P. 1
o nhiem dat

o nhiem dat

|Views: 25|Likes:
Được xuất bản bởiVanhien Tran

More info:

Published by: Vanhien Tran on Sep 10, 2012
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

09/10/2012

pdf

text

original

CHƯƠNG III: Ô NHIỄM ĐẤT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG III.1.

Những khái niệm có liên quan: III.1.1. Ô nhiễm đất: Đất bị ô nhiễm là đất bị thay đổi tính chất, chứa những chất độc hại đối với sự sống của con người và sinh vật. Có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặc theo các tác nhân gây ô nhiễm. Nếu theo nguồn gốc phát sinh thì có: Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt Ô nhiễm đất do các chất thải công nghiệp Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp Nếu theo tác nhân gây ô nhiễm: Ô nhiễm đất do tác nhân hóa học: ví dụ như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chất thải sinh hoạt và công nghiệp. Ô nhiễm đất do tác nhân sinh học: vi khuẩn, giun sán, ký sinh trùng… Ô nhiễm đất do tác nhân vật lý: các chất phóng xạ Chất ô nhiễm đi vào đất nhiều nhưng đi ra rất ít, vì sau khi thấm vào trong đất, chất ô nhiễm sẽ ở lại và lưu tồn trong đất. Yếu tố này phụ thuộc nhiều vào khả năng tự làm sạch của đất. III.1.2. Khả năng tự làm sạch của đất: Là khả năng tự điều tiết của đất trong hoạt động của môi trường đất thông qua một số cơ chế đặc biệt để giảm thấp ô nhiễm từ ngoài vào, tự làm trong sạch và loại trừ các chất độc hại cho đất. Mức độ làm sạch phụ thuộc vào các yếu tố như: Số lượng và chất lượng hạt keo trong đất, càng nhiều hạt keo (keo mùn) thì khả năng tự làm sạch cao. Đất nhiều mùn, nhiều acid humic Trạng thái hiện tại của môi trường đất, đất chưa bị ô nhiễm hoặc ô nhiễm ít thì khả năng tự làm sạch tốt hơn. Sự thoát nước và giữ ẩm Cấu trúc đất tốt. Các chủng loại vi sinh vật phong phú, số lượng nhiều sẽ giúp đất đào thải chất độc chất ô nhiễm nhanh chóng. Khả năng oxy hóa tốt, chưa bị nhiễm mặn, nhiễm phèn Môi trường đất có khả năng tự làm sạch cao hơn các môi trường khác (môi trường nước và không khí) do môi trường đất có các hạt keo đất có đặc tính mang điện, tỷ lệ diện tích hấp phụ lớn, khả năng trao đổi ion và hấp phụ chúng lớn mà các môi trường khác không có. Nhưng nếu mức độ ô nhiễm vượt quá khả năng tự làm sạch của đất thì sự nhiễm bẩn trở nên nghiêm trọng. Khi đó, khả năng lây truyền ô nhiễm từ môi trường đất sang môi trường đất, nước mặt và nước ngầm và khuếch tán vào không khí rất nhanh. III.1.3. Đất tốt và đất xấu Cùng điều kiện ngoại cảnh như nhau, có đất cây phát triển tốt và có năng suất cao; có vùng đất cây mọc cằn cỗi, năng suất thấp. Chất lượng đất là một chỉ số môi trường, qua đó chúng ta có thể biết được tình trạng chung về các tính chất cũng như quá trình trong đất. Một số chỉ tiêu về đất: Tính chất hóa học: độ chua, khả năng hấp thụ dinh dưỡng, hàm lượng muối. Tính chất vật lý: độ rỗng giữa các hạt đất, hạt kết bền trong đất, khả năng giữ ẩm. Tính chất sinh học: lượng và loại chất hữu cơ, số lượng và loại hình, chức năng của các vi sinh vật; hoạt tính sinh học trong đất và hoạt động của enzym. Cây trồng: năng suất, tình hình sinh trưởng của cây, sự phát triển của bộ rễ. Nước: chất lượng nước mặt và nước ngầm. [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/tron/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image002.jpg[/IMG] Bảng 4. Đặc tính một số loại đất xấu (Nguồn: Hội khoa học đất Việt Nam, 2002) Khảo sát các hộ nông dân nhiều năm canh tác trên một diện tích đất nhất định, họ đã mô tả về chất lượng đất tốt nếu đất có tầng đất mặt sâu và màu sẫm, đất tơi xốp, dễ làm đất, đất ẩm và phơi nhanh khô, chứa nhiều mùn (chất hữu cơ), ít bị xói mòn và có thể có nhiều động vật như giun. Trong đất, giun chiếm tỉ lệ trọng lượng lớn và số lượng nhiều nhất. Trong quá trình sống giun đào đất và lấy xác bã lá mục, cây mục làm thức ăn để bài tiết ra lượng mùn tới 50-380 tấn/ha/năm. Quá

trình này biến các chất hữu cơ phức tạp thành mùn, trong chất thải của giun có chứa N, K, P làm giàu cho đất. III.2. Ô nhiễm đất ở đồng bằng sông Cửu Long: III.2.1. Hiện trạng môi trường chung: Hiện nay môi trường đồng bằng sông Cửu Long đang gặp phải những thực trạng đáng lo ngại, đó là: Chế độ ngập lụt ở đồng bằng sông Cửu Long tập trung chủ yếu ở các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long... kéo dài từ tháng 7 đến tháng 12 hàng năm. Ngập lũ ở ĐBSCL hàng năm đã tác động nhiều mặt đến điều kiện sinh sống của người dân, đến cơ sở hạ tầng, đến phát triển kinh tế, y tế, giáo dục và đặc biệt là tác động đến sức khỏe của cộng đồng dân cư. Chế độ ngập mặn ở ĐBSCL chịu sự chi phối của chế độ bán nhật triều trên biển Đông và chế độ nhật triều biển Tây vịnh Thái Lan, tập trung ở các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang... với tổng diện tích khoảng 1,4-1,5 triệu ha. Những năm gần đây, quá trình chuyển dịch cơ cấu canh tác nông nghiệp lúa nước truyền thống sang nuôi tôm nước mặn đã làm cho diễn biến xâm nhập mặn gia tăng nhanh chóng, tạo nên các áp lực mới đối với hệ canh tác nước ngọt ở khu vực ĐBSCL. Đặc biệt ĐBSCL còn có vùng đất phèn khá lớn tập trung ở Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau... với diện tích khoảng 1,5 triệu ha. Tác động của các hoạt động canh tác nônglâm-ngư đã diễn ra quá trình lan truyền phèn có tác động đến môi trường đất và nước. Trong cơ cấu kinh tế của ĐBSCL hiện nay, khu vực nông-lâm-ngư chiếm 48%, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 22%; khu vực dịch vụ chiếm 30%. Điều đó cho thấy kinh tế ở đây vẫn chủ yếu là nền kinh tế phụ thuộc sinh thái, trong đó trạng thái và chất lượng môi trường nước, môi trường đất và các hệ sinh thái có tính chất quyết định đến các chất lượng và sản lượng các sản phẩm nônglâm- ngư. Là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất toàn quốc, thế nhưng, ĐBSCL lại đang phải đối mặt với một số vấn đề môi trường cần giải quyết để bảo đảm sự phát triển bền vững trong khu vực. Quá trình sử dụng đất trong canh tác nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp, đô thị hóa... làm biến đổi đất, suy thoái đất gây ô nhiễm môi trường. Diện tích nuôi trồng thủy sản tăng lên rất nhanh. Năm 2000 là 445.300 ha, đến năm 2006 đã là 699.200 ha, với tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng 1.171.001 tấn, chiếm trên 70% sản lượng nuôi trồng và trên 60% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Diện tích trồng lúa cả năm giảm dần: Năm 2000 là 3.945.800 ha, đến năm 2006 là 3.773.200 ha (trồng lúa mùa, lúa đông xuân và lúa hè thu). Các hệ sinh thái đất ngập nước bị tác động cả về quy mô và chất lượng các hệ sinh thái trong khu vực. Sự cố cá chết hàng loạt ở An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, tôm chết kéo dài ở Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Sóc Trăng... gây thiệt hại kinh tế lớn đến phát triển kinh tế - xã hội ở đây. Tổng lượng bùn thải và chất thải nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL khoảng 456 triệu m3/năm. Đặc biệt, trong nông nghiệp hàng năm sử dụng khoảng 2 triệu tấn phân bón hóa học, 500.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật và các chế phẩm nuôi trồng thủy sản... gây tác động nhiều mặt tới môi trường và sức khỏe con người. Hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển, rừng tràm ngập úng ở khu vực ĐBSCL đã bị suy giảm do quá trình khai hoang phát triển canh tác nông nghiệp, phá rừng nuôi trồng thủy sản. Đến nay, diện tích đất lâm nghiệp trong khu vực chỉ còn khoảng 356.200 ha - trong đó, rừng tự nhiên chỉ chiếm khoảng 15% và còn lại 85% là rừng trồng tái sinh. Tại vùng biển và ven biển có đến 260 loài cá được ghi nhận và rất nhiều loại nhuyễn thể, giáp xác... sinh sống. Tuy nhiên hệ sinh thái ở đây đã bị suy giảm nghiêm trọng. Sau nhiều năm cải tạo đến nay diện tích đất phèn còn khoảng 1,6 triệu ha (41%). Trong đó, khoảng 886.000 ha đất thuần phèn và 658.000 ha đất phèn mặn. Đất phèn tiềm tàng có diện tích 613.000 ha, phân bố trên những vùng tiêu nước khá thuận lợi nên thích hợp với lúa nước. Vì thế, 72% diện tích đất phèn tiềm tàng được sử dụng cho nông nghiệp, 5% cho rừng và một phần là đất hoang. Đất phèn hoạt động tập trung chủ yếu ở vùng có khả năng tiêu nước kém. Tuy vậy, cũng có đến 62% diện tích được sử dụng cho nông nghiệp, 11% cho rừng và phần còn lại là đất hoang. Đất phèn mặn tập trung ven biển, với 46% diện tích nông nghiệp, 17% rừng, 10% nuôi tôm và phần còn lại chưa được sử dụng. Đây thực sự là nguồn ô nhiễm chua phèn đáng lưu ý đối với nước mặt ĐBSCL. ĐBSCL có khoảng 790.000 ha đất mặn (20%) trong tổng số gần 2 triệu ha tự nhiên bị ảnh hưởng mặn, phân bố chủ yếu dọc bờ biển Đông và vùng BĐCM. Trong đó, đất bị mặn dưới 2 tháng khoảng 100.000 ha (đều đã được sử dụng cho nông nghiệp), đất mặn từ 2- 4 tháng 520.000 ha (88% sử dụng cho nông nghiệp, 9% cho rừng và 3% đất hoang), và đất mặn quanh năm chiếm khoáng 170.000 ha (34% cho rừng, 25% nuôi tôm và 36% đất hoang). Trước đây khi công trình thuỷ lợi chưa phát triển diện tích bị ảnh hưởng mặn 1g/l trở lên khoảng 2,1 triệu ha. Nếu tính với độ mặn 0,4g/l (tiêu chuẩn cho phép của nước sinh hoạt) thì phạm vi ảnh hưởng mặn còn rộng hơn. Đến nay

do công trình thuỷ lợi phát triển, nhiều vùng ven biển được ngọt hoá nên diện tích bị ảnh 1,5 triệu ha. Tuy nhiên ranh giới hưởng mặn giảm đáng kể, chỉ còn khoảng 1,3 mặn trên sông chính, sông Vàm Cỏ Tây và các kênh nối thông ra biển lại có xu thế gia tăng. Vấn đề sử dụng đất ở ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm phần đất nằm trong phạm vi tác động của các nhánh sông Cửu Long (thượng và hạ châu thổ) và phần đất nằm ngoài phạm vi tác động đó (đồng bằng phù sa ở rìa). Phần thượng châu thổ là một khu vực tương đối cao (2 – 4m so với mực nước biển), nhưng vẫn bị ngập nước vào mùa mưa. Phần lớn bề mặt có nhiều vùng trũng rộng lớn. Vào mùa mưa, chúng chìm sâu dưới nước, còn vào mùa khô chỉ là những vũng nước tù đứt đoạn. Đây là vùng đất rộng, dân còn thưa, chưa được khai thác nhiều. Phần hạ châu thổ thấp hơn, thường xuyên chịu tác động của thuỷ triều và sóng biển. Mực nước trong các cửa sông lên xuống rất nhanh, những lưỡi nước mặn ngấm dần vào trong đất. Ngoài các giống đất ở hai bên bờ sông và các cồn cát duyên hải, trên bề mặt đồng bằng cao 1 – 2m còn có các khu vực trũng ngập nước vào mùa mưa và các bãi bồi trên sông. Thực trạng đất trồng lúa: Năng suất lúa trên đất phèn ở đồng bằng cao, ngang bằng các nước có trình độ thâm canh nông nghiệp cao (Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản). Sản lượng thóc trong 12 năm tăng từ 9,5 triệu tấn lên 17,5 triệu tấn. Bên cạnh đó, để phù hợp với điều kiện sinh thái, tăng khả năng thâm canh và cơ cấu cây trồng vật nuôi được đẩy mạnh. Nhiều diện tích trước đây trồng lúa không đạt hiệu quả được chuyển sang nuôi trồng thủy sản đạt hiệu quả cao hơn với mô hình như: lúa và cá, lúa và tôm nước ngọt, cây ăn quả… Ở vùng ngập sâu, không thích hợp với cây lúa, đã được thế chỗ bằng cây tràm, kết hợp với nuôi trồng thủy sản tự nhiên và dự trữ điều tiết nước. Ở vùng đất ngập nông thích hợp trồng cây ăn quả, cây công nghiệp có giá trị cao, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn trồng lúa. Với diện tích đất trồng lúa mỗi năm bị mất lên đến hơn 50.000 ha, trong khi đó về lâu dài nguy cơ giảm tích đất trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long và một số vùng ven biển rất cao khi phải đối mặt với hiện tượng nước biển dâng do ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu toàn cầu, làm diện tích đất trồng lúa bị ngập mặn tới 70-80% nếu mực nước biển dâng cao thêm 1m. Những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long ngày càng bị thu hẹp dần, thay vào đó là các khu công nghiệp, khu đô thị và dân cư mới. Một ví dụ cụ thể đối với tỉnh Cà Mau, năm 2000 toàn tỉnh có hơn 200.000 ha đất trồng lúa nhưng hiện tại chỉ còn trên 80.000 ha do chuyển đổi sang đất xây dựng và các mục đích khác. [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/tron/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image003.gif[/IMG] Hình 4. Biểu đồ tỉ lệ đất ngập nước bị ảnh hưởng khi mực nước biển dâng cao hơn ở một số quốc gia , trong đó có Việt Nam III.2.2. Nguyên nhân đất ô nhiễm: III.2.2.1. Ô nhiễm tự nhiên: a. Nhiễm phèn và nhiễm mặn: Nhiễm phèn: Phèn được sinh ra có thể do nguyên nhân oxy hóa phèn tiềm tàng (FeS) tại chỗ để tạo thành acid H2SO4, chứa nhiều độc chất Al3+, Fe2+, SO4-2; hay cũng có thề do nước phèn đi từ nơi khác gây nhiễm phèn cho MTST đất. Quá trình thứ nhất gọi là quá trình phèn hóa (sulphate acidification) và quá trình thứ hai là quá trình nhễm phèn (contamination of acid sulphate). Dù nguyên nhân nào thì trong dung dịch đất, lượng độc chất Al3+, Fe2+, SO4-2 rất cao và pH môi trường xuống thấp, khả năng trao đổi và điệm của môi trường đất bị phá vỡ, không thể tự làm sạch được nửa, nên cả môi trường bị ô nhiễm nặng. Môi trường đất chỉ được coi là ô nhiễm khi toàn bộ phản ứng môi trường pH<5 trong đó Al3+ >130 ppm, Fe2+ >300 ppm và SO4-2 >0.1%. Cây trồng và vật nuôi cũng như con người bị ảnh hưởng trầm trọng. Đất Mặn: Ô nhiễm mặn chỉ có thể do mặn muối hoặc mặn kiềm. mặn do kiềm ít xảy ra mà chủ yếu do mặn muối từ nước biển. trong nước biển nhiều muối NaCl, Na2SO4, CaCl2, CaSO4,MgCl2, NaHCO3; vùng trũng nhiều hữu cơ có cả Na2CO3 nhưng chủ yếu là NaCl. Môi trường đất được xem là ô nhiểm mặn khi nồng độ tổng số muối tan >0,3%, trong đó muối Cl>0,15% và Na+ có hàm lượng trên 10 mEq/100gr, sau 24 giờ bị ngập nước mặn và bị bốc mặn lên mặt. Các yếu tố tự nhiên gây nhiễm phèn và nhiễm mặn ở ĐBSCL:

Lịch sử hình thành đất ở ĐBSCL (tiềm năng sẵn có) Khí hậu: Sự phân bố mưa ở ĐBSCL không đều, mùa mưa trùng với mùa lũ và mùa khô trùng với mùa kiệt của sông Cửu Long. Điều đáng chú ý là ở ĐBSCL có 2 đỉnh mưa: đỉnh thứ nhất, vào các tháng 6 - 7 và đỉnh thứ hai vào các tháng 9 - 10. Những trận mưa đầu mùa thường thường sự chảy tràn lớn xuống các dòng sông rạch và kênh mương cuốn theo rác rến, các độc chất trong đất gây ô nhiễm. Ở các vùng đất có sự hiện diện của phèn tiềm tàng (lớp pyrite), do mùa khô kéo dài, đất nứt nẻ, mực nước ngầm hạ thấp tạo điều kiện thuận lợi cho phèn tiềm tàng trở thành phèn hoạt động (dạng jarosite). Nước mưa đầu mưa hòa tan phèn làm độ pH của nước kinh rạch hạ thấp. Giữa hai đỉnh mưa, có một thời kỳ khô hạn ngắn, trong dân gian gọi là Hạn Bà Chằn, kéo dài khoảng 10 ngày từ cuối tháng 7 đến đầu tháng 8, nguyên nhân là do ảnh hưởng các luồng gió xoáy nghịch trên cao. Vào cuối mùa mưa là thời kỳ lũ lụt tràn về hằng năm, mưa lớn vào tháng 9, tháng 10. Gió: Mùa mưa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam, phổ biến khi các luồng áp thấp nhiệt đới xuất hiện trên lục địa Châu Á (từ tháng 5 đến tháng 10). Mùa nắng gió mùa Đông Bắc lại chiếm ưu thế do sự hiện diện của các trung tâm áp cao từ vùng Sibêri - Mông Cổ di chuyển xuống. Tốc độ gió cao nhất vào tháng 2, tháng 3, khoảng 2 - 3,3 m/s, tốc độ gió thấp nhất vào tháng 10 là 1,5 - 2 m/s. Khoảng tháng 12 là giai đoạn chuyển mùa, gió thổi ngược chiều dòng chảy sông Cửu long (hướng Tây Bắc Đông Nam) đẩy nước mặn theo triều vào sâu trong nội địa (mùa gió chướng) gây khó khăn trong sản xuất nông nghiệp. Chế độ thủy văn: Vì tất cả dòng chảy trên sông Cửu Long đều có cửa ra là biển nên tính chất thủy văn vùng ĐBSCL mang tính chất vùng cửa sông chịu ảnh hưởng của thủy triều và các yếu tố khí tượng khu vực Đông Nam Á chi phối. Nguồn nước cung cấp cho dòng chảy trong sông chủ yếu là mưa. Thủy triều ở biển Đông truyền rất sâu vào đất liền và chi phối đáng kể chế độ thủy văn đồng bằng. Về mùa khô, triều tiến nhanh vào đất liền mang theo một khối lượng nước mặn khá lớn, về mùa lũ thủy triều cũng là một yếu tố làm dâng cao mực nước trong hệ thống sông và ngăn cản sự thoát lũ ra biển Thuỷ triều biển Đông gia tăng biên độ khi tiến sát đến cửa sông và bắt đầu giảm dần khi truyền sâu vào đất liền. Đặc biệt về mùa kiệt, ảnh hưởng của triều trong hệ thống sông rất lớn. So với các sông chính trên thế giới, mức độ truyền triều vào sông Cửu Long khá sâu, có thể lên đến 350 km. Nguyên nhân chính do sự tiết giảm biên độ truyền triều là do ảnh hưởng của lực ma sát dòng chảy với địa hình tự nhiên của dòng sông, các chướng ngại vật trên đường đi và cả ảnh hưởng của áp lực gió trên bề mặt dòng sông. b. Gley hóa: Quá trình gley hóa trong môi trường đất là quá trình phân giả chất hữu cơ trong điều kiện ngập nước, yếm khí, nơi tích lũy nhiều xác bã sinh vật, sản sinh ra nhiều chất độc dưới dạng CH4, H2S, N2O, CO2, FeS…đó là những chất gây độc cho sinh thái môi trường nói chung. III.2.2.2. Ô nhiễm nhân tạo: a. Tàn tích chiến tranh: Từ năm 1961-1972 quân đội Mỹ đã tiến hành rãi trên 76,9 triệu lít chất diệt cỏ và phát quang xuống một diện tích bằng 24-27% tổng diện tích lãnh thổ Nam ViệtNam mà trong đó chủ yếu là Chất độc màu da cam là các chất có chứ thành phần Dioxin.Hệ sinh thái rùng ngập nước ở khu vực Tây Nam Bộ (rừng Tràm và rừng ngập mặn) đã bị tàn phá rất nặng nề trong những năm chiến tranh. Diện tich rừng ngập mặn đã bị tàn phá với trên 13.520 ha.Hậu quả của chiến tranh hóa học ngoài việc gây thiệt hại trực tiêp cho con người và tài nguyên môi trường, còn gây hậu quả cho nhiều thế hệ nối tiếp hết sức thương tâm và lâu dài đối với con người ở đây. Cà Mau, Bạc Liêu là một trong những vùng bị nhiễm dioxin. Qua kết quả phân tích mẫu đất ta cũng thấy được sự thay đổi trong thành phần đất như trong những khu vực bị nhiễm dioxin thì hàm lượng các ion Fe3+, Fe2+, Al3+, SO42-, Cl- cao hơn so với các khu vực không bị nhiễm dioxin, ngoài ra, tại khu vực rừng ngập mặn Cà Mau cũng bị nhiễm dioxin, chúng xâm nhập vào môi trường đất làm hàm lượng Cacbon, Nitơ, Photpho, Kali trong đất biền động, làm thay đổi đặc tính của môi trường. Hàm lượng Mg2+ ở đất rừng tái sinh (trên đất đã nhiễm dioxin) cao hơn so với vùng đất ở vùng rừng nguyên sinh. Lượng Al3+ trong đất trồng rừng, hàm lượng Fe3+, Al3+ trong đất thoái hóa do dioxin đã giảm dần khi đất ngập triều định kỳ hay đất có rừng che phủ. Hàm lượng mùn ở đất hoang hóa cao hơn ở vùng đất rừng trưởng thành do có nhiều xác cây. Độ pH trên vùng đất bị nhiễm dioxin khoảng 4-5.

Nguyên nhân của hiện tượng trên là do khi rải chất độc dioxin lên môi trường, diện tích rừng bị che phủ không còn, do đó mà dưới tác động của ánh nắng mặt trời, các trầm tích Pirit có trong đất sẽ oxi hóa tạo thành axit Sunphuric làm chua đất. Ngoài ra, nguyên nhân khác làm cho đất trở nên chua hơn là do hàm lượng mùn trong đất tăng lên làm xuất hiện các axit hữu cơ như: axit acetic, axit puteric và H2S tăng lên, đồng thời quá trình hòa tan các ion Fe3+, Fe2+, Al3+, Mg2+ diễn ra nhanh chóng làm cho môi trường đất bị thoái hóa mạnh. b. Dân cư- xã hội: Sức ép dân số đang gia tăng: Năm Số dân ( triệu người) 1995 15,33 2000 16,34 2004 17,076 2006 17,42 Bảng 5 : Dân số ở ĐBSCL từ năm 1995-2006 Dân số tăng nhanh, tài nguyên suy giảm, môi trường ô nhiễm...đã gây áp lực ngày càng lớn đến phát triển kinh tế- xã hội, đến tài nguyên, môi trường và ảnh hưởng đến đời sống và sức khỏe của nhân dân. Tổng lượng rác thải sinh hoạt ở ĐBSCL ở khu vực đô thị đã là 606.267 tấn/năm, lượng nước thải sinh hoạt khoảng 102 triệu m3 /năm... hầu hết chưa được xử lý triệt để gây ô nhiễm môi trường và tác động xấu đến sức khỏe của nhân dân trong khu vực. Nguồn gây ô nhiễm này chủ yếu là chất thải chưa qua xử lý của người và động vật, nước thải bệnh viện, nước thải sinh hoạt... trong đó nguy hại lớn nhất là chất thải chưa được xử lý khử trùng của các bệnh viện truyền nhiễm. Rất nhiều vi khuẩn và ký sinh trùng tiếp tục sinh sôi nảy nở trong đất, bám vào các cây trồng nông nghiệp và truyền vào cơ thể người, động vật. Các bãi rác làm ô nhiễm đất , nước và không khí, tiêu tốn năng lượng, chiếm một diện tích đất lớn. Sự đốt rác tạo ra khí độc theo gió đi rất xa, tro có thể còn chứa chất độc lại dùng để lấp các nơi trũng hay trồng cây. c. Hoạt động nông nghiệp: Phân bón: Phân bón hóa học: Phân hóa học được rải trong đất nhằm gia tăng năng suất cây trồng. Nguyên tắc là khi người ta lấy đi của đất các chất cần thiết cho cây thì người ta sẽ trả lại đất qua hình thức bón phân. Đây là loại hoá chất quan trọng trong nông nghiệp, nếu sử dụng thích hợp sẽ có hiệu quả rõ rệt đối với cây trồng. Nhưng nó cũng là con dao 2 lưỡi, sử dụng không đúng sẽ lợi bất cập hại, một trong số đó là ô nhiễm đất. Nếu bón quá nhiều phân hoá học là hợp chất nitơ, lượng hấp thu của rễ thực vật tương đối nhỏ, đại bộ phận còn lưu lại trong đất, qua phân giải chuyển hoá, biến thành muối nitrat trở thành nguồn ô nhiễm cho mạch nước ngầm và các dòng sông. Cùng với sự tăng lên về số lượng sử dụng phân hoá học, độ sâu và độ rộng của loại ô nhiễm này ngày càng nghiêm trọng. Để tăng năng suất cây trồng, người ta thường bón thêm phân đạm vô cơ (N), lân (P2O5), và Kali (K2O); trong đó đáng chú ý nhất là phân đâm, một loại phân mang lại hiệu quả rõ rệt nhất cho năng suất cây trồng nhưng cũng dễ gây ô nhiễm cho môi trường đất do tồn dư của nó.Ta biết rằng, cây chỉ sử dụng hữu hiệu tối đa 30% lượng phân bón vào đất, còn lại phần bị rửa trôi, phần nằm lại trong đất, gây ô nhiễm môi trường. phần lớn nitrat phân bón dư thừa được giữ lại trong đất,chúng ngấm xuống nước ngầm dưới dạng NO3-. Trong đất nó làm tăng tính chua vì dạng acid HNO3 rất phổ biến. Một dạng phân hóa học khác gây ô nhiễm môi trường đất là phân lân, với lượng lân cao, sẽ gây chua cho môi trường sinh thái đất.Mặt khác các dạng phân hóa học đều là các muối cả acid (hoặc là muối kép hoặc là muối đơn). Vì vậy khi hòa tan thường gây chua cho môi trường đất. Sự tích lũy cao các chất hóa chất dạng phân bón cũng gây hại cho MTST đất về mặt cơ lý tính. Khi bón nhiều phân hóa học làm đất hở nên chặt hơn, độ trương co kém, kết cấu vững chắc, không tơi xốp mà nông dân gọi là đất trở nên “chai cứng”, tính thoáng khí kém hơn đi, vi sinh vật ít đi vì hóa chất hủy diệt vi sinh vật. Phân hữu cơ: Phần lớn nông dân bón phân hữu cơ chưa được ủ và xử lí đúng kĩ thuật nên gây nguy hại cho môi trường đất.nguyên nhân là do trong phân chứa nhiều giun sán, trứng giun, sâu bọ, vi trùng và các mầm bệnh khác..khi bón vào đất, chúng có điều kiện sinh sôi nảy nở, lan truyền môi trường xung

