P. 1
[YRC]-Chuoi Cung Ung Mat Hang CA Tra Xuat Khau Khu Vuc Dong Bang Song Cuu Long

[YRC]-Chuoi Cung Ung Mat Hang CA Tra Xuat Khau Khu Vuc Dong Bang Song Cuu Long

|Views: 1,828|Likes:
Được xuất bản bởiYRCFTU

More info:

Published by: YRCFTU on Aug 18, 2012
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

06/05/2013

pdf

text

original

Sections

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG ---------o0o

---------

CÔNG TRÌNH DỰ THI CUỘC THI
SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG NĂM 2009 Tên công trình:

XÂY DỰNG CHUỖI CUNG ỨNG MẶT HÀNG CÁ TRA XUẤT KHẨU KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

NHÓM NGÀNH Họ tên sinh viên Lớp Họ tên sinh viên Lớp

: : : : :

KHOA HỌC XÃ HỘI 1A - XH1a Mai Thùy Dung – Nữ – Dân tộc : Kinh

Anh 4 - Khóa: K45A – Lê Thanh Phong –

Khoa : Kinh Tế Đối Ngoại Nam – Dân tộc : Kinh

Anh 4 - Khóa: K45A – :

Khoa : Kinh Tế Đối Ngoại

Họ và tên ngƣời hƣớng dẫn

Th.S Nguyễn Thế Anh

Hà Nội, tháng 07 năm 2009

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Với thời gian trên dƣới 15 năm để một sản phẩm chƣa từng đƣợc biết đến, sản xuất từ một loài cá vốn có giá trị không cao, nhờ sức sáng tạo của ngƣời lao động Việt Nam kết hợp với đƣờng lối mở cửa, hội nhập của Nhà nƣớc, trở thành một “thế lực” trên thị trƣờng cá thịt trắng toàn cầu, với sản lƣợng sản phẩm xuất khẩu năm 2008 trên 640.000 tấn, giá trị xuất khẩu gần 1,5 tỷ USD. Xét một cách toàn diện, cá tra phải đƣợc xếp đầu danh sách ít ỏi những sản phẩm nông sản có lợi thế của Việt Nam trên thị trƣờng thế giới, bởi trong khi chúng ta có cá tra xuất khẩu thì không nƣớc nào khác có. Trung Quốc và Ấn Độ cũng xuất khẩu sản phẩm cá nheo tƣơng tự nhƣng sản lƣợng không đáng kể và chiếm một thị phần không đáng kể so với cá tra của Việt Nam. Với giá trị xuất khẩu cao và vai trò ý nghĩa quan trọng của cá tra đối với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nƣớc nói chung, chính phủ đã xác định cá tra là sản phẩm xuất khẩu chủ lực có lợi thế cạnh tranh cao trên thị trƣờng quốc tế, đồng thời chính phủ yêu cầu thành lập Ban chỉ đạo sản xuất, tiêu thụ cá tra do Bộ trƣởng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đứng đầu. Đây là những bƣớc đi ban đầu nhằm đƣa con cá tra trở thành sản phẩm xuất khẩu chiến lƣợc của ngành thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế vốn có vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long và những nỗ lực của các thành phần trong ngành sản xuất cá tra xuất khẩu, thực trạng hoạt động của ngành lại đang bộc lộ nhiều biểu hiện phi hiệu quả, đe dọa nghiêm trọng đến vị thế của sản phẩm cá tra xuất khẩu. Trong đó, những vấn đề nổi bật nhất bao gồm sự yếu kém trong công tác quản lý ngành, tình trạng phát triển tự phát, manh mún, thiếu quy hoạch và thiếu sự liên kết giữa các thành phần trong ngành; những khó khăn trong việc truy xuất nguồn gốc cũng nhƣ việc kiểm soát chất lƣợng đầu ra ở mỗi khâu do tính tự phát của hoạt động sản xuất; sự thiếu đồng bộ về cơ sở vật chất hạn chế sự trao đổi và xử lý thông tin giữa các thành phần của ngành. Giải pháp hợp nhất theo ngành dọc đƣợc các công ty chế biến áp dụng chỉ mang lại hiệu quả trong ngắn hạn, trong dài hạn tính khép kín các công đoạn sản xuất trong một chủ thể từ quy hoạch vùng nguyên liệu, xây dựng hệ thống phân phối, thậm chí sản xuất con giống và thức ăn chăn nuôi sẽ bộc lộ nhiều nguy cơ đe dọa tính bền vững
http://svnckh.com.vn

2

và hiệu quả, không phù hợp với xu hƣớng phát triển hiện đại, ở đó tính chuyên nghiệp và chuyên môn hóa là ƣu tiên hàng đầu. Xét trong bối cảnh xu hƣớng của cạnh tranh quốc tế, khi mà sự cạnh tranh không chỉ đơn thuần là giữa các doanh nghiệp, mà là giữa các chuỗi cung ứng, thì xây dựng chuỗi cung ứng đƣợc xem nhƣ là một tài sản chiến lƣợc, có tác động quyết định đến sƣ thành công trong công việc kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, nếu xét góc độ quản lý và vận hành hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu ở Đồng bằng sông Cửu Long, việc xây dựng mô hình chuỗi cung ứng sẽ cơ bản giúp giải quyết những hạn chế, tồn tại, từ đó đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của ngành. Trong phạm vi bài nghiên cứu, doanh nghiệp chế biến đƣợc xem là ngƣời khởi xƣớng và giữ vai trò chủ đạo, do lợi thế về quy mô, tổ chức, tín dụng cũng nhƣ khả năng tiếp xúc và chi phối nguồn thông tin cho toàn bộ hoạt động của chuỗi so với các thành phần khác nhƣ ngƣời sản xuất con giống hay các trang trại nuôi cá. Trên cơ sở đó, việc xây dựng chuỗi cung ứng cho mặt hàng cá tra xuất khẩu ở Đồng Bằng Sông Cửu Long đƣợc tiếp cận theo hƣớng tạo dựng cơ chế hợp tác trên năm lĩnh vực – thông tin, sản xuất, hàng tồn kho, vận tải và định vị - giữa các thành phần trong hoạt động sản xuất thông qua việc thiết kế một mạng lƣới phân phối cho chuỗi, từ đó khơi thông ba dòng chảy chính của chuỗi cung ứng – dòng thông tin, dòng hàng hóa và dòng tài chính. Cách tiếp cận này đảm bảo vừa tận dụng đƣợc những cơ sở vật chất hiện có của hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu, vừa khắc phục đƣợc tính phi hiệu quả, thiếu bền vững của hoạt động sản xuất hiện tại. Dựa trên cơ sở lý thuyết về chuỗi cung ứng và xây dựng chuỗi cung ứng thông qua việc thiết kế mạng lƣới cung ứng phù hợp, kết hợp với những đặc trƣng của hoạt động sản xuất cá tra ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, nhóm nghiên cứu đã đề xuất một mô hình chuỗi cung ứng khả thi gắn kết các thành phần tham gia sản xuất, từ đó khắc phục những tồn tại cho ngành. Để thục hiện mục tiêu này, đề tài kiến nghị hai nhóm giải pháp đồng bộ, bao gồm nhóm giải pháp vi mô đối với từng thành phần tham gia vào chuỗi và nhóm giải pháp vĩ mô đối với các Bộ Ban ngành liên quan đến hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Vấn đề cốt lõi khi đƣa ra nhóm giải pháp vĩ mô là phải tách bạch giữa vai trò hỗ trợ về mặt hoạch định chính sách chủ trƣơng, khung pháp ly của các cơ quan chức năng đối với
http://svnckh.com.vn

3

hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu ở Đồng Bằng Sông Cửu Long với chức năng quản lý của các chủ thể kinh tế, do mô hình chuỗi cung ứng chỉ là mối quan hệ giữa Tên bảng bảng biểu, đồ thị, hình vẽ Trang

các chủ thể kinh tế tham gia vào chuỗi.

DANH SÁCH BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ
http://svnckh.com.vn

4

Hình 1.1 Sơ đồ năm yếu tố dẫn dắt chủ yếu của một chuỗi cung ứng Hình 1.2 Cơ cấu chuỗi cung ứng Đồ thị 1.3: Mối quan hệ giữa Thời gian đáp ứng đơn hàng mong muốn và Số lƣợng kho bãi. Đồ thị 1.4: Mối quan hệ giữa Số lƣợng kho bãi và Chi phí hàng tổn kho Đồ thị 1.5: Mối quan hệ giữa Số lƣợng kho bãi và Chi phí vận tải Đồ thị 1.6: Mối quan hệ giữa Số lƣợng kho bãi và Chi phí kho bãi Đồ thị 1.7: Mối quan hệ giữa chi phí logistics, thời gian đáp ứng đơn hàng và số lƣợng kho Hình 1.8: Ngƣời sản xuất trữ hàng và giao hàng trực tiếp Bảng 1.9: Đặc điểm hoạt động của Mô hình Ngƣời sản xuất trữ hàng và giao hàng trực tiếp Hình 1.10: Mạng lƣới In-transit merge Bảng 1.11: Đặc điểm hoạt động của mô hình In-transit merge Hình 1.12: Ngƣời đại lý trữ hàng và giao hàng theo kiện Bảng 1.13: Đặc điểm hoạt động của Ngƣời đại lý trữ hàng và giao hàng theo kiện Hình 1.14: Ngƣời đại lý trữ hàng và giao hàng chặng cuối Bảng 1.15: Đặc điểm hoạt động của mô hình Ngƣời đại lý trữ hàng và giao hàng chặng cuối Hình 1.16: Mô hình Ngƣời sản xuất/ngƣời đại lý trữ hàng và khách hàng tự lấy hàng Bảng 1.17: Đặc điểm hoạt động của mạng lƣới phân phối qua các điểm giao hàng Bảng 1.18: Đặc điểm hoạt động của mô hình Ngƣời bán lẻ trữ hàng và khách hàng tự lấy hàng Bảng 2.1 Bảng số liệu diện tích nuôi trồng cá tra giai đoạn 2005 – 06/2009 Bảng 2.2: Số lƣợng và công suất thiết kế các nhà máy chế biến cá tra trong
http://svnckh.com.vn

14 16 24

25 26 26 27

28 29

30 31 32 33

34 35

36

36

38

42 46

5

vùng 2000 – 2007 Bảng 2.3: Nhu cầu nguyên liệu chế biến xuất khẩu giai đoạn 2000 - 2007 Bảng 2.4: Bảng sản lƣợng và kim ngạch xuất khẩu cá tra giai đoạn 2000 2007 Hình 2.5: Đồ thị sản lƣợng và kim ngạch cá tra, giai đoạn 2000 – 2008 Hình 2.6: Biểu đồ cơ cấu thị trƣờng xuất khẩu cá tra của Việt Nam năm 2008 Hình 3.1: HTX đóng vai trò là “Ngƣời đại lý trữ hàng”của các cơ sở nuôi trồng và giao hàng theo kiện cá nguyên liệu cho Doanh nghiệp chế biến Hình 3.2. Mô hình chuỗi cung ứng đề xuất cho hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu ở ĐBSCL. 69 66 48 49 46 48

MỤC LỤC
MỤC LỤC ........................................................................................................................... 6 LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................................................... 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ XÂY DỰNG CHUỖI CUNG ỨNG ....................................................................................................... 15 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHUỖI CUNG ỨNG (SUPPLY CHAIN) ................ 15 Khái niệm chuỗi cung ứng ........................................................................................... 15 Cấu trúc và các thành phần chuỗi cung ứng ........................................................... 18 Xu hƣớng phát triển của chuỗi cung ứng ................................................................. 24

1.1.1 1.1.2 1.1.3 1.2

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÂY DỰNG CHUỖI CUNG ỨNG .......................... 26 Sự cần thiết của việc xây dựng chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp .................. 26 Xây dựng chuỗi cung ứng ............................................................................................ 30

1.2.1 1.2.2

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .................................................................................................. 47
http://svnckh.com.vn

6

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT CÁ TRA XUẤT KHẨU Ở KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ........................................... 49 2.1. 2.2. TỔNG QUAN VỀ VỊ TRÍ NGÀNH SẢN XUẤT CÁ TRA XUẤT KHẨU KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH SẢN XUẤT CÁ TRA XUẤT Ngành nuôi trồng cá tra ................................................................................................ 50 Các ngành cung ứng khác ............................................................................................ 52 Ngành chế biến cá tra .................................................................................................... 55 Hoạt động xuất khẩu cá tra .......................................................................................... 57 Thực trạng sự liên kết giữa các khâu trong quá trình sản xuất cá tra xuất CỦA KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG (ĐBSCL) .................................... 49 KHẨU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG .................................................................... 50 2.2.1 2.2.2 2.2.3 2.2.4 2.2.5

khẩu ở Đồng bằng sông Cửu Long ............................................................................................ 59 2.3 ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA MÔ HÌNH HỢP NHẤT THEO NGÀNH DỌC .............................................................................................................................. 2.3.1 2.3.2 Ƣu điểm của mô hình hợp nhất theo ngành dọc .................................................... 65 Hạn chế của mô hình hợp nhất theo ngành dọc ..................................................... 65

64

2.4 ĐIỂM MẠNH, ĐIỂM YẾU, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNH SẢN XUẤT CÁ TRA XUẤT KHẨU CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ........................................................................................................................................ 66 2.4.1 2.4.2 2.4.3 2.4.4 Điểm mạnh ....................................................................................................................... 67 Điểm yếu........................................................................................................................... 67 Cơ hội ................................................................................................................................ 68 Thách thức ........................................................................................................................ 69

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 .................................................................................................. 71 CHƢƠNG 3: ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG CHUỖI CUNG ỨNG MẶT HÀNG CÁ TRA XUẤT KHẨU Ở KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ..................... 72
3.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHUỖI CUNG ỨNG MẶT HÀNG CÁ TRA XUẤT KHẨU KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ........ 72
http://svnckh.com.vn

7

3.1.1 3.1.2

Xây dựng mô hình chuỗi cung ứng sẽ khắc phục những hạn chế do mô Xây dựng chuỗi cung ứng liên kết các thành phần tham gia vào quá

hình hợp nhất theo ngành dọc tạo ra. ........................................................................................ 72 trình sản xuất, cung ứng là cơ sở để giải quyết tốt những tồn tại, hạn chế trong hoạt động sản xuất cá tra khu vực ĐBSCL, đảm bảo đƣa hoạt động sản xuất cá tra đi vào ổn định............................................................................................................................ 73 3.1.3 Xây dựng chuỗi cung ứng mặt hàng sản xuất cá tra xuất khẩu làm tăng tính cạnh tranh, củng cố vị trí thƣơng hiệu của sản phẩm và đƣợc coi là chiến lƣợc phát triển ngành phù hợp với xu hƣớng phát triển tất yếu. ....................................... 74 3.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM CÁ TRA XUẤT KHẨU ....................................................................................................................................... 75 3.3 MÔ HÌNH CHUỖI CUNG ỨNG ĐỀ XUẤT CHO HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT CÁ TRA XUẤT KHẨU Ở KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG. ....................................................................................................................................... 76 3.3.1 3.3.2 3.3.3 3.3.4 3.3.5 Các thành phần chính tham gia vào chuỗi cung ứng ............................................ 76 Lựa chọn hình thức phân phối phù hợp với đặc thù của sản phẩm: ................. 77 Doanh nghiệp chế biến là ngƣời khới xƣớng và giữ vai trò chủ đạo Mô hình chuỗi cung ứng cá tra xuất khẩu ở khu vực ĐBSCL ........................... 80 Cơ chế hợp tác giữa các thành phần chính trong chuỗi cung ứng đề xuất ...... 82

trong chuỗi cung ứng. ................................................................................................................... 79

3.4 KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG HIỆU QUẢ MÔ HÌNH CHUỖI CUNG ỨNG CÁ TRA XUẤT KHẨU CỦA KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ............................................................................................................................. 90 3.4.1. 3.4.2. Nhóm giải pháp đối với các thành phần chính tham gia trong chuỗi ............... 91 Nhóm giải pháp vĩ mô................................................................................................... 93

KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 .................................................................................................. 96 KẾT LUẬN CHUNG ....................................................................................................... 97 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ 99 A. Tài liệu tiếng Việt ......................................................................................................... 99
http://svnckh.com.vn

8

B.

Tài liệu tiếng Anh ......................................................................................................... 99

PHỤ LỤC ........................................................................................................................ 100 Phụ lục 1: Bản đồ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ................................................... 100 Phụ lục 2: Giải thích một số thuật ngữ về tiêu chuẩn VSATTP ...................................... 101 Phụ lục 3: Quyết định số 102/2008/QĐ-BNN ................................................................... 101

LỜI NÓI ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Ngành thủy sản là một trong những ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, đóng góp từ 8 – 10% giá trị xuất khẩu và khoảng 6% GDP của cả nƣớc trong giai đoạn từ 2001 đến nay. Từ vị trí gần nhƣ vô danh, Việt Nam đã lọt vào nhóm 10 thế giới về xuất khẩu, và đến năm 2007, sau một năm gia nhập vào WTO, thủy sản Việt Nam đã leo lên vị trí thứ 8 trong 10 nƣớc xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới. Sự

http://svnckh.com.vn

9

thành công của thủy sản Việt Nam không thể không nhắc đến cá tra1. Chỉ trong vòng 10 năm (1998 – 2008), từ một loài cá nội địa không tên tuổi cá tra đã trở thành một sản phẩm chiến lƣợc của Việt Nam, đóng góp khoảng 2% GDP cho đất nƣớc, với sản lƣợng nuôi tăng 50 lần, vƣợt 1,2 triệu tấn, giá trị xuất khẩu tăng 65 lần, đạt gần 1,5 tỷ USD mỗi năm và xuất khẩu tới 126 quốc gia trên thế giới 2. Sự phát triển nhảy vọt của ngành sản xuất cá tra đƣợc các chuyên gia quốc tế thán phục là “thần kỳ”. Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực có những lợi thế mà ít các khu vực khác trên thế giới có đƣợc về sản xuất cá tra. Sản lƣợng cá tra ở Đồng bằng sông Cửu Long đã đƣa Việt Nam trở thành nƣớc có sản lƣợng cá tra hàng đầu trên thế giới, những sản phẩm cá tra cũng Việt Nam đang trở nên phổ biến với ngƣời tiêu dùng quốc tế. Tuy nhiên, sự phát triển quá nóng của ngành sản xuất cá tra ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã đặt ra nhiều vấn đề, nhƣ: tính tự phát, thiếu quy hoạch trong nuôi trồng và chế biến dẫn đến sự thiếu ổn định trong cung cầu nguyên liệu, không đảm bảo các tiêu chuẩn chất lƣợng vệ sinh an toàn thực phẩm, khó truy xuất nguồn gốc (traceability) cũng nhƣ mâu thuẫn lợi ích giữa ngƣời nuôi trồng và doanh nghiệp chế biến cùng những thách thức trong việc liên kết các khâu trong chuỗi cung ứng… Những thách thức này không đƣợc giải quyết sớm sẽ có ảnh hƣởng xấu đến hình ảnh con cá tra của Việt Nam trên trƣờng quốc tế. Nhận thấy đƣợc những thách thức và lợi thế cạnh tranh cũng nhƣ tầm quan trọng của cá tra, ngày 18/03/2009 vừa qua, Thủ tƣớng Nguyễn Tấn Dũng đã chí đạo các bộ ngành liên quan và VASEP khẩn trƣơng xây dựng đề án Phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra đến năm 2020, nhằm đƣa cá tra trở thành ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Đất nƣớc. Đây cũng chính là lý do tại sao mà nhóm nghiên cứu đã lựa chọn chuỗi cung ứng cá tra xuất khẩu là đối tƣợng nghiên cứu và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là giới hạn địa lý.

1

Cá basa (Pangasius bocourt) là một loài thuộc họ cá tra, do đó trong các báo cáo nghiên cứu thì cá tra, cá basa đều đƣợc gọi chung là cá tra. Do vậy trong bài nghiên cứu này chúng tôi gọi chung đây là mặt hàng cá tra. 2 Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng – Tạp chí Thƣơng mại thủy sản số 112 – tháng 04/2009
http://svnckh.com.vn

10

Xu hƣớng toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của thƣơng mại quốc tế, đặc biệt là sự hình thành lý thuyết về xây dựng và quản trị chuỗi cung ứng đang đặt ra cho các nền kinh tế xét từ góc độ vĩ mô những thách thức về kiểm soát và tích hợp dòng chảy hàng hóa, thông tin và tài chính một cách hiệu quả. Vì thế, việc xây dựng một chuỗi cung ứng hoạt động hiệu quả cho ngành sản xuất cá tra xuất khẩu là một bƣớc đi tất yếu, nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất cá tra ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cũng nhƣ tạo ra sức đề kháng vững chắc cho mặt hàng chủ lực này trong xu thế cạnh tranh ngày càng khốc liệt, những yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn chất lƣợng sản phẩm và sự bảo hộ tinh vi đang đƣợc các nƣớc phát triển áp dụng. Ở Việt Nam, chuỗi cung ứng còn là khái niệm khá mới mẻ, chƣa đƣợc coi trọng nhƣ ở các nƣớc phát triển trên thế giới. Mô hình hợp nhất theo ngành dọc trong quá trình sản xuất cá tra mà các doanh nghiệp đang áp dụng đã bộc lộ nhiều hạn chế và tính thiếu bền vững. Việc ứng dụng lý thuyết chuỗi cung ứng để xây dựng mô hình chuỗi cung ứng (liên kết dọc) đối với mặt hàng cá tra xuất khẩu sẽ giúp khắc phục những hạn chế do mô hình hợp nhất theo ngành dọc, đồng thời đây cũng là mô hình giúp cho các doanh nghiệp đáp ứng tốt nhât nhu cầu của khách hàng với một chi phí nhỏ nhất, phù hợp với xu hƣớng chuyên môn hóa theo hƣớng hiện đại, và quả thực đó là mô hình hiệu quả trong chiến lƣợc đƣa cá tra trở thành mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu sẽ đạt 3 tỷ USD. Với tất cả những lý do trên, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài “Xây dựng chuỗi cung ứng mặt hàng cá tra xuất khẩu ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long” làm đề tài nghiên cứu khoa học cho công trình tham dự cuộc thi “Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2009” do Trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng tổ chức. 2. 2.1 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Mục tiêu nghiên cứu: Vận dụng lý thuyết về xây dựng chuỗi cung ứng từ đó đề xuất giải pháp xây dựng chuỗi cung ứng mặt hàng cá tra xuất khẩu của khu vực đồng bằng sông Cửu Long. 2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
http://svnckh.com.vn

11

Trên cơ sở tìm hiểu lý thuyết chuỗi cung ứng, phân tích thực trạng hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu, đánh giá mối liên kết giữa các thành phần tham gia cũng nhƣ điểm mạnh điểm yếu của mô hình sản xuất cá tra xuất khẩu hiện tại ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, từ đó đề xuất giải pháp xây dựng thành công chuỗi cung ứng mặt hàng cá tra xuất khẩu ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long 3. 3.1 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tƣợng nghiên cứu: Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là mô hình chuỗi cung ứng cá tra xuất khẩu ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. 3.2 Phạm vi nghiên cứu Không gian nghiên cứu là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Thời gian nghiên cứu giới hạn trong khoảng từ năm 2000 đến nay. Trong đó tập trung vào khoảng thời gian sau năm 20033 đến đầu năm 2009. Năm 2003 là mốc thời gian quan trọng đánh dấu sự phát triển mạnh của hoạt động xuất khẩu cá tra cả về số lƣợng, kim ngạch lẫn vị thế. 3.3 Những giả định nghiên cứu Chuỗi cung ứng đƣợc xây dựng trong điều kiện ổn định, không chịu ảnh hƣởng của các biến động kinh tế, chính trị, xã hội. Hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu chỉ đƣợc xét trong phạm vi bốn thành phần chính: ngƣời sản xuất con giống, ngƣời nuôi trồng, ngƣời sản xuất và thị trƣờng xuất khẩu. Tuy nhiên không gian của chuỗi cung ứng chỉ giới hạn đến cầu cảng/sân bay. Các thị trƣờng xuất khẩu đƣợc xem nhƣ là ngƣời tiêu dùng cuối cùng của ngành sản xuất cá tra xuất khẩu. Doanh nghiệp chế biến thủy sản đƣợc lấy làm trung tâm nghiên cứu. Chuỗi cung ứng sản xuất cá tra xuất khẩu chỉ là chuỗi cung ứng sản xuất đơn, chứ không tham gia vào mạng lƣới chuỗi cung ứng. 4. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Đề tài sẽ lần lƣợt trả lời các câu hỏi:

3

Năm 2003, diễn ra vụ kiện bán phá giá cá tra sang thị trƣờng Hoa Kỳ. Sau năm 2003, xuất khẩu cá tra của Việt Nam tăng mạnh do mở rộng sang các thị trƣờng khác nhƣ EU, Đông Âu…
http://svnckh.com.vn

12

-

Chuỗi cung ứng là gì? Cơ cấu và các yếu tố dẫn dắt chuỗi cung ứng? Xu Thực trạng của hoạt động của ngành sản xuất cá tra xuất khẩu ở khu vực

hƣớng phát triển của chuỗi cung ứng? Đồng bằng sông Cửu Long trong những năm gần đây là gì? Ƣu và nhƣợc điểm cũng nhƣ tính bền vững của mô hình hợp nhất theo ngành dọc mà một số doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu đang áp dụng? Mô hình phân phối nào trong chuỗi cung ứng phù hợp với đặc điểm của ngành xuất khẩu cá tra? Với mô hình đó, ngành đã có những cơ sở gì, và thiếu những cơ sở gì để có thể triển khai mô hình một cách hiệu quả? Những giải pháp nào giúp cho mô hình chuỗi cung ứng cá tra xuất khẩu ở khu vực ĐBSCL hoạt động một cách hiệu quả? 5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đề tài áp dụng phƣơng pháp nghiên cứu ứng dụng. Bên cạnh đó, các phƣơng pháp nghiên cứu phân tích, phƣơng pháp so sánh cũng đƣợc sử dụng nêu bật những ƣu điểm của mô hình chuỗi cung ứng (liên kết theo chuỗi) so với mô hình hợp nhất hóa theo ngành dọc cũng nhƣ sự lựa chọn chủ thể khởi xƣớng và đóng vai trò chủ đạo trong chuỗi cung ứng, lựa chọn mô hình cung ứng phù hợp với đặc điểm của ngành sản xuất cá tra xuất khẩu. 6. NGUỒN SỐ LIỆU Nguồn số liệu thứ cấp trong các năm từ 2000 đến nay đƣợc thu thập từ: Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), Trung tâm khoa học – thông tin – kinh tế thủy sản, Cục nuôi trồng thủy sản – Bộ NN&PTNT, Đề án sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020. 7. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ KIẾN Trƣớc hết, bài nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ khái niệm và cấu trúc của chuỗi cung ứng, cũng nhƣ các mô hình xây dựng mạng lƣới cung ứng. Tiếp đó, đƣa ra một mô hình hiệu quả và phù hợp với thực trạng hiện tại của ngành sản xuất cá tra xuất khẩu. Dựa trên cơ sở đó, bài nghiên cứu có thể kiến nghị bổ sung, xây dựng thêm hoặc củng cố những cơ sở còn thiếu hoặc chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của mô hình, nhằm mục đích hoàn thiện chuỗi cung ứng cá tra xuất khẩu tại Việt Nam.
http://svnckh.com.vn

13

8.

CÁC BƢỚC MỞ RỘNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO Mô hình chuỗi cung ứng có thể đƣợc phát triển hƣớng đến một thị trƣờng

nhất định, nhƣ EU hay Bắc Mỹ, tức là vƣợt qua giới hạn không gian về cầu cảng/ sân bay (phụ thuộc vào đặc điểm của từng thị trƣờng về thị hiếu, phân phối…) Mặt khác, mô hình chuỗi cung ứng trong điều kiện ổn định sẽ là cơ sở để xem xét và so sánh trong trƣờng hợp có những bất ổn định về kinh tế, chính trị hay các nhân tố khác. Một khi các chuỗi cung ứng đã đƣợc xây dựng và phát triển mạnh trong ngành xuất khẩu cá tra, chúng ta có thể xem xét tiếp đến hoạt động đan xen giữa các mạng lƣới khác nhau trong cùng ngành, hay là mạng lƣới phân phối. Việc hoàn thiện chuỗi cung ứng cho mặt hàng cá tra sẽ là tiền đề quan trọng để có thể nhân rộng sang những mặt hàng thủy sản xuất khẩu khác nhƣ tôm, mực, cá ngừ…, và xa hơn là sang những mặt hàng nông sản vốn là thế mạnh của Việt Nam. 9. KẾT CẤU ĐỀ TÀI Ngoài Mục lục, Các ký hiệu viết tắt, Danh mục các bảng biểu số liệu, Lời nói đầu, Kết luận, Phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc kết cấu thành ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về chuỗi cung ứng và xây dựng chuỗi cung ứng Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu ở Đồng Bằng sông Cửu Long Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp xây dựng chuỗi cung ứng cá tra xuất khẩu ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

http://svnckh.com.vn

14

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ XÂY DỰNG CHUỖI CUNG ỨNG
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHUỖI CUNG ỨNG (SUPPLY CHAIN) 1.1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng 1.1.1.1Một số định nghĩa về chuỗi cung ứng (Supply Chain) Thuật ngữ “quản lý chuỗi cung ứng” xuất hiện cuối những năm 1980 và trở nên phổ biến trong những năm 1990. Trƣớc đó, các công ty sử dụng các thuật ngữ nhƣ “hậu cần” (logistics) và “quản lý các hoạt động” (Operations management). Dƣới đây là một vài định nghĩa về chuỗi cung ứng: “Chuỗi cung ứng là sự liên kết các công ty nhằm đƣa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trƣờng” – “Fundaments of Logistics Management” của Lambert, Stock và Ellram (1998, Boston MA: Irwin/McGraw – Hill, c.14) “Chuỗi cung ứng là một mạng lƣới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán sản phẩm, thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng” “An introduction to supply chain management” Ganesham, Ran and Terry P. Harrison, 1995 “Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn bao gồm cả nhà vận chuyển, kho bãi, ngƣời bán lẻ và bản thân khách hàng. Trong mỗi tổ chức, nhƣ nhà sản xuất, chuỗi cung ứng bao gồm (nhƣng không giới hạn) việc phát triển sản phẩm mới, marketing, điều hành sản xuất, phân phối, tài chính và dịch vụ khách hàng.” – (Supply chain management: Strategy, planning and operation”, tác giả Sunil Chopra và Peter Meindl, 2001, Upper Saddle Riverm NI: Prentice Hall C1.) Nhìn chung, các khái niệm trên đều quan niệm rằng chuỗi cung ứng là sự liên kết các công ty ở các giai đoạn từ cung ứng nguyên vật liệu đầu vào cho đến chế
http://svnckh.com.vn

15

biến và cung cấp sản phẩm tới ngƣời tiêu dùng. Trong khái niệm mà Sunil Chopra và Peter Meindl đƣa ra cụ thể và đẩy đủ hơn, ta thấy trong chuỗi cung ứng có các doanh nghiệp đóng vai trò trực tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhƣ các nhà sản xuất, nhà cung cấp, phân phối và cũng có rất nhiều doanh nghiệp khác liên quan một cách gián tiếp đến hầu hết các chuỗi cung ứng, và các doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối sản phẩm cuối cùng cho khách hàng. Họ chính là các nhà cung cấp dịch vụ, chẳng hạn nhƣ các công ty vận tải, các nhà cung cấp hệ thống thông tin, các công ty kinh doanh kho bãi, các hãng môi giới vận tải, các đại lý và các nhà tƣ vấn. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ này đặc biệt hữu ích đối với các doanh nghiệp trong đa số chuỗi cung ứng, vì họ có thể cho phép doanh nghiệp phục vụ tốt khách hàng với chi phí thấp nhất có thể. Về mặt lý thuyết, việc tích hợp chuỗi cung ứng cho phép tổ chức tập trung vào việc thực hiện một vài công đoạn mà tổ chức, doanh nghiệp mình có thế mạnh. Sau đó các hoạt động không chủ yếu đƣợc chuyển sang cho kênh khác chuyên biệt hơn. Đến một lúc nào đó thì mối quan hệ khăng khít đƣợc lập lên nhằm đảm bảo cho cho công việc đạt kết quả tốt nhất. Trên thực tế, đó là các mắt xích bao gồm các nhà cung ứng, nhà sản phối sản phẩm tốt nhất đến ngƣời tiêu dùng. Những mắt xích này sau đó hình thành nên chuỗi cung ứng tích hợp đủ sức cạnh tranh với chuỗi cung ứng của doanh nghiệp khác. Trong chuỗi cung ứng, chỉ có một nguồn duy nhất tạo ra lợi nhuận cho toàn chuỗi đó là khách hàng cuối cùng. Khi các doanh nghiệp riêng lẻ trong chuỗi cung ứng ra các quyết định kinh doanh mà không quan tâm đến các thành viên khác trong chuỗi, điều này rốt cuộc dẫn đến giá bán cho khách hàng cuối cùng là rất cao, mức phục vụ chuỗi cung ứng thấp, do đó làm giảm nhu cầu ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Trong một chuỗi cung ứng có ba dòng chảy chính đó là: dòng chảy hàng hóa, dòng chảy thông tin, và dòng chảy tài chính. Và một chuỗi cung ứng hoạt động tốt khi ba dòng chảy trên vận hành một cách xuyên suốt, không bị gián đoạn. Thứ nhất, dòng hàng hóa là luồng nguyên vật liệu từ nhà cung cấp tới nhà sản xuất, và luồng sản phẩm dịch vụ từ nhà sản xuất tới khách hàng. Một khi dòng hàng hóa vận chuyển trong chuỗi một cách liên tục, không bị gián đoạn (tức là hàng tồn
http://svnckh.com.vn

16

kho của doanh nghiệp thấp) khi đó doanh nghiệp sẽ cắt giảm đƣợc chi phí tồn kho. Tùy đặc điểm của mỗi loại mặt hàng, mỗi thị trƣờng mà doanh nghiệp sẽ để mức tồn kho phù hợp, sao cho luồng hàng hóa vận chuyển một cách liên tục nhất có thể, cắt giảm đƣợc chi phí, tăng lợi nhuận cho toàn bộ chuỗi. Thứ hai, dòng thông tin là dòng thông tin trao đổi giữa các mắt xích trong chuỗi, những phản hồi từ khách hàng và các đơn vị trong chuỗi. Dòng thông tin trong chuỗi cung ứng có vai trò vô cùng quan trọng, đây là nền tảng để đƣa ra quyết định liên quan đến kế hoạch sản xuất, kết nối tất cả các hoạt động trong chuỗi cung ứng. Khi thông tin chính xác, kịp thời và đầy đủ thì các mắt xích trong chuỗi sẽ có các quyết định càng chuẩn xác. Thông tin từ cung cầu sản phẩm, phản hồi từ khách hàng, dự báo thị trƣờng và kế hoạch sản xuất đƣợc các thành phần trong chuỗi chia sẻ với nhau càng nhiều thì chuỗi sẽ đáp ứng càng nhanh và càng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng tốt hơn. Thứ ba đó là dòng tài chính: Đi ngƣợc với dòng hàng hóa từ nhà cung cấp tới khách hàng là dòng tài chính. Đó chính là luồng tài chính từ ngƣời mua tới ngƣời bán hoặc dòng tài chính mà các thành phần trong chuỗi hỗ trợ, chia sẻ cho nhau vay… Dòng tài chính lƣu thông càng nhanh thì hiệu quả của chuỗi cung ứng càng tăng, giảm thiểu chi phí do bị gián đoạn dòng lƣu chuyển tiền tệ. Trong thời đại ngày nay, chuỗi cung ứng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Bởi lẽ khi doanh nghiệp bƣớc vào qu

bối cảnh cạnh tranh khốc liệt ở thị trƣờng toàn cầu hiện nay, sản phẩm mới có chu kỳ sống ngày càng ngắn hơn, cùng với mức độ kỳ vọng ngày càng cao của khách hàng đã thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tƣ và tập trung nhiều vào chuỗi cung ứng. Xây dựng chuỗi cung ứng không chỉ là chiến lƣợc đối với các doanh nghiệp mà chuỗi cung ứng còn là chiến lƣợc để các ngành kinh tế của các quốc gia áp dụng để sản xuất hàng hóa trên quy mô lớn, phát triển sự chuyên môn hóa, tăng cƣờng khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng quốc tế. 1.1.1.2Mục tiêu của chuỗi cung ứng
http://svnckh.com.vn

17

Mục tiêu của mỗi chuỗi cung ứng là tối đa hóa giá trị tạo ra của toàn hệ thống. Để tối đa hóa giá trị tạo ra trên toàn hệ thống này đòi hỏi các nhà quản trị phải tối thiểu hóa tổng chi phí của toàn hệ thống từ khâu vận chuyển, phân phối đến tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho trong sản xuất và thành phẩm. Giá trị tạo ra của chuỗi cung cấp là sự khác biệt giữa giá trị của sản phẩm cuối cùng đối với khách hàng và nỗ lực mà chuỗi cung cấp dùng vào việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Đối với đa số các chuỗi cung ứng thƣơng mại, giá trị liên quan mật thiết đến lợi ích của chuỗi cung ứng, sự khác biệt giữa doanh thu mà khách hàng phải trả cho công ty đối với việc sử dụng sản phẩm và tổng chi phí của cả chuỗi cung ứng. Lợi nhuận của chuỗi cung ứng là tổng lợi nhuận đƣợc chia sẻ xuyên suốt chuỗi. Lợi nhuận của chuỗi cung ứng càng cao chứng tỏ sự thành công của chuỗi cung cấp càng lớn. Chuỗi cung ứng bao gồm các công ty liên kết lại với nhau nhằm đƣa sản phẩm dịch vụ tới ngƣời tiêu dùng, thỏa mãn tốt nhất nhu cầu ngƣời tiêu dùng, do đó thành công của chuỗi cung ứng nên đƣợc đo lƣờng dƣới góc độ lợi nhuận của chuỗi chứ không phải đo lƣợng lợi nhuận ở mỗi giai đoạn riêng lẻ. Vì vậy, trọng tâm không chỉ đơn giản là việc giảm thiểu đến mức thấp nhất chi phí vận chuyển hoặc cắt giảm tồn kho mà hơn thế nữa chính là vận dụng cách tiếp cận hệ thống vào chuỗi cung ứng. 1.1.2 Cấu trúc và các thành phần chuỗi cung ứng 1.1.2.1Các yếu tố dẫn dắt chuỗi cung ứng Đặc điểm của mỗi chuỗi cung ứng các sản phẩm khác nhau thì khác nhau và chúng gặp phải những thách thức và hƣớng tới những kiểu nhu cầu thị trƣờng khác nhau. Tuy nhiên, bất kỳ một chuỗi cung ứng nào cũng sẽ gặp phải các vấn đề cơ bản giống nhau - các thành phần cơ bản của một chuỗi cung ứng. Dây chuyền cung ứng đƣợc cấu tạo từ 5 thành phần cơ bản, bao gồm: Sản xuất, hàng tồn kho, định vị, vận chuyển và thông tin. Sản xuất: là năng lực của chuỗi cung ứng để sản xuất và tồn trữ sản phẩm. Các phƣơng tiện sản xuất là các nhà máy và kho. Các quyết định của doanh nghiệp sẽ phải trả lời cho các câu hỏi: thị trƣờng muốn loại sản phẩm nào? Cần sản xuất bao nhiêu loại sản phẩm và khi nào? Hoạt động này bao gồm việc lập kế hoạch sản

http://svnckh.com.vn

18

xuất chính theo công suất nhà máy, cân đối công việc, quản lý chất lƣợng và bảo trì thiết bị Hàng tồn kho: Hàng tồn kho có mặt trong suốt chuỗi cung ứng và bao gồm từ nguyên liệu đến bán thành phẩm, đến thành phẩm đƣợc các nhà sản xuất, nhà phân phối và nhà bán lẻ trong chuỗi cung ứng nắm giữ. Chức năng của hàng tồn là bộ phận giảm xóc cho tình trạng bất định trong chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp sẽ phải quyết định khi cân nhắc giữa tính sẵn sàng đáp ứng với tính hiệu quả. Tồn kho một lƣợng hàng lớn cho phép chuỗi cung ứng đáp ứng nhanh với những thay đổi về nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, việc sản xuất và lƣu trữ bảo quản hàng tồn kho tốn kém. Tồn kho cũng phụ thuộc vào đặc tính bảo quản lƣu kho, vòng đời của nguyên liệu, bán thành phẩm và thành phẩm. Trong một chuỗi cung ứng, doanh nghiệp thƣờng phải trả lời các câu hỏi sau: Ở mỗi giai đoạn trong một chuỗi cung ứng cần tồn kho những mặt hàng nào? Cần dự trữ bao nhiêu nguyên liệu, bán thành phẩm hay thành phẩm? Định vị (vị trí): Định vị là việc chọn địa điểm về mặt địa lý của các phƣơng tiện của chuỗi cung ứng bao gồm các quyết định liên quan đến những hoạt động cần đƣợc thực hiện của từng phƣơng tiện. Ở đây, sự cân nhắc giữa tính đáp ứng nhanh với tính hiệu quả đƣợc thể hiện ở quyết định tập trung các hoạt động ở một vài vị trí nhằm giảm đƣợc chi phí nhờ quy mô và hiệu quả, hay phân bố các hoạt động ra nhiều vị trí gần với khách hàng và nhà cung cấp để hoạt động đáp ứng nhanh hơn. Các quyết định về định vị phụ thuộc vào các nhân tố: chi phí phƣơng tiện, chi phí nhân công, kỹ năng sẵn có của lực lƣợng lao động, các điều kiện cơ sở hạ tầng, thuế và thuế quan, và sự gần gũi với các nhà cung cấp và khách hàng. Các quyết định này có tác động mạnh mẽ đến các chi phí và đặc tính của chuỗi cung ứng, đồng thời cũng phản ánh chiến lƣợc cơ bản của doanh nghiệp trong việc xây dựng và phân phối sản phẩm ra thị trƣờng. Vận chuyển: Vận chuyển là việc di chuyển mọi thứ từ nguyên vật liệu cho đến thành phẩm giữa các điều kiện khác nhau trong chuỗi cung ứng. Trong vận chuyển sự cân nhắc là giữa tính đáp ứng nhanh với tính hiệu quả đƣợc thể hiện qua việc chọn lựa phƣơng thức vận chuyển. Thông thƣờng có 6 phƣơng thức vận chuyển cơ bản mà doanh nghiệp có thể lựa chọn:
http://svnckh.com.vn

19

Đƣờng biển: giá thành rẻ, thời gian vận chuyển dài, bị giới hạn về địa điểm giao nhận (cảng biển). Đƣờng sắt: giá thành rẻ, thời gian trung bình, bị giới hạn về địa điểm giao nhận. Đƣờng bộ: nhanh, thuận tiện. Đƣờng hàng không: là phƣơng thức vận chuyển và đáp ứng nhanh, nhƣng giá thành cao, có phần bị giới hạn bởi tính sẵn có của các sân bay thích hợp. Dạng điện tử: là cách vận chuyển nhanh nhất và rất linh hoạt, giá thành rẻ, tuy nhiên bị giới hạn về loại hàng hoá vận chuyển (dữ liệu, âm thanh, hình ảnh…) Đƣờng ống: là phƣơng thức tƣơng đối hiệu quả nhƣng bị giới hạn loại hàng hoá (chất lỏng, chất khí…) Với các cách thức vận chuyển có các đặc thù, ƣu nhƣợc điểm khác nhau, vì vậy các nhà quản lý cần lập ra lộ trình và mạng lƣới di chuyển sản phẩm dựa trên nguyên tắc chung là giá trị sản phẩm càng cao (nhƣ mặt hàng điện tử, dƣợc phẩm,) mạng lƣới vận chuyển càng nhấn mạnh tính đáp ứng nhanh và giá trị sản phẩm thấp có thể bảo quản lâu (nhƣ gạo, gỗ…) thì mạng lƣới vận chuyển càng nhấn mạnh đến tính hiệu quả. Thông tin: Thông tin là nền tảng đƣa ra quyết định liên quan đến bốn yếu tố dẫn dắt chuỗi cung ứng đã đề cập ở trên, là sự kết nối giữa tất cả các hoạt động và hoạt động sản xuất trong chuỗi cung ứng. Khi sự kết nối này là một sự kết nối vững chắc (tức là thông tin chính xác, kịp thời và đầy đủ), các mắt xích trong chuỗi cung ứng sẽ có các quyết định chính xác cho hoạt động riêng của họ. Đây cũng là xu hƣớng tối đa hóa tính lợi nhuận toàn chuỗi cung ứng. Trong bất kỳ chuỗi cung ứng nào, thông tin đều đƣợc sử dụng vì hai mục đích chính. Thứ nhất, thông tin dử dụng để phối hợp các hoạt động hàng ngày (quyết định kế hoạch sản xuất, mức tồn kho, lộ trình vận chuyển, và vị trí lƣu trữ). Thứ hai, thông tin dùng để tiên đoán và lập kế hoạch sản xuất dài hạn và thỏa mãn nhu cầu tƣơng lai, đặc biệt trong việc rút lui khỏi thị trƣờng cũ hay thâm nhập thị trƣờng mới. Xét về tổng thể chuỗi cung ứng, sự cân nhắc giữa tính đáp ứng nhanh với tính hiệu quả mà các công ty thực hiện là một trong các quyết định về lƣợng thông tin có thể chia sẻ với các đối tác khác trong chuỗi và lƣợng thông tin phải giữ bí mật. Thông tin về cung cầu sản
http://svnckh.com.vn

20

phẩm, phản hồi từ khách hàng, dự báo thị trƣờng và kế hoạch sản xuất mà các công ty chia sẻ với nhau càng nhiều thì chuỗi cung ứng đáp ứng càng nhanh. Tuy nhiên, công khai thông tin thế nào là hợp lý để tránh bị tiết lộ cho đối thủ cạnh tranh là một vấn đề mà các đối tác trong chuỗi cần lƣu ý. Hình 1.1 Sơ đồ năm yếu tố dẫn dắt chủ yếu của một chuỗi cung ứng 2. HÀNG TỒN KHO Sản xuất bao nhiêu? Trữ kho bao nhiêu? 5. THÔNG TIN Cơ sở để ra quyết định 4. VẬN CHUYỂN Chuyên chở sản phẩm bằng cách nào? Khi nào? 3. VỊ TRÍ Nơi nào tốt nhất cho hoạt động nào?

1. SẢN XUẤT Sản xuất cái gì? Bằng cách nào? Khi nào?

TÍNH ĐÁP ỨNG NHANH và TÍNH HIỆU QUẢ
Sự kết hợp hoàn hảo giữa tính đáp ứng nhanh và tính hiệu quả trong từng yếu tố dẫn dắt cho phép một chuỗi cung ứng “tăng đầu vào đồng thời giảm hàng tồn kho và chi phí sản xuất”

1.1.2.2 Cơ cấu chuỗi cung ứng Xu hƣớng toàn cầu hóa, các thị trƣờng cạnh tranh gay gắt, và tốc độ thay đổi kỹ thuật chóng mặt ngày nay đang điều khiển sự phát triển của chuỗi cung ứng, nơi có nhiều các mắt xích, mỗi mắt xích tập trung vào các hoạt động mà nó làm tốt nhất (tính chuyên môn hóa cao). Trong thực tế, có hai kiểu mô hình chuỗi cung ứng: mô hình chuỗi cung ứng đơn giản nhất và mô hình chuỗi cung ứng mở rộng. Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản nhất bao gồm một doanh nghiệp và các nhà cung cấp, khách hàng. Đây là ba nhóm mắt xích cơ bản tạo nên một chuỗi cung ứng

http://svnckh.com.vn

21

Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng (phức tạp) ngoài ba mắt xích đã xuất hiện ở chuỗi cung ứng đơn giản còn có thêm ba mắt xích thành viên nữa, đó là: nhà cung ứng của nhà cung ứng (nhà cung ứng cuối cùng tại điểm đầu của chuỗi cung ứng mở rộng), khách hàng của khách hàng (khách hàng cuối cùng tại điểm cuối của chuỗi cung ứng mở rộng), và cuối cùng là các công ty cung cấp dịch vụ cho các công ty khác trong chuỗi cung ứng. Đây là những công ty cung cấp dịch vụ hậu cần, tài chính, tiếp thị, và công nghệ thông tin. Các công ty cung cấp dịch vụ hậu cần tùy thuộc vào đặc điểm mỗi chuỗi khác nhau có thể có các công ty cung cấp dịch vụ khác nhau, ví dụ nhƣ chuỗi cung ứng mặt hàng thủy sản, ngoài các công ty cung cấp dịch vụ về tài chính, tiếp thị, nghiên cứu thị trƣờng còn có các công ty cung cấp dịch vụ thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi… Trong bất kỳ một chuỗi cung ứng luôn có sự kết hợp nhịp nhàng các thành phần (hay còn gọi là các mắt xích) trong chuỗi cung ứng, và mỗi mắt xích sẽ thực hiện chức năng khác nhau. Sau đây là các mắt xích điển hình trong chuỗi cung ứng Nhà sản xuất: Các nhà sản xuất hay chế biến là các công ty làm ra sản phẩm, gồm các nhà sản xuất nguyên liệu và các công ty sản xuất thành phẩm. Các nhà máy sản xuất thành phẩm sử dụng nguyên liệu và các sản phẩm gia công của các nhà sản xuất khác để làm ra sản phẩm. Sảm phẩm có thể là vô hình (dịch vụ), hữu hình (hàng hóa) Nhà phân phối: Nhà phân phối là các công ty mua lƣợng lớn sản phẩm từ các nhà sản xuất và phân phối các dòng sản phẩm cho khách hàng. Các nhà phân phối còn đƣợc gọi là các nhà bán buôn. Họ thƣờng bán cho các công ty, cửa hàng khác với số lƣợng lớn hơn so với lƣợng ngƣời tiêu dùng thông thƣờng mua. Một nhà phân phối đúng nghĩa là một công ty sở hữu các sản phẩm quan trọng mà họ mua từ nhà sản xuất và bán cho khách hàng. Cùng với việc hạ giá và khuyến mãi sản phẩm, các chức năng khác mà nhà phân phối thực hiện là quản lý hàng tồn kho, vận hành kho, và vận chuyển sản phẩm cũng nhƣ hỗ trợ khách hàng và dịch vụ hậu mãi. Một nhà phân phối cũng có thể là một nhà môi giới sản phẩm giữa nhà sản xuất và khách hàng và không bao giờ sở hữu sản phẩm. Nhà phân phối kiểu này chủ yếu thực hiện các chức năng khuyến mãi và hạ giá sản phẩm. Trong cả hai trƣờng hợp này, khi nhu cầu của khách hàng tiến triển và loại sản phẩm sẵn có
http://svnckh.com.vn

22

thay đổi, nhà phân phối là đại lý tiếp tục theo dõi nhu cầu khách hàng và làm cho chúng phù hợp với sản phẩm sẵn có. Nhà bán lẻ: Các nhà bán lẻ dự trữ hàng và bán với số lƣợng nhỏ hơn nơi công cộng. Các tổ chức bán lẻ cũng theo dõi thị hiếu và nhu cầu của khách hàng mà nó bán. Nhà bán lẻ quảng cáo tới khách hàng và thƣờng kết hợp giá, chọn lựa sản phẩm, dịch vụ và tiện ích nhƣ là yếu tố thu hút đối với sản phẩm mà nhà bán lẻ bán. Khách hàng: Khách hàng hay ngƣời tiêu dùng là bất kỳ công ty nào mua và sử dụng sản phẩm. Một khách hàng có thể mua sản phẩm để kết hợp nó với sản phẩm khác mà họ sẽ bán lại cho khách hàng khác. Hay một khách hàng có thể là ngƣời sử dụng cuối cùng sản phẩm. Nhà cung cấp dịch vụ: Đây là những công ty cung cấp dịch vụ cho các nhà sản xuất, phân phối, nhà bán lẻ, và khách hàng. Các nhà cung cấp dịch vụ phát triển chuyên môn và các kỹ năng đặc biệt nhằm tập trung vào một hoạt động đặc thù mà chuỗi cung ứng cần. Chính nhờ sự chuyên môn hóa này, các nhà cung cấp dịch vụ có thể thực hiện các dịch vụ hiệu quả hơn và ở một mức giá tốt hơn các nhà sản xuất, nhà bán lẻ, nhà phân phối, hay khách hàng tự làm. Hình 1.2: Cơ cấu chuỗi cung ứng Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản Nhà cung cấp Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng Nhà cung cấp cuối cùng Nhà cung cấp Nhà sản xuất Khách hàng Khách hàng cuối cùng Nhà sản xuất Khách hàng

Nhà cung ứng dịch vụ

http://svnckh.com.vn

23

1.1.3 Xu hƣớng phát triển của chuỗi cung ứng Lý thuyết chuỗi cung ứng mới chỉ xuất hiện vào những thập niên 80 của thế kỷ 20 trở lại đây, và đƣợc các doanh nghiệp coi nhƣ một chiến lƣợc cạnh tranh từ những năm 1990 trở lại đây, điển hình là các tập đoàn lớn ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Trƣớc khi lý thuyết chuỗi cung ứng phát triển, mô hình mà các doanh nghiệp hợp tác với nhau thƣờng theo quan hệ thị trƣờng đơn thuần hoặc là mô hình hợp nhất theo ngành dọc, cụ thể nhƣ sau: Quan hệ thị trƣờng đơn thuần tức là quan hệ mua – bán một cách thuần túy. Ví dụ Doanh nghiệp A sản xuất ra gà giống, bán gà giống cho doanh nghiệp B là doanh nghiệp chăn nuôi gà, doanh nghiệp B lại bán gà thịt cho những ngƣời tiêu dùng. Quan hệ ở đây là quan hệ mua bán thuần túy. Mô hình hợp nhất theo ngành dọc tức là kết hợp hai hay nhiều khâu trong quá trình sản xuất vào một chủ thể duy nhất. Các doanh nghiệp thƣờng đầu tƣ xây dựng khép kín các công đoạn của quá trình sản xuất. Trở lại ví dụ trên, do cung sản phẩm của doanh nghiệp thiếu ổn định hoặc vì mâu thuẫn lợi ích, nên doanh nghiệp B thay vì mua gà giống của doanh nghiệp A, thì doanh nghiệp B tự bỏ vốn đầu tƣ xây dựng cho mình cơ sở nuôi ấp gà giống, nhà máy thức ăn chăn nuôi và nhà máy chế biến. Nhƣ vậy, doanh nghiệp B đã kết hợp các giai đoạn trong quá trình sản xuất thịt gà vào một chủ thể là chính doanh nghiệp B. Với cách làm này, doanh nghiệp B có thể ổn định đƣợc nguồn cung nguyên liệu, giảm chi phí giao dịch, khắc phục khiếm khuyết của thị trƣờng… Tuy nhiên trải qua quá trình phát triển, các mô hình trên bộc lộ nhiều hạn chế và xuất hiện những rủi ro tiềm ẩn: nhƣ phải chia sẻ nguồn lực doanh nghiệp, không tận dụng tối đa nguồn lực, tính chuyên môn hóa chƣa cao, kém nhạy cảm với các biến cố, triệt tiêu tính cạnh tranh… Cộng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và quản lý tiên tiến, sự chuyên môn hóa và toàn cầu hóa cao trong quá trình sản xuất khiên các doanh nghiệp nhận ra rằng, mô hình chuỗi cung ứng (liên kết dọc) là mô hình hiệu quả nhất khắc phục đƣợc các nhƣợc điểm của mô hình hợp nhất theo ngành dọc và quan hệ thị trƣờng thuần túy, mô hình chuỗi cung ứng tận dụng tối đa
http://svnckh.com.vn

24

sự chuyên môn hóa cao độ, có thể đáp ứng nhu cầu khách hàng tốt hơn trong một khoảng thời gian ngắn hơn, lợi nhuận thu về cao hơn… Và từ những năm 1990 trở lại đây, chuỗi cung ứng đã đóng một vai trò quan trọng trong chiến lƣợc phát triển của các doanh nghiệp. Xu hƣớng toàn cầu hóa và sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã giúp thế giới trở nên “phẳng” hơn, chuỗi cung ứng trên quy mô toàn cầu, không chỉ bó hẹp trong phạm vi của một quốc gia hay một khu vực. Toàn cầu hóa của chuỗi cung ứng tác động mạnh mẽ đến quá trình sản xuất kinh doanh. Hiện nay và trong tƣơng lai, hầu hết các công ty phải quan tâm đến chuỗi cung ứng mang tính toàn cầu. “Thách thức trong thập kỷ tới sẽ là triển khai rộng khắp các nguyên lý có sẵn và tiếp tục đƣa các nguyên lý này lên một tầm cao mới”4 Với sự c

a doanh nghiệp khác. Không chỉ các doanh nghiệp mới chú trọng đến chuỗi cung ứng, mà chuỗi cung ứng còn đƣợc coi nhƣ một chiến lƣợc cạnh tranh của các ngành, trong đó có cả các ngành nông sản. Chuỗi cung ứng hoa của Hà Lan là một mô hình thành công đáng tham khảo trên quy mô ngành. Các công ty đang và sẽ nỗ lực tranh đua lẫn nhau trong kế hoạch xây dựng các mô hình dây chuyền cung ứng nhằm đẩy mạnh sản xuất và quản lý nguồn cung ứng. Coi chuỗi cung ứng là chìa khóa để quyết định sự thành công trong kinh doanh. Họ đã và sẽ triển khai nhiều công nghệ thông tin và tài sản khác nhau một cách linh hoạt và mau lẹ để theo đuổi một năng lực mạng lƣới kênh cung ứng có thể tải nạp mọi thứ từ việc phát triển sản phẩm cho đến hoàn thành sản xuất. Và tất cả đều không ngừng tìm kiếm những giải pháp hiệu quả nhất nhằm cắt giảm chi phí, đáp ứng nhu cầu kịp thời (về nguyên vật liệu, sản phẩm cuối cùng), đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lƣợng sản phẩm và dịch vụ chăm sóc khách hàng cũng nhƣ tăng trƣởng lợi nhuận.

4

Theo “Quản trị chiến lƣợc chuỗi cung ứng – 5 nguyên tắc đạt hiệu quả hoạt động tốt nhất”
http://svnckh.com.vn

25

Tóm lại, xây dựng chuỗi cung ứng là xu hƣớng tất yếu trong tƣơng lai, có tác động quyết định đến sự thành công trong công việc kinh doanh của doanh nghiệp. Ở hiện tại và trong tƣơng lai, chuỗi cung ứng đƣợc xem nhƣ là một tài sản chiến lƣợc, điều mà các công ty hàng đầu đã làm đƣợc nhƣng lại đang là thách thức cho nhiều công ty khác. Đối với doanh nghiệp ở các nƣớc đang phát triển khi tham gia hội nhập sâu rộng vào thƣơng mại quốc tế, xây dựng chuỗi cung ứng hiệu quả trong tƣơng lai là một nhu cầu cấp thiết, quyết định sự thành công và quy mô tăng trƣởng của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tự tin hội nhập và cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa. 1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÂY DỰNG CHUỖI CUNG ỨNG 1.2.1 Sự cần thiết của việc xây dựng chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp Không có gì ngạc nhiên khi khẳng định rằng việc xây dựng chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp sẽ giúp củng cố vị trí cạnh tranh của doanh nghiệp đó. Ở đây có một sự tƣơng đồng khi nói về nhân tố cạnh tranh của chuỗi cung ứng và hệ thống giá trị của 5Michael E. Porter. Điểm khác nhau cơ bản giữa hai khái niệm này là trong phạm vi hệ thống giá trị, Porter tập trung vào chuỗi giá trị nội bộ công ty, còn chuỗi cung ứng lại đề cập đến tầm quan trọng đối với các mối quan hệ giữa các doanh nghiệp. Porter đã xác định 10 động lực chính đóng vai trò quan trọng đối với năng lực công ty nhằm đạt đƣợc lợi thế về giá (cost advantages) hoặc là lợi thế phân biệt (differentiation advantages). Trong phạm vi chuỗi cung ứng, chúng ta sẽ xác định tầm quan trọng của các động lực này đối với toàn bộ chuỗi cung ứng, từ đó chỉ ra những lợi thế vƣợt trội của việc xây dựng chuỗi cung ứng đối với doanh nghiệp. 1.2.1.1 Động lực liên kết (linkage driver) Động lực này dựa trên quan điểm cho rằng các mối quan hệ tổ chức giữa các bộ phận có vai trò quan trọng đối với thành tích của doanh nghiệp. Porter sử dụng động lực liên kết này để diễn tả sự tƣơng tác giữa các hoạt động. Ông cũng phân biệt sự liên kết trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp và liên kết dọc (vertical
5

Michael Porter (1985)
http://svnckh.com.vn

26

linkages) giữa doanh nghiệp trung tâm với các kênh cung cấp và phân phối của nó. Rõ ràng khái niệm chuỗi cung ứng đề cập đến cả hai khía cạnh, nhƣng đặc biệt tập trung vào tính tổ chức giữa các mắt xích trong chuỗi. Nhƣ Porter nhận xét: “Việc quản lý các liên kết cung ứng có thể giảm thiểu tổng chi phí thông qua việc kết hợp tối ƣu hóa.” 1.2.1.2 Quy mô: Tính kinh tế theo quy mô xuất hiện khi chi phí thực hiện thêm một hoạt động sản xuất giảm trên mỗi đơn vị tăng thêm. Còn nếu xảy ra trƣờng hợp ngƣợc lại thì ta lại có tính phi kinh tế theo quy mô. Tính kinh tế theo quy mô thể hiện một nguồn lực của lợi thế về giá, đặc biệt là trên phƣơng diện giữa các tổ chức với nhau. Nếu nhƣ các hoạt động giống nhau phụ thuộc vào tính kinh tế theo quy mô mà đƣợc chia sẻ giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng, thì chi phí của họ sẽ giảm, vì thế cũng giảm chi phí lên khách hàng cuối cùng. Ví dụ nhƣ việc quản trị kho bãi hoặc hàng tồn. Thay vì mỗi nhà cung ứng phải tự xây và quản lý kho bãi riêng của họ, một kho bãi chung cho một số nhà cung ứng sẽ giúp giảm chi phí cố định cho kho bãi. Quy mô của một hoạt động cũng liên quan đến nguồn lực của lợi thế phân biệt. Khi tiến hành một quy trình sản xuất ở quy mô lớn, cấp độ cung ứng dịch vụ sẽ cao hơn so với việc sản xuất ở quy mô nhỏ, do thông tin về hàng hóa đã bán sẽ trực tiếp đƣợc chuyển đến ngƣời cung cấp nhằm đảm bảo sự bổ sung hàng tồn kho một cách nhanh chóng. 1.2.1.3 Sự trải nghiệm và tác động tràn (Learning and Spillover) Khi một vấn đề nào đó đã đƣợc xác định nguyên nhân và đƣợc giải quyết, thì các hoạt động đƣợc vận hành một cách hiệu quả hơn. Đó là tác động của sự trải nghiệm. Hơn nữa, sự trải nghiệm có thể là kết quả của tác động tràn từ một từ công ty này sang công ty khác. Sự trải nghiệm và tác động tràn giúp cho các hoạt động đƣợc thực hiện với chi phí thấp hơn và vì thế tạo ra lợi thế về chi phí. Các phƣơng pháp hoặc kỹ thuật phức tạp của một doanh nghiệp có thể giúp các doanh nghiệp khác trong chuỗi giảm thiểu tổng chi phí.
http://svnckh.com.vn

27

Trong khi đó, việc thích ứng với các công nghệ mới có thể tạo ra lợi thế phân biệt nếu nhƣ các tính năng mới hoặc chất lƣợng dịch vụ tốt hơn đƣợc cung cấp. Trong hầu hết các trƣờng hợp, tác động của trải nghiệm và tác động tràn xảy ra đồng thời. 1.2.1.4 Khả năng tận dụng công suất (Pattern of Capacity Utilization) Khi doanh nghiệp phải đối mặt với chi phí cố định khổng lồ, thì khả năng tận dụng công suất đóng một vai trò quan trọng đối với sự phân chia chi phí giữa các sản phẩm đƣợc bán. Trong giới hạn tƣơng tác tổ chức giữa các doanh nghiệp, sự cân đối đơn hàng hoặc chính sách phân bổ chu kỳ mua hàng đều hơn của một khách hàng sẽ góp phần đáng kể vào việc cải thiện việc tận dụng công suất của ngƣời cung cấp, và vì thế giảm hàng tồn kho cũng nhƣ chi phí của việc sử dụng không hết công suất hiện tại. Hiệu ứng đƣợc gọi là Bullwhip, Whiplash hoặc Forrester trong chuỗi cung ứng. Hiệu ứng này xảy ra khi sự biến động của các đơn hàng đã bị phóng đại lên trong quá trình truyền thông tin trong chuỗi, từ đó gây ra sự méo mó về thông tin khi truyền đến ngƣời cung cấp “upstream”6. Hiệu ứng này có thể đƣợc ngăn cản phần nào bằng cách cung cấp thông tin về những đơn hàng sắp tới một cách kịp thời nhằm giúp họ có đủ thời gian để phản ứng lại với tình hình. Điều này cũng gián tiếp tạo ra lợi thế phân biệt do ngƣời cung ứng có thể cung cấp thông tin tốt hơn một cách kịp thời cho khách hàng của họ, từ đó làm cho khách hàng cuối cùng cảm thấy tin tƣởng hơn vào toàn bộ chuỗi cung ứng. 1.2.1.5 Mối tương quan (Interrelationships) Thực ra động lực này hàm ý về sự chia sẻ các nguồn lực và là phƣơng tiện để đạt đƣợc tính kinh tế theo quy mô, sự trải nghiệm và khả năng tận dụng công suất (Porter 1985). Porter dùng khái niệm mối tƣơng quan này để mô tả mối quan hệ giữa các bộ phận kinh doanh mà có chung một số chức năng hoặc có thể chia sẻ bí quyết sản xuất trong cùng một doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các bộ phận này còn có thể chia sẻ kinh nghiệm với nhau nhằm đạt hiệu quả cao trong các hoạt động nhƣ đã đề cập ở phần trên. Tuy nhiên, xét trong phạm vi tƣơng tác về tổ chức giữa các
6

Trong chuỗi cung ứng ngƣời ta thƣờng sử dụng hai thuật ngữ khá phổ biến là downstream (xuôi dòng) và upstream (ngƣợc dòng). Dòng chảy ở đây thể hiện dòng chảy hàng hóa/nguyên vật liệu từ nhà cung cấp đến tay ngƣời tiêu dùng (hay còn gọi là chain - chuỗi, suppy chain - chuỗi cung ứng).
http://svnckh.com.vn

28

doanh nghiệp, thì việc chia sẻ các nguồn lực cũng đóng vai trò nhƣ một sự hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. 1.2.1.6 Tính nhất thể hóa (Integration) Cấp độ của việc nhất thể hóa theo chiều dọc miêu tả việc phối hợp thực hiện các hoạt động giữa các bộ phận khác nhau của công ty. Nếu xem xét theo lý thuyết chi phí giao dịch, thì việc thực hiện một hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp có thể tránh các chi phí của việc sử dụng thị trƣờng, nhƣng lại gây ra chi phí của việc sử dụng hệ thống tổ chức của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc nhất thể hóa có thể góp phần tạo ra lợi thế phân biệt của doanh nghiệp, do doanh nghiệp có thể kiểm soát tốt hơn tính chắc chắn trong những đơn hàng của doanh nghiệp. Khái niệm chuỗi cung ứng không đề cập đến một mức độ nhất thể hóa cụ thể, mà nó phản ánh tính hiệu quả của sự nhất thể hóa trong tổ chức chuỗi cung ứng. 1.2.1.7Sự đúng lúc (Timing) Sự đúng lúc đóng vai trò rất quan trọng đối với vị thế cạnh tranh của một công ty nói riêng và chuỗi cung ứng nói chung. Việc là ngƣời tiên phong trên thị trƣờng có thể tạo ra lợi thế phân biệt cũng nhƣ lợi thế về giá. Tuy nhiên, bất lợi cũng có thể phát sinh nếu nhƣ những ngƣời đi sau lợi dụng những thành quả marketing của ngƣời tiên phong, hoặc chỉ đơn giản là ứng dụng nhiều công nghệ phức tạp vào trong sản xuất. Chuỗi cung ứng có thể đóng vai trò quan trọng đối với việc lựa chọn thời gian hợp lý cho việc gia nhập thị trƣờng hay cải tiến sản phẩm. Nhƣ đã đề cập ở trên, tác động tràn và việc rút kinh nghiệm cung nhƣ việc vận hành chung một số hoạt động giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng có thể làm cho dòng thông tin lƣu thông một cách tốt hơn, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng. Việc chia sẻ thông tin có thể giảm thời gian tiếp cận thị trƣờng, việc tối ƣu hóa quy trình sản xuất chung sẽ giúp cho các doanh nghiệp thành viên linh động hơn đối với những thay đổi của thị trƣờng. 1.2.1.8 Các chính sách tùy ý (Discretionary policies) Những lựa chọn chính sách tùy ý bao gồm các quyết định của những doanh nghiệp mà không trực tiếp liên quan đến những nhân tố giá cả hoặc khác biệt, nhƣng lại phản ánh tính chiến lƣợc trong những hoạt động của chuỗi cung ứng. Ví dụ
http://svnckh.com.vn

29

những quyết định chính sách lớn nhất có ảnh hƣởng đến lợi thế về giá và lợi thế phân biệt là thành phần sản phẩm, tính đa dạng của sản phẩm, mức dịch vụ, thời gian giao hàng… (PORTER 1985, trang 81 và 224). 1.2.1.9 Nhân tố về địa điểm (Location factors) Địa điểm của nhà máy sản xuất, các điểm cung cấp dịch vụ… có thể ảnh hƣởng đến lợi thế về giá cũng nhƣ lợi thế phân biệt của một công ty cũng nhƣ chuỗi cung ứng. Thông thƣờng, chi phí lao động, cơ sở hạ tầng hiện tại, chi phí năng lƣợng, nguồn nhân lực chất lƣợng cao là những nhân tố ảnh hƣởng đến quyết định về địa điểm của doanh nghiệp. Các quyết định thống nhất về địa điểm hoạt động trong chuỗi cung ứng có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh. Việc lựa chọn địa điểm cho một hoạt động mới cũng có thể cân nhắc đến công suất hiện tại. Địa điểm của nhà máy sản xuất mới của ngƣời cung ứng gần nhà máy sản xuất của ngƣời mua có thể sẽ giúp tiết kiệm chi phí vận chuyển, chi phí hàng tồn kho và gia tăng chất lƣợng dịch vụ. 1.2.2 Xây dựng chuỗi cung ứng Nhiệm vụ chính của việc xây dựng chuỗi cung ứng là phải làm sao để cả bốn thành phần chính của chuỗi – kho bãi, vận tải, hàng tồn kho và thông tin – phải đƣợc kết hợp chặt chẽ với nhau nhằm củng cố chiến lƣợc cạnh tranh của doanh nghiệp và tối đa hóa lợi nhuận chuỗi cung ứng. Từ đó có thể thấy rằng, việc xây dựng chuỗi cung ứng hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định thiết kế mạng lƣới cung ứng – yếu tố gắn kết bốn thành phần chính của chuỗi cung ứng. 1.2.2.1 Vai trò của phân phối trong chuỗi cung ứng Phân phối đề cập đến các bƣớc cần thực hiện nhằm di chuyển và lƣu trữ một sản phẩm từ khâu cung ứng nguyên vật liệu đến khách hàng cuối cùng trong chuỗi cung ứng. Phân phối là cầu nối giữa các mắt xích khác nhau trong chuỗi cung ứng. Nguyên liệu thô và phụ kiện đƣợc di chuyển từ ngƣời cung cấp đến ngƣời sản xuất, trong khi sản phẩm hoàn thiện sẽ đƣợc chuyển từ nhà sản xuất đến tay khách hàng cuối cùng. Có thể nói phân phối là nhân tố chính trong khả năng sinh lợi của hãng, vì nó tác động trực tiếp lên chi phí chuỗi cung ứng và sự trải nghiệm của khách hàng.
http://svnckh.com.vn

30

Việc lựa chọn một mô hình mạng lƣới phân phối phụ thuộc vào mục tiêu mà hãng hƣớng tới, có thể là mục tiêu giá rẻ, cũng có thể mục tiêu là đáp ứng nhanh nhu cầu của khách hàng. Vì thế, mà các hãng khác nhau có thể lựa chọn một mô hình mạng lƣới phân phối giống nhau hoặc khác nhau, tùy thuộc vào mục tiêu mà họ muốn đạt đƣợc. Một mạng lƣới phân phối không phù hợp có thể gây ra những tác động tiêu cực đến khả năng sinh lợi của hoạt động kinh doanh. Ngƣợc lại, một sự lựa chọn phù hợp có thể thỏa mãn nhu cầu của khách hàng tại mức giá thấp nhất có thể. 1.2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thiết kế mạng lưới phân phối Ở mức cao nhất, hoạt động của mạng lƣới phân phối nên đƣợc đánh giá thông qua hai tiêu chí. Một là nhu cầu khách hàng đƣợc thỏa mãn. Hai là chi phí để thỏa mãn những nhu cầu đó của khách hàng. Vì thế, mà hãng cần phải ƣớc lƣợng ảnh hƣởng đối với dịch vụ khách hàng và chi phí khi đứng trƣớc nhiều sự lựa chọn về mạng lƣới phân phối. Mặc dù dịch vụ khách hàng bao gồm rất nhiều thành phần, nhƣng chúng ta chỉ tập trung vào những yếu tố chịu ảnh hƣởng của cấu trúc mạng lƣới cung ứng, bao gồm: Thời gian đáp ứng đơn hàng (response time) Sự đa dạng của sản phẩm (product variety) Sự sẵn có của sản phẩm (product avalibility) Sự trải nghiệm của khách hàng về sản phẩm (customer experience) Tính hữu hình của đơn hàng (order visibility) Khả năng trả lại hàng (returnability). Thời gian đáp ứng đơn hàng là khoảng thời gian từ khi một khách hàng đặt một đơn hàng đến khi nhận đƣợc đơn hàng giao. Sự đa dạng của sản phẩm là số lƣợng sản phẩm khác nhau mà một khách hàng yêu cầu từ mạng lƣới phân phối. Tính sẵn có là xác suất có hàng trong kho khi một đơn đặt hàng đến. Kinh nghiệm của khách hàng về sản phẩm bao gồm sự dễ dàng trong việc đặt hàng và nhận hàng của khách hàng và tỷ lệ thỏa mãn so với kỳ vọng. Tính hữu hình của đơn hàng là khả năng mà khách hàng có thể theo dõi đơn hàng của họ từ khi đặt hàng đến khi giao hàng. Khả năng trả lại hàng là sự dễ dàng mà khách hàng có thể trả lại những
http://svnckh.com.vn

31

hàng hóa không ƣng ý và khả năng của mạng lƣới có thể giải quyết với những đơn hàng trả lại này. Đầu tiên có vẻ nhƣ là mọi khách hàng luôn luôn muốn đƣợc hƣởng mức độ cao nhất của những yếu tố trên, nhƣng thực tế lại không hoàn toàn nhƣ thế. Một khách hàng đặt mua một quyển sách trên Amazon.com sẵn sàng chấp nhận đợi lâu hơn so với việc mua quyền sách đó ở một cửa hàng gần nhà. Bù lại, khách hàng có thể tìm thấy nhiều loại sách hơn khi mua ở Amazon.com so với hiệu sách gần nhà. Nhƣ vậy rõ ràng, những hãng mà khách hàng mục tiêu là những ngƣời có thể chấp nhận thời gian đáp ứng đơn hàng lâu thì chỉ cần một ít địa điểm phân phối mà có thể xa khách hàng, nhƣng phải đảm bảo tập trung tăng năng suất cho những địa điểm đó. Ngƣợc lại, những hãng mà khách hàng mục tiêu là những ngƣời thích đƣợc đáp ứng nhu cầu một cách nhanh chóng thì cần phải đặt các địa điểm phân phối gần khách hàng. Vì vậy, giảm thời gian đáp ứng đơn hàng của khách cũng đồng nghĩa phải tăng số lƣợng kho bãi trong mạng lƣới phân phối.
Đồ thị 1.3: Mối quan hệ giữa Thời gian đáp ứng đơn hàng mong muốn và Số lượng kho bãi.7

Số lượng kho bãi

Thời gian đáp ứng đơn hàng mong muốn Việc thay đổi thiết kế mạng lƣới cung ứng sẽ ảnh hƣởng những chi phí chuỗi cung ứng bao gồm: Hàng tồn kho (Inventories), Vận tải (Transportation), Kho bãi và Vận hành (Facilities and handling), Thông tin (Information).

7

Sunil Chopra và Peter Meindl, Supply Chain Management – Strategy, Planning and Operation, trang 74
http://svnckh.com.vn

32

Khi số lƣợng kho bãi trong chuỗi cung ứng tăng lên, hàng tồn kho và chí phí hàng tồn kho cũng theo đó mà tăng lên. Đồ thị 1.4: Mối quan hệ giữa Số lượng kho bãi và Chi phí hàng tổn kho.8 Chi phí hàng tồn kho

Số lượng nhà xưởng Chi phí vận tải vào (Inbound Transportation Cost) là chi phí phát sinh khi vận chuyển nguyên liệu nhập vào một kho bãi. Chi phí vận tải đi (Outbound Transportation Cost) là chi phí phát sinh khi vận chuyển nguyên liệu ra khỏi kho bãi. Chi phí vận tải đi trên một đơn vị nguyên liệu có xu hƣớng cao hơn chi phí vận tải vào, vì khối lƣợng nguyên liệu nhập vào kho bãi thƣờng lớn hơn. Việc tăng số lƣợng địa điểm nhà kho sẽ làm giảm khoảng cách vận tải đi trung bình đến khách hàng, và chia nhỏ khoảng cách vận tải đi trong tổng quãng đƣờng vận chuyển của sản phẩm. Vì vậy, nếu tính kinh tế theo quy mô trong vận tải về đƣợc đảm bảo, thì việc tăng số lƣợng địa điểm kho hàng sẽ làm giảm tổng chi phí vận tải. Nếu số nhà kho đƣợc tăng đến một điểm mà tại đó khối lƣợng hàng vận tải về quá nhỏ và làm giảm bớt tính kinh tế theo quy mô của vận tải về, thì việc tăng số lƣợng kho bãi sẽ làm tăng tổng chi phí vận tải.

8

Sunil Chopra và Peter Meindl, Supply Chain Management – Strategy, Planning and Operation, trang 75
http://svnckh.com.vn

33

Đồ thị 1.5: Mối quan hệ giữa Số lượng kho bãi và Chi phí vận tải9 Chi phí vận tải

Số lượng kho bãi Chi phí kho bãi sẽ giảm khi số lƣợng kho bãi đƣợc giảm xuống, do sự hợp nhất các địa điểm kho bãi cho phép hãng khai thác tính kinh tế theo quy mô. Đồ thị 1.6: Mối quan hệ giữa Số lượng kho bãi và Chi phí kho bãi10 Chi phí kho bãi

Số lượng kho bãi Tổng chi phí logistics là tổng chi phí hàng tồn kho, vận tải và kho bãi của một mạng lƣới chuỗi cung ứng. Khi số lƣợng kho bãi tăng, tổng chi phí logistics giảm và sau đó lại tăng. Mỗi hãng nên có ít nhất số lƣợng kho bãi mà tối thiểu hóa tổng chi phí logistics. Khi một hãng muốn giảm thời gian đáp ứng đơn hàng của khách nhiều hơn nữa, hãng có thể tăng số lƣợng kho bãi lên trên điểm tối thiểu hóa chi phí logistic, và chỉ nên tăng chỉ khi ngƣời quản lý đảm bảo sự đầu tƣ này sẽ giúp doanh số tăng nhiều hơn chi phí của những kho bãi tăng thêm.

9

10

Sunil Chopra và Peter Meindl, Supply Chain Management – Strategy, Planning and Operation, trang 75 Sunil Chopra và Peter Meindl, Supply Chain Management – Strategy, Planning and Operation, trang 76
http://svnckh.com.vn

34

Đồ thị 1.7: Mối quan hệ giữa chi phí logistics, thời gian đáp ứng đơn hàng và số lượng kho bãi 11

Thời gian đáp ứng đơn hàng logistics Thời gian đáp ứng đơn hàng Tổng chi phí

Số lƣợng kho bãi Nói tóm lại, chẳng có mạng lƣới phân phối nào có thể đảm bảo hoàn thành tốt hơn mạng lƣới khác tất cả các yếu tố. Vì vậy, việc đảm bảo rằng sức mạnh của mạng lƣới phân phối phù hợp với định vị chiến lƣợc của hãng là rất quan trọng. 1.2.2.3 Các mô hình mạng lưới phân phối Các lựa chọn mạng lƣới phân phối sẽ đƣợc xét trong phạm vi phân phối từ ngƣời sản xuất đến khách hàng cuối cùng. Khi lựa chọn phân phối giữa các cặp khác của từng giai đoạn nhƣ là từ nhà cung ứng vật liệu đến ngƣời sản xuất, nhiều sự lựa chọn tƣơng tự cũng sẽ đƣợc áp dụng. Có hai quyết định quan trọng khi thiết kế mạng lƣới phân phối: (1) (2) Sản phẩm sẽ đƣợc giao đến địa điểm của khách hàng hay là chuyển đến một Sản phẩm sẽ đƣợc lƣu thông thông qua một trung gian hay không? Dựa vào những sự lựa chọn cho hai quyết định trên, có sáu mô hình mạng lƣới phân phối đƣợc sử dụng để di chuyển hàng hóa từ nhà máy đến khách hàng: (1) Ngƣời sản xuất trữ hàng và giao hàng trực tiếp (Manufacturer storage with direct shipping); địa điểm định trƣớc?

11

Sunil Chopra và Peter Meindl, Supply Chain Management – Strategy, Planning and Operation, trang 76
http://svnckh.com.vn

35

(2) (3) (4) (5) (6)

Ngƣời sản xuất trữ hàng, giao hàng trực tiếp và kết hợp vận tải (Manufacturer Ngƣời đại lý trữ hàng và giao hàng theo kiện (Distributor storage with Ngƣời đại lý trữ hàng và giao hàng chặng cuối (Distribution storage with last Ngƣời sản xuất/phân phối trữ hàng và khách hàng tự lấy hàng (Manufacturer Ngƣời bán lẻ trữ hàng và khách hàng tự lấy hàng (Retail storage with a) Người sản xuất trữ hàng và giao hàng trực tiếp: Trong mô hình này, sản phẩm đƣợc trực tiếp vận chuyển từ ngƣời sản xuất

storage with direct shipping and in-transit merge); package carrier delivery); mile delivery); /Distribution storage with customer pick up); customer pick up).

đến khách hàng cuối cùng mà không thông qua ngƣời bán lẻ, do đó còn gọi là giao hàng nhỏ giọt (drop-shipping). Ngƣời bán lẻ chỉ đóng vai trò trung chuyển dòng thông tin từ khách hàng đến ngƣời sản xuất chứ không lƣu trữ bất kỳ đơn vị hàng hóa nào để bán cho khách hàng. Hình 1.8: Người sản xuất trữ hàng và giao hàng trực tiếp 12 Ngƣời sản xuất Ngƣời bán lẻ Khách hàng
Sự lƣu thông của sản phẩm Dòng chảy thông tin

Ƣu điểm lớn nhất của drop-shipping là khả năng tập trung hàng tồn kho của ngƣời sản xuất. Ngƣời sản xuất có thể tập hợp nhu cầu thông qua hệ thống những ngƣời bán lẻ mà họ cung ứng. Do đó, chuỗi cung ứng có thể cung cấp sản phẩm với mức sẵn có cao và mức tồn kho thấp. Lợi thế từ việc tập trung hóa là cao nhất đối với những sản phẩm giá trị cao, cầu thấp và không xác định đƣợc. Ngoài ra mô hình
12

Suni Chopra và Peter Meindl, Supply Chain Management – Strategy, Planning and Operation, trang 78
http://svnckh.com.vn

36

drop-shipping cũng giúp chuỗi cung ứng tiết kiệm chi phí về kho bãi và vận hành do tất cả hàng tồn kho đều đƣợc tập trung ở ngƣời sản xuất. Nhƣợc điểm của mô hình này là ở chi phí vận tải cao do khoảng cách vận chuyển hàng hóa trung bình đến khách hàng thƣờng lớn và việc sử dụng vận tải kiện hàng để chuyên chở hàng hóa. Mặt khác, mô hình này cũng đòi hỏi một sự đầu tƣ lớn cho cơ sở hạ tầng thông tin để đảm bảo dòng thông tin chính xác giữa ngƣời sản xuất và khách hàng cuối cùng thông qua ngƣời bán lẻ. Thời gian đáp ứng đơn hàng lâu do đơn hàng đƣợc chuyển từ ngƣời bán lẻ đến ngƣời sản xuất và khoảng cách vận chuyển trung bình lớn. Hệ thống lƣu kho của ngƣời sản xuất cũng gặp khó khăn trong việc giải quyết những đơn hàng trả lại. Chi phí giải quyết rất đắt do mỗi đơn hàng đều liên quan đến việc vận chuyển từ ít nhất là một nhà sản xuất. Có hai cách để giải quyết với những đơn hàng trả lại này. Một là khách hàng có thể trực tiếp trả lại cho nhà sản xuất, nhƣng hƣớng tiếp cận này sẽ làm phát sinh chi phí vận tải và điều phối cao. Cách thứ hai là lập ra một bộ phân chuyên giải quyết đơn hàng trả lại giữa nhiều nhà sản xuất, nhƣng nó sẽ đòi hỏi một khoản đầu tƣ lớn.
Bảng 1.9: Đặc điểm hoạt động của Mô hình Người sản xuất trữ hàng và giao hàng trực tiếp 13

Yếu tố chi phí Hàng tồn kho

Hoạt động Chi phí thấp hơn vì khả năng tập hợp hàng tồn kho. Lợi thế từ việc tập hợp là cao nhất đối với hàng hóa có giá trị cao, cầu thấp và không dự đoán đƣợc. Lợi thế rất lớn nếu ngƣời sản xuất có thể trì hoãn đƣợc việc điều chỉnh sản phẩm.

Vận tải Nhà kho và vận hành

Chi phí vận tải cao hơn do việc gia tăng khoảng cách vận chuyển và không thể tổng hợp vận chuyển hàng. Chi phí nhà kho thấp hơn do tính tập trung hóa tại nhà kho ngƣời sản xuất. Chi phí vận hành cũng đƣợc tiếp kiệm nếu ngƣời sản xuất có thể quản lý đƣợc quá trình vận chuyển hàng lẻ hoặc vận chuyển hàng từ dây chuyền sản xuất.

13

Sunil Chopra và Peter Meindl, Supply Chain Management – Strategy, Planning and Operation, trang 80
http://svnckh.com.vn

37

Thông tin Yếu tố dịch vụ Thời gian đáp ứng đơn hàng

Cần đầu tƣ lớn cho cơ sở hạ tầng thông tin để thống nhất hoạt động của ngƣời sản xuất và ngƣời bán lẻ. Hoạt động Thời gian đáp ứng đơn hàng lâu trong khoảng từ một đến hai tuần, do việc gia tăng khoảng cách và quá trình xử lý đơn hàng qua hai giai đoạn. Thời gian đáp ứng đơn hàng khác nhau đối với từng loại mặt hàng, do đó việc nhận hàng rất phức tạp.

Tính đa dạng của sản phẩm Tính sẵn có của sản phẩm Sự trải nghiệm của khách hàng Tính hữu hình của đơn hàng

Dễ dàng cung ứng sản phẩm với nhiều mẫu mã đa dạng Dễ dàng cung ứng sản phẩm với cấp độ sẵn có cao, do khả năng tập hơn đơn hàng của ngƣời sản xuất. Khách hàng có thể có ấn tƣợng tốt đối với việc giao hàng tận nhà, nhƣng có thể sẽ cảm thấy khó chịu nếu đặt hàng từ nhiều nhà sản xuất khác nhau. Khó hơn khi tiếp cận với quy trình xử lý đơn hàng và cũng quan trọng hơn nếu xét từ khí cạnh dịch vụ khách hàng.

Khả năng trả lại hàng Việc trả lại hàng sẽ gây tốn kém rất lớn và rất khó. b) Người sản xuất trữ hàng, giao hàng trực tiếp và kết hợp vận tải Không giống nhƣ hình thức drop-shipping thuần túy, hình thức kết hợp vận tải (In-transit merge) kết hợp các đơn đặt hàng nhỏ từ các nhà sản xuất khác nhau để khách hàng có thể nhận đƣợc một đơn hàng hoàn chỉnh. Mô hình In-transit merge có thể đƣợc áp dụng đối với những ngƣời bán hàng trực tiếp nhƣ Dell và Gateway hoặc các công ty đang thực hiện mô hình drop-shipping. Hình 1.10: Mạng lưới In-transit merge 14 Nhà máy sản xuất

14

Sunil Chopra và Peter Meindl, Supply Chain Management – Strategy, Planning and Operation, trang 81
http://svnckh.com.vn

38

Ngƣời bán lẻ chuyên chở

In-transit

merge

của

ngƣời

Sự lƣu thông của sản phẩm

Khách hàng

Dòng thông tin

chảy

Giống nhƣ mô hình drop-shipping, khả năng tập hợp hàng tồn kho và khả năng trì hoãn việc điều chỉnh sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng là những lợi thế nổi bật của hình thức in-transit merge. Mô hình này sẽ đƣa lại lợi thế lớn nhất cho sản phẩm có giá trị cao, cầu thấp hoặc trung bình và khó dự đoán. Trong hầu hết các trƣờng hợp, chi phí vận tải sẽ thấp hơn so với mô hình drop-shipping do việc kết hợp vận tải tại trung tâm của ngƣời chuyên chở trƣớc khi giao hàng cho khách. Nhờ đó mà sự trải nghiệm của khách hàng cũng đƣợc cải thiện do họ có thể nhận đƣợc một lần giao hàng cho đơn hàng của họ thay vì nhiều lần giao hàng rời rạc vào nhiều thời điểm khác nhau nhƣ trong mô hình drop-shipping. Nhƣợc điểm của mô hình này là những nỗ lực tăng thêm trong quá trình kết hợp đơn hàng. Điều này đã đẩy tổng chi phí kho bãi và vận hành của chuỗi cung ứng cao hơn. Mặt khác, mô hình này cũng đòi hỏi phải có một cơ sở hạ tầng thông tin phức tạp để đảm bảo cho quá trình kết hợp. Bên cạnh đó, hoạt động của ngƣời bán lẻ, ngƣời sản xuất và ngƣời vận chuyển cũng phải đƣợc điều phối với nhau. Thời gian để đáp ứng đơn hàng cũng lâu hơn do quá trình kết hợp. Hơn thế nữa, so sánh với mô hình drop-shipping, in-transit merge đòi hỏi một lƣợng cầu cao hơn từ mỗi nhà sản xuất (nhƣng không nhất thiết là cầu về cùng một loại sản phẩm) để có thể hoạt động hiệu quả. Mặt khác, mô hình này cũng chỉ thích hợp trong việc kết hợp từ bốn đến năm cơ sở sản xuất. Bảng 1.11: Đặc điểm hoạt động của mô hình In-transit merge 15 Yếu tố chi phí Hàng tồn kho Vận tải
15

Thực hiện Giống nhƣ drop-shipping Ít hơn chi phí vận tải của mô hình drop-shipping một ít

Sunil Chopra và Peter Meindl, Supply Chain Management – Strategy, Planning and Operation, trang 82
http://svnckh.com.vn

39

Kho bãi và vận hành Thông tin Yếu tố dịch vụ Thời gian đáp ứng đơn hàng Tính đa dạng của sản phẩm

Chi phí kho bãi cao hơn mô hình drop-shipping đối với ngƣời chuyên chở, còn khách hàng thì nhận đƣợc chi phí thất hơn. Cần phải đầu tƣ nhiều hơn cho cở sở hạ tầng thông tin so với mô hình drop-shipping Thực hiện Giống nhƣ mô hình drop-shipping; có thể nhiều hơn một chút Giống nhƣ mô hình drop-shipping

Tính sẵn có của Giống nhƣ mô hình drop-shipping sản phẩm Sự trải nghiệm Tính hữu hình của đơn hàng Khả năng trả lại Giống nhƣ mô hình drop-shipping hàng c) Người đại lý trữ hàng và giao hàng theo kiện Với mô hình này, hàng tồn kho không do ngƣời sản xuất quản lý tại nhà máy mà sẽ do ngƣời đại lý hoặc ngƣời bán lẻ lƣu trữ tại kho hàng trung gian và sử dụng vận tải kiện hàng (package carrier) để vận chuyển hàng từ đại điểm trung gian đến khách hàng cuối cùng. Mô hình này thích hợp với những sản phẩm có cầu cao hơn so với mô hình ngƣời sản xuất trữ hàng và có tốc độ chu chuyển trung bình hoặc nhanh (medium to fast moving items). Hình 1.12: Người đại lý trữ hàng và giao hàng theo kiện16 Nhà máy Kho hàng của ngƣời đại lý/bán lẻ
16

Tối hơn mô hình drop-shipping do khách hàng nhận đƣợc một lần Giống nhƣ mô hình drop-shipping

của khách hàng giao hàng tập trung.

Sunil Chopra và Peter Meindl, Supply Chain Management – Strategy, Planning and Operation, trang 83
http://svnckh.com.vn

40

Sự lƣu thông của sản phẩm

Khách hàng

Dòng chảy thông tin

Lợi thế chung của mô hình ngƣời đại lý trữ hàng so với mô hình ngƣời sản xuất trữ hàng là khoảng cách trung bình để vận chuyển hàng ra khỏi kho đến ngƣời tiêu dùng ngắn hơn và các mặt hàng rời rạc của cùng một đơn hàng đã đƣợc kết hợp lại và giao một lần cho khách hàng. Từ lợi thế này mà mô hình ngƣời đại lý trữ hàng có những ƣu điểm so với mô hình ngƣời sản xuất trữ hàng về chi phí vận tải, cơ sở hạ tầng thông tin, thời gian đáp ứng đơn hàng, sự trải nghiệm của khách hàng, tính hữu hình của đơn hàng và khả năng trả lại đơn hàng. Tuy nhiên, mô hình này cũng đòi hỏi mức độ hàng tồn kho lớn hơn so với mô hình ngƣời sản xuất trữ hàng do nhà kho của ngƣời đại lý và ngƣời bán lẻ phải tổng hợp cầu không chắc chắn ở mức thấp hơn, trong khi ngƣời sản xuất có thể tổng hợp cầu từ tất cả các ngƣời đại lý/ngƣời bán lẻ Bảng 1.13: Đặc điểm hoạt động của Người đại lý trữ hàng và giao hàng theo kiện 17 Yếu tố giá cả Hàng tồn kho Vận tải Kho bãi và vận hành Thông tin Yếu tố dịch vụ Thời gian đáp ứng đơn hàng
17

Thực hiện Cao hơn mô hình ngƣời sản xuất trữ hàng, nhƣng hàng hóa chu chuyển càng nhanh thì sự khác biệt này càng không đáng kể Thấp hơn mô hình ngƣời sản xuất trữ hàng. Hàng hóa đƣợc chu chuyển càng nhanh thì chênh lệch này càng lớn Cao hơn mô hình ngƣời sản xuất trữ hàng một ít. Sự khác biệt này càng lớn đối với hàng hóa chu chuyển chậm. Cơ sở hạ tầng thông tin đơn giản hơn so với mô hình ngƣời sản xuất trữ hàng Thực hiện Nhanh hơn mô hình ngƣời sản xuất trữ hàng

Sunil Chopra và Peter Meindl, Supply Chain Management – Strategy, Planning and Operation, trang 84
http://svnckh.com.vn

41

Tính đa dạng của Thấp hơn mô hình ngƣời sản xuất trữ hàng sản phẩm Độ sẵn có của sản phẩm Sự trải nghiệm của khách hàng Tính hữu hình của đơn hàng Khả năng trả lại hàng d) Người đại lý trữ hàng và giao hàng chặng cuối Giao hàng chặng cuối (Last mile delivery) đề cập đến việc ngƣời đại lý/ngƣời bán lẻ giao hàng đến tận nhà khách hàng thay vì sử dụng package carrier. Không giống nhƣ giao hàng package carrier, giao hàng last mile đòi hỏi nhà kho của ngƣời đại lý phải gần khách hàng hơn nhiều. Với phạm vi giới hạn để phục vụ cho việc giao hàng last mile, nhiều nhà kho cần phải đƣợc xây dựng hơn trong mô hình giao hàng package carrier. Hình 1.14: Người đại lý trữ hàng và giao hàng chặng cuối 18 Nhà máy Nhà kho của ngƣời đại lý/ngƣời bán lẻ Khách hàng
Sự lƣu thông của sản phẩm Dòng chảy thông tin

Đòi hỏi chi phí cao hơn để cung cấp cùng một mức độ sẵn có nhƣ mô hình ngƣời sản xuất trữ hàng Tốt hơn mô hình ngƣời sản xuất trữ hàng và giao hàng trực triếp (drop-shipping) Dễ hơn mô hình ngƣời sản xuất trữ hàng Dễ hơn mô hình ngƣời sản xuất trữ hàng

18

Sunil Chopra và Peter Meindl, Supply Chain Management – Strategy, Planning and Operation, trang 85
http://svnckh.com.vn

42

Xét về các yếu tố dịch vụ, mô hình hoàn toàn có lợi thế vƣợt trội so với các mô hình khác. Thời gian để đáp ứng đơn hàng sẽ nhanh hơn nhiều so với mô hình package carrier. Khách hàng luôn đƣợc làm hài lòng với mô hình này, đặc biệt là đối với việc mua sắm hàng hóa cồng kềnh và khó di chuyển. Tính hữu hình của đơn hàng cũng không phải là vấn đề khi hàng có thể đƣợc giao trong vòng 24 tiếng. Còn nói về khả năng trả lại hàng, thì đây là sự lựa chọn tốt nhất, do phƣơng tiện giao hàng có thể đƣa hàng trả lại về. Tuy nhiên, mô hình này lại gây ra nhiều chi phí hơn hầu hết các mô hình khác. Mức độ tồn kho của ngƣời đại lý cao hơn các mô hình khác (trừ mô hình ngƣời bán lẻ trữ hàng), do mức độ tập hợp hàng tồn kho thấp hơn. Do đó, nếu xét trên khía cạnh hàng tồn kho, thì mô hình last mile delivery phù hợp với hàng hóa có tốc độ chu chuyển khá nhanh, khi đó sự phân tán hàng tồn kho sẽ không dẫn tới sự gia tăng mạnh hàng tồn kho. Chi phí vận tải cũng sẽ là cao nhất nếu sử dụng mạng lƣới phân phối last mile. Tuy nhiên, chi phí này sẽ thấp hơn nếu sử dụng trong những thành phố lớn và đông dân hoặc sử dụng cho hàng hóa cồng kềnh. Chi phí kho bãi có thể thấp hơn so với chi phí của mạng lƣới ngƣời bán lẻ trữ hàng, nhƣng cao hơn nhiều so với mô hình ngƣời sản xuất hoặc ngƣời đại lý trữ hàng và giao hàng theo kiện. Tuy nhiên, chi phí gia công lại cao hơn mạng lƣới ngƣời bán lẻ trữ hàng do không tận dụng sự tham gia của khách hàng vào mạng lƣới phân phối. Do mô hình này đòi hỏi chi phí hoạt động lớn, nên nó chỉ đƣợc đảm bảo khi có một phân khúc khách hàng đủ lớn sẵn sàng trả tiền cho những tiện ích này. Trong trƣờng hợp đó, ta có thể kết hợp mô hình last mile delivery với một mạng lƣới phân phối sẵn có khác để khai thác tính hiệu quả theo quy mô.
Bảng 1.15: Đặc điểm hoạt động của mô hình Người đại lý trữ hàng và giao hàng chặng cuối 19

Yếu tố giá cả Hàng tồn kho Vận tải Kho bãi và vận
19

Thực hiện Cao hơn mô hình package carrier delivery Cao hơn bất kỳ mô hình phân phối nào. Chi phí kho bãi cao hơn mô hình ngƣời sản xuất trữ hàng hoặc ngƣời

Suni Chopra và Peter Meindl, Supply Chain Management – Strategy, Planning and Operation, trang 86
http://svnckh.com.vn

43

hành Thông tin Yếu tố thông tin Thời gian đáp ứng đơn hàng sản phẩm Tính sẵn có của sản phẩm Sự trải nghiệm của khách hàng Tính hữu hình của đơn hàng Khả năng trả lại hàng

đại lý trữ hàng và phân phối kiện hàng, nhƣng thấp hơn mạng lƣới ngƣời bán lẻ trữ hàng. Tƣơng tự nhƣ mô hình package carrier delivery Thực hiện Rất nhanh, có thể giao hàng cùng ngày hoặc ngày hôm sau so với đơn hàng hình ngƣời bán lẻ trữ hàng. Tốn nhiều chi phí hơn để cung cấp cùng một mức độ sẵn có của hàng hóa nhƣ các mô hình khác, trừ mô hình ngƣời bán lẻ trữ hàng. Rất tốt, đặc biệt là đối với hàng hóa cồng kềnh Dễ dàng thực hiện hơn so với mô hình ngƣời sản xuất trữ hàng hoặc ngƣời đại lý trữ hàng và phân phối kiện hàng. Dễ thực hiện hơn các mô hình phân phối khác, trừ mạng lƣới ngƣời bán lẻ trữ hàng.

