P. 1
Công tác phòng chống tội phạm

Công tác phòng chống tội phạm

|Views: 4,391|Likes:
Được xuất bản bởiWong Hoang

More info:

Published by: Wong Hoang on Jan 10, 2010
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

12/06/2012

pdf

text

original

Công tác phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội ở trường THPTDL Lômônôxốp

TRƯỜNG THPTDL M.V LÔMÔNÔXỐP VỚI CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM, TỆ NẠN XÃ HỘI CHO HỌC SINH

N.G.Ư.T Nguyễn Phú Cường Hiệu trưởng. Nguyễn Quang Tùng – Phó Hiệu trưởng phụ trách GDĐĐ học sinh.

Biểu hiện phức tạp của các hình thức tội phạm, các tệ nạn xã hội (TNXH) trong nhà trường là một trở ngại không nhỏ với công tác giáo dục đạo đức và học tập của học sinh trong mỗi nhà trường nói chung và với trường THPTDL M.V Lômônôxốp nói riêng. Trường THPTDL M.V Lômônôxốp đã có nhiều hoạt động đẩy lùi tệ nạn xã hội xâm nhập vào học đường, tích cực xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh. Nhìn lại hai năm hoạt động giáo dục phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội Hội đồng đức dục của nhà trường rút ra được nhiều kinh nghiệm cũng như những bài học quý giá trong công tác này.
I. Quan điểm của nhà trường về công tác giáo dục phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội. 1. Công tác phòng chống tội phạm, TNXH cho học sinh là một trong những công tác giáo dục pháp luật nhằm giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh. Nội dung của công tác này phải được đưa vào kế hoạch của nhà trường trong nội & ngoại khoá, chương trình công tác của các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội trong trường. Đây là công tác mà mọi thành viên trong Hội đồng sư phạm và các thành viên trong trường và các cán bộ ngoài trường có liên quan cùng tham gia. 2. Công tác phòng chống tội phạm luôn lấy phòng là chính, giáo dục để học sinh tránh xa tội phạm, răn đe để ngăn chặn tội phạm. 3. Cần xây dựng hệ thống trong trường để phòng chống tội phạm và ngăn chặn TNXH trong đó giáo viên chủ nhiệm lớp là nòng cốt, các hoạt động của đoàn thanh niên và đội thiếu niên trong trường rất quan trọng, của hội cha mẹ học sinh phối hợp và hỗ trợ tích cực cho công tác này. 4. Nhà trường và các nhà giáo dục vừa cương quyết đấu tranh với tội phạm và TNXH vừa giáo dục có lý, có tình để học sinh “tâm phục, khẩu phục” mà tự giác thực hiện phòng chống tội phạm, TNXH. II. Các hình thức thực hiện: 1. Thực hiện giáo dục phòng chống tội phạm, TNXH qua công tác giảng

dạy. Ngay từ đầu năm học, thực hiện chỉ đạo của Sở giáo dục và đào tạo Hà Nội, Ban giám hiệu đã tổ chức quán triệt kế hoạch và các văn bản liên quan đến công tác phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, trong đó đặc biệt là tệ nạn ma tuý và căn bệnh HIV/AIDS đến tất cả các thành viên trong hội đồng sư phạm, học sinh và phụ huynh học sinhh. Các hoạt động lớn đã được tổ chức trong các nhà trường như chiến dịch “Học sinh Lômônôxốp quyết tâm xây dựng nhà trường trong sạch không có ma tuý”, “Hãy sống lành mạnh cho chính mình”, theo nội dung “2 không 1 có” (Không sử dụng ma tuý, không tàng trữ, mua bán ma tuý, có tổ chức tuyên truyền tác hại và cách phòng chống ma tuý), tuần sinh hoạt công dân đầu năm học, phong trào xây dựng “Nhà trường văn hoá - Nhà giáo mẫu mực - Học sinh thanh lịch”, các cuộc thi vẽ tranh, xây dựng góc phòng chống ma tuý… Thông qua các bài giảng trong chương trình có liên quan đến phòng chống ma túy (PCMT), các thầy cô giáo dạy các bộ môn Ngữ văn, Giáo dục công dân, Sinh học, Địa lý đã lồng ghép phổ biến nội dung luật PCMT. Cũng qua những bài học này, HS được phân tích để thấy người nghiện ma tuý vừa là nạn nhân vừa là tội phạm. Đáng chú ý trong các hoạt động tuyên truyền, giáo dục là cuộc thi giáo viên dạy giỏi chuyên đề “Phòng chống tệ nạn xã hội”. Đây là cuộc thi do Ban chỉ đạo 197 Công an Thành phố kết hợp với Sở GD&ĐT Hà Nội phối hợp tổ chức. 100% giáo viên bộ môn Giáo dục công dân đã tham gia hội thi cấp Huyện (THCS), cấp Thành phố (THPT) và cuộc thi đã tạo điều kiện cho việc tuyên truyền về TNXH, giúp các em học sinh có hiểu biết về TNXH, có biện pháp chống tội phạm, tệ nạn xã hội, hiểu được quy định của luật pháp về việc xử lý các TNXH. Để nhà trường không có ma tuý, những băng roll, khẩu hiệu, áp phích, tranh ảnh và góc truyền thông phòng chống TNXH không chỉ có ý nghĩa phản ánh một phong trào mà còn góp phần thể hiện tiếng nói của các nhà trường, các em HS quyết tâm bài trừ TNXH. Có thể nói rằng những thông tin về pháp luật, về TNXH và cách phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội đã đến được từng HS một cách có chủ định tích cực. 2. Thực hiện giáo dục phòng chống tội phạm, TNXH qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Lấy xây để chống, nhiều hoạt động bổ ích, phù hợp với học sinh đã được tổ chức. Các hoạt động văn nghệ, TDTT hấp dẫn đối với các em và chính các em đã làm cho những hoạt động này hấp dẫn hơn. Tinh thần tuổi trẻ như vậy cũng có thể thấy ở các giải đấu TDTT có chất lượng chuyên môn như giải điền kinh học sinh THPT, giải chạy báo Hà Nội mới, chạy TeryFox, giải bóng chuyền nam, nữ, thi các trò chơi dân gian, giải bóng đá. Tinh thần của hàng ngàn cổ động viên, vận động viên trong trận chung kết giải bóng đá học sinh Hà Nội tại sân vận động Hàng Đẫy giữa hai đội THPT DL Lomonoxop và THPT Trần Phú cho thấy rõ “Thể thao đẩy lùi ma tuý” không chỉ là khẩu hiệu, mà nó đã đi vào thực tế. Sinh hoạt tập thể, công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp được chỉ đạo theo tinh thần đổi mới, tiến hành thường xuyên với những hình thức phong phú. Các chương trình giao lưu văn hoá, với nhiều câu hỏi có phần thưởng do ĐTNCS Hồ Chí Minh kết hợp với Đội thiếu niên tiền phong tổ chức đã trở thành diễn đàn cho các em trao đổi, thể hiện nhận thức và hiểu biết về các vấn đề thời sự, xã hội như phòng chống tai nạn thương tích, môi trường, ma tuý, đại dịch AIDS… Các hoạt động văn nghệ cũng được đẩy lên một tầm cao mới về chất và lượng, Đội văn nghệ trường tích cực tham gia các cuộc thi văn nghệ do Huyện, Thành phố tổ chức như: Cuộc thi các bài hát tiếng Anh (đạt giải nhì), Cuộc thi các bài hát tiếng Pháp đạt loại A và thay mặt học sinh thủ đô tham gia thi các tỉnh phía Bắc tại Hải Phòng (đạt giải ba), tham gia thi các trò chơi dân gian…Nhà trường còn tổ chức các buổi dạ hội 26/3, các buổi sinh hoạt nhân Nôel, 8/3. 9/1… Các hoạt động ngoại khoá dã ngoại cũng được thực hiện đầy đủ cho học sinh các khối như đi tham quan

Đầm Đa, Ba Vì Hà Tây..., các buổi giao lưu với học sinh nước ngoài kết nghĩa với trường... Tổ chức các nhóm tham gia làm phim tham gia cuộc thi làm phim do Đại sứ quán Nhật tổ chức và đạt giải nhất. Đây là cuộc thi được Ngài Đại sứ Nhật Bản, Đại sứ thiện chí Nhật Bản và Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đánh giá cao. Mời các nhân chứng sống về nói chuyện với học sinh toàn trường trong buổi sinh hoạt thứ hai đầu tuần về 2 cuốn sách “Mãi mãi tuổi hai mươi” và “Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm” đem lại cho học sinh những bài học về sự hy sinh của cha anh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Mời anh ninh huyện nói chuyện về phòng chống tai nạn thương tích, chống vi phạm luật giao thông đường bộ. Để xây dựng một ngôi trường sư phạm không chỉ thi đua dạy tốt, học tốt mà còn tích cực giáo dục học sinh phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hộ vì sự an toàn, lành mạnh của bản thân và mọi người. Hoạt động giáo dục này đã có tác động rất lớn đến kết quả giáo dục toàn diện học sinh trong các nhà trường. Thành công của nhà trường trong công tác phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội là kết quả của sự đồng bộ trong việc lập kế hoạch, chỉ đạo, phối hợp, sáng tạo trong triển khai thực hiện, công tác phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội. Thực hiện giáo dục phòng chống tội phạm, TNXH nhờ định hướng tiếp cận thông tin của học sinh: Đó là điều nên làm đối với mỗi nhà trường, gia đình và cả xã hội khi mà ở đâu các em học sinh cũng có thể vào mạng vào các trang Web đen, cũng có thể chỉ gửi một tin nhắn lấy được các hình ảnh hở hang, đầy bạo lực, vào chat WC buổi tối có rất nhiều người sẵn sàng “khoe hàng”…, vào bất kỳ một quán cài đặt phần mềm điện thoại di động nào cũng có thể cài đặt các video đồi truỵ…thì thấy rằng học sinh của chúng ta phải được sự giáo dục của gia đình, nhà trường thế nào thì mới không sa vào các tệ nạn xã hội. Bởi vậy mỗi chúng ta cần định hướng cho các em cách tiếp cận các thông tin như: Cùng với gia đình quản lý dưới nhiều hình thức khi con em mình vào mạng tìm kiếm thông tin. Định hướng cho các em chỉ vào các trang Web lành mạnh, phục vụ cho việc học tập. Nên để các em đọc các tờ báo thuộc lứa tuổi các em như: Hoa học trò, Văn học nhà trường, Toán học tuổi trẻ… Tạo điều kiện để các em tham gia học tiếng Anh trực tuyến, thi học sinh giỏi “Tin học trẻ không chuyên”, để các em thấy rằng vào mạng có quá nhiều cái còn đáng quan tâm hơn những cái mà cả xã hội lên án. Thực hiện giáo dục phòng chống tội phạm, TNXH nhờ làm tốt mô hình Nhà trường – Gia đình – Xã hội. Do là một ngôi trường dân lập nên mọi đóng góp đều có sự thoả thuận giữa nhà trường với cha mẹ học sinh nên sự kết hợp giữa gia đình và nhà trường là một điều vô cũng quan trọng, và trường dân lập cũng chính là một hình thức xã hội hoá giáo dục. Nhà trường đã thực hiện tốt mô hình “Nhà trường – Gia đình – Xã hội” trong việc phòng chống các tệ nạn xã hội như: -Trong quyển Sổ rèn luyện của trường mỗi tuần đều có tự nhận xét của học sinh, của Ban thi đua lớp, của cô phụ trách bán trú, của giáo viên chủ nhiệm, phụ huynh học sinh ký và nhận xét vào cuối trang, qua đó gia đình và nhà trường nắm bắt được thông tin về học sinh ở trường cũng như ở nhà thật chặt chẽ. Cuối mỗi học kỳ nhà trường có kiểm tra Sổ rèn luyện của các lớp. - Nhà trường cử một đồng chí đã công tác trong ngành an ninh (về hưu) chuyên phụ trách các sự vụ mang tính chất gây mất trật tự trong nhà trường. - Cử các đồng chí trong tổ bảo vệ tham gia đầy đủ các lớp tập huấn về an ninh của địa phương cũng như Ban quản lý khu đô thị tổ chức. -Kết nghĩa với công an Huyện Từ Liêm, ký kết hợp đồng về an ninh với công an Huyện Từ Liêm, thường xuyên trao đổi thông tin với trạm công an xã Mỹ Đình, lực lượng bảo vệ trong khu đô thị Mỹ Đình II. Trong các buổi dạ hội, hoạt động ngoại khoá buổi tối tập trung đông học sinh đều mời các đồng chí công an Huyện Từ Liêm về đưa ra các phương án đảm bảo an ninh cho học sinh.

3.

4.

Thực hiện giáo dục phòng chống tội phạm, TNXH do đầu tư xây dựng đội ngũ làm công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. “Muốn xây một ngôi nhà đẹp cần phải có những kỹ sư tốt, muốn có một môi trường sư phạm tốt cần có những thầy cô tài, đức”. Một trong những nhiệm vụ được Chi uỷ, Ban giám hiệu đặt ra là phải xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên trong nhà trường có đức và có tài, vững vàng trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta đừng hiểu rằng tội phạm, và TNXH là mối đe doạ chỉ đối với học sinh, mà hãy nhìn thẳng vào thực tế tội phạm, và TNXH còn nhăm nhe ảnh hưởng đến cả đội ngũ làm công tác giáo dục trong nhà trường rất lớn. Chỉ một chút xao lòng, thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội chúng ta sẽ mất đi những người thầy giáo giỏi, đó là điều mà chúng ta ai cũng nhận thấy nhưng ít dám nói, hoặc có nhiều người chủ quan cho rằng tội phạm, TNXH thật khó đến với giáo viên, nhưng điều đó đâu có nghĩa là nó không dình dập gần ngay sát chúng ta. Vẫn còn đó các thầy giáo đánh bài ăn tiền (rất nhiều trường học có hiện tượng này), các thầy giáo đi thi hộ, thầy giáo tống tiền, tình học sinh (báo chí đã đăng), lừa bạn để lấy tiền khi tuyển giáo viên vào trường, buổi tối đi làm về có rất nhiều “em” trong các quán bên đường… là những điều làm cho Chi uỷ, Ban giám hiệu nhà trường đáng phải suy nghĩ và đưa ra các biện pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục dức dục: Quan tâm, động viên kịp thời đến cán bộ giáo viên về mặt vật chất cũng như tình thần, tăng lương, thưởng để cán bộ, giáo viên, công nhân viên gắn bó, yêu nghề, yêu trường hơn. Định hướng cán bộ, giáo viên, công nhân viên tham gia đầy đủ các Đoàn thể của nhà trường như Công đoàn, Chi đoàn GV-CNV (không phải trường ngoài công lập nào cũng làm được) qua đó tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của các thành viên. Tuyên truyền Pháp luật trong các buổi họp Hội đồng. Nâng cao sự hiểu biết của cán bộ, giáo viên, công nhân viên. Kết nạp một số Đảng viên trẻ, có năng lực, có chí phấn đấu. Tổ chức tốt các hoạt động tập thể như thể thao(tham gia giải bóng đá cán bộ-giáo viên do Công đoàn Ngành giáo dục Hà Nội tổ chức), câu lạc bộ khiêu vũ, các cuộc thi nấu ăn, cắm hoa nhân ngày 8/3, thi văn nghệ chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11…Qua đó cán bộ-giáo viên hiểu nhau hơn, giúp đỡ nhau trong đời sống cũng như trong chuyên môn. Trong xây dựng đội ngũ làm công tác giáo dục đạo đức cho học sinh cần chú ý: Củng cố đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp và xây dựng chương trình công tác cụ thể cho đội ngũ này. Có một cán bộ an ninh chuyên trách giúp điều tra nắm bắt tình hình, lập hồ sơ chặt chẽ như bên anh ninh vẫn làm. Tổ chức đội bảo vệ & giám thị theo dõi, giám sát, giữ gìn trật tự.

5.

III. MỘT SỐ VỤ VIỆC ĐÃ XẢY RA TRONG NHÀ TRƯỜNG HAI NĂM HỌC GẦN ĐÂY. Dưới đây là bảng thống kê một số vụ việc liên quan đến phòng chống tội phạm và các tệ nạn trong hai năm học 20052006 và 2006-2007. (Tổng số HS của trường năm học 2005-2006 là: 2.645HS, năm học 2006-2007 là: 2.782, tổng số hai năm học là 5.427 HS)

STT

Vụ việc

Tổng hai năm học

Tổng số HS hai năm học 5.427 HS 5.427 HS 5.427 HS 5.427 HS

1 2 3 4

Tàng trữ, sử dụng vũ khí thô sơ (dao dài...) Trộm cắp tiền, tài sản. Tàng trữ băng đĩa hình đồi truỵ Đốt pháo (trong đó có 3 quả pháo thối)

8 HS 5 HS 2 HS 19 HS

5 6

Lấy trộm sổ ghi đầu bài Đánh nhau gây mất trật tự (các vụ nhỏ lẻ của học sinh trong trường)

6 HS 51 HS

5.427 HS 5.427 HS

7 8 9 10 11 12 13 14

Đe doạ, treo ghẹo gây mất trật tự Phá, làm hỏng tài sản. Vỗ lễ, xúc phạm thầy cô giáo Uống rượu Hút thuốc lá Đánh bạc ăn tiền Vẽ bậy lên tường Vu khống cho bạn ăn cắp (bỏ khuyên tai của mình vào cặp bạn rồi vu cho bạn ăn cắp)

4 HS 18 HS 9 HS 3 HS 10 HS 1 HS 5 HS 1 HS

5.427 HS 5.427 HS 5.427 HS 5.427 HS 5.427 HS 5.427 HS 5.427 HS 5.427 HS

15

Số học sinh hay đánh điện tử, chơi game.

69 HS

5.427 HS

Quy trình làm việc của nhà trường như sau: Phát hiện học sinh vi phạm qua các kênh thông tin, điều tra, lập hồ sơ. Gặp học sinh vi phạm để giáo dục. Gặp gia đình học sinh vi phạm để tìm hiểu. Kiểm điểm trước tập thể lớp. Đưa ra hình thức kỷ luật. Thông báo trước toàn trường, về gia đình, trước hội đồng sư phạm... Thông báo cho các cơ quan an ninh các đơn vị, của hàng tiếp tay cho học sinh vi phạm: như xử lý các cửa hàng bán pháo nổ, pháo thối... Trong các vụ việc trên chúng tôi lấy 3 ví dụ về cách giải quyết, xử lý đã mang lại hiệu quả cao: 1. Hiện tượng có học sinh tàng trữ, sử dụng vũ khí thô sơ (dao, kiếm...). Ban giám hiệu nhận thấy đây là sự việc nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trong nhà trường và Ban giám hiệu dã đưa ra một số biện pháp nóng và triệt để như sau: Mời công an Huyện Từ Liêm về kết hợp với lực lượng bảo vệ nhà trường kiểm tra đột xuất các lớp có nghi ngờ về tàng trữ dao dài đã thu được 7 dao dài trong tháng đầu năm và đã ngăn chặn được các sự việc đáng tiếc xảy ra. Mời phụ huynh học sinh đến cùng phân tích sự việc, tìm hiểu tâm sinh lý học sinh và đề nghị phụ huynh cũng như học sinh ký cam kết không vi phạm. Phê bình các học sinh vi phạm trước toàn trường để các học sinh thấy đó làm gương. Do vi phạm vào điều cấm của nhà trường (điều 8 trong quyển sổ rèn luyện) nên xếp các em hạnh kiểm yếu giữa học kỳ I, vẫn để ngỏ cho sự tiến bộ của các em trong ba nửa học kỳ còn lại.

-

Do rất nhiều học sinh nhờ các bạn gái mang hộ ba lô có cất dao dài nên Ban giám hiệu thông qua cán bộ Đoàn, giáo viên chủ nhiệm tuyên truyền để các em học sinh nữ hiểu và là đầu mối cung cấp thông tin đáng tin cậy cho nhà trường.

Kết quả:

Động viên các em trên tham gia các hoạt động ngoại khoá, các câu lạc bộ thể thao của nhà trường, nhưng kiên quyết không cho đi thi đấu cấp Huyện và Thành phố để các em có quyết tâm phấn đấu sửa chữa.

Sau 1 tháng làm cương quyết, triệt để đến nay không còn hiện tượng học sinh mang vũ khí đến trường.. Bài học: Với các hành vi như vậy cần phải có biện pháp cứng rắn, sử lý nghiêm để làm gương cho các học sinh khác. Kết nghĩa với cơ quan Công an là một điều các trường học nên làm ngày, vì chỉ cần thấy bóng dáng công an là các em đã hiểu được mình đang vi phạm pháp luật. 2. Hiện tượng tàng trữ băng đĩa hình đồi truỵ. Sự việc này mới phát hiện được ở học sinh lớp 6 và lớp 10 (hai lớp đầu cấp). Ban giám hiệu biết được thông qua Ban phụ huynh lớp. Một phụ huynh phát hiện được trong giá sách của con mình có đĩa hình đồi truỵ , liền báo cho Hội trưởng Hội cha mẹ học sinh lớp mình biết. Nhưng do phụ huynh xấu hổ, sợ mang tiếng nên cứ đề nghị nhà trường không tiếp tục làm rõ. Nhưng qua nghiên cứu thấy rằng có một học sinh lớp 8 đã đưa cho em học sinh lớp 6 và bảo em này nên xem, nhà trường nhận thấy rằng hình như có một “đường dây” nào đó lưu hành băng đĩa hình trong nhà trường, vì vậy chỉ đạo: Kết quả: -Vì sự việc mới xảy ra nên chưa phát hiện thêm trường hợp nào. Bài học: -Cần có một Ban phụ huynh lớp tốt, nhiệt tình, trách nhiệm, có uy tín đối với phụ huynh trong lớp. -Cần định hướng cho học sinh tiếp cận thông tin tốt. Tránh để học sinh vào mạng xem những trang Web không lành mạnh (gia đình và nhà trường cùng phải làm). -Cần nghiên cứu kỹ hơn giáo dục giới tính cho học sinh sao cho hợp lý với mỗi lứa tuổi. 3. Hiện tượng học sinh uống rượu trong nhà trường: Kiên quyết tìm ra tận gốc của chiếc đĩa. Quá trình tìm phải thật bí mật, không gây ảnh hưởng đến lớp, đến tâm lý của em học sinh vi phạm. Đề nghị phụ huynh học sinh quản lý chặt các thiết bị điện tử của gia đình như máy tính, đầu đĩa…thường xuyên kiểm tra đột xuất (bí mật) cặp sách của con em mình.

Điều đặc biệt là trong ba vụ học sinh uống rượu thì có tới hai vụ là của học sinh nữ lớp 8 và lớp 9, một trường hợp là của học sinh lớp 12 tổ chức sinh nhật. Qua tìm hiểu thì nhà trường thấy rằng cả hai học sinh nữ đều đưa ra những lý do như buồn về gia đình, bạn bè nên rủ nhau uống rượu, một em thì mang rượu từ nhà đi, hai em còn lại thì nhờ người phục vụ dưới căn tin mua từ bên ngoài đưa vào, nhà trường đã xử lý như sau:

-

Tìm hiểu kỹ về hoàn cảnh gia đình các em, gặp riêng phụ huynh các em để tìm hiểu rõ hơn về tâm sinh lý các em khi ở ra đình. Phân tích để các em thấy tác hại của sự việc, để tự các em viết bản kiểm điểm và tự đưa ra hình thức kỷ luật đối với mình. Đề nghị phụ huynh và học sinh ký cam kết không vi phạm, và yêu cầu phụ huynh học sinh quản lý con em mình, tài sản trong gia đình chặt hơn nưa (vì có em lấy 2 chai rượu của bố đến để các bạn cùng uống mà gia đình không biết).

-

Sau khi các em đã nhận thức được vấn để nhà trường chỉ giải quyết với số lượng thành viên tham gia ít, tránh làm ảnh hưởng đến thể diện của các em. Sử lý nghiêm ngay căng tin vi phạm quy định: Đóng cửa căn tin đó, thông báo cho các căng tin còn lại biết để qua đó không vi phạm quy định của nhà trường.

Kết quả: Trong 4 tháng gần đây không có học sinh nào vi phạm điều này. Bài học: -Giáo viên chủ nhiệm cần nắm bắt về hoàn cảnh gia đình, diễn biến tâm sinh lý phức tạp của học sinh lớp mình chủ nhiệm. Gần gũi động viên khi các em có biểu hiện thất thường, xao nhãng việc học tập. -Ngăn chặn mọi ngả đường đưa rượu và các chất cấm vào trong nhà trường.

Bài tham luận có tham khảo Báo cáo tổng kết” PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG HÀ NỘI - MỘT NĂM NHÌN LẠI”của Sở giáo dục và đào tạo Hà Nội mà trường THPTDL M.V Lômônôxốp là một trong các trường có đóng góp tích cực vào thành công của công tác này. http://www.lomonoxop.edu.vn/home/c_bt.asp?N=279

8 tội danh môi trường "lọt lưới" pháp luật
Qua hơn 9 năm thi hành Bộ luật Hình sự với 15 tội danh về tội phạm môi trường trong 10 điều luật về tội phạm môi trường, mới xử được hai tội danh là hủy hoại rừng và tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm. Thông tin này được công bố tại Hội thảo khoa học "phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường - trách nhiệm của chúng ta" do Bộ Công an tổ chức sáng 26/06.

4 năm, "nhập khẩu" hơn 36.000 tấn rác thải công nghiệp độc hại Trung tướng Trần Đại Quang, Thứ trưởng Bộ Công an nhận định: Tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đang có diễn biến phức tạp, nhất là trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khai thác tài nguyên, khu công nghiệp, khu đô thị. Thống kê của Bộ TN&MT cho thấy, phần lớn các khu công nghiệp (KCN) đều xả nước trực tiếp ra môi trường mà không qua xử lý (chiếm tới

70%). Thậm chí, một số nhà máy còn khoan và xả nước vào lòng đất gây ô nhiêm, hủy hoại tài nguyên nước và đất. Năm 2003, Bộ này đã trình lên Chính phủ danh mục hơn 4.000 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cần xử lý triệt để trong giai đoạn từ đó đến 2012, tuy nhiên, đến nay mới chỉ có một số ít cơ sở chấp hành và có biện pháp khắc phục. Hậu quả ô nhiễm cũ chưa kịp giải quyết thì lại có thêm những ô nhiễm mới phát sinh từ 100 khu công nghiệp, khu chế xuất và hàng trăm cụm công nghiệp rải ở nhiều địa phương mới thành lập. Hầu hết tại các điểm nói trên đều chưa có hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, còn có hơn 1.400 làng nghề trên cả nước hầu hết cũng đều không có hệ thống xử lý rác thải. Đáng lo ngại hơn cả là trong những năm gần đây, có hơn 3.500 container chứa ắc quy chì axit đã qua sử dụng được nhập qua các cửa khẩu quốc tế của Việt Nam dưới dạng tạm nhập tái xuất. Chỉ tính riêng từ năm 2003 đến 02/2006, đã có hơn 2000 container có trọng lượng hơn 36.000 tấn nhập khẩu vào các cảng biển, cửa khẩu. Đó là còn chưa kể hàng ngành tấn phế thải nguy hại trá hình dưới hình thức phế liệu để tái chế như nhựa, sắt thiết bị công nghệ cũ lạc hậu. Số liệu Vụ điều trị - Bộ Y tế cung cấp cho thấy, tình trạng ngộ độc thực phẩm, hóa chất bảo vệ thực vật đang ngày một gia tăng. Chỉ riêng hai năm gần đây, đã có hơn 6.000 trường hợp bị ngộ độc do hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV), hóa chất diệt cỏ, ngộ độc thuốc diệt chuột, do dùng các loại dược phẩm, ngộ độc thực phẩm. Trung tướng Trần Đại Quang cho rằng, tình trạng ô nhiễm môi trường đã và đang gia tăng đến mức báo động như vậy nhưng Việt Nam lại đang thiếu các biện pháp bảo vệ môi trường. Sửa luật, tăng mức phạt để ngừa tội phạm Thiếu tướng Phạm Quý Ngọ, Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát cho rằng, số vụ việc được đưa ra khởi tố, xét xử về tội phạm môi trường là không đáng kể (hơn 1.000 vụ với 1.630 bị can) so với các tội khác. Qua hơn 9 năm thi hành Bộ luật Hình sự với 15 tội danh trong 10 điều luật thuộc chương XVII về tội phạm môi trường, đến nay, cũng mới chỉ có 2 tội danh bị truy tố là tội hủy hoại rừng (điều 189) và tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm (điều 190). Các tội danh còn lại của 10 điều luật về tội phạm môi trường muốn truy tố phải có điều kiện trước đó là "đã bị xử phạt hành chính mà vẫn còn vi phạm, gây hậu quả nghiêm trọng (từ điều 182 đến 191)" thì chưa đưa ra truy tố được vụ nào. Thậm chí, ông Ngọ cho rằng, có trường hợp đã phát hiện và bắt giữ các đối tượng và tang vật vi phạm nhưng rất khó xử lý vì chế định luật chưa đầy đủ, còn vướng mắc. Đồng quan điểm, Thạc sỹ Nguyễn Mạnh Hiền, Viện KSNDTC cho rằng, tuy chỉ có 10 điều luật về tội phạm môi trường nhưng lại có rất nhiều cơ quan cùng chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước về lĩnh vực này như Bộ Công nghiệp, Bộ TN&MT, Bộ Y tế, Bộ NN&PTNT, Tổng cục Hải quan, UBND các cấp. Trong khi đó, nhiều điều luật chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện của liên ngành trung ương. Do vậy, khi có hành vi vi phạm xảy ra, cơ quan tố tụng cũng không có căn cứ định lượng cụ thể đánh giá nên không thể khởi tố; hay vướng ở cơ quan nào có thẩm quyền xác định. Đây chính là khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xử lý các trường hợp vi phạm. Để khắc phục, Thứ trưởng Quang cho rằng, các cơ quan chức năng cần sớm nghiên cứu, đề xuất Quốc hội sửa đổi các quy định trong điều luật thuộc chương XVII theo hướng quy định tội phạm cấu thành hình thức. Bên cạnh đó, cần nâng cao mức áp dụng hình phạt tiền trong toàn bộ các tội phạm về môi trường để đủ sức răn đe, ngăn ngừa hành vi tái phạm.
Theo VTC news, 26/06/2008

Trung Quốc: Ngành tái chế đề nghị nới lỏng luật
ThienNhien.Net - Các nhà tái chế nhựa Trung Quốc đang đề nghị chính phủ nới lỏng những qui định về nhập khẩu nhựa phế thải nhằm tìm kiếm lối thoát khỏi tình hình kinh tế khó khăn. Ủy ban tái chế nhựa đã chính thức đề nghị Chính phủ Trung Quốc cho phép nhập tự do một số sản phẩm như túi và chai lọ nhựa nguyên chiếc.

Ủy ban tái chế nhựa thuộc Hiệp hội công nghiệp xử lý nhựa Trung Quốc (CPPIA) đã gửi lên Cục Bảo vệ Môi trường (SEPA) đề nghị nới lỏng những qui định về nhập khẩu nhựa thải. Vấn đề này cũng được nêu ra trong hội nghị RePlas 2008 (Hội nghị Tái chế nhựa Trung Quốc lần thứ 3) của CPPIA diễn ra từ ngày 6 đến 8 tháng 11 tại Bắc Kinh. CPPIA đề nghị chính phủ bãi bỏ từng phần và cho phép nhập khẩu các vật liệu này, nếu các vật liệu này được làm sạch. CPPIA cũng cho rằng chính phủ nên nới lỏng thuế quan và điều chỉnh giá thường xuyên hơn vì đôi khi giá của chính phủ theo sau giá thị trường. Kết quả là các công ty tái chế phải trả thuế nhập khẩu cao hơn mức giá thực. Chính phủ đưa ra những qui định hạn chế nhập khẩu nhựa phế thải hồi tháng 3 vừa qua do quan ngại rằng Trung Quốc đang trở thành nơi đổ rác thải mà các nước khác không muốn xử lý. Các nhà chức trách cũng đã mạnh tay xử phạt những cơ sở tái chế trong nước thiếu biện pháp kiểm soát ô nhiễm. Các nhà tái chế Trung Quốc đang đối mặt với nhiều áp lực từ phía chính phủ và cả công chúng buộc làm sạch các hoạt động gây ô nhiễm, cũng như khó khăn do nền kinh tế chững lại. Nhưng không chỉ Trung Quốc mà cả các nhà tái chế Mỹ và Nhật cũng đang đối mặt với tình hình kinh tế khó khăn hiện nay, trong đó vấn đề nhập khẩu nguyên liệu của Trung Quốc là nguyên nhân quan trọng. Các nhà sản xuất phương Tây ngày càng quan tâm hơn tới tương lai của nhựa phế thải xuất khẩu tới Trung Quốc và liệu nhựa phế thải có được xử lý an toàn cho công nhân làm việc và có biện pháp kiểm soát ô nhiễm phù hợp hay không. Họ đang cố gắng chứng minh rằng nhựa phế thải xuất khẩu sang Trung Quốc không phải là loại rác chất lượng kém.
Lê Phương Đông (Theo Plastics News, 11/11/2008)
http://www.thiennhien.net/news/135/ARTICLE/7270/2008-11-26.html

Types of crimes Blue-collar crime · Corporate crime Juvenile crime Organized crime

Political crime · Public order crime Public order case law in the U.S. State crime · State-corporate crime White-collar crime · Victimless crime Plaid-collar crime

Penology Deterrence · Prison Prison reform · Prisoner abuse Prisoners' rights · Rehabilitation Recidivism · Retribution Utilitarianism

• • • • • • • • • • • •

Arson Burglary Child abduction and murder Child molestation Fraud Homicide Organized child pornography and abuse Organized crime Rape, serial rape Robbery Serial killing Stalking • Workplace crime

Trẻ vị thành niên phạm tội do ảnh hưởng của gia đình
27/03/2008 16:37 Số liệu thống kê của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao cho thấy 71% trẻ vị thành niên phạm pháp do không được quan tâm chăm sóc đến nơi đến chốn. Một nghiên cứu mới đây của Bộ Công an cũng chỉ ra nguyên nhân phạm tội của trẻ vị thành niên xuất phát từ gia đình… Trước thực trạng trẻ vị thành niên phạm tội trộm cắp, cướp giật đang ở mức báo động, Viện Tâm lý học vừa có công trình nghiên cứu dưới góc độ khoa học tâm lý nhằm mổ xẻ nguyên nhân trẻ phạm pháp. Các phân tích của công trình nghiên cứu này cho thấy nguyên nhân trẻ vị thành niên phạm pháp do ảnh hưởng của gia đình chiếm một tỉ lệ không nhỏ. Cha mẹ làm sai, con làm theo Người xưa thường cho rằng muốn con cái trở thành thương nhân thì Các em học sinh trường Giáo dưỡng số 2 nên ở gần chợ, muốn con hay chữ thì ở gần trường học, còn nếu (Yên Mô, Ninh Bình) trong giờ học văn hóa. gần trộm, gần cướp thì sớm hay muộn cũng vào tù ra khám. “Gần (Ảnh chỉ có tính chất minh hoạ - Ảnh: Trần mực đen, gần đèn thì rạng”, câu tục ngữ mang tính giáo dục đến Thường) nay vẫn hoàn toàn đúng. Theo số liệu thống kê tội phạm học, trẻ em phạm pháp có nguồn gốc gia đình làm nghề buôn bán bất hợp pháp chiếm 51,94%, gia đình có người phạm tội hình sự chiếm 40%, 30% trẻ phạm tội có bố, mẹ hoặc cả hai nghiện hút. Có trường hợp bố mẹ trực tiếp đẩy con ra đường, xúi giục chúng làm những điều bất chính khiến trẻ bỏ nhà đi hoang, sống bụi, trộm cắp. Theo số liệu của Viện Kiểm sát Nhân dân TP.Hà Nội, tỉ lệ người chưa thành niên có hành vi trộm cắp tài sản đồng phạm với bố mẹ là 5%. Sống trong các gia đình có bố mẹ hoặc người lớn khác có hành vi thiếu văn hóa, lối sống vô đạo đức và thậm chí có cả những hành vi phạm tội, như bố mẹ bất hòa hay đánh chửi nhau, đánh bạc, nghiện rượu, nghiện ma túy, buôn lậu, trộm cắp, tham ô... , các em dần dần coi thường pháp luật, nhiễm các thói hư tật xấu và dễ bị lôi kéo rồi dẫn tới đồng lõa với hành vi phạm pháp. Chỉ có những trẻ có ý chí kiên cường, có lòng tự trọng cao, sớm có khả năng đánh giá đúng, sai mới tránh được những ảnh hưởng xấu đó. Con hư do thiếu tình cảm cha mẹ Trên thực tế, cũng có nhiều trường hợp bố mẹ là người tốt, có đủ kiến thức và trình độ hiểu biết nhưng không chú ý đúng mức đến việc giáo dục con cái hoặc không có điều kiện giáo dục chúng. Có người ỷ lại cho nhà trường, một số mải lo làm ăn, kiếm sống hoặc phải đi công tác trong một thời gian dài. Có gia đình bố mẹ ly hôn, có con ngoài giá thú, một trong hai người chết hoặc vì lý do nào đó phải xa cách dẫn đến việc con cái bị bỏ rơi, thiếu sự dạy dỗ và tình thương gia đình. Những đứa trẻ không được chăm sóc và dạy dỗ chu đáo sẽ có tâm lý lệch lạc, tự do ngang bướng, thậm chí bất cần. Chúng dễ dàng phạm tội khi bị rủ rê, lôi kéo... Số liệu thống kê của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao cho thấy 71% trẻ vị thành niên phạm pháp là do không được quan tâm chăm sóc đến nơi đến chốn. Một nghiên cứu mới đây của Bộ Công an cũng chỉ ra nguyên nhân phạm tội của trẻ vị thành niên xuất phát từ gia đình: 8% trẻ phạm tội có bố mẹ ly hôn, 28% phàn nàn bố mẹ không đáp ứng nhu cầu cơ bản của các em, 49% phàn nàn về cách đối xử của bố mẹ. Gần 50% trẻ phạm tội vì bị đối xử hà khắc Có những gia đình bố mẹ thiếu hiểu biết hoặc không kiềm chế được nên đã coi việc hành hạ, đánh đập hoặc dùng các nhục hình với trẻ như là quyền của họ. Khi trẻ có lỗi, cha mẹ đánh; khi cha mẹ buồn bực, lo lắng cũng trút đòn roi lên đầu con cái. Nhiều đứa trẻ bị bạo hành đã nghĩ rằng bố mẹ và gia đình không còn yêu thương, che chắn và bảo vệ mình nữa. Chính cách xử sự này của bố mẹ đã khiến trẻ bị khủng hoảng tâm lý, tự ti, khó hòa nhập, nhiều em trở nên hung hãn, lì lợm, xa lánh mọi người và căm ghét gia đình. Chính trong hoàn cảnh này, trẻ dễ bị những kẻ xấu lôi kéo, lợi dụng, khống chế thực hiện những hành vi trái pháp luật, trong đó có tội trộm cắp, cướp giật. Theo số liệu điều tra trong 2.209 học viên các trường giáo dưỡng, có tới 49,81% trong số này sống trong cảnh bị đối xử hà khắc, thô bạo, độc ác của bố mẹ. Số em bị bố đánh chiếm 23% (gấp 6 lần mẹ đánh); bị dì ghẻ, bố dượng đánh chiếm 20,3%. Như vậy, môi trường gia đình lành mạnh sẽ là yếu tố quyết định tạo cho con cái những điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển nhân cách. Bố mẹ nuông chiều khiến trẻ hư Con hư còn bởi cách dạy. Sự quá nuông chiều, thỏa mãn mọi nhu cầu con cái của bố mẹ sẽ tạo nên thói quen đòi gì được nấy. Bên cạnh sự nuông chiều, cha mẹ bao bọc mọi việc khiến cho con trẻ hình thành tính ỷ lại, dựa dẫm, sống ích kỷ, lười nhác, không ý thức về trách nhiệm, luôn đòi hỏi được phục vụ, được

hưởng thụ. Đến một lúc nào đó, khi gia đình không thỏa mãn những yêu sách hoặc không có điều kiện phục vụ thì con cái trở nên bất mãn, thậm chí thù ghét bố mẹ. Để gây áp lực với gia đình, chúng thường chọn giải pháp bỏ nhà đi bụi, tụ tập với bạn bè hư. Nhiều trường hợp trẻ trộm cắp tài sản của chính bố mẹ mình hoặc của người khác để thỏa mãn những nhu cầu không chính đáng như đua đòi ăn diện, đánh bạc, hút chích...

Theo Th.S Đặng Thanh Nga (Viện Tâm lý học) Người lao động/Dân trí

Legal Terms

Activism (judicial). Tính tích cực của thẩm phán. Việc một thẩm phán sẵn sàng đưa vào trong một vụ xét xử những đánh giá riêng của cá nhân ông/bà ta về chính sách nào là tốt và xấu. Cũng xem self-restraint (judicial). Actus reus. Khách quan của tội phạm. Yếu tố cấu thành tội phạm, có thể là việc thực hiện một hành động bị cấm (ví dụ như ăn cướp), hoặc không tiến hành một hành động đòi hỏi (ví dụ như dừng xe và giúp đỡ nạn nhân trong một vụ tai nạn giao thông). Adversarial process. Quá trình tranh tụng. Quá trình được sử dụng trong các tòa án Mỹ, tại đó phiên xét xử được coi như một trận chiến giữa hai bên đố i lập, và vai trò của thẩm phán là hành động như một trọ ng tài thụ động. Cũng xem inquistorial method. Advisory oppions. Các ý kiến tư vấn. Đưa ra một phán quyết dựa trên một ý niệm trừu tượng hoặc một câu hỏi mang tính giả định (việc mà các tòa án Mỹ không được tiến hành). Alternative dispute resolution (ADR). Giải quyết tranh chấp bằng phương thức khác. Các biện pháp giải quyết tranh chấp (thường là với sự giúp đỡ của các bên thứ ba trung lập) mà không cần xét xử. Trung gian hòa giải hoặc trọng tài là hai kỹ thuật ADR rất phổ biến. Amicus curiae (Friend of the court). Thân hữu của tòa án. Một người (hoặc nhóm người), không phải là một bên trong một vụ kiện, đưa ra những quan điểm (thường dưới dạng các văn bản toát yếu ngắn) về việc nên quyết định vụ kiện như thế nào. Annexation. Sự sáp nhập, thôn tính

Answer. Trả lời. Văn bản trình bày chính thức của một bị đơn trả lời đối với một khiếu kiện dân sự và đưa ra những lý lẽ làm cơ sở để bảo vệ ông / bà ta. Appellate. Sự chống án, sự kháng cáo Appellate jurisdiction. Thẩm quyền phúc thẩm. Thẩm quyền của một tòa án cấp cao được xem xét lại phán quyết của một tòa cấp dưới. Arraignment. Sự luận tội. Quá trình trong đó bị cáo được đưa ra trước thẩm phán tại tòa, nơi ông / bà ta sẽ buộc phải trả lời phán quyết của bồi thẩm đoàn hoặc lời cáo trạng của công tố viên. Bail. Tiền bảo lãnh. Khoản tiền mà bị cáo nộp cho tòa án để bảo đảm rằng ông/bà ta sẽ có mặt tại thời điểm xét xử. Bench trial. Phiên xét xử bởi thẩm phán. Một phiên xét xử không có bồi thẩm đoàn, trong đó thẩm phán quyết định bên nào sẽ thắng. Bill of attainder. Lệnh tước quyền công dân và tịch thu tài sản. Một đạo luật, đã bị Hiến pháp Hoa Kỳ cấm, khiến cho mọi hành động của một người (hoặc của một lớp người) bị coi là bất hợp pháp, nhưng không áp dụng đối với công chúng nói chung. Bill of information. Đơn kiện của công tố. Một tuyên bố về những tội trạng chống lại người bị buộc tội do công tố viên soạn thảo. Đơn kiện này, nếu được thẩm phán thông qua, sẽ đòi hỏi người bị buộc tội phải ra trước tòa để xét xử về những tội bị cáo buộc. Biện pháp này được sử dụng tại các bang không có bồi thẩm đoàn. Certification. Xác nhận. Một thủ tục theo đó một trong các tòa phúc thẩm của Hoa Kỳ đề nghị Tòa án tối cao chỉ dẫn hoặc làm rõ về một vấn đề pháp lý cụ thể. Các thẩm phán Tòa tối cao có thể chấp nhận yêu cầu này hoặc không, hoặc họ có thể đề nghị chuyển tất cả hồ sơ của vụ việc cho Tòa án tối cao để xem xét lại và đưa ra phán quyết cuối cùng. Civil law. Luật dân sự. Luật điều chỉnh các quan hệ giữa một công dân này với một công dân khác, giữa một công dân với một tổ chức, hoặc giữa các tổ chức với nhau. Class action. Hành động tập thể. Một vụ kiện được tiến hành bởi những người cùng phải chịu những thiệt hại tương tự chống lại một thể nhân; ví dụ, một nhóm người hút thuốc lá bị ung thư phổi khởi kiện một công ty sản xuất thuốc lá.

Collegial courts. Tòa cấp cao. Các tòa án có nhiều hơn một thẩm phán, thường là các tòa phúc thẩm. Common law. Thông luật. Một hệ thống luật lệ thừa hưởng của nước Anh căn cứ trên các tiền lệ hoặc truyền thống luật pháp chứ không dựa trên các luật lệ theo quy định hoặc các bộ luật có tính hệ thống. Complaint. Khiếu kiện. Một văn bản chính thức do nguyên đơn đệ trình khởi xướng một vụ kiện dân sự. Văn bản nà y nêu lên những sai phạm mà bị đơn bị cáo buộc đã phạm phải và yêu cầu sự giúp đỡ của tòa án. Concurrent jurisdiction. Thẩm quyền tài phán đồng thời. Một tình huống trong đó hai tòa án có thẩm quyền pháp lý để xét xử cùng một vụ việc. Ví dụ, cả Tòa án tối cao Hoa Kỳ và tòa án sơ thẩm của Hoa Kỳ đều có thẩm quyền tài phán đồng thời trong một số vụ án nhất định được đệ trình bởi hoặc chống lại các đại sứ hoặc lãnh sự. Concurring opinion. Ý kiến đồng thời. Một ý kiến do một thành viên tòa án đưa ra đồng tình với kết quả xét xử của một vụ việc, nhưng dựa trên lý lẽ riêng của mình để ủng hộ quyết định này. Corpus juris. Luật đoàn thể. Toàn bộ luật lệ đối với một thực thể pháp lý cụ thể. Courtroom workgroup. Nhóm làm việc của tòa án. Những người tham gia thường xuyên trong các hoạt động thường ngày của một tòa án cụ thể. Những thành viên nổi bật nhất của các nhóm này là các thẩm phán, công tố viên và luật sư biện hộ. Court of appeals. Tòa phúc thẩm. Một tòa án cấp cao hơn tòa sơ thẩm thông thường và có chức năng xem xét lại hoặc điều chỉnh các quyết định của các thẩm phán tòa sơ thẩm. Crime. Tội lỗi. Một hành vi phạm tội chống lại bang có thể bị trừng phạt bằng cách phạt tiền, tống giam, hoặc tử hình. Criminal-Juvenile. Tội phạm vị thành niên Criminal law. Luật hình sự. Luật xử lý những vi phạm chống lại bản thân các bang, những hành vi có thể trực tiếp nhằm vào một người nhưng được coi là có tính phạm tội chống lại xã hội nói chung - ví dụ như cướp có vũ khí hoặc cưỡng hiếp. Cross-examination. Đối chất. Các câu hỏi được đặt ra cho một nhân chứng được gọi ra trước tòa bởi luật sư của bên kia trong phiên xét xử.

Damages. Khoản đền bù thiệt hại. Khoản tiền mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn thắng kiện trong các vụ kiện dân sự để bồi thường cho nguyên đơn vì những thiệt hại của họ. Các khoản đền bù thiệt hại được đưa ra nhằm bù đắp thua lỗ thực tế của nguyên đơn; các khoản đền bù mang tính trừng phạt được đưa ra nhằm để trừng phạt bị đơn. Declaratory judgment. Án văn tuyên nhận. Khi một phiên tòa nêu khái quát các quyền của các bên theo một quy định, một chúc thư, hoặc một hợp đồng. Defendant. Bị đơn, bị cáo. Một người hoặc một tổ chức bị nguyên đơn kiện trong một vụ kiện dân sự; trong một vụ án hình sự, đây là người bị buộc tội là đã phạm tội. Deposition. Lời khai. Một lời khai có tuyên thệ được ghi lại bởi một viên chức được ủy quyền theo luật pháp. Những lời khai như vậy thường được dùng để kiểm tra các nhân chứng tương lai trong quá trình tìm hiểu vụ việc. Discovery. Tìm hiểu. Quá trình trong đó các luật sư tìm hiểu về vụ việc của phía bên kia để chuẩn bị cho phiên xét xử. Các công cụ thường được sử dụng trong quá trình tìm hiểu này bao gồm các lời khai có tuyên thệ, các lời cung và yêu cầu về tài liệu. Dissenting opinion. Ý kiến phản đối. Một ý kiến của một thành viên của tòa án không nhất trí với kết quả của vụ việc mà tòa án đưa ra. Diversity of citizenship suit. Vụ kiện giữa các công dân của các bang. Một vụ kiện dân sự được đưa ra bởi một công dân của một bang chống lại công dân của một bang khác. En banc. (“In the bench” hoặc “as a full bench”). Thủ tục tố tụng toàn thẩm. Toàn thể các quan tòa. Các phiên tòa có toàn bộ thành viên của tòa án tham dự, chứ không phải chỉ có một nhóm nhỏ các thẩm phán. Equity. Luật công bình. Một lĩnh vực luật pháp trong đó các thẩm phán có thể đưa ra một biện pháp mà có thể ngăn ngừa hoặc sửa chữa những sai lầm có thể xảy ra; ví dụ, một mệnh lệnh tòa án chống lại một cuộc đình công bất hợp pháp của một công đoàn. Ex post facto law. Luật có hiệu lực hồi tố. Đã bị cấm bởi Hiến pháp Hoa Kỳ, luật này tuyên bố một hành vi là bất hợp pháp sau khi hành vi này đã diễn ra. Federal question. Vấn đề liên bang. Nếu một vụ việc đưa ra trước tòa tập trung vào cách thức diễn giải một đạo luật của liên bang, Hiến pháp Hoa Kỳ, hoặc một hiệp ước, nó

sẽ được coi là một vấn đề liên bang và vụ việc có thể sẽ được xét xử bởi một tòa án Hoa Kỳ. Felony. Trọng tội. Một tội mà hình phạt dành cho nó có thể là tử hình hoặc phạt tù. Grand jury. Bồi thẩm đoàn. Một nhóm gồm từ 16 tới 23 công dân, những người nghe các bằng chứng trong những lập luận buộc tội được đưa ra bởi công tố viên, và quyết định xem liệu có cơ sở để tin rằng một cá nhân đã phạm tội hay không. Cũng xem indictment. Habeas corpus. Luật bảo thân. Một trát đòi (lệnh tòa án) thường được sử dụng để đưa một tù nhân ra trước tòa nhằm xác minh tính hợp pháp của hành động tống giam ông / bà ta. Immigration & Naturalization. sự di cư và nhập quốc tich Impeachment. Luận tội. Cách duy nhất theo đó một thẩm phán liên bang có thể bị cách chức. Hạ viện đưa ra lời buộc tội, và Thượng viện, sau khi xét xử, sẽ kết tội bằng hai phần ba số phiếu của các thành viên. Indictment. Cáo trạng. Quyết định của một bồi thẩm đoàn buộc bị đơn / bị cáo phải ra trước tòa để xét xử bởi vì bồi thẩm đoàn tin rằng có lý do để tiến hành việc xét xử. Inquisitorial method. Phương pháp điều tra. Thủ tục được sử dụng ở hầu hết các tòa án châu Âu và Mỹ Latinh, trong đó thẩm phán và bồi thẩm đoàn đóng vai trò tích cực trong phiên tòa, còn các luật sư chỉ hành động để hỗ trợ và bổ sung cho quá trình điều tra của tòa án. Cũng xem adversarial process. Interrogatories. Câu chất vấn tranh tụng. Các câu hỏi bằng văn bản được một bên trong một vụ kiện dân sự gửi cho bên kia như một phần của quá trình tìm hiểu trước khi xét xử. Bên nhận được câu chất vấn tranh tụng được yêu cầu phải trả lời có tuyên thệ. Judgment. Án văn. Quyết định chính thức của một phiên tòa cuối cùng giải quyết tranh chấp giữa các bên trong một vụ kiện. Judicial review. Xem xét của tòa án. Thẩm quyền của ngành tư pháp được tuyên bố các hành động của các ngành hành pháp và lập pháp là không hợp hiến. Jurisdiction. Thẩm quyền tài phán. Thẩm quyền của một tòa án được lắng nghe và quyết định các vụ tranh chấp pháp lý và cưỡng chế thực thi phán quyết mà nó đưa ra.

Justiciability. Phạm vi tài phán. Việc một thẩm phán cần nghe hoặc từ chối không nghe một số vụ việc nhất định. Nó khác với thẩm quyền tài phán, vốn liên quan tới quyền của một thẩm phán về mặt kỹ thuật trong việc lắng nghe một vụ việc. Ví dụ, các vụ kiện liên quan tới những vấn đề chính trị được xem như không thuộc phạm vi tài phán. Law. Luật pháp. Một quy phạm xã hội được thừa nhận bằng cưỡng chế hoặc trên thực tế bởi việc thực thi sức mạnh vật chất. Bên thực thi sức mạnh vật chất được xã hội thừa nhận là có quyền lực này một cách hợp pháp, ví dụ như sĩ quan cảnh sát. Litigation. Sự kiện tụng, tranh chấp Magistrate. Thẩm phán hành chính địa phương, thẩm phán tiểu hình. Một quan chức tư pháp cấp thấp, người nhận những lời buộc tội sau một vụ bắt giữ. Một thẩm phán hành chính địa phương có nghĩa vụ thông báo cho người bị buộc tội về những tội trạng chống lại ông / bà ta và quyền pháp lý của họ. Mandatory sentencing laws. Các luật xử phạt cưỡng chế. Các quy định đòi hỏi thời gian giam giữ tự động đối với một người phạm tội bị kết án, thường là trong một khoảng thời gian tối thiểu. Các luật này thường dành cho những tội có yếu tố bạo lực trong đó có sử dụng súng và dành cho những kẻ thường xuyên vi phạm. Mens rea. Ý chí phạm tội, yếu tố chủ quan của tội phạm. Yếu tố cấu thành tội phạm, được dự định bởi một người phạm tội. Thông thường, yếu tố tinh thần càng có tính tự nguyện và có chủ định thì tội phạm càng nghiêm trọng. Merit selection. Tuyển lựa theo công trạng. Một phương pháp tuyển chọn các thẩm phán bang đòi hỏi thống đốc phải bổ nhiệm các thẩm phán từ một danh sách lựa chọn những cái tên được đệ trình bởi một ủy ban đặc biệt được thành lập vì mục đích này. Sau khi phục vụ được một thời gian ngắn, thẩm phán này sẽ phải tranh cử trong một cuộc bỏ phiếu tín nhiệm. Lúc đó, những người bỏ phiếu sẽ quyết định liệu thẩm phán có được tín nhiệm để làm hết nhiệm kỳ đầy đủ hay không. Misdemeanor. Khinh tội. Một tội nhỏ. Hình phạt thường là quản thúc trong một thành phố hoặc bị giam tại hạt trong khoảng thời gian ít hơn một năm. Moot. Vụ việc có thể tranh luận. Miêu tả một vụ kiện khi các dữ kiện cơ bản hoặc vị thế của các bên có sự thay đổi quan trọng trong khoảng thời gian từ khi vụ kiện được đệ trình lên tòa tới khi nó được đưa ra xét xử trước các thẩm phán.

Nolo contendere. (“No contest”). Không tranh cãi. Một lời biện hộ của bị cáo hình sự trong đó ông / bà ta không phủ nhận những thực tiễn của vụ án, nhưng nói rằng ông / bà ta không phạm phải bất cứ tội nào, hoặc điều đó có thể có nghĩa rằng bị cáo không hiểu những lời buộc tội. Opinion of the court. Ý kiến của tòa án. Một lời giải thích bằng văn bản của thẩm phán về quyết định của tòa án. Bởi vì vụ việc có thể được xét xử bởi một ban thẩm phán trong một tòa phúc thẩm, nên ý kiến này có thể ở hai dạng. Nếu tất cả các thẩm phán đều nhất trí với phán quyết, một thẩm phán sẽ viết ý kiến này cho tất cả mọi người. Nếu không phải tất cả các thẩm phán đều nhất trí, quyết định chính thức sẽ được dựa trên quan điểm của đa số, và một thành viên của đa số sẽ viết ra quyết định này. Oral argument. Tranh luận miệng. Một cơ hội để các luật sư tóm tắt quan điểm của họ trước tòa và trả lời những câu hỏi của thẩm phán. Ordinance-making power. Thẩm quyền ra các sắc lệnh tạo bố cục. Quyền của các thống đốc bang được điền vào các chi tiết của một đạo luật được thông qua bởi cơ quan lập pháp bang. Original jurisdiction. Thẩm quyền tài phán ban đầu. Tòa án mà theo luật quy định phải là nơi đầu tiên xét xử một loại vụ việc nhất định. Ví dụ, trong những vụ kiện mà giá trị tranh chấp ít nhất là 75.000 USD giữa các công dân của các bang khác nhau, các tòa án hạt của liên bang là tòa có thẩm quyền tài phán ban đầu. Per curiam. (“By the court”). Theo tòa. Một ý kiến không được ký tên của tòa án, thường là ý kiến vắn tắt. Peremptory challenge. Khước biện võ đoán, phản đối suy đoán. Lời phản đối mà một luật sư có thể đưa ra đối với một hội thẩm viên tương lai. Hội thẩm viên này có thể bị gạt ra khỏi bồi thẩm đoàn mà không cần luật sư phải đưa ra một lý do công khai cho việc phản đối. Số lượng những sự phản đối theo kiểu này bị hạn chế theo luật pháp. Petit jury (hoặc trial jury). Bồi thẩm đoàn. Một nhóm công dân, những người lắng nghe các chứng cứ được cả hai bên đưa ra trước một phiên tòa và quyết định những thực tiễn đang được tranh cãi. Plaintiff. Nguyên đơn. Người khởi kiện trong một vụ kiện dân sự. Plea bargain. Thương lượng về bào chữa, thỏa thuận lời khai. Một sự thương lượng hoặc thỏa thuận được tiến hành giữa công tố viên và luật sư biện hộ của bị cáo, theo đó bị cáo sẽ thay đổi lời biện hộ từ vô tội sang có tội để đổi lại một mức độ khoan dung nào đó.

Political question. Vấn đề chính trị. Khi các tòa án từ chối phán quyết bởi họ tin rằng khi soạn thảo Hiến pháp Hoa Kỳ, những nhà sáng lập đất nước đã hàm ý rằng vấn đề đang xem xét cần phải được xử lý bởi Quốc hội hoặc tổng thống. Private law. Tư pháp. Luật pháp liên quan tới quyền và nghĩa vụ mà các cá nhân và các thể chế tư nhân phải có trong mối quan hệ với các cá nhân và các thể chế tư nhân khác. Probation. Tù treo. Hình phạt cho một tội lỗi, cho phé p người phạm tội vẫn được ở trong cộng đồng và không phải vào tù miễn là ông / bà ta tuân theo những chỉ dẫn có tính mệnh lệ nh của tòa án về hành vi của mình. Pro bono publico (“For the public good”). Vì lợi ích công. Thường dùng để chỉ sự đại diện pháp lý được tiến hành mà không cần phải trả phí vì một số mục đích từ thiện hoặc mục đích công. Public law. Công pháp. Những mối quan hệ mà các cá nhân có với bang với tư cách một thực thể có chủ quyền - ví dụ, luật thuế, luật hình sự và luật về An sinh xã hội. Recess appointment. Bổ nhiệm khi ngừng họp. Sự bổ nhiệm do tổng thống tiến hành trong thời gian Quốc hội ngừng họp. Những người được bổ nhiệm theo cách thức này có thể chỉ đảm nhiệm chức vụ khi nào Quốc hội nhóm họp lại. Reversible error. Sai lầm cần phải sửa chữa. Một sai lầm phạm phải tại tòa án cấp sơ thẩm nghiêm trọng tới mức nó đòi hỏi tòa phúc thẩm phải đảo ngược phán quyết của thẩm phán tòa sơ thẩm. Rule of four. Quy tắc bốn người. Tại Tòa án tối cao, phải có ít nhất bốn thẩm phán nhất trí đưa một vụ việc ra trước Tòa án thì vụ việc mới được đưa ra xem xét trước tòa. Rule of 80. Quy tắc 80. Khi tổng số tuổi và số năm đảm nhiệm chức vụ thẩm phán của một thẩm phán liên bang là 80, Quốc hội sẽ cho phép thẩm phán này được nghỉ hưu mà vẫn giữ nguyên lương và phúc lợi. Self-restraint (judicial). Sự tự hạn chế của thẩm phán. Sự lưỡng lự của một thẩm phán trong việc đưa vào trong một vụ việc ý kiến riêng của ông / bà ta về những chính sách công nào là tốt hay xấu. Cũng xem activism (judicial). Senatorial courtesy. Quyền ưu tiên của thượng nghị sĩ. Theo thông lệ này, các thượng nghị sĩ cùng đảng chính trị với tổng thống, những người phản đối một ứng cử viên mà

tổng thống muốn đề cử vào chức vụ thẩm phán của hạt tại bang của họ, sẽ có quyền phủ quyết chính thức đối với việc bổ nhiệm này. Sequestration (of jury). Sự cách ly (bồi thẩm đoàn). Trong những vụ việc rất quan trọng hoặc có tính chất nghiêm trọng, thẩm phán có thể cách ly bồi thẩm đoàn khỏi con mắt của công chúng, và việc này thường có nghĩa là bồi thẩm đoàn sẽ được tập trung tại một nơi và được cung cấp nơi ăn chỗ ở với chi phí do chính quyền chi trả. Socialization (judicial). Hòa nhập (của thẩm phán). Quá trình mà theo đó một thẩm phán mới được đào tạo chính thức và không chính thức để hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể của một thẩm phán. Standing. Vị thế tranh chấp. Vị thế của một người muốn đưa đơn kiện. Để có vị thế tranh chấp, người này phải (hoặc có nguy cơ trước mắt) bị thiệt hại trực tiếp và đáng kể. Stare decisis, the doctrine of. Học thuyết về “tôn trọng việc đã xử”. Trên thực tế, đây là truyền thống tôn trọng và tuân theo các quyết định trước đó của tòa án và những điểm đã được thiết lập trong luật pháp. Statutory law. Luật thành văn. Luật được ban hành bởi một cơ quan lập pháp, ví dụ như Quốc hội, một cơ quan lập pháp bang, hoặc một hội đồng thành phố. Three-judge panels (of appellate courts). Ủy ban ba thẩm phán (của các tòa phúc thẩm). Phần lớn các quyết định của các tòa phúc thẩm Hoa Kỳ không được đưa ra bởi toàn bộ các thành viên tòa án ngồi cùng nhau, mà do ba thẩm phán, thường là được lựa chọn ngẫu nhiên, nghe các vụ xét xử. Three-judge district courts. Các tòa án hạt với ba thẩm phán. Với một số vụ việc quan trọng, Quốc hội đã tuyên bố rằng vụ việc không thể được xét xử chỉ bởi một thẩm phán tòa sơ thẩm hành động đơn nhất, mà phải được quyết định bởi một ủy ban gồm ba thẩm phán, một trong số họ phải là thẩm phán của tòa phúc thẩm. Tort. Sự xâm hại, trách nhiệm ngoài hợp đồng. Sự xâm phạm quyền lợi dân sự hoặc vi phạm các nghĩa vụ đối với người khác. Trial de novo. Phiên xử mới. Một phiên xét xử mới trong đó toàn bộ vụ việc được xem xét lại như chưa từng được xét xử trước đó. Venue. Pháp đình. Địa điểm về mặt địa lý trong đó một vụ việc được xét xử.

Voir dire. Thẩm tra sơ khởi. Một thủ tục theo đó các luật sư của bên đối lập đặt câu hỏi cho các thành viên bồi thẩm đoàn tương lai trong một phiên tòa để xác định xem liệu hội thẩm viên có thành kiến đối với vụ việc cụ thể của họ hay không. Warrant. Trát đòi. Được đưa ra sau khi một đơn kiện, do một người nộp lên để kiện người khác, đã được đệ trình và xem xét bởi một thẩm phán hành chính địa phương, người nhận thấy có cơ sở cho việc bắt giữ. Writ of certiorari. Lệnh chuyển hồ sơ lên tòa cấp trên, lệnh lấy lên xét xử lại. Lệnh của Tòa án tối cao Hoa Kỳ yêu cầu tòa cấp dưới chuyển hồ sơ của một vụ việc mà Tòa tối cao sẽ tiến hành xét xử phúc thẩm.
Writ of mandamus. Lệnh thi hành, lệnh yêu cầu thực hiện. Lệnh của tòa án buộc một quan chức nhà nước phải hoàn thành nghĩa vụ của ông bà ta.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->