Chương 7.

Những tính chất cơ lý c ủa giấy và giấy bìa
Các tính chất liên quan tới sản phẩm đầu cuối của giấy và giấy bìa: -Các tính chất cơ bản -Các tính chất về độ bền --Các tính chất về độ cứng -Các tính chất về cấu trúc -Các tính chất bề mặt -Các tính chất về độ thấm hút -Các tính chất quang học (được đề cập trong chương 8 của quyển này) Có nhiều phương pháp khác nhau để đo các tính chất này. Cơ sở vật lý về giấy của đa số các PP này đều đã đư ợc mô tả kỹ trong Q.16, Lý tính của giấy. Bên cạnh đó, các chi tiết kỹ thuật quan trọng về quy trình thử nghiệm ở những bộ PP tiêu chuẩn khác nhau cũng đã đư ợc mô tả đầy đủ. Do đó, chương này chỉ bàn về những nguyên tắc chính yếu được sử dụng trong những quy trình thử nghiệm phổ biến vốn dĩ là đi ều quan trọng cần biết khi muốn chọn những PP chính xác hay muốn cân nhắc mối tương quan giữa chúng với nhu cầu thử nghiệm. Phần này chỉ tập trung vào các PP được dùng để mô tả các chủng loại giấy và bìa. Những quy trình thử nghiệm liên quan đến sản phẩm đầu cuối sẽ được bàn trong chương 9&10. Kèm theo đây là bảng tóm tắt các bộ tiêu chuẩn thử nghiệm như ISO, SCAN, TAPPI, CEN. Chương này chủ yếu mô tả các quy trình thử nghiệm theo tiêu chuẩn ISO (…) Ngày nay, có nhiều cách thử nghiệm tính chất cơ lý của giấy và giấy bìa có thể được thực hiện ngay trên dây chuyền nhằm mục đích quản lý quá trình sản xuất. Có nhiều quy trình thử nghiệm tự động giúp tăng năng suất thử nghiệm. Đa phần các hệ thống thử nghiệm giấy này đều ứng dụng cùng những nguyên tắc xét nghiệm cơ bản dùng trong những phòng thí nghiệm bình thư ờng nhất. Do đó chúng không được nêu cụ thể ra đây.

7.1. Chuẩn bị mẫu
U

7.1.1.Lấy mẫu Mục đích của việc đo các tính chất của một miếng giấy hay giấy bìa thường là để mô tả các tính chất của một lượng vật liệu lớn hơn. Do đó, trước khi làm thử nghiệm người ta phải có được mẫu có tính đại diện. Muốn được vậy thì mỗi phần của chuyến hàng phải tương đương về mặt xác suất thống kê với thành phần mẫu. Trên thực tế, điều này khó thực hiện. Đối với giấy được giao theo cuộn, mẫu lấy được thường chỉ ở mặt ngoài cuộn giấy. Để xác định số cuộn để lấy mẫu phải dùng các quy tắc thống kê. Theo một nguyên lý cơ bản nhất thường được áp dụng thì số cuộn được lấy mẫu phải tương đương với căn bậc hai của tổng số cuộn trong chuyến hàng. Quy trình thủ tục lấy mẫu được quy định chi tiết trong ISO 186.

Điều quan trọng cần nhớ là một mẫu đại diện phải dựa trên một khối lượng tối thiểu có thể lấy được nào đó của chuyến hàng vào thời điểm lấy mẫu. Theo tập quán thương mại thì con số tối thiểu này thường là 50%. Quan hệ giữa quy trình thủ tục và độ tin cậy của kết quả thử nghiệm được trình bày trong chương 13 c ủa quyển sách này. Từ mỗi cuộn giấy được lấy mẫu, người ta cắt ra vài tờ giấy với kích thước nhỏ nhất là 300mmx450mm. Xáo trộn thật kỹ những tờ giấy này và dùng chúng thành một mẫu là để bảo đảm tính ngẫu nhiên của việc lấy mẫu. Việc thực hiện các thí nghiệm tính chất giấy theo yêu cầu sẽ được tiến hành trên các tờ giấy mẫu này. Đối với những trường hợp thử nghiệm có yêu cầu quan trọng đối với hướng của những miếng giấy thì phải cắt chúng theo các yêu cầu tiên quyết của quá trình thử nghiệm. Những miếng giấy được cắt ra để thủ nghiệm độ kéo căng có bề rộng 15mm với sai số 1mm sẽ cho kết quả thử nghiệm có sai số là 7%. 7.1.2. Điều kiện thử nghiệm Điều kiện tiên quyết quan trọng nhất trong thử nghiệm tính chất giấy là yêu cầu đối với môi trường tiến hành thử nghiệm độ ẩm của giấy. Vì bản thân xơ sợi gỗ đã có tính hút ẩm nên giấy cũng d ễ dàng hút ẩm từ môi trường xung quanh hoặc nhả ẩm ra nếu như môi trường khô hơn độ ẩm ổn định của giấy. Ẩm độ của giấy ảnh hưởng lên hầu như toàn bộ các tính chất cơ lý. Do đó cần phải đưa các mẫu giấy vào những điều kiện nghiêm ngặt trước khi xét nghiệm. Theo ISO 187, điều kiện khí hậu cho phép là 50 ± 2% RH and 23 ± 1°C. Ở các nước nhiệt đói các giới hạn cho phép là 65% RH và 27°C. Ngày xưa, mức phổ biến là 65% RH và 20°C, nhưng bây giờ thì không cho phép như thế nữa. (LND: RH: relative humidity: độ ẩm tương đối, là lượng hơi nước có trong không khí được thể hiện dưới dạng %, đó là lượng tối đa có thể có trong cùng điều kiện nhiệt độ) (theo http://www.neenahpaper.com/Glossary ).
HTU UTH

Thời lượng thông thương để giấy ổn định ít nhất là 4 tiếng. Thời gian này đủ lâu để xơ sợi gỗ có thể hút hoặc thoát hơi ẩm. Phần lớn các tính chất của giấy bị thay đổi trong những phút đầu tiên sau khi mẫu giấy được đưa từ môi trường này sang môi trường khác. Hình 1 cho thấy ví dụ về tỷ lệ thay đổi độ nhám bề mặt giấy.

Nếu giấy được đưa về điều kiện 50% RH ở mặt khô. thì độ ẩm của nó sẽ thấp hơn khoảng 1% nếu cân bằng đạt tới ở mặt ẩm (có độ ẩm tương đối RH cao hơn). quyển 16 về quan hệ giữa độ ẩm tương đối của không khí với ẩm độ của giấy). .1. Mối tương quan độ ẩm với độ ẩm tuơng đối của giấy in báo Trong hình này cái gọi là hiệu ứng trễ thể hiện khá rõ.2. người ta không chỉ quan tâm đến điều kiện môi trường thử nghiệm mà còn đến chiều hướng mà ở đó giấy đạt được cân bằng độ ẩm thỏa mức tiêu chuẩn hóa (xem thêm chương 7. Sự thay đổi độ nhám bề mặt của giấy theo thời gian ổn định môi trường thử nghiệm Hình 2 cho thấy sự thay đổi độ ẩm của giấy khi độ ẩm tương đối RH của môi trường không khí xung quanh thay đổi. Điều này sẽ ảnh hưởng tới các thông số về tính chất cơ lý đo đư ợc. Có nghĩa là. để công tác thử nghiệm giấy có được sự cẩn trọng cần thiết. độ ẩm của giấy biến thiên theo một độ ẩm tương đối cho trước nào đó thì ph ụ thuộc vào mặt giấy nào đạt đến cân bằng. H.H. Do đó.

Trên thực tế. kết quả thu được sẽ bị giới hạn. được biểu diễn thành g/m2. Định lượng là khối lượng trên một đơn vị diện tích của giấy và giấy bìa. độ xếp chặt và thành phần chất độn. U 7. và tính không bất biến của các tính chất bề mặt của giấy nên giá trị độ dày xếp chặt thường nhỏ hơn giá trị độ dày của một tờ giấy riêng lẻ.2. nên nhiệt độ có ảnh hưởng tới kết quả thử nghiệm. có m ột số tính chất cơ lý của giấy bị trở lại như lúc đầu khi điều kiện không khí thay đổi. Thiết bị sử dụng là máy đo độ dày của một tờ giấy hay nhiều tờ giấy được ép với lực nén cho trước tạo bởi hai đĩa đặt song song. m ột mẫu giấy mà đã đư ợc để trong môi trường độ ẩm tương đối RH cao sẽ có độ nhám bề mặt cao. ISO 536. thường là 200 x250 mm. Đối với nhiều tình huống sử dụng thành phẩm đầu cuối thì đây là một thông số quan trọng. có thể với đôi chút độ trễ. Nguyên nhân để chuẩn hóa về giới hạn nhiệt độ chủ yếu là để duy trì độ ẩm tương đối trong các tính chất cơ lý. với sai số cắt cho phép là ± 0. Các tính chất về độ bền của giấy thường thay đổi theo kiểu trở lại như lúc đầu. Các tính chất liên quan tới cấu trúc và chắc chắn là các tính chất bề mặt thì thay đổi theo kiểu khác hẳn với ban đầu khi độ ẩm tương đối của môi trường xung quanh thay đổi. Vì trao đổi thương mại giấy và giấy bìa đ ều dựa trên khối lượng. Đó là những đặc điểm mô tả rất quan trọng của giấy. mật độ. Xác định độ ẩm của giấy chỉ đơn giản là cân mẫu giấy trước và sau khi sấy ở nhiệt độ 105 ± 2°C. Cũng nên lưu ý là. Tính ổn định theo chiều của giấy thì đư ợc xác định bằng cách đo chiều dài của băng giấy thử nghiệm sau khi đã ổn định được điều kiện nhiệt độ ở những mức độ ẩm tương đối khác nhau. Bên cạnh định lượng còn có độ dày và mật độ cũng là những chỉ tiêu quan trọng về bản chất của cấu trúc giấy. theo SCAN-P28.5 mm.Vì giấy là loại vật liệu có tính đàn hồi. nên định lượng là mối quan hệ giữa cân nặng của vật liệu với bề mặt của nó. Đối với độ bóng và độ hút ẩm cũng vậy. Giá trị này sẽ không bị giảm trở lại nếu như mẫu giấy được đưa về môi trường không khí khô hơn. . Nói về độ dày của giấy. Độ ẩm được biểu diễn dưới dạng % của khối lượng của mẫu ẩm. ISO 534. Miếng giấy xét nghiệm có diện tích ít nhất là 500cm2. Việc xác định định lượng bao gồm động tác cân một miếng giấy có diện tích biết trước. Cần duy trì thời gian sấy đủ mức cần thiết để đạt được trọng lượng cố định. Nếu không. độ dày. Sự phụ thuộc của tính chất cơ lý c ủa giấy vào độ ẩm của nó và vào quá trình thay đ ổi ẩm độ có nghĩa là khi làm thử nghiệm các tính chất cơ lý của giấy và bột giấy phải hết sức chú trọng tới điều kiện thử nghiệm. định lượng. và một số tính chất khác thì thay đổi theo kiểu khác hẳn với ban đầu. Do kết quả của việc hút ẩm hay nhả ẩm mà các chiều hướng của giấy cũng thay đ ổi. Do bởi giá trị nhận được cho một tờ giấy riêng lẻ phụ thuộc vào việc quá trình đo đã s ử dụng một hay nhiều tờ giấy nên cần phân biệt rõ sự khác biệt giữa hai giá trị này. Lực nén thường được ưa dùng là 100 kPa. ISO 287. người ta thường dùng đơn vị mm. nhưng độ dày xếp chặt là giá trị độ dày trung bình của một tờ đo được từ một xấp nhiều tờ. Để đo độ dày của một tờ riêng lẻ thì rõ rang là phải dùng một tờ riêng biệt. ảnh hưởng này cũng không lớn lắm. Do có nhiều thay đổi và tính chịu nén của giấy. Điều này có nghĩa là. Những tính chất căn bản Bất kỳ loại giấy hay giấy bìa nào cũng có các tính ch ất căn bản là độ ẩm.

3. nên đo và báo cáo các tính chất này riêng rẽ theo từng mặt. Độ xếp chặt là nghịch đảo của mật độ: (1) Do bởi các yêu cầu về tính chất của giấy khi sử dụng thành phẩm thường có liên quan tới yếu tố mật độ của giấy càng thấp càng tốt nên các nhà sản xuất giấy và khách hàng thường thích dùng độ xếp chặt như là một tính chất đại diện cho mật độ. Độ dày tờ giấy riêng lẻ thường có liên quan tới một hoàn cảnh sử dụng thành phẩm. hay là chiều của giấy. P P P P Theo ISO 534. đơn vị tính là kg/m 3 . U 7. như công tác in ấn chẳng hạn. Do đó. Các tính chất về độ bền Các tính chất cơ lý quan trọng nhất liên quan tới độ bền của giấy và giấy bìa gồm có: -Độ bền kéo -Độ chịu bục -Độ chịu xé -Độ bền xếp -Độ bền bề mặt . ISO 2144. Tính chất này ảnh hưởng rất nhiều lên các tính chất cơ lý mà vốn dĩ đã khác nhau theo nh ững hướng khác nhau của tờ giấy. hay thường được dùng ở 525°C nếu như thành phần chất độn có chứa CaCO3 vốn dĩ sẽ bị phân huỷ ở nhiệt độ cao. Tùy theo công nghệ sản xuất mà giữa hai mặt của tờ giấy cũng có khác bi ệt. hay là mật độ biểu kiến dựa trên độ dày của tờ giấy riêng lẻ. Độ dày xếp chặt là độ dày cuối cùng của quyển sách được làm từ tờ giấy ta đang xét. đôi khi là g/cm 3 . Mật độ biểu kiến là khối lượng trên một đơn vị thể tích của giấy hay giấy bìa đư ợc tính theo tỷ số giữa định lượng và độ dày. mật độ còn được gọi là mật độ xếp chặt biểu kiến dựa trên độ dày xếp chặt. Sự khác biệt tính chất bề mặt của hai mặt tờ giấy có thể rất lớn. Xác định thành phần chất độn của giấy bao gồm việc đốt mẫu ở nhiệt độ 900°C. Từ các kết quả xét nghiệm tro sẽ tính được thành phần chất độn theo phương pháp của Putz được mô tả trong chương 4 của quyển này.Việc sử dụng giá trị độ dày theo những trường hợp cụ thể thì phụ thuộc vào mục đích sử dụng kết quả. luôn phải chú ý ghi rõ hư ớng của thao tác thử nghiệm so với hướng tờ giấy. Giấy được xeo bằng máy có một đặc trưng là số xơ sợi nằm theo hướng máy xeo luôn nhiều hơn xơ sợi nằm ngang. Tính bất đẳng hướng này torng cấu trúc giấy thường được đề cập đến dưới tên gọi khác là hướng xơ sợi. theo TAPPI T211. Khi báo cáo kết quả.

