát) là mục tiêu hàng đầu và dài hạn của
CSTT. NHNN thường lượng hoá mục tiêu này bằng tốc độ tăng của chỉ
số giá tiêu dùng xã hội.
- Ổn định tỷ giá: Nhằm ngăn ngừa những biến động mạnh, bất thường
trong tỷ giá hối đoái; giúp cho hoạt động kinh tế đối ngoại được hiệu quả
hơn nhờ dự đoán được chính xác về mặt khối lượng giá trị.
- Ổn định lãi suất: Vì lãi suất là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới quyết định
chi tiêu của các doanh nghiệp và các hộ gia đình. Những biến động bất
thường của lãi suất sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân dự tính
việc chi tiêu hay lập kế hoạch kinh doanh.
- Tăng trưởng kinh tế: Do chính sách tiền tệ có thể ảnh hưởng tới của cải
và chi tiêu của xã hội nên có thể sử dụng nó làm đòn bẩy kích thích tăng
trưởng kinh tế.
- Giảm tỉ lệ thất nghiệp: Tạo công ăn việc làm đầy đủ la mục tiêu của hầu
hết các chính sách vĩ mô trong đó có CSTT vì nó không chỉ làm tăng
phúc lợi xã hội mà còn giảm áp lực về chi ngân sách trợ cấp thất nghiệp
và an ninh xã hội.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

24
2.2. Các công cụ chính của chính sách tiền tệ
Các công cụ của chính sách tiền tệ là các hoạt động của NHNN nhằm
tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông và lãi
suất trên thị trường. Các công cụ gián tiếp là các công cụ tác động gián tiếp
tới khối lượng cung ứng tiền và lãi suất thông qua cơ chế của thị trường. Công
cụ gián tiếp bao gồm: nghiệp vụ thị trường mở, chính sách tái chiết khấu, dự
trữ bắt buộc và tỷ giá (tỷ giá Nhà nước luôn ấn định theo cơ chế thả nổi có
điều chỉnh). Ngược lại với nó là công cụ trực tiếp bao gồm : Ấn định khung
lãi suất và hạn mức tín dụng, biên độ giao động của tỷ giá và chính sách quản
lý ngoại hối.
2.2.1. Các công cụ gián tiếp
2.2.1.1. Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ trong đó NHNN sử dụng việc
mua bán chứng khoán trên thị trường tiền tệ mở cụ thể ở đây là trái phiếu
chính phủ để thay đổi cơ số tiền, từ đó tác động tới lượng tiền cung ứng và
mức lãi suất trên thị trường.
Cơ chế tác động: NHNN mua (bán) chứng khoán sẽ làm tăng hoặc
giảm ngay lập tức dự trữ của các NHTM. Khả năng tạo tiền gửi thông qua
cung ứng tín dụng bị ảnh hưởng, dẫn đến làm tăng (giảm) lượng cung tiền.
Thứ hai là khi vốn khả dụng của các NH tăng (giảm), mức cung vốn trên thị
trường liên NH tăng lên (hoặc giảm) làm lãi suất thị trường liên NH giảm
(tăng), từ đó ảnh hưởng tới mức lãi suất khác trên thị trường tài chính nói
chung. Thứ ba, nghiệp vụ thị trường mở ảnh hưởng đến cung cầu của chứng
khoán, tác động tới giá cả, mức sinh lời của chứng khoán từ đó ảnh hưởng tới
lãi suất thị trường. Chứng khoán chủ yếu được NHNN phát hành là tín phiếu
kho bạc vì nó có tính lỏng cao nên có thể thực hiện nghiệp vụ này một cách
nhanh chóng và dễ dàng.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

25
Ưu điểm của công cụ này là không chịu ảnh hưởng của bất kỳ nhân tố
nào khác, rất linh hoạt và chính xác. NHNN có thể nhanh chóng điều chỉnh
lượng cung tiền, sửa chữa sai lầm bằng cách tiến hành nghiệp vụ mua bán trên
thị trường mở. Đây được coi là công cụ hiệu quả nhất của chính sách tiền tệ.
Tuy nhiên, NHTM đôi khi chịu ép buộc phải mua vào hoặc bán ra mặc dù
NHNN coi nó là hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện. Tuy nhiên, việc thực
hiện công cụ này đòi hỏi sự phát triển của thị trường tài chính thứ cấp nói
chung và thị trường tiền tệ nói riêng.
2.2.1.2. Chính sách tái chiết khấu
Chính sách tái chiết khấu bao gồm các quy định về việc cho vay của
NHNN đối với NHTM. NHNN thường cho các NHTM vay dưới hình thức
chiết khấu lại các giấy tờ có giá ngắn hạn (chủ yếu là tín phiếu kho bạc và
thương phiếu) do các NHTM đưa đến nhằm giải quyết vấn đề thiếu hụt tạm
thời về tiền mặt để bù đắp thiếu hụt trong quỹ dự trữ bắt buộc và đáp ứng nhu
cầu thanh khoản. Những thay đổi trong chính sách tái chiết khấu tác động
đến lượng vay chiết khấu của NHTM, từ đó ảnh hưởng tới lượng tiền cung
ứng.
Cơ chế tác động: NHNN thông qua việc thay đổi quy định về hạn mức
chiết khấu, lãi suất tái chiết khấu và các điều kiện tái chiết khấu ảnh hưởng
đến hoạt động đi vay của NHTM. Lãi suất tái chiết khấu tác động đến chi phí
đầu vào của các NHTM, các NHTM sẽ phải tăng (giảm) lãi suất cho vay, ảnh
hưởng trực tiếp đến nhu cầu tín dụng. Mặt khác, khi lãi suất chiết khấu tăng sẽ
hạn chế việc vay tiền của các NHTM, giảm khả năng tín dụng để phục hồi dự
trữ.
Ưu điểm của công cụ này là: Các khoản cho vay của NHNN đều được
đảm bảo bằng giấy tờ có giá, do đó chắc chắn sẽ thu hồi được. Tuy nhiên,
công cụ này chỉ có thể phát huy tác dụng khi NHTM có nhu cầu vay từ
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

26
NHNN. Với sự phát triển của thị trường tài chính, các NHTM có thể huy
động vốn từ nhiều nguồn vay khác nhau, giảm sự lệ thuộc vào NHNN nên
giảm mức độ hiệu quả của công cụ này.
2.2.1.3. Tỷ lệ trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên một tài
khoản tiền gửi không hưởng lãi tại NHNN. Tỷ lệ dữ trữ thấp, số nhân tiền tệ
lớn sẽ giúp mở rộng tín dụng, tăng nhanh mức cung tiền và ngược lại.
Cơ chế hoạt động: Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng tới
lượng cung tiền như sau: Một là khi NHNN quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt
buộc, một phần dư thừa dự trữ trước đây chuyển thành dự trữ bắt buộc, làm
giảm khả năng cho vay của hệ thống NH. Thứ hai, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một
thành phần trong mẫu số của số nhân tiền. Vi vậy, sự tăng lên của tỷ lệ dự trữ
bắt buộc sẽ làm giảm số nhân tiền và do đó là mở rộng khả năng cung ứng
tiền tệ của hệ thống NH. (công thức 9).
Ưu điểm của công cụ này là có ảnh hưởng rất mạnh tới lượng tiền
cung ứng. Chỉ cần một thay đổi nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng sẽ dẫn đến sự
thay đổi đáng kể khối lượng tiền tệ. Nhưng có thể làm cho các NHTM mất
khả năng thanh toán ngay ( đặc biệt là các NH có dự trữ vượt mức quá thấp),
làm khả năng quản lý thanh khoản của các ngân hàng trở nên khó khăn hơn.
Mức cung tiền danh nghĩa bao gồm hai thành phần là tiền mặt lưu
thông và tiền gửi không kỳ hạn:
D U
M
S
(8)
Trong đó :
M
S
là cung tiền danh nghĩa
U là lượng tiền mặt lưu hành
D là lượng tiền gửi
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

27
Tỉ lệ giữa tiền mặt trong lưu thông so với tiền gửi là:
D
U
cP

Tỉ lệ dự trữ thực tế sẽ là: r
a
=
D
Ra

Trong đó: r
a
là tỉ lệ dự trữ thực tế
R
a
là dự trữ thực tế
Khi đó ta có số nhân tiền tệ là : m
M
=
r c
c
a P
P
1
(9)
Nếu c
p = 0
và r
a
=r
r
thì m
M
= 1/r
r

2.2.1.4. Chính sách tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng quan trọng trong việc kìm hãm hay thúc
đẩy sự di chuyển các luồng tiền tệ, vốn và hàng hoá giữa các nước với nhau.
Vì vậy, việc xác lập một tỷ giá hối đoái hợp lý nhằm khuyến khích hoạt động
kinh tế đối ngoại phát triển phục vụ cho nền kinh tế quốc gia là một nhiệm vụ
quan trọng của CSTT. Có ba chế độ tỷ giá mà các nước đã và đang áp dụng:
- Tỷ giá cố định: NHNN buộc phải can thiệp vào thị trường ngoại hối để duy
trì tỷ giá biến động xoay quanh một mức cố định trong biên độ hẹp đã định
trước. Như vậy, trong chế độ tỷ giá cố định NHNN buộc phải mua vào hoặc
bán ra đồng nội tệ nhằm giới hạn sự biến động của tỷ giá trong biên độ đã
định. Chế độ này có ưu điểm là giảm bớt rủi ro trong thanh toán quốc tế
nhưng lại phụ thuộc quá nhiều vào CSTT, đòi hỏi NHNN luôn có sẵn nguồn
ngoại tệ dồi dào.
- Tỷ giá thả nổi hoàn toàn: Tỷ giá được xác định hoàn toàn theo cung cầu trên
thị trường ngoại hối mà không có bất kỳ sự can thiệp nào của NHNN. Chế độ
tỷ giá này được đánh giá là giúp CSTT quốc gia được độc lập và ít biến động
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

28
từ bên ngoài.Tuy nhiên, chế độ này lại gây biến động thường xuyên cho tỷ
giá, gây nhiều rủi ro cho hoạt động thanh toán quốc tế.
- Tỷ giá thả nổi có điều tiết: NHNN tiến hành can thiệp trên thị trường ngoại
hối nhằm ảnh hưởng lên tỷ giá, nhưng NHNN cam kết không duy trì một mức
tỷ giá cố định hay biên độ dao động nào xung quanh tỷ giá trung tâm. Điều
này có nghĩa là NHNN thực hiện các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ để điều tiết
thị trường ngoại hối, song không nhằm mục đích để cố định tỷ giá như đối với
tỷ giá cố định.
2.2.2. Các công cụ trực tiếp
2.2.2.1. Hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHNN buộc các NHTM và
tổ chức tín dụng khác tuân thủ khi cấp tín dụng. Mức dư nợ được quy định
cho từng ngân hàng căn cứ vào đặc điểm kinh doanh của từng ngân hàngm
định hướng cơ cấu kinh tế tổng thể, nhu cầu tài trợ cho các đối tượng chính
sách….Công cụ này được áp dụng phổ biến ở các nước trong thời kỳ hoạt
động tài chính được điều tiết chặt chẽ. Trong trường hợp lạm phát cao, các
công cụ gián tiếp không phát huy tác dụng hoặc NHNN không có khả năng
khống chế và kiểm soát được lượng biến động của lãi suất khả dụng trong hệ
thống NHTM thì công cụ này có vẻ là một công cụ hữu hiệu. Tuy nhiên nó lại
thiếu linh hoạt, đi ngược lại với chiều hướng biến động của thị trường tín
dụng, đẩy lãi suất lên cao và đôi khi làm giảm khả năng cạnh tranh của các
NHTM.
Hạn mức tín dụng đôi khi tỏ ra không hiệu quả một phần vì bản thân
công cụ này đã mang tính chất hành chính và thiếu tính linh hoạt, nhưng chủ
yếu là do nó xuất phát từ sự thiếu căn cứ trong xác định hạn mức tín dụng và
sự lỏng lẻo của các chế tài trong việc quản lý chính sách này.
2.2.2.2. Khung lãi suất
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

29
Với các nước mà tín dụng ngân hàng là nguồn tín dụng chủ yếu của đất
nước, việc quy định giới hạn biên độ dao động của các mức lãi suất sẽ có ảnh
hưởng trực tiếp tới mức lãi suất thị trường.
Khung lãi suất bao gồm khung lãi suất trần và lãi suất sàn. Thường
NHNN sẽ quy định mức lãi suất trần đối với lãi suất cho vay và lãi suất trần
đối với lãi suất đi vay của các ngân hàng. Đây là công cụ cứng nhắc chỉ áp
dụng khi các yếu tố thị trường chưa phát triển ổn định
2.2.2.3. Biên độ giao động tỷ giá
Biên độ giao động tỷ giá quy định mức tỷ giá tối đa và tối thiểu mà các
ngân hàng được phép áp dụng khi kinh doanh ngoại hối. Khi nới lỏng biên độ
có thể điều tiết dễ dàng lượng cung cầu tiền nội và ngoại tệ, có thể làm tăng
giá nội tệ và một phần kiềm chế lạm phát.
Đây cũng là công cụ mang tính chất hành chính, cứng nhắc nên bên
cạnh khả năng tác động trực tiếp tới mức tỷ giá trên thị trường nó cũng gây
nhiều phản ứng tiêu cực và có thể dẫn tới những biến động không mong muốn
trên thị trường ngoại hối.
2.2.2.4. Chính sách quản lý ngoại hối
Ngoại hối là các phương tiện có giá trị được dùng để cất trữ hoặc thanh
toán giữa các quốc gia như: ngoại tệ, vàng bạc, kim cương, đá quý, các chứng
khoán và phương tiện thanh toán (hối phiếu, kỳ phiếu, séc..) ghi bằng ngoại
tệ.
Mục đích của chính sách quản lý ngoại hối là nhằm kiểm soát chặt chẽ
việc chuyển ngoại hối ra bên ngoài nước, thu hút nhiều ngoại hối vào trong
nước, quản lý nghiêm ngặt các ngoại hối dự trữ như vàng, ngoại tệ…Đặc biệt
đối với các nước đang phát triển, do dự trữ ngoại hối có hạn nên phải áp dụng
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

30
chính sách quản lý ngoại hối nghiêm ngặt để đảm bảo nguồn cung ngoại hối
cho nhu cầu của đất nước.
2.3. Tác động của nhóm chính sách tiền tệ đến lạm phát
Ta xét tác động của CSTT đến lạm phát theo các quan điểm của hai
trường phái: quan điểm của trường phái trọng tiền và quan điểm của trường
phái Keynes.
Trường phái trọng tiền: Milton Friedman đã hàm ý rằng: Lạm phát bao
giờ cũng là kết quả của một sự tăng trưởng kéo dài trong cung ứng tiền tệ
khi ông cho rằng: „ Lạm phát luôn luôn và lúc nào cũng là một hiện tượng tiền
tệ”. Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh, những biến động tăng lên trong mức giá
là một hiện tượng tiền tệ chỉ khi nào những biến động đó trong thời gian kéo
dài. Trong điều kiện kinh tế đạt cân bằng dài hạn, nếu cung tiền tệ tăng lên
đều đặn dần dần trong cả năm thì tổng cầu sẽ tăng cao. Theo công thức (4) ở
trên: MV= PY; trong đó PY =AD là tổng cầu khi M tăng, V không đổi thì AD
sẽ tăng lên. Mức cân bằng mới của nền kinh tế về dài hạn sẽ làm giảm cung,
đi về sản lượng tiềm năng và nâng cao mức giá. Cứ tiếp tục tăng cung tiền thì
làm giá cả tăng theo.Tăng cung tiền kéo dài sẽ gây ra lạm phát.Theo
Friedman, tăng cung tiền là nguyên nhân duy nhất gây ra lạm phát.
Quan điểm của trường phái Keynes: Các nhà kinh tế học theo trường
phái Keynes cũng thừa nhận rằng lạm phát cao và kéo dài chỉ do sự tăng
trưởng kéo dài trong mức cung tiền tệ gây ra. Chính sách tài chính làm tăng
tổng cầu, tạo ra cú sốc cầu làm tăng giá tạm thời và sau đó không làm tăng giá
nữa. Chỉ khi tăng chi tiêu kéo dài được tài trợ bằng cách tăng thêm lượng tiền
thì mới có thể duy trì lâu dài và tạo ra lạm phát Như vậy, bản thân chính sách
tài khoá không gây ra lạm phát nếu không có sự tăng trưởng của cung tiền
phía sau. Tương tự đối với trường hợp tăng cú sốc cung, đó cũng chưa phải là
nguồn gốc gây ra lạm phát cao.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

31
Từ hai quan điểm trên cho thấy vai trò của CSTT đối với tình hình lạm
phát cao xảy ra. Vì vậy, muốn kiềm chế lạm phát đặc biệt là lạm phát cao,
nhiệm vụ đầu tiên mà chính phủ cần làm là dùng các công cụ của CSTT nhằm
điều chỉnh và ổn định lượng cung ứng tiền tệ.
Ưu điểm của CSTT là có tác dụng nhanh và hiệu quả ngay vì nó quyết
định đến mức cung ứng tiền tệ trên thị trường. Tuy nhiên, bản thân nó không
phải là một giải pháp vạn năng cho bất cứ một nền kinh tế nào muốn giảm áp
lực lạm phát mà cần phải phối hợp đồng bộ với các biện pháp tài khoá và bình
ổn kinh tế vĩ mô khác, đặc biệt là đối với các nước có nền ổn định vĩ mô còn
kém. Ví như nếu thắt chặt tiền tệ, mà Nhà nước vẫn tiếp tục tăng cường đầu
tư, khi lượng tiền thắt chặt trên thị trường sẽ tập trung phục vụ cho lượng cầu
của chính phủ. Trong khi đó lãi suất tín dụng sẽ tăng lên, làm việc đầu tư trở
nên khó khăn trong khu vực tư nhân, dẫn đến hiện tượng lấn át đầu tư của
chính phủ.
III. Kinh nghiệm sử dụng CSTT nhằm kiểm soát lạm phát ở
một số nước trên thế giới
Trong năm 2007, sự tăng giá liên tục với mức độ lớn của các hàng hoá
như dầu mỏ, vật liệu xây dựng, lương thực và dầu thực vật…đã dẫn tới tình
trạng lạm phát ở hầu hết các nước trên thế giới với mức độ khác nhau. Để đối
phó tình trạng này, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà các nước có hành động khác
nhau và hầu hết mang lại hiệu quả. Từ những nước này chúng ta có thể rút ra
những bài học cho Việt Nam trong quá trình kiểm soát và kiềm chế lạm phát
hiện nay.
3


3
Nguồn http://antg.cand.com.vn/vi-vn/ktvhkh/2008/3/65792.cand

T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

32
1. Cộng hoà Liên Bang Nga.
Năm 2007, tỷ lệ lạm phát ở Nga là 8,7% do tác động chủ yếu của giá
lương thực, thực phẩm tăng cao. Ngay từ năm 2007, chính phủ Nga thực hiện
tổng hợp các biện pháp kiềm chế lạm phát:
Nâng cao tỷ lệ lãi suất gửi ngân hàng, kiểm soát việc lưu thông tiền tệ quá
lớn và tăng cường tích trữ vàng.
Tung ra thị trường 1,5 triệu tấn lương thực dự trữ nhằm giảm bớt việc tăng
giá lương thực.
Tăng cường điều tiết xuất nhập khẩu, nâng thuế suất xuất khẩu lúa và mạch
nha từ 0% lên 10 và 30%, giảm thuế nhập khẩu các mặt hàng như sữa, rau
quả, dầu ăn từ 15% xuống 5%, đồng thời xoá bỏ những hạn chế việc nhập
khẩu từ Trung Quốc, Mỹ, Bra-xin.
Trực tiếp can thiệp giá cả, thông qua chính phủ thoả hiệp giá cả với các
hãng sản xuất, kinh doanh hàng hoá lớn trong nước đồng thời hỗ trợ tài
chính cho các doanh nghiệp có liên quan.
Tấn công hành vi, vi phạm giá cả và xử lý hành chính đối với các doanh
nghiệp cố tình vi phạm việc nâng giá.
Nâng cao mức lương hưu cơ bản, và tiếp tục tăng lương vào nửa cuối năm
2008 nhằm giải quyết khó khăn cho người hưu trí.
Kết quả, ngay đầu năm 2008, xu hướng lạm phát, giá cả, lương thực,
thực phẩm thấp hơn cùng kỳ năm ngoái.
2. Hàn Quốc.
Mức độ lạm phát ở Hàn Quốc năm 2007 là 2,5%, cao nhất trong 5 năm
trở lại đây. Vào đầu năm 2008, chính phủ Hàn Quốc thực hiện chính sách ổn
định giá cả hàng hoá trong thời gian ngắn, bao gồm các biện pháp sau:
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

