Một vài nột lý luận các chính phủ thường sử dụng chính sách tài khóa và chính sách

tiền tệ tín dụng nhằm mục tiêu ổn định kinh tế. hệ thống các chính sách kinh tế vĩ mô tác động tới tổng cầu được trỡnh bày trong khung dưới đây: tăng tổng cầu nới lỏng chính sách tài khóa gồm: (i) tăng chi tiêu cp; (ii) giảm thuế suất; (iii) tăng chi chuyển nhượng (chi không cần hàng hóa hay dịch vụ đáp lại như chi lương hưu, trợ cấp, bảo hiểm...) (tranfer payments). nới lỏng chính sách tiền tệ gồm: (i) mua chứng khoán trên thị trường mở; (ii) giảm những yêu cầu về dự trữ; (iii) giảm lói suất chiết khấu. khuyến khích người tiêu dùng và nhà kinh doanh tin và tăng chi của khu vực tư nhân. tăng tốc độ lưu thông tiền tệ hay giảm lói suất. tăng kỳ vọng lạm phát (inflationary expectations). tăng xk rũng gồm: (i) giảm nk; (ii) tăng xk. giảm tổng cầu 1. chính sách tài khóa thắt chặt: (i) giảm chi tiêu cp; (ii) tăng thuế suất; (iii) giảm chi chuyển nhượng. 2. chính sách tiền tệ thắt chặt: (i) bán chứng khoán ở thị trường mở; (ii) tăng các yêu cầu dự trữ; (iii) tăng lói suất chiết khấu. 3. giảm niềm tin của người tiêu dùng và dn nhằm hạ thấp chi tiêu khu vực tư nhân. 4. giảm tốc độ lưu thông tiền tệ hay tăng lói suất 5. giảm kỳ vọng lạm phỏt 6. giảm xk thuần: (i) tăng nk; (ii) giảm xk

rừ ràng, khi chớnh phủ cho rằng tổng cầu ở mức quỏ thấp thỡ phải ỏp dụng chớnh sỏch tài khúa - tiền tệ nới lỏng để kích thích tổng cầu. ngược lại, nếu cho rằng tổng cầu quỏ cao thỡ chớnh phủ phải thực hiện chớnh sỏch thắt chặt tài khúa và tiền tệ. trong trường hợp tổng cầu vừa phải, về dài hạn, chính phủ nên chọn chính sách tài khúa thắt chặt và chính sách tiền tệ nới lỏng để khuyến khích đầu tư và tăng trưởng kinh tế. tuy vậy, chính sách tài khóa thắt chặt thường dẫn 1 đến cắt giảm đầu tư vào các công trỡnh cụng cộng (một phần trong chi tiờu của chớnh phủ). chớnh vỡ vậy, chớnh phủ phải cõn nhắc giữa lợi ớch của việc cắt giảm đầu tư nhà nước với lợi ích tăng đầu tư tư nhân do chính sách tiền tệ nới lỏng tạo ra. Thực trạng giai đoạn 2006-2010 giai đoạn 2006-2007, chính sách tài khóa – tiền tệ việt nam đều nới lỏng nhằm tập trung hoàn thành 2 nhiệm vụ cơ bản là ưu tiên tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô với gdp năm 2006 tăng 8,17%, năm 2007 tăng 8,48% và cpi tăng lần lượt 6,6% và 12,63% đi đôi với thặng dư cán cân vốn và tăng dự trữ ngoại tệ. tổng thu nsnn liên tục vượt dự toán, năm 2006 thực hiện thu được 350.482 tỷ đồng, tăng tới 47,5% so với dự toán và tương đương 36%gdp. đại đa số các khoản thu thuế đều vượt dự toán. thu từ dầu thô đạt 83.346 tỷ đồng, vượt tới 31% so với dự toán, chiếm 23,7% tổng thu nsnn và tổng thu từ hàng hóa xnk đạt 42.825 tỷ đồng, tuy chỉ vượt 7,06% so với dự toán, nhưng vẫn chiếm 12,2% tổng thu nsnn.

tổng chi nsnn đạt 346.017 tỷ đồng, vượt tới 31,5% so với dự toán, tương đương 35,5%gdp (cao hơn hẳn so với mức bình quân giai đoạn 2001-2005 là 28,5%gdp). chi đtpt đạt 88.341 tỷ đồng, vượt 8,3% dự toán, chiếm 25,5% tổng chi nsnn. các con số tương ứng của chi thường xuyên là 180.069 tỷ đồng, vượt 5,8% và chiếm 52%. trừ chi cải cách tiền lương, tất cả các khoản chi ngân sách khác đều vượt dự toán. bội chi nsnn năm 2006 tiếp tục duy trì ở mức an toàn (0,9%gdp - bằng một nửa so với dự toán 1,8%gdp theo tiêu chuẩn quốc tế và xấp xỉ 5% theo tiêu chuẩn việt nam) được bù đắp chủ yếu bằng vay trong nước (73,8%) và vay nước ngoài (26,2%). tuy vậy, tỷ lệ bội chi nsnn theo tiêu chuẩn việt nam cao hơn mức bình quân 4,86%gdp giai đoạn 2001-2005. nợ nước ngoài và nợ chính phủ duy trì trong giới hạn đảm bảo an ninh tài chính. nsnn đủ khả năng chi trả nợ gốc (3,2%gdp) và chi trả nợ lãi (4,9% tổng chi thường xuyên) đúng hạn. năm 2006 thực hiện phát hành 48.613 tỷ đồng vay bù đắp bội chi nsnn. vay nợ của chính phủ góp phần phát triển thị trường tài chính theo thông lệ quốc tế, tuy nhiên, lãi suất trái phiếu chính phủ chưa trở thành lãi suất chuẩn trên thị trường, hơn nữa, tới 2/3 số vay phát hành mới trong nước là để trả nợ gốc và phát sinh những lo ngại về hiệu quả của các hoạt động tài chính phát sinh ngoài ngân sách như vay về cho vay lại theo cơ chế tín dụng ưu đãi. năm 2006, nhnn cơ bản không thay đổi chính sách tiền tệ so với năm 2005 với lãi suất cơ bản 8,25%, lãi suất tái cấp vốn 6,5% và lãi suất tái chiết khấu 4,5% đồng thời giữ nguyên tỷ lệ dự trữ bắt buộc 5,0-8,0% đối với tiền gửi dưới 2

chính sách tiền tệ có xu hướng thắt chặt. (ii) nếu 2007-2008 không đạt được tốc độ tăng gdp cao thì kế hoạch 2006-2010 khó hoàn thành1.5% năm 2007 như quyết tâm của chính phủ trước quốc hội. tác động trực tiếp tới thay đổi chiến lược trong phối hợp chính sách tài khoá và chính sách tiền. (iii) các tổ chức quốc tế đều tin (và mong) việt nam sẽ tăng trưởng 8-8. tốc độ tăng trưởng tín dụng cũng giảm từ 41% năm 2004 xuống 26% năm 2005 và 21% năm 2006. ít nhất là trong năm 2007 vì: (i) tốc độ tăng trưởng gdp cao trở thành yếu tố chính trị quan trọng của chính phủ mới trong khi các vấn đề khác như chống tham nhũng. tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán (m2) giảm từ 30% năm 2004 xuống 26% năm 2005 và còn 25% năm 2006.5% và đẩy mạnh mua usd từ các nhtm với mong muốn hạn chế sự tăng giá của vnd so với usd song do dư cung ngoại tệ tỷ giá danh nghĩa vnd/usd khó tăng lên. chất lượng tăng trưởng có thể bị bỏ qua. mặc dù nhnn đã điều chỉnh tăng biên độ tỷ giá hối đoái từ 0. tăng trưởng kinh tế khả quan về mặt tốc độ. (iv) diễn biến kinh tế tài chính thế giới rất khó lường nên chính phủ việt nam muốn tận dụng cơ hội để tăng trưởng nhanh khi có thể. lãng phí. tình hình kinh tế – tài chính vĩ mô việt nam đã có những thay đổi quan trọng từ nửa đầu năm 2007. theo đó. nhằm góp phần kiềm chế lạm phát. . bức xúc xã hội không hứa hẹn có tiến bộ rõ rệt. do tác động của tự do hóa lãi suất nên chính sách lãi suất của nhnn ngày càng giảm ảnh hưởng đối với các nhtm. trong khi nghiệp vụ thị trường mở (omo) chưa thực sự phát triển và hoàn thiện.25% lên 0. đồng việt nam chỉ mất giá 1% so với usd trong khi chênh lệch đáng kể trong tốc độ tăng cpi nên thực chất vnd lên giá so với usd theo tỷ giá thực.12 tháng và 2% đối với tiền gửi 12-24 tháng.

bình quân 7.5%/năm (năm đầu tiên kh 1991-1995 gdp tăng 5. giai đoạn 2006-2010. cả cần lưu ý là xu hướng tăng gdp của việt nam trong 3 kế hoạch 5 năm gần đây rất không đều. có xu hướng tăng nhanh do: (i) tác động giá cả quốc tế đến giá các mặt hàng chiến lược phải nhập khẩu hầu như toàn bộ như xăng dầu. để đạt mục tiêu tăng trưởng cao. phôi thép. bình quân 8. ngược lại. chất lượng và vệ sinh an toàn. thị trường nhiều mặt hàng thiết yếu bị buông lỏng quản lý cả về giá cả. nguyên liệu đầu vào của phần lớn các ngành công nghiệp chủ lực. xuống đáy vào năm 1999 (4. năm sau cao hơn năm trước. kh 2001-2005 tăng 6. (iv) tác động của tăng trưởng kinh tế dựa vào tăng vốn đầu tư dẫn đến tăng trưởng nóng.54%).diễn biến giá cả lạm phát năm 2007 phức tạp.43%). 3 dịch vụ thông thường cũng như cao cấp.5-9%. (v) kỳ vọng về tăng trưởng và tăng thu nhập kích thích tiêu dùng cả hàng hoá thiết yếu cũng như lâu bền. giai đoạn 1996-2000. (iii) điều hành cơ chế và chính sách quản lý giá lúng túng.81%. chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đã nới lỏng rất mạnh . cpi năm 2007 cao hơn kế hoạch (kế hoạch là cpi thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế) lên đến 8.5%/năm.89%. kế hoạch 2001-2005 lại lặp lại năm sau cao hơn năm trước. đến đỉnh năm 2005 (8. năm sau lại thấp hơn năm trước.2%/năm. bình quân 7%/năm. nếu theo diễn biến như giai đoạn 1991-1995 và 2001-2005 thì triển vọng tăng trưởng kinh tế có thể tới 8.77%). năm năm 19911995. đạt đỉnh vào năm 1995 (9.34%). (ii) thiên tai dịch bệnh bùng phát trong nông nghiệp làm giá lương thực thực phẩm tăng nhanh. nếu diễn biến như thời kỳ 1996-2000 (có tác động khủng hoảng khu vực và tâm lý lạc quan quá đà đi đôi với giảm tốc độ đổi mới cải cách) thì gdp 2006-2010 có thể chỉ tăng bình quân 6-6.5%/năm (năm đầu tiên kh 1996-2000 gdp tăng tới 9.

