P. 1
Phan i. Dai Cuong

Phan i. Dai Cuong

|Views: 8,721|Likes:
Được xuất bản bởinhanqb

More info:

Categories:Topics, Art & Design
Published by: nhanqb on May 05, 2010
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

02/22/2014

pdf

text

original

1. Nguyên lý

Phản ứng ngưng kết là sự kết hợp giữa kháng nguyên hữu hình với kháng
thể tương ứng, tạo thành các hạt ngưng kết có thể quan sát được bằng mắt
thường.

Kháng nguyên có thể là vi khuẩn, hồng cầu, bạch cầu, tinh trùng.v.v...
Phản ứng ngưng kết chi xảy ra nếu có chất điện giải, rõ nhất, nhanh nhất ở pH từ
7 đến 7,2 và ở nhiệt độ 370

C.

2. Phản ứng ngưng kết trực tiếp

Vi sinh vật sống và chết đều có khả năng ngưng kết với kháng thể. Với vi
sinh vật sống, thực hiện phản ứng trên một phiến kính. Phản ứng này thường
được sử dụng để nhận mặt vi khuẩn. Ngoài vi khuẩn, các tếbào như hồng cầu,
tinh trùng... đều có khả năng ngưng kết với kháng thể đối ứng.
Trường hợp kháng nguyên là vi sinh vật chết, thực hiện phản ứng trong
ống nghiệm để xác định hiệu giá kháng thể ở trong huyết thanh trong chẩn đoán
bệnh như phản ứng Widal trong chẩn đoán bệnh thương hàn.

3. Phản ứng ngưng kết gián tiếp

Ở đây kháng nguyên và kháng thể chỉ ngưng kết khi có sự hiện diện của
một nhân tố thứ 3. Phản ứng Coombs là một ví dụ. Người mẹ Rh- sinh đúa con
Rh+ (kháng nguyên D). Lúc sinh con, hồng cầu Rh+ lọt vào máu người mẹ và
khích động sự tạo thành kháng thể D. Kháng thể D có thể lọt qua nhau trong
những lần mang thai sau. Phản ứng giữa kháng thể D và kháng nguyên D có thể
phá hủy hồng cầu và gây nên chứng tan máu ở trẻ sơ sinh.
Để phòng ngừa cho bà mẹ Rh- khỏi bị nhạy cảm hóa bởi kháng nguyên D
của đứa con Rh+, tiêm vào người mẹ ngay trước khi sinh đứa con thứ nhất một
lượng nhỏ kháng thể D.

4. Phản ứng ngưng kết thụ động

Kháng nguyên hòa tan được hấp phụ lên bề mặt những nền mượn như hạt
bentonit, hạt latex nhưng thông dụng nhất là hồng cầu cừu. Những hạt này
ngưng kết với kháng thể nhờ sự hiện diện của kháng nguyên dính vào bề mặt
chúng. Những hạt này khá lớn nên phản ứng dương tính có thể khám phá bằng
mắt thường. Trong trường hợp hồng cầu được sử dụng làm giá mang kháng
nguyên thì phản ứng được gọi là phản ứng ngưng kết hồng cầu thụ động.

83

Để phát hiện kháng nguyên, người ta gắn kháng thể lên nền mượn. Khi
kháng thể gặp kháng nguyên đặc hiệu, hiện tượng ngưng kết sẽ xuất hiện. Loại
này được gọi là phản ứng ngưng kết thụ động ngược.
Phản ứng ngưng kết thụ động nhạy hơn phản ứng ngưng kết trực tiếp nhờ
hình thể tương đối lớn của những hạt mang kháng nguyên và độ đặc hiệu cao
hơn phản ứng ngưng kết trực tiếp vì có thể tinh chế được các kháng nguyên hoặc
kháng thể trước khi gắn lên nền mượn. Loại phản ứng này được dùng trong chẩn
đoán nhiều bệnh nhiễm trùng như dịch hạch, Whitmore, viêm màng não mủ...

5. Phản ứng ngăn ngưng kết hồng cầu

Có một số virus có khả năng ngưng kết hồng cầu của một số động vật và
phản ứng đó bị ức chế bởi kháng huyết thanh của virus. Đó là phản ứng ngăn
ngưng kết hồng cầu. Phản ứng ngăn ngưng kết hồng cầu được sử dụng để chẩn
đoán nhiều chứng bệnh virus như cúm, quai bị, sốt xuất huyết, đậu mùa.v.v...

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->