P. 1
SKKN_mon_sinh_dat_giai_B

SKKN_mon_sinh_dat_giai_B

|Views: 190|Likes:
Được xuất bản bởithanhanhs
123456
123456

More info:

Published by: thanhanhs on May 06, 2010
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

04/25/2014

pdf

text

original

SKKN

:

Sö dông s¬ ®å ho¸ d¹y phÇn “ Sinh vËt vµ m«i trêng” Sinh häc 9 A . ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lời mở đầu - Trong thời đại ngày nay, ở nhà trường phổ thông một trong những mục tiêu quan trọng là đổi mới giáo dục trong đó phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh là một trong những yếu tố quan trọng để đổi mới thực sự có kết quả tích cực. Điều đó được thể hiện trong các khâu khác nhau của một quá trình dạy học và có vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy của học sinh. Lực lượng giáo viên là một trong những yếu tố không thể thiếu cho mục tiêu giáo dục của ngành. Vì vậy thầy cô giáo luôn phải tự đổi mới mình bằng nhiều biện pháp như: thực hiện tốt việc soạn bài theo mẫu mới,n giảng dạy theo gợi ý của sách giáo viên, nội dung của sách giáo khoa và đặc biệt là theo chuẩn kiến thức đã được bộ giáo dục ban hành. Bên cạnh đó giáo viên phải không ngừng tìm tòi sáng tạo ra những phương pháp dạy học hiệu quả nhằm kích thích tính sáng tạo cho học sinh. Hiện nay chương trình đổi mới sách giáo khoa nói chung và đổi mới sách giáo khoa sinh học nói riêng là một vấn đề rất cần thiết nhằm tạo ra tạo ra hướng thay đổi tích cực trong việc dạy và học, từ đó đào tạo nên thế hệ trẻ có nhiều năng lực phục vụ đắc lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặc biệt hiện nay nhiều lĩnh vực liên quan đến kiến thức sinh học mà có tầm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội rất lớn như công nghệ chọn giống, công nghệ sinh học, vi sinh, bảo vệ môi trường …Các em học sinh sau khi học xong chương trình phổ thông nếu không tiếp tục học cao hơn nữa thì kiến thức sinh học cũng góp phần rất lớn cho các em trong sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường sống cũng như sức khỏe bản thân.

1

SKKN:

Sö dông s¬ ®å ho¸ d¹y phÇn “ Sinh vËt vµ m«i trêng” Sinh häc 9
Ngày nay khối lượng tri thức khoa học trên thế giới khám phá ra ngày càng tăng như vũ bão nên chúng ta không thể hi vọng rằng trong thời gian nhất định ở trường phổ thông mà có thể cung cấp cho học sinh một kho tàng tri thức khổng lồ mà loài người đã tích luỹ được. Vì vậy nhiệm vụ của người giáo viên ngày nay không những phải cung cấp cho học sinh một vốn tri thức cơ bản mà điều quan trọng là còn phải trang bị cho học sinh khả năng tự làm việc, tự nghiên cứu để tìm hiểu và nắm bắt tri thức. Nếu chúng ta sử dụng phương pháp “thầyđọc - trò chép ’’ tóm tắt sách giáo khoa để dạy học thì mục tiêu trên khó có thể đạt được. Như chúng ta đã biết phương pháp dạy học ngày nay là phải phát huy tính tích cực, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; thầy là người chỉ đạo, trọng tài, tổ chức hướng dẫn người học giúp người học tìm ra kiến thức. Mặt khác sinh học là một bộ môn khó và mang tính chất trừu tượng cao vì nó nghiên cứu về các cơ thể sống, các quá trình sống và đặc biệt nó gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người. Vì vậy nắm bắt tốt các kiến thức sinh học sẽ góp phần nâng cao đời sống loài người. Do đó việc tìm ra phương pháp nâng cao chất lượng dạy học là một vấn đề cực kì quan trọng. Có rất nhiều phương pháp dạy học, tuy nhiên tuỳ nội dung chương trình mà áp dụng phương pháp giảng dạy cho phù hợp. Thông thường trong giảng dạy các môn học đặc biệt là những bài hệ thống hoá kiến thức hoặc tổng kết được sử dụng phương pháp sơ đồ hoá. Phương pháp này có ưu thế giúp học sinh nhanh chóng thực hiện các thao tác và quá trình phân tích tổng hợp để lĩnh hội tri thức mới. Sử dụng phương pháp sơ đồ hoá giúp cho việc phát triển trí tuệ của học sinh, rèn luyện trí nhớ tạo điều kiện cho học sinh học tập sáng tạo tích cực. Là một giáo viên giảng dạy môn sinh học tại trường trung học cơ sở trong nhiều năm nay, tôi và các giáo viên trong tổ luôn cố gắng tìm tòi nhiều phương 2

