P. 1
Ô NHIỄM NƯỚC VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÍ

Ô NHIỄM NƯỚC VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÍ

|Views: 14,753|Likes:
Được xuất bản bởikhmt

More info:

Published by: khmt on Mar 18, 2010
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

07/24/2013

pdf

text

original

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

KHOA MÔI TRƯỜNG

BÁO CÁO ĐỊA CHẤT MÔI TRƯỜNG

Ô NHIỄM NƯỚC VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÍ
GVHD: HÀ QUANG HẢI NHÓM: 05MT1

DANH SÁCH NHÓM 05MT1
STT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 TÊN LÊ VĂN ĐẠT LỤC VĂN HỢP VŨ PHI HẢI LÊ VĂN HỒNG VƯƠNG NGỌC LY NGUYỄN THỊ DIỄM HẰNG NINH THỊ DIỄM HẰNG TRẦN THỊ MIỀU TRẦN NHÂN LĨNH NGUYỄN THỊ BẢO UYÊN MSSV 05170142 0517043 0517036 0517042 0517056 0517039 0517040 0617111 0517057 0517130

Nội dung: Một trong những vấn đề môi trường quan trọng đối với loài người trên thế giới là sự ô nhiễm và bệnh tật từ nguồn nước. Tập trung vào các vấn đề chính sau: -Định nghĩa ô nhiễm nước và các vấn đề liên quan như chất gây ô nhiễm nước. -Phân biệt sự khác nhau giữa nguồn ô nhiễm tập trung và không tập trung. -Hiểu được các quá trình mà nước ngầm có thể bị ô nhiễm và biện pháp khắc phục. -Các tiêu chuẩn chất lượng nước. -Hiểu được các vấn đề về nguyên tắc của xử lí nước thải -Qúa trình phục hồi và xử lí nước thải.

1. Khái quát về ô nhiễm nước:
Ô nhiễm nước là sự suy thoái chất lượng nước được đo bởi các tiêu chuẩn sinh học, hóa học và vật lí. Sự suy giảm này được đánh giá dựa theo việc sử dụng nước, không đúng tiêu chuẩn, và sức khỏe cộng đồng hay tác động sinh thái. Từ sức khỏe cộng đồng hay quan điểm sinh thái, chất ô nhiễm là những chất vượt quá giới hạn cho phép mà gây hại đến các đời sống của sinh vật. Như vậy, lượng dư của kim loại nặng, chất đồng vi phóng xạ, photpho, nitơ, natri, và những nguyên tố cần thiết khác, cũng như vi rút, vi khuẩn gây bệnh, tất cả đều là chất gây ô nhiễm. Một vài chất có thể là chất ô nhiễm trong một giai đoạn riêng biệt mặc dù nó không gây hại ở những giai đoạn khác. Ví dụ, dư Natri như là muối không gây nguy hiểm, nhưng đối với một số người trong chế độ ăn kiêng lại hạn chế lấy vào vì mục đích y học. Những vấn đề liên quan đến ô nhiễm nước rất nhiều. Đặc biệt là thời gian lưu trữ và số lượng lưu trữ nước trong nhiều giai đoạn của chu kì nước. Ví dụ, nước ở sông có thời gian lưu trữ trung bình khoảng 2 tuần. Vì thế, khi bị ô nhiễm (không liên quan đến nhân tố trầm tích dưới đáy sông, là kết quả của một quá trình dài), mà liên quan đến chu kì ngắn vì nước sẽ mau chóng thoát khỏi môi trường sông. Mặt khác sự ô nhiễm tương tự sẽ đưa vào

hồ hoặc biển, nơi mà thời gian lưu trữ sẽ dài hơn và khó giải quyết vấn đề ô nhiễm hơn. Nước mặt, không giống như nước sông, có thời gian lưu trữ dài (hàng trăm năm tới hàng nghìn năm). Vì thế sự di chuyển của chất ô nhiễm từ nước mặt là một quá trình rất chậm và sự phục hồi rất tốn kém và khó khăn. Sự ô nhiễm nước có thể có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo: -Sự ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên là do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt… Nước mưa roi xuống mái nhà, mặt đất, đường phố đô thị, khu công nghiệp… kéo theo các chất bẩn xuống sông, hồ hoặc các sản phẩm của các hoạt động sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng. Sự ô nhiễm này gọi là ô nhiễm diện. -Sự ô nhiễm nhân tạo chủ yếu do xả nước thải từ các khu dân cư, khu công nghiệp, hoạt động giao thong vận tải, thuốc trừ sâu, phân bón trong nông nghiệp… vào môi trường nước. Theo thời gian,các dạng gây ô nhiễm có thể diễn ra thường xuyên hoặc tức thời do sự cố rủi ro. Theo bản chất của các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân biệt: ô nhiễm vô cơ, ô nhiễm hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm vi sinh vật, cơ học hay vật lí (ô nhiễm nhiệt hoặc do các chất lơ lửng không tan), ô nhiễm phóng xạ. Theo phạm vi thải vào môi trường nước, người ta phân biệt: ô nhiễm điểm (ô nhiễm từ một miệng cống thải nhà máy…) và ô nhiễm diện (ví dụ ô nhiễm từ một vụ tràn dầu trên một vùng biển). Theo vị trí không gian, người ta phân biệt: ô nhiễm sông,ô nhiễm hồ, ô nhiễm biển, ô nhiễm nước mặt, ô nhiễm nước ngầm…

2. Các chất gây ô nhiễm nước:
Nhiều chất khác nhau có thể gây ô nhiễm nước mặt và nước ngầm.

2.1 Các tác nhân hóa lí: Chất thải cần oxy:
Các sinh vật chết bị phân hủy, nó bị vi khuẩn tiêu thụ, vi khuẩn cần ôxy. Nếu có nhiều vi khuẩn hoạt động, oxy trong nước sẽ bị giảm xuống còn rất thấp nên cá và các sinh vật chết, sông suối không có oxy là sông suối chết, trong đó có nhiều cá và sinh vật chúng ta cần. số lượng oxy dung cho vi khuẩn hoạt động gọi là BOD- nhu cầu oxy hóa học, rất hay được dùng trong việc đo lường và quản lí chất lượng nước. BOD được tính theo mg/l tiêu thụ trong 5 ngày ở 20°C. BOD cao nói lên mức phân rã sinh vật trong nước cao. Sinh vật chết trong suối và sông có từ nguồn tự nhiên (như xác chết từ rừng), từ nông nghiệp và rác thải thành phố. Khoảng 33% BOD trong sông suối là kết quả của hoạt động nông nghiệp. Ở vùng thành thị, những nơi có hệ thống

cống rãnh tiếp nối và nước chảy xiết có thể thêm vào một lượng BOD đáng kể vào sông suối khi bị lũ lụt, nếu không có biện pháp xử lí có thể quá tải và chảy tràn vào sông suối gây ô nhiễm. Theo tổ chức chất lượng môi trường, bước đầu của ô nhiễm nước là sự hòa tan oxy nhỏ hơn 5mg/l nước.

2.2 Tác nhân sinh học: Sinh vật gây bệnh:
Các vi sinh vật gây bệnh là nhân tố gây ô nhiễm sinh học quan trọng . Bao gồm các bệnh nguy hiểm lây qua nước uống như là dịch tả, thương hàn, viêm gan và bệnh lỵ Bởi vì chúng rất khó kiểm soát các mầm bệnh một cách trực tiếp, chúng ta sử dụng phương pháp điếm vi khuẩn trực khuẩn đường ruột, đây là phương pháp đo sự ô nhiễm sinh học nước và tiêu chuẩn đo lường ô nhiễm vi khuẩn rất phổ biến. Những vi khuẩn nguy hiểm và phổ biến này hay có trong ruột người và chất thải của người. Trước đây, dịch bệnh lây lan qua đường nước đã giết hàng ngàn người ở thành phố của Mỹ. Dịch bệnh được trừ khử bằng cách cách li nguồn nước thải và nước uống và khử trùng nước uống trước khi dùng. Thật không may, đây không phải là biện pháp được áp dụng trên thế giới, và mỗi năm khoảng vài tỉ người (chủ yếu là các nước nghèo) bị mắc các bệnh lây qua đường nước uống. Ví dụ, những năm 90, dịch tả xảy ra ở miền nam châu Phi. Dịch bệnh bùng phát đe dòa cả những nước phát triển. Dịch bệnh bùng phát rộng lớn nhất được biết đến là ở Mỹ năm 1993. Năm đó, có khoảng 400 ngàn trường hợp xảy ra ở Milwaukee, Wisconsin. Dịch bệnh này gây ra triệu chứng giống cảm cúm, do vi sinh vật kí sinh gây ra, có thể gây hại cho con người, làm suy giảm hệ thống miễn dịch, giống như AIDS hoặc ung thư. Các sinh vật kí sinh có thể chống lại sự khử trùng, và người dân ở Milwaukee được khuyên là nên đun sôi nước trong suốt lúc dịch bệnh xảy ra. Sự bùng phát này là tiếng cảnh báo về chất lượng nước vì nhiều người sử dụng nước mặt sẽ dễ bị tấn công như ở Milwaukee. Sự đe dọa bùng phát dịch bệnh đánh dấu một thảm họa kế tiếp sau động đất, lũ lụt, và bão, bởi vì những sự kiện này có thể gây thiệt hại đến cống rãnh hoặc làm chúng quá tải, là kết quả của sự làm ô nhiễm nguồn nước. VIỆT NAM Hiện nay tỷ lệ người nhiễm giun sán, giun đũa, giun móc... ở Việt Nam được xem là cao nhất thế giới. Những khảo sát gần đây cho thấy gần 100% trẻ em từ 4 - 14 tuổi ở nông thôn nhiễm giun đũa, từ 50 - 80% nhiễm giun móc. Các bệnh viêm da dị ứng, sán lá gan, lá lợn vẫn đang hoành hành… "Vấn nạn" ô

nhiễm nguồn nước và môi trường càng trở nên cấp bách hơn, khi các loại bệnh xảy ra, đặc biệt là ỉa chảy, lỵ ngày càng có xu hướng gia tăng. Trong 6 tháng đầu năm 2003, dịch bệnh viêm não cấp của trẻ nhỏ dưới 15 tuổi lây truyền qua đường tiêu hoá đã gây ra 323 ca mắc bệnh trong đó có 33 ca tử vong. Các bệnh lây lan qua đường nước:

Hiện ở Việt Nam chưa phát hiện loại bệnh nào có liên quan đến asen, nhưng theo nhiều nghiên cứu của thế giới, người uống nước ô nhiễm asen lâu ngày sẽ có triệu chứng đầu tiên như có các đốm sẫm màu trên thân thể hay đầu các chi, đôi khi gây niêm mạc trên lưỡi hoặc sừng hoá trên bàn tay, bàn chân. Asen có thể gây ung thư gan, phổi, bàng quang và thận, gây bệnh tim mạch, cao huyết áp... Trầm trọng hơn trong những năm gần đây xuất hiện các “Làng ung thư” do ô nhiễm môi trường đặc biệt là sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm như ở Hà Tây, Thạch Sơn, Nghệ An, Quảng Trị… do tiếp súc và sử dụng nguồn nước và môi trường ô nhiễm trầm trọng trong thời gian dài. Qua số liệu điều tra các hộ gia đình tại một số quận huyện ngoại thành trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh …, Các gia đình đều sử dụng nước giếng khoan hoặc giếng đào nhưng phần lớn không có hệ thống xử lý nước, nước bơm lên là dùng ăn uống trực tiếp, đây chính là nguyên nhân dể mắc phải các chứng bệnh nêu trên.

2.3 Tác nhân hóa học a) Chất độc:
Nhiều chất đưa vào nước mặt và nước ngầm rất độc đối với sinh vật. Chúng ta sẽ lưu ý tới 3 loại chất độc thông thường: -Chất hóa học nguy hiểm: là chất hữu cơ tổng hợp và vô cơ hòa lẫn, là chất độc đối với con người và sinh vật sống. Khi những chất được đưa vào

một cách ngẫu nhiên trong nước mặt và nước ngầm, gây ra ô nhiễm trầm trộng -Kim loại nặng: như chì, thủy ngân, kẽm và catmi (dung làm hợp kim) là những chất ô nhiễm nguy hiểm thường lắng đọng cùng với trầm tích dưới đáy sông. Nếu những kim loai này được đưa vào vùng ngập lụt, chúng có thể hòa tan vào thực vật, bao gồm cây trồng và động vật. Nếu chúng được phân hủy và khi nước rút lại để cho nông nghiệp và con người sử dụng, gây ra ô nhiễm kim loại nặng. Nước bị ô nhiễm kim loại nặng như thế nào? Kim loại nặng có Hg, Cd, Pb, As, Sb, Cr, Cu, Zn, Mn, v.v... thường không tham gia hoặc ít tham gia vào quá trình sinh hoá của các thể sinh vật và thường tích luỹ trong cơ thể chúng. Vì vậy, chúng là các nguyên tố độc hại với sinh vật. Hiện tượng nước bị ô nhiễm kim loại nặng thường gặp trong các lưu vực nước gần các khu công nghiệp, các thành phố lớn và khu vực khai thác khoáng sản. Ô nhiễm kim loại nặng biểu hiện ở nồng độ cao của các kim loại nặng trong nước. Trong một số trường hợp, xuất hiện hiện tượng chết hàng loạt cá và thuỷ sinh vật. Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm kim loại nặng là quá trình đổ vào môi trường nước nước thải công nghiệp và nước thải độc hại không xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu. Ô nhiễm nước bởi kim loại nặng có tác động tiêu cực tới môi trường sống của sinh vật và con người. Kim loại nặng tích luỹ theo chuỗi thức ăn thâm nhập và cơ thể người. Nước mặt bị ô nhiễm sẽ lan truyền các chất ô nhiễm vào nước ngầm, vào đất và các thành phần môi trường liên quan khác. Ðể hạn chế ô nhiễm nước, cần phải tăng cường biện pháp xử lý nước thải công nghiệp, quản lý tốt vật nuôi trong môi trường có nguy cơ bị ô nhiễm như nuôi cá, trồng rau bằng nguồn nước thải. -Nguyên tố phóng xạ : có thể là nhân tố gây ô nhiễm rất nguy hiểm. Điều quan tâm đặc biệt là có thể ảnh hưởng tới con người, động vật , thực vật lâu dài dù chỉ liều lượng thấp.

b) Chất dinh dưỡng:
Chất dinh dưỡng thải ra do hoạt động của con người có thể làm nước ô nhiễm. Hai chất dinh dưỡng quan trọng có thể gây ô nhiễm là photpho và nitơ, chúng được thải ra từ nhiều nguồn như là phân bón, chất tẩy, và sản phẩm của quá trính xử lí chất thải. Mối liên quan giữa lưu huỳnh và nitơ

trong sông suối liên quan đến việc sử dụng đất. Đất rừng có mức thấp nhất và đất nông nghiệp có mức cao nhất do hoạt động trồng trọt và chăn nuôi. Vùng ngoại ô có thể có nhiều photpho và nitơ trong nước, đặc biệt là nơi mà hệ thống xử lí nước thải đổ ra sông, hồ và đại dương. Những công trình này có thể hiệu quả trong việc giảm ô nhiễm hữu cơ, nhưng lại xử lí không được chất dinh dưỡng trong hệ thống. Lượng photpho và nitơ cao là do quá trình cung cấp chất dinh dưỡng quá nhiều khi trồng trọt, gây ra hiện tượng phú dưỡng. Môi trường nước có N và P làm cho thực vật phù du phát triển mạnh, tăng sinh khối, đặc biệt là tảo que (filamentous), tảo hoa xanh (green agal bloom), và nhiều loai tảo độc khác. Phú dưỡng được đặt trưng bởi sự gia tăng thực vật, chủ yếu là tảo. Nước sạch trong ao và hồ, tảo có thể sinh sôi nảy nở mà có thể phủ hết bề mặt nước, ngăn chặn ánh sang mặt trời chiếu vào, nên cuối cùng bị chết. Theo đó, khi tảo bị phân hủy, mức oxy trong nước giảm làm cá và động vật dưới nước chết. Quá trình này xảy ra theo phương trình (CH2O)116(NH3)16H3PO4 + 138O2 -> 106CO2 + 122H2O + 16HNO3 + H3PO4 Từ phản ứng này, cứ một phân tử thực vật phù du đã sử dụng 276 nguyên tử oxi để tiến hành phân hủy và giải phóng một lượng đáng kể axit và CO2 vào nguồn nước làm giảm pH của nước, nước bị nhiễm bẩn và có mùi hôi thối, cá chết hàng loạt. Trong môi trường biển, chất dinh dưỡng trong nước gần bờ làm cho tảo biển sinh sôi khi chúng khoét và chất đầy trên bờ biển. Tảo biển có thể gây hại thậm chí giết chết san hô ở vùng nhiệt đới. Ví dụ, hòn đảo Maui của Hawai có sự phú dưỡng do chất dinh dưỡng đưa vào môi trường bờ biển từ máy nghiền rác thải và hoạt động nông nghiệp chảy tràn ra. Dân cư hòn đảo có thể đang giết con ngỗng đẻ trứng vàng. Bãi biển một số nơi đang trở nên hôi vì tảo bị thối rữa, có mùi khó chịu, làm nơi ở cho côn trùng, làm giảm số lượng khách du lịch. Trong nước, tảo có thể bao phủ san hô và làm chết san hô.

Tảo tấn công hồ Điền Trì

Tảo sinh sôi nảy nở do có nhiều hoá chất ô gây ô nhiễm trong hồ và nhiệt độ ấm lên.

c) Dầu:
Dầu chảy vào nước mặt, thường là đại dương, gây ra vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng. Sự phát tán dầu lớn nhất là do các tai nạn đắm tàu chở dầu trên biển. Hoạt động quân sự cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường do dầu. Vụ tràn dầu lớn ở Pesian Gulf trong suốt chiến tranh năm 1991 thải ra một lượng dầu khổng lồ vào môi trường nhỏ bé. Đây có lẽ là vụ tràn dầu lớn nhất trên thế giới và chắn chắn đây là vụ tràn dầu có chủ ý lớn nhất. Tràn dầu trên mặt đất cũng dẫn đến vấn đè nghiêm trọng nếu ống dẫn dầu bị thủng, như trường hợp xảy ra năm 1994 ở miền bắc nước Nga. Sự kiện này đã làm một lượng lớn dầu thô (khoảng 4 tỉ - 80 tỉ gallons), 1 gallon=4,56l (ở Anh), 3,78l (ở Mĩ), đã làm ô nhiễm đất và nước trầm trọng. Điều này đã nói lên điểm quan trọng: ống dẫn dầu 25-30 năm tuổi dễ bị ăn mòn hơn ống dẫn dầu mới. Chu kì quan sát tuổi của hệ thống và sửa chữa hoặc thay thế ống dẫn dầu cũ nên được xem xét trước hết trong việc giảm đến mức tối thiểu sự rò rỉ này. Vụ tràn dầu Exxon Valdez: Rạng sáng ngày 24/03/1989, tàu chở dầu Exxon Valdez chạy từ Bligh Reef, 40kma về hướng nam Vaidez, Alaska, trên lãnh thổ Prince William Sound (phía nam nước Anh). Dầu thô cung cấp cho Valdez vận chuyển từ các đường ống Alaskan đã tràn từ các lỗ thủng trên thùng của tàu với tỉ trọng gần 20.000 thùng mỗi giờ. Tải lượng của tàu Exxon Valdez với 1,2 triệu thùng, hơn 250.000 thùng (11 triệu gallon) tràn ra từ lổ thủng của con tàu 300m. Lượng dầu còn lại của Exxon Valdez được chuyển qua những tàu khác Dầu tràn ở nơi được xem là nơi có môi trường sơ khai và giàu sinh thái của thế giới, và sự cố này được biết như là sự cố tràn dầu tệ nhất trong lich sử nước Mĩ. Nó lan rộng ra khu vực rộng lớn.

2.4 Các tác nhân vật lí: a)Trầm tích:
Trầm tích bao gồm đá và mảnh vỡ khoáng vật có đường kính từ hạt cát nhỏ hơn 2mm đến đường kính hạt bùn, hạt sét và hạt keo. Thể tích nước ô nhiễm của chúng ta rất lớn, trầm tích là tài nguyên thoát khỏi nơi đó. Nó làm suy yếu tài nguyên đất, giảm chất lượng tài nguyên nước mà nó đi vào, làm đất trồng cằn cỗi.

b) Ô nhiễm nhiệt:

Ô nhiễm nhiệt là sự nóng lên không tự nhiên của nước, chủ yếu bởi sự thải ra nước nóng từ hoạt động công nghiệp và sản xuất năng lượng. Nước bị nung nóng gây ra một số vấn đề. Thậm chí nước chỉ ấm hơn một chút cũng chứa ít oxy hơn những vùng nước xung quanh đó. Nước ở trạng thái ấm hơn gây ảnh hưởng nhiều hơn so với nước lạnh, làm giảm sự phát triển của các sinh vật kém thích nghi bao gồm thực vật trong nước và cá. Mặt khác, nước ấm có thể thu hút và tạo điều kiện sống tốt hơn cho các loài cá, đặc biệt là trong mùa đông

3. Ô nhiễm nước mặt và biện pháp xử lí:
Sự ô nhiễm nước mặt xảy ra khi có quá nhiều dòng chất có hại trong nước, nhiều hơn khả năng của hệ sinh thái cho phép, để sử dụng hoặc di chuyển chất ô nhiễm, hoặc biến đổi nó thành dạng ít có hại hơn. Nước ô nhiễm được phát tán từ nguồn tập trung (ô nhiễm điểm) hoặc được khuếch tán từ các nguồn không tập trung (ô nhiễm diện). Các nguồn gây ô nhiễm tập trung: Các nguồn gây ô nhiễm rời rạc và hạn hẹp, như là các ống dẫn đổ ra sông suối từ các khu công nghiệp hoặc đô thị. Thông thường, nguồn gây ô nhiễm từ khu công nghiệp được kiểm soát trong khâu xử lí và được điều chỉnh bằng giấy phép. Trong các thành phố lâu đời thuộc vùng đông bắc và hồ lớn của Mĩ, phần lớn các nguồn gây ô nhiễm được đổ ra từ các hệ thống cống kết hợp hệ thống dòng chảy của nước lũ và rác từ các khu đô thị. Trong lúc mưa lớn, dòng nước chảy mạnh trong thành phố vượt quá sức chứa của hệ thống cống làm cho nước dâng lên và tràn ra ngoài, làm phát tán chất ô nhiễm lên tầng nước mặt. Một nguyên tắc quan trọng của việc hạn chế chất ô nhiễm là nước từ các nguồn khác nhau thì không nên hòa lẫn vào nhau. Chúng phải được tách nhau ra theo các mục đích đã định trước. Ví dụ, dòng chất thải nông nghiệp có chứa nhiều nitrat và thuốc trừ sâu nên được giữ xa dòng nước chảy phục vụ cho nhu cầu sử dụng ở đô thị. Đây là vấn đề quan trọng nhất của hệ thống phân phối nước trên diện tích rộng (ví dụ, ở California) cung cấp cho nhiều người sử dụng khác nhau theo các yêu cầu chất lượng nước khác nhau. Các nguồn gây ô nhiễm không tập trung: Các nguồn gây ô nhiễm không tập trung khuếch tán và không liên tục. Chúng bị ảnh hưởng bởi các nhân tố như việc sử dụng đất, khí hậu, thủy hệ, địa hình, thực vật tự nhiên, và địa chất. Chất ô nhiễm từ nguồn không tập trung hay dòng chảy ô nhiễm rất khó kiểm soát. Những nguồn gây ô nhiễm không tập trung phổ biến ở thành phố là từ những con đường, các cánh đồng có chứa các loại chất ô nhiễm, và từ các kim loại nặng, các chất hóa học, và trầm tích. Khi chúng ta rửa xe trên đường lái xe vào nhà, chất tẩy rửa và dầu

trên bề mặt sẽ chảy xuống cống đổ ra kênh rạch, góp phần gây ô nhiễm dòng chảy. dòng chảy bị ô nhiễm còn được tạo ra khi phun thuốc trừ sâu cho cây trồng, sau đó dòng chảy chảy vào sông suối hoặc thâm nhập vào nước mặt làm nhiễm bẩn nước ngầm. Tương tự, nước mưa và dòng chảy từ nhà máy và bãi kho là những nguồn ô nhiễm không tập trung. Những nguồn ô nhiễm không tập trung ở ngoại thành thì liên quan tới nông nghiệp, lâm nghiệp và khai thác khoáng sản. Biện pháp hạn chế ô nhiễm nước mặt: Một thủ thách lớn ở Mĩ là giảm ô nhiễm nước, và bằng cách ấy để tăng chất lượng nguồn nước. Sự thật là con người cần phải có được điều cơ bản là phải có nước sạch để uống, tắm rửa, và dùng trong nông nghệp và công nghiệp. Có thời điểm mà chất lượng nước gần trung tâm thành phố còn tệ hơn ngày nay, ví dụ, năm 1969, sông Cuyahoga chảy qua Cleveland, Ohio,tình cờ bị hỏa hoạn tấn công. Sự việc đã tác động tới thành phố và chính quyền, đã đáp lại bằng việc thong qua luật giảm phát thải chất ô nhiễm vào sông. Ngày nay sông đã sạch hơn và được sử dụng cho nhiều mục đích. Trong những năm gần đây, những câu chuyện thành công trong đó có Cuyahoga rất đáng khuyến khích. Có lẽ trường hợp được biết đến nhiều nhất là sông Detroi. Vào những năm 50 gần 60, sông Detroi gần như chết, chất thải, nước cống, chất hóa học, bao bì, và rác thành phố đổ vào. Hàng tấn photpho đổ vào mỗi ngày, và lớp dầu lên đến 0.5 cm. sinh vật dưới nước bị đe dọa, hàng ngàn con vịt và cá chết. Ngày nay, sông Detroi không còn như xưa nữa, đã được kiểm soát ô nhiễm công ngiệp và ô nhiễm thành phố. Chất thải dầu mỡ đã giảm được 82%, photpho và nước cống đã giảm đáng kể. Cá một lần nữa được tìm thấy ở Detroi, và bờ sông nước luôn sạch sẽ. Những câu chuyện thành công khác như là sông Hudson ở Newyork, sông Pemigewasset ở New Hampshire, sông French Broad ở bắc Carolina và sông Savannah ở Mĩ. Những ví dụ này là bằng chứng cho thấy hiệu quả của việc giảm ô nhiễm nước. Một hệ thống cách tân đã sử dụng vật liệu tự nhiên của trái đất để lọc nước cho người tiêu dùng được áp dụng ở cộng đồng Michigan (tiểu bang Mĩ) ở bờ hồ Michigan. Thành phố của Ludington có dân số chừng 10000 người, sử dụng đất và cát dưới đáy bờ hồ để lọc và xử lí nước hồ cho việc sử dụng. Một hệ thống lấy nước được chon vùi trong cát và đá, sâu 4-5m dưới đáy hồ, nơi mà mực nước sâu tối thiểu là 5m. Nước được bơm ra ngoài sử dụng, và trong một vài trường hợp là chỉ dùng thêm biện pháp xử lí bằng clo. Chúng ta sẽ nói về khả năng lọc nước của đá và đất ở phần sau. Sự acid hóa nước(từ mỏ): Sự acid hóa nước từ các khu mỏ không chỉ nói đến sự acid hóa, mà nước có tính acid chảy từ mỏ. Đặc biệt, sự acid hóa nước này có nồng độ H2S04 cao

quá mức cho phép, gây ô nhiễm nguồn tài nguyên nước mặt từ các khu vực khai mỏ. Các acid này được hình thành do quá trình phong hóa đơn giản: khi sulfua kết hợp với than đá, hoặc kim loai (chì, kẽm, đồng), tiếp xúc với nước giàu oxi gần bề mặt thì bị oxi hóa. Ví dụ, quặng pyrite FeS2 thường tác dụng với than đá, sự oxi hóa quặng cùng với sự tham gia của nước hình thành H2SO4. N, nguồn gốc của nước là nước mặt, thấm vào trong mỏ qua các mạch nước ngầm phí trên di chuyển trong mỏ. Tương tự, nước mặt và tầng nước nông , tiếp xúc với các chất khai khoáng (chất thải mỏ) phản úng với sulfua làm cho nước giàu tính acid. Khi nước với H2SO4 quá mức cho phép di chuyển ra khỏi khu vực khai mỏ, nó có thể là nguyên nhân gây ô nhiễm nước mặt và nước ngầm. Nếu nước có tính acid cao chảy trong các sông, suối hay hồ tự nhiên có thể gây tổn thất sinnh học, bởi vì những chất độc vào trong sinh vật hay động vật thủy hệ. Sự acid hóa nước này đang là một vấn đề quan trọng của nhiều khu vực ở Mĩ, bao gồm những phần của Wyoming, Illinois, Indiana, Kentucky, Tennessee, Missouri, Kansas, Oklahoma, West Virginia, Maryland, Pennsylvania, Ohio và Colorado. Đây là vấn đề nghiêm trọng vì hàng ngàn km sông suối đã bị ô nhiễm. Khu vực Tar Creek của Oklahoma từng được coi là nơi có chất thải nguy hiểm, được đo bởi cục bảo vệ môi trường (EPA). Nhánh sông của khu vực từng bị ô nhiễm bởi nước có nồng độ acid cao từ các khu mỏ bỏ hoang ở khu mỏ Tri-State, quận Akansas, Oklahama và Missouri. Những trầm tích sulfua xúc tác với cả chì và kẽm từ khi bắt đầu khai mỏ từ sau thế kỉ 19 và kết thúc vào những năm 60 thế kỉ 19. Trong suốt quá trình hoạt động của khu mỏ, lớp dưới bề mặt luôn được giữ khô bởi nước thấm phía dưới luôn được bơm ra ngoài. Sau khi ra khỏi mỏ, tầng nước ngầm lại ngấm vào tự nhiên, với số lượng nhiều tạo thành lũ chảy tràn vào gần các con sông , suối, gây ô nhiễm chúng. Tác động hóa học của HĐKS tới nguồn nước Song song với những tác động cơ học đến nguồn nước nói chung và nguồn nước nông nghiệp nói riêng, những tác động hóa học đối với nguồn nước cũng rất đáng kể. Sự phá vỡ cấu trúc của đất đá chứa quặng khi tiến hành đào bới và khoan nổ sẽ thúc đẩy các quá trình hòa tan, rửa lũa các thành phần chứa trong quặng và đất đá, quá trình tháo khô mỏ, đổ các chất thải vào nguồn nước, chất thải rắn, bụi thải không được quản lý, xử lý chặt chẽ, tham gia vào thành phần nước mưa, nước chảy tràn cung cấp cho nguồn nước tự nhiên,... là những tác động hóa học làm thay đổi tính chất vật lý và thành phần hoá học của nguồn nước xung quanh các khu mỏ.

Mức độ ô nhiễm hóa học các nguồn nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc điểm thân quặng, thành phần thạch học và độ bền vững của đất đá chứa quặng, phương pháp và trình độ công nghệ khai thác, chế biến quặng, biện pháp quản lý và xử lý chất thải,.... Nước ở các mỏ than thường có hàm lượng cao các ion kim loại nặng, á kim, các hợp chất hữu cơ, các nguyên tố phóng xạ... cao hơn so với nước mặt và nước biển khu vực đối chứng và cao hơn TCVN từ 1-3 lần. Đặc biệt là khu vực từ Quảng Yên đến Cửa Ông. Sự biến đổi chất lượng nguồn nước, tải lượng một số chất thải trong nước tháo khô các mỏ than . Trong các mỏ thiếc sa khoáng, biểu hiện chính của ô nhiễm hoá học là làm đục nước bởi bùn - sét lơ lửng, tăng hàm lượng các ion sắt và một số khoáng vật nặng. Việc khai thác và tuyển quặng vàng phải dùng đến thuốc tuyển chứa Hg, CN-... ngoài ra, các nguyên tố kim loại nặng cộng sinh như asen, antimoan, các loại quặng sunfua, có thể rửa lũa hòa tan vào nước. Vì vậy, ô nhiễm hóa học do khai thác và tuyển quặng vàng là nguy cơ đáng lo ngại đối với nguồn nước sinh hoạt và nước nông nghiệp. Tại những khu vực này, nước thường bị nhiễm bẩn bởi bùn sét và một số kim loại nặng và hợp chất độc như CN-, Hg, As, Pb v.v... mà nguyên nhân chính là do nước thải, chất thải rắn không được xử lý đổ bừa bãi ra khai trường và khu vực tuyển. Các giải pháp khoa học và công nghệ giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi trường nước Từ việc đánh giá mức độ ô nhiễm và nguyên nhân gây ra các sự cố môi trường đối với môi trường nước trong các khu HĐKS nêu trên, có thể nhận thấy rằng nguồn gây ô nhiễm nước ở các khu mỏ gồm: Nước mưa chảy tràn qua khu mỏ, nước ngấm từ các bãi thải rắn nước tháo khô mỏ nước thải do tuyển khoáng. Các mỏ cần có hệ thống xử lý các nguồn gây ô nhiễm nói trên theo các sơ đồ công nghệ như sau: - Đối với nguồn nước chảy tràn qua khu mỏ và nước ngầm từ bãi chứa chất thải rắn: Xung quanh khu mỏ và bãi chứa chất thải rắn cần xây dựng hệ thống mương thu gom nước dẫn về hồ chứa nước. Tại đây nước thải được xử lý bằng phương pháp hóa học (thông thường dùng bột vôi để trung hòa), sau đó kiểm tra độ pH và một số ion kim loại đạt tiêu chuẩn cho phép mới được đổ thải ra môi trường. - Đối với nước tháo khô mỏ: Sau khi bơm tập trung vào hồ chứa để láng sơ bộ, một phần được bơm trở lại phục vụ sản xuất của mỏ (tuyển quặng, tưới ẩm,...), phần còn lại bơm lên bể xử lý bằng phương pháp

hóa học và sinh học làm nguồn nước cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt của khu mỏ. - Đối với nước thải sau khi tuyển quặng: Nước từ các xưởng tuyển được thu gom lại, sau đó được lắng lọc cơ học và hóa học trong trường hợp cần thiết, bơm tuần hoàn trở lại cung cấp cho hệ thống tuyển khoáng. Bằng các biện pháp sử dụng tuần hoàn các nguồn nước thải từ quá trình HĐKS nêu trên, hầu hết các nguồn thải có khả năng gây ô nhiễm môi trường nước trong khu mỏ đều được kiểm soát, vì vậy sẽ giảm thiểu được ô nhiễm môi trường nước trong khu mỏ và khu vực lân cận.

Những nơi ô nhiễm nhất trên thế giới: Nằm tại khu vực chính giữa đất nước Trung Quốc, dòng sông Huai dài 1978 km được coi như nơi ô nhiễm nhất của nước này do các chất thải công nghiệp, động vật và nông nghiệp, Mức độ mắc các bệnh cao bất thường của cộng đồng dân cư sống gần lưu vực sông đã khiến chính phủ phải xếp nguồn nước của con sông ở mức độ ô nhiễm độc hại nhất. Tuy nhiên, chính phủ Trung Quốc hiện đang cùng với Ngân hàng thế giới nỗ lực giải quyết tình trạng này.

Cơn bão Katrina đã gây thiệt hại lớn nhất về tiền của cũng như sinh mạng trong lịch sử nước Mỹ và cũng đã gây ra hàng loạt những trận lụt ở New Zealand, điều đó kéo theo sự ô nhiễm trên diện rộng do kim loại nặng có lẫn trong đất và cặn dầu ở hai nước này. Những nỗ lực khắc phục ô nhiễm đang

được các nhà chức trách liên đoàn và quốc gia nghiên cứu cùng với kế hoạch xây dựng lại các thành phố bị tàn phá.

Năm 2000, vụ tai nạn hầm mỏ xảy ra tai công ty Aurul (Rumani) đã thải ra 50-100 tấn xianu và kim loại nặng (như đồng) vào dòng sông gần Baia Mare (thuộc vùng Đông- Bắc). Sự nhiễm độc này đã khiến các loài thuỷ sản ở đây chết hàng loạt, tổn hại đến hệ thực vật và làm bẩn nguồn nước sạch, ảnh hưởng đến cuộc sống của 2,5 triệu người.

Năm 1984, Bhopal (Ấn Độ) là nơi đã xảy ra một tai nạn kinh hoàng khi nhà máy sản xuất thuốc trừ sâu Union Carbide India. thải ra ngoài môi trường 40 tấn izoxianat và metila. Theo viện Blacksmith, chính lượng khí độc hại này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ của hàng trăm nghìn người dân và khiến 15.000 người tử vong. Thật đáng lo ngại khi vấn đề ô nhiễm ở khu vực này vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để. Người ta nghi ngờ rằng các mạch nước ngầm đã bị nhiễm độc.

4. Ô nhiễm nước ngầm và biện pháp xử lí:
Khoảng một nửa dân số Mĩ phụ thuộc nước ngầm, vì đây chính là nguồn nước uống của họ. Chúng ta quan tâm và nói đến lớp đất đá giữ nước của nguyên tố hóa học, hợp chất,vi sinh vật mà không có trong tự nhiên. Mối nguy hiểm hiện diện, khi các tác nhân gây ô nhiễm phụ thuộc vào các nhân tố, bao gồm dung lượng của chất ô nhiễm đưa vào, nơi tập trung chất độc của tác nhân ô nhiễm, mức độ ảnh hưởng tới con người và sinh vật. Hầu hết chúng ta đều nghĩ nước ngầm sạch và an toàn để uống, nhưng sự thật nó rất dễ bị ô nhiễm bởi các nguồn khác. Thêm vào đó, nhân tố gây ô nhiễm thậm chí rất độc, có thể khó nhận biết. Một trường hợp được biết đến nhiều là Love Canal, gần Niagara Fall, New York, nơi chon lấp chất thải chất hóa học gây ra ô nhiễm nặng nề và ảnh hưởng đến sức khỏe. Không may là Love Canal không phải là trườn hợp riêng biệt. Những chất hóa học nguy hiểm được tìm thấy hay nghi ngờ có trong nước ngầm ở khắp nơi trên thế giới, cả nước đã phát triển và đang phát triển. Những nước phát triển công nghiệp sản xuất hàng ngàn chất hóa học, nhiều loại, đặc biệt là thuốc trừ sâu, được xuất khẩu tới các nước đang phát triển, nơi mà họ bảo vệ cây trồng, rồi cuối cùng lại được nhập khẩu trở về các nước công nghiệp, kết thúc một vòng tuần hoàn. Ví dụ, Coast Rica nhập khẩu thuốc trừ sâu, bao gồm DDT, aldrin, endrin, thuốc sát trùng, những chất này bị cấm và xử phạt rất nặng ở Mĩ. Vì thế, những chất này làm ô nhiễm nước mặt và nước ngầm ở Coasta Rica, và một số nơi mà người ta vẫn còn sử dụng, và tập trung phần còn dư lại trở về với chúng ta trong những nông phẩm mà chúng ta nhập khẩu. Nước ngầm ô nhiễm như thế nào? Nước ngầm là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu ở nhiều quốc gia và vùng dân cư trên thế giới. Do vậy, ô nhiễm nước ngầm có ảnh hưởng rất lớn

đến chất lượng môi trường sống của con người. Các tác nhân gây ô nhiễm và suy thoái nước ngầm bao gồm:
• •

Các tác nhân tự nhiên như nhiễm mặn, nhiễm phèn, hàm lượng Fe, Mn và một số kim loại khác. Các tác nhân nhân tạo như nồng độ kim loại nặng cao, hàm lượng NO-3, NO-2, NH4+, PO4 v.v... vượt tiêu chuẩn cho phép, ô nhiễm bởi vi sinh vật.

Suy thoái trữ lượng nước ngầm biểu hiện bởi giảm công suất khai thác, hạ thấp mực nước ngầm, lún đất. Ngày nay, tình trạng ô nhiễm và suy thoái nước ngầm đang phổ biến ở các khu vực đô thị và các thành phố lớn trên thế giới. Ðể hạn chế tác động ô nhiễm và suy thoái nước ngầm cần phải tiến hành đồng bộ các công tác điều tra, thăm dò trữ lượng và chất lượng nguồn nước ngầm, xử lý nước thải và chống ô nhiễm các nguồn nước mặt, quan trắc thường xuyên trữ lượng và chất lượng nước ngầm.

Hình minh họa: Các nguồn gây ô nhiễm nước ngầm

So sánh giữa ô nhiễm nước mặt và nước ngầm: Sự khác nhau về tính chất, địa chất và môi trường sinh học đã làm cho ô nhiễm nước ngầm khác ô nhiễm nước mặt. Trong ô nhiễm nước mặt, dòng chảy nhanh làm loãng và xua tan chất ô nhiễm, và oxi sẵn có cùng với ánh sáng mặt trời cũng góp phần giảm chất ô nhiễm nhanh chóng này. Điều này khác với nước ngầm, điều kiện để hòa tan và pha loãng rất hạn chế, và điều kiện để vi khuẩn làm giảm chất ô nhiễm có giới hạn trong đất vài m hoặc thấp hơn nước mặt. Lòng sông mà nước ngầm di chuyển rất nhỏ và hay thay đổi, vì thế tốc độ di chuyển khá chậm, ngoại trừ một vài trường hợp ở bên trong đá vôi. Hơn nữa, sự thiếu oxi trong nước ngầm sẽ giết chết vi sinh vật hiếu khí, những vi sinh vật này giúp làm giảm chất ô nhiễm, nhưng có thể cung cấp nơi ở lí tưởng cho nhiều dạng kị khí sống trong môi trường thiếu oxi. Thời gian lưu trữ nước ngầm thường dài (hàng trăm đến hàng ngàn năm) phản ánh độ sâu,sự tích lũy của lớp đất đá. Không phải tất cả nước ngầm đều mất cả trăm năm để nối với những mạch nước ngầm khác, di chuyển nhanh hơn những phần của vòng tuần hoàn nước, nhưng hầu hết chúng đều là nguồn nước dưới tác động của sự bay hơi và bốc hơi nước vào khí quyển. Sự trao đổi giữa ô nhiễm nước mặt và nước ngầm: Đất, trầm tích và đá mà nước ngầm chảy qua đều có thể đóng vai trò như là một thiết bị lọc tự nhiên. Nước có thể trao đổi thành phần với đất và đá.

Dưới điều kiện thuân lợi, hệ thống lọc làm sạch nước, giữ và phân giải vi sinh vật gây bệnh và đặc biệt chứa hợp chất độc. Tuy nhiên nếu đất đá bề mặt bị nhiễm bẩn hoặc có các nguyên tố độc hại như asen, quá trình biến đổi tự nhiên có thể làm nước bị nhiễm độc. Một ví dụ về vấn đề này là ở thung lũng San Joaquin, California, có selenchất độc kim loại nặng trong đất, được thải ra bởi việc tưới ruộng. Hệ thống thoát nước giàu selen từ những cánh đồng đã đưa vào nước mặt đã làm cho những loài chim sống dưới nước giảm. Phạm vi của vấn đề liên quan đến việc tháo nước nông nghiệp và chỉ tập ttrung vào phần đó. Selen là chất độc đối với con người. Giống như nhiều kim loại khác, nó là lưỡng đặc tính: nó cần cho quá trình sống, nhưng độc nếu lượng quá cao. Nước ngầm chảy qua đất và đá, hòa tan hỗn hợp khoáng và khí mà có thể gây hại tới người sử dụng. Một vài ví dụ là sắt như sắt hydroxide, làm nước có màu nâu, canxi làm nước cứng, sulfite gây ra mùi trứng thối. Khả năng của hầu hết đất và đá là lọc chất rắn, bao gồm chất ô nhiễm rắn, mà có thể nhận biết. Khả năng này với nhiều kích thước, hình dạng và sự sắp xếp của các thành phần lọc, chứng minh trong việc sử dụng cát và các vật liệu khác để lọc nước. Theo được biết, có lẽ không phổ biến, đó là đất sét và các khoáng chất khác có khả năng giữ và trao đổi một số nguyên tố và hợp chất khi chúng được tách ra trong khi hòa tan. Sự xâm nhập của nước biển: Sự ô nhiễm của lớp đất đá giữ nước thì không là kết quả duy nhất của việc thải chất thải vào nước mặt hay nước ngầm. Bơm hoặc khai thác nước ngầm quá mức đến nỗi mà nước thấp di trú đến lớp đất đá kế gần hoặc biển cũng có thể gây ra ô nhiễm. Tầng nước ngầm có xu hướng đổ ra biển, trong khi nước biển lại có xu hướng đi về lục địa. Vì không có lớp giữ, nước biển gần bờ có thể xâm nhập vào nước ngầm. Vì nước ngọt có mật độ ít hơn nước biển (1000 so với 1025mg/cm3). Cột nước ngọt cao 41cm để cân bằng với 40cm nước biển. Mối quan hệ thong thường là chiều cao mực nước ở dưới mực nước biển gấp 40 lần chiều cao của mực nước ở trên mực nước biển. Khi khoang giếng, tạo thành một phiễu áp lực, nơi tiếp giáp giữa nước ngọt và nước biển dâng lên. Khi hút nước ngọt, nước biển xâm nhập để bù vào khối nước đã mất đi. XỬ LÍ Ô NHIỄM NƯỚC NGẦM: Vì lí do ô nhiễm nước ngầm khó nhận biết được, thời gian lưu trú dài, lớp đất đá lọc nước bị ô nhiễm, việc tìm ra lớp đất đá khó khăn và tốn kém. Lí lẽ thuyết phục nhất chỉ có thể là không có chất thải hoặc bất cứ tác nhân ô nhiễm nào, nhưng điều đó là hoang tưởng. Chúng ta có thể học từ các quá trình lọc nước trong tự nhiên, khi đất và đá không thể xử lí, hay tái chế nước

thải, chúng ta có thể phát triển các tiến trình để làm cho các nhân tố ô nhiễm có thể xử lí, có thể lưu giữ và có thể tái chế. Cải tạo lớp đất đá không phải là không thể, mặc dù nó có thể phức tạp và đắt tiền. Những bước quan trọng để cải tạo ô nhiễm nước ngầm là: - Mô tả đặc điểm địa chất: đây là đặc điểm quan trọng vì đặc tính của nó là có thể chôn vùi, thấm nước, lỗ thoáng trong đất lớn, và có cấu trúc địa chất như chỗ đứt gãy, khe, và đá nứt có thể là các nhân tố ảnh hưởng đến sự điều khiển cải tạo dòng nước ngầm. - Mô tả đặc điểm thủy quyển: các yếu tố như chiều sâu mực nước, cải tạo dòng chảy và tốc độ dòng chảy có thể được xác định. Đặc điểm của thủy quyển cũng liên quan đến mối quan hệ của nước mặt và nước ngầm ảnh hưởng ở đến khu vực. - Nhận biết các quá trình gây ô nhiễm và di dời chúng: các tác nhân gây ô nhiễm phải được nhận biết một các kĩ lưỡng, đánh giá và tập hợp lại. Một vài nhân tố ô nhiễm như xăng dầu, thường được tìm thấy trên mặt nước vì nó nhẹ hơn nước. Tuy nhiên, một số thành phần của dầu hòa tan trong nước. Mặt khác, các chất gây ô nhiễm như tricloetylen (TCE), là một dung môi hòa tan khô, nặng hơn nước, sẽ chìm trong nước. Còn có muối, hòa tan trong nước và sẽ di chuyển theo các dòng nước ngầm. -Bắt đầu quá trình xử lí: lựa chọn phương pháp xử lí phụ thuộc các yếu tố như: loại chất gây ô nhiễm, phương pháp vận chuyển, và đặc điểm môi trường như chiều sâu mực nước và đặc điểm địa chất

5. Những tiêu chuẩn chất lượng nước:
Nguồn nước có thể sử dụng được cho các mục đích khác nhau của con người, chúng ta phải xác định các tính chất vật lý, tính chất hóa học của nước để đánh giá chất lượng nguồn nước. Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nguồn nước dựa vào các yếu tố sau: I. TÍNH CHẤT VẬT LÝ 1. Nhiệt độ: Nhiệt độ của nước ổn định và phụ thuộc vào điều kiện môi trường. Nhiệt độ của nước ảnh hưởng đến quá trình xử lý và các nhu cầu tiêu thụ. 2. Độ màu: Màu của nước do các chất lơ lửng trong nước tạo nên, các chất lơ lửng này có thể là thực vật hoặc các chất hữu cơ dưới dạng keo. Độ màu không gây độc hại đến sức khỏe. 3. Độ đục: Độ đục để đánh giá sự có mặt của các chất lơ lửng trong nước ảnh hưởng đến độ truyền ánh sáng. Độ đục không gây độc hại đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến quá trình lọc và khử trùng nước.

4. Mùi vị: Các chất khí, khoáng và một số hóa chất hòa tan trong nước làm cho nước có mùi. Các mùi vị thường gặp: mùi đất, mùi tanh, mùi thúi, mùi hóa học đặc trưng như Clo, amoniac, vị chát, mặn, chua… 5. Cặn: Gồm có cặn lơ lửng và cặn hòa tan (vô cơ và hữu cơ), cặn không gây độc hại đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến quá trình xử lý nước. 6. Tính phóng xạ: Nước ngầm thường nhiễm các chất phóng xạ tự nhiên, thường nước này vô hại đôi khi có thể dùng để chữa bệnh. Nhưng nếu chỉ tiêu này bị nhiễm bởi các chất phóng xạ từ nước thải, không khí, từ các chất độc hại vượt quá giới hạn cho phép thì rất nguy hiểm. II. TÍNH CHẤT HÓA HỌC 1. Độ pH: Phản ánh tính axit hay tính kiềm của nước. pH ảnh hưởng đến các hoạt động sinh học trong nước, tính ăn mòn, tính hòa tan. 2. Độ axít: Trong nước thiên nhiên độ axít là do sự có mặt của CO2, CO2 này hấp thụ từ khí quyển hoặc từ quá trình oxy hóa các chất hữu cơ trong nước thải công nghiệp (chiếm đa số) và nước phèn. Độ axít không gây độc hại đến sức khỏe con người nhưng ảnh hưởng đến quá trình xử lý nước cấp và nước thải. 3. Độ kiềm: do 3 ion chính HCO3-, OH-, CO32-làm cho nước có độ kiềm. Nước có độ kiềm cao làm cho người sử dụng nước cảm thấy khó chịu trong người. Độ kiềm ảnh hưởng đến quá trình keo tụ, khử sắt, làm mềm nước, kiểm tra độ ăn mòn, khả năng đệm của nước thải, của bùn. 4. Độ cứng: Độ cứng của nước biểu thị hàm lượng các ion Ca2+ và Mg2+. Độ cứng không gây độc hại đến sức khỏe con người, nhưng dùng nước có độ cứng cao sẽ tiêu hao nhiều xà bông khi giặt đồ, tăng độ ăn mòn đối với các thiết bị trao đổi nhiệt, nồi hơi tạo nên cặn bám, khe nứt gây nổ nồi hơi. 5. Clorua (Cl-): Clorua trong nước biểu thị độ mặn. Clorua không gây độc hại đến sức khỏe con người nhưng dùng lâu sẽ gây nên bệnh thận. 6. Sunfat (SO42-): Sunfat tiêu biểu cho nguồn nước bị nhiễm phèn hoặc nước có nguồn gốc khoáng chất hoặc hữu cơ. Sunfat gây độc hại đến sức khỏe con người vì sunfat có tính nhuận tràng. Nước có Sunfat cao sẽ có vị chát, uống vào sẽ gây bệnh tiêu chảy. 7. Sắt (Fe2+, Fe3+): Sắt tồn tại trong nước dạng sắt 3 (dạng keo hữu cơ, huyền phù), dạng sắt 2 (hòa tan). Sắt cao tuy không gây độc hại đến sức khỏe con người nhưng nước sẽ có mùi tanh khó chịu và nổi váng bề mặt, làm vàng quần áo khi giặt, hư hỏng các sản phẩm ngành dệt, giấy, phim ảnh, đồ hộp, đóng cặn trong đường ống và các thiết bị khác làm tắc nghẽn các ống dẫn nước. 8. Mangan (Mg2+): Mangan có trong nước với hàm lượng thấp hơn sắt

nhưng cũng gây nhiều trở ngại giống như sắt. 9. Ôxy hòa tan (DO): Ôxy hòa tan trong nước phụ thuộc vào các yếu tố: nhiệt độ, áp suất và đặc tính của nguồn nước (thành phần hóa học, vi sinh, thủy sinh). Xác định lượng ôxy hòa tan là phương tiện để kiểm soát ô nhiễm và kiểm tra hiệu quả xử lý. 10. Nhu cầu ôxy hóa học (COD): Là lượng ôxy cần thiết để ôxy hóa hết các hợp chất hữu cơ có trong nước. Nước nhiễm bẩn sẽ có độ ôxy hóa cao phải tốn nhiều hóa chất cho công tác khử trùng. 11. Nhu cầu Ôxy sinh hóa (BOD): Là lượng ôxy cần thiết để vi khuẩn sử dụng phân hủy chất hữu cơ dưới điều kiện hiếu khí. Chỉ tiêu này để đánh giá khả năng tự làm sạch của nguồn nước. BOD càng cao chứng tỏ mức độ ô nhiễm càng nặng. 12. Florua (F-): Trong thiên nhiên, các hợp chất của florua khá bền vững, ít bị phân hủy bởi quá trình làm sạch. Nếu thường xuyên dùng nước có florua lớn hơn 1,3mg/l hoặc nhỏ hơn 0,7mg/l đều dễ mắc bệnh hư hại men răng. 13. Dihydro sunfua (H2S): Khí này là sản phẩm của quá trình phân hủy các chất hữu cơ, rác thải. Khí này làm nước có mùi trứng thối khó chịu, với nồng độ cao, nó có tính ăn mòn vật liệu. 14. Các hợp chất của axít Silicic (Si): trong nước nếu có các hợp chất axit silicic sẽ rất nguy hiểm do cặn silicát lắng động trên thành nồi, thành ống làm giảm khả năng truyền nhiệt và gây tắc ống. 15. Phốt phát (PO42-): Có phốt phát vô cơ và phốt phát hũu cơ. Trong môi trường tự nhiên, phốt phát hữu cơ hầu hết là những chất mang độc tính mạnh dưới dạng thuốc diệt côn trùng, các vũ khí hóa học. Phốt phát làm hóa chất bón cây, chất kích thích tăng trưởng, chất tạo bọt trong bột giặt, chất làm mềm nước, kích thích tăng trưởng nhiều loại vi sinh vật, phiêu sinh vật, tảo… phốt phát gây nhiều tác động trong việc bảo vệ môi trừơng. 16. Nitơ (N) và các hợp chất chứa Nitơ (NH4+, NO2-, NO3-): Sự phân hủy của rác thải, các chất hữu cơ có trong nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp tạo thành các sản phẩm amoniac, nitrít, nitrát. Sự hiện diện của các hợp chất này là chất chỉ thị để nhận biết trạng thái nhiễm bẩn của nguồn nước. 17. Kim loại nặng: có mặt lợi và mặt hại: - Mặt lợi: với hàm lượng hữu ích, giúp duy trì và điều hòa những hoạt động của cơ thể. - Mặt hại: với hàm lượng cao gây khó chịu hoặc dẫn đến ngộ độc. 18. Các thành phần độc hại khác: Là thành phần các chất mà chỉ tồn tại trong nước với một hàm lượng rất nhỏ cũng đủ gây độc hại đến tính mạng con người, thậm chí gây tử vong, đó là các chất: Asen (As), Berili (Be), Cadimi (Cd), Xyanua (CN), Crôm (Cr), Thủy ngân (Hg), Niken (Ni), Chì (Pb),

Antimoan (Sb), Selen (Se), Vanadi (V). Một vài gam thủy ngân hoặc Cadimi có thể gây chết người, với hàm lượng nhỏ hơn chúng tích lũy trong các bộ phận của cơ thể cho tới lúc đủ hàm lượng gây ngộ độc. Chì tích lũy trong xương, Cadimi tích lũy trong thận và gan, thủy ngân tích lũy trong các tế bào não. 19. Chất béo và dầu mỡ: Chất béo và dầu mỡ dễ phân tán và khuyết tán rộng. Chất béo đưa vào nguồn nước từ các nguồn nước thải, các lò sát sinh, công nghiệp sản xuất dầu ăn, lọc dầu, chế biến thực phẩm… Chất béo ngăn sự hòa tan ôxy vào nước, giết các vi sinh vật cần thiết cho việc tự làm sạch nguồn nước. 20. Thuốc diệt cỏ và trừ sâu: Thuốc diệt cỏ và trừ sâu ngoài việc gây ô nhiễm vùng canh tác còn có khả năng lan rộng theo dòng chảy, gây ra các tổn thương trên hệ thần kinh nếu tiếp xúc lâu ngày, chúng cũng có thể tích tụ trong cơ thể gây ra những biến đổi gen hoặc các bệnh nguy hiểm. 21. Tổng số vi trùng: Chỉ tiêu này để đánh giá mật độ vi trùng trong nước, các vi khuẩn này hoặc sống trong nước, hoặc từ đất rửa trôi vào nước hoặc từ các chất bài tiết. Chỉ tiêu này không đánh giá về mặt độc hại đối với sức khỏe mà chỉ đánh giá chất lượng nguồn nước. 22. Coliform: Coliform sống ký sinh trong đường tiêu hóa của người và động vật, chỉ tiêu này dùng để xem xét sự nhiễm bẩn của nước bởi các chất thải. 23. E. Coli: Chỉ tiêu này đánh giá sự nhiễm phân của nguồn nước nhiều hay ít (nhiễm phân người hoặc động vật), gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đôi khi thành dịch bệnh lan truyền.

6. Biện pháp xử lí nước thải:
Nước được sử dụng cho mục đích tiêu thụ và công nghiệp thường giảm sút trong quá trình sử dụng bởi nhiều chất gây ô nhiễm gồm chất cần oxi, vi khuẩn, chất dinh dưỡng, muối, chất rắn lơ lửng và nhiều chất hóa học khác. Ở Mĩ, những tiêu chuẩn phải được kiểm soát trước khi thải ra môi trường. Chi phí xử lí nước thải thường xấp xỉ 12 tỉ USD, và nó đòi hỏi gấp đôi ở thập kỉ tiếp theo. Bởi vì có rất nhiều khoản tiền liên quan, xử lí nước thải là một quá trình lớn. Ở vùng nông thôn, phương pháp xử lí cổ truyền là dùng hố rác tự hoại (bể chứa trong đó nước rác chảy vào và đọng lại cho đến khi tác động của vi khuẩn làm cho nó đủ lỏng để có thể rút ra). Ở cộng đồng lớn hơn, nước thải thường được thu gom và tập trung lại từ hệ thống cống rãnh. Ở nhiều nơi, tài nguyên nước rất được chú trọng, và khi kết quả được chấp nhận thì được phát triển để cải tạo nước thải để họ coa thể sử dụng cho nhiểu mục đích như tưới ruộng, công viên hay sân golf, đúng hơn là đổ ra gần nguồn nước. Những kĩ thuật mới được sử dụng để xử lí nước thải không

phải là nước thải mà là một nguồn tài nguyên để sử dụng. Việc phát triển những công nghệ mới này nêu lên rằng việc xử lí nước thải không nên bị che giấu trong quần chúng. Hơn nữa, chúng ta nên tiến tới nước thải sẽ được cải thiện bằng chi phí nhỏ khi sản xuất hoa và rượu từ nước trái cây. Hố rác tự hoại:

Hành động phỏ biến ở Mĩ, tử thành thị đến nông thôn. Mặc dù phương pháp không tuyệt đối an toàn nhưng vẫn được sử dụng để xử lí vì dễ thực hiện. Việc xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh thường không theo kịp sự tăng tiến. Do đó, hố rác tự hoại cá nhân là một phương pháp xử lí quan trọng. Có trên 22 triệu hệ thống đang hoạt động, và khoảng nửa triệu hệ thống mới được đưa vào sử dụng mỗi năm. Do đó, hố phân hủy được khoảng 30% người dân Mĩ sử dụng. Không phải tất cả địa phương, tuy nhiên thích hợp cho việc đặt hệ thống hố tự hoại, nên sự định giá mỗi hệ thống là cần thiết và thường cần phải có điều lệ trước khi được sử dụng. Các phần cơ bản của hố tự hoại được thể hiện như trong hình. Ống nước thải từ nhà hoặc cở sở kinh doanh nhỏ dẫn đến hố tự hoại dưới mặt đất trong vườn. Chất rắn hữu cơ lắng dưới đáy của hố, nơi mà chúng được phân hủy và hóa lỏng bởi hoạt động của vi khuẩn. Chất lỏng đã được lọc được đưa vào nơi tháo nước, bao gồm các ống dẫn thẳng mà nước có thể thấm vào đất xung quanh. Khi nước di chuyển vào trong đất, nó sẽ được xử lí và lọc nhiều hơn bởi các quá trình lọc và oxi hóa tự nhiên. Các nhân tố địa chất ảnh hưởng là: loại đất, chiều sâu mực nước, chiều sâu nền đá và địa hình. Các biến số này thường được liệt kê với sự mô tả về đất

liên quan với sự xem xét đất đai ở vùng đó và các vùng khác. Sự nghiên cứu đất được thành lập bởi Tổ Chức Bảo Tồn đất đai, có ý nghĩa quan trọng trong việc giải thích khả năng sử dụng đất, như việc sử dụng cho hố tự hoại. Tuy nhiên, sự tin đáng tin cậy của bản đồ đất còn hạn chế đối với vùng đất rộng khoảng vài ngàn m², và loại đất có thể thay đổi vài m nên rất cần thiết nếu có một định giá của các nhà khoa học và kĩ sư. Để tính kích thước của đất hấp thụ, cần biết tốc độ dòng nước di chuyển trong đất, đây là cách tốt nhất để xác định khả năng lọc nước. Khả năng lọc rác thải của đất có thể gặp một vài lí do hạn chế. Nguyên nhân phổ biến là khả năng rút nước của đất kém, làm cho nhánh sông dâng lên khi thời tiết ẩm ướt. Việc tháo nước kém có thể được mong đợi ở nơi đất sét hoặc đất rắn với tính dẫn nước thấp, và những vùng có mực nước cao, đá gần bề mặt dẫn nước kém, hoặc hay bị ngập lụt. Nếu hố tự hoại bị rò rỉ, chất thải chảy ra ngoài sẽ rất nguy hiểm cho sức khỏe. Sự cố này rất hay gặp. Không may là, những gì xảy ra bên dưới mặt đất không dễ thấy, nếu quá trình lọc nước trên diện rộng xảy ra, thì tài nguyên nước ngầm có thể bị ô nhiễm. Một điều liên quan đặt biệt là hố rác được cung cấp cho các cơ sở kinh doanh và công nghiệp nhỏ, những nhu cầu này gây ra nhiều vấn đề ô nhiễm nước ngầm hơn là hố ở nhà. Có những nguy cơ từ những hoạt động này, các tác nhân gây ô nhiễm có thể là : Nitrat, kim loại nặng, kẽm, đồng, chì, các chất hữu cơ tổng hợp, benzene, carbon tetraclorua, vinyl clorua. Wastewater treatment plants (xử lý nước thải ): Mục tiêu chính của quá trình xử lý này là giảm lượng huyền ph

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->