P. 1
Bai 4 phuong phap phan tich sac ki

Bai 4 phuong phap phan tich sac ki

|Views: 169|Likes:
Được xuất bản bởiHoàng Thành
dung cho thi nghiem huu co hoa dau
dung cho thi nghiem huu co hoa dau

More info:

Categories:Types, School Work
Published by: Hoàng Thành on Apr 23, 2013
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOCX, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

10/27/2013

pdf

text

original

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

Bài 4: SỬ DỤNG MÁY SẮC KÍ GC14B-SHIMADZU Phần 1: Giới thiệu về phương pháp sắc kí. Phần 2: Giới thiệu về sắc kí khí. Phần 3: Giới thiệu về sắc kí lỏng. Phần 4: Giới thiệu về nội dung thí nghiệm.

Phần 1: Giới thiệu về phương pháp sắc kí. 1. Giới thiệu về phương pháp sắc kí: Định nghĩa: Sắc kí là một phương pháp tách trong đó các cấu tử của một hỗn hợp được phân bố giữa hai pha, một trong hai pha tỉnh đứng yên còn pha kia chuyển động theo một hướng xác định. 2. Phân loại: Người ta có thể phân loại các phương pháp sắc kí dựa vào cơ chế hoạt động sắc kí, tính chất pha tỉnh hay dựa vào cột sắc kí. Dựa vào cơ chế hoạt động của sắc kí người ta có thể phân thành sắc kí hấp phụ, phân bố, trao đổi ion. Dựa theo tính chất pha có sắc kí lỏng rắn, sắc kí khí lỏng, sắc kí lỏng lỏng. Dựa trên dạng cột có cột và bảng phẳng. Thông thường người ta thường gọi tắt các phương pháp sắc kí như sấc kí khí, sắc kí lỏng, sắc kí lỏng cao áp, sắc kí lớp mỏng, sắc kí gel… Bảng các phương pháp sắc kí:
Phân loại sắc chung Sắc kí lỏng LC lỏng. + Liên kết lỏng. + Hấp thụ và trao đổi ion lỏng- rắn. Sắc kí khí GC kết. + Khí – rắn. Sắc kí lỏng siêu Pha lỏng: chất lỏng + Khí lỏng. + Khí – pha liên + Phân bố lỏng + lỏng phủ lên trên một lớp rắn. + Chất hữu cơ được gắn trên một bề mặt rắn. + Nhựa trao đổi ion dạng rắn. + Lỏng được phủ trên một chất rắn. + Chất hữu cơ được gắn trên một bề mặt rắn. + Nhựa trao đổi ion dạng rắn. Chất hữu cơ được + Phân bố. + Phân bố giữa chất lỏng và bề mặt liên kết. + Hấp thụ ion. + Phân bố giữa khí và lỏng. + Hấp thụ ion. Phươn pháp Pha tĩnh Kiểu cân bằng

Phân

bố

giữa

SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7

Page 20

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
tới hạn siêu tới hạn. liên kết trên một bề mặt rắn. chất lỏng siêu tới hạn và bề mặt liên kết.

3. Cơ sở chung của phương pháp sắc kí: Xét với một quá trình sắc kí khí: pha tỉnh là một lớp phin lỏng phủ lên trên bề mặt rắn, pha động là dòng khí nén áp suất để mang chất phân tích qua cột. Trong suốt quá trình chất phân tích chuyển động qua cột sảy ra hiện tượng phân bố của chất phân tích giữa pha tỉnh và pha động, điều này làm cho chất phân tích bị giữ lại trong cột sắc kí một thời gian lâu hơn so với thời gian ra của pha động. Lượng pha tỉnh ra khỏi cột có phân bố dưới dạng một pic mà thời gian xác định đỉnh pic phụ thuộc vào tương tác giữa chất phân tích với pha động, pha tỉnh, và điều kiện tiến hành thí nghiệm, thời gian này là đặc trưng cho mổi chất phân tích. Thông thường thì những cấu tử tương tác mạnh với pha tỉnh thì sẽ có thời gian lưu lâu hơn. Như vậy nhờ cột sắc kí ta có thể tách được các chất khác nhau trong một mẩu phân tích. Diện tích của pic đặc trưng cho lượng chất phân tích trong mẩu và như vậy ta sẽ xác định được hàm lượng chất phân tích trong mẫu. 4. Các phương pháo tiến hành tách sắc kí: a. Phương pháp rữa giải: Là phương pháp được sử dụng thông dụng nhất hiện nay. Chất rữa giải hay chính là pha động trong quá trình phân tích. Dùng để đưa chất phân tích qua cột, thường thì chất rữa giải có ái lực với pha tỉnh bé nhất (bé hơn mọi chất có trong pha tỉnh). Dung dịch rữa giải có thể dùng là một chất, hay một dung dịch có nồng độ cố định hay thay đổi hoặc hổn hợp của các dung dịch rữa giải. b. Phương pháp tiền lưu: Hỗn hợp cần tách A, B, C được đưa vào phía trên của cột một cách liên tục và được chảy qua cột. Giả sử thứ tự tương tác với pha tỉnh là C>B>A thì thứ tự các chất ra khỏi cột là A sau đó là A+B và cuối cùng là A+B+C. Sở dĩ như vậy là vì theo thứ tự ưu tiên ái lực thì A ra trước rồi đến B và cuối cùng là C. Các chất đều bị thoát ra vì sau khi cột đã hấp thụ bảo hòa với các chất thì không còn khả năng giữ các chất đó nữa, và phải để các chất đó thoát ra ngoài. Phương pháp này không có khả năng tách hoàn toàn các cấu tử nên ít được sử dụng. c. Phương pháp thế đẩy: Mẫu được cho vào cột, sau đó sử dụng dung môi có ái lực mạnh nhất đối với pha tỉnh đưa vào cột. Khi đó chất có ái lực yếu nhất so với pha tỉnh thì bị đẩy ra
SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 21

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

đầu tiên, sau đó là đến các chất có ái lực yếu tiếp theo, và cuối cùng là chỉ có pha động đi ra. Đối với phương pháp này thì có nhiều khi pha đi ra là không được tách hoàn toàn mà có lẩn với các cấu tử khác. Đặc biệt với những mẩu phân tích phức tạp, thì người ta phải dùng phương pháp rữa giải. 5. Một số khái niệm: Thể tích lưu Vr là thể tích pha động cần thiết để vận chuyển chất tan I ra khỏi cột và đến detector. Thời gian lưu tRi là thời gian từ lúc chất tan I được nạp vào cột tách ở cột tiêm mẩu đến lúc ra khỏi cột ở thời điểm tạo pic cực đại. Mối liên hệ: Vr = Fc*tR với Fc là lưu lượng pha động đi trong cột. Tm là giá trị thời gian lưu của pha động trong cột, TR là giá trị thời gian lưu của chất phân tích I đi trong cột. hiệu TR – Tm = T’R gọi là thời gian hiệu chỉnh của chất I. Hệ số K phân bố của chất I được định nghĩa là tỉ số nồng độ của chất I giữa pha tỉnh và pha động. K= CS/CM. còn K’ lại là hệ số dung lượng được đo bằng tỉ số lượng chất phân tích trong pha tỉnh và pha động. K’ = Ns/NM= t’R/tM là đại lượng đặc chưng cho tốc độ chuyển động của chất phân tích trong cột. khi K’ nhỏ hơn một thì sự rữa rãi là quá nhanh nên khó có thể xác định được thời gian lưu, khi K’ có giá trị từ 20 đến 30 thì sự rữa giải là quá chậm. Thông thường giá trị của K’ phù hợp cho phép phân tích sắc kí là 1 đến 5. Việc điều khiển giá trị của K’ là có thể thực hiện được nhờ sử dụng các biện pháp thay đổi nhiệt độ, cách nhồi cột, thay đổi thành phần pha tỉnh và pha động. Hệ số tách α của 2 chất có pic gần nhau là đại lượng đặc trưng cho sự phân riêng, sự tách giữa 2 chất đó, nếu α càng lớn thì các pic đó càng nằm xa nhau, sự tách riêng 2 cấu tử đó càng tốt. α = T’RA/ T’RB = t’A/ t’B= KA/ KB. Để cho sự tách được tốt thì α nằm trong khoảng 1,05 đến 2 giá trị này không được lớn quá vì nó sẽ làm tăng thời gian thí nghiệm. Độ doãng rộng của pic W, W1/2. Như hình vẽ. Độ doãn rộng của pic thì sẽ liên quan đến sự tách của chất, nguyên nhân gây ra độ dãn dài của pic là do sự khuếch tán.

SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7

Page 22

t là thời gian. với D là hệ số khuếch tán. Độ rộng của dãi sắc kí được biểu diễn theo phương trình: √ C là nồng độ (mole/cm3). Chiều cao đĩa lý thuyết H là hằng số tỉ lệ giữa phương sai σ2 của dải chất tan và khoảng cách x mà nó di chuyển.s) = D x là độ dài di chuyển. m là số mole chất tan dịch chuyển qua một đơn vị tiết diện ngang của cột. Tên chiều cao đĩa lý thuyết H được lấy từ lý thuyết chưng cất trong sự tách được thực hiện trong những giai đoạn rời rạc được gọi là đĩa tách. D là hệ số khuếch tán.Báo cáo thực tập tốt nghiệp Độ khuếch tán: J (mol/m2. ⁄ SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 23 . x là khoảng cách di chuyển được dọc theo cột. C là nồng độ. phương trình trên cho biết độ lệch chuẩn √ .

3%. Số đĩa lý thuyết Với tR là thời gian lưu của pic. thực ra pha động chuyển động chảy liên tục và thời gian không đủ thiết lập trạng thái cân bằng). Các chất tan khi chuyển qua một cột tách có chiều cao đĩa lý thuyết khắc nhau bởi vì chúng có hệ số tách khác nhau.1 đến 1 mm trong sắc kí khí và khoảng 10 trong cột sắc kí lỏng hiệu năng cao và nhỏ hơn 1 trong sắc kí điện di mao quản.5 thì cho phép tách A và B gần như hoàn toàn( sự xen phủ chỉ khoảng 0. 6. bề dày lớp chất lỏng phủ lên hạt… SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 24 . hiệu lực tách của cột tăng nếu tăng thời gian lưu của tiếp xúc pha tỉnh động. W là độ doãn rộng của pic. nếu độ phân giải khoảng 0. Nếu độ phân giải khoảng 1.75 thì không tách được còn độ phân giải bằng 1 thì độ xen phủ củ 2 pic là 4%. Có thể giả định cột sắc kí được chia thành N phần mỏng hay N lớp hay N đĩa tách. Độ phân giải của cột Rs của hai cột được định nghĩa: Độ phân giải của hai cột cho biết khả năng tách của hai chất phân tích bởi cột. đường kính hạt nhồi. W1/2 là chiều rộng của pic đo ở nữa chiều cao từ đỉnh đến đáy pic. tức là giải tốc độ chảy của pha động. Ở mỗi sự phân bố chất tan vào hai pha lại đạt đến một trạng thái cân bằng mới (sắc kí là một quá trình động. song việc này sẽ kéo giài thời gian phân tích. Khả năng tách của cấu tử một hỗn hợp của một cột được cải thiện nếu giảm chiều cao một đĩa lý thuyết. Tốc độ pha động: tác động đến chiều cao H. Ngoài tốc độ pha động các yếu tố khác ảnh hưởng còn có hệ số khuếch tán pha động và pha tỉnh.Báo cáo thực tập tốt nghiệp Với L là chiều dài của cột. Nếu chiều cao lý thuyết càng nhỏ thì độ rộng hay sự doãng rộng pic càng nhỏ. Chiều cao cột đĩa lý thuyết khoảng từ 0. tỉ số phân bố. Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình phân tích Chúng ta có thể thay đổi các điều kiện phân tích này để tác động đến hiệu ứng tách cột và độ phân giải của phép phân tích.

lớp phin mỏng nhưng nếu lớp phin quá mỏng sẽ làm giảm dung tích hấp phụ. Sự khuếch tán dọc gây ra sự giãn rộng của pic. SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 25 . kích thước hạt không đều. tỉ lệ nghich với Ds của chất tan trong phin. chính vì vậy gây ra sự dãn dài của pic. kích thước đồng đều. bình phương đường kính của hạt. vì vậy cách khắc phục là sử dụng pha tỉnh là các hạt có kích thước bé. hình dạng hình học. chất tan di chuyển chậm hơn. vì vậy sẽ gây ra thời gian ra khỏi cột là khác nhau. Thông thường tình trạng này sảy ra do hạt lớn. Khắc phục đối với pha tỉnh là phin lỏng thì cần lựa chọn những chất lỏng có độ nhớt nhỏ sẽ làm tăng hệ số khuếch tán. và có thể gây hiện tượng lỏng không bao kín chất nền. Sự chuyền khối trong pha động: hệ số chuyển khối trong pha động Cm tỉ lệ nghich với hệ số khuếch tán của chất tan trong pha động Dm. Nhưng nếu kích thước hạt càng bé. Giảm chiều cao một đĩa lý thuyết có thể thực hiện với sắc kí khí là tăng nhiệt độ cột. là đường kính trung bình của hạt. phụ thuộc độ đồng thể của chất nhồi. với độ khuếch tán nhỏ. số chuyển khối Cs tỉ lệ thuận đòi hỏi cho các cấu tử được hấp phụ và giải hấp phụ. Với lớp phin dày chất phân tích phải di chuyển trung bình lâu hơn để đến bề mặt. là hệ số trở kháng của chất nhồi cột đến sự khuếch tán. Sự khuếch tán dọc: là quá trình chất di chuển từ nơi có nồng độ cao xuống nơi có nồng độ thấp. Cải thiện Rs bằng nhờ giảm chiều cao của một đĩa lý thuyết vì độ phân giải tỉ lệ thuận với √ ( khi tăng số đĩa lên 2 lần đồng nghĩa tăng độ phân giải của cột lên √ lần. Tăng số đĩa lý thuyết bằng cách tăng chiều dài cột thì phải tiêu tốn nhiều thời gian phân tích hơn.Báo cáo thực tập tốt nghiệp Sự khuếch tán xoáy: là hiện tượng các chất phân tích có đường đi khác nhau khi đi qua pha tỉnh. với sắc kí lỏng là giảm chiều dài lớp phin. hệ số chuyển khối Cs tỉ lệ thuận với bình phương chiều dày lớp phiên. Đại lượng đặc chưng cho sự khuếch tán dọc là B= 2 với là hệ số khuếch tán của chất tan trong pha động. Khi pha tỉnh là một bề mặt rắn. Sự chuển động trong pha tỉnh đòi hỏi một thời gian lâu hơn trong khi các chất trong pha động liên tục được đẩy về phía trước. bình phương đường kính của cột và tốc độ chảy của pha động. A = đặc trưng cho khuếch tán xoáy. Sự chuyển khối trong pha tĩnh: khi pha tỉnh là chất lỏng. thì trở lực lên pha động càng lớn sẽ cần áp suất pha động cao. và kích thước của cột nhồi.

CO2. bộ phận detector và cuối cùng là màn hình hiển thị. nhưng cần chú ý N2 có độ dẫn khá gần với một số khí. 2. bộ phận cột tách. Hệ thống khí mang: Khí mang phải trơ về mặt hóa học như He. hơi hữu cơ nên có thể nhận sắc kí pic nghịch. Đối với sắc kí khí là thay đổi theo trương trình nhiệt độ còn pha lỏng là thay đổi theo nồng độ pha động. Ar là khí trơ thích hợp ở nhiệt dộ cao. Việc lựa chọn khí mang phụ thuộc vào detector. nói chung khi K’ tăng thì độ phân giải tăng.Báo cáo thực tập tốt nghiệp Cải thiện Rs nhờ hệ số chọn lọc : khi tăng thì sự tách của cột cũng tăng. bộ phận tiêm mẫu. Hệ thống cung cấp khí mang bao gồm bộ điều chỉnh áp suất. Hệ thống sắc kí khí: Hệ thống sắc ký gồm có có 4 phần chính đó là bộ phận tạo khí mang. he. Detector ion hóa ngọn lữa cần chọn khí mang N2 khi không cần ghép nối với các thiết bị khác. thông thường K’ tối ưu trong khoảng 1 đến 5. He. Khí N2 khá trơ. 1. Lựa chọn khí mang như sau: detector đo độ dẫn cần sử dụng khí mang có độ dẫn cao như H2. H2. Detector cộng kết ngọn lữa thì dùng N2. thiết bị lọc khí trước khi đưa vào cột. nói chung. Rs = như vậy khi K’>10 thì sự tăng K’ chỉ tăng một chút ít Rs. thông thường áp suất khí từ 10 đến 50 psi sẽ có tốc độ dòng từ 30 đến 150 ml/ph đối với cột nhồi và 1 đến 25 ml/ph đối với cột mao quản. thiết bị đo áp suaatsm thiết bị đo tốc độ dòng. sự thay đổi là thay đổi pha tĩnh hay cả pha tỉnh lẫn pha động. Cải thiện Rs nhờ hệ số dung lượng K’. SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 26 . nếu có ghép nối thì chọn He. khi áp suất được khống chế không đổi thì tốc độ khí đi vào cột cũng không đổi. Các đặc điểm khi sử dụng các khí mang thông thường: H2 sử dụng cần dùng khí N2 đuổi hết O2 trong cột trước và cần có máy rò nếu có sự cố hở H2. rẻ tiền nên dùng nhiều trong các máy phân tích. N2. Ar. PHẦN 2: SẮC KÝ KHÍ.

chính vì vậy hệ thống chia dòng được sử dụng để chỉ một phần rất nhỏ mẩu được đưa vào cột còn hầu hết được thải ra ngoài. SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 27 .Báo cáo thực tập tốt nghiệp 3. Hệ thống tiêm mẫu: Dùng bơm tiêm vi lượng để đưa mẩu lỏng hoặc khí vào cột qua một van cao su silicon. Lượng mẫu đưa vào từ một đến 20 . Đối với cột mao quản lượng mẩu sử dụng rất ít.

sau khi xuyên kim qua lớp đệm silicon thì để yên 3 đến 5 s sau đó mới đẩy piston. a. Các chất có nhiệt độ phân hủy thấp có thể phân hủy trong xuốt quá trình tiêm mẫu ở nhiệt độ cao.25 mm. c. Tiêm mẩu không chia dòng Sử dụng cho các dung dịch rất loãng. Nó cung cấp độ phân giải tốt cho những dung dịch phân tích định lượng có thể có các thành phần phân tích kém bay hơi bị mất trong quá trình tiêm.column injector): Sử dụng tốt nhất cho phân tích các chất kém bền nhiệt. tiêm mẫu chia dòng có độ phân giải cao và có thể xử lí các mẫu bẩn nếu nhồi vào trong ống tim chất hấp phụ thích hợp. SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 28 . Tiêm mẫu trên cột( on. b. tuy nhiên phương pháp này có thể gây mất mát mẫu khó bay hơi trong quá trình tiêm mẫu.Báo cáo thực tập tốt nghiệp Sử dụng bơm tiêm: hút dung dịch đến vạch rồi kéo ngược bơm kim để tất cả mẩu đi vào xilanh. Nó có thể xử lý các dung dịch lỏng hay đặc. Tiêm mẩu có chia dòng: Sử dụng cho tiêm mẫu có nồng độ phân tích cao hoặc phân tích khí. là kĩ thuật có độ phân giải thấp và không thể sử dụng cho những cột có đường kính bé hơn 0.

1 đến 53 mm.W. Đầu ra của cột hở. Tỉ lệ pha lỏng còn phụ thuộc vào chất phân tích.G. Kích thước hạt nhỏ sẽ làm tăng độ phân giải của cột nhưng đồng thời làm tăng áp suất cột. chính vì vậy để tối ưu cột người ta thường chế tạo hạt mang có kích thước đồng đều. Có 2 yếu tố cần lưu ý khi chọn chất mang là cấu trúc và đặc tính bề mặt. Tỉ lệ phần trăm pha lỏng: Đủ để bao bọc hết toàn bộ bề mặt của chất mang. Cột mao quản: Cột mao quản có chiều dài 15 đến 100 m và đường kính từ 0. ngăn cản sự tiếp xúc giữa chất mang và pha động. Khi mật độ nhồi cột tăng thì khối lượng pha tỉnh tăng. nếu chất phân tích khó bay hơi thì chọn tỉ lệ pha lỏng thấp (<3%) còn nếu chất dể bay hơi thì chọn tỉ lệ pha lỏng cao. cột được chế tạo từ thủy tinh oxit tinh khiết nấu chảy có mức độ liên kết ngang cao hơn nhiều so với thủy tinh thường và chịu được nhiệt độ 350 oC. Tương tác giữa bề mặt chất mang là nguyên nhân gây ra sự kéo dài đuôi pic. Cột sắc ký: a. Cấp dòng khí mang tốc độ 5 đến 10 phút qua cột. kích thước hạt đồng nhất sẽ làm cải thiện chiều cao cột và độ phân giải. Kích thước hạt được biểu diễn bởi 80/100 mesh. SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 29 .B.P. Tỉ lệ pha lỏng/ chất mang không được quá nhiều. Cột nhồi: Làm bằng thép không rĩ với đường kính từ 3 đến 6 mm và chiều dài từ 1 đến 5 m. cở hạt nhỏ sẽ làm giảm thời gian cân bằng hòa tan và nhờ đó giảm được chiều cao cột. tuy nhiên nếu kích thước hạt quá nhỏ sẽ làm giảm không gian giữa các hạt và tăng áp suất cột.Báo cáo thực tập tốt nghiệp 4. trước đây người ta khống chế từ 15 đến 30% còn bây giờ là 2 đến 10%. trên 30% thì hiệu quả tách của cột giảm đi rất nhiều. không nối với detector để tránh làm bẩn. Mật độ nhồi cột: ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng lưu giữ pha tỉnh. b. Luyện cột: đặt ít nhất cột trong 2 giờ ở nhiệt độ >25 oC so với nhiệt độ tối đa mà cột sẽ sử dụng. Một số loại chất rắn: hầu hết các chất mang trong sắc kí cột đều được tạo từ diatomite như chromosorb A. Cột chứa các hạt chất mang rắn thường là chất mang có phủ lớp pha tỉnh lỏng. lực căng cao của ống thủy tinh cho phép chế tạo cột có thành mỏng và dễ uốn.