Tính đa dạng của Ít hơn so với mô hình package carrier delivery, nhƣng cao hơn mô

e) Người sản xuất/người đại lý trữ hàng và khách hàng tự lấy hàng Với cách tiếp cận này, hàng tồn kho sẽ đƣợc lƣu trữ trong kho của ngƣời sản xuất hoặc ngƣời đại lý. Còn khách hàng sẽ đặt hàng qua mạng internet hoặc qua điện thoại, rồi đến một địa điểm chỉ định để nhận hàng. Các đơn hàng sẽ đƣợc vận chuyển từ nhà kho đến địa điểm nhận hàng của khách.

Hình 1.16: Mô hình Người sản xuất/người đại lý trữ hàng và khách hàng tự lấy hàng.20

Nhà máy

20

Sunil Chopra và Peter Meindl, Supply Chain Management – Strategy, Planning and Operation, trang 87
http://svnckh.com.vn

44

Ngƣời bán lẻ Cross Dock DC
Luồng khách hàng

Điểm nhận hàng Khách hàng

Sự lƣu thông của sản phẩm Dòng chảy thông tin

Lợi thế chính của mạng lƣới với những điểm tự mua hàng của khách là nó có thể giảm bớt chi phí giao hàng, vì vậy tăng lƣợng mặt hàng đƣợc bán ra cũng nhƣ là lƣợng khách hàng online. Mặt khác, mô hình này cũng giúp khai thác triệt để việc tổng hợp hàng tồn kho, vì vậy, giảm bớt chi phí hàng tồn kho, chi phí vận tải. Còn nhƣợc điểm chính của mô hinh này là chi phí cho các điểm tự mua hàng. Tuy nhiên, nếu nhƣ tận dụng đƣợc những cơ sở vật chất có sẵn thì mạng lƣới hoạt động rất hiệu quả. Hơn nữa, mạng lƣới này cũng đòi hỏi một sự đầu tƣ lớn cho hệ thống hạ tầng thông tin nhằm cung cấp cho khách hàng tính hữu hình của hàng hóa cho đến khi họ nhận đƣợc hàng. Vì vậy, mô hình này cần một sự điều phối thông tin tốt giữa ngƣời bán lẻ, kho chứa hàng và điểm giao hàng.
Bảng 1.17: Đặc điểm hoạt động của mạng lưới phân phối qua các điểm giao hàng21

Yếu tố chi phí Hàng tồn kho Vận tải Cơ sở vật chất và vận hành Thông tin Yếu tố dịch vụ
21

Thực hiện Có thể tƣơng đƣơng với các mô hình khác, tùy vào địa điểm lƣu kho Thấp hơn mô hình package carrier, đặc biệt là nếu sử dụng mạng lƣới giao hàng sẵn có Chi phí cơ sở vật chất (bao gồm cả nhà kho và điểm giao hàng) sẽ rất cao nếu phải xây mới. Chi phí vận hành có thể tăng đáng kể so với các mô hình khác Đòi hỏi một sự đầu tƣ lớn cho cơ sở hạ tầng thông tin Thực hiện

Sunil Chopra và Peter Meindl, Supply Chain Management – Strategy, Planning and Operation, trang 89
http://svnckh.com.vn

45

Thời gian đáp ứng đơn hàng Tính đa dạng của sản phẩm sản phẩm Sự trải nghiệm

Tƣơng tự nhƣ mô hình package carrier với ngƣời sản xuất/ngƣời đại lý trữ hàng. Có thể giao hàng trong ngày tại điểm giao hàng đối với những mặt hàng đƣợc lƣu kho trong cùng địa phƣơng. Giống nhƣ các mô hình ngƣời sản xuất/ ngƣời đại lý trữ hàng khác khác Kém hơn những mô hình khác do không có hình thức giao hàng này lại không đáng kể

Tính sẵn có của Giống nhƣ các mô hình ngƣời sản xuất/ ngƣời đại lý trữ hàng

của khách hàng tận nhà. Tuy nhiên, trong những vùng đông dân cƣ, sự bất tiện Tính hữu hình của đơn hàng Khả năng trả lại Dễ thực hiện hơn, do các địa điểm giao hàng có thể xử lý các đơn hàng hàng trả lại. Khó thực hiện nhƣng rất cần thiết, đặc biệt là lúc hàng đến.

f) Người bán lẻ trữ hàng và khách hàng tự lấy hàng Trong mô hình này, hàng tồn kho sẽ đƣợc dự trữ trong kho của ngƣời bán lẻ. Khách hàng đi đến các điểm phân phối bán lẻ hoặc đặt hàng qua mạng, qua điện thoại và tự lấy hàng tại điểm bán lẻ. Lợi thế chính của mạng lƣới phân phối địa phƣơng là việc hạ thấp chi phí giao hàng và thời gian đáp ứng đơn hàng ít hơn so với các mô hình khác. Tuy nhiên, bất lợi chính của mô hình này là chi phí hàng tồn kho và chi phí nhà xƣởng tăng cao do tính bất tập trung các đơn hàng cũng nhƣ việc xây dựng các nhà kho cho mỗi điểm bán lẻ. Mô hình này thích hợp với hàng hóa có tốc độ chu chuyển nhanh hoặc hàng hóa mà đòi hỏi đƣợc đáp ứng trong thời gian ngắn.

Bảng 1.18: Đặc điểm hoạt động của mô hình Người bán lẻ trữ hàng và khách hàng tự lấy hàng22
22

Sunil Chopra và Peter Meindl, Supply Chain Management – Strategy, Planning and Operation, trang 90
http://svnckh.com.vn

46

Yếu tố chi phí Hàng tồn kho Vận tải Cơ sở vật chất và vận hành Thông tin Yếu tố dịch vụ Thời gian đáp ứng đơn hàng Tính đa dạng của sản phẩm trữ trong kho tại điểm bán lẻ

Thực hiện Cao hơn tất cả các mô hình khác Thấp hơn tất cả các mô hình khác Cao hơn các mô hình khác. Sự tăng lên của chi phí vận hành tại các điểm phân phối có thể đáng kể nếu nhƣ áp dụng việc đặt hàng qua điện thoại hoặc qua mạng. Cần phải đầu tƣ cơ sở vật chất cho việc đặt hàng qua điện thoại hoặc qua mạng Thực hiện Có thể giao hàng ngay lập tức đối với những mặt hàng đƣợc lƣu Thấp hơn tất cả các mô hình khác

Tính sẵn có của Chi phí cung cấp cùng một mức độ sẵn có của các mặt hàng nhƣ sản phẩm Sự trải nghiệm Tính hữu hình của đơn hàng hàng các mô hình khác sẽ rất đắt. Phụ thuộc vào cách khách hàng nhìn nhận việc phải đến tận nơi Không quan trọng đối với những đơn hàng trực tiếp. Khó nhƣng cần thiết đối với những đơn hàng qua mạng hoặc qua điện thoại. xử lý các đơn hàng trả lại.

của khách hàng địa điểm mua sắm để lấy hàng là tích cực hay tiêu cực

Khả năng trả lại Dễ hơn những mô hình khác do các điểm bán lẻ có thể trực tiếp

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
http://svnckh.com.vn

47

Chuỗi cung ứng là sự kết hợp nhịp nhàng giữa các mắt xích gồm nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ, khách hàng và ngƣời cung cấp dịch vụ. Trong chuỗi cung ứng, ba dòng chảy (thông tin, hàng hóa, tài chính) đảm bảo sự hoạt động của chuỗi, chuỗi cung ứng đạt hiệu quả cao khi sự vận chuyển của ba dòng chảy trên đƣợc vận hành một cách trơn tru, ít bị gián đoạn. Trong đó, mục tiêu của chuỗi là tối đa hóa giá trị toàn hệ thống. Việc xây dựng chuỗi cung ứng hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định thiết kế mạng lƣới phân phối – yếu tố gắn kết bốn thành phần chính của chuỗi cung ứng: thông tin, sản xuất, tồn kho và vận chuyển. Trong đó, việc quyết định thiết kế mạng lƣới phân phối nào sẽ chịu ảnh hƣởng của sáu nhân tố sau: thời gian đáp ứng đơn hàng, sự đa dạng của sản phẩm, tính sẵn có của sản phẩm, sự trải nghiệm của khách hàng về sản phẩm, tính hữu hình của đơn hàng và khả năng trả lại hàng

http://svnckh.com.vn

48

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT CÁ TRA XUẤT KHẨU Ở KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
2.1. TỔNG QUAN VỀ VỊ TRÍ NGÀNH SẢN XUẤT CÁ TRA XUẤT KHẨU Cá tra (Pangasius hypophthalmus) và cá basa (Pangasius bocourti) là một trong những đối tƣợng nuôi trồng thủy sản đang đƣợc phát triển với tốc độ nhanh tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long23 (tập trung chủ yếu ở hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp) và là một trong những loài cá có giá trị xuất khẩu cao. Cá basa (Pangasius bocourt) là một loài thuộc họ cá tra (Pangasius), do đó trong các báo cáo và phạm vi bài nghiên cứu này thì cá tra, cá basa đều đƣợc gọi chung là cá tra. Cá tra phân bố ở một số nƣớc Ðông Nam Á nhƣ Campuchia, Thái Lan, Indonexia và Việt Nam, là một trong các loài cá nuôi quan trọng nhất của khu vực này. Bốn nƣớc trên có nguồn cá tra tự nhiên phong phú. Tuy nhiên, thời tiết ấm áp và nguồn nƣớc ngọt quanh năm, lúc nào cũng có thể thả nuôi đƣợc, là một lợi thế riêng của Việt Nam mà những quốc gia khác chung dòng Mê Kông không có đƣợc. Đây là một trong những yếu tố đƣa Việt Nam trở thành nƣớc có sản lƣợng cá tra lớn nhất thế giới, chiếm vị trí gần nhƣ độc tôn (99,9%) thị trƣờng mặt hàng cá tra. Chính vì đặc thù này nên việc nuôi trồng cá tra của Việt Nam chủ yếu tập trung gần nhƣ toàn bộ tại khu vực ĐBSCL. Theo Viện Chính sách và Chiến lƣợc phát triển nông nghiệp nông thôn cơ sở phía Nam, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Đồng bằng sông Cửu Long năm 2008 đạt gần 2,5 tỷ USD, chiếm hơn 60% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của cả nƣớc. Riêng mặt hàng cá tra chiếm 51,8% tổng sản lƣợng xuất khẩu, đạt giá trị 1,453 tỷ USD đóng góp tới 2% GDP của cả nƣớc và khoảng 32,2%24 tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành thuỷ sản. Cũng trong 10 năm qua (1998 – 2008), sản lƣợng nuôi trồng cá tra, đã tăng 50 lần, vƣợt mức 1,2 triệu tấn, giá trị xuất khẩu tăng
23

CỦA KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG (ĐBSCL)

Đồng bằng sông Cửu Long là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông có diện tích 39.734km², bao gồm 12 tỉnh và 1 thành phố: An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long và TP. Cần Thơ 24 Năm 2008, ngoài cá tra, còn có Tôm đông lạnh đóng góp 36,1%, mực và bạch tuộc đông lạnh (7.1%), cá ngừ (4.2%), Hàng khô (3.2%), Hải sản khác (8.1%), Cá khác (9.2%)
http://svnckh.com.vn

49

65 lần, đạt xấp xỉ 1,5 tỷ USD. Mặt hàng chế biến từ cá tra đã có mặt trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đây đƣợc đánh giá là một giai đoạn phát triển thần kỳ của ngành sản xuất cá tra của Việt Nam, có đóng góp lớn trong việc đƣa Việt Nam trở thành một trong mƣời quốc gia xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới.25 Cùng với sản xuất lúa gạo, sản xuất cá tra đã trở thành ngành sản xuất mũi nhọn, mang tính chiến lƣợc của khu vực ĐBSCL. Ngành sản xuất cá tra không những có ý nghĩa quan trọng trong việc xuất khẩu thu về một lƣợng ngoại tệ lớn mà còn tạo công ăn việc làm cho hàng chục vạn nông dân ĐBSCL. Con số này càng có ý nghĩa hơn đối với một ngành sản xuất chỉ sử dụng diện tích nuôi nhỏ bé (khoảng 6.160 héc ta mặt nƣớc, tính đến tháng 12/2008) bằng 1% diện tích nuôi tôm và 0,1% diện tích trồng lúa nhƣng lại tạo ra những sản phẩm có tính cạnh tranh cao, đủ sức chiếm một tỷ trọng lớn thị trƣờng cá thịt trắng. Với giá trị xuất khẩu cao và vai trò ý nghĩa quan trọng của cá tra đối với khu vực ĐBSCL nói riêng và cả nƣớc nói chung, chính phủ đã xác định cá tra là sản phẩm xuất khẩu chủ lực có lợi thế cạnh tranh cao trên thị trƣờng quốc tế, đồng thời chính phủ yêu cầu thành lập Ban chỉ đạo sản xuất, tiêu thụ cá tra do Bộ trƣởng NN&PTNT đứng đầu. Đây là những bƣớc đi ban đầu nhằm đƣa con cá tra trở thành sản phẩm chiến lƣợc của ngành thủy sản Việt Nam. 2.2. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH SẢN XUẤT CÁ TRA XUẤT Hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu ở ĐBSCL đƣợc xem xét qua bốn thành phần chính tham gia vào quá trình sản xuất, đó là: Ngành nuôi trồng (ngƣời nuôi đóng vai trò trung tâm), ngành chế biến (doanh nghiệp chế biến đóng vai trò trung tâm), hoạt động xuất khẩu và sự tham gia của các ngành dịch vụ phụ trợ (cung cấp con giống, thức ăn chăn nuôi, thú y, ngân hàng, …). Trong phạm vi đề tài nghiên cứu sẽ đề cập lần lƣợt đến tình hình hoạt động của từng thành phần chính và đánh giá mối liên kết giữa các thành phần này trong chuỗi sản xuất cá tra xuất khẩu. 2.2.1 Ngành nuôi trồng cá tra 2.2.1.1Các hình thức sản xuất cá tra:
25

KHẨU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Năm 2008, Việt Nam là nƣớc có giá trị xuất khẩu thủy sản đứng thứ 8 trên thế giới (đứng sau các nƣớc: Trung Quốc, Na Uy, Thái Lan, Mỹ, Đan Mạch, Canada, Chile)
http://svnckh.com.vn

50

Ngƣời nông dân ở ĐBSCL có truyền thống nuôi cá tra từ rất lâu, chiếm trên 98% sản lƣợng cá da trơn của cả nƣớc và dẫn đầu sản lƣợng xuất khẩu trong các loài cá nƣớc ngọt. Nuôi cá tra thâm canh đƣợc tập trung chủ yếu dọc hai bên sông Tiền, sông Hậu và các cồn nổi trên sông. Nhìn chung có bốn hình thức chủ yếu đƣợc các cơ sở nuôi áp dụng đó là: nuôi trong ao, hầm; nuôi trên cồn, bãi bồi; nuôi cá tra đăng quầng; nuôi trên lồng bè. Trong đó ngƣời dân chủ yếu thâm canh trong ao, hầm với năng suất cao từ 150 – 500 tấn/ha/vụ. Đối với những cơ sở nuôi qui mô nhỏ thƣờng tận dụng ao, mƣơng, vƣờn sẵn có. Đối với những cơ sở nuôi qui mô lớn, vị trí ao nuôi thƣờng gần các sông rạch để thuận tiện cho việc cung cấp thoát nƣớc, vận chuyển khi thu hoạch và cung cấp giống, thức ăn phục vụ sản xuất. 2.2.1.2Diện tích nuôi: So với các đối tƣợng nuôi khác thì diện tích nuôi cá tra không lớn, tuy nhiên do năng suất nuôi rất cao nên sản lƣợng nuôi đã đóng góp một phần quan trọng trong tổng sản lƣợng nuôi trồng thủy sản của vùng và cả nƣớc. Diện tích nuôi cá tra ở khu vực ĐBSCL nhìn chung có xu hƣớng tăng chậm trong giai đoạn vừa qua. Năm 2005, diện tích nuôi đạt 4.912,5 ha tăng gấp 2,3 lần so với năm 2000 và 3,81 lần so với năm 1997. Năm 2008, diện tích nuôi cá tra là 6.160 ha tăng 1,25 lần so với năm 2007. Bảng 2.1 Bảng số liệu diện tích nuôi trồng cá tra giai đoạn 2005 – 06/2009 Năm Diện tích nuôi trồng (ha) Sản lƣợng (tấn) 2005 4.912,5 371.482 2006 4.243 567.082 2007 4.919,7 900.332 2008 6.160 1.150.000 06/2009 5.001 293.304

(Nguồn: Đề án sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng ĐBSCL đến năm 2020)

Cuối năm 2006, do giá bán cá nguyên liệu giảm thấp (xuống dƣới 9.000đ/kg) nên diện tích nuôi cá tra giảm xuống còn 4.243 ha, sau đó giá có xu hƣớng tăng lên đến tháng 06/2007 diện tích nuôi đạt 4.919,7 ha và tiếp tục tăng đến 6.160 ha vào tháng 12 năm 2008. Trong 6 tháng đầu năm 2009 diện tích thả nuôi cá tra vùng ĐBSCL là 5.001 ha đạt 73% so với kế hoạch năm 2009. 2.2.1.3 Sản lượng:

http://svnckh.com.vn

51

Sản lƣợng nuôi trồng cá tratăng liên tục. Từ 22.550 tấn năm 1997 lên 371.482 tấn năm 2005 (gấp 16,47 lần). Tốc độ tăng trƣởng sản lƣợng trung bình giai đoạn 1997-2005 là 41,94%/năm, cao hơn rất nhiều so với tăng trƣởng bình quân diện tích là 19,3%/năm. Năm 2006, sản lƣợng cá tra đạt 567.082 tấn, đến năm 2007 sản lƣợng cá tra tăng lên 900.332 tấn và năm 2008 đạt xấp xỉ 1,2 triệu tấn, tăng trƣởng trung bình sản lƣợng từ 2005 – 2008 là 47,83%/năm. Diện tích và sản lƣợng nuôi cá tra tập trung chủ yếu ở 8 tỉnh là An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng và Hậu Giang. Năm 2008, diện chiếm 96,4% tổng diện tích nuôi cá tra của cả ĐBSCL (5.940/6.160 ha), sản lƣợng chiếm 99,2% tổng sản lƣợng nuôi cá tra của cả ĐBSCL 2.2.1.4Năng suất: Cùng với sản lƣợng, năng suất nuôi cá tra tăng liên tục trong những năm gần đây. Năng suất cá tra nuôi ngày một tăng nhanh, năm 2008 năng xuất bình quân đạt khoảng 200 tấn/ha, nhƣng tính 6 tháng đầu năm 2009, năng suất bình quân đạt khoảng 250 tấn/ha. Đặc biệt tại Đồng Tháp năng suất đạt từ 300-320 tấn/ha. Các tỉnh ĐBSCL có lợi thế rất lớn để phát triển ngành nuôi trồng cá tra. Tuy chỉ với hơn 6000 ha nuôi ở 9 tỉnh thành phố trong vùng nhƣng giá trị xuất khẩu cá tra giai đoạn 2000 – 2008 đã gần đuổi kịp tôm nƣớc lợ.26 2.2.2 Các ngành cung ứng khác Các ngành dịch vụ phụ trợ cho ngành sản xuất cá tra bao gồm: ngành sản xuất giống cá tra; dịch vụ cung ứng thức ăn và thú y, công tác khuyến ngƣ, cơ sở hạ tầng phục vụ việc nuôi cá tra … 2.2.2.1Hoạt động sản xuất và cung ứng giống cá tra: Trƣớc năm 1990, nguồn cung cấp giống cá tra để nuôi thƣơng phẩm duy nhất từ việc vớt giống ngoài tự nhiên, do sản xuất giống gặp khó khăn về kỹ thuật và hiệu quả sản xuất không cao. Năm 2000, khu vực ĐBSCL đã hoàn thiện qui trình sinh sản nhân tạo và sản xuất ở nhiều nơi trong vùng, trong đó chủ yếu ở An Giang và Đồng Tháp. Trong giai đoạn 2000-2004, nguồn giống cá tra cung cấp cho nuôi thƣơng phẩm vẫn còn lệ thuộc vào giống tự nhiên (trên 50%). Từ năm 2004 trở lại
26

Theo thống kê của VASEP: Năm 2008, tỷ trọng đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu thủy sản của tôm đông lạnh là 36,1%, cá tra là 32,2%
http://svnckh.com.vn

52

đây, tình hình sản xuất giống đã có nhiều chuyển biến tích cực, lƣợng giống cung cấp cho nuôi thƣơng phẩm tăng dần lên, đến thời điểm nghiên cứu (tháng 06/2009) gần 100% lƣợng giống phục vụ nuôi thƣơng phẩm đƣợc cung cấp từ nguồn sản xuất nhân tạo. Trong đó nổi bật là trung tâm giống thủy sản nƣớc ngọt Quốc gia Cái Bè (thuộc Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II) đƣợc đầu tƣ cơ sở vật chất hạ tầng tƣơng đối đồng bộ để nghiên cứu, lƣu giữ và tạo giống gốc sạch bệnh. Hệ thống các cơ sở sản xuất giống tập trung nhiều ở Đồng Tháp và An Giang. Số lƣợng các cơ sở ƣơng dƣỡng và sản xuất cá tra tăng liên tục trong những năm 2005 – 2008. Trong đó, Đồng Tháp là nơi có nhiều cơ sở sản xuất giống nhất vùng. Năm 2000, Đồng Tháp chỉ có 43 cơ sở sản xuất và ƣơng dƣỡng đã tăng lên 1.000 cơ sở sản xuất và ƣơng dƣỡng năm 2008. Theo số liệu của Cục nuôi trổng thủy sản, năm 2006 toàn vùng có 799 cơ sở sản xuất và ƣơng dƣỡng cá tra và sản xuất đƣợc 2.919 triệu con giống. Diện tích để sản xuất và ƣơng dƣỡng giống là 192,3 ha ở năm 2006 đã tăng lên 498,3 ha vào tháng 06/2007; trọng điểm sản xuất cá tra giống trong vùng là An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ. Về chất lƣợng giống nhìn chung giống nuôi đƣợc cung cấp từ các vùng Hồng Ngự - Đồng Tháp và An Giang có chất lƣợng tốt. Tốc độ tăng trƣởng của cá nuôi thƣơng phẩm tƣơng đối ổn định (6 tháng đạt 1 kg), tỷ lệ sống cao (80-95%), kích cỡ đồng đều, ít bị dịch bệnh trong quá trình sản xuất. Tỷ lệ ƣơng từ bột lên hƣơng cũng đƣợc cải thiện đáng kể, ban đầu chỉ đạt khoảng 10-15% sau đó nâng lên 25-30%, có nơi đạt 35%; kỹ thuật ƣơng từ cá hƣơng lên cá giống cũng đƣợc cải thiện đáng kể, đƣa tỷ lệ sống từ 60% lên đến 80-85%.27 Tuy nhiên, do công tác kiểm tra, giám sát còn nhiều hạn chế, bên cạnh đó tốc độ tăng trƣởng và nhu cầu con giống tăng nhanh nên chất lƣợng con giống ngày càng giảm thấp và có dấu hiệu bị suy thoái. Nhiều cơ sở sản xuất con giống sử dụng cá bố mẹ ép đẻ nhiều lần trong năm hoặc lấy cá nuôi cùng đàn để vỗ thành cá bố mẹ dẫn đến hiện tƣơng cận huyết, thoái hóa. 2.2.2.2Hoạt động sản xuất và cung ứng thức ăn:

27

Theo: Đề án sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng ĐBSCL đến năm 2020, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
http://svnckh.com.vn

53

Thức ăn sử dụng để nuôi cá tra ở khu vực ĐBSCL thƣờng có hai loại chính: Thức ăn công nghiệp dạng viện nổi và loại thức ăn tự chế biến. Năm 2006, có 31 nhà máy chế biến thức ăn (trực thuộc 29 doanh nghiệp28) với tổng công suất 492.100 tấn/năm. Năm 2008, có khoảng hơn 90 nhà máy sản xuất thức ăn phục vụ nuôi trồng thủy sản, trong đó có thức ăn cho cá tra tập trung chủ yếu ở tỉnh Cần Thơ, Bình Dƣơng, Đồng Nai,… Các nhà máy sản xuất thức ăn phục vụ nuôi cá tra phần lớn là các doanh nghiệp liên doanh với nƣớc ngoài. Bên cạnh đó, một số cơ sở nuôi ở qui mô trang trại hoặc có cơ sở chế biến thức ăn với qui mô 1-3 tấn/ngày. Để đạt sản lƣợng 1,2 triệu tấn cá tra nguyên liệu thì cần khoảng 1,7-1,8 triệu tấn thức ăn; trong đó sản xuất trong nƣớc năm 2008 đạt 1,2 triệu tấn (chiếm 66,67%), phải nhập khẩu 500.000 tấn (chiếm 27,78%) còn lại là thức ăn tự chế. Chi phí sử dụng thức ăn công nghiệp trong sản xuất cao hơn sử dụng thức ăn tự tạo, tuy nhiên sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên nổi hạn chế đƣợc tình trạng ô nhiễm môi trƣờng nƣớc nuôi. Theo số liệu điều tra năm 2008 có khoảng 80% hộ nuôi sử dụng các phế phụ phẩm trong các sản phẩm nông nghiệp để tự chế biến thức ăn, nhằm giảm giá thành sản phẩm bởi lẽ giá thức ăn chăn nuôi chiếm tới 80% chi phí sản xuất. 2.2.2.3 Khoa học công nghệ và cơ sở hạ tầng phục nụ nuôi cá tra Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II đã xây dựng đƣợc quy trình công nghệ nuôi cá tra và quy trình công nghệ nuôi cá tra đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Công nghệ tạo giống gốc sạch bệnh bƣớc đầu ứng dụng có hiệu quả tại một số cơ sở ƣơng dƣỡng giống; công nghệ xử lý nƣớc thải và các biện pháp giảm thiểu môi trƣờng trong ao nuôi đã đƣợc áp dụng. Bƣớc đầu có sự theo dõi diễn biến các yếu tố môi trƣờng ở sông Tiền, sông Hậu và những vùng nuôi cá tra tập trung. Tuy nhiên tần suất quan trắc còn thƣa, chƣa mang tính đại diện và chƣa cảnh báo thƣờng xuyên, kịp thời cho ngƣời nuôi cá. Hơn nữa, các cơ sở nuôi cá tra lại phân tán nhỏ lẻ, do đó công tác quản lý và xử lý môi trƣờng gặp nhiều trở ngại.