33
Thành lập tổ công tác về chính sách liên ngành đối với sự ổn định giá cả
với sự tham gia của 14 cơ quan Trung ương. Nhiệm vụ là theo dõi, kiểm
soát những sản phẩm tăng giá quá nhanh. Chính quyền địa phương cũng
thành lập cơ quan chỉ đạo và uỷ ban đối sách về giá cả theo dõi xu hướng
lên xuống của giá cả và đề ra chính sách tương ứng.
Tăng cường điều tiết kinh tế vĩ mô. Theo đó, chính phủ và cơ quan tài
chính sẽ điều chỉnh phù hợp chính sách tiền tệ và kiểm soát thị trường
ngoại hối.
Miễn giảm thuế, tăng cường trợ cấp cho những gia đình có thu nhập thấp,
mở rộng phạm vi hỗ trợ thông qua các quỹ hỗ trợ tài chính cho giáo dục,
hỗ trợ phúc lợi. Đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp tạo thêm cơ hội
việc làm cho những người nghèo, dùng ngân sách chính phủ hỗ trợ cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Ngăn chặn và xử lý nghiêm những hành vi bán phá giá không chính đáng,
trọng điểm là những hành động lũng đoạn giá cả, tăng cường giám sát các
hành vi tăng giá cao các sản phẩm hàng hoá như dầu mỏ, lương thực,
phòng ngừa những giao dịch không minh bạch thông qua lợi dụng thị
trường và địa vị chính trị.
3. Trung Quốc.
Tại Trung Quốc, tỷ lệ lạm phát tháng 2 năm 2008 là 8,3%, so với 7,1%
tháng 1/2008 và là mức cao nhất trong vòng 11 năm qua; trong khi mục tiêu
kiềm chế lạm phát đề ra là dưới 4,8%. Nguyên nhân chính gây ra lạm phát là
do tăng giá lương thực- thực phẩm tháng đó lên tới 23,3%. Để chống lạm
phát, chính phủ chủ trương ưu tiên thực hiện chính sách tài chính ổn định,
minh bạch và chính sách tiền tệ thắt chặt năm 2008. Chính phủ cũng ưu tiên
các lĩnh vực liên quan trực tiếp tới đời sống nhân dân, cho phép đồng nhân
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

34
dân tệ biến động linh hoạt hơn. Ngay từ trong năm 2007, Ngân hàng Trung
ương Trung Quốc đã thắt chặt tiền tệ, cùng với nới lỏng giao dịch ngoại tệ,
tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tới 10 lần và 6 lần tăng lãi suất với mức tăng không
lớn để thị trường tiền tệ không bị sốc cũng như không gây khó khăn cho hoạt
động ngân hàng.
Tháng 5/2007 Ngân hàng Trung ương Trung Quốc nới rộng biên độ
giao dịch của đồng nhân dân tệ so với đồng đô la lên 0,5%.
Từ ngày 15/08/2007 chính phủ quyết định giảm thuế thu nhập đối với
lãi suất tiết kiệm từ 20% xuống còn 5% nhằm khuyến khích tiết kiệm và gửi
tiền. Tháng 9/2007 nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 12% lên 12,5% và tiếp tục
tăng 13% trong tháng 10. Tháng 11 là 13,5% và tháng 12 là lần thứ 10 tăng kể
từ đầu năm lên 14%. Kèm theo các biện pháp trên chính phủ còn phát hành
tín phiếu đối với NHTM nhằm thu hút lượng tiền từ lưu thông vào.
4. Các bài học kinh nghiệm rút ra
Từ kinh nghiệm chống lạm phát của các nước tiêu biểu nêu trên, có thể
rút ra một số bài học về việc sử dụng CSTT nhằm kiềm chế lạm phát cho
Việt Nam như sau:
4.1. CSTT thắt chặt cần chú trọng vào các nguyên nhân gây lạm phát
Cần phân tích đúng và làm rõ các nguyên nhân gây lạm phát gồm có
nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân sâu xa của vấn đề. Từ đó thực hiện
các biện pháp tương ứng, các biện pháp ngắn hạn để đối phó với nguyên
nhân trực tiếp; các biện pháp trung và dài hạn để ứng phó với các nguyên
nhân sâu xa. Cộng Hoà Liên Bang Nga lạm phát chủ yếu là do ảnh hưởng
của sốc cầu về lương thực, thực phẩm làm tăng giá lương thực, thực phẩm vì
vậy để kiềm chế lạm phát của chính phủ đầu tiên là giảm lượng cung tiền
bằng cách tăng lãi suất trên thị trường, nhằm kiềm chế lạm phát có thể kéo
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

35
dài; đồng thời tăng lượng cung lương thực thực phẩm bằng cách tung ra thị
trường lượng lương thực dự trữ; Giảm tối đa thuế nhập khẩu đối với mặt
hàng này; khuyến khích phát triển sản xuất trong nước. Ngoài ra cần thực
hiện mọi biện pháp tăng cường kiềm chế và kiểm soát giá cả khi nguy cơ
lạm phát tăng cao. Đặc biệt là hành động đầu cơ tích trữ, cấu kết đồng loạt
tăng giá các mặt hàng làm lũng loạn thị trường trong nước.
Ở Việt Nam, ngoài nguyên nhân tăng giá các mặt hàng lương thực,
thực phẩm trên thị trường thế giới, còn có nhiều nguyên nhân khác nữa như
nền kinh tế chịu tác động của cú sốc tổng cung, tổng cầu; hệ thống tài chính
chưa hoàn thiện dẫn đến lệch lạc các số liệu về mức cung tiền và tín dụng,
đưa đến các quyết định chưa đầy đủ và đúng đắn trong việc ra quyết định
kiềm chế lạm phát .v.v…
4.2. Thực hiện đồng bộ các công cụ CSTT để đạt được các mục tiêu ổn
định kinh tế-xã hội
Thắt chặt tiền tệ là một nhiệm vụ tiên quyết trong việc kiềm chế lạm
phát. Tuy nhiên cần có một cơ chế thực hiện từng bước nhằm ổn định lâu dài,
không thể nôn nóng vì tác dụng của các biện pháp này thường có độ trễ nhất
định và lạm phát là một hiện tượng xảy ra trong thời gian dài. Nếu thắt chặt
tiền tệ quá nhanh và mạnh sẽ làm thị trường chưa kịp thích nghi tạo cú sốc và
đội khi lại làm tăng lạm phát. Năm 2007, Trung Quốc đã 10 lần tăng tỷ lệ dự
trữ bắt buộc và 6 lần tăng lãi suất cơ bản, theo kịp với diễn biến lạm phát trên
thị trường, đồng thời không tạo cú sốc bất ngờ và bình ổn được thị trường tài
chính.
Khi lạm phát lên cao, cần thắt chặt mạnh tiền tệ nhưng vẫn tránh gây cú
sốc trên thị trường thì giải pháp đưa ra là kết hợp nhiều công cụ của CSTT
một cách đồng bộ hơn. Ví dụ: làm linh hoạt tỷ giá hối đoái, tăng lãi suất và tỷ
lệ dự trữ bắt buộc, phát hành tín phiếu…
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

36
4.3. Kết hợp chặt chẽ CSTT với các biện pháp khác
Như đã phân tích ở trên, mặc dù CSTT là công cụ chủ chốt trong việc
kiềm chế lạm phát nhưng không phải là một chìa khoá vạn năng, mà nó cần
có bổ trợ của các chính sách vĩ mô khác. Vì vậy để phát huy tối đa hiệu quả
của nó cần kết hợp thực hiện với các chính sách khác như: chính sách tài
khoá, an sinh xã hội và trợ cấp. Thắt chặt tiền tệ mà tăng cường chi tiêu chính
phủ thì dẫn tới sự giảm đầu tư trong khu vực dân doanh và giảm tăng trưởng
kinh tế (hiện tượng lấn át đầu tư). Mặt khác, lạm phát sẽ tác động tới toàn thể
đời sống kinh tế-xã hội, gây khó khăn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong
việc xoay vốn NH; cho nên chính sách an sinh xã hội là biện pháp cần thiết.
Hàn Quốc đã thực hiện miễn giảm thuế, tăng trợ cấp cho những người có thu
nhập thấp, tăng cường hỗ trợ cho giáo dục, phúc lợi xã hội đồng thời lập quỹ
hỗ trợ và tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.


T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

37
Chương II: TÌNH HÌNH LẠM PHÁT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA
CSTT NHẰM KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG
THỜI GIAN QUA
I. Thực trạng lạm phát của Việt Nam
1. Bối cảnh nền kinh tế toàn cầu
Nền kinh tế toàn cầu đã đạt được những bước chuyển biến đáng kinh
ngạc bắt đầu từ cuộc cách mạng cộng nghệ. Một loạt các phương thức sản
xuất mới gắn liền với điện tử và công nghệ tin học giúp thu hẹp khoảng cách
và thời gian. Tăng năng suất lao động, cải tiến phương pháp quản lý mới và tự
do hoá thương mại toàn cầu là động lực chính của “bùng nổ” tăng trưởng kinh
tế thế giới. Thế nhưng dường như quy luật phát triển khách quan không loại
trừ ai cả, tăng trưởng cũng là tiền đề cho một cuộc khủng hoảng mới, một khó
khăn thách thức mới đòi hỏi con người phải vượt qua. Bắt đầu nửa cuối năm
2007, điều kiện kinh tế vĩ mô toàn cầu trở nên bất ổn và khó khăn hơn. Giá
dầu thô, nguyên vật liệu và lương thực tăng mạnh làm các nước lo ngại về đầu
tư, giảm tăng trưởng và đối mặt với lạm phát gia tăng.
Về dầu thô, do nhiều nguyên nhân về kinh tế-chính trị mà lượng cung
dầu thô đã giảm hẳn trong khi nhu cầu sử dụng kể cả nước phát triển cũng
như nền kinh tế mới nổi vẫn ngày càng tăng cao. Kết quả giá dầu thô trên thị
trường thế giới tăng mạnh. Giá dầu trung bình thế giới năm 2007 là 69.08
USD/thùng gấp 2.5 lần 4 năm về trước (28.1 USD/thùng năm 2003) và tăng
13% so với năm 2006. Đặc bịêt có xu hướng tăng vào cuối năm, tăng tốc vào
đầu năm 2008. Cuối tháng 12 năm 2007 giá dầu tăng lên 87.05% tăng 30% so
với đầu năm. Giá dầu trung bình năm 2008 là 106.66 USD/thùng, gần bằng 5
lần giá năm 2003 (trong 5 năm); tăng 54.4% so với cả năm 2007, và tốc độ
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

38
gia tăng ngày càng nhanh. Đầu tháng 7/2008 giá dầu là 138.2% (đã từng lên
tới 140USD/thùng) tăng 56,4% kể từ đầu năm 2008. ( biểu đồ 1)
Biểu đồ 1: Mức độ tăng của giá dầu thế giới.

Nguồn: http://www.opec.org.
Đồng hành cùng giá dầu là giá lương thực thế giới. Trong đầu năm
2008 xảy ra nghịch lý, nhiều nước phát triển như EU và Mỹ trên thế giới
dùng lương thực để làm nguyên liệu sản xuất thay thế cho dầu khi giá dầu
đang đội lên mạnh. Các nước này đã phải nhận một làn sóng chỉ trích của dư
luận thế giới vì trên thực tế dự trữ lương thực FAO đang giảm, nhiều nước thế
giới thứ ba đang chịu cảnh thiếu lương thực trầm trọng. Quỹ dự trữ lương
thực hàng năm của FAO là 140 triệu tấn, tới năm 2007 giảm xuống còn một
nửa, sản lượng năm 2007 chỉ đạt 240 triệu tấn trong khi nhu cầu là 245 triệu
tấn. Sản lượng lương thực 2 năm gần đây giảm trong khi nhu cầu tăng cao,
đẩy giá lương thực tăng lên. Tháng 3/ 2007, giá gạo xuất khẩu Thái Lan tăng
323 USD/ tấn lên 332 USD/tấn giá FOB, loại 100%B so với đầu tháng 2. Ở
Vịêt Nam, giá gạo xuất khẩu 6 tháng đầu năm tăng 40 USD/tấn so với cuối
năm 2006.
4
Giá gạo tiếp tục tăng, giá vào tháng 5/2008 giá tăng gấp 3 lần so

4
: theo vneconomy ngày 23/07/2007.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

39
với đầu năm và gấp 4 lần so với giá trung bình năm 2007. Đỉnh điểm lên tới
1.100USD/ tấn một mức giá mà người trồng lúa không thể ngờ tới.
Ngoài ra, nhiều mặt hàng khác cũng tăng lên như phân bón, sắt thép và
vật liệu xây dựng… Mức biến động giá của nhiều mặt hàng trong 2 năm gần
đây làm cho hầu hết các nước phải tìm mọi bịên pháp nhằm hạn chế lạm phát
và tăng giá. Tốc độ tăng trưởng chung giảm xuống. Mỹ, cường quốc kinh tế
đứng đầu thế giới, không chỉ chịu tác động của cơn bão giá này mà còn lâm
vào tình trạng suy thoái do khủng hoảng tín dụng nhà đất, đầu năm 2008 thị
trường nhà đất đóng băng, tổng cầu nền kinh tế giảm, nền tài chính Mỹ khủng
hoảng nhiều ngân hàng lớn chỉ sau 1 tháng đã bị phá sản do sụt giảm của giá
cổ phiếu. Nền kinh tế Mỹ suy yếu ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưỏng của nhiều
nước trên thế giới vì đây là thị trường nhập khẩu hàng hoá chính của nhiều
nước đang phát triển trong đó có Việt Nam và cũng là thị trường tài chính lớn
của các tập đoàn khổng lồ thế giới.
Chập chững bước đi trên con đường hội nhập, nền kinh tế nhỏ bé như
Việt Nam phải đương đầu với cơn bão táp giá cả và sự đi suy thoái của nền
kinh tế toàn cầu. Những ảnh hưởng tiêu cực này, Việt Nam không thể tránh
khỏi vì nó không loại trừ bất kỳ một quốc gia nào và Việt Nam không phải là
ngoại lệ.
2. Tình hình lạm phát Việt Nam năm 2007
Chỉ số giá tiêu dùng năm 2007 nhìn chung đều tăng trong các tháng
trong năm nhưng với mức độ ít, chủ yếu tăng mạnh vào các tháng cuối năm.
Hai tháng đầu năm chỉ số giá cả tăng ở mức cao 0.9% tháng 1 và 2.2% ở
tháng 2 nhưng đến tháng 3 thì lại giảm xuống, nhìn chung trong 6 tháng đầu
năm 2007, tỷ lệ tăng ở mức 5.2% so với tháng 12/2006. Nửa cuối năm sau,
mức độ tăng của các tháng liên tục đều nhau và tăng mạnh vào quý IV. CPI
tháng 7 tăng 0.94%, tháng 8 tăng 0.55%, tháng 9 tăng 0.51% đẩy chỉ số lạm
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

40
phát của 9 tháng đầu năm lên 7.53% so với cùng kỳ năm 2006; tháng 10 tăng
0.74%, tháng 11 tăng 1.23% và tháng 12 tăng 2.91% gấp 4.35 lần so với mức
tăng trung bình của các tháng quý III; và mức tăng trung bình quý IV gấp 7
lần so với các tháng ở quý III. Kết quả là lạm phát năm 2007 lên tới 2 con số
12.63% so với tháng 12/2006 chủ yếu là sự tăng giá của nhóm hàng lương
thực, thực phẩm và nhóm hàng nhà ở và vật liệu xây dựng.
Biểu đồ 2: Chỉ số giá tiêu dùng năm 2007
-1
0
1
2
3
4
5
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
chỉ số giá chung
chỉ số giá lương thực
thực phẩm
chỉ số giá nhà ở và vật
liệu xây dựng

Nguồn: Báo cáo hàng tháng của TCTK năm 2007
Về giá lương thực, thực phẩm tăng cao nhất 18.92% trong đó lương
thực tăng 15.40% còn thực phẩm tăng 21.16%. Nhìn chung chỉ số giá thực
phẩm tăng nhiều nhất đặc biệt là trong 6 tháng cuối năm. Từ tháng 7 đến
tháng 11, chỉ số giá của loại hàng hoá này luôn tăng ở mức cao hàng tháng,
dao động từ 7% tới 11%. Ta có thể thấy rõ sự gia tăng này ở một số mặt hàng
như: thịt, dầu ăn, mỳ tôm và sữa. Tại các chợ bán lẻ giá thịt lợn tháng 11/2007
tăng 10-15% so với tháng 10, 30% so với tháng 3. Cuối tháng 6/2007 giá 1
chai dầu ăn 1 lít bình quân là 17 - 18 nghìn đồng nhưng đến tháng 10 đã tăng
lên 24 nghìn đồng/chai, các mặt hàng bột nêm, sa tế và sữa đều đồng loạt tăng
từ 10%. Nguyên nhân chính ở đây do tác động của dịch cúm gia cầm vào đầu
năm 2007, tiếp đó là dịch lợn tai xanh và lở mồm, long móng của lợn làm
giảm lượng cung thịt trên cả nước; cộng với giá phân bón và thức ăn gia súc
nhập khẩu tăng mạnh làm chi phí đầu vào sản xuất tăng.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

41
Đứng thứ hai về mức độ tăng giá cả là nhóm hàng nhà ở và vật liệu xây
dựng (gồm giá bất động sản, tiền thuê nhà, điện nước, chất đốt, vật liệu xây
dựng) tăng 17.12% so với tháng 12/2006. Mặc dù không giống như thực
phẩm, giá cả nhóm mặt hàng này không tăng ngay từ giữa năm mà chỉ trong 3
tháng cuối năm tăng mạnh. Cao điểm nhất là tháng 12 tăng 3.28%, cao thứ hai
sau thực phẩm là 4.69%. Trung bình trong năm 2007 giá nhà đất tăng lên
300%, trong ba đợt sốt đất vào tháng 3, tháng 7 và tháng 10. Giữa mỗi thời kỳ
sốt, tuy có giảm giá nhưng không đáng kể. Đáng kể đến là khu đất Nam Sài
Gòn và lân cận quận Thủ Thiêm, trong đợt sốt đất tháng 10 giá nhà đất đã
tăng lên 15 triệu đồng/1m2.
5
Nguyên nhân là việc tăng mạnh đầu tư nước
ngoài trong đó có lĩnh vực bất động sản khi trở thành thành viên của WTO;
chuyển nguồn vốn từ thị trường chứng khoán khi xuống dốc chuyển sang; và
do tâm lý đám đông của người dân.
Ngoài ra còn có các mặt hàng dược phẩm y tế tăng 7.05%, may mặc và
đồ uống chỉ tăng gần 7%. Về dịch vụ bưu điện và phương tiện đi lại tăng
7.27% , khá cao mặc dù trong đó có một nhóm mặt hàng duy nhất không tăng
mà ngược lại còn giảm giá đó là phí bưu chính viễn thông giảm 3.55%.
3. Tình hình lạm phát đầu năm 2008.
Trong năm 2008, cùng với diễn biến phức tạp giá cả các mặt hàng thế
giới, lạm phát tại Việt Nam tiếp tục tăng cao ngoài sự dự kiến của chính phủ.
Trong bối cảnh gia tăng đột biến của chỉ số giá tiêu dùng cuối năm 2007,
chính phủ Vịêt Nam chưa đánh giá đúng vai trò của chống lạm phát, vẫn đặt
mục tiêu tăng trưởng kinh tế lên hàng đầu lập kế hoạch đầu năm phấn đấu
tăng trưởng đạt 8.5-9%/năm, và tỷ lệ lạm phát dưới mức tăng trưởng. Song
diễn biến thực tế lại hoàn toàn ngược lại.


