P. 1
Giao Trinh Phan Tich Tai Chinh Cac Hoat Dong Kinh Doanh 411

Giao Trinh Phan Tich Tai Chinh Cac Hoat Dong Kinh Doanh 411

|Views: 8|Likes:
Được xuất bản bởiAnh Thuc Nguyen

More info:

Published by: Anh Thuc Nguyen on Apr 09, 2013
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOCX, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

05/13/2015

pdf

text

original

Trường đại học kinh doanh và công nghệ hà nội

Khoa Kế toán
-----------------------------



Giáo trình
Phân tích
Tài chính doanh nghiệp

Dành cho SV các khóa học 3 ĐVHT









Hà Nội , 2011








Mục lục

Phần thứ nhất Trang
Chương 1:Những vấn đề chung của phân tích tài chính doanh nghiệp 3
1.1. Sự cần thiết của phân tích tài chính doanh nghiệp. 3
1.2. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp. 5
1.3. Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp. 6
1.4.Tổ chức công tác phân tích các loại phân tích 15
Chương 2:phân tích kết quả hoạt động kinh doanh 17
2.1. Phân tích môi trường kinh doanh và tác động của nó đến các quyết
định sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

19
2.2. Phân tích, đánh giá khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp và các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến nó

22
2.3. Phân tích lợi nhuận bán hàng 62
Chương 3:phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp 70
3.1. Phân tích đánh giá thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp
thông qua các chỉ tiêu chủ yếu của bảng cân đối kế toán

71
3.2. Phân tích tình hình tổ chức huy động vốn của doanh nghiệp 102
3.3. Phân tích đánh giá kết quả của việc quản lý và sử dụng vốn của
doanh nghiệp
104
3.4. Đắc điểm phân tích, đánh giá kết quả của việc quản lý và sử dụng
vốn trong các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp cổ phần

111




Phân tích tài chính doanh nghiệp

Chương 1
Những vấn đề chung của
phân tích tài chính doanh nghiệp

1.1. Sự cần thiết của phân tích tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tài chính doanh nghiệp được quan niệm như là một tổng thể các
phương pháp được sử dụng để đánh giá được thực trạng tình hình tài chính hiện tại và
quá khứ của Doanh nghiệp, thông qua đó cung cấp những thông tin cần thiết cho những
đối tác khác nhau để họ có nhưng quyết định phục vụ cho những mục tiêu và lợi ích
khác nhau. Trong điều kiện hiện nay, phân tích tài chính không còn bị giới hạn ở các dữ
liệu tài chính nữa mà đã có thêm các dữ liệu kinh tế và thị trường chứng khoán, do vậy
số đối tác quan tâm, sử dụng các báo cáo tài chính và thông tin từ kết quả phân tích tài
chính doanh nghiệp cũng ngày càng mở rộng và tăng lên. Ngoài đối tượng quan trọng là
chủ doanh nghiệp, họ bao gồm.
- Các cơ quan chức năng của nhà nước, cơ quan thuế;
- Các nhà cho vay, như các ngân hàng thương mại, các định chế tài chính, những
người mua tín phiếu, các doanh nghiệp khác, các công ty mẹ v.v...;
- Các cổ đông hiện tại và cổ đông tương lai;
- Những người tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả những
người làm công ăn lương;
- Các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp v.v...
* Phân tích tài chính đối với các chủ doanh nghiệp.
Là chủ doanh nghiệp, hơn ai hết họ là người rất quan tâm đến những thông tin được
cung cấp thông qua kết quả của phân tích tài chính doanh nghiệp (được gọi là phân tích tài
chính nội bộ), như kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh, kết quả của việc quản lý và
sử dụng vốn, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, rủi ro tài chính doanh nghiệp v.v...
Những thông tin nói trên sẽ là cơ sở để các chủ doanh nghiệp lựa chọn, cân nhắc để đưa ra
các quyết định đúng đắn về quản lý trong tương lai, như quyết định về đầu tư, về tài trợ, về
phân bổ vốn và sử dụng vốn, về giải quyết tình hình công nợ, về phân chia và sử dụng lợi
nhuận, điều chỉnh cơ cấu sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường, liên doanh liên kết v.v...
* Phân tích tài chính đối với các cơ quan chức năng của nhà nước, cơ quan
thuế:
Theo chế độ tài chính hiện hành, các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp
liên doanh, cổ phần có vốn của nhà nước đều quản lý và sử dụng một lượng tài sản và tiền
vốn nhất định thuộc sở hữu nhà nước, do đó các cơ quan chức năng của nhà nước, như cơ
quan tài chính, cơ quan chủ quản đều quan tâm đến những thông tin về tình hình phân bổ
và sử dụng vốn, tình hình đầu tư, khả năng tạo vốn, khả năng sinh lời, tình hình bảo toàn
vốn v.v...; Với cơ quan thuế, vấn đề quan tâm với họ còn rộng hơn, cụ thể như kết quả
hoạt động kinh doanh, việc thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước, như thuế giá trị gia tăng,
thuế thu nhập, thuế vốn, thuế đất, thuế tài nguyên và các khoản phải nộp khác...
* Phân tích tài chính đối với các nhà cho vay, các chủ nợ của doanh nghiệp,
các cổ đông hiện tại và cổ đông tương lai:
Hiện nay, vốn vay và nợ phải trả chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số nguồn vốn của
doanh nghiệp. Do vậy các nhà cho vay, như các ngân hàng thương mại, các định chế tài
chính, những người mua tín phiếu, trái phiếu, các nhà bán chịu cho doanh nghiệp đều
rất quan tâm đến kết quả hoạt động kinh doanh, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán,
khả năng trả nợ vay, hiệu quả sử dụng vốn, thu nhập của cổ phiếu, tỉ suất lợi nhuận trên
vốn cổ đông, tỉ lệ trả lãi cổ phần, tỉ giá thị trường trên thu nhập của mỗi cổ phiếuv.v...
* Phân tích tài chính doanh nghiệp đối với những người tham gia vào hoạt động
của doanh nghiệp, bao gồm cả những người làm công ăn lương: Là những người trực
tiếp tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp, do đó quyền lợi của họ gắn liền và tuỳ thuộc
vào kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Họ quan tâm đến kết quả hoạt động
kinh doanh, khả năng sinh lời, tình hình đầu tư, khả năng thanh toán (đặc biệt là thanh toán
nhanh) v.v... Đối với các doanh nghiệp cổ phần, người hưởng lương cũng quan tâm đến
hiệu quả sử dụng vốn cổ đông cũng giống với sự quan tâm của cổ đông của doanh nghiệp.
* Phân tích tài chính đối với các đối thủ cạnh tranh:
Hoạt động trong điều kiện của kinh tế thị trường, đặc biệt trong xu hướng hội
nhập và toàn cầu hoá, cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt. Trên cùng một thị trường,
nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất và kinh doanh mặt hàng (sản phẩm) giống nhau, ví
dụ xe máy, ôtô, bia, đồ dùng gia dụng v.v..., do đó các đối thủ cạnh tranh rất muốn biết
những thông tin liên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp khác, như kết quả
sản xuất kinh doanh, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, tình hình đầu tư, tình hình
và khả năng tạo vốn thông qua phát hành tín phiếu, trái phiếuv.v...
Từ những vấn đề phân tích ở trên, có thể rút ra kết luận rằng, có rất nhiều đối tượng quan
tâm đến các báo cáo tài chính và những thông tin được rút ra từ phân tích tài chính của doanh
nghiệp. Những thông tin có được qua phân tích tài chính doanh nghiệp là cơ sở quan trọng để họ
sử dụng trong việc đưa ra các quyết định có liên quan tới những mục đích khác nhau, như:
- Quyết định có liên quan đến yêu cầu quản lý doanh nghiệp;
- Quyết định chấp nhận hay từ chối cho vay, bán chịu;
- Quyết định mua hay bán tín phiếu của doanh nghiệp;
- Quyết định chuyển đổi quyền sở hữu doanh nghiệp (sát nhập, cổ phần, liên
doanh, giải thể v.v...) v.v...
Chính vì những ý nghĩa tác dụng nói trên nó đã khẳng định sự cần thiết của phân
tích tài chính doanh nghiệp.

1.2. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
Để thực hiện được mục đích của việc phân tích tài chính doanh nghiệp, nội dung
chủ yếu của nó bao gồm:
- Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh;
- Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp;
1.3. Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp.
Để thực hiện được các mục đích, phân tích tài chính thường sử dụng một hệ
thống các phương pháp khác nhau, như phương pháp đánh giá các kết quả kinh tế,
phương pháp tính (xác định) mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh tế,
phương pháp tương quanv.v...
1.3.1. Phương pháp đánh giá các kết quả kinh tế
Để đánh giá các kết quả kinh tế cũng như kết quả của việc thực hiện các mục
tiêu do chính doanh nghiệp đặt ra, phân tích có thể sử dụng phương pháp phân chia các
hiện tượng và kết quả kinh tế, phương pháp so sánh, phương pháp đồ biểu, đồ thịv.v...
trong đó chủ yếu là phương pháp so sánh.
* Về phương pháp so sánh: Sử dụng phương pháp so sánh, người ta sẽ đạt được
các mục đích sau đây:
- Thứ nhất, qua so sánh, người ta biết được mức độ (kết quả) của việc thực hiện
các mục tiêu do chính doanh nghiệp đặt ra. Muốn vậy, cần tiến hành so sánh giữa kết
quả thực tế đạt được với mục tiêu hay kế hoạch đặt ra.
- Thứ hai, qua so sánh, người ta biết được tốc độ, xu hướng phát triển của các
hiện tượng và kết quả kinh tế; Muốn vậy cần so sánh giữa kết quả của kì này với kết quả
của các kì trước.
- Thứ ba, qua so sánh sẽ biết được mức độ tiên tiến hay lạc hậu của từng đơn vị
trong quá trình thực hiện mục tiêu của mình. Để đạt được mục đích này, cần tiến hành
so sánh giữa kết quả của đơn vị này với kết quả của đơn vị khác có cùng loại hình và
qui mô hoạt động, đồng thời so sánh giữa kết quả của từng đơn vị với kết quả trung bình
của tổng thể.
Tiến hành việc so sánh nói trên, có thể so sánh bằng số tuyệt đối, có thể so sánh
bằng số tương đối (thông qua các tỉ lệ), đồng thời phải có hai điều kiện:
- Một là phải có (tồn tại) ít nhất hai chỉ tiêu hoặc hai đại lượng thì mới có thể so
sánh được;
- Hai là các chỉ tiêu, các đại lượng khi so sánh với nhau phải có cùng một nội
dung kinh tế và cùng một tiêu chuẩn biểu hiện.
1.3.2. Phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết
quả kinh tế.
Như người ta biết, các hiện tượng và kết quả kinh tế thường chịu tác động bởi
rất nhiều các nhân tố khác nhau. Các nhân tố có thể làm tăng, có thể làm giảm các kết
quả kinh tế; nó có thể là nhân tố khách quan, có thể là nhân tố chủ quan; có thể là nhân
tố chủ yếu và có thể là nhân tố thứ yếu v.v...Việc nhận thức được các nhân tố ảnh
hưởng, mức độ ảnh hưởng và tính chất ảnh hưởng của các nhân tố là vấn đề bản chất
của phân tích.
Để xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh tế, phân
tích có thể sử dụng một hệ thống các phương pháp khác nhau, như phương pháp thay
thế liên hoàn, phương pháp số chênh lệch, phương pháp cân đối, phương pháp chỉ số
v.v...
1.3.2.1. Phương pháp thay thế liên hoàn.
Phương pháp thay thế liên hoàn (còn gọi là phương pháp thay thế kiểu mắt xích)
được sử dụng để xác định (tính) mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết qủa kinh tế
khi các nhân tố ảnh hưởng này có quan hệ tích số, thương số hoặc kết hợp cả tích và
thương với kết quả kinh tế. Nội dung và trình tự của phương pháp này như sau:
- Trước hết, phải biết đựơc số lượng các nhân tốt ảnh hưởng, mối quan hệ của
chung với chỉ tiêu phân tích, từ đó xác định được công thức tính của chỉ tiêu.
- Thứ hai, cần sắp xếp thứ tự các nhân tố theo một trình tự nhất định: Nhân tố số
lượng xếp trước, nhân tố chất lượng xếp sau; trường hợp có nhiều nhân tố số lượng
cùng ảnh hưởng thì nhân tố chủ yếu xếp trước nhân tố thứ yếu xếp sau và không đảo lộn
trình tự này.
- Thứ ba, tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố một theo trình tự nói trên -
Nhân tố nào được thay thế, nó sẽ lấy giá trị thực tế từ đó, còn các nhân tố chưa được
thay thế phải giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch - Thay thế xong một nhân tố,
phải tính ra kết quả cụ thể của lần thay thế đó, lấy kết quả này so với (trừ đi) kết quả của
bước trước nó thì chênh lệch tính được chính là kết quả do ảnh hưởng của nhân tố vừa
được thay thế.
- Cuối cùng, có bao nhiêu nhân tố phải thay thế bấy nhiêu lần và tổng hợp ảnh
hưởng của các nhân tố phải bằng với đối tượng cụ thể của phân tích (chính là chênh
lệch giữa thực tế với kế hoạch hoặc kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích).
Để làm rõ các vấn đề lý luận ở trên, có thể lấy một số ví dụ khái quát như sau:
Ví dụ 1: Giả định chỉ tiêu A cần phân tích; A tuỳ thuộc vào 3 nhân tố ảnh hưởng,
theo thứ tự a, b và c; các nhân tố này có quan hệ tích số chỉ tiêu A, từ đó chỉ tiêu A được
xác định cụ thể như sau:
A = a.b.c
Ta quy ước thời kỳ kế hoạch được ký hiệu là số 0 (số không) còn kỳ thực tế
được ký hiệu bằng số 1 (số một) - Từ quy ước này, chỉ tiêu A kỳ kế hoạch và kỳ thực tế
lần lượt được xác định như sau:
A
0
= a
0
. b
0
. c
0

A
1
= a
1
. b
1
. c
1

Đối tượng cụ thể của phân tích được xác định là:
A
1
- A
0
= A
A

Chênh lệch nói trên có thể được giải thích bởi ảnh hưởng của ba nhân tố cụ thể
là a, b và c; bằng phương pháp thay thế liên hoàn, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố
lần lượt được xác định như sau:
- Thay thế lần 1: Thay thế nhân tố a:
a
1
. b
0
. c
0
- a
0
. b
0
. c
0
= Aa
Aa là ảnh hưởng của nhân tố a.
- Thay thế lần 2: Thay thế nhân tố b.
a
1
b
1
c
0
- a
1
b
0
c
0
= Ab
Ab là kết quả ảnh hưởng của nhân tố b.
- Thay thế lần 3: Thay thế nhân tố c.
a
1
. b
1
. c
1
- a
1
b
1
c
0
= Ac
Ac là nhân tố ảnh hưởng của nhân tố c.
- Tổng hợp ảnh hưởng của ba nhân tố, ta có:
Aa + Ab +Ac = A
A
= A
1
- A
0
Ví dụ 2: Chỉ tiêu B cần phân tích: B tuỳ thuộc vào ba nhân tố, theo thứ tự a, b, c;
các nhân tố này có quan hệ kết hợp cả thương và tích với chỉ tiêu B, từ đó B được xác
định như sau:
B =
b
a
. c
Ta cũng quy ước như ví dụ 1, từ đó B
0
và B
1
lần lượt được xác định như sau:
B
0
=
a
0

. c
0

b
0


B
1
=
a
1

. c
1

b
1

Khi so sánh giữa B
1
với B
0
, ta có:
B
1
- B
0
= A
B

A
B
cũng do ảnh hưởng của ba nhân tố a, b, c và bằng phương pháp thay thế liên
hoàn, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố lần lượt xác định được như sau:
- Do ảnh hưởng của nhân tố a (thay thế lần 1):
a
1

. c
0
-
a
0

. c
0
= Aa
b
0
b
0

- Do ảnh hưởng của nhân tố b (thay thế lần 2):
a
1

. c
0
-
a
1

. c
0
= Ab
b
1
b
0

- Do ảnh hưởng của nhân tố c (thay thế lần 3):
a
1

. c
1
-
a
1

. c
0
= Ac
b
1
b
1

- Tổng hợp ảnh hưởng của cả ba nhân tố, ta có:
Aa + Ab + Ac = AB = B
1
- B
0

Từ thí dụ 1 đã trình bày ở trên, ta nhận thấy rằng ở các lần thay thế, giữa các đại
lượng khi loại trừ lẫn nhau tồn tại các thừa số chung. Ví dụ ở lần thay thế thứ nhất, có
các thừa số chung là b
0
, c
0
; ở lần thay thế thứ 2, các thừa số chung là a
1
, c
0
, còn ở lần
thay thế thứ 3, các thừa sốchung là a
1
, b
1
. Về mặt toán học, người ta có thể nhóm các
thừa số chung mà không làm thay đổi các kết quả đã được tính toán. Kết quả của việc
nhóm các thừa số chung, ta được phương pháp khác để tính toán mức độ ảnh hưởng của
từng nhân tố - đó là phương pháp số chênh lệch (lưu ý khi nhóm các thừa số chung vẫn
phải tuân theo các quy tắc và trình tự của phương pháp thay thế liên hoàn, đặc biệt là
không được làm đảo lộn thứ tự ảnh hưởng của các nhân tố).
Cụ thể, bằng phương pháp nói trên, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố ở ví dụ
1 lần lượt được xác định như sau:
- Do ảnh hưởng của nhân tố a:
Aa = (a
1
- a
0
)b
0
c
0

- Do ảnh hưởng của nhân tố b:
Ab = a
1
(b
1
- b
0
)c
0

- Do ảnh hưởng của nhân tố c:
Ac = a
1
b
1
(c
1
- c
0
)
- Tổng hợp ảnh hưởng của cả ba nhân tố, ta cũng có:
Aa + Ab + Ac = A
A
= A
1
- A
0

Từ kết quả tính toán ở trên, ta nhận thấy rằng thực chất của phương pháp số
chênh lệch chỉ là hình thức giản đơn của phương pháp thay thế liên hoàn và nó thường
được sử dụng khi các nhân tố ảnh hưởng có quan hệ tích số với chỉ tiêu phân tích (việc
tính toán khi đó sẽ đơn giản hơn).
1.3.2.2. Phương pháp cân đối.
Khác với phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp số chênh lệch,
phương pháp cân đối được sử dụng để tính mức độc ảnh hưởng của từng nhân tố khi
chúng có quan hệ tổng với chỉ tiêu phân tích, cho nên mức độ ảnh hưởng của từng nhân
tố là độc lập với nhau và việc tính toán cũng đơn giản hơn.
Cụ thể, để tính mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào đó, chỉ cần tính ra chênh lệch
giữa thực tế với kế hoạch (kỳ gốc) của bản thân nhân tố đó và không cần quan tâm đến
các nhân tố khác.
Ví dụ:
Chỉ tiêu E cần phân tích: E chịu ảnh hưởng bởi ba nhân tố a, b, c và các nhân tố
này có quan hệ tổng với chỉ tiêu E. Chỉ tiêu E được xác định như sau:
E = a + b - c
Cũng qui ước như ở phần trước, ta có:
E
0
= a
0
+ b
0
- c
0

E
1
= a
1
+ b
1
- c
1

Tiến hành so sánh giữa chỉ tiêu kỳ thực tế với kỳ kế hoạch ta có:
E
1
- E
0
= A
E

Khi sử dụng phương pháp cân đối, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố lần lượt
được xác định như sau:
- Do ảnh hưởng của nhân tố a:
Aa = a
1
- a
0

- Do ảnh hưởng của nhân tố b:
Ab = b
1
- b
0

- Do ảnh hưởng của nhân tố c:
Ac = -(c
1
- c
0
)
- Tổng hợp ảnh hưởng của ba nhân tố, ta có:
Aa + Ab + Ac = A
E
= E
1
- E
0

1.3.3. Phương pháp tương quan
Như người ta biết, giữa các hiện tượng và kết quả kinh tế thường tồn tại những
mối quan hệ tác động qua lại mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau. Đặc trưng cơ bản của các
mối quan hệ này là sự thay đổi của hiện tượng hoặc kết quả kinh tế này sẽ xác định (kéo
theo) sự thay đổi của các hiện tượng hoặc kết quả kinh tế khác. Nếu xét theo quan điểm
triết học, giữa chúng tồn tại mối quan hệ nhân quả, còn xét theo quan điểm toán học,
giữa chúng có mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc và nó có thể được biểu
hiện qua những hàm tương quan khác nhau - Vấn đề đặt ra là lựa chọn phương trình
tương quan nao để biểu thị tốt nhất sự phụ thuộc lẫn nhau hay là mối liên hệ chặt chẽ
giữa các hiện tượng và kết quả kinh tế - Đây cũng là vấn đề bản chất khi sử dụng các
hàm tương quan trong phân tích.
Mối tương quan giữa các hiện tượng và kết quả kinh tế có thể tồn tại dưới hai
dạng: Tương quan tỉ lệ thuận và tương quan tỉ lệ nghịch.
Trường hợp tương quan tỉ lệ thuận - Trong trường hợp này, việc tăng của hiện
tượng hay kết quả kinh tế này sẽ kéo theo (xác định) việc tăng của hiện tượng hay kết
quả kinh tế khác và ngược lại. Người ta có thể gọi là mối tương quan đồng biến. Ví dụ,
mối quan hệ giữa khối lượng sản phẩm sản xuất với tổng số chi phí sản xuất có tính chất
biến đổi - trong điều kiện các nhân tố khác không đổi (điều kiện yếu tố sản xuất không
đổi), khi khối lượng sản phẩm sản xuất tăng lên thì tổng số chi phí sản xuất biến đổi
cũng tăng lên và ngược lại. Nếu biểu hiện và theo dõi sự biến thiên của hai hiện tượng
nói trên trong nhiều năm liên tục (ít nhất là 5 năm) trên cùng một hệ trục toạ độ XOY -
trong đó OX là trục hoành, biểu thị khối lượng sản phẩm sản xuất, còn OY là trục tung,
biểu thị tổng số chi phí sản xuất biến đổi, người ta nhận thấy rằng đường biểu diễn của
nó có dạng đường thẳng, gần trùng với đường biểu diễn của hàm số mà phương trình
của nó có dạng:
Y = a + bx
điều đó có nghĩa là, có thể sử dụng hàm hồi quy mà phương trình của nó có dạng y = a
+ bx để biểu thị mối tương quan giữa khối lượng sản phẩm sản xuất với tổng số chi phí
sản xuất biến đổi; trong đó:
Ox là trục biểu hiện giá trị khối lượng sản phẩm
Oy là trục biểu hiện tổng số chi phí biến đổi.
Đồ thị của hàm số y = a + bx có dạng là đường thẳng - Hình 1
y







Hình 1
- Trường hợp tương quan tỉ lệ nghịch - Trường hợp này ngược lại với trường
hợp trên, nghĩa là việc tăng của hiện tượng hay kết quả kinh tế này sẽ xác định (kéo
theo) việc giảm của hiện tượng hay kết quả kinh tế khác và ngược lại. Có thể gọi nó là
mối tương quan nghịch biến. Ví dụ mối tương quan giữa giá trị khối lượng sản phẩm
sản xuất với tỉ suất chi phí sản xuất có tính chất cố định: Trong điêu kiện của nhân tố
khác không đổi, nếu khối lượng sản phẩm sản xuất tăng lên thì tổng số chi phí cố định
không biến động, còn tỉ suất của nó thì giảm và ngược lại. Cũng theo dõi sự biến động
của hai hiện tượng trên cùng một hệ trục tọa độ xOy, trong đó Ox là trục hoành, biểu thị
khối lượng sản phẩm sản xuất, còn Oy là trục tung, biểu thị tỉ suất chi phí cố định, khi
đó đường biểu diễn của nó có dạng đường cong gần giống với đường cong hypecbol
ứng với hàm hồi quy mà phương trình của nó có dạng:
b
y a
x
= +
điều đó có nghĩa là có thể sử dụng hàm hồi quy mà phương trình có dạng
b
y a
x
= + để biểu thị mối tương quan giữa khối lượng sản phẩm sản xuất và tỉ suất chi
phí cố định - Trong đó Ox là trục biểu hiện khối lượng sản phẩm sản xuất; còn Oy là
trục biểu hiện tỉ suất chi phí cố định.
Đồ thị của hàm số
b
y a
x
= + được biểu thị như sau- Hình 2


y




a

b
y a
x
= +




Hình 2
Các kết quả thu dược khi sử dụng các hàm hồi quy thông qua ngoại suy chủ yếu
phục vụ cho phân tích dự đoán để lập các chỉ tiêu cho các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn.
Nhưng khi sử dụng các kết quả đó phải lưu ý rằng chúng được tính toán dựa trên các
hiện tượng và kết quả kinh tế đã xẩy ra trong quá khứ và lại được sử dụng cho hiện tại
và tương lai gần, trong đó chúng còn chịu tác động bởi nhiều nhân tố khác. Do đó, cần
phải tính đến sự tác động của các nhân tố đó để tiến hành điều chỉnh phù hợp với tình
hình biến động của thực tế, đảm bảo tính hiện thực, tính khoa học của các chỉ tiêu, giúp
cho công tác quản lý đạt được hiệu quả cao nhất.

1.4. Tổ chức công tác phân tích và các loại phân tích
Cũng như bất kì công tác nào của doanh nghiệp, công tác phân tích tài chính
cũng cần được tổ chức một cách có hệ thống và khoa học để thực hiện được các mục
tiêu của nó. Cụ thể tổ chức công tác phân tích thường bao gồm 4 khâu (giai doạn) cơ
bàn sau đây:
- Khâu lập kế hoạch: Nội dung cơ bản của khâu này bao gồm: Nội dung, chỉ tiêu
cần phân tích; khoảng thời gian mà các nội dung, chỉ tiêu đó phát sinh (trong quí, năm
v.v...); thời hạn bắt đầu và kết thúc và cuối cùng là người, đơn vị thực hiện.
- Khâu sưu tầm, lựa chọn kiểm tra tài liệu số liệu. Tuỳ thuộc vào nội dung và chỉ
tiêu phân tích mà tiến hành sưu tầm, lựa chọn và kiểm tra số liệu, tài liệu sau đây:
+ Tài liệu kế hoạch, bao gồm hệ thống các định mức kinh tế kĩ thuật hiện
hành,các mục tiêu, chỉ tiêu dài hạn và ngắn hạn do chính doanh nghiệp tự xác định.
+ Tài liệu hạch toán, bao gồm tài liệu của hạch toán nghiệp vụ, hạch toán thống kê
và hạch toán kế toán, trong đó chủ yếu là hạch toán kế toán. Cụ thể để phân tích tài chính
doanh nghiệp cần sử dụng số liệu, tài liệu được rút ra từ báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh (mẫu số B02 - DN), Bảng cân đối kế toán (mẫu số B01-DN), thuyết minh Báo cáo
tài chính - mục chi tiết một số chỉ tiêu trong báo cáo tài chính (mẫu số B09-DN).
+ Tài liệu ngoài hạch toán, bao gồm các biên bản thanh tra, kiểm tra, kiểm toán,
các báo cáo tổng kết hoạt động của doanh nghiệpv.v.. Vì các số liệu, tài liệu được sưu
tầm lựa chọn từ nhiều nguồn khác nhau nên cần kiểm tra để xác định tính chính xác,
tính thống nhất của chúng.
- Khâu xử lý, tính toán chỉ tiêu và tiến hành phân tích. Đây là khâu quan trọng
nhất của công tác phân tích, do đó cần được tiến hành theo phương pháp phù hợp để
đảm bảo kết quả của công tác phân tích.
- Khâu lập báo cáo phân tích: Kết thúc công tác phân tích, cần lập báo cáo phân
tích. Nội dung chủ yếu của báo cáo phân tích bao gồm:
+ Những kết luận được rút ra từ công tác phân tích.
+ Những nguyên nhân chủ yếu đã ảnh hưởng đến các kết quả kinh tế của doanh
nghiệp;
+ Những biện pháp cơ bản cần áp dụng để khắc phục được những tồn tại đã qua,
động viên và khai thác khả năng tiềm tàng của kì sắp tới.
* Các loại phân tích: Tuỳ theo mục đích và phạm vi khác nhau, phân tích tài
chính có thể được phân thành phân tích thực hiện và phân tích dự đoán; Trong phân tích
thực hiện có thể bao gồm phân tích toàn diện và phân tích chuyên đề. Nói chung, phân
tích chuyên đề thường tiến hành thường xuyên (hoặc định kì), còn phân tích toàn diện
chỉ có thể tiến hành theo định kì. Để nâng cao được giá trị của những kết luận được rút
ra từ phân tích, cần kết hợp sử dụng các kiến thức của các môn học có liên quan, như
thống kê, kinh tế, tài chính doanh nghiệp, kế toánv.v... và áp dụng những thành tựu của
các phương tiện kĩ thuật tính toán hiện đại sao cho kết quả thu được ngày càng cao hơn,
phục vụ tốt nhất cho các mục tiêu của quản lý doanh nghiệp.
Chương 2
Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh

Như người ta biết, có rất nhiều đối tác quan tâm và sử dụng các số liệu được
phản ánh trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, trong đó có báo cáo "kết quả hoạt
động kinh doanh" - mẫu số B02-DN.
* Với các nhà đầu tư, vì mục tiêu của họ là lợi nhuận, do đó họ rất quan tâm
đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp để quyết định tiếp tục hay ngừng việc đầu tư
vào doanh nghiệp (ví dụ tiếp tục mua hay quyết định bán tín phiếu của doanh nghiệp).
* Với các nhà cho vay, họ quan tâm đến kết quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp để quyết định cho vay hay từ chối tín dụng, bởi vì kết quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp là cơ sở để đảm bảo hoàn trả cả vốn và lãi tiền vay cho họ.
* Với các nhà cung cấp, dựa vào kết quả hoạt động kinh doanh, họ đánh giá
được khả năng thanh toán, khả năng trả nợ của doanh nghiệp, do vậy nó là cơ sở để họ
quyết định có tiếp tục hay ngừng việc cung cấp (bán hàng) thiết bị, vật tư cho doanh
nghiệp;
* Với cơ quan thuế, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là cơ sở để
cơ quan thuế xác định được các khoản thu từ doanh nghiệp, trong đó có thuế thu nhập
doanh nghiệp; Với các cơ quan chức năng của nhà nước, thông qua kết quả hoạt động
kinh doanh, họ có các quyết định điều chỉnh các cơ chế chính sách tài chính, cơ chế
quản lý sao cho phù hợp với thực tế sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ví dụ chính
sách ưu đãi về Tài chính - Tín dụng, việc sát nhập, cổ phần, bán, cho thuê, giải thể
doanh nghiệpv.v... Với những người tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp, đương
nhiên kết quả hoạt động kinh doanh trực tiếp liên quan đến thu nhập của họ v.v...
* Với bản thân doanh nghiệp:
Trong điều kiện hiện nay, đương nhiên để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp
phải bán được sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Việc bán được sản phẩm có nghĩa
là sản phẩm do doanh nghiệp làm ra đã được thị trường chấp nhận, do đó doanh nghiệp
sẽ thực hiện được giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm, từ đó mới có điều kiện để bù
đắp được những chi phí đã bỏ ra, tiếp tục quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp. Mặt
khác, để tồn tại và phát triển, số tiền thu về do bán sản phẩm phải lớn hơn số tiền mà
doanh nghiệp đã bỏ ra để sản xuất và bán được sản phẩm đó. Nói cách khác, sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp phải có hiệu quả tức là phải thu được lợi nhuận. Như vậy,
lợi nhuận phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Có được lợi nhuận, doanh nghiệp mới thực hiện được việc bổ xung thêm vốn, từ
đó mới có điều kiện để mở rộng hoạt động đầu tư tài chính và đầu tư phát triển, tạo ra
những tiền đề cơ bản để tiếp tục nâng cao hiệu quả của sản xuất kinh doanh, đồng thời
không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động, thực hiện
được các nghĩa vụ với nhà nước, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
của ngành nói riêng, của đất nước nói chung. Với tất cả những ý nghĩa nói trên, người ta
thấy rằng cần thiết phải tiến hành phân tích, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp khi tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp.
* Nội dung chủ yếu của phân tích kết quả hoạt động kinh doanh bao gồm:
- Phân tích môi trường kinh doanh và tác động của nó đến kết quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phân tích, đánh giá khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phân tích chỉ tiêu lợi nhuận bán hàng.
* Tài liệu chủ yếu dùng để phân tích:
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (mẫu số B.02-DN).
- Thuyết minh báo cáo tài chính (mẫu số B.09-DN).
- Báo cáo chi tiết về kết quả sản xuất, chi phí và giá thành sản phẩm, và tiêu thụ
sản phẩm v.v...
Sau đây sẽ lần lượt tiến hành phân tích các nội dung nói trên.
2.1. Phân tích môi trường kinh doanh và tác động của nó đến các quyết
định sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Môi trường kinh doanh là tập hợp những lực lượng "ở bên ngoài" mà các doanh
nghiệp đều phải tính đến khi xác định chiến lược kinh doanh, vì các doanh nghiệp
không thể là một thực thể cô lập và hoạt động của nó không thể tự đóng kín với môi
trường kinh doanh. Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp thường đa dạng, sinh động
và sự biến động của nó có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp. Do vậy cần thiết phải phân tích môi trường kinh doanh để thông qua
đó giúp cho các nhà quản lí có thể dự đoán được khả năng có thể xảy ra để hướng cho
doanh nghiệp ứng phó được kịp thời, tránh được những rủi ro không cần thiết cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình.
Như người ta biết, câu hỏi đầu tiên đặt ra với các nhà quản lí là về chiến lược
sản phẩm. Cụ thể trong giai đoạn hiện tại, đâu là sản phẩm chủ yếu của doanh nghiệp và
trong tương lai, hướng phát triển sản phẩm mới của doanh nghiệp như thế nào... Để trả
lời câu hỏi đó, cần thiết phải nghiên cứu, phân tích các vấn đề sau đây:
- Vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp;
- Đối thủ cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp;
- Quan hệ với các nhà cung cấp;
- Các yếu tố về chính trị, kinh tế, tự nhiên, xã hội, văn hoá, khoa học kĩ thuật v.v...
* Trước hết là vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm: Trước khi quyết định về
qui mô, khối lượng, chất lượng, chủng loại, mẫu mã sản phẩm cần sản xuất kinh doanh
thì phải biết rõ khách hàng của doanh nghiệp là ai (đối tượng phục vụ của doanh
nghiệp). Ví dụ nếu người tiêu dùng thuộc các khu đô thị có thu nhập cao thì vấn đề chủ
yếu đối với họ là mẫu mã, chất lượng và tính năng của sản phẩm, còn giá cả của sản
phẩm có cao hơn, họ vẫn chấp nhận được. Trong trường hợp này, các doanh nghiệp cần
phải đầu tư chiều sâu, hiện đại hoá thiết bị, sử dụng công nghệ cao, tìm nguồn cung cấp
nguyên liệu đúng chủng loại đảm bảo chất lượng, sử dụng đội ngũ lao động có tay nghề
để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, chủng loại phong phú. Trường hợp
người tiêu dùng thuộc vùng nông thôn, miền núi, kinh tế chậm phát triển, thu nhập tiền
tệ thấp, khi đó họ quan tâm chủ yếu đến giá bán của sản phẩm. Trường hợp người tiêu
dùng là các cơ quan, tổ chức, tập thể thì các yếu tố giá cả, thị hiếu không phải là trọng
yếu; Trường hợp người tiêu dùng là các nhà buôn, nhu cầu của họ thường rất lớn vì họ
mua để bán kiếm lời, do đó họ quan tâm đến tất cả các yếu tố có liên quan nói trên.
Trường hợp doanh nghiệp sản xuất sản phẩm để xuất khẩu thì yêu cầu về chất lượng,
qui cách, mẫu mã, bao bì đóng gói và thời hạn giao hàng đòi hỏi doanh nghiệp phải tuân
thủ nghiêm ngặt theo hợp đồng đã kí kết. Cuối cùng nếu người tiêu dùng là các doanh
nghiệp khác, sản phẩm của ta lại là nguyên liệu của họ thì cái họ quan tâm lại là số
lượng, chất lượng và giá cả của sản phẩm. Như vậy tuỳ thuộc vào đối tượng phục vụ mà
doanh nghiệp có các quyết định thích ứng kịp thời, sao cho vừa đáp ứng được nhu cầu
của người tiêu dùng, vừa tăng được lợi ích cho bản thân doanh nghiệp.
* Về đối thủ cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là xu thế tất yếu mà các doanh nghiệp
đều phải chấp nhận. Đối thủ cạnh tranh là các doanh nghiệp hiện tại cùng sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm cùng loại và các doanh nghiệp sẽ hình thành tương lai gần, bao gồm
cả doanh nghiệp trong và ngoài nước. Số lượng các doanh nghiệp cùng loại hình sản
xuất càng nhiều, qui mô càng lớn thì mức độ cạnh tranh càng khốc liệt, vì thế người ta
mói nói "thương trường là chiến trường".
Sức mạnh của cạnh tranh được thể hiện thông qua chất lượng, mẫu mã, giá trị sử
dụng, giá bán của sản phẩm cũng như thông qua phương thức bán, hình thức bán, phương
pháp tiếp thị, quảng cáo v.v.... Hoạt động trong môi trường cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp
phải tìm biện pháp để giảm chi phí, nâng cao chất lượng, thường xuyên cải tiến mẫu mã,
thay đổi cơ cấu mặt hàng, tìm kiếm thị trường mới và cuối cùng để nâng cao khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp, cần xây dựng và bảo vệ được thương hiệu của doanh nghiệp.
* Về quan hệ với các nhà cung cấp: Để tiến hành sản xuất (để đáp ứng đầu vào),
doanh nghiệp cần xác lập mối quan hệ thường xuyên tin cậy với các nhà cung cấp, bao gồm
các nhà cung cấp thiết bị, vật tư, lao động, tiền vốn, thông tin v.v.... Mối quan hệ càng rộng,
mức độ càng bền vững thì tính ổn định của đầu vào càng cao và do đó nó là tiền đề rất quan
trọng đảm bảo cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ổn định và phát triển.
* Về các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô:
- Yếu tố chính trị: Tuy tiến hành hoạt động kinh doanh, nhưng kết quả của hoạt
động kinh doanh lại tuỳ thuộc không nhỏ vào yếu tố chính trị. Đó là sự ổn định về chính
trị, vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, các quan điểm, các chính sách, chế
độ của nhà nước về hội nhập, về đầu tư của nước ngoài, về tài chính, tín dụng, giá cả,
thuế v.v... Nhận thức được các yếu tố nói trên sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định được
giới hạn của hành lang pháp lí, từ đó đưa ra được các quyết định thích hợp cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. (Ví dụ khi nhà nước đưa ra các biện pháp
đảm bảo an toàn giao thông, giảm lượng xe máy lưu thông trên đường thì các nhà sản
xuất xe máy cần xác định lại qui mô sản xuất và cơ cấu mặt hàng cho phù hợp).
- Yếu tố kinh tế: Vì sức mua có tác động rất lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh, do
đó khi quyết định mở rộng hay thu hẹp qui mô sản xuất kinh doanh, quyết định đầu tư chiều
sâu hay quyết định thay đổi cơ cấu mặt hàng sản xuất kinh doanh, các nhà quản lí doanh
nghiệp đều phải tính đến yếu tố kinh tế hiện thời, như tốc độ tăng trưởng của ngành, của toàn
bộ nền kinh tế, chính sách lãi suất ngân hàng, chính sách khuyến khích hay hạn chế đầu tư
vào một lĩnh vực nào đó, việc đổi mới cơ chế quản lí đối với doanh nghiệp nhà nước v.v...
- Yếu tố tự nhiên: Tuỳ thuộc vào đặc điểm của sản phẩm, các nhà quản lý phải tính
đến nguồn lực và tài nguyên thiên nhiên vì nó là yếu tố cơ bản để đảm bảo cung cấp đầu
vào, như điện nước, dầu mỏ, quặng, rừng, đất đaiv.v.... Mặt khác, để bảo vệ môi trường sinh
thái, các doanh nghiệp cần có quyết định lựa chọn thiết bị, công nghệ sản xuất phù hợp để
trong quá trình sản xuất nó đảm bảo được các tiêu chuẩn do vệ sinh môi trường qui định.
- Yếu tố văn hoá, xã hội: Vì đối tượng phục vụ của doanh nghiệp suy đến cũng
đều là nhu cầu tiêu dùng của con người, do vậy các quyết định liên quan đến sản xuất
đều phải tính đến yếu tố văn hoá và xã hội. Yếu tố này bao gồm: sự gia tăng về dân số,
cơ cấu và việc phân bổ dân cư, thói quen, truyền thống văn hoá và tiêu dùng, vấn đề thị
hiếu tiêu dùng, nhận thức, thái độ của con người trước cuộc sống hiện tại, các quan
niệm, lối sống và các giá trị văn hoá, đạo đức xã hội v.v...Các yếu tố nói trên sẽ ảnh
hưởng không nhỏ đến các quyết định sản xuất về số lượng cơ cấu, chất lượng, mẫu mã
của sản phẩm.
- Yếu tố khoa học kĩ thuật: Ngày nay, khoa học kĩ thuật đang phát triển với tốc
độ rất nhanh, do vậy để không bị lạc hậu, để tăng khả năng cạnh tranh, các doanh
nghiệp cần đặc biệt chú ý đến yếu tố khoa học kĩ thuật để có quyết định đúng đắn trong
việc lựa chọn thiết bị, công nghệ, việc ứng dụng các tiến bộ của khoa học kĩ thuật vào
sản xuất để tạo ra bước thay đổi cơ bản về chất lượng, mẫu mã, tăng năng suất lao động,
giảm chi phí đầu vào, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.

2.2. Phân tích, đánh giá khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp và các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến nó.
2.2.1 Đánh giá chung kết quả hoat động kinh doanh
Theo chế độ qui định hiện hành, các chỉ tiêu chủ yếu của báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp bao gồm:
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ;
- Các khoản giảm trừ;
- Doanh thu thuần;
- Giá vốn hàng xuất bán;
- Doanh thu hoạt động tài chính;
- Chi phí tài chính;
- Chi phí bán hàng;
- Chi phí quản lý doanh nghiệp;
- Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh;
- Thu nhập khác;
- Chi phí khác;
- Lợi nhuận khác và cuối cùng là;
- Tổng lợi nhuận trước thuế.
Dựa vào mẫu sổ báo cáo nói trên, người ta nhận thấy rằng, tổng số lợi nhuận
trước thuế tuỳ thuộc vào 9 nhân tố ảnh hưởng, trong đó nhân tố doanh thu bán hàng và
cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính, thu nhập khác, là những nhân tố ảnh
hưởng (tác động) thuận chiều, còn các nhân tố: các khoản giảm trừ, giá vốn của hàng
xuất bản, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí tài chính, chi phí khác
đều tác động ngược chiều đến tổng số lợi nhuận trước thuế.
* Trước hết là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ phản ánh số tiền thu được hoặc sẽ thu
được về bán sản phẩm hàng hoá và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp cho khách hàng,
bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có).
Như ở trên đã chỉ rõ, nhân tố này ảnh hưởng thuận chiều đến tổng lợi nhuận
trước thuế, do vậy doanh nghiệp cần tìm mọi biện pháp để tăng doanh thu bán hàng và
cung cấp dịch vụ.
Như người ta biết, doanh thu tuỳ thuộc vào khối lượng hàng hoá (dịch vụ) bán ra
và giá bán của nó. Trong điều kiện hiện nay, khi cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt
thì trừ những hàng hoá và dịch vụ do nhà nước qui định giá bán, nói chung giá bán biến
động là tuỳ thuộc vào thị trường và có xu hướng giảm. Do vậy để tăng doanh thu bán
hàng và cung cấp dịch vụ, các doanh nghiệp chỉ có thể áp dụng những biện pháp chủ
yếu để tăng được khối lượng của hàng hoá (dịch vụ) bán ra. Việc tăng hay giảm khối
lượng hàng hoá (dịch vụ) bán ra nó lại tuỳ thuộc vào việc tăng hay giảm khối lượng,
chất lượng của sản xuất và tuỳ thuộc vào kết quả công tác bán hàng của doanh nghiệp.
* Đối với các khoản giảm trừ:
Các khoản giảm trừ, theo qui định hiện hành bao gồm:
- Chiết khấu thương mại;
- Giảm giá hàng bán;
- Trị giá hàng bán bị trả lại;
- Thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng tính theo phương
pháp trực tiếp.
+ Chiết khấu thương mại phát sinh khi khách hàng mua với khối lượng lớn; Như
vậy để giảm chiết khấu thương mại thì phải hạn chế khách hàng mua hàng với khối lượng
lớn, điều đó là trái với yêu cầu của công tác quản lý sản xuất kinh doanh nói chung, quản
lý bán hàng nói riêng. Nói cách khác, để tăng doanh thu bán hàng, cần khuyến khích
người mua với khối lượng lớn, do đó chiết khấu thương mại sẽ có xu hướng tăng lên.
+ Đối với giảm giá hàng bán: Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt, để
chiếm lĩnh được thị trường nhằm tăng được doanh thu, các doanh nghiệp thường sử
dụng giá bán như là một công cụ quan trọng. Do vậy xu hướng thực tế là cạnh tranh
càng khối liệt, giá bán của sản phẩm cạnh tranh càng có xu hướng giảm. Nói cách khác,
trong điều kiện hiện nay, để tăng doanh thu, không thể áp dụng biện pháp tăng giá bán
mà ngược lại, cần thực hiện chính sách giảm giá. Đối với hàng bán bị trả lại, đây là
những hàng hoá không thoả tmãn được nhu cầu của người tiêu dùng, không phù hợp với
những điều khoản trong hợp đồng, như chất lượng không đảm bảo, mẫu mã không phù
hợp, giao hàng không đúng thời hạn v.v... Nói chung trong kinh doanh, cần hạn chế,
loại trừ phát sinh của yếu tố nói trên vì nó làm giảm uy tín của doanh nghiệp trên
thương trường.
+ Đối với các loại thuế: Theo luật định, nộp thuế là nghĩa vụ của doanh nghiệp
đối với nhà nước, do đó không thể trốn lậu thuế để tăng doanh thu.
Qua phân tích chi tiết ở trên, có thể rút ra kết luận rằng không thể đưa ra các
quyết định giảm các khoản giảm trừ (trừ trị giá hàng bán bị trả lại) để tăng doanh thu
bán hàng cho doanh nghiệp.
* Đối với giá vốn của hàng xuất bán: ảnh hưởng của nhân tố này là ngược
chiều đến lợi nhuận bán hàng. Trong các doanh nghiệp sản xuất, giá vốn của hàng xuất
bán chính là giá thành sản xuất của sản phẩm xuất kho. Như vậy, đây là nhân tố chủ yếu
làm tăng (giảm) lợi nhuận bán hàng của doanh nghiệp, do đó nó là trọng điểm của công
tác quản lý sản xuất kinh doanh nói chung, quản lý lợi nhuận nói riêng. Nhân tố này sẽ
được phân tích chi tiết và cụ thể hơn khi phân tích chỉ tiêu lợi nhuận bán hàng.
* Đối với doanh thu hoạt động tài chính: Việc phát sinh doanh thu hoạt động
tài chính sẽ làm tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, do đó nó là yếu tố làm
tăng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh.
Trong điều kiện hiện nay, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thu nhập hoạt
động tài chính còn chiếm tỉ trọng nhỏ và nó có xu hướng tăng dần trong tương lai.
* Đối với chi phí tài chính: Việc phát sinh chi phí tài chính là ngược chiều với
nội dung phát sinh doanh thu hoạt động tài chính, nghĩa là nếu hoạt động tài chính bị lỗ
thì đó chính là các khoản chi phí tài chính và nó sẽ làm giảm lợi nhuận thuần từ hoạt
động kinh doanh.
* Đối với chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, chi phí bán hàng và chi phí quản lý
doanh nghiệp là yếu tố cấu thành giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ. Đối với các
doanh nghiệp có hoạt động tài chính và hoạt động khác thì chi phí quản lý doanh nghiệp
có liên quan đến các hoạt động nói trên và khi cần phân bổ cho từng hoạt động, có thể
dựa vào doanh thu của từng hoạt động. Các loại chi phí nói trên khi phát sinh đều làm
giảm kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
* Đối với thu nhập khác: Việc phát sinh thu nhập khác sẽ là điều kiện để tăng lợi
nhuận khác, nó bao gồm thu từ nhượng bán, thanh lí tài sản cố định, thu tiền phạt, thu nợ
khó đòi, thuế được hoàn lại, tiền thưởng, quà biếu, thu nhập kinh doanh bị bỏ sót hoặc chưa
ghi sổ kế toán của năm trước. Thực tế các khoản thu nói trên cũng chiếm tỉ trọng không
đáng kể của các doanh nghiệp, do đó không phải là trọng điểm của công tác quản lý.
* Đối với chi phí khác: Đây là những chi phí của các hoạt động ngoài hoạt động
sản xuất kinh doanh, như lỗ do các sự kiện hay nghiệp vụ riêng biệt với hoạt động thông
thường của doanh nghiệp, chi phí bị bỏ sót của kì trướcv.v. và nói chung nó phát sinh
ngược chiều với sự phát sinh của thu nhập khác. Nhân tố này ảnh hưởng ngược chiều
đến kết quả kinh doanh.
* Về ví dụ phân tích: Giả định tại Công ty X có các số liệu như sau:
(Đơn vị: 1 triệu đồng)
Chỉ tiêu
Dự kiến
(kế hoạch)
Thực hiện
1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 50.000 52.000
2. Các khoản giảm trừ
Trong đó: Chiết khấu thương mại
2.000
2.000
2.500
2.500
3. Giá vốn của hàng xuất bán 38.000 39.500
4. Doanh thu hoạt động tài chính 1.000 1.200
5. Chi phí tài chính 800 900
6. Chi phí bán hàng 2.000 2.050
7. Chi phí quản lý doanh nghiệp 3.000 3.050
8. Thu nhập khác - 250
9. Chi phí khác - 150
10. Tổng lợi nhuận trước thuế 5.200 5.300
Dựa vào số liệu của Bảng 2.1 ta có thể lập bảng phân tích như sau:
(Bảng 2.2.)
Chỉ tiêu
Dự
kiến
(Kế
hoạch)
Thực
hiện
Chênh lệch (+ -) Làm
tăng (+)
giảm (-)
lợi
nhuận
Số tiền
(trđ)
%
1. Doanh thu án hàng và cung cấp
dịch vụ
50.000 52.000 +
2.000
+ 4 + 2.000
2. Các khoản giảm trừ.
- Trong đó: Chiết khấu thương
mại
2.000
2.000
2.500
2.500
+ 500
+ 500
+ 25
(+25)
- 500
(- 500)
3. Giá vốn của hàng xuất bán 38.000 39.500 +
1.500
+ 3,94 - 1.500
4. Doanh thu hoạt động tài chính 1.000 1.200 + 200 + 20 + 200
5. Chi phí tài chính 800 900 + 100 + 12,5 - 100
6. Chi phí bán hàng 2.000 2.050 + 50 + 2,5 - 50
7. Chi phí quản lý doanh nghiệp 3.000 3.050 + 50 + 1,66 - 50
8. Thu nhập khác - 250 + 250 - + 250
9. Chi phí khác - 150 + 150 - - 150
10. Tổng lợi nhuận trước thuế 5.200 5.300 + 100 + 1,92 -
Căn cứ vào các số liệu của bảng 2.2 ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:
- So với mục tiêu đặt ra (dự kiến), tổng số lợi nhuận trước thuế trong kì đã tăng
100 triệu đồng, với tỉ lệ tăng là 1,92%. Việc tăng được tổng số lợi nhuận trước thuế sẽ
tạo điều kiện thuận lợi để đơn vị thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội khác, như nộp
ngân sách, trích lập các quỹ, bổ xung thêm vốn, cải thiện đời sống vật chất và văn hoá
cho người lao động. Để đánh giá chính xác, cụ thể kết quả nói trên, cần dựa vào mức độ
và tính chất ảnh hưởng của từng nhân tố.
- Trước hết, việc tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kì 2000
triệu đồng, điều kiện các nhân tố khác không đổi đã làm tăng tương ứng tổng lợi nhuận
trước thuế là 2000 triệu đồng. Xét về mức độ thì đây là nhân tố chủ yếu làm tăng lợi
nhuận trong kì. Xét về tính chất, ta thấy việc tăng doanh thu phản ánh kết quả tăng cả số
lượng và chất lượng của sản xuất, đồng thời đơn vị đã tổ chức tối công tác bán hàng, do
đó nó là tác động của nhân tố chủ quan.
- Các khoản giảm trừ trong kì tăng 500 triệu đồng đã làm giảm lợi nhuận tương
ứng là 500 triệu đồng. Theo tài liệu cho thì đây là số tăng của chiết khấu thương mại,
chứng tỏ khối lượng hàng hoá bán buôn trong kì đã tăng và do đó việc giảm lợi nhuận
nói chung, lợi nhuận bán hàng nói riêng là đương nhiên.
- Giá vốn của hàng xuất bán trong kì tăng 1500 triệu đồng đã làm giảm tương ứng
lợi nhuận trong kì là 1500 triệu đồng. Xét về mức độ thì đây là nhân tố chủ yếu làm giảm
lợi nhuận của đơn vị. Thực chất ảnh hưởng của nhân tốt này là ảnh hưởng của giá thành sản
xuất; như vậy có thể suy ra rằng giá thành sản xuất trong kì đã tăng hay là đơn vị đã quản
lý, sử dụng chưa hợp lí lao động, vật tư, tiền vốn trong quá trình sản xuất. Để có đánh giá
chính xác, cụ thể hơn, cần thiết phải đi sâu phân tích đối với giá thành theo từng khoản mục,
qua đó mới biết được nguyên nhân nào đã làm tăng giá thành, từ đó mới có các quyết định
thích hợp của quản lý. Việc phân tích nói trên sẽ được tiến hành ở nội dung tiếp theo.
- Doanh thu hoạt động tài chính tăng 200 triệu đồng đã làm tăng lợi nhuận tương
ứng 200 triệu đồng; Để đánh giá được cụ thể, chính xác tác động của nhân tố này, cần
dựa vào tài liệu hạch toán chi tiết để xác định được nội dung cấu thành của chỉ tiêu nói
trên, vì doanh thu hoạt động tài chính như đã đề cập ở phần trước nó bao gồm rất nhiều
các yếu tố có nguồn gốc phát sinh khác nhau, do đó việc đánh giá cũng khác nhau, ví dụ
lãi tiền vay, lãi tiền gửi, lãi bán hàng trả chậm, thu nhập do cho thuê tài sản, lợi tức, cổ
tức được chia, thu nhập về hoạt động đầu tư, chênh lệch tỷ giá...
- Chi phí tài chính trong kỳ tăng 100 triệu đồng đã làm giảm lợi nhuận tương
ứng 100 triệu đồng. Nếu so với thu nhập từ hoạt động tài chính thì kết quả của hoạt
động tài chính vẫn mạng lại lợi ích cho doanh nghiệp, cụ thể làm tăng tổng số lợi nhuận
là 100 triệu đồng (100trđ = + 200 trđ - 100 trđ). Như vậy xu hướng trên cần tiếp tục
động viên và khai thác trong kì tới.
- Chi phí bán hàng trong kì tăng 50 triệu đồng, chi phí quản lý doanh nghiệp
cũng tăng 50 triệu đồng đã làm lợi nhuận giảm tương ứng 100 triệu đồng; Việc tăng chi
phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cũng phản ánh việc quản lý sử dụng lao
động, vật tư, tiền vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh nói chung, quá trình bán hàng
nói riêng là chưa hợp lý. Phải dựa vào tài liệu hạch toán chi tiết của các yếu tố nói trên
để biết được cụ thể chi phí đã tăng ở nội dung nào, ví dụ chi phí tiền lương, chi phí
quảng cáo, chi phí văn phòng v.v..., từ đó mới có kết luận chính xác và cụ thể hơn và
mới có các quyết định quản lý thích hợp.
- Trong kì phát sinh thu nhập khác là 250 triệu đồng, chi phí khác là 150 triệu
đồng, từ đó làm tổng lợi nhuận trước thuế tăng 100 triệu đồng; Đây cũng là xu hướng
tích cực cần được chú ý để động viên và khai thác trong kì tới.
Tóm lại, qua phân tích chi tiết ở trên, có thể đi đến kết luận như sau:
Việc tăng được tổng lợi nhuận trước thuế trong kì tới chủ yếu là do đơn vị đã tăng
được doanh thu bán hàng. Để đánh giá chính xác tác động của nhân tố này, cần tiếp tục đi
sâu phân tích để làm rõ, trong tổng số tăng đó thì bao nhiêu đó là tăng khối lượng, bao
nhiêu là do điều chỉnh giá bán, từ đó mới có các quyết định quản lý thích hợp để tăng
được kết quả kinh doanh một cách tích cực và bền vững. Mặt khác, nhân tố chủ yếu làm
giảm lợi nhuận trong kì lại là việc tăng giá vốn của hàng xuất bán, cũng chính là giá thành
sản xuất thực tế đã tăng, do vậy cũng cần tiếp tục đi sâu phân tích để làm rõ trong tổng số
tăng của giá thành thì tăng cụ thể ở khoản mục chi phí nào và vì sao khoản mục đó lại
tăng, từ đó mới có các biện pháp thích hợp, cần thiết để hạn chế, loại trừ được tác động
của các nhân tố tiêu cực (làm tăng giá thành) động viên và khai thác được tác động của
các nhân tố tích cực (làm giảm gía thành) với mục đích cuối cùng là tăng được lợi nhuận
cho đơn vị. Những vấn đề nêu ở trên sẽ được nghiên cứu, phân tích ở nội dung tiếp theo.
2.2.2. Phân tích các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh.
2.2.2.1. Phân tích doanh thu bán hàng.
Doanh thu về bán hàng (kí hiệu là D) là doanh thu mà doanh nghiệp được hưởng
(sau khi đã loại trừ các khoản giảm trừ ra khỏi doanh thu bán hàng). Nói một cách cụ
thể hơn, đây là số tiền mà doanh nghiệp đã thu được (hoặc sẽ thu được) do bán những
sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, do đó nó có thể được xác định như sau:
D =
1
n
i
Sli gi
=
¿

Dựa vào công thức xác định nói trên, ta nhận thấy doanh thu tuỳ thuộc vào hai
nhân tố ảnh hưởng cụ thể.
- Số lượng (khối lượng) hàng hoá bán ra.
- Giá bán bình quân đơn vị của hàng bán ra.
Như vậy, để tăng doanh thu, người ta có thể áp dụng các biện pháp để tăng được
số lượng hàng hoá bán ra và tăng giá bán của hàng hoá bán ra.
Nhưng trong điều kiện hiện nay, khi cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt thì giá
bán của hàng hoá cạnh tranh lại có xu hướng giảm và thực tế cho thấy, để chiếm lĩnh thị
trường, các doanh nghiệp thường sử dụng giá bán như là một công cụ chủ yếu. Họ dụa
vào tâm lí của người tiêu dùng, sử dụng chiêu bài "hạ giá" nhân các "ngày nọ", "ngày kia"
để khuyến mại và đôi khi họ thực hiện sự cạnh tranh không lành mạnh bằng chiều dài "hạ
giá" không phù hợp với thực tế. Như vậy, trong điều kiện như phân tích ở trên, các doanh
nghiệp không thể áp dụng biện pháp tăng giá để tăng doanh thu bán hàng mà biện pháp
chủ yếu cần áp dụng chỉ có thể là tăng được số lượng (khối lượng) hàng hoá bán ra.
Để tăng được số lượng (khối lượng) hàng hoá bán ra, vấn đề cơ bản đặt ra phải
nắm được việc tăng (giảm) số lượng hàng hoá bán ra tuỳ thuộc chủ yếu vào những
nguyên nhân nào, trên cơ sở xác định được những nguyên nhân chủ yếu làm tăng (giảm)
số lượng hàng hoá bán ra, người ta mới đưa ra được các quyết định điều chỉnh thích
hợp, kịp thời để hạn chế, loại trừ được tác động của nguyên nhân, nhân tố làm giảm,
động viên và phát huy được tác động của nguyên nhân, nhân tố làm tăng, thông qua đó
mà làm tăng được doanh thu bán hàng cho doanh nghiệp.
* Phân tích những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến số lượng (khối
lượng) hàng hoá bán ra.
Sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra bán được hay không bán được là tuỳ
thuộc vào tác động của rất nhiều các nguyên nhân khác nhau và có thể khái quát lại
thành 3 loại (nhóm) nguyên nhân chủ yếu sau đây:
- Một là thuộc về bản thân doanh nghiệp (kẻ bán).
- Hai là tuỳ thuộc vào người mua (thị trường).
- Ba là tuỳ thuộc vào tác động của Nhà nước.
Sau đây sẽ lần lượt phân tích nhóm các nguyên nhân chủ yếu làm tăng (giảm) số
lượng hàng hoá bán ra.
* Trước hết là những nguyên nhân thuộc về bản thân doanh nghiệp.
- Thuộc về bản thân doanh nghiệp, trước hết là tuỳ thuộc vào kết quả của khâu
sản xuất cả về số lượng, chất lượng của sản phẩm, chủng loại mặt hàng, mẫu mã sản
phẩm và thời hạn của sản xuất.
- Thứ hai: Khi đã có đủ lực lượng hàng hoá bán ra với chất lượng cao, chủng
loại phong phú, mẫu mã đẹp thì việc bán được sản phẩm hay không bán được là tuỳ
thuộc vào các phương tiện vật chất đảm bảo cho công tác bán hàng, như hệ thống kho,
cửa hàng, đại lí, phương tiện vận chuyển, bao bì đóng gói, phương tiện cân, đong, đếm
v.v..).
Thứ ba là tuỳ thuộc vào phương thức bán, hình thức bán và đi theo nó là đội ngũ
những người làm công tác bán hàng;
- Cuối cùng, tuỳ thuộc vào bản thân doanh nghiệp đó là công tác thông tư,
quảng cáo, tiếp thị v.v...


* Những nguyên nhân chủ yếu thuộc về người mua:
- Nguyên nhân đầu tiên thuộc về người mua là sức mua của dân cư mà sức mua
của dân cư lại tuỳ thuộc vào thu nhập của họ. Như ở phần trước đã chỉ rõ, doanh nghiệp
phải xác định trước đối tượng phục vụ của doanh nghiệp là ai (bán cho ai) để quyết định
đầu tư đúng hướng và mang hàng đến đúng địa chỉ.
- Nguyên nhân thứ hai thuộc về người mua là thói quen, truyền thống và thị hiếu
tiêu dùng của từng vùng dân cư, của từng tầng lớp xã hội. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều
kiện cụ thể của từng tầng lớp xã hội, của từng vùng dân cư và tuỳ thuộc vào trình độ
phát triển về kinh tế - xã hội, thông qua công tác bán hàng, người bán (doanh nghiệp) có
thể thay đổi được thói quen tiêu dùng cũ, tạo ra thói quen mới và hướng thị hiếu tiêu
dùng phù hợp hơn với thực tế của xã hội.
* Những nguyên nhân chủ yếu thuộc về Nhà nước:
Như ta đều biết, dù thực hiện cơ chế quản lý nào thì Nhà nước vẫn có vai trò rất
quan trọng, tác động tích cực hoặc tiêu cực đến cả người bán và người mua thông qua
các chính sách đã ban hành. Cụ thể tác động của Nhà nước bao gồm:
- Chính sách tiêu dùng;
- Chính sách thu;
- Chính sách giá.
Các chính sách nói trên có thể khuyến khích, có thể hạn chế tiêu dùng, do đó sẽ
tác động trực tiếp đến kết quả bán hàng của doanh nghiệp. Qua phân tích chi tiết các
nguyên nhân chủ yếu thuộc về bản thân doanh nghiệp, thuộc về người mua, thuộc về
Nhà nước, người ta nhận thấy chúng có mối liên hệ rất mật thiết với nhau. Ví dụ giữa số
lượng, chất lượng của sản phẩm có liên quan mật thiết đến phương thức bán, hình thức
bán, nhân viên bán hàng, đến công tác thông tin quảng cáo, đến sức mua, thị hiếu tiêu
dùng và các chính sách của Nhà nước. Thông qua việc nhận thức được tác động của các
nguyên nhân nói trên, người quản lý sẽ đưa ra được các quyết định điều chỉnh thích hợp
kịp thời để tăng được số lượng hàng hoá bán ra, từ đó đã tăng được doanh thu và lợi
nhuận cho doanh nghiệp.
2.2.2.2. Phân tích giá vốn hàng xuất bán.
* Đối với doanh nghiệp sản xuất
Như người ta biết, thực chất ảnh hưởng của giá vốn hàng xuất bán chính là ảnh
hưởng của giá thành sản xuất sản phẩm bán ra, do đó việc tăng (giảm) giá vốn hàng xuất
bán là do việc tăng (giảm) giá thành sản xuất tạo ra, cho nên thực chất của phân tích giá
vốn lại là phân tích giá thành sản xuất. Đối với các nhà quản lý, những câu hỏi đặt ra
cần được làm rõ là:
- Một là trong kì, giá thành thực tế tăng hay giảm (so với kì trước, so với sự
kiến).
- Hai là giá thành thực tế tăng (giảm) là ở loại sản phẩm (mặt hàng) nào?
- Ba là ở loại sản phẩm (mặt hàng) đó, giá thành tăng (giảm) cụ thể ở khoản mục
nào và nguyên nhân nào; nhân tố nào đã làm tăng (giảm) khoản mục đã nêu v.v.., có
vậy người quản lý mới đưa ra được các quyết định điều chỉnh thích hợp, kịp thời để hạn
chế, loại trừ được tác động của các nhân tố làm tăng, động viên và phát huy ảnh hưởng
của nhân tố làm giảm, thông qua đó mà tiết kiệm được chi phí, hạ giá thành, giảm giá
vốn của hàng xuất bán và tăng được lợi nhuận bán hàng cho doanh nghiệp.
Qua nghiên cứu, người ta thấy rằng để trả lời câu hỏi một và câu hỏi hai, chỉ cần
so sánh giữa giá thành thực tế kì này với giá thành thực tế kì trước (hoặc dự kiến - kì kế
hoạch) của toàn bộ sản phẩm, của từng loại sản phẩm và thông qua đó sẽ biết được tác
động cụ thể của nó đến lợi nhuận bán hàng, nghĩa là việc tăng giá thành sẽ làm giảm
tương ứng lợi nhuận và ngược lại. Nhưng để đáp ứng yêu cầu của quản lý giá thành nói
chung, quản lý việc sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn trong quá trình sản xuất nói riêng,
cần phải trả lời cụ thể câu hỏi thứ ba. Muốn vậy cần thiết phải phân tích chi tiết giá
thành theo khoản mục. Nói cách khác, việc phân tích giá thành sản xuất sản phẩm xuát
bán chỉ tập trung và giới hạn ở việc phân tích giá thành theo khoản mục.
Theo qui định hiện hành, nếu phân loại theo mục đích và công dụng của chi phí
thì chi phí sản xuất được phân thành 3 khoản mục:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
- Chi phí nhân công trực tiếp và
- Chi phí sản xuất chung.
(Đối với doanh nghiệp xây lắp, do đặc thù của nó, ngoài 3 khoản mục nói trên,
giá thành sản phẩm xây lắp còn bao gồm khoản mục chi phí sử dụng máy thi công).
Như vậy 3 khoản mục nói trên có mục đích, công dụng, nguồn gốc phát sinh
khác nhau, do đó yêu càu quản lý đối với từng khoản mục cũng không giống nhau.
Trong tổng giá thành cũng như trong giá thành đơn vị của sản phẩm, chi phí
nguyên vật liệu thường chiếm tỉ trọng lớn nhất, do đó việc tiết kiệm chi phí nguyên vật
liệu sẽ góp phần quyết định đến việc tiết kiệm toàn bộ chi phí sản xuất nói chung và hạ
giá thành sản phẩm nói riêng. Do vậy quản lý chi phí nguyên vật liệu trở thành trọng
điểm của công tác quản lý giá thành và khi tiến hành phân tích giá thành theo khoản
mục, trước hết cần tiến hành phân tích chi phí nguyên vật liệu trong giá thành sản phẩm.
2.2.2.2.1. Phân tích chi phí nguyên vật liệu trong giá thành.
* Mục đích phân tích:
Đối với các nhà quản lý, mục đích của phan tích chi phí về nguyên vật liệu là
trong thực tế sản xuất sản phẩm, đơn vị đã quản lý, sử dụng nguyên vật liệu tiết kiệm
hay lãng phí, nguyên nhân, nhân tố nào đã ảnh hưởng đến kết quả nói trên, từ đó người
ta có căn cứ khoa học để đưa ra các quyết định quản lý thích hợp kịp thời nhằm tiết
kiệm được chi phí về nguyên vật liệu nói riêng, chi phí sản xuất nói chung.
Như người ta biết, mỗi loại sản phẩm (mặt hàng) thường được chế tạo từ những loại
vật liệu khác nhau, với mức tiêu hao và giá xuất dùng khác nhau; mỗi doanh nghiệp lại sản
xuất nhiều loại sản phẩm (mặt hàng) khác nhau, do đó không thể tiến hành phân tích cùng
một lúc tất cả chi phí nguyên vật liệu của toàn bộ sản phẩm mà phải tiến hành phân tích chi
phí nguyên vật liệu trong giá thành của từng sản phẩm (mặt hàng), sau đó mới tổng hợp lại
thành toàn bộ chi phí nguyên vật liệu trong giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
* Chỉ tiêu phân tích.
Đối với từng loại sản phẩm (mặt hàng), chi phí vật liệu tính trong giá thành được
kí hiệu là Cv và nó được xác định theo công thức tổng quát sau đây.
C
v
= SL x
1
n
i
i
i
x F
g
m
=
÷
E

Trong đó:
- SL là số lượng sản phẩm;
- m
i
là mức tiêu hao bình quân của từng loại vật liệu cho một loại sản phẩm;
- g
i
là giá bình quân của từng loại vật liệu xuất dùng;
- F là giá trị tự phế liệu thu hồi (nếu có)
* Trình tự và phương pháp phân tích: Tiến hành phân tích chi phí vật liệu trong
giá thành theo các bước cụ thể sau đây:
* Bước 1: Xác định chỉ tiêu kế hoạch (kì gốc).
Từ công thức tổng quát của chỉ tiêu, nếu thay kì kế hoạch sẽ xác định chỉ tiêu kế
hoạch; nhưng trong thực tế, người ta không sử dụng khoản chi kế hoạch để làm chuẩn
cho việc so sánh mà lại sử dụng khoản chi kế hoạch đã điều chỉnh theo sản lượng thực
tế của sản phẩm nhập kho. Bởi vì như mục đích của phân tích đã chỉ rõ, người ta muốn
biết trong thực tế sản xuất, đơn vị đã sử dụng tiết kiệm hay lãng phí nguyên vật liệu,
nguyên nhân nào đã dẫn đến hiện tượng nói trên và bằng cách nào để khắc phục được
hiện tượng đó... Việc sử dụng lãng phí hay tiết kiệm nguyên vật liệu sẽ được phản ánh ở
sự biến động của mức tiêu hao về nguyên vật liệu mà theo công thức tính chi phí
nguyên vật liệu tính trong giá thành thì mức tiêu hao là nhân tố chất lượng, còn sản
lượng sản phẩm sản xuất và nhập kho lại là nhân tố số lượng, do vậy như nội dung ở
chương 1 đã đề cập, khi nghiên cứu sự biến động của nhân tố chất lượng (mức tiêu hao)
thì nhân tố số lượng (sản lượng sản phẩm nhập kho) đã cố định ở kì thực tế.
Khoản chi vật liệu kì kế hoạch điều chỉnh theo sản lượng nhập kho thực tế - kí
hiệu là C
đ
Vk
được xác định như sau:
F g
m
Sl C
d
k
ki
ki
n
i
d
vk
÷ =
E
=
. .
1
1

Trong đó: F
k
đ
là giá trị phế liệu thu hồi kế hoạch cũng được điều chỉnh theo sản
lượng thực tế.
F
k
đ
=
F
k
. Sl
1
Sl
k
* Bước 2: Xác định chỉ tiêu thực tế:
Khoản chi vật liệu tính trong giá thành kì thực tế xác định như sau:
F g
m
Sl C
i
i
n
i
v 1
1
1
1
1 1
. . ÷ =
E
=

* Bước 3: Xác định kết quả của việc thực hiện chỉ tiêu:
Sử dụng phương pháp so sánh, ta có:
A
CV
= C
v1
- C
đ
Vk
; Một cách chi tiết, ta có:
A
CV
=
F g
m
Sl F g
m
Sl
d
k
ki
ki
n
i
i
i
n
i
+ ÷ ÷
E E
= = 1
1 1
1
1
1
1
; Hay là
A
CV
= ( )
F F g
m
Sl g
m
Sl
d
k
ki
ki
n
i
i
i
n
i
÷ ÷ ÷
E E
= =
1
1
1
1
1
1
1
)
(
;
* Bước 4: Xác định các nhân tố ảnh hưởng:
Từ công thức xác định của chỉ tiêu và thông qua kết quả so sánh của bước 3,
người ta nhận thấy khoản chi vật liệu trong giá thành thay đổi trước hết tuỳ thuộc vào sự
biến động của 3 nhân tố:
- Mức tiêu hao về nguyên vật liệu;
- Giá của vật liệu xuất dùng và
- Giá trị phế liệu thu hồi (nếu có).
Mặt khác người ta nhận thấy rằng, trong thực tế vì nhiều nguyên nhân khác nhau,
để tiến hành sản xuất, doanh nghiệp phải sử dụng vật liệu thay thế. Mỗi loại vật liệu khi
đưa vào sản xuất có mức tiêu hao và giá xuất dùng khác nhau, do đó nếu dùng vật liệu có
mức tiêu hao thấp, giá rẻ hơn để thay thế trong sản xuất thì khoản chi vật liệu trong kì sẽ
giảm và ngược lại. Như vậy trong thực tế, khoản chi của vật liệu trong kì tăng lên hay
giảm đi là tuỳ thuộc vào tác động của 4 nhân tố như đã nêu ở trên. Các nhân tố ảnh hưởng
này có mối quan hệ khác nhau với chỉ tiêu phân tích, do đó bằng các phương pháp thích
hợp, người ta có thể xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố. Cụ thể ta có:
- Do ảnh hưởng của mức tiêu hao :
A ( )
g
m m
Sl
ki
ki i
n
i
m . .
1
1
1
÷ =
E
=

- Do ảnh hưởng của giá vật liệu xuất dùng:
A ( )
g g
m
Sl
ki i
i
n
i
g ÷ =
E
=
1
1
1
1
.
- Do ảnh hưởng của giá trị phế liệu thu hồi.
A
F
= - (F
1
- F
k
đ
);
- Do ảnh hưởng của vật liệu thay thế (Vt)
A
Vt =

Khoản chi thực tế của vật liệu
được thay thế (C
đ1
)
-
Khoản chi kế hoạch đã điều chỉnh của vật
liệu bị thay thế (Cb
k
đ
)
* Bước 5: Phân tích thực chất ảnh hưởng của từng nhân tố.
- Đối với nhân tố mức tiêu hao về nguyên vật liệu:
+ Xét về mức độ: Quan hệ của nhân tố mức tiêu hao với khoản chi vật liệu trong giá
thành là quan hệ tích số, do vậy nhân tố này ảnh hưởng tỉ lệ thuận đến chỉ tiêu phân tích.
+ Xét về tính chất: Mức tiêu hao về nguyên vật liệu thay đổi có thể do tác động
của nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan.
Trường hợp thiết kế sản phẩm làm thay đổi mẫu mã sản phẩm (thay đổi quy mô
kích thước, khối lượng, kiểu dáng của sản phẩm...), từ đó có thể làm tăng hoặc giảm
mức tiêu hao về nguyên vật liệu thì đó là tác động cua nhân tố khách quan.
Trường hợp thiết kế sản phẩm không đổi, mẫu mã sản phẩm không đổi, việc
thay đổi mức tiêu hao về nguyên vật liệu có thể tuỳ thuộc vào chất lượng của công tác
sản xuất nói chung, chất lượng của sản phẩm nói riêng, tuỳ thuộc vào kết quả của việc
quản lý, sử dụng nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất v.v...thì những tác động nói
trên lại là tác động của nhân tố chủ quan trong công tác quản lý của doanh nghiệp.
+ ý nghĩa của việc phân tích: Qua phân tích thực chất ảnh hưởng của nhân tố mức
tiêu hao về nguyên vật liệu, ta có thể rút ra kết luận như sau: việc giảm được mức tiêu hao
về nguyên vật liệu là biện pháp quan trọng của quản lý để giảm chi phí về nguyên vật liệu
nói riêng, giảm giá thành sản phẩm nói chung. Muốn vậy, các doanh nghiệp cần thường
xuyên nghiên cứu để cải tiến mẫu mã sản phẩm sao cho vừa thoả mãn được thị hiếu của
người tiêu dùng, vừa tạo điều kiện để giảm được mức tiêu hao về nguyên vật liệu, giảm
chi phí sản xuất, hạ được giá thành sản phẩm; Mặt khác cần chú trọng nâng cao chất
lượng của sản xuất nói chung, chất lượng của sản phẩm nói riêng, quản lý và sử dụng hợp
lí, tiết kiệm nguyên vật liệu xuất dùng trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp.
- Đối với nhân tố giá vật liệu xuất dùng:
+ Xét về mức độ: Cũng giống như nhân tố mức tiêu hao, ảnh hưởng của nhân tố
giá vật liệu xuất dùng đến khoản chi của vật liệu tính trong giá thành là ảhh hưởng tỉ lệ
thuận vì nó cũng có quan hệ tích số với chỉ tiêu phân tích.
+ Xét về tính chất: Nhân tố giá vật liệu xuất dùng là một nhân tố rất phức tạp vì
bản thân nó lại tuỳ thuộc vào tác động của rất nhiều các nhân tố khác nhau; Trong đó có
nhân tố mang tính chất khách quan, có nhân tố mang tính chất chủ quan. Do vậy cần đề
cập và phân tích chi tiết nội dung cấu thành của giá vật liệu xuất dùng và thông qua đó
mới đánh giá được thực chất ảnh hưởng của nó đến khoản chi vật liệu trong giá thành.
Như người ta biết, giá của vật liệu xuất dùng trước hết tuỳ thuộc vào giá mua và
chi phí mua của nguyên vật liệu.
Trước hết, giá mua nguyên vật liệu lại tuỳ thuộc vào nguồn mua, vào phương
thức mua (mua nhiều hay mua ít, mua trả tiền ngay hay trả chậm) và trong một số
trường hợp, nó còn tuỳ thuộc vào chính sách giá do Nhà nước qui định. (Đối với một số
loại nguyên vật liệu, do tầm quan trọng của nó mà Nhà nước vẫn còn khống chế giá bán
cho các đối tượng sử dụng khác nhau).
Đối với chi phí mua, bản thân nó lại tuỳ thuộc vào rất nhiều các nhân tố khác,
như chi phí vận chuyển, chi phí bốc xếp, chi phí thuê kho bãi, chi phí của bộ phận hay
cán bộ, nhân viên đi mua hàng v.v...nếu tiếp tục đi sâu phân tích thì từng yếu tố nói trên
lại tuỳ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khác, ví dụ chi phí vận chuyển tuỳ thuộc vào loại
đường vận chuyển, phương tiện vận chuyển, giá cước vận chuyển; chi phí của bộ phận,
nhân viên mua hàng lại tuỳ thuộc vào chi phí đi, chi phí ở (công tác phí) v.v... Do tính
phức tạp của nhân tố giá vật liệu xuất dùng như trình bày ở trên, để đánh giá được tính
chất ảnh hưởng của nó, cần phải dựa vào tài liệu hạch toán chi tiết về giá mua, về chi
phí mua mới có được các kết luận chính xác và cụ thể hơn.
+ Xét về ý nghĩa: Thông qua việc phân tích thực chất ảnh hưởng của nhân tố giá
vật liệu xuất dùng, người quản lý có thể rút ra kết luận như sau: Cần khai thác được
nguồn cung cấp nguyên vật liệu hợp lí, ổn định, lựa chọn phương tiện vận chuyển,
phương tiện bốc xếp hợp lí, cố gắng xắp xếp để tổ chức vận chuyển hợp lí, khoa học,
xác định mức chi phí thu mua hoặc khoán chi phí cho bộ phận, nhân viên mua hàng,
quản lí giám sát kiểm tra các hoá đơn, chứng từ có liên quan đến nghiệp vụ mua hàng
v.v... nhằm đích cuối cùng là giảm được giá vật liệu xuất dùng, giảm chi phí nguyên vật
liệu nói riêng, giá thành sản phẩm nói chung cho doanh nghiệp.
- Đối với nhân tố giá trị phế liệu thu hồi.
+ Xét về mức độ ảnh hưởng: Từ quan hệ của nhân tố với chỉ tiêu phân tích, ta
nhận thấy rằng nhân tố giá trị phế liệu thu hồi ảnh hưởng ngược chiều đến khoản chi vật
liệu trong giá thành, nghĩa là việc tăng giá trị phế liệu thu hồi sẽ làm giảm chi phí vật
liệu tính trong giá thành và ngược lại.
+ Xét về tính chất: ảnh hưởng của nhân tố giá trị phế liệu thu hồi cũng được đánh
giá là ảnh hưởng của nhân tố phức tạp, bởi vì trong một số trường hợp, giá trị phế liệu thu
hồi tăng làm khoản chi vật liệu trong giá thành giảm chưa hẳn đã được đánh giá là yếu tố
tích cực. Ví dụ, do áp dụng công nghệ mới, tại công ty In. "X" đã giảm giấy lề sinh ra trong
quá trình cắt giấy, đóng vở, do đó giá trị phế liệu thu hồi từ giấy lề sẽ giảm so với kì trước,
trong trường hợp đó việc giảm tuyệt đối nói trên không thể được đánh giá là yếu tố tiêu cực
trong công tác quản lý mà phải đánh giá ngược lại. Với tính chất phức tạp nói trên, để đánh
giá chính xác được tính chất ảnh hưởng của nhân tố này, cần kết hợp với sự biến động của
chỉ tiêu tỉ lệ thu hồi phế liệu - kí hiệu là Tf và nó được xác định như sau: Tf =
Ft
F
x 100
Trong đó: Ft là trị giá phế liệu thải ra.
Tỉ lệ phản ánh mối tương quan giữa giá trị phế liệu thu được so với trị giá phế
liệu thải ra, do đó tỉ lệ bày càng cao và xu hướng càng tăng, chứng tỏ đơn vị đã làm tốt
công tác quản lý vật liệu nói chung, thu hồi phế liệu nói riêng và ngược lại.
* ý nghĩa của phân tích: Qua nghiên cứu, phân tích thực chất ảnh hưởng của nhân tố
giá trị phế liệu thu hồi, người quản lý rút ra được kết luận như sau: cần áp dụng các biện
pháp kĩ thuật và công nghệ sản xuất tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm, hạn chế và
loại trừ sản phẩm hỏng, giảm lượng phế liệu thải ra trong quá trình sản xuất, làm tốt công
tác tận thu phế liệu để giảm chi phí vật liệu, hạ giá thành sản phẩm cho doanh nghiệp.
- Đối với nhân tố vật liệu thay thế.
+ Xét về mức độ: Việc phát sinh vật liệu thay thế có thể theo hai xu hướng khác nhau.
Nếu thực tế đơn vị sử dụng vật liệu rẻ tiền thay thế cho vật liệu đắt tiền (mức tiêu hao không đổi
hoặc thay đổi không đáng kể) thì chi phí vật liệu trong giá thành sẽ giảm đi và ngược lại.
+ Xét về tính chất: Trong thực tế, việc sử dụng vật liệu thay thế là do tác động của
nhiều nguyên nhân khác nhau; Ví dụ do nguồn cung cấp vật liệu thay đổi, đặc biệt là đối
với vật liệu nhập từ nước ngoài, do thay đổi công nghệ, điều chỉnh thiết kế mẫu mã sản
phẩm, do khâu tổ chức cung ứng nguyên vật liệu của bản thân doanh nghiệp v.v... Do vậy,
để đánh giá được tính chất ảnh hưởng của nhân tố này, cần phải xác định được nguyên nhân
cụ thể nào đã dẫn đến đơn vị phải sử dụng vật liệu thay thế để tiến hành sản xuất và chính
nguyên nhân đó sẽ giải thích được tính chất chủ quan hay khách quan của nhân tố vật liệu
thay thế.
+ ý nghĩa của phân tích.
Từ việc phân tích thực chất ảnh hưởng của nhân tố vật liệu thay thế, các nhà
quản lý nhận thấy rằng, có thể sử dụng vật liệu ở trong nước thay thế cho vật liệu phải
nhập từ nước ngoài để chủ động hơn về nguồn cung cấp, dùng vật liệu rẻ tiền hơn thay
thế cho vật liệu đắt tiền để phấn đấu giảm chi phí về vật liệu v.v... nhưng cần tuân theo
một yêu cầu của quản lý, đó là việc thay thế vật liệu không được làm giảm chất lượng
của sản phẩm sản xuất trong kì của doanh nghiệp.
* Ví dụ phân tích. Để minh hoạ, giải thích cụ thể cho những vấn đề lí luận được
đặt ra ở trên, có thể lấy ví dụ phân tích như sau:
Giả định tại công ty X, để tiến hành sản xuất sản phẩm M, người ta có các tài
liệu, số liệu như sau.
Tình hình sản xuất sản phẩm M
Bảng 2.3
Chỉ tiêu Kế hoạch Thực tế
1. Số lượng sản xuất và nhập kho (chiếc) 500 510
2. Khối lượng vật liệu xuất trong kì (kg)
- Vật liệu a 5.000 5.220
- Vật liệu b 10.000 -
- Vật liệu c 25.000 24.480
- Vật liệu d - 10.100
3. Đơn giá vật liệu xuất dùng (1000đ/ -kg)
- Vật liệu a 200 198
- Vật liệu b 100 -
- Vật liệu c 200 201
- Vật liệu d - 102
4. Trị giá phế liệu thải ra (1000đ) 50.000 40.000
5.Trị giá phế liệu thu hồi (1000đ) 40.000 36.000
Tài liệu bổ sung: Cuối kì vật liệu a nhập lại kho 18kg; vật liệu d nhập lại kho 155kg.
Căn cứ vào các số liệu của bảng 2.3, ta lần lượt tính toán các chỉ tiêu cần thiết
sau đây.
- Bước 1: Xác định các chỉ tiêu kế hoạch.
Từ số liệu của bảng 2.3 ta có:
; 10
500
5000
kg
kg
m
a
k
= = ; 20
500
000 . 10
kg
kg
m
b
k
= = ; 50
500
000 . 25
kg
kg
m
c
k
= =
nd x
nd
x
F T
d
k fk
800 . 40 5410
500
000 . 40
; % 80 100
000 . 50
000 . 40
= = = =
C
đ
vk
= [(510x10x200) + (510x20x100) + (510 x 50 x 200)] - 40.800nđ
C
đ
vk
= 7.099.200nđ
- Bước 2: Tính các chỉ tiêu thực tế:
T
f1
=
36.000
x 100 = 90%
40.000
; 2 , 10
510
18 5220
1
kg
m
a
=
÷
= ; 48
510
480 . 24
1
kg
m
c
= =
; 5 , 19
510
155 100 . 10
1
kg
m
d
=
÷
=
C
v1
= [(510x10,2x198)+(510x48x201)+(510x19,5x102)] - 36.000 =
C
v1
= 6.928.866đ
- Bước 3: Xác định kết quả của việc thực hiện chỉ tiêu:
Qua so sánh, ta có:
A
CV
= 6.928.866nđ - 7.099.200nđ = - 170.334nđ
- Bước 4: Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố:
+ Do ảnh hưởng của mức tiêu hao về vật liệu.
Am = [510(10,2 - 10) x 200 + 510 (48 - 50) x 200] = -183.600nđ;
+ Do ảnh hưởng của giá vật liệu xuất dùng.
Ag = [510 x 10,2 (198 - 200) + 510 x 48 (201 - 200)] = + 14.076nđ
+ Do ảnh hưởng của giá trị phế liệu thu hồi.
A
F
= - (36.000nđ - 40.800nđ) = + 4.800nđ
+ Do ảnh hưởng của vật liệu thay thế.
A
Vt
= (510 x 19,5 x 102) - (510 x 20 x 100) = - 5610nđ
Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố:
- 183.000nđ + 14.076nđ + 4.800nđ - 5.610nđ = - 170.334nđ
- Bước 5: Nhận xét, phân tích.
Căn cứ vào các kết quả tính được ở trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau:
So với mục tiêu đặt ra, chi phí thực tế về vật liệu tính trong giá thành sản phẩm
trong kì đã giảm được là 170.344 ngàn đồng. Việc giảm chi phí vật liệu nói trên sẽ làm
giá thành giảm tương ứng và đương nhiên sẽ làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Để
có kết luận chính xác cụ thể hơn, cần dựa vào mức độ và tính chất ảnh hưởng của từng
nhân tố đến kết quả nói trên.
- Trước hết, do thay đổi mức tiêu hao về vật tư đã làm khoản chi vật liệu giảm là
183.600đ; Rõ ràng đây là nhân tố chủ yếu làm giảm khoản chi vật liệu trong kì. Việc
thay đổi mức tiêu hao về vật tư làm giảm chi phí trong trường hợp số lượng sản phẩm
nhập kho thực tế tăng 10 sản phẩm so với dự kiến, chứng tỏ rằng do tăng được khối
lượng và chất lượng của công tác sản xuất nói chung, của chất lượng sản phẩm nói riêng
đã là nguyên nhân chủ yếu để đơn vị tiết kiệm được chi phí vật liệu trong kì và do vậy,
đây là tác động của nhân tố chủ quan trong công tác quản lý của doanh nghiệp.
- Thứ hai, giá vật liệu trong kỳ thay đổi đã làm tăng chi phí vật liệu là 14076nđ;
Đây là tác động của nhân tố phức tạp, do vậy phải dựa vào tài liệu hạch toán chi tiết về
giá mua, về chi phí mua mới có được kết luận chính xác và cụ thể hơn.
- Thứ ba, giá trị phế liệu thu hồi trong kì giảm đã làm tăng khoản chi tương ứng
là 4800đ; Tuy vậy, nếu phân tích kết hợp với tỉ lệ thu hồi phế liệu trong kì thì tình hình
có xu hướng ngược lại.
Theo dự kiến, tỉ lệ thu hồi phế liệu là 80% so với giá trị phế liệu thải ra, nhưng
thực tế tỉ lệ thu hồi là 90%, tăng 10% so với dự kiến.Với việc tăng được tỉ lệ thu hồi phế
liệu, chứng tỏ đơn vị đã làm tốt công tác tận thu phế liệu và tương ứng với tỉ lệ tăng
thêm 10%, giá trị phế liệu đã tận thu thêm được là:
40.000nđ x 10% = 4.000nđ
- Cuối cùng, trong kì đơn vị đã sử dụng vật liệu "d" để thay thế cho vật liệu "b"
đã làm khoản chi giảm là 5610 nđ. Việc thay thế vật liệu làm giảm chi phí trong trường
hợp sản lượng nhập kho thực tế tăng so với dự kiến (từ 500 lên 510 sản phẩm) chứng tỏ
việc thay thế này không làm giảm chất lượng của sản phẩm, do vậy xu hướng trên cần
được động viên và khai thác trong kì tới.
Tóm lại, qua phân tích chi tiết các nhân tố ảnh hưởng nói trên, có thể đi đến kết
luận rằng, việc giảm khoản chi vật liệu trong kì, trước hết là do đơn vị đã tăng được
chất lượng của công tác sản xuất nói chung, tăng chất lượng sản phẩm nói riêng, đồng
thời đã sử dụng vật liệu thay thế thích hợp, vừa đảm bảo tiến độ của sản xuất, vừa giảm
được chi phí vật liệu cho doanh nghiệp. Đồng thời cũng qua việc phân tích chi tiết nói
trên, có thể kiến nghị một số giải pháp sau đây:
- Đưa vật liệu "d" trở thành vật liệu chính để sản xuất (loại bỏ vật liệu b);
- Tiếp tục tìm kiếm các giải pháp để đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm;
- Kiểm tra, xem xét cụ thể giá xuất dùng của vật liệu "c" để xác định việc tăng
giá xuất dùng là do giá mua hay tăng chi phí mua v.v.... từ đó mới quyết định được biện
pháp thích hợp trong quản lý với mục đích cuối cùng là tiết kiệm chi phí vật liệu nói
riêng, chi phí sản xuất nói chung, tăng hiệu quả sản xuất cho doanh nghiệp.
2.2.2.2.2. Phân tích chi phí nhân công.
Trong tổng giá thành cũng như trong giá thành sản phẩm đơn vị của sản phẩm, chi
phí nhân công cũng thường chiếm tỉ trọng tương đối lớn, do đó việc giảm được chi phí nhân
công cũng là biện pháp rất quan trọng để giảm đựoc gía thành sản phẩm. Để giảm được chi
phí nhân công, cần phải biết được nó tuỳ thuộc vào sự tác động của các nguyên nhân, nhân
tố nào. Trong quản lý để trở lời các câu hỏi đó, cần thiết phải phân tích chi phí nhân công.
Trong các doanh nghiệp sản xuất, người ta đang áp dụng hai hình thức trả lương phổ biến.
- Hình thức trả lương sản phẩm và
- Hình thức trả lương thời gian
Như vậy quĩ lương của doanh nghiệp sẽ bao gồm các quĩ lương sản phẩm và quĩ
lương thời gian. Do tính chất phức tạp nói trên, để đạt được mục đích của quản lý, phân
tích chi phí nhân công phải làm rõ 2 yêu cầu sau đây:
- Một là so với kì trước (hoặc so với dự kiến), chi phí nhân công thực tế trong kì
tăng hay giảm, với mức tăng (giảm) cụ thể là bao nhiêu;
- Hai là trong tổng số tăng (giảm) đó, cụ thể là tăng (giảm) ở lương sản phẩm
hay lương thời gian và nguyên nhân, nhân tố nào đã ảnh hưởng đến kết quả tăng (giảm)
và bằng cách nào để khắc phục được những tồn tại của những kỳ đã qua, động viên và
khai thác được khả năng tiền tàng của kì sắp tới.
Để biết được mức độ tăng (giảm) của tổng chi phí nhân công, của chi phí nhân
công theo từng hình thức tiền lương, người ta chỉ việc so sánh giữa chi phí thực tế kỳ
này với chi phí kỳ gốc; nhưng để đáp ứng được yêu cầu của quản lý giá thành nói
chung, quản lý chi phí nhân công nói riêng (mà thực chất là tình hình sử dụng lao động
về số lượng, về thời gian, về kết quả của sản xuất cả về khối lượng và chất lượng v.v...),
cần thiết phải phân tích chi phí nhân công theo từng hình thức trả lương của doanh
nghiệp.
* Trước hết cần phân tích quỹ lương nói chung của doanh nghiệp
Quỹ lương của doanh nghiệp là tổng tiền lương và các khoản phụ cấp lương mà
doanh nghiệp trả cho người lao động.
Một các tổng quát, tổng quỹ lương – ký hiệu QL được xác định như sau:
Tl CN QL . = (1)
Trong đó: - CN là số công thức nhân sản xuất bình quân trong danh sách;
- Tl là tiền lương bình quân của một công nhân
Theo công thức này, quỹ lương của doanh nghiệp không phản ánh được mối
quan hệ của quỹ lương với kết quả của sản xuất và với năng suất lao động, do vậy việc
phân tích sẽ không có ý nghĩa với quản lý.
Như người ta biết, số công nhân sản xuất bình quân trong danh sách ( CN )có thể
được xác định như sau:
NS
G
CN
sx
=
; Trong đó
sx
G là giá trị sản suất; NS là năng suất lao động bình quân.
Nếu thay giá trị của CN vào công thức (1), ta có:
Tl
NS
G
QL
sx
× = (2)
Theo công thức (2), quỹ lương nói chung của doanh nghiệp tuỳ thuộc vào 3
nhân tố: giá trị sản xuất; năng suất lao động bình quân và tiền lương bình quân. Nghĩa là
kết quả của sản xuất đã ảnh hưởng tỷ lệ thuận đến quỹ lương, năng suất lao động tỷ lệ
nghịch đều quỹ lương.
Do các nhân tố ảnh hưởng có quan hệ kết hợp với cả tích và thương đối với quỹ
lương, để tính ảnh hưởng của từng nhân tố, người ta sử dụng phương pháp thay thế liên
hoàn.
Cụ thể, khi so sánh quỹ lương thực tế với quỹ lương kỳ gốc, ta có:
QL QL Ql A = ÷
0 1
.
Chênh lệch quỹ lương ( QL A ) được giải thích bởi các nhân tố cụ thể sau:
- Do ảnh hưởng của giá trị sản xuất:
0 0
0
1
. QL Tl
NS
G
G
sx
sx
÷ = A ;
- Do ảnh hưởng của năng suất lao động bình quân:
0
0
1
0
1
1
. . Tl
NS
G
Tl
NS
G
NS
sx sx
÷ = A ;
- Do ảnh hưởng của tiền lương bình quân:
0
1
1
1
.Tl
NS
G
QL Tl
sx
÷ = A
Qua phân tích nhân tố, có thể rút ra kết luận: Việc tăng năng suất lao động sẽ là
biện pháp cơ bản để chi phí tiền lương của doanh nghiệp
* Phân tích quĩ lương theo hình thức lương thời gian.
Theo hình thức lương thời gian, doanh nghiệp căn cứ vào thời gian làm việc và
lương cấp bậc, chức vụ để trả cho người lao động; theo đó, quĩ lương thời gian (Qlt) có
thể được xác định như sau:
Qlt = N CNt × . ln
Trong đó: - CNt là số công nhân hưởng lương thời gian;
- N là số ngày làm việc bình quân của 1 công nhân
sản xuất hưởng lương thời gian;
- ln là lương bình quân ngày.
Qua công thức xác định ở trên, người ta nhận thấy quĩ lương theo thời gian (chi
phí nhân công trực tiếp theo hình thức lương thời gian) tuỳ thuộc vào tác động của 3
nhân tố, khi sử dụng phương pháp số chênh lệch, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố
lần lượt được xác định như sau:
- Do số công nhân hưởng lương thời gian:
- ACN
t
= (CN
t1
- CN
tk
) . N
k
x ln
k

- Do số ngày làm việc bình quân:
AN = CN
t1
. (N
1
- N
k
). ln
k

- Do lương bình quân ngày:
Aln = CN
t1
. N
1
. (ln
1
- ln
k
)
Thông qua phân tích tác động của từng nhân tố nói trên, người ta sẽ rút ra được
những kết luận cần thiết cho công tác quản lý của doanh nghiệp.
* Trước hết là đối với số công nhân sản xuất.
Việc tăng hay giảm số công nhân sản xuất sẽ làm tăng hay giảm giá trị sản xuất
nói chung và quĩ lương nói riêng. Đứng tù góc độ quản lý, để tiết kiện chi phí sản xuất
nói chung, chi phí tiền lương nói riêng thì tốc độ tăng của giá trị sản xuất phải lớn hơn
tốc độ tăng của quĩ lương. Muốn đạt được yêu cầu nói trên, về mặt quản lý, doanh
nghiệp cần chú ý giải quyết các vấn đề chủ yếu sau đây:
- Việc tuyển dụng lao động là tuỳ thuộc vào quy mô, nhiệm vụ sản xuất của
doanh nghiệp, vào trình độ trang bị kĩ thuật về tài sản cố định;
- Phải có chính sách chế độ sử dụng lao động hợp lí, phù hợp với luật lao động,
luôn tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao được trình độ tay nghề cho người lao động,
đồng thời giúp họ nhận thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của người lao động đối với
doanh nghiệp nói riêng và với sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước nói chung. Nói
cách khác, người sử dụng lao động (doanh nghiệp) và người lao động được sử dụng cần
thống nhất được với nhau trên quan điểm sau đây: khi doanh nghiệp còn tồn tại và phát
triển vững chắc thì người lao động mói có công ăn việc làm; ngược lại để doanh nghiệp
tồn tại và phát triển thì đòi hỏi người lao động phải xác định được nghĩa vụ lao động,
nghĩa là phải lao động (làm việc) có kỉ luật, có kĩ thuật và năng suất cao, suốt đời gắn
bó với doanh nghiệp hay là "có an cư mới lạc nghiệp".
* Về số ngày làm việc của công nhân sản xuất: Trong điều kiện năng suất lao
động không đổi, việc tăng (giảm) số ngày làm việc của công nhân sản xuất sẽ làm tăng
(giảm) giá trị sản xuất và do đó cũng làm tăng (giảm) chi phí tiền lương. Như vậy
thông qua việc nghiên cứu sự biến động của nhân tố ngày công, không những người ta
biết được ảnh hưởng cụ thể của nó đến quĩ lương theo thời gian mà còn biết được kết
quả của việc quản lý, sử dụng thời gian lao động của doanh nghiệp.
Như người ta biết, theo thống kê lao động nói chung và thời gian lao động nói
riêng, số ngày làm việc của công nhân sản xuất có thể được xác định như sau:
Số ngày làm việc = số ngày chế độ - số ngày vắng mặt và ngừng việc + số ngày
làm thêm.
Theo công thức xác định nói trên thì số ngày chế độ là đại lượng không đổi, do
vậy số ngày làm việc chỉ tuỳ thuộc vào 2 nhân tố:
- Số ngày vắng mặt và ngừng việc;
- Số ngày làm thêm
Thực tế quản lý cho thấy trong điều kiện bình thường (khi người lao động đã
làm đủ ngày công, giờ công) thì các doanh nghiệp không nên huy động công nhân làm
thêm, vì khi đó chỉ có thể huy động công nhân làm việc vào ngày lễ, ngày chủ nhật hoặc
ngày nghỉ cuối tuần. Làm việc vào các ngày nghỉ nói trên đây vừa ảnh hưởng đến thời
gian nghỉ ngơi của người lao động, vừa phải trả tiền công cao hơn và do đó làm tăng chi
phí tiền lương, tăng giá thành và giảm lợi nhuận. Nói cách khác, biện pháp quản lý nói
trên vừa tác động tiêu cực đến người lao động, vừa tác động tiêu cực đến kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp, do đó nó không được khuyến khích trong quản lý.
Qua phân tích nói trên, có thể đi đến kết luận rằng để đảm bảo và tăng số ngày
làm việc hợp lí, biện pháp cơ bản chỉ có thể là giảm rõ ngày vắng mặt và ngừng việc. Số
ngày vắng mặt và ngừng việc bao gồm nhiều loại ngày có nguồn gốc phát sinh khac
nhau, do đó yêu cầu quản lý khác nhau. Ví dụ số ngày vắng mặt do nghỉ phép, do hội
họp, do đi học, đi an dưỡng, do bị ốm đau, do nghỉ thai sản (đối với nữ công nhân),
ngừng việc do thiếu nguyên liệu, do thiết bị hỏng, do thiên tai, do tai nạn lao động, do
công nhân tự ý nghỉ việc v.v... Như vậy phải nắm được nội dung cụ thể của số ngày
vắng mặt, ngừng việc thực tế thì mới có các biện pháp quản lý thích hợp để giảm được
nó, tăng được số ngày làm việc cho doanh nghiệp. Ví dụ,để giảm số ngày nghỉ về thai
sản, người quản lý không thể đưa ra biện pháp hạn chế tuyển dụng nữ công nhân mà
phải làm tốt công tác kế hoạch hoá gia đình.
* Về lương bình quân ngày: Lương bình quân ngày tăng hay giảm, cao hay thấp sẽ
ảnh hưởng tỉ lệ thuận đến quĩ lương theo thời gian và nó tuỳ thuộc vào lương cấp bậc, chức
vụ của người lao động. Do vậy thông qua sự biến động của lương bình quân ngày, người ta
sẽ biết được sự biến động về cấu thành của lực lượng lao động nói chung và sự biến động
của hệ số cấp bậc công nhân bình quân nói riêng. Ví dụ nếu lương bình quân ngày kì này
giảm so với kì trước, chứng tỏ số lao động có tay nghề cao, lâu năm đã giảm, số lao động
học nghề, mới được tuyển dụng tăng và chính sự biến động theo xu hướng này có thể đã
làm chất lượng sản phẩm nói riêng, chất lượng công tác sản xuất nói chung giảm đi và
đương nhiên ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy thông
qua nhân tố lương bình quân ngày có thể giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp có các
quyết định điều chỉnh hợp lí, thích hợp về cơ cấu lực lượng lao động của doanh nghiệp.
Ví dụ: Giả định tại công ty X có số liệu sau đây:
Bảng 2.4
Chỉ tiêu Kế hoạch Thực tế
1. Số công nhân viên hưởng lương thời gian 200 205
2. Số ngày làm việc bình quân một công nhân. 200 202
3. Lương bình quân ngày của công nhân 65.000đ 60.000đ

Tài liệu bổ sung:
- Trong kỳ, số ngày vắng mặt, ngừng việc bình quân của 1 công nhân tăng 2
ngày là do thiếu nguyên vật liệu.
- Cuối năm nguyên vật liệu đã được cung cấp đầy đủ, đơn vị đã huy động công
nhân làm thêm bình quân 4 ngày/người.
- Cũng cuối năm đó một số lao động đến tuổi đã về hưu, đơn vị đã tuyển dụng
một số lao động mới.
Dựa vào các số liệu đã cho, ta lần lượt tính toán như sau:
Bước 1: Tính chỉ tiêu kế hoạch:
QL
TK
= 200 người x 200 ngày x 65.000đ = 2.600.000.000đ
Bước 2: Tính chỉ tiêu thực tế:
QL
t1
= 205 người x 202 ngày x 60.000đ = 2.484.600.000đ
Bước 3: Tính đối tượng cụ thể của phân tích:
AQL
t
= 2.484.600.000đ - 2.600.000.000đ = - 115.400.000đ
Bước 4: Tính mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố:
- Do số công nhân hưởng lương thời gian:
ACN
t
= (205- 200) x 200 x 65.000đ = 65.000.000đ
- Do số ngày làm việc:
AN = 205 x (202 - 200) x 65.000đ = 26.650.000đ
- Do lương bình quân ngày:
Aln = 205 x 202 x (60.000đ - 65.000đ) = - 207.050.000đ
Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố:
65.000.000đ + 26.650.000đ - 207.050.000đ = - 115.400.000đ
Bước 5: Nhận xét:
Dựa vào các kết quả tính được ở trên, ta rút ra mọt số nhận xét như sau:
Quĩ lương theo thời gian trong kì đã giảm so với dự kiến (kế hoạch) là
115.400.000đ, việc giảm quĩ lương sẽ làm giảm chi phí nhân công trực tiếp, giảm giá
thành sản phẩm. Tuy vậy để có đánh giá chính xác và cụ thể hơn, cần căn cứ vào mức
độ và tính chất ảnh hưởng của từng nhân tố.
- Do tăng số công nhân hưởng lương thời gian từ 200 lên 205 người (tăng 5
người) đã làm quĩ lương tăng 65.000.000đ. Việc tăng số công nhân làm tăng quĩ lương
là hiện tượng bình thường của quản lý.
- Do tăng số ngày làm việc bình quân của công nhân sản xuất 2 ngày/ 1 người đã
làm quĩ lương tăng 26.650.000đ. Dựa vào tài liệu chi tiết, ta thấy:
Số ngày vắng mặt, ngừng việc bình quân trong kỳ tăng 2 ngày là do thiếu NVL,
cho nên đơn vị phải ngừng sản xuất; Cuối kì khi nguyên liệu được cung cấp đầy đủ đơn
vị đã huy động công nhân làm thêm 4 ngày/người. Như vậy việc tăng số ngày làm việc
không phải do giảm số ngày vắng mặt, ngừng việc, mà là do đơn vị huy động công nhân
làm thêm. Kết quả trên là hiện tượng chưa hợp lý của công tác quản lý lao động nói
chung, quản lý thời gian làm việc nói riêng. Vì việc huy động công nhân làm thêm chỉ
có thể huy động vào các ngày lễ, ngày nghỉ cuối tuần và ngày chủ nhật, vừa ảnh hưởng
đến thời gian nghỉ ngơi của người lao động, vừa làm tăng chi phí nhân công, tăng giá
thành, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Cuối cùng,lương bình quân ngày giảm 5000đ/ ngày/ 1 người đã làm giảm quĩ
lương là 207.050.000đ. Dựa vào tài liệu đã cho, trong kì một số lao động có cao tuổi,
lương cấp bậc cao đã nghỉ việc, đơn vị đã tuyển dụng một số lao động mới hưởng lương
khởi điểm, do đó đã làm giảm lương bình quân nói riêng, quĩ lương nói chung. Việc
giảm nói trên cũng là hiện tượng bình thường của công tác quản lý lao động nói chung,
quản lý quĩ lương nói riêng.
Tóm lại, qua phân tích chi tiết nói trên, ta có thể đi đến kết luận rằng, việc giảm
quĩ lương theo thời gian chủ yếu là do giảm lương bình quân ngày, mà việc giảm lương
bình quân ngày lại là do thay đổi cơ cấu người lao động, do đó quĩ lương giảm là hiện
tượng bình thường của quản lý. Vấn đề cần quan tâm ở đây là, không để việc thay đổi
cơ cấu đội ngũ công nhân ảnh hưởng đến khối lượng và chất lượng của sản xuất nói
chung, của sản phẩm nói riêng và đơn vị cần có kế hoạch bồi dưỡng, kèm cặp để nâng
cao tay nghề cho số lao động mới được tuyển dụng để họ đảm đương được công việc
được giao.
* Phân tích quĩ lương theo hình thức lương sản phẩm (Qls).
Theo hình thức tiền lương này thì doanh nghiệp trả lương cho người lao động
căn cứ vào số lượng (khối lượng) sản phẩm nhập kho và đơn giá lương cho từng loại
sản phẩm. Vì doanh nghiệp thường sản xuất nhiều loại sản phẩm (mặt hàng), nên quĩ
lương theo hình thức lương sản phẩm có thể được xác định như sau:
QLs = x Sli
n
i
¿
=1
đ
i

Trong đó: - Sli là số lượng nhập kho của từng loại sản phẩm;
- đ
i
là đơn giá lương của từng loại sản phẩm.
- Dựa vào công thưc xác định ở trên, ta thấy quĩ lương trong trường hợp trả
lương theo sản phẩm tuỳ thuộc vào 3 nhân tố:
- Số lương sản phẩm nhập kho;
- Kết cấu sản phẩm (mặt hàng) sản xuất.
- Đơn giá lương của sản phẩm.
Các nhân tố ảnh hưởng nói trên có quan hệ tích số với chỉ tiêu, do đó bằng
phương pháp thay thế liên hoàn, người ta có thể tính được mức độ ảnh hưởng của từng
nhân tố. Cụ thể bằng phương pháp thay thế liên hoàn, mức độ ảnh hưởng của từng nhân
tố lần lượt được xác định như sau:
+ Do số lượng sản phẩm nhập kho:
1
1
1
.
n
i
ki
i
n
Sk Sk
ki
ki
i
SL
g
Sl
QL QL
g
Sl
=
=
A = ÷
E
E

+ Do kết cấu mặt hàng sản xuất:
1
1
1
1
1
. .
n
n i
ki
i
n i ki
Sk
i
ki
ki
i
K
g
Sl
QL
Sl d
g
Sl
=
=
=
A = ÷
E
E
E

+ Do đơn giá lương thay đổi:
1
1
1
.
n
i ki
S
i
d
QL
Sl d
=
A = ÷
E

Tiến hành phân tích đối với từng nhân tố nói trên, ta thấy như sau:
* Đối với số lượng sản phẩm nhập kho: Số lượng sản phẩm nhập kho tăng
(giảm) sẽ làm tăng (giảm) quĩ lương theo sản phẩm. Để nhập được kho, sản phẩm làm ra
phải đạt được những yêu cầu bắt buộc về chất lượng sản phẩm. Nói cách khác, phải qua
sự kiểm tra của bộ phận kiểm tra chất lượng sản phẩm mới được nhập kho. Như vậy
thông qua sự biến động về số lượng sản phẩm nhập kho, người quản lý có thể đánh giá
được sự biến động về chất lượng của sản phẩm nói riêng, chất lượng của công tác sản
xuất nói chung, từ đó mới có các quyết định quản lý thích hợp tác động vào khâu sản xuất
để tăng được chất lượng của sản xuất nói chung, của sản phẩm nói riêng và cuối cùng là
tăng được khối lượng sản phẩm nhập kho. Khi khối lượng sản phẩm nhập kho tăng trong
điều kiện lao động, vật tư, tiền vốn bỏ ra không đổi thì chi phí sản xuất nói chung, chi phí
nhân công nói riêng tính cho đơn vị sản phẩm sẽ giảm xuống và ngược lại.
Như ta biết, muốn tăng chất lượng của sản xuất nói chung, của sản phẩm nói
riêng, cần phải xác định được những nguyên nhân chủ yếu nào đã tác động đến nó, từ
đó mới đưa ra được các biện pháp thích hợp để đảm bảo và tăng được chất lượng của
sản xuất nói chung và của sản phẩm nói riêng.
Thực tế của sản xuất cho thấy có rất nhiều nguyên nhân làm tăng (giảm) chất
lượng công tác sản xuất nói chung, chất lượng sản phẩm nói riêng, nhưng có thể khái
quát lại thành 5 loại (nhóm) nguyên nhân chủ yếu sau đây:
- Những nguyên nhân thuộc về tình hình trang bị tài sản cố định nói chung, máy
móc, thiết bị sản xuất nói riêng và tình trạng kĩ thuật của nó;
- Những nguyên nhân thuộc về khâu cung cấp nguyên vật liệu cả về số lượng,
chất lượng, chủng loại, thời hạn;
- Những nguyên nhân thuộc về lực lượng lao động, bao gồm số lượng lao động,
trình độ tay nghề, ý thức và thái độ của người lao động;
- Những nguyên nhân thuộc về khoa học kĩ thuật, như việc áp dụng, sử dụng các
thành tựu mới nhất của khoa học kĩ thuật (về thiết bị, công nghệ v.v...) việc áp dụng các
sáng kiến cải tiến về kĩ thuật;
- Những nguyên nhân thuộc về công tác quản lý sản xuất nói riêng, quản lý
doanh nghiệp nói chung, như việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn
quốc tế (hệ thống ISO), các biện pháp quản lý chất lượng của doanh nghiệp, việc đưa ra
và vận dụng các chính sách về chất lượng v.v...
Khi nhận thức được các nguyên nhân ảnh hưởng, tuỳ trường hợp mà người quản lý sẽ
đưa ra các quyết định thích hợp để hạn chế, loại trừ được tác động của các nguyên nhân làm giảm,
động viên và khai thác được tác động của các nguyên nhân làm tăng để cuối cùng đạt được mục
đích là tăng được chất lượng của sản xuất nói chung, chất lượng của sản phẩm nói riêng.
* Đối với nhân tố kết cấu mặt hàng sản xuất:
Mỗi loại sản phẩm có đơn giá lương khác nhau (được coi là một định mức kinh tế -
kĩ thuật của doanh nghiệp). Trong thực tế, nếu tăng tỉ trọng sản xuất sản phẩm có đơn giá
lương cao, giảm tỉ trọng sản xuất sản phẩm có đơn giá lương thấp thì tổng chi phí tiền lương
sản phẩm sẽ tăng và ngược lại, mặc dù khi đó đơn giá lương của từng loại sản phẩm không
đổi. Chi phí tiền lương thay đổi nói trên là do tác động của kết cấu mặt hàng sản xuất.
Xét về tính chất thì việc tăng (giảm) tỉ trọng sản xuất mặt hàng nào đó trước hết
là do tác động của nhu cầu thị trường, tức là tác động của nhân tố khách quan. Nhưng
để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của thị trường thường xuyên biến động, các doanh
nghiệp phải tự điều chỉnh hoạt động của mình, như điều chỉnh trang thiết bị, nguyên vật
liệu, bố trí xắp xếp lại lao động, đào tạo lại tay nghề cho người lao động, thay đổi
phương pháp quản lýv.v..., nghĩa là nó lại tuỳ thuộc vào yếu tố chủ quan trong công tác
quản lý của doanh nghiệp.
Thông qua việc nghiên cứu tác động của nhân tố kết cấu mặt hàng sản xuất, người
ta có thể rút ra kết luận rằng, người quản lý phải thường xuyên nghiên cứu để nắm bắt được
nhu cầu của thị trường để từ đó có các quyết định điều chỉnh thích hợp, kịp thời sao cho vừa
đáp ứng được nhu cầu của thị trường, vừa tăng được lợi ích cho bản thân doanh nghiệp.
* Đối với nhân tố đơn giá lương: Đơn giá lương được xác định là một định
mức kinh tế - kĩ thuật của doanh nghiệp, trong khoảng thời gian nhất định nó ít biến
động, do đó nó không là trọng điểm của quản lý. Tuy vậy cũng cần kiểm tra, xem xét
việc xây dựng đơn giá lương để nó đảm bảo tính khoa học, tính hợp lí và nó thực sự có
tác động tích cực trong quản lý doanh nghiệp.
Ví dụ phân tích:
Giả định tại công ty Y, ta có các tài liệu sau đây
Bảng 2.5
Tên sản
phẩm
Sản lượng sản xuất (cái) Giá bán đơn vị (1000đ)
Đơn giá lương
(1000đ)
Kế hoạch Thực tế Kế hoạch Thực tế
A 1000 1200 100 110 10
B 800 700 80 82 8
C 500 400 50 50 4
Từ số liệu của bảng 2.5, ta lần lượt tính toán như sau:
Bước 1: Tính chỉ tiêu kế hoạch:
QL
Sk
= (1000 x 10) + (800 x 8) + (500x 4) = 18.400 (nđ)
Bước 2: Tính chỉ tiêu thực tế:
QL
S1
= (1200 x 10) + (700 x 8) + 400x 4) = 19.200 (nđ)
Bước 3: Tính đối tượng cụ thể của phân tích:
AQl
S
= 19.200 - 18.400 = +800nđ.
Bước 4: Tính mức độ ảnh hưởng của các nhân tố:
- Do ảnh hưởng của sản lượng sản phẩm.
ASL = 18.400 x
(1.200 100) (700 80) (400 50)
(1000 100) (800 80) (500 50)
x x x
x x x
+ +
+ +
- 18.400
= 19.080,8 - 18.400 = + 680,8 (nđ).
- Do ảnh hưởng của kết cấu mặt hàng sản xuất.
AK = 19.200 - 19.080,8 = + 119,2 (nđ)
Trong kỳ do đơn giá lương không đổi nên không ảnh hưởng đến quỹ lương sản
phẩm.
Tổng hợp mức độ ảnh hưởng của các nhân tố:
680,8 + 119,2 = 800 (nđ).
Căn cứ vào kết quả tính được ở trên, ta nhận thấy rằng, quỹ lương sản phẩm
thực tế tăng lên so với dự tính chủ yếu là do tăng sản lượng sản xuất và nhập kho, do đó
việc tăng quỹ lương là hợp lý. Thứ hai, đơn vị đã thay đổi kết cấu mặt hàng sản xuất
trong kỳ, cụ thể mặt hàng A là mặt hàng có đơn giá lương cao thì thực tế đã sản xuất
vượt kế hoạch, trong khi đó lại giảm sản xuất hai mặt hàng B và C là những mặt có đơn
giá lương thấp hơn. Việc thay đổi này đã làm cho quỹ lương sản phẩm tăng thêm và
việc tăng đó là bình thường nếu như nó thích ứng với nhu cầu của thị trường và mặt
hàng B và C không phải là những mặt hàng được sản xuất theo đơn đặt hàng.
2.2.2.2.3. Phân tích chi phí sản xuất chung
Để tiến hành sản xuất, ngoài những chi phí trực tiếp về nguyên vật liệu, về nhân
công như đã trình bầy ở trên, nó còn phát sinh chi phí liên quan đến việc phục vụ, quản
lý sản xuất, như các loại chi phí sau đây:
- Chi phí nhân viên phân xưởng.
- Chi phí nguyên vật liệu, công cụ phục vụ sản xuất.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định phục vụ sản xuất.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài.
- Chi phí khác bằng tiền.
Những chi phí trên là chi phí sản xuất chung có liên quan đến nhiều loại sản
phẩm được tập hợp và phân bổ cho từng loại sản phẩm, từng loại công việc, dịch vụ
hoàn thành theo những tiêu thức thích hợp. Do tính chất phức tạp của chi phí sản xuất
chung, để tiến hành phân tích, đánh giá chi phí này đạt được mục đích của quản lý, về
phương pháp trước hết có thể thông qua việc lập bảng phân tích như sau
Chỉ tiêu
Kế hoạch Thực tế
Chênh lệch
(±)

Số
tiền
Tỉ
trọng
(%)
Số
tiền
Tỉ
trọng
(%)
Số
tiền
%
Tỉ
trọng
(%)
1. Chi phí nhân công
2. Chi phí nguyên vật liệu
3. Chí công cụ dụng cụ
4. Chi phí khấu hao TSCĐ
5. Chi phí dịch vụ mua ngoài
6. Chi phí khác bằng tiền