28

Các doanh nghiệp chế biến thức ăn cho thủy sản điển hình nhƣ: Uni – Presedent, Tom Boy, Cargill, Green Feed, An Huy, …
http://svnckh.com.vn

54

Về cơ sở hạ tầng, trong số 6.160 ha nuôi cá tra với sản lƣợng đạt trên 1,2 triệu tấn thì khoảng 60-70% khu nuôi tập trung do các doanh nghiệp đầu tƣ cơ sở hạ tầng; 30-40% là các nông hộ nuôi nhỏ lẻ chƣa đƣợc đầu tƣ thích đáng về hệ thống mƣơng máng cấp thoát nƣớc, đƣờng điện, giao thông, trạm bơm và hệ thống xử lý nƣớc thải. Hiện nay, hầu hết diện tích nuôi cá ao, nuôi cồn đều chƣa có hệ thống ao lắng và ao xử lý nƣớc thải. Nƣớc đƣợc cung cấp và thải trực tiếp từ sông rạch vào ao nuôi và ngƣợc lại, do đó ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng và nguồn nƣớc xung quanh khu vực nuôi. Vấn đề ô nhiễm nguồn nƣớc, cộng với việc sử dụng kháng sinh cũng là nguyên nhân chính dẫn đến lƣợng kháng sinh vƣợt quá qui định cho phép trong sản phẩm, ảnh hƣởng đến uy tín và thƣơng hiệu cá tra Việt Nam. Năm 2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ra chủ trƣơng đầu tƣ cơ sở nuôi cá tra tập trung ở An Giang và Đồng Tháp nhƣng chƣa có kinh phí để thực hiện. 2.2.3 Ngành chế biến cá tra 2.2.3.1 Công suất và sản lượng chế biến cá tra Số lƣợng, quy mô nhà máy chế biến cá tra liên tục tăng nhanh trong những năm qua. Năm 2000, toàn vùng chỉ có 15 nhà máy với công suất 77.880 tấn/năm, đến năm 2007 là 64 nhà máy, công suất đạt 682.300 tấn/năm. Tính đến tháng 6 năm 2008, toàn vùng đã có 80 nhà máy chế biến, công suất thiết kế 965.800 tấn/năm.
Bảng 2.2: Số lượng và công suất thiết kế các nhà máy chế biến cá tra trong vùng 2000 – 2007
Danh mục Số nhà máy chế biến Chuyên Kết hợp 2000 1 14 77.880 689 1 2001 2 17 2002 2 18 2003 2 21 2004 4 29 2005 5 31 2006 20 33 2007 26 37

Công suất thiết kế (tấn/năm) Sản lƣợng chế biến (tấn) Hiệu suất (%)

88.540 119.331 1.970 2 27.980 23

144.945 230.740 281.740 33.304 23 82.962 36 140.707 50

495.351 682.300 286.600 386.870 58 57

(Nguồn: Đề án sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng ĐBSCL đến năm 2020)

2.2.3.2 Mặt hàng chế biến
http://svnckh.com.vn

55

Trƣớc đây, cá tra đƣợc xuất khẩu chủ yếu dƣới dạng phi lê cấp đông đơn thuần (đông block và đông rời), nhƣng đến nay, các mặt hàng chế biến đã đƣợc đa dạng hóa, xuất hiện nhiều sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao. Ngoài dạng chế biến sẵn thì một số doanh nghiệp còn có mặt hàng khô (chủ yếu ở An Giang). Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp còn tân dụng phế liệu chế biến thành các sản phẩm có ích nhƣ dầu cá, bột cá làm tăng hiệu quả sản xuất và hạn chế gây ô nhiễm môi trƣờng. 2.2.3.3Nhu cầu nguyên liệu chế biến Thời gian đầu (1998 – 2001) do chƣa tìm đƣợc thị trƣờng xuất khẩu nên lƣợng cá tra nuôi chủ yếu đƣợc tiêu thụ nội địa, xuất khẩu chỉ chiếm dƣới 10% sản lƣợng. Năm 2002 đánh dấu sự tăng trƣởng đột phá của thị trƣờng xuất khẩu, có đến 54% sản lƣợng nuôi đƣợc đƣa vào chế biến để xuất khẩu. Những năm gần đây, đặc biệt từ sau năm 2003 sau khi bị Mỹ kiện bán phá giá, Việt Nam đã mở rộng xuất khẩu sang các thị trƣờng mới do đó tỷ trọng cá nguyên liệu đƣợc chế biến xuất khẩu liên tục tăng chiếm khoảng 90% tổng sản lƣợng cá tra nuôi. Bảng 2.3: Nhu cầu nguyên liệu chế biến xuất khẩu giai đoạn 2000 - 2007
Danh mục Sản lƣợng nuôi Nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu29 Tỷ trọng XK (%) 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

105.446 109.927 154.907 199.100 272.412 416.908 825.000 1.150.000 2.067 2 5.910 5 83.940 54 93.246 231.628 390.701 751.224 1.011.516 47 85 94 91 88

(Nguồn: Đề án sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng ĐBSCL đến năm 2020) Nguyên liệu đƣợc cung cấp cho các nhà máy bởi hai nguồn chính: Nguồn nguyên liệu do chính vùng sản xuất nguyên liệu của nhà máy cung cấp và nguyên liệu mua từ các cơ sở nuôi riêng lẻ. 2.2.3.4 Quản lý chất lượng sản phẩm Để có thể xuất hàng hóa sang các thị trƣờng nƣớc ngoài, đặc biệt là những nƣớc có yêu cầu chất lƣợng cao nhƣ EU, Mỹ, Nhật thì hầu nhƣ mọi doanh nghiệp
29

Tính toán quy đổi từ lƣợng thành phẩm xuất khẩu giai đoạn 1998 - 2007
http://svnckh.com.vn

56

đều phải áp dụng các Chƣơng trình quản lý chất lƣợng nhƣ HACCP, SQF 2000CM, SQF 1000CM, ISO 9001:2000, Halal, BRC và quản lý môi trƣờng nhƣ ISO 1400030. Tuy nhiên công tác quản lý chất lƣợng còn nhiều bất cập nhƣ: chƣa kiểm soát đƣợc việc buôn bán kháng sinh hóa chất không rõ nguồn gốc trong nuôi cá tra; quản lý vùng nuôi chƣa hiệu quả, vấn đề truy nguyên nguồn gốc sản phẩm gặp nhiều khó khăn mới chỉ dừng lại đến khâu truy xuất cơ sở nuôi, còn trƣớc đó thì chƣa thực hiện đƣợc. Trong thời gian qua, Việt Nam đã gặp phải những trở ngại về kiểm định chất lƣợng sản phẩm gay gắt của các thị trƣờng khó tính nhƣ vụ Mỹ, EU điều tra dƣ lƣợng kháng sinh flouroquinolones, vụ cá tra bị điều tra chứa chất gây ung thƣ tại Italia và Ai Cập… Các vụ điều tra này đã có ảnh hƣởng tiêu cực đến thƣơng hiệu của cá traViệt Nam. 2.2.4 Hoạt động xuất khẩu cá tra Cá tralà mặt hàng sản xuất theo chiến lƣợc xuất khẩu là chủ yếu. Tốc độ tăng trƣởng bình quân của hoạt động xuất khẩu giai đoạn 2000 – 2007 đạt 77% về sản lƣợng và 68% về kim ngạch. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu thấp hơn tốc độ tăng sản lƣợng cho thấy giá xuất khẩu trung bình có xu hƣớng giảm dần (Hình 2.5) ; nhƣ vậy mặt hàng giá trị gia tăng tuy đƣợc chú trọng, song vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng khối lƣợng sản phẩm chế biến xuất khẩu. Tốc độ tăng trƣởng đạt mức kỷ lục là 179% vào năm 200431 và 124% vào năm 2006. Năm 2008, mặt hàng cá trachiếm 51,8% tổng sản lƣợng xuất khẩu, đạt giá trị 1,453 tỷ USD đóng góp tới 2% GDP của cả nƣớc và khoảng 32,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành thuỷ sản. Chỉ trong vòng 5 năm trở lại đây (2003-2008) khối lƣợng cá traxuất khẩu đã tăng 19,24 lần từ 33.304 tấn năm 2003 lên 640.830 tấn năm 2008; giá trị xuất khẩu đã tăng 17,75 lần, từ 81,9 triệu USD năm 2003 lên đến 1,453 tỷ USD năm 2008.
Bảng 2.4: Bảng sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cá tra giai đoạn 2000 - 2007 Năm 2000 Chỉ tiêu Sản lƣợng
30 31

Tăng 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 bình quân 689 1.970 27.980 33.304 82.962 140.707 286.600 386.870 77%

Đây là các tiêu chuẩn quốc tế (xem giải thích một số thuật ngữ - phụ lục 1.2) Một năm đánh dấu sự mở rộng thị trƣờng mới (EU, Nga, Ucraina) sau khi Mỹ kiện bán phá giá cá tra
http://svnckh.com.vn

57

(tấn) Kim ngạch (nghìn USD) Giá trung bình (USD/kg) 2.593 3,76 5.618 87.055 81.899 228.995 328.153 736.872 979.036 2,85 3,11 2,46 2,76 2,33 2,57 2,53 68% -5%

(Nguồn: Thống kê xuất khẩu thủy sản 10 năm (1998 – 2007), VASEP 2008) Hình 2.5: Đồ thị sản lượng và kim ngạch cá tra, giai đoạn 2000 – 2008

(Nguồn: VASEP)

Cơ cấu thị trƣờng liên tục có sự thay đổi qua từng năm trong giai đoạn 2003 – 2007. Thị trƣờng Mỹ có sự biến động mạnh nhất do đã xảy ra vụ kiện chống bán phá giá vào năm 2003. Tuy nhiên, sau đó thị trƣờng xuất khẩu cá tra Việt Nam đã đƣợc mở rộng hơn sang các thị trƣờng Đông Âu, Trung Mỹ, Trung Đông, Bắc Phi, đặc biệt là sang EU và gân đây nhất là Nga. Có thể nói EU, Nga đã thế chỗ cho thị trƣờng Mỹ trong giai đoạn 1999 – 2002. Trong những năm từ 2006 trở lại đây, Ucraina là thị trƣờng mới nổi nhập khẩu nhiều cá tra của Việt Nam chỉ sau khu vực EU và Nga.

http://svnckh.com.vn

58

Hình 2.6: Biểu đồ cơ cấu thị trường xuất khẩu cá tra của Việt Nam năm 2008

(Nguồn số liệu: VASEP, Tạp chí thương mại thủy sản sô 110 tháng 02/2009)

Đến nay, cá tra Việt Nam đã có mặt ở khoảng trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. Trong đó, thị trƣờng EU, Bắc Mỹ, Nga và Ucraina là những thị trƣờng có vai trò quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất. 2.2.5 Thực trạng sự liên kết giữa các khâu trong quá trình sản xuất cá tra xuất khẩu ở Đồng bằng sông Cửu Long 2.2.5.1 Nhìn chung, mối liên kết trong hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu ở khu vực ĐBSCL yếu cả về liên kết dọc lẫn liên kết ngang Trong chuỗi giá trị con cá tra tồn tại hai mối liên kết, đó là liên kết dọc và liên kết ngang. Liên kết dọc là liên kết giữa các thành phần tham gia vào chuỗi sản xuất nhƣ giữa nông dân là ngƣời cùng cấp nguyên liệu với nhà máy chế biến, giữa nông dân nuôi cá và các nhà cung cấp thức ăn, con giống. Liên kết ngang là liên kết trong từng công đoạn, nhƣ mối liên kết giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý ngành, Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam, Hội nghề cá Việt Nam, liên kết giữa những ngƣời nuôi cá; liên kết nội bộ giữa các nhà máy chế biến với nhau, thậm chí là liên kết của những nhà cung cấp con giống, mối liên kết giữa những nhà máy cung cấp thức ăn… Nhìn chung, trong thời gian qua cả hai mối liên hệ này đều thiếu và yếu, thƣờng xuyên xuất hiện những mâu thuẫn về lợi ích.

http://svnckh.com.vn

59

-

Liên kết dọc: Sự phát triển quá nhanh của ngành công nghiệp cá tra trong khi

môi trƣờng kinh doanh chƣa phát triển tƣơng xứng càng làm cho xung đột lợi ích giữa các thành phần tham gia trong chuỗi dẫn đến tình trạng “mạnh ai ngƣời đấy làm”. Trong đó mâu thuẫn lợi ích gay gắt nhất trong liên kết dọc là mâu thuẫn lợi ích giữa ngƣời nuôi và doanh nghiệp chế biến. Có một thực trạng kéo dài trong nhiều năm qua, cá tra nguyên liệu phục vụ cho chế biến xuất khẩu hết khủng hoảng thừa lại đến khủng hoảng thiếu. Mấu chốt của vấn đề là mối liên kết giữa ngƣời nuôi, vùng nuôi, sản lƣợng nuôi với doanh nghiệp chế biến và năng lực chế biến chƣa chặt chẽ. Do phát triển tự phát không theo quy hoạch, khi giá cá tăng, ngƣời dân đổ xô nuôi cá ồ ạt, bất chấp cảnh báo về một cuộc khủng hoảng thừa. Ðến cuối vụ xảy ra tình trạng cá nguyên liệu khủng hoảng thừa, cá nuôi khó tiêu thụ,32 giá bán thấp hơn giá thành nuôi khiến cho ngƣời nuôi chịu tình cảnh lỗ nặng và đứng bên bờ vực phá sản. Tình trạng thiếu nguyên liệu cho chế biến xảy ra, dẫn tới hầu hết các nhà máy hoạt động cầm chừng, do thiếu nguyên liệu, phải cho công nhân nghỉ làm việc không thời hạn vì không có việc làm. Việc liên kết giữa doanh nghiệp chế biến và nguồi nuôi còn lỏng lẻo bởi các hợp đồng bao tiêu sản phẩm chƣa chặt chẽ. Và ngƣời ở thế bị động, có nguy cơ tổn thƣơng cao trong mối liên kết này chính là ngƣời nuôi cá. Trƣớc thực trạng đó, đã xuất hiện một số doanh nghiệp áp dụng mô hình hợp nhất theo ngành dọc bƣớc đầu đã đem lại hiệu quả thiết thực. Trong mô hình này, doanh nghiệp chế biến đã đầu tƣ quy hoạch vùng nuôi cá thƣơng phẩm, thậm chí đầu tƣ sản xuất giống, thức ăn chăn nuôi, gần nhƣ khép kín quy trình sản xuất. Điển hình nhƣ mô hình liên kết của HTX Thới An (Ô Môn - Cần Thơ) với Công ty Hùng Vƣơng theo nguyên tắc: “Nông dân lo con giống và nuôi cá, doanh nghiệp cung cấp thức ăn cho cá tận ao nuôi và thƣờng xuyên kiểm tra kỹ thuật, mỗi kg cá thu hoạch nông dân đƣợc hƣởng 2.500 đồng, ngay trong vụ đầu đã đem lại kết quả tốt, giữa lúc khó khăn với con cá tra thì HTX vẫn thu lợi nhuận ổn định 1,5 tỷ đồng/1.000 tấn cá.”33 Bên cạnh đó đầu năm 2009, CTCP Hùng Vƣơng đã bỏ vốn đầu tƣ, mua sắm
32

Giai đoạn cuối năm 2008, đầu 2009, giá cá nguyên liệu bán thấp hơn giá thành nuôi từ 2.500 đến 3.600 đồng/kg, ngƣời nuôi lỗ nặng, dẫn đến 40% số ao nuôi ở đồng bằng sông Cửu Long xảy ra tình trạng "treo ao" 33 Theo website: http://www.vietlinh.vn/ktcbxnk/VLktcbxnkShowContent.asp?ID=1179
http://svnckh.com.vn

60

dây chuyền tự sản xuất thức ăn. Theo kế hoạch, năm đầu tiên công ty sản xuất khoảng 100.000 tấn thức ăn thủy sản các loại, trong đó 60% dùng trong hệ thống nuôi nguyên liệu của Hùng Vƣơng và 40% sẽ bán ra thị trƣờng.… Một ví dụ khác, về mô hình của CTCP Xuất nhập khẩu thủy sản An Giang (Agifish). Năm 2005, Agifish đã chủ động thành lập liên hợp sản xuất cá sạch APPU, các hộ nuôi cam kết cung cấp cho công ty cá đạt tiêu chuẩn SQF thông qua hợp đồng, có 32 hộ nuôi cá qui mô lớn tham gia, đáp ứng 70% sản lƣợng cá nguyên liệu chế biến xuất khẩu. Với Agifish, chỉ dừng lại ở việc thành lập liên hợp sản xuất cá sạch để đảm bảo nguồn nguyên liệu đảm bảo chất lƣợng và số lƣợng cho quá trình chê biến của công ty, công ty cũng đã hạn chế việc đầu tƣ dàn trải. Mô hình APPU của Agifish là một mô hình có thể tham khảo và nhân rộng, tuy nhiên trong dài hạn, sau khi đã phát triển đi vào ổn định, Liên hợp sản xuất cá sạch APPU nên tồn tại một cách độc lập so với Agifish.34 Nhìn chung, những mô hình này mới chỉ dừng lại ở các doanh nghiệp lớn nhƣ CTCP Vĩnh Hoàn, CTCP Hùng Vƣơng, CTCP xuất nhập khẩu thủy sản An Giang (Agifish), CTCP Nam Việt (Navico). Bên cạnh mối liên kết chính giữa các thành phần tham gia trực tiếp vào chuỗi sản xuất còn có mối liên kết giữa các nhà cung ứng dịch vụ thức ăn chăn nuôi, thuộc thú y, ngân hàng với ngƣời nuôi trồng, chế biến. Nhìn chung những mối liên kết này dựa trên hợp đồng kinh tế. Ngân hàng đóng vai trò là ngƣời cho vay, cung cấp vốn cho các tổ chức. Thực tế, ngƣời chế biến và đặc biệt là ngƣời nuôi trồng vẫn còn khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn lớn Liên kết ngang: Nhìn chung sự liên kết giữa Bộ NN&PTNT, Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam, rồi Hội nghề cá Việt Nam còn chƣa chặt chẽ. Đến năm 2009 chúng ta mới bƣớc đầu đƣa ra đề án và thành lập đƣợc ban chỉ đạo sản xuất và tiêu thụ cá tra. Trƣớc đó, các quy định ban hành về quy hoạch, quản lý vùng nuôi, các tiêu chuẩn VSATTP đều chƣa đƣợc các cơ quan chức năng phối hợp với nhau giải quyết triệt để các vấn đề tồn tại. Bên cạnh đó vấn đề nổi cộm chính là sự sự cạnh tranh bằng phƣơng thức ghìm giá giữa các doanh nghiệp chế biến với nhau. Nhằm tranh giành thị trƣờng, các doanh nghiệp chế biến thay vì hợp tác với
34

Lý do của vấn đề này sẽ đƣợc phân tích kỹ trong mục 2.3 của chƣơng này.
http://svnckh.com.vn

61

nhau, các doanh nghiệp lại cạnh tranh không lành mạnh với nhau bằng cách ghìm giá sản phẩm, cắt bớt chi phí sản xuất, cắt giảm chi phí theo dõi chất lƣợng vệ sinh an toàn thực phẩm, điều này làm giá sản phẩm giảm không những gây bất lợi cho chính doanh nghiệp, mà còn có nguy cơ đối mặt bị kiện bán phá giá sản phẩm35. Sự cạnh tranh không lành mạnh ngay giữa các công ty trong nƣớc đã ảnh hƣởng không nhỏ đến uy tín thƣơng hiệu chất lƣợng sản phẩm cá tra xuất khẩu. Trƣớc thực trạng trên, Bộ NN&PTNT đã thành lập mô hình Ban điều hành xuất khẩu cá tra vào thị trƣờng Nga36 và đã bƣớc đầu phát huy tác dụng của lợi thế liên kết ngang. Ban điều hành là đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu cá tra Việt Nam thƣơng lƣợng để thống nhất với đối tác phía Nga về sản lƣợng, chất lƣợng, giá cả của sản phẩm cá tra philê đông lạnh xuất khẩu sang thị trƣờng Liên Bang Nga. Với những hiệu quả bƣớc đầu đƣợc coi nhƣ là một thành công trong việc hợp tác theo liên kết ngang giữa các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu. 2.2.5.2 Chưa xây dựng được cơ chế chia sẻ thông tin dẫn tới tình trạng thiếu thông tin, và thông tin không chính xác và đầy đủ khiến hoạt động sản xuất cá tra không ổn định về sản lượng, chất lượng, và giá. Trong suốt thời gian qua, tình trạng thiếu thông tin, thông tin dự báo không đầy đủ xảy ra thƣờng trực đối với các cơ sở nuôi trồng, con giống và ngay cả doanh nghiệp chế biến. Sự phát triển nghề nuôi cá theo phong trào, sự liên kết rời rạc giữa ngƣời nuôi cá và nhà máy chế biến đã dẫn đến tình trạng ngƣời nuôi không biết về nhu cầu thị trƣờng, ngƣời chế biến không nắm đƣợc sản lƣợng cá thực có tại các ao. Hệ thống thông tin dự báo cung – cầu của thị trƣờng chƣa đƣợc chú trọng, cùng với đó giữa ngƣời nuôi trồng với các doanh nghiệp chế biến xảy ra tình trạng mất cân đối thông tin mỗi khi đến mùa vụ thu hoạch cá, dẫn đến tình trạng mất cân bằng cung cầu, và nhà máy chế biến ép giá nông dân. Ngƣời chịu rủi ro do thiếu thông tin nhiều nhất chính là các cơ sở nuôi trồng và ƣơng dƣỡng con giống. Chính vì thiếu
35

Bị kiện bán phá giá sẽ đẩy các doanh nghiệp Việt Nam vào tình thế khó khăn do Việt Nam vẫn chƣa đƣợc nhiều nƣớc công nhận là nền kinh tế thị trƣờng cho đến năm 2018. 36 Tháng 04/2009, thành lập Ban điều hành xuất khẩu cá tra vào thị trƣờng Nga và bƣớc đầu thu đƣợc kết quả khả quan: tháng 5, tháng 6/2009, Ban điều hành đã xuất sang Nga đƣợc trên 10.000 tấn cá tra. Riêng tháng 7, dự kiến xuất khoảng 15.000 tấn
http://svnckh.com.vn

62

thông tin và các thông tin về thị trƣờng không đầy đủ dẫn đến các thành phần tham gia vào các công đoạn cung ứng sản phẩm cá tra luôn ở tình trạng bị động trong sản xuất, sản lƣợng không ổn định sẽ ảnh hƣởng đến việc đáp ứng đơn hàng của các nhà nhập khẩu cá tra. Thực tế cũng cho thấy, việc các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu một cách ồ ạt sản phẩm vào các thị trƣờng bất chấp mọi thông tin cảnh báo về tiêu chuẩn VSATTP, rủi ro về tỷ giá và nguy cơ bị kiện bán phá giá đã làm cho giá cá tra của Việt Nam giảm liên tục trong những năm qua. Giá trung bình năm 2000 là 3,76USD/kg đến năm 2007 giá chỉ còn 2,53USD/kg. Hệ thống thông tin không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin dự báo thị trƣờng hay kế hoạch sản xuất của các thành phần tham gia vào quá trình sản xuất, hệ thống thông tin còn bao gồm các thông tin cập nhật về kỹ thuật nuôi trồng và chế biến, các tiêu chuẩn VSATTP của các thị trƣờng, những phản hồi về sản phẩm từ thị trƣờng xuất khẩu. Những thông tin này là cơ sở cho sản phẩm cá tra có thể đáp ứng nhu cầu khách hàng tốt hơn thì lại không đƣợc chia sẻ tới tất cả các thành phần tham gia vào các công đoạn sản xuất đó. Những thông tin về các khâu sản xuất không rõ ràng đã gây khó khăn trong việc truy xuất nguồn gốc và cấp mã vùng nuôi đƣợc phép xuất khẩu. Điều này sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng VSATTP của sản phẩm, gây tổn hại đến thƣơng hiệu cá tra. Tóm lại, thông tin là nền tảng để các mắt xích trong chuỗi sản xuất có thể chủ động trong việc thống nhất kế hoạch sản xuất, mức tồn kho, và thiết lập kế hoạch dài hạn. Tuy nhiên thực trạng ngành sản xuất cá tra xuất khẩu khu vực ĐBSCL chƣa có cơ chế phối hợp để dòng thông tin trong chuỗi đƣợc thông suốt dẫn đến nhiều bất cập trong công tác dự báo và lên kế hoạch sản xuất, điều này làm ảnh hƣởng rất lớn tới lợi nhuận chung của toàn ngành. 2.2.5.3 Hệ thống cơ sở vật chất trong vận chuyển và lưu kho chưa phát triển tương xứng với tốc độ tăng trưởng của ngành, dẫn đến tình trạng dòng chảy hàng hóa (cá tra nguyên liệu và sản phẩm chế biến) bị gián đoạn ảnh hưởng đến năng suất sau thu hoạch, khả năng đáp ứng đơn hàng nhanh và chất lượng sản phẩm. Đa số cơ sở nuôi trồng cá tra nguyên liệu đƣợc phân bố chủ yếu xung quanh lƣu vực của Sông Tiền và Sông Hậu, do đó rất thuận tiện trong việc vận chuyển cá
http://svnckh.com.vn

63

tra sau thu hoạch tới nhà máy chế biến. Thu mua cá thƣờng đƣợc thực hiện bởi hai đối tƣợng chính đó là: thƣơng lái và các doanh nghiệp chế biến ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Phƣơng tiện vận chuyển cá nguyên liệu đến các nhà máy chế biến thƣờng bằng các phƣơng tiện thô sơ, không phải phƣơng tiện chuyên dụng, nhƣ: ghe, thuyền và ô tô. Cơ sở hạ tầng giao thông chƣa đồng bộ, hơn nữa, các cơ sở nuôi cá tra thƣờng phân tán, không tập trung thành vùng qui mô lớn. Đây cũng gây nên những hạn chế trong công tác vận chuyển, thu mua, ảnh hƣởng tới năng suất sau thu hoạch. Do đặc thù của sản phẩm thủy sản nói chung và cá tra nói riêng đó là vòng đời sản phẩm ngắn, rất dễ bị ƣơn hỏng, do đó công tác thu mua và chuyển cá nguyên liệu đến các nhà máy cũng nhƣ lƣu kho lạnh đòi hỏi phải nhanh, kịp thời đảm bảo cá còn tƣơi nguyên. Hơn nữa cá tra nguyên liệu phải thu hoạch khi kích thƣớc và trọng lƣợng cá đạt tiêu chuẩn (thƣờng khoảng 1,0-1,1 kg) nếu không thu hoạch nhanh cá sẽ bị trễ lứa và giá thành sẽ giảm, không đảm bảo tiêu chuẩn khắt khe mà phía nhập khẩu yêu cầu. 2.3 ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA MÔ HÌNH HỢP NHẤT THEO Trong ngành sản xuất cá tra của khu vực ĐBSCL, trƣớc thực trạng bất ổn định về cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm, nhiều doanh nghiệp chế biến lớn nhƣ CTCP Nam Việt (Navico), CTCP Hùng Vƣơng, CTCP Chế biến và xuất nhập khẩu thủy sản An Giang (Agifish)… đã đầu tƣ, quy hoạch vùng nuôi nguyên liệu, xây dựng hệ thống bán lẻ sản phẩm, thậm chí đầu tƣ sản xuất con giống và thức ăn chăn nuôi, gần nhƣ mô hình khép kín các công đoạn của dây chuyền sản xuất. Bản chất ở đây chính là quá trình hợp nhất theo ngành dọc, tức là sự kết hợp của hai hay nhiều khâu trong quá trình sản xuất vào một chủ thế duy nhất (ở đây là doanh nghiệp chế biến). Trong ngắn hạn, việc hợp nhất theo ngành dọc có thể giúp doanh nghiệp giải quyết tình trạng khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải trong ngắn hạn. Trong thực tế của hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu, việc hợp nhất theo ngành dọc trong giai đoạn đầu sẽ có tác động tích cực trong việc bảo đảm tính ổn định sản xuất cho chủ thể chính (doanh nghiệp chế biến). Hơn nữa trong giai đoạn đầu khi các doanh nghiệp chế biến tự đầu tƣ xây dựng các cơ sở nuôi trồng, cơ sở ƣơng dƣỡng giống
http://svnckh.com.vn

NGÀNH DỌC

64

cho riêng cho mình, các cơ sở nuôi trồng (liên hợp các cơ sở nuôi trồng) này mong đợi lƣợng vốn đầu tƣ và chuyển giao kỹ thuật nuôi trồng, các tiêu chuẩn VSATTP mà các doanh nghiệp chế biến cung cấp cho họ. Việc hợp nhất sẽ giúp tăng cƣờng sự trao đổi qua lại giữa cơ sở nuôi trồng và doanh nghiệp chế biến, hạn chế mâu thuẫn lợi ích giữa ngƣời nuôi trồng – doanh nghiệp chế biến (vì thực chất doanh nghiệp chế biến là ông chủ đầu tƣ vốn, kỹ thuật cho các cơ sở nuôi trồng). Nhƣng về lâu dài thì đây không phải là một sự lựa chọn có hiệu quả nhất và phù hợp với xu hƣớng phát triển. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp chế biến, liên hợp nuôi trồng, cơ sở cung ứng giống nên là các chủ thể tồn tại độc lập, doanh nghiệp chế biến chỉ dừng lại ở vai trò hỗ trợ thành lập các Liên hợp nuôi trồng, cơ sở con giống trong, hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý… Để làm sáng tỏ điều này, sau đây chúng ta sẽ chỉ ra ƣu điểm và hạn chế của mô hình hợp nhất theo ngành dọc trong dài hạn: 2.3.1 Ƣu điểm của mô hình hợp nhất theo ngành dọc Khi các doanh nghiệp chế biến đầu tƣ xây dựng theo mô hình hợp nhất theo ngành dọc sẽ giúp cho doanh nghiệp giải quyết một số khó khăn trƣớc mắt: Thứ nhất, việc đầu tƣ xây dựng cơ sở nuôi trồng sẽ giúp các doanh nghiệp ổn định việc cung ứng nguyên liệu cho nhà máy chế biến. Thứ hai, giúp các doanh nghiệp khắc phục phần nào những khiếm khuyết của thị trƣờng nhờ rút ngắn khoảng cách cung – cầu, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh, tính không ổn định, không hoàn hảo của thị trƣờng và các loại hình rào cản. Thứ ba, mô hình hợp nhất sẽ giúp các doanh nghiệp trao đổi thông tin nhanh và ít bị “méo mó” hơn, từ đó doanh nghiệp có thể chủ động trong sản xuất, điều chỉnh chu kỳ, số lƣợng và loại hình sản phẩm phù hợp với đòi hỏi của thị trƣờng. Cuối cùng, sự hợp nhất các thành phần vào một chủ thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp giảm chi phí trƣớc giao dịch (chi phí tìm đối tác, đàm phán và ký hợp đồng), chi phí sau giao dịch (giám sát, bảo đảm việc thực hiện hợp đồng, thanh quyết toán). 2.3.2 Hạn chế của mô hình hợp nhất theo ngành dọc Bên cạnh những ƣu điểm trên, việc hợp nhất theo ngành dọc có nhiều điểm hạn chế khiến cho mô hình này về dài hạn sẽ kém bền vững vì những lý do sau:
http://svnckh.com.vn

65

Hạn chế đầu tiên, đó là các doanh nghiệp chủ thể sẽ phải chia sẻ các nguồn lực, cả đội ngũ chuyên gia, đội ngũ quản lý, điều này đi ngƣợc lại quá trình chuyên môn hóa, không tận dụng đƣợc tính kinh tế theo qui mô (một trong những yếu tố đã đề cập ở chƣơng 1). Thứ hai, sự quá đa dạng về qui mô, công suất và tốc độ của các khâu trong quá trình sản xuất gây ra trở ngại đan chéo giữa các khâu, hạn chế khả năng huy động tối đa công suất của từng giai đoạn. Bởi lẽ mỗi khâu, mỗi giai đoạn có đặc điểm riêng, đòi hỏi các kiến thức khác nhau về kỹ thuật, quản lý, tiếp thị, nên sự quan tâm của doanh nghiệp sẽ bị phân tán, không thể tập trung tối đa vào lĩnh vực mà doanh nghiệp có thế mạnh Thứ ba, hợp nhất theo ngành dọc sẽ làm giảm tính linh hoạt của toàn hệ thống, triệt tiêu sự cạnh tranh để phát triển ở mỗi giai đoạn. Điều này xảy ra do công nghệ và thiết kế giữa các bộ phận trong doanh nghiệp đã có sự kết hợp chặt chẽ và đầu tƣ vào các khâu cụ thể nên những thay đổi về qui trình sản xuất khi có thay đổi nhu cầu của ngƣời tiêu dùng sẽ mất nhiều thời gian và tốn chi phí hơn so với các nguồn cung cấp hoặc tiêu thụ độc lập. Dễ thấy trong thực tế, các cấu trúc lớn thƣờng tỏ ra kém nhạy cảm hơn đối với những khả năng phát triển mới do hạn chế về tính cạnh tranh theo cơ chế thị trƣờng đích thực. Tóm lại, sự hợp nhất theo ngành dọc có những lợi ích đáng kể đối với doanh nghiệp trong một giai đoạn nhất định, tuy nhiên về lâu dài mô hình này bộc lộ nhiều hạn chế, tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro lớn. Đây không phải là một mô hình hiệu quả và phù hợp với xu hƣớng phát triển hiện đại, ở đó sự chuyên môn hóa và tính kinh tế theo qui mô có ảnh hƣởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất. 2.4 ĐIỂM MẠNH, ĐIỂM YẾU, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNH SẢN XUẤT CÁ TRA XUẤT KHẨU CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Dựa trên kết quả hoạt động của ngành sản xuất cá tra xuất khẩu khu vực ĐBSCL, cũng nhƣ đánh giá thực trạng về mối liên kết giữa các thành phần trong quá trình sản xuất từ đó nhóm nghiên cứu đã sử dụng phƣơng pháp phân tích SWOT để chỉ ra những điểm mạnh (Strength), điểm yếu (Weakness), Cơ hội (Opportunity),
http://svnckh.com.vn