5
Theo báo Lao Động số 301 ngày 31/12/2007.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

42
Biểu đồ 3: Lạm phát năm 2008
-0.5
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
3.5
4
Jan Feb Mar Apr May Jun
2008
2007
Nguồn : Báo cáo hàng tháng của TCTK năm 2007-2008
Chỉ số giá 6 tháng đầu năm 2008 đều biến động ở mức cao. Nếu so
năm 2007, thời kỳ giá tiêu dùng tăng cao trong năm chỉ rơi vào 3 tháng cuối
năm, cao nhất là tháng 12 đạt 2.91%, thì tốc độ tăng giá vào các tháng đầu
năm 2008 đều xấp xỉ con số này. CPI của tháng 1 tăng lên 2.38%; tháng 2 là
3.56%; tháng 3 là 2.99%; tháng tư là 2.2%; cao nhất là tháng năm tăng 3.91%
và tháng 6 là 2.14%. Nếu bình thường ra tết các mặt hàng thường hay giảm
giá vào tháng 3 trở đi như năm 2007 CPI là -0.2%, và sau đó bình ổn ở giữa
năm chỉ tăng mạnh vào cuối năm; thì ở năm 2008, CPI liên tục tăng tới mức
kỷ lục đều trên 2%. Kết quả là chỉ sau 6 tháng lạm phát đã lên tới 18.44% so
với tháng 12/2007. Với tốc độ như vậy chỉ cần mức độ tăng giá của các tháng
cuối năm bằng với năm 2007 thì mức độ lạm phát cả năm sẽ tăng lên là trên
30%.
Sở dĩ chỉ số giá chung 6 tháng này tăng cao hơn rất nhiều so với 6
tháng đầu năm 2007 và các năm khác là do mức độ tăng giá mạnh chủ yếu
của lương thực thực phẩm (30.73%); nhà ở và vật liệu xây dựng (14.34%); và
phương tiện đi lại bưu điện(10.58%). Các mặt hàng có tăng ít hơn nhưng vẫn
nhiều hơn so với cùng kỳ năm ngoái. Cụ thể: Sau 6 tháng, nhóm hàng lương
thực, thực phẩm tăng 30.73% trong đó lương thực tăng 59.44%; thực phẩm
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

43
tăng 21.83%. Nếu năm 2007, giá thực phẩm tăng liên tục và mạnh hơn so với
lương thực thì đầu năm nay giá lương thực liên tục tăng mạnh. Chỉ số giá
lương thực tháng 5 tăng 22.19% (cao nhất trong 10 năm gần đây), tháng 4
tăng 6.11%, tháng 3 tăng 10.5%. Sở dĩ giá gạo tăng là do giá gạo xuất khẩu
thế giới tăng mạnh riêng tháng 4/2008 tăng đột biến lên 1.100USD/tấn làm
giá gạo trong nước tăng theo cộng thêm với việc tích trữ gạo do sợ thiếu nên
đẩy giá gạo trong nước lên cao. Đỉnh điểm tháng 5, giá gạo thấp nhất trong
nước là 13 nghìn đồng/1kg trong khi giá gạo bình quân năm 2007 chỉ là 7
nghìn đồng/1kg. Sang đến tháng 6, tốc độ tăng giá lương thực tăng ít hơn
(4.29%) do biện pháp kiềm chế lạm phát và bình ổn giá cả của Nhà nước đã
bắt đầu phát huy hiệu quả.
Nhóm hàng có giá tăng mạnh thứ hai là nhà ở và vật liệu xây dựng. Tốc
độ tăng trung bình hàng tháng nhóm mặt hàng này là 1.78%, trong đó cao
điểm là tháng 3 (3.55%). Các tháng sau có tốc độ tăng giảm dần, nguyên nhân
là thị trường nhà đất đang lắng xuống, nhưng độ tăng vẫn cao do sốt giá
nguyên vật liệu như sắt thép và xi măng. Hiện nay, giá nhập khẩu nguyên liệu
sản xuất như dầu, clinker (dùng để sản xuất xi măng), phôi thép … làm các
doanh nghiệp hạn chế sản xuất trong khi nhu cầu xây dựng cao đẩy gía thép
và xi măng tăng lên.
II. Nguyên nhân gây lạm phát ở Việt Nam
1. Lạm phát do chi phí đẩy
Giá thành là bộ phận chính cấu tạo nên giá cả sản phẩm. Khi giá thành
cao, giá cả cũng tăng lên và đây cũng là một trong những nguyên nhân chính
của lạm phát. Ở Việt Nam để phục vụ nhu cầu sản xuất tăng cao, đã nhập
khẩu rất nhiều các mặt hàng như: máy móc trang thiết bị, nguyên vật liệu,
dầu… Trong khi giá cả các mặt hàng này trên thế giới đang tăng cao đã làm
đội lên giá thành sản xuất.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

44
Về mặt hàng xăng dầu, do giá dầu thế giới liên tục tăng mạnh ảnh
hưởng đến giá dầu nhập khẩu. Để kiềm chế tăng mức giá, Nhà nước đã bảo
hộ xăng dầu, thực hiện các lộ trình tăng giá sao cho vừa sát với giá của thế
giới vừa không bị sốc trước biến động liên tục trên thị trường thế giới. Trong
năm 2007, Nhà nước đã 5 lần thực hiện điều chỉnh tăng giá xăng dầu, với
mức tăng không nhiều. Mỗi năm Nhà nước phải chi một lượng ngân sách
không nhỏ để bù lỗ cho doanh nghiệp. Để hạn chế bớt tình hình này, ngày
25/02/2008 Bộ tài chính quyết định để các doanh nghiệp tự điều chỉnh giá
theo cung cầu thị trường, nhưng dưới sự giám sát của chính phủ. Ngay trong
hôm đó các doanh nghiệp đã tăng giá lên 14.500 đồng/ 1lít tăng lên
1.500đồng/1lít so với giá trước kia. Mới đây nhất là ngày 21/07/08 do mức
tăng quá nhanh của giá dầu toàn cầu, khoản bù đắp chênh lệch giá khiến
Chính phủ khó có thể trợ cấp thêm được và phải tăng lên 19.000 đồng/1lít cho
xăng A92.
Bảng 1: Bảng điều chỉnh giá xăng
6

Ngày 6/10/06 13/01/07 6/03/07 7/5/07 16/08/07 22/11/07 25/02/0
8
21/07/0
8
Giá thế giới
(USD/ thùng)
60 52 60,07 66,46 75,00 99,00 100 127,72
Giá Việt Nam
(đồng/1lít)
10.500 10.100 11.000 11.800 11.300 13.000 14.500 19.000
Nguồn: http://www.vnexpress.net/
Xăng dầu luôn là một mặt hàng quan trọng và có tác động đến nhiều
mặt hàng và dịch vụ khác. Vì thế cứ sau mỗi đợt tăng giá xăng dầu kết quả tất
yếu là giá cả của các mặt hàng khác tăng theo bằng phản ứng dây chuyền và
tác động tâm lý của người dân. Về chi phí vận chuyển, chi phí xăng dầu
chiếm 50% trong đó, làm tác động đến giá cước đi lại đồng thời cước vận

6
http://www.vnexpress.net/
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

45
chuyển hàng hoá cũng tăng theo. Theo cách nói nôm na, giá xăng dầu tăng thì
đến giá quả trứng, mớ rau cũng tăng theo. Một nhóm hàng hoá bị tác động
trực tiếp bởi giá xăng dầu sẽ tiếp tục tác động đến giá cả của những mặt hàng
khác lên. Đó là tác động gián tiếp của giá xăng dầu mà khó có thể lượng hoá
được. Ví dụ, đợt tăng giá xăng dầu ngày 22/11/07 giá xăng dầu được điều
chỉnh 15% thì nhóm dịch vụ vận tải tăng từ 3.82-5.8% trong đó đường bộ
tăng 5.17%, đường sắt 3.58%, đường sông là 5.8%; đối với lương thực thực
phẩm tăng 0.11- 1.51%, lúa tăng 1.51%, cà phê tăng 1.57%. Kết quả là chỉ số
giá tiêu dùng tháng 12 tăng 2.91% cao nhất trong 16 năm trước. Đợt tăng giá
gần đây nhất ngày 25/02/08 giá dầu xăng 10%, giá dầu tăng 3.700 đồng/1lít
đã tạo áp lực lớn cho các công ty vận tải trong nước khi chi phi vận chuyển
tăng lên từ 5-15%, nhưng khó có thể điều chỉnh giá cước cụ thể và còn bị
kiềm chế giá bởi bộ Tài chính.
Một nguyên nhân nữa làm tăng chi phí sản xuất là giá các mặt hàng
máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu nhập khẩu ngày càng tăng. Năm 2007 giá
các sản phẩm như giá thép thành phẩm tăng bình quân 93USD/tấn, phôi thép
tăng 105 USD/tấn, phân bón tăng 21 USD/tấn, chất dẻo tăng 144USD/tấn, sợi
các loại tăng 151 USD/tấn, kim loại thường khác tăng 469 USD/tấn.
7

Đến năm 2008, giá các mặt hàng này tốc độ tăng giá cao hơn. Giá trung
bình 4 tháng đầu năm 2008 của giá phân bón tăng 45% so với 21% năm 2007,
giá sản phẩm xăng dầu tăng 57% so với 12% năm 2007, giá lúa mì tăng 63%
so với 57% năm 2007 và sắt thép tăng 98% so với 40% năm 2007.(Biểu đồ 4)







7
Theo số liệu của tổng cục thống kê.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

46


Biểu đồ 4:Giá nhập khẩu trung bình 1 số mặt hàng
0
20
40
60
80
100
120
phân bón sản phẩm xăng
dầu
lúa mì sắt thép
2007
4M-2008
Nguồn: Báo cáo hàng tháng năm2007-2008của TCTK và TCHQ
2. Gia tăng tổng cầu gây lên tăng trưởng quá nóng ở Việt Nam
Việt Nam đã từng được coi là con hổ thứ hai của châu Á do trong 10
năm gần đây luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trung bình 7.5%/năm,
thường vượt kế hoạch đề ra. Động lực chủ yếu là sự phát triển nhanh chóng
của ngành công nghiệp và dịch vụ. Nhờ vậy mà diện mạo đất nước đã đổi
thay và đời sống nhân dân được cải thiện rất nhiều sau 20 năm đổi mới. Tuy
nhiên, cũng vì mức tăng trưởng nhanh chóng này đã tạo ra một số khó khăn,
thách thức mới. Đó là một nền tảng vĩ mô yếu kém chưa “chuyển mình” để
đáp ứng kịp so với đòi hỏi của nền kinh tế đề ra. Tình trạng thắt nút cổ chai
của cấu trúc cơ sở hạ tầng, công nghệ kỹ thuật và lao động có tay nghề. Với
mục tiêu tăng trưởng kinh tế là ưu tiên hàng đầu thì những khó khăn trước
mắt này đã tạo áp lực cho chính phủ gia tăng chi tiêu ngân sách để cải thiện
cơ sở hạ tầng. Cộng thêm với sự gia tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài, nên
tăng đầu tư cho máy móc và công nghệ. Tất cả làm tổng lượng cầu trong nước
tăng cao:
AD = C + I + G +NX
=> AD = C + I + G +NX
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

47
Năm 2007, GDP của Việt Nam là 70,902 triệu USD, tăng 8.5% so với
năm 2006; trong đó chi tiêu chính phủ là 362.1 nghìn tỷ VND (22.63 tỷ
USD), chiếm 31.9% GDP, tăng 24.82% so với năm 2006. Tổng doanh thu của
chính phủ là 342.9 nghìn tỷ VNĐ (21.43 tỷ USD), thâm hụt chi tiêu chính phủ
cả năm là 19.2 nghìn tỷ VNĐ (1.2 tỷ USD). Quý 1 năm 2008, tổng GDP cả
nước là 16,400 triệu USD tăng 7.4% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi tổng
chi tiêu chính phủ là 82.8 nghìn tỷ VND (5.175 tỷ USD) chiếm 31.55% tổng
GDP cả nước, thâm hụt 4.5 nghìn tỷ (290 triệu USD).
Một nguyên nhân nữa góp phần làm tổng chi tiêu xã hội gia tăng mạnh
trong năm 2007 và quý 1 năm 2008 là thâm hụt cán cân thương mại của Việt
Nam. Trong thời gian này, thâm hụt thương mại của Việt Nam tăng lên từng
quý, từ 2,776 triệu USD năm 2006 lên tới 10,360 triệu USD năm 2007 (tăng
273.2%) và đặc biệt chỉ trong quý I năm 2008 đã đạt 7,050 triệu USD tương
đương với 9.94% GDP năm 2007.
3. Tăng trưởng tiền tệ và tín dụng
Như vậy trong 2 năm vừa qua, Việt Nam đã chịu áp lực từ hai cú sốc
cung và cú sốc cầu, gây áp lực tăng giá cả. Nhưng nguyên nhân chính gây nên
mức lạm phát cao cuối năm 2007 đến 2 tháng đầu năm 2008 là do mức tăng
trưởng của tiền tệ và tín dụng từ đầu năm 2007.
Về mức cung tiền, trong năm 2007 số lượng đã tăng lên đột biến so với
các năm trước. Nguyên nhân chủ yếu là khi gia nhập WTO, với những con số
đầy ấn tượng về tăng trưởng trong thập kỷ vừa qua cùng với nguồn lao động
dồi dào, tài nguyên phong phú và lượng dân số khá đông, Việt Nam nhanh
chóng trở thành tâm điểm của nhà đầu tư nước ngoài. Theo số liệu thống kê
của Bộ Kế hoạch và đầu tư, tổng lượng vốn FDI đổ vào Việt Nam năm 2007
là 20.3 tỷ USD gần gấp đôi so với năm 2006 và xấp xỉ 30% GDP, và trong
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

48
năm tháng đầu năm 2008 tổng số vốn đầu tư đăng ký đã đạt 14.7 tỷ USD gấp
2.6 lần so với cùng kỳ năm ngoái.
Biểu đồ 5: Vốn FDI đầu tư vào Việt Nam từ 2003-2008
0
5
10
15
20
25
2003 2004 2005 2006 2007 5M-08
năm
tỷ USD
FDI đăng kí
Nguồn:Báo cáo thường niên của TCTK 2003-2008
Lượng cung tiền đô la cũng tăng lên là nhờ nguồn hỗ trợ ODA, năm
2007 lượng vốn ODA đăng kí là 4.4 tỷ đô tăng 700 triệu đô so với 2006 tương
đương với 15.9%, kiều hối tăng 1 tỷ USD lên 5.5 tỷ gấp 1.18 lần so với năm
ngoái. Thêm vào đó là nguồn vốn gián tiếp (FPI) gia tăng cuối năm, chủ yếu
là đầu tư vào thị trường chứng khoán mới nổi ở Việt Nam. Năm 2007, lượng
vốn FPI là 6.243 tỷ USD gấp 4.7 lần so với năm 2006.
8

Do những nguyên nhân trên mà lượng USD tăng quá lớn thị trường
ngoại hối, khiến cho khó có thể hấp thụ hết được. Trong khi đó, Ngân hàng
Nhà nước (NHNN) lại cố gắng giữ neo tỷ giá cố định nhằm giữ mức cạnh
tranh trong xuất nhập khẩu, gây khó khăn cho doanh nghiệp khi muốn đổi
USD sang VND để trang trải chi phí sản xuất. Các ngân hàng rơi vào tình
trạng thừa ngoại tệ, thiếu tiền đồng trầm trọng. Các khách hàng tư nhân không
được ưu tiên khi có nhu cầu đổi tiền USD sang VND. Trước tình hình trên,
NHNN đã tự tăng tính thanh khoản của tiền Việt bằng cách tung ra tiền đồng
để mua 10 tỷ USD chỉ trong vòng 1 năm. Bỗng dưng, họ đã bơm một lượng
tiền tương đương bằng tiền đồng vào nền kinh tế. Việt Nam đã phải đối mặt

8
: số liệu báo cáo thường niên của TCTK
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

49
với tình trạng “tam pháp bất khả thi”, tức là đồng thời duy trì một tỷ giá hối
đoái gần như cố định, một tài khoản vốn mở, và một chính sách tiền tệ độc
lập. Rõ ràng biện pháp này của NHNN chỉ có tác dụng ngắn hạn, làm giảm
bớt căng thẳng do thiếu tiền đồng trong chức năng thanh toán chứ không thiếu
lượng tiền trong lưu thông. Ngược lại NHNN đã tăng lượng tiền lưu thông
nhằm đảm bảo cố định tỷ giá trong khi không hạn chế lượng ngoại tệ tăng
thêm. Nếu lượng đầu tư tăng lên gấp đôi so với thực tế ở Việt Nam với chính
sách này thì không biết NHNN sẽ phải tung bao nhiêu tiền đồng để mua thêm
vào?
Một yếu tố nữa là sự mở rộng trong hệ thống ngân hàng dẫn đến tăng
trưởng. Hệ thống tài chính ngân hàng VN đã tăng trưởng nhanh chóng cả về
số lượng và quy mô. Số lượng ngân hàng tăng từ 9 ngân hàng năm 1991 lên
80 NH năm 2007 và 84 NH năm 2008. Số lượng ngân hàng tăng thêm tập
trung vào 2 khối là: NHTMCP và chi nhánh NH nước ngoài. (Bảng 2)
Bảng 2: Số lượng NH từ năm 1991 - 2008
1991 1993 1995 1997 1999 2001 2005 2006 2007 T6-
2008
NH
TMQD
4 4 4 5 5 5 5 5 5 -
NH TMCP 4 41 48 51 48 39 37 37 37 34
Chi nhánh
NHNN
0 8 18 24 26 26 29 31 33 37
NH Liên
doanh
1 3 4 4 4 4 4 5 5 -
Tổng số 9 56 74 84 83 74 75 78 80 84
Nguồn: BVSC và NHNN Việt Nam
GDP Việt Nam chỉ đạt 65 tỉ USD, so sánh với Hàn Quốc, GDP đạt gần 1000
tỉ USD thì lại chỉ có 25 NH (trước đây) và nay đã giảm xuống chỉ còn một
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

50
nửa
9
. Số lượng các NH và tổ chức tài chính tăng lên một phần là do việc mở
rộng lĩnh vực kinh doanh của các TĐKT, TCT sang lĩnh vực tài chính NH
nhằm hạn chế rủi ro.
Bên cạnh sự tăng trưởng về số lượng, quy mô hoạt động của hệ thống
NH cũng tăng lên mạnh mẽ. Trong đó một số các NHTMCP nông thôn đã
nâng cấp lên thành NHTMCP thành thị, mở rộng các chi nhánh hoạt động ra
toàn quốc. Sự tăng trưởng hệ thống tập trung vào 2 mảng hoạt động truyền
thống là cho vay và huy động. Tốc độ tăng trưởng hoạt động tín dụng và huy
động tiền gửi ở mức rất cao, năm 2007 tốc độ tăng trưởng tín dụng là 54%
gấp 6.75 lần so với tăng trưởng GDP và gấp 2 lần so với tăng trưởng tín dụng
năm 2006, tăng lượng vốn huy động là 50%. Trong đó, NHTMCP tăng lượng
tín dụng lên 77% so với 2006 trong khi các NHTM nhà nước chỉ tăng trưởng
là 23%
10
.
Biểu đồ 6: Tăng trưởng tiền tệ và tín dụng

Nguồn: Theo số liệu hàng năm của NHNN và IMF

9
: IMF
10
: Báo cáo thường niên của NHNN Việt Nam

T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

51
III. Ảnh hưởng của lạm phát tới nền kinh tế Việt Nam.
1. Lạm phát tác động tới đời sống xã hội.
Lạm phát cao ảnh hưởng tới đời sống xã hội của người dân, đặc biệt là
người dân nghèo và cận nghèo. Càng làm tăng lên tỷ lệ nghèo đói ở Việt
Nam. Mặc dù trong mấy năm gần đây, dưới các chính sách xã hội của chính
phủ tỷ lệ hộ nghèo đã giảm đáng kể, nhưng các hộ nghèo còn lại sẽ lại càng
khốn đốn hơn trong cuộc sống khi giá lương thực, thực phẩm tăng lên gần
60% trong vòng 1 năm. Xu hướng chi tiêu trong gia đình đã có xu hướng thay
đổi, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng thiết yếu hằng ngày mà đôi khi vẫn
chưa đủ trang trải. Có thể những người bán lương thực được hưỏng lợi từ việc
giá gạo tăng nhưng theo con số thống kê của NH thế giới số lượng này ở
Đồng bằng sông Cửu Long chỉ chiếm 27% tổng số các hộ nghèo (mặc dù đây
là vựa lúa của cả nước), 55% số hộ nghèo ở đồng bằng sông Hồng là trồng
lúa. Còn lại thì chịu áp lực tăng giá. Khó khăn nhất là vùng Tây Bắc, khi số
hộ gia đình gặp khó khăn lên tới 76%
(11)
. Khi tiền lương chưa kịp điều chỉnh,
công nhân tại các khu công nghiệp chịu chi phí nhà cửa, sinh hoạt và ăn uống
thậm chí chưa đủ đến cuối tháng. Nhiều khu công nghiệp, công nhân muốn
tăng lương cố gắng làm thêm ca kíp để bù đắp thiếu hụt cuộc sống đến nỗi
kiệt sức dẫn đến tình trạng tiền lương chưa đủ tiền thuốc. Doanh nghiệp đối
phó với áp lực chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng cao, muốn dựa vào mức
lương tối thiểu của nhà nước mà trì hoãn tăng lương, chia nhỏ các khoản tiền,
thậm chí không đóng bảo hiểm cho công nhân. Theo báo cáo thống kê chưa
đầy đủ của tổng liên đoàn Lao Động Việt Nam, tính từ đầu năm tới hết
30/5/2008 cả nước đã có tới 330 vụ đình công lớn, nhiều nhất là ở địa bàn
TPHCM (118 vụ) và khu vực doanh nghiệp FDI (257 vụ )
12
.