theo hướng song song với chiều dài mà một băng giấy có thể chịu được cho đến khi đứt lìa. Do đó. nhưng cũng có thể cao hơn 20% đối với một số loại giấy vệ sinh. Ghi nhận lại lực kéo tối đa mà băng giấy có thể chịu được cho tới khi đứt lìa và độ dãn tương ứng của băng giấy. và l là độ dãn tương ứng. Bên cạnh lực tác động tối đa gây ra lực căng của băng giấy và độ dãn. Khi đó có thể làm nhiều thử nghiệm với tỷ lệ không đổi của lực tác động. Độ bền kéo Độ bền kéo là một tính chất rất hữu ích để mô tả độ bền nói chung của bất kỳ vật liệu nào. theo ISO 1924-1. Từ đó có thể tính được chỉ số kéo căng theo công thức dưới đây: (2) Chỉ số kéo căng = độ kéo căng/ định lượng Đơn vị của chỉ số kéo căng là Nm/g. Công tác thử nghiệm độ kéo căng là để đo lực tác động khiến băng giấy bị dãn ra. Lý do là giấy là loại thành phẩm sử dụng đầu cuối mà độ bền kéo là một tính chất quan trọng.1. Đối với giấy thì dùng độ bền kéo. một đường cong như thế cũng cho biết năng lượng hấp thụ lực căng. độ hấp thụ năng lượng căng W được định nghĩa như sau: (xem hình 3) trong đó F là lực tác động.3. hoặc với tỷ lệ không đổi của độ dãn đ ối với lực tác động.-Độ bền kéo zero-span -Độ bền theo hướng z Để hiểu rõ hơn về lý thuyết nền tảng của các tính chất này xin xem quyển 16 – các tính chất của giấy. Về mặt toán học. được diễn tả dưới dạng % so với chiều dài ban đầu. chỉ số kéo căng chủ yếu được dùng để mô tả độ bền của bột. theo ISO 1924-2. Nếu thiết bị thử nghiệm có bộ phận ghi nhận như trong các phòng thí nghiệm hiện đại thì đường cong của độ dãn chịu tải (độ kéo căng) sẽ được tự động vẽ ra. 7. mẩu giấy thủ nghiệm được kéo cho tới khi bị đứt lìa. Đo độ bền kéo của giấy . Đối với giấy. Đơn vị đo là kN/m. Đối với đa số các loại giấy thì đ ộ dãn thư ờng là 1-5%. (3) H. đó là lực tác động tối đa lên một đơn vị chiều dài. Độ dãn hay độ dài băng giấy lúc bị đứt là độ gia tăng chiều dài của băng giấy cho tới khi đứt lìa.3. Giá trị chỉ số kéo căng liên quan tới độ bền của khối vật liệu chịu tải. Đây chính là động tác cần để làm đứt băng giấy. Trong thử nghiệm độ bền kéo.

chỉ số bền căng.Đơn vị của độ hấp thu năng lượng kéo là J/m2.căng) của giấy. Phép tính toán ứng suất của độ đàn hồi cũng sử dụng đường cong của độ dãn do lực tác động. ứng suất đàn hồi và độ dòn căng từ một đường cong dãn-do-lực (kéo. độ dãn. Hình 3 minh họa cách tính độ bền căng. Một khái niệm rất gần gũi nữa là độ dòn căng. Nó phản ảnh độ dốc cực đại của đường cong này (phần gạch xéo) như trong hình 3. (4) (5) (6) (7) .

như nước chẳng hạn. 7. đối với giấy bìa là ISO 2759. nó là tính chất của bột hay nguyên liệu phối chế có liên quan tới khả năng vận hành của máy xeo. trong khi độ đàn hồi lại tăng. Có đôi khi trong thử nghiệm độ bền căng người ta dùng những mẩu giấy được tẩm một chất lỏng nào đó. Đơn vị đo độ chịu bục là kilopascal. Do đó đối với thử nghiệm tính chất bột giấy nói chung người ta thường xét đến khả năng liên kết xơ sợi.Trong đó w là định lượng b là chiều rộng của băng giấy thử nghiệm t: độ dày của băng giấy thử nghiệm l 0 : chiều dài lúc ban đầu của băng giấy thử nghiệm B B E: ứng suất đàn hồi TS: độ dòn căng Độ kéo căng của giấy phụ thuộc vào độ bền của xơ sợi. Lực tác động càng tăng thì đ ộ bền căng càng lớn. Cách đo được nêu trong ISO 2758 . Đây là giá trị độ kéo căng của tờ giấy trong phòng thí nghiệm với một thành phần chất lỏng nào đó hay ở những thành phần chất lỏng nhận được trong quy trình khử nước tiêu chuẩn. Thử nghiệm độ chịu bục đã đư ợc phát triển dựa trên kinh nghiệm chứ chưa được định nghĩa chính xác theo thuật ngữ vật lý học. Độ bền căng phụ thuộc rất nhiều vào chiều của giấy. kPa. Việc tính toán dùng công thức sau: (8) Chỉ số chịu bục = độ chịu bục/định lượng Chỉ số chịu bục được biểu diễn bằng kPa x m2/g. vi ệc tiến hành đo cũng đơn gi ản và nhanh chóng. nhưng chủ yếu phụ thuộc vào mối liên kết giữa chúng. theo SCAN-C31 và C-35. Giá trị độ bền ướt này cho thấy sự bảo lưu độ bền của giấy sau khi bị ướt.2 Độ chịu bục Độ chịu bục là sức ép tối đa mà tờ giấy có thể chịu được trước khi rách khi bị tác động theo phương thẳng góc với mặt phẳng ngang của miếng giấy thử nghiệm. Ngoài ra nó cũng không liên quan gì tới chiều tờ giấy.3. . Độ bền căng đo được theo các hướng khác nhau của tờ giấy thường được dùng như một chỉ báo về định hướng của xơ sợi. theo ISO 3781. không cần cắt mẫu giấy cho chính xác. Kết quả nhận được cũng tùy thuộc vào các điều kiện thử nghiệm. Độ chịu bục là một thông số thử nghiệm đã cũ. Giấy càng có độ ẩm cao thì đ ộ bền căng càng giảm. Tuy nhiên độ chịu bục cũng có tương quan về mặt toán học và vật lý học với độ bền căng và độ dãn của giấy. Độ bền ướt của giấy thì khác với độ bền ướt ban đầu của băng giấy ướt vốn là độ bền kéo của băng giấy ướt trước khi tham gia vào chu trình sấy đầu tiên.

Độ hấp thu năng lượng bục là một thống số liên quan khác. Hình 4 cho thấy nguyên lý của thử nghiệm xé. hay trong một xấp nhiều tờ giấy. những áo kế này được hay bằng bộ chuyển đôi áp kế điện tử nên chính xác hơn nhiều. Độ chịu bục của miếng giấy là giá trị tối đa của lực ép thủy tĩnh đã đư ợc dùng để tác động. Tương tự. Độ bền xé phụ thuộc rất nhiều vào tính định hướng của xơ sợi trong tờ giấy. đó là độ chịu bục tác động trên một đơn vị diện tích giấy hay giấy bìa khi bị kéo cho tới lúc rách. theo ISO 1974. Phương pháp đo độ chịu bục phổ biến nhất là PP Mullen. Đơn vị của độ bền xé là Newton (N) hay milinewton (mN). Từ độ bền xé. Độ bền xé. sức kháng xé nội bộ Độ bền xé hay sức kháng xé nội bộ là lực tác động cần có để tiếp tục xé tờ giấy ra từ mẩu cắt ban đầu trong một tờ giấy riêng lẻ. Nếu vết cắt này là theo chiều máy xeo thì kết quả là độ bền xé hướng xeo. Đối với các thiết bị hiện đại. Lực ép thủy tĩnh gia tăng bằng cách bơm theo mức không đổi cho màng phồng lên cho tới khi miếng giấy thử nghiệm bị rách. có thể tính được chỉ số xé theo công thức (9) như sau: (9) chỉ số xé = độ bền xé/định lượng Đon vị của chỉ số xé là mN xm 2 /g P P Hình 4 .3. Bản thân thiết bị đo và nhất là máy áp kế đều rất nhạy nên thường cho kết quả ít đáng tin cậy. độ bền xé theo hướng ngang là kết quả của thử nghiệm xé theo hướng ngang máy xeo.3. 7. Người ta đặt miếng giấy thử nghiệm lên một màng đàn hồi rồi kẹp chặt ở xung quanh rìa nhưng v ẫn phồng cách xa màng.

do đó luôn luôn vượt qua ngưỡng tối đa. Trong thực tế. khi một băng giấy ướt bị đứt thì thường không thể tồn tại một vết cắt ban đầu như thế. trọng lượng con lắc hay số tờ giấy bị rách cùng lúc có thể thay đổi (số tờ giấy bị rách thường là 4). MarxElmendorf.Máy đo độ bền xé ghi nhận lực cần đế gây ra sự rách toạc. Có khi người ta dùng phương pháp kết hợp. Đã có nhi ều nghiên cứu để phát triển các phương pháp khác có cân nhắc tới những hạn chế này. Thực tế là. Trong thực tế. chẳng hạn như. nhiều nỗ lực đã bỏ ra để phát triển các PP có sử dụng những tình huống trong đó vết xé bắt đầu từ một rìa vết cắt rõ ràng. Nếu độ dài của vết xé không đổi thì giá trị nhận được là một phần trực tiếp của độ bền xé (lực xé chia cho tổng chiều dài bị xé). Điều này đã đư ợc đưa vào trong những PP mới được đề nghị gần đây như: -độ xé. Với những mức liên kết xơ sợi cao hơn thì đ ộ bền chắc của sợi xơ quyết định độ bền xé. Ở những mức liên kết xơ sợi thấp thì độ chịu xé tăng theo độ liên kết xơ sợi. -Thiết bị thử nghiệm dùng lực xé theo phương vuông góc với mặt phẳng tờ giấy. kết quả cuối cùng vẫn thể hiện độ bền xé hay chỉ số xé tương tự nhau bất chấp điều kiện thử nghiệm.trong. Độ bền xé có liên quan với độ chịu đập của bột hoặc là với độ bền kéo. Lực tác động làm rách giấy được đo bằng sự tiêu hao thế năng của con lắc. Độ bền xé tối thiểu cũng phụ thuộc các yếu tố sau: -độ dài xơ sợi -độ bền xơ sợi -mức độ liên kết giữa các xơ sợi -mức độ định hướng của xơ sợi trong tờ giấy Xơ sợi càng dài và càng bền chắc thì độ chịu xé càng cao. Đây là một con lắc tác động lực xé bằng cách di chuyển trong một mặt phẳng thẳng góc với mặt phẳng ban đầu của mảnh giấy thử nghiệm. Để nhận được con số đọc trên mặt đồng hồ của thiết bị. Phương pháp thử nghiệm kể trên bị chỉ trích vì các lý do sau: -Chỉ đo lực tác động xé liên tục xuất phát từ một vết cắt ban đầu. các lực xé tác động lên mặt phẳng tờ giấy có thể có nhiều hướng khác cũng cần được quan tâm. PP đo độ bền xé thường dùng nhất là kiểu Elmendorf được mô tả trong ISO 1974. Tiêu chuẩn DIN 53155 của Đức mô tả việc dùng PP Bretch-Imset để đo độ bền xé bằng cách đo tác động lan truyền của một cú xé đôi từ những vết cắt ban đầu trong một tờ giấy riêng lẻ. Dù cho điều kiện thử nghiệm có khác nhau.mặt -độ kháng đứt -độ kháng rách rìa . Độ liên kết xơ sợi mà ở đó xảy ra độ bền xé cực đại đối với bột gỗ cứng xớ ngắn thì cao hơn với bột gỗ mềm xớ dài.

như thể hiện trong hình 6. . Trong PP đầu. theo TAPPI 470. Trong cách thử nghiệm độ xé. góc này bằng zero.mặt và độ kháng đứt. Hình 5 Hình 6 Trong thử nghiệm xé rìa được đề nghị lúc đầu. Khi tác động lực theo hướng chiều dài của miếng giấy thì độ dãn tương đối ở cạnh ngắn sẽ lớn hơn theo cạnh dài của miếng giấy. những má kẹp thì không song song mà lệch nhau 2 x 6° trước khi lực xé được tác động. Trong PP đo độ kháng đứt. Hình 5 cho thấy thử nghiệm độ xé. nên các má kẹp song song nhau ngay từ đầu. Tác động rách do đó sẽ khởi đầu tại cạnh ngắn. lực tác động song song với mặt phẳng của một tờ giấy khổ rộng. Trong cả hai trường hợp miếng giấy thử nghiệm đều có một vết cắt sẵn ở rìa.-độ nhám vết đứt Trong tất cả các PP này thì lực tác động đều theo hướng song song với mặt phẳng tờ giấy.trong-mặt.trong. thì miếng giấy thử nghiệm được kẹp giữa hai ngàm tạo với nhau thành góc lớn hơn zero rất nhiều.