66

Nguy cơ (Threat) mà ngành sản xuất cá tra xuất khẩu ở khu vực ĐBSCL có thể gặp phải trong quá trình phát triển tiếp theo. 2.4.1 Điểm mạnh Điều kiện tự nhiên của khu vực ĐBSCL với hệ thống sông ngòi cung cấp nguồn nƣớc ngọt dồi dào, khí hậu ấm áp, là điều kiện thuận lợi với việc nuôi trồng cá tra quanh năm. Hơn nữa, năng suất nuôi cá tra nguyên liệu rất cao trong sử dụng một diện tích nuôi trồng thấp. Đặc điểm này giúp Việt Nam trở thành nƣớc có sản lƣợng cá tra lớn nhất thế giới Sản phẩm cá tra đƣợc các thị trƣờng ƣa thích do giá cạnh tranh hơn so với các loại thủy sản khác và thịt trắng, chất lƣợng dinh dƣỡng, hợp khẩu vị với ngƣời tiêu dùng tại các thị trƣờng tiềm năng nhƣ EU, Đông Âu, Australia, Ai Cập… Chi phí sản xuất sản phẩm cá tra tại khu vực ĐBSCL thấp do chi phí lao động rẻ, nguồn lao động dồi dào, khu nuôi trồng và chế biến tập trung, thuận tiện trong chuyên chở vận chuyển, các doanh nghiệp chế biến tập trung gần cảng biển, nên giảm đƣợc chi phí vận chuyển. Tận dụng lợi thế so sánh và tính kinh tế theo sản xuất trên qui mô lớn. Các doanh nghiệp chế biến thủy sản có kinh nghiệm về qui trình sản xuất, nhanh nhẹn, năng động trong việc tiếp cận các thị trƣờng mới với sự trợ giúp từ VASEP và các Thƣơng vụ Việt Nam tại nƣớc ngoài. Cá tra đƣợc xác định là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của VN và mang tính chiến lƣợc của vùng ĐBSCL. Sản xuất và chế biến cá tra nhận đƣợc sự quan tâm hỗ trợ và sự quyết tâm từ phía Chính phủ và các Cơ quan Ban ngành. Năm 2009, với sự ra đời Ban chỉ đạo sản xuất và tiêu thụ cá tra đƣợc đánh dấu là năm tập trung quy hoạch, rà soát, và từng bƣớc giải quyết triệt để các vấn đề tồn tại. 2.4.2 Điểm yếu Thứ nhất, ngƣời nuôi và ngƣời chế biến chƣa có sự liên kết chặt chẽ trong việc dự báo và hoạch định sản lƣợng, chất lƣợng, phân chia lợi nhuận và chia sẻ rủi ro. Chƣa có cơ chế chia sẻ thông tin, hạn chế về tiếp cận thông tin về thị trƣờng cũng nhƣ các kỹ thuật nuôi trồng, qui trình VSATTP.
http://svnckh.com.vn

67

Thứ hai, sự phát triển tự phát của nuôi trồng nên không cân đối đủ giống cho ngƣời nuôi, và không có cơ quan nào chịu trách nhiệm kiểm soát chất lƣợng giống. Hệ thống các cơ quan quản lý nuôi trồng thủy sản từ Trung ƣơng đến địa phƣơng đang trong quá trình hình thành nên còn thiếu và yếu. Thứ ba, việc áp dụng sản xuất sạch đạt tiêu chuẩn chất lƣợng chƣa phổ biến, hiệu quả ứng dụng các tiêu chuẩn nhƣ HACCP và chƣơng trình quản lý chất lƣợng còn chƣa cao Thứ tƣ, chƣa có qui hoạch cụ thể về ngƣời nuôi, việc giám sát, rà soát, điều chỉnh, qui hoạch còn nhiều hạn chế. Công tác nuôi trồng phát triển một cách tự phát dẫn đến khó khăn trong quản lý sản xuất và truy xuất nguồn gốc Thứ năm, nhiều nhà chế biến và ngƣời nuôi không tuân thủ qui định xử lý chất thải. Việc quản lý môi trƣờng và hệ thống quan trắc cảnh báo môi trƣờng phục vụ thủy sản chƣa đƣợc đầu tƣ đúng mức, đồng bộ về nguồn lực, hiện tƣợng ô nhiễm môi trƣờng và dịch bệnh phát triển dẫn đến rủi ro cho ngƣời nuôi Thứ sáu, cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ ngƣời nuôi chƣa đƣợc đầu tƣ thích đáng. Hầu hết các vùng nuôi chƣa có hệ thống cấp, thoát nƣớc riêng biệt, chƣa có hệ thống ao lắng, xử lý nƣớc thải. Hệ thống phƣơng tiện vận tải còn thô sơ so với yêu cầu vận chuyển nhanh của sản phẩm cá tra. Thứ bảy, cạnh tranh không lành mạnh xảy ra trong thƣơng mại, hiện tƣợng tranh mua tranh bán và ép giá còn xảy ra giữa các nhà chế biến; đồng thời thƣờng xảy ra hiện tƣợng không tuân thủ hợp đồng mua bán đã ký kết giữa ngƣời nuôi và doanh nghiệp chế biến cá tra. Thứ tám, giá thức ăn chăn nuôi và thức ăn cá tra thời gian qua tăng đột biến, mà nguyên nhân sâu xa do nguồn nguyên liệu chế biến thức ăn trong nƣớc phụ thuộc nhiều vào thị trƣờng thế giới, trong khi đó giá sản phẩm có xu hƣớng giảm

2.4.3 Cơ hội Những cơ hội do quá trình hội nhập của Việt Nam cùng với những xu hƣớng tiêu dùng của thị trƣờng. Nếu mà các doanh nghiệp nắm bắt đƣợc, thì đây là những cơ hội cho cá tra mở rộng thị phần của mình tại hơn 130 thị trƣờng trên thế giới:
http://svnckh.com.vn

68

Trƣớc hết, việc Việt Nam gia nhập WTO đã tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận các thị trƣờng mới một cách dễ dàng, bình đẳng, sản phẩm cá tra của Việt Nam không bị đối xử phân biệt. Bên cạnh đó chúng ta còn đƣợc hƣởng một số ƣu đãi thuế quan từ các hiệp định thƣơng mại song phƣơng với các quốc gia, ví dụ Hiệp định Hợp tác kinh tế Việt Nam- Nhật Bản (VJEPA), ký 01/2009 và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP) ký 12/2008, tạo điều kiện cho sản phẩm cá tra vào thị trƣờng Nhật Bản với mức thuế suất 0%. Trong những năm gần đây, diễn biến dịch bệnh phức tạp đối với gia súc gia cầm đã tạo cơ hội lớn cho sự phát triển của các sản phẩm thủy sản nói chung và cá tra nói riêng, khi ngƣời tiêu dùng có xu hƣớng sử dụng sản phẩm thủy sản nhƣ là sản phẩm thay thế. Nhu cầu mặt hàng thủy sản ở các thị trƣờng nhƣ Bắc Mỹ, EU, Đông Âu, Bắc Phi luôn rất lớn. Nếu sản phẩm cá tra đảm bảo các yêu cầu chất lƣợng và VSATTP, các doanh nghiệp chế biến cá tra tăng cƣờng xúc tiến thƣơng mại thâm nhập vào các thị trƣờng tiềm năng trên và các thị trƣờng mới khác, đây là một cơ hội cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam Khủng hoảng kinh tế khiến ngƣời tiêu dùng có xu hƣớng lựa chọn sản phẩm thủy sản giá rẻ, thơm ngon, đảm bảo dinh dƣỡng. Đây là một lợi thế của cá tra. Và trong thời gian khủng hoảng vừa qua, cá tra của Việt Nam là sự lựa chọn của nhiều ngƣời tiêu dùng ở Nga, Ucraina, Ai Cập, Italia… 2.4.4 Thách thức Đi kèm với những cơ hội bên ngoài mang lại, những nguy cơ, rủi ro mà cá tra Việt Nam dễ gặp phải trong bối cảnh ngày nay bao gồm: Trƣớc hết, khủng hoảng kinh tế khiến ngƣời tiêu dùng tại các thị trƣờng xuất khẩu thắt chặt chi tiêu, do đó sản lƣợng tiêu thụ cá tra xuất khẩu của Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ sụt giảm. Sự xuất hiện ngày càng tinh vi các hình thức bảo hộ ở các nƣớc phát triển nhƣ: các rào cản thuế quan và phi thuế quan. Hàng rào kỹ thuật ở một số thị trƣờng nhập khẩu kiểm soát dƣ lƣợng hóa chất và kháng sinh cấm nhƣ: Chloramphenicol, Fluoroquinolones, Malachite Green, tạp chất ... trở nên nghiêm ngặt hơn sau các vụ phát hiện có dƣ lƣợng kháng sinh trong một số lô hàng. Các thị trƣờng tiêu thụ cá
http://svnckh.com.vn

69

tra của Việt Nam nhƣ Pháp, Tây Ban Nha, Nauy, Mỹ… ngày càng sử dụng nhiều các chƣơng trình truyền thông làm giảm uy tín chất lƣợng sản phẩm cá tra Việt Nam mặc dù những thông tin đó thiếu cơ sở và con cá tra đã đƣợc xác nhận về chất lƣợng, nhƣng ít nhiều những thông tin sai lệch này cũng ảnh hƣởng tới tâm lý ngƣời tiêu dùng các nƣớc nhập khẩu, liên đới ảnh hƣởng tới hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam. Các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với nguy cơ bị kiện bán phá giá tại các thị trƣờng EU và Hoa Kỳ. Chính sự cạnh tranh không lành mạnh bằng việc giảm giá giữa các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam có gây hậu quả cho chính mình. Mặt hàng cá tra của Việt Nam sẽ phải chịu sự cạnh tranh với các sản phẩm thủy sản cùng hạng của các nƣớc Trung Quốc, Thái Lan... Đặc biệt trong thời gian qua, Thái Lan và Trung Quốc là hai nƣớc đầu tƣ cho con cá tra mạnh nhất. Thái Lan đã đầu tƣ 20 triệu USD nghiên cứu nuôi cá tra ao, hầm37. Dự báo, một hoặc hai năm nữa lợi thế độc quyền của con cá tra Việt Nam sẽ không còn, và sẽ bị thu hẹp thị phần nếu những yếu kém từ sản xuất đến tiêu thụ chậm đƣợc khắc phục... Rủi ro giảm giá xuất khẩu. Trong những năm qua, giá sản phẩm phi lê cá tra xuất khẩu đang có xu hƣớng giảm giá. Nếu nhƣ năm 2000, giá trung bình 3.7USD/kg cá tra xuất khẩu thì năm 2007 chỉ còn trung bình 2.53USD/kg cá tra xuất khẩu.38

37 38

Theo TS. Nguyễn Văn Sánh, Phó viện trƣởng Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL (Đại học Cần Thơ) Nguồn: Thống kê xuất khẩu thủy sản 10 năm (1998 – 2007) – VASEP 2008
http://svnckh.com.vn

70

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 Sản xuất cá tra đóng vai trò quan trọng và là ngành chiến lƣợc đôi với khu vực ĐBSCL. Xuất khẩu cá tra trong những năm gần đây chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong xuất khẩu thủy sản cả nƣớc, hiện nay cùng với tôm, cá tra là mặt hàng thứ hai chiếm tỷ trọng lớn nhất trong xuất khẩu thủy sản, nhƣng tốc độ phát triển cá tra có xu hƣớng tăng nhanh hơn so với tôm và là mặt hàng có nhiều lợi thế cạnh tranh của khu vực ĐBSCL. Tuy nhiên trong kể từ năm 2003 trở lại đây, sản xuất cá tra tăng quá nhanh đã bộc lộ những mâu thuẫn xung đột giữa các thành phần tham gia chuỗi, sự quản lý yếu kém và công tác qui hoạch còn hạn chế, sự mất cân đối trong cung – cầu nguyên liệu, sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong mối liên kết ngang với nhau, những khó khăn trong việc kiếm định VSATTP và bảo vệ môi trƣờng nguồn nƣớc…. Đây là những biểu hiện của một chuỗi sản xuất thiếu bền vững, yếu cả về liên kết ngang lẫn liên kết dọc. Đứng trƣớc tình trạng đó, mô hình hợp nhất theo ngành dọc đã xuất hiện ở một số doanh nghiệp chế biến cá tra xuất khẩu trong ngành. Bên cạnh những ƣu điểm của mô hình đối với doanh nghiệp trong việc khắc phục những khó khăn trƣớc mắt, mô hình này về lâu về dài tất yếu sẽ bộc lộ nhiều hạn chế, ẩn chứa những nguy cơ rủi ro và không phù hợp với xu hƣớng phát triển hiện đại.

http://svnckh.com.vn

71

CHƢƠNG 3: ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG CHUỖI CUNG ỨNG MẶT HÀNG CÁ TRA XUẤT KHẨU Ở KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
3.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHUỖI CUNG ỨNG MẶT HÀNG CÁ TRA XUẤT KHẨU KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Sau khi nghiên cứu lý thuyết về chuỗi cung ứng và đánh giá hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu, đề tài nghiên cứu đã đƣa ra đề xuất ứng dụng lý thuyết về chuỗi cung ứng vào thực tế hoạt động sản xuất cá tra. Cùng với “Đề án sản xuất và tiêu thụ cá tra khu vực ĐBSCL đến năm 2020”, đƣợc chính phủ phê duyệt trong năm 2009, xây dựng chuỗi cung ứng mặt hàng cá tra xuất khẩu là một hƣớng đi mới, cần thiết để khắc phục những hạn chế và đẩy mạnh sự phát triển hiệu quả, bền vững của mặt hàng xuất khẩu chủ lực này, bởi những lý do trình bày sau đây: 3.1.1 Xây dựng mô hình chuỗi cung ứng sẽ khắc phục những hạn chế do mô hình hợp nhất theo ngành dọc tạo ra. Trong phần lý thuyết chƣơng 1, mục 1.3 (xu hƣớng về sự phát triển của chuỗi cung ứng) và mục 2.3 của chƣơng 2, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra mô hình hợp nhất theo ngành dọc mà các doanh nghiệp chế biến cá tra xuất khẩu ở khu vực ĐBSCL đã và đang tạo dựng không phải là một sự lựa chọn hiệu quả, phù hợp với xu thế phát triển hiện đại, ở đó trình độ sản xuất mang tính chuyên môn hóa cao. Để khắc phục những hạn chế do mô hình hợp nhất theo ngành dọc tạo ra, thì chuỗi ung ứng (mô hình liên kết dọc) là sự lựa chọn tối ƣu hơn cả, và là xu hƣớng phát triển tất yếu. Xây dựng chuỗi cung ứng liên kết giữa các thành phần tham gia vào chuỗi sản xuất, về bản chất đó là hình thái trung gian giữa mối quan hệ thị trƣờng thuần túy và sự hợp nhất theo ngành dọc. Chuỗi cung ứng ở đó các thành viên liên kết theo ngành dọc là một sự hợp nhất không toàn diện nghĩa là không có sự chuyển giao sở hữu kiểm soát cho các khâu khác trong hệ thống, mà chỉ là sự liên kết về định hƣớng và kiểm soát các mảng của một hệ thống thị trƣờng. Trong mối quan hệ thị trƣờng
http://svnckh.com.vn

72

thuần khiết, sự quản lý dựa trên từng khâu riêng biệt, còn trong chuỗi cung ứng liên (kết theo ngành dọc), sự quản lý dựa trên sự phối hợp một cách nhịp nhàng của cả hệ thống nhằm một mục tiêu duy nhất đó là thỏa mãn khách hàng một cách tốt nhất với chi phí thấp nhất, từ đó thu đƣợc lợi nhuận cao nhất. Sự hợp tác giữa các đơn vị cấu thành chuỗi cung ứng sẽ tạo cơ sở vững chắc cho việc tổ chức tốt hơn, có hiệu quả hơn sự phân công lao động giữa các đơn vị thành viên. Nó cũng cho phép củng cố các mối quan hệ liên kết và cộng tác với các doanh nghiệp có liên quan trong toàn chuỗi cung ứng, san sẻ hoặc hỗ trợ nhau khắc phục các rủi ro trong kinh doanh. Trên thực tế, hiện nay hầu hết các thành phần trong chuỗi sản xuất thủy sản nói chung và cá tra nói riêng đều tìm cách hình thành và duy trì các mối quan hệ lâu dài với đối tác, bạn hàng của mình. Thực trạng cho thấy, các doanh nghiệp chế biến và ngƣời nuôi trồng thƣờng sử dụng hợp đồng bao tiêu sản phẩm, các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi và ngƣời nuôi trồng đều dùng hợp đồng hoặc thỏa thuận bằng miệng. Tuy nhiên có sự mất cân xứng về qui mô: các hộ nuôi trồng có qui mô quá bé so với các doanh nghiệp chế biến và công ty thức ăn chăn nuôi, ngƣời nuôi trồng dễ gặp nhiều rủi ro (rủi ro về đầu ra sản phẩm, tiếp cận tài chính) hơn những thành phần khác. Sự liên kết các hộ nuôi trồng với nhau (liên kết ngang) tạo thành một mắt xích trong chuỗi cung ứng sẽ có tiếng nói mạnh hơn. Hơn nữa chuỗi cung ứng có thể giúp cắt giảm chi phí tìm kiếm thông tin, phối hợp định giá, chia sẻ rủi ro, khai thác tối đa lợi thế về qui mô và sự chuyên môn hóa trong từng giai đoạn, tạo ra hiệu ứng lan truyền tích cực (Spillover effect) và tạo điều kiện trong việc tập trung giải quyết tốt hơn nhu cầu của khách hàng, bằng cách sử dụng các hợp đồng và các cơ chế liên kết chiến lƣợc. Những thực tế này, có thể khắc phục và phát triển lên trong việc hình thành chuỗi cung ứng. 3.1.2 Xây dựng chuỗi cung ứng liên kết các thành phần tham gia vào quá trình sản xuất, cung ứng là cơ sở để giải quyết tốt những tồn tại, hạn chế trong hoạt động sản xuất cá tra khu vực ĐBSCL, đảm bảo đƣa hoạt động sản xuất cá tra đi vào ổn định. Xây dựng chuỗi cung ứng trong đó chú trọng đến xây dựng hệ thống thông tin, vận tải, quy hoạch (định vị) sản xuất cho toàn chuỗi cũng nhƣ cơ chế hợp tác giữa các thành phần tham gia chuỗi sẽ là cơ sở từng bƣớc giúp giải quyết đƣợc thực
http://svnckh.com.vn

73

trạng thiếu liên kết, sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, mâu thuẫn giữa các thành phần. Từ đó làm gia tăng giá trị của toàn chuỗi thông qua bảo đảm hài hòa lợi ích của các thành viên. Ngoài những ƣu điểm ở trên, xây dựng chuỗi cung ứng sản xuất cá tra còn giúp các thành phần tham gia chuỗi (các mắt xích) tăng cƣờng tiếp cận thông tin, nhất là thông tin về an toàn về sinh thực phẩm, cái thiện tốt nhất chất lƣợng sản phẩm thông qua phản hồi từ khách hàng. Vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lƣợng sản phẩm là những vấn đề sống còn quyết định đến sự tiêu thụ của sản phẩm. Tạo điều kiện dễ dàng trong việc truy xuất nguồn gốc (traceability), đáp ứng yêu cầu ngày càng gay gắt của ngƣời tiêu dùng39. Đây là điểm yếu của sản phẩm thủy sản ở Việt Nam40, hiện nay chúng ta mới chỉ truy xuất nguồn gốc tới ao nuôi hoặc đại lý cung cấp nguyên liệu chứ chƣa truy xuất đến các công đoạn trƣớc đó (con giống, sản xuất thức ăn, thú ý…). Điều này rõ ràng sẽ ảnh hƣởng rất lớn đến uy tín sản phẩm cá tra của Việt Nam. Với những lợi thế về sản xuất cá tra mà ít khu vực trên thế giới có đƣợc, cùng với vùng sản xuất và chế biến tập trung trong một khu vực thì quả thực đây là một trong những điều kiện thuận lợi trong việc quy hoạch các mắt xích, giảm thiểu chi phí vận tải, hạn chế đƣợc những rủi ro về địa lý. 3.1.3 Xây dựng chuỗi cung ứng mặt hàng sản xuất cá tra xuất khẩu làm tăng tính cạnh tranh, củng cố vị trí thƣơng hiệu của sản phẩm và đƣợc coi là chiến lƣợc phát triển ngành phù hợp với xu hƣớng phát triển tất yếu. Việc xây dựng chuỗi cung ứng cho mặt hàng cá tra xuất khẩu là phù hợp với xu hƣớng phát triển hiện nay đó là áp dụng xây dựng và quản trị chuỗi cung ứng vào trong sản xuất trên qui mô doanh nghiệp và toàn ngành. Chuỗi cung ứng hoa của Hà Lan là một ví dụ điển hình về áp dụng mô hình chuỗi cung ứng mang lại hiệu quả và thành công cho ngành sản xuất hoa của nƣớc này. Muốn phát triển bền vững hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu, thì xây dựng chuỗi cung ứng cho ngành thông qua việc xây dựng chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp tham gia sản xuất phải đƣợc ƣu
39

Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, muốn đƣợc vào thị trƣờng EU đói hỏi sản phẩm bảo đảm tiêu chuẩn VSATTP và dễ truy xuất nguồn gốc thì mới đƣợc EU cấp Code (Mã số vùng nuôi) để xuất khẩu vào thị trƣờng của họ. 40 Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều vụ kiện về dƣ lƣợng chất kháng sinh trong sản phẩm cá tra tại các thị trƣờng Mỹ, EU, Ai Cập,… và không ít lần các lô hàng đã phải trả về.
http://svnckh.com.vn

74

tiền hàng đầu. Vì thế, việc xây dựng một chuỗi cung ứng hoạt động hiệu quả cho ngành sản xuất cá tra xuất khẩu là một bƣớc đi tất yếu, nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất cá tra ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cũng nhƣ tạo ra sức đề kháng vững chắc cho mặt hàng chủ lực này trong xu thế cạnh tranh ngày càng khốc liệt, những yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn chất lƣợng sản phẩm và sự bảo hộ tinh vi đang đƣợc các nƣớc phát triển áp dụng. 3.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM CÁ TRA XUẤT KHẨU Chuỗi cung ứng sản phẩm cá tra ngoài mang những đặc điểm, cấu trúc, các thành phần cần thiết của một chuỗi cung ứng đối với các sản phẩm nói chung thì bên cạnh đó, chuỗi cung ứng sản phẩm cá tra còn có những đặc điểm riêng mà trong quá trình xây dựng chuỗi cung ứng cần phải chú ý: Thứ nhất, các sản phẩm thủy sản nói chung, vá cá tra nói riêng có những đặc thù yêu cầu tính phối hợp giữa các công đoạn sản xuất chặt chẽ hơn rất nhiều so với các loại thực phẩm khác. Tính mùa vụ cao, dễ bị ƣơn hỏng của thủy sản, chu kỳ sống của sản phẩm ngắn, … đòi hỏi khâu vận chuyển, bảo quản, chế biến, và lƣu kho phải đƣợc liên kết trong một hệ thống với mặt bằng công nghệ tƣơng thích và sự phối hợp các hoạt động chặt chẽ, không bị gián đoạn. Thứ hai, tốc độ sản xuất của các khâu trong chuỗi cung ứng cá tra cũng rất khác nhau. Các cơ sở nuôi trồng cần 6-10 tháng mới thu hoạch, trong khi nhà máy chế biến đòi hòi hoạt động liên tục với qui mô nhất định, xảy ra tình trạng khi thừa khi thiếu nguyên liệu. Do đó, khâu nuôi trồng cần phân bố các vụ nuôi một cách hài hòa, đa dạng về thời gian thu hoạch để duy trì nguồn cung nguyên liệu, xây dựng hệ thống nhà kho lạnh để trữ nguyên liệu và thành phẩm là một yếu tố mà các doanh nghiệp cần chú ý. Ngoài ra, sản xuất nguyên liệu và chế biến thủy sản xuất khẩu đòi hỏi lƣợng vốn tƣơng đối lớn, trong chuỗi cung ứng cần phải có sự phối hợp hợp lý và chia sẻ các nguồn tín dụng, nhờ đó tăng hiệu quả sử dụng nguồn vốn, giảm chi phí sản xuất

http://svnckh.com.vn

75

3.3

MÔ HÌNH CHUỖI CUNG ỨNG ĐỀ XUẤT CHO HOẠT ĐỘNG SẢN

XUẤT CÁ TRA XUẤT KHẨU Ở KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG.
3.3.1 Các thành phần chính tham gia vào chuỗi cung ứng

Dựa vào thực trạng và đặc điểm của ngành sản xuất chế biến và xuất khẩu cá tra, chuỗi cung ứng sản phẩm cá tra xuất khẩu sẽ có 4 thành phần chính tham gia vào chuỗi cung ứng, đó là: Nhà cung ứng con giống, cơ sở nuôi trồng, Nhà máy chế biến, Thị trƣờng nhập khẩu (thị trƣờng nhập khẩu ở đây bao gồm các đại lý phân phối và ngƣời tiêu dùng cuối cùng, tuy nhiên trong đề tài này coi thị trƣờng xuất khẩu là ngƣời tiêu dùng cuối cùng) Bên cạnh đó, các thành phần khác đóng vai trò cung ứng dịch vụ, sản phẩm, hỗ trợ cho bốn thành viên trên, bao gồm: Công ty chế biến thức ăn chăn nuôi, cung ứng dịch vụ thuốc thú y, công ty cung ứng dịch vụ logistics, 41 ngân hàng và công ty bảo hiểm, các viện, cơ quan nghiên cứu ứng dụng, hiệp hội, cơ quan kiểm định chất lƣợng VSATTP, công ty cung ứng dịch vụ hỗ trợ và xúc tiến thƣơng mại. Mối quan hệ giữa các thành phần này42 sẽ đƣợc mô hình hóa ở sơ đồ 3.1 dƣới đây. Trong chuỗi cung ứng mặt hàng cá tra xuất khẩu tồn tại hai mối liên kết cơ bản sau: Mối liên kết dọc: Mối liên kết giữa các thành phần trong chuỗi cung ứng (nhà cung ứng giống, Hợp tác xã (HTX) nuôi trồng, doanh nghiệp chế biến, thị trƣờng xuất khẩu) Mỗi liên kết ngang: Mối liên kết trong nội bộ của một thành phần. Ở đây là mối liên kết giữa các cơ sở nuôi cá tập hợp thành HTX nuôi trồng. HTX sẽ là đại diện cho các đơn vị nhỏ lẻ tham gia ký kết hợp đồng thu mua, bao tiêu sản phẩm với các thành phần còn lại trong chuỗi cung ứng. Điều này sẽ có vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu các rủi ro ở khâu cung ứng giống và nuôi trồng trong chuỗi, phát huy lợi thế kinh tế theo qui mô.
41

Nhà cung ứng dịch vụ logistics đƣợc hiểu là nhà cung ƣng các dịch vụ liên quan đến vận tải, lƣu kho, thủ tục hải quan, giao nhận hàng hóa, đóng gói… 42 Mỗi thành phần đều phải trải qua quá trình đánh giá, lựa chọn những thành phần hội tụ đầy đủ các điều kiện trở thành mắt xích của chuỗi cung ứng.
http://svnckh.com.vn

76

3.3.2 Lựa chọn hình thức phân phối phù hợp với đặc thù của sản phẩm: Nội dung chính của xây dựng mô hình chuỗi cung ứng là việc thiết kế mô hình cung ứng mà dựa trên đó bốn thành phần chính của hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu ở ĐBSCL – cơ sở cung ứng giống; HTX nuôi trồng; Doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu cá tra và thị trƣờng xuất khẩu – hoạt động thống nhất trên cơ sở cân nhắc đến sáu nhân tố cơ bản: Thời gian đáp ứng đơn hàng (response time) Sự đa dạng của sản phẩm (product variety) Sự sẵn có của sản phẩm (product avalibility) Sự trải nghiệm của khách hàng về sản phẩm (customer experience) Tính hữu hình của đơn hàng (order visibility) Khả năng trả lại hàng (returnability). Mạng lƣới cung ứng sản phẩm cá tra xuất khẩu phải phù hợp với những mặt hàng có nhu cầu lớn, tốc độ chu chuyển nhanh. Nói cách khác, mô hình 1(ngƣời sản xuất trữ hàng và giao hàng trực tiếp) và mô hình 2 (ngƣời sản xuất trữ hàng, giao hàng trực tiếp và kết hợp vận tải)43. Mô hình 4 (ngƣời đại lý trả hàng và giao hàng chặng cuối) cũng không thích hợp với sản phẩm cá tra, do tính chất nhỏ gọn, không cồng kềnh của mặt hàng này. Mặt khác, xét trong mối quan hệ giữa cở sở sản xuất con giống – trang trại nuôi cá và trang trại nuôi cá – nhà máy chế biến, một trong những mục đích chính của việc xây dựng chuỗi cung ứng là đảm bảo tính hữu hình của đơn hàng, tức là khả năng truy nguyên nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa để đảm bảo những yêu cầu khắt khe của các thị trƣờng xuất khẩu. Do đó, mô hình 5 (ngƣời sản xuất/ngƣời đại lý trữ hàng và khách hàng tự lấy hàng) và mô hình 6 (ngƣời bán lẻ trữ hàng và khách hàng tự lấy hàng) không phù hợp, do khó quản lý đƣợc tính hữu hình của đơn hàng. Nhƣ vậy, trong 6 mô hình đề cập trong chƣơng 1, mô hình 3 (ngƣời đại lý trữ hàng và giao hàng theo kiện) là sự lựa chọn khả dĩ nhất, giúp chuỗi cung ứng đáp

43

Các mô hình này đã đƣợc giới thiệu ở mục 2 chƣơng 1.
http://svnckh.com.vn

77

ứng nhanh đơn hàng. Mô hình này thích hợp với những sản phẩm có cầu cao nhƣ sản phẩm thủy sản và có tốc độ chu chuyển trung bình hoặc nhanh. Xét theo mô hình 3, HTX nuôi cá đóng vai trò nhƣ kho hàng của ngƣời đại lý/bán lẻ, đảm bảo tính sẵn có của nguyên liệu để giao cho nhà máy chế biến. Đây cũng là điểm mấu chốt phát huy lợi thế liên kết ngang để khắc phục tính tự phát, thu mua nhỏ lẻ và những rủi ro trong hợp đồng mua bán của các cơ sở nhỏ lẻ. Cần lƣu ý rằng vai trò kho hàng của HTX chỉ mang tính chất tƣợng trƣng, tức là HTX nuôi cá chỉ là đầu mối để doanh nghiệp chế biến liên hệ thu mua nguyên liệu cần thiết, các cơ sở nuôi trồng đóng vai trò nhƣ các kho chứa nguyên liệu của HTX và nguyên liệu thì sẽ đƣợc vận chuyển trực tiếp từ các trang trại nuôi này đến nhà máy chế biến. Điều này xuất phát từ đặc điểm của cá tra nguyên liệu chế biến phải tƣơi sống. Hình 3.1: HTX đóng vai trò là “Người đại lý trữ hàng”của các cơ sở nuôi trồng và giao hàng theo kiện cá nguyên liệu cho Doanh nghiệp chế biến
CS1 CS2 CS3 CS4

Cơ sở nuôi trồng (kho

hàng)

HTX

HTX đóng vai trò đầu mối liên hệ
Sự lƣu thông của sản phẩm Dòng chảy thông tin

Doanh nghiệp chế biến

So sánh về sản lƣợng trung bình nguyên liệu cá tra của các trang trại nuôi cá là 250 ha/năm, trong khi công suất thiết kế trung bình của một nhà máy chế biến là 683.200 tấn/ năm. Do đó, để đảm bào nhiên liệu đầu vào cho một nhà máy chế biến, cần phải có một tổ hợp các trang trại nuôi cá. HTX thay mặt cho các cơ sở nuôi cá nguyên liệu ký hợp đồng và giao hàng cho doanh nghiệp chế biến ngay tại cơ sở của ngƣời nuôi.

http://svnckh.com.vn

78

Do sản phẩm mà các trang trại cá cung cấp cho nhà máy chế biến chỉ là nguyên liệu đầu vào cá tra nên mô hình này không làm ảnh hƣởng đến tính đa dạng của sản phẩm. So với điều kiện không có HTX trong chuỗi, trong trƣờng hợp nguyên liệu không đảm bảo chất lƣợng, nhà máy chế biến sẽ phải đầu tƣ chi phí kiểm soát nguồn nguyên liệu cung cấp từ nhiều trang trại nuôi cá. Việc xuất hiện HTX nuôi cá sẽ tiết kiệm cho nhà máy chế biến chi phí này, do đó đảm bảo đƣợc sự trải nghiệm của khách hàng (nhà máy chế biến) tốt hơn. Tóm lại, mô hình 3.1 là sự lựa chọn phù hợp nhất cho khâu phân phối cá tra nguyên liệu giữa HTX và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu. 3.3.3 Doanh nghiệp chế biến là ngƣời khới xƣớng và giữ vai trò chủ đạo trong chuỗi cung ứng. Để hình thành một chuỗi cung ứng và duy trì liên kết trong chuỗi cung ứng đòi hỏi chúng ta phải xác định đƣợc ai sẽ là ngƣời khởi xƣớng và đóng vai trò chủ đạo trong chuỗi cung ứng. Nhìn chung ngƣời khởi xƣớng chuỗi cung ứng thƣờng là ngƣời có quyền lực lớn hơn trong cơ chế định đoạt số lƣợng và giá, và nắm đƣợc nhiều thông tin. Ngƣời khởi xƣớng và nắm vai trò chủ đạo trong chuỗi cung ứng cũng sẽ là ngƣời đề xuất trách nhiệm, quyền hạn của các thành viên khác. Do đó, các chủ thể có quy mô lớn hơn, hội tụ đƣợc các yếu tố trên, có đủ năng lực và kinh nghiệm tổ chức, quản lý, đủ mạnh về tài chính và nhân lực nên đảm nhiệm vai trò này. Từ thực tế của quá trình sản xuất sản phẩm cá tra xuất khẩu, mặc dù có nhiều thành phần tham gia vào chuỗi cung ứng nhƣ: doanh nghiệp chế biến thức ăn, thuốc thú ý, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistic, nhà cung ứng giống, ngƣời nuôi cá, doanh nghiệp chế biến, thì chỉ có hai thành phần chính có thể đảm nhiệm vai trò này đó là HTX nuôi trồng và doanh nghiệp chế biến. Đây là những thành phần làm chủ tƣ liệu sản xuất và hội tụ các yếu tố trên. Nếu ngƣời nuôi trồng khởi xƣớng và đóng vai trò chủ đạo trong chuỗi cung ứng là cơ sở nuôi cá, thì đòi hỏi các hộ nuôi trồng tập hợp nhau lại thành các HTX qui mô lớn hơn. HTX đóng vai trò là chủ thể ký kết hợp đồng với nhà cung ứng vật tƣ, nguyên liệu đầu vào (thức ăn, thuốc thú y, ngƣ
http://svnckh.com.vn

