z

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TIỂU LUẬN

DUNG DỊCH BOOCĐÔ

Häc viªn: Lª Minh Thu Ngêi híng dÉn: Hoµng ThÞ Chiªn Líp ho¸: K 20 – §HSP Th¸i Nguyªn Chuyªn ngµnh: Ho¸ ph©n tÝch

Do đó cần trung hoà phản ứng acid của sulfat đồng bàng cách cho phản ứng với vôi sống (CaO). Cách pha chế: nồng độ thông dụng nhất là 1% (1:1:100) 3. Boocđô còn trừ được địa y và rêu. bệnh gỉ sắt cà phê. Boocđô tương đối ít độc. bệnh giác ban bông. Sử dụng Boocđô để phòng trừ nhiều loại bệnh ở cây trồng do nấm và vi khuẩn: các bệnh loét. đổ từ từ vừa khuấy thật đều cho phản ứng xảy ra từ từ và đồng đều cho cả dung dịch sulfat đồng.DUNG DỊCH BOOCĐÔ 1. Công thức gồm: . Tuy nhiên vì nếu phun dung dịch sulfat đồng lên cây rất dễ làm cháy lá cây. vv. sẹo. Đối với người và động vật. không mùi. Đây là nhóm thuốc được nhân loại sử dụng như thuốc trừ nấm đầu tiên. 2.Sulfat đồng : . 1838 . Nếu phản ứng nhanh và không khuấy đều hoặc ngược lại đổ dung dịch sulfat đồng vào vôi thì sẽ nhận được kết tủa với hạt to. Đổ nước vôi vào dung dịch sulfat đồng. A. Thành phần và đặc tính của thuốc: Nước thuốc có màu lam nhạt. mau lắng dưới đáy thùng. đốm đen cam quýt. được Milađê (P.Vôi sống . để phản ứng cho kết tủa với những hạt mịn. Pháp) để trừ bệnh hại nho do nấm mốc sương (nấm Plasmopara viticola) gây ra. bệnh sương mai cà chua.Nước : : 1kg 1kg 100 lít Hồng 1kg sulfat đồng cho tan hết trong 10 lít nước trong một thùng nhựa (không dùng thùng kim loại vì sẽ bị ăn mòn và thủng rất nhanh). lơ lửng lâu trong hỗn hợp. Millardet. bệnh chấm xám hại chè. Thuốc điều chế từ hỗn hợp dung dịch đồng sunfat với vôi. Nguồn gốc dung dịch boocđô.1902) phát minh năm 1885 ở vùng Boocđô (Bordeaux. . Hoà 1kg vôi bột trong 10 lít nứơc trong một thùng khác. M. Hỗn hợp Boocđô Chất có tác dụng trị nấm trong hỗn hợp Boocđô là sulfat đồng.

4.Sau đó hoà thêm 80 lit nước cho đủ 100 lit hỗn hợp..Rẻ tiền b) Khuyết điểm . nếu để ngừa bệnh thì phun 1 tháng 1 lần. Để thuốc có hiệu quả cao. Nếu để trừ bệnh thì phun 7-10 ngày 1 lần. magiê cacbonat hoặc oxit magiê. không độc đối với ong mật. Cần kiểm tra xem phản ứng có hoàn toàn không bằng cách dùng 1 đinh sắt không bị gỉ sét. chất kết tủa sẽ thành tinh thể và làm giảm tính trải và tính bám dính của hỗn hợp. trên cành và trên thân. Nên phun vào các buổi sáng và chiều khi trời đã dịu nắng.. dĩ nhiên ảnh hưởng lên hiệu quả của thuốc. có thể dùng mà không làm cháy lá cây. Còn nếu thấy có một lớp màu gạch cua bao phủ ở trên đinh. gia súc và gia cầm. -Không nên phun thuốc vào lúc trời nhiều sương. phải kiểm tra bệnh thường xuyên. măng cụt. có hiệu quả cả với vi khuẩn. Cũng có thể đo pH của hỗn hợp. nếu lớp đó chuyển sang màu đen thì như vậy nước thuốc còn chua dễ gây hại cho cây trồng. . .Phổ trị nấm rất rộng. Ưư điểm và khuyết điểm của dung dịch thuốc Boocđô a) Ưư điểm . gặp trường hợp này cần thêm nước vôi từ từ cho đến khi nào thử lại cây đinh (hoặc mũi dao) không thấy hiện tượng bị đen như trên thì đạt yêu cầu.Rất ít độc đối với người. trời mưa. để ra ngoài không khí một lát. . -Không nên phun cho những cây có sức chống chịu kém với thuốc như đậu nành. Lý do là sau khi để yên một thời gian. không nên pha chế quá nhiều dùng không hết để lưu sang ngày hôm sau. nhúng vào hỗn hợp trong vài phút. ẩm ướt. nắng gắt hoặc lúc cây đang ra hoa. Hỗn hợp boocđô có thể để lâu được vài ngày sau khi pha nếu có hoà thêm 100 gam đường hoắc mật rỉ đường / 100 lít hỗn hợp hoặc có các chât bẩn khác như là sulfat sắt. nếu cây đinh sắt không bị đổi màu đỏ gạch là hỗn hợp đã phản ứng hoàn toàn. Phun sao cho thuốc bám đều trên cả hai mặt lá. thuốc sẽ bị mất phẩm chất.Có tính trải và bám dính tốt. Chú ý: -Thuốc dùng đến đâu pha thuốc đến đó. khi pH = 7 là đạt. khi thấy bệnh chớm phát sinh thì phải phun thuốc kịp thời.

đậu nành. . Thông thường nhà sản xuất còn trộn thêm chất bám dính để tăng khả năng bám dính của thuốc. không được súc rửa dụng cụ pha chế hoặc bình bơm thuốc sau khi sử dụng ở các ao nuôi cá.. Ngày nay thuyết này không được chấp nhận nữa.Độc đối với cá do đó không được phun thuốc những ruộng có kết hợp nuôi cá.Thuyết của Mc Callan và Wilcoxon: Nấm tiết ra các chất thường là acid (acid maleic trong trường hợp của nấm Neurospora sitophila).Ăn mòn các thùng chứa bằng kim loại.Thuyết của Baker và Gimingham: Chính ký chủ tiết ra bên ngoài các chất làm hoà tan đồng..Pha chế khá phiền phức.Thuyết của Millardet: CO2 trong không khí và muối amonium tan trong nước tác động lên hỗn hợp sau khi phun và bám lên mặt lá làm sản sinh ra cacbonat vôi và đồng hoà tan.Có thể độc cho một số loài cây trồng nhạy bén như cây bông. Khi sử dụng người tiêu thụ chỉ cần hoà với lượng nước cần thiết rồi đem phun.Có khuynh hướng làm kéo dài thời gian chín của trái cây . .. Boocđô khô thường được pha trộn vơí các loại thuốc khác để tăng độ hữu hiệu của thuốc. Chính đồng hoà tan trở nên độc đối với nấm. Boocđô khô Để thuận lợi cho người sử dụng có hãng sản xuất hỗn hợp boocđô khô nghiền mịn. làm hoà tan đồng thành hydroxyt đồng và đồng dưới dạng muối đồng amino là những chất diệt nấm. 6. . . cây đào. Tác dụng của thuốc lên nấm Có nhiều thuyết giải thích cách tác động của hỗn hợp Boocđô lên nấm . 5. măng cụt. . thí dụ: Thuốc Coppẻ-Zinc là Boocđô khô trộn với Zineb và các chất phụ gia khác. .

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful