P. 1
CHƯƠNG TRÌNH 135

CHƯƠNG TRÌNH 135

|Views: 2,416|Likes:
Được xuất bản bởi06113045

More info:

Published by: 06113045 on May 07, 2010
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

11/30/2012

pdf

text

original

CHƯƠNG TRÌNH 135

I. Sự ra đời chương trình 135 . Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi (hay đọc là: "chương trình một-ba-năm"), là một trong các chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam do Nhà nước Việt Nam triển khai từ năm 1998. Chương trình được biết đến rộng rãi dưới tên gọi Chương trình 135 do Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt thực hiện chương trình này có số hiệu văn bản là 135/1998/QĐ-TTg. Theo kế hoạch ban đầu, chương trình sẽ kéo dài 7 năm và chia làm hai giai đoạn; giai đoạn 1 từ năm ngân sách 1998 đến năm 2000 và giai đoạn 2 từ năm 2001 đến năm 2005. Tuy nhiên, đến năm 2006, Nhà nước Việt Nam quyết định kéo dài chương trình này thêm 5 năm, và gọi giai đoạn 1997-2006 là giai đoạn I. Tiếp theo là giai đoạn II (2006-2010). Quyết định số 07/2006/QD-TTg ngày 10/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn II ( 2006 – 2010) . Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; - Căn cứ Nghị quyết số 10/2005/NQ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ; - Xét đề nghị của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, II. Nội dung . 1. Giai đoạn I : Mục tiêu cụ thể của Chương trình 135 là:  Phát triển sản xuất, nâng cao mức sống cho các hộ dân tộc thiểu số;  Phát triển cơ sở hạ tầng;  Phát triển các dịch vụ công cộng địa phương thiết yếu như điện, trường học, trạm y tế, nước sạch  Nâng cao đời sống văn hóa. Có nhiều biện pháp thực hiện chương trình này, bao gồm đầu tư ồ ạt của nhà nước, các dự án nhà nước và nhân dân cùng làm (nhà nước và nhân dân cùng chịu kinh phí, cùng thi công), miễn giảm thuế, cung cấp miễn phí sách giáo khoa, một số báo chí, v.v... Năm 1999, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt danh sách 1.870 xã đặc biệt khó khăn và các xã biên giới làm phạm vi của Chương trình 135. Các năm tiếp theo, do có sự chia tách và thành lập xã mới, nên số xã thuộc phạm vi Chương

trình 135 đã vượt con số trên. Khi giai đoạn I kết thúc, Nhà nước Việt Nam đã chi khoảng 10 nghìn tỷ đồng, cả nước đã xây dựng và đưa vào sử dụng hơn 25 nghìn công trình thiết yếu các loại, góp phần thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn miền núi, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân. 2. Giai đoạn II .

A. Điều 1:
Phê duyệt Chương trình Phát tnển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 - 2010 (Chương trình 135 giai đoạn II) với những nội dung chủ yếu như sau: 1 Mục tiêu . a. Mục tiêu tổng quát: - Tạo sự chuyển biến nhanh về sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất gắn với thị trường; cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn một cách bền vững, giảm khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và giữa các vùng trong cả nước. - Phấn đấu đến năm 2010, trên địa bàn cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 30% theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐTTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ. b. Mục tiêu cụ thể: - Về phát triển sản xuất: nâng cao kỹ năng và xây dựng tập quán sản xuất mới cho đồng bào các dân tộc, tạo sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững. - Phấn đấu trên 70% số hộ đạt được mức thu nhập bình quân đầu người trên 3,5 triệu đồng/năm vào năm 2010. - Về phát triển cơ sở hạ tầng: các xã có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu phù hơp quy hoạch dân cư và quy hoạch sản xuất bảo đảm phục vụ có hiệu quả nâng cao đời sống và phát triển sản xuất tăng thu nhập. - Các chỉ tiêu cụ thể: phấn đấu trên 80% xã có đường giao thông cho xe cơ giới (từ xe máy trở lên) từ trưng tâm xã đến tất cả thôn, bản; trên 80% xã có công trình thủy lợi nhỏ bảo đảm năng lực phục vụ sản xuất cho trên 85% diện tích đất trồng lúa nước; 100% xã có đủ trường, lớp học kiên cố, có lớp bán trú ở nơi cần thiết; 80% số thôn, bản có điện ở cụm dân cư; giải quyết và đáp ứng yêu cầu cơ bản về nhà sinh hoạt cộng đồng; 100% xã có trạm y tế kiên cố đúng tiêu chuẩn.

- Về nâng cao đời sống văn hóa, xã hội cho nhân dân ở các xã đặc biệt khó khăn. Phấn đấu trên 80% số hộ được sử dụng nước sinh hoạt hơp vệ sinh, trên 80% số hộ được sử dựng điện sinh hoạt; kiểm soát, ngăn chặn các bệnh dịch nguy hiểm; tăng tỷ lệ hộ có hố xí hợp vệ sinh lên trên 50%; trên 95% số học sinh tiểu học, 75% học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi đến trường; trên 95% người dân có nhu cầu trợ giúp pháp lý được giúp đỡ pháp luật miễn phí. - Về phát triển nâng cao năng lực: trang bị, bổ sung những kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao nhận thức pháp luật, nâng cao kiến thức quản lý đầu tư và kỹ năng quản lý điều hành để hoàn thành nhiệm vụ cho cán bộ, công chức cấp xã và trưởng thôn, bản. Nâng cao năng lực của cộng đồng, tạo điều kiện cộng đồng tham gia có hiệu quả vào việc giám sát hoạt động về đầu tư và các hoạt động khác trên địa bàn. 2. Nguyên tắc chỉ đạo: a. Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn là chính sách xóa đói, giảm nghèo đặc thù cho vùng trọng điểm đói nghèo của đất nước. Chương trình đầu tư tập trung, không dàn trải, xác định đúng đối tượng là các xã và thôn, bản khó khăn nhất. b. Nhà nước hỗ trợ, giúp đỡ bằng các chính sách cụ thể, bằng các nguồn lực có thể huy động được một cách hợp lý phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách. c. Phát huy tối đa sự sáng tạo, ý chí tự lực, tự cường của toàn thể cộng đồng và nội lực của các hộ nghèo vươn lên thoát nghèo. d. Thực hiện nguyên tắc dân chủ công khai, minh bạch, tăng cường phân cấp cho cơ sở, phát huy mạnh mẽ quyên làm chủ của nhân dân trực tiếp tham gia vào chương trình. e. Kết hợp Chương trình này với việc thực hiện các chính sách khác trên địa bàn; các chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình khác có liên quan trên địa bàn phối hợp và dành phần ưu tiên đầu tư cho Chương trình này. 3. Phạm vi và đối tượng Chương trình: a. Phạm vi Chương trình: thực hiện ở tất cả các tỉnh miền núi, vùng cao; vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh Nam Bộ. b. Đối tượng của Chương trình: - Các xã đặc biệt khó khăn. - Các xã biên giới, an toàn khu.

- Thôn, buôn, làng, bản, xóm ấp ... (gọi tắt là thôn,bản) đặc biệt khó khănở các xã khu vực II. Từ năm 2006, xét đưa vào diện đầu tư Chương trình đối với các xã chưa hoàn thành mục tiêu Chương trình 135; xét bổ sung đối với các xã đặc biệt khó khăn và thôn, bản đặc biệt khó khăn Ở các xã khu vực II theo quy định tiêu chí phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển và đưa vào diện đầu tư từ năm 2007. 4. Nhiệm vụ chủ yếu : a) Hỗ trợ phát triển sản xuất và chuyển địch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ sản xuất của đồng bào các dân tộc. b) Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; c) Đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơ sở, nâng cao trình độ quản lý hành chính và kinh tế, đào tạo nâng cao năng lực cộng đồng. d) Hỗ trợ các dịch vụ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật. 5. Thời gian thực hiện Chương trình: Thực hiện từ năm 2006 đến năm 2010. 6. Nguồn vốn: a. Ngân sách Trung ương hỗ trợ cho các địa phương để thực hiện mục tiêu quy định tại khoản 2 Điều 1 của Quyết định này và được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm của địa phương. b. Ngân sách địa phương hàng năm. c. Huy động đóng góp tự nguyện bằng nhiều hình thức của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các tổ chức quốc tế, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước.

B. Điều 2: Tổ chức thực hiện
1. Ủy ban Dân tộc là cơ quan thường trực Chương trình, có nhiệm vụ: a. Giúp Ban Chỉ đạo của Chính phủ thực hiện Chương trình và chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, các địa phương quản lý chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ và các dự án Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở, nâng cao trình độ quản lý hành chính và kinh tế và đào tạo nâng cao năng lực cộng đồng và Hỗ trợ các dịch vụ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp

luật. Nghiên cứu đề xuất các hình thức ghi công, biểu dương, khen thưởng các tập thể và cá nhân có nhiều đóng góp trong việc thực hiện Chương trình. b. Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình cho giai đoạn 2006 2010, chủ trì, phối hợp các Bộ, ngành đề xuất các chính sách hỗ trợ trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. c. Chủ trì phối hợp với các Bộ liên quan và các địa phương xác định cụ thể danh sách các xã, thôn đặc biệt khó khăn vào diện đầu tư Chương trình trình Thủ tướng Chính phủ quyết định; phối hợp các Bộ, ngành hướng dẫn các địa phương hàng năm rà soát, xác định các xã, thôn hoàn thành mục tiêu ra khỏi diện đầu tư Chương trình từ năm 2008. d. Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế quản lý thực hiện Chương trình này theo nguyên tắc: phân cấp quản lý cho cơ sở, đơn giản về thủ tục nhưng phải bảo đảm yêu cầu quản lý chặt chẽ. e. Xây dựng kế hoạch tổng thể triển khai Chương trình và kế hoạch thực hiện hàng năm; hướng dẫn các địa phương tổ chức triển khai Chương trình. Tổ chức kiểm tra, đánh giá thực hiện Chương trình ở các địa phương. Định kỳ 6 tháng và hàng năm đánh giá kết quả thực hiện Chương trình, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. f. Chủ trì, phân bổ vốn ngân sách trung ương cho các Bộ, địa phương thực hiện các dự án của Chương trình, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính tổng hợp trình cấp có thẩm quyền quyết định. 2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư có nhiệm vụ: a. Phối hợp với Bộ Tài chính bố trí nguồn ngân sách Trung ương cho các dự án của Chương trình và tổng hợp phương án phân bổ vốn của Chương trình theo thẩm quyền. b. Phối hợp với Ủy ban Dân tộc phân bổ chi tiết nguồn vốn của Chương trình cho các Bộ, địa phương. 3. Bộ Tài chính có nhiệm vụ: a. Phối hơp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư bố trí nguồn vốn ngân sách Trung ương cho các dự án của Chương trình và tổng hợp phương án phân bổ vốn của Chương trình theo thẩm quyền. Vốn thực hiện Chương trình được ghi thành một khoản mục riêng trong kế hoạch hàng năm của địa phương do địa phương quản lý, sử dụng đúng mục đích, đối tượng và đúng kế hoạch.

b. Phối hợp với Ủy ban Dân tộc phân bổ chi tiết nguồn vốn của Chương trình cho các Bộ, địa phương. c. Chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan hướng dẫn cơ chế tài chính thực hiện Chương trình. 4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có nhiệm vụ: a. Theo dõi , chỉ đạo các địa phương về: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng cho sản xuất (thủy lợi rừng ...). b. Chủ trì, phối hơp với Ủy ban Dân tộc hướng dẫn địa phương thực hiện dự án Hỗ trợ phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ sản xuất của đồng bào các dân tộc trên địa bàn các xã thuộc Chương trình. 5. Bộ Giao thông vận tải có nhiệm vụ: - Thực hiện hoàn thành 100% xã có đường ô đến trung tâm xã. - Chỉ đạo các địa phương quy hoạch mạng lưới giao thông nông thôn theo hướng nâng cấp đường giao thông đáp ứng yêu cầu phát triển. 6. Các Bộ, cơ quan Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ, căn cứ mục tiêu của Chương trình có trách nhiệm tổ chức, xây dựng và chỉ đạo phối hơp thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn để đạt mục tiêu Chương trình. 7. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thuộc Chương trình có nhiệm vụ: a. Thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình của địa phương. b. Tổ chức xác định, bình xét lựa chọn danh sách các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn trên cơ sở thực hiện nguyên tắc dân chủ công khai, rõ ràng minh bạch, bảo đảm đúng đối tượng, báo cáo Ủy ban Dân tộc để thẩm định tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. c. Tổ chức huy động các nguồn lực trên địa bàn để thực hiện Chương trình Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vận động và tổ chức đồng bào các dân tộc tích cực tham gia trực tiếp vào thực hiện các nội dung phát triển sản xuất, xây dựng và sử dụng các công trình của cộng đồng. d. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình đến năm 2010, kế hoạch thực hiện hàng năm, kế hoạch dự toán kinh phí tổng thể và hàng năm để thực hiện Chương trình, báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh theo quy định. e. Định kỳ báo cáo tình hình thực hiện Chương trình cho Ủy ban Đân tộc, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Văn phòng Chính phủ để kịp thời xử

lý giải quyết các vướng mắc trong quá trình thực hiện của Chương trình tại địa phương. f. Chịu trách nhiệm tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát thực hiện Chương trình trên địa bàn theo kế hoạch, đúng quy định, bảo đảm chất lượng, chống thất thoát và tiêu cực. Chịu trách nhiệm toàn diện về hiệu quả của Chương trình. 8. Ban Chỉ đạo của Chính phủ phối hơp với các cơ quan Trung ương của các đoàn thể, tổ chức xã hội trong việc vận động hưởng ứng tham gia Chương trình nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. 9. Các cơ quan thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương có nhiệm vụ tuyên truyền rộng rãi để toàn xã hội cùng tham gia hưởng ứng, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chương trình. C. Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các quyết định trước đây trái với Quyết định này đều bãi bỏ. D. Điều 4: Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này. III. Thực hiện, kết quả đạt được . Giai đoạn 1 Sóc Trăng: Chương trình 135 giai đoạn I giúp hơn 5.000 hộ Khmer thoát nghèo. Theo báo cáo của Ban Quản lý Chương trình 135 tỉnh Sóc Trăng, thực hiện giai đoạn I, tỉnh đã xây dựng được gần 500 công trình thuộc các hạng mục: điện, đường, trường, trạm, cấp nước sinh hoạt, thuỷ lợi, chợ… Trong đó, có 338 công trình giao thông gồm đường bê tông tráng nhựa, đường đal… với tổng chiều dài 314 km, chiếm tỷ lệ 70% tổng số các hạng mục công trình đã đầu tư, 66% tổng số vốn dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc Chương trình. Đến nay, các xã có đông đồng bào Khmer đều có lộ đal đến tận các khóm, ấp, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển. Số hộ có điện sử dụng đạt hơn 20.000 hộ, giúp thay đổi tập quán sinh hoạt và chuyển đổi cơ cấu sản xuất, vươn lên thoát nghèo. Nhờ sự đầu tư đó, hàng năm Sóc Trăng có trên

5.000 hộ Khmer thoát nghèo. Ngoài ra, các công trình chợ, cấp nước đã tạo diện mạo mới cho các vùng quê. Trong giai đoạn II của Chương trình, Sóc Trăng tiếp tục đầu tư 47 tỷ đồng để xây dựng 105 công trình giao thông, trong đó có 21 công trình cầu, 84 công trình đường với tổng chiều dài gần 200 km cho 38 xã thuộc Chương trình. Long an : Chương trình 135 giai đoạn I (1997 – 1995), Long An được Chính phủ VN đầu tư 20/20 xã biên giới ( đây là các xã biên giới giáp với Vương quốc Campuchia ) , với tổng nguồn vốn đầu tư 191,3 tỉ đồng, trong đó vốn Chương trình 135 chiếm 39%, các chương trình – dự án khác chiếm 61%. Qua 7 năm thực hiện chương trình, tỷ lệ hộ nghèo ở xã thụ hưởng Chương trình giảm từ 19,6% (năm 1999) xuống 8,1% (năm 2005), đạt mục tiêu Chương trình đề ra và có một xã ra khỏi Chương trình 135. 100% xã đã xây dựng 5 hạng mục công trình chủ yếu như điện, đường, trường, thủy lợi nhỏ, trạm y tế. 100% các xã đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và 50% xã đã hoàn thành phổ cập THCS. Công tác chăm sóc sức khỏe y tế có bước chuyển biến rõ rệt, mạng lưới y tế đến tận xã, ấp góp phần ngăn chặn dịch bệnh và các bệnh xã hội nguy hiểm cho người dân ở vùng sâu vùng xa.

Đây là kết quả đạt được từ chương trình 135 của các xã của Long An. Các xã vùng cao Văn Yên Chương trình 135 đầu tư xây dựng hệ thống kênh mương nội đồng tại các xã vùng cao Văn Yên.

Văn Yên là một huyện miền núi của tỉnh Yên Bái và dân số trên 114.230 người gồm 11 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm 62%, dân tộc Dao chiếm 19%, dân tộc Tày 14% còn lại là các dân tộc khác như: Mông, Phù Lá, Cao Lan... Toàn huyện có 26 xã và 1 thị trấn, trong đó có 12 xã đặc biệt khó khăn và 12 thôn bản thuộc các xã vùng II được hưởng chính sách đầu tư từ Chương trình 135. Trước những năm 2000, tại các xã và các thôn bản đặc biệt khó khăn, cơ sở vật chất hết sức nghèo nàn, giao thông chủ yếu là đường mòn nhỏ, việc thông thương trao đổi hàng hóa chủ yếu là dùng ngựa và sức người; thông tin liên lạc cực kỳ khó khăn, nhất là vào mùa mưa lũ; trường, lớp phần lớn là tranh tre nứa lá, sản xuất nông nghiệp manh mún, kỹ thuật thâm canh lạc hậu, năng suất thấp, kinh tế chậm phát triển, tỷ lệ hộ đói nghèo cao, trình độ dân trí hạn chế... Qua 10 năm thực hiện Chương trình 135, đã thực sự làm thay đổi bộ mặt kinh tế, xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn này. Đáng mừng nhất là sự thay đổi cách nghĩ, cách làm của đồng bào, từng bước phát huy được vai trò tự lực, tự cường của các hộ nghèo và toàn thể cộng đồng vươn lên thoát nghèo, gắn quyền lợi, trách nhiệm của đồng bào các dân tộc vào việc tham gia thực hiện Chương trình. Giai đoạn 2 Long An : Sau khi thực hiện Chương trình 135 giai đoạn I, tỉnh còn 19/20 được Chính phủ VN công nhận là xã đặc biệt khó khăn và được thụ hưởng Chương trình 135 giai đoạn II (2006-2010) . Khi nhận được nguồn vốn của Chính phủ giao, tỉnh xây dựng kế hoạch giai đoạn II (2006 – 2010) và kế hoạch

thực hiện năm 2006 – 2007, Quyết định thành lập Ban chỉ đạo, tổ Chuyên viên giúp việc và ban hành quy chế làm việc của Ban chỉ đạo. Trên cơ sở kế hoạch và hướng dẫn của tỉnh, 5 huyện và 19 xã thụ hưởng Chương trình đã xây dựng kế hoạch thực hiện cả giai đoạn II từ 2006 đến 2010 và kế hoạch cụ thể hàng năm. Năm 2006 – 2007 và 2008 ,tổng số vốn Trung ương phân bổ là 47.951 triệu đồng. Đến nay, đã có 21 dự án về hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, công cụ phục vụ nông nghiệp đã được triển khai, 50 công trình về cơ sở hạ tầng đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Bên cạnh đó, chương trình 135 đã hoàn thành nhiều lớp tập huấn, đào tạo nhằm nâng cao năng lực cán bộ cơ sở, đời sống của nhân dân cũng ngày được nâng cao. Tính đến thời điểm tháng 11/2008, Chương trình đã giải ngân 37.344 triệu đồng – đạt 77,88% kế hoạch năm, nguồn vốn còn lại chuyển sang năm 2009. Trên cơ sở kinh nghiệm thực hiện Chương trình 135 giai đoạn I (1999 – 2005), năm đầu tiên triển khai thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II (2006 – 2010), các huyện thực hiện tốt việc lựa chọn danh mục, địa điểm đầu tư đúng đối tượng theo mục tiêu Chương trình đề ra. Phần lớn các dự án được phê duyệt đã triển khai thực hiện, hiệu quả các công trình khi đưa vào sử dụng phục vụ tốt cho sinh hoạt, đi lại của cộng đồng như: cầu, đường giao thông ấp, liên ấp được hình thành, một số công trình phục vụ tưới tiêu phát huy có hiệu quả cho sản xuất... Những công trình xây dựng mới, khang trang góp phần làm thay đổi cảnh quan nông thôn biên giới. Thông qua việc thực hiện Chương trình, trình độ, năng lực quản lý của cán bộ cơ sở từng bước được nâng lên. Cùng với việc nâng cao dân trí, các tiến bộ khoa học kỹ thuật được người dân áp dụng vào sản xuất, tác động trực tiếp vào cách nghĩ, cách làm của người nông thôn, nhiều hộ nghề vươn lên khá, giàu là những tấm gương điển hình thoát nghèo. Một số xã nghèo của huyện Mường Chà và huyện Điện Biên : Chương trình 135 giai đoạn 2 được thực hiện ở một số xã nghèo của huyện Mường Chà và huyện Điện Biên, là hai huyện biên giới nghèo của tỉnh Điện Biên. Qua quá trình thực hiện thì công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng từ Chương trình 135 nhiểu hơn; các mô hình sản xuất mới có hiệu quả kinh tế cao được xây dựng từ nguồn vốn của các chương trình xóa đói, giảm nghèo; tình hình cuộc sống nhân dân tại các thôn, bản của xã Mường Mươn, huyện Mường Chà và Pa Thơm, huyện Điện Biên cũng có nhiều thay đổi tốt hơn. Đặc biệt tại Điện Biên đã đạt được một số mục tiêu, tiêu chí của Chương trình như: làm thay đổi cơ bản bộ mặt nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới; thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế-xã hội.

Những thay đổi của người dân Triệu Thành : Với sự cố gắn của cán bộ và nhân dân Triệu Thành trong việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng-vật nuôi, người dân Triệu Thành cũng được Nhà nước hỗ trợ nhiều công trình từ nguồn vốn Chương trình 135 giai đoạn II. Nguồn vốn này đã tạo đà cho Triệu Thành chuyển mình hơn nữa, phát triển hơn, đưa người dân Triệu thành có một cuộc sống mới, tốt hơn. Ông Lê Văn Quế, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã cho biết: “Nhờ có Chương trình 135 mà điện, đường, trường, trạm, nước sạch... Bên cạnh đó, công tác chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh cho đồng bào dân tộc thiểu số được chú trọng. Cũng từ nguồn vốn Chương trình 135 xã đã được đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng, nhiều hộ dân được hỗ trợ, đầu tư học tập khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất. Từ nguồn lực đó, đới sống của đại bộ phận nhân dân được nâng lên, nhiều hộ dân đã thoát nghèo và tiến tới làm giàu đã về với các thôn bản, đời sống vật chất, tinh thần của bà con được nâng lên rõ rệt”. Huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Là một huyện miền núi biên giới nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh, toàn huyện có 10 xã, 7 thôn thuộc 4 xã đặc biệt khó khăn được ưu đãi đầu tư từ Chương trình 135 của Chính phủ. Trong quá trình thực hiện chương trình 135, huyện đã đầu tư 50.792 triệu đồng, trong đó trên 27 tỷ đồng mở mới 118 km đường giao thông nông thôn, 5.208 triệu đồng cho thủy lợi, 6.226 triệu đồng cho phát triển điện lưới, 4.081 triệu đồng cho cung cấp nước sinh hoạt.

Đến nay, do chỉ đạo triển khai tốt chương trình 135 giai đoạn II, 5/12 xã đã hoàn thành mục tiêu, tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng dân tộc thiểu số giảm từ 23%/năm, 100% số hộ nghèo được xóa nhà tạm, 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã, một số tuyến đường được nhựa hóa; đường giao thông nông thôn tại các thôn bản được bê tông hóa; 100% xã với 97% hộ dân được dùng điện

lưới; 70% số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh. Y tế, giáo dục được đầu tư, hơn 80% trường học được kiên cố hóa; công tác dạy nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số được quan tâm, hơn 1000 người đã được học nghề. Các xã, thị trấn đều có trường mầm non, đặc biệt huyện đã và đang thực hiện đề án “Nội trú dân nuôi” tại 2 xã đặc biệt khó khăn Công Sơn, Mẫu Sơn. Về y tế, 100% số hộ dân ở các xã đặc biệt khó khăn được cấp thẻ bảo hiểm y tế, 100% xã được xây dựng trạm y tế, 14/23 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế. Công tác bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc được chú trọng, 97% làng bản thực hiện tốt quy định về nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; 25.478 gia đình đạt gia đình văn hóa, 182 đơn vị làng bản được công nhận là làng bản, cơ quan văn hóa. Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số được chú ý quan tâm, số đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2004-2009 có 542/576 đại biểu là người dân tộc thiểu số. Do thực hiện tốt các chương trình kinh tế - xã hội, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc. Tỉnh Trà Vinh Theo Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và vùng sâu, vùng xa của Chính phủ (gọi tắt là Chương trình 135, giai đoạn II (2006 - 2010) còn 27 xã. Qua nhiều năm thực hiện chương trình ở giai đoạn II và kết hợp với kết quả dạt được từ chương trinh 135 ở giai đoạn I, Trà Vinh đã triển khai xây dựng nhiều hạng mục công trình như : công trình giao thông thủy lợi, trường học, công trình điện, trạm y tế, chợ... Ðến nay, hơn 70% diện tích đất trong vùng đồng bào dân tộc Khmer đã được thủy lợi hóa, hơn 80% số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh, gần 90% số hộ có điện sử dụng, xóa bỏ tình trạng học ca ba. Hằng năm, số hộ nghèo ở các địa phương của tỉnh giảm 3%, nhưng đối với vùng đồng bào dân tộc Khmer giảm 4%. Ðồng chí Trần Trung Hiền, Chủ tịch UBND huyện Trà Cú, cho biết: Các chương trình, dự án phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số như một luồng gió mát len lỏi vào từng phum, sóc; làm cơ sở cho đồng bào tiếp cận và ứng dụng có hiệu quả các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, nhiều mô hình có hiệu quả đã được nhân rộng. Từ đó, không khí lao động trên đồng ruộng nhộn nhịp, đời sống của bà con cũng khởi sắc. Xã Hà Tây, huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai Hà Tây là xã duy nhất của huyện Chư Pah (Gia Lai) được giao làm chủ đầu tư Chương trình 135. Qua quá trình thực hiện Chương trình 135 đã tạo sức bật cho vùng đất phát triển, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 38,45% (năm 2008 theo tiêu chí mới), củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với cấp ủy, chính quyền địa phương cũng như đối với Đảng và Nhà nước.

Với 100% dân số là đồng bào dân tộc Bahnar, trong đó có 96% theo đạo Thiên chúa, Hà Tây cũng hội tụ đầy đủ những khó khăn như tất cả các xã đặc biệt khó khăn khác trên địa bàn tỉnh. Với đội ngũ cán bộ lãnh đạo luôn có tinh thần trách nhiệm và ý thức vươn lên vì sự phát triển của cộng đồng nên khi được giao làm chủ đầu tư Chương trình 135, xã đã biết phát huy tối đa quy chế dân chủ ở cơ sở, luôn quán triệt tinh thần “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, tạo được sự đồng thuận cao. Đặc biệt, xã luôn chú trọng công tác tuyên truyền nâng cao ý thức của nhân dân trong quản lý sử dụng, hiệu quả các công trình. Với tổng số vốn đầu tư trên 6 tỉ đồng, trong đó giai đoạn II (2006-2010) trên 3,3 tỉ đồng, xã đã phát triển được cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm ngày càng hoàn thiện, đáp ứng được nhu cầu trước mắt của nhân dân; công tác định canh định cư đã đi vào ổn định, giao thông đi lại thuận lợi, trường học, trạm xá được đầu tư khang trang, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng lên. Thể hiện rõ nét trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Xã đã tuyên truyền, vận động nhân dân đưa các giống mới cho năng suất cao vào sản xuất, thâm canh nên các giống cây trồng có hiệu quả kinh tế cao với 243 ha mì cao sản, 107 ha lúa cạn, 188 ha lúa nước, 350 ha cây bời lời đỏ, 158 ha chuối, hơn 1 34 ha cao su tiểu điền. Sự nghiệp giáo dục, y tế trên địa bàn ngày càng phát triển. Hiện xã có 867 học sinh ở 3 cấp với 29 lớp học; trong đó, trung học cơ sơ 7 lớp (229 học sinh), tiểu học 18 lớp (530 học sinh), mầm non 4 lớp (108 cháu). Trạm y tế xã có 4 y tá, 01 hộ sinh, 9 y tế thôn làng, đảm bảo công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân và làm tốt công tác tuyên truyền phòng chống dịch bệnh trên địa bàn. Các chương trình y tế quốc gia được triển khai đúng chủ trương. Bệnh sốt rét dần được loại trừ. Người dân đã ý thức được việc tự bảo vệ sức khỏe cho bản thân và gia đình, đau ốm đến trạm xá để được khám và cấp thuốc. Điều đáng nói là trình độ hiểu biết pháp luật của nhân dân ngày càng được nâng lên. Các mối quan hệ trong thôn, làng được điều chỉnh bằng hương ước, quy ước phát triển theo xu thế tiến bộ, gắn liền với chính sách của Nhà nước. Các hủ tục ma chay kéo dài không còn nữa. Các tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan bị đẩy lùi. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dụhg đời sống văn hóa ở khu dân cư” được phổ biến và phát triển sâu rộng trong nhân dân. Cả 9 làng đều đã có nhà rông văn hóa, có đội cồng chiêng bảo tồn và phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc. Đây là một số kết quả đạt được của Chương trình 135 của Chính phủ đề ra để thực hiện trên cả nước. IV. Điểm mạnh , yếu kém và biện pháp cho chương trình. 1. Điểm mạnh của chuong trình. Chương trình 135 giai đoạn II đã làm thay đổi cơ bản diện mạo nông thôn vùng dân tộc, miền núi đặc biệt khó khăn, vùng sâu vùng xa, đời sống đồng bào

dân tộc thiểu số từng bước được cải thiện, tỷ lệ đói nghèo giảm nhanh, trình độ dân trí được nâng lên khá rõ lệch, tập quán và kỹ thuật sản xuất của đồng bào dân tộc có sự chuyển biến theo hướng sản xuất hàng hóa, tỷ lệ thôn bản có điện, đường, lớp học, nhà văn hóa, công trình thủy lợi tăng lên, đội ngũ cán bộ cơ sở được bồi dưỡng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Đạt được những kết quả trên là do chương trình đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, địa phương trong quản lý, chỉ đạo, đặc biệt là có cơ chế tài chính minh bạch, rõ ràng, phát huy dân chủ ở cơ sở, có sự giám sát chặt chẽ ở cộng đồng. Kiểm toán Nhà nước xác định chương trình này có số tiền chi sai mục tiêu ít nhất trong các chương trình đã được kiểm toán . Chương trình 135 đã mang lại sự thay đổi cho người dân, và đồng thời góp phần vào việc phát triển đất nước Việt Nam. 2. Điểm yếu Bên cạnh những kết quả đạt được, thì việc thực hiện chương trình còn những tồn tại, bất cập gây ảnh hưởng đến hiệu quả của chương trình. Đó là, tỷ lệ hộ nghèo hàng năm giảm nhanh, nhưng thiếu bền vững, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo vẫn còn khá lớn. Việc cấp vốn hàng năm, việc phân cấp mạnh cho cơ sở làm chủ đầu tư chương trình chưa cao. Trong quá trình triển khai cũng không tránh khỏi những tồn tại, khó khăn cần rút kinh nghiệm, đó là: trình độ học vấn, nhận thức của người dân còn chưa cao; các lớp tập huấn chưa đủ thời lượng để cho học viên tiếp thu hết kiến thức; các xã đã trực tiếp làm chủ đầu tư chưa am hiểu về thủ tục đầu tư nên còn lúng túng, chưa chủ động trong quản lý và thực hiện... Chương trình 135 là chủ trương đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế của đồng bào các dân tộc vùng đặc biệt khó khăn, tạo điều kiện cho họ. Việc phân cấp quản lý là trách nhiệm của những cơ quan, đơn vị có trách nhiệm. Như ở tỉnh Lâm Đồng, ban dân tộc là đơn vị “ thường trực” Chương trình 135 của tỉnh thế nhưng lại không được các chủ dự án (cấp huyện, xã) báo cáo. Điều này dẫn đến việc quản lý, giám sát không chặt chẽ và hệ quả kéo theo là “trên bảo dưới không nghe”. Một số công trình chậm về tiến độ, kém chất lượng... và thậm chí là bất hợp lý về “nhu cầu” sử dụng của người dân. Nguyên tắc “xã có công trình, dân có việc làm” dường như vẫn còn nặng tính khẩu hiệu. Quy chế dân chủ trong việc lựa chọn hạng mục đầu tư và giám sát công trình trong dân vẫn chưa nghiêm túc ở không ít nơi. Những“chuyện chưa ưng cái bụng ” rất dễ nhìn ra và cũng không khó khắc phục, thế nhưng đến nay vẫn tồn tại. Đây là những yếu kém thi thực thi chương trình 135, chúng ta cần phải có những biện pháp khác phục những yếu kém đó. 3. Các biện pháp cho Chương trình 135.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->