11
: theo “An update on Vietnam‟s recent Development economic.” của WB
12
: theo http:// www.dantri.com.vn
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

52
2. Lạm phát gây bất ổn kinh tế vĩ mô, nguy cơ khủng hoảng kinh tế.
Lạm phát cao gây lãi suất tăng cao, làm tăng chi phí đầu tư. Cùng với
chính sách thắt chặt tín dụng của nhà nước, thâm hụt thương mại gây áp lực
giảm giá đồng nội tệ. Đồng Việt Nam đã mất dần lòng tin đối với các nhà đầu
tư, thị trường chứng khoán non trẻ, sau một năm tăng trưởng bong bóng thì
giờ tụt dốc. Trong 6 tháng đầu năm chỉ số VNINDEX đã giảm mất 60%. Thị
trường nhà đất đang sốt cao đầu năm, do tăng lãi suất các nhà đầu cơ muốn
bán ồ ạt để trả nợ ngân hàng. Kết quả là thị trường bất động sản dường như
đóng băng trở lại. Áp lực giảm giá đồng nội tệ gây nỗi lo sợ cho người dân,
họ không dám gửi tiền trong ngân hàng do lãi suất thực hiện thời vẫn là âm,
thay vào đó họ đầu cơ vàng và đồng đô la. Do cơ chế quản lý lỏng lẻo của
NHNN, tổng số 1.297 đại lý thu mua ngoại tệ trên địa bàn cả nước đều vi
phạm luật buôn bán ngoại tệ. Doanh nghiệp cần ngọai tệ khi nhập khẩu tăng
lên, người dân có nhu cầu tích trữ theo xu hướng đám đông và thiếu minh
bạch về tài chính của chính phủ làm lượng cầu ngoại tệ tăng cao, làm các
NHTM không đủ khả năng cung ứng. Thay vì việc mua ngoại tệ vào, thì các
đại lý này đã biến thành nơi trao đổi, buôn bán ngoại tệ để hưởng chênh lệch.
Đây là nguyên nhân chính gây cú sốc tăng giá đồng đô la ở thị trường chợ
đen. Đầu tháng 6, một đồng USD có thể đổi được 18.500 VNĐ so với tỷ giá
chính thức niêm yết ở NHNN là 16.124 VND/USD.
Lạm phát phi mã trong quý đầu năm 2008, nhiều cá nhân tích trữ gạo,
xi măng, thép…đẩy giá mặt hàng này lên cao hơn. Riêng lương thực, thực
phẩm tăng hơn 60% so với năm ngoái. Khi giá dầu tăng, đồng USD cũng
đang giảm giá so với các ngoại tệ mạnh khác, thị trường nhà đất đóng băng
thì dường như vàng đã trở thành một phương tiện tích trữ hiệu quả nhất cho
người dân. Trong 4 tháng đầu năm, Việt Nam đã bỏ ra 1,2 nghìn USD để
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

53
nhập vào 43 tấn vàng. Giá vàng mấy ngày cuối tháng 6 tăng lên xấp xỉ 1.900
nghìn VND
(13)
.
Biểu đồ 7: Mức tăng của giá vàng.

Nguồn: Dismal Scientist 11/06/08
Biến động kinh tế vĩ mô thời gian qua làm nhiều bài báo quốc tế nhận
xét Việt Nam đang trả qua cuộc khủng hoảng tài chính. So sánh với tình hình
Thái Lan năm 1997
(14)
, tuy có một số điểm tương đồng như giữ nguyên tỷ giá,
tăng lượng đầu tư nước ngoài, cơ cấu tín dụng lỏng lẻo, bong bóng của thị
trường nhà đất và chứng khoán… nhưng về căn bản tình hình Việt Nam khác
xa so với Thái Lan. Lượng vốn đầu tư dài hạn của Việt Nam chiếm số lượng
lớn so với đầu tư ngắn hạn tức đầu tư gián tiếp (FII) và ngày càng gia tăng.
Lượng vốn gián tiếp đổ vào Việt Nam chủ yếu đầu tư vào thị trưởng chứng
khoán mới nổi nên khi thị trường đi xuống lượng vốn này giảm nhanh chóng.
Tuy nhiên, lượng dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đủ lớn (20,7 tỷ USD) để ứng
phó với lượng vốn ngắn hạn ở Việt Nam.
Mặc dù vậy, tác động của lạm phát hai con số ở Việt Nam là không
nhỏ. Là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất ở châu Á, hiện

13
:http://www.giavang.net/Home/GoldValues/
14

http://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%A7ng_ho%E1%BA%A3ng_t%C3%A0i_ch%C3%ADnh_%C4%
90%C3%B4ng_%C3%8 giải thích diễn biến tình hình khủng hoảng tài chính châu Á
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

54
nay chính phủ đã phải giảm mục tiêu tăng trưởng năm 2008 xuống 7% từ
8,5%-9% như đầu năm. Theo báo cáo 6 tháng đầu năm 2008 của tổng cục
thống kê, tốc độ tăng trưởng GDP là 6,2%. Như vậy để đạt được tốc độ tăng
trưởng cả năm là 7% còn phụ thuộc nhiều vào mức độ lạm phát và mức độ ổn
định vĩ mô trong thời gian tới.
IV. Chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát và tác động của
các chính sách này
Trước đây, chính phủ luôn chú trọng vào tăng trưởng kinh tế là mục
tiêu hàng đầu nhà nước. Thậm chí đến cuối năm 2007, khi tình hình lạm phát
đang tăng tốc thì mục tiêu này vẫn được giữ nguyên với biện pháp tỷ giá neo
với đồng đô la. Cho tới tận tháng 2/2008 chính phủ mới quyết định chuyển
hướng ưu tiên sang bình ổn kinh tế vĩ mô. Chính phủ quyết định song song
kết hợp nhiều biện pháp nhằm kiềm chế lạm phát. Cụ thể: 1) Thực hiện chính
sách tiền tệ thắt chặt; 2) Cắt giảm chi tiêu chính phủ và các dự án đầu tư công;
3) Ưu tiên phát triển sản xuất nông nghiệp; 4) Tăng cường xuất khẩu nhằm
giảm thâm hụt thương mại; 5) Khuyến khích tiết kiệm trong tiêu dùng và sản
xuất; 6) giám sát chặt chẽ biến đổi của thị trường nhằm chống đầu cơ; 7)
Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội.
Theo nhận định ở trên, nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát phi mã ở
Việt Nam là do chính sách mở rộng tiền tệ và tín dụng. Hơn nữa, quản lý chặt
chẽ về giá cả có thể gây một số méo mó về thị trường; thắt chặt tài khoá tác
động chậm; đôi khi không hiệu quả khi không có quyết tâm thực hiện triệt để
và đồng bộ, đặc biệt là ở các địa phương và chi nhánh. Như vậy trong một
loạt các chính sách đề ra hầu như chỉ có CSTT là được thực thi một cách đồng
bộ, còn lại hầu như chưa hiệu quả; một số chưa được thực hiện. Chính sách
tiền tệ được cho là đóng vị trí quan trọng nhất trong việc giải quyết vấn đề
lạm phát hiện nay.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

55
1. Chính sách điều chỉnh lãi suất
Lãi suất là một công cụ điều chỉnh cung tiền vô cùng hữu hiệu trong tay
NHNN. Lãi suất thường được điều chỉnh theo kỳ vọng lạm phát; khi lạm phát
tăng, ắt hẳn lãi suất trên thị trường phải tăng. Với lãi suất hợp lý, NHNN qua
hệ thống các NHTM có thể hút được một lượng tiền lớn trong lưu thông;
giảm mức cung tiền, làm dịu bớt đi áp lực lạm phát. Có hai cách để quản lý lãi
suất trên thị trường: Áp dụng khung lãi suất (lãi suất trần cho vay và sàn huy
động) (lý thuyết phần 1) và điều hành thông qua lãi suất cơ bản. Trong 2 năm
vừa qua, khi tình hình lạm phát biến động không ngừng, NHNN đã sử dụng
cộng này thông qua cả hai phương thức trên với mục đích là thắt chặt tiền tệ.
Do năm 2007, lượng tiền tệ và tín dụng tăng cao, đầu năm 2008 NHNN
bắt đầu vào cuộc điều chỉnh lãi suất. Cuối tháng 1, NHNN điều chỉnh mức lãi
suất cơ bản, tái cấp vốn và tái chiết khấu trong 1 năm từ 8,25% lên 8,75%;
6,5% lên 7,5%; 4,5% lên 6% sau 2 năm giữ nguyên mức lãi suất. Trong khi
các NHTM sử dụng mức lãi suất huy động là trên 9%/năm. Đồng thời quy
định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 1%, đã làm cho các NHTM giữ lại lượng
tiền nhiều hơn, thiếu vốn cho vay, dẫn đến tình trạng các NHTM đua nhau
tăng lãi suất nhằm thu hút tiền gửi trong dân. Lãi suất tiền gửi tăng, nguy cơ
làm tăng lãi suất cho vay, gây khó khăn cho các doanh nghiệp. Khi giá cả
nguyên vật liệu đầu vào tăng cao, cộng với giá của vốn cao sẽ làm nâng cao
giá thành sản xuất, càng gây áp lực tăng lạm phát. Trước tình hình đó, NHNN
đã thực hiện áp dụng lãi suất trần cho vay là 11% từ ngày 02/04 đến 28/04 và
sau đó nâng tiếp lên 12% áp dụng từ ngày 29/04. Nhưng biện pháp này tỏ ra
là cứng nhắc trước sự biến động quá lớn của lạm phát, lãi suất trần vẫn nhỏ
hơn tỷ lệ lạm phát làm lãi suất thực âm, gây khó khăn trong việc huy động
vốn của các NHTM trong khi nhu cầu về vốn lại ngày càng tăng. Nếu không
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

56
có sự điều chỉnh kịp thời có thể dẫn tới tình trạng khủng hoảng thanh khoản
trong hệ thống các NH.
Biện pháp thứ 2: Bãi bỏ lãi suất trần thực hiện điều chỉnh lãi suất
thông qua lãi suất cơ bản. Bắt đầu từ 16/5/08, NHNN ra quyết định
16/2008/QĐ-NHNN (có hiệu lực từ 18/5/08) tăng lãi suất cơ bản từ
8.75%/năm lên 12%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 7.5%/năm lên 13%/năm, lãi
suất tái chiết khấu từ 6%/năm lên 11%/năm và bãi bỏ hoàn toàn lãi suất trần.
Việc điều hành lãi suất cơ bản đồng Việt Nam được thực hiện dựa theo luật
dân sự và luật nhà nước trong đó ấn định lãi suất cho vay và huy động không
vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Ưu điểm của biện pháp này là lãi suất cho vay
và lãi suất huy động có thể biến đổi linh hoạt khi lạm phát gia tăng, giúp
NHTM vận hành tốt hơn và kiềm chế lạm phát nhanh và theo cơ chế cung cầu
của thị trường. Ngày 10/6/08 NHNN đã nâng mức lãi suất cơ bản lên 14%, lãi
suất tái chiết khấu tăng từ 11% lên 13%, và lãi suất tái cấp vốn từ 13% lên
15%. Từ đó lãi suất huy động vốn của NHTM không vượt quá 21%/năm. Nếu
so mức lãi suất này với tỷ lệ lạm phát của tháng 4 (21% so với cung kỳ năm
ngoái) và tháng năm (25%) thì mức lãi suất thực tế là âm nhưng nếu so diễn
biến tình hình thực tế lạm phát trong những tháng đầu năm, thì mức lãi suất
hiện thời này là hợp lý (vì tỉ lệ lạm phát trong 6 tháng đầu năm là 18.44% so
với cuối năm 2006. Vì vậy, có thể thu hút được lượng tiền gửi, góp phần hạn
chế lượng tiền trong lưu thông.
2. Chính sách tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc
Từ đầu năm 2007, NHNN đã thực hiện 2 lần tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc.
Đợt 1: áp dụng quyết định số 1141/QĐ-NHNN từ ngày 1/06/2007 nâng tỉ lệ
dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng
bằng VND từ 5% lên 10% cho các NHTMCP, liên doanh và các công ty tài
chính. Riêng đối với NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉ lệ từ 4% lên
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

57
8%. Đợt 2: Nâng tỉ lệ dự trữ bắt buộc lên 1% đối với các loại tiền gửi được
quy định trước đó. Đối với tiền gửi VND và ngoại tệ không kỳ hạn và có kỳ
hạn dưới 12 tháng tăng từ 10% lên 11%, đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên,
tỷ lệ dự trữ bắt buộc (DTBB) tăng từ 4% lên 5%.
Nhằm hạn chế lượng tăng cung tiền năm 2007, NHNN không chỉ thực
hiện biện pháp rút bớt lượng tiền cơ sở trong lưu thông mà còn giảm số nhân
tiền của các NHTM bằng cách tăng tỉ lệ DTBB lên gấp đôi so với trước.
Ta đã biết: số nhân tiền tệ (m
M
) là
m
M
=
c r
c
p a
p
1

Với r
a
là tỉ lệ dự trữ bắt buộc, C
p
là tỉ lệ giữa tiền mặt trong lưu thông so với
tiền gửi. Vì vậy, động thái tăng tỉ lệ DTBB của NHNN lên gấp đôi sẽ làm cho
số nhân tiền bị giảm đi tương ứng, từ đó nhanh chóng rút bớt lượng tiền vào
theo cơ chế tạo tiền. Tuy nhiên, do mức độ tăng quá nhanh và đột ngột đã làm
lượng vốn vay bị cắt giảm, gây khó khăn cho các NHTM vì lợi nhuận giảm
xuống. Các NHTM chỉ có cách hoặc giảm lãi suất huy động hoặc tăng lãi suất
cho vay tín dụng trong tương lai để duy trì mức lợi nhuận như ban đầu. Trong
thời kỳ đó, thị trường chứng khoán và bất động sản đang nóng, hầu hết người
dân và doanh nghiệp đều muốn đổ dòng vốn vào chứng khoán hay bất động
sản tăng lợi nhuận, các NH chỉ còn cách tăng lãi suất huy động để vừa cạnh
tranh với các NHTM khác, vừa thu hút người dân với lãi suất hấp dẫn hơn.
Kết quả lượng tín dụng năm 2007 không những không giảm mà vẫn tăng kỷ
lục 54%, để có đủ nguồn cung ứng này thì lãi suất huy động cũng tăng lên 9%
đối với tiền gửi tiết kiệm không thời hạn.
Do mức huy động tín dụng năm 2007 tăng mạnh, đầu năm 2008 NHNN
phải tiếp tục hạn chế tăng, thực hiện thắt chặt tiền tệ, giảm bớt áp lực lạm phát
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

58
ngày càng tăng. Nhưng rút kinh nghiệm đợt 1, đợt điều chỉnh này có biến đổi
nhẹ hơn và thực hiện song song với biện pháp hạn chế lượng tăng trưởng tín
dụng cho các NHTM giới hạn ở mức 30% (theo quyết đinh 03/2008/QĐ-
NHNN ngày 1/02/2008), đồng thời bắt các NHTM thanh lọc các dự án cho
vay tín dụng nhằm thực hiện hiệu quả hơn. Biện pháp này vừa bớt gây căng
thẳng đối với NH, vừa tạo sự bình ổn khi kết hợp với nhiều biện pháp khác sẽ
rút tiền từ từ ra khỏi lưu thông.
3. Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là một trong những công cụ hữu hiệu của
NHNN khi muốn tăng hoặc giảm lượng cung tiền trên thị trường. Với ưu
điểm là tác động của nó tới thị trường tiền tệ khá nhanh, cũng giống như lãi
suất và biện pháp quy định tỷ lệ DTBB. Bản chất của nghiệp vụ này là việc
NHNN phát hành (hoặc mua vào) tín phiếu kho bạc có thời hạn 3, 6 hoặc 12
tháng với lãi suất hấp dẫn cho các tổ chức tín dụng thường là các NHTM. Các
NHTM được quyền tự nguyện mua, và có thể bán lại cho NHNN để lấy lại
tiền nếu có nhu cầu. Biện pháp này được NHNN sử dụng để kiềm chế lạm
phát trong cả hai năm 2007 và đầu năm 2008.
Theo chỉ thị 18/2007/ CT-TT thực hiện một số biện pháp cấp bách
nhằm hạn chế lạm phát trong nửa cuối năm 2007, NHNN và Bộ Tài chính
thực hiện đồng bộ mọi biện pháp để hút lượng tiền trong lưu thông về. Trong
đó Bộ Tài chính tăng cường phát hành trái phiếu Chính phủ bằng nội tệ
(thường có kỳ hạn từ 4-5 năm) cho các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp, vừa
với mục đích cấp vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, vừa là để hút tiền từ lưu thông.
Tăng số lần phát hành trái phiếu 2 lần trong 1 tuần. Song song với đó, NHNN
cũng tăng cường phát hành tín phiếu kho bạc cho các NHTM. Kết quả là
trong 6 tháng đầu năm 2007, số tiền rút khỏi lưu thông qua nghiệp vụ thị
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

59
trường mở là 89.550 tỷ đồng so với 112 nghìn tỷ bơm ra để mua ngoại tệ dự
trữ.
15

Năm 2008 nghiệp vụ này được vẫn được NHNN sử dụng nhưng có
phần biến đổi về nội dung. Ngày 13/03/ 2008 theo quyết định số 346/QĐ-
NHNN có gửi kèm công văn số 115/TB-NHNN chỉ đạo các NHTM có trong
danh sách thực hiện mua tín phiếu (TP) bắt buộc bằng tiền VND theo số
lượng quy định. Cụ thể tổng giá trị TP của NHNN trong đợt này là 20.300 tỷ
đồng, có kỳ hạn là một năm, với lãi suất là 7,80%/năm, hình thức phát hành là
ghi sổ. Số lượng TP này được phát hành cho 41 tổ chức tín dụng (TCTD), giá
trị phân bổ điều chỉnh theo quy mô và tỷ trọng huy động vốn bằng đồng VN
của các TCTD đó. Các TCTD hoạt động trên địa bàn nông thôn và TCTD có
số dư vốn huy động bằng VND đến ngày 31/01/2008 từ 1.000 tỷ đồng trở
xuống không thuộc diện phải mua.
Hình thức này cũng gần tương tự như tỷ lệ DTBB, nhằm bắt các
NHTM tăng lượng vốn dự trữ, tuy nhiên có lãi suất cao hơn. 20.300 tỷ đồng
tương đương với 2% tổng vốn huy động VND trong hệ thống NH, có nghĩa là
nâng thêm 2% DTBB đối với tiền gửi VND, cộng thêm với 11% lúc ban đầu
thì tỷ lệ DTBB của các NH đã gần 15%. Đồng thời, Quyết định này được ban
hành vào giữa tháng 2/2008, nhưng thời điểm phát hành đúng sau đó chỉ 1
tháng, làm các NH lao đao trong việc huy động đủ vốn VND để mua TP bắt
buộc trong thời gian ngắn đặc biệt ở thời kỳ tiền đồng đang khan hiếm. Các
NH chỉ có cách nâng lãi suất huy động mặc dù bị kiềm chế mức lãi suất trần
là 12%, nhiều NH nhỏ phải đồng loạt nâng lãi suất mọi thời hạn lên 12% gây
mối nghi ngờ cho người dân, nên chỉ còn cách huy động vốn trên thị trường
liên NH. Thời kỳ này lãi suất liên NH tăng đột biến, lãi suất qua đêm tăng lên
tận 21%.(biểu đồ 8)