trong năm 2007 bất chấp hậu quả gia tăng lạm phát. kế hoạch vay nợ. thâm hụt nsnn vẫn trong giới hạn an toàn như cam kết với quốc hội (dưới 5%gdp) đi đôi với các chỉ số về nợ công trong giới hạn an toàn. thu chi nsnn đến năm 2007 đều đạt và vượt kế hoạch năm như “truyền thống” hàng chục năm nay. rất tiếc là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ năm 2007 đã không có những điều chỉnh kịp thời trước những thay đổi của diễn biến kinh tế – tài chính vĩ mô việt nam. hơn nữa. bên cạnh đó. thị trường tín dụng ngân hàng nên hạn chế vai trò kiểm soát lạm phát của chính sách tiền tệ.3%) và chi trả nợ. vốn đầu tư từ nsnn vẫn vượt 4. do diễn biến kinh tế tài chính thế giới rất khó lường nên chính phủ việt nam muốn tận dụng cơ hội để tăng trưởng nhanh khi có thể2. tăng trưởng kinh tế năm 2007 xấp xỉ mục tiêu kế hoạch là 8. của chính phủ chưa có sự phối hợp đồng bộ với sự phát triển của thị trường tiền tệ. khối lượng chi thường xuyên (vượt dự toán 9. viện trợ tăng gây áp lực tăng tốc độ lạm phát.9% so với dự toán mặc dù có tình trạng chậm giải ngân những tháng đầu năm (đã thành thông lệ) song lại dồn dập giải ngân vốn nsnn những tháng cuối năm cho kịp kế hoạch. . vấn đề quản lý rủi ro trong sử dụng các nguồn thu ngoài nsnn như vay nợ trong nước và quốc tế về cho vay lại chưa được quan tâm đúng mức có thể dẫn đến rủi ro trong môi trường kinh tế tài chính vĩ mô. tăng tốc độ giải ngân vốn nsnn những tháng cuối năm đi đôi với chi cải cách tiền lương theo đúng lộ trình.77% năm 1999 do tác động của khủng hoảng tài chính khu vực.5% tốc độ tăng gdp cao nhất trong 10 năm qua trong xu hướng tăng kể từ khi tăng trưởng chạm đáy 4. thêm vào đó. kể cả phát hành trái phiếu và tín phiếu.

(v) kỳ vọng về tăng trưởng và tăng gdp hai năm 2006-2007 đều tăng trên 8% và kế hoạch 2008 là 9% trong khi mục tiêu đặt ra cho cả giai đoạn 2006-2010 chỉ có 7. cpi năm 2007 lên tới 12.63% . cả dịch vụ thông thường cũng như cao cấp. thâm hụt nsnn năm 2007 vẫn trong giới hạn an toàn như cam kết với quốc hội (dưới 5%gdp) và được bù đắp chủ yếu bằng nguồn vay trong nước (trên 3/4) . nguyên liệu đầu vào của phần lớn các ngành công nghiệp chủ lực3.3%) do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do: (i) tác động giá cả quốc tế đến giá các mặt hàng chiến lược phải nhập khẩu hầu như toàn bộ như xăng dầu. 3 cuối năm giá xăng a92 đã lên mức cao nhất từ trước đến nay là 13.hàng do các biện pháp tăng cung tiền trước áp lực của dòng ngoại tệ đổ vào quá lớn. chưa thoát khỏi tư duy kế hoạch hóa tập trung. (iii) điều hành cơ chế và chính sách quản lý giá lúng túng.5-8%/năm cho thấy chính phủ muốn “chớp cơ hội” tăng trưởng nhanh khi có thể. nguyên nhân quan trọng nhất là mất cân đối tiền . phôi thép.000 đ/lít khi giá dầu thế giới gần 100 usd/thùng. do các nguyên nhân gây ra cpi cao của năm 2007 vẫn chuyển toàn bộ sang năm 2008 nên cpi năm 2008 cũng cao hơn kế hoạch (kế hoạch ban đầu là cpi thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế).diễn biến giá cả lạm phát phức tạp. (ii) thiên tai dịch bệnh bùng phát trong nông nghiệp làm giá lương thực thực phẩm tăng nhanh. 4 thu nhập kích thích tiêu dùng cả hàng hoá thiết yếu cũng như lâu bền. (iv) tác động của tăng trưởng kinh tế dựa vào tăng vốn đầu tư dẫn đến tăng trưởng nóng.mức cao nhất kể từ năm 1995 (nếu tính bình quân năm thì cpi tăng 8.

(ii) hiệu lực điều tiết thị trường của các công cụ lãi suất của nhnn không cao. áp lực cạnh tranh buộc lãi suất cho vay và huy động tiền gửi cả nội tệ của các nhtmcp có xu hướng tăng (đối với ngoại tệ sẽ giảm) và các nhtmcp bước vào cuộc chạy đua tăng lãi suất nội tệ trong năm 2008. cả năm 2007 và từ đầu năm 2008. nhất là đối với tín dụng cho khu vực kinh tế ngoài nhà nước. một mặt nhằm nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. trọng tâm chính sách vĩ mô năm 2008 là kiểm soát luồng vốn vào thông qua các biện pháp về tỷ giá hối đoái.5%). giảm áp lực dư thừa ngoại tệ. từ 28/5/2007. đặc biệt là khi thị trường tpcp thứ cấp được đẩy mạnh giai đoạn 2008-20104. chi tiêu chính phủ để cải thiện khả năng hấp thụ nguồn vốn nước ngoài. kiểm soát vốn. đặc biệt là dư thừa usd. mặt khác nhằm tăng qui mô vốn khả dụng và tổng tài sản cho tương ứng với qui mô vốn sở hữu đã và đang tăng mạnh với sự hỗ trợ của khoản lợi nhuận . kiềm chế lạm phát. lãi suất tái cấp vốn (6. (iii) vnd lên giá tương đối so với usd trong khi lãi suất cơ bản usd liên tục giảm. tuy vậy.25%) ở mức độ ổn định như năm 2005-2006.đi đôi với các chỉ số về nợ công trong giới hạn an toàn. nhnn vẫn tiếp tục duy trì lãi suất chiết khấu (4. cho vay kinh doanh chứng khoán và kinh doanh bất động sản5 do: (i) sức ép thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tốc độ cao buộc phải nới lỏng chính sách tiền tệ. trước áp lực lạm phát tăng cao và không thể duy trì lãi suất thực dương nhưng nhnn vẫn không điều chỉnh tăng các loại lãi suất tương ứng hay/và tăng cường kiểm soát tín dụng chặt chẽ hơn.25%) và lãi suất cơ bản (8. nhnn tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm giảm bớt lượng tiền cung ứng. trung hòa ngoại tệ. đây là những nhân tố kích thích thị trường trái phiếu chính phủ phát triển.

8% . thực ra là từ quí iv năm 2007 với tham vọng tăng trưởng kinh tế tới 9% và lạm phát “thấp hơn tăng trưởng”. . việt nam bước vào năm 2008 đứng trước sự lựa chọn quyết định: tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bất chấp lạm phát hay ưu tiên kiềm chế lạm phát. nói cách khác ở mức một con số.cao hơn nhiều so với kế hoạch 21-22% và tổng phương tiện thanh toán cũng tăng tới 37% (con số này năm 2006 là 34% và năm 2005 là gần 30%). khi usd mất giá nghiêm trọng. giá dầu thô tăng vọt. vì vậy. 5 tổng dư nợ tín dụng cho nền kinh tế năm 2007 tăng tới 37. kinh tế mỹ lâm vào khủng hoảng tín dụng bất động sản. 5 quan điểm xuyên suốt 2007 của chính phủ và nhnn là cố định lãi suất và tỷ giá nên mặc dù nửa đầu năm tỷ giá hối đoái vnd/usd có xu hướng tăng6 do áp lực tốc độ lạm phát của việt nam cao hơn hẳn của mỹ và usd lên giá so với các ngoại tệ chủ chốt khác nhờ kinh tế mỹ tăng trưởng tốt với các chỉ số lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp được cải thiện. kể cả vay đầu tư và vay bù đắp thâm hụt ngân sách. tốc độ lạm phát cao không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến tầng lớp có thu nhập thấp và trung bình mà còn giúp giảm gánh nặng vay nợ bằng tiền đồng của chính phủ.03%). song nửa cuối năm. phương án thứ nhất được lựa chọn từ quí i năm 2008.tương đối khả quan thu được bắt đầu từ năm 2006 đến nay. giảm lạm phát có thể không phải là ưu tiên trước mắt của các nhà hoạch định chính sách từ góc độ áp lực trả nợ chính phủ song lạm phát cao có thể tác động tiêu cực tới mở rộng thị trường tpcp sơ cấp và hạn chế thị trường thứ cấp. … thì do việt nam thực hiện “neo” tỷ giá vào usd nên giá usd hầu như không thay đổi (giảm 0. hơn nữa. tự do hóa lãi suất không cho phép duy trì lãi suất thực âm trong thời gian dài.

