P. 1
QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH

QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH

|Views: 527|Likes:
Được xuất bản bởiRoi Yaru

More info:

Published by: Roi Yaru on Oct 27, 2012
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

09/05/2014

pdf

text

original

QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH-TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHƯƠNG PHÁP VAR

Trước tiên, chúng ta cần phân biệt giữa 2 khái niệm là phòng ngừa rủi ro và quản trị rủi ro.Mặc dù, 2 khái niệm này nghe có vẻ rất giống nhau nhưng thực ra nó có rất nhiều sự khác biệt. Phòng ngừa rủi ro chỉ nói đến việc công ty sử dụng các công cụ phái sinh để làm giảm sự bất ổn của giá cả. Trong khi đó, quản trị rủi ro có ý nghĩa rộng hơn nhiều. Do đó, trong bài nghiên cunày chúng em sẽ tập trung làm rõ tầm quan trọng của phương pháp VaR trong quản trị rủi ro tài chính. Bài nghiên cứu này sẽ được chia ra 3 phần: Phần 1 tập trung giới thiệu sơ lược nền tảng lý thuyết Quản trị rủi ro tài chính; Phần 2 nghiên cứu các paper mở rộng lý thuyết Quản trị rủi ro tài chính; Phần 3 là quá trình đo lường rủi ro thực nghiệm tại Việt Nam. I: LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH-TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHƯƠNG PHÁP VAR 1. Khái niệm Quản trị rủi ro Quản trị rủi ro là xác định mức độ rủi ro mà một công ty mong muốn, nhận diện được mức độ rủi ro hiện nay của công ty đang gánh chịu và sử dụng các công cụ phái sinh hoặc các công cụ tài chính khác để điều chỉnh mức độ rủi ro thực sự theo mức rủi ro mong muốn. Mục đích của việc các doanh nghiêp quan tâm đến quản trị rủi ro: Thứ nhất : Do tính bất ổn trong lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa và giá cổ phiếu. Thứ hai: Sự bùng nổ trong lĩnh vực công nghệ thông tin cho phép doanh nghiệp xử lý một khối lượng tính toán khổng lồ và phức tạp để định giá các công cụ phái sinh một cách nhanh chóng với chi phí thấp nhất và theo dõi các vị thế đã được thực hiện trên các công cụ phái sinh. Khi đầu tư vào mỗi loại tài sản, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với 2 loại rủi ro: Rủi ro thị trường (Rủi ro hệ thống) và Rủi ro phi hệ thống của các tài sản thành phần. Rủi ro hệ thống là loại rủi ro tác động đến tất cả các tài sản trong danh mục đầu tư. Các nhân tố gậy nên rủi ro hệ thống bao gồm: Bất ổn trong lãi suất, tỷ giá, giá cả

hàng hóa và giá cổ phiếu…Rủi ro hệ thống không thể loại trừ được cho dù doanh nghiệp có thực hiện đa dạng hóa đi chăng nữa. Rủi ro phi hệ thống độc lập với những hiện tượng tác động lên toàn bộ tài sản trên thị trường. Nó chỉ là những rủi ro đặc trưng đặc trưng riêng của một vài chứng khoán: Quản lý doanh nghiệp, tiến bộ khoa học kỹ thuật… Rủi ro phi hệ thống có thể được loại trừ bằng việc đa dạng hóa.

2.Quản trị rủi ro thị trường Rủi ro thị trường xuất hiện khi công ty phải đối mặt với những bất ổn trong giá cả hàng hóa, tỷ giá, lãi suất, giá chứng khoán, và đến lượt nó lại tác động đến sự không chắc chắn trong giá trị công ty hoặc trong dòng tiền. Từ đó, để nắm bắt tốt mức độ rủi ro thị trường mà một doanh nghiệp phải gánh chịu cũng như khả năng xuất hiện những khoản lỗ tiềm ẩn được gọi là Phương pháp giá trị có rủi ro (VaR). Có 2 cách hiểu về VaR:

VaR là một phương pháp đo lường tính bằng tiền của khoản lỗ tối thiểu dự kiến trong một thời kỳ với một xác suất cho sẵn. VaR là cách thức xác định phân phối xác suất của những nguồn gốc cơ bản (giá cả hàng hóa, lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán) dẫn đến rủi ro và tìm cách cô lập tỷ lệ phần trăm xuất hiện các kết quả xấu nhất. Nguyên tắc việc sử dụng VaR khi phân phối những thay đổi trong giá trị danh mục là liên tục. Do đó, chúng ta sẽ sử dụng đồ thị hình chuông mặc dù trong một số trường hợp, việc sử dụng này là không thích hợp. Tại 5%VaR có độ lệch chuẩn 1,65 so với thay đổi kỳ vọng trong giá trị danh mục. Tại 1% VaR sẽ dịch chuyển 2,33 độ lệch chuẩn dưới giá trị kỳ vọng. 3 phương pháp đo lường VaR a. Phương pháp phân tích (Phương pháp hiệp phương sai-phương sai) Tính toán VaR cho danh mục gồm N chứng khoán Phương pháp này sử dụng những hiểu biết về các giá trị nhập lượng và những mô hình định giá với giả định đây là phân phối chuẩn. Rủi ro danh mục phụ thuộc vào rủi ro của từng chứng khoán thành phần và hệ số tương quan giữa những chứng khoán này với nhau. Khi số lượng chứng khoán cấu thành nên danh mục đủ lớn thì rủi ro danh mục lúc này chỉ còn phụ thuộc vào hệ số tương quan giữa những chứng khoán thành phần Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục là bình quân gia quyền tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của N chứng khoán:

E(Rp) = Wi*E(Ri)
Đô lệch chuẩn:

Đối với danh mục đầu tư, độ lệch chuẩn danh mục đầu tư tính toán theo Harry Markowitz:

Công thức này cho thấy cho thấy độ lệch của danh mục đầu tư là một phần giá trị trung bình của những phương sai riêng lẻ công với tỷ trọng hiệp phương sai giữa những chứng khoán trong danh mục. Tính toán hiệp phương sai những tài sản trong danh mục: Hiệp phương sai đo lường sự biến thiên cùng nhau của 2 biến ngẫu nhiên. Nếu 2 biến có xu hướng thay đổi cùng nhau thì hiệp phương sai giữa 2 biến này có giá trị dương ( 0<ρ<=1) và ngược lại. Độ lớn của hiệp phương sai phụ thuộc vào phương sai của những chuỗi tỷ suất sinh lợi cụ thể cũng như mối quan hệ giữa những chuỗi tỷ suất sinh lợi (ρ). Ma trận phương sai-hiệp phương sai cho danh mục gồm N chứng khoán

Những cột nằm dọc theo đường chéo phương sai (ô màu vàng) và những hộp còn lại chứa đựng hiệp phương sai ( ô màu trắng). Sau khi đã tính toán được Tỷ suất sinh lợi trung bình danh mục (E(Rp)) và đô lệch chuẩn danh mục σ, chúng ta sẽ tính toán giá trị VaR của danh mục với một xác suất cho trước

Xác suất 1% 5%

α
2,33 1,65

Tỷ suất sinh lợi ứng với mức xác suất nhỏ hơn tỷ suất sinh lợi kỳ vọng là: R = E(Rp) – α* σ

VaR = R* Vốn đầu tư
Tính toán VaR đối với danh mục có chứa quyền chọn VaR đối với danh mục có chứa quyền chọn sử dụng mô hình Black-Scholes Giả định đối với một danh mục bán quyền chọn mua chỉ số với giá giao ngay là So; giá thực hiện là X và đáo hạn trong khoảng thời gian T. Ta có mô hình Black-Scholes định giá quyền chọn theo công thức:

Giá quyền chọn cũng chính là nguồn thu về đối với người bán quyền chọn. Với một xác suất cho trước cùng với việc sử dụng những thông tin để tính toán ra tỷ suất sinh lợi trung bình của danh mục, đô lệch chuẩn của danh mục tương tự như phương pháp phương sai-hiệp phương sai ở phần trên, ta dễ dàng tính được mức giá đáo hạn. Nếu mức giá đáo hạn lớn hơn mức giá thực hiện thì chênh lệch giữa giá đáo hạn và giá thực hiện chính là khoản lỗ ròng. Như vậy khoản lỗ ròng này chính là VaR của bán quyền chọn mua. Đối với phương pháp tính toán VaR cho danh mục gồm N chứng khoán, chúng ta đã giả định các tỷ suất sinh lợi tuân theo quy luật phân phối chuẩn. Tuy nhiên những phân phối tỷ suất sinh lợi của quyền chọn danh mục thường không phải là một phân phối chuẩn. Vì vậy rất khó để xác định tỷ suất sinh lợi của quyền chọn. Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cũng như phương sai của vị thế quyền chọn cũng không cho chính xác kết quả mong muốn. Do đó, để xác định kết quả của quyền chọn, ta sẽ sử dụng delta thay cho mô hình định giá quyền chọn