Cộng
Thông qua các số liệu tính được ở bảng trên, người ta đánh giá được khái quát
tình hình biến động của chi phí sản xuất chung và xác định mức độ ảnh hưởng của nó
đến chi phí sản xuất nói chung, giá thành sản xuất của sản phẩm nói riêng.
Sau khi đánh giá khái quát tình hình biến động của chi phí sản xuất chung, căn
cứ vào tỉ trọng của từng yếu tố chi phí, người ta sẽ xác định được trọng điểm của quản
lý và tiếp tục đi sâu phân tích đối với chi phí đó:
- Với chi phí nhân công: Đây là tiền lương của những người lao động trong các
phân xưởng, tổ đội sản xuất nhưng không trực tiếp sản xuất mà chỉ phục vụ sản xuất,
như quản lý phân xưởng, tổ đội, nhân viên quản lý phân xưởng, tổ đội v.v..., do vậy việc
phân tích chi phí nhân công cũng được tiến hành giống với phân tích chi phí tiền lương
trả theo hình thức lương thời gian.
- Với chi phí nguyên vật liệu, công cụ: Đây là những nguyên vật liệu, công cụ
xuất dùng phục vụ cho công tác quản lý ở các phân xưởng, tổ đội sản xuất, do đó việc
phân tích cũng dựa vào mức độ tiêu hao, giá của vật liệu xuất dùng để đánh giá tình
hình quản lý của doanh nghiệp.
- Với chi phí khấu hao tài sản cố định: Chi phí khấu hao tuỳ thuộc vào nguyên
giá bình quân của tài sản cố định và tỉ lệ khấu hao, do vậy khi phân tích chi phí này cần
xác định rõ:
+ Tình hình tăng (giảm) về tài sản cố định trong kì.
+ Việc xác định số năm sử dụng (thời gian sử dụng) của tài sản cố định.
Thông qua việc phân tích nói trên để đánh giá được việc xây lắp, mua sắm tài
sản cố định có thuộc loại không cần dùng, chưa cần dùng và đã hư hỏng cần thanh lí
hay không, từ đó mà đánh giá được công tác quản lý của doanh nghiệp về tài sản cố
định nói chung, về chi phí khấu hao nói riêng.
- Với chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền: cần xác định nội dung
cụ thể của từng loại chi phí để đánh giá tính cần thiết và tác động của nó đến chi phí sản
xuất chung cũng như đến giá thành sản xuất của sản phẩm nói riêng.
*Đối với doanh nghiệp thương mại
Khác với doanh nghiệp sản xuất, để có hàng hoá bán ra, chủ yếu các doanh nghiệp
thương mại phải mua vào. Do vậy thực chất của giá vốn hàng xuất bán của các doanh nghiệp
thương mại là trị giá mua của hàng xuất bán ra và chi phí thu mua phân bổ cho hàng bán ra.
- Trước hết là trị giá mua của hàng suất bán:
Thực chất trị giá mua của hàng suất bán lại là trị giá mua của hàng mua vào, do
vậy nó phụ thuộc vào các yếu tố sau đây:
+ Tuỳ thuộc vào nguồn mua ( nguồn ở gần hay xa, nguồn cung cấp thường
xuyên hay bất kỳ…)
+ Tuỳ thuộc vào phương thức mua: Nếu mua với số lượng lớn, đơn vị sẽ được
hưởng chiết khấu thương mại , do vậy sẽ giảm giá mua…
+ Tuỳ thuộc vào phương thức thanh toán: Trả ngay, trả chậm, hàng đổi hàng…
+ Tuỳ thuộc vài chính sách giá vốn của nhà nước ( Đối với một số hàng hoá do
nhà nước khống chế giá…)
Như vậy, để phân tích đánh giá sự biến động về trị giá mua của hàng suất bán,
trước hết phải phân tích các nội dung đã đề cập ở trên, thông qua việc phân tích đó mà
đề xuất các biện pháp để giành được giá mua một cách hợp lý
Sự biến động của trị giá mua của hàng xuất bán , xét từ phương diện kỹ thuật
tính toán nó còn tuỳ thuộc vào phương pháp tính trị giá mua vào của hàng xuất bán.
Theo kế toán , có thể có những phương pháp để tính trị giá mua của hàng xuất bán:
_ Phương pháp nhập trước –xuất trước;
_ Phương pháp nhập sau –xuất trước;
_ Phương pháp giá đích danh
_ Phương pháp bình quân gia quyền
Đương nhiên, cùng một số liệu, tài liệu giống nhau, nhưng nếu áp dụng phương
pháp khác nhau sẽ cho biết kết quả khác nhau. Việc áp dụng phương pháp nào là quyền
lựa chọn của doanh nghiệp, nhưng phải tuân theo phương pháp nhất quán của kế toán
-Về chi phí thu mua phân bổ cho hàng bán ra:
Chi phí thu mua phân bổ cho hàng bán ra được xác định theo công thức:
Chi phí thu
mua phân bổ
cho hàng
bán ra

=
CPTM của hàng tồn
đầu kì
+ CPTM phát sinh
trong kì
Trị giá mua của hàng
tồn đầu kì
+ Trị giá mua của hàng
nhập trong kì


x
Trị giá
mua của
hàng xuất
bán

Như vậy chi phí mua của hàng xuất bán tuỳ thuộc chủ yếu vào chi phí phát sinh
trong kì. Chi phí thu mua phát sinh trong kì bao gồm các chi phí chủ yếu sau đây:
_Chi phí vận chuyển;
_Chi phí bốc xếp;
_Chi phí thuê kho bãi;
_Chi phí của cán bộ, bộ phận mua hàng….
Đến lượt chúng, các chi phí nói trên lại tuỳ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khác.
Ví dụ chi phí vận chuyển tuỳ thuộc vào phương tiện vận chuyển, loại đường; loại hàng
vận chuyển; chi phí của các bộ phận mua hàng tuỳ thuộc vào chi phí đi lại, chi phí ăn,
chi phí ở (Lưu trú) .v.v..,do vậy để đưa ra được biện pháp quản lí chi phí thu mua nhằm
tiết kiệm chi phí, cần phân tích chi tiết đối với từng nội dung chi phí nói trên .
2.2.3. Phân tích doanh thu hoạt động tài chính và chi phí tài chính.
* Đối với doanh thu hoạt động tài chính: Để phân tích doanh thu hoạt động tài
chính,cần phải phân tích nội dung cấu thành của nó.
Doanh thu hoạt động tài chính bao gồm:
- Tiền lãi: Lãi cho vay, lãi tiền gửi, lãi bán hàng trả chậm, trả góp, lãi đầu tư trái
phiếu, tín phiếu, chiết khấu thanh toán được hưởng.
- Cổ tức, lợi nhuận được chia (của DNCP, DNLD)
- Thu nhập về hoạt động đầu tư mua, bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn.
- Thu thập về thu hồi hoặc thanh lý các khoản vốn góp LD, đầu tư vào Công ty
liên kết, vào Công ty con, đầu tư khác,
- Lãi do chênh lệch tỉ giá hối đoái, do bán ngoại tệ, do chuyển nhượng vốn.
- Các khoản doanh thu HĐTC khác.,
Như vậy, phân tích doanh thu HĐTC là phân tích các yếu tố cấu thành nói trên
thông qua phương pháp so sánh ( so sánh cả số tuyệt đối và số tương đối để xác định
chênh lệch và từ các chênh lệch tính được mà rút ra các kết luận cần thiết ).
* Đối với chi phí tài chính: Chi phí tài chính là những chi phí phát sinh ngược
lại với doanh thu thu tài chính - nghĩa là các hoạt động (nghiệp vụ) đề cập ở trên nếu
phát sinh lỗ thì đó chính là chi phí tài chính và các khoản chi chi đó khi phát sinh sẽ
làm giảm kết quả kinh doanh.
Với nội dung cấu thành ngược lại với nội dung cấu thành của doanh thu tài
chính thì việc phân tích, đánh giá chi phí tài chính cũng tiến hành ngược với phân tích
doanh thu HĐTC.
2.2.4. Phân tích chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Chi phí bán hàng là những chi phí phát sinh để phục vụ việc bán hàng; còn chi
phí quản lý doanh nghiệp là những chi phí phát sinh phục vụ công tác quản lý của doanh
nghiệp trong cả quá trình sản xuất kinh doanh, chủ yếu bao gồm:
- Chi phí nhân công: lương chính, lương phụ, các khoản trích theo lương của cán
bộ quản lý, nhân viên bán hàng....
- Chi phí nguyên vật liệu phục vụ cho bán hàng và quản lý doanh nghiệp.
- Chi phí khấu hao TSCĐ phục vụ cho bán hàng, cho quản lý.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Điện, nước...
- Chi phí bằng tiền khác
- Chi phí bảo hành, chi phí dự phòng (nợ phải thu khó đòi, trợ cấp mất việc làm)
Như vậy, để quản lý chi phí bán hàng, CPQLDN,phải quản lý các yếu tố cấu
thành nói trên.
Đối với doanh nghiệp sản xuất, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp được tính hết cho số hàng bán ra; Còn với doanh nghiệp thương mại có quy mô
lớn, nếu số lượng hàng tồn kho cuối kỳ phát sinh lớn thì cần phân bổ các chi phí nói
trên cho hàng tồn kho cuối kỳ theo công thức sau đây:

CPBH (QLDN) phân
bổ cho hàng tồn CK

=
CPBH (QLDN)
của hàng tồn ĐK
+
CPBH (QLDN) cần
phân bổ phát sinh
trong kỳ

x

Trị giá hàng
tồn cuối kỳ Trị giá hàng tồn
ĐK
+
Trị giá hàng nhập
trong kỳ
* Trên cơ sở xác định đựơc chi phí bán hàng (QLDN) phân bổ cho hàng tồn
CK, người ta xác định CPBH, QLDN phân bổ cho hàng bán như sau:
CPBH (QLDN)
phân bổ cho hàng
bán ra
=
CPBH (QLDN)
của hàng tồn
+
CPBH (QLDN)
phát sinh trong kỳ
-
CPBH (QLDN)
phân bổ cho hàng
tồn cuối kỳ

2.2.5. Phân tích thu nhập khác và chi phí khác..
* Thu nhập khác của doanh nghiệp bao gồm:
- Thu từ nhượng bán, thanh lý TSCĐ;
- Chênh lệch lãi do đánh giá lại vật tư, tài sản khi đưa đi góp vốn LD, đầu tư vào
Công ty liên kết....
- Thu từ việc bán, cho thuê lại tài sản;
- Thu tiền phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng;
- Thu từ nợ khó đòi đã xử lý xoá nợ;
- Các khoản thuế được hoàn lại;
- Thu từ nợ phải trả không ai đòi;
- Thu tiền thưởng, quà biếu tặng;
- Các khoản thu nhập khác;
* Chi phí khác là những chi phí phát sinh ngựơc laị với thu nhập khác. Ví dụ
để thanh lý TSCĐ, doanh nghiệp phải bỏ ra chi phí, hoặc khi đánh giá lại vật tư, tài sản
mà có chênh lệch lỗ, hoặc bản thân doanh nghiệp bị phạt, bị truy nộp thuế và phạt tiền
thuế....
Như vậy việc phân tích thu nhập khác và chi phí khác là tiến hành phân tích
từng yếu tố cấu thành của nó và cũng áp dụng phương pháp so sánh.

2.3. Phân tích lợi nhuận bán hàng.
2.3.1. Phân tích tổng số lợi nhuận bán hàng.
Trong tổng số lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận bán hàng chiếm tỉ trọng lớn nhất
và điều đó nó càng được biểu hiện rõ trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, do vậy nó là
mục tiêu phấn đấu chủ yếu, là trọng điểm quản lý chủ yếu của các doanh nghiệp. Với ý
nghĩa trên, sau khi khái quát đánh giá chỉ tiêu tổng số lợi nhuận trước thuế, cần thiết đi
sâu phân tích, đánh giá chỉ tiêu lợi nhuận bán hàng.
Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khi sản xuất kinh doanh với số lượng mặt
hàng hạn chế (ví dụ Công ti Hon da sản xuất 3 loại xe máy, Công ty xe đạp sản xuất 3
loại xe đạp, Công ty xi măng sản xuất 2 loại xi măng, Công ty Bia sản xuất 3 loại bia
v.v...), khi đó việc phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cho hàng
hoá bán ra không quá phức tạp, kế toán có thể hạch toán, theo rõi chi tiết số lượng hàng
bán, giá bán, giá vốn của hàng xuất bán cho từng loại mặt hàng riêng biệt thì chỉ tiêu lợi
nhuận bán hàng có thể được xác định như sau:
L
b
=
( )
1 1
n n
bi
bi qi
i vi
i i
Sli
g g Slil
c c
= =
= ÷ ÷ ÷
E E

Trong đó:
- Sli là số lượng sản phẩm bán ra của từng mặt hàng;
- Lbi là lợi nhuận đơn vị của từng mặt hàng;
- g
i
, g
vi
, C
bi
, C
qi
là giá bán đơn vị, giá vốn đơn vị, chi phia bán hàng đơn vị, chi
phí quản lý doanh nghiệp đơn vị của từng mặt hàng.
Trong trường hợp này, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố lần lượt được xác định như
sau:
+ Do số lượng (khối lượng) hàng hoá bán ra.
ASL = L
bk
x
1
1
1
n
i
ki
i
n
ki
ki
i
g Sl
g Sl
=
=
E
E
- L
bk
+ Do ảnh hưởng của kết cấu hàng hoá bán ra:
Ak =
1
1
n
i bki
i
Sl l
=
E
- L
bk
1
1
1
n
i
ki
i
n
ki
ki
i
g Sl
g Sl
=
=
E
E


+ Do ảnh hưởng của lợi nhuận đơn vị:
Al
b
= Lb
1
-
1
1
n
i bki
i
Sl l
=
E

Trong đó:
* Do giá bán hàng hoá:
g A
=
( )
1
1
1
n
i
i ki
i
g g Sl
=
÷
E

* Do giá vốn của hàng xuất bán.
gv A
=
( )
1
1
1
n
i
v i vki
i
g g Sl
=
÷ ÷
E

* Do chi phí bán hàng:
cv A
=
( )
1
1
1
n
i
b i bki
i
Sl
c c
=
÷ ÷
E

* Do chi phí quản lý doanh nghiệp phân bố cho hàng hoá bán ra:

cq A
=
( )
1
1
1
n
i
q i qki
i
Sl
c c
=
÷ ÷
E

Ví dụ phân tích: Giả định tại công ty X người ta có số liệu, tài liệu sau đây:
Bảng 4.1 (Đơn vị: Triệu đồng).
Chỉ tiêu Kế hoạch Thực tế
1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 270.000 300.000
Trong đó: + Của sản phẩm A:
+ Của sản phẩm B
215.000
55.000
248.700
51.300
2. Các khoản giảm trừ 20.000 36.300
Trong đó: + Của sản phẩm A
+ Của sản phẩm B
15.000
5.000
28.200
8.100
3. Doanh thu thuần 250.000 263.700
Trong đó: + Của sản phẩm A
+ Của sản phẩm B
200.000
50.000
220.500
43.200
4. Tổng giá vốn hàng xuất bán 225.000 239.100
Trong đó: + Của sản phẩm A
+ Của sản phẩm B
180.000
45.000
199.500
39.600
5. Tổng chi phí bán hàng và chi phí QLDN 20.000 19.500
Trong đó: + Của sản phẩm A
+ Của sản phẩm B
16.000
4.000
16.800
2.700
6. Tổng lợi nhuận bán hàng 5.000 5.100
Trong đó: + Của sản phẩm A
+ Của sản phẩm B
4.000
1.000
4.200
900




Tài liệu 2: Kết quả bán hàng về số lượng sản phẩm cụ thể của công ty như sau:
Bảng 4.2 (Đơn vị: Cái)
Tên sản phẩm (mặt hàng) Kế hoạch Thực tế
1. Sản phẩm A 2000 2100
2. Sản phẩm B 1000 900

Từ các số liệu của công ty, có thể tính toán và lập bảng sau đây (xác định giá
bán đơn vị, giá vốn đơn vị, chi phí bán hàng và chi phí quản lý đơn vị, lợi nhuận đơn
vị).
Bảng 4.3
Tên
sản
phẩm
bán
ra
Số lượng bán
ra (cái)
Giá bán đơn
vị (triệu
đồng)
Giá vốn đơn
vị (triệu
đồng)
Chi phí bán
hàng và chi
QLDN đơn vị
(triệu đồng)
Lợi nhuận
đơn vị (triệu
đồng)
Kế
hoạch
Thực
tế
Kế
hoạch
Thực
tế
Kế
hoạch
Thực
tế
Kế
hoạch
Thực
tế
Kế
hoạch
Thực
tế
A 2000 2100 100 105 90 95 8 8 2 2
B 1000 900 50 48 45 44 4 3 1 1

Từ các số liệu của bảng 4.1, bảng 4.2, bảng 4.3, ta lần lượt tính toán và lập bảng
phân tích như sau:
- Bảng phân tích, đánh giá khái quát tình hình thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của
báo cáo kết quả HĐKD(B-02DN)


(Đơn vị: triệu đồng).
Chỉ tiêu Kế hoạch Thực tế Chênh lệch
ảnh hưởng
đến lợi
nhuận
1. Doanh thu bán hàng và cung
cấp dịch vụ
270.000 300.000 + 30.000 + 30.000
2. Các khoản giảm trừ 20.000 36.300 + 16.300 - 16.300
3. Giá vốn hàng xuất bán 225.000 239.100 + 14.100 - 14.100
4. Chi phí bán hàng và chi phí
QLDN.
20.000 19.500 - 500 + 500
5. Lợi nhuận bán hàng 5.000 5.100 + 100

- Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố cụ thể đến lợi nhuận bán hàng.
+ Do ảnh hưởng của khối lượng (số lượng) sản phẩm bán ra:
A
SL
= 5.000
(2100 x 100) + (900 x 50)
- 5000 =
(2000 x 100) + (1000 x 50)
= 5.000 x 1,02 - 5000 = + 100.
- Do ảnh hưởng của kết cấu mặt hàng bán ra:
A
k
= [2100 (+2) + 900 (+1)] - 5.000 x 1,02 = 5.100 - 5.100 = 0
- Do ảnh hưởng của lợi nhuận đơn vị:
Al
b
= 5.100 - 5.100 = 0
Trong đó: + Do ảnh hưởng của giá bán:
Ag = [2100 (105 - 100) + 900 (48 - 50)] = + 8700
+ Do ảnh hưởng của giá vốn hàng xuất bán:
A
-
gV
= -[2100 (95 - 90) + 900 (44 - 45)] = - 9600
+ Do ảnh hưởng của chi phí bán hàng và chi phí QLDN.
A
-
Cb
= - [2100 (8 - 8) + 900 (3-4)] = +900
Dựa vào kết quả tính được ở trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau:
* Đánh giá khái quát tình hình thực hiện các chỉ tiêu:
- Từ các số liệu của bảng 4.4, ta thấy tổng số lợi nhuận bán hàng đã tăng so với
kế hoạch (dự kiến) là 100 triệu đồng, với tỉ lệ tăng tương ứng là 20% (
5000
100
x 100).
Việc tăng được lợi nhuận bán hàng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực
hiện các mục tiêu kinh tế và xã hội khác, như việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước,
việc trích lập các quĩ, việc bổ xung vốn để đầu tư mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh
cũng như cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động v.v...
- Xét các nhân tố tổng quát: Việc tăng lợi nhuận trong kì 100 triệu đồng là do:
+ Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ làm tăng 30.000 trđ.
+ Các khoản giảm trừ làm giảm 16.300 trđ
+ Giá vốn hàng xuất bán giảm 14.100 trđ
+ Chi phí bán hàng và QLDN làm tăng 500 trđ.
Nếu tài liệu chi tiết cho biết các khoản giảm trừ là chiết khấu thương mại hoặc
giảm giá hàng bán thì số tăng thêm của nó là bất khả kháng và doanh thu thuần thực tế
chỉ tăng là 13.700 triệu đồng, với tỉ lệ tăng tương ứng là 5,48% (
000 . 250
700 . 13
x100), trong
khi đó giá vốn của hàng xuất bán tăng 14.100trđ, với tỉ lệ tăng tương ứng là 6,26% (
000 . 225
100 . 14
x100); Như vậy tốc độ tăng của chi phí là nhanh hơn tốc độ tăng của doanh
thu, do đó có thể kết luận rằng việc quản lý sản xuất kinh doanh chưa có hiệu quả và
nếu không giảm được chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp thì tổng số lợi
nhuận trong kì sẽ giảm chứ không phải là tăng.
* Đánh giá chi tiết: Dựa vào mức độ ảnh hưởng cụ thể từng nhân tố ta thấy,
khối lượng bán hàng trong kì đã tăng 2% (chỉ số bán hàng là 1,02), từ đó làm tăng lợi
nhuận tương ứng là 100 triệu đồng; Việc tăng được khối lượng sản phẩm bán ra phản
ánh mặt cố gắng chủ quan của doanh nghiệp trong việc tăng kết quả của công tác sản
xuất cũng như làm tốt công tác bán hàng.
- Kết cấu sản phẩm bán ra không ảnh hưởng gì đến lợi nhuận bán hàng, chứng
tỏ về cơ bản nhân tố này biến động không đáng kể.
- Giá bán sản phẩm trong kì biến động đã làm tăng tổng số lợi nhuận là 8.700
triệu đồng; Việc điều chỉnh giá bán làm tăng lợi nhuận trong điều kiện vẫn tăng được
khối lượng sản phẩm bán ra chứng tỏ việc điều chỉnh giá bán được thị trường chấp
nhận.
- Giá vốn của hàng xuất bán thay đổi làm tổng lợi nhuận giảm 9.600 triệu đồng,
điều đó có nghĩa là giá thành sản xuất trong kì đã tăng lên, hay là đơn vị sử dụng chưa
hợp lí, chưa tiết kiệm lao động, vật tư, tiền vốn trong quá trình sản xuất. Như ở phần
trước đã chỉ ra, tốc độ tăng của chi phí nhanh hơn tốc độ tăng của doanh thu là điều
không hợp lí trong quản lý. Cụ thể ở đây số liệu chỉ ra rằng, việc tăng chi phí làm lợi
nhuận giảm 9.600 triệu đồng, trong khi việc tăng khối lượng hàng hoá bán ra chỉ làm lợi
nhuận tăng 100 triệu đồng; Nếu xu hướng trên không được khắc phục thì mức bán càng
tăng, chi phí cũng càng tăng và lợi nhuận sẽ giảm.
- Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp trong kì đã giảm làm lợi nhuận
tăng tương ứng 500 triệu đồng. Tác động của nhân tố nói trên là tích cực và cần tiếp tục
được động viên và khai thác trong kì tới.
Tóm lại, qua phân tích chi tiết ở trên, cho phép ta có thể đi đến kết luận như
sau:
Tuy tổng số lợi nhuận có tăng 100 triệu đồng, nhưng rõ ràng nó chưa phải là xu
hướng tích cực trong công tác quản lý của doanh nghiệp, vì thực tế việc quản lý, sử
dụng lao động, vật tư, tiền vốn trong quá trình sản xuất là chưa hợp lí và chưa có hiệu
quả.
- ý kiến đề xuất: Cần kiểm tra, xem xét lại việc quản lý lao động, vật tư, tiền vốn
trong quá trình sản xuất để xác định rõ trong kì, chi phí nào đã tăng (chi phí nguyên vật
liệu, chi phí nhân công, chi phí sản xuất chung), nguyên nhân và nhân tố cụ thể nào đã
làm tăng nó, từ đó mới có các quyết định điều chỉnh thích hợp, kịp thời để tiết kiệm
được chi phí trong kì sản xuất tiếp theo, với mục tiêu cuối cùng là để tăng được lợi
nhuận cho doanh nghiệp.
2.3.2. Phân tích tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu.
Để đánh giá một cách toàn diện kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
đồng thời để có cơ sở so sánh với kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác,
ngoài việc phân tích tổng số lợi nhuận bán hàng, cần thiết phải phân tích tỉ suất lợi
nhuận trên doanh thu.
Tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu - T
S
được xác định như sau:
Ts =
Lb
D
x 100
Công thức này giải thích rằng cứ 100 đồng doanh thu bán hàng thuần thì doanh
nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Do đó tỉ suất này càng cao và có xu hướng
ngày càng tăng chứng tỏ hiệu quả của việc quản lý kinh doanh càng cao và ngược lại.
Về phương pháp phân tích: Người ta xác định chỉ tiêu nói trên ở thời điểm thực
tế và kế hoạch (dự kiến) sau đó thông qua phương pháp so sánh người ta có thể đánh giá
được kết quả kinh doanh của doanh nghiệp một cách toàn diện và chính xác hơn.
Chương 3
Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp

* Mục đích của phân tích:
Tiến hành phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp nhằm mục đích chủ yếu là
đánh giá được thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm phân tích,
như tình hình phân bổ vốn và nguồn vốn, tình hình đầu tư, tình hình công nợ và khả
năng thanh toán, tình hình rủi ro tài chính của doanh nghiệp, cũng như kết quả của việc
tổ chức huy động vốn và sử dụng vốn trong kỳ của doanh nghiệp. Thông qua việc phân
tích nói trên mà cung cấp những thông tin cần thiết cho những đối tượng đang quan tâm
đến tình hình tài chính của doanh nghiệp để họ đưa ra được các quyết định thích hợp,
đáp ứng được lợi ích riêng của từng đối tượng đó.
* Nội dung chủ yếu của phân tích
Để đạt được mục đích, nội dung của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
- Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các chỉ
tiêu chủ yếu của bảng cân đối kế toán;
- Phân tích tình hình tổ chức huy động vốn của doanh nghiệp;
- Phân tích, đánh giá kết quả của việc quản lý, sử dụng vốn của doanh nghiệp.
* Tài liệu dùng để phân tích: Tài liệu chủ yếu dùng để phân tích tình hình tài
chính doanh nghiệp bao gồm:
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh - B02DN;
- Bảng cân đối kế toán - B.01.DN
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ -B.03DN
- Báo cáo giải trình - B.09 - DN
- Các báo cáo chi tiết về tăng, giảm TSCĐ, tăng, giảm vốn, nguồn vốn, báo cáo
chi tiết về công nợ và các báo cáo khác có liên quan.
- Các biên bản về thanh tra kiểm tra, về kiểm toán nếu có ...
* Về phương pháp phân tích : Chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh.