15
:theo Viet nam net ngày 10/08/2007
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

60
Tình hình lạm phát đầu năm 2008 biến động cao hơn nhiều so với năm
2008, vì vậy chính sách phát hành tín phiếu là hợp lý. Tuy nhiên, thông báo
ngay lập tức về chương trình phát hành TP bắt buộc quá gấp gáp gây nên
hoang mang trong dư luận và tạo ra phản ứng dây chuyền trong hệ thống lãi
suất trên thị trường. Với cơ chế lãi suất trần 12%, khó khăn trong việc huy
động vốn là nguy cơ khủng hoảng thanh khoản cho nhiều NHTM, đặc biệt là
các NHTM có quy mô nhỏ.
Biểu đồ 8: Biến động lãi suất liên NH

Nguồn: CEIC, Goldman sachs Economics Research.
4. Chính sách tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá USD/VND trong một thời gian dài trước đây ở mức khá ổn định.
Nhưng bắt đầu cuối tháng 12/2007, Nhà nước đã thực hiện linh hoạt hoá tỷ
giá, thông qua 3 lần nới rộng biên độ dao động tỷ giá.
- Lần 1, vào ngày 24/12/2007 nâng biên độ tỷ giá hối đoái (TGHĐ) từ
0.5% lên 0.75%.
- Lần 2, vào ngày 08/03/2008 tăng từ 0.75% lên 1%.
- Lần 3, ngày 26/06/2008 tăng từ 1% lên 2%.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

61
Giá trị của biên độ TGHĐ cho thấy sự linh hoạt của đồng nội tệ so với
ngoại tệ khác. Biên độ càng lớn thì giá của nội tệ so với ngoại tệ được phép
lên xuống càng nhiều tuỳ theo cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Nếu TGHĐ
giữ ở mức cố định, NHNN sẽ phải thường xuyên can thiệp vào thị trường
ngoại hối với vai trò là người mua và người bán cuối cùng, nhằm giữ cho tỷ
giá không bị xê dịch. Đồng thời các NHTM phải trao đổi và mua bán ngoại tệ
theo tỷ giá cố định đó. Khi nới rộng tỷ giá, các NHTM sẽ có điều kiện ấn định
tỷ giá mua bán trong khoảng dao động rộng hơn, ít cứng nhắc và sát với thị
trường hơn.
Trong thời gian gần đây sự sụt giảm của nền kinh tế Mỹ, kéo theo sự
mất giá của đồng đô la so với nhiều đồng tiền mạnh khác. Vì vậy đồng đô la
đã mất giá khá nhiều so với VND, nhưng tỷ giá ở Việt Nam vẫn chưa phản
ánh hết được điều này. So với mức giảm thực tế giá trị của đồng đô la Mỹ, thì
mức giảm của tỷ giá USD/VND lại chậm hơn khá nhiều. Lý do là NHNN duy
trì tỷ giá cố định với biên độ dao động nhỏ, với chủ trương duy trì đồng tiền
yếu để nâng cao tính cạnh tranh của hàng hoá, khuyến khích xuất khẩu.
Nhưng nền kinh tế Việt Nam lại đang phải nhập khá nhiều máy móc và
nguyên vật liệu để phục vụ sản xuất, nhập siêu tăng mạnh bắt đầu từ năm
2007. Khi duy trì mức giá nội tệ thấp, nghiễm nhiên lại nhập khẩu lượng hàng
hoá với giá đắt hơn, khi đô la giảm giá (được gọi là nhập khẩu lạm phát). Khi
nới rộng biên độ tỷ giá, giá trị VNĐ được điều chỉnh với giá thực hơn, hạn
chế tăng giá so với đô la, giảm tình trạng nhập khẩu lạm phát trong nước.
Mặt khác, do lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vẫn tiếp tục gia
tăng, tạo ra biến động liên tục giữa cung cầu tiền tệ trong thị trường ngoại hối.
Mấy tháng gần đây, khi lạm phát càng gia tăng, làm mất lòng tin trong người
dân, họ tích trữ các ngoại tệ mạnh, làm tăng cầu về ngoại tệ, gây áp lực giảm
giá nội tệ. Để tránh tình trạng phá giá nội tệ thì biện pháp tốt nhất chỉ có thể là
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

62
tăng biên độ dao động tỷ giá. Hơn nữa thực hiện chống lạm phát, các chính
sách tiền tệ thắt chặt sẽ không có tác dụng tích cực trong điều kiện TGHĐ có
biên độ dao động nhỏ. Thắt chặt tiền tệ làm lãi suất tăng, thu hút nhiều vốn,
nếu TGHĐ cố định bắt buộc NHNN lại phải tung nội tệ ra mua ngoại tệ
(giống như trường hợp năm 2007), kết quả lại làm tăng cung tiền và lãi suất
tăng trở lại - tình trạng “tam pháp bất khả thi”. Để chính sách tiền tệ được
hiệu quả trong nền kinh tế mở, bắt buộc TGHĐ phải được thả nổi hoặc nới
rộng ra hơn.
Chính vì vậy, biện pháp tỷ giá NHNN đã tỏ ra có hiệu quả, nhằm hỗ trợ
các chính sách tiền tệ khác tác động tích cực hơn tới nguồn cung tiền tệ.
Thêm vào đó, cách điều chỉnh khá hợp lý, không quá đột ngột mà từ từ theo
từng giai đoạn, nhằm giúp cho các doanh nghiệp và người dân quen dần với
khái niệm “rủi ro tỷ giá” khi biên độ dao động mạnh.
5. Đánh giá mức độ hiệu quả của CSTT trong việc kiềm chế lạm phát
thời gian qua.
Để đánh giá mức độ hiệu quả của CSTT nhằm kiềm chế lạm phát bằng
cách lượng hoá các tiêu chuẩn là rất khó, nhưng nhìn chung mọi sự nỗ lực của
NHNN trong thời gian qua đã mang lại một dấu hiệu tích cực cho nền kinh tế
vĩ mô. Tuy vậy, do hệ thống tài chính tiền tệ còn non trẻ, kinh nghiệm điều
hành quản lý thị trường trong một nền kinh tế mở còn chưa có, nên còn một
số những bất cập, không thống nhất giữa các chính sách với nhau.
5.1. Các kết quả đạt được
Sau những sai sót ban đầu, các CSTT đã dần được hoàn thiện, đi đúng
hướng “thắt chặt nhưng linh hoạt” và bắt đầu phát huy tác dụng. Các giải
pháp triển khai từ đầu năm của NHNN khá phù hợp với chỉ đạo và thể hiện
quyết tâm của Chính phủ trong việc kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô, tạo
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

63
niềm tin đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Các giải pháp được thực
hiện đã tạo hỉệu ứng tốt về mặt tâm lý đối với thị trường và kiềm chế sự gia
tăng tổng phương tiện thanh toán. Trong 6 tháng đầu năm, tốc độ tăng tổng
phương tiện thanh toán có xu hướng chậm lại, tăng 4,48% so với cuối năm
2007 (cùng kỳ năm trước tăng trên 20%). Đến hết tháng 6/2008 lượng tiền
trong lưu thông giảm 7,13% so với cuối năm 2007 (hút khoảng 17.000 tỷ
đồng). Tín dụng trong nền kinh tế có xu hướng chậm dần, phù hợp với mục
tiêu cả năm không quá 30%.
16

Đặc biệt là cơ cấu tín dụng đang được điều chỉnh theo hướng tập trung
cho vay sản xuất (tăng 20,6%), xuất khẩu (tăng 31%), nông nghiệp và nông
thôn (tăng 17,95%); mở rộng cho vay đối tượng hộ nghèo và hộ chính sách
(tăng 13,8%) để thực hiện chính sách an sinh xã hội. Kết quả ban đầu là tốc
độ tăng giá theo từng tháng của tháng 6 tăng 2,14% so với tháng 5 là 3,91%,
riêng về hàng hoá phi lương thực có dấu hiệu giảm từ tháng 3.
Biểu đồ 9: Lượng giảm cung tiền dưới tác động của CSTT

Nguồn: Báo cáo WB 06/2008.
5.2. Các hạn chế và nguyên nhân
5.2.1. Các hạn chế

16
http://www.laodong.com.vn/Home/kinhte/2008/7/97597.laodong ngày 15/07/08
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

64
Năm 2007 CSTT dường như trở nên đơn độc trên con đường kiềm chế
lạm phát vì vào lúc này chưa có động thái nào biểu hiện từ việc thắt chặt tài
khoá, dẫn đến thâm hụt ngân sách quá nhiều. Hơn nữa các CSTT còn quá ít,
NHNN vừa thực hiện song song kiềm chế lạm phát vừa muốn hỗ trợ tăng
trưởng kinh tế mà thứ tự ưu tiên không được xác định rõ ràng trong từng thời
kỳ. Sang năm 2008, khi xác định rõ mục tiêu hi sinh tăng trưởng; ưu tiên
kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô là mục tiêu hàng đầu, thì lại thực hiện các
chính sách quá mạnh và gấp gáp gây ra không ít tác động tiêu cực trên thị
trường.
Đầu tiên phải nói đến tình trạng “tam pháp bất khả thi” trong năm
2007: tức là thực thi một mọi chính sách tiền tệ thắt chặt trong nền kinh tế mở
và hầu như giữ nguyên tỷ giá. Lượng vốn chảy vào ban đầu khá nhiều, để duy
trì mức tỷ giá cố định, NHNN tung tiền mua ngoại tệ làm tăng lượng tiền lên
đồng thời nâng tỷ lệ DTBB, làm tăng lãi suất dẫn đến luồng vốn đổ vào càng
nhiều, lượng cung tiền lại tăng lên.


Hình 3 : Chính sách tiền tệ dưới chế độ tỷ giá cố định.
Trong năm 2008, NHNN đã nới lỏng tỷ giá hơn nhưng lại quá tích cực
trong việc hút tiền vào. TP bắt buộc và nâng tỷ lệ DTBB trong lúc tiền đồng
i*
*I
*
IS
CM
E2
E1
Y2 Y1
Y
i
LM2
LM1
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

65
lại khan hiếm gây không ít khó khăn có các NH đồng thời là tác nhân chính
cho cuộc đua lãi suất gần đây. Dồn dập trong tháng 2 và tháng 3/2008, NHNN
đã yêu cầu các NHTM phải thực hiện cùng một lúc 4 biện pháp được coi là
cứng rắn.
Một là quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10% lên 11%, mở rộng
thêm phạm vi tiền gửi dự trữ bắt buộc.
Hai là quyết định phát hành tín phiếu bắt buộc với tổng trị giá 20.300 tỷ
đồng cho 41 tổ chức tín dụng. Thông báo được công bố ngày 15/02/08 và
thực hiện 33 ngày sau đó.
Ba là lãi suất cơ bản tăng từ 8,25%/năm lên 8,75%/năm, lãi suất tái cấp
vốn tăng từ 6,5%/năm lên 7,5%/năm; lãi suất tái chiết khấu tăng từ 4,5%/năm
lên 6%/năm.
Bốn là NHNN ban hành Quyết định số 03/2008/QĐ-NHNN ngày
1/02/2008 về sửa đổi Chỉ thị 03 về cho vay chứng khoán, theo hướng thắt chặt
cho vay hơn.
Cùng với 4 quyết định nói trên, NHNN còn hạn chế mua USD, làm cho
tỷ giá xuống thấp, tiền VND trở nên khan hiếm.
Năm biện pháp đó đã gây ra cú sốc lớn và phản ứng tiêu cực trong hệ
thống các NHTM. Điều này là nguyên nhân tạo ra nguy cơ thiếu tính thanh
khoản của các NHTM và mở ra các cuộc đua lãi suất sau này. Phần đông các
NHTM đã tăng lãi suất cho vay thêm 0,35% - 0,60%/tháng so với trước đó.
Nhiều NHTM cho vay ngắn hạn VND với lãi suất 1,55%-1,65%/tháng, lãi
suất cho vay trung và dài hạn lên tới 1,70-1,75%/tháng. Tuy nhiên đối với
một số NHTM mới thành lập, hoặc có quy mô vốn nhỏ để thu hút được thêm
lượng tiền gửi mà tăng cả lãi suất tiền gửi và cho vay lên đột biến. Một số
NHTMCP đã tăng lãi suất ngắn hạn lên rất cao, ngắn hạn là 1,95%/tháng,
trung và dài hạn 2,0%-2,5%/tháng tức tương đương với 24%/năm. Với mức
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

66
lãi suất này hiếm có doanh nghiệp nào có thể đảm bảo lợi nhuận kiếm được
để có thể bù đắp cho chi phí vốn.
Tăng lãi suất sẽ làm hạn chế đầu tư và tác động đến tăng trưởng của
Việt Nam trong nửa cuối năm 2008. Trong 6 tháng đầu năm tăng trưởng đạt
được 6,2% vì vậy để đạt được mục tiêu 7% tăng trưởng trong cả năm đòi hỏi
phải nỗ lực nhiều từ phía các doanh nghiệp và còn phụ thuộc nhiều vào các
chính sách tiếp theo của Chính phủ.
5.2.2. Nguyên nhân
- Thị trường tài chính non trẻ ở nước ta còn chưa phát triển đầy đủ, gây cản
trở thực thi các công cụ của CSTT dẫn đến hiệu quả của các chính sách này
khó được phát huy một cách hiệu quả trong việc phòng chống lạm phát.
- Còn thiếu công khai và minh bạch hoá về thông tin tài chính và tiền tệ, làm
giảm lòng tin của người dân đối với các chính sách vĩ mô của Nhà nước đưa
ra. Điển hình là tình trạng chênh lệch lớn giữa tỷ giá hối đoái của thị trường
chợ đen với tỷ giá được niêm yết chính thức trên thị trường; xảy ra khi tỷ lệ
lạm phát lên cao, người dân lo sợ đồng tiền mất giá và lượng dữ trữ ngoại tệ
của Chính phủ quá ít nên tăng cường đầu cơ ngoại tệ, tạo áp lực giảm giá
VND, đi ngược lại với nỗ lực của Nhà nước.
- Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang trong thời kỳ phát triển, đổi mới; tuy có
nhiều thành tựu to lớn nhưng nhìn chung đất nước ta vẫn là nước đang phát
triển có xuất phát điểm thấp, nền kinh tế phát triển chưa cao, thị trường chưa
ổn định. Quan hệ cung cầu trên thị trường đôi lúc còn bị tác động bởi nhiều
yếu tố chủ quan, không theo quy luật thị trường.
- Bộ máy quản lý và giám sát việc thực thi các chính sách và tìm kiếm các
thông tin còn chưa hiệu quả. Việc quản lý theo cơ chế lỏng lẻo khó có thể
thực hiện được toàn vẹn chính sách đề ra theo đúng như mục đích ban đầu.
Thêm vào đó, việc tìm kiếm thông tin chưa hiệu quả dẫn tới bất đối xứng
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

67
thông tin giữa thông tin thực tế các khoản tín dụng nhà đất và chứng khoán
của các NHTM với thông tin của NHNN có được; bất đối xứng giữa công ty
với cổ đông (Nhà nước) trong cấu trúc lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
chính và từ hoạt động tài chính. Khi luồng thông tin không minh bạch, việc
thắt chặt chính sách tiền tệ sẽ đẩy rủi ro thanh khoản hệ thống NH lên cao và
dẫn tới áp lực không sẵn sàng cho vay với bất kỳ mức lãi suất nào.

.















T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

68
Chương III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CSTT NHẰM KIỀM
CHẾ LẠM PHÁT GIAI ĐOẠN TỪ NAY ĐẾN 2010
I. Dự báo tình hình lạm phát giai đoạn từ nay tới năm 2010.
1. Cơ sở dự báo
- Giá dầu và nguyên liệu thế giới vẫn tiếp tục tăng cao, riêng về lương thực
đang hạ nhiệt xuống. Ở Việt Nam, trữ lượng lương thực và thực phẩm tăng,
vừa đáp ứng đủ nhu cầu trong nước vừa tăng cường xuất khẩu. Bộ Tài chính
đã cho giảm thuế các nguyên liệu nhập khẩu đảm bảo đúng cam kết trong lộk
trình gia nhập WTO, vừa giảm giá thành sản xuất trong nước. Một số mặt
hàng khác như xăng dầu, điện, phân bón ….vẫn dưới sự kiểm soát và đìều
chỉnh của Nhà nước, tạm thời chưa tăng giá tương ứng với mức tăng trên thị
trường thế giới.
- Tiêu dùng trong xã hội đang có xu hướng giảm xuống. Giá cả các mặt hàng
tăng nhanh đặc biệt là lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng và nhà ở
trong khi lương tháng chưa kịp điều chỉnh tăng lên tương ứng.Lo ngại trước
biến động lạm phát, người dân có xu hướng rụt rè trong chi tiêu và tăng
cường tiết kiệm nhiều hơn. Các doanh nghiệp sản xuất thận trọng hơn đối với
các dự án đầu tư, cân đối chi tiêu và tiết kiệm, nhằm hạn chế tăng chi phí sản
xuất. Chính phủ thực hiện thắt chặt tài khoá, loại bỏ dần các dự án không hiệu
quả, ban hành chỉ thị thực hiện tiết kiệm đối với các doanh nghiệp quốc
doanh, đồng thời tăng cường giám sát chi tiêu.
- Đầu tư FDI vào trong nước vẫn tiếp tục tăng mạnh. Mặc dù, trong thời gian
qua nền kinh tế có nhiều dấu hiệu bất ổn định, nhưng với nỗ lực minh bạch
hoá dần các chính sách, vừa tạo lòng tin cho các nhà đầu tư vừa thu hút đầu
tư, nên các dự án đầu tư nước ngoài không ngừng tăng lên. Đồng thời các
chính sách trong nước đang dần dần lấy lại lòng tin trong nhân dân góp phần
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

69
củng cố nội tệ và ổn định nền kinh tế. Thị trường chứng khoán đang có dấu
hiệu khởi sắc trở lại trong thời gian gần đây. FPI cũng bắt đầu tăng trở lại.
- Nếu trước kia, thị trường chứng khoán nở rộ theo tâm lý đám đông, nhằm
thu lợi nhuận trước mắt thì sự khởi sắc ngày nay đánh dấu bước phát triển
vững chắc và ổn định hơn. Chỉ có những công ty nào thực sự kinh doanh tốt,
sẽ thu hút được các nhà đầu tư, hạn chế huy động vốn NH, đồng thời có đủ
vốn để phát triển sản xuất. Về nhà đất, tuy có thời kỳ đóng băng, giá giảm hơn
nhiều so với trước kia, nhưng thực chất nó đang trở về với giá trị thực của nó,
giảm đầu cơ, có lợi cho những ai có nhu cầu mua nhà thực sự.
2. Dự báo mức độ lạm phát 2008-2010
Trong những tháng tiếp theo, vẫn tồn tại nhiều nguy cơ tiềm ẩn làm
bùng nổ lạm phát cao nhưng sự bất ổn nền kinh tế vĩ mô đang có xu hướng
giảm xuống, nền kinh tế tuy có tăng trưởng chậm hơn nhưng vững chắc hơn.
Tuy đất nông nghiệp có giảm xuống, nhưng năng suất lao động tăng lên, đồng
thời được chú trọng ưu tiên phát triển của Nhà nước, hứa hẹn có nguồn cung
dồi dào trong nước và xuất khẩu. Nhân tố này góp phần hạn chế tăng giá cả
hàng hóa trong nước lên cao. Tổng cầu giảm xuống, tổng cung lại đang tăng
sẽ giúp giảm sức ép leo thang giá cả. Tuy nhiên, hiện giờ giá cả một số các
mặt hàng đang bị kiềm chế, khi sức ép quá lớn thì Nhà nước bắt buộc phải
tăng giá các mặt hàng này. Ví dụ như xăng dầu tăng lên sẽ ảnh hưởng trực
tiếp tới chi phí vận chuyển, giá các mặt hàng thay thế như than, điện…vừa tạo
phản ứng dây chuyền tăng hàng loạt giá các mặt hàng khác. Nếu một số các
mặt hàng bị điều chỉnh khác cũng tăng lên theo, sẽ tạo áp lực tâm lý trong
nhân dân, góp phần đẩy giá cả lên cao hơn.
Nếu 6 tháng cuối năm 2008, CPI trung bình mỗi tháng chỉ tăng trung
bình 1% so với tháng trước thì lạm phát tháng 12/2008 so với cùng kỳ năm
2007 tăng khoảng 25%. Nếu CPI mỗi tháng là 1,2% so với tháng trước, thì
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

70
tháng 12/2008 so với cùng kỳ năm 2007 sẽ tăng khoảng 27,25% . Nếu mỗi
tháng tăng 1,5% thì lạm phát có thể tăng khoảng 30% so với năm 2007.
Về tăng trưởng kinh tế, trong 6 tháng đầu năm 2008 chỉ đạt 6.5%, do
tác động của chính sách kiềm chế lạm phát và hi sinh tăng trưởng. Mặc dù
vậy, lượng đầu tư nước ngoài vẫn không ngừng tăng lên, góp phần thúc đẩy
tăng trưởng mạnh trong những tháng tiếp theo. Khi biên độ tỷ giá được nới
lỏng, giá nhập khẩu hàng hoá sẽ có xu hướng giảm xuống, góp phần làm giảm
chi phí sản xuất trong nước, đẩy mạnh sản xuất và phát triển kinh tế.
Dựa vào những nhận định trên, xin đưa ra những con số dự báo ước
tính trong năm 2008- 2009:
Bảng 3: Dự báo tình hình kinh tế VN năm 2008-2010
2006 2007 2008 2009 2010
Tiêu dùng cá nhân 7.3 7.5 5.1 7.0 8.0
Tiêu dùng công
cộng
8.8 7.5 7.5 7.5 8.5
Tổng cầu trong nước 8.1 8.1 6.9 8.5 8.7
Kim ngạch xuất
khẩu
15.5 15 16.9 15.6 15.7
Kim ngạch nhập
khẩu
14.6 16.4 18.0 15.5 14
Thâm hụt thương
mại
0.1 2.2 3.2 1.5 1.3
Tăng trưởng nông
nghiệp
8.2 8.5 6.9 7.7 8.0
Tăng trưởng công
nghiệp
17.0 17.3 15.9 16.5 17
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

71
Tăng trưởng GDP 8.2 8.5 6.9 7.7 8.0
Tỷ lệ lạm phát 6.6 12.6 31 9.5 8.5
(Đơn vị: %/năm)
II. Một số giải pháp và kiến nghị
Lạm phát được cho là hiện tượng tiền tệ và chống lạm phát bằng thắt
chặt tiền tệ. Bài toán của Việt Nam là kiềm chế lạm phát vì vậy CSTT được
các nhà hoạch định chính sách ưu tiên. Tuy nhiên, kiềm chế lạm phát chủ yếu
bằng chính sách tiền tệ chỉ phát huy hiệu quả khi có đầy đủ ba điều kiện sau:
- Thị trường tài chính vận hành tốt, minh bạch.
- Có đủ mức độ linh động để vận hành các chính sách
- Mục tiêu truyền tài chính sách tốt.
1. Kết hợp đồng bộ CSTT với các chính sách khác
CSTT thắt chặt có chức năng giảm lượng tiền cung ứng trong lưu
thông, biện pháp có tác dụng hay không không chỉ phụ thuộc vào bản thân
NHNN điều hành mà còn phụ thuộc vào các thành phần tham gia trong nền
kinh tế. Nếu chính sách này không tạo được lòng tin trong người dân thì đôi
khi kết quả sẽ đi ngược lại với mục đích ban đầu. Vì vậy, Chính phủ cần kết
hợp CSTT với nhiều biện pháp khác như: thắt chặt tài khoá, thực hiện các
chính sách an sinh xã hội,minh bạch hoá các chính sách, đầu tư phát triển
nông nghiệp…
Phải nói rằng, thắt chặt tài khoá là điều kiện cần thiết để giảm tổng cầu
và lượng tiền cung ứng ra bên ngoài đồng thời là điều kiện tiên quyết khi
muốn duy trì tăng trưởng kinh tế. Vì khi thắt chặt tiền tệ mà chi tiêu Chính
phủ không giảm xuống, lãi suất thị trường sẽ tăng cao, các doanh nghiệp vừa
thiếu vốn vừa khó khăn trong việc huy động vốn làm ảnh hưởng đến đầu tư.
Hiện tượng này gọi là “lấn át đầu tư”. Chính vì vậy, cần có những biện pháp
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

72
thích hợp nhằm hạn chế chi tiêu Chính phủ. Cụ thể: Cần lên danh sách xem
xét và sàng lọc kỹ các dự án có tính khả thi ứng dụng hoặc hiệu quả ít, đồng
thời sát sao theo dõi kiểm tra các chi phí đầu tư công trình và vận hành, phòng
chống nạn tham nhũng và quan liêu. Song song ban hành chỉ thị yêu cầu tiết
kiệm chi tiêu đối với các doanh nghiệp Nhà nước.
Các chính sách tài khoá đóng vai trò quan trọng hơn trong giai đoạn
hiện tại. Giảm cầu đầu tư là một việc làm cần thiết hơn là thắt chặt quá mức
lượng tiền tệ cung ứng do lượng đầu tư công khó gây ra một sự biến động
mạnh trên thị trường tài chính và lãi suất và không đẩy các dự án hiệu quả bị
trì trệ hơn.
Biện pháp thứ hai cần thực hiện là chính sách an sinh xã hội. Mặc dù,
tiết kiệm chi tiêu công nhưng cũng không có nghĩa là loại bỏ các chính sách
giúp đỡ và hỗ trợ người dân nghèo. Trong 2 năm qua, khi giá hàng hoá lên
cao đặc biệt là các mặt hàng tiêu dùng hàng ngày và lương thực thực phẩm đã
gây ra những tác động không nhỏ tơí đời sống người dân nghèo và cận nghèo.
Nước ta là một nước đi lên từ nông nghiệp, phần lớn người dân sống ở nông
thôn, tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn chiếm 73%, và tương đương với 94% tổng
số người nghèo trên cả nước. Sau 2 năm gia nhập tổ chức thương mại thế
giới, những ưu điểm từ WTO mang lại cho người dân dường như không đáng
kể, nhưng với cơn bão giá gần đây đã làm đời sống người dân thêm bấp bênh,
làm bần cùng hoá nhiều hộ gia đình, gia tăng khoảng cách giàu nghèo trong
xã hội. Vì vậy, Nhà nước nên tiến hành biện pháp hỗ trợ người nghèo như trợ
giá một số mặt hàng thiết yếu cho các vùng khó khăn trọng điểm, vùng sâu
vùng xa như vùng núi phía Bắc, các huyện nghèo thuộc miền Trung, Tây
Nguyên và Đất mũi Cà Mau…Đồng thời, ưu tiên phát triển sản xuất nông
nghiệp, tăng năng suất lao động vừa bình ổn được giá cả lương thực, thực
phẩm thị trường trong nước, vừa có điều kiện xuất khẩu, nâng cao đời sống
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

73
nhân dân. Thêm vào đó, cần quy hoạch diện tích đất nông nghiệp một cách
phù hợp, tránh tình trạng biến đất trồng lúa màu mỡ thành sân gôn, đô thị…từ
đó xây dựng các dự án dài hạn các khu công nghiệp chế biến nông sản nhằm
chuyển đổi cơ cấu sản xuất đồng thời nghiên cứu, đầu tư phát triển các loại
giống mới tốt và mang lại năng suất hiệu quả.
Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 3 trên thế giới, song để đảm
bảo an ninh lương thực cần phải có chính sách đúng đắn về phát triển nông
nghiệp, nông thôn, nông dân nhất là những vùng trọng điểm sản xuất lương
thực như tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng nông nghiệp, trợ giá cho các vùng
xuất khẩu khi bị thiên tai, đầu tư cho công tác giống, khuyến nông; Hạn chế
việc sử dụng đất lúa vào các nhu cầu khác, tăng cường thâm canh, tăng năng
suất; Đẩy mạnh công nghiệp chế biến phát triển công nghiệp thu hoạch, sau
thu hoạch; khuyến khích phát triển chăn nuôi; chủ động tổ chức lại hệ thống
điều phối thu mua, chế biến bảo quản kho gạo dự trữ, quản lý thị trường
lương thực trong nước để sẵn sàng ứng phó với những diễn biến bất thường
về lương thực. Củng cố và phát huy vai trò chủ đạo đúng nghĩa của các
DNNN trong kinh doanh điều phối lương thực trên phạm vi cả nước để có
chính sách can thiệp thị trường khi cần thiết, tránh đầu cơ gây khan hiếm giả
tạo và ép giá nông dân.
2. Theo sát biến động của thị trường tài chính để kiểm soát mức tăng
trưởng tín dụng phù hợp với thị trường tăng trưởng kinh tế
NHNN cần phải có các con số chính thức các nguồn vốn có nguy cơ trở
thành nợ xấu trong tín dụng bất động sản và chứng khoán, từ đó hỗ trợ thanh
khoản cho các NHTM, tránh việc áp lực thanh khoản đẩy các NHTM tăng
hơn nữa lãi suất thị trường, gây khó khăn cho toàn bộ các hoạt động sản xuất
hiện tại. Các chính sách kiểm soát thông tin tốt hơn cần được ban hành sớm.
Cụ thể:
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

74
o NHNN cần xác định mức tăng trưởng tín dụng hàng năm (qua
các kênh của nền kinh tế như NHTM, Quỹ hỗ trợ, NH Chính
sách xã hội, các tổ chức đoàn thể xã hội khác) phù hợp với mức
tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát dự kiến và cán cân thanh toán.
Các Bộ, ngành liên quan cần có trách nhiệm gửi báo cáo thống
kê tình hình thực hiện đầu tư tín dụng hàng năm và nhu cầu đầu
tư tín dụng hàng năm cho NHNN – cơ quan có trách nhiệm xác
định mức độ tăng trưởng tín dụng hàng năm trong khuôn khổ
tiền tệ nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của CSTT.
o Cần có sự đánh giá đầy đủ về mức độ phát triển thị trường tín
dụng hiện nay, để đưa ra những quy định mang tính gián tiếp
nhằm hạn chế sự tăng trưởng tín dụng quá mức của tổ chức tín
dụng, nhất là trong lĩnh vực nhà đất, tiêu dùng và chứng khoán.
o NHNN cần chỉ đạo các NHTM xây dựng hệ thống các chỉ tiêu
đánh giá hệ số tín nhiệm của doanh nghiệp (những khách hàng
của NHTM), qua đó xác định hướng mở rộng hay thu hẹp một
cách hiệu quả. Tăng cường giám sát rủi ro từ phía các cơ quan
quản lý cũng như từ phía các NHTM.
o Ngoài những giải pháp kiểm soát tín dụng nhằm kiểm soát lạm
phát, một giải pháp rất quan trọng và hiệu quả để kiểm soát lạm
phát ở nước ta là chống thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản
của Nhà nước (mà hiện nay đang được đánh giá là rất lớn), hạn
chế và tiến tới chấm dứt các công trình đầu tư kém hiệu quả sẽ
góp phần tích cực để kiểm soát lạm phát, hạn chế mức tăng giá
do những biến động đột biến về giá một số các mặt hàng vừa
qua, vì đây là nguồn cung tiền ra nền kinh tế nằm ngoài tầm
kiểm soát của NHNN.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

75
Thứ hai, NHNN cần phải trực tiếp phiên dịch chính sách và đánh giá
tác động nói chung với các CSTT; không thể để thị trường nhiễu thông tin
trong phiên dịch chính sách.
Các chính sách tiền tệ nên rõ ràng, định hướng kỳ vọng về giá và tác
động. Việc thực thi các CSTT tiền tệ thắt chặt thêm là chưa cần thiết khi các
chính sách cũ còn chưa phản ánh hết và nguyên nhân làm gia tăng lạm phát
gần đây có phần khá lớn từ phía cung hàng hoá và từ việc kỳ vọng về thị
trường chưa có.
3. Minh bạch hoá NSNN và tăng cường giám sát và bình ổn thị trường
ngoại hối.
Thâm hụt NSNN gia tăng, cùng với tăng lên thâm hụt cán cân thanh
toán và tỷ lệ lạm phát, khan hiếm đồng đô la trên thị trường ngoại hối đã gây
nên mối hoài nghi cho người dân về giá trị của tiền VND. Là nhân tố góp
phần gia tăng lạm phát và tạo áp lực giảm giá tiền VND so với đô la Mỹ. Để
giải quyết tình trạng này, Nhà nước nên công khai minh bạch hoá các khoản
chi tiêu tài chính trong nước và các chính sách vĩ mô. Việc công khai này, sẽ
giúp ích cho cả Chính phủ sẽ phải tăng cường giám sát các khoản chi tiêu
công, tăng tiết kiệm, giảm quan liêu. Về phía người dân và các nhà đầu tư
trong và ngoài nước, việc này sẽ tạo ra một tâm lý ổn định, củng cố lòng tin
của người dân và các nhà đầu tư nước ngoài vào các chính sách của Nhà
nước. Đồng thời Nhà nước nên tăng cường giám sát chặt chẽ hoạt động diễn
ra trên thị trường ngoại hối nhằm bình ổn tỷ giá với mục tiêu tỷ giá trên thị
trường chính thức sẽ điều hành tỷ giá trên thị trường không chính thức (thị
trường đen). Từ đó mới phát huy được hiệu quả của biện pháp tăng biên độ
giao động, linh hoạt hoá tỷ giá.
Cụ thể, NHNN cần thực hiện ban hành công khai tỷ giá trên thị trường
chính thức, bắt buộc các NHTM và tổ chức tín dụng thực hiện đúng nghiệp vụ
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

76
và quy trình mua bán ngoại tệ đúng giá và phải cung ứng đủ ngoại tệ cho các
doanh nghiệp và cá nhân. Thêm vào đó, giám sát hoạt động của các đại lý đổi
ngoại tệ trên toàn quốc, tránh tình trạng buôn bán ngoại hối nhằm hưởng
chênh lệch, trái với quy định trong luật kinh doanh ngoại hối và là nguyên
nhân tạo ra cơn sốt ảo về tỷ giá.
4. Thực hiện phát hành tín phiếu Ngân hàng bằng ngoại tệ.
Năm 2007, một trong những sai lầm của NHNN là thực hiện tăng
cường thu hút nguồn vốn đầu tư đồng thời bình ổn tỷ giá bằng cách tăng cung
đồng nội tệ. Thu hút đầu tư là cần thiết cho một nền kinh tế mới nổi như nước
ta, đặc biệt là khi mới gia nhập. Bình ổn lạm phát sẽ đi đôi với giảm sút tăng
trưởng. Ưu tiên giảm lạm phát nhưng không có nghĩa là không thúc đẩy đầu
tư và tăng trưởng. Tuy nhiên cần thận trọng với các dự án đầu tư, lựa chọn
các phương án giúp tăng trưởng lâu dài và bền vững. Ví dụ điển hình, chính
quyền thành phố Đà Nẵng đã từ chối dự án sản xuất và chế biến phôi thép với
trị giá hàng triệu USD đầu năm 2008, đây là một dự án FDI lâu dài, vốn lớn,
khá hấp dẫn nhưng vẫn bị chính quyền tỉnh từ chối nguyên nhân là dự án sẽ
ảnh hưởng đến môi trường và du lịch ở một nơi có bờ biển nổi tiếng đẹp và
người dân hiếu khách…Như vậy Nhà nước vẫn cần phải thu hút và chọn lọc
các dự án đầu tư hợp lý tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế trước mắt và lâu dài.
Khi lượng vốn đầu tư tăng lên, biện pháp linh hoạt tỷ gía sẽ tỏ ra hiệu quả.
Tuy nhiên với lượng vốn tăng lên ồ ạt, nền kinh tế khó có thể hấp thụ
hết được, một giải pháp khá hay đó là tăng cường phát hành trái phiếu chính
phủ và tín phiếu NH (trong trường hợp cần thiết) bằng ngoại tệ. Hiện nay,
Nhà nước chỉ chú trọng phát hành trái phiếu và tín phiếu NH bằng nội tệ mà
không để ý rằng phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ là một biện pháp khá hiệu
quả, giúp giảm áp lực trên thị trường ngoại hối, tăng dự trữ ngoại tệ, giúp hấp
thụ đồng đô la tốt hơn khi gia tăng vốn đầu tư nước ngoài. Đây là biện pháp
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

77
giảm lượng cung ngoại tệ khi gia tăng, cùng với chính sách giảm nội tệ sẽ là
biện pháp thắt chặt tiền tệ hiệu quả và đồng bộ. Trong khi NHNN và Bộ Tài
chính tăng cường hút lượng tiền đồng vào, chính phủ giảm chi tiêu, nguồn
vốn ngoại tệ tăng lên sẽ được thu hút vào từ hoạt động này sẽ góp phần làm
cân bằng thị trường ngoại hối, đồng thời là nguồn vốn đáng kể để mở rộng
đầu tư công, dùng lượng đô la đó để nhập khẩu các nguyên liệu và máy móc,
hoặc chi trả cho các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng, từng bước tháo gỡ
“nút cổ chai” về cơ sở hạ tầng hiện nay.
Cách thực hiện cụ thể, Nhà nước có thể phát hành tín phiếu ngoại tệ
ngắn hạn (với thời hạn dưới 1 năm) cho các NHTM, tổ chức tín dụng, các
doanh nghiệp có lượng vốn đầu tư nước ngoài lớn. Tần suất và số lượng phát
hành nên phụ thuộc vào số lượng vốn ngoại tệ tăng trên thị trường ngoại hối
theo từng thời kỳ. Mức lãi suất ưu đãi nhưng nên giữ ở mức ngang bằng so
với lãi suất trên thị trường thế giới, nhằm tránh tình trạng các nhà đầu tư nước
ngoài mua trái phiếu ồ ạt không phải mục đích đầu tư mà hưởng tiền lãi chênh
lệch. Khi thị trường ngoại hối thừa cung ngoại tệ, NHNN có thể hút ngoại tệ
vào và tăng dự trữ ngoại tệ cho Nhà nước. Ngược lại khi thiếu cung ngoại tệ
có thể mua tín phiếu về, tăng cung ứng đô la cho NHTM và các tổ chức tín
dụng.
5. Thực hiện đồng bộ các biện pháp thắt chặt tiền tệ và bình ổn giá cả
Hiện nay Nhà nước vẫn thực hiện kiểm soát một số các mặt hàng
thiết yếu như xăng dầu, thuốc, phân bón, hoá chất, điện… Đặc biệt là xăng
dầu và vật liệu xây dựng phải nhập khẩu nhiều, trong khi đó mức giá cả trên
thế giới tiếp tục tăng mạnh, nhưng Nhà nước vẫn phải kiềm chế giá trong
nước bằng cách bù lỗ cho doanh nghiệp nhập khẩu. Đây là biện pháp cần thiết
khi lạm phát đang tăng cao, nhưng cũng chỉ tạm thời; khi chỉ số lạm phát đã
khá bình ổn thì cần phải tăng giá các mặt hàng này lên dựa theo mức giá cả
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

78
của thị trường thế giới. Nhưng để tránh tạo cú sốc tâm lý cho người dân và
doanh nghiệp, Nhà nước cần thực hiện lộ trình tăng giá từ từ, với mức độ tăng
không nhiều, đồng thời cần thông báo rộng rãi cho người dân trước đó khoảng
2-3 tháng nhằm tránh cú sốc tâm lý, tránh đầu cơ, tích trữ. Đồng thời, thực
hiện cam kết với các doanh nghiệp tránh tình trạng độc quyền hoặc cấu kết
đồng loạt tăng giá. Mặc dù vậy, lộ trình tăng giá này sẽ tác động không nhỏ
tới chi số tiêu dùng trong nước. Chính phủ cần dự đoán, ước tính và lập kế
hoạch sẵn đối phó với tình hình biến động giá cả sắp tới. Chính sách thuế
nhập khẩu với hàng hoá tiêu dùng xa xỉ có thể tăng (trong các phạm vi cam
kết quốc tế), song cần giảm tối đa các loại thuế nguyên liệu đầu vào. Điều
phối đối xứng các nguồn hàng thông qua các hệ thống siêu thị lớn.
Biện pháp thắt chặt tiền tệ nên tiếp tục được thực hiện theo các công cụ
như: Hạn chế mức tăng trưởng và kiểm soát chất lượng tín dụng, tăng dần
mức lãi suất cơ bản khi kỳ vọng lạm phát lên cao, điều chỉnh mức tỷ giá linh
hoạt hơn và thực hiện khuyến khích người dân tiết kiệm trong chi tiêu.
Hiện ở Việt Nam, có số lượng lớn các NHTM đang trong thời gian chờ
phê duyệt của Chính phủ để thành lập. Hầu hết các dự án này đều đáp ứng
được yêu cầu đề ra theo luật định, mặt khác Chính phủ đã cam kết rằng không
hạn chế số lượng các NHTM được thành lập. Sang năm 2009, Chính phủ Việt
Nam phải thực hiện đúng lộ trình hội nhập, cho phép chi nhánh NH 100% vốn
nước ngoài được thành lập ở Việt Nam, như vậy số lượng NHTM sẽ tăng lên
khá nhiều. Mức cạnh tranh gay gắt bắt buộc các NH thực thi nhiều biện pháp
để tăng thị phần và lợi nhuận trong kinh doanh. Vì vậy, biện pháp cần thiết đề
ra là NHNN cần tiếp tục giám sát hoạt động trong hệ thống các NHTM trong
đó có hoạt động cho vay tín dụng về chứng khoán, nhà đất. Đồng thời, xây
dựng kế hoạch và cơ sở pháp lý cho hoạt động cho hoạt động mua lại và sáp
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

