P. 1
Cau Hoi on Thi Lop Doi Tuong Dang Vien Moi

Cau Hoi on Thi Lop Doi Tuong Dang Vien Moi

|Views: 99|Likes:
Được xuất bản bởisontvxd10

More info:

Published by: sontvxd10 on Sep 10, 2013
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

12/13/2013

pdf

text

original

Câu 1: Đ/c hãy phân tích những đặc trưng cơ bản của xã hội XHCN mà nhân dân

ta xây dựng theo tinh thần NQ Đại hội X của Đảng ? Mục tiêu chủa Đảng và nhân dân ta là xây dựng thành công CNXH và cuối cùng là chủ nghĩa Cộng sản. Tổng kết một số vấn đề lí luận và thực tiễn qua 20 năm đổi mới, Đại hội X (4/2006) đã bổ sung, phát triển, nêu lên 8 đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở nước ta: - Một là, xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh (Đây là đặc trưng mới mà Cương lĩnh 1991 chưa đề cập). - Hai là, do nhân dân làm chủ ( CL 1991 nói: do nhân dân lao động làm chủ). Nói nhân dân là phù hợp với mục tiêu xây dựng Nhà nước ta là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, nói nhân dân làm chủ có lợi hơn cho đại đoàn kết, tạo ra sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Thực chất nhân dân ở đây là nhân dân lao động, chiếm đại bộ phận dân cư. - Ba là, có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất . Việc bỏ cụm từ “dựa trên sự công hữu về tư liệu sản xuất” là xuất phát từ thực tế ở nước ta hiện nay tồn tại 3 hình thức sở hữu cơ bản (toàn dân, tập thể, tư nhân). - Bốn là, có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (đặc trưng này giống như CL 1991 đã nêu) . - Năm là, con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện. So với CL 1991, có điều chỉnh, bỏ cụm từ “ bóc lột ”. Đây là xuất phát từ bản chất chế độ chúng ta xây dựng không phải là chế độ bóc lột, nhưng hiện nay, hiện tượng bóc lột thì vẫn còn, do trình độ sản xuất quy định, và còn có ý nghĩa thúc đẩy kinh tế phát triển. - Sáu là, các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ . Về cơ bản, giống như CL 1991 đã nêu, nhưng có bổ sung thêm từ“tương trợ”, để phù hợp với thực tế phát huy lợi thế phát triển của từng vùng, từng dân tộc. - Bảy là, có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của ĐCS. Cương lĩnh năm 1991 chưa nói tới việc xây dựng nhà nước pháp quyền. Tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kì khóa VII ( 1-1994 ), Đảng ta chính thức đưa ra khái niệm “ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ”; các Đại hội VIII, IX, X tiếp tục khẳng định quan điểm này. Đây cũng là tư tưởng củaHồChíMinh về xây dựngNhànước - Tám là, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới. Đặc trưng này giống như CL 1991. Như vậy, so với Cương lĩnh năm 1991, về số lượng, Đại hội X bổ sung, phát triển thêm 2 đặc trưng (một và bảy ), và sửa đổi một số ý trong 6 đặc trưng nêu trong Cương lĩnh năm 1991. Đây là bước phát triển mới của Đảng trong nhận thức lý luận và tổng kết thực tiễn về xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Câu 2: Đồng chí hãy phân tích nhiệm vụ của đảng viên trong công tác xây dựng đảng ở cơ sở? * Trách nhiệm của đảng viên đối với tổ chức cơ sở đảng và chi bộ: Mỗi đảng viên phải sinh hoạt trong một tổ chức cơ sở đảng nhất định. Chất lượng của từng đảng viên góp phần tạo nên chất lượng của chi bộ, đảng bộ. nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, của chi bộ không thể tách rời việc nâng cao chất lượng đảng viên. Ngược lại, đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh tạo điều kiện để mỗi đảng viên thực hiện tốt vai trò và nhiệm vụ của mình, giữ vững tư cách người đảng viên. Vì vậy, đảng viên cần nêu cao trách nhiệm xây dựng đảng bộ, chi bộ. a) Đảng viên phải đóng góp tích cực với đảng bộ, chi bộ trong việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ sở, đơn vị. Để thực hiện yêu cầu này, đảng viên cần: - Thường xuyên học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao trình độ lý luận chính trị, phương pháp công tác khoa học. Thường xuyên học tập những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những tinh hoa văn hóa của nhân loại, những kiến thức mới của thời đại để không ngừng làm giàu trí tuệ của mình, từ đó góp phần cùng tổ chức Đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở. - Nắm vững và thực hiện nghiêm đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những chủ trương, nhiệm vụ của cấp ủy và chính quyền địa phương (tỉnh, thành; huyện, quận…) - Hiểu rõ tình hình thực tế ở cơ sở, đơn vị, những vấn đề đang đặt ra cần giải quyết. - Thường xuyên suy nghĩ, góp phần đề ra chủ trương và các giải pháp đúng đắn, sát hợp, có tính khả thi của đảng bộ, chi bộ để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của đơn vị. - Gương mẫu thực hiện nghị quyết và chấp hành sự phân công của đảng bộ, chi bộ; tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân và gia đình thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nhiệm vụ do đảng bộ, chi bộ đề ra. b) Đảng viên phải góp phần tích cực vào việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng có sự thống nhất cao về chính trị và tư tưởng, bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức, lối sống.

