P. 1
Khái niệm và bản chất của tự do hóa tài chính

Khái niệm và bản chất của tự do hóa tài chính

|Views: 6,306|Likes:
Được xuất bản bởiMagic_7d

More info:

Published by: Magic_7d on Mar 05, 2010
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

03/09/2013

pdf

text

original

I. Khái niệm và bản chất của tự do hóa tài chính: 1. Tài chính:: a.

Khái niệm: Theo quan điểm khoa học đương đại – Tài chính là các quan hệ lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khác nhau được biểu hiện bằng tiền. b. Bản chất: Là “quan hệ lợi ích kinh tế”. c. Phương thức quan hệ: Thông qua các hoạt động cụ thể như: Tham gia đầu tư, sản xuất, phân phối theo các quan hệ tỷ lệ hoặc khuôn khổ giới hạn nhất định. d. Nội dung quan hệ lợi ích: Doanh thu, lợi nhuận, lợi tức, thuế... e. Hình thức biểu hiện lợi ích: Được đo bằng tiền dưới nhiều loại phương tiện khác nhau như: tiền mặt, tiền trên tài khoản, tiền điện tử, các loại giấy có giá thông qua các công cụ chủ yếu là lãi suất, tỷ giá và giá cả... 2. Khái niệm của tự do hóa tài chính: *Tự do hóa tài chính là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là hủy bỏ sự kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia, làm cho hệ thống này hoạt động tự do hơn và hiệu quả hơn theo quy luật thị trường. *Nội dung cơ bản của tự do hóa tài chính bao gồm: Tự do hóa lãi suất, tự do hóa hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại (NHTM), tự do hóa hoạt động ngoại hối, tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính trên thị trường tài chính. 3. Bản chất của tự do hóa tài chính: Bản chất của tự do hóa tài chính là hoạt động tài chính theo cơ chế nội tại vốn có của thị trường và chuyển vai trò điều tiết tài chính từ chính phủ sang thị trường, mục tiêu là tìm ra sự phối hợp có hiệu quả giữa Nhà nước và thị trường trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế – xã hội. Do đó, kết quả của tự do hóa tài chính thường được thể hiện bằng tỷ số giữa tiền mở rộng (tiền mặt và tiền gửi trong hệ thống NHTM) trên thu nhập quốc dân. II. Kinh nghiệm quốc tế về tự do hòa tài chính và những bài học rút ra đối với Việt Nam: Kinh nghiệm tự do hóa tài chính cho thấy tầm quan trọng của việc xử lý ngay từ đầu những vấn đề liên quan đến sự lành mạnh của hệ thống tài chính – ngân hàng, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ các nguồn lực và ngăn ngừa nguy cơ khủng hoảng. Nguyên nhân cơ bản của các cuộc khủng hoảng tài chính thường bắt nguồn từ các biện pháp tự do hóa tài chính. Có nhiều cách tiếp cận vấn đề tự do hóa tài chính. Trong đó, các nước OECD tập trung vào tự do hóa các luồng vốn, đầu tiên là tự do hóa đầu tư nước ngoài trực tiếp, cuối cùng là tự do hóa tài khoản vốn; ADB dựa vào rủi ro để đánh giá và xây dựng lộ trình tự do hóa tài chính với mục tiêu cuối cùng là tự do hóa tài khoản vốn; cách tiếp cận của IMF cũng khá phức tạp, đó là xem xét đầy đủ mọi vấn đề từ cải cách vi mô, cơ cấu, xây dựng thể chế, các chính sách kinh tế vĩ mô và cơ chế tỷ giá để xây dựng lộ trình tự do hóa. Đối với Trung Quốc đã xây dựng lộ trình tự do hóa tài chính dựa trên cách tiếp cận của ADB. Trình tự mở cửa thị trường tài chính của Trung Quốc được xây dựng cơ sở

thừa nhận sự yếu kém của hệ thống tài chính ngân hàng, đánh giá mức độ rủi ro và thực hiện tự do hóa thận trọng, đầu tiên là khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiếp theo là đầu tư gián tiếp nước ngoài vào TTCK, cuối cùng là tự do hóa các khoản vay nợ nước ngoài, cụ thể là: - Giải quyết nợ xấu để hạn chế rủi ro cho các ngân hàng; - Xây dựng thể chế để có hệ thống luật pháp công khai minh bạch; - Từng bước tự do hóa tài chính nội địa; - Từng bước tự do hóa lãi suất; - Tổ chức lại và củng cố các TCTD để tăng cường năng lực cạnh tranh; - Thực hiện cơ chế tỷ giá theo hướng linh hoạt hơn; - Giải quyết khó khăn tài khóa để giảm bớt tình trạng thất nghiệp. Tự do hóa tài khoản vốn là mục tiêu cuối cùng, nhưng Trung Quốc chưa đủ điều kiện nên được thực hiện có giới hạn với sự giám sát chặt chẽ, nhất là đối với dòng vốn ngắn hạn vào TTCK và dòng vốn ra. Về quản lý nợ vay nước ngoài, Chính phủ quyết định hạn mức vay nợ trung, dài hạn hàng năm, quy định thời hạn trả nợ và loại tiền vay và phân bổ cho các ngành nghề, khu vực. Trong quá trình tự do hóa tài chính, kiểm soát luồng vốn được coi là vấn đề được nhiều nước quan tâm đặc biệt, mục tiêu là đảm bảo tính tự chủ của CSTT và giảm áp lực đối với tỷ giá. Kiểm soát luồng vốn cũng nhằm bảo vệ sự ổn định tài chính – tiền tệ khi phải đối mặt với nguy cơ lạm phát do những luồng vốn vào liên tục, nhất là nguồn vốn ngắn hạn. Tuy nhiên, các biện pháp kiểm soát luồng vốn cũng có mặt trái của nó: - Kiểm soát luồng vốn, nhất là những hạn chế toàn diện được áp dụng, có thể gây trở ngại cho các giao dịch vốn và giao dịch vãng lai; - Các biện pháp kiểm soát có thể đòi hỏi chi phí hành chính khá lớn nhằm đảm bảo thực thi có hiệu quả; - Các biện pháp kiểm soát vốn nhằm bảo vệ thị trường trong nước có thể dẫn đến việc trì hoãn điều chỉnh những chính sách cần thiết; - Các biện pháp kiểm soát vốn có thể làm nảy sinh những nhận thức tiêu cực về thị trường, quốc gia áp dụng phải tốn kém hơn và khó khăn hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn nước ngoài.

Kinh nghiệm các nước cũng cho thấy, việc kiểm soát luồng vốn ra thường được quan tâm nhiều hơn. Sau khủng hoảng (rối loạn) tài chính, một số nước như Tây Ban Nha, Malaysia, Thái Lan tái thực hiện kiểm soát luồng vốn ra trước áp lực lớn về tỷ giá, mục tiêu là ngăn chặn đầu cơ và ổn định thị trường ngoại hối trong bối cảnh dự trữ ngoại hối giảm mạnh, các cơ quan tiền tệ trong nước có khoảng thời gian nhất định để khắc phục những mất cân bằng về kinh tế vĩ mô và thực hiện cải cách hệ thống ngân hàng. Trong đó, Tây Ban Nha phải thỏa thuận với các nước thành viên trong hệ thống về quyết định thay đổi tỷ giá, Thái Lan áp dụng cơ chế “neo” tỷ giá tại thời điểm áp đặt kiểm soát, Malaysia thực hiện cơ chế tỷ giá thả nổi có sự quản lý của Nhà nước. Nhằm hạn chế luồng vốn ra, Malaysia thực hiện đánh thuế vào lợi nhuận từ đầu tư gián tiếp không kể cổ tức và lãi thu được, thu nhập liên quan đến các giao dịch vãng lai và các luồng đầu tư trực tiếp nước ngoài; Thái Lan yêu cầu các tổ chức tài chính hạn chế và đình chỉ các giao dịch với người không cư trú (bao gồm cho vay đồng baht qua giao dịch hoán đổi, giao dịch kỳ hạn về đồng baht và bán đồng baht lấy ngoại tệ), phải thanh toán bằng đô la Mỹ đối với giao dịch mua hối phiếu bằng đồng baht trước kỳ hạn và những công cụ nợ khác, cấm các nhà đầu tư cổ phiếu nước ngoài chuyển vốn về nước bằng đồng baht (nhưng được tự do chuyển vốn bằng ngoại tệ), người không cư trú phải áp dụng tỷ giá nước ngoài khi chuyển đổi lợi nhuận bằng đồng baht thu được từ việc bán chứng khoán. Về kiểm soát luồng vốn ra, kinh nghiệm của các nước cho thấy: - Để đảm bảo hiệu quả, các kiểm soát phải toàn diện và cần được tiến hành một cách bắt buộc đồng thời với cải cách và điều chỉnh chính sách cần thiết. Hiệu quả của những kiểm soát này dường như bị hạn chế trong những thị trường phức tạp; - Bên cạnh những tác động tích cực, các biện pháp kiểm soát có thể dẫn đến phản ứng tiêu cực hơn từ các thị trường tài chính quốc tế và làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư quốc tế; - Các kiểm soát không có tác dụng bảo vệ kéo dài khi phải đối mặt với động cơ tránh kiểm soát, nhất là chênh lệch thu nhập hấp dẫn và kỳ vọng lớn của thị trường vào việc giảm tỷ giá hối đoái; - Khả năng kiểm soát hoạt động thị trường nước ngoài có thể là phương tiện để hạn chế luồng vốn vào và ngăn chặn các áp lực đầu cơ; - Các biện pháp hiệu quả hạn chế rủi ro của các giao dịch hợp pháp, bao gồm đầu tư trực tiếp nước ngoài và các giao dịch phòng ngừa liên quan đến thương mại, nhưng có thể làm tăng chi phí tiếp cận thị trường vốn quốc tế. Đối với Việt Nam, quá trình tự do hóa tài chính cần được thực hiện theo những định hướng cơ bản sau: - Tự do hóa tài chính phải được tiến hành theo lộ trình thích hợp, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển kinh tế với tốc độ cao và bền vững;

- Tự do hóa phải được coi là phương tiện, là khâu đột phá và được tiến hành trước một bước trong tiến trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế; - Tự do hóa tài chính phải chịu sự kiểm tra giám sát chặt chẽ nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ quốc gia; - Tự do hóa tài chính phải được tiến hành cùng với việc tự do hóa kinh tế và thương mại. III. Thực trạng về tự do hóa tài chính ở Việt Nam: 1.Từng bước hội nhập: Với cái nhìn chiến lược và phương chăm đúng đắn, các nhà quản lý và điều hành kinh tế đã tiến hành cải cách hệ thống tài chính, cơ cấu lại hệ thống ngân hàng Việt Nam để từng bước hội nhập với kinh tế toàn cầu. Nhìn chung trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã có những việc làm thiết thực đánh dấu cho tiến trình hội nhập trong giai đoạn đầu: - Thiết lập được các mối quan hệ tài chính với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế: Quỹ tiền tệ thế giới (IMF); Ngân hàng thế giới (WB) kể từ năm 1992. - Gia nhập và trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995. - Tham gia các diễn đàn hợp tác kinh tế: Diễn đàn hợp tác Á – Âu năm tháng 3.1996 với tư cách là thành viên sáng lập. Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) từ tháng 11.1998. - Tham gia khu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). - Từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo được hành lang pháp lý an toàn trong kinh doanh. Điều này được đánh dấu bởi việc ban hành hàng loạt các luật, sửa đổi bổ sung một số điều khoản trong các bộ luật sao cho phù hợp với tình hình hoạt động trong giai đoạn đổi mới của nền kinh tế và thông lệ quốc tế trong trong tiến trình hội nhập. Chẳng hạn luật doanh nghiệp, luật ngân hàng - Điều đặc biệt đáng lưu ý là vào tháng 7.2000, Việt Nam đã tiến hành đàm phán và ký kết hiệp định thương mại Việt Mỹ, đến tháng 12.2001 Quốc hội hai nước đã chính thực thông qua hiệp định này. - Về việc điều hành lãi suất: đã từng bước gỡ bỏ dần các ràng buộc trong cơ chế điều hành lãi suất. Qua nhiều lần thay đổi cơ chế điều hành lãi suất, hiện nay đã tiến tới tự do hóa lãi suất hoàn toàn. + Sau khi hệ thống Ngân hàng Việt Nam được tổ chức theo mô hình Ngân hàng 2 cấp, hoạt động theo cơ chế thị trường thì cơ chế lãi suất bao cấp đã được loại bỏ.

+ Từ tháng 6.1992 đến cuối năm 1995 điều hành lãi suất theo khung lãi suất (bao gồm lãi suất trần với lãi suất cho vay và lãi suất sàn với lãi suất huy động). + Từ đầu năm 1996 đến tháng 7.2000 Ngân hàng Nhà nước áp dụng mức lãi suất trần đối với lãi suất cho vay. + Từ tháng 8.2000 đến tháng 5.2001 áp dụng cơ chế lãi suất cơ bản, nghĩa là Ngân hàng Nhà nước sẽ công bố lãi suất cơ bản và biên độ dao động cho phép trên cơ sở đó ngân hàng thương mại sẽ quyết định lãi suất kinh doanh của mình. Trong cơ chế này lãi suất cơ bản đóng vai trò rất quan trọng trong việc quyết định lãi suất kinh doanh của ngân hàng + Từ tháng 6.2001 đến tháng 5.2002 áp dụng cơ chế lãi suất cơ bản đối với đồng Việt Nam và lãi suất thị trường đối với ngoại tệ(USD). + Từ tháng 6.2002 đến nay thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận cho cả Việt Nam đồng và ngoại tệ. Nghĩa là việc ban hành lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước chỉ mang tính chất làm tín hiệu cho thị trường, lãi suất được hình thành hoàn toàn dựa trên quan hệ cung cầu vốn thị trường và mức độ tín nhiệm trong quan hệ tài chính - Tổ chức phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ, một mặt là để huy động ngoại tệ mặt khác nhằm đưa sản phẩm tài chính của Việt Nam đi vào giao dịch trên thị trường quốc tế. Qua đó cho thấy thiện chí của Việt Nam trong tiến trình hội nhập. - Về điều hành tỷ giá: Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện việc công bố tỷ giá trên cơ sở tỷ giá bình quân chung trên thị trường liên Ngân hàng và kèm theo biên độ dao động cho phép, cụ thể kể từ tháng 07.2002 đến nay biên độ dao động là 0.2 %. Điều này cho thấy tỷ giá hoàn toàn được điều chỉnh một cách linh hoạt theo cơ chế thị trường - Từng bước cơ cấu, sắp xếp lại hệ thống ngân hàng Việt Nam theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh trong tiến trình hội nhập, nội dung chủ yếu là cơ cấu về vấn đề tài chính của hệ thống ngân hàng cụ thể là: + Tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại quốc doanh, theo kế hoạch giai đoạn từ năm 2002 đến 2005 là 7.840 tỷ đồng Việt Nam dưới dạng trái phiếu đặc biệt do Chính phủ phát hành, hiện nay việc tăng vốn đã thực hiện xong đợt I với tổng lượng trái phiếu phát hành khoảng 3.840 tỷ đồng Việt Nam, phần còn lại sẽ tiếp tục thực hiện cho đến năm 2005. + Tăng vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần theo hướng sáp nhập các NHTMCP có tiềm lực tài chính yếu vào các NHTM CP có tiềm lực tài chính mạnh hơn, giải thể các ngân hàng hoạt động không có hiệu quả, kết quả hiện nay chỉ có 21 ngân hàng thương mại cổ phần đô thị trên tổng số 30 ngân hàng ban đầu và 15 ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn trên tổng số 21 ngân hàng ban đầu.

Kết quả trên chỉ cho thấy bước đi thuận lợi ban đầu của Việt Nam trong tiến trình hội nhập. Nhưng để đạt được mục đích cuối cùng trong tiến trình hội nhập thì cần phải nhận thức sâu hơn nữa những thuận lợi và khó khăn cũng như thời cơ và thách thức để có bước chuẩn bị tốt hơn b.Thuận lợi -Khi đề cập đến những thuận lợi trong tiến trình hội nhập thì trước hết phải kể đến vai trò lãnh đạo của Nhà nước, luôn luôn thể hiện sự nhất quán trong quản lý và điều hành nền kinh tế, chủ động đổi mới và hội nhập đúng lúc, phù hợp với xu thế của thời đại. -Môi trường đầu tư tại Việt Nam được đánh giá là có mức độ an toàn cao, ổn định về an ninh và chính trị, được công ty Standard and Poor xếp hạng tín nhiệm là BB vào tháng 5.2002 so với công ty Moody’s Invertor Service xếp hạng B vào tháng 04.2001. Điều này chứng tỏ Việt Nam là môi trường đầu tư có nhiều hứa hẹn. -Kế thừa được những kinh nghiệm của một số quốc gia đi trước. -Được sự đồng tình ủng hộ của tất cả các đơn vị cá nhân trong tất cả các thành phần kinh tế. c.Khó khăn Mặc dầu có những thuận lợi từ nhiều phía song trong tiến trình hội nhập vẫn không tránh khỏi những khó khăn nhất định: - Do có một thời gian khá dài duy trì cơ chế tập trung bao cấp, nên khi chuyển sang cơ chế thị trường còn nhiều vướng mắc trong vấn đề quản lý. - Đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng, gần 40 năm tồn tại và hoạt động theo mô hình ngân hàng một cấp. Do đó khi chuyển sang mô hình ngân hàng 2 cấp không tránh khỏi một số hạn chế nhất định. Về phía Ngân hàng trung ương: + Chưa thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước đối với các ngân hàng thương mại. Việc thanh tra kiểm soát, xử lý nợ tồn động đối với các ngân hàng thương mại chưa được thực hiện đúng mức. + Ngân hàng trung ương chưa thể hiện được tính độc lập tương đối trong quản lý và điều hành hệ thống ngân hàng. Do đó trong mảng nghiệp vụ ngân hàng đối với các ngân hàng thương mại chưa được quan tâm đúng mức, thể hiện rõ nhất là đối với ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, do đó tạo ra một trạng thái cạnh tranh không cân sức trong lĩnh vực ngân hàng.

Về phía ngân hàng thương mại: + Năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam còn rất yếu, đặc biệt là đối với các NHTMCP. Do đó khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam đối với ngân hàng thương mại nước ngoài có phần hạn chế. Trong đó NHTMQD thành phần chủ chốt của hệ thống ngân hàng Việt Nam có vốn tương đối lớn nhưng so với ngân hàng nước ngoài thì rất thấp. Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có vốn cao nhất trong hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh nhưng chỉ có khoảng 140 triệu USD. Đối với NHTMCP thì mức vốn bình quân chung dưới 10 triệu USD, trong đó Eximbank được xem là NHTM CP có vốn lớn nhưng cũng chỉ khoảng 300 tỷ VND thấp hơn rất nhiều so với mức vốn của chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Do đó đây là một bất lợi rất lớn trong vấn đề cạnh tranh khi hội nhập. + Nghiệp vụ của ngân hàng thương mại chưa phong phú, chủ yếu là các nghiệp vụ truyền thống, do đó làm cho hoạt động của ngân hàng trở nên đơn điệu chưa thật sự thu hút đối với khách hàng: Về nghiệp vụ nguồn vốn : Hình thức huy động còn hạn chế chủ yếu dưới dạng nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiết kiệm .… Trong cơ cấu vốn huy động thì vốn ngắn hạn lại chiếm tỷ trọng lớn so với các thành phần khác . Điều này chứng tỏ NHTM chưa xây đựng được chiến lược huy động vốn dài hạn, chưa kết hợp được hình thức huy động vốn với các phương thức thanh toán hiện đại. Do đó không thể khai thác hết nguồn vốn tìm năng trong nền kinh tế. Về nghiệp vụ sử dụng vốn: Nghiệp vụ sử dụng vốn hiện nay chủ yếu là hoạt động tín dụng nhưng trong mảng này chưa mở rộng được hoạt động cho vay mới chẳng hạn tín dụng thấu chi, chiết khấu chứng từ có giá, cho vay tiêu dùng thì chỉ áp dụng cho thành phần kinh tế nhà nước. Hoạt động đầu tư thì chủ yếu tập trung vào mua các tín phiếu và tín dụng kho bạc chưa mạnh dạn đầu tư vào các loại chứng khoán khác. Về kinh doanh dịch vụ ngân hàng: Được xem là mảng nghiệp vụ mang lại tỷ suất lợi nhuận cao nhưng chưa có sự quan tâm đúng mức. Dịch vụ chủ yếu của ngân hàng hiện nay là dịch vụ thanh toán, chuyển tiền…. Chất lượng sản phẩm dịch vụ còn hạn chế chưa tạo được lợi thế trên thị trường + Trình độ chuyên môn nghiệp vụ cán bộ công nhân viên chưa đồng đều. Ngân hàng chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ ngân hàng.

+ Trong quản lý chưa có sự tách bạch giữa nghiệp vụ chính sách và nghiệp vụ kinh doanh, chủ yếu là ở các NHTM QD. Do đó tạo sức ỳ trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Qua những thuận lợi và khó khăn vừa nêu trên đặt ra cho Việt Nam nhiều thách thức đòi hỏi các nhà quản lý điều hành nền kinh tế cần phải quan tâm nhiều hơn nữa trong việc cải tổ lại hệ thống ngân hàng Việt Nam. IV.Những giải pháp thúc đẩy tự do hóa tài chính ở nước ta: Phải chủ động tự do hoá tài chính trên cơ sở: Minh bạch hoá mối quan hệ giữa CSTT và CSTK, làm cho cả 2 chính sách này ngày càng lành mạnh bằng cách trao nhiều quyền lực cho NHTW trong việc hoạch định và thực thi CSTT. NHTW phải đủ sức và đủ công cụ để bảo đảm ổn định sức mua của đồng tiền Việt nam; Đủ sức kiểm soát và làm chủ các nghiệp vụ chính của NHTW như: Điều hành thị trường tiền tệ; Điều hành và kiểm soát toàn bộ hệ thống thanh toán quốc gia; Đảm bảo trên đất Việt nam chỉ tiêu tiền VN và nhanh chóng thực hiện lộ trình tự do chuyển đổi cho đồng tiền VN; Đổi mới cơ chế và quyền lực trong hoạt động thanh tra – giám sát hoạt động Ngân hàng của mọi loại Định chế tài chính (ngay cả khi có Uỷ Ban giám sát tài chính ngoài NHTW); -Mọi hoạt động có tính chất đầu tư của khu vực tài chính công phải thực hiện thống nhất theo cơ chế thị trường, đều phải bị điều chỉnh thống nhất bởi Luật chuyên ngành về Ngân hàng; Hạn chế dần và có kỷ cương minh bạch, công khai về các hoạt động tín dụng chính sách ưu đãi đối với khu vực thuộc đối tượng chính sách ưu đãi của Nhà nước; Thống nhất một mạng thanh toán quốc gia đối với mọi Pháp nhân có quan hệ thanh toán với Ngân hàng, kể cả khu vực NSNN và khu vực tài chính Nhà nước ngoài NSNN. - Cần phải đứng trên lợi ích của Nhà nước để dẫn dắt thị trường bằng cách có chính sách “dãn” rộng hơn khoảng cách giữa các lần cổ phần hoá từng NHTMNN hay từng DNNN nếu không, một bộ phận tài sản của Nhà nước sẽ có xu hướng rơi vào tay cá nhân các nhà đầu cơ! - Đào tạo và từng bước phổ cập kiến thức phổ thông về cung ứng và “mua” các dịch vụ tiện ích từ Ngân hàng. Mở rộng việc chuyển quan hệ tín dụng trực tiếp giữa cá nhân với Ngân hàng sang quan hệ tín dụng gián tiếp thông qua các Công ty, Nhà máy chế biến, Tập đoàn công nghiệp, Tập đoàn thương mại đồng thời có chính sách khuyến khích phát triển mạnh mẽ việc mở tài khoản thanh toán qua Ngân hàng của cả Pháp nhân và thể nhân để cùng với các giải pháp công nghệ nhanh chóng nhất thể hóa thẻ thanh toán trên lãnh thổ Việt nam ...

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->