79

cụ…) đồng thời ký hợp đồng với nhà máy chế biến để tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên, với kinh nghiệm quản lý còn thiếu và yếu, sản xuất bị động do không đủ thông tin, thiếu tính chuyên nghiệp, qui mô sản xuất và tài chính còn hạn chế, do đó ngƣời nuôi trồng sẽ gặp nhiều khó khăn trong vai trò là ngƣời khởi xƣớng và chủ đạo trong chuỗi. Vai trò khởi xƣớng và chủ đạo thích hợp nhất trong chuỗi cung ứng sản phẩm cá tra xuất khẩu ở Việt Nam hiện nay là các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu. Đây là những tổ chức có quy mô vốn và tài chính lớn, sản xuất theo quy trình công nghiệp hiện đại, có đủ cơ cấu nhân sự, kinh nghiệm và khả năng quản lý, điều hành, có quyền quyết định khối lƣợng sản phẩm và giá. Đây cũng là những tổ chức có độ tín nhiệm cao hơn để các nhà đầu tƣ và các ngân hàng tin tƣởng cung cấp tín dụng. Hơn nữa, doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thƣờng xuyên tiếp xúc với khách hàng, có đầy đủ thông tin hơn, nhạy cảm với những biến động của thị trƣờng, có thể đáp ứng đƣợc những vấn đề đặt ra của chuỗi cung ứng, các đòi hỏi về trách nhiệm môi trƣờng và trách nhiệm xã hội của sản xuất thủy sản. Do đó, đây là chủ thể có tác động điều chỉnh nhanh nhạy và thích hợp nhất trong vai trò khởi xƣớng và chủ đạo của toàn bộ huỗi cung ứng cá tra xuất khẩu. 3.3.4 Mô hình chuỗi cung ứng cá tra xuất khẩu ở khu vực ĐBSCL Từ việc phân tích thực trạng và đặc điểm của chuỗi cung ứng cá tra xuất khẩu, nhóm nghiên cứu đƣa ra mô hình chuỗi cung ứng cho hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu khu vực ĐBSCL đƣợc mô tả nhƣ mô hình dƣới đây:
Hình 3.2. Mô hình chuỗi cung ứng đề xuất cho hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu ở ĐBSCL.

http://svnckh.com.vn

80

Trong đó: Bốn thành phần chính tham gia vào chuỗi cung ứng đó là: Cơ sở cung ứng con giống, HTX nuôi trồng, Nhà mày chế biến và Thị trƣờng xuất khẩu (trong thị trƣờng xuất khẩu gồm có Đại lý phân phối và ngƣời tiêu dùng cuối cùng, nhƣng sẽ không đƣợc nghiên cứu kỹ trong mô hình). Ngoài ra, trong mô hình còn xuất hiện vai trò của Ban Quản Trị Chuỗi cung ứng trong việc điều phối thông tin xuyên suốt trong chuỗi và nhà cung ứng dịch vụ vận tải. Ngoài các thành phần chính, còn có các tổ chức hỗ trợ cho các thành phần trong chuỗi44, bao gồm bốn nhóm tổ chức chính: Nhóm các tổ chức đóng vai trò cung cấp dịch vụ hỗ trợ, tƣ vấn về kỹ thuật và

quản lý cho ba thành phần chính trong chuỗi (Cơ sở cung ứng giống, HTX nuôi
44

Tuy nhiên phạm vi của bài nghiên cứu sẽ chỉ tập trung chỉ ra cơ chế phối hợp hoạt động giữa các thành phần chính của chuỗi cung ứng với nhau.
http://svnckh.com.vn

81

trồng, doanh nghiệp chế biến): Trung tâm khuyến nông và nghề cá; Cục nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản; Công ty thức ăn chăn nuôi và dịch vụ thú y; Các chƣơng trình/dự án của nƣớc ngoài nhƣ Oxfarm, tổ chức phi chính phủ. Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP): Đóng vai trò

liên kết các doanh nghiệp chế biến, hỗ trợ, chia sẻ kinh nghiệm quản lý và xúc tiến thƣơng mại Cục quản lý chất lƣợng, an toàn vệ sinh và thú y thủy sản (NAFIQAVED) đóng vai trò giám sát, kiểm định và cấp chứng nhận tiêu chuẩn chất lƣợng, VSATTP xuyên suốt chuỗi cung ứng từ khâu con giống cho đến sản phẩm cuối cùng đến tay ngƣời tiêu dùng. Khi theo sát chuỗi cung ứng cho phép NAFIQAVED có thể truy xuất nguồn gốc sản phẩm một cách chính xác và dễ dàng. Ngân hàng và tổ chức tín dụng: Thông qua các hợp đồng cho vay tín dụng để Các dòng chảy vật chất (sản phẩm và tài chính) và dòng chảy thông tin đƣợc lƣu chuyển trong chuỗi cung ứng nhƣ hình vẽ. Trong đó, dòng chảy vật chất trong chuỗi cung ứng đƣợc chảy theo hai chiều chính: xuôi dòng (đối với hàng hóa) và ngƣợc dòng (đối với tài chính) 3.3.5 Cơ chế hợp tác giữa các thành phần chính trong chuỗi cung ứng đề xuất Việc xác lập cơ chế hợp tác giữa các thành phần chính trong chuỗi cung ứng sẽ là tiền đề quan trọng cho sự lƣu thông của ba dòng chảy chính trong chuỗi cung ứng – hàng hóa, tài chính và thông tin. Trong phạm vi nghiên cứu, chúng ta sẽ tiếp cận cơ chế hợp tác này theo năm thành phần cơ bản của chuỗi cung ứng của chuỗi cung ứng – sản xuất, hàng tồn kho, vận chuyển, định vị và thông tin. Xây dựng mô hình chuỗi cung ứng dựa trên các nguyên tắc sau: Đồng thuận, tự nguyện của các chủ thể Lợi ích hài hòa cho mọi thành phần trong chuỗi Tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng các cam kết Minh bạch và sòng phẳng trong các vấn đề tài chính
http://svnckh.com.vn

hỗ trợ vốn cho các thành phần tham gia sản xuất sản phẩm xuất khẩu.

82

-

Hỗ trợ và chia sẻ rủi ro, khó khăn

3.3.5.1 Thông tin Cơ chế trao đổi thông tin trong chuỗi cung ứng đƣợc quyết định bởi sự xuất hiện vai trò của Ban Quản trị Chuỗi Cung Ứng. Ban Quản trị chuỗi cung ứng là đại diện cho toàn bộ chuỗi trong vai trò điều phối, đảm bảo thông tin xuyên suốt chuỗi. Thành viên trong Ban Quản trị gồm ngƣời đại diện cho: nhà cung ứng con giống, hợp tác xã nuôi trồng và doanh nghiệp chế biến. Tuy nhiên, Ban Quản trị cần phải đảm bảo tính chất trung lập với các bên liên quan ngay khi đƣợc thành lập, để đảm bảo tính khách quan khi cung cấp thông tin cho các bên. Khi hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu đã đƣợc tổ chức thành chuỗi cung ứng, xét về góc độ quản lý, ta có thể xem chuỗi nhƣ là một doanh nghiệp, trong đó các thành viên trong chuỗi hoạt động nhƣ các bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp và chịu sự điều phối của Ban Quản trị. Tuy nhiên, khác với mô hình doanh nghiệp thông thƣờng, vai trò của Ban Quản trị trong mô hình chuỗi đƣợc giới hạn trong chức năng điều phối thông tin giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng. Cơ chế trao đổi thông tin mang tính hai chiều, đƣợc mô tả nhƣ sau: Ban Quản trị chuỗi là đầu mối, kho dữ liệu thông tin mà tất cả các thành viên trong chuỗi cung ứng chia sẻ trên đó. Doanh nghiệp chế biến nhận đƣợc thông tin về thị trƣờng, các tín hiệu dự đoán cầu thông qua các đơn đặt hàng, sau đó sẽ thông báo lên Ban Quản trị chuỗi các thông tin thị trƣờng mới nhận đƣợc, cùng với các thông tin về kế hoạch hoạt động sản xuất của nhà máy. Đồng thời, nhà cung ứng con giống và hợp tác xã nuôi trồng cũng cung cấp các thông tin về hoạt động sản xuất, kế hoạch nuôi trồng, quy trình nuôi áp dụng các tiêu chuẩn VSATTP đạt tiêu chuẩn quốc tế, thông báo thời gian thu mua cá để tránh cá tra bị quá lứa. Thông tin từ các thành viên sẽ đƣợc lƣu trữ trong hệ thống máy tính đƣợc kết nối mạng nội bộ đƣợc đặt hệ thống máy chủ tại Ban Quản trị chuỗi, trên cơ sở đó các thành viên trong
http://svnckh.com.vn

83

chuỗi có thể truy cập tiếp nhận và chia sẻ các thông tin. Để đảm bảo các thành viên cung cấp thông tin không chính xác nhằm tƣ lợi cho riêng mình, làm ảnh hƣởng đến quyền lợi của các mắt xích khác, trong quá trình tổng hợp thông tin, Ban Quản trị cũng cần phải xác nhận độ chính xác của thông tin. Quá trình truy xuất nguồn gốc và cấp giấy chứng nhận VSATTP sẽ đƣợc tiến hành dễ dàng và nhanh gọn hơn, căn cứ vào cơ sở dữ liệu về các lô hàng nguyên liệu từ con giống cho đến thành phẩm. Sự tập trung thông tin cùng với chức năng điều phối của Ban Quản trị chính là cơ sở cho sự thống nhất về chiến lƣợc và chiến thuật hoạt động của các thành phần, qua đó đảm bảo tính hiệu quả của toàn bộ hoạt động chuỗi. Ƣu điểm lớn nhất của cơ chế truyền tải thông tin này là tính tập trung của thông tin. Trong điều kiện hiện tại, thông tin thƣờng đƣợc truyền qua nhiều khâu từ thị trƣờng đến doanh nghiệp chế biến, sau đó đến các trang trại nuôi cá và cơ sở cung ứng con giống. Điều này không chỉ làm bóp méo thông tin45 khi đƣợc truyền tải qua nhiều khâu, mà còn tạo ra lợi thế thông tin cho doanh nghiệp chế biến trong việc ép giá nguyên liệu46. Ngƣợc lại, với mô hình này, vai trò của Ban Quản trị đảm bảo tính khách quan của các nguồn thông tin, đồng thời hạn chế sự chi phối thông tin của doanh nghiệp chế biến. Tuy nhiên, mô hình này cũng gặp phải khó khăn trong việc xác minh độ chính xác của thông tin từ các thành viên. Mặt khác, sự không đồng bộ về cơ sở hạ tầng thông tin giữa các mắt xích cũng nhƣ đầu tƣ hệ thống thông tin tốn kém sẽ gây khó khăn trong quá trình trao đổi thông tin giữa Ban Quản trị và các mắt xích của chuỗi. 3.3.5.2 Sản xuất Điểm đáng lƣu ý đầu tiên trong hoạt động sản xuất của chuỗi là sự thống nhất hoạt động của các trang trại nuôi cá trong HTX nuôi cá. Sự xuất hiện của HTX nuôi

45 46

Hiệu ứng Bullwhip Do mất cân xứng về thông tin nên sản xuất của cơ sở nuôi trồng luôn ở thế bị động trong sản xuất và đàm phán giá
http://svnckh.com.vn

84

cá trƣớc hết đảm bảo tính chất pháp nhân47 của tổ hợp các trang trại nuôi cá khi tham gia vào các mối quan hệ kinh tế với cơ sở sản xuất con giống, nhà máy chế biến hay các bên liên quan khác nhƣ ngân hàng, thú y… Việc hoạt động thống nhất trong HTX nuôi cá cũng tạo thành sức mạnh liên kết, tính kinh tế theo quy mô và dễ dàng chia sẻ kỹ thuật nuôi trồng giữa các trang trại. Việc hình thành HTX nuôi cá còn làm cân bằng vị thế của các trang trại nuôi cá với cơ sở nuôi trồng và doanh nghiệp chế biến trong mối quan hệ cung – cầu; hạn chế hiện tƣợng ép giá, cạnh tranh không lành mạnh giữa các mắt xích trong chuỗi, mà trong đó trang trại nuôi cá luôn là bộ phận dễ bị tổn thƣơng nhất. Hơn nữa, xét trong mối quan hệ giữa cơ sở cung ứng con giống – trang trại nuôi cá, lƣợng cầu về con giống vừa đảm bảo đầu ra cho cơ sở cung ứng con giống, vừa đảm bảo đầu vào ổn định về chất lƣợng lẫn số lƣợng cho hoạt động nuôi trồng. Trong mối quan hệ giữa trang trại nuôi cá – nhà máy chế biến, sản lƣợng của các trang trại nuôi cá đảm bảo nguồn nguyên liệu đầu vào cho nhà máy tận dụng tối đa công suất của nhà máy, khắc phục tình trạng hoạt động dƣới công suất, làm tăng tính lƣu thông của dòng chảy hàng hóa. Nền tảng của sự thống nhất trong sản xuất giữa các mắt xích của chuỗi là chiến lƣợc và chiến thuật kinh doanh sản xuất của toàn chuỗi. Trên cơ sở thông tin tổng hợp từ Ban Quản trị, các thành viên trong chuỗi cung ứng sẽ thống nhất chiến lƣợc, chiến thuật kinh doanh sản xuất của toàn chuỗi, sau đó phân bổ hoạt động đến từng mắt xích tƣơng ứng. Mối quan hệ giữa cơ sở cung ứng con giống – HTX nuôi cá đƣợc xác lập trên cơ sở hợp đồng mua bán. Nguyên tắc thu mua và thực hiện hợp đồng: Hợp tác xã nuôi cá chỉ mua con giống từ cơ sở sản xuất con giống ký hợp đồng để đảm bảo tính rõ ràng về nguồn gốc xuất xứ. Ngƣợc lại, bản thân cơ sở sản xuất con giống cũng phải luôn đảm bảo thỏa mãn những yêu cầu khắt khe về chất lƣợng con giống. Thông thƣờng, Trung tâm giống Quốc Gia Cái Bè và các Trung tâm giống của tỉnh

47

Theo Luật Hợp tác xã năm 2003
http://svnckh.com.vn

85

ở ĐBSCL tạo ra giống gốc, giống bố mẹ sạch bệnh và con giống có chất lƣợng cao đủ về số lƣợng cung cấp cho các cơ sở nuôi. Mối quan hệ giữa HTX nuôi cá – doanh nghiệp chế biến đƣợc xác lập dựa trên hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Điều này thể hiện vai trò chủ đạo của doanh nghiệp chế biến trong chuỗi cung ứng. Với lợi thế dễ dàng tiếp cận nguồn vốn và kỹ thuật, việc doanh nghiệp chế biến trực tiếp hỗ trợ trang trại nuôi cá không chỉ tiết kiệm chi phí giao dịch trong chuỗi, mà còn tận dụng đƣợc các nguồn lực của chuỗi. Hơn nữa, ngƣời nuôi cá và các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cá tra có sự gắn kết chặt sẽ giảm bớt rủi ro. Khi giá cá xuống thấp, ngƣời nuôi cá vẫn có lời ít do doanh nghiệp chế biến chia sẻ rủi ro. Khi nhu cầu sản phẩm cá tra tăng, doanh nghiệp chế biến vẫn chủ động đƣợc nguồn nguyên liệu với giá cả hợp lý. Nguyên tắc thu mua và thực hiện hợp đồng nhƣ sau: Hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hoá kí kết giữa doanh nghiệp và ngƣời sản

xuất đƣợc thực hiện theo các hình thức qui định tại điểm 2 Điều 2 của Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24 tháng 6 năm 2002 của Thủ tƣớng Chính phủ và Thông tƣ số 77/2002/TT-BNN ngày 28/8/2002 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về mẫu hợp đồng tiêu thụ nông sản. Trong đó có các điều khoản nêu rõ về chia sẻ rủi ro biến động giá, quyền lợi và nghĩa vụ các bên, điều khoản thi hành hợp đồng, quy chế xử phạt nếu vi phạm hợp đồng Doanh nghiệp chế biển chỉ thu mua những sản phẩm cá tra nguyên liệu của những cơ sở thuộc các hợp tác xã đã đƣợc quy hoạch, đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật nuôi trồng và chất lƣợng VSATTP, tuyệt đối không thu mua của cơ sở chăn nuôi phát triển tự phát, không thuộc hợp tác xã. Điều này sẽ khắc phục tình trạng bất ổn cung – cầu nguyên liệu cá chế biến, đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật chất lƣợng và VSATTP, dễ dàng trong việc truy xuất nguồn gốc. Ƣu điểm của mô hình liên kết sản xuất xuất phát từ việc thống nhất đƣợc chiến lƣợc và chiến thuật kinh doanh sản xuất trong toàn chuỗi, từ đó phân bổ, định hƣớng sản xuất cho từng mắt xích.
http://svnckh.com.vn

86

Tuy nhiên, sự liên kết này cũng gặp khó khăn từ thực trạng hoạt động lỏng lẻo trong HTX, hầu hết HTX chƣa thực hiện đầy đủ chức năng của ngƣời đại diện cho các cơ sở nuôi cá trong ký kết hợp đồng thu mua với doanh nghiệp chế biến và chức năng chia sẻ hỗ trợ kỹ thuật nuôi trồng cho các hội viên. 3.3.5.3Tồn kho Đặc trƣng của ngành chế biến cá tra là nguyên liệu đòi hỏi phải tƣơi sống, chế biến ngay. Sản phẩm sau khi chế biến sẽ đƣợc lƣu trong các kho lạnh của nhà máy chế biến. Do đặc thù của sản phẩm thủy sản này, hệ thống kho lạnh bảo quản sản phẩm chờ xuất khẩu cần phải đƣợc đầu tƣ xây dựng. Tuy nhiên, cá nguyên liệu để chế biến thƣờng sau khi thu mua thì vận chuyển đến nhà máy rửa sạch và lạng cá phi lê, hạn chế trong việc lƣu kho đối với nguyên liệu. Do đó, cơ chế liên kết trong hoạt động lƣu kho phụ thuộc nhiều vào việc thông tin kết nối giữa kinh doanh sản xuất của từng mắt xích trong chuỗi, đặc biệt là của nhà máy chế biến. Bản thân cơ sở cung ứng con giống và trang trại nuôi cá phải tính toán hợp lý chu kỳ sản xuất để phù hợp với nhu cầu về nguyên liệu của chuỗi trong từng thời kỳ nhất định. Thông thƣờng cá tra nguyên liệu đƣợc ngƣời tiêu dùng ƣa thích có khối lƣợng 1-1,1 kg/con, nếu tình trạng cá nguyên liệu bị quá lứa sẽ ảnh hƣởng đến chất lƣợng của sản phẩm và không thỏa mãn đơn hàng. Ƣu điểm của mô hình liên kết trong hoạt động lƣu kho này là nhờ tận dụng đƣợc sự minh bạch thông tin về cung – cầu và giá cả, nên quá trình làm giá giữa cơ sở nuôi giống – HTX nuôi cá và HTX nuôi cá – nhà máy chế biến đƣợc đẩy nhanh, tránh tình trạng ứ đọng nguyên liệu gây thiệt hại cho các bên. Nhƣợc điểm của mô hình liên kết này là việc điều chỉnh chu kỳ sản xuất của từng mắt xích cho phù hợp với hoạt động chung của chuỗi. Chỉ cần một sự tính toán không hợp lý hoặc có thay đổi trong chiến thuật kinh doanh sản xuất thì sẽ gây hậu quả cho toàn bộ chuỗi do tình trạng ứ đọng nguyên liệu không tồn kho đƣợc. 3.3.5.4 Vận chuyển

http://svnckh.com.vn

87

Trong mô hình liên kết về vận tải, sự xuất hiện của công ty cung ứng dịch vụ vận tải sẽ là giúp quá trình vận chuyển nguyên liệu và hàng hóa đúng lúc và kịp thời, hạn chế sự gián đoạn trong khâu vận chuyển. Các phƣơng thức vận tải hay dùng để vận chuyển cá nguyên liệu và cá giống là ghe thuyền (tận dụng lợi thế sông ngòi) và ô tô, phƣơng tiện chuyển hàng xuất khẩu thƣờng bằng đƣờng biển (chi phí rẻ, gần cảng Mỹ Thới và cảng Sài Gòn, nhƣng thời gian vận chuyển lâu và khâu bảo quản cần đƣợc chú trọng). Phƣơng thức vận tải quyết định đến sự lƣu thông của cá tra nguyên liệu trong chuỗi, nên nó đóng vai trò đảm bảo tính kịp thời, bảo quản nguyên liệu trong quá trình vận chuyển, tăng hiệu quả năng suất sau thu hoạch. Do đó đòi hỏi đội ngũ phƣơng thức vận tải phải là những xe, thuyền ghe chuyên dụng, tức là phải có sự đầu tƣ vốn lớn, do đó tránh phân tán nguồn lực, doanh nghiệp nên thuê ngoài. Việc thuê ngoài dịch vụ vận tải sẽ do Ban quản trị chuỗi cung ứng quản lý. Tất cả hoạt động sản xuất trong chuỗi đều đƣợc tập trung về Ban Quản trị, trên cơ sở đó, Ban Quản trị sẽ điều phối toàn bộ lịch trình vận tải của chuỗi, từ ngƣời cung ứng con giống đến trang trại nuôi cá, từ trang trại nuôi cá đến nhà máy chế biến. Ƣu điểm của mô hình liên kết với nhà cung ứng dịch vận tải này là khai thác sự chuyên nghiệp của các nhà cung ứng dịch vụ vận tải. Do đó, đảm bảo sự thống nhất trong chiến lƣợc và chiến thuật kinh doanh sản xuất của toàn chuỗi, do tận dụng đƣợc chức năng điều phối thông tin của Ban Quản trị. Mặt khác, việc các mắt xích nắm rõ lịch trình vận tải sẽ giúp cho các đơn vị chủ động trong giao hàng, tận dụng lịch trình để tiết kiệm chi phí vận tải. Tuy nhiên, nhƣợc điểm của mô hình liên kết này là sự lựa chọn nhà cung ứng vận tải phù hợp với yêu cầu chuyên dụng của việc vận chuyển cá tra nguyên liệu. Hiện nay, các đơn vị cung ứng dịch vụ vận tải còn thô sơ chủ yếu là thuyền ghe, ô tô không chuyên dụng, do đó sẽ ảnh hƣởng đến hiệu suất sau thu hoạch. Mặt khác, do đặc điểm không lƣu kho đƣợc của nguyên liệu cá bột và nguyên liệu cá tra, nên mô hình này không tận dụng đƣợc lợi thế giao hàng theo kiện, mà vẫn phải sử dụng vận tải từ cơ sở cung ứng con giống đến từng trang trại nuôi cá, và từ trang trại nuôi cá
http://svnckh.com.vn

88

đến nhà máy chế biến. Do đó, chi phí vận tải của mô hình đề xuất vẫn cao hơn so với mô hình (3)ngƣời đại lý trữ hàng và giao hàng theo kiện. Hơn nữa, chi phí vận tải cũng có xu hƣớng tăng do hệ thống cơ sở hạ tầng còn yếu kém của khu vực ĐBSCL. 3.3.5.5 Định vị Định vị trong việc xây dựng chuỗi cung ứng quan trọng không kém hệ thống vận tải hay thông tin. Dựa trên sự cân nhắc giữa tính đáp ứng nhanh và hiệu quả, cộng với đặc thù của khu vực ĐBSCL, ở đó tập trung các cơ sở cung ứng giống, cơ sở nuôi trồng và các nhà máy chế biến, từ đó đề xuất định vị tập trung các hoạt động ở một vài vị trí nhằm giảm đƣợc chi phí nhờ quy mô và hiệu quả. Các quyết định về định vị phụ thuộc vào các nhân tố: chi phí phƣơng tiện, chi phí nhân công, kỹ năng sẵn có của lực lƣợng lao động, các điều kiện cơ sở hạ tầng, thuế và thuế quan, và sự gần gũi với các nhà cung cấp và khách hàng. Các quyết định này có tác động mạnh mẽ đến các chi phí và đặc tính của chuỗi cung ứng, đồng thời cũng phản ánh chiến lƣợc cơ bản của doanh nghiệp trong việc xây dựng và phân phối sản phẩm ra thị trƣờng. Định vị về cơ sở cung ứng giống: Tùy theo vị trí của doanh nghiệp chế biến,

doanh nghiệp nuôi trồng tham gia vào chuỗi cung ứng từ đó lựa chọn ra các cơ sở cung ứng giống đảm bảo các yếu tố: Cung ứng giống khỏe mạnh, có chất lƣợng cao, ổn định. Hiện nay ở An Giang, Hồng Ngự - Đồng Tháp, trung tâm giống Quốc gia Cái Bè ở Tiền Giang là các cơ sở sản xuất cá tra giống sẵn sàng cung ứng đủ số lƣợng cá bột, cá giống cho yêu cầu phát triển của toàn vùng. Các cơ sở cung ứng giống này thƣờng tập trung gần vùng nuôi đã đƣợc quy hoạch hai bên sông Tiền và Sông Hậu (xem phụ lục 1.1 Bản đồ ĐBSCL) Định vị cơ sở nuôi cá: Các cơ sở nuôi cá tham gia vào HTX nuôi cá cần phải quy hoạch tập trung dọc hai bên sông Tiền, sông Hậu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng kỹ thuật nuôi và đầu tƣ vốn trên qui mô lớn, dễ truy xuất nguồn gốc. Khoảng cách giữa các HTX nuôi cá đến các Nhà máy chế biến ngắn nhất có thể, tận
http://svnckh.com.vn

89

dụng lợi thế giao thông đƣờng thủy kết hợp với tính đáp ứng nhanh của giao thông đƣờng bộ, tiết kiệm chi phí trong quá trình vận chuyển nguyên liệu. Định vị nhà máy chế biến: Các nhà máy chế biến cần đƣợc quy hoạch trong phạm vi gần với khu vực nuôi trồng nguyên liệu, điều này có một ý nghĩa quan trọng không chỉ trong việc giảm chi phí vận chuyển, bảo quản, mà còn là lợi thế giúp đẩy nhanh tốc độ vận chuyển của nguyên liệu, giúp đáp ứng đơn hàng nhanh hơn. Thực tế cho thấy các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu cá tra thƣờng tập trung ở các tỉnh thuộc quy hoạch vùng nuôi trồng cá tra nguyên liệu dọc hai bên bờ sông Tiền và sông Hậu. Ví dụ: trong bốn công ty xuất khẩu cá tra lớn nhất khu vực đều xây dựng gần với vùng nguyên liệu nhƣ: CTCP Nam Việt (Navico) (An Giang), Agifish (An Giang), CTCP Hùng Vƣơng (Tiền Giang), CTCP Vĩnh Hoàn (Đồng Tháp). Với vị trí tập trung thuận lợi giúp các doanh nghiệp cắt giảm tối đa chi phí vận chuyển nguyên liệu đầu vào, tận dụng lợi thế trên qui mô tập trung. Tóm lại, ƣu điểm của việc định vị các thành phần tham gia chuỗi cung ứng trên qui mô tập trung cho phép chuỗi cung ứng giảm thiểu chi phí, tăng tính nhanh và chủ động về nguồn nguyên liệu. Tuy nhiên, hạn chế của khu vực ĐBSCL về cơ sở hạ tầng có ảnh hƣởng đến khâu phân phối sản phẩm từ nhà máy chế biến đến thị trƣờng xuất khẩu.

3.4

KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG HIỆU QUẢ MÔ HÌNH CHUỖI CUNG

ỨNG CÁ TRA XUẤT KHẨU CỦA KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Từ mô hình chuỗi cung ứng đề xuất và những phân tích về ƣu nhƣợc điểm của từng yếu tố dẫn dắt, để mô hình chuỗi cung ứng cá tra xuất khẩu của khu vực ĐBSCL đi vào ứng dụng thực tế và đạt hiệu quả cao, chúng ta cần phải thực hiện đồng bộ hai nhóm giải pháp chính. Trƣớc tiên là các giải pháp vi mô cụ thể đối với từng mắt xích tham gia vào chuỗi nhằm xây dựng sự liên kết ở cả năm yếu tố thông tin, sản xuất, hàng tồn kho, vận tải và định vị; sau đó là các nhóm giải pháp vĩ mô
http://svnckh.com.vn

90

đối với các Bộ Ban ngành liên quan đến hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu nhƣ Chính phủ (cơ quan đại diện cho chính phủ là Bộ NN&PTNT), hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), Hiệp hội nuôi trồng cá tra, các trung tâm nghiên cứu và ứng dụng Sau đây chi tiết các nhóm giải pháp: 3.4.1. Nhóm giải pháp đối với các thành phần chính tham gia trong chuỗi 3.4.1.1 Trước hết, thành viên khởi xướng và đóng vai trò chủ đạo của chuỗi cung ứng (Doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu) xây dựng các tiêu chí đánh giá chọn ra các mắt xích phù hợp nhất tham gia vào chuỗi cung ứng của mình. Đối với cơ sở cung ứng con giống, phải đảm bảo nguồn cá bố mẹ đạt tiêu chuẩn, tránh tình trạng giống không thuần hoặc đồng huyết. Mặt khác, cơ sở này cũng phải đảm bảo đƣợc cơ sở vật chất và quy trình tạo giống an toàn, chất lƣợng Đối với cơ sở nuôi trồng, phải đƣợc quy hoạch tập trung trong vùng quy hoạch theo Quyết định102/2008/QĐ-BNN về Phê duyệt Quy hoạch phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long đến năm 2010, định hƣớng đến năm 202048. Các cơ sở nuôi trồng phải cam kết áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật nuôi trồng, cung cấp nguyên liệu an toàn, đảm bảo chất lƣợng VSATTP. Đối với doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu cá tra: Đảm nhiệm tốt vai trò chủ đạo trong chuỗi cần phải tiếp tục nâng cấp các điều kiện sản xuất, áp dụng hệ thống quản lý đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo HACCP; GMP, SQF 2000CM … Hơn nữa cần phải tiếp tục đầu tƣ theo chiều sâu, đổi mới công nghệ, thiết bị, cơ giới hóa và tự động hóa dây chuyền chế biến cá tra để tiếp cận với các nền công nghiệp hiện đại trên thế giới. Có chiến lƣợc tăng tỷ lệ sản phẩm chế biến từ cá tra có hàm lƣợng giá trị gia tăng cao. Vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề quyết định đến sự tồn tại của chuỗi cung ứng, đòi hỏi các thành phần trong chuỗi cung ứng cam kết áp dụng tiêu chuẩn quốc tế nuôi trồng chế biến.

