P. 1
Khủng hoảng tài chính Đông Nam Á năm 1997

Khủng hoảng tài chính Đông Nam Á năm 1997

|Views: 3|Likes:
Được xuất bản bởiThuy Hoang

More info:

Published by: Thuy Hoang on Aug 16, 2013
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

08/16/2013

pdf

text

original

Khủng hoảng tài chính Đông Nam Á năm 1997 1.

thực trạng và nguyên nhân • Thực trạng Trong giai đoạn 1985 - 1995, nền kinh tế Thái Lan đạt mức tăng trưởng kinh tế rất cao, bình quân 9%/năm. Thế nhưng năm 1996, chỉ số này tụt xuống còn 6,4%/năm, và dự kiến năm 1997, chỉ còn 5% hoặc thấp hơn. Đồng thời cùng với mức tăng trưởng bắt đầu giảm xuống, ngày 1/7/1997 Thái Lan đã chính thức tuyên bố thả nổi đồng Baht sau hàng chục năm duy trì tỷ giá hối đoái cố định. Và chỉ sau 1 ngày đồng Baht đã bị mất giá 20%. Tỷ giá của đồng Baht so với USD đang từ 25 Baht/1 USD xuống còn 39 Baht/1 USD. Tại thời điểm thấp nhất tỷ giá này chỉ còn 38 Baht/1 USD. Đồng thời giá cổ phiếu và trái phiếu trên thị trường Thái Lan cũng giảm mạnh, có thời điểm đã giảm đến 23% so với ngày trước khi quyết định thả nổi đồng Baht. Điều này sẽ làm tăng gánh nặng nợ nần đối với các công ty tài chính Thái Lan và gây tổn hại cho nền kinh tế nước này. Vậy nguyên nhân nào buộc Chính phủ Thái Lan phải thả nổi đồng tiền của mình và đồng Baht lại bị mất giá khủng khiếp như vậy? Theo các chuyên gia về kinh tế quốc tế, có một số nguyên nhân chính như sau : 1. Đã từ lâu rất nhiều học giả trên khắp thế giới đều ngưỡng mộ "Thuyết châu A'" là học thuyết coi trọng chính sách kinh tế chỉ huy hướng vào xuất khẩu trong một nền chính trị gò ép đã giúp các nước này cất cánh rất nhanh. Có những nước chỉ trong vòng 15 - 20 năm đã có thể bắt kịp phương Tây. Nhưng thực ra, cách tăng trưởng này đã bị lạc hướng trong những năm gần đây. Chính sách kinh tế chỉ huy đã dẫn đến sự thông đồng giữa chính trị và kinh doanh, và do đó đã tạo ra một thiểu số những người có quyền lực và có tiền tiến hành các hoạt động đầu cơ, đặc biệt về địa ốc. Số tiền thu lợi chui vào túi những người này chứ

nhanh chóng hiện đại hoá nó với hai cấu trúc xương sống là ngân hàng và thị trường chứng khoán sẽ tạo thành điểm tắc nghẽn lớn nhất đối với tiến trình phát triển kinh tế của các con rồng. Thực tiễn Thái Lan đã cho thấy rằng ngay . có thể thấy do mô hình tăng trưởng chủ yếu chú trọng vào đầu tư tràn lan. thì cho dù tổng sản xuất của các nước châu A' có thể đứng đầu thế giới. 2. Do đó. tất yếu sẽ dẫn đến tốc độ tăng trưởng giảm. Nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ việc theo đuổi một chiến lược phát triển không cân đối. việc ít quan tâm phát triển khu vực tài chính. thì điều đó cũng chỉ có thể là do số dân của châu A' quá nhiều mà thôi. Logic này phù hợp với dự đoán mà một số nhà kinh tế đưa ra cách đây vài năm cho rằng. Đây có thể coi là nguyên nhân tiềm ẩn của cuộc khủng hoảng tiền tệ ở tất cả các nước ĐNA trong đó có Thái Lan. Và điều đó tất yếu dẫn đến phải thả nổi đồng tiền để nó trở về với giá trị đích thực của nó. nhất là điều kiện quốc tế thay đổi thì chỉ cần một sự cố chưa nghiêm trọng lắm cũng đủ để tạo nên cơn bão tài chính của Thái Lan. Nếu các nước châu A' vẫn tiếp tục áp dụng mô hình đầu tư tràn lan như trước đây mà không thay đổi chính sách tổng thể. vì vậy sức mạnh của nền kinh tế sẽ đi xuống và giá trị đồng tiền sẽ không còn cao như cũ. khi nhu cầu phát triển và các điều kiện. Vì vậy khi nền kinh tế bước vào nhịp tăng trưởng mới. Thái Lan hầu như tập trung mọi nỗ lực cho mục tiêu tăng trưởng nhanh và dịch chuyển cơ cấu theo hướng hướng vào xuất khẩu. nhưng đồng thời Thái Lan lại không chú ý quan tâm thoả đáng tới hệ thống tài chính.không phải dùng để hiện đại hoá kỹ nghệ và nâng cao hiệu quả của hệ thống sản xuất nội địa. nếu không có sự điều chỉnh của ngân hàng Trung ương. còn chỉ tiêu thu nhập quốc dân đầu người ở châu A' vẫn thuộc loại thấp của thế giới. nhưng chắc chắn tốc độ tăng trưởng sẽ bị hạn chế do kỹ thuật sản xuất thiếu hiệu quả hoặc kỹ thuật sản xuất không được nâng cao. lấy nâng cao hiệu suất sản xuất và đổi mới kỹ thuật để thúc đẩy kinh tế phát triển. Do đó. Trong suốt 30 năm qua. theo Paul Kugman mặc dù các nước Đông A' trong hơn 3 thập kỷ qua luôn tăng trưởng không ngừng.

