P. 1
Vội vàng - Xuân Diệu

Vội vàng - Xuân Diệu

|Views: 70|Likes:
Được xuất bản bởitapdoanpl

More info:

Published by: tapdoanpl on Aug 23, 2012
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

08/01/2013

pdf

text

original

V ội vàng - Xuân Di ệu

Thư Năm, 26/05/2011, 06:50 CH | Lượt xem: 2134

Bài vi ết hay VỘI VÀNG Xuân Di ệu I. Kiến thưc cơ bản. 1. Những nét chính về sự nghiệp văn học của Xuân Diệu. "Quê cha Hà Tĩnh đất hẹp khô rang, Đói bao thuở, cơm chia phần từng bát. Quê mẹ gió nồm thổi lên tươi mát, Bình Định lúa xanh ôm bóng tháp Chàm" ("Cha Đàng ngoài Mẹ ở Đàng trong") Họ và tên là Ngô Xuân Diệu, bút danh là Xuân Diệu. Ông sinh năm 1916, mất năm 1985. Đoạn thơ trên như một lời tự thuật của thi sĩ nói về quê mẹ đất cha. Thời học trung học ở Huế và Hà Nội, Xuân Diệu đã làm thơ, và nổi tiếng về thơ. Ông là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới. Tình yêu lưa đôi, yêu cuộc sống và nỗi cô đơn rợn ngợp của cái Tôi cá nhân trước thời gian vô tận và không gian bao la là hồn thơ Xuân Diệu trong "Thơ Thơ" (1938) và "Gửi hương cho gió" (1944): - "Tôi là một con chim không tổ, Lòng cô đơn hơn một đứa mồ côi". ("Dối trá") - "Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất, Anh cho em, nên anh đã mất rồi". ("Tình thứ nhất") Xuân Diệu chào đón Cách mạng tháng Tám và nước Cộng hòa với hai trường ca: "Ngọn quốc kì" (1945) và "Hội nghị non sông" (1946). Sau Cách mạng, hồn thơ Xuân Diệu dào dạt niềm vui, đã từ cái Tôi đến cái Ta, từ Riêng đếnChung, từ chân trời của một người đến chân trời của tất cả. Tiêu biểu cho sự nghiệp thi ca của ông là các tập thơ:"Ngôi sao" (1955), "Riêng chung" (1960), "Mũi Cà Mau - Cầm tay" (1962)... "Hồn tôi đôi cánh" (1975), "Thanh ca"(1980)... Xuân Diệu là ông chúa thơ tình đã để lại trên 400 bài thơ tình. Ông là người viết tiểu luận về Thơ hay nhất, đặc sắc nhất qua tác phẩm "Các nhà thơ cổ điển Việt Nam". Hơn nửa thế kỉ cầm bút, ông để lại trên 50 tác phẩm (thơ, tùy bút, bút kí truyện ngắn, tiểu luận, dịch thơ). Xuân Diệu là một thi sĩ cực kì tài hoa, phong tình, một nguồn sáng tạo văn chương vô cùng to lớn, một "Hy Mã Lạp Sơn" trong nền văn học Việt Nam hiện đại: "Ta lên cao như một ý siêu phàm Nhìn vũ trụ muốn tranh phần cao vọt". ("Hi Mã Lạp Sơn" - Gửi hương cho gió) 2. Xuất xư chủ đề. a. Rút trong tập "Thơ thơ", tập thơ của Xuân Diệu, xuất bản năm 1938. b. Tuổi trẻ rất đẹp, rất đáng yêu. Một đời người chỉ có một lần tuổi trẻ. Phải biết quý trọng và sống hết mình với tuổi trẻ và thời gian. 3. Nội dung cảm nhận: a. Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân. - Thiên nhiên rất đẹp đầy hương sắc của hoa "đồng nội xanh rì", của lá "cảnh tơ phơ phất"; "Tuần tháng mật" của ong bướm. "Khúc tình si" của yến anh. "Và này đây ánh sáng chớp hàng mi". Chữ "này đây" được 5 lần nhắc lại diễn tả sự sống ngồn ngộn phơi bày, thiên nhiên hữu tình xinh đẹp thật đáng yêu. Vì lẽ đó nên phải vội vàng "tắt nắng đi" và "buộc gió lại". Trong cái phi lí có sự đáng yêu của một tâm hồn lãng mạn. - Tuổi trẻ rất đẹp rất đáng yêu. Bình minh là khoảnh khắc tươi đẹp nhất của một ngày, đó là khúc "Thần Vui hằng gõ cửa". Tháng giêng là tháng khởi đầu của mùa xuân, "ngon như một cặp môi gần". Một chữ "ngon" chuyển đổi cảm giác thần tình, một cách so sánh vừa lạ vừa táo bạo. Chiếc môi ấy chắc là của giai nhân, của trinh nữ. Đây là câu thơ hay nhất mới nhất cho thấy màu sắc cảm giác và tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt của thi sĩ Xuân Diệu. Chắc là Xuân Diệu viết bài thơ này trước năm 1938, lúc ông trên dưới 20 tuổi - cái tuổi thanh xuân bừng sáng, như thi sĩ đã "vội vàng một nửa" - cách nói rát thơ - chẳng cần đến tuổi trung niên (nắng hạ) mới luyến tiếc tuổi hoa niên. Dấu chấm giữa dòng thơ, rất mới, thơ cổ không hề có. Như một tuyên ngôn về "vội vàng": "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần, Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa

Tôi không chời nắng hạ mới hoài xuân". Vội vàng vì thiên nhiên quá đẹp, vì cuộc sống quá yêu, vì tuổi trẻ quá thơ mộng. Đang tuổi hoa niên mà đã "vội vàng một nửa"... Cảm thưc của thi sĩ về thời gian, về mùa xuân, về tuổi trẻ rất hồn nhiên, mới mẻ. b. Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm. - Quan niệm về thời gian có nhiều cách nói. Thời gian là vàng ngọc. Bóng ngả lưng ta. Thời gian vun vút thoi đưa, như bóng câu (tuấn mã) vút qua cửa sổ, như nước chảy qua cầu. Thời gian một đi không trở lại. Xuân Diệu cũng có một cách nói rất riêng của nhà thơ; tương phản đối lập để chỉ ra một đời người chỉ có một tuổi xuân; tuổi trẻ một đi không trở lại. "Xuân đang tới, nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già. Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất Lòng tôi rộng, nhưng lượng đời cứ chật Không cho dài thời trẻ của nhân gian Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại..." Giọng thơ sôi nổi như nước tự mạch nguồn tuôn ra. Một hệ thống tương phản đối lập tới - qua, non - già, hết - mất, rộng, chật hoàn toàn - bất phục hoàn, vô hạn - hữu hạn - để khẳng định một chân lý - triết lí: tuổi xuân một đi không trở lại. Phải quý tuổi xuân. - Cách nhìn nhận về thời gian cũng rất tinh tế, độc đáo, nhạy cảm. Trong hiện tại đã bắt đầu có quá khư và tương lai, cái đang có lại đang mất dần đi... Và mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật hình như mang theo nỗi buồn "chia phôi" hoặc "tiễn biệt", "hờn" vì xa cách, "sợ" vì phai tàn sắp sửa". Cảm xúc lãng mạn dào dạt trong cái vị đời. Nói cảnh vật thiên nhiên mà là để nói về con người, nói về nhịp sống khẩn trương. "vội vàng" của tạo vật. Với Xuân Diệu, hầu như cuộc sống nơi "vườn trần" đều ít nhiều mang "bi kịch" về thời gian. "Mùi tháng năm đều rơm vị chia phôi Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt". Cũng là "gió", là "chim"... nhưng gió "thì thào" vì "hờn", "chim" bỗng ngừng hót, ngừng reo vì "sợ"! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật nghịch lí giữa mùa xuân - tuổi trẻ và thời gian: "Con gió xinh thì thào trong lá biếc Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi? Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?" Thi sĩ bỗng thốt lên lời than. Tiếc nuối. Lo lắng. Chợt tỉnh " mùa chưa ngả chiều hôm", nghĩa là vẫn còn trẻ trung, chưa già. Lên đường! Phải vội vàng, phải hối hả. Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hóa làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng băn khoăn, vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng khuâng: "Chẳng bao giờ / ôi / chẳng bao giờ nữa... Mau đi thôi / mùa chưa ngả chiều hôm". Xưa kia, Nguyễn Trãi viết trong chùm "Thơ tiếc cảnh": - "Xuân xanh chưa dễ hai phen lại Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên" (Bài số 3) - "Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm" (Bài số 7) Những vần thơ của Nguyễn Trãi giúp ta cảm nhận sắc điệu trữ tình trong "Vội vàng" về màu thời gian, về sắc thời gian và tuổi trẻ. Thật yêu đời. Thật ham sống. c. Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi. - Mở đầu bài thơ là cái Tôi hăm hở: " Tôi muốn tắt nắng đi". Kết thúc bài thơ "Ta", là mọi tuổi trẻ. Một sự hòa nhập và đồng điệu trong dòng chảy thời gian: Sống mãnh liệt, sống hết mình. Sống nồng nàn say mê. Nghệ thuật trùng điệp trong diễn tả. Ngôn từ đậm màu sắc cảm giác, xúc giác, rạo rực: " Ta muốn ôm", "Ta muốn riết... Ta muốn say... Ta muốn thâu..." "Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn Ta muốn riết mây đưa và gió lượn Ta muốn say cánh bướm với tình yêu Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây và cỏ rạng" Sống cũng là để yêu, yêu hết mình. Thơ hay vì màu sắc lãng mạn. Vì giọng thơ sôi nổi. Nghệ thuật " vắt dòng" với ba từ "và" xuất hiện trong một dòng thơ làm nổi bật cảm xúc: say mê vồ vập cảnh đẹp, tình đẹp nơi vườn trần. Tất cả mùi thơm, ánh sáng, thanh sắc, xuân hồng... đều là khao khát của thi nhân:

"Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi - Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!" Sống vội vàng không có nghĩa là sống gấp, ích kỉ trong hưởng thụ. " Vội vàng" thể hiện một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt, Biết quý trọng thời gian, biết quý trọng tuổi trẻ, biết sống cũng là để yêu; tình yêu lưa đôi, tình yêu tạo vật. Tình cảm ấy đã thể hiện một quan niệm nhân sinh mới mẻ, cấp tiến. Bảy thập kỷ sau còn làm cho không ít người ngỡ ngàng! Xuân Diệu đã sống "vội vàng" như vậy. 50 tác phẩm, hơn 400 bài thơ tình, ông đã làm giàu đẹp cho nền thi ca Việt Nam hiện đại. Bài thơ "Vội vàng" cho thấy một cảm quan nghệ thuật rất đẹp, rất nhân văn, một giong thơ sôi nổi, dâng trào và lôi cuốn, hấp dẫn. Có chất xúc giác trong thơ. Cách dùng từ rất bạo, cấu trúc câu thơ, đoạn thơ rất tài hoa. "Vội vàng" tiêu biểu nhất cho "Thơ mới", thơ lãng mạn 1932 - 1941. II. Bài văn tự luận, tham khảo. Bài thư nhất Phân tích bài th ơ “V ội vàng” c ủa thi sĩ Xuân Di ệu Bài làm ... "Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa Tháng giêng ngon như một cặp môi gần"... (...) Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn...". Mỗi lần đọc những dòng thơ trên, nhạc điệu,vần điệu "Vội vàng" cư ngân vang dào dạt mãi trong lòng ta, tình yêu đời, yêu sống như tát mãi không bao giờ vơi cạn... Cảm thưc về thời gian, về mùa xuân, về tuổi trẻ... như những lớp sóng vỗ vào tâm hồn ta. "Vội vàng" là bài thơ độc đáo nhất, "mới nhất" của thi sĩ Xuân Diệu in trong tập "Thơ Thơ"(1933-1938) - đóa hoa đầu mùa đầy hương sắc làm rạng danh môt tài thơ thế kỉ. Bài thơ "Vội vàng" nói lên nhịp điệu sống, khát vọng sống của tuổi trẻ rất đẹp, rất đáng yêu. Một đời người chỉ có một lần tuổi trẻ. Phải biết trân trọng, quý trọng và sống hết mình với tuổi trẻ, với mùa xuân và với thời gian. Trong "Tiểu dẫn" về bài thơ "Vội vàng" này (Văn 11) Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh viết: "Đây là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt. Nhưng đằng sau những tình cảm ấy, có một quan niệm nhân sinh mới chưa thấy trong thơ ca truyền thống". Thiên nhiên rất đẹp đầy hương sắc của hoa trên "đồng nội xanh rì", của lá "cành tơ phơ phất". "Tuần tháng mật" của ong bướm. "Khúc tình si" của yến anh. "Và này đây ánh sáng chớp hàng mi" . Chữ "này đây" được 5 lần nhắc lại diễn tả sự sống ngồn ngộn phơi bày, thiên nhiên hữu tình xinh đẹp thật đáng yêu. Vì lẽ đó nên phải vội vàng "tắt nắng đi" và "buộc gió lại". Trong cái phi lí có sự đáng yêu của một tâm hồn lãng mạn. Tuổi trẻ rất đẹp, rất đáng yêu. Bình minh là khoảnh khắc tươi đẹp nhất của một ngày, đó là lúc "thần Vui hằng gõ cửa". Tháng giêng là tháng khởi đầu của mùa xuân, "ngon như cặp môi gần". Một chữ "ngon" chuyển