quanh, diệt một số vi sinh vật có lợi trong đất Bón phân hữu cơ quá nhiều trong điều kiện yếm khí sẽ làm quá trình khử chiếm ưu thế; sản phẩm của nó chứa nhiều acid hữu cơ làm môi trường sinh thái đất chua, đồng thời chứa nhiều chất độc như H2S, CH4, CO2. Sư tích lũy cao các hóa chất dạng phân hóa học sẽ gây hại cho môi trường sinh thái đất về mặt cơ lý tính , đất nén chặt , độ trương co kém, không tơi xốp, tính thoáng khí kém, vi sinh vật cũng ít đi vì hóa chất hủy diệt sinh vật. Thuốc trừ sâu: Nông dược chiếm một vị trí nổi bật trong các ô nhiễm môi trường. Khác với các chất ô nhiễm khác, nông dược được rải một cách tự nguyện vào môi trường tự nhiên nhằm tiêu diệt các ký sinh của động vật nuôi và con người hay để triệt hạ các loài phá hại mùa màng Bản chất của nó là những chất hóa học diệt sinh học nên đều có khả năng gây ô nhiễm môi trường đất. Đặc tính của thuốc trừ sâu bệnh là tính bền trong môi trường sinh thái nên nó tồn tại lâu dài trong đất, sau khi xâm nhập vào môi trường, thời kì “nằm” lại đó, các nhà môi trường gọi là “thời gian bán phân giải”. “nữa cuộc đời này”được xác định như là cả thời gian nó trốn vào trong các dạng cấu trúc sinh hóa khác nhau hoặc các dạng hợp chất liên kết trong môi trường sinh thái đất. Mà các hợp chất mới này thường có độc tính cao hơn nó. Tác hại khác của thuốc trừ sâu bệnh là sự xâm nhập của nó vào môi trường sinh thái đất làm cho cơ lí tính đất giảm sút, mức độ gây hại này giống như phân bón hóa học. Vì có khả năng diệt khuẩn cao nên thuốc trừ sâu bệnh đồng thời cũng diệt nhiều vi sinh vật có lợi trong môi đất. Trong các loài côn trùng số lượng côn trùng gây hại chỉ chiếm 1%, còn lại 99% côn trùng là cần thiết cho quan hệ hữu ích không những có lợi mà còn không thể tách rời được trong sinh quyển. Tiêu diệt hệ động vật làm mất cân bằng sinh thái, thuốc trừ sâu bị rửa trôi xuống thủy vực làm hại các động vật thủy sinh như ếch, nhái…Như vậy vô tình chúng ta làm tăng thêm số lượng sâu hại vì đã diệt mất thiên địch của chúng ,vì vậy nó làm cho hoạt tính sinh học đất bị giảm sút. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Những năm qua, rừng ngập mặn ven biển bị tác động làm suy giảm mạnh mẽ do các nguyên nhân: phá rừng làm ruộng rẫy, phá rừng lấy đất nuôi trồng thủy sản, phá rừng lấy củi, gỗ. Diện tích nuôi trồng thủy sản tăng lên rất nhanh. Năm 2000 là 445.300 ha, đến năm 2006 đã là 699.200 ha .Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, diện tích nuôi cá tra ở ĐBSCL năm 2000 là 1.650ha, năm 2005 tăng vọt lên 5.000ha và hiện nay khoảng 5.900ha. Những tổn thất rừng ngập mặn kéo theo hàng loạt các biến đổi về môi trường, sinh thái trong khu vực. Thảm rừng ngập mặn có độ che phủ cao trở nên trơ trọi, bị chia cắt phân tán thành nhiều thảm nhỏ và thay bằng các vuông tôm, kinh mương đào đắp, sên vét bùn đất để lấy mặt nước nuôi tôm; môi trường đất bị ô nhiễm do quá trình phèn hóa gia tăng ở quy mô lớn; đất đai bị phát quang làm gia tăng quá trình rửa trôi do mưa, gia tăng quá trình lan truyền phèn trong môi trường đất, nước và các hệ sinh thái; giảm đi quá trình bồi tụ phù sa do mất rừng. Quá trình chuyển dịch nuôi trồng thủy sản diễn ra quy mô lớn ở vùng mặn hóa ven biển cũng đã làm gia tăng tình trạng xâm nhập mặn ở các vùng ven biển. Tác động làm suy giảm rừng ngập mặn ven biển tiếp tục diễn ra ảnh hưởng đến các hệ sinh thái rừng ngập mặn. Nuôi cá bè trên sông rạch, nuôi thâm canh thủy sản vùng ngọt hóa đã gây nên các tác động đến chất lượng môi trường nước ở đây. Xâm nhập mặn gia tăng vào mùa khô trên các sông lớn (sông Tiền, sông Hậu và sông rạch ven biển). Hiện nay, ĐBSCL đang có xu hướng chuyển diện tích đất nông nghiệp sang làm sân golf nhưng với đặc thù của cỏ sân golf - Cỏ mặt sân golf cần một lượng nước khổng lồ và lượng hóa chất trừ sâu để nuôi dưỡng cỏ khổng lồ thì nó ảnh hương rất lớn đối với môi trường đất. d. Hoạt động công nghiệp: Ô nhiễm đất do nước thải: Sản xuất, kinh doanh và dịch vụ ở khu vực ĐBSCL đã có bước phát triển rất nhanh chóng cũng đã có nhiều tác động đến môi trường. Đến năm 2006, toàn vùng có 14.258 cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ đang hoạt động. Năm 2007, có 151 khu công nghiệp và cụm công nghiệp sản xuất tập trung. Tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt khoảng 606.267 tấn/năm, nước thải sinh hoạt 102 triệu m3/năm, chất thải rắn công nghiệp 47,2 triệu m3/năm, rác thải y tế 3.800 tấn/năm. Các nguồn thải này hầu hết chưa được xử lý triệt để đang gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Nguồn nước trên sông Tiền, sông Hậu và các cửa sông thông ra biển... đã có các dấu hiệu nhiễm bẩn chất hữu cơ và vi sinh. Quan trắc môi trường nước cho thấy các chỉ tiêu bị nhiễm bẩn là: BOD, COD, Coliform, H2S, NH4, phèn sắt... do các nguồn thải sản xuất công nghiệp, đô thị và các khu dân cư, nguồn thải nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông nghiệp... chưa xử lý triệt để vẫn tiếp tục thải vào hệ thống sông rạch trong khu vực. Nguồn nước ngầm được khai thác và sử dụng cho sinh hoạt đời sống, sản xuất công nghiệp, canh tác nông- lâm- ngư... chưa được kiểm soát chặt chẽ, gây tác động làm sụt giảm mực nước ngầm ở một số nơi, nhiễm bẩn tầng nước ngầm. [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/tron/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image005.jpg[/IMG] Hình 5. Nước thải xả ra sông Vàm Cỏ Đông

Ô nhiễm đất vì chất phế thải Nguồn chất thải rắn có rất nhiều, chất thải rắn công nghiệp, chất thải rắn của ngành khai thác mỏ, rác ở đô thị, chất thải nông nghiệp và chất thải rắn phóng xạ. Chủng loại của chúng rất nhiều, hàm lượng các nguyên tố độc trong chúng cũng không giống nhau; tỷ lệ nguyên tố độc hại trong chất thải rắn công nghiệp thường cao hơn; rác thành thị chứa các loại vi khuẩn gây bệnh và ký sinh trùng; chất thải rắn nông nghiệp chứa các chất hữu cơ thối rữa và thuốc nông nghiệp còn lưu lại...; chất thải phóng xạ có chứa các nguyên tố phóng xạ như Uranium, Strontium, Caesium... những chất thải rắn này được vứt bừa bãi, ngấm nước mưa, và rỉ ra nước gây ô nhiễm đất, sông ngòi, ao hồ và nguồn nước ngầm, nguồn nước ô nhiễm này lại được dùng để tưới đồng ruộng sẽ làm thay đổi chất đất và kết cấu đất, ảnh hưởng tới hoạt động của vi sinh vật trong đất, cản trở sự sinh trưởng của bộ rễ thực vật và ảnh hưởng tới sản lượng cây trồng. Ô nhiễm đất do khí thải Các chất khí độc hại trong không khí như ôxit lưu huỳnh, các hợp chất nitơ... kết tụ hoặc hình thành mưa axit rơi xuống đất làm ô nhiễm đất. Một số loại khói bụi có hại ngưng tụ cũng là nguyên nhân của ô nhiễm đất. Ví dụ, các vùng đất gần các nhà máy sản xuất hoá chất Photpho, Flo, luyện kim dễ bị ô nhiễm vì khói bụi, hàm lượng flo chứa trong khoáng chất photpho sử dụng ở các nhà máy phân hoá học thường là 2 – 4%, nếu khí thải không được xử lý thích đáng, có thể làm cho một vùng hàng ngàn km2 đất xung quanh bị ô nhiễm flo nặng. Ở gần các xưởng luyện kim, vì trong khí thải có chứa lượng lớn các chất chì, cadimi, crom, đồng... nên vùng đất xung quanh sẽ bị ô nhiễm bởi những chất này. Đất ở hai bên đường, thường có hàm lượng chì tương đối cao là sản phẩm của khí thải động cơ. e. Ô nhiễm do dầu: Các hoạt động thăm dò khai thác dầu khí có nguy cơ gây sự cố môi trường. Các hoạt động nuôi trồng thủy sản, canh tác nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, sinh hoạt và đời sống... có các nguồn thải chưa xử lý triệt để tác động ra vùng ven biển, cửa sông làm cho chất lượng môi trường bị suy giảm. ĐBSCL hiện có ít nhất 81 vị trí xói lở bờ sông, bờ biển và 37 khu bồi lắng có nguy cơ gây sự cố môi trường. Sự cố tràn dầu vào bờ biển diễn ra kéo dài năm 2007 tại các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Tiền Giang... đã gây thiệt hại kinh tế và môi trường ở khu vực ven biển. Sự tích đọng của những chất ô nhiễm dầu trong đất chủ yếu kìm hãm quá trình vận chuyển, bay hơi và phân hủy sinh học, quá trình ở lại và lưu chuyển được biết khi nhiên liệu động cơ bị rò rỉ từ những thùng chứa và chảy tràn vào trong đất. Tác động của lực hấp dẫn kéo các chất lỏng theo chiều đi xuống, ngược lại với lực giữ lại các chất lỏng đó hoặc là sẽ hấp thụ trên hạt khoáng hoặc là nằm trong lỗ hổng cấu trúc của đất. Dầu là chất khó bị phân hủy bởi các vi sinh vật sống trong đất. Tuy nhiên, đất lại là môi trường không thể pha loãng các chất thải mà ngược lại các chất này tích lũy lâu dài trong đất, cho nên dầu có tác hại lâu dài trong môi trường đất. Ở những khu đất bị nhiễm dầu, các tinh thể dầu sẽ che lấp các khe hở và mao quản của đất, làm tắc cắc đường dẫn nước trong đất dẫn đến sự cằn cỗi của đất trong khu vực. Vì nguyên nhân này mà các vi sinh vật trong đất không có khả năng tồn tại và phát triển do dầu ngăn cản khả năng hô hấp và phá hủy môi trường cung cấp thức ăn cho vi sinh vật trong đất bị ô nhiễm. f. Ô nhiễm do các yếu tố ngoại lai: Chất thải của súc vật: Những chuồng trại chăn nuôi gia súc như trại heo, trại gà, phân gia súc không được thu gom, xử lí bảo đảm kĩ thuật và vệ sinh môi trường thì sẽ là hiểm họa cho môi trường đất. Vì lượng lớn các chất thải này làm đất mất khả năng tự làm sạch của nó thì sự nguy hại là khó lường. lúc này sự ô nhiễm đã trở nên trầm trọng. các cơ quan hoạt động môi trường đất đều bị tê liệt. chất thải, vi trùng từ đó mà lan ra khắp nơi: trong nước ngầm,trong nước suối trong hay bay vào không khí. Một điều đáng lưu ý là chăn nuôi ở vùng ĐBSCL phát triển rất mạnh, theo thống kê trong vùng có khoảng 2,6 triệu đầu lợn, 260.000 trâu bò (cả bò sữa), gần 40 triệu con gia cầm, đặc biệt là vịt (thủy cầm- là tác nhân lây truyền H5N1 trong giai đoạn vừa qua). Số chất thải rắn do chăn nuôi đưa thẳng vào sông rạch khoảng 22.500 tấn/ngày đêm, chất thải lỏng (kể cả nước rửa chuồng trại) chừng 40.000 m3/ngày đêm Tàn tích của rừng: Sau khi thu hoạch gỗ, phần bỏ đi chiếm một lượng lớn. Tàn tích này khi nằm lại trong môi trường đất sẽ phân hủy tạo mùn cho đất, nhưng khả năng này phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường và tỉ lệ C/N của tàn tích rừng. Nếu điều kiện phân giải tạo mùn ít thì khả năng chuyến hóa thành chất thành những chất khó tiêu và gây chua nhiều hơn. Nếu tàn tích rừng bị vùi lấp trong điều kiện yếm khí lâu dài, thì hoặc tạo ra cá đầm lầy than bùn phèn. Điều đó có nghĩa là tạo ra môi trường đất acid. Tàn tích thực vật: Khi cơ thể sinh vật chết đi và nằm trong môi trường đất sẽ phân hủy tạo thành mùn cho đất. Nếu