3.1- Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp
thông qua các chỉ tiêu chủ yếu của Bảng cân đối kế toán.
Để đánh giá được thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp, cần tiến hành
phân tích các nội dung sau đây:
- Phân tích tình hình cơ cấu (cấu thành) của vốn, nguồn vốn;
- Phân tích tình hình đầu tư và nguồn tự tài trợ;
- Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán;
- Phân tích tình hình rủi ro về tài chính của doanh nghiệp
3.1.1- Phân tích tình hình cơ cấu (cấu thành) của vốn, nguồn vốn của doanh
nghiệp.
* Đối với vốn của doanh nghiệp.
Xét về cấu thành, vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bao gồm hai loại :
- Vốn lưu động
- Vốn cố định
Đối với doanh nghiệp sản xuất, vốn cố định thường chiếm tỷ trọng lớn hơn vốn
lưu động; ngược lại trong các doanh nghiệp thương mại- dịch vụ thì vốn lưu động
thường chiếm tỷ trọng lớn hơn vốn cố định. Do đó thông qua tỷ trọng của từng loại vốn,
người ta có thể biết được việc phân bổ vốn sản xuất kinh doanh có phù hợp với yêu cầu
của quản lý không, vì việc phân bổ vốn hợp lý hay không hợp lý sẽ ảnh hưởng tích cực
hoặc tiêu cực đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
* Trước hết đối với vốn lưu động: theo khâu sản xuất kinh doanh, vốn lưu động
của doanh nghiệp bao gồm:
+ Vốn trong khâu dự trữ, biểu hiện cụ thể là hàng mua đang đi trên đường,
nguyên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho;
+ Vốn trong khâu sản xuất, biểu hiện cụ thể là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang;
+ Vốn trong khâu thành phẩm, biểu hiện cụ thể là thành phẩm, hàng hoá, hàng
gửi bán;
+ Vốn trong khâu thanh toán, biểu hiện cụ thể là các khoản phải thu.
+ Đối với vốn dự trữ: Mục đích của vốn này là để đảm bảo nhu cầu dự trữ phục
vụ cho sản xuất được tiến hành thường xuyên, liên tục, do đó lượng dự trữ, chủng loại
dự trữ là tuỳ thuộc vào nhu cầu thực tế của sản xuất. Nói chung,để đảm bảo
nguyên,nhiên,vật liệu, công cụ,dụng cụ cho sản xuất, các doanh nghiệp cần dựa vào nhu
cầu của sản xuất, tình hình cung cấp, nguồn cung cấp để xác định. Người ta thường xác
định số ngày dự trữ hợp lý và mức tiêu hao bình quân ngày của từng loại nguyên vật
liệu để xác định lượng dự trữ hợp lý (không ít, không quá nhiều). Số ngày dự trữ hợp lý
được xác định theo quan điểm của môn Tài chính doanh nghiệp.
Do vậy, đối với vốn này, ngoài việc so sánh giữa thực tế cuối kỳ với đầu năm,
người ta còn so sánh giữa thực tế với nhu cầu của vốn dự trữ để đánh giá mức độ dự trữ
thực tế có hợp lý không. Ngoài việc xác định lượng dự trữ thường xuyên, cần thiết phải
xác định lượng dự trữ cho nhu cầu tạm thời,lượng dự trữ đặc biệt. Nếu dự trữ quá ít, sẽ
không đảm bảo cung cấp cho nhu cầu sản xuất, do đó có thể dẫn đến thiệt hại về ngừng
sản xuất; ngược lại nếu dự trữ quá lớn sẽ gây hiện tượng ứ đọng vật tư, làm tăng chi phí
bảo quản, tăng hao hụt, làm giảm chất lượng của vật tư, do đó sẽ làm tăng chi phí, giảm
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Đối với vốn sản xuất: Tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất và qua trình công nghệ,
việc phát sinh chi phí sản xuất kinh doanh dở dang là một thực tế trong công tác quản lý
và việc xác định, đánh giá sản phẩm dở dang là tuỳ thuộc vào phương pháp của kế toán
áp dụng. Để đảm bảo lượng hợp lý của chi phí này, cần đảm bảo sản xuất phải liên tục,
tôn trọng quy trình công nghệ mà doanh nghiệp đang áp dụng.
+ Đối với vốn thành phẩm : quản lý vốn thành phẩm là một trọng điểm của quản lý
vốn sản xuất nói chung, vốn lưu động nói riêng; việc tăng, giảm vốn thành phẩm có quan
hệ mật thiết với kết quả của sản xuất và kết quả của công tác bán hàng và tuỳ thuộc một
phần vào công tác quản lý của doanh nghiệp. Do vậy cần xác định rõ, cụ thể nguyên nhân
nào làm tăng, giảm thành phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp. Cũng như nguyên vât liệu,
việc tăng quá mức thành phẩm, hàng hoá tồn kho sẽ làm tăng chi phí bảo quản, tăng chi
phí vay, tăng hao hụt, dễ gây nên hiện tượng biến chất thành phẩm hàng hoá, làm giảm
tốc độ luân chuyển vốn và do đó sẽ làm giảm kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguyên nhân chủ yếu làm tăng thành phẩm hàng hoá thường là do không bán được hàng;
Trong thực tế, việc đầu cơ trong kinh doanh cũng là nguyên nhân rất quan trọng của quản
lý.
+ Đối với vốn trong thanh toán : Đây là số vốn bị chiếm dụng của doanh nghiệp,
như nợ phải đòi khách hàng, tiền ứng trước cho người bán, thuế giá trị trị gia tăng được
khấu trừ, phải thu những người làm công ăn lương... Đối với loại vốn này, cần xácđịnh
tính chất hợp lý của nó; Nếu các khoản phải thu còn nằm trong thời hạn thanh toán thì đó
là khoản bị chiếm dụng hợp lý, ngược lại đã quá hạn thanh toán thì vốn bị chiếm dụng là
không hợp lý và cần hạn chế, loại trừ sự phát sinh của vốn này. Để phân tích được vốn bị
chiếm dụng, phải dựa vào báo cáo chi tiết tình hình công nợ của doanh nghiệp.
* Đối với vốn cố định: Nói một cách khái quát,vốn cố định là biểu hiện bằng tiền
của tài sản cố định, do đó khi phân tích cơ cấu của vốn cố định chủ yếu người ta thường
thông qua tỷ trọng của tài sản cố định hữu hình, của chi phí xây dựng cơ bản dở dang
chiếm trong tổng số TSCĐ và đầu tư dài hạn để xem xét và đánh giá.
* Đối với TSCĐ hữu hình: Để đánh giá cơ cấu của TSCĐ hữu hình, cần thiết phải
xác định tỷ trọng của các loại TSCĐ sau đây:
- Tỷ trọng của TSCĐ dùng vào sản xuất kinh doanh;
- Tỷ trọng của TSCĐ dùng vào phúc lợi;
- Tỷ trọng của TSCĐ chờ xử lý, trong đó lại chia ra loại TSCĐ không cần dùng,
chưa cần dùng và đã hư hỏng chờ thanh lý.
Rõ ràng thông qua tỷ trọng của từng loại nói trên, người ta có thể đánh giá được
việc xây dựng, mua sắm TSCĐ có hợp lý hay không hợp lý và do đó nó tác động tích
cực hay tiêu cực đến quá trình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Đối với chi phí xây dựng cơ bản dở dang: Đây là chi phí của các công trình,
hạng mục công trình theo phương thức tự làm, do đó giá trị sản lượng xây lắp thường
không lớn. Tuy vậy từ góc độ quản lý, cần làm rõ thời hạn bắt đầu và thời hạn kết thúc
của công trình, thông qua đó mà xác định thời hạn của công trình có bị kéo dài không,
nguyên nhân cụ thể phải kéo dài thời hạn (do thiết kế, do thi công, do nguồn vốn...) từ
đó mà đưa ra các quyết định thích hợp,kịp thời để đẩy nhanh quá trình thi công, sớm
đưa công trình vào sử dụng.
* Phân tích cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp
Xét về tổng thể,nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm:
- Nguồn vốn vay;
- Nguồn vốn chủ sở hữu;
- Nguồn vốn trong thanh toán(Nguồn vốn đi chiếm dụng thông qua nợ phải trả)
Thông qua tỷ trọng của từng nguồn vốn nói trên, người ta có thể đánh giá được sự
lệ thuộc về tài chính (hay ngược lại là sự tự chủ về tài chính) của doanh nghiệp.
+ Đối với nguồn vốn vay, cần xác định tỷ trọng của vay ngắn hạn, vay dài hạn, vì
nguồn gốc phát sinh của nó khác nhau, tính chất khoản vay cũng khác nhau, do đó yêu
cầu quản lý cũng khác nhau. Khoản vay ngắn hạn có liên quan đến tài sản ngắn hạn,
còn vay dài hạn thường lại liên quan đến tài sản tư dài hạn. Từ quan điểm của quản lý,
vay ngắn hạn cần được quan tâm hơn vì thời hạn phải hoàn trả khoản vay thường là
ngắn, sau một năm sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp không hoàn trả được thì nó trở
thành khoản vay quá hạn và khi đó lãi vay phải trả sẽ tăng lên.
+ Đối với nguồn vốn chủ sở hữu:
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, nguồn vốn chủ sở hữu chủ yếu bao gồm nguồn
vốn - quỹ, do đó cần xác định tỷ trọng của nguồn vốn kinh doanh và tỷ trọng của từng loại
quỹ chiếm trong tổng số nguồn vốn - quỹ để đánh giá cơ cấu của nguồn vốn. Trong thực tế,
có doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bị lỗ và số lỗ này lớn hơn nguồn vốn - quỹ, do đó
nguồn vốn chủ sở hữu là âm(-), toàn bộ nguồn vốn để bù đắp cho tài sản của doanh nghiệp
lại là vốn vay, doanh nghiệp không tự chủ được về tài chính, rủi ro về tài chính đã tăng lên.
*Đối với nguồn vốn đi chiếm dụng : Nguồn vốn trong thanh toán bao gồm :Nợ phải
trả khách hàng ,các khoản phải nộp nhà nước,nợ phải trả người lao động, phải trả nội bộ và
phải trả khác .Khi phân tích các khoản nợ nói trên ,cần chi tiết thành 2 loại:Đã đến hạn ,quá
hạn và chưa đến hạn .Từ quan điểm của quản lí,cần phảu có các biện pháp cụ thể để xử lí
nợ đã đến hạn và quá hạn .Về phương pháp phân tích ,càn tính ra tỉ trọng của từng loại nợ
và thông qua phương pháp so sánh để đưa ra các kết luận chính xác và cụ thể hơn
* Về phương pháp phân tích: Để phân tích, đánh giá cơ cấu của vốn, nguồn vốn,
trước hết cần xác định tỷ trọng của từng loại vốn, từng loại nguồn chiếm trong tổng số
của nó ở cả thời điểm đầu năm (năm trước) và cuối kỳ (năm nay), thông qua so sánh
giữa cuối kỳ với đầu năm, cả về số titền, tỷ trọng và tỷ lệ, người ta sẽ khái quát đánh
giá được sự phân bổ của vốn, nguồn có hợp lý hay không, sau đó tuỳ trường hợp cụ thể
mà đi sâu phân tích từng loại vốn, từng loại nguồn, đặc biệt là vốn thành phẩm và vốn
trong thanh toán để có các kết luận chính xác hơn về cơ cấu vốn, nguồn vốn của doanh
nghiệp, từ đó giúp cho các nhà quản lý đưa ra được các quyết định thích hợp, kịp thời
trong quản lý vốn và nguồn vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là những quyết định liên
quan đến hàng tồn kho, công nợ phải thu và phải trả.
* Ví dụ phân tích:
Vì sử dụng số liệu trên Bảng cân đối kế toán làm ví dụ phân tích, cho nên phần cơ
cấu của vốn trong ví dụ chính là cơ cấu của tài sản, nó cũng rất gần với cơ cấu của vốn
của doanh nghiệp.
Dựa vào số liệu của Bảng CĐKT và thuyết minh báo cáo tài chính, người ta lập
bảng phân tích sau đây.
(Bảng 3.1)
Chỉ tiêu
Đầu năm Cuối kỳ Chênh lệch (±)
Số tiền
(tr.đ)
Tỷ
trọng
%
Số tiền
(Tr.đ)
Tỷ
trọng
%
Số tiền %
Tỷ
trọng
%
Tài sản 170.000 100 186.000 100 +16.000 + 9,4 -
A. Tài sản ngắn
hạn
68.000 40 80.000 43 +12.000 +17,
6
+3
I- Tiền và tương
đương tiền
4.000 5.88 2.400 3 -1.600 -40 -2,88
II- ĐTTC ngắn
hạn
2.000 2.94 2.000 2,5 - - -0,44
III- Các khoản
phải thu ngắn
hạn
10.000 14,7 14.000 17,5 +4.000 +40 +2,8
IV- Hàng tôn
kho
50.000 74 60.000 75 +10.000 +20 +1
Trong đó :
- Công cụ dụng
cụ

2.000

4

3.000

5

+1.000

+50

+1
- NVL tồn kho 10.000 20 10.000 16,6 - - -3,4
- CPSXKD dở
dang
8.000 16 10.000 16,6 +2.000 +25 +0,6
- Thành phẩm 25.000 50 30.000 50 +5.000 +20 -
- Hàng hoá 5.000 10 7.000 11 +2.000 +40 +1
II- TSNH khác 2.000 2,94 1.600 2 -400 -20 -0,94
B- Tài sản dài
hạn
102.000 60 106.000 57 +4.000 +3,9 -3
I. Các khoản
PTDH

II TSCĐ( hữu
hình)
94.000 92,16 97.000 91,51 +3000 +3,2 -0,65
III. Bất động sản
đầu tư

IV- ĐTTC dài
hạn
8.000 7,84 9.000 8,49 + 1000 +
12,5
+ 0,65
V. TSDH khác
Nguồn vốn 170.000 100 186.000 100 +16.000 +9,4 -
A- Nợ phải trả 119.000 70 139.000 75 +20.000 +16,
8
+5
I- Nợ ngắn hạn 74.000 62,2 92.000 65,9 +18.000 +24,
32
+3,7
II- Nợ dài hạn 45.000 37,8 47.000 34,1 +2000 +4,4 -3,7
B- Nguồn vốn
CSH
51.000 30 47.000 25 -4.000 -7,8 -5
Trong đó :
nguồn vốn - quỹ
51.000 100 47.000 100 -4.000 -7,8 -


Dựa vào các số liệu của Bảng 3.1, ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:
* Về việc phân bổ tài sản (vốn) hiện có của doanh nghiệp, tỷ trọng của TSDH là
lớn hơn tỷ trọng của tài sản ngắn hạn. Cụ thể về đầu năm, tỷ trọng của nó là 60%,cuối
kỳ là 57%, còn tỷ trọng của tài sản ngắn hạn ở các thời điểm tương ứng lần lượt là 40%
và 43%. Xét về tổng thể, việc phân bổ như trên đối với một doanh nghiệp sản xuất được
coi là hợp lý.
* Đối với tài sản ngắn hạn: trong tài sản ngắn hạn, hàng tồn kho và các khoản phải
thu (vốn trong thanh toán) chiếm tỷ trọng lớn nhất. Cụ thể tỷ trọng hàng tồn kho đầu
năm là 74% cuối kỳ chiếm 75%, còn các khoản phải thu đầu năm chiếm 14,7% và cuối
kỳ là 17,5%. Đây là hai trọng điểm cần đi sâu phân tích và đánh giá một cách chi tiết và
cụ thể hơn.
- Đối với hàng tồn kho: Trong tổng trị giá hàng tồn kho, chủ yếu lại là trị giá của
thành phẩm, hàng hoá với tỷ trọng lần lượt là 60% ở đầu năm và 61,6% ở cuối kỳ; còn ở
khâu dự trữ, tỷ trọng của nó lần lượt là 24% ở thời điểm đầu năm và 21,6% ở thời điểm
cuói kỳ. ở khâu sản xuất, tỷ trọng của nó lần lượt là 16% và 16,6% ở các thời điểm
tương ứng. Nói chung, vốn trong các khâu này thường được coi là vốn "chết", do đó có
thể nói rằng cơ cấu của hàng tồn kho nói riêng, của vốn lưu động nói chung là chưa hợp
lý. Với tỷ trọng qúa lớn của vốn thành phẩm, người ta có thể suy ra tình hình tiêu thụ
sản phẩm trong kỳ của doanh nghiệp là không thuận lợi. Để có được các kết luận chính
xác và cụ thể hơn, cần xác định cụ thể trong tổng số trị giá thành phẩm và hàng hoá thì
mặt hàng (sản phẩm) nào có lượng tồn kho lớn nhất và kết hợp với kết quả của phân
tích tình hình sản xuất và bán hàng để chỉ ra được nguyên nhân nào dẫn đến ứ đọng
thành phẩm và hàng hoá. Ví dụ do chất lượng sản phẩm thấp, mẫu mã không phù hợp,
giá thành sản xuất cao dẫn đến giá bản sản phẩm cao hơn giá bán của sản phẩm cùng
loại trên thị trường, hay ở đây có hiện tượng đầu cơ tích trữ không hợp lý... Trên cở
phân tích chi tiết như vậy mới đưa ra được các quyết định thích hợp đối với hàng tồn
kho, tránh được những tổn thất cho doanh nghiệp. Có thể nói quản lý hàng tồn kho,
trong đó quản lý thành phẩm, hàng hoá phải được xác định là trọng điểm của công tác
quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp.
- Đối với các khoản phải thu : Đây là số vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng. Để
có kết luận chính xác, cụ thể, cần dựa vào số liệu chi tiết để xac định trong tổng số các
khoản phải thu thì khoản nào chiếm tỷ trọng lớn nhất, ví dụ nợ phải thu khách hàng
(người mua) hay phải thu người làm công ăn lương, phải thu nội bộ...., đồng thời làm rõ
khoản nợ nào đã quá hạn, chưa đến hạn, có vậy các nhà quản lý mới có được các thông
tin cần thiết để đưa ra các quyết định thích hợp. ở ví dụ này, với tỷ trọng chiếm tương
đối lớn trong tổng tài sản ngắn hạn và có xu hướng tăng dần về cuối kỳ, chứng tỏ việc
quản lý công nợ của doanh nghiệp nói chung là chưa hợp lý.
* Đối với tài sản dài hạn:
Trong tài sản dài hạn, tài sản cố định hữu hình chiếm tỷ trọng chủ yếu, đầu năm là
92,16% và cuối kỳ là 91,51%. Nhìn chung, cơ cấu như vậy được coi là hợp lý.Tuy vậy,
để đánh giá cụ thể và chính xác hơn, cần dựa vào tài liệu hạch toánchi tiết về TSCĐ để
xác định rõ, trong tổng tài sản cố định hữu hình thì có bao nhiêu phần dành cho sản xuất
kinh doanh, bao nhiêu phần dành cho TSCĐ phúc lợi và bao nhiêu phần là tài sản cố
định chờ xử lý (không cần dùng, chưa cần dùng, đã hư hỏng cần thanh lý). Dựa vào các
số liệu trên, ta mới đánh giá được việc mua sắm, xây dựng TSCĐ có hợp lý hay không,
từ đó mới đưa ra được các quyết định quản lý thích hợp.
Để có các biện pháp quản lý thích hợp, tránh được thất thoát trong xây dựng cơ
bản và đưa công trình vào sử dụng đúng thời hạn.
* Về cơ cấu của nguồn vốn:
Trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp, ta nhận thấy tỷ trọng đầu năm của nợ
phải trả là 70%, cuối kỳ tăng lên là 75%, chứng tỏ sự lệ thuộc về tài chính của công ty
tương đối lớn và có xu hướng tăng dần, trong đó nợ ngắn hạn lại là chủ yếu. Đối chiếu
với tỷ trọng của hàng tồn kho, ta thấy phải chăng vì tình hình bán hàng của công ty gặp
khó khăn nên đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc hoàn trả nợ vay ngắn hạn cũng như nợ
phải trả khách hàng (người bán).Mặt khác, cần dựa vào tài liệu hạch toán chi tiết để xác
định trong tổng số nợ của doanh nghiệp, khoản nào chưa đến hạn để có các quyết định
thích hợp trong việc xử lý đối với từng khoản nợ tương ứng.
Đối với nguồn vốn chủ yếu sở hữu, cũng cần chi tiết nguồn vốn kinh doanh và
nguồn các quỹ để việc phân tích, đánh giá được chính xác và cụ thể hơn.
3.1.2- Phân tích tình hình đầu tư và nguồn tự tài trợ.
Xét một cách tổng quát, theo phạm vi, đầu tư của doanh nghiệp thường được phân
thành 2 loại :
- Đầu tư ra ngoài doanh nghiệp và
- Đầu tư ở bên trong doanh nghiệp
Đầu tư ra ngoài doanh nghiệp là đầu tư tài chính, bao gồm cả đầu tư ngắn hạn và
đầu tư dài hạn; còn đầu tư bên trong doanh nghiệp là đầu tư phát triển, như đầu tư mở
rộng quy mô sản xuất, hiện đại hoá thiết bị, dây truyền sản xuất, đổi mới công nghệ... và
do đó liên quan trực tiếp đến tài sản cố định của doanh nghiệp.
Mục đích của đầu tư, suy đến cùng vẫn là tăng được tổng số lợi nhuận cho doanh
nghiệp. Do vậy thông qua việc phân tích tình hình đầu tư và nguồn tự tài trợ người ta có
thể đánh giá được một khía cạnh khác về thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
Nội dung chủ yếu của phân tích tình hình đầu tư và nguồn tự tài trợ bao gồm:
- Phân tích, đánh giá khái quát tình hình đầu tư,
- Phân tích, đánh giá cụ thể tình hình đầu tư và nguồn tự tài trợ;
- Phân tích , đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư
* Trước hết là phân tích, đánh giá khái quát tình hình đầu tư:
Để đánh giá khái quát tình hình đầu tư, người ta có thể đánh giá theo 3 nội dung
sau đây:
+ Đánh giá về hướng đầu tư (đầu tư vào đâu?)
+ Đánh giá về loại hình đầu tư (đầu tư như thế nào)
+ Đánh giá về quy mô đầu tư (đầu tư bao nhiêu?)
Trong 3 nội dung nói trên thì việc đánh giá về hướng đầu tư là khâu khởi đầu ,đồng
thời cũng là khâu rất quan trọng. Thực tế cho thấy rằng, nếu lựa chọn đúng hướng đầu
tư thì nó sẽ tạo tiền đề có tính quyết định cho hiệu quả của hoạt động đầu tư nói chung,
của vốn đầu tư nói riêng. Đương nhiên việc cân nhắc để đi đến quyết định về loại hình
đầu tư (đầu tư tài chính hay đầu tư phát triển, đầu tư dài hạn hay đầu tư ngắn hạn...), về
quy mô đầu tư cũng có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo hiệu quả của hoạt động đầu tư
của doanh nghiệp. Nếu đầu tư không đúng hướng, đương nhiên các yếu tố loại hình, quy
mô đầu tư đều không có ý nghĩa và do đó không thể tính đến hiệu quả của vốn đầu tư.
* Phân tích, đánh giá cụ thể tình hình đầu tư và nguồn tự tài trợ của doanh
nghiệp.
Như ở phần trên đã đề cập, doanh nghiệp có thể đầu tư ra ngoài (đầu tư tài chính
ngắn hạn và dài hạn), đầu tư bên trong (đầu tư phát triển có liên quan đến tài sản cố định).
Để tiến hành đầu tư, doanh nghiệp có thể sử dụng vốn tự có (nguồn vốn chủ sở
hữu) hoặc vốn vay. Nhưng ở đây ta chỉ để cập đến nguồn tự tài trợ,do đó người ta
không tính đến việc sử dụng vốn vay để đầu tư. Từ những vấn đề đặt ra ở trên, khi phân
tích đánh giá cụ thể tình hình đầu tư và nguồn tự tài trợ của doanh nghiệp, người ta có
thể sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
-Tỷ suất đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn (đầu tư tổng quát);
- Tỷ suất đầu tư về tài sản cố định hữu hình;
- Tỷ suất tự tài trợ tổng quát;
- Tỷ suất tự tài trợ về đầu tư TSCĐ hữu hình.
(Để đơn giản trong tính toán,phần đầu tư phát triển ta chỉ giới hạn việc đầu tư có
liên quan đến tài sản cố định hữu hình, còn đối với tải sản cố định vô hình nó chứa đựng
quá nhiều nội dung phức tạp, trong đó có nội dung ít liên quan đến đầu tư, như giá trị
quyền sử dụng đất, giấy phép và giấy phép nhượng quyền ...)


Các chỉ tiêu nói trên lần lượt được xác định như sau:

Tỷ suất đầu tư
tổng quát

=
Đầu tư tài chính ngắn
hạn
+ Đầu tư tài chính dài
hạn
Tổng tài sản

x

100
Chỉ tiêu này nói lên rằng, cứ 100 đồng tài sản thì doanh nghiệp đã dành ra bao
nhiêu đồng để đầu tư tổng quát.

Tỷ suất đầu tư
TSCĐ hữu hình

=
TSCĐ (hữu hình
+ Chi phí XDCB dở
dang
Tổng tài sản

x

100
Công thức tính trên giải thích rằng, trong 100 đồng tài sản, doanh nghiệp đã bỏ
ra bao nhiêu đồng để đầu tư phát triển).

Tỷ suất tự tài trợ
tổng quát

=

Nguồn vốn chủ sở hữu
---------------------------------------
Đầu tư TC ngắn hạn + đầu tư TC dài hạn

x


100

Chỉ tiêu trên nói lên rằng, cứ 100 đồng vốn đầu tư tổng quát, thì có bao nhiêu
đồng được tài trợ (bù đắp) bằng vốn tự có của doanh nghiệp.

Tỷ suất tự tài trợ
về đầu tưu TSCĐ
hữu hình

=

Nguồn vốn chủ sở hữu
-------------------------------------------
TSCĐ hữu hình + Chi phí XDCB dở
dang

x


100

Công thức tính ở trên giải thích rằng, để bù đắp cho 100 đồng vốn đầu tư phát triển thì
vốn tự có của doanh nghiệp chiếm bao nhiêu phần.
* Về trình tự và phương pháp phân tích:
- Trước hết cần xác định các tỷ suất nói trên ở cả thời điểm đầu năm và cuối kỳ,
sau đó qua so sánh giứa cuối kỳ với đầu năm của từng chỉ tiêu, ta xác định được các
chênh lệch và tuỳ số chênh lệch của từng chỉ tiêu mà rút ra các kết luận cần thiết về tình
hình đầu tư và nguồn tự tài trợ của doanh nghiệp.
* Phân tích, đánh giá hiệu quả (kết quả) của hoạt động đầu tư:
Khi đánh giá kết quả của hoạt động đầu tư nói chung, hiệu quả của vốn đầu tư nói
riêng của các doanh nghiệp, cần phải đánh giá từ hai góc độ (quan điểm) :
- Từ góc độ (quan điểm) kinh tế và
- Từ góc độ (quan điểm) xã hội
Đối với với các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài, khi đánh giá hiệu quả
của vốn đầu tư còn phải tính đến quan hệ đối ngoại và vấn đề an ninh quốc phòng của
đất nước.
* Từ quan điểm kinh tế, để đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư, có thể thông qua các
chỉ tiêu sau đây:
* Nếu việc đầu tư của doanh nghiệp thông qua các dự án đầu tư riêng biệt, kế toán
có thể hạch toán chi tiết được tổng số vốn đầu tư, lợi nhuận thu được từ việc sử dụng
các vốn đầu tư thì chỉ tiêu được sử dụng là tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư và nó được
xác định như sau:

Tỷ suất lợi nhuận trên
vốn đầu tư


=
Tổng số lợi nhuận thu được từ
vốn đầu tư
----------------------------------
Tổng số vốn đầu tư


x 100
Chỉ tiêu này nói lên rằng, cứ 100 đồng vốn đầu tư bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi
nhuận,do đó nếu tỷ suất này càng cao và có xu hướng ngày càng tăng, chứng tỏ hiệu
quả sử dụng vốn đầu tư càng cao và ngược lại.
* Trường hợp việc đầu tư làm tăng quy mô sản xuất, hiện đại hoá thiết bị, dây
truyền sản xuất hoặc thay đổi công nghệ từ đó làm tăng số lượng, chất lượng sản phẩm,
tăng năng suất lao động, giảm chi phí, tăng lợi nhuận nhưng kế toán không bóc tách
được số lợi nhuận tăng thêm thì có thể sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên
tổng tài sản và nó được xác định như sau:

Tỷ suất lợi nhuận trước
thuế trên tổng tài sản


=

Tổng số lợi nhuận thuần từ
hoạt động kinh doanh (trước
thuế)
----------------------------------
Tổng tài sản


x 100
Chỉ tiêu này nói lên rằng, cứ 100 đồng tài sản sử dụng trong kỳ thu được bao
nhiêu đồng lợi nhuận.
+ Đối với đầu tư tài chính: Để đánh giá riêng hiệu quả của đầu tư tài chính, bao
gồm cả đầu tư tài chính ngắn hạn và đầu tư tài chính dài hạn, có thể dùng chỉ tiêu tỷ suất
lợi nhuận trên vốn đầu tư tài chính (tổng quát) và nó được xác định như sau:

Tỷ suất lợi nhuận trên
vốn đầu tư tài chính
ngắn hạn và dài hạn


=

Tổng số lợi nhuận thu được từ
đầu tư tài chính
----------------------------------
Đầu tư TC ngắn hạn + ĐT TC
dài hạn


x 100
Lợi nhuận thu được từ đầu tư tài chính bao gồm:
+ Lợi nhuận kinh doanh các loại cổ phiếu, trái phiếu
+ Lợi nhuận được chia do góp vốn liên doanh;
+ Lợi nhuận thu được từ các hoạt động đầu tư ngắn hạn, dài hạn khác.
Như vậy chỉ tiêu nói lên rằng, cứ 100 đồng đầu tư tài chính thì thu được bao
nhiêu đồng lợi nhuận và tỷ suất này càng cao, xu hướng ngày càng tăng, chứng tỏ hiệu
quả đầu tư tài chính càng cao và ngược lại.
* Thời hạn thu hồi vốn đầu tư : Đối với vốn đầu tư cho các dự án độc lập mà kế
toán có thể bóc tách được số liệu chi tiết, để đánh giá được hiệu quả của vốn đầu tư, có
thể sử dụng chỉ tiêu thời hạn thu hồi vốn và nó được xác định như sau:


Thời hạn thu hồi vốn đầu


=
Tổng số vốn đầu tư
-------------------------------------------
Khấu hao cơ bản+Lợi nhuận thu được
từ vốn đầu tư
Như vậy nếu lợi nhuận thu được ngày càng tăng, thời hạn thu hồi vốn càng ngắn,
hiệu quả vốn đầu tư càng cao và ngược lại.
* Mức nộp cho ngân sách Nhà nước do sử dụng vốn đầu tư:


Mức nộp ngân sách


=
Tổng số tiền nộp NS do sử dụng vốn
đầu tư
-------------------------------------------
Tổng số vốn đầu tư



Chỉ tiêu này nói lên rằng cứ 1 đồng vốn đầu tư, doanh nghiệp đã nộp bao nhiêu
đồng cho ngân sách Nhà nước.
* Từ quan điểm xã hội : Việc đầu tư phát triển như mở rộng quy mô sản xuất, mở
rộng ngành nghề sẽ tạo ra công việc làm cho người lao động. Do vậy thông qua số lao
động được tuyển dụng, người ta cũng đánh giá được hiệu quả của vốn đầu tư của doanh
nghiệp. Với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khi đánh giá hiệu quả của vốn
đầu tư nói riêng, tình hình đầu tư nói chung còn phải tính đến vấn đề an ninh quốc
phòng của đất nước.
* Ví dụ phân tích :
Dựa vào số liệu trên bảng cân đối kế toán, người ta lập bảng phân tích tình hình
đầu tư như sau:


(Bảng 3.2)
Chỉ tiêu Đầu năm (%) Cuối kỳ (%)
Chênh
lêch
(±) %
1- Tỷ
suất đầu
tư tổng
quát
2000 + 8000
------------------ x 100= 5.99%
170.000
2000 + 9000
------------------- x100=5,91
186.000

-0,08
2- Tỷ
suất dầu
tư TSCĐ
hữu hình
90.000 + 4.000
--------------------- x 100 = 52,15
170.000
92.000+5.000
------------------- x 100=52,12
186.000

-0,03
3- Tỷ
suất tự tài
trợ tổng
quát
51.000
------------------ x 100 = 510
2.000 + 8.000
47.000
----------------- x 100= 427
2000 + 9000

-83
4- Tỷ
suất tự tài
trợ về
đầu tư
TSCĐ
hữu hình
51.000
------------------- x 100 = 54,25
90.000 + 4.000
47.000
------------------- x 100= 48,45
92.000 + 500