Giá trị độ bền xếp rất nhạy cảm với những vị trí khác nhau trong cấu trúc giấy. Điều này có phần là do sự khác nhau giữa lực dùng để tác động. Do đó kết quả thử nghiệm có khuynh hướng chênh lệch rất nhiều so với những thử nghiệm giấy khác. Mặc dù những PP thử nghiệm này đều có cùng nguyên tắc. 7. không có một định nghĩa rõ ràng về mặt vật lý.mặt với độ kháng đứt. Ngày nay độ bền xếp thường được dùng như một chỉ báo tinh nhạy đối với tuổi thọ của giấy. thử nghiệm độ kéo căng sẽ dung những băng giấy có và không có dấu khía vuông góc để định hướng cho lực tác động ngay giữa băng giấy. tức là vào sự thay đổi của độ ẩm tương đối của môi trường xung quanh. Độ bền kéo zero-span . Giấy có độ bền kéo và độ dãn càng cao thì đ ộ bền xếp cũng cao.3.Köhler-Molin . Thử nghiệm Độ bền xếp cho giấy là một thử nghiệm rất cũ. theo SCAN-P77. Độ chịu xếp được diễn tả trực tiếp bằng số lần xếp đôi lại mà giấy có thể chịu được. Đồng thời.4. Những cách thử nghiệm phổ biến nhất được nêu trong ISO 5626 là: . Một ứng dụng khác là để đo độ bền của giấy ghi ngân phiếu. Điều này có thể cho thấy là chúng mô tả những đặc điểm khác nhau của giấy.trong. Trong trường hợp này. nhưng kết quả nhận được từ mỗi PP lại khác nhau.5. 7.Độ cứng đứt là một đề nghị khác để cải thiện việc chạy máy xeo. nó là logarit thập phân của số lần xếp đôi. Từ các kết quả nhận được sẽ có được độ cứng đứt theo lý thuyết Jintergral. theo ISO 5626. Lực tác động này là không đổi.3. Nhưng liên hệ giữa độ kháng đứt với độ xé Elmendorf truyền thống thì không rõ lắm.Lhomargy. nhưng nói chung chỉ là một phần nhỏ của độ bền căng của giấy. và độ dãn của giấy. Nó có liên quan tới độ bền kéo.MIT . Độ bền gấp Độ bền gấp hay độ chịu gấp (xếp) là khả năng mà một băng giấy chịu được cho đến khi đứt khi bị xếp lại dưới một tải lực nào đó. nó cũng nh ạy cảm với điều kiện thử nghiệm. sự khác biệt giữa cấu tạo của thiết bị xếp và giữa góc xếp của các thiết bị thử nghiệm.SchoPPer . Hiện nay không mấy ai sử dụng những cách thử nghiệm này. tới độ đàn hồi. Các thử nghiệm đã cho thấy mối quan hệ rõ ràng giữa xé.

Sau khi vượt quá độ bền căng theo hướng z. sẽ xảy ra . hay mực in. Số sáp mà ở đó bề mặt giấy chưa bị lủng khi rút đầu sáp ra cho biết độ bền bề mặt của giấy. hoặc phá hỏng công tác in ấn. 7.3. Độ bền bề mặt Độ bền bề mặt của giấy là khả năng chống lại lực kéo khiến các sợi xơ hay bó sợi xơ bị bung ra khỏi bề mặt. rồi ghi nhận lại tốc độ in mà ở đó bắt đầu có hiện tượng mặt giấy bị rút. Có một PP thường dùng hơn cả do IGT phát triển và đã đư ợc mô tả trong ISO 3783. Tờ giấy có độ bền bề mặt kém có thể bị tưa lông trên mặt. hoặc gây ra các vấn đề khi máy giấy đang chạy.3.Hình 7 7. dầu dính. theo TAPPI T459.7. Thử nghiệm độ bền hướng z của giấy Độ bền theo hướng z có liên quan tới khả năng của giấy hay giấy bìa chống lại lực căng theo hướng vuông góc với mặt phẳng của tờ giấy (hướng z). Có một PP cũ r ất đơn giản là PP hút sáp Dennison. Ranh giới giữa độ bền bề mặt thử nghiệm với độ xổ lông đôi khi cũng không rõ ràng. Kết quả của việc đo tốc độ này và độ nhớt của dầu là số đo độ bền bề mặt của giấy. Các PP thử nghiệm độ bền bề mặt thường dùng chất nhớt. Thiết bị này được cho in lên giấy với tốc độ tăng liên tục với một loại dầu rất nhớt. Đặc điểm chung của tất cả các thử nghiệm độ bền bề mặt là tính tái sử dụng không cao.6. Trong PP này thì những đầu nhọn gắn sáp ứng với những độ xổ lông khác nhau được cho dính vào giấy bằng cách nóng chảy.

hiện tượng đứt gãy trong cấu trúc tờ giấy chứ không chỉ trên bề mặt. xếp nếp và phủ plastic. Một số đã được chuẩn hóa theo TAPPI UM 584.4. U 7. Kết quả biến dạng là hiện tượng dãn. sau đây là phần mô tả một số các PP này. Thế năng suy giảm của con lắc sau khi đụng vào lá kim loại là chỉ báo về độ bền mặt của tờ giấy. Trên thực tế. Các tính chất thuộc về độ dòn Độ dòn liên quan tới tính chất đàn hồi của vật liệu.1. như trong các trường hợp in offset và một số công đoạn gia công nào đó như ép song. mẫu giấy được đặt vào giữa một đĩa kim lo ại và một lá nhôm như trong hình 8. rồi được ép lại sao cho thật sát với mẫu giấy. Đối với giấy và giấy bìa. mẫu giấy được dán thêm miếng băng keo hai mặt đặt giữa hai miếng kim loại. PP phổ biến nhất để đo độ bền theo hướng z là PP SCott bond. chương 6 quyển 16 thì cung cấp những thông tin cơ bản về vật lý học có liên quan tới tính dòn. Độ bền theo hướng z do đó không liên quan gì với độ bền bề mặt hay tính xổ lông của giấy. Độ bền theo hướng z là lực tác động mà ở đó có sự rách ra theo diện tích tờ giấy. and TAPPI UM 528. Đã có nhi ều tài liệu mô tả các PP đo độ bền theo hướng z.4. giấy hay giấy bìa thường bị tác đông lực theo hướng z. có hai khía cạnh của độ dòn thường được đo là độ dòn căng và độ dòn xếp. Đó là đường dốc nhất của lực do uốn cong căng thường được định vị gần với ban đầu như trong hình 3 đã chỉ ra. Do cáh thực hiện dễ dàng nên nó được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp giấy và bột giấy. Đ ộ dòn căng có th ể được xác định từ kết quả của việc đo độ bền căng (xem 3. Hình 8 Trong PP đo mối liên kết Scott. cách tải lực không được xác định rõ như khi đo độ căng theo hướng z. Độ dòn căng được mô tả trong công thức toán sau: . M ột miếng băng keo hai mặt gắn mẫu giấy lên trên miếng kim loại. Chương 10 của sách này có bàn về các PP thử nghiệm.1). Bộ phận này được ghép vào một thiết bị đo độ căng và được cho tác động lực cho tới khi tờ giấy bị tách ra. theo TAPPI UM 403. TAPPPI UM 403. Độ dòn căng Để đo độ dòn căng. TAPPI UM 527. Một con lắc đụng vào lá nhôm và tác động lên mẫu giấy cho tới khi nó rách. 7. Trong một phép đo trực tiếp độ bền theo hướng z. Trong PP này. người ta cho lực tác động có phương song song với mặt phẳng tờ giấy. Đó là sức chịu đựng của vật liệu cho đến khi bị biến dạng dưới tác động của lực bên ngoài.