Để thực hiện yêu cầu trên, đảng viên cần: - Thực hiện chế độ học tập bắt buộc theo quy định của Đảng. Mọi cán bộ, đảng viên phải thực hiện nghiêm túc “chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng”. Trên cơ sở nâng cao nhận thức, kiên định những quan điểm có tính nguyên tắc của Đảng. - Gương mẫu, tự giác rèn luyện, phấn đấu nâng cao bản lĩnh chính trị; phẩm chất, đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”; chống chủ nghĩa cá nhân. Không làm những việc trái với quy định của Đảng, xa lạ với bản chất người đảng viên cộng sản. Không tham nhũng, làm ăn phi pháp; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực trong Đảng và trong nhân dân. - Kiên quyết đấu tranh với những nhận thức lệch lạc, mơ hồ, những biểu hiện thiếu kiên định về tư tưởng chính trị, giúp đồng chí nhận rõ và khắc phục những nhận thức, tư tưởng không đúng. Phê phán và bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch. - Phát huy tự do tư tưởng, tham gia thảo luận, tranh luận tìm ra chân lý, lẽ phải. Thực hiện đúng quyền được phát biểu ý kiến trong tổ chức, được bảo lưu ý kiến và chấp hành nghị quyết của Đảng. Không được truyền bá những quan điểm trái với quan điểm, đường lối của Đảng. c) Đảng viên phải đóng góp tích cực xây dựng đảng bộ, chi bộ vững mạnh về tổ chức, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ. Để thực hiện yêu cầu này, đảng viên cần: - Phát huy dân chủ, tích cực thảo luận và tham gia quyết định các chủ trương, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ, đồng thời thực hiện đúng nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng quyết định của tập thể. - Thường xuyên rèn luyện, tự giác đặt mình trong sự quản lý của chi bộ, đảng bộ; tham gia đầy đủ các kỳ sinh hoạt chi bộ, tuân thủ kỷ luật của Đảng. - Thực hiện nghiêm chế độ tự phê bình và phê bình. Khắc phục tình trạng tự phê bình một cách hình thức, chiếu lệ, không dũng cảm nêu ra và sửa chữa khuyết điểm. Không nể nang, xuê xoa trong phê bình, nhưng cũng không được lợi dụng phê bình để vu cáo, đả kích cá nhân, gây rối nội bộ. - Ra sức chăm lo, giữ gìn đoàn kết nội bộ trên cơ sở đường lối, chính sách, nghị quyết của Đảng và các quy định của Điều lệ Đảng; kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện chia rẽ, bè cánh, cục bộ do kèn cựa, tranh giành chức quyền, lợi lộc. - Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ Đảng; kiên quyết chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, làm suy yếu, hạ thấp đi đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Tham gia đấu tranh với những phần tử bất mãn, cơ hội chống đảng và những biểu hiện lệch lạc, trái quan điểm, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Câu 3: Đồng chí hãy trình bày nội dung phấn đấu rèn luyện của người đảng viên trong giai đoạn hiện nay? 1. Thực hiện tốt tiêu chuẩn đảng viên được quy định trong Điều lệ Đảng: Những tiêu chuẩn đảng viên trên đây thể hiện qua các điểm sau: - Về lập trường giai cấp, bản lĩnh chính trị. - Về nhận thức, kiến thức, năng lực toàn diện thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. - Về phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách. - Có ý thức tổ chức kỷ luật, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất của Đảng trên cơ sở thực hiện đúng các nguyên tắc của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, thường xuyên tự phê bình và phê bình. - Có quan hệ mật thiết với quần chúng. - Kết hợp chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân. 2. Không ngừng tự phấn đấu, rèn luyện để xứng đáng với danh hiệu người đảng viên cộng sản : Khái niệm: “đảng viên” bao hàm hai mặt: cá nhân một con người mang danh hiệu đảng viên và một thành viên của Đảng (của một tổ chức đảng cụ thể và của toàn Đảng nói chung). Người đảng viên chỉ xứng đáng với danh hiệu cao quý của mình khi làm tròn bổn phận trên cả hai tư cách đó, nhờ sự phấn đấu của bản thân và sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tổ chức đảng. - Về mặt cá nhân: Trước hết mỗi người đảng viên phải rèn luyện mình theo những đức tính của con người Việt Nam, đó là: + Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. + Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung. + Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái. + Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, nâng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.

+ Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực. - Về tư cách đảng viên thành viên của tổ chức đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức…, làm mực thước cho người ta bắt chước” . Đối với Đảng, “ Chúng ta vào Đảng là để hết lòng hết sức phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, làm tròn nhiệm vụ của người đảng viên”. + Yêu cầu của sự phấn đấu là giữ vững, tự khẳng định tư cách người cộng sản của mình và không ngừng vượt lên chính mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: “tất cả các đảng viên, cán bộ và chi bộ cần phải thường xuyên ôn lại, tự liên hệ và giữ đúng những tiêu chuẩn của ngưởi đảng viên …”, coi đó là cách tốt nhất để xứng đáng với danh hiệu người cộng sản. + Trong nhiệm vụ nâng cao nâng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, Nghị quyết Đại hội X chỉ rõ: từng cán bộ, đảng viên … phải có ý chí phấn đấu vươn lên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức, không nể nang, né tránh; kiên quyết đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, suy thoái ở ngay trong bản thân mỗi đảng viên, trong từng tổ chức đảng, cơ quan nơi mình sinh hoạt, công tác, ở trong Đảng và trong xã hội; dũng cảm đấu tranh chống các tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch. - Về vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân “Đảng viên làm kinh tế tư nhân phải gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành Điều lệ Đảng và quy định của Ban Chấp hành Trung ương”. + Cơ sở để Đại hội thông qua chủ trương trên là do nước ta đang trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với trình độ phát triển thấp kém của lực lượng sản xuất. Nhiệm vụ trung tâm hiện nay là phát triển kinh tế, giải phóng mạnh mẽ các tiềm năng phát triển trong xã hội, trong đó có trên 3 triệu đảng viên. Đó là thực hiện lời dạy của V.I Lênin, phải qua “những bước trung gian”, “bắc những nhịp cầu nhỏ” từ sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội. + Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thành phần kinh tế cùng phát triển bình đẳng và đều là bộ phận cấu thành hữu cơ của nền kinh tế; kinh tế tư nhân không đối lập với kinh tế nhà nước. Phát triển kinh tế tư nhân cũng là để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. + Tuy nhiên, kinh tế tư nhân, do chịu tác động của các quy luật thị trường có thể có những tác động tiêu cực đến tiêu chuẩn của người đảng viên. Để hạn chế những tác động tiêu cực đó, Nghị quyết Đại hội X yêu cầu đảng viên phải khác với những công dân khác là ngoài việc chấp hành đầy đủ chính sách, pháp luật của Nhà nước, còn phải chấp hành Điều lệ Đảng và những quy định trong Đảng, để làm kinh tế tư nhân nhưng vẫn đảm bảo tiêu chuẩn và giữ đúng tư cách đảng viên. - Thực hiện Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung ương 3 khoá X đã thông qua những quy định đối với đảng viên làm kinh tế tư nhân. Nhiệm vụ của mỗi đảng viên khi làm kinh tế tư nhân là phải thực hiện tốt những quy định này. + Vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân ở nước ngoài ta đã xuất hiện từ lâu trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đại hội X đã thảo luận, biểu quyết và thông qua chủ trương “Đảng viên làm kinh tế tư nhân phải gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành Điều lệ Đảng và quy định của Ban Chấp hành Trung ương”. + Cơ sở để Đại hội thông qua chủ trương trên là do nước ta đang trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với trình độ phát triển thấp kém của lực lượng sản xuất. Nhiệm vụ trung tâm hiện nay là phát triển kinh tế, giải phóng mạnh mẽ các tiềm năng phát triển trong xã hội, trong đó có trên 3 triệu đảng viên. Đó là thực hiện lời dạy của V.I Lênin, phải qua “những bước trung gian”, “bắc những nhịp cầu nhỏ” từ sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội. + Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thành phần kinh tế cùng phát triển bình đẳng và đều là bộ phận cấu thành hữu cơ của nền kinh tế; kinh tế tư nhân không đối lập với kinh tế nhà nước. Phát triển kinh tế tư nhân cũng là để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. + Tuy nhiên, kinh tế tư nhân, do chịu tác động của các quy luật thị trường có thể có những tác động tiêu cực đến tiêu chuẩn của người đảng viên. Để hạn chế những tác động tiêu cực đó, Nghị quyết Đại hội X yêu cầu đảng viên phải khác với những công dân khác là ngoài việc chấp hành đầy đủ chính sách, pháp luật của Nhà nước, còn phải chấp hành Điều lệ Đảng và những quy định trong Đảng, để làm kinh tế tư nhân nhưng vẫn đảm bảo tiêu chuẩn và giữ đúng tư cách đảng viên. - Thực hiện Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung ương 3 khoá X đã thông qua những quy định đối với đảng viên làm kinh tế tư nhân. Nhiệm vụ của mỗi đảng viên khi làm kinh tế tư nhân là phải thực hiện tốt những quy định này.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->