-5,8
- Dựa vào các kết quả tính được trên bảng 3.2, ta thấy so với đầu năm, tỷ suất đầu
tư tổng quát (đầu tư ra ngoài) cuối kỳ đã tăng 0,03%, mức tăng này là không đáng kể,
trong khi đó tỷ suất đầu tư bên trong doanh nghiệp lại giảm 3,14%. Kết quả trên chưa
phải là yếu tố tích cực của hoạt động đầu tư.
- Về tình hình tự tài trợ cho đầu tư : nguồn vốn chủ sở hữu thừa khả năng (với
mức độ rất lớn) bù đắp cho đầu tư tài chính, nhưng lại có xu hướng giảm dần về cuối
kỳ, với tỷ lệ giảm là 83%; Trong khi đó, nguồn vốn này chỉ có thể bù đắp với tỷ lệ
54,25% cho đầu tư về tài sản cố định hữu hình vào thời điểm đầu năm và đã giảm
xuống còn 48,45% ở thời điểm cuối kỳ, với tỷ lệ giảm cụ thể là 5,8%. Hiện tượng trên
cũng cần được đánh giá, xem xét một cách cụ thể để hạn chế được các tác động tiêu cực
đến tình hình tài chính nói chung, tình hình đầu tư nói riêng của doanh nghiệp.
Trong thực tế, cần tìm hiểu để lựa chọn, sưu tầm tài liệu, số liệu cần thiết dề tiến
hành phân tích, đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư nói chung, của việc sử dụng vốn
đầu tư của doanh nghiệp nói riêng
3.1.3- Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
3.1.3.1- Phân tích tình hình công nợ của doanh nghiệp
Công nợ của doanh nghiệp bao gồm:
- Công nợ phải thu, phản ánh số vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng và
- Công nợ phải trả, phản ánh số vốn mà doanh nghiệp đi chiếm dụng.
Thực tế cho thấy rằng, trong quá trình sản xuất kinh doanh, giữa các doanh nghiệp
với Nhà nước, giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác, giữa doanh nghiệp với
người lao động (làm công ăn lương) luôn phát sinh các quan hệ thanh toán, do vậy cũng
phát sinh vốn bị chiếm dụng và đi chiếm dụng. Ví dụ định kỳ doanh nghiệp phải nộp
thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế thu nhập cho nhà nước
... khi quyết toán được duyệt, nếu số đã nộp lớn hơn số phải nộp, coi như vốn của doanh
nghiệp đã bị chiếm dụng và ngược lại. Trong mối quan hệ xây dựng cơ bản, khi dự án
được duyệt, đơn vị chủ đầu tư mời thầu và sau khi trúng thầu, đơn vị thi công ứng vốn
để thi công công trình, khi công trình hoàn thành bàn giao, đơn vị chủ dự án chưa được
cấp đủ vốn, do vậy không thể thanh toán đủ cho đơn vị thi công, như vậy thực chất là
nhà nước đã chiếm dụng vốn của các đơn vị xây lắp. Trong quan hệ giữa các doanh
nghiệp với nhau, họ vừa là người mua, vừa là người bán. Nếu đã chấp nhận thanh toán
chậm hoặc trả góp, doanh nghiệp đương nhiên đã chấp nhận để đơn vị khác (người
mua) chiếm dụng vốn của mình và ngược lại là được chiếm dụng vốn của đơn vị khác.
Với những người làm công ăn lương, hàng ngàyhọ lao động để làm ra sản phẩm, trong
giá thành sản phẩm có chứa đựng tiền công của họ, nhưng thực tế doanh nghiệp không
thể thanh toán lương hàng ngày; như vậy giữa các kỳ trả lương, doanh nghiệp đã chiếm
dụng vốn. Ngược lại, do nhu cầu thực tế, người lao động có thể tạm ứng lương, khi đó
vốn của doanh nghiệp đã bị chiếm dụng...
Thông qua việc phân tích chi tiết ở trên, có thể thấy rằng cần thiết phải phân tích,
đánh giá tình hình công nợ và rõ ràng nó là "Bức tranh" phản ánh tương đối rõ nét về
thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Ví dụ, dựa vào số liệu của Bảng cân đối kế toán, ta lập Bảng phân tích, đánh giá
tình hình công nợ của doanh nghiệp như sau:
Bảng phân tích tình hình công nợ của doanh nghiệp
Bảng 3.3
Chỉ tiêu
Đầu năm
(Tr.đ)
Cuối kỳ
(Tr.đ)
Chênh lệch (±)
Số tiền
(Tr.đ)
%
A- Nợ phải thu 10.000 14.000 +4.000 +40
- Trong đó đã đến hạn và quá hạn 6.900 9.140 +2.240 +32,4
1- Phải thu của khách hàng 7.000 10.000 +3.000 +42,8
- Trong đó đã đến hạn và quá hạn 6.000 8.000 +2.000 +33,3
2-Tiền trả trước cho người bán 500 700 +200 +40
3-Thuế GTGT được khấu trừ - - -
4- Phải thu nội bộ 500 800 +300 +60
- Trong đó đã đến hạn, quá hạn 400 600 +200 +50
5- Phải thu người lao động 200 220 +20 +10
- Trong đó đã đến hạn và quá hạn 100 100 - -
6- Tạm ứng 400 480 +80 +20
- Trong đó đã đến hạn và quá hạn 400 440 +40 +10
7- Phai thu khác 1.400 1.800 +400 +28,5
B- Nợ phải trả 74.000 92.000 +18.000 24,3
- Trong đó đã đến hạn và quá hạn 40.000 50.000 +10.000 +25
1. Phải trả khách hàng: 9.000 11.000 +2.000 +22.,2
- Trong đó đã đến hạn và quá hạn 7.000 8.000 +1.000 +14,2
2. Nhận tiền ứng trước của người mua 500 600 +100 +20
3.Thuế và các khoản phải nộp ngân sách: 1.000 1.400 +400 +40
- Trong đó đã đến hạn và quá hạn 200 400 +200 +100
4. Vay ngắn hạn 58.000 72.000 +14.200 +24,4
5- Vay dài hạn đến hạn trả 3.500 4.400 +900 +25,7
6- Phải trả người lao động 500 600 +100 +20
-Trong đó đã đến hạn, quá hạn - - - -
7- Phải trả nộibộ - - - -
- Trong đó đã đến hạn, quá hạn
8- Phải trả, phải nộp khác 1.500 1.800 +300 +20
Tỷ suất các khoản phải thu trên tổng tài
sản (%)
5,88% 7,52% - +
1.64%
*Tỷ suất các khoản phải trả trên tổng
nguòn vốn (%)
43,52% 49,46% - +5,94
%


Dựa vào các số liệu của bảng 3.3, ta có thể rút ra một só nhận xét như sau:
* Về nợ phải thu: Tổng số nợ phải thu của doanh nghiệp đầu năm là 10.0000 triệu
đồng, chiếm 5,88% so với tổng tài sản, cuối kỳ là 14.000 triệu đồng, chiếm 7,52% tổng
tài sản; Như vậy so với đầu năm,tổng số nợ phải thu ở thời điểm cuối kỳ đã tăng thêm
4.000 triệu đồng, với tỷ lệ tăng tương ứng là 40%, tỷ trọng chiếm trong tổng tài sản tăng
1,64%. Với kết quả tính được ở trên, có thể khái quát đánh giá tình hình quản lý nợ phải
thu của doanh nghiệp là chưa tích cực, vốn bị chiếm dụng tương đối lớn và có xu hướng
tăng dần về cuối kỳ.
- Nếu đi sâu phân tích, ta thấy trong tổng số nợ phải thu (vốn bị chiếm dụng) thì
số nợ phải thu khách hàng là chủ yếu : Số đầu năm là 7.000 triệu đồng, chiếm tỷ trọng
70% tổng số vốn bị chiếm dụng ( ) 100
000 . 10
000 . 7
% 70 ( × = , cuối kỳ đã tăng lên là 10.000
triệu đồng, chiếm tỷ trọng 71,4% ( ) 100
000 . 14
000 . 10
% 4 , 71 %( 4 , 71 x = so với tổng số vốn bị
chiếm dụng của doanh nghiệp. Trong tổng số nợ phải thu khách hàng, số đã đến hạn và
quá hạn đã chiếm tỷ trọng chủ yếu. Ta có thể đễ dàng xác định được tỷ trọng của nó ở
thời điểm đầu năm là 85,7% ) 100
000 . 7
000 . 6
( x và cuối kỳ là 80% ) 100
000 . 10
000 . 8
x . Với kết quả
tính được ở trên, rõ ràng phản ánh tình hình quản lý nợ phải thu là chưa tích cực. Đơn vị
cần thống kê chi tiết để xác định từng khách hàng nợ, đặc biệt đối với số nợ đã đến hạn,
quá hạn để có các quyết định thích hợp, kịp thời trong việc thu hồi công nợ, giảm được
rủi ro về tài chính cho doanh nghiệp.
- Đối với nợ phải thu như tiền trả trước cho người bán, phải thu nội bộ, phải thu người
làm công ăn lương, phải thu tạm ứng, tuy phát sinh không lớn song cần quan tâm đến
số nợ đã đến hạn, quá hạn, tuỳ từng khoản nợ phát sinh mà có các quyết định phù hợp
để hạn chế, loại trừ được nợ nần dây dưa ảnh hưởng tiêu cực đến việc quản lý và sử
dụng vốn của doanh nghiệp.
- Đối với các khoản phải thu khác phát sinh cũng tương đối lớn và có xu hướng
tăng dần về cuối kỳ (với tỷ lệ tăng 28,5%), cần dựa vào tài liệu hạch toán chi tiết để
diễn giải nội dung cụ thể của số nợ phải thu này, thông qua nguồn gốc, tính chất phát
sinh của từng khoản nợ phải thu để có các quyết định thích hợp trong quản lý.
* Về nợ phải trả:
Tổng số nợ phải trả của doanh nghiệp đầu năm là 74.000 triệu đồng,chiếm tỷ
trọng 43,52% so với tổng nguồn vốn, về cuối kỳ đã tăng lên thành 92.000 triệu đồng, tỷ
trọng chiếm trong tổng nguồn vốn là 49,46%, phản ánh số vốn mà doanh nghiệp đi
chiếm dụng là rất lớn. Trong tổng số nợ phải trả (không tính số nợ dài hạn), số nợ đã
đến hạn và quá hạn chiếm tỷ trọng tương đối lớn: Đầu năm được xác định là 63,7%
) 100
000 . 74
200 . 74
( × , cuối kỳ là 63,45%( ) 100
000 . 92
400 . 58
× chứng tỏ việc quản lý tài chính nói
chung, quản lý công nợ phải trả nói riêng của doanh nghiệp là chưa tốt. Với kết quả tính
được ở trên, có thể thấy rằng khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp là chưa cao
và do vậy làm cho rủi ro về tài chính của doanh nghiệp có xu hướng tăng lên.
-Đi sâu phân tích nợ phải trả, ta có nhận xét như sau:
+ Trong tổng số nợ phải trả, chủ yếu là vay ngắn hạn. Cụ thể số đầu năm của vay
ngắn hạn là 58.000 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 78,3% ) 100
000 . 74
000 . 58
( × vào thời điểm đầu
năm và 78,4% ) 100
000 . 92
200 . 72
( × vào thời điểm cuối kỳ, trong đó số nợ đã đến hạn, quá
hạn lại là chủ yếu. Với số liệu của bảng 5.3 ta dễ dàng xác định được tỷ trọng quá hạn
đầu năm là 68,9% ) 100
000 . 58
000 . 40
( × và về cuối kỳ tỷ trọng của nó là 69,4% ) 100
200 . 72
000 . 50 (
x .
Với các số liệu tính được ở trên, ta càng có cơ sở để kết luận rằng tình hình quản lý vốn
vay của doanh nghiệp là chưa tích cực và chắc chắn nó sẽ có tác động tiêu cực đến tình
hình tài chính của doanh nghiệp.
+ Đối với số nợ phải trả khách hàng : Đây là số nợ chiếm tỷ trọng lớn thứ hai sau
vay ngắn hạn; Từ số liệu của bảng 3.3, ta có thể xác định được tỷ trọng của nó chiếm
trong tổng số nợ phải trả vào thời điểm đầu năm là 12% ) 100
000 . 74
000 . 9
( × và ở thời điểm
cuối kỳ là 11,9% ) 100
000 . 92
000 . 11
( x , trong đó số đã đến hạn và quá hạn lại chiếm tỷ trọng
chủ yếu. Theo số liệu đã cho thì tỷ trọng nợ quá hạn là 77,7% ( ) 100
000 . 9
000 . 7
x ở thời điểm
đầu năm và cuối kỳ tỷ trọng của nó là 72,72%( ) 100
000 . 11
000 . 8
( x . Việc số nợ quá hạn, đến
hạn chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng tăng biểu hiện xu hướng không tích cực trong
công tác quản lý tài chính nói chung và quản lý công nợ phải trả nói riêng. Đơn vị cần
có các quyết định thích hợp để hạn chế, loại trừ sự tồn tại của số nợ đến hạn, quá hạn để
làm lành mạnh tình hình tài chính của doanh nghiệp.
+ Khoản nợ phải trả cần quan tâm thứ ba là thuế và các khoản phải nộp, trong đó
cần đặc biệt chú ý đối với nợ đã đến hạn và quá hạn, vì chúng đều có xu hướng tăng dần
về cuối kỳ. Số nợ này phản ánh đơn vị chưa thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ với Nhà
nước và không thể kéo dài hiện tượng nói trên.
- Đối với các khoản nợ phải trả còn lại, cần đi sâu tìm hiểu tài liệu chi tiết để tuỳ
từng khoản nợ mà có kết luận chính xác, cụ thể hơn.
3.1.3.2- Phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối tương quan giữa hai yếu tố:
- Số tiền và tương đương tiền mà doanh nghiệp có thể dùng để thanh toán.
- Tổng số nợ ngắn hạn doanh nghiệp cần thanh toán.
Như vậy, khi đề cập đến khả năng thanh toán, người ta chỉ đề cập đến số nợ ngắn
hạn (được đề cập ở các chỉ tiêu thuộc mục B của Bảng 5.3- Bảng phân tích tình hình
công nợ), bởi vì việc phân tích, đánh giá khả năng thanh toán có thể được tiến hành định
kỳ theo quý, 6 tháng và cuối năm, do đó đối với nợ dài hạn là các khoản nợ trên 1 năm
không thuộc phạm vi phân tích khả năng thanh toán. Trường hợp nợ dài hạn đến hạn trả
thì nó lại là yếu tố cấu thành của nợ ngắn hạn. Mặt khác, qua phân tích nội dung cấu
thành của công nợ phải trả, người ta nhận thấy số nợ ngắn hạn bao gồm cả số nợ đã đến
hạn, quá hạn và nợ chưa đến hạn, do vậy khi phân tích khả năng thanh toán, cần thiết
phải đề cập đến khả năng thanh toán tổng số nợ ngắn hạn (khả năng thanh toán chung -
hay khả năng thanh toán tổng quát) và khả năng thanh toán số nợ ngắn hạn đã đến hạn
và quá hạn (khả năng thanh toán nhanh).
Để thanh toán các khoản nợ nói trên thì nguồn để thanh toán cũng không giống nhau:
- Đối với tổng số nợ ngắn hạn thì tiền và tương đương tiền doanh nghiệp có thể sử
dụng để thanh toán bao gồm:
+ Tiền
+ Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
+ Các khoản phải thu
+ Một phần hàng tồn kho, bao gồm thành phẩm, hàng hoá, hàng gửi bán và
+ Tài sản ngắn hạn khác
Như vậy, các yếu tố : hàng mua đang đi trên đường, công cụ dụng cụ trong kho,
nguyên vật liệu tồn kho, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang thuộc hàng tồn kho, tuy
chúng có thể được chuyển đổi thành tiền (cũng là tương đương tiền), nhưng trong quá
trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp không thể chuyển đổi nó thành tiền để hoàn trả
nợ và chúng chỉ được chuyển đổi thành tiền để thanh toán nợ khi doanh nghiệp bị phá
sản, bị bán hoặc bị chuyển quyền sở hữu.
- Đối với nợ ngắn hạn đã đến hạn, đã quá hạn:
Vì số nợ đã đến hạn, đã quá hạn, cho nên doanh nghiệp phải thanh toán ngay (thanh toán
nhanh), do đó số tiền và tương đương tiền dùng để thanh toán nhanh chỉ bao bồm 2 yếu tố:
+ Tiền
+ Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
Trong thực tế, có một số chủ nợ thay vì đòi tiền, nhưng doanh nghiệp lại không có
khả năng dùng tiền để trả nợ, chủ nợ có thể chấp nhận lấy hàng hoá, thành phẩm của
doanh nghiệp để trừ vào số nợ phải trả thì khi đó, trị giá của số hàng hoá, thành phẩm sẽ
được xác định để tính khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp.
Từ việc phân tích chi tiết ở trên, người ta nhận thấy rằng, để phân tích, đánh giá
khả năng thanh toán của doanh nghiệp, có thể thông qua hai chỉ tiêu sau đây:
- Hệ số thanh toán tổng quát và
- Hệ số thanh toán nhanh
Các chỉ tiêu nói trên lần lượt được xác định như sau:


Hệ số thanh
toán tổng
quát



=
Tiền


+
CK đầu
tư TC
ngắn
hạn

+
Các
khoản
phải thu

+
Một phần HTK
(thành phẩm
hàng hoá ,hàng
gửi bán)

+
Tài sản
ngắn
hạn
khác
Tổng số nợ ngắn hạn (cộng IA nguồn vốn)

Hệ số thanh toán
nhanh

=
Tiền + CK đầu tư TC ngắn hạn + Một phần hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn đã đến hạn, quá hạn
Ghi chú : Yếu tố * này chỉ được xác định khi chủ nợ đồng ý thanh toán hàng đổi
hàng.
Từ cách xác định trên, ta thấy nếu các hệ số lớn hơn 1, chứng tỏ doanh nghiệp thừa
khả năng thanh toán, nếu nhỏ hơn 1 là thiếu khả năng thanh toán và nó tiến dần đến 0,
chứng tỏ doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và khi đó doanh nghiệp đối diện với khả
năng bị phá sản.
Như vậy,thông qua khả năng thanh toán, người ta cũng đánh giá được thực trạng
trong tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ.
* Ví dụ phân tích:
Dựa vào số liệu của Bảng cân đối kế toán và số liệu hạch toán chi tiết đã được xác
định ở bảng 3.3, ta lần lượt xác định như sau:
- Hệ số thanh toán tổng quát:
+ Đầu năm =
; 648 , 0
000 . 74
000 . 48
000 . 74
000 . 2 000 . 5 000 . 25 000 . 10 2000 4000
= =
=
+ + + + +

+ Cuối kỳ =
619 , 0
000 . 92
000 . 57
000 . 92
600 . 1 000 . 7 000 . 30 14000 2000 2400
= =
+ + + + +

Nếu so sánh cuối kỳ với đầu năm, hệ số thanh toán tổng quát giảm : 0,619 - 0,648
= - 0,029
- Hệ số thanh toán nhanh: (giả định chủ nợ đồng ý thanh toán bằng hiện vật).
+ Đầu năm :
72 , 0
200 . 47
000 . 34
200 . 47
000 . 5 000 . 25 2000 4000
= =
+ + +
=

+ Cuối kỳ
708 , 0
400 . 58
400 . 41
400 . 58
000 . 7 000 . 30 000 . 2 000 . 4 . 2
= =
+ + +
=
So với đầu năm, hệ số thanh toán nhanh giảm :
0,708 - 0,72 = - 0,012
Từ những kết quả tính được ở trên, ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:
- Đối với số nợ ngắn hạn, vào thời điểm đầu năm, doanh nghiệp chỉ có khả năng
thanh toán được 64,8%, nhưng cuối kỳ khả năng này chỉ là 61,9%. Như vậy ở cả hai
thời điểm, doanh nghiệp đều thiếu khả năng thanh toán đối với nợ ngắn hạn và xu
hướng đó lại tăng dần về cuối kỳ.
- Đối với nợ ngắn hạn đã đến hạn, quá hạn, khả năng thanh toán của doanh nghiệp
cũng có hiện tượng như trên. Cụ thể vào thời điểm đầu năm, doanh nghiệp chỉ có thể
thanh toán được 72%, cuối kỳ tỷ lệ này chỉ là 70,8%; Như vậy ở cả hai thời điểm, doanh
nghiệp đều thiếu khả năng thanh toán đối với số nợ ngắn hạn đã đến hạn và quá hạn và
xu hướng đó cũng tăng dần về cuối kỳ.
Thông qua việc phân tích, đánh giá khả năng thanh toán như trên, có thể đi đến
kết luận rằng, doanh nghiệp thiếu khả năng thanh toán đối với số nợ ngắn hạn nói chung
và số nợ ngắn hạn đã đến hạn, quá hạn nói riêng và rõ ràng nó phản ánh thực trạng tình
hình tài chính của doanh nghiệp là không tốt. Để khắc phục được hiện tượng nói trên,
doanh nghiệp cần áp dụng các biện pháp cần thiết đẻ đẩy mạnh bán ra đối với hàng
hoá, thành phẩm tồn kho, tích cực đối chiếu để thu hồi các khoản nợ đã đến hạn, quá
hạn (theo số liệu của bảng 3.3)..., có vậy mới tăng được khả năng thanh toán cho doanh
nghiệp ở kỳ sau và cải thiện được tình hình tài chính của doanh nghiệp.
3.1.4. Phân tích rủi ro tài chính của doanh nghiệp.
Theo nghĩa hẹp, rủi ro nghĩa là sự "không may"; còn theo nghĩa thông thường, rủi
ro là sự bất trắc, là sự không ổn định trong quá trình họat động và làm giảm kết quả của
họat động. Như vậy, trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp có thể gặp sự
không may, gặp bất trắc và do vậy họat động sản xuất kinh doanh sẽ khong ổn định, như
khi gặp sự không ổn định trong khâu cung cấp nguyên vật liệu, nó sẽ tạo ra sự không ổn
định trong khâu sản xuất cả về khối lượng và chất lượng, kế tiếp là sự không ổn định ở
khâu bán hàng, và cuối cùng là sự không ổn định ở việc hoàn lại chi phí đã bỏ ra, làm
giảm lợi ích của doanh nghiệp nói riêng,đe dọa sự tồn tại của Doanh nghiệp nói chung.
Như người ta biết, quá trình sản xuất kinh doanh, xét từ quan điểm tài chính là quá
trình vận động tuần hoàn và chu chuyển của vốn lưu động, trong đó khởi đầu là vốn ứng
trước (K.Mars gọi là tư bản ứng trước) và kết thúc là vốn thu về. Trong quá trình tuần
hoàn và chu chuyển của vốn lưu động, đương nhiên người ta mong muốn vốn thu về
phải lớn hơn vốn ứng trước. Muốn vậy, quá trình tuần hoàn và chu chuyển của vốn lưu
động phải gặp thuận lợi, tức là không gặp rủi ro, không có bất trắc và luôn luôn ổn định.
Nhưng thực tế cho thấy, do nhiều nguyên nhân tác động khác nhau, trong đó có cả
nguyên nhân bên trong (nguyên nhân tiềm ẩn ngay bên trong của quá trình tuần hoàn và
chu chuyển của vốn lưu động, còn gọi là nguyên nhân chủ quan) và nguyên nhân bên
ngoài (nguyên nhân bất thường, tác động ngoài ý muốn của người quản lý, còn gọi là
nguyên nhân khách quan), do đó làm cho quá trình sản xuất kinh doanh nói chung, sự
vận động, tuần hoàn và chu chuyển vốn lưu động nói riêng sẽ gặp sự "không may", sự
bất trắc và không ổn định, nghĩa là gặp rủi ro, làm giảm kết quả họat động sản xuất kinh
doanh nói chung, kết quả của việc quản lý, sử dụng vốn lưu động nói riêng. Như vậy rủi
ro là vấn đề tiềm tàng, có bất ở cứ doanh nghiệp nào trong quá trình sản xuất kinh
doanh nói chung, quá trình tuần hoàn và chu chuyển của vốn lưu động nói riêng, do đó
nó là vấn đề cần được quan tâm, cần được tính đến đối với các nhà quản lý.
Từ việc phân tích nói trên, người ta nhận thấy rằng, trong cơ chế quản lý hành chính
quan liêu bao cấp trước đây, đối với các doanh nghiệp nhà nước, quá trình sản xuất kinh
doanh nói chung, quá trình tuần hoàn và chu chuyển của vốn lưu động nói riêng, đều do
nhà nước chi phối và quyết định, do vậy nếu quá trình đó gặp sự "không may", bất trắc và
không ổn định thì mọi hậu quả đều do nhà nước gánh chịu và vì đã có nhà nước gánh chịu
nên người ta không đặt ra vấn đề rủi ro nói chung, rủi ro tài chính nói riêng đối với doanh
nghiệp nhà nước. Trong điều kiện hiện nay, các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp
nhà nước nói riêng đều có quyền tự chủ về sản xuất kinh doanh nói chung, tự chủ về tài
chính nói riêng, do đó nếu quá trình đó gặp rủi ro thì doanh nghiệp tự phải gánh chịu.
Trong phạm vi của chương này ta chỉ đề cập đến vấn đề rủi ro tài chính của doanh nghiệp.
Khi phân tích quá trình tuần hoàn và chu chuyển của vốn lưu động, người ta nhận thấy
nếu rủi ro tài chính phát sinh thì nó sẽ phát sinh ở khâu cuối cùng, tức là khâu biến hàng
thành tiền (H'-T'), do đó những chỉ tiêu nào phản ánh có liên quan đến hai yếu tố nói trên
thì đều là những chỉ tiêu phản ánh rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu đó bao
gồm:
- Tỷ suất các khoản phải thu;
- Tỷ suất các khoản phải trả;
- Hệ số thanh toán tổng quát;
- Hệ số thanh toán nhanh;
(Bốn chỉ tiêu này đã được đề cập ở mục 3.1.3&do vậy ở phần này không cần đề
cập đến cách xác định)
- Hệ số nợ trên tài sản =
Tổng số nợ (cộng A nguồn vốn)
Tổng tài sản (A+B tài sản)
Chỉ tiêu này nói lên rằng, trong tổn tài sản hiện có của doanh nghiệp, có bao đồng
do vay nợ mà có, do vậy nếu hệ số này càng lớn và có xu hướng càng tăng, chứng tỏ rủi
ro tài chính càng tăng và ngược lại.
- Hệ số nợ ngắn hạn trên
TS ngắn hạn
=
Nợ ngắn hạn (I
A
nguồn vốn)
TS ngắn hạn (Cộng A tài sản)
ý nghĩa của chỉ tiêu này cũng gần giống với ý nghĩa của chỉ tiêu trên, nhưng từ quan
điểm của quản lý, nó cần được chú ý và quan tâm nhiều hơn do phạm vi của nó tạo ra.
- Hệ số thu hồi nợ =
Doanh thu (thuần, giá vốn)

Số dư nợ phải thu bình quân
(Số dư nợ phải thu bình quân được xác định dựa vào số dư nợ phải thu đầu năm
và cuối kỳ)
Công thức này giải thích rằng, nếu doanh thu bán chịu, bán trả chậm càng giảm,
số dư nợ phải thu giảm đi thì hệ số thu nợ càng tăng và rủi ro tài chính càng giảm và
ngược lại. Để phản ánh rõ hơn, người ta sử dụng chỉ tiêu thời gian thu hồi nợ:
- Thời hạn (kỳ hạn) thu hồi
nợ
=
Thời gian trong kỳ báo cáo

Hệ số thu hồi nợ
Thời hạn trong kỳ báo cáo là đại lượng cố định (một năm là 360 ngày, quí 90
ngày), do vậy thời hạn thu hồi nợ tùy thuộc vào hệ số thu hồi nợ. Như vậy khi hệ số thu
hồi nợ tăng, thời hạn thu hồi nợ sẽ giảm, rủi ro tài chính giảm và ngược lại.
- Hệ số quay vòng
hàng tồn kho
=
Doanh thu (giá vốn, thuần)
Trị giá hàng tồn kho bình quân


(Trị giá hàng tồn kho bình quân được xác định dựa vào trị giá hàng tồn kho đầu năm và cuối kì)
Chỉ tiêu này nói lên rằng,việc rút ngắn chu kỳ sản xuất, sản xuất ra đến đâu bán
hết đến đó, hoặc mua nhanh, bán nhanh thì trị giá hàng tồn kho sẽ giảm hợp lý, do vậy
Hệ số quay vòng sẽ tăng và rủi ro tài chính sẽ giảm và ngược lại. Để phản ánh cụ thể
hơn, người ta sử dụng chỉ tiêu thời hạn quay vòng hàng tồn kho:
- Thời hạn quay vòng
hàng tồn kho
=
Thời gian trong kỳ báo cáo

Hệ số quay vòng hàng tồn kho
Như vậy khi hệ số quay vòng hàng tồn kho càng lớn và có xu hướng tăng lên thì
số ngày cần thiết cho một vòng quay càng nhỏ và có xu hướng càng giảm, khi đó rủi ro
tài chính càng giảm và ngược lại.
- Hệ số thanh toán
lãi vay
=
Lãi thuần từ họat động kinh doanh (lãi trước thuế)
Lãi vay phải trả
Chỉ tiêu này nói lên rằng, sản xuất kinh doanh càng có hiệu quả, lãi càng tăng thì
hệ số thanh toán lãi vay càng tăng, rủi ro tài chính càng giảm và ngược lại.
* Về trình tự và phương pháp phân tích.
Trước hết cần xác định được các chỉ tiêu nói trên ở cả thời điểm đầu năm và cuối
kỳ, sau đó tiến hành so sánh giữa cuối kỳ với đầu năm, tùy theo từng chênh lệch tính
được mà rút ra các kết luận cần thiết về rủi ro tài chính của doanh nghiệp.
* Ví dụ phân tích: Dựa vào kết quả tính được ở mục 3.1.3. và số liệu của bảng cân
đối kế toán, ta lập bảng phân tích rủi ro tài chính như sau:
Bảng 3.4.
Chỉ tiêu Đầu năm Cuối kỳ
Chênh
lệch(+, -)
1. Tỷ suất C.K phải thu 5,88% 7,52% + 1,64%
2. Tỷ suất C.K phải trả 43,52% 49,46% + 5,94%
3. Hệ số thanh toán tổng
quát
0,648 0,619 - 0,029
4. Hệ số thanh toán nhanh 0,72 0,708 - 0,012
5. Hệ số nợ trên tài sản 119.000
0, 7
170.000
= 75 , 0
000 . 186
000 . 139
=
+ 0,05
6. Hệ số nợ ngắn hạn trên
TSNH
955 , 0
000 . 68
000 . 65
= 081 , 1
000 . 80
500 . 86
=
+ 0,126
7. Hệ số thu hồi nợ
44
2
000 . 10 000 . 8
000 . 396
=
+

9 , 33
2
000 . 14 000 . 10
000 . 407
=
+

- 10,1
8. Thời hạn thu hồi nợ
18 , 8
44
360
= 61 , 10
9 , 33
360
=
+ 2,43
9. Hệ số quay vòng HTK
8 , 8
2
000 . 50 000 . 40
000 . 396
=
+

4 , 7
2
000 . 60 000 . 50
000 . 407
=
+

-1,4
10. Thời hạn quay vòng
HTK
9 , 40
8 , 8
360
= 6 , 48
4 , 7
380
=
+7,7
11. Hệ số thanh toán lãi
vay
59 , 1
200 . 5
300 . 8
= 45 , 1
500 . 5
8010
=
-0,14

Dựa vào các số liệu tính được ở bảng 3.4, ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:
- Tỷ suất các khoản phải thu và tỷ suất các khỏan phải trả đều có xu hương tăng
dần về cuối kỳ nó phản ánh vốn bị chiếm dụng và vốn đi chiếm dụng có xu hướng ngày
một tăng, do đó rủi ro tài chính cũng có xu hướng tăng lên.
- Xét về khả năng thanh toán: Doanh nghiệp thiếu khả năng thanh toán, kể cả khả
năng thanh toán tổng quát và khả năng thanh toán nhanh và chúng đều có xu hướng
giảm dần về cuối kỳ, chứng tỏ rủi ro tài chính của doanh nghiệp có xu hướng tăng lên.
- Xét về hệ số nợ: Hệ số nợ tổng quát và hệ số nợ ngắn hay tương đối lớn và đều
có xu hướng tăng dần về cuối kỳ, đặc biệt hệ số nợ ngắn hay cuối kỳ đã lớn hơn 1
(1,081) đã nói lên rằng, trong tổng tài sản nói chung, tài sản ngắn hạn nói riêng, phần
được bù đắp bằng nguồn vốn chủ sở hữu tương đối nhỏ và giảm dần về cuối kỳ, chứng
tỏ sự lệ thuộc về tài chính của doanh nghiệp có xu hướng tăng lên, do đó rủi ro tài chính
của doanh nghiệp cũng tăng lên.
- Xét về hệ số thu hồi nợ và hệ số quay vòng hàng tồn kho: Các hệ số này đều có
xu hướng tăng dần về cuối kỳ, do vậy thời hạn thu hồi nợ và thời hạn quay vòng hàng
tồn kho giảm dần về cuối kỳ, chứng tỏ rủi ro tài chính tăng dần về cuối kỳ.
- Cuối cùng, xét về hệ số thanh toán lãi vay:
Hệ số thanh toán lãi vay giảm dần về cuối kỳ, chứng tỏ khả năng hoàn trả lãi vay
giảm dần, do đó rủi ro tài chính tăng dần về cuối kỳ.
Tóm lại, qua phân tích sự biến động của các chỉ tiêu, ta có thể kết luận rằng rủi ro
tài chính tăng dần và như vậy thực trạng tài chính của doanh nghiệp là không tốt. Với
thực trạng nói trên, phải xuất phải từ điều kiện thực tế về sản xuất kinh doanh để xác
định được nguyên nhân cụ thể đã ảnh hưởng đến sự biến động của từng chỉ tiêu, qua đó
mà có các quyết định điều chỉnh thích hợp, kịp thời để cải thiện được tình hình tài chính
cho doanh nghiệp ở kỳ sau.