2. Độ dòn căng tăng theo định lượng.Với TS là độ dòn căng F lực căng b chiều rộng băng giấy Δl chiều dài tăng thêm của mẫu thử nghiệm l 0 chiều dài ban đầu của mẫu thử B B (10) Độ dòn căng ph ải được xác định ở bên trong miền đàn hồi của lực thay vì đư ờng cong căng. Do đó độ dòn xếp liên quan trực tiếp với ứng lực xếp đo bởi moment xếp (lực x chiều dài xếp). Những PP chuẩn thử nghiệm độ căng để xác điinh độ dòn căng hay mô đun đàn hồi là ISO 1924-2 và SCAN-P 67.như mật độ và thành phần xơ sợi. Trong thử nghiệm giấy và giấy bìa. còn mô đun đàn hồi là gigapascal (GPa).4. nhưng mô đun đàn hồi thì không đổi giống như những đặc điểm khác của tờ giấy . 7. Mức giới hạn để từ đó bắt đầu xảy ra biến dạng tùy thuộc vào loại giấy và giấy bìa đang thử nghiệm.2%. nghĩa là t ải lực và độ dãn tương ứng của băng giấy phải đủ nhỏ để cho vật liệu có thể khôi phục được hoàn toàn lại như cũ sau khi cất tải. Lực cần để xếp băng giấy lại theo một góc nào đó chính là ứng lực xếp. Trên thực tế. nhưng mô đun đàn hồi lại là đặc điểm của vât liệu. Theo kinh nghiệm thực tế thì Δl / l 0 bằng khoảng 0. các hướng của băng giấy và góc xếp là không đổi. độ dòn c ăng thường được diễn tả bằng đơn vị kilonewton treenm (kN/m). Độ dòn căng liên quan tới mô đun đàn hồi hay còn gọi là mô đun Young như sau: B B Với TS là độ dòn căng E mô đun đàn hồi t: độ dày tờ giấy (11) TS= E x t Như vậy độ dòn căng là một đặc điểm của tờ giấy. Độ dòn xếp Độ dòn xếp cho biết khả năng của một băng giấy khi phải chịu lực xếp vuông góc tác động lên một mặt giấy được để tự do và bị kẹp ở một mặt kia trong PP tải lực 2-điểm. Thử nghiệm sóng âm cũng có thể đo được mô đun đàn hồi hay độ dòn căng. .

trong đó PP 2-điểm là phổ biến nhất để thử nghiệm cho giấy và giấy bìa. 3-điểm và 4-điểm. hoặc là nguyên lý động đối với PP cộng hưởng. Lực cần để gây ra biến dạng được đo và được dùng như số đo của độ dòn xếp của vật liệu. Đầu kia được ép cho tới khi biến dạng. Trong PP 2-điểm ở hình 9. Chúng dùng nguyên lý tĩnh khi đo l ực cần để gây ra sự biến dạng nào đó. Nguyên lý chung của các PP tĩnh được mô tả trong ISO 5628. Các PP này gồm có PP lực tác động 2điểm. Do bởi kiểu tác động lực trong PP 2-điểm không thỏa các điều kiện lý tưởng theo lý thuyết về việc xếp nếp thuần túy nên đặc điểm đo được thường được gọi là ứng lực xếp để nhấn mạnh yếu tố không cần thiết phải phản ánh độ dòn xếp thực thụ của vật liệu. PP 3điểm thì ít được sử dụng. còn PP 4-điểm thường được dùng cho giấy bìa dầy và các sản phẩm gia công như giấy ép sóng.Độ dòn xếp liên quan tới mô đun đàn hồi và độ dày của … của bất kỳ vật liệu nào theo công thức sau: Với S là độ dòn E: mô đun đàn hồi I: moment quán tính của mẫu h: độ dày của mẫu b: bề rộng của mẫu (12) Có nhiều PP đo độ dòn xếp của giấy và giấy bìa. . miếng giấy thử nghiệm được kẹp ở một đầu.

độ dài tự do phải được giảm xuống 10mm để giữu cho lực tác động ở mức có thể đo được.2%. tức là Δl/l 0 dưới 0. độ uốn là 15° or 7. bao gồm SCAN-P29. Đối với giấy bìa. Mặc dù kiểu tải lực trong PP 2. tức là ứng lực xếp nhân với độ dài tự do của mẫu giấy thử nghiệm. Trong trường hợp nào thì kết quả thử nghiệm cũng bao g ồm các hướng của của mẫu giấy và góc uốn như là các thông số. Đối với giấy.điểm không được phù hợp lắm với quan điểm vật lý học. mục 1. độ dài tự do là 50mm. Chương 9.Hình 9 Có nhiều tiêu chuẩn xác định ứng lực xếptheo PP 2-điểm. B B Cũng có nh ững PP khác để đo độ dòn của giấy bằng cách đo độ biến dạng gây ra do chính trọng lượng của băng giấy. .3. Các lực căng kế tiếp trong mẫu thử nên được duy trì trong vùng đàn h ồi. Đôi khi người ta cũng dùng moment xếp.2. bề rộng miếng giấy thử nghiệm thường là 38mm. Kết quả đo được thường được diễn tả dưới dạng mili Newton (mN) đối với lực cần thiêt để gây biến dạng.5°. nhưng cũng th ỏa mãn được việc ước lượng độ dòn xếp đối với một băng giấy dài trong mối tương quan với độ dày của vật liệu và độ uốn thì vừa đủ nhỏ. TAPPI T556. của sách này có đề cập đến PP này.

Đối với PP tải lực 3.và 4-điểm. lực uốn được ước lượng từ điểm uốn giữa của mẫu giấy thử nghiệm và khoảng cách giữa các bộ đỡ. quyển 16 có thảo luận chi tiết về các yếu tố vật lý trong độ dòn xếp của các cấu trúc lớp. Chương 6. Cần chú ý giữ chỗ này sao cho độ biến dạng và ứng lực nơi mảnh giấy luôn trong miền đàn hồi của vật liệu. phần giấy nằm giữa các bộ đỡ sẽ chịu lực xếp thực thụ. Độ dòn xếp của một cấu trúc lớp như giấy bìa nhiều lớp thì phụ thuộc vào tổng độ dòn của từng lớp và vào vị trí của chúng so với lớp trung tính của loại giấy bìa nhiều lớp khi bị xếp: Tromg đó S là độ dòn xếp Ei: mô đun đàn h ồi của lớp thứ i Ii: mô ment quán tính của lớp i b: bề rộng mẫu giấy thử nghiệm. Moment xếp giữa các bộ đỡ là đồng nhất và được xác định bởi lực tác động ở các đầu tờ giấy và chiều dài của các phần giấy tự do. Trên thực tế. (13) .