Phương pháp sử dụng Delta Delta là điều chỉnh tuyến tính của thay đổi giá tài sản cơ sở đối với thay đổi giá quyền chọn. Khi kết quả của phân phối chuẩn được điều chỉnh theo dạng tuyến tính, kết quả vẫn giữ nguyên dạng phân phối chuẩn. Như vậy phương pháp chuẩn Delta đã tuyến tính hóa phân phối quyền chọn, chuyển phân phối quyền chọn sang phân phối chuẩn. Delta = Thay đổi trong giá quyền chọn/ Thay đổi trong giá tài sản cơ sở Tuy nhiên việc sử dụng Delta chỉ phù hợp với sự thay đổi nhỏ trong tài sản cơ sở. Chú ý về giả định sử dụng giá trị kỳ vọng bằng zero cho phương pháp phân tích Phương pháp VaR sử dụng phương pháp phân tích giả định giá trị kỳ vọng bằng zero. Giả định này thường sử dụng do đơn vị thời gian 1 ngày là thời kỳ dung để sử dụng tính VaR và tỷ suất sinh lợi hằng ngày thường rất nhỏ và hay gần với zero. Bởi vì tỷ suất sinh lợi kỳ vọng thường là số dương trong giới hạn thời gian dài, chuyển thành phân phối bằng cách giả định giá trị kỳ vọng bằng zero sẽ ra kết quả một khoản lỗ lớn, theo đó VaR ước tính sẽ lớn hơn. Sự điều chỉnh nhỏ này cho ta một kết quả khá lớn và tránh được vấn đề về ước tính tỷ suất sinh lợi kỳ vọng , một công việc hơi cực khổ hơn là tính toán những thay đổi giá trị. Mặt khác, lợi ích của việc điều chỉnh này làm cho việc điều chỉnh VaR dễ hơn trong khoảng thời gian khác nhau. Thuận lợi của phương pháp phân tích Thuận lợi của phương pháp phân tích chính là sự đơn giản bao gồm giả định tỷ suất sinh lợi tuân theo quy luật phân phối chuẩn. Dựa vào phân phối chuẩn thì có thể dễ dàng dựa vào phương sai như một cách tính rủi ro. Bất lợi của phương pháp phân tích Thuận lợi của phương pháp phân tích cũng chính là bất lợi của phương pháp này. Do việc chấp nhận phân phối chuẩn tỷ suất sinh lợi danh mục trong khi quyền chọn lại không tuân theo quy luật này. Như vậy, khi danh mục bao gồm quyền chọn , việc chấp nhận phân phối chuẩn để ước lượng VaR sẽ không chính xác. Do đó, đối với quyền chọn phải sử dụng phương pháp Delta.

b. Phương pháp lịch sử Phương pháp lịch sử ước tính phân phối xác suất vầ kết quả của danh mục bằng cách sử dụng dữ liệu giá cả quá khứ và sử dụng kết quả này để đánh giá phân phối xác suất trong tương lai. Từ đó, tính toán khoản lỗ vượt quá với một xác suất cho trước. Khi sử dụng phương pháp lịch sử, ta phải luôn nhớ rằng mục đích của thực hiện này là áp đặt sự thay đổi của giá lịch sử vào danh mục hiện tại trong khi danh mục một nhà đầu tư nắm giữ trong quá khứ có thể không giống vị thế của họ trong tương lai. Bên cạnh đó, trái phiếu hay các công cụ phái sinh cư xử rất khác trong những khoảng thời gian khác nhau. Cách tính toán VaR bằng phương pháp lịch sử: Sắp xếp chuỗi tỷ suất sinh lợi từ thấp đến cao (N tỷ suất sinh lợi). Xác định thứ tự của tỷ suất sinh lợi ứng với một xác suất cho trước. Gọi thứ tự đó là M M=α*N Sau khi xác định được thứ tự M, ta sẽ tìm được một tỷ suất sinh lợi tương ứng R. Từ đó ta dễ dàng tính được VaR VaR = R * Vốn đầu tư Thuận lợi của phương pháp lịch sử Phương pháp lịch sử có thuận lợi là không có tham số, giúp người dung tránh được những giả định về phân phối xác suất tỷ suất sinh lợi. Bất lợi của phương pháp lịch sử Bất lợi của phương pháp này là dựa hoàn toàn vào dữ liệu quá khứ và bất kể phân phối nào trong quá khứ chiếm ưu thế cũng không có ảnh hưởng gì đến tương lai. Đặc biệt, trong quá khứ tỷ suất sinh lợi bất thường do ảnh hưởng cùa sự kiện nào đó cũng không được đánh giá đầy đủ. c. Phương pháp mô phỏng Monte Carlo Mô phỏng cho phép người lập mô hình tương tác với các tình huống có thể xảy ra khác nhau. Khả năng của các mô hình mô phỏng trong giải quyết các bài toán phức

