P. 1
Hạn mức tín dụng

Hạn mức tín dụng

|Views: 303|Likes:
Được xuất bản bởiPhan Phúc Phũ Phàng

More info:

Published by: Phan Phúc Phũ Phàng on Oct 17, 2012
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOCX, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

06/26/2015

pdf

text

original

I.

Hạn mức tín dụng 1. Khái niệm Là mức dư nợ vay tối đa trong một thời gian nhất định mà ngân hàng và khách hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Khác với loại vay thông thường , ngân hàng không xác định kì hạn nợ cho từng món vay mà chỉ khống chế theo hạn mức tín dụng, có nghĩa là tại một thời điểm nào đó nếu nợ vay của khách hàng lên đến mức tối đa cho phép , thì khi đó ngân hàng sẽ không phát tiền vay cho khách hàng nữa. Đối với loại vay này, một hợp đồng được áp dụng cho cả quý. Đến cuối quý, Ngân hàng sẽ thanh lý hợp đồng tín dụng và sang đầu quý sau khách hàng muốn vay thì phải nộp hồ sơ xin vay mới. 2. Ưu nhược điểm của công cụ hạn mức tín dụng -Ưu điểm: Thủ tục đơn giản, khách hàng chủ động được nguồn vốn vay, lãi vay trả cho ngân hàng thấp -Nhược điểm: Ngân hàng dễ bị ứ đọng vốn kinh doanh , thu nhập lãi cho vay thấp 3. Cách xác định hạn mức tín dụng Cho vay ngắn hạn thực chất là loại cho vay bổ sung nguồn vốnđầu tư vào tài sản lưuđộng. Do vậy, xác định hạn mức vốn lưu động phải căn cứ vào nhu cầu vốn lưu động củadoanh nghiệp và trên cơ sở khai thác hết các nguồn vốn phi ngân hàng khác. Có như vậymới xác định đúng và hợp lý nhu cầu vốn vay, tránh tình trạng cho vay quá mức cần thiếtlàm tổn hại đến khả năng thu hồi nợ. Mặc khác, không vì thế mà xác định quá khắt khekhông đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho doanh nghiệp.Căn cứ để xác định hạn mức tín dụng là kế hoạch tài chính của doanh nghiệp, trong đó dựbáo chi tiết vềtài sảnvà nguồn vốn. Các khoản mục trong bảng kế hoạch tài chính có thểliệt kê ở bảng dưới đây : Tài sản Nợ và vốn chủ sở hữu Tài sản lưu động Nợ phải trả -Nợ ngắn hạn  Tiền mặt và tiền gửi ngân hàng  Chứng khoán ngắn hạn  Khoản phải thu  Hàng tồn kho Các tài sản lưu động khác Tài sản cố định Đầu tư tài chính dài hạn Tổng cộng tài sản Phải trả cho người bán Phải trả cho người lao động Phải trả khác Vay ngắn hạn ngân hàng -Nợ dài hạn Vốn chủ sở hữu Tổng nợ và vỗn chủ sở hữu    

Dựa vào kế hoạch tài chính nhận từ khách hàng nhân viên tín dụng sẽ tiến hành xác địnhhạn mức tín dụng theo từng bước như sau : Bước 1 : Xác định và thẩm định tính chất hợp lý của tổng tài sản Bước 2 : Xác định và thẩm định tính chất hợp lý của nguồn vốn Bước 3 : Xác định hạn mức tín dụng theo công thức sau : Hạn mức tín dụng = Nhu cầu vốn lưu động - vốn chủ sở hữu tham gia. Trong đó : Nhu cầu vốn lưu động = giá trị tài sản lưu động - nợ ngắn hạn phi ngânhàng (1) - Nợ dài hạn có thể sử dụng (2) (1)gồm: Phải trả người bán, Phải trả công viên, Phải trả khác

(2) Chính là giá trị tài sản lưu động do nguồn dài hạn tài trợ. 4. T ình h ình s ử d ụng c ông c ụ h ạn m ức t ín d ụng 4.1. Thực trạng hạn mức tín dụng đầu qua các năm

Tính đến nay đã có đến 23 ngân hàng (NH) xin NHNN được nới hạn mức tín dụng so với chỉ tiêu đã cấp từ đầu năm, trong đó có 10 NH đã được duyệt nới hạn mức với tần số nới tăng gấp 20-30 lần so với quy mô tăng trưởng tín dụng của cả hệ thống trong 6 tháng đầu năm Theo một chuyên gia Tài chính, những diễn biến của tăng trưởng tín dụng trong những đầu năm 2012 đã cho thấy, việc nới các hạn mức tăng trưởng, chưa chắc đã mang đến kết quả là dòng vốn sẽ thực sự được tuôn chảy ra thị trường theo đúng biên độ mới, rộng rãi hơn của hạn mức tín dụng. Cụ thể là trong 7 tháng đầu năm 2012, tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống chỉ ước đạt mức rất thấp 1% so với cuối năm 2011. Nếu tính cả số dư vào trái phiếu DN và ủy thác thì mức tăng cũng chỉ đạt xấp xỉ chưa tới 2%. NHNN khi tổng kết hoạt động bán niên của ngành cũng đã thừa nhận một trong những đặc điểm của ngành NH thời gian qua là tình hình tăng trưởng tín dụng thấp, và khả năng mở rộng tín dụng trong thời gian tới khó khăn do cầu tín dụng trong nền kinh tế thấp, DN gặp nhiều khó khăn, hàng tồn kho lớn nên hạn chế khả năng hấp thụ vốn của NH. Khả năng trả nợ của DN và hộ dân suy giảm dẫn tới NH có xu hướng quy định cho vay chặt chẽ hơn để hạn chế rủi ro. Như vậy, một khi tăng trưởng tín dụng yếu đã là một tình trạng mặc nhiên được thừa nhận thì việc các NH đua nhau xin nới hạn mức tín dụng vào thời gian tới, trong bối cảnh sức khỏe hấp thụ vốn của DN vẫn đang phụ thuộc vào hàng tồn kho, mà chỉ số hàng tồn kho lại chưa có sự cải thiện, thì việc có thể mang lại hiệu quả vốn thực sự cho nền kinh tế từ động

thái này của các NH hay không, câu trả lời vẫn chưa rõ ràng. Vì lẽ đó, nhiều DN đã bình tĩnh nhìn nhận rằng các NH đua nhau xin nới chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, về cơ bản chủ yếu là “làm màu”, “đánh bóng” thương hiệu, hâm nóng thị trường tín dụng, đặc biệt là hâm nóng nhu cầu vay vốn từ phía DN với cảm giác nới tăng trưởng tín dụng thì việc cho vay ra sẽ dễ dàng hơn, lãi suất cũng sẽ được ưu đãi thấp hơn, hoặc là xin để làm của để dành cho giai đoạn nới lỏng tiền tệ cuối năm hoặc đầu năm tới. Dĩ nhiên, không phải 100% các NH đua xin nới chỉ tiêu tín dụng đều có khó khăn trong hoạt động cho vay và có nhu cầu đánh bóng thương hiệu. Trong trường hợp này thì tăng trưởng tín dụng của những NH như vậy là thực chất. Nhưng cũng phải thừa nhận một thực tế là kể cả tăng trưởng của các NH đã thực chất, không tăng ảo, thì dòng vốn được đẩy vào nền kinh tế từ khối tổ chức này vẫn chiếm tỉ lệ không cao. Chẳng hạn như với NH Đại Dương (OceanBank). Đây là ngân hàng thứ 2 công bố được tăng chỉ tiêu tín dụng 2012. Theo chỉ tiêu 17% được cấp đầu năm 2012, OceanBank đã tiêu hết 16,7% so với cuối năm 2011, tương đương mức tổng dư nợ cho vay tính đến 31/7/2012 đã đạt tới 30.169 tỉ đồng. Quota mới mà NHNN cấp cho OceanBank ngang bằng với Tiền PhongBank – NH đầu tiên được cấp hạn mức tín dụng mới và lên đến 27%. Tuy nhiên, đây vẫn chưa phải là quota “đỉnh” vì một loạt các NH sau được điều chỉnh nới hạn mức tín dụng đều có con số gấp 25-30 lần so với số tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống 7 tháng đầu năm như VPBank, HDBank hay Ngân hàng TMCP Quân đội. Và nếu lấy số dư nợ cuối năm 2011 của 5 NH thuộc top đầu tiên và cũng là top có quota tăng trưởng tín dụng “đỉnh” ở thời điểm hiện nay để tính, thì ước tính nền kinh tế sẽ có trên dưới khoảng 150.000 nghìn tỉ đồng được cho vay ra. So tổng dư nợ của 5 NH được duyệt cho vay trong tương lai này, với tổng dư nợ của 1 trong 4 NH lớn nhất của hệ thống NHTMCP – quốc doanh VN là Vietcombank, Vietinbank, BIDV, con số thực chất vẫn là kém xa. Theo đó, 4 NH này dù chưa có sự điều chỉnh hạn mức tín dụng mới, và chỉ tiêu tăng trưởng đã đạt được trong 6 tháng cũng rất “khiêm tốn” so với chỉ tiêu được giao, thì dư nợ cho vay đều vượt gấp rưỡi hoặc gấp đôi, gấp ba con số dư nợ tương lai ước tính của cả 5 NH kể trên. Chẳng hạn, riêng tổng dư nợ của Vietcombank tính đến 31/6/2012 đã lên tới trên 214 nghìn tỉ đồng. Hay dư nợ của Vietinbank cũng là một con số trên 280 nghìn tỉ đồng. Do vậy, “chẳng có lý do gì để mà lo lắng” chính là thông điệp mà nhiều chuyên gia kinh tế muốn chuyển tải đến các DN. Còn bản thân các DN khi trao đổi với DĐDN, dù có e ngại lạm phát sẽ bị kích động quay trở lại từ việc nới lỏng hạn mức tín dụng mới này, nhưng điều họ e ngại lớn hơn, và ám ảnh hơn, vẫn là nợ xấu liệu sẽ gia tăng tới đâu, từ việc “rộng rãi” các hạn mức mới này? Góc nhìn từ DN

Vấn đề của các DN lúc này là liệu họ có muốn vay hay không? DN Tư nhân Trịnh Thức ở Gò Vấp TP HCM cho biết, trong thời gian, Sở Công Thương phối hợp với Hiệp hội DN TP HCM cũng đã giới thiệu ông và nhiều DN khác chương trình hỗ trợ cho vay các DN SMEs với tổng hạn mức lên tới 30.000 tỉ đồng. Tuy nhiên, DN ông không làm hồ sơ vay. “Lý do cơ bản là các gói hỗ trợ trong hạn mức này đều thông qua ngân hàng rót vốn. Liệu NH có vì Sở Công Thương hay Hiệp hội DN mà giảm bớt các tiêu chí, thủ tục thẩm định hồ sơ cho vay? Liệu họ có vì thế mà sẽ nêu cao tinh thần “cứu DN khó trước, ưu tiên DN tốt sau”, như mong muốn của đại đa số các DN đang khó khăn?”, ông Thức nói. Ngoài ra, cũng theo ông Thức, theo dõi tình hình cho vay vốn trên địa bàn TP HCM thông qua hoạt động kết nối DN, NH tại các quận, cho thấy: Tỉ lệ và số vốn mà các DN đăng ký vay rất thấp. Nhận xét của ông Thức tương ứng với thực tế giải ngân của các chương trình hỗ trợ vay vốn mà Sở Công Thương đã phối hợp với Hiệp hội DN TP HCM thực hiện. Theo ông Phạm Ngọc Hưng, Phó Chủ tịch Hiệp hội DN TP HCM, trong số 8.000 thư và email mà Hiệp hội gửi đi mời DN vay vốn trong gói hạn mức 30.000 tỉ đồng, đến hết tháng 6/2012, chỉ có 77 DN đăng ký vay với số tiền dự kiến sẽ vay đạt 2.200 tỉ đồng, tương đương khoảng 6% tổng gói cho vay được giải ngân. Ông Hưng cũng chia sẻ với DĐDN là những ngày gần đây, do đi công tác nên ông chưa cập nhật tình hình vay vốn mới của DN trên địa bàn. Tuy nhiên, ông có theo dõi thông tin về việc nới hạn mức tín dụng của các NHTM và ghi nhận ý kiến của các DN tại nhiều địa phương. Theo đó, cảm nhận và động thái chung của DN vẫn là “nằm im bất động”, DN nào có thể vay được, đạt tiêu chuẩn thì vốn dĩ đã có thể được giải ngân, DN nào yếu, kém, không kinh doanh có lãi, vẫn “cấn cái” nợ cũ thì dù các NHTM có nới 4.2 Quy định hạn mức tín dụng cho ngân hàng n ăm 2012 Ngân hàng (NH) Nhà nước đã chính thức giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2012 cho các NH thương mại cổ phần, dựa trên tiêu chí đánh giá hoạt động của từng NH. NH TMCP Quân đội (MB) là một trong 4 NH thuộc nhóm 1 và được phép tăng trưởng tín dụng 17% trong năm 2012. Ông Lê Công, Tổng Giám đốc MB, cho biết MB sẽ tập trung tín dụng cho lĩnh vực sản xuất là chính và ưu tiên các lĩnh vực khác như xuất khẩu thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp. Trong đó, ưu tiên các khách hàng truyền thống, các doanh nghiệp vừa và nhỏ… MB dự kiến dành nguồn dư nợ khoảng 4.000 tỉ đồng cho lĩnh vực xuất khẩu, 2.000 tỉ đồng cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và 2.000 tỉ đồng cho một số lĩnh vực về phân phối. Ngay khi nhận chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 17% năm 2012, NH Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB), ông Bùi Thanh Hưng, Phó Tổng Giám đốc MHB, đưa ra kế hoạch: NH sẽ tập trung giải ngân cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuộc lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn. Các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh lương thực, nuôi trồng chế biến thủy sản, kinh doanh phân bón, cao su, bột mì… sẽ được ưu tiên. Hạn mức tăng trưởng còn lại sẽ tập trung

nguồn vốn một cách có hiệu quả cho phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Hiện nay, MHB đang trình Thống đốc phê duyệt khoản vay tái cấp vốn 3.000 tỉ đồng để đầu tư vào các dự án phát triển hạ tầng nông thôn, các dự án nhà ở xã hội… NH TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) cũng được NH Nhà nước giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 17%, khớp với kế hoạch năm 2012 của NH này. Kế hoạch của Sacombank là sẽ đặc biệt ưu tiên trong các lĩnh vực cho vay nông nghiệp - nông thôn, cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đồng thời, Sacombank chú trọng nâng cao hơn nữa chất lượng trong hoạt động cấp phát tín dụng, bảo đảm an toàn, hiệu quả trong hoạt động của toàn NH. Đến hết năm 2011, số dư chứng khoán đầu tư (sau dự phòng rủi ro) của Sacombank là 24.368 tỉ đồng, trong đó 24.244 tỉ đồng (tương đương 99,5%) là số dư đầu tư vào trái phiếu Chính phủ, trái phiếu do các tổ chức tín dụng khác và các tổ chức kinh tế phát hành, đều có tính thanh khoản và giá trị thương mại cao trên thị trường. Một số chuyên gia cho rằng việc NH Nhà nước giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng theo đánh giá hoạt động của từng NH sẽ góp phần giải quyết tận gốc vấn đề tăng trưởng tín dụng nóng dẫn đến căng thẳng thanh khoản hiện nay. Nhóm 1 với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cao nhất 17% là các NH hoạt động nghiêm túc và lành mạnh, có năng lực vốn và quản trị điều hành tốt.

II.

Lãi suất tín dụng 1. Khái niệm Lãi suất hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, vì nó là giá của quyền được sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người cho vay; là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu. 2. Ưu nhược điểm 3. Thực trạng sử dụng công cụ lãi suất tín dụng tại Việt Nam 3.1. Biến động lãi suất từ năm 2011 đến nay:\

Kể từ đầu năm 2011 đến nay, lãi suất tín dụng ngân hàng, trong đó lãi suất huy động (LSHÐ) và lãi suất cho vay (LSCV) đã, đang thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Ðiều chỉnh như thế nào để giảm lãi suất tín dụng cho vay, nhất là giảm phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan và khách quan hoặc những nhận định quá khứ và dự báo tương lai, cũng như cả lợi ích chung và lợi ích đối nghịch... là vấn đề cần được lý giải ngọn ngành.  Bức tranh lãi suất và lạm phát

Về nguyên tắc, điều hành lãi suất phải bảo đảm lãi suất thực dương, nghĩa là LSCV lớn hơn LSHÐ và lớn hơn tốc độ lạm phát. Vấn đề khó đó là lãi suất được xác định tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng nhưng khoản trả lãi lại theo tiến độ sau một thời gian nhất định. Thậm chí đến kỳ đáo hạn toàn bộ khoản tín dụng nên tốc độ lạm phát để so sánh với lãi suất phải là lạm phát trong tương lai hay cái mà giới học thuật hay gọi là lạm phát kỳ vọng - chỉ số rất khó dự báo trong một nền kinh tế nhiều biến động như Việt Nam. Chính vì vậy, nguyên tắc lãi suất thực dương có thể không đúng trong thực tế. Chẳng hạn, năm 2011, LSCV bình quân năm khoảng 20% và trần LSHÐ cao nhất là 14%/năm trong khi CPI cả năm tăng tới hơn 18%. Tuy vậy, LS tín dụng là một loại giá - giá vốn rất quan trọng không chỉ đối với tất cả các doanh nghiệp (DN) Việt Nam mà còn đối với các hộ gia đình khi quy mô tín dụng tính đến 30-4-2012 đã lên đến 2,6 triệu tỷ đồng và tổng tiền gửi 2,5 triệu tỷ đồng nên quan hệ mật thiết giữa LS và CPI là không thể phủ nhận. Căn cứ vào diễn biến CPI quá khứ có thể thấy, nếu tính theo cuối kỳ thì CPI năm 2012 đang có xu hướng lặp lại năm 2009 từ đỉnh cao 23% vào tháng 8-2011 rơi xuống đáy 5,35% vào tháng 72012 và dự báo có thể tiếp tục đà rơi ít nhất đến cuối quý III/2012. Thực tế CPI năm 2009 đã xuống đáy 2% trước khi phục hồi lên mức 6,52% vào cuối năm. Theo đó, giả thiết thứ nhất là CPI

năm nay sẽ xuống đáy vào khoảng tháng 8-9-2012 với khoảng 4% so cùng kỳ rồi phục hồi lên khoảng 7-8% vào cuối năm. Như vậy lộ trình giảm LSHÐ (và trần LSHÐ nếu còn) có thể xuống đáy vào khoảng 6% vào cuối quý III/2012 trước khi lên nhẹ khoảng 7-8% vào quý IV/2012. Do LSHÐ hạ nên LSCV bình quân cũng về mức 10-11% vào cuối quý III/2012 trước khi lên lại mức 12-13% trong quý cuối cùng của năm 2012...Vì vậy, lộ trình điều chỉnh và mức điều chỉnh cả LSHÐ và LSCV hoàn toàn có thể tương tự như giả thiết nêu trên. Tuy nhiên, cần lưu ý là một số biến số vĩ mô của giai đoạn 2008-2009 rất khác so với giai đoạn 2011-2012, chẳng hạn như mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể không quá khác biệt, song tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng và tổng kim ngạch xuất khẩu lại diễn biến trái chiều đi đôi với hiện tượng chưa từng có là hàng vạn DN giải thể, ngừng hoạt động trong năm 2012 và thu NSNN trong nửa đầu năm 2012 đạt thấp hơn so với cùng kỳ năm trước do sự "đóng băng" không chỉ của thị trường tài sản mà còn của cả thị trường tài chính và thị trường hàng hóa dịch vụ. Những nhân tố này rất có thể khiến cho diễn biến CPI 2012 không hoàn toàn lặp lại quy luật 2009.  Diễn biến và kỳ vọng

Tương tự như tổng mức bán lẻ tăng thấp và số lượng lớn DN giải thể, nửa đầu năm 2012 còn chứng kiến hiện tượng hy hữu là tốc độ tăng tín dụng âm liên tiếp năm tháng sau khi đã tăng bình quân tới 30% trong mấy năm gần đây. Nguyên nhân cơ bản của tăng trưởng tín dụng âm là do LSCV quá cao lên tới 20-25%/năm và DN không tiếp cận vốn tín dụng hoặc do tắc đầu hoặc do không đủ điều kiện vay nợ, trong đó có lý do không còn tài sản thế chấp và tình trạng nợ xấu. Báo cáo của NHNN cho thấy, bất chấp trần LSHÐ thực âm (14%/năm so với CPI 18%) suốt cả năm 2011 và giảm xuống còn 9%/năm từ 11-6-2012, song tổng tiền gửi của dân cư tính đến cuối tháng 4-2012 vẫn tăng tới gần 12% so với cuối năm 2011. Như vậy, tổng vốn huy động nửa đầu năm 2012 vẫn tăng gần 8% so với cuối năm 2011, mặc dù tốc độ tăng âm vào hai tháng đầu năm 2012 và tổng tiền gửi của các tổ chức kinh tế cũng âm do những khó khăn về tài chính của khu vực này. Rõ ràng, trong bối cảnh các kênh đầu tư khác như BÐS, chứng khoán, vàng và ngoại tệ hết sức bấp bênh thì gửi tiền tại các TCTD gần như là lựa chọn duy nhất của các hộ gia đình trong nửa đầu năm 2012 và có thể là cả năm 2012. Dĩ nhiên, trong tốc độ tăng tiền gửi không thể loại trừ yếu tố một số TCTD phá trần LSHÐ để tranh giành nguồn vốn và giải quyết thanh khoản. Hiện tượng tổng tiền gửi liên tục thấp hơn tổng tín dụng trong mấy năm gần đây cho thấy, khó khăn thanh khoản của một số TCTD là tất yếu, đặc biệt đối với những TCTD mới thành lập và mới tăng vốn, cả vốn điều lệ và vốn tự có. Một điểm đáng lưu ý trong nửa đầu năm 2012, tốc độ tăng tiền gửi liên tục cao hơn tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán (M2) chứng tỏ tiền mặt ngoài lưu thông (VNÐ) bị cạn kiệt, mặc dù NHNN tuyên bố mua vào tới 9-10 tỷ USD tương đương 200 nghìn tỷ đồng để tăng dự trữ ngoại hối lên khoảng 19 tỷ USD. Ðó cũng có thể là lý do để giải thích tạo sao CPI lại tăng thấp như vậy suốt từ tháng 3-2012 đến nay. Với những diễn biến trên, tổng vốn huy động của các TCTD sẽ không hoặc rất ít bị ảnh hưởng bởi việc hạ LS tiền gửi, theo đó lộ trình điều chỉnh LS tiền gửi đến cuối năm 2012 nêu trên được hỗ trợ bởi mục tiêu tăng tiền gửi và tăng M2 của cả năm. Một trong những nguyên nhân khiến cho tín dụng cho vay liên tục tăng trưởng âm và chỉ chuyển sang dương từ tháng 6-2012 là LSCV quá cao nên để đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cho vay 10-13% của cả năm 2012 thì LSCV buộc phải điều chỉnh giảm mạnh, kể cả bằng biện pháp hành chính cũng như sử dụng công cụ thị trường. Trong khi vẫn duy trì LS cơ bản 9% suốt từ cuối 2010 đến nay, chỉ bắt đầu từ tháng 3-2012 NHNN đã liên tục năm lần giảm các LS chủ chốt, đưa LS tái cấp vốn từ 15% xuống còn 10%/năm, LS tái chiết khấu từ 13% xuống 8%/năm, LS qua đêm liên ngân hàng (OMO) từ 16% xuống 11%/năm đi đôi với ép hạ trần LS tiền gửi như đã nêu trên. Ðồng thời NHNN một mặt cho phép tự do hóa LSHÐ tiền gửi trên một năm từ 11-6-2012, mặt khác buộc các NHTM áp dụng trần LS

cho các khoản vay cũ là 15%/năm từ 15-7-2012. Ðồng thời hàng loạt NHTM công bố những gói tín dụng cho vay với LS thấp hơn tới 3-4% so với mặt bằng LS chung khoảng 15-18%/năm đối với một số lĩnh vực khuyến khích cho vay như nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ... Rõ ràng tín hiệu nới lỏng tín dụng đã phát đi cả về LS và quy mô tín dụng cũng như lĩnh vực tín dụng cho vay. Kết quả là tốc độ tăng tín dụng cho vay so với cuối năm 2011 đã bắt đầu tăng trở lại. Nhiệm vụ trong thời gian từ quý IV sẽ là hoặc tiếp tục tăng mạnh tổng tín dụng để đạt mục tiêu tăng 15-17% như kế hoạch đề ra; hoặc tốc độ tăng tín dụng sẽ được điều chỉnh tăng chậm lại trước áp lực lạm phát quay đầu tăng trở lại do: Thứ nhất, tín dụng tăng quá nhanh và dồn dập; thứ hai, tính chất mùa vụ tăng giá cuối năm; thứ ba kích cầu đầu tư công quá mức nên sang quý IV/2012 tín dụng sẽ tăng chậm lại hẳn so với quý III/2012. Trong cả hai kịch bản tăng tín dụng nêu trên thì lộ trình điều chỉnh LSCV có xác suất cao và sẽ có xu hướng giảm trong quý III/2012 hoặc tăng nhẹ trở lại vào quý IV/2012 tương tự như dự báo. Lộ trình điều chỉnh LSHÐ và cho vay còn chịu tác động của nhiều yếu tố không kém phần quan trọng khác nữa như chuyển dịch cơ cấu tín dụng, thực trạng hoạt động của các TCTD, biện pháp xử lý nợ xấu và cơ cấu lại hệ thống NHTM, cơ cấu lại thị trường tài chính và DNNN, nới lỏng đầu tư công và quy mô cũng như cơ cấu nợ công... 3.2.

JPMorgan dự báo tỷ giá USD/ VNĐ ổn định, lãi suất sẽ giảm thêm

Trong báo cáo vừa công bố, ngân hàng JPMorgan Chase, chi nhánh Singapore, nhận định lạm phát chu kỳ ở Việt Nam đã không xảy ra như những năm trước, do giá cả hàng hóa giảm nhanh. Lạm phát theo năm tính đến tháng 5/2012 xuống còn 8,3%, từ mức 18,1% tính đến tháng 12/2011. Trước việc lạm phát hạ nhiệt, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cắt giảm tổng cộng 300 điểm phần trăm (3%) lãi suất điều hành, OMO (lãi suất nghiệp vụ thị trường mở), huy động trong mấy tháng qua. Với việc kỳ vọng lạm phát xuống thấp nhất vào quý 3 này, với mức dự báo 5% và lạm phát năm duy trì trong khoảng 6-8%, JPMorgan dự báo Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục cắt giảm thêm 200-300 điểm phần trăm (2-3%) lãi suất tính đến cuối quý 3 năm nay.

Biểu đồ các lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước - Nguồn: JP.Morgan Cùng với việc tín dụng tăng trưởng âm trong 3 tháng đầu năm nay và bắt đầu tăng trưởng trong tháng 4/2012, JPMorgan kỳ vọng Chính phủ Việt Nam sẽ khuyến khích các ngân hàng thương mại cho vay nhiều hơn trong 6 tháng cuối năm nay. Trước đó, vào đầu tháng 6/2012, ngân hàng ANZ cũng đưa ra dự báo Ngân hàng Nhà nước sẽ cắt giảm lãi suất thêm 2% và kỳ vọng việc giảm 1% lãi suất tiếp theo sẽ diễn ra vào cuối tháng 6 này hoặc đầu tháng 7 tới. ANZ cũng dự báo Ngân hàng Nhà nước sẽ giảm lãi suất tái cấp vốn từ 12% xuống 11% vào tháng 6 và giảm về 10% vào tháng 9/2012, đồng thời duy trì mức lãi suất này tớ tháng 6/2013. Về tỷ giá, theo JPMorgan, trước năm 2008, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều chỉnh giảm giá VNĐ 1% so với USD mỗi năm. Tuy nhiên, kể từ sau năm 2008 với những thời điểm kinh tế bất ổn, việc điều chỉnh tỷ giá thường xuyên diễn ra hơn. Năm ngoái, tỷ giá được điều hành linh hoạt hơn trước Nghị quyết 11 của Chính phủ Việt Nam nhằm ổn định kinh tế vĩ mô. Kể từ khi ban hành Nghị quyết 11, VNĐ đã ổn định hơn và năm nay, tiền đồng trở thành một trong số ít đồng tiền trong khu vực lên giá so với USD. Diễn biến tích cực này diễn ra trong bối cảnh lạm phát hạ nhiệt rõ nét. Vị thế cán cân thanh toán của Việt Nam được nâng cao, nhờ vào thâm hụt thương mại giảm dần, cũng như dòng tiền kiều hối và vốn đầu tư trực tiếp (FDI). Ngược lại, cán cân thanh toán không ổn định dẫn tới việc người dân sẽ bán các tài sản VNĐ để mua USD và vàng mỗi khi lạm phát cao. Tuy nhiên, với giá cả đang hạ nhiệt thì điều ngược lại đang xảy ra. Dòng vốn đang trở lại các tài sản VNĐ từ USD và vàng. JPMorgan cho rằng dự trữ ngoại hối của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng do cán cân thanh toán duy trì sự thặng dư. Với những nhận định trên, JPMorgan dự báo VNĐ sẽ duy trì sự ổn định so với USD trong năm nay.

CÓ MỘT SỐ CÁI DƯỚI NÀY NẾU MI THẤY BỎ VÔ MÔ ĐƯỢC THÌ MI BỎ VÔ PHÍA TRÊN CÁI NHA.THANKS.HOHO
4.1 Moody’s: Hạn mức tín dụng mới là tín hiệu tích cực với các ngân hàng Moody's khẳng định hạn mức tăng trưởng tín dụng mà NHNN đưa ra trong 2012 đã giải quyết một số thách thức về tín dụng của các ngân hàng.

Trong báo cáo triển vọng tín dụng tuần mà Moody's vừa công bố, hãng này cho rằng hạn mức tăng trưởng tín

dụng mới là tín hiệu tích cực với các ngân hàng mà tổ chức này hiện đang xếp hạng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Theo Moody's, quyết định phân nhóm hạn mức tín dụng năm 2012 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) giải quyết một số thách thức tín dụng của các ngân hàng mà hãng này xếp hạng khi hướng các ngân hàng tập trung nỗ lực cải thiện chất lượng tài sản và các hoạt động bảo lãnh. Dù khó đánh giá được mức độ thực sự của nợ xấu của hệ thống, Moody's tin rằng hệ thống hiện nay đang phóng đại chất lượng tài sản và rằng đang yếu kém, khi quan sát chi phí sản xuất tăng và lãi suất giảm dòng tiền. Ngoài ra, hạn mức tăng trưởng tín dụng mới sẽ cải thiện tính thanh khoản của hệ thống. Trong những năm gần đây, một số ngân hàng đã tăng trưởng tín dụng nhanh hơn tiền gửi, do đó đẩy tỷ lệ cho vay trên tiền gửi, như trong trường hợp của BIDV và Sacombank lên trên 100%. Trong bối cảnh này, hạn mức mới sẽ giảm tăng trưởng tín dụng xuống mức phù hợp hơn, giảm áp lực huy động vốn ngay lập tức của hệ thống. Quan trọng hơn, các mức giới hạn sẽ giúp giảm lạm phát, yếu tố cơ bản gây ra tình trạng thanh khoản yếu trên toàn hệ thống. Theo Moody's, các ngân hàng Việt Nam nhìn chung đối mặt với nhiều thách thức trong việc quản lý thanh khoản và huy động vốn hơn các ngân hàng tại các thị trường khác trong khu vực châu Á do lượng tiền gửi không ổn định và các chính sách thường xuyên thay đổi của chính phủ. Hạn mức mới cũng thúc đẩy một mục tiêu quan trọng của NHNN trong năm 2012 là tái cơ cấu và hợp nhất hệ thống ngân hàng, bằng cách buộc các ngân hàng yếu hơn phải hợp nhất với các ngân hàng khác hoặc tăng vốn. Điều này sẽ giúp tăng niềm tin vào hệ thống ngân hàng. 7 ngân hàng hiện đang được Moody's xếp hạng tín dụng là Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB), Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín (Sacombank), Ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB), Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank), Ngân hàng TMCP Quân đội (MB), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng TMCP Á châu (ACB). Ngày 13/2, NHNN ban hành Chỉ thị 01 giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2012 cho 4 nhóm tổ chức tín dụng: Nhóm 1 tăng trưởng tối đa 17%, nhóm 2 tăng trưởng tối đa 15%, nhóm 3 tăng trưởng tối đa 8% và nhóm 4 không được tăng trưởng. Chỉ tiêu cụ thể cho từng ngân hàng không được công bố cụ thể.

LÃI SUẤT TÍN DỤNG NĂM 2011 Khi LS liên ngân hàng hạ, VND giảm sức hấp dẫn và nhiều NHTM sẽ có nhu cầu mua nắm giữ USD để quản trị rủi ro. Đặc biệt với những NH đang giữ trạng thái âm với đồng USD. Sau một thời gian tăng cao kéo dài, lãi suất bình quân liên ngân hàng đối với tiền đồng đã liên tục suy giảm. Lãi suất qua đêm ngày 19.5.2011 chỉ còn ở mức 12,43%, giảm 0,69% so với ngày 13.5.2011. Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 12 tháng giảm 1% xuống mức 12,5%. Trong tuần qua, tỷ giá VND/USD cũng thay đổi mạnh. Tính đến ngày 19.5.2011, Vietcombank niêm yết tỷ giá ở mức 20.700 – 20.850 VND/USD, tăng 50 đồng so với ngày 17.5.2011 và tăng 90 đồng/USD so với ngày 16.5.2011. Nguyên nhân khiến cho lãi suất liên ngân hàng giảm