hastc-index cũng rơi trở lại mốc xuất phát điểm ban đầu. xuất hiện trở lại những “cơn sốt ảo” usd.3% và gần 60% . sau khi vn-index qua đỉnh điểm 1. riêng giá nhóm hàng lương thực tăng tương ứng tới 74. vật liệu xây dựng. nền kinh tế việt nam đến cuối tháng 5 đầu tháng 6 năm 2008 đó mấp mộ .thấp hơn mục tiờu 6.57%. gdp cả năm chỉ tăng 6. gạo. sau hơn 1 thập kỷ dường như “bóng ma” lạm phát đang quay trở lại đe dọa những thành quả kinh tế xó hội mà chỳng ta đó đạt được. tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng bắt đầu suy giảm mặc dù tỷ lệ đầu tư tiếp tục ở mức cao.nhưng thực tế diễn ra không như những gỡ chỳng ta mong muốn.phá vỡ mọi dự tính của chúng ta về kiểm soát lạm phát ổn định kinh tế vĩ mô và cũn nghiờm trọng hơn khi việt nam cơ bản vẫn là nước nông nghiệp với nông dân vẫn chiếm trên 60% dân số và lực lượng lao động. lạm phỏt liờn tục leo thang và vượt ra khỏi mọi qui luật đó hỡnh thành từ hàng chục năm nay buộc việt nam phải điều chỉnh chính sách từ ưu tiên tăng trưởng sang ưu tiên kiềm chế lạm phát. thị trường chứng khoán hầu như chỉ đi xuống và thiết lập các đáy mới chỉ cũn bằng hơn ¼ đỉnh cao nhất – trên dưới 300 điểm vào cuối năm 2008.v.173 điểm vào 11/3/2007. giá cả tăng mạnh không chỉ trong dịp tết mậu tý mà cũn cả trong cỏc thỏng sau tết – trỏi hẳn với qui luật vận động của giá cả những năm gần đây. chỉ sau 6 tháng. v.8% so với thỏng 6 năm 2007 và 18.44% so với cuối năm 2007. tổng cục thống kờ cụng bố chỉ số cpi đó lờn tới 26.23% . thị trường bất động sản “đóng băng” ở mức giá cao “ngất ngưởng” sau khi đó ngốn hàng triệu tỷ đồng vốn trong cũng như từ nước ngoài. bên cạnh đó. vàng. thâm hụt thương mại cũng tăng vọt cho dù kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh. thép.

6 (i) các biện pháp kích cầu đầu tư nhằm vượt qua khủng hoảng tài chính khu vực 1997-1998 khởi nguồn từ đầu những năm 2000 và nỗ lực đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế lên cao đó làm cho hiệu quả đầu tư giảm sút nghiêm trọng. thâm hụt nsnn “triền miên” ở mức 5%gdp theo chuẩn việt nam cũng khoét sâu thêm cái hố “lạm phát”. mặc dự chỳng ta tuyờn bố thắt chặt tài khoỏ để gúp phần kiềm chế lạm phỏt song thực tế năm 2008.784 tỷ đồng. giá sắt thép. tỷ giá hối đoái là 16. trong đó hai nguyên nhân cơ bản là: ngày 14/6/2007. bên cạnh đó. chi nsnn vẫn lờn tới 549.8% dự toán.000 usd/tấn vào tháng 5 năm 2008 – khủng hoảng lương thực toàn cầu đó bỏo động đỏ hay giá dầu thô lên đỉnh 147 usd/thùng vào tháng 7/2008.2007 lên cao nhất là 16. vượt 37.500 vnd/lít lên 19. đi đôi với mở rộng tín dụng ngân hàng quá mức và có phần quá dễ dói tương tự như cho vay dưới chuẩn của mỹ từ nửa cuối năm 2007. thậm chí có thể xấp xỉ 7 vào năm 2008.310 vnd/usd.… cũng liên tục lập các kỷ lục mới và tất yếu tác động tức thỡ tới giỏ cả của một nền kinh tế cú độ mở lớn như việt nam với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tới trên 150%gdp. lạm phát cao năm 2007-2008 do nhiều nguyên nhân khác nhau. thức ăn chăn nuôi.000 vnd/lít vào 21/7/2008. giá xăng ron 92 tại việt nam lập kỷ lục tăng thêm tới 4.bờn bờ vực khủng hoảng.9. điển hỡnh như giá gạo lên tới trên 1. do những hạn chế trong dự báo thị trường nên việt nam lại phải chịu đựng thêm những thua thiệt không đáng có trước biến động . tương đương 548. (ii) theo bỏo cỏo của bộ tài chớnh. phân bón.529 tỷ đồng.125 vnd/usd và đến 6. (iii) lạm phát mang tính toàn cầu trong nửa đầu năm 2008 với giá cả nhiều hàng hóa chiến lược tăng vọt. vượt 70% dự toán. tương đương 37%gdp cũn tổng thu nsnn cũng tới 36. icor tăng lên đến trên 5 vào năm 2007. ngoài ra.8%gdp.

công cuộc chống lạm phát chỉ thực sự thay đổi kể từ nghị quyết số 10/2008/nq-cp ngày 17/4/2008 7 về cỏc biện phỏp kiềm chế lạm phỏt. (vii) an sinh xã hội. (iv) giảm nhập siêu. hay như liên tục giảm giá xăng dầu một cách “nhỏ giọt” tới 9 lần trong vũng hơn 4 tháng nhưng cũng khụng theo kịp sự mất giỏ tới 2/3 của giỏ dầu thụ quốc tế. ồ ạt mua phụi thộp giỏ cao dẫn đến tồn đọng khối lượng lớn trong khi giá thép trên thị trường quốc tế đó giảm rất mạnh. ổn định kinh tế vĩ mô. rồi đến chỉ thị số 05/2007/ct-btc ngày 26/12/2007 v/v bỡnh ổn giỏ trong dịp tết nguyờn đán mậu tý 2008 và chỉ thị số 319/ttg-ktth ngày 3/3/2008 v/v tăng cường các biện pháp kiềm chế lạm phát năm 2008. bỡnh ổn thị trường trong những tháng cuối năm 2007 và phục vụ tết nguyên đán mậu tý 2008. chưa đủ liều lượng và việc thực thi cũng không thật sự nghiêm túc. thực ra dấu hiệu lạm phát cao đó bắt đầu xuất hiện từ tháng 7/2007 và gần như ngay lập tức chính phủ đó quan tõm và cú biện phỏp đối phó với các chỉ thị số 18/2007/ct-ttg ngày 1/8/2007 về một số biện pháp cấp bách kiềm chế tốc độ tăng giá thị trường và chỉ thị số 23/2007/ct-ttg ngày 31/10/2007 v/v tăng cường thực hiện các giải pháp điều hành giá cả. chẳng hạn như việc dừng xuất khẩu gạo trong khi giá gạo xuất khẩu tăng cao. (vi) quản lý thị trường giá cả. v. (v) tiết kiệm. (iii) tăng cung. bảo đảm an sinh xó hội và tăng trưởng bền vững với 8 nhóm giải pháp: (i) thắt chặt tiền tệ. (viii) thông tin tuyên truyền. (ii) thắt chặt tài khóa. sau đó lại phải hỗ trợ để xuất khẩu gạo khi giá gạo đó xuống thấp.trên thị trường quốc tế.v. tuy nhiên. nội dung cơ bản của nghị quyết 10/2008/nq-cp được khẳng định một lần nữa bằng nghị quyết số . do chưa nhận định đúng về mức độ nghiêm trọng của vấn đề lạm phát nên các biện pháp đề ra đều chưa đúng hướng.

mặc dù chúng ta đó gần như không thực hiện chính sách thắt chặt tài khóa với tổng chi nsnn cả năm 2008 vượt cao so với dự toỏn cũng như so với thực hiện năm 2007.từ lạm phát cao sang giảm phát và suy thoái kinh tế . thêm vào đó. đặc biệt là tín dụng cho kinh doanh chứng khoán và kinh doanh bất động sản đó nhanh chúng đem lại những hiệu ứng mong muốn. qui mụ chi nsnn so với gdp vẫn ở mức rất cao và thu nsnn cũng tương tự song chỉ với chủ trương thắt chặt tiền tệ đi đôi với sự đảo chiều của thị trường quốc tế . lạm phát ở việt nam đó cú dấu hiệu lắng dịu và thậm chớ cpi xuống mức tăng âm vào quớ iii/2008 – chỉ sau hơn 5 tháng áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt. làm thay đổi hẳn bức tranh tiền tệ . nhnn việt nam đó 8 lần điều chỉnh lói suất cơ bản với 3 lần tăng liên tiếp và 5 lần giảm liên tiếp. trong khi sức mua đối nội của vnd bước đầu được phục hồi nhờ các biện . tác động của lói suất cơ bản tới mặt bằng lói suất tiền gửi – cho vay của cỏc nhtm hầu như bị triệt tiêu thỡ sang năm 2008.nên bắt đầu từ tháng 7/2008. vừa tăng lói suất cơ bản vừa hạn chế tăng tổng mức tín dụng dưới 30%.tín dụng ngân hàng trong một thời gian ngắn. đồng thời thắt chặt các điều kiện tín dụng. tất cả các lần điều chỉnh này đều tác động rất tích cực tới mục tiêu kiềm chế lạm phát mà chính phủ đó đặt ra như ưu tiên hàng đầu trong năm 2008. ổn định kinh tế vĩ mô. việc lựa chọn chính sách thắt chặt tiền tệ làm trọng tâm.20/2008/nq-cp ngày 29/8/2008 tiếp tục thực hiện các biện pháp kiềm chế lạm phát. sau một thời gian dài duy trỡ lói suất cơ bản ở mức thấp. bảo đảm an sinh xó hội và tăng trưởng bền vững trong những tháng cuối năm 2008.

vượt ra khỏi tầm kiểm soát và khả năng hấp thụ của nền kinh tế. . một mặt. việc tỷ giá hối đoái được duy trỡ tương đối ổn định trong bối cảnh usd liên tục trồi sụt so với các đồng tiền chủ chốt khác trên thế giới chứng tỏ việt nam vẫn kiên định chính sách tỷ giá hối đoái cố định nhằm góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. tuy nhiên.đến cuối năm 2008 đã có dấu hiệu rút ra mà chúng ta cũng chưa thể kiểm soát được. kết quả là cả cỏc dũng vốn đầu tư trực tiếp (fdi). mặt khác.pháp kiềm chế lạm phát sau một thời gian sụt giảm thỡ sức mua đối ngoại – tỷ giá vnd/usd . dòng vốn đầu tư gián tiếp sau khi ồ ạt đổ vào việt nam vượt khỏi tầm kiểm soát và trở thành một trong những tác nhân gây ra lạm phát năm 2007-2008 do nhnn dùng tiền đồng để mua vào lượng ngoại tệ khổng lồ này nhằm tăng dự trữ ngoại tệ . thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài tăng vọt với tổng số dự ỏn cấp mới tới 1557 dự án với tổng vốn đăng ký 71 tỷ usd.5 tỷ usd.cũng sụt giảm chút ít với tỷ giá bỡnh quõn cả năm 2008 ở mức 16. việt nam trở thành “vùng trũng” cho các dũng vốn nước ngoài đổ vào trong bối cảnh usd mất giá trị ở nhiều thị trường khác. tổng vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài thực hiện năm 2008 cũng đạt kỷ lục 11. chính sách tỷ giá hối đoái kém linh hoạt đó hầu như không có tác động đến thương mại và luân chuyển các luồng vốn quốc tế. cả vốn “ảo” (đăng ký và hứa hẹn) 8 ồ ạt đổ vào việt nam. bờn cạnh đó. cả vốn thật (chính thức và không chính thức). cả đầu tư gián tiếp (fii).600 vnd/usd. thâm hụt thương mại trở nên nặng nề mặc dù xuất khẩu đó cú những cố gắng đáng ghi nhận.