10). mm w: định lượng. bề dài của mẫu được cho dao động tự do và khối lượng vật liệu. và định lượng của vật liệu theo công thức sau: Với S là độ dòn xếp. .Hình 10.4.3. g/m 2 P P (14) 7. mNm L chiều dài cộng hưởng của băng giấy. Đo độ dòn bằng PP cộng hưởng Nguyên lý của PP đo độ dòn bằng cộng hưởng nằm trong tần số dao động tự nhiên của một vật liệu trong quá trình dao đ ộng tự do tùy thuộc vào độ dòn xếp.4. Nguyên lý đo độ dòn theo PP cộng hưởng 7. Trong PP cộng hưởng. không phụ thuộc hướng E mô đun đàn hồi. Pa r: mật độ. Chiều dài của đầu tự do của mẫu được thay đổi cho tới khi đạt được sự cộng hưởng với tần số này. m/s c: hằng số. mẫu giấy được kẹp một đầu và được tác động để rung theo một tần số không đổi (xem H. kg/m 3 P E*: chỉ số dòn căng. tần số dao động. Xác định độ dòn bằng thử nghiệm sóng âm Mô đun đàn hồi và mật độ của mật vật liệu được xác định bởi sự truyền đi của sóng âm trong vật liệu đó theo công thức như sau: Trong đó v là vận tốc của các xung âm thanh. Nm/kg (15) Như vậy tốc độ sóng âm cho phép tính chỉ số dòn căng của vật liệu theo hướng đo. và độ chịu ép. Thông thường thì mối quan hệ thực nghiệm giữa chỉ số dòn căng đo được với một đặc điểm nào đó về độ bền là thiết yếu trước khi có thể tiếp cận PP này. độ chịu căng. Do có nhiều đặc điểm của giấy và giấy bìa có liên quan chặt chẽ với nhau nên có thể tiên đoán được chỉ số dòn c ăng từ những đặc điểm khác như độ dòn xếp. Có thể tính được độ dòn xếp từ chiều dài đạt được sự cộng hưởng.4. thì ghi nhận số đo chiều dài này. theo ISO 5629.

mặc dù nó thường được thực hiện trong phòng thí nghiệm. Kết quả đọc được ở những thiết bị khá n hau thì được đo thành một giá trị độ thấu khí đi kèm với kích thước của thiết bị. U 7. Ba tính chất đầu đã đư ợc mô tả rồi do bởi chúng thuộc loại những đặc điểm mô tả chung của bất kỳ loại giấy nào. đo dòng khí với lưu lượng mili lít/phút . Ngày nay những thiết bị thử nghiệm độ thấu khí phổ biến nhất được dùng cho các loại giấy thông thường là: .độ biến dạng do thay đổi độ ẩm. Độ mở cũng nhỏ hơn.Normal Gurley tester được trang bị một ống nhẹ ở bên trong và một bộ phận đo độ mở nhỏ hơn. Những thiết bị này đo dòng khí đi xuyên qua những miền định sẵn của tờ giấy bằng cách ép theo những cách khác nhau lên hai mặt của tờ giấy mẫu. Các PP đo dựa trên các nguyên tắc này thường dùng những thiết bị sau: -Gurley permeometer như đã mô tả trong TAPPI T 251 . mật độ hay độ xếp chặt. các công ty sản xuất loại giấy này thường dùng những PP không chuẩn để đo độ thấu khí) U 7. và độ thấu khí là những tính chất quan trọng thuộc về cấu trúc của giấy.5. góc định hướng. sự sai biệt lực ép phải nhỏ hơn so với khi thử nghiệm giấy in viết thông thường. PP này chỉ nói về những đặc điểm vật lý tổng quát của việc đo độ thấu khí được áp dụng chung cho nhiều thiết bị.6. Trong trường hợp giấy có độ xốp rỗ cao với mật độ thấp. Vốn là kỹ thuật thử nghiệm không phá mẫu nên thử nghiệm siêu âm có thể dùng được cho cả các xét nghiệm trên dây chuyền. ISO 5636-3. ISO 5636-4. chẳng hạn như sai biệt áp lực và khoảng cách đo. Nó cho phép đo được tỷ lệ MD/CD. Độ thấu khí của giấy thường được đo bằng cách sử dụng nhiều loại thiết bị thông khí khác nhau.Kỹ thuật siêu âm cũng thu ận tiện để đo tính bất đẳng hướng của một tờ giấy. hay mặt cắt CD của chỉ số dòn căng. Các tính chất về cấu trúc Định lượng. Các tính chất bề mặt Những tính chất bề mặt quan trọng nhất là: -Độ nhám hay độ láng . được sắp đặt cho phù hợp với từng loại giấy. Những điều kiện đo.Gurley tester.Bendtsen. ISO 5636-5. PP chung để đo độ thấu khí được mô tả trong ISO 5636-1. Sau đó các thông tin này được dùng để suy đoán độ bền cuốn. Ngoài ra. và một số tính chất tương tự của một tờ giấy. Nhờ vậy có thể đo được độ thấu khí của nhiều chủng loại giấy như giấy in và viết hay những loại giấy mật độ thấp như giấy vệ sinh và giấy vấn thuốc lá. độ dày. (điều này không hề được mô tả trong bất kỳ PP chuẩn nào. Đơn vị đo nói chung là mm/Pa · s. Mục đích là để tìm ra một giá trị thấu khí không phụ thuộc vào thiết bị đo. và Sheffield. đo thời gian cần thiết để 100 mL khí xuyên thấu qua tờ giấy mẫu.

như Thiết bị Talysurf chẳng hạn. Đây là giá trị đo độ láng. PP này do Viện Nghiên cứu Giấy& Bột giấy Canada phát triển dựa trên thiết bị thử nghiệm Chapman. và đo phần diện tích nhỏ của mặt giấy tiếp xúc. Kết quả trực tiếp đo được là chỉ báo về độ láng hay độ nhám của giấy. Cũng có một nguyên lý khác để đo hình thể bề mặt được áp dụng là Fogra Kontaktanteil Messgerät. Những thiết bị này cũng giống như loại thiết bị đo độ thấu khí. Những thiết bị phổ biến nhất là: .-Độ bóng -Độ bền bề mặt -Độ ma sát Vì ở trên đã có nói v ề độ bền bề mặt nên phần này sẽ chỉ bàn về độ nhám hay độ láng và độ ma sát. ISO 8791-4 . -Lực ép mà đầu ép tạo ra trên bề mặt tờ giấy. ISO 8791-3 . Có thể kể ra những chỉ tiêu vật lý nghiêm ngặt đối với phép đo này như sau: -Sai biệt lực ép để tạo ra được dòng khí. Chương 9 của quyển này cũng thảo luận về các tính chất bề mặt có liên quan tới khả năng in ấn của giấy. Đối với định nghĩa t ổng quát về độ nhám hay độ láng xin xem ISO 8791-1. Có một số thiết bị đo thể tích dòng khí trên một đơn vị thời gian và coi đó như kết quả đo độ nhám. Những loại thiết bị này không được phổ biến lắm. Độ bóng được đề cập đến ở chương 8 của quyển này.Thiết bị đo độ nhám Sheffield. Đôi khi hình thể bề mặt tờ giấy được mô tả bằng cách sử dụng các phép đo mặt cắt.Thiết bị đo độ nhám Bendtsen. ISO 8791-2 .Thiết bị đo độ nhám Parker Print Surf. Cho ếđn nay PP này vẫn chưa được đưa vào bất kỳ bộ PP đo chuẩn nào.Thiết bị đo độ láng Bekk. . -Khu vực đầu ép tác động lên tờ giấy. người ta cho một mặt gương phẳng ép lên mặt giấy với lực ép định sẵn. Những thiết bị thấu khí khác đo thời gian cần thiết cho một thể tích khí nào đó thoát ra. Nguyên tắc chung dùng cho mục đích đo lường này là để đo khả năng mặt giấy chống lại dòng khí lưu chuyển giữa bề mặt tờ giấy và một bề mặt hay một cạnh (của đầu đo) ép trên nó. ISO 5627. Trong thiết bị này. Mục đích của việc đo độ nhám hay độ láng chỉ đơn giản là để có đượcmột con số về bề mặt tờ giấy.