điều kiện phân giải tạo mùn cho đất ít thì khả năng chuyển hóa thành mùn ít, đồng thời các vật liệu này chuyển hóa thành các dạng mùn khó tiêu và gây chua cho đất. Do chất thải động vật của các loại gia cầm: trâu bò, gà là các nguyên tố vi lượng rất cần cho đất (N, K, P, Ca) nhưng khi nồng độ quá nhiều sẽ gây hại cho thực vật trên đất. Các chất độc thoát ra trong đất tự nhiên thường là các khí độc sinh ra trong quá trình phản ứng hóa học do có sự thay đổi của các yếu tố môi trường trong đất, các phản ứng này có thể nảy sinh ra do hoạt động của núi lửa. Các phản ứng sinh khí độc còn có thể xuất hiện do yếu tố khí hậu như nắng, mưa, nhiệt độ, độ ẩm của đất thay đổi một cách đột ngột. III.2.3. Ảnh hưởng của ô nhiễm đất: Quá trình mặn xâm nhập gia tăng đã tác động các hệ sinh thái nông nghiệp truyền thống, lúa nước, cá đồng, cây ăn trái, cây công nghiệp... trong khi khả năng thực thi các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội trong khu vực chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Các dự án thủy lợi trong vùng mặn hóa, vùng luân canh lúa-tôm, vùng ngăn mặn xổ phèn... chưa phát huy được tác dụng trong thực tiễn đang trở thành nỗi trăn trở của các cấp chính quyền, các ngành quản lý và người dân. Chất thải nuôi trồng thủy sản ven biển, đặc biệt là chất thải nuôi tôm, ngày càng nhiều làm gia tăng áp lực tới môi trường và độ bền vững của hệ thống canh tác thủy sản với bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập. Quá trình sử dụng đất trong canh tác nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp, đô thị hóa…ở đồng bằng sông Cửu Long làm biến đổi đất và làm suy thoái nghiêm trọng. Diện tích thủy sản tăng lên rất nhanh. Năm 2000 là 445.300 ha đến năm 2006 đã là 699.200 ha, đồng thời diện tích trồng lúa cả năm giảm dần: năm 2000 là 3.945.800 ha, đến năm 2006 là 3.773.200 ha (lúa mùa, đông xuân và hè thu). Trong nông nghiệp, đồng bằng sông Cửu Long có diện tích canh tác trên 2,9 triệu ha, nguồn nước tưới chủ yếu là nước ngọt trên kênh rạch do sông mekong chảy đến và nước mưa. Nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng do phát triển tăng vụ trong trồng trọt (lúa đông xuân, hè thu), chăn nuôi… trong khi đó chưa thể kiểm soát chặt chẽ được về số lượng và chất lượng nước cho canh tác nông nghiệp. Việc sử dụng nước còn tùy tiện, lãng phí, hệ thống thủy lợi chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất. Diện tích nuôi tôm trong rừng ngập mặn là một tác nhân ảnh hưởng rất nghiêm trọng tới công tác quản lý quy hoạch và khai thác bền vững tài nguyên ven biển ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Nuôi tôm đem lại lợi ích kinh tế nhanh nhưng hậu quả là làm giảm thảm rừng ngập mặn. Làm biến đổi môi trường đất, nước và môi trường sinh thái.Những tổn thất về rừng ngập mặn kéo theo hàng loạt biến đổi về môi trường, sinh thái khu vực: - Độ che phủ của rừng giảm, bị chia nhỏ bởi các vuông tôm, môi trường đất bị ô nhiễm bởi quá trình phèn hóa gia tăng với quy mô lớn, đất đai bị phát quang sẽ tăng quá trình rửa trôi do mưa, lan truyền phèn trong đất, nước và các hệ sinh thái; - Giảm đi quá trình bồi tụ phù sa do mất rừng, đa dạng sinh học bị suy giảm nhanh chóng do không còn điều kiện thích hợp để các loài sinh vật sinh sống và cư trú. Sự biến đổi môi trường vi khí hậu, sạt lở bờ biển và cửa sông.. làm mất cân bằng sinh thái trong khu vực. Hậu quả thấy trước tiên là nạn tôm chết hàng loạt ở các khu ven biển. Ngoài ra, các nguồn chất thải sau nuôi trồng chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn thải bỏ ra các kênh rạch với số lượng hàng năm khoảng 456,6 triệu m3 bùn thải và chất thải nuôi trồng thủy sản gây nên các tác động xấu đến chất lượng nước, ô nhiễm môi trường đất và dịch bệnh phát sinh. Việc lạm dụng phân bón không chỉ đe dọa sức khỏe con người, mà còn làm mất ổn định hệ sinh thái nông nghiệp. Kiểu canh tác dùng nhiều phân vô cơ, kết hợp với việc ngưng quay vòng của chất hữu cơ trong đất trồng, tạo nên một đe dọa nghiêm trọng trong việc giữ phì nhiêu của đất. Là do sự tích lũy liên tục các chất tạp (kim loại, á kim) có trong phân hóa học và sự biến đổi cấu trúc của đất. Thành phần chất hữu cơ của đất bị giảm nhanh và khả năng giữ nước và thoát nước của đất bị thay đổi. Chất mùn không còn quay về đất. Sự nghèo mùn làm phá hủy cấu trúc của đất, giảm phức hợp hấp thụ sét mùn nên giảm độ phì của đất. Phân động vật và thực vật không quay về với đất mà chất đống sẽ ô nhiễm mực thủy cấp sau khi lên men amoniac. Hoặc chúng bị đem thiêu đốt bỏ, không về đất được. Sự đốt rác có nghĩa là thay đổi ô nhiễm điạ phương của đất bằng sự ô nhiễm không khí ở diện rộng hơn nhiều. Môi trường đất ô nhiễm thì các loại sinh vật trong đất sẽ ảnh hưởng có loài sẽ chết như giun đất, kéo theo sự sinh trưởng kém của thực vật giun đất chết làm cho suy giảm độ thoáng khí của đất rễ cây hút nước kém làm ảnh hưởng tới quá trình quang hợp dẫn đến ảnh hưởng tới môi trường sống của chúng ta. Cây có vai trò rất lớn đến việc giữ môi trường trong sạch, nếu môi trường đất bị ảnh hưởng dẫn đến nhiều ảnh hưởng khác không tốt. Đất ngập nước, đặc biệt là vùng lầy than bùn là nơi lưu trữ khí nhà kính dưới dạng các khí Carbon, Metan nhiều hơn cả lượng khí này có trong toàn bộ bầu khí quyển. Thật không khó để tưởng tượng rằng điều gì sẽ xảy đến cho chúng ta một khi những khí này bị thoát ra qua việc phá hủy những vùng đất ngập nước.

Quá trình xâm mặn và lan truyền phèn ở đất khiến cho các nhà đầu tư tỏ ra chán nản, chuyển sang tìm cơ hội nơi khác khi nhìn thấy bãi đất hoang vu này. Do đó, năng lực thu hút đầu tư tại các khu công nghiệp ĐBSCL là rất thấp và tốc độ thu hút đầu tư còn chậm. Trong sản xuất công nghiệp, lượng nước thải chưa được xử lý triệt để, tiếp tục thải ra nguồn tiếp nhận là các sông, kênh rạch làm suy giảm chất lượng nước mặt. Gây nên các dịch bệnh cho nuôi trồng thủy sản và sức khỏa người dân: các bệnh sốt xuất huyết, sốt rét, bệnh giun sán ký sinh trùng, suy dinh dưỡng trẻ em, ngộ độc thức ăn…. Kim loại nặng được quan tâm nhiều vì chúng được sử dụng rộng rãi trong một số hoạt động công nghiệp trên hầu hết các quốc gia. Mặt khác, chúng được coi là các yếu tố vi lượng cần thiết cho cây trồng và súc vật. Tuy nhiên chúng được coi là chất ô nhiễm đến môi trường nếu chúng tồn tại ở nồng độ vượt quá mức nhu cầu sử dụng của sinh vật. Hiện nay vấn đề kim loại nặng đã được quan tâm đúng mức và các vấn đề về môi trường đã được coi trọng. Theo kết quả của các nhà thí nghiệm trong nhà kính đã chứng minh rằng ô nhiễm kim loại nặng trong đất ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng cùa cây lúa non trồng tên cát sạch và ngay cả trên đất nguyên dạng. *Ảnh hưởng của Pb2+ và Cd2+ : Ở nồng độ khác nhau thì những ảnh hưởng của chúng tới cây lúa cũng khác nhau và được biều hiện qua sự thay đổi pH của dung dịch. Cụ thể là nồng độ Pb2+và Cd2+ càng cao thù pH càng cao, mặt khác pH dung dịch cũng tăng theo thời gian sau khi gieo trồng. Ảnh hưởng của Cd mạnh hơn hẳn Pd. Cụ thể như sau : nồng độ Pd > 0,5 ppm, phạm vi ảnh hưởng của cây lúa tăng 50%. Còn Cd > 0,25 ppm đã ảnh hưởng lên đến 60 % cây lúa. Tỉ lệ chết của cây lúa tăng khi nồng độ kim loại nặng tăng. *Ảnh hưởng của Hg2+ và As3+ lên sự sinh trưởng cùa lúa non có thể tham khảo ở giáo trình Độc chất học môi trường cơ bản của Lê Huy Bá. - Sự cố lan rộng và tràn dầu vào các tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long, gây thiệt hại nghiêm trọng cho người dân. Tại Bến Tre dầu loang đã làm chết khỏang một ngàn tấn nghêu được nuôi tại các sân nghêu nằm trong huyện Bình Ðại và Ba Tri. Tại Bạc Liêu, tôm nuôi tại huyện Ðông Hải cũng bị ảnh hưởng vì các váng dầu. Tại Cà Mau, các cửa biển cũng có dầu nổi làm tôm cá đánh bắt được đều bị dầu bám khó làm sạch. III.2.4. Các giải pháp chống ô nhiễm: Biện pháp phòng chống các chất độc trong đất ngập nước: Để hạn chế hiện tượng ngộ độc trên vùng đất ngập nước, yếm khí, biện pháp hữu hiệu nhất là làm cho đất được luân phiên thoáng khí. Sự oxi hóa trong đất xảy ra làm cho nồng độ các chất độc giảm xuống dưới ngưỡng độc của sinh vật (ngoại trừ đất phèn tiềng tàng). Biện pháp phòng chống đất phèn: Để hạn chế phát sinh nhiễm phèn, cũng như các tác hại của các chất độc có trong đất phèn, có thể áp dụng một số biện pháp như sau: • Giữ nước để ngăn ngừa sự oxi hóa các vật liệu chứa khoáng pyrit trong đất phèn tiềm tàng. • Đối với đất phèn hoạt động, cần phải tiêu rửa chất độc ra bên ngoài bằng các nguồn nước khác. Việc tiêu rửa chất độc ra bên ngoài bằng các nguồn nước khác. Vấn đề này cần chú ý tới vùng hạ lưu • Trong canh tác cây trồng cũng như việc nuôi trồng thủy sản, việc sử dụng để trung hóa các axit trong đất và làm cố định các chất độc khác trong đất tỏ ra hiệu quả đối với những vùng đất phèn nhẹ và phèn trung bình. Việc kết hợp dung vôi và tiêu rửa bằng nước ngọt sẽ đẩy nhanh quá trình thiêu rửa độc chất trong đất. • Một số kĩ thuật như làm đất, lên danh sách để trồng các loại cây chịu phèn cũng như được áp dụng ở vùng đất phèn Đồng Tháp Mưởi. Biện pháp cải tạo đất mặn: Để hạn chế độc chất trong vùng đất mặn, việc ngăn đê, ngăn mặn tràn vào đồng ruộng, đôi khi có thể là một sai lầm vì chúng ta làm mất đi sinh thái đặc trưng của rừng ngập mặn ven biển. Bên cạnh đó ta có thể thực hiện chương trình cải tạo đất mặn thành đất trồng trọt cho năng suất cao không kém các loại đất bình thường khác. Tùy theo điều kiện thủy văn, thủy địa chất, tùy theo độ măn và hóa, lí tính của từng loại cụ thể mà có thể phân chia đất mặn theo các mức độ cải tạo đất như sau : • Thành đồng cỏ chăn nuôi gia súc bằng cách gieo các hạt cỏ chịu mặn có giá trị thực ăn cho gia súc. • Bằng các biện pháp kỹ thuật canh tác: cày sâu không lật, xới đất nhiều lần, cắt đứt mao quản làm cho muối không thể bốc lên mặt. • Trồng các loại lúa chịu mặn hoặc cây chịu mặn giỏi như cói, lác, rừng ngập mặn.

Bằng cách áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp. Điều này đặc biệt thích hợp với các loại đất ngập mặn khó cải tạo (đất kiềm mặn có độ thấm nước kém, mực nước ngầm nông ). Các biện pháp cải tạo kết hợp đó là: Biện pháp thủy lợi,biện pháp nông lý, biện pháp nông hóa, biện pháp sinh học.

• Sử dụng dòng điện : cho dòng điện một chiếu vào trong đất. Do hiện tượng điện phân người ta thu được các anion và các cation của muối tan trong đất ở anod và katot. • Sử dụng đất mặn nuôi tôm – kết hợp trồng lúa theo đúng kĩ thuật. Hoạt động nông nghiệp: Khống chế việc sử dụng nông dược hoá học, hạn chế sử dụng các thuốc có độc tính cao, khả năng tồn tại lớn, phát triển các loại thuốc nông nghiệp mới có hiệu quả cao, độc tính thấp, lượng tồn trữ ít. Nên tích cực áp dụng rộng rãi các kỹ thuật sinh học phòng trị sâu hại, lợi dụng các loài chim có ích, côn trùng có ích và một số vi sinh vật gây bệnh để chống lại các loại sâu hại. Quy hoạch phát triển nông- lâm- ngư đảm bảo an ninh lương thực và bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước đặc thù ở ĐBSCL. Phát triển sản xuất công nghiệp, các khu, cụm công nghiệp phải gắn liền với quy hoạch môi trường trong mối quan hệ chiến lược phát triển vùng ĐBSCL. Phải đầu tư để hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi, từ đó quy hoạch vùng sản xuất tập trung quy mô lớn. Các tỉnh ĐBSCL cần kết hợp lại, thiết lập trật tự cho vùng nuôi tôm sú; vùng nuôi cá tra, cá ba sa. Từng vùng phải có quy hoạch cụ thể. Nuôi tập trung mới áp dụng được khoa học kỹ thuật tiên tiến, cho năng suất cao, xử lý được môi trường, giảm dịch bệnh, tăng chất lượng hàng hóa; thu hoạch và tiêu thụ thuận lợi. Chuyển dịch mạnh để tiến tới xóa bỏ độc canh cây lúa, đa dạng hóa các sản phẩm. Tăng cường vai trò quản lý nhà nước của các cấp chính quyền tại địa phương, đặc biệt là chính quyền cơ sở và cơ quan chuyên ngành lâm nghiệp, môi trường trong công tác bảo vệ và phát triển hiệu quả hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển ở khu vực ĐBSCL. Tăng nhanh diện tích phủ xanh của thảm rừng ngập mặn phòng hộ ven biển, bảo vệ rừng ngập mặn khỏi nạn bị chặt phá làm củi, gỗ, nuôi trồng thủy sản. Theo dõi giám sát chất lượng thảm rừng ngập mặn đã bị suy giảm và các hệ sinh thái rừng ngập mặn để kịp thời xử lý các vấn đề gây tổn thất đến tài nguyên nước, tài nguyên đất và tài nguyên sinh học, đảm bảo cho độ ổn định của hệ sinh thái này. Hoạt động công nghiệp: Trong sản xuất công nghiệp ở các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ…, cần tăng cường công tác thẩm định, kiểm tra thanh tra việc thực hiện Luật Bảo vệ môi trường, đảm bảo các nguồn thải được xử lý phải đáp ứng tiêu chuẩn môi trường quy định trước lúc thải ra môi trường. Kiên quyết xử lý các doanh nghiệp, cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ môi trường. Khống chế các chất thải rắn, lỏng, khí. Mở rộng và phát triển công nghệ tuần hoàn kín hoặc xử lý chất thải để giảm hoặc loại bỏ các chất gây ô nhiễm; khi lợi dụng nước thải để tưới ruộng, cần nắm được thành phần chất ô nhiễm, hàm lượng và trang thái, khống chế số lượng nước tưới hoặc thực hiện xử lý cần thiết. Biện pháp khắc phục ô nhiễm dầu trong đất: bằng rất nhiều cách • Cày xới lên và xử lí tầng đất ô nhiễm để nó co thể tiếp xúc với không khí làm cho dầu bay hơi hay vi sinh vật bị phân hủy. • Xử lí đất bằng hóa chất • Trồng cây ưa dầu, có khả năng chịu được nồng độ dầu • Thì nghiệm bằng cách khác nhau, chon ra một phương pháp thích hợp • Bốc lớp đất bị ô nhiễm dầu (lớp mỏng đi xử lí) • Tạo cho đất khả năng tự làm sạch, hoạc tiếp xúc với không khí hoăc vi sinh vật hoạc rửa trôi chuyển hóa tự nhiên.

I. II.

Ô NHIỄM ÐẤT BỞI NÔNG NGHIỆP HIỆN ÐẠI. VẤN ÐỀ PHÂN BÓN.

1. 2. III. 1. 2. IV. V.

Các loại phân bón. Ô nhiễm do phân bón. Các loại nông dược ( Pesticides). Tính chất sinh thái học của nông dược.

Ô NHIỄM ÐẤT DO NÔNG DƯỢC.

RÁC THẢI. HẬU QUẢ CỦA Ô NHIỄM.

1. 2. VI. 1. 2. 3.

Do phân bón. Ảnh hưởng của việc dùng nông dược. Phương pháp ảnh hưởng tử suất. Phương pháp ảnh hưởng đến sinh suất. Quản lý tổng hợp các loài dịch hại (IPM).

ÐẤU TRANH SINH HỌC.

Ô nhiễm đất là do người ta sử dụng các loại hóa chất trong nông nghiệp và do người ta thải vào môi trường đất thải đa dạng khác. Trong các chất thải này, có những chất khó hay không thể phân hủy sinh học và đặc biệt là n chất phóng xạ. Ðất cũng nhận những kim loại nặng từ khí quyển dưới dạng bụi (Pb, Hg, Cd, Mo...) và các chất xạ. Rác từ đô thị, việc sử dụng phân tươi bón ruộng rẫy cũng góp phần làm ô nhiễm đất.

Ðặc biệt đất là trung gian của khí quyển và thủy quyển, là vị trí chiến lược trong trao đổi với các môi trường kh

Ô nhiễm đất phần lớn là do sản xuất nông nghiệp hiện đại và các hoạt động khác của người. Các nhóm quốc gi nhau có các loại rác thải khác nhau (rác nhà giàu khác với rác nhà nghèo). Nhưng tất cả đều góp phần làm ô nh trước tiên, nơi sinh sống của con người và của các sinh vật sống ở cạn khác. Sau đó lượng rác thải ngày càng tă còn gây ô nhiễm môi trường nước và không khí.
I. Ô NHIỄM ÐẤT BỞI NÔNG NGHIỆP HIỆN ÐẠI

Ô nhiễm đất xảy ra chủ yếu ở nông thôn. Trước hết là do sự bành trướng của kỹ thuật canh tác hiện đại. Nông n hiện nay phải sản xuất một lượng lớn thức ăn trong khi đất trồng trọt tính theo đầu người ngày càng giảm vì dâ tăng và cũng vì sự phát triển thành phố, kỹ nghệ và những sử dụng phi nông nghiệp. Người ta cần phải thâm ca hơn, dẫn tới việc làm xáo trộn dòng năng lượng và chu trình vật chất trong hệ sinh thái nông nghiệp.

Phân bón hóa học chắc chắn đã gia tăng năng suất, nhưng việc sử dụng lặp lại, với liều rất cao gây ra sự ô nhiễ các tạp chất lẫn vào. Hơn nữa Nitrat và Phosphat rải một cách dư thừa sẽ chảy theo nước mặt và làm ô nhiễm c thủy cấp. Cũng thế, nông dược vô cơ hay hữu cơ cũng có thể làm ô nhiễm đất và sinh khối.

Trong nhiều hóa chất sử dụng trong nông nghiệp, người ta có thể phân biệt các chất khoáng (vô cơ) và các chất tổng hợp. Chúng là các chất gây ô nhiễm thượng nguồn của đất trồng. Nhưng sự gián đoạn của chu trình vật ch các hệ sinh thái nông nghiệp hiện đại còn gây một ô nhiễm ở hạ nguồn nơi một số đất đai. Thật vậy, các núi rác lồ có nguồn gốc nông nghiệp, sản phẩm do sự khai thác hay sự tiêu thụ sản lượng động vật và thực vật thì được tất cả các nước công nghiệp hóa. Các chất này không quay trở lại ruộng đồng, khác với lối canh tác cổ truyền. C không bị tái sinh nhưng chất đống ở bãi rác với sự lên men hiếm khí tạo ra các hợp chất S và N độc, làm cho ô đất gia tăng.

Thâm canh không ngừng của nông nghiệp, sử dụng ngày càng nhiều các chất nhân tạo (phân hóa học, nông dượ cho đất ô nhiễm tuy chậm nhưng chắc, không hoàn lại (irreversible), đất sẽ kém phì nhiêu đi.

II. VẤN ÐỀ PHÂN BÓN 1. Các loại phân bón

Phân hóa học được rãi trong đất nhằm gia tăng năng suất cây trồng. Nguyên tắc là khi người ta lấy đi của đất c cần thiết cho cây thì người ta sẽ trả lại đất qua hình thức bón phân.

Trong các phân hóa học sử dụng nhiều nhất, ta có thể kể phân đạm, phân lân và phân kali. Trong một số đất ph ta còn bón vôi, thạch cao.

Do đó một số lượng lớn phân bón (chủ yếu là N, P, K) được rãi lên đất trồng. Sự tiêu thụ phân bón của thế giới 16 lần từ năm 1964 - 1986 .
2. Ô nhiễm do phân bón

Vì lý do lợi nhuận, các chất trên không được tinh khiết. Do đó chúng chứa nhiều tạp chất kim loại và á kim độc động trong đất (bảng 1). Chúng có thể tích tụ ở các tầng mặt của đất nơi có rễ cây. Bảng 1. Các tạp chất trong phân superphosphate (Theo Barrows, 1996) Arsenic Cadmium Chlomium Cobalt Ðồng Chì Nicken Selenium Vanadium Kẽm 2,2 - 12 ppm 50 - 170 66 - 243 0-9 4 - 79 7 - 92 7 - 32 0 - 4,5 20 - 180 50 - 1490

Ði tìm năng suất tối đa trong khai thác công nghiệp ở những diện tích rộng lớn là nhờ vào sự gia tăng tối đa lượ hóa học. Ðó là một nhân tố ô nhiễm mới cho đồng quê. Ðịnh luật về năng xuất giảm dần (Loi de rendements décroissants), dường như là không được biết bởi các nhà khai thác nông nghiệp, nhưng chúng được không biết cách tự giác bởi những buôn bán phân bón là kẻ thường khuyên bảo nông dân.
III. Ô NHIỄM ÐẤT DO NÔNG DƯỢC

Sự sử dụng có hệ thống một lượng nông dược ngày càng tăng ở nông thôn là một dẫn chứng cho một thảm họa thái từ việc sử dụng thiếu suy nghĩ của một kỹ thuật mới. Nông dược chiếm một vị trí nổi bật trong các ô nhiễm trường. Khác với các chất ô nhiễm khác, nông dược được rải một cách tự nguyện vào môi trường tự nhiên nhằm diệt các ký sinh của động vật nuôi và con người hay vào nông thôn để triệt hạ các loài phá hại mùa màng.

Các diện tích có sử dụng thuốc (phun xịt) rất lớn. 5% lãnh thổ Hoa Kỳ có phun xịt. Ở Pháp, 18 triệu ha có sử d

dược một lần một năm, chiếm 39% lãnh thổ.

1. Các loại nông dược ( Pesticides)

Các nông dược hiện đại đa số là chất hữu cơ tổng hợp. Thuật ngữ pesticides là do từ tiếng Anh pest là loài gây pesticides còn gọi là chất diệt dịch hay diệt họa. Ta phân biệt: - Thuốc trừ sâu (insectides) - Thuốc trừ nấm (fongicides) - Thuốc trừ cỏ (herbicides) - Thuốc trừ chuột (gặm nhấm = rodenticides) - Thuốc trừ tuyến trùng (nématocides)

Số lượng nông dược gia tăng mạnh trong vài thập kỷ nay. Ở Pháp, có hơn 300 hợp chất, Mỹ hơn 900 và được t mãi hóa dưới 60.000 tên gọi khác nhau. a. Thuốc trừ sâu (insecticides)

Thuốc trừ sâu được chia ra làm 3 nhóm chính: Chất vô cơ, chất có gốc thực vật và chất hữu cơ tổng hợp. Thuố hữu cơ tổng hợp được sử dụng nhiều nhất hiện nay. Chúng được chia làm 4 nhóm lớn: - Clor hữu cơ - Lân hữu cơ - Carbamates - Pyrethroides · Thuốc trừ sâu clor hữu cơ

Ðây là một nhóm tương đối lớn của thuốc trừ sâu với sự đa dạng về cấu trúc, tính chất và công dụng. Ba loại ch được kể ở đây. Ðó là DDT và các hợp chất tương cận, thuốc trừ sâu clor vòng (aldrin và dieldrin) và hexachlor (HCHs) như lindane.

Thuốc trừ sâu clor hữu cơ là chất rắn bền, ít tan trong nước và có ái lực mạnh với lipid (liphophilicity). Vài chấ bỉ trong thể ban đầu hay như là chất biến dưỡng bền. Tất cả đều là chất độc thần kinh.