trong khi đó giá trị của đồng USD so với đồng Yên Nhật và các đồng tiền khác tăng rất . Thái Lan thi hành chính sách tỷ giá hối đoái cố định so với đồng USD. 3. Malaysia ngang với mức thâm hụt của Mehico năm 1994 (khoảng 8. Thật vậy. mức thâm hụt tài khoản vãng lai của Thái Lan. so với mức tăng bình quân hơn 25% của giai đoạn 1985 1995. trong đó có đồng Baht đã duy trì tỷ giá hối đoái của mình căn cứ theo đồng USD. nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng chủ yếu dựa vào mức tăng trưởng của xuất khẩu. Do đó. ngay từ đầu năm 1996 người ta đã dự báo rằng các đồng tiền châu A'. Thế nhưng trong thời gian gần đây sức tăng trưởng xuất khẩu của Thái Lan bị suy yếu nhanh chóng. đồng thời thị trường tiêu thụ hàng dệt. Cũng như nhiều nền kinh tế mới công nghiệp hoá Đông A' khác. Điều đó đồng nghĩa với việc đánh giá quá cao giá trị của đồng Baht nên đã làm giảm sút năng lực cạnh tranh xuất khẩu của Thái Lan. Năm 1996. Năm 1996. Theo tính toán của IMF nếu mức thâm hụt của tài khoản vãng lai của một nước ở mức 5% của GDP thì nước đó được coi là đang đứng trước nguy cơ của cuộc khủng hoảng.cả khi một nước đang thực thi thành công mô hình phát triển thì ranh giới giữa sự thần kỳ và khủng hoảng vẫn rất mong manh. Thái Lan đã liên tục nhập khẩu nhiều tư bản để tài trợ các cơ hội đầu tư. 4. Nguyên nhân của tình hình này là sự sụt giảm nhu cầu trên thị trường hàng điện tử của thế giới. Đồng thời cũng giống như các nước Đông A' khác để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. có thể thấy Thái Lan trở thành quốc gia có mức gia tăng thâm hụt tài khoản vãng lai lớn nhất trên thế giới. Ngoài ra do sự đánh giá quá cao giá trị đồng Baht trong một thời gian dài đã làm suy yếu sức cạnh tranh xuất khẩu và giảm tính hấp dẫn của ngành du lịch. trong đó đặc biệt lệ thuộc vào mức tăng trưởng của xuất khẩu điện tử. sợi của Thái Lan cũng bị giảm sút mạnh do sự nổi lên của Trung Quốc với tư cách là đối thủ cạnh tranh hùng mạnh nhất trong lĩnh vực này (Do giá nhân công ở Thái Lan làm mất lợi thế cạnh tranh của mình so với Trung Quốc).2% GDP). Giống như nhiều nước láng giềng. xuất khẩu của Thái Lan tăng chưa đầy 4%.

nhưng nếu theo thuyết ngang giá trong sức mua thì đồng Baht đã giảm giá rất nhiều (khoảng 20%) so với đồng USD mà lại chỉ được điều chỉnh rất ít (khoảng 6%). nếu không.Mặc dù đã được báo cáo trước xong những biến động của Thái Lan và các nước khác là không thể tránh khỏi. nền kinh tế hướng vào xuất khẩu của Thái Lan sẽ không thể xuất khẩu được nữa vì giá hàng hoá đã tăng một cách tương đối so với giá hàng hoá ở nước ngoài. . Một hệ thống tiền tệ cố định. Thái Lan và một số nước ĐNA khác rơi vào cuộc khủng hoảng tiền tệ vừa qua là do các nước này đã dùng đồng đô la Mỹ để đảm bảo giá trị cho đồng tiền riêng của họ. Tuy tỷ giá chính thức giữa đồng Baht so với đồng USD có tăng lên. Tóm lại. rồi đem số tiền đó để đi mua USD và chờ đợi khi đồng Baht bị phá giá thì họ sẽ thu lợi lớn. với mức độ tự do hóa khá cao trong khu vực bao gồm: malaysia. Hơn nữa khi các nhà đầu cơ dự đoán thấy đồng Baht được định giá quá cao họ sẽ đua nhau đi vay đồng Baht ở ngân hàng. indonesia và Singapore. nạn tham nhũng. Mặc dù trước cuộc khủng hoảng một thời gian ngắn. Quá trình này đã thúc đẩy cuộc khủng hoảng tài chính ở Thái Lan chóng xảy ra. người ta đã phải bỏ ra một lượng ngoại tệ lớn để ổn định tình hình nhưng không có hiệu quả bởi tính phức tạp của cuộc khủng hoảng. thiếu linh động như vậy tất yếu sẽ bị khủng hoảng.mạnh. Vì tỷ giá hối đoái cố định sẽ không cho phép có được sự điều chỉnh qui củ có trật tự như trong trường hợp tỷ giá hối đoái được thả nổi. hối lộ ở Thái Lan đã gây ra tình trạng trì trệ kinh tế dẫn đến xuất khẩu giảm. nhất là những nước có nền kinh tế tương đối phát triển. Do đó việc đồng Baht bị thả nổi là hiện tượng cần thiết để trả lại giá trị đích thực cho nó. Một số ý kiến cho rằng cũng giống như ở nhiều nước trên thế giới. philippines. theo các chuyên gia thì đây là cuộc khủng hoảng kép: khủng . thâm hụt cán cân thanh toán và do đó dẫn đến phá giá.

Bên cạnh đó Đài Loan cũng phải tuyên bố thả nổi tiền tệ.1 Baht/1USD ngày 6/1/1998.5 peso/1 USD. Trong đó thị trường tài chính tiền tệ Hàn Quốc đã trở thành nơi có ảnh hưởng lớn nhất của cuộc khủng hoảng này. Biến động này dẫn đến hàng loạt các công ty tài chính và ngân hàng ở Thái Lan phải đóng cửa không những thế các nhà đầu tư và nhân dân rút tiền hàng loạt nhất là các đồng tiền yếu. Đồng Won đã giảm xuống còn 976KRW/1USD. Và cuối cùng là Singapho vốn được coi là mắt xích quan trọng trong khu vực cũng phải tuyên bố không can thiệp vào thị trượng ngoại hối để tránh các thiệt hại nhiều hơn có thể xảy ra. cuộc khủng hoảng này có mức độ lan truyền sâu rộng (với mức thiệt hại gấp 4 lần so với cuộc khủng hoảng 94-95 ở Mexico). Ngân hàng TW Thái Lan cạn kiệt nguồn ngoại tệ.ngân hàng. Vòng xoáy của cơn lốc khủng hoảng không dừng lại ở khu Vực ĐNA mà còn lan rộng sang các nước khác được coi có nền kinh tế vững vàng hơn.hoảng tiền tệ . mặc dù Hàn Quốc không chịu phá giá. Thái Lan đã phải yêu cầu IMF giúp đỡ.4peso/1USD xuống còn 46. Tiếp theo đó là đồng Peso bị ảnh hưởng là Philippines đã phải tuyên bố phá giá từ 26. ngày 11/8/1997 Malaysia tuyên bố không can thiệp vào thị trường ngoại hối. Như vậy có thể coi sự phá giá của đồng Baht của Thái Lan như một ngòi nổ mở màn cho một đợt khủng hoảng kinh tế ở Đông Nam Á. Sau khi tung gần 24 tỷ USD để giữ giá đồng Baht nhưng không thành.26 Bah/1USD xuống tới mức kỉ lục 54. Như một phản ứng dây truyền. thì ngày 14-8-1997 indonesia thả nổi đồng Rupiah/1USD. còn thì trường tài chính tiền tệ Hồng Kông . ngân hàng TW Thái Lan đã phải thả nổi đồng Baht làm cho nó bị mất giá từ 25.