79
nhập giữa các NH (bao gồm cả NH nước ngoài). Yêu cầu các TCT, TĐKT
hạn chế mở rộng kinh doanh đa lĩnh vực sang mảng tài chính- ngân hàng.
Trong trường hợp, mức dự báo lạm phát tăng cao hoặc xảy ra lạm phát
tăng đột biến, NHNN cần phải tăng dần mức lãi suất cơ bản với mức độ tăng
ít nhưng tần suất nhiều nếu cần thiết cho tới khi mức lãi suất thực đạt dương.
Nếu tăng lãi suất quá đột ngột sẽ là đòn bẩy để cho các NH đua nhau tăng lãi
suất huy động và cho vay, đẩy các doanh nghiệp vào tình trạng tiến thoái
lưỡng nan.
Về biên độ dao động tỷ giá, NHNN có thể nới rộng dần biên độ tỷ giá
tới 4% để tăng mức độ linh hoạt tỷ giá, phát huy tác dụng của CSTT tốt hơn,
đặc biệt trong trường hợp áp dụng thắt chặt tiền tệ và tài khoá trong khi biến
động mạnh về cung cầu ngoại hối.
Dung hoà các CSTT và có thể chấp nhận để VND mất giá nếu đồng
Việt Nam hiện đang được định giá cao hơn so với USD. Đảm bảo dự trữ
ngoại tệ để tránh “cuộc tấn công tiền tệ” nếu có (và hoàn toàn có thể rất gần
nếu NHNN lơ là và tài khoản vốn được mở hơn). Do vậy, một động thái rõ
ràng của NHNN tới thị trường ngoại hối là cần thiết. Một động thái “cẩn trọng
và từ từ” để đảm bảo dự trữ ngoại hối và chấp nhận nợ của Chính phủ tăng
lên tạm thời qua nghiệp vụ dung hoà (sterilization) có lẽ là cần thiết lúc này.
Tóm lại khi ba điều kiện nêu trên được thực thi, NHNN có thể vừa hỗ
trợ các NHTM có khó khăn thanh khoản trực tiếp đồng thời thực hiện CSTT
quyết liệt và chủ động để tạo kỳ vọng về giá vững vàng hơn. Tạo lập được kỳ
vọng, gia tốc lạm phát sẽ được kiểm soát mới là quan trọng hàng đầu trong
CSTT. Có thể nói nếu CSTT không xây dựng được kỳ vọng về lạm phát trong
thời gian tới thì CSTT sẽ thất bại trong việc kiềm chế lạm phát.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

80
Do vậy nếu CSTT “nửa vời và đột ngột” trong môi trường thông tin bất
đối xứng như thời gian qua có thể kiềm chế lạm phát phần nào nhưng có thể
không nhiều và tổn thất có thể là to lớn với những nguy cơ tiềm ẩn làm tổn
hại tăng trưởng kinh tế trong trung hạn do bất ổn của thị trường tài chính.
Một chính sách tiền tệ thận trọng và hiện đại tập trung vào dùng các
công cụ khác kiềm chế lạm phát và có thể phù hợp với hoàn cảnh của Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay. Khi các tiền đề về thị trường được kiểm soát
dẫn tới luồng thông tin được minh bạch, một CSTT quyết liệt chủ động nên
được tiến hành để tạo kỳ vọng về chính sách cũng như hiệu quả của các chính
sách đó.














T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

81

KẾT LUẬN
Trong hơn 20 năm cải cách mở cửa, Việt Nam đã đạt được những bước
chuyển mình mạnh mẽ về phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao vai trò, vị thế
trên trường quốc tế. Đề đạt được những thành tựu như ngày hôm nay là nhờ
có sự nỗ lực và cố gắng không ngừng của Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân
dân; tuy nhiên với thành công này, Việt Nam sẽ phải đối diện với khó khăn và
thách thức lớn hơn rất nhiều. WTO đã mở ra cơ hội phát triển kinh tế và
chính trị cho Việt Nam, nhưng cũng đồng thời đưa Việt Nam vào những biến
động đang có chiều hướng xấu đi của nền kinh tế toàn cầu. Vừa là một nước
nhỏ bé phải chịu nhiều ảnh hưởng của nền kinh tế lớn khi mở cửa, đồng thời
hệ thống kinh tế- xã hội chưa phát triển đầy đủ, vừa thiếu kinh nghiệm trong
điều hành quản lý; tất cả những yếu tố này sẽ tạo thành rào chắn kiên cố mà
bắt buộc Việt Nam phải vượt qua trên con đường hội nhập.
Một trong những khó khăn chủ yếu và nổi cộm hiện nay mà Việt Nam
phải đối mặt là tình hình lạm phát gia tăng gây bất ổn kinh tế và làm chính
quyền Nhà nước phải đau đầu trăn trở để tìm ra lời giải cho bài toán đưa ra
chính sách phù hợp để vừa giảm lạm phát, vừa có thể thúc đẩy phát triển được
kinh tế. Mặc dù, đã cố gắng không mệt mỏi để giải quyết vấn đề này nhưng
Nhà nước vẫn không tránh khỏi những sai lầm ban đầu, tạo ra các tác động
tiêu cực vào tình hình hiện tại, nhưng không thể phủ nhận những mặt tích cực
ở trong đó và những sửa đổi sai lầm phía sau. Nhìn chung kết hợp các chính
sách với nhau đã có hiệu quả bước đầu và nhóm nghiên cứu tin tưởng vào
những tiến triển tích cực sau này của nó.
Dựa vào tình hình thực tế, nhóm nghiên cứu đã viết đề tài này nhằm
minh họa một cách chi tiết và cụ thể về diễn biến tình hình lạm phát trong
nước đồng thời phân tích tác động của CSTT trong việc phòng chống lạm
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

82
phát mà NHNN đã đề ra, từ đó đề xuất ý kiến, quan điểm của riêng mình với
hy vọng rằng sẽ góp sức được một phần nhỏ bé của mình vào công cuộc
phòng chống lạm phát, phát triển kinh tế xã hội nói chung. Nhóm nghiên cứu
tin tưởng rằng, cùng với sự nỗ lực chung của toàn Đảng và nhân dân, các biện
pháp phòng chống lạm phát sẽ phát huy tác dụng, đồng thời nền kinh tế sẽ
phục hồi trở lại và tăng trưởng một cách bền vững hơn trong tương lai không
xa. Đó mới chính là mục đích chủ yếu khi gia nhập WTO của Việt Nam.


T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tài liệu tiếng việt
1. Những vấn đề cơ bản về kinh tế vĩ mô – NXB Thống Kê – 2002
2. Lý thuyết tài chính tiền tệ - ThS. Phan Anh Tuấn
3. Kinh tế Vĩ mô – G.Mankiw
4. Lạm phát: hành trình và giải pháp chống lạm phát ở Việt Nam – TS. Lê
Quốc Lý.
5. Báo cáo cập nhật tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam - Ngân hàng
Thế giới
6. Bản thảo luận chính sách số 2 – Harvard Kenedy School
7. Lựa chọn thành công – Harvard Kenedy School
8. Luật dân sự 2005
9. Luật ngoại hối
9.Website: www.vneconomy.vn
10. Website: www.dantri.com.vn
11. www.vnexpress.net
12. www.viet-studies.info/kinhte
13. http://www.vnba.org.vn/
14. http://saga.vn/view.aspx?id=8567
15. http://www.gso.gov.vn/
16. http://www.sbv.gov.vn/vn/home
II. Tài liệu tiếng anh
1. Monthly Country Report - Economist Intelligence Unit.
2. Global Economics Paper No:165 - https://portal.gs.com. (tháng 4-
5/2008)
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

84
3. Asia Economics Flash - https://portal.gs.com 19/05/08;03/06/08
4. ASEAN: contrasts with Vietnam - UBS 13/06/2008.
5. Taking appropriate actions - Standard Chartered 11/06/08
6. Is Vietnam Facing a Currency Crisis? – Dismal Scientist 11/06/2008
7. Vietnam Monitor (Issue 14) - HSBC Global Research 02/06/2008.
8. Economic Update 06/2008 - The Socialist Republic of Vietnam.
9. VND: Beyond the tipping Point. - Morgan Stanley 28/05/2008.
10. http://www.imf.org/external/index
11. http://www.opec.org/home/
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

85
PHỤ LỤC
Phụ lục1: LỘ TRÌNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT
NAM 2007-2008
1. Chính sách lãi suất
- 30/01/2008: Thống đốc NHNN đã ký 2 quyết định số 305/QĐ-NHNN và
306/QĐ-NHNN; Nâng lãi suất cơ bản 8.25% lên 8.75%; tái cấp vốn từ 6.5%
lên 7.5%; lãi suất tái chiết khấu: 4.5% lên 6%; áp dụng từ ngày 01/02/2008.
- 24/03/2008 Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam họp các tổ chức tín dụng và
Ngân hàng nhất trí áp dụng mức lãi suất trần huy động là 11% đối với VND
thay vì 12% trước kia và 6% đối với USD; áp dụng từ 02/04/2008.
- 29/04/2008 Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đã đồng thuận tăng lãi suất trần
lên 112% cho kỳ hạn trên 6 tháng và 11,5% cho kỳ hạn đưới 6 tháng đối với
VND
- 15/05/2008 : Tại cuộc họp tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, Thủ tướng
Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã quyết định bãi bỏ chế độ lãi suất trần.
Chiều 17/05/08 NHNN ban hành quyết định 16/2008/QĐ-NHNN áp dụng
cơ chế lãi suất cơ bản: 8.75% lên 12%; tái cấp vốn từ 7.5% lên 13%; tái
chiết khấu từ 6% lên 11%; có hiệu lực từ ngày 19/05/2008.
- 10/06/2008: Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 1317/QĐ-
NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng VND và Quyết định số 1316/QĐ-
NHNN về lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu; nâng mức lãi suất cơ
bản lên 14%, tái cấp vốn từ 13% lên 15%, tái chiết khấu từ 11% lên 13%; áp
dụng từ ngày 11/06/2008.
2. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

86
- 01/06/2007 Thống đốc NHNN đã ký Quyết định số 1141/QĐ-NHNN; tăng
tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi Việt Nam đồng không kỳ hạn và có kỳ
hạn dưới 12 tháng từ 5% lên 10%; áp dụng từ ngày 02/06/2008.
- 01/07/2007: Chỉ thị số 03 về hạn chế cho vay đầu tư chứng khoán do
NHNN ban hành có hiệu lực; Các NH phải rút dư nợ loại này về hạn mức
3% tổng dư nợ theo hạn 31/12/2007.
- 16/01/2008 Thống đốc NHNN ban hành Quyết định số 187/2008/QĐ-
NHNN; Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc 10% lên 11%. đồng thời gia hạn mức
tăng trưởng tín dụng với các tổ chức tín dụng là 30%/năm; có hiệu lực sau
ngày 31/01/2008.
3. Chính sách thị trường mở
- 01/08/2007, Thủ Tướng Chính phủ ban hành chỉ thị 18/2007/ CT-TTg thực
hiện biện pháp cấp bách bình ổn giá cả, giảm lượng tiền trong lưu thông,
trong đó NHNN tăng cường phát hành tín phiếu NH; Bộ Tài chính phát hành
trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc nhiều kỳ hạn để thu hút lượng tiền
nhàn rỗi trong dân nhân.
- 13/03/2008 Thống đốc NHNN có công văn số 115/TB-NHNN chỉ đạo các
NHTM có trong danh sách mua tín phiếu bắt buộc theo Quyết định số
346/QĐ-NHNN ra ngày 13/02/2008 phát hành tín phiếu bắt buộc với tổng trị
giá 20.300 tỷ đồng thời hạn 1 năm, lãi suất 7.8% cho 41 tổ chức tín dụng; có
hiệu lực ngày 13/03/2008 và hết hạn mua vào 17/03/2008.
4. Chính sách tỷ giá
- 24/12/2007 Thống đốc NHNN ký Quyết định số 47/2007/QĐ-NHNN tăng
biên độ dao động tỷ giá từ 0.5% lên 0.75%
- 07/03/2008 Thống đốc NHNN ký Quyết định số 504/QĐ-NHNN tăng biên
độ dao động tỷ giá từ 0.75% lên 1%
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

87
- 26/06/2008 Thống đốc NHNN đã ký Quyết định số 1436/QĐ-NHNN tăng
biên độ dao động từ 1% lên 2%




















T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

88

Phụ lục2: Quyền số tính chỉ số giá tiêu dùng năm 2005 gốc ở Việt Nam
No Chỉ tiêu %
Chỉ số giá tiêu dùng -CPI 100,00
1 Lương thực, thực phẩm 47,90
- Lương thực 13,08
- Thực phẩm 29,58
2 Đồ uống và thuốc lá 4,50
3 May mặc, giày dép, mũ nón 7,63
4 Nhà ở và vật liệu xây dựng 8,23
5 Thiết bị và đồ dùng gia đình 9,20
6 Dược phẩm, y tế 2,41
7 Phương tiện đi lại, bưu điện 10,07
8 Giáo dục 2,89
9 Văn hoá, thể thao, giải trí 3,81
10 Hàng hoá và dịch vụ khác 3,36



T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

89



Phụ lục 3: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 02
năm 2007
Tháng 02 năm 2007 so với (%):
Kỳ gốc
Tháng
02
Tháng
12
Tháng
01

(2005) năm
2006
năm
2006
năm
2007

CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 111,7 106,5 103,2 102,2

Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 114,6 107,6 104,6 103,5
Trong đó: Lương thực 120,9 115,0 104,6 102,8
Thực phẩm 111,9 105,0 104,7 103,8
Đồ uống và thuốc lá 112,5 106,8 104,2 102,5
May mặc, giày dép và mũ nón 109,1 106,3 102,3 101,3
Nhà ở và vật liệu xây dựng 113,9 109,5 105,0 101,9
Thiết bị và đồ dùng gia đình 109,3 106,7 101,6 101,1
Dược phẩm, y tế 106,3 103,9 100,6 100,4
Phương tiện đi lại, bưu điện 108,1 103,1 100,1 100,1
Trong đó:
Bưu chính, viễn
thông 95,7 97,0 99,9 100,0
Giáo dục 106,3 103,8 100,4 100,2
Văn hoá, thể thao, giải trí 106,5 103,7 102,2 102,1
Đồ dùng và dịch vụ khác 112,1 107,2 103,2 102,3

CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 145,6 117,1 100,9 102,1
CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 101,1 100,6 99,7 99,8


T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

90
Phụ lục 4: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 3 năm
2007
Tháng 3 năm 2007 so với (%):
Kỳ gốc Tháng 3
Tháng
12
Tháng
02

(2005) năm
2006
năm
2006
năm
2007

CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 111,4 106,8 103,0 99,8

Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 114,1 108,1 104,2 99,6
Trong đó: Lương thực 120,9 114,7 104,6 100,0
Thực phẩm 111,3 105,5 104,1 99,4
Đồ uống và thuốc lá 111,7 106,5 103,5 99,3
May mặc, giày dép và mũ nón 108,8 105,8 102,0 99,8
Nhà ở và vật liệu xây dựng 113,8 109,3 104,9 99,9
Thiết bị và đồ dùng gia đình 109,5 106,4 101,7 100,1
Dược phẩm, y tế 106,6 103,6 100,9 100,3
Phương tiện đi lại, bưu điện 108,7 104,4 100,7 100,6
Trong đó:
Bưu chính, viễn
thông 95,5 96,9 99,8 99,9
Giáo dục 106,3 103,8 100,5 100,1
Văn hoá, thể thao, giải trí 105,2 103,2 101,0 98,8
Đồ dùng và dịch vụ khác 111,5 107,1 102,6 99,5

CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 149,4 118,0 103,5 102,6
CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 101,0 100,6 99,6 99,9


T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

91
Phụ lục 5: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 4 năm
2007
Tháng 4 năm 2007 so với (%):
Kỳ gốc Tháng 4
Tháng
12
Tháng
3

(2005) năm
2006
năm
2006
năm
2007

CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 112,0 107,2 103,5 100,5

Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 114,6 108,3 104,6 100,4
Trong đó: Lương thực 120,8 114,3 104,5 99,9
Thực phẩm 112,0 106,1 104,8 100,7
Đồ uống và thuốc lá 111,5 106,2 103,3 99,8
May mặc, giày dép và mũ nón 109,3 106,1 102,5 100,5
Nhà ở và vật liệu xây dựng 114,9 110,6 105,9 101,0
Thiết bị và đồ dùng gia đình 110,0 106,4 102,1 100,4
Dược phẩm, y tế 107,2 104,1 101,4 100,5
Phương tiện đi lại, bưu điện 109,8 105,4 101,7 101,1
Trong đó:
Bưu chính, viễn
thông 95,5 96,9 99,8 100,0
Giáo dục 106,5 103,8 100,6 100,2
Văn hoá, thể thao, giải trí 105,2 103,5 101,0 100,0
Đồ dùng và dịch vụ khác 112,0 107,3 103,1 100,5

CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 151,0 113,8 104,7 101,1
CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 101,2 100,6 99,7 100,1


T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

92
Phụ lục 6: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 6 năm
2007
Tháng 6 năm 2007 so với (%):

Kỳ
gốc
(2005)
Tháng
6 năm
2006
Tháng
12 năm
2006
Tháng
5 năm
2007

CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 113,8 107,8 105,2 100,9

Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 117,0 109,9 106,8 101,0
Trong đó Lương thực 122,0 114,9 105,6 100,4
Thực phẩm 114,7 108,1 107,3 101,4
Đồ uống và thuốc lá 111,9 106,0 103,7 100,2

May mặc, giày dép và mũ
nón 110,4 106,2 103,5 100,5
Nhà ở và vật liệu xây dựng 117,5 111,0 108,2 101,3
Thiết bị và đồ dùng gia đình 111,1 106,2 103,2 100,4
Dược phẩm, y tế 108,7 104,6 102,9 100,8
Phương tiện đi lại, bưu điện 111,5 103,8 103,3 100,9
Trong đó
Bưu chính, viễn
thông 94,4 98,5 98,6 98,9
Giáo dục 106,8 104,0 100,9 100,2
Văn hoá, thể thao, giải trí 107,0 104,2 102,7 101,3
Đồ dùng và dịch vụ khác 113,4 107,9 104,3 100,5

CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 151,5 102,8 105,0 98,0
CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 101,6 100,5 100,1 100,3


T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

93
Phụ lục 5: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 7 năm
2007
Tháng 7 năm 2007 so với (%):
Kỳ gốc
Tháng
7
Tháng
12
Tháng
6

(2005) năm
2006
năm
2006
năm
2007

CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 114.87 108.39 106.19 100.94
Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 118.87 111.13 108.50 101.59
Trong đó Lương thực 122.70 115.03 106.13 100.54
Thực phẩm 117.34 110.06 109.78 102.29
Đồ uống và thuốc lá 112.20 105.57 103.95 100.27

May mặc, giày dép và mũ
nón 110.90 106.44 104.03 100.49
Nhà ở và vật liệu xây dựng 118.32 110.93 109.03 100.73
Thiết bị và đồ dùng gia đình 111.62 106.41 103.69 100.49
Dược phẩm, y tế 109.45 105.04 103.58 100.69
Phương tiện đi lại, bưu điện 111.64 103.82 103.42 100.16
Trong đó
Bưu chính, viễn
thông 94.27 98.40 98.47 99.87
Giáo dục 106.86 103.78 100.94 100.08
Văn hoá, thể thao, giải trí 107.26 104.51 103.00 100.27
Đồ dùng và dịch vụ khác 113.89 107.80 104.78 100.46
CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 150.61 105.51 104.39 99.41
CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 101.81 100.95 100.32 100.22