lần đầu tiên trong lịch sử. trong đó có việt nam. tuy khụng hẳn là gúi “kớch cầu” như ở nhiều nước khỏc nhưng gúi kớch thớch kinh tế năm 2009 vẫn dựa trờn nới lỏng mạnh đồng bộ cả chớnh sỏch tiền tệ và chớnh sỏch tài khoỏ. lộ trình thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế tài chính quốc tế đang diễn ra và nền kinh tế vừa phải trải qua giai đoạn lạm phát cao 2007-2008. gói hỗ trợ lãi suất 4% trị giá 17. toàn diện để đối phó với tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu đã lan rộng và tác động mạnh tới tất cả các nền kinh tế. đặc biệt là chi đầu tư và miễn giảm thuế. kết quả là dự trữ ngoại hối đã giảm từ 23 tỷ usd cuối năm 2008 xuống 16 tỷ usd cuối năm 2009 và chỉ còn chưa đầy 10 tỷ usd cuối năm 2010. bao gồm cỏc nội dung thỳc đẩy tăng tớn dụng.tình trạng vốn nước ngoài đảo chiều từ năm 2009 đã làm cho tình trạng thặng dư cán cân thanh toán tổng thể của việt nam nhanh chóng rơi vào thâm hụt do thặng dư tài khoản vốn luôn được dùng để bù đắp cho thâm hụt cán cân thương mại và thâm hụt tài khoản vãng lai triền miên. tăng chi tiờu nsnn. chúng ta đã kịp thời ban hành một gói kích thích kinh tế có qui mô lớn tới gần 10%gdp.000 tỷ đồng để cung cấp tín dụng ngắn hạn với lãi suất ưu đãi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang gặp khó khăn theo quyết định số 131/qđ/ttg ngày 23/1/2009 với qui mô khoảng 450. đặc biệt trong bối cảnh độ mở của nền kinh tế nước ta rất lớn với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên tới 160%gdp và vốn fdi đã chiếm tới gần 1/3 tổng vốn đầu tư toàn xã hội. năm 2009.000 tỷ đồng chiếm gần 1/4 tổng tín dụng. giảm và hỗ trợ lói suất. các quyết định số 443/qđ/ttg về mở rộng hỗ trợ lãi suất 4% cho vay trung và dài hạn tối đa 24 tháng thực hiện . về bản chất. từ tháng 4/2009.

trong đú. tổng chi nsnn năm 2009 là trờn 584 ngàn tỷ đồng. thu nhập cá nhân trong 6 tháng đầu năm 2009 và lệ phí trị giá khoảng 28.2% so với dự toỏn và chi thường xuyờn cũng lờn tới xấp xỉ 21%gdp.7% và tổng tín dụng cho nền kinh tế tăng 37. lãi suất cơ bản cũng được điều chỉnh giảm từ 8. nới lỏng chớnh sỏch tài khoỏ cũng được thực hiện mạnh mẽ. những kết quả đạt được là rất khả quan với tổng phương tiện thanh toán tăng 28. thông qua đó.795 tỷ đồng.đến 31/12/2011 và quyết định 497/qđ/ttg ngày về hỗ trợ lãi suất cho nông nghiệp nông thôn tiếp tục được triển khai. tổng chi an sinh xó hội lờn đến gần 22. chi trả nợ và viện trợ vượt 10. duy trì và mở rộng sxkd.7% so với năm 2008. tạo việc làm cho người lao động. bên cạnh đó.5% gdp năm 2008 lên . chiếm gần 31% tổng chi nsnn. tương đương 35.500 tỷ đồng.2% đạt 468.000 tỷ đồng và chịu tác động của giá dầu thô thấp nhưng tổng thu nsnn vẫn vượt dự toỏn 20.bằng một nửa so với mức đỉnh của năm 2008 và duy trì liên tục tới cuối tháng 11/2009. đặc biệt. hạ giá thành sản phẩm. giúp 9 cho nhiều doanh nghiệp tồn tại và đứng vững trước “cơn bão” khủng hoảng toàn cầu. cựng với chớnh sỏch tiền tệ nới lỏng. thu nhập doanh nghiệp. chi đầu tư phỏt triển tăng tới gần 60% so với dự toỏn. do tăng chi kớch thớch kinh tế nờn thõm hụt nsnn lờn tới 6. đặc biệt là tăng chi nsnn. tuy vậy. tăng 19% so với dự toỏn. nợ chính phủ cũng tăng từ 36.9%gdp. tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp tiếp cận lãi suất thấp. mặc dự đó thực hiện miễn giảm thuế vat.5% xuống 7% .26%gdp.

bội chi nsnn khoảng 6. tăng 2. mặc dự đõy là mức tăng trưởng gần như thấp nhất trong hai thập kỷ qua song vẫn là thành tựu đỏng ghi nhận trong bối cảnh suy thoỏi toàn cầu.32%. nguồn vốn đầu tư toàn xó hội khoảng 41.68% sau quớ ii. kim ngạch xuất khẩu tăng 6% so với năm 2009. vượt 14. quớ i chỉ tăng trưởng 3.1% thỡ sang quớ ii đó tăng 4.đến 40% gdp năm 2009 và năm 2010 khoảng 44% gdp và nợ nước ngoài khoảng 30.52% (bỡnh quõn cpi năm 2009 tăng 6.2% gdp) chúng ta tiếp tục chủ trương nới lỏng vả chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ thụng qua cỏc biện phỏp khụng mang tớnh cấp bỏch. như vậy. cpi so với thỏng 12/2008 chỉ tăng 1. nhằm đạt cỏc mục tiờu của năm 2010 (tốc độ tăng trưởng là 6. quớ iii tăng 5. tổng thu nsnn năm 2010 đạt 528. gúi kớch thớch kinh tế năm 2009 đó thành cụng.5%.8% và cả năm đạt 5. kết quả tổng hợp của gúi kớch thớch kinh tế năm 2009 là gúp phần tớch cực vào tốc độ tăng trưởng kinh tế quớ sau cao hơn quớ trước.100 tỷ.5%gdp.4% dự toán. tăng 4. đặc biệt là cỏc bài toỏn cõn đối kinh tế vĩ mụ để đảm bảo điều kiện cho tăng trưởng cao và bền vững. chỳng ta vẫn cơ bản đảm bảo được ổn định kinh tế vĩ mụ. lạm phát khoảng 7%. quớ iv tăng 6.32% sau quớ i. tương .5%gdp.5%.11% sau quớ iii và cả năm tăng 6. nếu so với cựng kỳ.76%. tỡnh thế như gúi kớch thớch kinh tế năm 2009. hơn nữa. gúp phần giải quyết được nhiều vấn đề cấp bỏch về duy trỡ tốc độ tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mụ trong bối cảnh chịu tỏc động sõu sắc của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng cũng đặt ra cho chỳng ta nhiều bài toỏn khú cần giải quyết.88% so với năm 2008). kiểm soỏt được lạm phỏt.

210 tỷ đồng. tương đương 22%gdp.5% dự toán. xuyên suốt cả năm 2010 là một thị trường tín dụng ngân hàng chịu sự chi phối của chính sách tiền tệ không thắt chặt mà cũng không nới lỏng với tốc độ tăng tổng tín dụng tương đối cao trong khi lói suất cho vay cũng khụng hề thấp. khi không cũn chớnh sỏch hỗ trợ lói suất 4% như trong . đõy là bước đi phự hợp với định hướng tự do hoỏ lói suất đó triển khai từ năm 2002 nhưng đó chững lại năm 2008 do phải đối phú với lạm phỏt dõng cao lờn mức 2 con số. mức thâm hụt nsnn tuy thấp hơn so với dự toán song cũng lên tới 10 3%gdp theo chuẩn quốc tế hay 5. đến cuối tháng 3/2010. từ đầu năm 2010.15%gdp. riêng chi đtpt vượt 19.1% dự toán đạt 428. trong thực tế. chính sách tiền tệ lại phải “vật lộn” với lạm phát cao vào quí i và quí iv cũng như lạm phát quá thấp vào quí ii và iii. chiếm hơn ¼ tổng chi nsnn và chi thường xuyên vượt 8.1%gdp. trong khi đó. đạt 588. tương đương 30. cỏc nhtm đó chuyển cỏc khoản cho vay ngắn hạn (chịu qui định trần lói suất cho vay 12%/năm sang cho vay trung dài hạn để ỏp dụng lói suất thoả thuận tới 16-20%/năm nờn lói suất cơ bản chỉ cũn đúng vai trũ tõm lý như tớn hiệu là nhnn việt nam sẽ thắt chặt hay nới lỏng chớnh sỏch tớn dụng núi riờng và chớnh sỏch tiền tệ núi chung.8%gdp theo chuẩn việt nam. tổng chi nsnn cũng vượt 1% dự toán. nhnn đó chớnh thức hoỏ lói suất cho vay ở mức 16-20%/năm thụng qua thụng tư số 07/2010/ttnhnn về ỏp dụng lói suất thoả thuận cho cỏc khoản tớn dụng trung và dài hạn.đương 27. nhnn việt nam cụng bố lói suất cơ bản vẫn giữ ở mức 8% trong thỏng 4/2010 như từ thỏng 12/2009 do từ 26/2/2010.210 tỷ.

