P. 1
BAI_GIANG_KCT_22TCN_272-05-version_1

BAI_GIANG_KCT_22TCN_272-05-version_1

|Views: 6,199|Likes:
Được xuất bản bởiminh_hoang221981

More info:

Published by: minh_hoang221981 on Aug 21, 2009
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

05/11/2014

pdf

text

original

Trong thép công trình, các mặt cắt ngang cột thường mảnh và các TTGH khác thường đạt
tới trướckhi vật liệu bị phá hỏng. Các TTGH khác này có liên quan đến sự mất ổn định
quá đàn hồi và sự mất ổn định của cấu kiện mảnh. Chúng bao gồm mất ổn định ngang,
mất ổn định cục bộ và mất ổn định xoắn ngang của cấu kiện chịu nén. Mỗi TTGH đều
phải được kết hợp chặt chẽ trong các quy tắc thiết kế được xây dựng để chọn cấu kiện
chịu nén.

Để nghiên cứu hiện tượng mất ổn định, trước hết xét một cột thẳng, đàn hồi tuyệt đối,
hai đầu chốt. Khi lực nén dọc trục tác dụng vào cột tăng lên, cột vẫn thẳng và co ngắn đàn
hồi cho đến khi đạt tải trọng tới hạnPcr. Tải trọng tới hạn được định nghĩa làtải trọng nén
dọc trục nhỏ nhất màứng với nó, một chuyển vị ngang nhỏ làm cho cột bị cong ngang và
tìm thấy một sự cân bằng mới. Định nghĩa về tải trọng tới hạn này được biểu diễn trên các
đường cong tải trọng- chuyển vị của hình 4.1.

Trong hình 4.1,điểm mà tại đó có sự thay đổi ứng xử được gọi làđiểm rẽ. Đường tải
trọng- chuyển vị là thẳng đứng cho tới điểm này, sau đó thân cột di chuyển sang phải
hoặc sang trái tuỳ theo hướng của tác động ngang. Khi độ võng ngang trở nên khác
không, cột bị hư hỏng do oằn và lý thuyết biến dạng nhỏ dự báo rằng, không thể tiếp tục
tăng lực dọc trục được nữa. Nếu sử dụng lý thuyết biến dạng lớn thìứng suất phụ sẽ phát
triển và đápứng tải trọng- chuyển vị sẽ tuân theo đường rời nét trên hình 4.1.

Lời giải theo lý thuyết biến dạng nhỏ về vấn đề mất ổn định đãđượcEuler công bố
năm 1759. Ông đã chứng minh rằng, tải trọng gây oằn tới hạnPcr có thể được tính bằng
công thức sau:

(4.1)

http://www.ebook.edu.vn

Bài giảng Kết cấu thép theo Tiêu chuẩn 22 TCN 272-05 và AASHTO LRFD

68

Hình 4.1

Biểu đồ tải trọng-chuyển vị đối với các cột đàn hồi

trong đó,

Emô đun đàn hồi của vật liệu,

Imô men quán tính của mặt cắt ngang cột quanh trục trọng tâm vuông góc với mặt
phẳng oằn,

Lchiều dài cột có hai đầu chốt.

Công thức này rất quen thuộc trong cơ học và phần chứng minh nó không được trình bày
ở đây.

Công thức 4.1 cũng có thể được biểu diễn theo ứng suất oằn tới hạn cr khi chia cả
hai vế cho diện tích nguyên của mặt cắt ngangAs

Khi sử dụng định nghĩa về bán kính quán tính của mặt cắtI = Ar2

, biểu thức trên được

viết thành




(4.2)

trong đó,L/rthường được xem là chỉ số độ mảnh của cột. Sự oằn sẽ xảy ra quanh trục
trọng tâm có mô men quán tính nhỏ nhấtI (công thức 4.1) hay có bán kính quán tính nhỏ
nhấtr (công thức 4.2). Đôi khi, trục trọng tâm tới hạn lại xiên, như trong cấu kiện chịu
nén bằng thép góc đơn. Trong bất kỳ trường hợp nào, tỷ số độ mảnh lớn nhất đều phải
được xác định vì nó khống chế ứng suất tới hạn trên mặt cắt ngang.

Ứng suất gây oằn tới hạn lý tưởng được cho trong công thức (4.2) bị ảnh hưởng bởi
ba thông số cường độ chính: liên kết ở hai đầu, ứng suất dư và độ cong ban đầu. Hai

http://www.ebook.edu.vn

Bài giảng Kết cấu thép theo Tiêu chuẩn 22 TCN 272-05 và AASHTO LRFD

69

thông số sau phụ thuộc vào phương thức chế tạo cấu kiện. Các thông số này vàảnh hưởng
của chúng đối với cường độ oằn sẽđược thảo luận trong các phần tiếp theo.

Chiều dài hữu hiệu của cột

Bài toán mất ổn định đãđược giải quyết bởiEuler là đối với một cột lý tưởng không có
liên kết chịu mô men ở hai đầu. Đối với cột có chiều dàiL mà các đầu của nó không
chuyển vị ngang, sự ràng buộc ở đầu cấu kiện bởi liên kết với các cấu kiện khác sẽ làm
cho vị trí của các điểm có mô men bằng không dịch xa khỏi các đầu cột. Khoảng cách
giữa các điểm có mô men bằng không là chiều dài cột hữu hiệu hai đầu chốt, trong trường
hợp nàyK < 1. Nếu liên kết ở đầu là chốt hoặc ngàm thì các giá trị tiêu biểu củaK trường
hợp không có chuyển vị ngang được biểu diễn trong ba sơ đồ đầu tiên của hình 4.2.

Nếu một đầu cột có chuyển vị ngang so với đầu kia thì chiều dài cột hữu hiệu có thể
lớn hơn chiều dài hình học, khi đóK > 1.Ứng xử này được thể hiện trong hai sơ đồ sau
của hình 4.2 với một đầu tự do và đầu kia là ngàm hoặc chốt. Tổng quát, ứng suất oằn tới
hạn cho cột có chiều dài hữu hiệuKL có thể được tính bằng công thức sau khi viết lại biểu
thức (4.2):


(4.3)

vớiK là hệ số chiều dài hữu hiệu.

Các ràng buộc đầu cột trong thực tế nằm đâu đó trong khoảng giữa chốt và ngàm, phụ
thuộc vào độ cứng của các liên kết đầu cột. Đối với các liên kết bằng bu lông hoặc hànở
cả hai đầu của cấu kiện chịu nén bị cản trở chuyển vị ngang,Kcó thể được lấy bằng 0,75.
Do đó, chiều dài hữu hiệu của các cấu kiện chịu nén trong các khung ngang và giằng
ngang có thể được lấy bằng 0,75L vớiL là chiều dài không được đỡ ngang củacấu kiện.

Hình 4.2

Liên kết ở đầu và chiều dài hữu hiệu của cột. (a) chốt-chốt, (b) ngàm-ngàm, (c) ngàm-chốt, (d)
ngàm-tự do, (e) chốt-tự do

Ứng suất dư

Ứng suất dư đãđược đề cập ở mục 1.3.2. Nói chung, ứng suất dư sinh ra bởi sự nguội
không đều của cấu kiện trong quá trình gia công hay chế tạo ở nhà máy. Nguyên tắc cơ
bản của ứng suất dư có thể được tóm tắt như sau: Các thớ lạnh đầu tiên chịu ứng suất dư
nén, các thớ lạnh sau cùng chịu ứng suất dư kéo (Bjorhovde, 1992).

http://www.ebook.edu.vn

Bài giảng Kết cấu thép theo Tiêu chuẩn 22 TCN 272-05 và AASHTO LRFD

70

Độ lớn của ứng suất dư thực tế có thể bằng ứng suất chảy của vật liệu. Ứng suất nén
dọc trục tác động thêm khi khai thác có thể gây chảy trong mặt cắt ngang ở mức tải trọng
thấp hơn so với dự kiếnFyAs.Ứng suất tổ hợp này được biểu diễn trên hình 4.3, trongđó
cr làứng suất dư nén, rt làứng suất dư kéo và a làứng suất nén dọc trục tác dụng
thêm. Các phần đầu của cấu kiện đã bị chảy dẻo trong khi phần bên trong vẫn còn làm
việc đàn hồi.

Hình 4.3(a)ứng suất dư, (b)ứng suất nén tác dụng và (c)ứng suất tổ hợp (Bjorhovde, 1992)

Độ cong ban đầu

Ứng suất dư phát triển trên chiều dài cấu kiện và mỗi mặt cắt ngang được giả thiết là chịu
một phân bố ứng suất tương tự như trong hình 4.3. Phân bố ứng suất không đều trên chiều
dài cấu kiện sẽ chỉ xảy ra khi quá trình làm lạnh là không đều. Điều thường gặp là một
cấu kiện sau khi được cán ở trong xưởng thép sẽ được cắt theo chiều dài và được đặt sang
một bên để làm nguội. Các cấu kiện khác nằm cạnh nó trên giá làm lạnh sẽ ảnh hưởng đến
mức độ nguội đi của cấu kiện này.

Nếu một cấu kiện nóngnằm ở một bên và một cấu kiện ấm nằm ở bên kia thì sự
nguội sẽ là không đều trên mặt cắt. Ngoài ra, các đầu bị cắt sẽ nguội nhanh hơn phần
thanh còn lại và sự nguội sẽ không đều trên chiều dài cấu kiện. Sau khi thanh nguội đi,
phân bố ứng suất dư không đều sẽ làm cho thanh bị vênh, cong, thậm chí bị vặn. Nếu
thanh được dùng làm cột thì có thể không còn thoả mãn giả thiết là thẳng tuyệt đối mà
phải được xem là có độ cong ban đầu.

Một cột có độ cong ban đầu sẽ chịu mô men uốn khi có lực dọc trục tác dụng. Một
phần sức kháng của cột được sử dụng để chịu mô men uốn này và sức kháng lực dọc sẽ
giảm đi. Do vậy, cột không hoàn hảo có khả năng chịu lực nhỏ hơn so với cột lý tưởng.

http://www.ebook.edu.vn

Bài giảng Kết cấu thép theo Tiêu chuẩn 22 TCN 272-05 và AASHTO LRFD

71

Độ cong ban đầu trong thép cán I cánh rộng, theo thống kê, được biểu diễn trên hình
4.4ở dạng phân số so với chiều dài cấu kiện. Giá trị trung bình của độ lệch tâm ngẫu
nhiêne1 làL/1500, trong khi giá trị lớn nhất vào khoảngL/1000 (Bjorhovde, 1992).

Hình 4.4Sự biến thiên của độ cong ban đầu theo thống kê (Bjorhovde, 1992).

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->