T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

94
Phụ lục 8: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 8 năm
2007
Tháng 8 năm 2007 so với (%):
Kỳ gốc
Tháng
8
Tháng
12
Tháng
7

(2005) năm
2006
năm
2006
năm
2007

CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 115.50 108.57 106.78 100.55
Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 119.92 111.91 109.46 100.88
Trong đó Lương thực 123.76 115.68 107.05 100.86
Thực phẩm 118.42 110.96 110.79 100.92
Đồ uống và thuốc lá 112.76 105.90 104.47 100.50

May mặc, giày dép và mũ
nón 111.32 106.33 104.43 100.38
Nhà ở và vật liệu xây dựng 118.50 109.93 109.20 100.15
Thiết bị và đồ dùng gia đình 111.93 106.38 103.99 100.28
Dược phẩm, y tế 110.16 105.46 104.26 100.65
Phương tiện đi lại, bưu điện 111.81 103.01 103.58 100.15
Trong đó
Bưu chính, viễn
thông 94.20 95.87 98.40 99.93
Giáo dục 107.16 103.77 101.23 100.28
Văn hoá, thể thao, giải trí 107.43 104.36 103.16 100.16
Đồ dùng và dịch vụ khác 114.44 108.07 105.29 100.48

CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 152.85 104.72 105.94 101.49
CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 101.97 100.97 100.48 100.16

T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

95
Phụ lục 9: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 9 năm
2007
%

Tháng 9 năm 2007 so với:
Chỉ số giá 9
tháng

Kỳ gốc
Tháng
9
Tháng
12
Tháng
8
năm 2007 so
với

(2005)
năm
2006
năm
2006
năm
2007
cùng kỳ 2006
CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 116.09 108.80 107.32 100.51 107.53
Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 121.14 113.32 110.57 101.02 109.64
Trong đó Lương thực 124.81 116.21 107.96 100.85 114.90
Thực phẩm 119.91 113.12 112.18 101.26 107.86
Đồ uống và thuốc lá 112.83 105.65 104.53 100.06 106.05

May mặc, giày dép và mũ
nón 111.66 105.94 104.75 100.31 106.12
Nhà ở và vật liệu xây dựng 119.01 109.47 109.66 100.43 109.95
Thiết bị và đồ dùng gia đình 112.21 106.17 104.25 100.25 106.37
Dược phẩm, y tế 111.16 106.20 105.20 100.91 104.60
Phương tiện đi lại, bưu điện 110.87 100.49 102.71 99.16 103.44
Trong đó
Bưu chính, viễn
thông 93.79 97.72 97.97 99.57 97.33
Giáo dục 107.57 103.43 101.62 100.39 103.75
Văn hoá, thể thao, giải trí 106.47 103.03 102.24 99.11 103.66
Đồ dùng và dịch vụ khác 114.92 108.55 105.73 100.42 107.49
CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 155.80 109.88 107.99 101.93 110.18
CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 102.55 101.47 101.05 100.57 100.73






T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

96


Phụ lục 10: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 10
năm 2007
%
Tháng 10 năm 2007 so với:
Chỉ số giá 10
tháng năm 2007 so
với cùng kỳ 2006

Kỳ gốc
(2005)
Tháng
10 năm
2006
Tháng
12 năm
2006
Tháng
9 năm
2007
CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 116,95 109,34 108,12 100,74 107,71
Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 122,46 113,94 111,78 101,09 110,07
Trong đó Lương thực 126,19 115,98 109,15 101,11 115,01
Thực phẩm 121,34 114,19 113,52 101,19 108,49
Đồ uống và thuốc lá 113,29 105,75 104,96 100,41 106,02

May mặc, giày dép và mũ
nón 111,99 105,82 105,05 100,29 106,09
Nhà ở và vật liệu xây dựng 120,81 111,72 111,32 101,51 110,13
Thiết bị và đồ dùng gia đình 112,45 105,90 104,46 100,21 106,33
Dược phẩm, y tế 112,07 106,46 106,06 100,81 104,78
Phương tiện đi lại, bưu điện 110,91 102,33 102,75 100,04 103,32
Trong đó
Bưu chính, viễn
thông 93,56 97,56 97,73 99,75 97,26
Giáo dục 107,79 102,02 101,82 100,20 103,57
Văn hoá, thể thao, giải trí 105,70 102,05 101,50 99,27 103,50
Đồ dùng và dịch vụ khác 115,44 108,08 106,21 100,45 107,55
CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 165,21 120,24 114,51 106,04 111,19
CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 101,93 100,67 100,45 99,40 100,73


T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

97
Phụ lục 11: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 11
năm 2007
%
Tháng 11 năm 2007 so với: Chỉ số giá 11
tháng năm 2007
so với cùng kỳ
2006

Kỳ gốc
(2005)
Tháng
11 năm
2006
Tháng
12 năm
2006
Tháng
10 năm
2007
CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 118,39 110,01 109,45 101,23 107,92
Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 124,99 114,89 114,08 102,06 110.51
Trong đó Lương thực 129,55 114,74 112,06 102.66 114.98
Thực phẩm 123,70 115,90 115,73 101.95 109.17
Đồ uống và thuốc lá 113,74 105,29 105,38 100,40 105.95

May mặc, giày dép và mũ
nón 112,44 106,21 105,47 100,40 106.10
Nhà ở và vật liệu xây dựng 123,07 114,01 113,40 101,87 110.48
Thiết bị và đồ dùng gia đình 112,68 105,40 104,67 100,20 106.24
Dược phẩm, y tế 112,42 106,60 106,40 100,32 104.95
Phương tiện đi lại, bưu điện 110,93 102,85 102,77 100,02 103.28
Trong đó
Bưu chính, viễn
thông 93,05 97,15 97,20 99.46 97.26
Giáo dục 107,85 101,94 101,89 100,06 103.42
Văn hoá, thể thao, giải trí 105,59 101,57 101,39 99,90 103.32
Đồ dùng và dịch vụ khác 116,61 108,10 107,29 101,02 107.60
CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 179,90 128,71 124,69 108,89 112,78
CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 101,65 100,19 100,17 99,72 100,68


T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

98
Phụ lục 12: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 12
năm 2007
%

Th¸ng 12 n¨m 2007 so víi:
ChØ sè gi¸
b×nh

Kú gèc
Th¸ng
12
Th¸ng
11
qu©n n¨m
2007

(2005)
n¨m
2006
n¨m
2007
so víi năm
2006

CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 121.83 112.63 102.91 108.30
Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 130.29 118.92 104.24 111.16
Trong đó Lương thực 133.41 115.40 102.98 115.02
Thực phẩm 129.50 121.16 104.69 110.06
Đồ uống và thuốc lá 115.26 106.78 101.33 106.02
May mặc, giày dép và mũ nón 113.74 106.70 101.16 106.15
Nhà ở và vật liệu xây dựng 127.10 117.12 103.28 111.01
Thiết bị và đồ dùng gia đình 113.19 105.15 100.46 106.15
Dược phẩm, y tế 113.11 107.05 100.61 105.12
Phương tiện đi lại, bưu điện 115.79 107.27 104.38 103.60
Trong đó
Bưu chính, viễn
thông 92.34 96.45 99.23 97.19
Giáo dục 107.94 101.97 100.08 103.30
Văn hoá, thể thao, giải trí 105.90 101.69 100.29 103.18
Đồ dùng và dịch vụ khác 118.49 109.02 101.61 107.72
CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 183.73 127.35 102.13 113.62
CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 101.46 99.97 99.81 100.62

T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

99
Phụ lục 13: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 1
năm 2008


Tháng 01 năm 2008 so với
(%):
Kỳ gốc
Tháng
01
Tháng
12

(2005) năm
2007
năm
2007
CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 124.73 114.11 102.38
Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 135.18 122.01 103.76
Trong đó: Lương thực 137.88 117.15 103.35
Thực phẩm 134.36 124.62 103.75
Đồ uống và thuốc lá 117.30 106.91 101.77
May mặc, giày dép và mũ nón 115.33 107.11 101.40
Nhà ở và vật liệu xây dựng 130.76 116.89 102.88
Thiết bị và đồ dùng gia đình 114.16 105.53 100.85
Dược phẩm, y tế 113.87 107.53 100.67
Phương tiện đi lại, bưu điện 115.76 107.19 99.97

Trong đó: Bưu chính, viễn
thông 84.40 88.19 91.40
Giáo dục 108.16 101.98 100.20
Văn hoá, thể thao, giải trí 105.96 101.63 100.06
Đồ dùng và dịch vụ khác 121.57 110.86 102.60
CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 193.05 135.33 105.07
CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 101.19 99.83 99.74

T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

100
Phụ lục 14: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 2
năm 2008

%

Tháng 2 năm 2008 so với:
Chỉ số giá 2
tháng

Kỳ gốc
Tháng
2
Tháng
12
Tháng
1
năm 2008 so
với

(2005)
năm
2007
năm
2007
năm
2008
cùng kỳ nam
2007

CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 129,17 115,67 106,02 103,56 114,89

Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 143,54 125,23 110,17 106,18 123,61
Trong đó Lương thực 142,36 117,71 106,71 103,25 117.43
Thực phẩm 144,48 129,06 111,56 107,53 126.82
Đồ uống và thuốc lá 119,51 106,25 103,69 101,89 106,58

May mặc, giày dép và mũ
nón 116,90 107,19 102,78 101,36 107,15
Nhà ở và vật liệu xây dựng 132,58 116,36 104,31 101,39 116,62

Thiết bị và đồ dùng gia
đình 114,99 105,19 101,59 100,73 105,36
Dược phẩm, y tế 114,39 107,59 101,13 100,46 107,56
Phương tiện đi lại, bưu điện 117,51 108,73 101,48 101,51 107,96
Trong đó
Bưu chính,
viễn thông 84,21 88,03 91,20 99,78 88.11
Giáo dục 108,26 101,88 100,30 100,10 101.93
Văn hoá, thể thao, giải trí 108,44 101,86 102,40 102,34 101,74
Đồ dùng và dịch vụ khác 125,70 112,10 106,09 103,40 111,48

CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 204,46 140,41 111,28 105,91 137,85
CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 101,07 99,92 99,62 99,88 99,88
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

101


Phụ lục 1: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 3 năm
2008
%

Tháng 3 năm 2008 so với:
Chỉ số giá quí
I

Kỳ
gốc
Tháng 3
Tháng
12
Tháng 2
năm 2008 so
với

(2005)
năm
2007
năm
2007
năm 2008
cùng kỳ năm
2007

CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 133,04 119,39 109,19 102,99 116,38


Hàng ăn và dịch vụ ăn
uống 149,11 130,64 114,45 103,88 125.92
Trong đó Lương thực 157,31 130,14 117,91 110,50 121,53
Thực phẩm 146,44 131,62 113,08 101,36 128,41
Đồ uống và thuốc lá 120,30 107,73 104,38 100,66 106,97

May mặc, giày dép và mũ
nón 117,94 108,42 103,69 100,89 107,58
Nhà ở và vật liệu xây dựng 137,29 120,61 108,01 103,55 117,94

Thiết bị và đồ dùng gia
đình 116,73 106,63 103,12 101,51 105,78
Dược phẩm, y tế 115,23 108,06 101,87 100,73 107,73
Phương tiện đi lại, bưu điện 124,27 114,34 107,32 105,76 110,05
Trong đó
Bưu chính,
viễn thông 83,94 87,87 90,91 99,68 88,03
Giáo dục 108,59 102,12 100,60 100,30 101,99
Văn hoá, thể thao, giải trí 109,84 104,38 103,72 101,29 102,61
Đồ dùng và dịch vụ khác 125,83 112,83 106,19 100,10 111,94

CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 217,64 145,69 118,46 106,45 140,50
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

102
CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 99,54 98,51 98,12 98,49 99,42


T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

103
Phụ lục 16: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 4
năm 2008
%
Tháng 4 năm 2008 so với: Chỉ số giá 4 tháng

Kỳ
gốc
Tháng
4
Tháng
12
Tháng
3
năm 2008 so với

(2005)
năm
2007
năm
2007
năm
2008
cùng kỳ năm
2007

CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 135,96 121,42 111,60 102,20 117,61

Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 153,75 134,11 118,01 103,11 127,91
Trong đó Lương thực 166,92 138,21 125,12 106,11 125.50
Thực phẩm 149,69 133,63 115,59 102,22 129.69
Đồ uống và thuốc lá 121,12 108,65 105,09 100,68 107,38
May mặc, giày dép và mũ nón 119,07 108,94 104,69 100,96 107,91
Nhà ở và vật liệu xây dựng 140,88 122,59 110,84 102,62 119,08
Thiết bị và đồ dùng gia đình 117,83 107,17 104,10 100,95 106,12
Dược phẩm, y tế 116,16 108,38 102,70 100,81 107,89
Phương tiện đi lại, bưu điện 127,17 115,79 109,83 102,33 111,45
Trong đó
Bưu chính, viễn
thông 83,89 87,83 90,85 99,94 87.98
Giáo dục 109,00 102,33 100,98 100,38 102.08
Văn hoá, thể thao, giải trí 110,42 104,97 104,27 100,53 103,20
Đồ dùng và dịch vụ khác 126,50 112,92 106,76 100,53 112,18

CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 212,99 141,02 115,92 97,86 140,57
CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 100,75 99,59 99,30 101,21 99,46

T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

104
Phụ lục 17: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 5
năm 2008
%

Tháng 5 năm 2008 so với:
Chỉ số giá 5
tháng

Kỳ gốc Tháng 5
Tháng
12
Tháng 4
năm 2008 so
với

(2005)
năm
2007
năm
2007
năm
2008
cùng kỳ năm
2007

CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 141,28 125,20 115,96 103,91 119,09


Hàng ăn và dịch vụ ăn
uống 164,89 142,35 126,56 107,25 130,68
Trong đó Lương thực 203,96 167,84 152,88 122,19 133.01
Thực phẩm 153,11 135,39 118,23 102,28 130.81
Đồ uống và thuốc lá 123,40 110,45 107,06 101,88 107,99

May mặc, giày dép và mũ
nón 120,22 109,46 105,69 100,96 108,22
Nhà ở và vật liệu xây dựng 142,57 122,99 112,17 101,20 119,85

Thiết bị và đồ dùng gia
đình 118,93 107,48 105,07 100,93 106,39
Dược phẩm, y tế 116,72 108,24 103,19 100,48 107,96

Phương tiện đi lại, bưu
điện 127,60 115,52 110,20 100,34 112,25
Trong đó
Bưu chính, viễn
thông 83,83 87,80 90,79 99,93 87.94
Giáo dục 109,49 102,72 101,44 100,45 102.21
Văn hoá, thể thao, giải trí 111,05 105,11 104,87 100,57 103,58
Đồ dùng và dịch vụ khác 126,91 112,50 107,11 100,33 112,24

CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 204,70 132,45 111,41 96,11 137,81
CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 101,78 100,45 100,32 101,02 99,79

T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

105
Phụ lục 18: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 6
năm 2008
%

Tháng 6 năm 2008 so với:
Chỉ số giá 6
tháng

Kỳ
gốc
Tháng
6
Tháng
12
Tháng
5
năm 2008 so
với

(2005)
năm
2007
năm
2007
năm
2008
cùng kỳ năm
2007

CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 144,30 126,80 118,44 102,14 120,34

Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 170,32 145,55 130,73 103,29 133,05
Trong đó Lương thực 212,71 174,29 159,44 104,29 139.14
Thực phẩm 157,78 137,54 121,83 103,05 131.91
Đồ uống và thuốc lá 124,72 111,46 108,21 101,07 108,56
May mặc, giày dép và mũ nón 121,32 109,94 106,67 100,92 108,50
Nhà ở và vật liệu xây dựng 145,33 123,72 114,34 101,93 120,49
Thiết bị và đồ dùng gia đình 120,45 108,44 106,41 101,28 106,73
Dược phẩm, y tế 117,49 108,08 103,87 100,66 107,98
Phương tiện đi lại, bưu điện 128,05 114,88 110,58 100,35 112,69
Trong đó
Bưu chính, viễn
thông 83,75 88,73 90,70 99,90 88.07
Giáo dục 110,23 103,24 102,12 100,67 102.38
Văn hoá, thể thao, giải trí 111,49 104,23 105,29 100,40 103,69
Đồ dùng và dịch vụ khác 128,13 113,02 108,14 100,96 112,37

CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 213,63 141,01 116,27 104,36 139,25
CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 106,55 104,89 105,02 104,69 100,51




T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

106


Phụ lục 17: Quyết định 1316/QĐ-NHNN ngày 10/06/2008 về lãi suất tái
cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu

THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
- Căn cứ vào luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997/QH10
ngày 12 tháng 12 năm 1997, luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 10/2003/QH11 ngày 17/06/2003;
- Căn cứ vào nghị định số 52/2003/NĐ-CP ngày19/05/2003 của chính
phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam;
- Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ chính sách tiền tệ,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Quy định các mức lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam như
sau:
1. Lãi suất tái cấp vốn: 15,0%/năm
2. Lãi suất tái chiết khấu: 13,0%/năm
Điều 2: Quyết định có hiệu lực kể từ ngày 11/06/2008, thay thế Quyết định
số 1098/QĐ-NHNN ngày 16/05/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
về lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu.
Điều 3: Chánh Văn phòng, Vụ Trưởng Vụ Chính sách tiền tệ và Thủ trưởng
các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, giám đốc Ngân hàng Nhà
nước chi nhánh các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Hội đồng quản
trị và Tổng giám đốc (giám đốc) tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm thi hành
quyết định này.
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

107




Phụ lục 20: Quyết định số 1317/2008/QĐ-NHNN vào ngày
10/06/2008 về mức lãi suất cơ bản bằng đồng tiền Việt Nam
THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997; Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2003;
Căn cứ vào luật các tổ chức tín dụng năm 2007; luật sửa đổi bổ sung
một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2004;
Căn cứ vào Nghị định số 52/2003/NĐ-CP ngày 19/05/2003 của Chính
phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Quy định mức lãi suất cơ bản bằng Việt Nam đồng là 14,00%/năm.
Điều 2: Quyết định này có hiệu lực từ ngày 11/06/2008 và thay thế quyết
định số 1275/QĐ- NHNN ngày 30/05/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam.
Điều 3: Chánh Văn phòng, Vụ Trưởng Vụ Chính sách tiền tệ và Thủ trưởng
các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, giám đốc Ngân hàng Nhà
nước chi nhánh các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Hội đồng quản
trị và Tổng giám đốc (giám đốc) tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm thi hành
quyết định này.

T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

108





Phụ lục 19: Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN vào ngày
19/05/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng tiền
Việt Nam
THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997; Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2003;
Căn cứ vào luật các tổ chức tín dụng năm 2007; luật sửa đổi bổ sung
một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2004;
Căn cứ vào bộ Luật dân sự 2005;
Căn cứ vào Nghị định số 52/2003/NĐ-CP ngày 19/05/2003 của Chính
phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam;
Căn cứ vào ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số
3168/VPCP-KTTH ngày 16/05/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Quy định điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam làm
cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh như sau:
1. Các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh (lãi suất huy động,
lãi suất cho vay) bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng không vượt quá
T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

109
150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố trong
từng thời kỳ.
2. Định kỳ hàng tháng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố lãi
suất cơ bản. Trong trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
công bố kịp thời điều chỉnh lãi suất cơ bản.
Điều 2: Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/09/2008.
Quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30/05/2002 về việc thực hiện cơ
chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng đồng Việt
Nam của tổ chức tín dụng đối với khách hàng hết hiệu lực thi hành.
Điều 3: Chánh Văn phòng, Vụ Trưởng Vụ Chính sách tiền tệ và Thủ
trưởng các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, giám đốc Ngân
hàng Nhà nước chi nhánh các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Hội
đồng quản trị và Tổng giám đốc (giám đốc) tổ chức tín dụng chịu trách
nhiệm thi hành quyết định này.













T¸c ®éng cña chÝnh s¸ch tiÒn tÖ nh»m kiÒm chÕ l¹m ph¸t
T¹i ViÖt Nam giai ®o¹n hiÖn nay

110


You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->