Lãi suất liên ngân hàng giảm bắt nguồn chủ yếu từ việc trong tháng 5.2011, ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tiếp mua vào đồng USD, ước khoảng trên 1 tỉ USD. Điều này đồng nghĩa với việc NHNN đã đưa ra thị trường thông qua các ngân hàng thương mại (NHTM) một lượng tiền xấp xỉ 21 ngàn tỉ đồng. Trong bối cảnh thanh khoản gặp khó khăn do khó huy động từ khu vực dân cư, lượng tiền bơm ra trực tiếp từ NHNN đã giải toả bớt tình trạng căng thẳng tạm thời về vốn. Các NHTM nhỏ tạm thời không phải tìm đến các ngân hàng lớn để vay trên thị trường liên ngân hàng khiến lãi suất giảm. Nguyên nhân tiếp theo khiến cho lãi suất trên thị trường liên ngân hàng giảm là do việc NHNN nâng mức lãi suất trên thị trường mở. Khi NHNN nâng lãi suất trên thị trường mở, các NHTM lớn sẽ giảm động cơ vay NHNN để sau đó cho các ngân hàng nhỏ vay với lãi suất lớn hơn trên thị trường liên ngân hàng. Điều này khiến cho các NHTM nhỏ có cơ hội vay NHNN được nhiều hơn trên thị trường mở và giảm áp lực phải vay trên thị trường liên ngân hàng. Nguyên nhân khác bắt nguồn từ việc thực hiện thông tư 13/2010/TT-NHNN quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng. Theo thông tư này, các NHTM chỉ được phép sử dụng 80% vốn huy động để cho vay; 20% còn lại dành cho ba mục đích dự trữ, đầu tư trái phiếu chính phủ và cho vay liên ngân hàng. Thời điểm hiện tại, nhu cầu dự trữ tại ngân hàng tương đối ổn định do tính chất mùa vụ. Trong quý 2 và quý 3 nhu cầu rút tiền mặt thường không có những đột biến như quý 1 và quý 4, vốn là các tháng cuối năm âm lịch và dương lịch. Trong khi đó đầu tư trái phiếu chính phủ cũng không hấp dẫn. Lượng phát hành thành công trong nửa đầu tháng 5.2011 chỉ đạt khoảng 655 tỉ VND, tiếp nối xu hướng giảm của tháng 4 (1.051 tỉ), tháng 3 (1.514 tỉ), và tháng 2 (2.708 tỉ). Do đó khoản tiền dành cho nghiệp vụ cho vay liên ngân hàng chiếm cơ cấu lớn trong tỉ lệ 20% vốn huy động. Các NHTM có xu hướng cho vay nhiều hơn là đi vay. Chu kỳ quản lý dự trữ bắt buộc cũng là một nguyên nhân góp phần vào hiện tượng lãi suất liên ngân hàng giảm. Theo quy định của NHNN thì các NHTM phải duy trì tỉ lệ dữ trự bắt buộc với các khoản huy động bằng VND là 3% ( kỳ hạn dưới 12 tháng) và 1% (kỳ hạn 12 tháng trở lên). Tuy nhiên, thời điểm báo cáo là cuối tháng và con số 3% hay 1% là tính trung bình cho cả tháng. Các NHTM thường tận dụng phần dự trữ bắt buộc này để cho vay trên thị trường liên ngân hàng để tìm kiếm lợi nhuận và có xu hướng vay ngược trở lại vào cuối tháng để tạo ra con số trung bình cả tháng đúng quy định của NHNN. Do đó, thường vào giữa tháng, các NHTM có nguồn khá dồi dào và cho vay ra khiến lãi suất giảm hoặc đi ngang trong giai đoạn này. Tỷ giá khó tăng mạnh Hiện tượng tỷ giá quay đầu tăng trở lại trong tuần qua xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Trước hết đó là do sự sụt giảm của lãi suất liên ngân hàng như chúng ta đề cập ở trên. Việc lãi suất tiền đồng đi xuống trong khi lãi suất USD về cơ bản không thay đổi khiến cho các NHTM phải thay đổi trạng thái các đồng tiền đang nắm giữ. Đồng USD vì thế được các NHTM ưu tiên mua vào.

Những số liệu về nhập siêu và lạm phát trong tuần qua cũng kích thích các NHTM mua vào ngoại tệ. Theo thông báo mới nhất từ tổng cục Hải quan Việt Nam thì nhập siêu tháng 4 đạt khoảng 1,493 tỉ USD mức cao nhất trong vòng 16 tháng. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5.2011 hiện đang được thị trường kỳ vọng vào khoảng 2% do CPI tháng 5 ở một số tỉnh thành mặc dù giảm tốc nhưng vẫn ở mức cao. Hà Nội là 1,76%, Đồng Nai (2,23%), Long An (2,35%), TP.HCM (2,38%)... Những con số này cho thấy trong trung hạn, nhu cầu về USD sẽ lớn trong khi nguồn cung lại khan hiếm. Nhiều NHTM Việt Nam tiến hành sớm việc mua ngoại tệ để đáp ứng sự thiếu hụt giữa cung và cầu về ngoại tệ trong những tháng tới. Mặc dù tỷ giá USD/VND đang có xu hướng tăng trở lại nhưng khó có thể xuất hiện sự tăng nhanh và mạnh như thời điểm cuối năm 2010 và đầu 2011. NHNN vẫn ưu tiên cho mục tiêu kiềm chế lạm phát và giảm nhập siêu. Lãi suất thị trường mở đã tăng lên 15%. Việc NHNN mua USD trong thời gian vừa qua chủ yếu do người dân và một số doanh nghiệp bán ra. Giải pháp kết hối đối với các doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa được thực hiện. Nhiều khả năng việc này vẫn sẽ được NHNN theo đuổi trong thời gian tới sau khi đã chi tiết hoá được các quy định. Nếu lãi suất tiền đồng vẫn được giữ ở mức cao trong khi Nhà nước vẫn còn có cơ hội để tăng nguồn cung thì tỷ giá USD/VND sẽ chưa thể bứt phá tăng mạnh được.

Nguồn DVT/Moody's

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->