48

Xem phụ lục 3
http://svnckh.com.vn

91

3.4.1.2 Tập trung nhanh chóng đầu tư xây dựng kho cơ sở dữ liệu và hệ thống máy tính kết nối nội bộ để trao đổi thông tin giữa các thành viên thông qua sự điều phối của Ban quản trị chuỗi cung ứng, đảm bảo thông tin xuyên suốt trong chuỗi. Thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hoạch định kế hoạch sản xuất. Đầu tƣ hệ thống thông tin cho toàn bộ chuỗi cung ứng đòi hỏi một lƣợng vốn ban đầu bỏ ra tƣơng đối lớn, mà điều này khiến các HTX và cơ sở cung ứng giống ban đầu sẽ gặp khó khăn trong vấn đề vốn. Do đó, giai đoạn ban đầu Doanh nghiệp chế biến hỗ trợ cho HTX và cơ sở cung ứng giống thiết lập hệ thống máy tính kết nối nội bộ. Giai đoạn tiếp theo, sẽ từng bƣớc nâng cấp hệ thống thông tin, tiến tới ứng dụng các phần mềm quản trị tiên tiến. Ban Quản trị chuỗi phải đóng vai trò là nhân tố đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ vào quá trình liên kết thông tin giữa các mắt xích, thông qua việc triển khai một số phần mềm nhƣ SCE49 (phần mềm thực thi dây chuyển cung ứng), SCM50… nhằm tối đa hóa năng suất hoạt động của Ban. Bản thân Ban Quản trị cũng phải đảm bảo tính trung lập so với các thành phần trong chuỗi để đảm bảo độ tin cậy của thông tin tổng hợp. Tăng cƣờng trao đổi giúp các thành phần khi tham gia vào chuỗi cung ứng phải phải nhận thức đƣợc tầm quan trọng của thông tin trong mối quan hệ liên kết ngành dọc, từ đó đảm bảo tính trung thực về thông tin cung cấp cho Ban Quản trị. Mặt khác, chu kỳ trao đổi thông tin giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng cũng phải ngắn và tuần hoàn, để đảm bảo thông tin đến các thành viên một cách kịp thời. 3.4.1.3 Xây dựng cơ chế hợp tác giữa các thành phần tham gia vào chuỗi trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện, hài hòa lợi ích giữa các chủ thể, tôn trọng lẫn nhau, và chấp hành nghiêm chỉnh những cam kết đã đề ra. Chuỗi cung ứng cá tra là sự liên kết giữa các chủ thể hƣớng đến miêu tiêu chung đó là gia tăng giá trị trong toàn bộ chuỗi. Để chuỗi hoạt động hiệu quả, các mắt xích phải đƣợc gắn kết với nhau thông qua các cam kết dựa trên sự bình đẳng,
49

SCE có chức năng tự động hoá các bƣớc tiếp theo của dây chuyền cung ứng, nhƣ việc lƣu chuyển tự động các đơn đặt hàng từ nhà máy sản xuất tới nhà cung cấp nguyên vật liệu, để có đƣợc những gì bạn cần cho hoạt động sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ. 50 SCM đƣợc xây dựng dựa trên nhu cầu quản lý của các công ty có hệ thống mở rộng mô hình quản lý này sẽ diễn ra với tốc độ và quy mô ngày càng lớn với các kênh phân phối và mạng lƣới đại lý bán hàng rộng lớn, số lƣợng giao dịch nhiều, doanh thu hàng năm cao, nhu cầu quản lý số liệu tập trung đồng nhất, khả năng tổng hợp và phân tích dữ liệu từ các nguồn nhƣ tồn kho, doanh số bán hàng, công nợ phải thu/phải trả,…
http://svnckh.com.vn

92

hài hòa lợi ích, tôn trọng nhau, tôn trọng cam kết, chia sẻ những rủi ro. Có hai mối liên kết chính trong nội bộ chuỗi sản xuất cá tra đó là mối liên kết dọc (Cơ sở cung ứng giống – HTX nuôi trồng – Doanh nghiệp chế biến) và chuỗi liên kết ngang (giữa các cơ sở nuôi trồng với nhau trong HTX). Để minh bạch trong tài chính và phát triển bền vững, các liên kết trên phải đƣợc điều chỉnh bởi các hợp đồng kinh tế chặt chẽ trên cơ sở pháp lý, ràng buộc trách nhiệm đôi bên, bảo đảm nhà cung ứng con giống và ngƣời nuôi luôn bán đƣợc sản phẩm, doanh nghiệp không còn đối diện với nỗi lo thiếu cá nguyên liệu. Giải pháp khắc phục những mâu thuẫn thƣờng xẩy ra giữa ngƣời nuôi cá nguyên liệu và các doanh nghiệp chế biến bằng các hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Các điều khoản trong hợp đồng bao tiêu phải rõ ràng, minh bạch, có các điều khoản qui định rõ cam kết của các bên về số lƣợng cung ứng, giá bán nguyên liệu, chia sẻ rui ro một khi rủi ro ập tới, quy chế xử lý vi phạm hợp đồng…. Các doanh nghiệp chế biến chỉ ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với HTX đại diện cho các cơ sở nuôi trực thuộc. Những cơ sở nuôi không trực thuộc các HTX, phát triển tự phát không đăng ký sẽ không đƣợc ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Đây là giải pháp thông qua chuỗi cung ứng có thể qui hoạch sản xuất cá tra, khắc phục đƣợc hiện tƣợng phát triển tự phát, quản lý lỏng lẻo, dễ dàng trong quá trình truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Sau khi xây dựng xong cơ chế, các thành viên phải thƣờng xuyên đánh giá, hoàn thiện cơ chế vận hành. Trong chuỗi luôn phải xác định các nhà cung cấp con giống, cơ sở nuôi trồng và doanh nghiệp chế biến là “thành viên nòng cốt chiến lƣợc”, từ đó phát triển các quan hệ bền vững, lâu dài và ổn định theo tinh thần “hợp tác chặt chẽ để phản ứng nhanh với nhu cầu và thị trƣờng”. Muốn vậy, các thành viên cần định kỳ tổ chức trao đổi về những khó khăn, vƣớng mắc mà các thành viên gặp phải, cũng nhƣ những yêu cầu mới đặt ra từ thông tin phản hồi từ thị trƣờng các nƣớc nhập khẩu, sản phẩm cá tra phải đƣơng đầu với những “rào cản kỹ thuật” khắt khe, đòi hỏi tính hoàn thiện cao trong qui chuẩn sản xuất từ vùng nuôi đến thành phẩm xuất khẩu. Đồng thời, vai trò của Ban Quản Trị cũng cần phải đƣợc tận dụng và tôn trọng trong chức năng điều phối quyền lợi của các bên. 3.4.2. Nhóm giải pháp vĩ mô
http://svnckh.com.vn

93

Ở đây chú ý mô hình liên kết theo chuỗi cung ứng là quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế tham gia vào chuỗi, vì vậy vấn đề cốt lõi là không thể gắn một cơ quan chính quyền, nhà nƣớc hay một tổ chức phi kinh tế nào trong vai trò quản lý trong chuỗi51. Mà các cơ quan chức năng trên có vai trò quan trọng rất rõ trong việc hoạch định chính sách, chủ trƣơng, khung pháp lý cho sự hoạt động của từng thành phần cũng nhƣ của toàn chuỗi. Các cơ quan nghiên cứu, ứng dụng nhƣ các Viện, trƣờng, hiệp hội… sẽ tham gia vào quá trình hỗ trợ, chuyển giao tri thức, kinh nghiệm tổ chức và vận hành các chuỗi, đặc biệt là đối với các HTX nuôi trồng và cơ sở cung ứng con giống – những chủ thể còn thiếu thông tin, kiến thức và kinh nghiệm về chuỗi cung ứng. 3.4.2.1 Đối với Nhà nước Các cơ quan Nhà nƣớc bao gồm: Chính Phủ, Bộ NN&PTNT, các Bộ ngành liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh thành phố khu vực ĐBSCL cần phải phối hợp thực hiện một cách đồng bộ các giải pháp sau: a) Chính phủ sớm hoạch định các chủ trƣơng chính sách, tạo môi trƣờng pháp lý làm nền tảng bảo vệ lợi ích của các chủ thể, đảm bảo hiệu lực cho các hoạt động đồng quản lý sản xuất của các cấp Hội. b) Chính phủ cần có những hƣớng dẫn chỉ đạo, giám sát các địa phƣơng từng bƣớc thực hiện quy hoạch phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010 và định hƣớng đến năm 2020 nhằm phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ cá tra theo định hƣớng thị trƣờng, gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất với chế biến và mở rộng thị trƣờng tiêu thụ theo hƣớng hiện đại hóa tạo sản phẩm có khả năng cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu của thị trƣờng trong nƣớc và xuất khẩu. Để đạt đƣợc mục tiêu này, trƣớc hết chính phủ giao cho Bộ NNN&PTNT hoàn thành các hệ thống văn bản quản lý, quy hoạch sản xuất vùng sản xuất và tiêu thụ cá tra. Rà soát và điều chỉnh quy hoạch chi tiết nuôi và chế biến, tiêu thụ cá tra ở 9 tỉnh thành phố.

51

Sự không thành công nhƣ mong muốn của việc liên kết bốn nhà: Nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà nƣớc đã chứng minh cho điều này.
http://svnckh.com.vn

94

c)

Đối với Bộ NN&PTNT (cơ quan trực thuộc chính phủ) sớm ban hành các

tiêu chuẩn, quy chuẩn về nuôi, chế biến và tiêu thụ cá tra đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; Chỉ đạo các địa phƣơng áp dụng GAP trong nuôi cá tra; Đƣa đề án sản xuất và tiêu thụ cá tra đến năm 2020 vào thực tiễn; Chỉ đạo thực hiện và kiểm tra việc triển khai thực hiện quy hoạch nuôi, chế biến, tiêu thụ cá tra; Tổ chức sản xuất, tiêu thụ cá tra, kịp thời cập nhật thông tin về thị trƣờng, tiến bộ khoa học, công nghệ trong nuôi, chế biến, tiêu thụ cá tra phổ biến đến cơ sở nuôi trồng, doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả sản xuất và gìn giữ môi trƣờng sinh thái.Ngoài ra, Bộ NN&PTNT cần chỉ đạo công tác khuyến ngƣ, đặc biệt là xây dựng các mô hình sản xuất công nghệ cao nuôi, chế biến, tiêu thụ cá tra, ba sa. Đƣa ra đánh giá và khuyến nghị về mô hình xây dựng chuỗi cung ứng cho mặt hàng cá tra d) Bộ NN&PTNT phối hợp với Bộ Kế hoạch Đầu tƣ và Bộ Tài Chính đánh giá ƣu các công trình trọng điểm để giải ngân vốn trong đó chú ý cải thiện cơ sở hạ tầng khu vực ĐBSCL (hệ thống thủy lợi (kênh, mƣơng, cống cấp, thoát nƣớc), đƣờng giao thông) nhằm giúp chuỗi cung ứng giảm bớt chi phí vận tải do sự yếu kém không đồng bộ của cơ sở hạ tầng gây nên. e) Chính Phủ chỉ đạo Ngân hàng nhà Nƣớc cần có những chính sách tới các ngân hàng Thƣơng Mại hƣớng dẫn vào tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp, các thành phần tham gia vào chuỗi cung ứng tiếp cận với nguồn vốn vay để phát triển sản xuất. Bởi lẽ, nhu cầu về vốn lớn là một đặc điểm của ngành sản xuất cá tra xuất khẩu. f) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong khu vực ĐBSCL có nhiệm vụ xây dựng các dự án quy hoạch phát triển nuôi cá tra phù hợp với quy hoạch chung của vùng; cân đối ngân sách địa phƣơng, dành phần vốn thích đáng cùng với nguồn vốn từ Trung ƣơng để thực hiện đầu tƣ, hỗ trợ cho các thành phần tham gia vào chuỗi cung ứng cá tra. 3.4.2.2 Đối với các Hiệp Hội a) Hiệp Hội Nghề Cá Việt Nam, Hiệp Hội Nông Dân và Hiệp Hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) là tổ chức hỗ trợ các thành phần tham gia trong chuỗi cung ứng sản phẩm cá tra xuất khẩu triển khai mô hình liên kết giữa các
http://svnckh.com.vn

95

mắt xích trong chuỗi, đồng thời tham gia cùng với cơ quan quản lý nhà nƣớc quản lý chặt chẽ giá cả, chất lƣợng sản phẩm, nhất là sản phẩm xuất khẩu. Củng cố hệ thống thông tin, thống kê, dự báo thị trƣờng nhằm hỗ trợ thông tin cho chuỗi cung ứng, giúp chuỗi hoạt động hiệu quả hơn. Trong mô hình chuỗi cung ứng đƣa ra, VASEP có vai trò rất quan trọng trong việc xúc tiến thƣơng mại, phát huy sức mạnh của liên kết ngang đối với các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra. Để mở rộng thị trƣờng và quảng bá rộng hình ảnh cá tra, VASEP cần tích cực hơn nữa trong việc xúc tiến thƣơng mại tại các thị trƣờng trọng yếu và các thị trƣờng tiềm năng. b) Đối với các Cục Quản lý Chất lƣợng, An toàn Vệ sinh và Thú y Thủy sản
(NAFIQAVED), các viện nghiên cứu nuôi trồng và các trung tâm nghiên cứu giống đóng vai trò giám sát, kiểm định chất lƣợng của cả quá trình từ con giống, cho đến nguyên liệu và thành phẩm. Trên căn cứ đó, cấp giấy phép chứng nhận VSATTP, phân

chia vùng các trang trại nuôi cá trong chuỗi cung ứng theo vùng nuôi đánh số, tạo điều kiện cho chuỗi xây dựng cơ sở truy xuất nguồn gốc sản phẩm, cụ thể: Đối với cơ sở sản xuất con giống: tăng cƣờng kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các điều kiện ƣơm giống, chất lƣợng con giống. Đối với trang trại nuôi cá: giám sát việc tuân thủ điều kiện nuôi, đảm bảo VSATTP, bảo vệ môi trƣờng vùng nuôi, khuyến khích ngƣời nuôi áp dụng tiêu chuẩn tiên tiến nhƣ: GAP, CoC, SQF… trong nuôi trồng thủy sản đảm bảo điều kiện nuôi trồng thủy sản bền vững. Đối với nhà máy chế biến: giám sát việc tuân thủ VSATTP trong quy trình sản xuất. Tăng cƣờng và nâng cao chất lƣợng trao đổi thông tin, dự báo về giá cả trên thị trƣờng cá tra thế giới, để hỗ trợ hoạt động điều phối thông tin của Ban Quản Trị chuỗi. Đồng thời các Hiệp hội ngành cũng tham gia giám sát hoạt động này của Ban Quản Trị để tránh trƣờng hợp làm sai lệch thông tin thị trƣờng trong toàn chuỗi nhằm cạnh tranh không lành mạnh.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 3
http://svnckh.com.vn

96

Việc xây dựng chuỗi cung ứng đƣợc thực hiện qua hai bƣớc, trong đó đầu tiên là đề xuất mô hình chuỗi cung ứng phù hợp với đặc trƣng của ngành sản xuất cá tra xuất khẩu, tiếp theo là mô tả cơ chế hợp tác về kinh tế và thông tin. Chuỗi cung ứng đƣợc xây dựng theo mô hình mạng lƣới ngƣời đại lý trữ hàng và giao hàng theo kiện. Trong đó, nhà máy chế biến là ngƣời khởi xƣớng và giữ vai trò chủ đạo. Từ mô hình đề xuất, các biện pháp để xây dựng thành công chuỗi cung ứng đã đƣợc đề xuất với hai nhóm chính: nhóm giải pháp cụ thể đối với từng thành phần của chuỗi và nhóm giải pháp vĩ mô. Trong đó nhấn mạnh đến nhóm giải pháp vi mô do đặc thù của chuỗi cung ứng là sự hợp tác về kinh tế.

KẾT LUẬN CHUNG
Dựa trên cơ sở lý thuyết về xây dựng chuỗi cung ứng và đặc trƣng của ngành sản xuất cá tra xuất khẩu ở ĐBSCL, bài nghiên cứu đã đề xuất một mô hình chuỗi cung ứng cho hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu bao gồm bốn thành phần chính: cơ sở cung ứng con giống, trang trại nuôi trồng (đại diện là HTX nuôi trồng), nhà máy chế biến và thị trƣờng xuất khẩu. Trong đó, nhà máy chế biến cá tra đƣợc xem là ngƣời khởi xƣớng và giữ vai trò chủ đạo trong chuỗi cung ứng. Do mô hình đƣợc xây dựng dựa trên đặc điểm tổng quát của toàn ngành sản xuất cá tra xuất khẩu ở ĐBSCL, nên nó có giá trị thực tiễn và giá trị áp dụng đối với việc xây dựng mô hình chuỗi cung ứng. Trong quá trình thực hiện, từng doanh nghiệp trong các chuỗi khác nhau có thể điều chỉnh chuỗi cung ứng có những đặc điểm khác nhằm phù hợp với thực trạng của doanh nghiệp đó. Tuy nhiên, xét một cách tổng quát, việc phù hợp với đặc điểm chung của số đông sẽ giúp mô hình chuỗi cung ứng có thể đƣợc nhân rộng, từ đó giải quyết tính phi hiệu quả và kém bền vững của hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu hiện tại ở ĐBSCL. Để mô hình hoạt động hiệu quá, đề tài nghiên cứu đã đƣa ra hai nhóm giải pháp chính, đó là nhóm giải pháp vi mô và vĩ mô. Do đặc thù của mô hình là hợp tác kinh tế, nên đề tài tập trung nhiều vào nhóm giải pháp vi mô trong đó nhấn mạnh
http://svnckh.com.vn

97

đến giải pháp xây dựng cơ chế hợp tác giữa các thành phần, xây dựng hệ thống thông tin tập trung, vận chuyển, tồn kho và định vị. Tất cả nhằm đảm bảo sự lƣu thông của ba dòng chảy: hàng hóa, thông tin và tài chính. Đây là cơ sở để gia tăng giá trị trong toàn chuỗi và đảm bảo cho sự phát triển bền vững. Tuy nhiên, mô hình cũng còn hạn chế ở một số điểm sau. Trƣớc hết, mô hình mới chỉ giới hạn trong bốn thành phần chính của hoạt động sản xuất, mà chƣa tính đến những thành phần phụ trợ khác nhƣ nhà cung cấp thức ăn, thú y, ngân hàng… Mặt khác, quy mô chuỗi cung ứng cũng chỉ dừng lại ở chuỗi cung ứng đơn, chứ chƣa xét đến sự tƣơng tác giữa các chuỗi cung ứng, tức là mạng lƣới cung ứng, mà ở đó thành phần của chuỗi này có thể tham gia vào chuỗi khác. Chuỗi cung ứng đƣợc xây dựng trong điều kiện ổn định, không có sự biến động về kinh tế, chính trị, xã hội, mặc dù trên thực tế quá trình xây dựng chuỗi cung ứng sẽ chịu nhiều ảnh hƣởng từ những biến động này. Chuỗi cung ứng cũng bị giới hạn ở không gian, chƣa xét đến một thị trƣờng xuất khẩu cụ thể. Những hạn chế trên của bài nghiên cứu có thể là một hƣớng phát triển cho những bài nghiên cứu sau, nhằm hoàn thiện mô hình chuỗi cung ứng cho hoạt động sản xuất cá tra xuất khẩu.

http://svnckh.com.vn

98

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. 1. Tài liệu tiếng Việt Bộ NN&PTNT, tháng 04-2009, Đề án sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020. 2. 3. Bộ NN&PTNT, Quyết định Ban hành Quy chế quản lý vùng và cơ sở nuôi cá tra, số 70/2008/QĐ-BNN. Th.S Nguyễn Công Bình (2008), Quản lý chuỗi cung ứng, Nhà xuất bản Thống Kê 4. TS. Thái Thanh Dƣơng, Tạp chí Thƣơng Mại Thủy Sản, VASEP, số 112, tháng 04-2009, Liên kết theo chuỗi sản phẩm thủy sản ở Việt Nam. B. 1. Tài liệu tiếng Anh Christopher Surie và Micheal Wagner, Supply Chain Management and

Advanced Planning.
http://svnckh.com.vn

99

2. 3. 4.

Mr Raymon van Anrooy with assistance from Nguyen Viet Ha, FAO, Vertical Sunil Chopra và Peter Meindl, Supply Chain Management – Strategy, Werner Delfmann và Sascha Albers, Supply Chain Management in the Global

chain cooperation in the Vietnamese fisheries product channel. Planning and Operation, second edition Context.

PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Bản đồ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

http://svnckh.com.vn

100

Phụ lục 2: Giải thích một số thuật ngữ về tiêu chuẩn VSATTP - SQF – Safe Quanlity Food: là hệ thống quản lý và phòng ngừa những rủi ro bao gồm các kết quả của việc thực hiện và vận hành kế hoạch SQF nhằm bảo đảm cho an toàn và chất lƣợng trong doanh nghiệp thực phẩm .Hệ thống này đƣợc thiết kế bởi các chuyên viên thực hành SQF, đƣợc đánh giá bởi các chuyên gia đánh giá SQF và đƣợc chứng nhận bởi tổ chức đƣợc phép chứng nhận khi thỏa mãn các tiêu chuẩn của SQF. Trong đó: SQF 1000CM : Áp dụng cho ngƣời nuôi trồng thủy sản và các nhà sơ chế SQF 2000CM : Áp dụng cho nhà chế biến SQF 1000CM : Hệ thống quản lý và phòng ngừa những rủi ro bao gồm các kết quả của việc thực hiện và vận hành kế hoạch SQF trong nuôi trồng thủy sản nhằm tạo ra những sản phẩm chất lƣợng và an toàn cho sức khỏe ngƣời tiêu dùng. CM: Thƣơng hiệu đƣợc chứng nhận (Certificated Mark) - HACCP (Hazard, Analysis, Critical, Control, Point): Là hệ thống nhận diện, phân tích, đánh giá và kiểm soát các mối nguy có ý nghĩa cho an toàn thực phẩm. Đây là một hệ thống bảo vệ, cung cấp niềm tin chắc chắn rằng an toàn thực phẩm đƣợc quản trị một cách có hiệu quả. Nó làm cho các nhà cung cấp chú trọng vào an toàn và chất lƣợng thực phẩm và tập trung vào việc bảo quản nhƣ một phƣơng pháp để kiểm soát. - GAP (Good Aquaculture Practices - Thực hành tốt trong nuôi trồng thuỷ sản) đƣợc ứng dụng trong nuôi cá tra. - BMP (Better Management Practices - Thực hành quản lý tốt hơn) đƣợc ứng dụng trong nuôi cá tra. - CoC (Code of Conduct for Responsible Aquaculture - Bộ Quy tắc ứng xử có trách nhiệm trong nuôi trồng thuỷ sản) đƣợc ứng dụng trong nuôi cá tra. Phụ lục 3: Quyết định số 102/2008/QĐ-BNN BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN SỐ 102/2008/QĐ-BNN NGÀY 17 THÁNG 10 NĂM 2008 PHÊ DUYỆT QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CÁ TRA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐẾN NĂM 2010, ĐỊNH HƢỚNG ĐẾN NĂM 2020 ***************** BỘ TRƯỞNG BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Căn cứ Nghị định số 01/2008/NĐ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Căn cứ Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội và Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP
http://svnckh.com.vn

101

ngày 07 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH; Căn cứ Quyết định số 10/2006/QĐ-TTg ngày 11/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệ ể ủy sả 2020;

Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, QUYẾT ĐỊNH Điều 1.

phần kinh tế, trong đó Nhà nƣớc hỗ trợ đầu tƣ p

TIÊU THỤ CÁ TRA 1. Định hƣớng: 1.1. Nuôi cá tra thƣơng phẩm:

thích nghi khác nhau: Cấp độ 1 (Tốt): gồm đất Cù lao trên các sông lớn (sông Tiền và sông Hậu)
http://svnckh.com.vn

102

Cấp độ 2 (Khá): gồm đất ven sông lớn, cách bờ nhỏ hơn 500 mét; Cấp độ 3( Trung bình): gồm đất ven các sông nhánh, cách bờ không quá 400 mét. g;

1.3. Xây dựng cơ sở chế biến thức ăn, chế phẩm sinh học và hệ thống dịch vụ gắn với yêu cầu phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra, đảm bảo nghề nuôi chế biến, tiêu thụ cá tra phát triển bền vững.

bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng nhu cầu thị trƣờng, thân thiện với môi trƣờng.

2.2. Mục tiêu cụ thể: a. Đến năm 2010: 8.600 ha; - Kim ngạch xuất khẩu: 1,3- 1,5 tỷ USD; - Giải quyết việc làm: 200.000 ngƣời. b. Đến năm 2020: 2010-2020 và đạt 13.000 ha vào năm 2020. 2020 và đạt 1.850.000 tấn năm 2020. -2020 và đạt 2,1-2,3 tỷ USD vào năm 2020. 2020. Giải quyết việc làm khoảng 250.000 ngƣời vào năm 2020. 3. Giải pháp chủ yếu.

-

-

rộng thị trƣờng xuất khẩu phải tiến hành đồng thời với phát triển thị trƣờng tiêu thụ nội địa,
http://svnckh.com.vn

103

thụ hết cá nuôi, giảm bớt rủi ro khi thị trƣờng có biến động xấu. 1.2. Tăng cƣờng mối quan hệ liên kết giữa ngƣời nuôi, doanh nghiệp chế biến tiêu thụ theo hợp đồng kinh tế có điều chỉnh giá theo nguyên tắc chia sẻ lợi ích, rủi ro khi thị trƣờng sản phẩm đầu vào cho sản xuất và tiêu thụ cá tra có biến động. ng nguyên liệu cá tra vào tổ chức quản lý chuyên nghiệp.

1.5. Khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia hệ thống quản lý chất lƣợng (HACCP, ISO, SQF,...), đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm hàng hóa để có cơ hội xâm nhập vào các thị trƣờng có yêu cầu khắt khe về chất lƣợng.

ra phải đƣợc quản lý chất lƣợng sản phẩm theo HACCP và các chuẩn mực quốc tế; 100% nhà xƣởng sản xuất đạt tiêu chuẩn ngành. - Xử lý môi trƣờng nƣớc bằng các giải pháp tổng hợp: lắng lọc cơ học, xử lý hóa học và xử lý sinh học trƣớc

- Kết hợp với trồng trọt để đƣa chất thải từ ao nuôi cá tra làm phân bón cho cây trồng, giảm nguồn gây ô nhiễm đƣa trực tiếp ra môi trƣờng. - Xây dựng các trạ
http://svnckh.com.vn

104

tham gia bảo vệ môi trƣờng, thực hiện quy hoạch và đồng thuận điều chỉnh giá cả linh hoạt để tạo điều kiện phát triển sản xuất, tiêu thụ cá tra đảm bảo lợi ích của cộng đồng. - Tăng cƣờng công tác tuyên truyền, giáo dục để ngƣời sản xuất nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trƣờng. -

- Xây dựng giáo trình môn học sản xuất, chế biến tiêu thụ cá tra cho các cấp bậc đào tạo và đƣa vào giảng dậy trong các Trƣờng có đào tạo về chuyên ngành Thủy sản. -

độ giám sát, hƣớng dẫn và quản lý quy hoạch. Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã, quản lý cộng đồng các vùng nuôi cá tra. - Thực hiện các chính sách hiện hành đối với sản xuất và tiêu thụ nông lâm thủy sản. -

6. Danh mục Chương trình, dự án nuôi, chế biến và tiêu thụ cá tra: 6.1. Dự án nâng cao năng lực thống kê và xây dựng cơ sở dữ liệu về sản xuất, chế biến, tiêu thụ cá tra; 6.2. Xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn về sản xuất, chế biến và tiêu thụ cá tra, tạo sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, thân thiện với môi trƣờng; 6.3. Chƣơng trình nâng cao phẩm giống cá tra; 6.4. Chƣơng trình nghiên cứu dinh dƣỡng thức ăn công nghiệp và chế phẩm sinh học cho cá tra 6.5. Chƣơng trình phòng ngừa dịch bệnh cá tra; 6.6. Chƣơng trình quan trắc cảnh báo và quản lý môi trƣờng vùng nuôi, chế biến cá tra; 6.7. Chƣơng trình Khoa học công nghệ nuôi, chế biến, tiêu thụ cá tra; 6.8. Chƣơng trình khuyến ngƣ nuôi, chế biến, tiêu thụ cá tra; 6.9. Chƣơng trình đầu tƣ xây dựng công trình kết cấu hạ tầng nuôi, chế biến, tiêu thụ cá tra; 6.10. Đào tạo nhân lực. 6.11. Chƣơng trình quản lý chất lƣợng nguyên liệu, sản phẩm, phụ phẩm chế biến từ cá tra;
http://svnckh.com.vn

105

6.12. Xây dựng mô hình sản xuất tiêu thụ cá tra theo hƣớng tạo mối liên kết giữa các chủ thể nuôi, chế biến, tiêu thụ sản phẩm từ cá tra theo hợp đồng; 6.13. Chƣơng trình xây dựng, quảng bá thƣơng hiệu, xúc tiến thƣơng mại cá tra Việt Nam; - Đầu tƣ phát triển nuôi cá tra theo cơ chế quy định tại Quyết định số: 224/1999/QĐ-TTg ngày 8/12/1999 của Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt Chƣơng trình phát triển nuôi trồng thủy sản thời kỳ 1999-2010 và Luật Ngân sách - Khuyến khích các thành phần kinh tế trong nƣớc và ngoài nƣớc đầu tƣ nuôi, sản xuất giống, thức ăn, chế biến, tiêu thụ cá tra; chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực nuôi, chế biến, tiêu thụ cá tra. nông thôn, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản, cơ sở hạ tầng làng nghề ở nông thôn theo Quyết định số: 132/2001/QĐ-TTg ngày 07 tháng 9 năm 2001 của Thủ tƣớng Chính phủ. - Vốn Ngân sách Trung ƣơng hỗ trợ về địa phƣơng cùng với Ngân sách địạ phƣơng đầu tƣ xây dựng công trình kết cấu hạ tầng phục vụ nuôi nhƣ hệ thống thủy lợi (kênh, mƣơng, cống cấp, thoát nƣớc), đƣờng giao thông…. theo các dự án đầu tƣ đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt. các cơ quan chức năng. - Xây dựng quan hệ sản xuất mới trên cơ sở mô hình sản xuất liên kết giữa các tổ chức, cá nhân hoạt động dịch vụ, sản xuất, chế biến, tiêu thụ cá tra. pháp xử lý thích hợp. xí nghiệp vào khu vực chế biến quy định ở các khu công nghiệp của từng địa phƣơng. hoạt động sản xuất, chế biến, tiêu thụ cá tra; - Tăng cƣờng năng lực khuyến ngƣ về tổ chức bộ máy, trang thiết bị và nguồn tài chính cho hoạt động khuyến ngƣ nuôi, chế biến, tiêu thụ cá tra;
http://svnckh.com.vn

106

- Hoàn thiện các tổ chức hội, hiệp hội, thành lập Hiệp hội cá tr động sản xuất và liên kết của tổ chức, cá nhân liên quan đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ cá tra. III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: - Chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành, địa phƣơng xây dựng và tổ chức thực hiện Chƣơng trình hành động của Ngành về sản xuất, chế biến và tiêu thụ cá tra của Việt Nam; - Chủ trì, phối hợp với các Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, Bộ Tài chính xác định danh mục hoặc tiêu chí để xác định các dự án trọng điểm đƣợc hỗ trợ đầu tƣ; - Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hàng năm tổng hợp, báo cáo Thủ tƣớng Chính phủ kết quả nuôi, chế biến và tiêu thụ cá tra và đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo phát triển bền vững nghề nuôi cá tra tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; - Ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn về nuôi, chế biến và tiêu thụ cá tra đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; Chỉ đạo các địa phƣơng áp dụng GAP trong nuôi cá tra; xây dựng thƣơng hiệu cho cá tra Việt Nam; Chỉ đạo thực hiện và kiểm tra việc triển khai thực hiện quy hoạch nuôi, chế biến, tiêu thụ cá tra; Tổ chức sản xuất, tiêu thụ cá tra, kịp thời cập nhật thông tin về thị trƣờng, tiến bộ khoa học, công nghệ trong nuôi, chế biến, tiêu thụ cá tra phổ biến đến dân, doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả sản xuất và gìn giữ môi trƣờng sinh thái. - Chỉ đạo công tác khuyến ngƣ, đặc biệt là xây dựng các mô hình sản xuất công nghệ cao nuôi, chế biến, tiêu thụ cá tra, ba sa. 2. Các Bộ, ngành liên quan theo chức năng, nhiệm vụ đảm bảo các yếu tố cần thiết cho nuôi, chế biến, tiêu thụ cá tra theo quy hoạch đƣợc duyệt. - Chỉ đạo lập, phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch sản xuất, tiêu thụ cá tra của địa phƣơng mình đến 2015, định hƣớng 2020. - Đối với địa phƣơng đã có quy hoạch phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra thì chỉ đạo rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch theo cấp độ thích nghi đƣợc xác định trong quy hoạch tại quyết định này và tổ chức thực hiện quy hoạch điều chỉnh. - Chỉ đạo xây dựng mô hình tổ chức liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm cá tra theo hợp đồng; - Chỉ đạo ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong nuôi, chế biến, tiêu thụ cá tra và thực hành sản xuất theo GAP. Chỉ đạo phát triển vùng nguyên liệu cá tra gắn với cơ sở chế biến xuất khẩu đảm bảo hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trƣờng. Điều 3. Các thành phố đồng bằng sông Cửu Long trực thuộc Trung ƣơng và các cơ quan có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
http://svnckh.com.vn

107

http://svnckh.com.vn

108

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->