SKKN:

Sö dông s¬ ®å ho¸ d¹y phÇn “ Sinh vËt vµ m«i trêng” Sinh häc 9
pháp dạy học khác nhau nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong đó hình thành cho học sinh khả năng hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ là phương pháp đem lại những kết quả khả quan. Trongh phạm vi bài viết này tôi xin được giới thiệu những cách làm của mình với phần kiến thức sinh vật và môi trường của sinh học 9. 2 – Sơ lược lịch sử vấn đề. Trong quá trình giảng dạy môn sinh học lớp 9 những năm qua, là một tổ trưởng chuyên môn tôi và các đồng nghiệp trong tổ nhận thấy việc giảng dạy chỉ bằng phương pháp thông thường thì nếu lâu dài sẽ hình thành cho cả giáo viên và học sinh một ý thức dạy và học mang tính chất thụ động. Việc tìm ra các biện pháp nhỏ trong các phương pháp đã có là rất cần thiết. Việc làm này kích thích giáo viên không ngừng tìm tòi những yếu tố mới mẻ để áp dụng vào thực tế dạy học. Còn các em học sinh sẽ luôn được tiếp thu bài ở những tư thế tâm lí khác nhau. Việc tìm hiểu kiến thức bài học sẽ trở nên đa dạng và sinh động hơn, đòi hỏi các em phải luôn tự đổi mới mình để theo kịp những kiến thức mà giáo viên bộ môn truyền thụ trong mỗi tiết học. Đó là những vấn đề mà không những bản than tôi mà tất cả giáo viên trong tổ đều tâm huyết và tìm cách khắc phục trong thời gian qua. 3 – Phạm vi đề tài. Ở sang kiến kinh nghiệm này tôi chỉ nêu những áp dụng cụ thể của mình ở một số bài trong nội dung chương trình sinh học lớp 9. Thực chất nếu các đồng nghiệp có chung những mong muốn cải thiện tình hình học tập của học sinh đều có thể chia sẻ. Trong thực tế giảng dạy chúng tôi đã áp dụng không chỉ ở những bài đã nêu trên mà xuyên suốt cả chương trình sinh học lớp 9 thậm chí là ở các khối lớp khác đều rất thành công. II – THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ 3

SKKN:

Sö dông s¬ ®å ho¸ d¹y phÇn “ Sinh vËt vµ m«i trêng” Sinh häc 9
1 – Thực trạng tình hình Tăng cường khả năng tư duy sang tạo của học sinh trong dạy học sinh học thực sự là vấn đề hết sức cần thiết. Để làm được điều này đòi hỏi người giáo viên phài thực sự tâm huyết với ngề nghiệp và với học sinh bởi vì đây là sự đổi mới mà để thực hiện được điều đó chúng ta phải hết sức cố gắng và đầu tư rất nhiều công sức thậm chí cả tiền bạc thì mới đạt được những thành công nhất định. Những khó khăn này càng nhiều hơn khi thực hiện ở những trường có cơ sở vật chất thiếu thốn, điều kiện kinh tế xã hội của người dân còn hạn chế, phụ huynh cũng như học sinh chưa thực sự xem trọng việc học hành, thực sự thì trong quá trình thực hiện ý tưởng của mình bản than tôi và các đồng nghiệm cũng đã gặp phải những vướng mắc nhất định nhưng với quyết tâm cao trong công việc chúng tôi đã từng bước khắc phục. Mong muốn các đồng nghiệp có cùng suy nghĩ khi lựa chọn ý tưởng của tôi để thực hiện. Đặc biệt là những đơn vị có những đặc điểm giống với chúng tôi thì việc dự đoán những khó khăn để có thể chủ động khắc phục và phát huy những thuận lợi là điều hết sức cần thiết. Sinh học 9 được chia làm 2 phần: Phần I “ Di truyền và biến dị”. Phần II “ Sinh vật và môi trường”. Phần II nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh vật với sinh vật và giữa sinh vật với môi trường xung quanh nó. phần này đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống con người. Ngay từ xa xua khi con người chỉ biết dựa vào tài ngưyên thiên nhiên nhờ những hiểu biết về môi trường xung quanh mà họ tồn tại và phát triển. Mọi hoạt động của con người từ nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, xây dựng nông thôn, thành thị, quốc phòng… Nói chung mọi hoạt động kinh tế xã hội đều liên quan đên môi trường, nếu không chú ý đến quan hệ đó mà sử dụng thiên nhiên một cách tuỳ tiện, phá vỡ sự cân bằng của các quy luật tự nhiên thì có thể chỉ đạt được một số yêu cầu trước mắt 4

SKKN:

Sö dông s¬ ®å ho¸ d¹y phÇn “ Sinh vËt vµ m«i trêng” Sinh häc 9
nhưng sẽ gây hậu quả tai hại lâu dài đến môi trường. Trên cơ sở đó việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, nắm được những điều kiện cần thiết để thuần hoá cải tạo giống vật nuôi cây trồng là vô cùng cần thiết. Kiến thức phần “ Sinh vật và môi trường” là kiến thức sinh thái học cấu trúc hệ thống chặt chẽ vì nghiên cứu các hệ thống sống ở các cấp độ khác nhau. Do đó nếu sử dụng phương pháp dạy cũ đó là giảng giải, minh hoạ thì học sinh nhớ máy móc kiến thức, ít nghiên cứu sách giáo khoa, không sáng tạo trong giờ học, kiến thức thu được rời rạc không có tính hệ thống, không biết vận dụng vào thực tế. 2 – Những thuận lợi và khó khăn. a – Thuận lợi. - Phần lớn học sinh chăm chỉ, có ý thức trong học tập. - Giáo viên trong tổ bộ môn đoàn kết, nhiệt tình trong giảng dạy, luôn tham gia đóng góp ý kiến cho đồng nghiệp cùng nhau tháo gỡ những vấn đề kho khăn trong chuyên môn. - Trong sự phát triển chung của xã hội giáo viên được tiếp cận với công nghệ thông tin nên có nhiều thuận lợi trong việc tìm kiếm, tham khảo những tài liệu có liên quan đến chuyên môn. - Ban giám hiệu và công đoàn nhà trường luôn quan tâm đến phong trào thi đua, tạo mọi điều kiện khuyến khích, động viên phát huy tinh thần yêu nghề yêu trẻ để phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu chất lượng. - Thực tế ở nông thôn hằng ngày các em được tiếp xúc với một hệ thống thực vật có phần đa dạng và phong phú nên đa số học sinh đều có thể nắm bắt được những kiến thức sinh học khá thuận lợi. b – Khó khăn.

5

SKKN:

Sö dông s¬ ®å ho¸ d¹y phÇn “ Sinh vËt vµ m«i trêng” Sinh häc 9
- Tây Yên là là xã có địa bàn rộng giao thông đi lại rất khó khăn đặc biệt là trong mùa mưa do các em sống rải rác trong các ke6ng rạch, hoàn cảnh khinh tế của nhiều em còn khó khăn nên nên phải tham gia lao động sớm để phụ giúp gia đình từ đó ít có điều kiện quan tâm nhiều đến việc học. - Một số học sinh xem môn sinh học là môn phụ nên chưa có thái độ học tập đúng đắn. - Thiết bị dạy học đã có nhưng những đồ dung dạy học nói chung chưa đủ, có những đồ dung chưa phản ánh chính xác với thực tế. III – GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ I. Giải pháp. Quá trình dạy học gồm hai hoạt động có liên quan với nhau một cách mật thiết, đó là hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh trong đó học sinh vùa là chủ thể vừa là khách thể của quá trình dạy học. Học sinh trong quá trình học tập ở trong và ngoài nhà trường cũng như quá trình lớn lên trong gia đình và xã hội đã có vốn sống về thiên nhiên về xã hội, về các mối quan hệ của sinh vật và môi trường. Học sinh lớp 9 ở lứa tuổi 14 và 15, ở giai đoạn này các em muốn tự khẳng định mình, ưa thích hoạt động tự quản, có năng lực tư duy,phân tích, tổng hợp, có tiềm năng năng động sáng tạo trong học tập. Do đó trên cơ sở của bài giảng đã được nghiên cứu giáo viên có thể nâng cao vai trò của học sinh với những dự kiến có định hướng tạo điều kiện cho học sinh tham gia xây dựng bài, có như vậy hiệu quả giờ dạy mới cao. Phương pháp sơ đồ hoá sẽ giúp chúng ta nâng cao chất lượng và hiệu quả giờ học. Để sử dụng phương pháp sơ đồ hoá trong dạy học sinh học trước hết giáo viên phải nắm vững chương trình, cấu trúc của từng chương từng bài. Trong giờ dạy giáo viên phải biết tạo ra những tình huống có vấn đề để kích 6

SKKN:

Sö dông s¬ ®å ho¸ d¹y phÇn “ Sinh vËt vµ m«i trêng” Sinh häc 9
thích các em giải quyết vấn đề, đi đúng chủ đề và trả lời đúng câu hỏi. biết kích thích hứng thú học tập và phát triển tư duy sáng tạo của học sinh. Muốn làm được như vậy giáo viên chỉ cần hướng cho học sinh biết cách giải quyết vấn đề từng bước một, măt khác phải hình thành cho các em kĩ năng nghiên cứu sách giáo khoa. Trong mỗi bài giáo viên cần định hướng cho các em xem mục nào có thể dung sơ đồ, lập sơ đồ dạng nào cho hợp lí, có hiệu quả nhất. Giáo viên cần hình thành dần cho các em khả năng xây dựng sơ đồ và cách nhớ bài học theo ngôn ngữ sơ đồ ; đọc nội dung từ sơ đồ. Đây là một công việc khó khăn và yêu cầu phải nhớ sâu sắc bài học, nhờ đó mà khả năng tự học của các em ngày càng cao. Để tổ chức bài giảng theo phương pháp sơ đồ giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đi theo các bước sau; 1. Giáo viên yêu cầu học sinh nghiên cứu sách giáo khoa, nội dung bài học kênh hình ( có thể có ) để hoàn thành các nhiệm vụ được giao trong từng phần, từng mục. 2. Yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi. 3. Học sinh phân tích nội dung bài học xác định dạng sơ đồ. 4. Học sinh tự lập sơ đồ. 5. Học sinh thảo luận trước lớp về kết quả lập được. 6. Giáo viên chỉnh lí để có sơ đồ chính xác khoa học, có tính thẩm mĩ cao. 7. Ra bài tập bổ sung và củng cố. * Tổ chức thực hiện. Phần I: Một số dạng sơ đồ chủ yếu sử dụng trong phần “ Sinh vật và môi trường”. 1. Sơ đồ dạng thẳng. 7