trong đú bổ sung thêm 2 đối tượng được vay bằng ngoại tệ là các nhu cầu để thực hiện các dự án đầu tư. một nguyờn nhõn quan trọng khỏc khiến tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ tăng đột biến là do việc mở rộng đối tượng tiếp cận vốn theo thông tư số 25/2009/tt-nhnn. kinh doanh hàng húa dịch vụ xuất khẩu và cho vay bằng ngoại tệ để sử dụng trong nước nhưng phải bán số ngoại tệ vay đó cho tổ chức tín dụng cho vay.6%/năm và cho vay dài hạn 6% . phương án sản xuất.5%/năm vào cuối quí ii/2010 mặc dù nhnn đó tăng tính thanh khoản cho nhiều nhtm thông qua nghiệp vụ thị trường mở và thị trường liên ngân . thậm chí có ý kiến cho rằng việt nam đó hoàn toàn kiểm soỏt được lạm phát cả năm 2010 nên nhnn việt nam tiếp tục duy trỡ lói suất cơ bản ở mức 8% như từ thỏng 12/2009 nhằm phát tín hiệu về ổn định chính sách lói suất trong khi thực thi chớnh sỏch tớn dụng nới lỏng với mặt bằng lói suất cho vay phổ biến khoảng 13-14%/năm. tuy nhiên.năm 2009. cá biệt có những trường hợp lên tới 18-20%/năm nờn nhiều doanh nghiệp chuyển sang vay bằng usd do lói suất vay usd thấp hơn nhiều so với lói suất vay vnd trong khi rủi ro tỷ giỏ hối đoỏi chưa hiện hữu.2010 với lói suất huy động phổ biến ở mức xấp xỉ 12%/năm kèm theo nhiều hỡnh thức khuyến khớch người gửi tiền và lói suất huy động usd cũng tăng từ 5%/năm lên 5. lói suất cho vay bằng vnd liờn tục tăng cao lờn mức 16% 18%/năm.5% .8%/năm đủ sức hấp dẫn cỏc doanh nghiệp trong khi đại đa số cỏc doanh nghiệp đều kỳ vọng tỷ giỏ vnd/usd sẽ tương đối ổn định trong thời gian tới. cuộc đua tăng lói suất huy động vnd đó quay lại trong thỏng 5. cpi quí ii/2010 tăng quá thấp đó làm giảm đáng kể mối lo về lạm phát. lói suất cho vay usd ngắn hạn đầu thỏng 4/2010 chỉ 5. thờm vào đú.

để tăng trưởng kinh tế năm 2010 đạt 6. mặt khỏc tớn hiệu đó lại phát ra đúng vào thời điểm cầu tín dụng tăng mạnh theo tính “mùa vụ” của sản xuất kinh doanh và “room” tăng tín dụng ngân hàng cả năm cơ bản đó hết. xu thế lói suất trờn thị trường tiền tệ tín dụng vẫn không thể vận động theo yêu cầu của chính phủ là đưa lói suất huy động xuống mức 10%/năm và lói suất cho vay xuống 12%/năm. nhnn đó khụng điều chỉnh lói suất cơ bản từ 8% xuống mức 7% (theo đó điều chỉnh giảm cả lói suất tỏi cấp vốn và lói suất tỏi chiết khấu) từ thỏng 7/2010 nờn mặc dự chớnh sỏch tài khoỏ (chi nsnn) đó cú dấu hiệu nới lỏng rừ ràng thỡ chớnh sỏch tiền tệ vẫn chưa thể hiện sự nới lỏng cần thiết. nhnn đứng trước lựa chọn đối nghịch là tăng tổng tín dụng cả năm 2010 khoảng 25% đồng thời hạ mặt bằng lói suất nhằm phỏt những tớn hiệu mạnh mẽ hơn về nới lỏng chớnh sỏch tiền tệ để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 6.8% đồng thời cpi cả năm tăng 11. đến cuối quí iii và đầu quí iv/2010.75% so với cuối năm 2009 thỡ tốc độ tăng trưởng tín dụng ngân . tín hiệu thắt chặt chính sách tiền tệ phát ra dường như chưa đủ mạnh và rừ ràng. đầu tháng 11/2010. nhnn phải tăng lói suất cơ bản từ 8% lên 9% sau khi đó cố định nó suốt từ tháng 12/2009 với kỳ vọng thắt chặt chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát.11 hàng cũng như tuyên bố dư cung ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng và nhnn đó mua lại hơn 1 tỷ usd để tăng dự trữ ngoại hối. một mặt.5% trở lờn song nới lỏng tiền tệ trong bối cảnh mối lo ngại lạm phát dâng cao lại không khả thi và đặc biệt nguy hiểm. đúng như dự báo. trái với nhiều dự báo.

2%. các chính sách cơ bản là tài khóa (thuế và chi tiêu chính phủ). bài học kinh nghiệm từ những phõn tớch nờu trên.81% so với cuối năm 2009.3% so với cuối năm 2009 (mục tiêu là tăng 20%) và huy động vốn tăng 27. tiền tệ (cung ứng tiền. chúng ta thấy về phối hợp đồng bộ các cstk và cstt nổi lờn một số bài học quan trọng sau: 1. 12 2. đặc điểm quan trọng nhất của chính sách là độ trễ. chính sách tài khoỏ có độ trễ trong dài do thường phải thông qua . độ trễ trong là khoảng thời gian chính sách phản ứng trước những thay đổi của môi trường kinh tế. chính sách kinh tế vĩ mô được gọi là có hiệu quả nếu các mục tiêu của nó được thực hiện.3%. bên cạnh đó. tổng phương tiện thanh toán cũng tăng 25. trong đó tín dụng bằng vnd tăng 25. triển khai và dự báo những hiệu quả của chính sách.3%. đặc trưng của chính sách kinh tế vĩ mô là các mục tiêu của chúng phù hợp với từng giai đoạn phát triển nền kinh tế và đặc thù của mỗi quốc gia. tín dụng ngoại tệ tăng tới 49. lói suất.hàng năm 2010 đó vượt mục tiêu 25% và tăng tới 29. chúng ta phải đặc biệt quan tâm tới độ trễ của chính sách kinh tế vĩ mô trong quá trỡnh hoạch định. tớn dụng) và chớnh sỏch tỷ giỏ hối đoái (tỷ giá hối đoái và quản lý ngoại tệ). độ trễ ngoài là khoảng thời gian chờ đợi để chính sách phát huy tác dụng đối với nền kinh tế. chớnh sỏch kinh tế vĩ mụ núi chung. chính sách kinh tế vĩ mô không hoạt động riêng rẽ mà tập hợp thành một hệ thống có các mối quan hệ nội tại tác động qua lại với nhau. cstk và cstt nói riêng là một trong những công cụ quan trọng nhất của nhà nước để quản lý và điều hành nền kinh tế.

động cơ của các nhà hoạch định chính sách là đạt được cân đối bên trong và bên ngoài. cỏc mục tiờu này thường xuyên mâu thuẫn với nhau nên phải lựa chọn một/một số mục tiêu chủ yếu cho từng giai đoạn phát triển và tập trung sức mạnh của các chính sách để thực hiện mục tiêu đó. có tính tới đặc thù của nền kinh tế.nhiều cấp có thẩm quyền (như quốc hội) trước khi quyết định. đặt trong sự vận động và phát triển với mục tiêu của từng thời kỳ phát triển kinh tế. khắc phục những nhược điểm trong hoạch định và thực thi chính sách thời gian qua. phối hợp đồng bộ cstk và cstt là xõy dựng một hệ thống chớnh sỏch gắn bú chặt chẽ với nhau nhằm tạo nờn một tổng hợp lực thực hiện một/một số mục tiờu kinh tế . đồng thời. chính sách tiền tệ có độ trễ ngoài dài do các đơn vị sản xuất kinh doanh thường lập kế hoạch sản xuất kinh doanh từ trước. 3. tính đồng bộ của các chính sách kinh tế vĩ mô chỉ là tương đối nên phải phân tích và đánh giá nó một cách biện chứng. một trong những nguyên nhân cơ bản khiến chính sách kinh tế vĩ mô không đồng vộ là chính sách được hỡnh thành từ những cơ quan độc lập. nhanh nhạy và năng động). việt nam cần và có đủ điều kiện để phối hợp đồng bộ cstk và cstt. cần có các chính sách để triệt tiêu hay trung hũa những hậu quả tiêu cực do các chính sách khác gây ra.xó hội. vấn đề là phải đánh giá chính xác độ trễ của từng chính sách và nếu có thể cần rút ngắn độ trễ này (cơ chế hoạch định và thực thi chính sách có hiệu quả. việc phối hợp đồng bộ các chớnh sỏch của việt nam theo mụ hỡnh nền kinh tế hỗn hợp. 4. theo phương thức đỡều chỉnh dần để tiến tới đồng bộ. lại không .

tiến tới cân đối bên trong và bên ngoài. chuyển sang giai đoạn 1999-2010 nền kinh tế chuyển sang một giai đoạn phát triển mới với nhiều mục tiêu cao và khó thực hiện hơn đũi hỏi sự phối hợp cỏc chớnh sỏch kinh tế vĩ mụ đồng bộ. cũng như rà soát lại để đảm bảo tính thống nhất của các chính sách đó ban hành. ổn định kinh tế vĩ mô. đặc biệt các cân đối như ns. tích lũy-đầu tư. tăng cường sự chỉ đạo của chính phủ đảm bảo tính đồng bộ của các chính sách kinh tế vĩ mô. chính vỡ vậy. kiềm chế lạm phát. khoa học và nhuần nhuyễn hơn. chỳng ta phải cú sự phối hợp giữa cỏc cơ quan làm chính sách. thậm chí có xu hướng trầm trọng thêm. “bong . trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua. sơ khai và nhiều hạn chế giai đoạn 1986-1990. bắt đầu từ giai đoạn phôi thai 1986-1990. với việc đặt lên hàng đầu mục tiêu hạ tốc độ lạm phát xuống 2 con số. từ sự phối hợp cũn khập khiễng. mỗi cơ quan theo đuổi các ý đồ và lập luận riêng trong khi tổ chức điều hành thống nhất của chính phủ cũn nhiều đỉểm bất cập). chúng ta đó đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trong phối hợp cstk và cstt thực hiện 2 mục tiêu cơ bản là tăng trưởng kinh tế cao. tài khoản vóng lai vẫn chưa đạt được. tập trung (hiện tượng khá phổ biến ở nước ta hiện nay là các cơ quan hoạch định chính sách ít trao đổi hợp tác với nhau trong quá trỡnh làm chớnh sỏch. chặt chẽ và hiệu quả hơn. các nguy cơ lạm phát cao vẫn cũn.được liên hệ với nhau chặt chẽ do thiếu sự chỉ đạo thống nhất. tới giai đoạn 19911995 phối hợp các chính sách đó được nâng lên một tầm cao mới. đóng vai trũ quan trọng đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài suốt 15 năm. vừa đạt được tốc độ tăng gdp thuộc loại cao trên thế giới. vừa tiếp tục kiềm chế lạm phát. chúng ta cần tăng cường hơn nữa phối hợp giữa các bộ ngành trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô mới. bền vững. 13 5. đặc biệt là sự phối hợp hoạt động giữa bộ tài chớnh và nhnn việt nam. chúng ta đó ngày càng hoàn thiện việc phối hợp một cỏch hợp lý.