đổi cảm giác thần tình, một cách so sánh vừa mới lạ vừa táo bạo. Chiếc môi ấy chắc là của giai nhân, của trinh nữ. Đây là câu thơ hay nhất, mới nhất cho thấy màu sắc cảm giác và tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt của thi sĩ Xuân Diệu. Chắc là Xuân Diệu viết bài thơ này trước năm 1938, lúc ông trên dưới 20 tuổi - cái tuổi thanh niên bừng sáng. Nhưng thi sĩ đã "vội vàng một nửa", một cách nói rất thơ - chẳng cần đến tuổi trung niên (nắng hạ) mới luyến tiếc tuổi hoa niên. Dấu chấm giữa dòng thơ, rất mới, thơ cổ không hề có. Như một tuyên ngôn "vội vàng": "Tháng giêng ngon như cặp môi gần Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân". Vội vàng vì thiên nhiên quá đẹp, vì cuộc sống quá yêu, vì tuổi trẻ quá thơ mộng. Đang tuổi hoa niên mà đã "vội vàng một nửa".. cảm thưc của thi sĩ về thời gian, về mùa xuân, về tuổi trẻ rất hồn nhiên, mới mẻ. Quan niệm về thời gian có nhiều cách nói. Thời gian là vàng ngọc. Bóng ngả lưng ta. Thời gian vun vút thoi đưa, như bóng câu (tuấn mã) vút qua cửa sổ, như nước chảy qua cầu. Thời gian một đi không trở lại. Xuân Diệu cũng có một cách nói rất riêng: tương phản đối lập để chỉ ra cái "lượng trời" cho một đời người chỉ có một thời xuân xanh mà tuổi trẻ một đi qua không bao giờ trở lại: "Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật Không cho dài thời trẻ của nhân gian Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại...". Giọng thơ sôi nổi như nước tự mạch nguồn tuôn ra. Một hệ thống tương phản đối lập: tới / qua; non / già; rộng / chật; tuần hoàn / bất phục hoàn; vô hạn / hữu hạn - để khẳng định một chân lí, triết lí: tuổi xuân một đi không trở lại, phải biết quý trọng tuổi xuân. Cách nhìn nhận của thi nhân về thời gian cũng rất tinh tế độc đáo, nhạy cảm. Trong hiện tại đã bắt đầu có quá khư và đã hé lộ mầm tương lai, cái đang có lại đang mất dần đi... Và mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật hình như mang theo nỗi buồn "chia phôi", hoặc "tiễn biệt", nên phải "hờn" vì xa cách, phải "sợ" vì "độ phai tàn sắp sửa". Cảm xúc lãng mạn dào dạt trong cái vị đời. Nói cảnh vật thiên nhiên mà là để nói về con người, nói về nhịp sống khẩn trương "vội vàng" của tạo vật. Với Xuân Diệu hầu như cuộc sống nơi "vườn trần" đều ít nhiều mang "bi kịch" về thời gian: "Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt". Cũng là "gió", là "chim"... nhưng gió khẽ "thì thào" vì "hờn", còn "chim" thì bỗng ngừng hót, ngừng reo vì "sợ"! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật cái nghịch lí giữa mùa xuân - tuổi trẻ và thời gian: "Con gió xinh thì thào trong lá biếc Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?" Thi sĩ bỗng thốt lên lời than. Tiếc nuối, lo lắng và chợt tỉnh vì "mùa chưa ngả chiều hôm", nghĩa là vẫn còn trẻ trung, chưa già. Lên đường! Phải vội vàng, phải hối hả. Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hóa làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng băn khoăn vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng khuâng: "Chẳng bao giờ / ôi / chẳng bao giờ nữa... Mau đi thôi / mùa chưa ngả chiều hôm". Xưa kia, Nguyễn Trãi viết trong chùm "Thơ tiếc cảnh": - "Xuân xanh chưa dễ hai phen lại, Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên". (Bài số 3) - "Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm". (Bài số 7) Những vần thơ của Nguyễn Trãi giúp ta cảm nhận sắc điệu trữ tình trong "Vội vàng" về màu thơi gian, về sắc thời gian, về tuổi trẻ. Thật yêu đời, thật ham sống. Mở đầu bài thơ là cái tôi hăm hở "tôi muốn tắt nắng đi". Kết thúc bài thơ là "ta", là mọi tuổi trẻ. Một sự hòa nhập và đồng điệu trong một đời người, trong dòng chảy thời gian: sống mãnh liệt, sống hết mình. Sống nồng nàn say mê. Nghệ thuật trùng điệp trong diễn tả gợi lên cái ham hố, yêu đời. Ngôn từ đậm màu sắc cảm giác, xúc giác, rạo rực:"Ta muốn ôm", "Ta muốn riết... Ta muốn say... Ta muốn thâu...": " Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn Ta muốn riết mây đưa và gió lượn Ta muốn say cánh bướm với tình yêu Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng". Sống cũng là để yêu, yêu hết mình. Thơ hay vì màu sắc lãng mạn. Vì giọng thơ sôi nổi. Nghệ thuật "vắt dòng" với ba từ "và" đồng hiện trong một dòng thơ làm nổi bật cảm xúc. Say mê vồ vập cảnh đẹp, tình đẹp nơi vườn trần. Tất cả mùi thơm, ánh sáng, thanh sắc, xuân hồng... đều là nỗi niềm khao khát của thi nhân: "Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào người!". Sống vội vàng không có nghĩa là sống gấp, sống ích kỉ trong hưởng thụ. "Vội vàng" thể hiện một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt. Biết quý trọng thời gian, biết quý trọng tuổi trẻ, biết sống cũng là để yêu; tình yêu lưa đôi, tình yêu tạo vật. Tình cảm ấy đã thể hiện một quan niệm nhân sinh mới mẻ, cấp tiến. Bảy thập kỉ sau bài thơ "Vội vàng" ra đời, nhiều câu thơ của Xuân Diệu vẫn còn làm cho không ít người ngỡ ngàng! Xuân Diệu đã sống "Vội vàng" như vậy. Với hơn 50 tác phẩm, hơn 400 bài thơ tình, ông đã góp phần làm giàu đẹp cho nền thi ca Việt Nam hiện đại. Bài thơ "Vội vàng" cho thấy một cảm quan nghệ thuật rất đẹp, rất nhân văn, một giọng thơ sôi nổi, dâng trào và lôi cuốn, hấp dẫn. Có chất xúc giác trong thơ. Có cách dùng từ rất bạo, cách cấu trúc câu thơ, đoạn thơ rất tài hoa. "Vội vàng" tiêu biểu nhất cho "Thơ mới", thơ lãng mạn 1932-1941. Nhà thơ Xuân Diệu đã đi vào thế giới vĩnh hằng những tao nhân mặc khách, nhưng ta vẫn cảm thấy ông đang hiện diện giữa cuộc đời và hát ca:

- "Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!" - "Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ! Em, em ơi! Tình non sắp già rồi..." (Giục giã) Bài thư hai Thầy giáo Nguyễn Đưc Quyền trong cuốn sách "100 bài Phân tích - Bình giảng - Bình luận văn học" cho biết cách đây mấy chục năm, ông có đến thăm Xuân Diệu và hỏi: "Nếu sau này, thơ lãng mạn của anh được đưa vào sách giáo khoa thì anh ưa chọn bài nào?". Thi sĩ Xuân Diệu trả lời ngay: Bài "Vội vàng". Đã hơn mười năm nay, bài thơ"Vội vàng" đã vinh dự hiện diện trên cuốn sách Văn 11; nhiều câu thơ đã trở thành câu thơ trong trí nhớ của hàng ngàn, hàng vạn chàng trai, cô gái thời áo trắng gần xa: - "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần"... - "Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!". "Vội vàng" là một trong những bài thơ đặc sắc nhất trong tập "Thơ Thơ" (1938). Vượt qua dòng chảy thời gian hơn 60 năm rồi, mà những ý tưởng mới mẻ về thời gian, về tuổi xuân, về tình yêu đời, yêu cuộc sống,... cùng với một giọng thơ nồng nhiệt, đắm say vẫn lôi cuốn chúng ta một cách kì lạ. Đây là đoạn thơ trích trong phần 2 bài "Vội vàng" nói lên sự cảm nhận về thời gian của thi sĩ Xuân Diệu: "Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua, .....................................………………… Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt..." 1. Hai câu thơ đầu đoạn, với cách ngắt nhịp 3/5, đọc lên cảm thấy cái nhún nhảy của mùa xuân, của thời gian: "Xuân đang tới / nghĩa là xuân đang qua, Xuân còn non / nghĩa là xuân sẽ già". Các từ ngữ: "đang tới" với "đang qua", "còn non" với "sẽ già" tương ưng, đối lập nhau, diễn tả mùa xuân và thời gian vận động không ngừng. Bước đi của mùa xuân, dòng chảy của thời gian là mải miết, vô tận. Trong hiện tại "đang tới" đã có màu li biệt "đang qua". Chữ "đang tới" chuyển thành chữ "đang qua", một cách nói điệu đà, rất thơ. Trong dáng vẻ "còn non" hôm nay đã báo hiệu một tương lai "sẽ già". Cách cảm nhận của thi sĩ về thời gian và mùa xuân là tinh tế và biểu cảm. Đó là một ý tưởng rất tiến bộ. Cũng một chữ "non" và một chữ "già" ấy, ông có những cách cảm nhận rất độc đáo bằng một tâm hồn lãng mạn với cặp mắt xanh non: "Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt... ...……………………………… Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ! Em, em ơi! Tình non sắp già rồi..." (Giục giã) Và ông cũng nhìn thấy sự vật phát triển và đổi thay không ngừng. Mùa xuân, thời gian và sự sống thật vô cùng kì diệu: "Mấy hôm trước còn hoa Mới thơm đây ngào ngạt Thoáng như một nghi ngờ Trái đã liền có thật" (Quả sấu non trên cao) 2. Bảy câu thơ tiếp theo nói lên nghịch lí giữa tuổi trẻ, đời người với thời gian và vũ trụ. Và đó cũng là bi kịch của con người, đời người. Khi "xuân hết", tuổi trẻ qua đi "nghĩa là tôi cũng mất". Mất ý vị cuộc đời. Tuổi trẻ đáng yêu biết bao! Mỗi người chỉ có một thời son trẻ. Cũng như thời gian trôi qua, tuổi trẻ một đi không trở lại: "Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất". "Lượng trời cứ chật" mà "lòng tôi rộng", muốn trường sinh bất tử, muốn trẻ mãi không già. Quy luật của sự sống thật vô cùng nghiệt ngã: "Không cho dài thời trẻ của nhân gian". "Hảo hoa vô bách nhật - Nhân thọ vô bách tuế" (Nguyễn Du). "Mỗi năm một tuổi như đuổi xuân đi.." (tục ngữ). Một lần nữa thi sĩ lại đặt ngôn ngữ trong thế tương phản giữa"rộng" với "chật", để nói lên cái nghịch lí của đời người. Cũng là một cách cảm nhận thời gian: "Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật Không cho dài thời trẻ của nhân gian". Xuân của bốn mùa thì tuần hoàn (“xuân mãn rồi, xuân lại tái lai” – cổ thi) nhưng đời người chỉ có một thời thanh xuân. Tuổi trẻ "chẳng hai lần thắm lại". Vũ trụ đất trời thì vĩnh hằng, vô hạn, trái lại đời người thì hữu hạn. Kiếp nhân sinh nhiều bi kịch. Ai cũng muốn trẻ mãi không già, ai cũng muốn được sống mãi với tuổi xanh, tuổi hoa niên. Tiếng thơ cất lên như một lời than tiếc nuối:

"Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại! Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời". "Tiếc cả đất trời" vì không được trẻ mãi để tận hưởng mọi cái đẹp của thiên nhiên và cuộc đời. Đó là lòng yêu đời và ham sống, khao khát được sống hết mình với tuổi trẻ: "Mười chín tuổi, hỡi những nàng má ngọc, Ríu rít chim, là tuổi ước mơ hoa! Hỡi chàng trai kiều diễm mãi vui ca, Mười chín tuổi! Chẳng hai lần hoa nở!" ("Đẹp" - Xuân Diệu) "Tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại" cũng như "Mười chín tuối! Chẳng hai lần hoa nở!", đó là bi kịch của người đời, xưa và nay. Có ham sống và yêu đời mới cảm nhận sâu sắc bi kịch ấy. Vì thế không được vung phí thời gian và tuổi trẻ. 3. Hai câu cuối dào dạt cảm xúc. Nhà thơ xúc động lắng nghe bước đi của thời gian, tiếng "than thầm tiễn biệt" của sông núi, của cảnh vật. Xuân Diệu rất nhạy cảm với thời gian trôi đi qua "mùi", "vị" của năm tháng "chia phôi" trong dòng chảy vô tận. Một cách cảm nhận thời gian rất thơ, rất tinh tế: "Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt". Đoạn thơ trên đây cho thấy vẻ đẹp trong thơ Xuân Diệu: Sự trau chuốt về ngôn từ, sự tinh tế trong cảm xúc và biểu hiện. Một quan niệm nhân sinh rất tiến bộ về thời gian, về mùa xuân và tuổi trẻ. Cái tôi cá nhân trữ tình được khẳng định. Ham sống và yêu đời; sống hết mình, sống trong tình yêu - đó là những ý tưởng rất đẹp, vẻ đẹp của một hồn thơ lãng mạn - "Vội vàng" không có nghĩa là sống gấp, như ai đó đã nói. Bài thư ba Bình gi ảng bài th ơ “V ội vàng” c ủa thi sĩ Xuân Di ệu Bài làm Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới 1932 - 1945. Trong "Thi nhân Việt Nam", nhà phê bình Hoài Thanh đã viết : "Với Thế Lữ, thi nhân ta còn nuôi giấc mộng lên tiên, một giấc mộng rất xưa. Xuân Diệu đốt cảnh Bồng Lai và xua ai nấy về hạ giới ". Bài thơ "Vội vàng" đã minh chưng cho nhận xét thiên tài đó. Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi Bốn câu thơ mở đầu nói cái mơ ước muốn giữ mãi vẻ đẹp của những chốn trần gian. Rồi nhà thơ cầm tay chúng ta và náo nưc chỉ những cảnh thật đáng yêu đang phô bày ra trước mắt: Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi buổi sáng thần Vui hằng gõ cửa. Một bưc tranh tuyệt tác của Tạo hoá có màu sắc tươi mát ( xanh rì), có âm thanh vui (khúc tình si) và chưa chan ánh sáng. Trái đất ta đang sống quả là một Thiên đường! Và trong Thiên đường đó, đáng yêu nhất là hình ảnh: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần Nghệ thuật xưa coi thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp, cho nên Nguyễn Du viết: "Làn thu thủy, nét xuân sơn". Vẻ đẹp của đôi mắt nàng Kiều được so sánh với làn nước mùa thu; lông mày nàng Kiều được so sánh với nét núi thanh tú của mùa xuân. Nghệ thuật Xuân Diệu ngược lại, coi con người là chuẩn của cái đẹp, cho nên mới có câu thơ xuất thần đó, đem so sánh thiên nhiên với con người. Đang vui, nhà thơ bỗng bối rối, giật mình: "Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa". Câu thơ bị bẻ gãy làm hai, nói lên cái lo sợ của con người khi nhận ra một sự thật đau đớn: Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất Xuân ở đây có hai nghĩa: Vừa là mùa xuân - mùa đẹp nhất trong năm, vừa là tuổi xuân - tuổi đẹp nhất của đời người. Cụm từ "nghĩa là" lặp lại ba lần như một sự hoảng hốt khi hiểu ra một quy luật: Tuổi xuân chỉ có một thời; con người không thể trẻ mãi để tận hưởng niềm vui sướng của chốn "vườn trần" này.

Nhà thơ lên tiếng hỏi cảnh vật: Con gió xinh thì thào trong lá biếc Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi? Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa? Thì ra không chỉ thi nhân mà thiên nhiên tươi thắm kia cũng đang tiếc nuối mùa xuân sẽ đi qua, sẽ trôi qua, thời gian một đi không trở lại. Trước quy luật nghiệt ngã đó của tạo hoá, con người phải làm gì? Cái ước mong " tắt nắng", "buộc gió" là không thể thực hiện được. Thi nhân đã gợi cho chúng ta một cách sống mới mẻ: Mau đi thôi, mùa chưa ngả chiều hôm Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn Ta muốn riết mây đưa và gió lượn Ta muốn say cánh bướm với tình yêu Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước và cây và cỏ rạng Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi. - Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi! Đây là đoạn thơ nồng cháy nhất, hay nhất của bài thơ vì cảm xúc của thi nhân đã đạt đến cao trào. Tác giả đã nhân cách hoá thiên nhiên, làm cho thiên nhiên hiện lên như một người đẹp đầy vẻ hấp dẫn. Cách dùng đại từ đã khác so với phần mở đầu. Ở trên dùng đại từ nhân xưng ngôi thư nhất số ít (tôi) một cách dè dặt; còn ở đây lại dùng đại từ nhân xưng ngôi thư nhất số nhiều (ta), vì qua sự truyền cảm của bài thơ đã hoà điệu tâm hồn cùng bạn đọc. Sự "vội vàng" của thi nhân cũng phát triển dần qua cách sử dụng các động từ: "ôm" đã thân thiết, nhưng "riết" còn mạnh mẽ hơn; đến "say" thì đã nồng nàn, và đến "thâu" thì đã thu tất cả mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu vào trong tâm hồn mình. Câu kết đã gói trọn tâm tình của thi nhân: - "Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!" Nghệ thuật làm thơ khó nhất là viết câu cuối cùng. Nó phải nâng cao xúc cảm; phải chưng tỏ rằng sự vận động của tư thơ đến đây là hết; không thể viết thêm một câu nào nữa. Xuân Diệu đã thật cao tay khi viết câu thơ trên. "Cắn" là tột đỉnh của sự cuồng nhiệt, sự nồng cháy của cảm xúc. Câu thơ cảm thán như một tiếng kêu sung sướng, thoả mãn vì tâm hồn đã "chếnh choáng", "đã đầy", đã "no nê" khoái lạc của thiên đường trên mặt đất. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng nhiều điệp từ: " ta muốn", "và", "cho" làm cho nhịp thơ đoạn cuối trở nên dồn dập, diễn đạt rất đúng tâm trạng của con người "vội vàng". Thi phẩm này quả là một bài thơ hay, rất tiêu biểu cho phong cách tài hoa, phong tình lãng mạn của Xuân Diệu -nhà thơ mới nhất của phong trào thơ mới. "Vội vàng" bộc lộ một nhân sinh quan lành mạnh. Đó là tình yêu đời, là cách sống chân thành, sống hết mình vì một cuộc đời đầy ý nghĩa. Quả thật, "thơ Xuân Diệu là một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này" (Hoài Thanh). Phan Bá Hàm

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->