3.2. Phân tích tình hình tổ chức huy động vốn của doanh nghiệp.
Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp đều phải có một lượng vốn tiền tệ nhất
định, bao gồm cả vốn cố định và vốn lưu động và gọi chung là vốn sản xuất kinh doanh
và quy mô sản xuất kinh doanh quyết định quy mô về nhu cầu vốn của doanh nghiệp.
Để đáp ứng nhu cầu về vốn, các doanh nghiệp cần làm tốt việc tổ chức huy động
vốn. Với các doanh nghiệp có sở hữu khác nhau, loại hình sản xuất kinh doanh và quy
mô sản xuất kinh doanh khác nhau, sẽ có các chính sách và phương pháp huy động vốn
khác nhau .
* Đối với vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu, còn được quan niệm là vốn tự có của
doanh nghiệp, được hình thành chủ yếu từ vốn góp ban đàu và vốn tự bổ xung.
- Vốn góp ban đầu: Với doanh nghiệp nhà nước, vốn góp ban đầu là vốn đầu tư
lần đầu của nhà nước. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu do mở rộng quy mô sản
xuất, do thay đổi ngành nghề kinh doanh làm tăng vốn điều lệ, nhà nước có thể xem xét
để cấp phát (đầu tư) bổ sung để đáp ứng một phần cho nhu cầu tăng vốn, với điều kiện
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải đạt hiệu quả và doanh nghiệp phải thực hiện
đầy đủ, nghiêm túc mọi nghĩa vụ với nhà nước.
+ Với các doanh nghiệp cổ phần, vốn góp ban đầu chính là vốn cổ phần do các cổ
đông đóng góp và giá trị của mỗi cổ phần do Đại hội cổ đông quyết định.
+ Với các doanh nghiệp liên doanh: Vốn góp ban đầu là vốn góp của các bên liên
doanh, tỷ lệ vốn góp do các bên liên doanh thỏa thuận.
- Đối với vốn tự bổ sung: Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để đảm bảo nhu
cầu về vốn, các doanh nghiệp có thể tự bổ sung vốn từ các nguồn khác nhau. Đối với
các doanh nghiệp, nguồn vốn tự bổ sung quan trọng nhất là từ phần lợi nhuận để lại của
doanh nghiệp để hình thành các quỹ, trong đó có quỹ đầu tư phát triển. Như vậy hiệu
quả của sản xuất kinh doanh chính là cơ sở, là điều kiện cơ bản để tạo vốn cho doanh
nghiệp.
+ Đối với các doanh nghiệp cổ phần ngoài nguồn nói trên, vốn tự bổ sung có thể
được huy động do phát hành cổ phiếu, với doanh nghiệp liên doanh, các bên liên doanh
có thể góp thêm vốn tùy theo sự thỏa thuận.
* Đối với vốn vay và nợ phải trả.
Vốn vay thường chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng số vốn huy động của doanh
nghiệp, bao gồm cả vay dài hạn và vay ngắn hạn của các ngân hàng thương mại và tổ
chức tín dụng. Như người ta biết, các ngân hàng thương mại cũng là các doanh nghiệp
và lấy họat động cho vay là họat động kinh tế chủ yếu của họ. Do vậy quan hệ giữa các
ngân hàng thương mại với các doanh nghiệp là quan hệ giữa các doanh nghiệp trên cơ
sở cùng họat động theo luật doanh nghiệp. Để tồn tại và phát triển, các ngân hàng
thương mại phải thu hồi được vốn vay và lãi vay đúng kỳ hạn; muốn vậy, đơn vị đi vay
phải sử dụng vốn vay đúng mục đích và có hiệu quả. Nói cách khác, để có thể huy động
được vốn vay, các doanh nghiệp phải đảm bảo và nâng cao được hiệu quả của sản xuất
kinh doanh và chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật tín dụng.
- Việc huy động vốn vay của các doanh nghiệp có thể còn được tiến hành dưới
hình thức phát hành trái phiếu. Tuy vậy việc phát hành trái phiếu vẫn tùy thuộc vào kết
quả họat động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cũng chính là tùy thuộc vào uy tín
của doanh nghiệp trên thương trường.
- Cuối cùng,trong quá trình SX kinh doanh, các doanh nghiệp còn huy động
được một nguồn vốn từ nợ phải trả, tức là vốn đi chiếm dụng đây cũng là nợ phải trả,
xong không phải là vốn vay, do đó doanh nghiệp không phải trả lãi cho số nợ đó. Ví dụ:
nợ phải trả khách hàng, nhận tiền ứng trước của người mua, thuế và các khoản phải nộp
nhà nước, lương và các khoản phải thanh toán cho người lao động ...Nếu các khoản phải
trả nói trên chưa đến hạn phải nộp, phải thanh toán thì việc sử dụng vốn đi chiếm dụng
của doanh nghiệp là hợp lý, ngược lại nếu doanh nghiệp cố ý dây dưa không nộp, không
thanh toán khi đã đến hạn, quá hạn thì việc chiếm dụng vốn của doanh nghiệp là không
hợp lý và từ quan điểm của quản lý, cần hạn chế và loại trừ việc phát sinh của vốn
chiếm dụng nói trên.
* Về phương pháp phân tích: Việc phân tích tình hình tổ chức huy động vốn
được tiến hành giống như phương pháp phân tích đã được đề cập ở phần trước
–( Mục 3.1.1 và mục 3.1.3)

3.3. Phân tích, đánh giá kết quả của việc quản lý và sử dụng vốn của doanh
nghiệp.
Như ở phần trên đã đề cập, việc tổ chưc huy động vốn là khâu khởi đầu để đảm
bảo điều kiện về vật chất cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến
hành bình thường và liên tục, nhưng việc quản lý và sử dụng số vốn đó như thế nào mới
là vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Nói cách khác, sau khi huy động được vốn, việc
quản lý, sử dụng vốn hợp lý, có hiệu quả trở thành yêu cầu bức thiết và là nhiệm vụ chủ
yếu đối với các nhà quản lý, các nhà cho vay, các nhà đầu tư, của những người làm
công ăn lương của doanh nghiệp. Từ những vấn đề đặt ra ở trên, ta thấy cần thiết phải
phân tích, đánh giá kết quả của việc quản lý, sử dụng vốn của doanh nghiệp, thông qua
đó người ta có thể biết được đồng vốn được huy động vào sản xuất kinh doanh có mang
lại lợi ích cho doanh nghiệp nói chung, cho các đối tượng đầu tư, góp vốn hay không,
giá trị đồng vốn có được bảo toàn không ..., nguyên nhân, nhân tố nào tác động làm tăng
hoặc làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, từ đó giúp cho các nhà quản lý đưa ra được các
quyết định thích hợp,kịp thời để hạn chế, loại trừ được các tác động của các nguyên
nhân, nhân tố tiêu cực, phát huy được tác động của các nhân tố tích cựcvới mục đích
cuối cùng là tăng được kết quả của việc quản lý và sử dụng vốn cho doanh nghiệp.
Khi đề cập đến việc đánh giá kết quả của việc quản lý và sử dụng vốn kinh
doanh nói chung , của từng loại vốn nói riêng,cần phải xác định được cứ mỗi đồng vốn
bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp đã thu về được bao nhiêu
đồng lợi nhuận. Riêng đối với vốn lưu động, ngoài việc xác định các chỉ tiêu nói trên,
người ta cần phải tính đến tốc độ luân chuyển của vốn nhanh hay chậm và do đó doanh
nghiệp đã tiết kiệm hay lãng phí về vốn. Nhằm đạt được mục đích nói trên,khi đánh giá
kết quả của việc quản lý và sử dụng vốn, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
Mức giá trị sản xuất
tính cho một đồng vốn
(Vốn SXKD, V

, V

) bình quân

=
Giá trị sản xuất

(V
SXKD
, V

, V

) bình quân
Để đơn giản cách tính ta có:
Vốn SXKD bình quân = V

bình quân + V

bình quân
Trong đó:

V

bình
quân

=

Cộng B tài
sản


:

Đầu năm + cuối kỳ)

2

V

bình quân =
Cộng A tài
sản
:
(Đầu năm+ cuối kỳ)
2
Các chỉ tiêu nói trên nói lên rằng, cứ 1 đồng vốn bỏ ra, doanh nghiệp thu về
được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất và doanh thu.Các chỉ tiêu nói trên mới chỉ phản
ánh mặt lượng của kết quả sử dụng vốn, do đó chưa phản ảnh chính xác kết quả của việc
quản lý và sử dụng vốn. Để khắc phục nhược điểm trên, người ta sử dụng chỉ tiêu sau

- Mức lợi nhuận (trước thuế)
tính cho 1 đồng vốn

=
Tổng lợi nhuận trước thuế

(V
SXKD
, V

, V

) bình quân
Như vậy mức lợi nhuận tính cho 1 đồng vốn càng lớn, có xu hướng càng tăng ,
chứng tỏ hiệu quả của việc quản lý, sử dụng vốn càng cao và ngựơc lại.
- Mức doanh thu
thuần
tính cho 1 đồng vốn

=

Doanh thu thuần
(V
SXKD
, V

, V

) bình quân
* Riêng với vốn lưu động, ngoài các chỉ tiêu nói trên, để đánh kết quả của việc
quản lý và sử dụng vốn, người ta còn tiến hành đánh giá thông qua chỉ tiêu tốc độ luân
chuyển vốn.
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động được phản ánh thông qua số vòng (số lần)
luân chuyển và số ngày cần thiiết cho 1 vòng (1 lần) luân chuyển. Số vòng (số lần) luân
chuyển càng nhiều, có xu hướng càng tăng thì số ngày luân chuyển càng ngắn và có xu
hướng ngày càng giảm, chứng tỏ tốc độ luân chuyển vốn lưu động càng nhanh và ngược
lại. Khi tốc độ luân chuyển vốn nhanh lên hay chậm đi sẽ tạo ra hệ quả kinh tế tương
ứng là doanh nghiệp tiết kiệm haylãng phí tương đối về vốn. Các chỉ tiêu nói trên lần
lượt được xác địng như sau:
- Số vòng (lần)
luân chuyển.(V)

=
Doanh thu (thuần, giá vốn).(D)

Số dư bình quân của vốn lưu động ( S)
Trong đó:


S


=

Số dư
đầu qúi
I/2

+
Số dư
cuối quí I

+
Số dư cuối
quí II

4

+
Số dư cuối
quí III

+
Số dư cuối
quí IV



Hoặc để đơn giản hơn:

S

=
Số dư đầu năm + Số dư cuối kỳ

2
Nếu lấy số liệu trên bảng cân đối kế toán, số dư bình quân của vốn lưu động
chính là vốn lưu động bình quân.
Thời gian trong kỳ báo cáo(T)
- Số ngày luân chuyển
của vốn lưu động N
LC


=
(năm là 360 ngày, quí là 90 ngày)

Số vòng (lần) luân chuyển ( V)
Từ công thức xác định số vòng luân chuyển, ta suy ra:
N
LC
=
D
S T ×

Hệ quả kinh tế do tốc độ luân chuyển vốn nhanh (tiết kiệm vốn) hay chậm (lãng
phí vốn):
- Số vốn tiết kiệm (-)
hay lãng phí (+) -S
V


=

1 d × AN
lC
Trong đó :
+ 1 d là doanh thu bình quân ngày kỳ báo cáo (giá vốn, thuần)
+ AN
lC
là chênh lệch giữa số ngày luân chuyể kỳ này (N
LC1
) với số ngày luân
chuyển kỳ trước (N
LC0
) – suy ra AN
lC
= N
LC1
– N
LC0
.
+ Các nhân tố làm tăng (giảm) tốc độ luân chuyển vốn lưu động:
* Từ công thức xác định số vòng (lần) luân chuyển vốn lưu động, ta nhận thấy
tốc độ luân chuyển vốn lưu động tuỳ thuộc vào hai nhân tố:
- Doanh thu (ảnh hưởngtỉ lệ thuận)
- Số dư bình quân của vốn lưu động (ảnh hưởng tỉ lệ nghịch)
Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố lần lượt được xác định như sau:


+ Do doanh thu A
D
=

D
1


S
0

- V
0

D1
+ Do số dư bình quân vốn: AS = V
1


S
0

Như vậy để tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, cần thiết phải tăng được
doanh thu bán hàng, đồng thời làm tốt việc thu hồi công nợ, tăng cường quản lý
hàng tồn kho, giảm dự trữ bất hợp lý ở tất cả các khâu, các quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
* Về trình tự và phương pháp phân tích ;
Trước hết cần xác định được các chỉ tiêu phân tích ở cả thời điểm đầu năm và cuối
kỳ, sau đó thông qua kết quả của việc so sánh giữa cuối kỳ với đầu năm mà rút ra kết
luận cần thiết về kết quả của quản lý vốn nói chung, của từng loại vốn nói riêng.
* Ví dụ phân tích: Dựa vào số liệu của bảng CĐKT và các số liệu có liên quan,
ta tính toán và lập bảng phân tích như sau: (ĐV: triệu đồng)
- Vốn cố định bình quân: + Đầu năm:
2
000 . 102 000 . 98 +
= 100.000
+ Cuối kỳ:
2
000 . 106 000 . 102 +
= 104.000
- Vốn lưu động bình quân: + Đầu năm:
2
000 . 68 000 . 64 +
= 66.000
+ Cuối kỳ:
2
000 . 80 000 . 68 +
= 74.000
- Vốn SXKD bình quân: + Đầu năm: 100.000 + 66.000 = 166.000
+ Cuối kỳ: 104.000 + 74.000 = 178.000
Bảng phân tích kết quả của việc quản lý, sử dụng vốn
Bảng 3.5 (Đơn vị : triệu đồng)
Chỉ tiêu Đầu năm Cuối kỳ Chênh lệch
1. Mức giá trị sản xuất
tính cho 1 đồng vốn:
- Vốn SXKD B/q.

- VCĐ bình quân



166
000 . 415
= 2,5

000 . 100
000 . 415
= 4,15


000 . 178
200 . 427
= 2,4
000 . 104
200 . 427
= 4,1


- 0,1

- 0,05
2. Mức doanh thu
tính cho 1 đồng vốn.
- VXSKD bình quân

- VCĐ bình quân

000 . 166
000 . 396
= 2,385
000 . 100
000 . 396
= 3,96

000 . 178
000 . 407
= 2,286
000 . 104
000 . 407
=3,91

- 0,099

- 0,05
3. Mức lợi nhuận
tính cho 1 đồng vốn:
- VXSKD bình quân

- VCĐ bình quân


000 . 166
300 . 8
= 0,05
000 . 100
300 . 8
= 0,083


000 . 178
8010
= 0.045
000 . 104
8010
= 0,077


- 0,005

- 0,006


* Đối với tốc độ luân chuyển của vốn lưu động:
- Số vòng luân chuển kỳ trước:
000 . 66
000 . 396
= 6 vòng
- Số ngày luân chuển kỳ trước:
6
360
= 60 ngày.
- Số vòng luân chuyển kỳ này:
000 . 74
000 . 407
= 5,5 vòng.
- Số ngày luân chuyển kỳ này:
5 , 5
360
= 65,45 ngày
+ Chênh lệch số vòng luân chuyển: Av = 5,5 vòng – 6 vòng = - 0,5 vòng
+ Chênh lệch số ngày luân chuyển: ANlc = 65,45 ngày – 60 ngày = + 5,45 ngày
+ Số vốn bị lãng phí:
360
000 . 407
× (+ 5,45) = + 6161,225 triệu đồng.
+ ảnh hưởng của doanh thu đến số vòng luân chuyển:
AD =
00 . 66
000 . 407
= - 6 = + 0,16 vòng
+ ảnh hưởng của số dư bình quân vốn lưu động:
As = 5,5 -
000 . 66
000 . 407
= - 0,66 vòng
Từ các kết quả tính được, ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:
Đối với số SXKD nói chung:
- Vào thời điểm năm trước, mỗi đồng vốn bỏ ra đã tạo ra được 2,5 đồng giá trị
sản xuất công nghiệp, 2,385 đồng doanh thu thuần và 0,05 đồng lợi nhuận;
- Nhưng vào thời điểm năm nay, giá trị đồng vốn tạo ra đều giảm so với năm
trước. Giá trị sản xuât giảm 0,1 đồng, doanh thu thuần giảm 0,099 đồng, lợi nhuận giảm
là 0,005 đồng. Như vậy kết quả của việc quản lý,sử dụng vốn nói chung đều có xu
hưóng giảm dần, chứng tỏ việc quản lý, sử dụng vốn chưa hợp lý và hiệu quả chưa cao.
- Đối với vốn cố định: Việc quản lý, sử dụng vốn cố định cũng có kết quả tương
tự như vốn sản xuất kinh doanh nói chung. Đề cao hiệu quả của việc quản lý, sử dụng
vốn nói chung, trước kết cần nâng cao hiệu quảquản lý và sủ dụng đối với từng loại vốn.
Ví dụ: đối với vốn cố định, cần áp dụng các biện pháp nhằm 2 hướng.
- Một là các biện pháp để tăng được kết quả của sản xuất cả về khối lưọng, chất
lương, tăng doanh thu bán hàng, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp;
- Hai là phải mua sắm, xây dựng tài sản cố định đúng mục đích phục vụ sản
xuất, phải đồng bộ, hiện đại, bán, chuyển nhượng loại tài sảncố định không cần dùng,
chưa cần dùng, nhanh chóng thanh lý loại tài sản cố định đã hư hỏng ...
+ Đối với vốn lưu động: Do quản lý sử dụng vốn chưa hợp lý, chưa có hiệu quả, do
vậy tốc độ luân chuyển vốn năm nay chậm hơn tốc độ luân chuyển vốn năm trước, với kết
quả cụ thể là số vòng luân chuyển giảm 0,5 vòng, do vậy mỗi vòng luân chuyển vốn đã
phải kéo dài thêm 5,45 ngày và từ đó số vốn bị lãng phí tương đối là 6161,225 triệu đồng.
Dựa vào mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố, ta thấy nhân tố chủ yếu làm giảm
tốc độ luân chuyển vốn là do số dư bình quân vốn lưu động trong kỳ đã tăng. Từ kết quả
này,ta thấy để khắc phục được tồn tại nói trên, cần phải làm tốt các nhiệm vụ sau đây:
- Tích cực đối chiếu để thu hồi công nợ đã đến han, quá hạn;
- Kiểm tra cấu thành của hàng tồn kho để không dự trữ quá mức về nguyên vật
liệu, công cụ.
- Đẩy mạnh bán ra để giải phóng lượng tồn kho về thành phẩm, hàng hoá
- Giảm lượng hàng hoá bán chịu, thanh toán chậm...
Nếu áp dụng được đồng bộ các biện pháp, đơn vị sẽ giảm hợp lý vốn cố định, vốn
lưu động, tăng hiệu quả của việc quản lý, sử dụng toàn bộ vốn sản xuất kinh doanh nói
chung, từng loại vốn nói riêng cho doanh nghiệp.

3.4. Đặc điểm phân tích, đánh giá kết quả của việc quản lý và sử dụng vốn
trong các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp cổ phần.
- Đối với các doanh nghiệp liên doanh:
Để dánh giá kết quả của việc quản lý và sử dụng vốn của các doanh nghiệp liên
doanh, ngoài các chỉ tiêu đã được nêu ở trên như các doanh nghiệp khác, người ta còn
sử dụng các chỉ tiêu: tỉ lệ lợi nhuận trên vốn góp của các bên liên doanh.

- Tỉ lệ lợi nhuận
trên Vốn góp của
các bên liên doanh

=
Lợi nhuận được chia

Vốn góp liên doanh

× 100
Như vậy tỷ lệ này càng cao, có xu hướng ngày càng tăng chứng tỏ hiệu quả của
việc quản lý và sử dụng vốn góp càng cao và ngược lại.
- Đối với các doanh nghiệp cổ phần:
Vốn của các doanh nghiệp là vốn góp của các cổ đông và để huy động vốn, các
doanh nghiệp cổ phần có thể phát hành cổ phiếu. Do vậy, để dánh giá kết quả của việc
quản lý, sử dụng vốn, các doanh nghiệp cổ phần cũng phải sử dụng các chỉ tiêu như các
doanh nghiệp khác đã được đề cập ở mục 5.3; Ngoài các chỉ tiêu đó, đối với các doanh
nghiệp cổ phần, do đặc thù của vốn góp, người ta còn kết hợp đánh giá thông qua các
chỉ tiêu đặc thù và chúng được xác định như sau:
- Tỉ suất (tỉ lệ)
lợi nhuận trên vốn
cổ đông bình quân

=
Lợi nhuận sau thuế

Vốn cổ đông bình quân

× 100
(Trong đó: Vốn cổ đông bình quân được xác định theo phương pháp đơn giản là
lấy vốn cổ đông đầu kỳ cộng với cổ đông cuối kỳ rồi chia đôi)
Công thức tính trên giải thích rằng, cứ 100 đồng vốn cổ đông được huy động thì
tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Như vậy tỉ suất này càng cao, xu hướng ngày
càng tăng, chứng tỏ hiệu quả của việc quản lývà sử dụng vốn cổ đông càng cao và khi
đó doanh nghiệp dễ dàng phát hành cổ phiếu để huy động vốn nếu cần thiết.
- Thu nhập của
mỗi cổ phiếu
thường

=
Lợi nhuận sau thuế – Cổ tức cổ phiếu ưu đãi

Số lượng cổ phiếu thường đang lưu hành B/q
Như vậy thu nhập của mỗi cổ phiếu càng cao, chứng tỏ hiệu quả của việc quản
lý và sử dụng vốn càng cao và cổ phiếu của doanh nghiệp càng có sức hấp dẫn, giá trị
của cổ phiếu càng cao và ngược lại.
- Thu nhập
thực của mỗi cổ
phiếu thường

=
Lợi nhuận sau thuế - Thiệt hại bất thường

Số lượng cổ phiếu thường
Khi tham gia vào thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp có xu hướng phát hành
các loaị chúng khoán chuyển đổi thay vì chỉ phát hành các loại cổ phiếu thường, khi đó
người mua chúng có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường vào một thời điểm nhất định và
khi đó các chúng khoán chuyển đổi có mặt trong thanh toán tín dụng của doanh nghiệp.
Trong trường hợp này cần xem xét các chứng khoán chuyển đổi được ở kỳ hiện tại và
tương lai và như vậy, thu nhập của mỗi cổ phiếu thường lại phản ánh tương ứng ở cả thời
kỳ hiện tại và kỳ tương lai, trong đó ở kỳ tương lai phải phản ảnh sự chuyển đổi thành cổ
phiếu thường, và khi đó phải xác định được sự biến động của thu nhập của mỗi cổ phiếu
thường thông qua mức giảm thu nhập của nó. Mức giảm này có thể được xác định như sau:
- Mức giảm thu nhập
của mỗi cổ phiếu
thường

=
Thu nhập của
mỗi cổ phiếu thường

-
Thu nhập biến
động của mỗi
cổ phiếu thường
Trong đó:
+ Thu nhập biến
động của mỗi
cổ phiếu thường

=
Lợi nhuận sau thuế – Cổ tức cổ phiếu ưu đãi

Số lượng cổ phiếu thường tương đương
(Số lượng cổ phiếu thường tương đương = Số lượng cổ phiếu thường + Số lượng cổ
phiếu thường do chuyển đổi tương đương từ cổ phiếu ưu đãi. Ví du: giá trị cổ phiếu ưu đãi
gấp 4 lần giá trị cổ phiếu thường thì 1 cổ phiếu ưu đãi tương đương với 4 cổ phiếu thường).
Như vậy, thu nhập biến động của mỗi cổ phiếu thường càng lớn thì mức giảm
thu nhập của mỗi cổ phiếu thường càng nhỏ và hiệu quả của quản lý, sử dụng vốn càng
cao và ngược lại.
- Tỉ giá thị trường trên thu
nhập của mỗi cổ phiếu

=
Giá trị thị trường của mỗi cổ phiếu

Thu nhập của mỗi cổ phiếu thường
Như người ta biết, giá của mỗi cổ phiếu trên thị trường tuỳ thuộc vào kết quả kinh
doanh và các nhà kinh doanh chứng khoán rất quan tâm đến tỷ giá thu nhập của mỗ cổ
phiếu để có các quyết định đầu tư thích hợp.
Cuối cùng người ta nhận thấy rằng, đối với các nhà đầu tư kinh doanh chứng
khoán, trong nhiều trường hợp họ phải lựa chọn để đưa ra các quyết định trong việc đầu
tư cổ phiếu như thế nào để thu được lợi nhuận tối đa và khi đó họ sẽ tiếp tục tái đầu tư
để hi vọng thu được lợi nhuận cao hơn. Trong trường hợp này, các nhà đầu tư rất quan
tâm tới mối tương quan giữ tiền lãi của mỗi cổ phiếu và thu nhập của mỗi cổ phiếu cũng
như giữa tiền lãi của mỗi cổ phiếu với giá thị trường của mỗi cổ phiếu. Các mối tương
quan nói trên được phản ánh cụ thể thông qua các chỉ tiêu sau đây:
- Tỷ suất lãi
của mỗi
cổ phiếu

=
Tiền lãi của mỗi cổ phiếu

Thu nhập của mỗi cổ phiếu

× 100

Tỷ suất lãi của mỗi
cổ phiếu trên giá thị
trường của mỗi cổ phiếu

=
Tiền lãi của mỗi cổ phiếu

Giá thị trường của mỗi cổ phiếu

× 100

Với các nhà đầu tư và kinh doanh chứng khoán, các tỉ suất nói trên là thôngtin rất
quan trọng để họ xem xét, quyết định việc đầu tư trong tương lai và đó cũng là cơ hội để
các doanh nghiệp có thể mở rộng việc huy động vốn thông qua phát hành cố phiếu.
* Về trình tự và phương pháp phân tích
Trước hết cần xác định được các chỉ tiêu nói trên ở cả thời điểm năm trước, năm
nay; sau dó bằng cách so sánh giưa năm nay với năm trước của từng chỉ tiêu, tuỳ theo
các chênh lệch tính được mà rút ra các kết luận cần thiết về hiệu quả của việc quản lý và
sử dụng vốn cổ đông của doanh nghiệp.
Phụ lục
Trích bảng cân đối kế toán ngày 31/12 /2006 của công ty X
(ĐV : Triệu đồng)
Chỉ tiêu Cuối kỳ Đầu năm
Tài sản 186.000 170.000
Loại A: Tài sản ngắn hạn 80.000 68.000
I-Tiền 2.400 4.000
II- Đầu tư tài chính ngắn hạn 2.000 2.000
III- Các khoản phải thu ngắn hạn 14.000 10.000
IV- Hàng tồn kho 60.000 50.000
V- Tài sản ngắn hạn khác 1.600 2.000
Loại B: Tài sản dài hạn 106.000 102.000
I-Các khoản phải thu dài hạn
II-Tài sản cố định (hưũ hình) 97.000 94.000
Trong đó CPXD d.d 5000 4000
III -BĐS đầu tư-
IV Đầu tư tài chớnh dài hạn 9000 8000
V-Tài sản dài hạn khác
Nguồn vốn

186.000 170.000
Loại A: Nợ phải trả 139.000 119.000
I- Nợ ngắn hạn 92.000 74.000
II- Nợ dài hạn 47.000 45.000
Loại B- Nguồn vốn chủ sở hữu 47.000 51.000
Trong đó: Nguồn vốn - quỹ 47.000 51.000

Tài liệu bổ sung: - Doanh thu thuần: Năm 2005 : 396.000 Trđ; Năm 2006 :
407.000trđ:
- Giá trị sản xuất công nghiệp : Năm 2005 : 415.000trđ; năm 2006 : 427.000trđ
- Tổng số lợi nhuận: Năm 2005 là 8.300 trđ; năm 2006 là 8.010 trđ.
- Tổng số lãi vay: năm 2005 là 5.200 trđ, năm 2006 là 5.500trđ
- Số cộng loại A tài sản đầu năm 2005 là 64.000 trđ,
- Số cộng loại B tài sản đầu năm 2005 là 98.000trđ.
- Đầu năm 2005 (01/01/2005), các khoản phải thu (III
A

TS
) là 8.000 triệu đồng; trị
giá hàng tồn kho (IV
A

TS
) là 40.000 triệu đồng.









You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->