DDT thương mại chứa 70 - 80% đồng phân sát trùng của ppDDT. Thuốc trừ sâu tương cận bao gồm rhotane (D methoxychlor. Tính chất sát trùng của DDT được khám phá bởi Paul Muller của công ty Ciba-Geigy năm 1939 đã được dùng với qui mô nhỏ (trừ côn trùng mang mầm bịnh, vectors) trong thế chiến 2, nhưng sau đó được dù rộng rải để trừ dịch hại nông nghiệp, sinh vật mang mầm bệnh (như muỗi gây sốt rét), ngoại ký sinh của gia sú trùng trong nhà và cơ sở kỹ nghệ. Do ít tan trong nước (< 1 mg/l), DDT được pha chế dưới dạng nhũ tương, tứ dịch của thuốc trong dung môi hữu cơ, dùng để phun xịt. DDT có LD50 là 113 - 450 mg/kg ở chuột và được ch vừa phải.

Hình 1. Các nông dược chính (I): thuốc trừ sâu; (H) thuốc diệt cơ; (F) thuốc trừ nấm

Aldrin, dieldrin và heptachlor là các thuốc trừ sâu có vòng. Chúng giống DDT ở chổ là chất rắn bền, ưa lipid, ít trong nước, nhưng khác ở cách tác động. Chúng rất độc với hữu nhũ (LD50 là 40 - 60 mg/kg). Chúng được dùn những năm 1965 để chống lại các côn trùng, như là chất bảo vệ hạt giống và thuốc trừ sâu của đất.

HCH được tiếp thị như là hỗn hợp thô của đồng phân BHC , nhưng rộng rải hơn ở dạng tinh chế có chứa chủ y

phân gamma, như (HCH, (BHC hay lindane. (HCH có cùng các đặc tính với các thuốc trừ sâu clor hữu cơ khác nó phân cực hơn và tan trong nước nhiều hơn (7mg/l). Nhũ tương của HCH được dùng để trừ các dịch hại nông và các ký sinh trùng của gia súc. Chúng cũng được dùng bảo vệ hạt giống. HCH chỉ độc vừa phải đối với chuộ là 60 - 250mg/kg) (Walker và CSV, 1996). · Thuốc trừ sâu lân hữu cơ

Trong thế chiến lần thứ hai, hợp chất lân hữu cơ được dùng làm chất độc thần kinh (neurotoxin), vì chúng có k ngăn trở enzim acetylcholinesteraz (AchE). Chúng được sản xuất vì hai công dụng chánh, là thuốc trừ sâu và v học. Chúng là những ester hữu cơ của acid phosphoric.

Ngày nay một số lượng lớn hợp chất lân hữu cơ được tiếp thị như là thuốc trừ sâu. Ða số thuốc trừ sâu lân hữu chất lỏng ưa lipid, vài loại bay hơi, một ít là chất rắn. Chúng ít bền vững hơn thuốc trừ sâu clor hữu cơ và bị ph dễ hơn bởi các tác nhân hóa học hay sinh hóa học. Do đó, chúng phân hủy nhanh trong môi trường, nhưng độc thời là đáng kể. Chúng phân cực và tan trong nước nhiều hơn thuốc trừ sâu clor hữu cơ. Các hoạt hóa của vài th trừ sâu lân hữu cơ hòa tan trong nước đủ để đạt đến nồng độ cao trong mô dẫn nhựa (phloem) của cây, gây độc trùng ăn phải (chất độc lưu dẫn ?).

Dạng thức chế tạo của các hợp chất lân hữu cơ thì quan trọng trong ô nhiễm môi trường do chúng gây ra. Nhiề được chế biến dưới dạng nhũ tương để phun xịt. Nhiều loại khác là chất bao bọc hạt giống hay dạng viên nhỏ. viên cần cho các thuốc trừ sâu lân hữu cơ độc tính cao, vì dạng này an toàn hơn dạng nhũ tương khi thao tác. T cầm giữ trong viên, và chỉ thoát từ từ ra môi trường.

Trong nhiều quốc gia, thuốc trừ sâu lân hữu cơ hiện vẫn còn được sử dụng cho hoa màu dưới nhiều dạng thức nhau. Chúng được dùng để kiểm soát ngoại ký sinh của gia súc và cả nội ký sinh, cào cào, dịch hại các kho chứ ký sinh của cá... · Thuốc trừ sâu carbamate

Ðây là các dẫn xuất của acid carbamic và phát triển gần đây hơn 2 nhóm thuốc trừ sâu nói trên. Giống như thuố lân hữu cơ, chúng có tác động ngăn trở enzym acetylcholinesterase (AchE). Carbamate thường là thể rắn, vài th lỏng. Sự hòa tan vào nước thay đổi đáng kể. Giống như thuốc trừ sâu lân hữu cơ, chúng dễ bị phân hủy bởi các hóa học hay sinh hóa học và thường không có vấn đề lưu tồn lâu dài. Ðộc tính cấp thời của chúng là điều đáng loại (aldicarb và carbofuran) tác động như thuốc lưu dẫn. Một ít (methiocarb) dùng diệt ốc sên. Cần phân biệt carbamate trừ sâu và carbamate trừ cỏ (propham, chlopropham) ít độc với động vật.

Thuốc trừ sâu carbamate được chế biến như cách của thuốc trừ sâu lân hữu cơ, như các thứ cực độc (aldcarb và carbofuran) chỉ chế tạo ở dạng viên. Chúng được dùng để kiểm soát côn trùng trong nông nghiệp và hoa màu, t trùng (nematocides) và thân mềm (molluscides). · Thuốc trừ sâu pyrethroid

Thuốc trừ sâu pyrethroid thiên nhiên được tìm thấy trong hoa đầu các cây cúc Chrysanthemum, từ đó gợi ý cho ta làm các thuốc trừ sâu pyrethroid tổng hợp. Pyrethroid tổng hợp thì bền hơn pyrethroid thiên nhiên. Pyrethro rắn, ít tan trong nước, và là chất độc thần kinh như DDT. Chúng là các ester được tạo bởi một acid hữu cơ (thư

acid chrysanthemic) và một baz hữu cơ. Mặc dù pyrethroid bền hơn pyrethrin, nhưng chúng dễ bị phân hủy sin không gây vấn đề thời gian bán hủy sinh học. Tuy nhiên, chúng có thể kết chặt với các hạt mịn của đất và chất tích, và ở đó chúng sẽ lưu tồn lâu dài. Chúng chủ yếu gây độc tính cấp thời, có chọn lọc trong số các côn trùng chim. Vấn đề môi trường của chúng là độc tính đối với cá và các ÐVKXS không là đối tượng phòng trừ.

Pyrethroids được chế tác chủ yếu thành nhũ tương để phun xịt. Chúng được dùng để kiểm soát một phổ rộng c trùng gây họa trong nông nghiệp và hoa màu, và được dùng phổ biến để trừ côn trùng mầm bịnh (muỗi tsetse ở Phi). b. Thuốc trừ cỏ tổng hợp

Các thuốc trừ cỏ phát triển mạnh vài chục năm nay. Các dẫn xuất của acid phenoxyacetic là những hợp chất đầ được thương mại hóa. Chúng tác dụng giống như auxine thực vật và gây sự rối loạn tăng trưởng của song tử di Ngoài ra còn có nhóm Triazine, Simazine (ngăn chặn quang hợp bằng cách chặn đứng chu trình Calvin, cây kh cố định CO2). Pichloram là chất độc và rất ổn định trong môi trường.

Các dẫn xuất của acid phenoxyacetic là nhóm thuốc trừ cỏ quan trọng nhất. Các thí dụ quen thuộc là 2,4-D, 2,4 2,4,5-T, MCPA và CMPP. Chúng tác động bằng cách rối loạn quá trình tăng trưởng theo cách của chất điều hò trưởng tự nhiên Indole acetic acid (IAA). Chúng là các dẫn xuất của các acid carboxylic phenoxyankal. Khi chế dưới dạng muối kiềm, chúng rất hòa tan vào nước, nhưng khi chế tạo dưới dạng ester đơn thì chúng lại ưa lipid hòa tan vào nước.

Ða số thuốc trừ cỏ phenoxy dễ bị phân hủy sinh học và không lưu tồn trong cơ thể sinh vật hay trong đất. Chún dụng có chọn lọc, như chọn lọc giữa đơn tử diệp và song tử diệp, chúng được sử dụng chủ yếu để trừ hạt đơn t trong đất trồng song tử diệp (ngũ cốc và đồng cỏ). Vấn đề môi trường có hai loại. Thứ nhất là vấn đề độc tính t (phytotoxycity) do phun xịt hay phun sương. Thứ hai là vài loại có chứa hợp chất cực độc là dioxin (TCDD = tetrachlorodibenzodioxin), tác nhân màu da cam của 2,4-D và 2,4,5-T dùng như thuốc làm rụng lá cây ở Việt N là chất cực độc cho hữu nhũ (LD50 là 10 - 200 (g/kg ở chuột). c. Thuốc chống đông máu trừ gậm nhấm

Hợp chất Warfarin đã được dùng từ nhiều năm qua như thuốc trừ gậm nhấm. Nó là phân tử ưa lipid, ít tan tron và tác động như chất đối kháng của vitamin K. Gần đây, khi các gậm nhấm hoang dã kháng được Warfarin, thì thứ hai của thuốc này đã được tiếp thị, cũng có công thức tương cận qua Wafarin. Chúng bao gồm diphenacoum bromadiolone, brodiphacoum và flocoumafen. Chúng giống với Wafarin ở tính chất tổng quát nhưng độc hơn c và chim nhưng lại lưu tồn lâu trong gan của ÐVCXS. Do đó chúng có thể được chuyển từ gậm nhấm sang các ăn thịt và các loài ăn xác chết của các gậm nhấm này. Như chim cú ở Anh quốc chẳng hạn, có chứa một lượng trừ gậm nhấm nói trên. Thuốc trừ gậm nhấm thường được trộn vào bã mồi, đặt trong nhà hay ngoài cửa, chúng các gậm nhấm hoang dã ăn.

2. Tính chất sinh thái học của nông dược

Dù nông dược có nhiều lợi ích nhưng một số bất lợi xuất hiện dần và trở nên trầm trọng. Vì nông dược tác độn

hệ sinh thái chứ không chỉ loài gây hại. Thực vật, bất kỳ một nông dược nào cũng gây một biến đổi sâu xa đến thái có sử dụng nó, vì có tính chất sinh thái học sau đây: - Có phổ độc tính rộng cho động vật và thực vật. - Ðộc tính cho động vật máu nóng và máu lạnh.

- Người sử dụng nông dược chỉ để diệt khoảng 0,5% số loài, trong khi nông dược sử dụng có thể tác động lên t sinh vật. - Người ta sử dụng nông dược để luôn luôn chống lại các quần thể.

- Tác dụng của chúng độc lập với mật độ nhưng người ta dùng khi mật độ lên đến mức gây hại (nên dùng thuố thuộc mật độ). - Lượng dùng thường cao hơn lượng cần thiết vì để cho chắc ăn. - Diện tích phun xịt khá lớn. Ở Châu Âu là hàng chục triệu ha. - Nhiều nông dược tồn lưu lâu dài trong môi trường. Sự ô nhiễm do nông dược hiện là hiện tượng toàn cầu, nhất là thuốc lân hữu cơ.
IV. RÁC THẢI

Tất cả sinh vật đều thải rác, nhưng không có sinh vật nào thải rác có thành phần đa dạng như con người. Rác th các hoạt động khác nhau. Phần này đề cập đến rác thải rắn của đô thị, bao gồm rác từ văn phòng, bệnh viện, trư học, kho chứa, nhà dân.

Ở Hoa Kỳ, mỗi năm có hơn 145 triệu tấn rác, tức khoảng 580 kg/người. Trung bình mỗi người, đàn ông, đàn b con, tạo ra 1,6 kg rác mỗi ngày (Chiras, 1991). Thành phố 1 triệu dân mỗi năm thải một lượng rác đủ để lấp đầ sân đá banh. Số lượng rác đô thị gia tăng hàng năm từ 2-4%. Khối lượng rác thải này gây ra vấn đề lớn cho các nơi đất dùng đổ rác ngày càng hiếm.

Mỗi người dân thành phố trung bình ở Việt Nam, như ở thành phố Cần thơ chẳng hạn, thải 0,6 kg rác mỗi ngày này được thu gom một phần, đem đổ ở bãi rác Châu thành (Cái răng), gây ô nhiễm một vùng ngoại ô.

Các bãi rác làm ô nhiễm đất , nước và không khí, tiêu tốn năng lượng, chiếm một diện tích đất lớn. Sự đốt rác t độc theo gió đi rất xa, tro có thể còn chứa chất độc lại dùng để lấp các nơi trũng hay trồng cây.

Ngoài các vật liệu thông thường, rác còn chứa các chất không bị phân hủy sinh học và các chất phóng xạ. Ngoà đích sử dụng cho quân sự, các chất phóng xạ còn được sử dụng khá phổ biến cho dân dụng và y học. Nhưng vi lũy các chất thải phóng xạ ngày càng nhiều đã và đang gây nên một vấn nạn không chỉ riêng cho các quốc gia đ dụng chúng. Ở Hoa kỳ, hàng năm có hơn 250 triệu tấn chất thải độc hại, tức trung bình mỗi người dân một tấn. nước Châu âu cũng không kém. Chỉ một phần của số rác trên được xử lý, còn phần lớn được tập trung ở bãi rác

thải ra sông hồ, biển và đại dương. Một vấn đề môi trường khác là việc các nước công nghiệp xuất khẩu rác thả hại sang các nước nghèo. Ðây là cách làm ít tốn kém cho các quốc gia sản xuất khác, lại còn có thể giúp đỡ các được nguồn ngoại tệ để trả nợ và chi tiêu khác. Các loại rác này hoặc được bán với giá rẻ làm vật liệu tái chế, h được phép đổ ở một xứ nghèo nào đó ở châu Phi hay châu Á để đổi lại một số dollar cho chánh quyền sở tại.

V. HẬU QUẢ CỦA Ô NHIỄM 1. Do phân bón

Ngoài việc ô nhiễm nước do dư lượng Nitrat và Phosphat, các phân bón còn làm ô nhiễm thức ăn. Thật vậy, nh cao của phân dùng trong đất trồng làm gia tăng lượng Nitrat trong mô thực vật mọc ở đây. Nên xà lách trồng tr bình thường, chứa 0,1% đạm Nitrit so với trọng lượng khô. Con số này lên đến 0,6% đất bón 600 kg Nitrat/ha. tơi (épinard) có thể chứa một lượng đạm Nitrit rất cao. Người ta cho thấy là Mồng tơi ở Mỹ chứa 1,37 g/kg và 3,5 g/kg Nitrat trong mô thực vật này (Schupan, 1965). Lượng đạm cao vậy là có tác hại cho sức khỏe vì chúng chứng methemoglobinemie, thể hiện qua việc ion NO2 kết hợp với Hemoglobin, làm cho hô hấp (tiếp nhận O2 khăn. Khi chuẩn bị thức ăn cho trẻ, khi trữ trong tủ lạnh hay do hoạt động của vi khuẩn đường ruột, Nitrat biến Nitrit rất độc. Nhưng nguy hại hơn, Nitrit được thành lập trong ống tiêu hóa có thể biến thành Nitrosamine, là m gây ung thư mạnh.

Nhưng lạm dụng phân bón không chỉ đe dọa sức khỏe con người, mà còn làm mất ổn định hệ sinh thái nông ng Kiểu canh tác dùng nhiều phân vô cơ, kết hợp với việc ngưng quay vòng của chất hữu cơ trong đất trồng, tạo n đe dọa nghiêm trọng trong việc giữ phì nhiêu của đất. Là do sự tích lũy liên tục các chất tạp (kim loại, á kim) c phân hóa học và sự biến đổi cấu trúc của đất. Thành phần chất hữu cơ của đất bị giảm nhanh và khả năng giữ n thoát nước của đất bị thay đổi.

Chất mùn không còn quay về đất. Sự nghèo mùn làm phá hủy cấu trúc của đất, giảm phức hợp hấp thụ sét mùn (complexe absorbant argilo humique) nên giảm độ phì của đất. Phân động vật và thực vật không quay về với đấ chất đống sẽ ô nhiễm mực thủy cấp sau khi lên men amoniac. Hoặc chúng bị đem thiêu đốt bỏ, không về đất đư đốt rác có nghĩa là thay đổi ô nhiễm điạ phương của đất bằng sự ô nhiễm không khí ở diện rộng hơn nhiều.
2. Ảnh hưởng của việc dùng nông dược

a. Ảnh hưởng lên các quần thể

Dùng thuốc diệt cỏ sẽ làm thay đổi thảm thực vật của hệ sinh thái nông nghiệp. Vì ảnh hưởng của chúng ở đồn và ở các vùng phụ cận, vì cây 2 lá mầm rất nhạy cảm với thuốc trừ cỏ trong gieo trồng ngũ cốc. Ở Việt Nam, tr chiến tranh chống Mỹ, một lượng lớn thuốc trừ cỏ đã được sử dụng gây nhiều thảm họa cho môi trường. Dù ch lần phun nhưng các thuốc khai quang này đã làm chết các cây đại mộc nhiệt đới, đặc biệt ở rừng Sát: Mấm, Ðư Vẹt ... Hay Dầu, Thao lao và các cây mộc họ Caesalpiniaceae ở các rừng vùng núi (Westing, 1984). Các dẫn xu acid phenoxyacetic cũng độc đối với các động vật thủy sinh. Ngoài ra chúng cũng có thể gây đột biến ở người. Việt Nam, sự biến dạng thai nhi đã được thấy cao hơn mức bình thường nơi các bà mẹ bị nhiễm nặng bởi việc thuốc khai quang trong thời gian chiến tranh chống Mỹ.

Dùng thuốc trừ sâu gây chết các quần xã động vật ở trong hay quanh vùng xử lý. Phun xịt thuốc trừ sâu trên rừ chết nhiều chim và thú. Cuối những năm 50, ở Hoa kỳ chiến dịch diệt Kiến lửa (Solenosis soevissina), trên 110 km2 bằng máy bay, sử dụng các hạt Heptachlore và dieldrine với liều 2,5 kg/ha ở năm đầu; 1,4 kg/ha vào 2 năm theo. Chiến dịch này có lợi cho các nhà kinh doanh nông nghiệp, nhưng gây nhiều thảm họa cho động vật ở đâ Sơn ca và các chim bộ Sẻ khác bị ảnh hưởng mạnh. Bò sát, côn trùng sống trong đất bị giảm số lượng mạnh.

Thuốc trừ nấm mặc dù không quá độc đối với cây xanh và động vật, nhưng hậu quả sinh thái học của chúng vẫ Như chúng tỏ ra độc đối với trùn đất là sinh vật đóng vai trò quan trọng trong sinh thái học đất, nhất là việc giữ nhiêu cho đất. Hạt giống trộn với thuốc diệt nấm gây hại cho chim. Một số chất có thể được tích lũy trong mô c vật. b. Ảnh hưởng lên các quần xã

Ða số các hậu quả của sinh thái học của việc dùng nông dược là ảnh hưởng gián tiếp thể hiện sớm hay muộn. A hưởng của sự nhiễm độc mãn tính là do hấp thụ liên tục các nông dược cùng với thức ăn. Nó gây chết cho các đ và làm giảm tiềm năng sinh học, nên làm giảm sự gia tăng của các quần thể bị nhiễm, dẫn đến sự diệt chủng củ

Aính hưởng của nông dược do sự chuyển vận qua sinh khối, với sự tích tụ nông dược trong mỗi nấc dinh dưỡn cho nồng độ nông dược trong các vật ăn thịt luôn rất cao. Trường hợp nặng gặp ở các nông dược ít hay không b hủy sinh học. Cho nên thực vật có thể tích tụ nông dược trong mô. Ðến phiên chúng làm thức ăn cho những bậ dưỡng cao hơn, sẽ làm nông dược chuyển đến cuối chuỗi thức ăn:

Ðiều này làm nhiễm độc mãn tính các động vật, dễ thấy là rối loạn chức năng sinh sản (chậm trưởng thành sinh trứng ít, trứng có vỏ mỏng). Các chlor hữu cơ như DDT, dieldrine, heptachlor và PCB, cũng như các thuốc diệt ảnh hưởng đến sinh sản của chim. Các ảnh hưởng trên còn có thể dẫn đến các hậu quả sau đây:

- Giảm lượng thức ăn. Một trong những xáo trộn do nông dược gây cho quần xã là làm giảm lượng thức ăn độn thực vật cần thiết cho các loài ở các bậc dinh dưỡng khác nhau trong hệ sinh thái nông nghiệp (Pimentel và Edw 1982). Sự biến mất dần các thực vật hoang dại do sử dụng thuốc trừ cỏ trong các vùng đất canh tác làm thay đổ nguồn thức ăn và nơi ở của nhiều loài chim định cư sống trong vùng hay xung quanh đó. Tương tợ, việc sử dụn thuốc trừ sâu phân hủy nhanh (lân hữu cơ, carbamate và pyrethroid) tuy không gây độc lâu dài như nhóm chlor nhưng cũng gây hại cho các loài chim ăn côn trùng vì chúng và con chúng sẽ không có thức ăn.

- Làm thay đổi cân bằng trong tự nhiên. Nông dược có thể gây ra sự phát triển quá đáng của một loài thực vật h vật nào đó. Khi sử dụng thuốc diệt cỏ ở các nơi trồng ngũ cốc thì hạt song tử diệp bị loại trừ, khi đó các cỏ họ h khó ưa sẽ phát triển mạnh vì vắng các loài cạnh tranh. Sử dụng nông dược có thể loại trừ các kẻ thù tự nhiên củ loài gây hại. Như ở Hoa kỳ chẳng hạn, việc sử dụng quá đáng azodrin, thuốc trừ sâu lân hữu cơ, để trừ côn trùn hại cây bông vải cho thấy một tình huống tiếu lâm. Thay vì làm giảm quần thể sâu Heliothis zea, thuốc azodrin các thiên địch và ký sinh của sâu này, làm cho vùng trồng bông có dùng thuốc bị thiệt hại nhiều hơn vùng khôn thuốc (Ramade, 1987).

- Ảnh hưởng lên diễn thế. Diễn thế của các quần thể động vật lệ thuộc chặt chẻ vào diễn thế của các quần thể th nên thuốc diệt cỏ ảnh hưởng mạnh hơn thuốc trừ sâu trong diễn thế của quần xã. Thuốc diệt cỏ ít chọn lọc tác đ giống như lửa. Nó làm hệ sinh thái trở lại giai đoạn đầu của giai đoạn chiếm cứ bởi các thực vật tiên phong. Tr trường hợp, sự sử dụng có hệ thống của thuốc trừ cỏ có thể tạo ra giai đoạn cao đỉnh nghẹn (dysclimax). Các k Việt Nam, nơi đã bị tàn phá hoàn toàn bởi thuốc khai quang, thì đất trống được tre và đồng cỏ bao phủ, rừng kh phục hồi trở lại được. Rừng tre và đồng cỏ phát triển thành quần xã cao đỉnh nghẹn (tắc nghẹn, dysclimax).
VI. ÐẤU TRANH SINH HỌC

Dùng nông dược kéo theo nhiều bất lợi. Ngoài việc mất cân bằng sinh thái học còn là vấn đề sức khoẻ công cộ độc của nông dược khiến người ta phải lập các mức độ chịu đựng: ngưỡng tối đa chấp nhận được trong thức ăn người.

Ngoài ra, nông dược không chỉ diệt loài có hại mà cả loài có lợi. Sau cùng vấn đề kháng thuốc khá lớn. Số loài tăng theo thời gian.

Cho nên người ta tìm cách giảm số loài gây hại bằng cách sử dụng biện pháp sinh học, nhắm vào việc dùng sin diệt các loài gây hại. Người ta tìm cách làm tăng tử suất và giảm sinh suất của chúng.
1. Phương pháp ảnh hưởng tử suất

Nhằm làm tăng tử suất bằng cách dựa vào kẻ thù tự nhiên của loài gây hại, như thiên địch hay ký sinh của nó.

Lịch sử mà nói thì từ năm 1888, nhà côn trùng học Riley đã giải quyết vấn đề sâu rầy Icerya purchari bằng cách vào California, một trong những kẻ thù tự nhiên của nó là Bọ rùa Novius cardinalis. Nhiều sự nhập nội như thế đã cho nhiều kết quả tích cực. Nhưng cũng có khi những loài nhập nội không thích trường hợp nhập những kẻ thù của doryphore (phá hoại Khoai tây) .

Phương pháp sử dụng các loài ăn côn trùng (entomophages) cho nhiều kết quả khả quan. Người ta cũng chú ý c ăn trứng (oophages). Kế đến, người ta chú ý các vi sinh vật gây bịnh cho loài gây hại (nấm ăn côn trùng và vi k diệt trùng).

Ngoài ra, người ta cò sử dụng cả siêu khuẩn, như trường hợp virus Sanarelli, gây bịnh Myxomatose cho thỏ, đã 99% số thỏ ở Pháp năm 1952. Chuyện cũng xảy ra như vậy ở Úc.
2. Phương pháp ảnh hưởng đến sinh suất

Nhằm làm giảm sinh suất của những loài không muốn có. Lần đầu tiên, năm 1954, Knippling đã thả những cá của Cochliomyia hominivorax làm bất thụ bởi Co60 ở đảo Curacao, đã tiêu diệt hoàn toàn loài 2 cánh này, là tá của bịnh myiases.

Kỹ thuật này dựa trên nguyên tắc theo đó thì một cá thể bị bất thụ sẽ bành trướng sự bất thụ trong quần thể bởi gây cảm ứng (induction) cho bạn tình của nó. Trong trường hợp của Cochliomyia, thành công dễ dàng là do cá chỉ giao phối một lần trong đời.

Người ta còn sử dụng các chất gây bất thụ như tia bức xạ ion trong hóa học.

Hiện người ta sử dụng Phéromone và chất dẫn dụ. Năm 1960, Jacobson đã ly trích chất Giplure, phéromon sinh Lymantria dispar, có thể thu hút những con đực của loài này ở nồng độ cực nhỏ (10 - 9 ug/lít không khí).

Chế tạo các bẩy có feromone (chất dẫn dụ) và chất bất thụ gốc hóa học là trong những cách hay để dẫn dụ nhữn gây hại.

3. Quản lý tổng hợp các loài dịch hại (IPM)

a. Vài ví dụ

Mục đích của IPM là làm tăng sản lượng nông nghiệp đồng thời giúp nông dân giảm chi phí mua nông dược và tác hại do nông dược. IPM sử dụng nhiều hình thức quản lý đồng ruộng như là một hệ sinh thái.

Sự luân canh là cách canh tác làm cho đất chỉ có các cây trồng khác nhau trong mỗi mùa. Ðiều này làm cho các không có cơ may sinh sản liên tục. Chiến thuật này cần thiết để hoa màu tránh được các loài phá hại.

Ở vài nơi chiến thuật tránh né này không thực hiện được, nên canh tác một vụ một năm là có lợi hơn. Ðặc biệt, lúa nước ở Ðông nam á phải gieo cấy nhiều vụ một năm, và không hoa màu nào khác có thể cho một lượng thự sánh bằng. Cuộc cách mạng xanh đã dùng các giống thần kỳ, gia tăng sử dụng phân bón và nông dược. Trong n năm 1960 đầu 70, cách làm này tỏ ra thành công nhưng tốn kém. Khi đó chánh phủ trợ giá việc dùng phân bón dược để thúc đẩy kỹ thuật mới. Hậu quả của việc trợ giá là nông dược giảm giá và được dùng lung tung. Một tá bất ngờ của việc dùng quá nhiều nông dược là chúng tiêu diệt các thiên địch hữu ích. Ngay sau đó, các trận dịc dịch rầy nâu xảy ra. Rầy nâu trở nên kháng thuốc, nhưng thiên địch của chúng thì không. Rầy nâu bất trị phá hạ lúa Indonesia, gây thiệt hại hơn một triệu tấn lúa vào năm 1977. Cách sửa chữa ngắn hạn là trồng các giống lúa rầy, nhưng trong ít năm, rầy nâu lại thay đổi tính kháng một lần nữa và trở nên chiếm lợi thế trong ruộng lúa. N 1986, Tổng thống Indonesia đã cấm 57 trong tổng số 66 loại nông dược sử dụng cho lúa và không trợ giá các lo dược khác. Sự tiêu thụ nông dược ít đi và rầy nâu cũng giảm đi. Các thiên địch của rầy nâu như ong (Wasps) v gia tăng đủ để hạn chế rầy. Sau năm 1986, lượng nông dược giảm 60%, chánh phủ tiết kiệm được 120 triệu US việc trợ giá nông dược và sản lượng lúa gia tăng 15%. Trường hợp của Indonesia cung cấp bằng chứng điển hì IPM có thể là giải pháp về giá cả - hiệu quả (cost-effective solution) cho vấn đề các loài dịch hại (Bush, 1997).

Một thí dụ về IPM áp dụng cho các đồn điền Dừa dầu ở Malaysia. Hàng ngàn mẫu rừng nhiệt đới đã chuyển th điền Dừa trong vùng bình nguyên Malaysia. Dầu dừa dùng trong gia đình và kỹ nghệ, và là nguồn thu nhập qua Thiệt hại sau thu hoạch do chuột làm giảm thu nhập của người trồng dừa, trong khi thuốc diệt Chuột thì mắc và hữu hiệu. Người ta du nhập chim Cú mèo là thiên địch của chuột. Không bao lâu, quần thể Chuột giảm thiểu và ta tiết kiệm được tiền mua thuốc trừ Chuột. b. Tóm lược phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp

Phương pháp này sử dụng tổng các biện pháp kiểm soát dịch hại: môi trường, di truyền, hóa học và canh tác. N biện pháp này cần phải có sự tập huấn cho người áp dụng và sự quan trắc các loài dịch hại (Chiras, 1991).

· Tập huấn (giáo dục) và theo dõi (quan trắc)

Khi có sâu rầy xuất hiện trên đồng ruộng, người nông dân nghĩ ngay tới việc dùng nông dược để sớm tiêu diệt Nhưng họ cũng nghĩ cách làm sao có thể bảo vệ hoa màu mà không cần dùng đến các chất độc này. Từ xa xưa đã biết nuôi Kiến vàng trong các vườn cam quít chẳng hạn. Các kinh nghiệm dân gian là rất cần nhưng chưa đủ sở nghiên cứu, các trường đại học có thể giúp nông dân hiểu biết nhiều hơn. Cần phải nhận thấy rằng hiện nay dân nhận hằng khối lời khuyên của các nhà sản xuất và những người bán nông dược. Cho nên có nhiều khúc m vấn đề này.

Nông dân cần được tập huấn nhiều điều để áp dụng IPM. Hiểu biết về sinh học côn trùng, kỹ năng nhận biết cô và cải thiện việc theo dõi quần thể côn trùng có thể giúp nông dân quản lý đồng ruộng tốt hơn.

Tập huấn và theo dõi là những điều tiên quyết cho IPM. Nếu không, sự lệ thuộc nặng nề vào nông dược sẽ vẫn tục. · Biện pháp môi trường

Biện pháp này nhằm làm cho các điều kiện môi trường (vô sinh và hữu sinh) trở nên bất lợi cho các loài dịch h biện pháp này dựa nhiều vào kiến thức hơn vào công nghệ, nên đặc biệt phù hợp cho các nước nghèo. Nhưng b này vẫn hữu hiệu trong các xã hội nông nghiệp hiện đại.

Tăng cường đa dạng hoa màu bằng cách đa canh và luân canh, nhằm làm giảm nguồn thức ăn cho một loài dịch đó và giúp ngăn chận sự tăng trưởng nhanh của nó.

Thay đổi thời gian gieo trồng. Vài loài thực vật tránh dịch hại một cách tự nhiên bằng cách mọc sớm hay trễ tro tăng trưởng. Thí dụ ở các nước ôn đới, Cải hoang mọc sớm trước khi có sự xuất hiện của Bướm cải. Nông dân gieo trồng một hoa màu nào đó sớm hoặc trễ hơn bình thường, lúc mà côn trùng chưa hay đã bộc phát rồi.

Thay đổi chất dinh dưỡng của cây và đất. Mức độ của vài chất dinh dưỡng trong đất và cây trồng cũng có thể ả hưởng số lượng quần thể dịch hại. Nitơ là nguồn dinh dưỡng quan trọng mà côn trùng và ký sinh nhận từ thực Lượng Nitơ quá nhiều hay quá ít có thể làm thay đổi số lượng cá thể của nhiều loài dịch hại. Thí dụ Rệp cây (A sinh sản nhiều hơn trên các hạt chứa nhiều Nitơ. Các côn trùng khác, như Thrips và Mites lại sinh sản ít hơn trê tơi (Spinach) và Cà tô-mát khi các rau quả này chứa nhiều Nitơ. Cho nên biết được nhu cầu dinh dưỡng của dịc mức độ chất dinh dưỡng của đất và của thực vật có thể giúp kiểm soát dịch hại.

Kiểm soát hoa màu và cỏ dại lân cận. Hoa màu và cỏ dại có thể là nguồn thức ăn và nơi ở của dịch hại, nhất là trùng. Cho nên cần kiểm soát hoa màu và cỏ dại lân cận là cần thiết. Ðôi khi hoa màu kém giá trị lân cận được làm bẫy (trap crop) để lôi kéo côn trùng. Khi cây linh lăng (alfalga) trồng cạnh cây bông vải, sẽ thu hút rầy bôn giảm thiệt hại cho bông vải.

Du nhập thiên địch, ký sinh và vật gây bịnh. Trong thiên nhiên hàng ngàn loài côn trùng là dịch hại tiềm tàng, n không trở thành dịch hại thật sự, bởi vì sự kiểm soát tự nhiên do thiên địch, ký sinh và bịnh tật. Nông dân có th dụng sự hiểu biết này của đấu tranh sinh học hay kiểm soát chuỗi thức ăn để quản lý cỏ dại, côn trùng, gậm nh các dịch hại khác. Có rất nhiều thí dụ về việc kiểm soát dịch hại bằng thiên địch hay ký sinh. Thí dụ cổ điển nh trùng diệt xương rồng ở UÙc. Nông dân Việt Nam đã dùng kiến vàng kiểm tra sâu rầy cho vườn tược. Trung q

vịt con thả vào ruộng lúa ăn bớt côn trùng phá lúa. Siêu khuẩn và vi khuẩn cũng đã được nghiên cứu và ứng dụ nhiều nơi. · Biện pháp di truyền

Có hai chiến lược chủ yếu, là làm cho con đực trở nên bất thụ và tạo các cây trồng và vật nuôi kháng bịnh về p diện di truyền. · Biện pháp hóa học Bao gồm việc sử dụng nông dược khi thật cần thiết, pheromon, hormon và các chất trừ sâu tự nhiên. Việc sử dụng nông dược phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây: - Sử dụng hạn chế - Sử dụng đúng thời điểm để hạn chế số lần phun xịt - Nông dược ít gây hại cho thiên địch và các sinh vật lan can (non target organisms) - Không phun xịt gần nguồn nước uống - Ðã thử nghiệm cẩn thận độc tính - Tránh dùng nông dược bền vững và có thể tích tụ sinh học - Tránh tối đa việc nông dân phải tiếp xúc nông dược (tránh hít phải khi thao tác)

- Sử dụng để làm giảm số cá thể dịch hại tới dưới ngưỡng gây hại, sau đó kết hợp với các biện pháp khác để gi quần thể này ở mức thấp. · Biện pháp canh tác

Dùng nhiều biện pháp như trồng nhiều cây che không cho cỏ dại mọc; tiếng động và bù nhìn đe dọa chim ... Gầ người ta dùng vi ba (microwaving) trừ một số côn trùng như dán, mối, con hai đuôi ăn giấy và hồ dán bìa sách 1991).

Phòng trừ dịch hại tổng hợp tỏ ra có nhiều lợi ích về nhiều mặt, nhưng để bảo đảm cho sự thành công, cần sự n đầu tư thích hợp. Ðiều quan trọng là chính nông dân, chớ không phải ai khác, là người đóng vai trò quyết định

PHÂN BÓN TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
Trần Văn Hiến Viện lúa ĐBSCL

Nhu cầu xã hội ngày càng phát triển cao đòi hỏi con người ngày càng sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để tăng năng suất sản lượng sản phẩm. Những hoạt động nhằm mục đích kinh tế của con người là nguyên nhân cơ bản làm ô nhiễm môi trường. Việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp nhiều và không hợp lý đã làm cho môi trường ngày càng xấu đi. Ở nước ta, hàng năm sản xuất hàng triệu tấn phân lân từ các nhà máy lớn (Supephotphat Lâm Thao, Long Thành, Đồng Nai, Văn Điển và Ninh Bình). Dự báo đến năm 2015, lượng phân bón sử dụng ở nước ta sẽ trên 3,5 triệu tấn. Trong nguyên liệu sản xuất phân lân có chứa 3% Flo. Khoảng 50 60% lượng Flo này nằm lại trong phân bón. Khi bón nhiều phân lân sẽ làm tăng hàm lượng Flo trong đất và sẽ làm ô nhiễm đất khi hàm lượng của nó đạt tới 10 mg/1kg đất. Trong các chất thải của nhà máy sản xuất phân lân có chứa 96,9% các chất gây ô nhiễm mà chủ yếu là Flo. Flo trong đất sẽ được tích lũy bởi thực vật, Flo gây độc cho người và gia súc, kìm hãm hoạt động của một số enzyme, ngăn quá trình quang hợp và tổng hợp protein ở thực vật. Khi bón đạm cho cây trồng, cây chỉ sử dụng được 40 - 60%, phần còn lại nằm trong đất và gây ô nhiễm đất. Các nhà nghiên cứu về dinh dưỡng cây trồng thường nói đến ảnh hưởng xấu của hàm lượng nitrat quá cao trong nông sản có thể gây ung thư. Việc bón thúc đạm sẽ làm cho hàm lượng nitrat tích lũy trên mặt đất và làm giảm chất lượng nước. Khi bón đạm cho cây trồng từ phân khoáng và phân hữu cơ thì sẽ có một lượng khí thải đưa vào không khí. Trước hết là khí NH3 làm ô nhiễm môi trường không khí, ngoài ra còn khí NO2 làm ảnh hưởng đến tầng ôzôn, thường số lượng khí N2O sản sinh ra từ phân bón là 15%. Khi trong sản phẩm có chứa nhiều đạm, nhất là không cân đối thì đạm sẽ chuyển từ NH4- sang NO3-. Đặc biệt hàm lượng NO3- tồn dư trong các loại rau rất cao, nguyên nhân là do sử dụng không hợp lý liều lượng và tỷ lệ phân đạm vô cơ và hữu cơ bón cho cây, phương thức bón không đúng do chạy theo lợi nhuận, bón thúc trễ, sát với thời điểm thu hoạch, sử dụng nguồn nước tưới có hàm lượng NO3rửa trôi cao. Ngoài ra, hiện tượng thừa đạm sẽ làm cho bộ phận của cây, nhất là các cơ quan sinh trưởng sẽ phát triển mạnh, tạo thêm nguồn thức

ăn cho nhiều loài vi sinh vật gây hại. Đạm thừa làm cho vỏ tế bào cây trở nên mỏng, tạo điều kiện dễ dàng cho một số loài vi sinh vật gây bệnh xâm nhập, kích thích một số loài vi sinh vật trong đất xâm nhập vào rễ và gây hại cho cây. Sâu bệnh xuất hiện nhiều làm số lần phun thuốc tăng theo cũng làm ô nhiễm môi trường. Các loại phân hóa học do nguồn nguyên liệu và quá trình sản xuất có khi chứa các loại kim loại nặng, các kim loại này được cây trồng hấp thụ và tích lũy trong sản phẩm. Người và gia súc dùng sản phẩm chứa các kim loại này lâu ngày sẽ bị nhiễm độc. Phân vô cơ có nhiều tác dụng, đó là yếu tố thật cần thiết cho thâm canh tăng năng suất, thiếu phân vô cơ sẽ không thể cho năng suất cây trồng cao. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải sử dụng đúng kỹ thuật vì hầu hết các trường hợp gây ra hậu quả không tốt do phân bón là do sử dụng không đúng kỹ thuật. Trong phân chuồng, phân bắc chưa hoai mục có chứa nhiều mầm bệnh cho người và gia súc và còn có thể gây hại cho rễ cây vì thế bón phân chuồng khi chưa hoai mục sẽ phản tác dụng. Vì thế hệ hôm nay và mai sau, vì sức khỏe và phồn vinh của loài người. Trong sản xuất chúng ta phải nâng cao tinh thần trách nhiệm của người sản xuất đối với người tiêu dùng. Không nên vì lợi ích trước mắt mà làm cho thien nhiên nghèo đi, môi trường sống của cả cộng đồng bị ô nhiễm./.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->