SKKN:

Sö dông s¬ ®å ho¸ d¹y phÇn “ Sinh vËt vµ m«i trêng” Sinh häc 9
- Ví dụ: Ý nghĩa của khống chế sinh học: Nhờ khống chế sinh học trong thể cân bằng - Ví dụ các chuỗi thức ăn: Cỏ thỏ cáo ĐV đáy VSV cá chép VSV Chất mùn bã 2. 2 Sơ đồ nhánh. - Ví dụ: Các loại môi trường : Đất Môi trường Nước Không khí Sinh vật Mặn Lợ Ngọt Động vật Thực vật Con người 3. Sơ đồ dạng lưới. - Ví dụ: Lưới thức ăn trong một quần xã. Trâu Hổ số lượng cá thể mỗi quần thể dao động quần thể dao động trong thể cân bằng

trạng thái cân bằng sinh học trong quần xã.

8

SKKN:

Sö dông s¬ ®å ho¸ d¹y phÇn “ Sinh vËt vµ m«i trêng” Sinh häc 9
Cỏ Thỏ Gà Cáo Mèo rừng VSV

4. Dạng bảng biểu. - Ví dụ: về sinh vật biến nhiệt và hằng nhiệt. Nhóm sinh vật Sinh vật biến nhiệt Tên sinh vật - Vi khuẩn cố định đạm - Cây lúa - Ếch - Rắn hổ mang Sinh vật hằng nhiệt -… - Chim bồ câu - Chó Môi trường sống - Rễ cây họ đậu - Ruộng lúa - Hồ, ao, ruộng lúa - Cánh đồng lúa -… - Vườn cây - Trong nhà -… 5. Sơ đồ kiểm tra đánh giá. - Ví dụ: So sánh quần thể và quần xã. Các đặc điểm so sánh - Thành phần loài - Thời gian - Các mối quan hệ - Tính chất - Phạm vi phân bố §Êt 9 Quần thể Quần xã

SKKN:

Sö dông s¬ ®å ho¸ d¹y phÇn “ Sinh vËt vµ m«i trêng” Sinh häc 9
6. Sơ đồ khuyết thiếu. - Ví dụ: Các nhân tố sinh thái … Nhân tố vô sinh ? ? ?

7. Sơ đồ câm. - Ví dụ về lưới thức ăn. b a e g 8. Mô hình hoá. - Ví dụ: Sơ đồ quần thể. a1 a2 a3 là các cá thể của quần thể Mts a2 a1 a3 c f d

Phần II. Phương pháp và biện pháp sử dụng sơ đồ trong dạy học “ Sinh vật và môi trường”

10

SKKN:

Sö dông s¬ ®å ho¸ d¹y phÇn “ Sinh vËt vµ m«i trêng” Sinh häc 9 1. Sử dụng sơ đồ để hình thành kiến thức mới.
Trong nội dung này cần dùng sơ đồ để giới thiệu những kiến thức mới làm cho học sinh nắm được, ghi nhớ kiến thức một cách sâu sắc và có thể sử dụng kiến thức đó vào thực tiễn đời sống và sản xuất. mặt khác học sinh phải biết móc xích kiến thức vừa học với kiến thức đã học ở các bài trước, vì vậy giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy và trình độ học sinh để sử dụng phương pháp dạy học cho có hiệu quả. Ở nội dung này ta có thể sử dụng sơ đồ theo nhiều cách. 1.1 cách 1: Đơn giản nhất là giáo viên lập sơ đồ lên bảng rồi dùng phương pháp giảng giải cho học sinh hiểu và nắm bắt kiến thức. Phương pháp này có thể dùng khi ta dạy những bài dầu tiên để học sinh làm quen với phương pháp sơ đồ hoá hoặc khi ta dạy với đối tượng học sinh trung bình. Nhược điểm của phương pháp này là hiệu quả không cao vì học sinh nắm kiến thức một cách máy móc không phát huy được tính sáng tạo và tư duy độc lập của học sinh. - Ví dụ khi dạy khái niệm quần thể: + Giáo viên lấy ví dụ các cá thể cùng loài như chim, voi, trâu cừu…thường tạo thành đàn, ở thực vật như đồi cọ, rừng thông… Nếu các cá thể không sống chung với nhau sẽ gặp nhiều yếu tố bất lợi. + Giáo viên vẽ sơ đồ: Mts a2 a3 a1

