P. 1
CÁC GIÔNG BÒ LAI F1

CÁC GIÔNG BÒ LAI F1

|Views: 7,588|Likes:
Được xuất bản bởikutit0201

More info:

Published by: kutit0201 on Jan 18, 2010
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

02/18/2013

pdf

text

original

CÁC GIÔNG BÒ LAI F1

Lai tạo được giống bò thịt F1 crimousine ở bình Định
12/9/2009 2:22:40 PM

Bò lai này do KS Ngô Văn Theo- Trung tâm Giống vật nuôi Bình Định thực hiện (2007-2009) qua một đề tài nghiên cứu khoa học. Theo báo cáo đề tài: Số bê lai thịt F1 Crimousine, (giữa đực Crimousinevà cái nền lai Zebu) có 72% lông màu đỏ, mông nở, đùi to. Khối lượng trung bình cao hơn bê F1 Brahman- nhất là thời điểm 18-21 tháng tuổi (273,2kg). Tỷ lệ thịt xẻ lúc 21 và 24 tháng tuổi là 52% và 50% (đực và cái). Trong khi đó lượng thức ăn cho con F1 crimousine và F1 Brahman là như nhau

Bò lai F1 crimousine nhiễm hầu hết các loại ký sinhh trùng đưiừng ruột như các giống bò địa phương nhưng cường độ nhiễm thấp, có khả năng thích ứng vơi sđiều kiện khí hậu ở Bình Định Tính hiệu quả kinh tế, bò lai F1 crimousine từ 6-21 tháng tuổi, nuôi nhốt, lãi 2,1 triệu đồng/con; nếu bán thịt, so với bò F1 Brahman thì cao hơn 1,1 triệu đồng/con (bò đực 21 tháng tuổi) Đề tài khuyến cáo tiếp tục lai tạo bò lai F1 Crimousine để nuôi thịt. Đề tài được Hội đồng khoa học nghiệm thu ngày 3.12.2009 ./.

CÁC GIỐNG LỢN LAI F1 Một số giống lợn ngoại thuần hiện đang có ở Việt Nam
Chúng tôi xin giới thiệu với bà con nông dân một số giống lợn ngoại hiện đang có ở Việt Nam.

Lợn Yorkshire (Large White, Đại Bạch) :
Xuất xứ từ vùng Yorkshire ở Anh. Do quá trình lai tạo giữa heo địa phương với dáng đi linh họat, sắc lông toàn thân màu trắng có ánh vàng, nuôi con khéo, đẻ sai từ 10-12 con/lứa, chịu được kham khổ, thích nghi cao trong điều kiện khí hậu Việt Nam, không nhạy cảm với stress. Trọng lượng trưởng thành con đực 250 - 400kg/con, con cái 180 - 320kg/con. Dùng để làm nguyên liệu dòng đực hay dòng cái tạo heo cái F1 hoặc đực lai để sản xuất heo thịt thương phẩm.

Lợn Landrace :

Xuất xứ từ Đan Mạch, có nguồn gốc lai tạo từ heo Yuotland Đức và Yorkshire. Lông da màu trắng, tai to, cụp về phía trước che lấp mặt, dài đòn, mông nở, mình thon, trông

ngang ta thấy giống hình cái nêm. Heo nái đẻ sai từ 10 –12 con/lứa, nuôi con giỏi, nhưng giống heo này kén ăn và tương đối đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng cao và phải có điều kiện chăm sóc tốt. Trọng lượng trưởng thành con đực đạt 270-400kg/con, con cái 200-320kg/con. Dùng để làm nguyên liệu dòng đực tạo heo cái F1 hoặc đực lai để sản xuất heo thịt thương phẩm (cho lợn nội).

Lợn Duroc (heo bò):

Heo Duroc bắt nguồn từ vùng Đông Bắc của Mỹ, phát triển mạnh ở New York và New Jersey. Duroc có màu lông hung đỏ hoặc nâu đỏ, 4 móng chân và mõm đen. Thân hình vững chắc, tai xụ từ nửa vành phía trước, dài đòn, chân chắc và khỏe. Khả năng sinh sản của nái không cao, đẻ khoảng 7-9 con/lứa, nuôi con kém, tỷ lệ nạc cao. Trọng lượng trưởng thành con đực trên 300kg/con, con cái 200 - 300kg/con. Sử dụng làm nguyên liệu dòng đực để lai tạo với lợn nái lai F1(Yorkshire x Landrace) tạo heo thịt thương phẩm cho tỷ lệ nạc cao..(54-56%).

Lợn Pietrain :

Xuất hiện ở Bỉ vào khoảng năm 1920 và mang tên làng Pietrain, được công nhận giống năm 1956. Heo Pietrain lông da có những đốm lông da màu đen , trắng xen kẻ như lợn giống Ba xuyên ở Việt nam. tai đứng, phần mông rất phát triển, dày mình, khả năng sinh sản không cao khoảng 8-10 con/lứa, nuôi con không tốt, dễ bị đột tử khi di chuyển xa do có gen Halothan, tỷ lệ nạc rất cao (trên 60%). Trọng lượng trưởng thành con đực đạt 260-300kg, con cái 230-360kg.Chỉ dùng làm nguyên liệu dòng đực để lai vớí nái lai F1(Yorkshire x Landrace) tạo heo thịt thương phẩm cho tỷ lệ nạc cao (56-62%). Các hành động •

Con lai ngan - vịt, một hướng chăn nuôi mới
Cập nhật : 02/01/2009 17:22

Ảnh minh họa Con lai giữa ngan pháp R71 và vịt M14 đã được Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại xuyên, Viện Chăn Nuôi nuôi thử nghiệm tại Hà Nam và Bắc Ninh từ tháng 7/2007 đến tháng 7/2008 cho thấy tỷ lệ nuôi sống của chúng rất cao đạt 97-100% lúc bán thịt. Khối lượng cơ thể lúc 10 tuần tuổi là 3.21-3.39 kg/con. Tổng chi phí thức ăn cho 1 con là 10.7-12.8 kg. Tỷ lệ thịt xẻ là 72%, thịt có màu sắc và mùi vị hấp dẫn. Những con đực nuôi đến 90 ngày tuổi, chọn những con có khối lượng từ 4 kg trở lên, có ngoại hình cân đối, khoẻ mạnh để tiến hành nhồi cưỡng bức lấy gan béo. Điều kiện nhiệt độ thích hợp để nhồi cưỡng bức con lai là 18-22 độ C. Thời gian vỗ béo là 15 ngày, sau đó giết mổ thu gan. Khối lượng gan đạt 501 – 671g trong mùa thu và 330-357 g ở mùa hè. Chỉ tính riêng hiệu quả kinh tế từ nuôi cưởng bức con lai lấy gan béo đã thu lãi 132.000 đ/con (giá bán gan loại I hiện nay là 350.000 đ/kg). Hiện nay, Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên đã thành công với công nghệ thụ tinh nhân tạo giữa vịt và ngan để tạo ra con lai này. Tỷ lệ thụ tinh đạt trên 80% (nếu để thụ tinh tự nhiên giữa vịt và ngan thì tỷ lệ này rất thấp). Con lai ngan vịt đã được đưa vào sản xuất tại nhiều hộ nông dân tại Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương, Đồng Nai… Hy vọng với ưu thế lai xa giữa vịt và ngan, con lai có năng xuất cao và chất lượng thịt tốt, đặc biệt là tạo ra gan béo, một sản phẩm có giá trị kinh tế cao sẽ sớm phát triển và trở thành một hướng chăn nuôi mới ở các tỉnh thành trong cả nước. GIONG GA LAI F1

Kỹ thuật chọn lọc và nhân giống gà

Hiện nay, ngoài các giống gà địa phương có từ lâu đời, ở nước ta còn có rất nhiều giống gà được nhập nội có giá trị. Giống gà công nghiệp hướng thịt có: USA-30MPK, AA. Cobb. Lohmann meat. Giống gà công nghiệp hướng trứng có Lerghor; USA brown; Hy line; Brown Nick; Babcock B380 v.v... Giống gà nuôi thả vườn ưu việt có các giống Tam Hoàng, Lương Phượng, Kabiir, Sasso, USA-JA-57 v.v... Chúng tôi xin giới thiệu kỹ thuật chọn và nhân giống đối với các giống gà trên. I. Nhân giống gà thuần chủng (áp dụng cho các giống gà thuần) Nhân giống thuần chủng trong phạm vi một giống đã được áp dụng hàng chục năm nay trong ngành chăn nuôi. Về phương diện di truyền đó là sự giao phối giữa những cá thể hoàn toàn giống nhau về các yếu tố di truyền.

Bằng cách nhân giống thuần chủng đã duy trì được tính đồng nhất của giống trong nhiều thế hệ. Tuy nhiên, để tránh giao phối cận thân gây hậu quả xấu về mặt di truyền, cần phải ghép những con giống đã được chọn lọc vào những gia đình gà riêng biệt. Những gia đình gà này vẫn được tiếp tục theo dõi các chỉ tiêu năng suất sau khi ghép gia đình. Thông thường mỗi gia đình gà có 1 trống và 10-12 mái. Ngoài ra, trong mỗi gia đình còn có 1 - 2 trống dự phòng. Các cá thể trong gia đình đều được đeo số để tiện theo dõi. Lúc gà mới nở ra được đeo số ở cánh, lớn lên được đeo thêm số ở chân. Trứng của từng con mái đẻ ra cũng được đánh số và đưa vào ấp trong các khay riêng biệt. Để tránh nhầm lẫn do gà nhảy ra trong thời gian nở, người ta làm những khay ấp có chụp đậy. Dựa vào số liệu ghi trên vỏ trứng sẽ biết được lý lịch của chúng. Sau khi đã được chọn lọc dựa theo một số tình trạng cơ bản qua các giai đoạn tuổi khác nhau: lúc 1 ngày tuổi, giai đoạn hậu bị và giai đoạn đẻ, tiến hành đánh giá giá trị giống của từng cá thể và chọn ghép gia đình để tái sản xuất thế hệ tiếp theo với nguyên tắc anh em ruột hay anh em cùng bố khác mẹ hoặc cùng mẹ khác bố không được ghép vào một gia đình mới. Để tránh đồng huyết trong 4 thế hệ liên tục, cần phải luân chuyển trống mái theo nguyên tắc sau đây: Nếu trong quần thể có 20 gia đình (là số gia đình tối thiểu của một dòng) thì đánh số thứ tự từ 1-20. Con của mỗi gia đình được đeo số theo số của gia đình đó. Khi ghép gia đình mới ở thế hệ thứ I (F1), thì ghép trống là con của gia đình thứ nhất với mái là con của gia đình thứ 2 và ký hiệu số gia đình mới là 1/2 (ngầm hiểu tử số 1 là con trống, mẫu số 2 là con nái). Tiếp tục ghép con trống của gia đình số 2 với mái của gia đình thứ 3 và gia đình mới này mang ký hiệu 2/3. Cứ tiếp tục như vậy cho đến gia đình mang ký hiệu 20/1. Sang thế hệ II (F2) tiến hành ghép gà trống là con của gia đình số 1/2 với mái 1à con của gia đình số 3/4 ký hiệu gia đình mới này là: 1/2 /3 3/4 20/1

Tiếp tục làm như vậy sẽ có các gia đình mới mang các ký hiệu: 3/4 4/5 5/6 2/3

Theo quy luật đó, đến thế hệ thứ IV vẫn có 20 gia dình thuần chủng mà sự đồng huyết không xảy ra. Từ thế hệ thứ IV, quá trình ghép phối được lặp lại như thế hệ thứ 1. Vậy là thế hệ thứ IV của chu kỳ cũ trở thành thế hệ ban đầu của chu kỳ mới. Trên đây là sơ đồ ghép phối lý tưởng, nhưng trong thực tế sản xuất đến một thế hệ lào đó trong chu kỳ, không phải tất cả các gia

đình đều được giữ nguyên, mà do một số gia đình có thể bị chết trong quá trình nuôi hoặc chất lượng giống kém không được chọn. Vì thế, để tránh đồng huyết cần phải xây dựng 2 vòng ghép phối và như vậy mỗi dòng cần có tối thiểu 40 gia đình gà. II. Chọn lọc giống gà ông bà So với các dòng thuần, công tác giống đối với gà ông bà đơn giản hơn. Việc đánh giá chọn lọc giống đối với các đối tượng này chủ yếu theo phương pháp chọn lọc quần thể, tức là dựa vào chỉ tiêu năng suất, ngoại hình của bản thân con giống, mà không tính đến các chỉ tiêu năng suất bố mẹ, anh chị em ruột và anh chị em họ của chúng. Chỉ tiêu chọn giống quan trọng nhất đối với gà ông bà là khối lượng cơ thể và ngoại hình. Một số gà bị loại do một số khuyết tật ngoại hình hoặc khối lượng không đạt tiêu chuẩn. Có biến dị di truyền về khối lượng cơ thể trong hầu hết các dòng gà ông bà. Sự biến dị này có thể ứng dụng trong quá trình chọn lọc gà giống ông bà để phát huy tối ta tiềm năng di truyền của từng gà con được sinh ra từ những con giống này. Mặc dù tiến bộ di truyền đạt được do chọn lọc đối với mỗi cá thể chưa nhiều, nhưng lợi ích kinh tế tổng thể thu được từ tất cả đàn gà sản xuất ra là đáng kể. Trên đây là nguyên tắc ghép gia đình được áp dụng cho các cơ sở chăn nuôi gà thuần chủng có quy mô lớn. Đối với các hộ gia đình chăn nuôi có quy mô nhỏ, tự sản xuất con giống thì phương pháp tốt nhất để tránh đồng huyết là nhân giống theo nhóm. Theo đó, ngay từ thế hệ đầu tiên (thế hệ xuất phát) đàn gà giống được nuôi tách thành 4 nhóm riêng biệt. Khi tiến hành chọn ghép gia đình phải ghép trống của nhóm I với mái của nhóm II; trống nhóm II ghép với mái của nhóm III; trống nhóm III ghép với mái nhóm IV và cuối cùng trống nhóm IV với mái nhóm I. ở thế hệ tiếp theo cũng luân chuyển trống theo quy luật trên, sao cho trống và mái được ghép với nhau không cùng một nhóm. Khi chăn nuôi gà tài nông hộ, điều cần tránh là không sử dụng con trống hoặc con mái là con được sinh ra từ một con mái hoặc trống để ghép với chính bố mẹ chúng. Nếu muốn sử dụng gà mái đẻ trong 2-3 năm đẻ thì cách tốt nhất là thay thế con trống đã sử dụng phối giống ở thế hệ trước đó bằng cách mua gà trống từ nơi khác và sau khi đàn con sinh ra nuôi đến tuổi thành thục sinh dục (tuổi biết đạp mái) phải loại bán hết con trống, nhằm tránh sự phối giống giữa anh chị em với nhau.

1. Chọn gà con 1 ngày tuổi. - Gà con mang từ máy nở ra phải để riêng theo từng dòng trống và dòng mái và chọn tách trống mái theo yêu cầu đối với mỗi giống. - Cân 10% số gà nở ra để xác định khối lượng bình quân của từng dòng. Chọn những cá thể có khối lượng xấp xỉ khối lượng sơ sinh trung bình của từng dòng. - Chọn những cá thể có ngoại hình chuẩn: thân hình cân đối, không dị tật, lông bông tơi xốp, bụng thon nhỏ, không hở rốn, mắt tinh nhanh, mỏ và chân cứng cáp sáng bóng, dáng đi nhanh, khoẻ. Loại bỏ những cá thể có khác biệt so với một trong những đặc điểm nêu trên như: mỏ vẹo, bắt chéo hoặc khác thường; mắt kém, đồng tử méo; cổ vẹo; lưng cong; không có phao câu; không có đuôi; xương lưỡi hái bị vẹo, ngắn, dị dạng hoặc trồi ra ngoài; ngón chân và bàn chân cong, bàn chân sưng hoặc bị nhiễm khuẩn, trẹo đầu gối, ngực bị phồng lên, cơ ngực kém phát triển hoặc phát triển không bình thường so với cá thể khác; bộ lông không tơi xốp hoặc bị ướt dính. - Gà con sau khi được chọn cho vào hộp và phải để riêng theo từng dòng, mỗi hộp đựng 100 con. - Chuyển gà con xuống chuồng nuôi theo từng dòng với cơ cấu đàn như sau: so với gà bà ngoại thì số lượng gà bà nội chiếm tỷ lệ 30%, gà ông ngoại chiếm 20%. Còn gà ông nội chiếm 19% so với gà bà nội. - Mỗi ô chuồng nuôi không quá 300 con (nếu nuôi nền), nuôi tách riêng trống, mái từ lúc 1 ngày tuổi đến lúc 19-20 tuần tuổi. 2- Chọn gà lúc 21 ngày tuổi hoặc 42 ngày tuổi (ngày tuổi chọn lọc tuỳ thuộc từng giống, dòng). - Trước khi chọn giống cần phải kiểm kê chính xác số gà còn lại của từng dòng. - Xác định quy mô đàn giống dự kiến (số gà mái đầu kỳ của cả dòng mái và dòng trống ông bà). - Đối với gà bà ngoại: chỉ loại những cá thể có khuyết tật, ốm yếu, kể cả những gà trống bị lẫn. Thường giữ lại 95 - 97% số gà so với đầu kỳ.

- Đối với gà ông ngoại: sau khi loại những cá thể có khuyết tật, ốm yếu, chỉ giữ lại những con nặng cân nhất để làm giống; số lượng trống giữ lại thường là 60 -65% so với đầu kỳ. - Đối với gà bà nội: cũng chỉ loại những cá thể có khuyết tật về ngoại hình và thể chất, kể cả trống bị lẫn mái. Thường giữ lại 94 - 95% so với đầu kỳ - Đối với gà ông nội: sau khi loại những cá thể bị khuyết tật, ốm yếu, cũng chỉ giữ lại những con nặng cân nhất, khoẻ nhất để làm giống. Giữ lại 15% so với gà bà nội. - Những khuyết tật của các cá thể được biểu hiện bằng 1 trong những đặc điểm sau: mỏ vẹo, mắt kém, đồng tử méo, cổ vẹo, lưng cong vẹo, xương lưỡi hái bị vẹo, ngắn, dị dạng, đi bằng đầu gối, khoèo chân, hở rốn, ngón chân bị cong, sưng bàn chân, lông phát triển kém. - Công việc chọn lọc được tiến hành như sau: + Nếu đàn gà vào chọn được nuôi trong nhiều ô chuồng thì chọn theo từng ô độc lập. Mục tiêu là giữ lại những cá thể tốt nhất của từng ô chuồng. + Xác định khối lượng cơ thể trung bình của từng ô chuồng bằng cách cân chọn mẫu từ 10-20% số gà có mặt trong từng ô chuồng, sau đó tiến hành cân từng cá thể. Căn cứ vào khối lượng sống trung bình của từng mẫu, ngoại hình và số gà cần chọn của từng ô, mà quyết định giữ lại những cá thể nào làm giống. 3- Chọn gà lúc 19 - 20 tuần tuổi. - Trước khi đàn gà được chuyển lên chuồng gà đẻ để ghép trống mái, cần tiến hành chọn lọc lần thứ 3 - Các tính trạng được chọn lọc trong giai đoạn này chủ yếu là ngoại hình và thể chất. - Đối với 2 dòng trống: chọn những cá thể có khối lượng, đạt khối lượng chuẩn, khoẻ mạnh nhanh nhẹn, bộ lông phát triển, màu và tích tai to màu đỏ tươi, hai chân chắc chắn cân đối, không dị tật về ngón, dáng đứng tạo với mặt nền chuồng một góc 450. Loại bỏ những cá thể quá gầy, bị dị tật về ngoại hình. Tỷ lệ trống được giữ lại 12 - 13% so với dòng mái. Sau đó sẽ loại thải dần trong quá trình khai thác trứng giống để đạt tỷ lệ trống so với mái khoảng 9-10%.

- Đối với 2 dòng mái: giữ lại những cá thể có khối lượng sống đạt xấp xỉ trung bình của đàn, bộ lông bóng mượt, mào và tích tai phát triển màu đỏ tươi, mỏ và 2 chân chắc chắn cân đối, khoảng cách xương chậu và mỏm xương lưỡi hái rộng, bụng mềm, lỗ huyệt rộng cử động. Loại bỏ những cá thể quá gầy yếu, có dị tật về ngoại hình (xem bảng 1) 4. Chọn lọc giai đoạn gà đẻ - Để giảm bớt sự lãng phí về thức ăn, trong quá trình khai thác trứng giống, định kỳ hàng tháng một lần tiến hành loại thải những cá thể đẻ kém dựa theo một số đặc điểm ngoại hình sau đây: những cá thể có mào và tích tai kém phát triển, màu nhợt nhạt, lỗ huyệt nhỏ, khô, ít cử động, kể cả những cá thể vào giai đoạn cuối khai thác trứng mà bộ lông vẫn bóng mượt, lông lưng và lông cổ vẫn còn nguyên vẹn thì chứng tỏ rằng những cá thể đó đẻ kém cần phải loại thải (xem bảng 2) - Một công đoạn quan trọng trong công tác giống đối với gà ông bà là chọn phôi giữa các dòng. Những con trống và mái đưa vào thử nghiệm lai phải được chọn lọc kỹ càng, đặc trưng cho các dòng hoặc giống về năng suất, ngoại hình, đồng thời người chọn giống phải biết chọn phối thích hợp nhằm củng cố hoặc tạo ra ưu thế lai về một số tính trạng mong muốn ở con lai.
CÁC GIỐNG CÁ LAI F1

Thạc sĩ cá hô
Báo đất Việt - 30/09/2009

...Vinh nuôi dưỡng để lai tạo. Chỉ sáng tỏ chút ít như tự nhận nhưng mỗi lần nhắc tới cá hô là Vinh hào hứng lẫn đầy âu lo khi cá...nhóm của anh đã lai tạo thành công thế hệ cá hô đầu tiên và đàn cá F1 này đã sinh sản và lai tạo gần 10.000 con cá hô bột. Và từ...thức cung cấp cá hô giống với lượng cá con nhiều bất ngờ

CÁC GIỐNG LÚA LAI F1VÀ NGÔ LÀI1

Năm 2010: Việt Nam tự sản xuất 70% giống lúa trong nước
Kinh tế đô thị - 27/11/2009

...diện tích lúa lai, lượng hạt giống lúa lai F1 được sản xuất trong nước cũng ngày một tăng...sản xuất và cung ứng hạt giống lúa lai F1 năm 2010 và các năm tiếp theo trong cả nước đã diễn ra ngày 27/11 tại Lào Cai, Cục...nông dân tham gia sản xuất giống lai F1, một số giống lai, nhất là lai hệ...

Tự sản xuất 70% giống lúa trong nước vào 2010
vietnamplus.vn - 27/11/2009

...diện tích lúa lai, lượng hạt giống lúa lai F1 được sản xuất trong nước cũng ngày một tăng...sản xuất và cung ứng hạt giống lúa lai F1 năm 2010 và các năm tiếp theo trong cả nước đã diễn ra ngày 27/11 tại Lào Cai, Cục...nông dân tham gia sản xuất giống lai F1, một số giống lai, nhất là lai hệ.

Tuyển sinh ĐH-CĐ 2009: Những lưu ý quan trọng khi ôn thi
Thanh Niên - 21/06/2009

...không cần phải giống hệt câu chữ trong SGK, miễn sao đúng...Cơ chế ưu thế lai, giả thuyết siêu trội, các phương pháp tạo giống mới, các bước trong kỹ thuật chuyển...được ở thế hệ F1 là: A. 0,525AA...tỷ lệ kiểu gen ở F1, học sinh phải biết tính lại thành...

Lãi to từ giống bắp mới
Báo Nông nghiệp - 11/01/2010

...tím và trắng do Cty East West Seed International lai tạo và Cty Việt Nông nhập khẩu, phân phối. Tháng 11 vừa qua, bắp nếp tím dẻo được nông dân các...TNHH Việt Nông cho biết, bắp nếp tím dẻo giống mới này là giống lai F1, có hạt màu trắng và tím xen kẽ. Dạng...

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->