nguyờn nhõn của tỡnh trạng trờn là sự phối hợp đồng bộ trong mối liên hệ chiều dọc của từng chính sách cũn yếu kộm và dõy chuyền chớnh sỏch – cơ chế . muốn khắc phục tỡnh trạng này. thiếu nghiờm minh. chúng ta chưa hỡnh thành đồng bộ các yếu tố thị trường. thêm vào đó. tỡnh hỡnh kinh tế . chính sách tỷ giá chưa phát huy tác dụng tích cực như một công cụ hữu hiệu trong nền kinh tế mở). chính sách đúng nhưng cơ chế triển khai thực thi chính sách không đầy đủ và hữu hiệu. đầu tư trong nước tăng chậm. luật pháp cũn thiếu và cũn nhiều kẽ hở. thiếu nhất quán. thị trường tiền tệ chậm phát triển và bị hạn chế. chính xác và có hiệu quả.…. thị trường vốn cũn sơ khai và 14 .búng” trờn thị trường tài chính và thị trường bất động sản hỡnh thành. thường xuyên thay đổi (không ổn định) và chưa xây dựng được một chiến lược hoạch định chính sách khoa học và hợp lý. rủi ro tín dụng ngân hàng cao. cỏc mục tiờu chớnh sỏch tương đối đồng bộ và đúng đắn (nếu xét trên khía cạnh xây dựng và kết quả thực hiện cỏc mục tiờu chớnh sỏch) song hiệu quả chớnh sỏch khụng cao (chớnh sỏch tài khúa vẫn cũn để thâm hụt ns lớn.tài chớnh khu vực và thế giới diễn biến phức tạp. ảnh hưởng không nhỏ tới việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của nước ta. chi ns cũn rất lóng phớ. kết quả là cỏc mục tiờu chớnh sỏch khụng được thực hiện hoặc bị bóp méo. việc phối hợp cstk và cstt của ta gặp vướng mắc do bản chất các mục tiêu chính sách thường mâu thuẫn với nhau đũi hỏi lựa chọn mục tiờu chủ đạo một cách chính xác. thiếu thị trường lao động và thị trường bđs chớnh thức.luật pháp kinh tế chưa đồng bộ. luật pháp đảm bảo thực thi chính sách nhanh chóng. bị động. nhược điểm lớn nhất trong phối hợp cstk và cstt của việt nam là vẫn thiếu đồng bộ. chỳng ta phải tập trung vào hoàn chỉnh cơ chế. thêm vào đó. 6. 7. chớnh sỏch tiền tệ cũn lỳng tỳng.

việc hoạch định và phối hợp cstk và cstt của ta cũn chưa thích ứng được với những biến động từ bên ngoài. chúng ta phải điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô cho phù hợp với tiến trỡnh hội nhập khu vực và thế giới.gov. linh hoạt và phản ánh đúng diễn biến của cung cầu trên các thị trường của nền kinh tế. các công cụ của chính sách tài chính tiền tệ vừa thiếu./. nhiều điểm cũn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. hành chính trong khi cơ chế quan liêu bao cấp vẫn chưa được loại bỏ hoàn toàn.thiếu tính ổn định. song cùng với việc tăng cường hội nhập kinh tế. đặc biệt lưu ý cỏc chớnh sỏch thuế quan. chớnh sỏch tỷ giỏ và quản lý ngoại hối. https://docs. chính phủ vẫn nặng về sử dụng các công cụ trực tiếp.google.… chính vỡ vậy.com/viewer? a=v&q=cache:OPftD3Y59t0J:ecna.vn/ct/ht/Lists/BaiViet/Attachments/23/C hinh%2520sach%2520tai%2520khoa%2520va%2520su%2520phoi%2520hop %2520voi%2520chinh%2520sach%2520tien %2520te.pdf+&hl=vi&gl=vn&pid=bl&srcid=ADGEESiUAoYhUegNGpBHWt7vSd BYQ8OvG7Lj_OVWSVh0VOTuOtJwgWzWwd3MDxnNb1GADTY5IBl0Hs6iJGYKZC9zEUCL1v_acBb3kVZq GwtWiAtNBAQRlvkIsWgVVKCSbCTdIwS9O7j&sig=AHIEtbSz5VPmVKaUYKmHSX 4AiXwhyAf0MQ Chính sách tài khóa và bài toán ổn định chu kỳ kinh tế ở Việt Nam PGS. 8. trong nền kinh tế mở và tớch cực tham gia tiến trỡnh hội nhập. đảm bảo khả năng đương đầu với cạnh tranh quốc tế ngày càng khốc liệt cũng như tạo ra lợi thế trong liên kết và phân công lao động quốc tế. thích ứng với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế. Sử Đình Thành . chỳ trọng thực hiện tự do húa từng bước thị trường tài chính và thị trường lao động. vừa kém hiệu lực.TS. gây trở ngại lớn cho việc phối hợp các chính sách năng động. các chính sách kinh tế vĩ mô cần tập trung nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của các dn trong nước.

1. trong khi nhiều tranh luận bắt đầu nổi lên về vai trò chính sách tài khóa đối với ổn định chu kỳ kinh tế. Chính phủ Việt Nam đang triển khai kế hoạch kích cầu 1 tỷ USD trong năm tài khóa 2009. thuế thu nhập… Như vậy. một khi trạng thái tài khóa thay đổi. Một hình thức của chính sách tài khóa phản chu kỳ được biết đến như là ổn định tự động (Automatic stabilizers).Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) (2008) đã nhận định khủng hoảng toàn cầu đã thực sự lan rộng từ lĩnh vực tài chính sang kinh tế. Việt Nam không thể nằm ngoài quỹ đạo này khi mà nền kinh tế đã bắt đầu hòa vào dòng chảy chung của thế giới. Nghĩa là có những chính sách được thiết kế tự nó điều chỉnh làm cho chính sách tài khóa mở rộng trong thời kỳ suy thoái và thu hẹp trong thời kỳ tăng trưởng cao như là chính sách bảo hiểm. an sinh xã hội. . Chính phủ Việt Nam đã nhận thấy nguy cơ suy giảm kinh tế và khởi động chính sách tài khóa mở rộng để chống suy thoái. (ii) chính sách tài khóa kiềm chế (được sử dụng để kiềm chế sức ép lạm phát). Theo đó. Hiện tại. chính sách tài khóa được sử dụng để chống lại chu kỳ kinh tế (Countercylically) hay còn gọi là chính sách tài khóa tùy ý có thể được tách ra thành 2 phần: (i) chính sách tài khóa mở rộng (được sử dụng để kích thích kinh tế thông qua chính sách kích cầu xã hội hiệu quả). sẽ làm thay đổi xung lực tài khóa. Bài viết đi vào đo lường xung lực tài khóa của Việt Nam để từ đó chỉ ra trạng thái tài khóa đã thay đổi như thế nào đối với chu kỳ kinh tế và tìm lời giải cho bài toán chống suy thoái kinh tế bằng chính sách tài khóa trong bối cảnh hiện tại ở Việt Nam . Lý thuyết chính sách tài khóa và ổn định chu kỳ kinh tế Theo học thuyết Keynes.

nhưng ngược lại có minh chứng rất yếu về tác động phản chu kỳ trong những nền kinh tế đang phát triển. kích thích dựa vào thuế hiệu quả hơn so với giải pháp dựa vào chi tiêu.kéo theo làm thay đổi chu kỳ kinh tế. Thế nhưng. IMF cho rằng. đặc biệt ở các nền kinh tế đang phát triển. giải pháp phản chu kỳ thường được thực hiện trễ hơn so với chính sách ổn định tự động và những thay đổi trạng thái tiền tệ. đúng mục tiêu (Targeted) và kịp thời (Temporary). Một câu hỏi khác đặt ra. những người hoạch định chính sách cần phải giải quyết là liệu chính sách tài khóa có được đưa ra đúng lúc và hợp lý hay không. Nó thường phản ứng mạnh trong thời kỳ suy thoái hơn là thời kỳ tăng trưởng và đôi khi hơn ở mức cần thiết. từ đó ảnh hưởng ngược đến sự ổn định tài khóa. Đó là quy trình tác động của chính sách tài khóa đến chu kỳ kinh tế. bởi lẽ liên quan đến vấn đề một khi gia tăng chi tiêu thì thời gian sau đó sẽ rất khó để kiềm chế. IMF (2008) cho rằng câu trả lời phức tạp và phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của nền kinh tế. Một vấn đề hiển nhiên của chính sách tài khóa là qua đó chính phủ có tiềm năng tác động nhanh chóng đến thay đổi chi tiêu xã hội. IMF (2008) đã phát hiện ra rằng chính sách tài khóa tùy ý có tác động đến phản chu kỳ ở mức độ vừa phải ở các nước phát triển. Các nước phát triển sử dụng chính sách tài khóa phản chu kỳ một cách tích cực. chính phủ các nền kinh tế đang phát triển ứng dụng chính sách tài khóa tùy ý có khác gì so với chính phủ các nền kinh tế phát triển? Ở các . Câu hỏi đặt ra. nghĩa là giải pháp kích thích thường xuyên được thực hiện. Có thể tóm lược thành mô hình 3 T: đúng lúc (Times).

Trước hết. Trong khi. 2008). một khi được quyết định. luôn luôn có những kiềm chế về chính trị: có khuynh hướng dễ dãi cho chính phủ nới lỏng tài khóa hơn là thắt chặt một khi giải pháp được thực hiện. chính sách tài khóa tùy ý có đặc thù phản chu kỳ: cắt giảm thuế và gia tăng chi trong thời kỳ suy thoái. Nhiều công trình nghiên cứu minh chứng chính sách tài khóa tùy ý thường phản ứng chậm trễ so với chính sách tiền tệ trong thời kỳ suy thoái và mất nhiều thời gian để phát huy tác dụng. 2000). chính sách tài khóa tùy ý có đặc thù là “thuận chu kỳ” (Procylically): tăng thêm kích thích trong thời gian kinh tế tăng trưởng và tháo dỡ trong thời kỳ suy thoái. Sự mở rộng tài khóa tạo ra sức ép trong dài hạn là lãi suất tăng cao và gây ra hiện tượng chèn lấn đầu tư khu vực tư hoặc các hộ gia đình tiết kiệm nhiều hơn nếu chính sách tài khóa mở . Điều này gợi lên vấn đề. Kết quả. mất nhiều thời gian để quốc hội thông qua giải pháp tài khóa và mất nhiều thời gian để nền kinh tế phản ứng (Buti 2001). Kế đến. Vì vậy. 2000). Hơn nữa. ở các nền kinh tế đang phát triển. chính sách tài khóa đó có khuynh hướng gây bất ổn định ở các nền kinh tế đang phát triển hơn là góp phần giảm biến động chu kỳ kinh tế (IMF. Điều này có nghĩa là điển hình nợ công gia tăng nhanh. Mihov. chính sách tùy ý dẫn đến độ lệch – thuế cắt giảm và chi tiêu gia tăng nhiều hơn trong thời suy thoái so với tăng thuế và cắt giảm chi tiêu trong thời kỳ tăng trưởng. Mihov. chính phủ mất nhiều thời gian nhận dạng suy thoái kinh tế (Fatá. dẫn đến tình trạng trung tính của chính sách tài khóa do bởi bù lại hành vi của khu vực tư nhân.nền kinh tế phát triển. chính sách tài khóa hiếm khi được điều chỉnh theo những thay đổi tình hình kinh tế (Fatá.

Đo lường xung lực tài khóa của Việt Nam Từ năm 1991 -2008. suy thoái (1997 – 2001).rộng vì sợ đánh thuế cao trong tương lai. Tăng trưởng GDP% (giá cố định) 99 01 20 03 05 20 20 07 20 Nguồn: Tổng cục Thống kê (GDP giá cố định) Hình 1: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam theo giá cố định (1991 -2008) . Dựa vào hình 1. nền kinh tế đã có trải qua giai đoạn suy thoái và Chính phủ đã thực hiện kích thích kinh tế bằng chính sách tài khóa. phục hồi (2002 – đến 2007). Hành vì cân bằng Ricardian rất là phổ biến ở những quốc gia mà chính phủ mắc nợ với quy mô lớn (Guilermo.5%. Như vậy. kinh tế Việt Nam tăng trưởng bình 7. cao nhất là 10% (năm 1995) và thấp nhất 5% (năm 1999). 2. từ năm 1991 đến nay. 2001). có thể chia tăng trưởng kinh tế Việt Nam thành 3 giai đoạn: tăng trưởng cao (1991 – 1996).

vấn đề tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ năm 1997 đến nay không thể chỉ giải thích ở biến chính sách tài khóa duy nhất.2. đặc biệt trong giai đoạn suy thoái. đẩy mạnh tự do hóa hệ thống tài chính và phát triển thị trường tài chính năng động. trạng thái thay đổi chính sách tài khóa đối với kinh tế Việt Nam ớ mức độ nào. Như vậy.Thiết lập mô hình đo lường xung lực tài khóa . mở cửa thu hút vốn đầu tư và thúc đẩy mạnh thương mại quốc tế. Chính phủ thực hiện nhiều chính sách năng động để kích thích kinh tế như: cải cách thể chế kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. cũng phải thừa nhận rằng. điều này cũng chưa đủ cơ sở khoa học để khẳng định chính sách tài khóa có hiệu ứng tốt đến ổn định chu kỳ và khắc phục suy thoái kinh tế. Đầu tư công Đầu tư tư nhân FDI 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Hình 2: Cơ cấu chi đầu tư giai đoạn 1996 -2007 (%GDP) 2. đặc biệt gia tăng chi đầu tư công (xem hình 2) thông qua các chương trình kích cầu từ nguồn vốn ngân sách và phát hành trái phiếu chính phủ… Tuy vậy. Có điều cần lưu ý.. Trước hết.. kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997.Vậy. mà cần phải đo lường bằng phương pháp định lượng. sự thay đổi tỷ lệ tăng trưởng từ năm “đáy” của suy thoái đến các năm sau đó là lớn hơn khi có những thay đổi cơ bản của chính sách tài khóa như: giảm mức huy động nguồn thu thuế thông qua chương trình cải cách thuế bước 2 và 3.

Tuy nhiên. hiện được nhiều nhà kinh tế và IMF sử dụng. chúng ta tính toán cân bằng tài khóa theo công thức sau: Trong đó. FBt là cân bằng tài khóa cơ bản trong năm t. Công thức cân bằng tài khóa trên được phân tách như sau: FBt = ( r0Yt − g0Yt p ) − r0 ( Yt − Yt ) − FSt [ ] . Rt là thu ngân sách danh nghĩa năm thứ t và Gt là chi tiêu danh nghĩa năm thứ t. Một thay đổi nhỏ thặng dư cũng hàm ý rằng chính sách tài khóa trở nên mở rộng hơn so với năm trước. Một trong các phương pháp để đánh giá trạng thái tài khóa là đo lường xung lực tài khóa (MFI: measure of fiscal impulse) đối với sản lượng/GDP trong một khoảng thời gian nhất định. chỉ có quan sát thay đổi cân bằng tài khóa có thể dẫn đến sai lệch bởi vì sẽ không rõ ràng để khẳng định liệu thay đổi là nguyên nhân hoặc kết quả thay đổi hoạt động kinh tế. Những thay đổi của MFI bao hàm cả những thay đổi quyết định tùy ý về chính sách chi tiêu và thu ngân sách cũng như ước lượng tác động của ổn định tự động. Khởi đầu. Một sự đo lường dương (hay âm) của xung lực tài khóa sẽ hàm ý trạng thái tài khóa mở rộng (thu hẹp) hơn so với năm trước. Công trình này sử dụng phương pháp của (Heller et al (1986).Quy mô thặng dư tài khóa thay đổi sẽ quyết định thay đổi trạng thái tài khóa chính phủ. Cách đo lường giản lược nhất là đưa thay đổi trạng thái tài khóa gây ra từ chi tiêu tùy ý và chính sách thuế cũng như tác động “ổn định tự động” vào chung trong khuôn khổ phân tích.

• Chi tiêu là trung tính với chu kỳ nếu như nó gia tăng một cách tương xứng đối với sự gia tăng GDP thực danh nghĩa. Vì thế: • Thu ngân sách là trung tính với chu kỳ nếu như nó gia tăng một cách tương xứng đối với sự gia tăng GDP thực danh nghĩa. Còn một sự gia tăng lớn là mở rộng tài khóa.P = R0 / Y0 tỷ lệ thu năm cơ bản = G0 / Y0 tỷ lệ chi tiêu năm cơ bản = GDP thực tế theo giá danh nghĩa năm thứ t = Sản lượng tiềm năng tính theo giá danh nghĩa năm thứ t = Đo lường trạng thái tài khóa năm thứ t. Chênh lệch FS năm hiện hành và năm trước đo lường xung lực tài khóa (MFI): p MFI = ΔFSt = ( ΔGt − g0 ΔYt ) − ( ΔRt − r0 ΔYt ) MFI = −ΔFBt − g0 ΔYt + r0 ΔYt ) . phương trình có thể viết lại như sau: FBt = ( r0Yt − g0Yt p ) − FSt Trạng thái tài khóa có thể được diễn tả như sau: FSt = ( r0Yt − Rt ) − ( g0Yt − Gt ) p Đây là công thức được trình bày bởi Chalk (2002). Còn một sự gia tăng lớn là thu hẹp tài khóa. Chi tiêu chính phủ được giả thiết co giãn đơn vị với sản lượng tiềm năng theo giá danh nghĩa. Từ đó. Trong công thức này. Chỉ số “0” phản ảnh giá trị năm cơ bản của các biến số mà GDP tiềm năng và GDP thực tế xấp sỉ bằng nhau. trạng thái tài khóa ở đây giả thiết thuế danh nghĩa co giãn đơn vị với sản lượng.

Từ hình 3. có hai khái niệm đưa vào trong cấu trúc của MFI. 19 91 19 92 19 93 19 94 19 95 19 96 19 97 19 98 19 99 20 00 20 01 20 02 20 03 20 04 . liên quan quan đến việc chọn năm cơ bản cho MFI.Từ công thức trên ta thấy. tôi phác họa GDP tiềm năng bằng việc sử dụng bộ lọc HP1 từ hàm lôga (xem hình 3). Với quan điểm năm cơ bản là năm GDP tiềm năng và GDP thực tế xấp xỉ bằng nhau. Các năm đó được lựa chọn là năm cơ bản. Điều này thường được xem xét trong khoảng thời gian khi nền kinh tế đánh giá là ở mức tiềm năng của nó. trong phân tích này. Thứ nhất. ta thấy các năm 1994 và 2003 là những năm mà ở đó khoảng cách sản lượng (tiềm năng và thực tế) là zero.

mô hình này phác họa ngân sách trung tính với chu kỳ bằng việc giả sử thu. . Nếu như Δ( FS / Y ) không thay đổi giữa hai giai đoạn thì không có xung lực tài khóa nào tăng thêm. Thứ hai. Nó sử dụng các thuật toán để bằng phẳng hóa giá trị theo thời gian. Prescott. Heller et al sử dụng con số tương đối của MFIΔ( FS / Y ) làm công cụ đo lường xung lực tài khóa so với sản lượng. Hay nói khác đi. Việc xác định ngân sách được điều chỉnh theo chu kỳ trong cách thức này. nó phân phối sự đóng góp ổn định tự động đối với MFI.20 05 20 06 20 07 20 08 Nguồn: Tổng cuc Thống kê (GDP danh nghĩa) Hình 3: GDP thực tế và khuynh hướng theo bộ lọc HP Bộ lọc Hodrick-Prescott là một công cụ toán học được dùng trong kinh tế vĩ mô. chi co giãn đồng nhất với GDP thực tế và GDP tiềm năng. Hodrick và gần đây những người đoạt giải Nobel Edward C.Các bộ lọc đã được áp dụng đầu tiên do kinh tế Robert J. do đó lộ xu hướng lâu dài. nó là kỹ thuật loại bỏ dao động ngắn hạn có liên quan đến các chu kỳ kinh doanh. Một giá trị dương (âm) của xung lực tài khóa phản chính sách tài khóa mở rộng hơn (thu hẹp hơn) so với năm trước đó. Xung lực tài khóa trong một năm nào đó phản ảnh thay đổi trạng thái tài khóa. Vì thế. đặc biệc trong lý thuyết chu kỳ kinh tế. bất kỳ một sự gia tăng nguồn thu mà nhanh hơn (chậm hơn) so với tăng trưởng GDP hàm ý xung lực tài khóa âm (dương) và bất kỳ sự gia tăng chi tiêu mà nhanh hơn (chậm hơn) GDP tiềm năng hàm ý xung lực tài khóa dương (âm).