tạp là cho phép thu được các kết quả khác nhau ứng với các tình huống khác nhau, phân tích những hành vi biến động trong ngắn hạn. Do đó mô phỏng trở thành công cụ hữu ích với các nhà quản trị. Mô phỏng Monte Carlo đưa ra những kết quả ngẫu nhiên nhờ vào những phân phối xác suất đượ giả định và một loạt những biến số đầu vào. Theo đó, ta sẽ phân tích những kết quả để tìm ra rủi ro liên quan với những sự kiện. Khi đánh giá VaR, ta dùng mô phỏng Monte Carlo để đưa ra những tỷ suất sinh lợi danh mục một cách ngẫu nhiên. Mô phỏng này ta có thể giả định bất kỳ phân phối xác suất nào mà ta cho là thích hợp. Trong nhiều ứng dụng thực tế, giả định về phân phối chuẩn của tỷ suất sinh lợi không còn đúng nữa. Đặc biệt đối với những sản phẩm phái sinh, vấn đề quản trị rủi ro của những công cụ này được bao gồm bởi nhiều yếu tố với những tham số ngẫu nhiên có thể ảnh hưởng đến vị thế tổng hợp trong khi những tham số này thường không phải phân phối chuẩn và hơn nữa chúng thường tác động qua lại với nhau một cách phức tạp. Thuận lợi của phương pháp mô phỏng Monte Carlo Đây là phương pháp linh hoạt nhất bởi vì nó cho phép người sử dụng giả định mức phân phối xác suất bất kỳ và có thể nắm giữ các danh mục tương đối phức tạp. Bất lợi của phương pháp mô phỏng Monte Carlo Phương pháp này đòi hỏi tính toán bằng máy tính nhiều nhât với tính chính xác càng cao khi số lượng mô phỏng càng lớn. Mặc dù vậy, phần lớn sự phát triển trong lĩnh vực công nghệ thông tin đã làm cho phương pháp Monter Carlo trở thành kỹ thuật quản trị rủi ro hàng đầu. 3. Quản trị các loại rủi ro khác ngoài rủi ro thị trường Ngoài rủi ro thị trường còn có những loại rủi ro khác. Do đó, phần này ta sẽ phân tích thêm một số loại rủi ro khác vừa đề cập. a. Rủi ro tín dụng Là rủi ro mà bất cứ người cho vay nào cũng phải gánh chịu. Đó chính là rủi ro mất khả năng chi trả từ người đi vay khi có yêu cầu. b. Rủi ro hoạt động

Rủi ro này xuất hiện do năng lực của nhà quản lý hoặc do những lỗ hổng trong các giao dịch phái sinh, hoặc do hệ thống máy tính gặp trục trặc, hoặc hệ thống quản trị rủi ro của doanh nghiệp không phù hợp. Rủi ro hoạt động ít khi xuất hiện nhưng khi đã xuất hiện, chúng có khả năng gây ra những tổn thất đáng kể. c. Rủi ro thanh khoản Là rủi ro liên quan đến một giao dịch do tình trạng thị trường chợ chiều, được thể hiện qua việc có ít các dealer và chênh lệch giá mua-giá bán khá lớn. d. Rủi ro kế toán Là sự không chắc chắn trong cách xử lý các nghiệp vụ kế toán đặc trưng cho các giao dịch phái sinh. Rủi ro này có thể xảy ra do quy trình và quy định về kế toán thay đổi hay chưa được xây dựng. e. Rủi ro thanh toán Là rủi ro thường gặp trong các giao dịch thanh toán quốc tế, trong đó một công ty có giao dịch hai chiều với một đối tác khác và gặp rủi ro lá khoản thanh toán của mình đã được chuyển đi trong khi chưa nhận được khoản thanh toán của bên kia, có thể do nguyên nhân phá sản , không có khả năng thanh toán hay lừa đảo. f. Rủi ro về các quy định Là rủi ro mà các điều lệ hoặc kiểu quy định thay đổi không dự kiến trước được. Rủi ro này mang tính chất lây lan trên thị trường tài chính. Ví dụ: Rủi ro do ảnh hưởng của cuộ khủng hoảng tài chính toàn cầu….

II: NGHIÊN CỨU CÁC PAPER MỞ RỘNG LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH III: CHẠY MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG RỦI RO THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM 1. Đo lường VaR cho danh mục gồm 10 chứng khoán a. Dữ liệu

Dữ liệu thu thập là giá đóng cửa của 10 chứng khoán đươc chọn từ 10 công ty trong khoảng thời gian 1 năm (Từ 1/6/2011 đến 30/6/2012). Các công ty được chọn có mức vốn b. Kết quả đo lường VaR theo các phương pháp 2. Đo lường Var cho danh mục Vn30 a. Dữ liệu b. Kết quả đo lường VaR theo các phương pháp

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->