P. 1
Ảnh hưởng của môi trường đến con người

Ảnh hưởng của môi trường đến con người

|Views: 5,160|Likes:
Được xuất bản bởihuanbui

More info:

Published by: huanbui on Dec 05, 2009
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

04/23/2013

pdf

text

original

Ảnh hưởng của môi trường đến con người Nhiệt độ.

Nhiệt độ là yếu tố gây cảm giác nóng lạnh đối với con người. Cơ thể con người có nhiệt độ là tct = 37oC. Trong quá trình vận động cơ thể con người luôn luôn toả ra nhiệt lượng qtỏa. Lượng nhiệt do cơ thể toả ra phụ thuộc vào cường độ vận động. Để duy trì thân nhiệt cơ thể thường xuyên trao đổi nhiệt với môi trường. Sự trao đổi nhiệt đó sẽ biến đổi tương ứng với cường độ vận động. Có 2 hình thức trao đổi nhiệt với môi trường xung quanh. - Truyền nhiệt : Truyền nhiệt từ cơ thể con người vào môi trường xung quanh dưới 3 cách: dẫn nhiệt, đối lưu và bức xạ. Nói chung nhiệt lượng trao đổi theo hình thức truyền nhiệt phụ thuộc chủ yếu vào độ chênh nhiệt độ giữa cơ thể và môi trường xung quanh. Lượng nhiệt trao đổi này gọi là nhiệt hiện . Ký hiệu qh Khi nhiệt độ môi trường tmt nhỏ hơn thân nhiệt, cơ thể truyền nhiệt cho môi trường, khi nhiệt độ môi trường lớn hơn thân nhiệt thì t = tct-tmt lớn,∆ cơ thể nhận nhiệt từ môi trường. Khi nhiệt độ môi trường bé, qh lớn, cơ thể mất nhiều nhiệt nên có cảm giác lạnh và ngược lại khi nhiệt độ môi trường lớn khả năng thải nhiệt ra môi trường giảm nên có cảm giác nóng. t = tct-tmt và tốc độ chuyển động của không khí .∆ Nhiệt hiện qh phụ thuộc vào Khi nhiệt độ môi trường không đổi, tốc độ không khí ổn định thì qh không đổi. Nếu cường độ vận động của con người thay đổi thì lượng nhiệt hiện qh không thể cân bằng với lượng nhiệt do cơ thể sinh ra. Để thải hết nhiệt lượng do cơ thể sinh ra, cần có hình thức trao đổi thứ 2, đó là toả ẩm. - Tỏa ẩm : Ngoài hình thức truyền nhiệt cơ thể còn trao đổi nhiệt với môi trường xung quanh thông qua tỏa ẩm. Tỏ ẩm có thể xảy ra trong mọi phạm vi nhiệt độ và khi nhiệt độ môi trường càng cao thì cường độ càng lớn. Nhiệt năng của cơ thể được thải ra ngoài cùng với hơi nước dưới dạng nhiệt ẩn, nên lượng nhiệt này được gọi là nhiệt ẩn. Ký hiệu qw. Ngay cả khi nhiệt độ môi trường lớn hơn 37oC, cơ thể con người vẫn thải được nhiệt ra môi trường thông qua hình thức tỏa ẩm, đó là thoát mồ hôi . Người ta đã tính được rằng cứ thoát 1 g mồ hôi thì cơ thể thải được một lượng nhiệt xấp xỉ 2500J. Nhiệt độ càng cao, độ ẩm môi trường càng bé thì mức độ thoát mồ hôi càng nhiều. Nhiệt ẩn có giá trị càng cao khi hình thức thải nhiệt bằng truyền nhiệt không thuận lợi. Tổng nhiệt lượng truyền nhiệt và tỏa ẩm phải đảm bảo luôn luôn bằng lượng nhiệt do cơ thể sản sinh ra. Mối quan hệ giữa 2 hình thức phải luôn luôn đảm bảo : qtỏa = qh + qW Đây là một phương trình cân bằng động, giá trị của mỗi một đại lượng trong phương trình có thể thay đổi tuỳ thuộc vào cường độ vận động, nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ chuyển động của không khí môi trường xung quanh...vv Nếu vì một lý do gì đó mất cân bằng thì sẽ gây rối loạn và sinh đau ốm Nhiệt độ thích hợp nhất đối với con người nằm trong khoảng 22-27 oC . Độ ẩm tương đối

Độ ẩm tương đối có ảnh hưởng quyết định tới khả năng thoát mồ hôi vào trong môi trường không khí xung quanh. Quá trình này chỉ ϕ có thể tiến hành khi < 100%. Độ ẩm càng thấp thì khả năng thoát mồ hôi càng cao, cơ thể cảm thấy dễ chịu. Độ ẩm quá cao, hay quá thấp đều không tốt đối với con người. - Độ ẩm cao : Khi độ ẩm tăng lên khả năng thoát mồ hôi kém, cơ thể cảm thấy rất nặng nề , mệt mỏi và dễ gây cảm cúm. Người ta nhận thấy ở một nhiệt độ và tốc độ gió không đổi khi độ ẩm lớn khả năng bốc mồ hôi chậm hoặc không thể bay hơi được, điều đó làm cho bề mặt da có lớp mồ hôi nhớp nháp. - Độ ẩm thấp : Khi độ ẩm thấp mồi hôi sẽ bay hơi nhanh làm da khô, gây nứt nẻ chân tay, môi ...vv. Như vậy độ ẩm quá thấp cũng không tốt cho cơ thể. Độ ẩm thích hợp đối với cơ thể con người nằm trong 70%.÷ = 50ϕ khoảng tương đối rộng Tốc độ không khí Tốc độ không khí xung quanh có ảnh hưởng đến cường độ trao đổi nhiệt và trao đổi chất (thoát mồ hôi) giữa cơ thể con người với môi trường xung quanh. Khi tốc độ lớn cường độ trao đổi nhiệt ẩm tăng lên. Vì vậy khi đứng trước gió ta cảm thấy mát và thường da khô hơn nơi yên tĩnh trong cùng điều kiện về độ ẩm và nhiệt độ . Khi nhiệt độ không khí thấp, tốc độ quá lớn thì cơ thể mất nhiệt gây cảm giác lạnh. Tốc độ gió thích hợp tùy thuộc vào nhiều yếu tố : nhiệt độ gió, cường độ lao động, độ ẩm, trạng thái sức khỏe của mỗi người. . .vv. Trong kỹ thuật điều hòa không khí người ta chỉ quan tâm tốc độ gió trong vùng làm việc, tức là vùng dưới 2m kể từ sàn nhà. Đây là vùng mà một người bất kỳ khi đứng trong phòng đều lọt thỏm vào trong khu vực đó. Nồng độ các chất độc hại. Khi trong không khí có các chất độc hại chiếm một tỷ lệ lớn thì nó sẽ có ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Mức độ tác hại của mỗi một chất tùy thuộc vào bản chất chất khí, nồng độ của nó trong không khí, thời gian tiếp xúc của con người, tình trạng sức khỏe ...vv. Các chất độc hại bao gồm các chất chủ yếu sau : - Bụi : Bụi ảnh hưởng đến hệ hô hấp . Tác hại của bụi phụ thuộc vào bản chất bụi, nồng độ và kích thước của nó. Kích thước càng nhỏ thì càng có hại vì nó tồn tại trong không khí lâu và khả năng thâm nhập vào cơ thể sâu hơn và rất khó khử bụi. Hạt bụi lớn thì khả năng khử dễ dàng hơn nên ít ảnh hưởng đến con người. Bụi có 2 nguồn gốc hữu cơ và vô cơ. - Khí CO2, SO2 . . Các khí này không độc, nhưng khi nồng độ của chúng lớn thì sẽ làm giảm nồng độ O2 trong không khí, gây nên cảm giác mệt mỏi. Khi nồng độ quá lớn có thể dẫn đến ngạt thở . - Các chất độ hại khác : Trong quá trình sản xuất và sinh hoạt trong không khí có thể có lẫn các chất độc hại như NH3, Clo . . vv là những chất rất có hại đến sức khỏe con người. Cho tới nay không có tiêu chuẩn chung để đánh giá mức độ ảnh hưởng tổng hợp của các chất độc hại trong không khí.

Tuy các chất độc hại có nhiều nhưng trên thực tế trong các công trình dân dụng chất độc hại phổ biến nhất đó là khí CO2 do con người thải ra trong quá trình hô hấp. Vì thế trong kỹ thuật điều hoà người ta chủ yếu quan tâm đến nồng độ CO2. Để đánh giá mức độ ô nhiểm người ta dựa vào nồng độ CO2 có trong không khí. Bảng 2.1 trình bày mức độ ảnh hưởng của nồng độ CO2 trong không khí . Theo bảng này khi nồng độ CO2 trong không khí chiếm 0,5% theo thể tích là gây nguy hiểm cho con người. Nồng độ cho phép trong không khí là 0,15% theo thể tích. Bảng 2.1 : Ảnh hưởng của nồng độ CO2 trong không khí Nồng độ CO2% Mức độ ảnh hưởng thể tích 0,07 - Chấp nhận được ngay cả khi có nhiều người trong phòng 0,10 - Nồng độ cho phép trong trường hợp thông thường 0,15 - Nồng độ cho phép khi dùng tính toán thông gió 0,20-0,50 - Tương đối nguy hiểm > 0,50 - Nguy hiểm - Hệ thần kinh bị kích thích gây ra thở sâu và nhịp thở gia tăng. Nếu hít 5÷ 4 thở trong môi trường này kéo dài thì có thể gây ra nguy hiểm. - Nếu thở trong môi trường này kéo dài 10 phút thì mặt đỏ bừng và đau 8 đầu 18 hoặc lớn hơn - Hết sức nguy hiểm có thể dẫn tới tử vong. Độ ồn Người ta phát hiện ra rằng khi con người làm việc lâu dài trong khu vực có độ ồn cao thì lâu ngày cơ thể sẽ suy sụp, có thể gây một số bệnh như : Stress, bồn chồn và gây các rối loạn gián tiếp khác. Độ ồn tác động nhiều đến hệ thần kinh. Mặt khác khi độ ồn lớn có thể làm ảnh hưởng đến mức độ tập trung vào công việc hoặc đơn giản hơn là gây sự khó chịu cho con người. Ví dụ các âm thanh của quạt trong phòng thư viện nếu quá lớn sẽ làm mất tập trung của người đọc và rất khó chịu. Vì vậy độ ồn là một tiêu chuẩn quan trọng không thể bỏ qua khi thiết kế một hệ thống điều hòa không khí. Đặc biệt các hệ thống điều hoà cho các đài phát thanh, truyền hình, các phòng studio, thu âm thu lời thì yêu cầu về độ ồn là quan trọng nhất. Ảnh hưởng của môi trường đến sản xuất. Con người là một yếu tố vô cùng quan trọng trong sản xuất. Các thông số khí hậu có ảnh hưởng nhiều tới con người có nghĩa cũng ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng sản phẩm một cách gián tiếp. Ngoài ra các yếu tố khí hậu cũng ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm. Trong phần này chúng ta chỉ nghiên cứu ở khía cạnh này. Nhiệt độ

Nhiệt độ có ảnh hưởng đến nhiều loại sản phẩm. Một số quá trình sản xuất đòi hỏi nhiệt độ phải nằm trong một giới hạn nhất định. Ví dụ : - Kẹo Sôcôla : 7 - 8 oC - Kẹo cao su : 20oC - Bảo quả rau quả : 10oC - Đo lường chính xác : 20 - 24 oC - Dệt: 20 - 32oC - Chế biến thịt, thực phẩm : Nhiệt độ cao làm sản phẩm chóng bị thiu . Bảng 2.2 dưới đây là tiêu chuẩn về nhiệt độ và độ ẩm của một số quá trình sản xuất thường gặp Bảng 2.2 : Điều kiện công nghệ của một số quá trình Quá trình Công nghệ sản xuất Nhiệt độ, oC Độ ẩm, % - Đóng và gói sách- Phòng in ấn33÷ 3321 ÷ 2720 50÷ 6040 ÷ 5050 Xưởng in Nơi lưu trữ giấy- Phòng làm bản ÷ 2424 ÷ 21 ÷ 4545 kẽm Sản xuất bia - Nơi lên men- Xử lý malt- Ủ chín- 24÷ 2216 ÷ 1518 65÷ 6045 ÷ 8550 Các nơi khác ÷ 410 ÷ 3 ÷ 7080 ÷ 50 2427÷ 2718 ÷ 24 80÷ 6570 ÷ 5550 ÷ 45 5038÷ 6040 55÷ 5045 ÷ 40

Xưởng bánh - Nhào bột- Đóng gói- Lên men Chế biến thực phẩm Công nghệ chính xác Xưởng len Xưởng sợi bông

- Chế biến bơ- Mayonaise- Macaloni 27÷ 162421 - Lắp ráp chính xác- Gia công khác - Chuẩn bị- Kéo sợi- Dệt - Chải sợi- Xe sợi- Dệt và điều tiết cho sợi 2424÷ 20

29÷ 2927 ÷ 2927 70÷ 6060 ÷ 6050 ÷ 27 25÷ 2522 ÷ 2522 90÷ 7070 ÷ 6560 ÷ 22 ÷ 55

Độ ẩm tương đối Độ ẩm cũng có ảnh nhiều đến một số sản phẩm - Khi độ ẩm cao có thể gây nấm mốc cho một số sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. - Khi độ ẩm thấp sản phẩm sẽ khô, giòn không tốt hoặc bay hơi làm giảm chất lượng sản phẩm hoặc hao hụt trọng lượng. Ví dụ - Sản xuất bánh kẹo : Khi độ ẩm cao thì kẹo chảy = 50-65%ϕ nước. Độ ẩm thích hợp cho sản xuất bánh kẹo là - Ngành vi điện tử , bán dẫn : Khi độ ẩm cao làm mất tính cách điện của các mạch điện Vận tốc không khí . Tốc độ không khí cũng có ảnh hưởng đến sản xuất nhưng ở một khía cạnh khác

- Khi tốc độ lớn : Trong nhà máy dệt, sản xuất giấy . . sản phẩm nhẹ sẽ bay khắp phòng hoặc làm rối sợi. Trong một số trường hợp thì sản phẩm bay hơi nước nhanh làm giảm chất lượng. Vì vậy trong một số xí nghiệp sản xuất người ta cũng qui định tốc độ không khí không được vượt quá mức cho phép. Độ trong sạch của không khí. Có nhiều ngành sản xuất bắt buộc phải thực hiện trong phòng không khí cực kỳ trong sạch như sản xuất hàng điện tử bán dẫn, tráng phim, quang học. Một số ngành thực phẩm cũng đòi hỏi cao về độ trong sạch của không khí tránh làm bẩn các thực phẩm. PHÂN LOẠI CÁC HỆ THỐNG ĐIỀU HOÀ KHÔNG KHÍ Định nghĩa Điều hòa không khí còn gọi là điều tiết không khí là quá trình tạo ra và giữ ổn định các thông số trạng thái của không khí theo một chương trình định sẵn không phụ thuộc vào điều kiện bên ngoài. Khác với thông gió, trong hệ thống điều hòa , không khí trước khi thổi vào phòng đã được xử lý về mặt nhiệt ẩm. Vì thế điều tiết không khí đạt đạt hiệu quả cao hơn thông gió. Phân loại các hệ thống điều hoà không khí Có rất nhiều cách phân loại các hệ thống điều hoà không khí. Dưới đây trình bày 2 cách phổ biến nhất : - Theo mức độ quan trọng : + Hệ thống điều hòa không khí cấp I : Hệ thống điều hoà có khả năng duy trì các thông số tính toán trong nhà với mọi phạm vi thông số ngoài trời. + Hệ thống điều hòa không khí cấp II : Hệ thống điều hoà có khả năng duy trì các thông số tính toán trong nhà với sai số không qúa 200 giờ trong 1 năm. + Hệ thống điều hòa không khí cấp III : Hệ thống điều hoà có khả năng duy trì các thông số tính toán trong nhà với sai số không qúa 400 giờ trong 1 năm. Khái niệm về mức độ quan trọng mang tính tương đối và không rõ ràng. Chọn mức độ quan trọng là theo yêu cầu của khách hàng và thực tế cụ thể của công trình. Tuy nhiên hầu hết các hệ thống điều hoà trên thực tế được chọn là hệ thống điều hoà cấp III. - Theo chức năng : + Hệ thống điều hoà cục bộ : Là hệ thống nhỏ chỉ điều hòa không khí trong một không gian hẹp, thường là một phòng. Kiểu điều hoà cục bộ trên thực tế chủ yếu sử dụng các máy điều hoà dạng cửa sổ , máy điều hoà kiểu rời (2 mãnh) và máy điều hoà ghép. + Hệ thống điều hoà phân tán : Hệ thống điều hòa không khí mà khâu xử lý nhiệt ẩm phân tán nhiều nơi. Có thể ví dụ hệ thống điều hoà không khí kiểu khuyếch tán trên thực tế như hệ thống điều hoà kiểu VRV (Variable Refrigerant Volume ) , kiểu làm lạnh bằng nước (Water chiller) hoặc kết hợp nhiều kiểu máy khác nhau trong 1 công trình.

+ Hệ thống điều hoà trung tâm : Hệ thống điều hoà trung tâm là hệ thống mà khâu xử lý không khí thực hiện tại một trung tâm sau đó được dẫn theo hệ thống kênh dẫn gió đến các hộ tiêu thụ. Hệ thống điều hoà trung tâm trên thực tế là máy điều hoà dạng tủ, ở đó không khí được xử lý nhiệt ẩm tại tủ máy điều hoà rồi được dẫn theo hệ thống kênh dẫn đến các phòng. CHỌN THÔNG SỐ TÍNH TOÁN CÁC HỆ THỐNG ĐIỀU HOÀ KHÔNG KHÍ Việc chọn các thông số tính toán bao gồm thông số tính toán trong nhà và ngoài trời. Đối với thông số tính toán trong nhà tuỳ thuộc vào mục đích của hệ thống điều hoà. - Đối với hệ thống điều hoà dân dụng, tức là hệ thống điều hoà chỉ nhằm mục đích tạo điều kiện tiện nghi cho con người. Các thông số tính toán trong nhà được lựa chọn theo các tiêu chuẩn sẽ nêu ở bảng 2-3 dưới đây. - Đối với hệ thống điều hoà công nghiệp , tức hệ thống điều hoà phục vụ công nghệ của một quá trình sản xuất cụ thể. Trong trường hợp này , người thiết kế phải lấy số liệu thực tế từ nhà sản xuất là chính xác và phù hợp nhất . Các thông số tính toán này có thể tham khảo ở bảng dữ liệu 1.2. Chọn nhiệt độ và độ ẩm tính toán Nhiệt độ và độ ẩm trong nhà Nhiệt độ và độ ẩm trong nhà được chọn tuỳ thuộc vào chức năng của phòng. Có thể chọn nhiệt độ và độ ẩm trong nhà theo bảng 2.3: Bảng 2.3 Nhiệt độ và độ ẩm tính toán trong phòng MÙA Hạng sang ĐÔNG MÙA HÈ Bình thườn KHU VỰC g , , , tT, tT, % % % tT, oC oC oC ϕ ϕ ϕ Khu công cộng : Chung cư, Nhà ở, Khách sạn, Văn 24÷ 23 phòng, Bệnh viện, trường học Cửa hàng, cửa hiệu : Ngân hàng, của hàng 26÷ 24 bánh kẹo, mỹ phẩm, siêu thị

50÷ 4 26÷ 2 50÷ 4 25÷ 2 35÷ 30 5 5 5 3

50÷ 4 27÷ 2 50÷ 4 24÷ 2 35÷ 30 5 5 5 2

Phòng thu âm thu lời, Nhà thờ, Quán bar, 26÷ 24 nhà hàng, nhà bếp. . . Nhà máy, phân xưởng, xí 27÷ 25 nghiệp Nhiệt độ và độ ẩm ngoài trời

55÷ 5 27÷ 2 60÷ 5 24÷ 2 40÷ 35 0 6 0 2

55÷ 4 29÷ 2 60÷ 5 23÷ 2 35÷ 30 5 7 0 0

Thông số ngoài trời được sử dụng để tính toán tải nhiệt được căn cứ vào tầm quan trọng của công trình, tức là tùy thuộc vào cấp của hệ thống điều hòa không khí và lấy theo bảng 2-4 dưới đây: Bảng 2.4 Nhiệt độ và độ ẩm tính toán ngoài trời Hệ thống Nhiệt độ tN , oC N, %ϕ Độ ẩm Hệ thống cấp I+ Mùa hè+ Mùa đông tmaxtmin (tmin)ϕ (tmax)ϕ

Hệ thống cấp II+ Mùa 0,5(tmax + ttbmax)0,5(tmin (ttbmin)]ϕ (tmin) + hè+ Mùa đông + ttbmin) ϕ (ttbmax)]0,5[ϕ (tmax) + ϕ 0,5[ Hệ thống cấp III+ Mùa ttbmaxttbmin (ttbmin)ϕ (ttbmax)ϕ hè+ Mùa đông Trong đó : tmax , tmin Nhiệt độ lớn nhất và nhỏ nhất tuyệt 15 giờ, tham khảo phụ lục PL-1÷ đối trong năm đo lúc 13 ttbmax , ttbmin Nhiệt độ của tháng nóng nhất trong năm, tham khảo phụ lục PL-2, và PL3. (tmin ) Độ ẩm ứng với nhiệt độ lớn nhấtϕ (tmax) , ϕ và nhỏ nhất tuyệt đối trong năm. Tuy nhiên do hiện nay các số liệu này ở Việt (ttbmin)ϕ (ttbmax) và ϕ Nam chưa có nên có thể lấy bằng (ttbmin ) Độ ẩm trung bình ứng vớiϕ (ttbmax) , ϕ tháng có nhiệt độ lớn nhất và nhỏ nhất trong năm, tham khảo phụ lục PL-4 Chọn tốc độ không khí tính toán trong phòng Tốc độ không khí lưu động được lựa chọn theo nhiệt độ không khí trong phòng nêu ở bảng 2.5. Khi nhiệt

KHÍ HẬU Nhiệt độ trung bình năm: 24-26 C. Mùa đông nhiệt độ tối thấp tuyệt đối khoảng 10-15oC. Mùa hè nhiệt độ tối cao tuyệt đối lên tới 3942oC, thường xảy ra vào thời kì có gió tây nam khô nóng, vùng núi nhiệt độ giảm rõ rệt, ở độ cao 1000m chỉ còn 30-34oC. Nhiệt độ mặt đất có thể lên tới 68-70oC. Trị số nhiệt độ này đã vượt giới hạn trên của nhiều loài cây trồng ở vùng nhiệt đới, ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng. Mùa lạnh ở Quảng Trị bắt đầu từ cuối tháng XI, kết thúc vào cuối tháng II năm sau. Riêng vùng Lao Bảo kết thúc sớm hơn 30 ngày. Mùa nóng ở Quảng Trị bắt đầu vào giữa tháng IV và kết thúc vào giữa tháng X, vùng thung lũng và núi thấp kết thúc sớm hơn khoảng 2 tháng. Biên độ nhiệt năm phía bắc Quảng Trị lớn hơn phía nam, đồng bằng hải đảo lớn hơn vùng núi. Tổng số giờ nắng trung bình năm: 1500-2000 giờ. Mùa đông nhiều mây và thời gian chiếu sáng ban ngày ngắn nên số giờ nắng ít, trung bình hàng tháng dưới 100 giờ. Mùa hạ lượng mây ít, thời gian chiếu sáng dài nên trung bình mỗi tháng có 180-250 giờ nắng. Độ ẩm tuyệt đối trung bình năm ở đồng bằng và trung du đạt 25-26 mb, vùng núi giảm xuống còn 23-24 mb. Độ ẩm tương đối trung bình năm: 80-85%. Những ngày ảnh hưởng của gió tây nam khô nóng, độ ẩm tương đối thấp < font> nhất giảm xuống 28-32%. Mùa đông, tuy độ Bản đồ phân vùng khí hậu nông nghiệp ẩm không khí trung bình lớn nhưng độ ẩm thấp nhất trong ngày có thể giảm xuống rất thấp còn 16-20% do có đợt không khí cực đới khô tràn sâu xuống phía nam. Lượng mưa trung bình năm: 2000-3000 mm. Điều kiện địa lý, địa hình và tác động của gió mùa là các yếu tố quyết định đến lượng và chế độ mưa của Quảng Trị. Nằm ở hai sườn Đông và Tây của dãy Trường Sơn nên Quảng Trị có chế độ mưa khá đặc biệt so với chế độ mưa của các tỉnh miền Bắc, Tây Nguyên và Nam Bộ. Vào mùa hạ gió mùa Tây Nam, sau khi vượt dãy Trường Sơn, do hiệu ứng "phơn" đã đem đến cho Quảng Trị loại hình thời tiết nắng nóng và khô. Mùa mưa ở Quảng Trị từ tháng VIII đến tháng XII, vùng núi thấp phía tây Trường Sơn mùa mưa từ tháng IV hoặc tháng V đến tháng XI, lượng mưa từ 1800 - 2100 mm chiếm 80 - 90% lượng mưa năm. Đây chính là điểm khác biệt giữa phần đông và tây Quảng Trị. Khi Bắc Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ đang mùa khô thì phần phía Tây Trường sơn thuộc Quảng Trị lượng mưa bắt đầu giảm. Đặc biệt từ tháng IX-XI hầu khắp lãnh thổ đều xảy ra mưa lớn với lượng mưa đạt từ 1100 - 1650 mm chiếm 55 - 66% lượng mưa năm 70 - 80% lượng mưa mùa. Đây là thời kỳ có lượng mưa lớn nhất trong năm do sự hoạt động xen kẽ và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các hệ thống thời tiết phía Nam như bão, dải hội tụ nhiệt đới..., giữa khối không khí nóng ẩm phía Nam và khối không khí lạnh ở phía Bắc. Tuy nhiên, sự phụ thuộc của lượng mưa vào nguồn cung cấp ẩm cũng không quan trọng bẵng những tác nhân gây mưa gắn liền với các điều kiện địa lý, địa hình của địa phương. Đó chính là nguyên nhân dẫn tới sự lệch pha trong mùa mưa của tỉnh từ mùa hạ sang mùa thu và từ đông sang tây.
o

Mùa khô bắt đầu từ tháng I hoặc tháng II đến tháng VII gồm đại bộ phận đất đai ở các vùng trung du-đồi gò và vùng đồng bằng ven biển, vùng cát trắng ven biển, hải đảo với tổng lượng đạt từ 400 - 700 mm chiến 23 -30% lượng mưa năm. Vùng núi thấp - thung lũng phía tây của tỉnh mùa khô bắt đầu từ tháng XII - IV năm sau với tổng lượng mưa từ 19-20% lượng mưa năm. Vùng phía đông thời kỳ từ tháng II-IV các vùng trung du, đồi gò và vùng đồng bằng ven biển có lượng mưa rất thấp,chỉ đạt 130 - 170 mm chiếm 6 - 7% tổng lượng mưa năm Tháng VI- VII là thời kỳ hoạt động cực thịnh của gió tây nam khô nóng nên lượng mưa cũng bị giảm đi. Vùng phía tây thuộc Khe Sanh, Tà Rụt có lượng mưa ít từ tháng XII đến tháng IV do sự chi phối của địa hình với dải Trường Sơn có đèo Lao Bảo chạy qua, những dãy núi cao (Sa Mùi, Voi Mẹp ..... ) như một bức thành chắn ngang ở phía Tây Bắc và Bắc nên vùng này trở nên khuất gió đối với gió mùa đông bắc. Do vậy, từ tháng XI, XII trở đi lượng mưa ở đây giảm nhanh rõ rệt. Về mùa hạ, vùng này là vùng đón gió với gió mùa Tây Nam, các khối không khí nóng ẩm từ phía nam đi lên đã cho lượng mưa khá lớn trước khi vượt qua núi xuống phía Đông của tỉnh, nên mùa mưa ở đây bắt đầu khá sớm, từ tháng IV hoặc tháng V. Tuy lượng mưa dồi dào như vậy, nhưng trên thực tế sản xuất nông nghiệp vẫn thiếu nước nghiêm trọng, do lượng mưa phân bố không đều, thường từ tháng II - IV và tháng VI - VIII lượng mưa ít nên các cây trồng đều thiếu ẩm, đặc biệt là các cây trồng cạn. : Điều kiện tự nhiên KHÍ HẬU

Biến đổi khí hậu là do nồng độ của khí hiệu ứng nhà kính tăng lên trong khí quyển ở mức độ cao làm cho trái đất ấm lên, nhiệt độ bề mặt trái đất nóng lên tạo ra các biến đổi đối với các vấn đề thời tiết hiện nay. Theo báo cáo mới nhất của Liên hiệp quốc, nguyên nhân của hiện tượng biến đổi khí hậu 90% do con người gây ra, 10% là do tự nhiên.

Biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu sẽ tác động đến những yếu tố cơ bản của đời sống nhân loại trên phạm vi toàn cầu - nước, lương thực, sức khỏe và môi trường. Hàng trăm triệu người có thể phải lâm nạn đói, thiếu nước và lụt lội tại vùng ven biển do trái đất nóng lên. BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến năng suất sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới. Tất cả những nạn nhân nhạy cảm nhất, bao gồm các quốc gia và các tầng lớp dân chúng nghèo nhất, sẽ phải hứng chịu sớm nhất và nặng nề nhất, mặc dù họ lại góp phần nhỏ nhất trong việc tạo ra các nguyên nhân BĐKH. Những phí tổn do các hiện tượng thời tiết cực trị gây ra, trong đó phải kể đến lũ lụt, hạn hán, bão, đã bắt đầu gia tăng ngay cả đối với những nước giàu. Sự ấm lên của trái đất có thể gây nên sự thay đổi về chế độ thủy văn của các con sông và tạo nên các thay đổi không lường trước được. Gia tăng nhiệt độ và sự thay đổi về lượng mưa sẽ làm cho sản xuất nông nghiệp không ổn định và dẫn đến các tác động tiêu cực đến nông dân trong các nước đang phát triển. Việt Nam được cảnh báo sẽ là một trong năm quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi sự biến đổi khí

hậu toàn cầu (bị ảnh hưởng thứ 2 sau Ấn Độ). Trong đó, ĐBSCL là một trong những khu vực phải hứng chịu những thách thức mới. Trước hết, Việt Nam có trên 12% bờ biển sẽ bị ngập sâu dưới mực biển 1m mà ảnh hưởng nhiều nhất được tập trung ở ĐBSCL và đồng bằng sông Hồng vì đây là khu thấp trũng có khuynh hướng bị biển dâng, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết xấu. Kế đến, ĐBSCL có khoảng 2,1 triệu ha (chiếm 50% diện tích) đất bị nhiễm mặn, đặc biệt trong mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5. Sự xâm nhập mặn là nguyên nhân hạn chế chính cho canh tác nông nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt ở các vùng này. Trong những năm gần đây, xâm nhập mặn đã có khuynh hướng ngày một lấn sâu vào trong đất liền. Tiếp theo, ĐBSCL có khoảng 1,6 triệu ha (chiếm 47% diện tích) đất bị nhiễm phèn, phân bố chủ yếu ở vùng tứ giác Long Xuyên - Hà Tiên , vùng Đồng tháp Mười, vùng Tây sông Hậu và một số nơi ở vùng bán đảo Cà Mau. Khi đất phèn bị khô hạn và nứt nẻ, ôxy sẽ xâm nhập vào tầng chứa pyrite (FeS 2) gây hiện tượng ôxy hoá và phóng thích ra H2SO4 và cá muối kim loại: sắt, nhôm,… làm cho đất và nước ruộng bị chua (pH<3,5), gây chết các loài tôm, cá và lúa. Không những thế, việc thâm canh tăng canh lúa (3vụ/năm) đã làm cho đất đai bị bạc màu, mất độ phì nhiêu (dẫn đến việc đầu tư phân bón, thuốc trừ sâu trong quá trình canh tác ngày một tăng gây mất cân đối đầu vào và đầu ra); suy giảm đa dạng sinh học nghiêm trọng do môi trường sống bị phá huỷ và ô nhiễm. Ngoài ra, nhiệt độ không khí ở vùng ĐBSCL tăng cao và xảy ra hạn hán thất thường. Trong 30 năm qua nhiệt độ tăng lên 0,5 0C. Trong năm có 240 ngày có nhiệt độ không khí >350C. Trong suốt 7 tháng mùa khô, lưu lượng sông Mekong giảm xuống thấp <2.500 m3/s, đôi khi chỉ còn 700 m3/s; mực nước ngầm thấp hơn 2-3m so với mùa mưa. Khô hạn đã làm gần 1,5 triệu ha đất không thể canh tác và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình cấp nước cho người dân. Hơn nữa, lượng mưa gia tăng trong khi số ngày mưa giảm làm cho lũ lụt có khuynh hướng tăng cao và không theo chu kỳ. Từ tháng 8-10, lũ trên sông Mekong có thể đạt đến 40.000 m3/s làm ngập phần lớn vùng tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên (thuộc các tỉnh An Giang, Kiên Giang), vùng Đồng tháp Mười (thuộc các tỉnh Đồng THáp, Long An, Tiền Giang). Diện tích vùng bị lũ hàng năm chiếm từ 1,2-1,9 triệu ha. Cuối cùng, nhiều dịch bệnh nguy hiểm đã xuất hiện và diễn biến phức tạp trên cây trồng, vật nuôi, thủy sản và cả con người: bệnh vàng lá gân xanh trên cây có múi; bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên cây lúa; bệnh cúm trên gia cầm; bệnh tai xanh trên heo; bệnh đốm trắng ở tôm; bệnh sốt xuất huyết và bệnh tay chân miệng trên người,… Để đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu nói trên, Chính phủ đã xây dựng chương trình hành động quốc gia nhằm hạn chế và ứng phó hiệu quả với các tác động tiêu cực của BĐKH trong từng giai đoạn nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước. Cụ thể là: Khôi phục rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn ven biển kết hợp xây dựng đê bao bán khép kín phía bên trong dãi rừng ngập mặn giúp đảm bảo điều hoà khí hậu, đa dạng sinh học, lưu giữ trầm tích nhằm giảm nhẹ thiệt hại khi có bão lũ hoặc sóng thần. Điều chỉnh lại quy hoạch tổng thể ĐBSCL, đưa vấn đề biến đổi khí hậu vào nội dung quy hoạch. Cân đối tỉ lệ diện tích đất đai giữa vùng thành thị (vùng tiêu thụ), vùng sản xuất (vùng nông nghiệp-thủy sản) và vùng bảo vệ (các khu bảo tồn, vườn quốc gia, rừng , đất ngập nước) đảm bảo phát triển bền vững kinh tế - xã hội - môi trường.

Cải tạo dòng chảy các sông rạch để tránh bị sạt lở bằng cách can thiệp cơ học nhỏ nhu nắn dòng chảy ở các đoạn sông có nguy cơ xói lở không đều. Củng cố và cải thiện các trạm quan trắc môi trường với các trang thiết bị hiện đại, giúp dự báo chính xác các sự cố về môi trường có thể xảy ra. Quy hoạch vị trí và cao trình các khu công nghiệp thích ứng với BĐKH, chống xả thải các chất gây hiệu ứng nhà kính và ô nhiễm môi trường nước. Đánh giá tác động môi trườngcho các cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Sử dụng hạn chế các nguồn năng lượng không tái tạo. Tìm kiếm và phát triển các nguồn năng lượng tái tạo: năng lượng mặt trời, thủy triều, năng lượng sinh học. Bảo tồn và phát triển các giống vật nuôi, cây trồng và thủy sản bản địa thích nghi tốt với các điều kiện khắc nghiệt của địa phương. Giảm bớt lượng phân bón, thuốc trừ sâu trên đồng ruộng để tránh ô nhiễm nguồn nước mặt. Xây dựng các mô hình sản xuất sạch. Ngoài ra, để đối phó với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong nông nghiệp, cần tăng cường hơn nữa vai trò của chính quyền địa phương, các nhóm cộng đồng và xã hội dân sự trong việc phát triển, thực hiện và giám sát các biện pháp thích ứng với thay đổi khí hậu tăng ngân sách cho nông nghiệp để cải thiện hạ tầng cơ sở, tạo các nguồn vốn trong dịch vụ nông nghiệp cho các hộ tiểu nông. Nhất là xây dựng các mạng lưới quản lý rủi ro khí hậu an toàn trong việc thực hành nông nghiệp bền vững đảm bảo trọng tâm an ninh lương thực, hỗ trợ nền nông nghiệp bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu là chìa khóa thúc đẩy nông dân gia tăng an ninh lương thực.
Biến đổi khí hậu là do nồng độ của khí hiệu ứng nhà kính tăng lên trong khí quyển ở mức độ cao làm cho trái đất ấm lên, nhiệt độ bề mặt trái đất nóng lên tạo ra các biến đổi đối với các vấn đề thời tiết hiện nay. Theo báo cáo mới nhất của Liên hiệp quốc, nguyên nhân của hiện tượng biến đổi khí hậu 90% do con người gây ra, 10% là do tự nhiên.

Biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu sẽ tác động đến những yếu tố cơ bản của đời sống nhân loại trên phạm vi toàn cầu - nước, lương thực, sức khỏe và môi trường. Hàng trăm triệu người có thể phải lâm nạn đói, thiếu nước và lụt lội tại vùng ven biển do trái đất nóng lên. BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến năng suất sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới. Tất cả những nạn nhân nhạy cảm nhất, bao gồm các quốc gia và các tầng lớp dân chúng nghèo nhất, sẽ phải hứng chịu sớm nhất và nặng nề nhất, mặc dù họ lại góp phần nhỏ nhất trong việc tạo ra các nguyên nhân BĐKH. Những phí tổn do các hiện tượng thời tiết cực trị gây ra, trong đó phải kể đến lũ lụt, hạn hán, bão, đã bắt đầu gia tăng ngay cả đối với những nước giàu. Sự ấm lên của trái đất có thể gây nên sự thay đổi về chế độ thủy văn của các con sông và tạo nên các thay đổi không lường trước được. Gia tăng nhiệt độ và sự thay đổi về lượng mưa sẽ làm cho sản xuất nông nghiệp không ổn định và dẫn đến các tác động tiêu cực đến nông dân trong các nước đang phát triển. Việt Nam được cảnh báo sẽ là một trong năm quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi sự biến đổi khí hậu toàn cầu (bị ảnh hưởng thứ 2 sau Ấn Độ). Trong đó, ĐBSCL là một trong những khu vực phải hứng chịu những thách thức mới. Trước hết, Việt Nam có trên 12% bờ biển sẽ bị ngập sâu dưới mực biển 1m mà ảnh hưởng nhiều nhất được tập trung ở ĐBSCL và đồng bằng sông Hồng vì đây là khu thấp trũng có khuynh hướng bị biển dâng, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết xấu. Kế đến, ĐBSCL có khoảng 2,1 triệu ha (chiếm 50% diện tích) đất bị nhiễm mặn, đặc biệt trong mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5. Sự xâm nhập mặn là nguyên nhân hạn chế chính cho canh tác nông nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt ở các vùng

này. Trong những năm gần đây, xâm nhập mặn đã có khuynh hướng ngày một lấn sâu vào trong đất liền. Tiếp theo, ĐBSCL có khoảng 1,6 triệu ha (chiếm 47% diện tích) đất bị nhiễm phèn, phân bố chủ yếu ở vùng tứ giác Long Xuyên - Hà Tiên , vùng Đồng tháp Mười, vùng Tây sông Hậu và một số nơi ở vùng bán đảo Cà Mau. Khi đất phèn bị khô hạn và nứt nẻ, ôxy sẽ xâm nhập vào tầng chứa pyrite (FeS 2) gây hiện tượng ôxy hoá và phóng thích ra H2SO4 và cá muối kim loại: sắt, nhôm,… làm cho đất và nước ruộng bị chua (pH<3,5), gây chết các loài tôm, cá và lúa. Không những thế, việc thâm canh tăng canh lúa (3vụ/năm) đã làm cho đất đai bị bạc màu, mất độ phì nhiêu (dẫn đến việc đầu tư phân bón, thuốc trừ sâu trong quá trình canh tác ngày một tăng gây mất cân đối đầu vào và đầu ra); suy giảm đa dạng sinh học nghiêm trọng do môi trường sống bị phá huỷ và ô nhiễm. Ngoài ra, nhiệt độ không khí ở vùng ĐBSCL tăng cao và xảy ra hạn hán thất thường. Trong 30 năm qua nhiệt độ tăng lên 0,5 0C. Trong năm có 240 ngày có nhiệt độ không khí >350C. Trong suốt 7 tháng mùa khô, lưu lượng sông Mekong giảm xuống thấp <2.500 m3/s, đôi khi chỉ còn 700 m3/s; mực nước ngầm thấp hơn 2-3m so với mùa mưa. Khô hạn đã làm gần 1,5 triệu ha đất không thể canh tác và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình cấp nước cho người dân. Hơn nữa, lượng mưa gia tăng trong khi số ngày mưa giảm làm cho lũ lụt có khuynh hướng tăng cao và không theo chu kỳ. Từ tháng 8-10, lũ trên sông Mekong có thể đạt đến 40.000 m3/s làm ngập phần lớn vùng tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên (thuộc các tỉnh An Giang, Kiên Giang), vùng Đồng tháp Mười (thuộc các tỉnh Đồng THáp, Long An, Tiền Giang). Diện tích vùng bị lũ hàng năm chiếm từ 1,2-1,9 triệu ha. Cuối cùng, nhiều dịch bệnh nguy hiểm đã xuất hiện và diễn biến phức tạp trên cây trồng, vật nuôi, thủy sản và cả con người: bệnh vàng lá gân xanh trên cây có múi; bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên cây lúa; bệnh cúm trên gia cầm; bệnh tai xanh trên heo; bệnh đốm trắng ở tôm; bệnh sốt xuất huyết và bệnh tay chân miệng trên người,… Để đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu nói trên, Chính phủ đã xây dựng chương trình hành động quốc gia nhằm hạn chế và ứng phó hiệu quả với các tác động tiêu cực của BĐKH trong từng giai đoạn nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước. Cụ thể là: Khôi phục rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn ven biển kết hợp xây dựng đê bao bán khép kín phía bên trong dãi rừng ngập mặn giúp đảm bảo điều hoà khí hậu, đa dạng sinh học, lưu giữ trầm tích nhằm giảm nhẹ thiệt hại khi có bão lũ hoặc sóng thần. Điều chỉnh lại quy hoạch tổng thể ĐBSCL, đưa vấn đề biến đổi khí hậu vào nội dung quy hoạch. Cân đối tỉ lệ diện tích đất đai giữa vùng thành thị (vùng tiêu thụ), vùng sản xuất (vùng nông nghiệp-thủy sản) và vùng bảo vệ (các khu bảo tồn, vườn quốc gia, rừng , đất ngập nước) đảm bảo phát triển bền vững kinh tế - xã hội - môi trường. Cải tạo dòng chảy các sông rạch để tránh bị sạt lở bằng cách can thiệp cơ học nhỏ nhu nắn dòng chảy ở các đoạn sông có nguy cơ xói lở không đều. Củng cố và cải thiện các trạm quan trắc môi trường với các trang thiết bị hiện đại, giúp dự báo chính xác các sự cố về môi trường có thể xảy ra. Quy hoạch vị trí và cao trình các khu công nghiệp thích ứng với BĐKH, chống xả thải các chất gây hiệu ứng nhà kính và ô nhiễm môi trường nước. Đánh giá tác động môi trườngcho các cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Sử dụng hạn chế các nguồn năng lượng không tái tạo. Tìm kiếm và phát triển các nguồn năng lượng tái tạo: năng lượng mặt trời, thủy triều, năng lượng sinh học.

Bảo tồn và phát triển các giống vật nuôi, cây trồng và thủy sản bản địa thích nghi tốt với các điều kiện khắc nghiệt của địa phương. Giảm bớt lượng phân bón, thuốc trừ sâu trên đồng ruộng để tránh ô nhiễm nguồn nước mặt. Xây dựng các mô hình sản xuất sạch. Ngoài ra, để đối phó với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong nông nghiệp, cần tăng cường hơn nữa vai trò của chính quyền địa phương, các nhóm cộng đồng và xã hội dân sự trong việc phát triển, thực hiện và giám sát các biện pháp thích ứng với thay đổi khí hậu tăng ngân sách cho nông nghiệp để cải thiện hạ tầng cơ sở, tạo các nguồn vốn trong dịch vụ nông nghiệp cho các hộ tiểu nông. Nhất là xây dựng các mạng lưới quản lý rủi ro khí hậu an toàn trong việc thực hành nông nghiệp bền vững đảm bảo trọng tâm an ninh lương thực, hỗ trợ nền nông nghiệp bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu là chìa khóa thúc đẩy nông dân gia tăng an ninh lương thực. Do ảnh hưởng của đợt rét đậm, rét hại kéo dài từ ngày 14/01 đến nay, hầu hết diện tích lúa và rau, màu, cây công nghiệp vụ sản xuất Đông Xuân trên toàn tỉnh Thừa Thiên Huế đã bị ảnh hưởng rất lớn, thời gian sinh trưởng chậm, không phát triển; đàn gia súc, gia cầm bị chết do đói, rét đang ảnh hưởng trực tiếp đến vụ sản xuất Đông Xuân, sinh hoạt và đời sống của nhân dân.

Rét đậm, rét hại kéo dài đã ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, nhiều diện tích lúa vụ Đông Xuân bị vàng lá, trắng lá do không thể ra rễ và phát triển, tập trung chủ yếu giống lúa ngắn ngày gieo sạ cuối vụ. Trên 8.250 ha trà lúa ngắn ngày bị trắng lá, trong đó 2.083 ha bị hư hại nặng, có một số diện tích lúa bị chết. Các huỵên có diện tích bị thiệt hại nặng như: Phong Điền 2.500 ha, Phú Vang 2.100 ha, Quảng Điền 600 ha, Phú Lộc 700 ha, A Lưới 852 ha, Hương Trà 420 ha… Thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài cũng đã làm ảnh hưởng đến tiến độ gieo lạc, trồng sắn, ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm và sinh trưởng của hơn 300 ha lạc và nhiều diện tích ngô gieo trong thời gian này. Theo thống kê ban đầu, từ ngày 06/02/2008 - 17/02/2008, đã có 275 trâu bò, bê nghé chết do rét lạnh và thiếu thức ăn. Trong đó: huyện Quảng Điền chết 23 con; huyện Nam Đông chết 39 con; huyện A Lưới chết 25 con; huyện Phong Điền chết 103 con, huyện Hương Thuỷ chết 30 con, huyện Hương Trà chết 29 con, huyện Phú Vang chết 20 con, huyện Phú Lộc chết 14 con và thành phố Huế chết 02 con. Để kịp thời khắc phục hậu quả do đợt rét đậm, rét hại gây ra trong thời gian qua và tiếp tục chống rét trong thời gian tới; ngày 19/02/2008, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Ngọc Thiện đã có Công văn yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN & PTNT) và UBND các huyện thành phố Huế chỉ đạo khắc phục diện tích lúa đã cấy bị thiệt hại do rét, tích cực chống rét cho diện tích mạ đã gieo, chuẩn bị đủ giống để gieo sạ và cấy lại trong khung vụ Đông Xuân muộn khi qua đợt rét hại; có biện pháp hỗ trợ nông dân về giống lúa để gieo cấy lại; kiên quyết không để tình trạng bỏ ruộng hoang trong vụ Xuân do lúa chết rét hoặc thiếu mạ, thiếu lúa giống. Tăng cường huy động lực lượng Thú y và Khuyến nông cơ sở tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện các biện pháp như: Xây dựng, tu sửa, che chắn chuồng trại cho gia súc, gia cầm; tránh mưa dột, gió lùa để phòng các bệnh về đường hô hấp do rét và ẩm; vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, không để phân và nước thải ứ đọng tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển.

Đối với trâu bò nuôi thả núi, khẩn trương đưa về nhốt tại chuồng, hạn chế tối đa việc chăn thả gia súc khi có thông báo thời tiết rét đậm. Dự trữ chủ động các nguồn thức ăn cho gia súc, gia cầm như rơm khô, cỏ khô, dây lạc khô, tinh bột, cám... để cho ăn bồi dưỡng khi có rét đậm kéo dài. Cần chú ý chăm sóc gia súc non và già yếu, gia súc cày kéo. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện kế hoạch tiêm phòng bổ sung vaccine lở mồm long móng và vaccine cúm gia cầm đạt hiệu quả; Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tình hình dịch bệnh, áp dụng các biện pháp chống dịch đồng bộ, đặc biệt bệnh lở mồm long móng gia súc, cúm gia cầm, tai xanh ở lợn, nhất là tại các ổ dịch cũ.
Tác động của biến đổi khí hậu đối với nông, lâm nghiệp Sự biến động của thời tiết nước ta không thể tách rời những thay đổi lớn của khí hậu thời tiết toàn cầu. Chính sự biến đổi phức tạp của hệ thống khí hậu thời tiết toàn cầu đã và đang làm tăng thêm tính cực đoan của khí hậu thời tiết nước ta. Việt Nam là nơi bị ảnh hưởng của hiện tượng ElNinô. Mối quan hệ giữa ElNinô và khí hậu thời tiết ở Việt Nam đang được nghiên cứu. Tuy nhiên, một số biểu hiện của mối quan hệ này có thể thấy rõ qua những lần thiên tai xảy ra gần đây trên diện rộng ở Việt Nam. Sự biến động phức tạp của thời tiết có thể gây ra nhiều hậu quả khác nhau. Có thể nêu ra đây hai khía cạnh quan trọng nhất. Trước hết đó là khả năng tăng tần suất của các hiện tượng thiên tai như bão, lũ lụt. Mưa lũ tăng lên có nghĩa là nguy cơ ngập lụt đối với các vùng vốn thường xuyên bị ngập như Đồng bằng sông Cửu Long hoặc các vùng đất thấp khác sẽ không giảm, gây nhiễm mặn nhiễm phèn trên diện rộng. Hậu quả nghiêm trọng thứ hai chính là hạn hán. Nếu như các trận mưa lớn xảy ra có thể gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nhiễm phèn, xói lở đất làm thiệt hại đến mùa màng, tài sản và con người thì ngược lại những đợt hạn hán trầm trọng kéo dài có thể ảnh hưởng đến xã hội với qui mô lớn hơn nhiều. Sự thiếu nước không chỉ ảnh hưởng đến nông lâm nghiệp mà còn ảnh hưởng đến nhiều ngành sản xuất và đời sống xã hội. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, Việt Nam nằm trong số 5 nước sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Xu hướng biến đổi khí hậu sẽ kéo theo sự thay đổi của nhiều yếu tố tự nhiên khác như lượng bốc hơi tăng, độ ẩm giảm, nhiệt độ không khí tăng, băng tan và mực nước biển dâng. Những yếu tố đó ảnh hưởng trực tiếp tới con người, tới môi trường và toàn bộ đời sống kinh tế-xã hội. Sự thay đổi khí hậu ảnh hưởng tới các vùng với những mức độ khác nhau, cụ thể là: Đối với vùng núi và trung du phía Bắc: Độ che phủ trung bình của rừng ở khu vực này hiện nay khoảng 44,2% (Cục Kiểm Lâm, 31/12/2006). Tuy nhiên, độ che phủ này không đồng đều, thấp nhất là Hà Tây (7,4%), cao nhất là Tuyên Quang (61,8%). Mặc dù đã có nhiều dự án trữ nước được thực hiện, song do độ dốc lớn, địa hình bị chia cắt mạnh nên phần lớn các hồ chứa nước đều có quy mô nhỏ. Thêm vào đó, do độ che phủ của rừng không đồng đều và chất lượng rừng không cao nên trong những năm có lượng mưa nhỏ, việc phòng chống hạn không có mấy hiệu quả. Đối với vùng ven biển Trung Bộ: Độ che phủ của rừng trung bình tại vùng này khoảng 44,4%. Do địa hình phức tạp với các dãy núi cao chạy sát biển, xen kẽ với những đồng bằng nhỏ hẹp chịu ảnh hưởng nhiều của các đợt gió mùa nóng và khô , lượng mưa thấp nên điều kiện khí hậu của khu vực này khắc nghiệt nhất toàn quốc. Độ che phủ của rừng không đồng đều, lưu vực sông ngắn và dốc đã hạn chế khả năng điều tiết dòng chảy của hệ thống tưới tiêu và sông ngòi, dễ gây ra lũ lụt nhanh, bất ngờ và hạn hán kéo dài. Do vậy sản xuất lương thực gặp rất nhiều khó khăn và đời sống của nhân dân luôn ở trong tình trạng phải đối phó với thiên tai. Khu vực này cũng được coi là khu vực trọng điểm trong Chương trình hành động quốc gia chống hoang mạc hoá. Đối với vùng Tây Nguyên: Đây là vùng đất bazan rộng lớn nhất Việt Nam. Loại đất bazan thường dễ hấp thụ nước và do có độ che phủ trung bình của rừng cao nhất nước (54,5%) nên nguồn nước ngầm ở đây còn khá dồi dào. Tuy vậy, khí hậu bất thường trong các năm 1993, 1998, 2004 và sự khai thác quá mức nguồn nước cho trồng cây công nghiệp đã gây nên sự mất cân bằng nghiêm trọng giữa nước mặt và nước ngầm, giữa khả năng cung cấp nước tưới và yêu cầu phát triển sản xuất. Nguy cơ cháy rừng, mất rừng do nạn khai thác lậu và lấy đất trồng cây ngắn ngày vẫn đang là vấn đề bức xúc đối với ngành lâm nghiệp ở địa bàn đầu nguồn các con sông lớn và còn diện tích rừng tự nhiên lớn nhất cả nước này. Đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Đây là vùng có độ che phủ trung bình thấp nhất cả nước (12,1%). Nhiều nơi vùng châu thổ sông Mê Công bị tác động của phèn hoá ngày càng nặng do các

khu rừng Tràm bị phá hoại nghiêm trọng để lấy đất sản xuất nông nghiệp. Nhiều khu rừng ngập mặn cũng đã bị phá huỷ để làm hồ nuôi tôm. Việc phá huỷ lớp phủ bề mặt đã làm giảm khả năng giữ nước của đất, tạo điều kiện để các tầng nhiễm mặn dưới sâu xâm nhập dần lên bề mặt đất, gây mặn hóa, phèn hoá toàn bộ tầng đất mặt, làm chết nhiều loại cây trồng và thuỷ sản. Khu vực này cũng được coi là vùng sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của hiện tượng nước biển dâng. Trong vòng nửa thế kỷ qua, hầu như toàn bộ lãnh thổ Việt Nam đều trải qua những biến đổi lớn về khí hậu và thời tiết. Nhiệt độ có chiều hướng tăng lên. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hiện tượng mùa đông ngày càng ngắn hơn và ấm hơn. Tương tự như nhiệt độ, số giờ nắng và lượng mưa cũng thay đổi rõ nét. Sự thay đổi nhiệt độ và lượng mưa trên toàn quốc có xu hướng giống nhau và mức độ biến đổi ngày càng trở nên phức tạp. Sự biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp đã dẫn tới hậu quả là thiên tai ngày một thường xuyên và nghiêm trọng hơn. Có thể liệt kê mấy loại thiên tai có ảnh hưởng nhiều đến sản xuất nông lâm nghiệp: Bão: Không có sự gia tăng số lượng bão đổ bộ vào Việt Nam trong 10 năm gần đây nhưng sự bất thường và phức tạp của các cơn bão có thể quan sát được một cách rõ ràng. Chẳng hạn cơn bão Linda được hình thành và đổ bộ vào miền Nam rất nhanh cuối năm 1997 là cơn bão thuộc loại này, xảy ra duy nhất chỉ một lần trong suốt một thế kỷ. Mặc dù về quy mô đổ bộ vào miền Nam trong thế kỷ 20, Lin da chỉ xếp hàng thứ hai, nhưng về cường độ lại là cơn bão mạnh hơn rất nhiều lần so với cơn bão hồi đầu thế kỷ, và gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng. Các cơn bão liên tục đổ bộ vào miền Trung đã gây ra lụt lội nghiêm trọng ở các tỉnh ven biển miền Trung, gây ra triều cường và hiện tượng nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền, ảnh hưởng nặng nề tới sản xuất nông lâm nghiệp tại địa bàn. Gần đây, bão có xu hướng tiến sâu về phía Nam. Lũ lụt: ở Việt Nam, trong vòng 10 năm gần đây, hầu như hàng năm đều có lũ lụt nghiêm trọng xảy ra. Nhiều trận lụt lớn xảy ra tại miền Trung và gây ra tổn thất nghiêm trọng cho sản xuất ở vùng này. Trận lụt tháng 11 năm 1999 là trận lụt ghi nhiều kỷ lục của một giai đoạn vài chục năm, đặc biệt là về lượng mưa. Trong vòng 245 giờ, lượng mưa ở Huế đạt 1384 mm, là lượng mưa cao nhất thống kê được trong lịch sử ngành thuỷ văn ở Việt Nam và chỉ đứng thứ hai sau kỷ lục thế giới là 1870 mm đo được ở Đảo Reunion ở Thái Bình Dương vào năm 1952. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, lụt lội xảy ra thường xuyên hơn, đặc biệt trận lũ kéo dài trong năm 2000 là trận lũ lớn nhất trong vòng 70 năm qua. Lũ lụt cũng gây ra trượt lở đất ở vùng ven biển dẫn tới việc biển tiến sâu vào đất liền và gây ra hiện tượng nhiễm mặn ở vùng nội đồng. Lũ lụt cũng là loại thiên tai gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống đồng bào tại vùng nông thôn. Lũ quét và lũ ống: Loại thiên tai này kéo theo hiện tượng trượt lở đất, phá huỷ rừng, xói mòn đất và gây ra những thiệt hại về kinh tế - xã hội ở nhiều khu vực, đặc biệt là vùng nông thôn miền núi phía Bắc. Sự xói mòn xảy ra mạnh nhất ở độ cao 1000-2000 m và thường gây ra trượt lở đất, nứt đất khi có các trận mưa rào lớn. Do xói mòn mạnh, một lượng lớn các chất dinh dưỡng như nitơ, kali, canxi, magiê cùng các loài vi sinh vật bị cuốn rửa trôi. Đất dần dần mất khả năng tích nước và trở nên rắn, chặt hơn. Ngày 8 tháng 8 – 2008, cơn bão số 4, mưa lớn, lũ quét đã gây ra thiệt hại khá nặng nề đối với các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Ninh. Tính đến ngày 17 – 8 đã có 145 người chết và mất tích, 75 người bị thương, 307 ngôi nhà bị sập trôi, 4.260 nhà bị ngập, 3.700 ha lúa, hoa mầu bị ngập, nhiều công trình giao thông bị phá hỏng... Ước tính tổng thiệt hại ở các tỉnh bị lũ, lụt lần này khoảng 2.000 tỷ đồng. Hạn hán: Theo Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), châu Á là khu vực bị thiên tai nặng nề nhất trong vòng 50 năm qua, trong đó thiệt hại về tài sản do hạn hán gây ra đứng thứ ba sau lũ và bão. Có rất nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá hạn hán. Tuy nhiên, trên quan điểm nông nghiệp có thể thấy hạn hán thường xảy ra vào mùa khô, nắng nóng, lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa nhiều lần, đã làm cây trồng khô héo nhanh chóng và có thể dẫn tới làm chết cây hàng loạt. Đối với sản xuất nông lâm nghiệp, đây là loại thiên tai tồi tệ nhất, xảy ra ngày càng nghiêm trọng hơn, với tần suất và quy mô ngày càng lớn hơn, gây nhiều thiệt hại và kéo dài dai dẳng nhất. Ở nước ta, hạn hán xảy ra ở rất nhiều nơi với những thiệt hại ngày càng lớn hơn. Theo số liệu thống kê của Trường Đại học Thuỷ lợi, có 11 vụ hạn hán nghiêm trọng xảy ra trong các năm từ 1976 tới 1998 dẫn đến những thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp, gây cháy rừng, làm cạn kiệt các sông suối nhỏ và các hồ chứa nước ở miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, miền núi và trung du Bắc Bộ, dẫn đến tình trạng biển lấn sâu vào đất liền, thiếu nước chạy các nhà máy điện...đem lại những hậu quả xấu về kinh tế xã hội và môi trường cho đất nước. Có thể điểm qua một số đợt hạn hán nặng trong vòng nửa thế kỷ qua như sau:

Hạn hán năm 1976 ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ làm 370.000 ha cây lương thực bị hại. Hạn hán năm 1982 làm cho 180.000 ha cây lương thực ở 6 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long bị mất trắng. Năm 1983, hạn hán làm cho 291.000 ha lúa mùa ở miền Trung và Nam Bộ không thu hoạch được. Vụ đông xuân năm 1992, hạn hán và sâu bệnh đã làm cho sản lượng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long giảm 559.000 tấn. Năm 1993, diện tích bị hạn ở miền Trung lên tới 175.000 ha, trong đó có tới 35.000 ha bị cháy khô, thất thu ước tính tới 150.000 tấn lúa và hoa màu. Đợt hạn năm 1994-1995 ở Đắk Lắc được coi là nặng nhất trong 50 năm qua, ảnh hưởng nhiều đến cây trồng, nhất là cà phê, ước tính thiệt hại tới 600 tỷ đồng và gây ra thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng. Năm 1995-1996, diện tích bị hạn ở trung du và miền núi là 13.380 ha, ở Đồng bằng Bắc Bộ là 100.000 ha. Hạn hán nghiêm trọng xảy ra trên diện rộng ở Việt Nam rõ ràng có quan hệ với hiện tượng ElNinô. Đặc biệt, ElNinô 1997-1998 (kéo dài từ giữa tháng 12-1997 đến tháng 6-1998) đã tác động khá rõ rệt, gây ra hạn hán và thiếu nước nghiêm trọng trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Đợt hạn hán này đã gây ra những hậu quả xấu cho sản xuất nông lâm nghiệp và đời sống của nhân dân ở rất nhiều nơi, nhất là ở miền Trung và Tây Nguyên. Trong đợt hạn này nhiệt độ lên rất cao, từ 35-42 0C, lượng mưa giảm xuống mức 40 – 250 mm (bằng 5% - 20% lượng mưa trung bình của cùng thời kỳ trong các năm trước đó). Nhiệt độ cao, lượng mưa giảm, độ ẩm không khí thấp và gió Lào khô nóng đã làm cho các hệ thống sông ngòi, hồ chứa nước cạn kiệt. Mùa hè năm 1998, tại vùng Tây Bắc, lượng mưa giảm xuống từ 10-50%. Cuối năm 1998, lượng mưa tiếp tục giảm so với trung bình nhiều năm từ 30-50%, có nơi như Sơn La lượng mưa giảm đi tới 90%. Tháng 11-1998, lượng mưa ở nhiều nơi thuộc lưu vực sông Hồng cũng giảm rõ rệt. Những biểu hiện của hạn hán xảy ra trên diện rộng ở nước ta trong năm 1998 cho thấy tác hại của nó không phải là nhỏ đối với tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Có khoảng 3,8 triệu người rơi vào tình trạng thiếu nước sinh hoạt trên toàn quốc. Hạn hán và nắng nóng cũng đã gây ra cháy rừng. Riêng 6 tháng đầu năm 1998 có 60 vụ cháy rừng ở Đồng Nai (làm mất 1.200 ha) và ở Đắk Lắk (làm mất 316 ha). Đợt khô hạn từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1998 đã làm 11.370 ha rừng bị cháy. Theo ước tính, thiệt hại tổng cộng trong cả nước lên tới trên 5.000 tỷ đồng.Cháy rừng đã làm huỷ hoại nhiều cánh rừng trên đất nước. Khoảng 5 triệu ha rừng bị liệt vào loại dễ cháy ở bất cứ mùa nào trong năm. Trong số diện tích rừng hiện có, 56% dễ bị cháy trong mùa khô. Mỗi đe doạ cháy rừng lớn nhất là rừng Thông ở vùng cao nguyên Trung Bộ và rừng tràm ở châu thổ sông Mê Công. Trong mùa khô 1997-1998, do thời tiết khô nóng đã có 1.681 đám cháy rừng trên toàn quốc làm mất khoảng 19.819 ha, trong đó có 6.293 ha rừng tự nhiên, 7.888 ha rừng trồng, 494 ha rừng tre nứa và 5.123 ha cỏ và cây bụi. ở Quảng Ninh và Lâm Đồng, các vụ cháy rừng Thông đã làm tê liệt nhiều nhà máy sản xuất nhựa thông (Cục Kiểm Lâm, 1999). Các loại rừng bị cháy thường là các loại rừng non mới tái sinh, rừng trồng từ 3-5 tuổi, trảng cỏ và cây bụi. Các vùng sinh thái nông nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của đợt hạn hán 1997-1998 là: + Miền núi và trung du phía Bắc: Khoảng 20% diện tích lúa đông-xuân bị ảnh hưởng, trong đó 2.000 ha bị mất trắng. Sản lượng cây ăn quả và cây công nghiệp giảm đáng kể và các loại sâu bệnh phát triển mạnh. Khoảng 300.000 người không có đủ nước ngọt. Chính phủ đã chi 47,6 tỷ đồng để khắc phục hậu quả của hạn hán. + Bắc Trung Bộ: Có 62.000 ha, chiếm khoảng 46% diện tích gieo trồng trên toàn khu vực, bị ảnh hưởng nặng nề bởi hạn hán, trong đó khoảng 50% diện tích trồng trọt bị mất trắng, 800 hồ chứa nước vừa và nhỏ bị cạn hoàn toàn. Khoảng 2,1 triệu người bị thiếu nước ngọt. + Vùng ven biển Nam Trung Bộ: Hạn hán đe dọa các vụ đông- xuân, hè-thu và vụ chiêm với tổng diện tích bị hạn lên tới 20,3 – 25,0 % diện tích gieo trồng. Nước biển tràn sâu vào các vùng ven biển tới 10-15 km và gây ra tình trạng nhiễm mặn trầm trọng. Trong suốt 10 năm qua, các tỉnh trong khu vực này luôn bị hạn hán đe dọa và chỉ trong năm 1998 có khoảng 203.000 người bị thiếu nước ngọt. Vùng khô hạn thường xuyên tại hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và phía nam tỉnh Khánh Hoà có diện tích 200.000-300.000 ha với lượng mưa hàng năm trung bình chỉ có 500-700 mm, khí hậu nắng nóng đã tạo thành vùng đất bán sa mạc, vùng cát vàng khô hạn với những trảng cây bụi thưa có gai rất khó phát triển sản xuất. + Vùng Tây Nguyên: Trong tổng số 24.000 ha lúa đông-xuân, có 7.800 ha bị thiệt hại do đợt hạn 1998. Trong tổng số 110.000 ha diện tích cây công nghiệp và cây ăn quả bị hạn có 20.000 ha bị chết. Khoảng 800.000 người bị thiếu nước ngọt. + Vùng châu thổ sông Cửu Long (hạ lưu sông Mê Công): Trong mùa khô, mực nước ở hệ thống sông Cửu Long tại Tân Châu và Châu Đốc thường giảm xuống còn khoảng + 1,0 m. Tuy nhiên, trong mùa khô năm 1998, mực nước tại các điểm trên hạ thấp tới mức –0,3 tới – 0,4 m. Nước mặn với độ mặn 4% tràn vào đất liền, có nơi vào sâu tới 45 km, làm cho hai phần ba diện tích bán đảo Cà Mau bị nhiễm mặn. Đợt hạn này đã làm cho khoảng 216.000 ha lúa hè- thu bị ảnh hưởng nghiêm trọng, trong đó 32.000 ha bị mất trắng. Trong tất cả các vụ cháy rừng, vụ cháy rừng U Minh Thượng năm

2002 là vụ cháy rừng nghiêm trọng nhất, đã phá huỷ trên 5.000 ha rừng ngập mặn có giá trị đa dạng sinh học cao, gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng. Gần đây nhất là đợt hán hán kéo dài 9 tháng liền năm 2004-2005 đã gây tổn thất nhiều cho sản xuất nông lâm nghiệp. Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy trong mùa khô độ ẩm của đất ở các vùng không có cây che phủ chỉ bằng một phần ba so với độ ẩm của đất ở những nơi có rừng che phủ. Tại một số nơi không có rừng che phủ, nhiệt độ trên mặt đất có thể tăng cao tới 50 – 600C vào buổi trưa hè. Những đặc điểm cơ lý của đất như độ tơi xốp, độ liên kết, độ thấm, hàm lượng các chất dinh dưỡng và hàm lượng vi sinh bị giảm đi đáng kể, đất trở nên khô, cứng, bị nén chặt, không thích hợp cho trồng trọt. Hàng triệu ha đất trống, đồi trọc đã mất rừng lâu năm, đất mặt bị biến đổi cấu tượng và lý hoá tính, trở nên dễ bị xói mòn, rửa trôi mạnh, tích tụ sắt nhôm gây nên hiện tượng kết von và đá ong hóa, đất hoàn toàn mất sức sản xuất nông nghiệp. Biến đổi khí hậu sẽ làm tăng nguy cơ tuyệt chủng một số loài động thực vật, gây khó khăn cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Một số loài phải tìm môi trường sống mới hoặc mãi mãi sẽ biến mất khỏi hành tinh. Biến đổi khí hậu có liên quan rất chặt chẽ tới đa dạng sinh học và hoang mạc hóa. Đây cũng là lý do vì sao Liên Hợp quốc lại ra nghị quyết về ba công ước Rio về môi trường quan trọng nhất tại Hội nghị thượng đỉnh về phát triển bền vững ở Rio De Janeiro năm 1992 (Công ước khung về biến đổi khí hậu, Công ước về đa dạng sinh học và Công ước chống sa mạc hóa). Nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện các cam kết chung về môi trường, Việt Nam đã ký tham gia cả ba công ước trên. Tóm lại, biến đổi khí hậu đã gây ra nhiều tác động có hại đối với sản xuất nông lâm nghiệp. Thiên tai, đặc biệt là hạn hán, ngày càng xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng hơn cả về cường độ và quy mô. Nguyên nhân của biến đối khí hậu rất phức tạp và đa dạng, bao gồm cả nguyên nhân do tự nhiên và nguyên nhân do con người. Vì vậy, để giảm thiểu tác hại, chúng ta cần chủ động phối hợp, đề ra những giải pháp đồng bộ mang tính đa ngành, đa lĩnh vực để đối phó và thích ứng với biến đổi khí hậu. Bộ Nông nghiệp và PTNT đã và đang nỗ lực bằng những hành động cụ thể phối hợp với các Bộ/ngành và địa phương liên quan trong việc chủ động thích ứng với những biến đổi phức tạp của khí hậu và hạn chế tối đa tác hại do nó gây ra cho sản xuất nông lâm nghiệp.

Thu hoạch lúa

Biến đổi khí hậu tác động đến sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của con người và thiên nhiên. Sự thay đổi của khí hậu sẽ gây ra nhiều tác động xấu đến môi

trường sinh thái như tăng mật độ của các cơn bão, lũ lụt, hạn hán, mực nước biển dâng, các dịch bệnh và làm mất đi đa dạng sinh học.

Mực nước biển dâng sẽ đe dọa trực tiếp đến các quốc gia có dân số cao và kinh tế tập trung ở vùng ven biển.

Theo Ngân hàng Thế giới (tháng 2/2007), nếu nước biển tăng lên 5 mét, Việt Nam có thể mất 16% diện tích, với hơn 35% dân số và khoảng 35% tổng GDP bị ảnh hưởng. Khu vực đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long (ĐBSCL) bị ảnh hưởng nặng nề nhất vì, nếu mực nước biển tăng tăng 1 mét, sẽ ảnh hưởng đến khoảng 10,8% dân số của Việt Nam.

Ông Bernard Ơ Callaghan - điều phối viên chương trình của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới - cho biết “Mực nước biển dâng cao, như dự báo vào năm 2030, sẽ khiến khoảng 45% diện tích đất của ĐBSCL có nguy cơ nhiễm mặn cực độ và thiệt hại mùa màng do lũ lụt. Năng suất lúa dự báo sẽ giảm 9%. Nếu mực nước biển dâng cao 1m, phần lớn ĐBSCL sẽ hoàn toàn ngập trắng nhiều thời gian dài trong năm.”

Tổng hợp từ các báo cáo cho thấy, trong 10 năm gần đây, BĐKH đã có nhiều ảnh hưởng bất lợi đến sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam. Hạn hán hoành hành, nhất là khu vực miền Trung và Tây Nguyên.

Nhiều diện tích lúa, hoa màu bị hạn hoặc mất trắng, không có khả năng thu hoạch, riêng các tỉnh miền Trung lên đến 1.400 tỷ đồng. Ngoài ra, các chi phí cho phòng chống hạn cuối năm 1997 và năm 1998 gần 1.000 tỷ đồng. Diễn biến của hiện tượng El nino ngày càng trở nên phức tạp, số lượng trận lũ tăng 1,4 lần so với trung bình.

Theo dự báo, BĐKH sẽ tác động sâu đến tài nguyên nớc của nước ta. Dòng chảy năm biến động từ + 4% đến -19%, lưu lượng đỉnh lũ, độ bốc thoát hơi đều tăng. Trong những thập kỷ tới, tần suất xuất hiện các trận lũ lụt và hạn hán sẽ tăng lên với mức độ ngày càng trầm trọng hơn.

Các dự báo gần đây đều cho thấy, mức độ tác động của BĐKH đối với Việt Nam sẽ rất lớn. An ninh lương thực của nước ta sẽ bị ảnh hưởng do phần lớn diện tích sản xuất lương thực tại hai vựa lúa chính của cả nước có khả năng sẽ bị ngập lụt.

Các bộ, ngành liên quan cùng hành động để đối phó
Tại Việt Nam, các số liệu và thông tin về BĐKH còn rất thiếu, các hoạt động, chương trình, dự án về BĐKH đã có nhưng còn nhỏ lẻ và phân tán, đặc biệt đến nay, chúng ta còn thiếu một khung chính sách đầy đủ về thích ứng BĐKH. Do vậy, xuất phát từ nhu cầu mỗi ngành, mỗi lĩnh vực cần có những hoạt động mang tính tổng thể cho ngành để đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành trong bối cảnh tác động của BĐKH. Đối phó với vấn đề này, từ năm 2002, Bộ Nông nghiệp&Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) đã thành lập nhóm đối tác giảm nhẹ thiên tai (NDMP) nhằm điều phối các hoạt động giảm thiểu tác hại của thiên tai, đặc biệt ở khu vực ven biển miền Trung. Hoạt động của nhóm NDMP nhận được sự ủng hộ của nhiều tổ chức quốc tế như UNDP, RNE, và WB. Bộ NN&PTNT đã trình chính phủ thành lập tổ chống hạn của chính phủ để giám sát và phối hợp với các bộ, ngành và địa phơng tiến hành các biện pháp chống hạn, bảo vệ sản xuất nông nghiệp và khắc phục hậu quả do hạn hán gây ra trên toàn quốc. Trong quản lý chuyên ngành, Bộ NN&PTNT đã chú trọng xây dựng các chương trình cụ thể cho từng vùng, từng lĩnh vực như Chơng trình củng cố và nầng cấp hệ thống đê biển, củng cố hệ thống đê sông, phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển; Xây dựng cụm tuyến dân cư và chương trình phòng ngừa và giảm nhẹ thiệt hại do lũ quét; Xây dựng hệ thống thông tin quản lý nghề cá giai đoạn I; Nghiên cứu xây dựng quy hoạch cơ sở hạ tầng vùng lũ lụt miền Trung; Chương trình đảm bảo an toàn hồ chứa...

Cần quan tâm đến thủy lợi và quản lý tài nguyên lưu vực sông Về tài nguyên nước, Việt Nam có 2.360km2. Tổng lượng nước hàng năm chảy qua các sông, suối khoảng 835 tỷ m3. Do vậy, quản lý nước trong các lu vực sông và các hệ thống thủy lợi ở nước ta là vấn đề cần được quan tâm trong điều kiện khí hậu biến đổi. Quản lý nước lưu vực sông là một vấn đề đã được thực hiện từ nửa cuối của thế kỷ 20 và phát triển rất mạnh trong vài thập kỷ gần đây nhằm đối phó với những

thách thức về sự khan hiếm nước, sự gia tăng tình trạng ô nhiễm và suy thoái các nguồn tài nguyên và môi trường của các lưu vực sông. Hiện nay, trên thế giới, hàng trăm các tổ chức tham gia quản lý lưu vực sông để quản lý tổng hợp và thống nhất tài nguyên nước, đất và các tài nguyên liên quan khác trên lực vực sông. Tối đa hóa lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng nhưng không làm tổn hại đến tính bền vững của hệ thống môi trường trọng yếu của lưu vực, duy trì các điều kiện môi trường sống lâu bền cho con người. Quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông là quá trình “bao gồm cả những phần cơ bản của quy hoạch sử dụng đất, chính sách nông nghiệp và pháp luật xói mòn, quản lý môi trường và các chính sách khác. Nó bao gồm tất cả những hoạt động của con người sử dụng nước hoặc gây ảnh hưởng đến các hệ thống nước ngọt” (Mostert và NNK, 1993) Để có cơ sở đề xuất các hoạt động cụ thể và đúng hướng đối với mục tiêu giảm thiểu ảnh hưởng và thích ứng với BĐKH ở Việt Nam, cần nghiên cứu kỹ những văn bản chiến lược có liên quan nhằm lồng ghép giải quyết các yêu cầu trong các hoạt động thích ứng gồm chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến 2020; Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước; Chiến lược phát triển bền vững môi trường.

- Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 “Chủ động phòng, tránh, thích nghi để phát triển” tập trung quy hoạch khu dân cư, khu công nghiệp, khu du lịch, quy hoạch, xây dựng công trình phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, công trình hạ tầng giao thông bảo đảm chống ngập và tiêu thoát lũ. - Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với đặc thù thiên tai của vùng và tận dụng đợc điều kiện tự nhiên thuận lợi trên đất liền, trên biển để phát triển, chống sự xâm lấn của các cồn cát vào vùng đồng bằng, chống hoang mạc hóa. - Thực hiện chương trình củng cố, nâng cấp đê điều, tận dụng và bảo tồn các cồn cát tự nhiên để ngăn sóng thần, ngăn nước biển, ngăn mặn; Xây dựng các hồ chứa, tăng cường trồng rừng, triển khai các giải pháp tăng cường dòng chảy mùa kiệt và nước ngấm, tăng cường các công trình thủy lợi để chống hạn, chống úng… Tăng cường nghiên cứu đề xuất các giải pháp chống bồi lắp cửa sông, nạo vét lòng dẫn tăng cường khả năng thoát lũ, kết hợp giao thông thủy. - Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước, phải xác định lượng nước cần duy trì để đảm bảo yêu cầu cấp nước cho sinh hoạt đối với tất cả các sông, các hồ chứa nước, các tầng chứa nước, đặc biệt đối với các vùng khó khăn và khan hiếm nước tại cá tỉnh ven biển miền Trung.

Về chiến lược phát triển bền vững môi trường, chủ động, nắm bắt được tình hình về BĐKH và dự báo được các ảnh hưởng đối với nguồn nước ở Việt Nam. Xây dựng các biện pháp (công trình/phi công trình) nhằm giảm thiểu tác hại tiêu cực của BĐKH đối với hệ thống công trình thủy lợi ở Việt Nam, đồng thời, xây dựng được kế hoạch tổ chức triển khai sau khi phê duyệt các dự án, chương trình có liên quan.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->