Xung lực tài khóa (%/GDP) 19 94 19 95 19 96 19 97 19 98 19 99 20 00 20 01 20 02 20 03 20 04 20 05 20 06 20 07 20 08 Nguồn: Tác giả tính toán Hình 4: Xung lực tài khóa từ năm 1994 -2008 . xung lực tài khóa ở mức bình quân 3%. từ năm đến nay xung lực tài khóa bình quân 5%.Hình 4 cho thấy khuynh hướng thay đổi trạng thái tài khóa. trạng thái tài khóa Việt Nam liên tục được mở rộng. Kết quả đo lường cho thấy. Nếu như giai đoạn 1994 – 2000. từ năm 1994 đến nay. đặc biệt kể từ sau năm 2000.

Điều này gợi lên vấn đề. nhưng tài khóa lại thắt chặt. nền kinh tế chỉ mới đang trên đà phục hồi (vẫn còn ở thấp hơn tiềm năng). Nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái vào cuối năm 1997. chính sách tài khóa có đặc thù là thuận chu kỳ . Điều này có nghĩa rằng nhà nước đã phát hành thêm một lượng tiền lớn hơn gấp nhiều lần trị giá của cải mà xã hội làm ra được trong 3 năm trên. năm 1999. Có sự hoài nghi về khả năng tác động của chính sách tài khóa đến sản lượng thông qua tổng cầu. Nghĩa là. tăng trưởng ở mức dưới tiềm năng. có thể đưa ra một vài khuyến nghị cho việc thiết kế chính . thì trạng thái tài khóa lại liên tục mở rộng ở mức rất cao từ 4% đến 6%GDP. trong khi tăng trưởng GDP của Việt Nam chỉ ở mức 27%.Tuy nhiên. nền kinh tế tăng trưởng nhanh (trên mức tiềm năng). Tình trạng điều hành chính sách tài khóa Việt Nam đúng như nhận định của IMF (2008): … “…trong các nền kinh tế đang phát triển. trong 3 năm từ 2005 đến 2007 lượng tiền trong lưu thông tăng tới 135%. Bắt đầu từ năm 2005.đó là. tăng thêm kích thích trong thời gian kinh tế tăng trưởng và tháo dỡ trong thời kỳ suy thoái”. Giai đoạn 2005 -2007. dẫn đến hậu quả. thì trạng thái tài khóa liên tục kiềm chế ở mức 3% GDP. tổng cầu đầu tư càng cao do kích thích tài khóa. thì trạng thái tài khóa chỉ thay đổi ở mức 1% GDP. cuối cùng chỉ cho thấy giá cả càng cao và chứ không làm gia tăng sản lượng. Kết quả của chính sách tài khóa như vậy. chính sách tài khóa đó có khuynh hướng gây bất ổn định hơn là góp phần giảm biến động chu kỳ kinh tế. Từ kết quả nghiên cứu. hệ số ICOR của Việt Nam tăng rất cao (>5). Đến những năm 2000 – 2002. Cụ thể. cho thấy khả năng hấp thụ vốn đầu tư cho tăng trưởng rất thấp. tình trạng tài khóa phản ứng không phù hợp với trạng thái chu kỳ kinh tế.

Thiết kể ổn định tự động cần chú trọng gia tăng phản ứng của nó. Ổn định tự động tiêu biểu là sản phẩm của mục tiêu dài hạn và nên được thiết một cách cân nhắc để đối phó với chu kỳ kinh tế.sách tài khóa và giải bài toán ổn định chu kỳ và chống suy thoái kinh tế ở Việt Nam: (1) Chính phủ làm gì nếu như muốn triển khai giải pháp chính sách tài khóa để điều chỉnh chu kỳ kinh tế và chống suy thoái? Thứ nhất. Chính phủ cần đảm bảo sẽ cải thiện tình hình tài khóa suốt trong thời gian tốt của chu kỳ kinh tế và cam kết một cách tin tưởng: kích thích tài khóa chỉ là chính sách tạm thời nhằm kiểm soát lạm phát trong dài hạn. Đây là vấn đề không tốt để ổn định kinh tế vĩ mô trong dài hạn. nợ chồng lên nợ. vì vậy Chính phủ cần chú trọng thiết kế và sử dụng tốt hơn công cụ “ổn định tự động”. Thứ hai. ổn định thu nhập . Các chương trình an sinh xã hội. Cải cách thuế cần tập trung mở rộng cơ sở thuế và hạ thấp thuế suất để kích thích kinh tế. Bởi lẽ. Cơ chế như thế sẽ vận hành một cách tự động và không nhất thiết gia tăng quy mô chính phủ. (2) Thực tế cho thấy chính sách tài khóa có khuynh hướng “thuận chu kỳ”. do có độ trễ của chính sách tài khóa nên gói kích cầu 1 tỷ USD cần phải triển khai nhanh để phát huy tác dụng kích thích nền kinh tế trong thời gian sớm nhất. Gia tăng khả năng phản ứng của công cụ ổn định tự động có thể thực hiện bằng việc gia tăng tính lũy tiến của hệ thống thuế và cải cách các chương trình an sinh xã hội. kích thích kinh tế bằng chính sách tài khóa mở rộng báo hiệu cho quy mô bội chi ngân sách ngày càng lớn hơn. Thuế thu nhập là công cụ có tính tự ổn định cao.

Điều này tránh được tình trạng duy nhất dựa vào đo . (3) Cần thay đổi chuyển giao hoặc chương trình chi tiêu để gắn kết trạng thái kinh tế với những quy tắc đơn giản. cho người lao động chủ yếu dựa vào tiền công. khắc phục tình trạng phân khúc giữa trung ương và địa phương. đặc biệt là khả năng dự báo khi phân bổ ngân sách. (iii) Tăng cường chất lượng những thông tin ngân sách. (v) Tập trung nguồn lực phân bổ theo chiến lược phát triển ngành thống nhất từ trung ương đến địa phương. (4) Thay đổi quản trị chính sách tài khóa. tiền lương cần được cải cách một cách triệt để trên cơ sở phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội. cần tiến tới áp dụng khuôn khổ quản lý chi tiêu trung hạn. bảo hiểm thất nghiệp trong mối tương quan với sự vận hành thuế thu nhập cá nhân. tính rõ ràng của các mục tiêu chính sách. Với việc thiết lập khuôn khổ chi tiêu trung hạn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chi tiêu công: (i) tăng cường năng lực của Chính phủ trong soạn lập ngân sách. cụ thể là giảm rủi ro nợ công. Điều này có thể liên quan đến thiết lập một cơ quan độc lập để giám sát tài khóa – chịu trách nhiệm xác định những thay đổi trạng thái chu kỳ của nền kinh tế. Cải cách rộng lớn hơn có thể ủng hộ sự tín nhiệm của hành động chính sách tùy ý. đánh giá mức độ chính sách tài khóa phù hợp khuôn khổ tài chính trung hạn và cung cấp thiết bị đo lường chính sách khác nhau. (ii) Tăng cường kỷ luật ngân sách và tính minh bạch cũng như trách nhiệm giải trình trong sử dụng nguồn lực công.cho người nghèo. minh bạch. (iv) Cho phép Chính phủ tập trung nhiều hơn vào những ưu tiên mang tính chiến lược mà vẫn làm cho quy trình ngân sách toàn diện hơn. Để kiểm soát hiệu quả chi tiêu công.

P.lường có tính thống kê. Niêm giám thống kê qua các năm. Financial Crisis Likely to Worsen Economic Downturn (2008). Antonio and Mihov. 3. 5. Edward Robinson and Angela Phang Seow Jiun. thiếu tính chính xác.attach+&hl=vi&gl=vn&pid=bl&srcid=ADGEESgZrI4Hd40o9T9IbfBl18 7aBK8xHYMR3Q6fIyBrcMJRJuDsfowB_CkKLwnOfVgLt-bZnY43OfTuLdq5xC__PFU8WLwLFuBFDGYiInTa1B5Vm3ZwyIKBLWPlVWVSR5_ix Y874Lp&sig=AHIEtbSYUrja73gBEVN-RuCmpg2dRE9KAg . Fatás. II 195-97-EN. 4. no 44. (2000) “ Fiscal policy and business cycles: an empirical investigation” Moneda y Credito 211. D and Ongena. Cần thiết phải xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá (Monitoring & Evaluation) nhằm tạo ra các công cụ kiểm soát từ phía xã hội và công chúng đối với các hoạt động đầu tư và cung cấp dịch vụ công của Chính phủ.google. (1997) “Budgetary policies during recessions” Economic Papers.vn/forum/images/uploads/1/1/4/8/9 /5/22810. Marco.com/viewer? a=v&q=cache:s5MjWoxP_pQJ:caohockinhte. sự sắp xếp này có thể gia tăng tính đúng lúc. 6. kịp thời của xung lực tài khóa. https://docs. H. Buti. R Haas and A Mansur (1986): “A review of the fiscal impulse measure”. 2. May. IMF Occasional Papers. Thêm vào đó. Assessing the fiscal policy stance in Singapore (2001). Buti. Franco. IMF 7. 1. Marco. (2001) ”The economic downturn and budgetary policy in Europe” Mimeo. Ilian. Heller.