Lớp phin mỏng trên bề mặt trong mao quản từ 0. Cột mao quản hẹp có độ phân giải cao hơn so với cột mao quản rộng nhưng chúng đòi hỏi áp suất cao hơn và có dung lượng làm việc nhỏ hơn.1 đến 5 nếu giảm lớp phin này sẽ làm tăng độ phân giải. Cột mao quản Cấu trúc bên trong của cột mao quản: SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 30 .Báo cáo thực tập tốt nghiệp Các cột mao quản có tráng lớp lỏng lên thành cung cấp độ phân giải cao hơn và thời gian phân tích ngắn hơn so với cột nhồi. giảm thời gian phân tích nhưng sẽ làm giảm dung lượng hấp phụ.

Độ khác nhau của sự chọn lọc cho phép tách các các chất tan có cấu trúc gần giống nhau của một pha tỉnh.Báo cáo thực tập tốt nghiệp 5. Nó cũng phải bền hóa học. nhiệt độ cột và việc chọn lựa và sử lý sơ bộ chất mang rắn hoặc chất hấp phụ. Các phép phân tích trong sắc kí là kết quả quả của những phân tương tác giữa pha tỉnh hòa tan chọn lọc và sự khác nhau áp suất hơi bảo hòa của các chất tan. SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 31 . Khả năng chọn lọc sẽ chi phối độ phân tách giữa các pic và độ cao. tổng các lực tương tác đó được đặc trưng bởi độ phân cực phân tử. cảm ứng. có áp suất hơi bảo hòa thấp theo nhiệt độ. Yêu cầu pha tỉnh: Một pha tỉnh lý tưởng trong sắc ký cần thể hiện độ chọn lọc và khả năng hòa tan của các cấu tử được tách và khoảng nhiệt độ làm việc rộng. Lực tương tác chịu trách nhiệm chính là lực phân bố. nhiệt độ làm việc nhỏ nhất theo nhiệt độ phòng pha lỏng phải tồn tại trạng thái lỏng ( không được tồn tại trạng thái rắn). độ hẹp của pic thu được. nồng độ pha tỉnh. Các yếu tố ảnh hưởng đến độ chọn lọc gồm bản chất pha tỉnh. định hướng và tương tác cho nhận.

Báo cáo thực tập tốt nghiệp Một số pha tỉnh thông dụng như squalance. polysioxanes polyethylene. SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 32 . đáp ứng hầu hết các chất phân tích. sự khác nhau về khối lượng phân tử chất dẫn đến sự khác nhau tốc độ chuyển động của các phân tử khí sẽ dẩn đến độ dẫn nhiệt khác nhau. cột phân cực để tách mẩu phân cực và ngược lại. Các loại detector: a.53 mm. Detector đo độ dẫn nhiệt Cấu tạo đơn giản. Độ dẫn nhiệt của một số khí ở 273 oK và 1 atm Độ dẫn nhiệt là khả năng vận chuyển nhiệt từ vùng nóng sang vùng lạnh. 6. Sớ va chạm sẽ tier lệ với tốc độ mất nhiệt. Trong thí nghiệm đo độ dẫn nhiệt. Việc lựa chọn pha tỉnh phụ thuộc vào bản chất của chất phân tích. Như vậy độ dẫn nhiệt H2 cao nhất rồi He … người ta hay sữ dụng He làm khí mang vì He có độ dẫn nhiệt lớn (thứ 2 sau H2) và trơ. Tuy nhiên nó có hạn chế là độ dẫn nhiệt không đủ nhạy để dò tìm các lượng chất phân tích từ các cột mao quản mở có đường kính <0. các phân tử khí đập vào sợi đốt sẽ lấy nhiệt của sợi đốt rồi bật ra với động năng lớn hơn. glycol.

Nếu chỉ có khí mang đi qua 2 bản của điện cực. cầu cân bằng. Sự rời thế Eo qua điện trở R này sẽ được khuếch đại rồi đưa ra máy ghi. election). Các tín hiệu được ghi lại dưới dạng các pic. Khí mang sau khi rời khỏi cột đi qua nguồn ion hóa vào buồng điện cực. để làm giảm thiểu dòng này người ta dùng một dòng điện bổ chính. tăng theo bình phương cường độ dòng dây. R2. tín hiệu ra bằng 0. Khí mang và mẫu sau khi qua cột được dẫn qua S1 và S2. ion âm. Ở đó chúng bị bắn phá bởi các chum hạt e tạo thành các hạt tích điện (ion dương. ứng dụng: độ nhạy của detector FID cao hơn rất nhiều so với độ nhạy của detector TCD khoảng 100 đến 1000 lần. tăng theo sự khác nhiệt độ giữa dây đốt và môi trường xung quanh. Detector ion hóa ngọn lữa: Nguyên tắc hoạt động: dựa trên sự biến đổi độ dẫn điện của ngọn lửa được cấu tạo bởi hỗn hợp khí H2 và O2 trong không khí và được đặt trong một điện trường.Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyên tắc: Một dòng khí mang để làm khí so sánh đi qua các cầu R1. Cả 4 sợi đốt S1. Khí mang đem theo các phân tử mẫu. Tuy nhiên nó không sử dụng thíc hợp với SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 33 . Nếu điện trở S1 và S2 thay đổi do khí mang cuốn theo chất phân tích thì cầu mất cân bằng. b. Độ nhạy của detector tỉ lệ nghịch với tốc độ dòng khí.R1. xuất hiện tín hiệu.S2. các phân tử này bị ion hóa và dòng điện qua điện cực tăng lên. Kết quả tạo thành dòng điện đi qua điện trở đo R. điên trở chúng có cùng giá trị. dòng điện sinh ra gọi là dòng nền.R2 được duy trì ở cùng nhiệt độ.

d. NOx. N2. Các hạt này sẽ ion hóa phân tử khí mang N2 hoặc 5% metan trong Ar tạo các ion dương của phân tử khí mang và điện tử tự do sơ cấp.Báo cáo thực tập tốt nghiệp các hợp chất hữu cớ: CO. c. H2S. H2O và bản thân các khí cần thiết dùng để hoạt động detector này như H2. Trong phương pháp phổ khối. Một phổ khối là một biểu đồ cho thấy lượng tương đượng đối của mỗi mảnh vỡ tạo ra từ detector phổ khối. nơi diễn ra các quá trình ion hóa. Chúng được gia tốc nhờ một điện trường và chuyển dịch về phía anot. ứng dụng: Detector loại này đặc biệt nhạy với những phân tử hợp chất có khả năng cộng kết với các điện tử tự do trong pha khí như các phân tử chứa halogen. CO2. So với các điện tử của chum tia . Detector phổ khối Máy phổ khối là một detector vạn năng cho phân tích định tính và định lượng các chất hữu cơ sắc ký lẫn sắc ký lỏng. e. bắt giữ electron và tái liên hợp. quá trình ion hóa: từ một nguồn phóng xạ 63Ni được lắp ráp sẳn trong detector phát ra chum tia với tốc độ khoảng 108. Quá trình ion hóa thường cung cấp đủ năng lượng đến phân tử để phá vỡ nó thành những mảng khác nhau. hợp chất nitro. axit formic. Trong sắc ký khí mỗi pic của sắc ký đồ tương ứng với một chất phân tích đã được tách ra được nhận diện với một phổ khối. các điện tử này chậm hơn. cacbonyl liên hợp. Tại đây chúng bị lấy mất điện tích và qua đó tạo ra dòng nền của detector. h ợp chất chứa halogen. các phân tử khí ion hóa (thường tạo catrion) được tăng tốc trong một môi trường điện từ và sau đó được tách theo khối lượng của nó. sự thay dổi này được ghi nhận dưới dạng pic sắc kí trên giấy ghi hoặc bằng computer. He. formaldehit. NH3. Máy phổ khối nam châm hình quạt SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 34 . Quá trình cộng kết điện tử diễn ra khi các phân tử các chất phân tích với các ái lực electron cao đi vào detector. Detector cộng kết điện tử (ECD) Nguyên tắc: bộ phận chính trong detector là buồng ion hóa. 109 hạt/ giây. nitril. Chúng bắt một electron dẫn đến detector thay đổi hiệu điện thế giữa anot và catot để duy trì dòng nền không đổi. CS2. và hợp chất hydrocacbon. các rượu và xeton.

thường là ion có hàm lượng lớn nhất trong phổ khối ion hóa học metan. Phân tích định tính: Trong phân tích định tính. Ống phân tích (analyser tube) được duy trì ở áp suất chân không cao ( khoảng 10-5 Pa) để các ion chuyển động qua ống không bị lệch hướng bởi những va chạm với các phân tử khí pha động. Một pic có thể nhận diện bằng cách so sánh phổ của chúng với một thư viện phổ khối đượclưu giữ trong máy tính. Máy Phổ khối tứ cực Dùng thay thế cho máy phổ khối sử dụng nam châm hình quạt thường được ít lựa chọn để ghép nối sắc kí bởi từ trường không đủ nhanh để ghi phổ của những dải hẹp. CH5+ + M  CH4 + MH f. Trong trường hợp này nguồn ion hóa được đổ đầy metan với áp suất 10 pa. Các cation di chuyển qua ống phân tích chịu tác động của từ trường đặt vuông góc với hướng di chuyển của chúng. Các electron được cung cấp đủ năng lượng để chuển CH4 thành sản phẩm hoạt động CH4 + e CH4+ + 2e CH4+ + CH4  CH5+ + CH3 CH5+ là chất nhường proton khi tương tác với chất phân tích cho MH+. Phương pháp ion hóa bởi tương tác electron (electron impact ionization) cho phổ khối có nhiều mảnh vở. thì việc có quá nhiều mảnh vỡ sẽ làm khó khăn cho quá trình đọc phổ. Một hiệu điện thế dương nhỏ ở đĩa đẩy (repeller plate) đẩy những ion hướng về ống phân tích và một thế nhỏ ở các đĩa hội tụ ion (ion focus plate) gia tốc giúp ion có vận tốc cao bị tống khỏi phần đáy của bộ phận này vào đi vào ống phân tích. 7. Một khe ở detector chỉ cho những ion trong một khoảng giá trị khối lượng nhỏ xác định tiếp cận detector. các phân tử khí đi vào nguồn ion hóa bằng va chạm electron và bị bắn phá bởi các electron có năng lượng động học khoảng 70 eV. Năng lượng này đủ lớn để ion hóa các phân tử (M + e M+ + 2e) và phá vỡ thành những mảnh nhỏ hơn. Ion phân tử có thể có hàm lượng thấp thậm chí là biến mất. Trường này sẽ hướng các cation về detector đặt ở cuối ống phân tích. Nếu phân tử lớn.Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyên tắc hoạt động với nguồn ion hóa bằng chum electron. Nguyên tắc hoạt động với nguồn ion hóa hóa học: là một kĩ thuật phân tích tinh tế sản sinh ra ít mảnh vỡ hơn. Một phương pháp kém tinh tế hơn là nhận diện thời gian lưu của một chất với SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 35 . Tại bộ phận thu ion (ion collector). Các phân tử có khối lượng không phù hợp va phải các thành ống hoặc bị loại bỏ bởi khe thoát ion nên không vươn tới được detector. Phổ khối là một đồ thị cho thấy dòng điện như là một hàm số của số khối được chọn bởi từ trường. Dòng điện đòi hỏi để trung hòa chùm ion tỉ lệ với số lượng các ion đến bộ phận thu ion này. hai detector có thể nhận diện các hợp chất là sắc ký phổ khối và sắc ký hồng ngoại chuyển hóa fourier. Lý thuyết về phân tích định tính và định lượng của phương pháp phân tính sắc ký khí: a. mỗi catrion đến bị trung hòa bởi một electron.

Cách đánh tin cậy nhất là so sánh các thời gian lưu trong cùng một sắc ký đồ thu được bởi các mẫu đã biết trước (mẫu chuẩn) được thêm mẫu cần dò tìm vào trong cùng điều kiện phân tích.Báo cáo thực tập tốt nghiệp thời gian lưu của chất đó trong một mẫu đã biết trước ( mẫu chuẩn) trên các cột có độ phân cực khác nhau. trong detector có thể làm cho các pic không đại diện cho lượng của các chất phân tích trong mẫu. Để khắc phục hiện tượng nàu người ta lập đường chuẩn để biết diện tích pic hay chiều cao của pic có tỉ lệ tuyến tính với lượng mẫu đưa vào hay không. phân tích định lượng Một số nguyên nhân gây sai số: chuẩn bị mẫu. nhưng chỉ khẳng định khi thực hiện trên một vài cột trên những loại pha tỉnh khác nhau. chiều cao pic cao hơn. Sự nhận diện chỉ ở mức độ thăm dò khi thực hiện trên một cột. tiêm mẫu – khi tiêm chất lỏng tiêm mẫu ở điều kiện nhiệt độ nếu cao quá sẽ gây phân hủy chất phân tích. b. Đáp ứng của detector cũng có thể gây sai số vì các detector đáp ứng khác nhau với các hợp chất khác nhau. Nếu như chất cần dò tìm trùng với chất có trong mẫu chuẩn thì pic của mẫu chuẩn sẽ có diện tích lớn hơn. Hơn nữa khi thay đổi điều kiện làm việc của thiết bị đáp ứng của detector cũng thay đổi. Kỹ thuật tiêm mẫu cũng gây sai số. trong cột. Vì vậy cần phải biết rõ các hệ số đáp ứng này. Trong GC có SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 36 . Mẫu bị phân hủy hay hấp phụ: có nhiều trường hợp có sự phân hủy hoặc hấp phụ mẫu trong buồng tiêm.

SC. lập tỉ số diện tích các pic tương ứng.C. Các cách này có thể gây sai số riêng trong quá trình xử lý. d. Phương pháp nội chuẩn Phương pháp này còn gọi là phương pháp chuẩn hóa tương đối hay gián tiếp. Kiểm tra sự đáp ứng tuyến tính của detector. SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 37 . đo diện tích các pic. Kỹ thuật phân tích: trong GC có nhiều phương pháp để thiết lập liên quan giữa thông tin ghi nhận và hàm lượng cấu tử: đo chiều cao pic. SB. Một đường chuẩn được xuây dựng cho mỗi cấu tử với một trục là nồng độ còn trục kia là diện tích của chúng. Nhờ hệ số này có thể tính được phần trăm của các cấu tử trong mẫu. … vào GC. SC/mC … suy ra FB. Như vậy. Pic X và S phải khá gần nhau. dùng máy ghi và tích phân. cắt và cân giấy. Khi phân tích thành phần có điểm sôi khác nhau của một dãy đồng đẳng. Để xác định lượng một cấu tử X ta cần phải chọn một chất chuẩn S sao cho: Nếu trộn lẫn X và S ta phải thu được 2 đỉnh riêng biệt trên sắc kí đồ. Từ đồ thị và diện tích đo của mẫu phân tích ta xác định được nồng độ của mẫu. Từ tỉ lệ SB/mB. Các phương pháp phân tích định lượng Phương pháp chuẩn hóa diện tích: đây là phương pháp tính thành phần phần trăm của mẫu bằng cách đo diện tích từng mẫu trên sắc ký đồ. Vì vậy cần phải tính hệ số hiệu chỉnh. đem mẫu phân tích của chất cần quan tâm A cho tổng diện tích các pic %A = (diện tích pic A/ tổng diện tích các pic) *100%. ( ) %A= ( ) Cách xác định hệ số hiệu chỉnh: tiêm dung dịch chuẩ đã biết nồng độ các cấu tử A. mC…. Sau đó ta phải pha các hỗn hợp có tỉ lệ trọng lượng của X và S biết trước. … tương ứng với các mẫu có khối lượng mA. Nếu những điều kiện này mà thỏa mãn thì đây là một phương pháp nhanh và hiệu quả. Sắc kí đồ thu được có các pic phân giải hoàn toàn và diện tích thu được tương ứng là SA.Báo cáo thực tập tốt nghiệp thể dùng phương pháp nội chuẩn để khắc phục sai số này. Phương pháp lập đường chuẩn: Lập các đường chuẩn riêng rẽ đối với từng cấu tử trong hỗn hợp cách tiêm những thể tích bằng nhau của một loạt dung dịch hỗn hợp chất chuẩn có nồng độ khác nhau. mB. phương pháp này chỉ đúng nếu tất cả các chất phân tích đều được rữa giải và đáp ứng detector với mọi cấu tử là giống nhau.B. phương pháp này có thể sử dụng để tính tỉ lệ phần trăm khối lượng. FC c. Theo cách này. Tiêm cùng thể tích mẫu của cấu tử cần phân tích và chạy sắc ký trong điều kiện như chạy chuẩn. Phân pháp tính theo hệ số hiệu chỉnh: như đã biết detector đáp ứng khác nhau đối với các chất khác nhau. mỗi một loạt các nồng độ của các chất chuẩn đã được phân tích và có diện tích đã được xác định. Chọn một pic làm chuẩn ví dụ A có tỉ lệ SA/ mA được gán giá trị FA=1. b. cuối cùng lập đường chuẩn tương đối. chạy sắc ký.

Các bộ phận của bộ sắc ký lỏng:  Nguyên lý hoạt động: hỗn hợp cần phân tích được hòa tan trong một dung môi thích hợp. ta cho một lượng biết trước chất nội chuẩn S vào mẫu rồi tiến hành sắc ký hỗn hợp. từ tỉ lệ diện tích đo được. không cần duy trì nghiêm ngặt các điều kiện phân tích sắc kí vì các sai số được loại trừ nhờ cách tính tỉ số. bằng đường chuẩn tương đối vừa xuây dựng ta có thể xác định trọng lượng chất X. Khi phân tích mẫu thật. tiêm một thể tích chính xác vào bộ phận tiêm mẫu và được mang SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 38 .Báo cáo thực tập tốt nghiệp Ở đây : Sc/Ss là tỉ lệ thể tích của các cặp cấu tử cần xác định X và chất nội chuẩn. PHẦN 3: SẮC KÍ LỎNG 1. Phương pháp này có ưu điểm là: Không cần biết đến đáp ứng của detector. Wc/Ws là tỉ lệ trọng lượng của các cặp cấu tử cần xác định X và chất nội chuẩn.

Mẫu đầu tiên được tiêm bằng xylanh vào vòng mẫu. tự động. kích thước phổ biến là 6. loại thứ 2 là bơm piston hút đẩy luân phiên. Sự tách diễn ra trong cột có chứa những hạt xốp có diện tích bề mặt lớn (pha tỉnh). Khi đó lượng các cấu tử có trong mẫu được tính toán dựa vào chiều cao hoặc diện tích pic của nó. Phương pháp này rất dễ sử dụng. cột làm việc trong điều kiện 20 đến 100 bar. Với việc chọn pha động và chọn vật liệu nhồi cột thích hợp. các cẩu tử trong mẫu sẽ di chuyển dọc trên cột với những tốc độ khác nhau. dùng van tiêm mẫu có một vòng mẫu dung tích 5 đến 500 . cột được nhồi các hạt có đường kính 3. Các loại detector trong sắc ký LC SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 39 . đầu ống nhựa trong bình chứa dung môi phải có đầu lọc. Phương pháp tiêm mẫu stopped flow. 2.4. chiều dài 25 cm. với mặt trong được làm nhẵn. Pha động ( còn gọi là chất rữa giải) được bơm qua cột nhồi chặt các hạt sắc ký. Cột sắc ký lỏng hiệu năng cao Các cột sử dụng trong HPLC được làm từ vật liệu thép không rĩ. Phương pháp tiêm mẫu vòng mẫu là phương pháp phổ biến nhất hiện nay. Hệ thống bơm Chức năng chính của hệ thống bơm là vận chuển pha động đi qua cột tách với một tốc độ xác định. e.5. Trong phương pháp rữa giải có thể sử dụng một dung môi hay hỗn hợp các dung môi. Bình chứa dung môi Bình thủy tinh 1 dm3. Có 2 loại bơm được sử dụng là bơm dòng cố định kiểu syringe đẩy liên tục. Cần lọc dung môi qua giấy lọc 0.45 trước khi sử dụng và để an toàn hơn. đơn vị sử dụng là bar. 4. sục khí trơ như He. b. và độ chính xác khá cao. a. Dung môi bơm vào phải không chứa bụi bẩn và các vật thể lạ khác vì điều này có thể làm ảnh hưởng tới tuổi thọ của bơm hoặc làm kẹt các cột tách.10 .35 đường kính ngoài. Tỉ lệ trộn các dung môi phải được lập trình theo lich trình và tỉ lệ cho trước. ở đay tín hiệu được sử lý và chuyển ra ngoài cột sắc kí đồ cho biết sự hiện diện của các cấu tử dưới dạng một pic.6 mm đường kính trong. Áp suất cột tách Áp suất trong cột tách có thể lớn hơn 200 lần áp suất khí quyển.Báo cáo thực tập tốt nghiệp vào cột bởi một dòng chảy liên tục của dung môi (pha động) trong đó mẫu được hòa tan. Các cấu tử trong mẫu liên tục tương tác với pha tỉnh. Hệ thống tiêm mẫu Phương pháp tiêm mẫu sử dụng trong sắc ký GC. d.…áp suất cột có thể chịu là 200 bar. cần loại bỏ hoặc đuổi các bọt khí hòa tan trong dung môi bằng cách chạy siêu âm. psi. Chất nhồi là silicagen có bọc một lớp màng hữu cơ. sau đó chuyển van từ vị trí nạp mẫu đến vị trí tiêm mẫu nối vòng mẫu vào vị trí của dòng chảy pha động. c. khi những cấu tử lần lượt thoát ra khỏi cột và đi vào detector thich hợp.

Một detector tuyến tính có tín hiệu tỷ lệ thuận với lượng hoặc nồng độ của chất tan. Bất kỳ một detector nào cũng chịu tiếng ồn của thiết bị. Bởi vì khi ta giảm lượng chất phân tích đến một giá trị nào đó thì tín hiệu từ detector sẽ quá nhỏ để có thể phân biệt nó với tiếng ồn của detector.Báo cáo thực tập tốt nghiệp Có khá nhiều thiết bị được ứng dụng làm detector trong HPLC. đáp ứng (respond) chọn lọc hoặc thông dụng. Không có detector nào có thể sở hữu tất cả những đặc trưng trên và chúng không hoàn toàn độc lập với nhau nên cải thiện một đặc tính của nó có thể làm tồi thêm cái kia. Giới hạn phát hiện cho biết lượng tối thiểu của cấu tử có thể được thấy một cách đáng tin cậy trên sắc ký đồ. không dễ bị phá hủy. Về mặt thực nghiệm giới hạn dò tìm của một chất là lượng chất đó cho một pic gấp vài lần tiếng ồn của nền (thường 3 lần). đáng tin cậy và dễ sử dụng. Detector UV-VIS Đây là loại phổ biến nhất trong HPLC. Những đặc trưng quan trọng của detector trong HPLC là: Nhạy. rẻ tiền. SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 40 . Một detector vạn năng thì nhạy với mọi thứ có trong mẫu ví dụ detector khối phổ. tuyến tính. Nguyên tắc của nó là cho pha động từ cột được chảy qua một ống đo (flowcell) nhỏ có một chùm bức xạ đơn sắc UV/VIS chiếu qua. chủ yếu là phần điện. Độ nhạy của detector thường được xem như nồng độ tạo ra tín hiệu cở như tín hiệu tạo ra bởi tiếng ồn. còn một detector chọn lọc thì chỉ nhạy với một vài cấu tử nào đó như detector ECD nhạy với hợp chất chứa halogen. a. độ lớn của nó xác định lượng chất hòa tan nhỏ nhất có thể được dò tìm. Khoảng tuyến tính của detector chính là khoảng nồng độ mà sự tuyến tính này tuân theo. đáp ứng không bị tác động bởi những thay đổi của các điều kiện thể tích chết thấp.

Trong hê SI thứ nguyên của C là mol m-3.D là đại lượng mật độ quang.l là chiều dài của cell. bước sóng được thay đổi nhờ quay chậm lăng kính hoặc bộ cách tử (grating) trong bộ đơn sắc hóa. Định luật Lambert –Beer chỉ đúng khi chùm sáng bị hấp thu là đơn sắc. Trong detector chuỗi photodiot. chùm tia đa sắc sau khi đi qua mẫu được tán xạ bởi bộ cách tử được cố định rồi rơi vào một chuỗi các photodiot. Để đo mật độ quang tại những bước sóng khác nhau. Detector chuỗi photodiot Trong detector UV-VIS chùm sáng đa sắc được cho đi qua mẫu sau đó hội tụ vào khe vào của bộ đơn sắc hóa (monochromator) để tách chùm tia đơn sắc cần đo hướng vào bộ dò tìm.Báo cáo thực tập tốt nghiệp Sự hấp thu bức xạ của chất tan là một hàm phụ thuộc tuyến tính vào nồng độ C của nó theo định luật Lambert-Beer: D = εlC Ở đây: . Hệ thống này có một số thuận lợi như sau: + Bởi vì là bộ thu nhận số liệu song song nên việc xử lý và lưu trữ quang phổ có thể được thực hiện trong khoảng 0. + Nhờ khả năng thực hiện những phép đo nhiều bước sóng cùng một lúc và tốc độ thu nhận số liệu nên những kỹ thuật lấy trung bình số liệu khác nhau có thể được sử dụng để làm giảm tiếng ồn và tăng độ nhạy. nghĩa là tất cả các điểm được đo đồng thời. như vậy thể tích chứa khoảng dưới 8 μl b. l là mét nhưng trong thực tế C được đo với mol dm-3 còn l là cm nên ε là dm3 mol-1 cm-1. + Vì không có bộ phận di chuyển có thể bị làm mài mòn nên những sai số khi thiết lập lại một bước sóng cần chọn được giảm xuống và thiết bị cũng ít đòi hỏi bảo dưỡng mnhư thiết bị khác. Mật độ quang của một mẫu được tìm thấy nhờ so sánh giữa cường độ của chùm tia tới bộ dò tìm khi không có mẫu (còn gọi là mẫu trống) với chùm tia đi qua mẫu. Một ống đo (flow cell) trong UV detector có đường kính trong khoảng 1 mm và chiều dài ánh sáng đi qua khoảng 10 mm.5 s so với vài phút trong detector UV. Sự hiện diện của bộ phận quay trong thiết bị đã giới thiệu thêm sai số (ví dụ do sự giật lùi cơ học) và việc quay chậm có thể gây tốn thời gian. Mỗi photodiot đo một dải hẹp các bước sóng trong quang phổ.ε là hệ số hấp thu phân tử và là hằng số cho một chất tan và bước sóng. như vậy nó là bộ thu nhận số liệu song song. . . Đơn vị của ε phụ thuộc vào thứ nguyên của l và C. SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 41 . nhưng hệ thống detector thường không cung cấp chùm tia đủ đơn sắc mà chỉ một dải hẹp các chùm tia quanh giá trị bước sóng được chọn.

SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 42 . Detector đo chỉ số khúc xạ Detector (RI) này nhạy với sự khác nhau giữa chỉ số khúc xạ của các chất rửa giải từ cột với dòng chảy của pha động nguyên chất.Báo cáo thực tập tốt nghiệp + Khi được sử dụng như một detector trong HPLC. c. Những hợp chất như vậy thường có vòng liên hợp như các hợp chất vòng thơm có nhiều nhân. loại detector này kém nhạy khoảng 1000 lần so với detector UV. mặc dù đắt tiền hơn so với loại UV truyền thống nhưng nó cũng có những ưu điểm đáng kể: + Quang phổ của mỗi pic trong sắc ký đồ có thể được lưu giữ và lần lượt so sánh với phổ chuẩn giúp tiện lợi trong việc nhận diện các pic.1-1 nên thích hợp cho việc dò tìm huỳnh quang. Nhiều hợp chất không có phổ huỳnh quang có thể chuyển sang các dẫn xuất có phổ này nhờ xử lý với những thuốc thử thích hợp. Có nhiều mẫu thiết kế cho detector đo chỉ số khúc xạ.01oC). Detector huỳnh quang Nhiều hợp chất có khả năng hấp thụ chùm tia UV rồi sau đó ngay lập tức phát ra bức xạ có bước sóng dài hơn (huỳnh quang) hoặc sau một sự trễ thời gian (lân quang -phosphorescence).cm3 cho hầu hết các chất tan. Mức độ tiếng ồn tốt nhất có thể thu được vào khoảng 10-7 đơn vị chỉ số khúc xạ. RI cũng có khoảng nồng độ tuyến tính hẹp. phần phát xạ trở lại có thể từ 0. Thường phần năng lượng bị hấp thụ sau đó phát xạ trở lại là tương đối thấp nhưng có một vài hợp chất.Tuy nhiên. điều này tương ứng với nồng độ tương đương tiếng ồn khoảng 10-6 g. Đây là loại detector thông dụng nhất vì bất kỳ chất hòa tan nào cũng có thể được dò tìm miễn là nó có chỉ số khúc xạ khác với dòng chảy của pha động nguyên chất. + Nó cũng cung cấp độ nhạy cực đại cho các pic. + Bước sóng tối ưu cho việc dò tìm cũng dễ dàng được tìm thấy và những thay đổi của bước sóng trong quá trình dò tìm cũng có thể được chương trình hóa để xảy ra tại những điểm khác nhau trong sắc ký đồ. nguyên tắc cơ bản hoạt động: + Cuvet có hai bình tam giác có thể tích 5 đến 10 microlit trong mỗi bình có dung môi nguyên chất và dung dịch chất tan chảy vào. + Chùm sáng khả kiến đã lọc các bức xạ hồng ngoại (có thể làm nóng mẫu) được chiếu qua cuvet có dung môi nguyên chất chảy qua 2 bình tam giác và được hướng vào ống nhân quang điện nhờ một đĩa deflection. + Khi chất tan với chỉ số khúc xạ khác đi vào cuvet. Vì có độ nhạy thấp nên nó không được dùng trong phân tích lượng vết. d. Detector RI không dùng trong sắc kí rửa giải biến đổi nồng độ đều (gradient) vì nó không thể dò tìm chính xác khi thành phần pha động bị thay đổi. RI nhạy với sự thay đổi nhỏ của nhiệt độ và áp suất (0. chùm sáng bị lệch làm tín hiệu của ống nhân quang điện thay đổi.

bật máy sinh khí H2 +Đánh lửa của FID.injector ≥ t0 cột+300 C SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 43 . Khi kết thúc mẫu phân tích bấm Stop -Khi không sử dụng máy thì tắt: +Tắt CR-6A +Đặt nồng độ buồng bơm mẫu.tắt máy nén khí +Chờ khi t buồng bơm mẫu xuống dưới 1000 C thì tắt máy sinh N2 +Tắt máy GC-14B Chú ý: -Không đặt t cột >3000 C .CR-6A -Đặt chương trình nhiệt độ +Nhiệt độ buồng bơm mẫu 1200 C +Nhiệt độ detector 2000 C +Đặt nhiệt đầu và cuối của cột là 800 C( đẳng nhiệt) +Bật công tắc heater của máy +Bật máy nén khí . bấm Start ở CR-6A và chờ kết quả.cột về 250 C Tắt công tắc heater của GC-14B +Tắt máy sinh H2 . kiểm tra xem có ngọn lửa không +Bơm mẫu phân tích.injector >3200 C -t0detector. t0detector.Báo cáo thực tập tốt nghiệp PHẦN 4: QUY TRÌNH THAO TÁC MÁY GC – 14B SHIMADZU -Bật máy sinh khí N2 -Bật máy GC. detector.

5-1 ml -Rửa kim bơm 15-20 lần(bằng n-hexan) trước và sau khi bơm mẫu Để xác định được diện tích pic có thể dùng các phương pháp sau: -Dùng thiết bị đo diện tích -Tính diện tích tam giác bằng phương pháp thủ công -Phương pháp cắt sắc đồ và cân trọng lượng -Dùng tích phân kế điện tử và chương trình máy tính để tính Spic PHẦN 5: BÁO CÁO KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM 5. Chế độ phân tích Nhiệt độ detector : t =2000 C Nhiệt độ injector : t=1200 C Phân tích đẳng nhiệt: tcột =800C 5.2µl (lỏng).2.1-0. 0. Số liệu đo được : SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 44 .1.Báo cáo thực tập tốt nghiệp -Mẫu không được chứa nước và phải bay hơi được -Lượng mẫu nên dùng: 0.

Xử lý số liệu.793 5.462 2.9 6.173 spic 22067812 23679610 1080329 4401558 21803222 87646 16460220 845138 14537756 6395758 5. Xây dựng đồ thị S-C (%toluen) SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 45 .897 2.74 5.1%toluen 1% toluen 10% toluen Tgian lưu 2.588 5.782 2.508 5.902 2.3.Báo cáo thực tập tốt nghiệp Mẫu 100% n-hexan 100% toluen Mẫu 0.

9726 20000000 DIỆN TÍCH PIC 15000000 Series1 Linear (Series1) 10000000 5000000 0 0 20 40 60 80 100 120 NỒNG ĐỘ TOLUEN Hình 1 : Đồ thị S-C đầy đủ SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 46 .Báo cáo thực tập tốt nghiệp ĐỒ THỊ ĐƯỜNG CHUẨN CỦA TOLUEN 30000000 25000000 y = 224016x + 2E+06 R² = 0.

Báo cáo thực tập tốt nghiệp DIỆN TÍCH PIC ĐỒ THỊ ĐƯỜNG CHUẨN CỦA TOLUEN 7000000 y = 628894x + 115941 R² = 0.9992 6000000 5000000 4000000 Series1 3000000 Linear (Series1) 2000000 1000000 0 0 2 4 6 8 10 12 % toluen Hình 2 : Đồ thị S-C loại bỏ điểm A SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 47 .

Báo cáo thực tập tốt nghiệp 25000000 y = 233453x + 336754 R² = 0.99 . theo phương pháp bình phương nhỏ nhất thì kết quả đường thẳng bình phương nhỏ nhất là không chính xác . Vì vậy ta loại bỏ các giá trị gây sai số cho việc xác dịnh đường chuẩn trung bình. Dựa trên đồ thị ta thấy 2 giá trị có thể là sai số là SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 48 .9996 20000000 15000000 DIỆN TÍCH PIC Series1 Linear (Series1) 10000000 5000000 0 0 20 40 60 80 100 120 % C TOLUEN Hình 3 : Đồ thị SC loại bỏ điểm B Nhận xét : ta thấy đọ tin cây R2 hình 2 < 0.

Sai số mắc phải . Vì Spic phụ thuộc vào lượng chất phân tích đi ra tức là phụ thuộc vào nồng độ mẫu phân tích và thể tích mẫu phân tích.4% . chưa đẩy hết các chất hấp phụ trong cột từ các lần trước.4. SVTH: Hoàng Đình Thành Hóa dầu 1 k53 Tổ 7 Page 49 . 6395758) Trường hợp 1 : loại bỏ giá trị A suy ra R2 = 0.9992 Trường hợp 2 : loại bỏ giá trị A suy ra R2 = 0.Báo cáo thực tập tốt nghiệp A ( 100 . 5.9996 Ta thấy 2 trường hợp trên có giá trị độ tin cậy đêu lớn hon 0.Sai số mắc phải do quá trình luyện cột không tốt.Do quá trình lấy mẫu bằng tay nên không thể lấy chính xác dược 2 micromet mẫu nên sễ đân đến sai số xác định S pic so với Spic thực tế ứng với nông độ các lần lấy. Muốn xác định chính xác S pic ứng với thay đổi nông độ điều kiện tiên quyết là Vmẫu =const. . 23679610) và B (10.99 nhưng trường hợp 2 chính xác hơn . vậy : Y= 233453X + 336754 . Mẫu X có diện tích pic đối với toluen là Y= 4401558 => mẫu có nồng độ toluen là : X = 17.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->