việc duy trì này của các nước có nền kinh tế kém phát triển hơn so với Mỹ rất nhiều đã khiến cho các nước này thay vì để đồng tiền của nước mình tăng giảm theo đúng giá trị của nó lại phải tiêu tốn hàng trục tỷ USD để cố gắng duy trì mức cân bằng giả tạo tới mức không thể kìm giữ nổi. • Nguyên nhân. Hai là buông lỏng và bao che những yếu kém trong công tác điều phối và kiểm tra giám sát hoạt động của ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Có thể nói cuộc khủng hoảng xảy ra với rất nhiều nguyên nhân.thì bị xáo chộn dẫn đến nhiều vụ khủng hoảng thị trường chứng khoán trên toàn cầu. Trong khi các hoạt động kinh tế có tốc độ tự do hóa cao hơn thì công tác giám sát hoạt động cac cơ sở kinh doanh và các tổ chức tài chính ngân hàng vẫn còn dậm chân tại chỗ. thậm chí chính phủ đã can thiệp vào hệ thống tài chính thông qua ngân hàng quốc doanh hoặc chỉ thị cho những ngân hàng tư nhân phải cấp tín dụng với lãi xuất thấp cho các công ty được chính phủ ưu đãi. . nhưng trên góc độ tài chính thì có một số nguyên nhân sau: Một là sự duy trì tỷ giá quá lâu so với đồng USD . lợi dụng kẽ hở này các doanh nghiệp đã tìm cách vay ngắn hạn của nước ngoài (chủ yếu là đầu tư vào bắt động sản với ý định trang trải các khoản nợ và sự thua lỗ trong sản xuất công nghiệp. nhưng thị trường BĐS trong thời gian này có nhiều bất lơi) gây ra các khoản nợ không có khả năng thanh toán khi thị trường bị biến động. Khắp khu vực tràn lan tình trạng bao cấp và cắt giảm thuế cho những ngành công nghiệp có chọn lọc và những ngành độc quyền được chính phủ bảo hộ.

thiếu trầm trọng các lao động lành nghề. Sự sụt giảm gía trị hàng xuẩt khẩu và nền kinh tế giảm sức cạnh tranh. Vì . nghĩa là có sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài (mà nguồn này chủ yếu là đầu tư vào BĐS) dẫn tới cung tiền vượt quá cầu tiền tình trạng nợ đọng ra tăng và việc mua vét ngoại tệ để trả đáo hạn là không thể tránh khỏi.ba là cán cân vãng lai thâm hụt lớn và cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài đổ vào không hợp lý. mức lương thực tế tăng nhanh trong lúc Trung Quốc và Ấn Độ tham gia vào thị trường xuất khẩu với chi phí thấp. nên khi cuộc khủng hoảng nổ ra nó lan truyền sang các nước khác và gây ảnh hưởng nặng nề cho các nước đó. Hàn Quốc và các nước ASIAN. ngoài ra còn có những lý do khác như: sự lũng đoạn của các tổ chức tài chính và mối liên quan chặt chẽ của các tổ chức này đối với chính phủ đã gây nên tình trạng tham nhũng nặng nề ở các nước Châu Á khiến cho chính phủ không thể mạnh tay trong việc xử lý những bê bối trong nội bộ của mình. Cơ cấu vốn nước ngoài chảy vào các nước chịu khủng hoảng nặng có sự mất an toàn cao do khối lượng nợ lớn tăng nhanh chủ yếu là vốn ngắn hạn (vốn vay thời hạn dưới 1 năm chiếm tới 70% tổng số nợ khu vực tư nhân tại Thái Lan và Indonesia). vì kim ngạch xuât khẩu giảm dần. Đây cũng là nguyên nhân quan trọng nhất gây bất ổn hệ thống tài chính tiền tệ. giá thành hạ làm cho các nước ĐNÁ mất lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế… hầu như những lý do trên đều là những vấn đề tồn tại ở các nước khủng hoảng và do mối quan hệ rằng buộc giữa Nhật Bản. nhưng hàng nhập khẩu lại tăng nhất hàng xa xỉ (đặc biệt là Thái Lan). Mặt khác vốn huy động gián tiếp thông qua thị trường chứng khoán tăng nhanh trong khi dự trữ quốc gia không cao. Hay do hệ thống luật pháp không thích hợp với cơ chế mới. hệ thống giáo dục kém phát triển.

. nước này không thể đổ lỗi hoàn toàn những hậu quả của cuộc khủng hoảng là do các nước kia.vậy.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->