+ Sau đó giáo viên giải thích a1,a2,a3…là các cá thể của quần thể( a1,a2,a3 cùng loài), chúngcùng sống trong một môi trường tạo thành quần thể. 11

SKKN:

Sö dông s¬ ®å ho¸ d¹y phÇn “ Sinh vËt vµ m«i trêng” Sinh häc 9
+ Giáo viên yêu cầu học sinh phát biểu khái niệm quần thể. 1.2 Cách 2: Giáo viên yêu càu học sinh trả lời theo gợi ý và thầy trò cùng xây dựng sơ đồ. Với các câu trả lời của học sinh thầy có thể hình thành dần sơ đồ lên bảng. Phương pháp này có ưu điểm là phát huy được khả năng tự làm việc của học sinh, tạo cho học sinh những tình huống có vấn đề thông qua các câu hỏi hoặc các em suy nghĩ tìm tòi có thể vận dụng thực tiễn vào bài học, tạo cho các em cơ hội xây dựng bài khơi gợi trí tò mò và sự hứng thú học tập, học sinh đễ dàng tiếp thu và tiếp thu một cách tích cực khi thấy sơ đồ được hình thành dần dần trên bảng. Ví dụ khi dạy bài “ Môi trường và các nhân tố sinh thái” ( bài 41) Ở mục I “Môi trường sống của sinh vật” - Sau khi hình thành xong khái niệm môi trường. Giáo viên hỏi: Có mấy loại môi trường ? Học sinh : có 4 loại môi trường chủ yếu và kể tên; sau đó giáo viên lập sơ đồ: Đất - không khí ( môi trường trên cạn) Môi trường Nước Trong đất Sinh vật Ở mục II “ Các nhân tố sinh thái” Giáo viên hỏi : Có mấy nhân tố sinh thái ? Học sinh: Có 2 nhóm: nhân tố vô sinh và nhân tố hữu sinh. Giáo viên vẽ sơ đồ theo học sinh và hỏi tiếp: kể tên các nhân tố vô sinh và nhân tố hữu sinh? Học sinh : Nhân tố vô sinh gồm: đất, nước, gió, mưa, nhiệt độ… Nhân tố hữu sinh gồm: Động thực vật( sinh vật) và con người. 12

SKKN:

Sö dông s¬ ®å ho¸ d¹y phÇn “ Sinh vËt vµ m«i trêng” Sinh häc 9

Giáo viên hoàn thiện sơ đồ:

Độ ẩm Các nhân tố sinh thái Nhân tố vô sinh Nhiệt độ Ánh sáng… Sinh vật Nhân tố hữu sinh Con người Động vật Thực vật Vi sinh vật

2 Sử dụng sơ đồ để củng cố hoàn thiện kiến thức. Thông thường sau khi học xong một phần, một bài hay một chương giáo viên phải củng cố kiến thức cho học sinh để các em hiểu và nắm chắc kiến thức đã học một cách hệ thống, như vậy học sinh sẽ dần dần hoàn thiện kiến thức trong nội dung chương trình. Trong phần “ Sinh vật và môi trường” giáo viên cũng có thể củng cố hoàn thiện kiến thức cho học sinh bằng phương pháp sơ đồ hoá. Ví dụ sau khi học xong bài quần xã giáo viên yêu cầu học sinh làm bài tập so sánh quần thể và quần xã theo bảng mẫu sau:

13

SKKN:

Sö dông s¬ ®å ho¸ d¹y phÇn “ Sinh vËt vµ m«i trêng” Sinh häc 9
Đặc điểm so sánh - Thành phần - Mối quan hệ - Tính chất - Phạm vi phân bố - Thời gian Học sinh vận dụng các kiến thức đã học cùng thảo luận hoàn thành bài tập. Quần thể Quần xã

3 Sử dụng sơ đồ để kiểm tra đánh giá.
Khi kiểm tra đánh giá giáo viên có thể sử dụng câu hỏi tự luận hoặc sơ đồ. Để có thể sử dụng sơ đồ trong khâu này cũng có nhiều cách. Có thể sử dụng sơ đồ khuyết thiếu hoặc sơ đồ câm để yêu cầu học sinh hoàn thành. Ví dụ khi học bài “ Hệ sinh thái” giáo viên có thể yêu cầu học sinh làm bài tập sau: 1)Điền vào dấu ? để hoàn thiện sơ đồ Hệ sinh thái ? ?

2) Lập lưới thức ănđơn giản ở ao hồ có dạng sau: (2) (5) 14

SKKN:

Sö dông s¬ ®å ho¸ d¹y phÇn “ Sinh vËt vµ m«i trêng” Sinh häc 9

(1)

(3) (4)

(7) (6)

(8)

Như vậy sau khi học sinh đã được làm quen với sơ đồ giáo viên có thể yêu cấuh lập sơ đồ cho một khái niệm,quy luật, một quá trình hoặc một cơ chế nào đó. Tóm lại trong quá trình giảng dạy giáo viên có thể kết hợp hài hoà giữa nhiều phương pháp, có thể sử dụng phương pháp sơ đồ hoá vào từng khâu, từng phần của tiết dạy nhằm tạo cho học sinh dể ghi nhớ, dễ dàng móc xích các kiến thức cũ và mới tạo thành một hệ thống kiến thức, đồng thời tạo cho học sinh sự hứng thú với môn học. 2 – Kết quả đạt được. A – Hiệu quả giờ học. - Là một tổ trưởng chuyên môn tôi mạnh dạn triển khai những ý kiến của mình cho tổ viên với phương pháp mà tôi giới thiệu ở trên đã đưa ra bàn bạc với tổ trong các cuộc họp chuyên môn và được các anh chị em trong tổ nhiệt tình ủng hộ từ đó đưa vào ứng dụng trong các tiết học sinh học lớp 9 và đã thu được nhiều kết quả khả quan như: + Tiết học trở nên sinh động, lôi cuốn, học sinh nhiệt tình trong tìm hiểu kiến thức của bài hơn. + Phát huy được khả năng tư duy sáng tạo và đặc biệt là khả năng tổng hợp kiến thức của học sinh. + Học sinh tự tin mạnh dạn trình bày ý kiến cá nhân trước tập thể. 15

SKKN:

Sö dông s¬ ®å ho¸ d¹y phÇn “ Sinh vËt vµ m«i trêng” Sinh häc 9
+ Những kiến thức mà các em tiếp thu được bằng phương pháp sơ đồ hóa là thông qua tìm tòi rồi tổng hợp nên các em ghi nhớ chủ động và sâu sắc kiến thức hơn. Qua khảo sát chất lượng học sinh là lớp 9C và lớp 9A trường trung học cơ cở Nga Tân tôi thấy: - Đa số học sinh chưa biết cách lập sơ đồ hóa đối với môn sinh học. - Kiến thức thực tế đặc biệt là những kiến thức về môi trường là rất kém. - Tỷ lệ học sinh yếu kém nhiều, học sinh khá giỏi ít. Kết quả khảo sát đầu năm như sau: Lớp Sĩ số 9A 9C 40 40 Điểm dưới 5 SL % 28 70 28 70 Điểm 5,6 SL % 11 27.5 10 25 Điểm 7,8 SL % 1 2.5 2 5 Điểm 9,10 SL % 0 0 0 0

Từ thực trạng trên tôi mạnh dạn sử dụng phương pháp “ Sử dụng sơ đồ hoá trong dạy học phần Sinh vật và môi trường”.

C. KẾT LUẬN
1. Kết quả nghiên cứu. Sau một thời gian tôi áp dụng phương pháp sơ đồ hoá lồng ghép trong các tiết dạy ở chương I và chương II phần Sinh vật và môi trường và theo dõi sự thay đổi, tiến bộ của học sinh qua các bài kiểm tra từ 10 đến 15 phút. Ở các bài kiểm tra này tôi không đề cập đến kỹ năng vẽ sơ đồ mà yêu cầu các em trả lời theo các kiến thức đã học, tôi cho học sinh làm bài kiểm tra để so sánh kết quả giữa lớp đối chứng và lớp thực nghiệm. 16

SKKN:

Sö dông s¬ ®å ho¸ d¹y phÇn “ Sinh vËt vµ m«i trêng” Sinh häc 9
Đề bài: 1. Nêu định nghĩa quần thể. 2. Vì sao quần thể có biến động số lượng mà vẫn duy trì được trạng thái ổn định? Qua kết quả kiểm tra tôi nhận thấy số lượng học sinh làm bài theo phương pháp sơ đồ hoá ở lớp 9C là cao hơn hẳn so với lớp 9A và chất lượng các bài kiểm tra cao hơn, số điểm yếu kém cũng ít hơn. Điều đó có nghĩa là các em ở lớp dạy thực nghiệm theo phương pháp sơ đồ hoá có kết quả học tập cao hơn. Đặc biệt các em đã hình thành được năng lực tự lập sơ đồ, có khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh, trình độ lĩnh hội kiến thức ngày càng được nâng lên. Kêt quả cụ thể như sau: Lớp Sĩ số 9A 9C 40 40 Điểm dưới 5 SL % 8 20 3 7.5 Điểm 5,6 SL % 22 55 18 45 Điểm 7,8 SL % 8 20 15 37.5 Điểm 9,10 SL % 2 5 4 10

Trong đề tài này tôi đã làm được một số việc sau đây: - Giáo viên đã nắm vững kiến thức về phần Sinh vật và môi trường. - Phối hợp với đồng nghiệp, tổ chuyên môn triển khai sáng kiến trên vào thực tế để đem lại hiệu quả cao - Tăng cường thực hành thực tế đảm bảo tính trực quan khi tiến hành vẽ sơ đồ. 2. Kiến nghị đề xuất. Phương pháp này tôi đã thực hiện trong giảng dạy, qua quá trình giảng dạy tôi thấy học sinh lĩnh hội kiến thức tốt hơn, rèn cho học sinh khả năng độc lập 17

SKKN:

Sö dông s¬ ®å ho¸ d¹y phÇn “ Sinh vËt vµ m«i trêng” Sinh häc 9
nghiên cứu nắm vững các tri thức và sáng tạo hơn trong học tập. Để khẳng điịnh được tính hiệu quả của phương pháp này tôi rất mong được tiếp tục nghiên cứu trên phạm vi rộng hơn. Măt khác cần có phương tiện hiện đại giúp giáo viên trình chiếu trực quan mối quan hệ trong sơ đồ; tổ chức sinh hoạt cụm chuyên môn trao đôi kinh nghiệm về sử dụng sơ đồ trong giảng dạy phần Sinh vật và môi trường. Khi viết sáng kiến này tôi đã được sự quan tâm của BGH, đồng nghiệp nhưng không tránh khỏi có những sai sót. Rất mong sự góp ý của các thầy cô, đồng nghiệp cùng các quý độc giả để sáng kiến này hoàn thiện hơn.

18

SKKN:

Sö dông s¬ ®å ho¸ d¹y phÇn “ Sinh vËt vµ m«i trêng” Sinh häc 9

19

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->