Trong đó μ là hệ số ma sát F lực ma sát F n lực pháp tuyến B B (16) Ma sát tĩnh và h ệ số ma sát tĩnh mô tả lực ma sát ở thời điểm mới bắt đầu có chuyển động giữa hai mặt phẳng nhưng chúng chưa thực sự bị trượt lên nhau. hướng máy xeo. Có một số PP đo độ ma sát. hướng ngang máy xeo. . Trọng lượng của con trượt được đưa vào lực pháp tuyến F n. (17) PP mặt phẳng dốc chỉ được dùng để đo hệ số ma sst tĩnh. Khi con trượt được cho hạ thấp xuống mặt bàn thì các miếng giấy dần tiếp xúc vói nhau. có một lực kéo tăng dần được tác động lên con trượt cho tới khi nó bắt đầu trượt. theo TAPPI T-548 và T-815. mặt lưới. hườn sản xuất và hướng counter manufacturing. Trong các PP mặt phẳng dốc. Đặc điểm ma sát bề mặt được đặc trưng bởi hệ số ma sát là tỷ lệ của lực ma sát đối với lực tác động vuông góc lên hai mặt phẳng. Lục ma sát trung bình đư ợc đo trên một độ dài trượt nào đó. Ma sát động hay hệ số ma sát động được áp dụng cho tình huống trong đó hai mặt phẳng trượt tương đối lên nhau theo một tốc độ không đổi. theo TAPPI T549 và T 816. con trượt được đặt trên bàn và bàn được cho dốc dần cho tới khi con trượt bắt đầu trượt. Cũng có th ể áp dụng kiểu kết hợp trong đó hai miếng giấy thử nghiệm được định hướng với nhau trên con trượt và trên bàn: mặt trên. rồi tính hệ số ma sát theo phương trình (16). Đo lực ma sát vào lúc bắt đầu trượt. còn miếng giấy kia được đặt ở bên dưới mặt con trượt. và chúng đều thuộc hai nhóm chính là PP mặt phẳng ngang và PP mặt phẳng dốc. Vì lực ma sát phụ thuộc rất nhiều vào các đặc điểm bề mặt và hình thể bề mặt của tờ giấy nên những kiểu kết hợp này có thể cho kết quả thử nghiệm khác nhau khi đo độ ma sát giữa các bề mặt. Trong cả hai PP đều có kiểu bố trí căn bản là miếng giấy thử nghiệm được gắn chặt vào một bàn nằm ngang. B B Trong các PP mặt phẳng ngang. con trượt được kéo với tốc độ không đổi.Ma sát là phản lực xuất hiện khi hai bề mặt giấy hay giấy bìa được cho tiếp xúc nhau và trượt lên nhau. Có thể đo được Hệ số ma sát tĩnh từ góc dốc vào thời điểm bắt đầu trượt. Hệ số ma sát động được tính từ lực ma sát trung bình. Để đo ma sát động.

được biểu diễn dưới dạng g/m 2 P P . Độ thấm hút chỉ được ước lượng bằng mắt khi thấy độ bóng của dầu trên mặt giấy không còn nữa. Điều quan trọng khi dùng tất cả các PP này là điều kiện để thấm hút vào tờ giấy càng gần với thực tế sử dụng đầu cuối càng tốt. Thử nghiệm thấm hút nước phổ biến nhất là Cobb test. và Klemm test. PP Klemm đo sự gia tăng độ mao dẫn của nước trong một băng giấy được đặt vuông góc với mặt nước. Trong PP Cobb-Unger. Các đặc điểm thấm hút Các đặc điểm thấm hút thường rất quan trọng đối với việc in ấn của giấy. một số được mô tả chi tiết trong quyển 4 của bộ sách này. Khác nhau chính là ở phương tiện sử dụng. Mẫu giấy được đặt trên một chiếc đai di chuyển bên dưới một vòi phun. Hiện có nhiều PP thử nghiệm các tính chất này. lượng dầu thấm qua giấy trong một thời gian nào đó được đo bằng cách cân tờ giấy mẫu. Lượng nước hút được đo bằng cách cân mẫu giấy trước và sau khi phun. Hai PP đo độ thấm hút dầu phổ biến nhất là Patra test và Cobb-Unger test. Tùy theo yêu cầu của kết quả thử nghiệm mà các tính chất thấm hút đo được có liên quan tới khả năng thấm hút hay tỷ lệ thấm hút.7. Trong trường hợp cần quan tâm tới tỷ lệ thấm hút thì phải đo sự thấm nước hay dầu trong những khoảng thời gian ngắn 0-20 giây. Theo PP Cobb. người ta cho nhỏ một giọt dầu lên mặt tờ giấy rồi đo thời gian cần để dầu thấm qua. Ghi chú: Định lượng là khối lượng của một đơn vị diện tích. Với những tốc độ khác nhau của chiếc đai. Việc đánh giá khả năng in ấn có thể dùng lượng mực thấm qua mặt giấy như một chỉ báo. Tất cả các PP thử nghiệm nêu trên đều là loại thử nghiệm khả năng thấm hút chậm.2 giây. P P Vì tác dụng của độ kỵ nước (mức độ gia keo) là một khía cạnh rất quan trọng của hóa học ngành giấy nên có nhiều PP đo độ gia keo đã được giới thiệu.U 7. thời gian thấm hút có thể hạ xuống tới 0. STFI là một thiết bị được dùng cho mục đích này. Cả hai chỉ số khả năng thấm hút và tỷ lệ thấm hút đều là những tính chất quan yếu đối với bột giấy dạng xơ và các sản phẩm giấy như giấy vệ sinh. Ngoài ra cũng có những PP dùng sự thay đổi góc tiếp xúc giữa chất lỏng và tờ giấy để đo độ thấm nước động. Vì thế trong chương 9 cũng thảo luận về chúng. SCAN-P 37. Do vậy PP này cũng tương tự với PP thử nghiệm Cobb dùng nước. ISO 535. người ta đo lượng nước thấm qua mẫu trong một khoảng thời gian nào đó bằng cách đo lượng nước thoát ra theo g/m 2 . Khả năng thấm hút mực in thường được đo với các thử nghiệm khả năng in ấn. Điều đó có nghĩa là nên sử dụng các chất sau: -Nước -Dầu các loại với thành phần và độ nhớt khác nhau -Mực in các loại Thường thì trong các thử nghiệm chuẩn người ta dùng nước hay dầu. Trong PP Patra. tức là độ kháng nước của giấy. Do đó chúng cũng đư ợc thảo luận trong chương 5 và 11 của quyển này khi bàn về các thử nghiệm cho các sản phẩm này. ISO 8787. PP này chủ yếu được dùng để đánh giá mức độ gia keo. Trong phần nói về khả năng in ấn của giấy có mô tả các PP này.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful