P. 1
tailieudean

tailieudean

|Views: 64|Likes:
Được xuất bản bởihoaanhdao86

More info:

Published by: hoaanhdao86 on Jun 20, 2010
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

08/30/2010

pdf

text

original

Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn

tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian. Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập. Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia.

Nghèo tuyệt đối
Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối. Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức độ tuyệt đối... là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta." Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 đô la cho châu Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp. (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc 1997). Đối với Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo trong thời gian từ 1993 đến cuối năm 2005. Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27 tháng 9 năm 2001, trong đó phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói và giảm nghèo giai đoạn 2001-2005", thì những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng (1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000 đồng/người/tháng (1.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm)trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Tiêu chuẩn nghèo tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 là thu nhập bình quân đầu người dưới 330.000 đồng/tháng hoặc 4.000.000 đồng/năm (tương ứng 284USD/năm thấp hơn tiêu chuẩn 360 USD/năm của quốc tế).

[sửa] Nghèo tương đối
Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó. Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Việc nghèo đi về văn hóa-xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng.

[sửa] Ranh giới nghèo tương đối
Ranh giới cho nạn nghèo tương đối dựa vào nhiều số liệu thống kê khác nhau cho một xã hội. Một con số cho ranh giới của nạn nghèo được dùng trong chính trị và công chúng là 50% hay 60% của thu nhập trung bình. Vì thế từ năm 2001 trong các nước thành viên của Liên minh châu Âu những người được coi là nghèo khi có ít hơn 60% trị trung bình của thu nhập ròng tương đương. Lý luận của những người phê bình cho rằng con số này trên thực tế cho biết rất ít về chuẩn mực cuộc sống của con người. Những ai hiện tại có ít hơn 50% của thu nhập trung bình thì cũng vẫn có ít hơn 50% của trung bình khi tất cả các thu nhập đều tăng gấp 10 lần. Vì thế những người đó vẫn còn là nghèo tương đối. Và khi những người giàu bỏ đi hay mất tiền của thì sẽ giảm trung bình của thu nhập đi và vì thế làm giảm thiểu nghèo tương đối trong một nước. Ngược lại nghèo tương đối sẽ tăng lên khi một người không nghèo có thể tăng được thu nhập ngay cả khi những người có thu nhập khác vẫn không có thay đổi. Người ta còn phê bình là ranh giới nghèo trộn lẫn vấn đề nghèo với vấn đề phân bố thu nhập. Vì một sự phân chia rõ ràng giữa nghèo và giàu trên thực tế không có nên khái niệm ranh giới nguy cơ nghèo cũng hay được dùng cho ranh giới nghèo tương đối. Ngược với ranh giới nghèo tương đối, các phương án tính toán ranh giới nghèo tuyệt đối đã đứng vững. Các ranh giới nghèo tuyệt đối được tính toán một cách phức tạp bằng cách lập ra những giỏ hàng cần phải có để có thể tham gia vào cuộc sống xã hội. Các ranh giới nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối đều không có thể xác định được nếu như không có trị số tiêu chuẩn cho trước. Việc chọn lựa một con số phần trăm nhất định từ thu nhập trung bình và ngay cả việc xác định một giỏ hàng đều không thể nào có thể được giải thích bằng các giá trị tự do. Vì thế mà chúng được quyết định qua những quá trình chính trị.

[sửa] Định nghĩa theo tình trạng sống

Cái gọi là định nghĩa tình trạng sống lưu ý đến những khía cạnh khác ngoài thu nhập khi định nghĩa "nghèo con người", thí dụ như cơ hội đào tạo, mức sống, quyền tự quyết định, ổn định về luật lệ, khả năng ảnh hưởng đến những quyết định chính trị và nhiều khía cạnh khác. Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc cũng đã đưa ra chỉ số phát triển con người (tiếng Anh: human development index–HDI). Các chỉ thị cho HDI bao gồm tuổi thọ dự tính vào lúc mới sinh, tỷ lệ mù chữ, trình độ học vấn, sức mua thực trên đầu người và nhiều chỉ thị khác. Trong "Báo cáo phát triển thế giới 2000" Ngân hàng Thế giới đã đưa ra bên cạnh các yếu tố quyết định khách quan cho sự nghèo là những yếu tố chủ quan như phẩm chất và tự trọng.

[sửa] Nguyên nhân

Mẹ và những người con trong thời khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Mỹ năm 1936. Ảnh của D. Lange

Những nguyên nhân chính dẫn đến nghèo được liệt kê ra là chiến tranh, cơ cấu chính trị (thí dụ như chế độ độc tài, các quy định thương mại quốc tế không công bằng), cơ cấu kinh tế (phân bố thu nhập không cân bằng, tham nhũng, nợ quá nhiều, nền kinh tế không có hiệu quả, thiếu những nguồn lực có thể trả tiền được), thất bại quốc gia, tụt hậu về công nghệ, tụt hậu về giáo dục, thiên tai, dịch bệnh, dân số phát triển quá nhanh và không có bình đẳng nam nữ. Yếu tố nguy hiểm chính cho sự nghèo tương đối là thất nghiệp và thiếu việc làm. Ngoài ra những yếu tố nguy hiểm khác là phân bố thu nhập quá mất cân bằng, thiếu giáo dục và bệnh tật mãn tính. Cho đến thế kỷ 19 sự nghèo nàn phần lớn không được xem như là có nguyên nhân từ xã hội mà là do lỗi lầm cá nhân hay "trời muốn". Cùng với công nghiệp hóa và các tranh cãi chung quanh "câu hỏi xã hội" tại châu Âu, quan điểm cho rằng hiện tượng nghèo nàn phổ biến là kết quả của sự thất bại của thị trường và có thể được làm giảm thiểu bằng các biện pháp quốc gia. Thí dụ như ở Liên hiệp Anh, việc chống nghèo chính là khởi điểm của một chính sách xã hội hiện đại. Thế nhưng trong thời gian gần đây hiệu quả của việc chống nghèo bằng chính sách xã hội tại nhiều nước công nghiệp đã bị đặt câu hỏi vì nhiều hình thức nghèo mới xuất hiện.

[sửa] Mức độ

Khu nhà người nghèo tại Soweto, Cộng hòa Nam Phi

[sửa] Nghèo trên toàn thế giới
Theo số liệu của Ngân hàng Thế Giới thì trong năm 2001 trên toàn thế giới có 1,1 tỉ người (tương ứng với 21% dân số thế giới) có ít hơn 1 đô la Mỹ tính theo sức mua địa phương và vì thế được xem là rất nghèo. (Năm 1981 là 1,5 tỉ người, vào thời gian đó là 40% dân số thế giới, năm 1987 là 1,227 tỉ người tương ứng 30% và năm 1993 là 1,314 tỉ người tương đương với 29%). Phần lớn những người này sống tại châu Á, thế nhưng thành phần những người nghèo trong dân cư tại châu Phi lại còn cao hơn nữa. Các thành viên của Liên Hiệp Quốc trong cuộc họp thượng đỉnh thiên niên kỷ năm 2000 đã nhất trí với mục tiêu cho đến năm 2015 giảm một nửa số những người có ít hơn 1 đô la Mỹ. (Điểm 1 của những mục đích phát triển thiên niên kỷ). Theo thông tin của Ngân hàng Thế Giới vào tháng 4 năm 2004 thì có thể đạt được mục đích này nhưng không phải ở tất cả các nước. Trong khi nhờ vào tăng trưởng kinh tế tại nhiều vùng của châu Á, tỷ lệ người nghèo giảm xuống rõ rệt (từ 58% xuống còn 16% tại Đông Á) thì con số những người nghèo nhất lại tăng lên ở châu Phi (gần gấp đôi từ 1981 đến 2001 phía Nam sa mạc Sahara). Tại Đông Âu và Trung Á con số những người nghèo nhất đã tăng lên đến 6% dân số. Nếu như đặt ranh giới nghèo là 2 đô la Mỹ mỗi ngày thì có tổng cộng là 2,7 tỉ người nghèo, gần một nửa dân số thế giới.

Một gia đình thuyền nhân năm 1979 Nếu xếp theo thu nhập bình quân đầu người thì các nước sau có tỉ lệ người nghèo cao nhất: Malawi, Tanzania, Guiné-Bissau, Burundi và Yemen Bên cạnh nguyên nhân chính trị, nghèo đói cũng là một nguyên nhân lớn của hiện tượng dân di cư từ vùng núi về đồng bằng, từ nông thôn về thành thị, từ các nước thứ ba về các nước phát triển gây nên hiện tượng thuyền nhân.

Nguyên nhân nghèo ở Việt Nam
Có nhiều quan điểm về nguyên nhân gây ra nghèo đói ở Việt Nam nhưng nói chung nghèo đói ở Việt Nam có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan như sau:

Nguyên nhân lịch sử, khách quan: o Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu vừa trải qua một cuộc chiến tranh lâu dài và gian khổ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, ruộng đồng bị bỏ hoang, bom mìn, nguồn nhân lực chính của các hộ gia đình bị sút giảm do mất mát trong chiến tranh, thương tật, hoặc phải xa gia đình để tham gia chiến tranh, học tập cải tạo trong một thời gian dài. o Chính sách nhà nước thất bại: sau khi thống nhất đất nước việc áp dụng chính sách tập thể hóa nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp và chính sách giá lương tiền đã đem lại kết quả xấu cho nền kinh tế vốn đã ốm yếu của Việt Nam làm suy kiệt toàn bộ nguồn lực của đất nước và hộ gia đình ở nông thôn cũng như thành thị, lạm phát tăng cao có lúc lên đến 700% năm. o Hình thức sở hữu: việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước và tập thể của các tư liệu sản xuất chủ yếu trong một thời gian dài đã làm thui chột động lực sản xuất. o Việc huy động nguồn lực nông dân quá mức, ngăn sông cấm chợ đã làm cắt rời sản xuất với thị trường, sản xuất nông nghiệp đơn điệu, công

nghiệp thiếu hiệu quả, thương nghiệp tư nhân lụi tàn, thương nghiệp quốc doanh thiếu hàng hàng hóa làm thu nhập đa số bộ phận giảm sút trong khi dân số tăng cao. o Lao động dư thừa ở nông thôn không được khuyến khích ra thành thị lao động, không được đào tạo để chuyển sang khu vực công nghiệp, chính sách quản lý bằng hộ khẩu đã dùng biện pháp hành chính để ngăn cản nông dân di cư, nhập cư vào thành phố. o Thất nghiệp tăng cao trong một thời gian dài trước thời kỳ đổi mới do nguồn vốn đầu tư thấp và thiếu hệu quả vào các công trình thâm dụng vốn của Nhà nước. Nguyên nhân chủ quan: sau 20 năm đổi mới đến năm 2005 kinh tế đã đạt được một số thành tựu nhưng số lượng người nghèo vẫn còn đông, có thể lên đến 26% (4,6 triệu hộ) do các nguyên nhân khác như sau: o Sai lệch thống kê: do điều chỉnh chuẩn nghèo của Chính phủ lên cho gần với chuẩn nghèo của thế giới (1USD/ngày) cho các nước đang phát triển làm tỷ lệ nghèo tăng lên. o Việt Nam là nước nông nghiệp đến năm 2004 vẫn còn 74,1% dân sống ở nông thôn trong khi tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc gia thấp. Hệ số Gini là 0,42 và hệ số chênh lệch là 8,1 nên bất bình đẳng cao trong khi thu nhập bình quân trên đầu người còn thấp. o Người dân còn chịu nhiều rủi ro trong cuộc sống, sản xuất mà chưa có các thiết chế phòng ngừa hữu hiệu, dễ tái nghèo trở lại như: thiên tai, dịch bệnh, sâu hại, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, thất nghiệp, rủi ro về giá sản phẩm đầu vào và đầu ra do biến động của thị trường thế giới và khu vực như khủng hoảng về dầu mỏ làm tăng giá đầu vào, rủi ro về chính sách thay đổi không lường trước được, rủi ro do hệ thống hành chính kém minh bạch, quan liêu, tham nhũng. o Nền kinh tế phát triển không bền vững, tăng trưởng tuy khá nhưng chủ yếu là do nguồn vốn đầu tư trực tiếp, vốn ODA, kiều hối, thu nhập từ dầu mỏ trong khi nguồn vốn đầu tư trong nước còn thấp. Tín dụng chưa thay đổi kịp thời, vẫn còn ưu tiên cho vay các doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả thấp, không thế chấp, môi trường sớm bị hủy hoại, đầu tư vào con người ở mức cao nhưng hiệu quả còn hạn chế, số lượng lao động được đào tạo đáp ứng nhu cầu thị trường còn thấp, nông dân khó tiếp cận tín dụng ngân hàng nhà nước, o Ở Việt Nam, sự nghèo đói và HIV/AIDS tiếp tục phá hủy từng kết cấu của tuổi thơ. Các em không được thừa hưởng quyền có một tuổi thơ được thương yêu, chăm sóc và bảo vệ trong mái ấm gia đình hoặc được khích lệ phát triển hết khả năng của mình. Khi trưởng thành và trở thành cha mẹ, đến lượt con cái các em có nguy cơ bị tước đoạt các quyền đó vì các hiểm họa đối với tuổi thơ lặp lại từ thế hệ này sang thế hệ khác. o Sự chênh lệch lớn giữa các vùng miền, thành thị và nông thôn, giữa các dân tộc cao. o Môi trường sớm bị hủy hoại trong khi đa số người nghèo lại sống nhờ vào nông nghiệp. o Hiệu năng quản lý chính phủ thấp.

Hỗ trợ quốc tế cho chương trình xóa đói giảm nghèo của Việt Nam [sửa] Đánh giá về chương trình xóa đói giảm nghèo của Việt Nam
UNDP cho rằng mặc dù Việt Nam đã đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững và kết quả rất ấn tượng giảm tỷ lệ nghèo, song vẫn còn tồn tại tình trạng nghèo cùng cực ở một số vùng. Để đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG), Việt Nam cần phải giải quyết tình trạng nghèo cùng cực.[1]

[sửa] Thành quả xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh của Việt Nam trong suốt thập kỷ 1990 đã có tác động quan trọng đến việc xoá đói giảm nghèo và phát triển xã hội[2]. Tỷ lệ người nghèo, tính theo chuẩn nghèo quốc tế, đã giảm liên tục từ hơn 60% vào năm 1990, xuống 58% vào năm 1993, 37% vào năm 1998, 32% vào năm 2000, 29% vào năm 2002 và còn 18,1% vào năm 2004. Hiện tại (2006) có khoảng 10,8% số hộ được xếp vào loại thiếu ăn (nghèo lương thực) theo chuẩn nghèo quốc tế. Căn cứ vào chuẩn nghèo quốc gia do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ hơn 30% năm 1990, 30% vào năm 1992, 15,7% năm 1998 xuống xấp xỉ 17% vào năm 2001(2,8 triệu hộ) và 10% năm 2000. Theo chuẩn nghèo của chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia, đầu năm 2000 có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm 17,2% tổng số hộ trong cả nước, chủ yếu tập trung vào các vùng nông thôn. Các vùng nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỷ lệ nghèo cao hơn con số trung bình này nhiều. Có tới 64% số người nghèo tập trung ở vùng núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Duyên hải miền trung. Cũng theo chuẩn nghèo quốc gia năm 2002 còn 12,9% hộ nghèo và tỷ lệ nghèo lương thực ước lượng 10.87%. Từ năm 1992 đến 2004, tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam đã giảm từ 30% xuống còn 8,3%. Tính đến tháng 12-2004, trên địa bàn cả nước có 2 tỉnh và thành phố cơ bản không còn hộ nghèo theo tiêu chuẩn; có 18 tỉnh tỷ lệ nghèo chiếm 3-5%; 24 tỉnh có tỷ lệ nghèo chiếm 5-10%... Đáng kể trong chương trình Xóa đói giảm nghèo là những xã nằm trong diện 135 (xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn) đã có những thay đổi biến chuyển rõ nét. Nếu năm 1992, có tới 60-70% số xã nghèo trong diện 135, thì đến năm 2004 giảm xuống còn khoảng 20-25%. Số hộ nghèo của năm 2004 là 1,44 triệu hộ, tỷ lệ nghèo là 8,3%, đến cuối năm 2005 còn khoảng dưới 7% với 1,1 triệu hộ. Như vậy tỷ lệ hộ nghèo năm 2005 đã giảm khoảng 50% so với năm 2000.

Cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trên, cả nước Việt Nam hiện có khoảng 2 triệu hộ nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số. Tuy nhiên, trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam, rất nhiều đại biểu cho rằng tỷ lệ hộ nghèo giảm không phản ánh thực chất vì số người nghèo trong xã hội không giảm, thậm chí còn tăng do tác động của lạm phát (khoảng 40% kể từ khi ban hành chuẩn nghèo đến nay) và do là suy giảm kinh tế [3]. Chuẩn nghèo quốc gia của Việt Nam hiện nay là gồm những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đến 260.000 đồng/người/tháng. Mặc dù vậy, nhiều hộ gia đình vừa thoát nghèo vẫn rất dễ rớt trở lại vào cảnh nghèo đói.

Tốc độ giảm nghèo không đồng đều giữa các vùng và có xu hướng chậm lại, các hệ số tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo từ 1 - 0,7 trong những năm 1992 - 1998, giảm xuống còn khoảng 1 - 0,3 giai đoạn 1998 - 2004. Bình quân trước đó mỗi năm giảm 34 vạn hộ nghèo. Bất bình đẳng trong thu nhập: o Giữa các vùng: tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực miền núi vẫn còn cao, gấp từ 1,7 đến 2 lần tỷ lệ hộ nghèo bình quân của cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tổng số hộ nghèo của cả nước có chiều hướng tăng từ 21% năm 1992 lên 36% năm 2005. Tỷ lệ hộ nghèo tập trung chủ yếu ở những vùng khó khăn, có nhiều yếu tố bất lợi như điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng thấp kém, trình độ dân trí thấp, trình độ sản xuất manh mún, sơ khai. Ngoài ra, xuất hiện một số đối tượng nghèo mới ở những vùng đang đô thị hóa và nhóm lao động nhập cư vào đô thị, họ thường gặp nhiều khó khăn hơn và phải chấp nhận mức thu nhập thấp hơn lao động sở tại. Đây là những điều kiện cơ bản làm gia tăng yếu tố tái nghèo và tạo ra sự không đồng đều trong tốc độ giảm nghèo giữa các vùng. Các vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất, song đây cũng là những vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất. o Chênh lệch giũa các nhóm: thu nhập giữa các nhóm giàu và nhóm nghèo có xu hướng gia tăng (tỷ số Ghini giảm), trong những năm gần đây, chênh lệch về thu nhập giữa 20% nhóm giàu và 20% nhóm nghèo từ 4,3 lần năm 1993 lên 8,14 lần năm 2002; chênh lệch giữa 10% nhóm giàu nhất và 10% nhóm nghèo nhất từ 12,5 lần năm 2002, tăng lên 13,5 lần năm 2004; Mức độ nghèo còn khá cao, thu nhập bình quân của nhóm hộ nghèo ở nông thôn chỉ đạt 70% mức chuẩn nghèo mới. Sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo sẽ làm cho tình trạng nghèo tương đối trở nên gay gắt hơn, việc thực hiện các giải pháp để giảm nghèo sẽ càng khó khăn hơn. [4] Sai lệch kết quả thống kê Căn cứ vào kết quả chính thức điều tra mức sống hộ gia đình năm 2002 và kết quả sơ bộ khảo sát mức sống của hộ gia đình năm 2004, theo chuẩn nghèo quốc gia (2001), Tổng cục Thống kê đã tính toán và ra thông cáo báo chí về tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia mới cho năm 2002 và sơ bộ cho năm 2004. Theo đó, tỷ lệ nghèo năm 2002 của Việt Nam là 23%, năm 2004 là 18,1%, năm 2005 là 8,3% . Nhưng với chuẩn mới từ Quyết định số

170/2005/QĐ –TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010, tỉ lệ hộ nghèo của năm 2005 sẽ tăng từ 8,3% như hiện nay (chuẩn 2001) lên đến trên 26% là khoảng 4,6 triệu hộ.[5] Lưu ý có một số vấn đề đặt ra từ tỷ lệ nghèo năm 2004 là 18,1%: Thứ nhất, tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 24-25% như nguồn thông tin đã được dùng để xác định mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 15-16% vào năm 2010. Có sự khác biệt lớn như trên chủ yếu do phương pháp tính còn có sự khác nhau về hai mặt. Một mặt, nguồn thông tin trên đã tính theo mức chi tiêu, chứ không phải là mức thu nhập/người/tháng. Mặt khác, nguồn thông tin trên đã không tính đến tỷ lệ trượt giá của giá tiêu dùng. Chuẩn nghèo mới là chuẩn nghèo tính cho thời kỳ 2006-2010. “200 nghìn, 260 nghìn đồng/người/tháng” là tính theo giá năm 2006 chứ không phải là tính theo giá 2004. Thứ hai, theo thông cáo báo chí của Tổng cục Thống kê, bên cạnh tỷ lệ nghèo còn thấp (8,6%) của khu vực thành thị, thì khu vực nông thôn tỷ lệ nghèo vẫn còn 21,2% tức là cứ 5 hộ vẫn còn trên 1 hộ nghèo. Bên cạnh tỷ lệ nghèo còn 6,1% của vùng Đông Nam Bộ và tỷ lệ nghèo còn 12,9% của vùng đồng bằng sông Hồng, thì vùng Tây Bắc vẫn còn tới 46,1%, tức là còn gần một nửa; vùng Bắc Trung Bộ và vùng Tây Nguyên tuy giảm nhanh nhưng vẫn còn gần một phần ba; vùng Đông Bắc vẫn còn 23,2%; vùng Duyên hải Nam Trung Bộ vẫn còn 21,3%; ngay cả vùng ĐBSCL một vựa lúa của cả nước cũng vẫn còn 15,3%. Phần đông người nghèo ở Việt Nam sống trong hoàn cảnh bị tách biệt về mặt địa lý, dân tộc, ngôn ngữ, xã hội và kinh tế. Kinh nghiệm của các nước khác cho thấy rằng lợi ích thực sự của tăng trưởng kinh tế ít đến được với các nhóm người chịu thiệt thòi này. Nghèo không chỉ đơn giản là mức thu nhập thấp mà còn thiếu thốn trong việc tiếp cận dịch vụ, như giáo dục, văn hóa, thuốc men, không chỉ thiếu tiền mặt, thiếu những điều kiện tốt hơn cho cuộc sống mà còn thiếu thể chế kinh tế thị trường hiệu quả, trong đó có các thị trường đất đai, vốn và lao động cũng như các thể chế nhà nước được cải thiện có trách nhiệm giải trình và vận hành trong khuôn khổ pháp lý minh bạch cũng như một môi trường kinh doanh thuận lợi. Mức nghèo còn là tình trạng đe dọa bị mất những phẩm chất quý giá, đó là lòng tin và lòng tự trọng. Báo cáo quốc gia đầu tiên của Việt Nam về tiến độ thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, được công bố tháng 9 năm 2005 và phân phát tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới năm 2005, cho thấy tình trạng chênh lệch và bất bình đẳng xã hội giữa các vùng, giới tính và nhóm dân cư đang ngày càng gia tăng. Trong khi các vùng đô thị được hưởng lợi nhiều nhất từ các chính sách cải cách và tăng trưởng kinh tế, thì tình trạng nghèo vẫn tồn tại dai dẳng ở nhiều vùng nông thôn của Việt Nam và ở mức độ rất cao ở các vùng dân tộc thiểu số - theo Tổng cục Thống kê là 69,3% vào năm 2002. Trong thập kỷ tới đây nỗ lực của Việt Nam trong việc hội nhập với nền kinh tế toàn cầu sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho sự tăng trưởng, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với sự nghiệp giảm nghèo.

[sửa] Nghèo và môi trường
Trong nhiều khu vực trên thế giới nạn nghèo là một trong những nguyên nhân chính đe dọa và phá hủy môi trường. Các vấn đề có nguyên do từ nạn nghèo làm cản trở các tiến bộ trong bảo vệ môi trường. Phương tiện tài chính cần thiết để bảo vệ môi trường không thể có được tại các vùng có nạn nghèo cao. Klaus Töpfer, lãnh đạo cơ quan môi trường của Liên Hiệp Quốc UNEP đã gọi nghèo "là chất độc lớn nhất của môi trường", chống nghèo là điều kiện tiên quyết để có thành tựu trong việc bảo vệ môi trường.

[sửa] Ghi chú
1. ^ UNDP kêu gọi thúc đẩy tăng trưởng nhanh chóng và công bằng nhằm tấn công các điểm nghèo đói tại Việt Nam 2. ^ Xóa đói giảm nghèo và phát triển xã hội 3. ^ 'Xin được nghèo hai năm nữa', VnExpress 18/172010 4. ^ Xóa đói, giảm nghèo ở nước ta-thành tựu, thách thức và giải pháp(15/02/2006 08:17) 5. ^ Xây dựng chuẩn nghèo mới giai đoạn 2006-2010

[sửa] Tham khảo
• •

Werner Rügemer: Arm und reich (Nghèo và giàu). Transcript Verlag, Bielefeld 2003. Eike Roth: Globale Umweltprobleme - Ursachen und Lösungsansätze (Những vấn đề môi trường toàn cầu - Nguyên nhân và phương cách giải quyết). Friedmann Verlag, München 2004 Jared Diamond: Arm und reich. Die Schicksale menschlicher Gesellschaften (Nghèo và giàu. Các số phận của những xã hội con người). Fischer Taschenbuch Verlag, Frankfurt 1999.

[sửa] Đọc thêm
hững người vẫn đang còn phải lo toan cho bữa ăn đó là người nghèo, cuộc sống đối với người nghèo chỉ là sinh tồn mà thôi."-Theo Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế Giới, đã đưa ra khái niệm (Nghèo tuyệt đối: "Nghèo tuyệt đối...là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới tri thức chúng ta"+Nghèo tương đối: có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự xung túc của xã hội đó.)-Ngoài ra còn có định nghĩatheo tình trạng sống: lưu ý đến những khía cạnh khác ngoài thu nhập khi định nghĩa "nghèo con người", thí dụ như cơ hội đào tạo, mức sống, quyền tự quyết định, ổn định về luật lệ, khả năng ảnh hưởng đến những quyết định chính trị và nhiều khía cạnh khác.-Theo Word Bank: "Nghèo là đói,

thiếu nhà, bệnh không được đến bác sĩ, không được đến trường, không biết đọc, biết viết, không có việc làm, lo sợ cho cuộc sống tương lai, mất con do bệnh hoạn, ít được bảo vệ quyền lợi và tự do." => Qua những khái niệm trên ta có thể thấy được nghèo là sự thiếu thốn cả về vật chất và phi vật chất, có cuộc sống thấp nhà ở tạm bợ, thiếu tiện nghi sinh hoạt trong gia đình, không có vốn để sản xuất, thiếu ăn vài tháng trong năm, con em không được đến trường, trong số ít có học thì không có điều kiện học lên cao, bệnh không được đến bác sĩ, không tiếp cận với thông tin, không có thời gian và điều kiện để vui chơi giải trí vì chủ yếu là dành thời gian để đi làm thêm kiếm tiền, ít hoặc không được hưởng quyền lợi, thiếu tham gia vào phong trào địa phương. 2. Cơ sở và tiêu chí để đánh giá nghèo:- Cuộc sống không ổn định, nhà ở tạm bợ trong 1 đến 2 năm.- Thiếu phương tiện như không có tivi, radio - Không có tiền để dành, thiếu tiền quanh năm. - Trẻ không được đi học hoặc rời trường sớm. - Đủ thức ăn trong mùa thu hoạch hoặc thiếu vài tháng trong năm. - Sử dụng nguồn nước tự nhiên, không tiếp cận nguồn nước sạch, môi trường sống chưa được vệ sinh. III.-Nguyên nhân:1.Thiếu vốn sản xuất: Đây là nguyên nhân số 1. Khoảng 91,53% số hộ nghèo là thiếu vốn. Nông dân nghèo vốn thấp, làm không đủ ăn, thường xuyên phải đi làm thuê hoặc đi vay tư nhân để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày nên không có vốn để sản xuất, không được vay ngân hàng vì không có tài sản thế chấp/.2.Không có kinh nghiệm làm ăn: Kinh nghiệm làm ăn và kỹ thuật sản xuất rất hạn chế. Khoảng 45,77% hộ thiếu kinh nghiệm làm ăn. Nguyên nhân là do họ thiếu kiến thức, kỹ thuật canh tác, áp dụng kỹ thuật không phù hợp với đất đai, cây trồng, vật nuôi; không có cơ hội học hỏi thêm kinh nghiệm, không được hổ trợ cần thiết và một phần là do hậu quả của một thời gian dài họ sống trong cơ chế bao cấp./3.Thiếu việc làm: Đây là nguyên nhân phổ biến ở các tỉnh, người nghèo ngoài trồng trọt, họ không có vốn để phát triển chăn nuôi, làm ngành nghề. Thu nhập chỉ có 6,1% từ chăn nuôi, 5,4% từ ngành nghề. Trồng trọt thì không thâm canh, lao động dư thừa, chỉ chờ vào làm thuê. Trong ngành nghề thì thiếu tay nghề và trình độ học vấn thấp, rất ít có cơ hội tìm việc làm phi nông nghiệp, số ngày làm không nhiều, thu nhập thấp, công việcmang tính thời vụ cao, cạnh tranh quyết liệt/ 4.Đất canh tác ít: Bình quân hộ nghèo chỉ có 2771m2 đất nông nghiệp. Khoảng 61% hộ nghèo thiếu đất, ở khu vực có hợp tác xã thì có nhiều hộ không có khả năng thanh toán nợ cho hợp tác xã nên địa phương rút bớt ruộng đất đã giao cho họ, càng thiếu ruộng. Ngược lại, một số gia đình không có đủ khả năng thâm canh nên không dám nhận đủ ruộng được giao./5.Đông nhân khẩu, ít người làm: Bình quân hộ nghèo có 5,8 nhân khẩu, chỉ có 2,4 lao động. Ít người làm, đông người ăn, dẫn đến thu nhập thấp và đời sống gặp nhiều khó khăn./6.Trình độ học vấn ít: Không có cơ hội học hỏi thêm kiến thức và khó tiếp cận thông tin, tỷ lệ đến trường thấp vì gặp kó khăn về tài chính và chi phí cơ hội con em đến trường cao, tỷ lệ nghèo đói của những người chưa hoàn thành chương trình tiểu học là 40%./7.Hạ tầng nông thôn còn hạn chế Người nghèo chịu thiệt thòi do sống ở những vùng xa xôi hẻo lánh, giao thông không thuận tiện, vận chuyển sản phẩm đến chợ chi phí cao, bán tại đồng thì bị tư thương ép giá, giá nhu yếu phẩm lại cao, điện, đường, trường, trạm thưa và thiếu, thủy lợi, tưới tiêu thấp kém. .//Chúng ta đã biết nghèo có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống con người. Nguyên nhân của nó ra sau, từ đó chúng ta đã có thể đưa ra được biện pháp thích hợp dể xóa nghèo. Nhưng điều quan trọng là chúng ta cần phải biết đâu là hộ nghèo thật sự, họ có khả năng sản xuất không, sự đầu tư hổ trợ của chúng ta có đem lại hiệu quả thật sự không. Dĩ nhiên, sự hổ trợ của nhà nước và chính quyền địa phương cũng được xem như là một yếu tốquan trọng.

-Mấy ngày nay, dư luận bàng hoàng, xót xa trước cái chết của nữ sinh Trần Thị Hoa. Cái nghèo đã không những đánh gục một cô bé tuổi 15 trước ước mơ được đến trường mà còn đẩy ngã em khỏi dòng đời.

Bài báo đăng trên Tiền Phong số ra thứ Bảy ngày 6/12 thu hút nhiều quan tâm của độc giả Ảnh: Hồng Vĩnh Có lẽ việc tìm đến cái chết của em – một học sinh ngoan, học khá và nghiêm túc trong học tập như lời ông Nguyễn Quan Kế - Hiệu trưởng trường THPT bán công Nam Quảng Trạch, nơi em đang theo học và thầy Phan Ngọc Tuấn - Chủ nhiệm lớp 10A8 đã trả lời Tiền phong vì không có khả năng đóng các khoản tiền trường, lớp đã làm cho các nhà làm giáo dục ở nước ta không khỏi giật mình. Giật mình trước cái chết của em, giật mình trước nền giáo dục đang đặt mục tiêu vươn lên đẳng cấp quốc tế lại có những cảnh đời trớ trêu như thế. Hai tháng học phí với tổng số tiền là 228 ngàn đồng là số tiền không lớn, nhưng không hề nhỏ với những người quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” như gia đình em Hoa. Trong lá thư tuyệt mệnh dài gần 3 trang, Hoa đã làm một phép tính mà ai cũng có thể tính ra: “Một năm học hơn 2 triệu, 3 năm là gần 7 triệu chứ có ít đâu…”. Nghe mà nhói lòng. Mới đầu tháng 11 vừa qua, tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) đã công bố báo cáo tóm tắt của bản Báo cáo Giám sát toàn cầu về giáo dục trong năm 2008. Trong đó nền giáo dục nước ta tiếp tục mất điểm về chỉ số EDI (tức chỉ số phát triển giáo dục cho mọi người), tụt thêm 9 hạng đứng vị trí thứ 79/129 quốc gia trên thế giới mà UNESCO đã khảo sát.

Trong khi đó nguồn chi cho sự nghiệp “trồng người” không hề ít. Số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy từ năm 2001 đến năm 2006, ngân sách nhà nước cho giáo dục đã tăng gấp hơn 4 lần, tức từ 12,6 ngàn tỷ đồng lên đến 54 ngàn tỷ đồng. Kể thêm hàng chục các khoản tiền trường, tiền lớp mà gia đình học sinh phải nộp hàng năm thì con số đầu tư cho giáo dục này thực sự là khổng lồ. Đấy là chưa kể học phí lại cứ có xu hướng tăng theo từng năm, từng học kỳ! Vậy mà nền giáo dục chưa hề được như chúng ta kỳ vọng. Không kham nổi các khoản phải nộp để được lên lớp, nhiều người nghèo vẫn có nguy cơ bỏ học giữa chừng. Nhận định về nền giáo dục nước nhà trong giai đoạn hội nhập, Giáo sư Viện sĩ Phạm Minh Hạc - Nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục - đã thẳng thắn khi đưa ra thuật ngữ paradoxes (tức nghịch lý) để nói về tính “nghịch lý” trong các khoản chi cho ngành giáo dục từ ngân sách nhà nước. Giáo sư Hạc khẳng định: “Tiền Nhà nước cho bao nhiêu, ghi thế thôi chưa chắc ghi đã đúng. Vì về địa phương thì bao nhiêu thực chi cho giáo dục? không ai biết”. Có lẽ đó là nhận định không sai. Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân trong buổi làm việc tại tỉnh Trà Vinh vào tháng 4 vừa qua cũng đưa ra quyết định trợ giúp đối với học sinh bỏ học vì nghèo, Bộ GD&ĐT sẽ phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội triển khai hỗ trợ kinh phí khoảng 15-20 kg gạo/học sinh. Đồng thời Phó Thủ tướng cũng yêu cầu nhà trường, các đoàn thể, chính quyền địa phương vận động các em tiếp tục đến trường bằng nhiều biện pháp cụ thể như hỗ trợ xe đạp, sách vở... Thế nhưng chỉ thị này đến nay đã được cơ sở, các địa phương thực hiện được đến đâu? Mấy mươi ký gạo có về được đến tận vùng sâu, vùng xa để lót dạ các em trong những lúc đến trường như mong mỏi của Phó Thủ tướng hay cũng chỉ là một hình ảnh trớ trêu quen thuộc như của nữ sinh xấu số Trần Thị Hoa mà thầy giáo chủ nhiệm của em nhắc lại sau câu chuyện buồn: “Do nhà nghèo nên em ăn mặc không được tươm tất như các bạn và đi chiếc xe đạp cũ nát nên hay bị các bạn không hiểu hoàn cảnh trêu chọc”? Và để rồi cuối cùng cái nghèo đã đánh gục em và dập tắt ước mơ đến trường của cô trò nhỏ, một ước mơ tưởng như rất đỗi bình dị nhưng sao quá xa vời. Anh Phương Đắc Lắc Ý kiến của bạn về vấn đề này ?

Hỗ trợ giảm nghèo và tạo việc làm cho người lao động
Thứ Bảy, 24 Tháng tư 2010, 16:04 GMT+7

Hỗ trợ giảm nghèo, trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội và tạo việc làm, đào tạo nghề cho người lao động… là những vấn đề mà Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Nguyễn Thị Kim Ngân nhận được nhiều câu hỏi từ phía độc giả tại buổi đối thoại trực tuyến với người dân cả nước về công tác đảm bảo an sinh xã hội diễn ra mới đây. Sẽ chấn chỉnh việc bình xét, rà soát hộ nghèo Chưa bao giờ, hệ thống chính sách an sinh được ban hành nhiều như 2 năm qua. Thống kê có khoảng 20 nhóm chính sách với 50 chính sách cụ thể. Đặc biệt, ngay đầu năm 2009, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 30a, nhằm giảm nghèo bền vững cho 20 tỉnh có 62 huyện nghèo nhất nước (có tỷ lệ nghèo trên 50%) và nhiều chính sách nữa. Theo Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Ngân, việc triển khai chính sách này đồng bộ từ trung ương tới địa phương với sự tham gia rất lớn của cộng đồng doanh nghiệp (DN). Trả lời cho câu hỏi đã có chương trình giảm nghèo quốc gia, tại sao lại có thêm chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo tinh thần Nghị quyết 30a của Chính phủ, Bộ trưởng cho rằng, sở dĩ có nghị quyết này là vì chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền đặt ra vấn đề cần giải quyết. Ví dụ tại đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, tỷ lệ nghèo ở mức vừa phải, trong khi vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, miền núi phía Bắc, phía Tây các tỉnh duyên hải miền Trung, tỷ lệ nghèo rất cao. Bộ trưởng nhấn mạnh, các huyện nghèo tập trung nhiều nhất ở miền núi phía Bắc. Nghị quyết 30a giải quyết chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền để đến năm 2020, nhân dân cả nước, dù ở miền núi, miền xuôi, đồng bằng hay duyên hải miền Trung đều có mức sống không quá chênh lệch về tỷ lệ giàu nghèo. Nghe người dân phản ánh hiện ở một số địa phương, việc bình xét hộ nghèo chưa rõ ràng dẫn đến tình trạng nhiều người nghèo thật sự nhưng không được sự hỗ trợ của Nhà nước, Bộ trưởng nói rõ, tình trạng này mặc dù không phổ biến nhưng vẫn xảy ra ở một số nơi. Tuy nhiên, Bộ trưởng khẳng định: “Quan điểm của Đảng, Nhà nước là chăm lo cho người nghèo, với tinh thần tất cả người nghèo sẽ nhận được trợ giúp của Nhà nước. Còn việc rà soát, bình xét người nghèo và thống kê báo cáo là nhiệm vụ của chính quyền địa phương và chúng tôi đã có văn bản đôn đốc, nhắc nhở cũng như thường xuyên làm việc trực tiếp với họ. Và khi phát hiện vấn đề này, lãnh đạo tỉnh, huyện đều có xử lý nghiêm”. Cũng theo bà Nguyễn Thị Kim Ngân, sắp tới Nhà nước sẽ chấn chỉnh việc bình xét, rà soát, nhất là khi có chuẩn nghèo mới, để chống việc lợi dụng chính sách mà làm sai, khiến một bộ phận người nghèo không nhận được trợ cấp. Việc làm: cần có trách nhiệm của DN và địa phương Hiện nay, đất nông nghiệp đang dần ít đi, vì vậy, lực lượng lao động ở nông thôn ngày càng thiếu việc làm. Để giải quyết vấn đề này, Bộ trưởng cho biết đã có chính sách hỗ trợ con em nông dân sau khi thu hồi đất, chính sách dạy nghề cho nông dân hoặc nhận con em nông dân vào chính nơi sản xuất, kinh doanh đã thu hồi đất của họ. Tuy nhiên, theo Bộ trưởng, chính sách này cần có tầm nhìn xa hơn. Vừa qua, bộ có tham mưu trình Chính phủ một đề án dạy nghề cho người nông dân. Đề án này gồm 3 phần. Thứ nhất là dạy nghề cho người nông dân, giúp họ tăng giá trị sản xuất trên chính mảnh đất của mình, làm sao để họ sản xuất có hiệu quả hơn, giá trị gia tăng của sản phẩm cao hơn và một bộ phận nông dân sẽ chuyển sang làm ở mảng công nghiệp, dịch vụ, phi nông nghiệp. Vấn đề tiếp theo là dạy nghề cho người lao động ở nông thôn để họ có thể tham gia công tác cơ sở. Dù mới thực hiện được mấy tháng, nhưng mục tiêu của đề án là mỗi năm phải có 1 triệu nông dân được học nghề, đào tạo nghề để có thể chuyển qua làm việc ở lĩnh vực phi nông nghiệp. Bộ trưởng nhấn mạnh: “Cũng phải chú ý đến vấn đề lao động. Thông

thường, một dự án đầu tư cần được tính toán xem sử dụng bao nhiêu đất, bao nhiêu vốn, sản phẩm là gì, xuất khẩu bao nhiêu. Nhưng vấn đề cũng cần được nghiên cứu là dự án tạo ra bao nhiêu việc làm và những người nông dân bị thu đất được hưởng các chế độ nào. Đã đến lúc chúng ta cần làm rõ vấn đề này ra, chính sách cho người nông dân phải như thế nào, chủ đầu tư cũng như địa phương có trách nhiệm ra sao đối với nông dân”. Về vấn đề làm sao đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước khi mà cả nước có khá nhiều trường đào tạo nghề trang bị kỹ thuật lại rất lạc hậu, Bộ trưởng chia sẻ, đào tạo nguồn nhân lực, trong đó dạy nghề cho người lao động là yêu cầu rất bức xúc và cần thiết trong thời đại hiện nay, nhất là khi đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa. Tỷ lệ lao động qua đào tạo của cả nước hiện nay còn thấp, chỉ khoảng 30%. Thế nhưng, sau 10 năm, công tác dạy nghề đã bắt đầu phục hồi và có những phát triển nhất định. Có rất nhiều lao động được đào tạo qua trường lớp với những trình độ khác nhau. Ba cấp đào tạo nghề là sơ cấp, trung cấp và cao đẳng, đã cung cấp một lượng lớn lao động qua đào tạo cho nền kinh tế quốc gia dù chất lượng chưa được như mong muốn. Nhưng bên cạnh đó cũng có những trường nghề, đào tạo ra bao nhiêu, các khu công nghiệp xin đặt hàng, tiếp nhận bấy nhiêu. Năm học mới đã bắt đầu từ giữa tháng 8, nhưng đến nay tại nhiều trường ở TP.HCM, học sinh (HS) vẫn chưa ra lớp đủ. Cái nghèo có phải là nguyên nhân chính khiến HS bỏ học - như quan niệm trước nay?

Do mặc cảm, mê game... Trường THCS Bình Khánh (H.Cần Giờ) có 1.086 HS, trong đó có khoảng 30% HS thuộc diện nghèo. Tuy nhiên, ông Nguyễn Mạnh Cường - Hiệu trưởng nhà trường khẳng định: "Nhiều HS ở ngoại thành nếu hoàn cảnh khó khăn đều được UBND thành phố trợ cấp gần như đầy đủ để được đến lớp. Học phí, cơ sở vật chất được miễn giảm, sách vở cũng được cấp phát, đến xe buýt đưa rước cũng chỉ tốn 20 ngàn đồng/năm học nhưng nhiều khi cũng được miễn luôn. Do vậy, nếu nói bỏ học vì nghèo là không đúng!". Trong năm học 2008-2009, trường THCS Bình Khánh có 26 HS bỏ học, chủ yếu vì mê chơi... game. Ông Cường kể: "Nhiều hôm Tổng phụ trách Đội phải canh ở cửa hàng game gần trường để đưa các em về. Đón cửa trước, HS chạy cửa sau. Nhà trường đành đến tận nhà để thông báo cho phụ huynh. Khổ nỗi, mỗi em mỗi cảnh, cha mẹ không quan tâm đến con cái. Đến ngày tựu trường mà nhiều gia đình còn không biết...". Trong năm học này, dù áp Học kỳ 1 năm học 2008-2009, cả dụng nhiều biện pháp nhưng tính đến ngày 11.9, vẫn nước có 86.269 HS bỏ học. còn hơn chục em chưa ra lớp. Trong đó, HS bậc THCS: 39.059, bậc THPT: 38.309, bậc Quyền Hiệu trưởng trường THCS Lê Văn Hưu (xã tiểu học: 8.901. Nguyên nhân bỏ Phú Xuân, huyện Nhà Bè), ông Cam Văn Võ Kim học là do học yếu, hoàn cảnh gia Toàn cho hay: tính đến ngày 17.8, cả trường có 27 HS đình khó khăn, điều kiện đi lại, thiên tai… Còn tại TP.HCM, năm học vừa qua ước tính có khoảng 4 ngàn HS bỏ học.

không đến lớp. Nhà trường tiếp tục phối hợp với chính quyền địa phương để vận động nên đến ngày 5.9 con số này đã giảm còn 13 em. Ông Nguyễn Trung Khánh - Trưởng phòng GD-ĐT H.Nhà Bè cho biết, năm nay HS bậc tiểu học của huyện đến lớp đủ 100%. Còn ở bậc THCS, trong ngày tựu trường toàn huyện có 163 em không đến trường. Tuy nhiên, từ ngày khai giảng (5.9) đến nay, chỉ còn khoảng 45 em tạm gọi là "bỏ học". Ông Khánh nhận xét: "Đây là sự tiến bộ vượt bậc so với năm ngoái. Toàn huyện đã chủ trương: Không để HS nào bỏ học vì nghèo!". Ông Khánh cho rằng, lý do chính khiến HS bỏ học là ý thức và môi trường học tập của các em chưa tốt. Một số trường hợp hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, mới phải nghỉ học để mưu sinh. Quyền Hiệu trưởng trường THCS Lê Văn Hưu bổ sung: Những em học yếu, ở lại lớp thường mặc cảm khi đến trường. Mặt khác, gia đình tan vỡ cũng là một yếu tố quan trọng khiến HS chán học... Trong khi đó, tại Q.Bình Tân, tính đến ngày 11.9 vẫn còn hơn 90 HS bậc THCS chưa ra lớp. Ông Trần Hữu Vĩnh, Trưởng phòng GD-ĐT Q.Bình Tân cho biết: "Chúng tôi đang rà soát, tìm nguyên nhân của từng trường hợp cụ thể để tổ chức vận động các em ra lớp". Theo ông Vĩnh, 40% dân số của quận là người từ nhiều tỉnh thành khác đến, cuộc sống của họ không ổn định là nguyên nhân chính liên quan đến số HS chưa đến lớp nói trên. Làm sao "giữ" được học sinh? Mùa mưa. Con đường Lý Nhơn dẫn vào trường Tiểu học Doi Lầu (xã An Thới Đông, H.Cần Giờ) - cách trung tâm TP.HCM chừng 50 km, khá lầy lội. Một giáo viên cho biết, con đường này đã được thi công hơn 1 năm nay nhưng vẫn "chưa đâu vào đâu". Đây đó trong sân trường, nước vẫn chưa rút hết. Thật bất ngờ khi thấy tại đây còn hai trường khác "tá túc" suốt mấy năm nay, đó là trường THCS Doi Lầu và một điểm mầm non của xã. Được biết, tỷ lệ HS đến lớp của những trường này đều đạt 100%. Điều này liệu có mâu thuẫn, khi số HS nghèo ở các trường này thường lên đến 50% (theo chuẩn nghèo cũ)? Ông Trần Văn Toàn - Hiệu trưởng trường Tiểu học Doi Lầu nói: "Mấy năm nay, nhà trường ký hợp đồng với đơn vị xe Thành Long tổ chức 2 xe đưa rước HS. Vé chỉ 10 ngàn đồng/học kỳ. Những em khó khăn thì được miễn giảm tiền xe và nhiều khoản khác". Còn theo lời ông Nguyễn Văn Sáng - Hiệu phó trường THCS Doi Lầu, địa bàn xã An Thới Đông rất rộng, lại có nhiều tắc (kênh). Do vậy, nhà trường tranh thủ cả sự vận động từ Ban đại diện cha mẹ HS và xây dựng những mô hình như: Đôi bạn rủ nhau đi học, Đôi bạn học tập... Theo ông Sáng, nhiều giáo viên trong trường tham gia dạy phụ đạo miễn phí cho HS. Một ví dụ, thầy Vũ Văn Chiến dạy môn Anh văn trong trường luôn có lịch dạy phụ đạo kín mít!

Học sinh trường THCS Doi Lầu (Cần Giờ) trong giờ học thể dục - Ảnh: N.Lịch Khác với mọi năm, trường THCS Lê Văn Hưu cho 5 chiếc xe buýt vào hẳn trong sân trường để đưa rước HS miễn phí (do thành phố tài trợ). Sự can thiệp "nhỏ mà không nhỏ" này phần nào hạn chế sự trốn học của một số HS. Nhà trường vận động hỗ trợ học phí, sách vở... cho những HS nghèo. Đặc biệt, xác định những HS học yếu kém hay mặc cảm và bị áp lực cao, trường này thường tổ chức dạy phụ đạo và thiết kế những buổi sinh hoạt, giao lưu cho giáo viên đứng lớp lẫn HS. Trong đó, có những chuyên đề nhắc nhở giáo viên không dùng "những lời nói văng mạng" trong trường học... Quyền Hiệu trưởng Cam Văn Võ Kim Toàn chia sẻ: "Làm sao để mỗi ngày đến trường, mỗi HS đều tìm thấy niềm vui. Đó là cách ổn định sĩ số bền vững nhất!". Trong khi đó, không ít trường THCS, THPT - nhất là những trường ngoại thành, vùng ven không dám khẳng định sẽ đảm bảo sĩ số HS như đầu năm học. Bởi theo họ, nguy cơ HS bỏ học vẫn còn cao!

Lời ước… Tại trường THCS Doi Lầu (xã An Thới Đông, H.Cần Giờ, TP.HCM), chúng tôi có dịp trò chuyện với bốn nữ sinh khối lớp 9. Ngoài giờ học, những bạn này phụ cha mẹ làm việc nhà, việc đồng áng hoặc buôn bán. Diễm Sương và Kim Tuyền kể về một người bạn cùng lớp trước đây đã bỏ học, song đến nay vẫn còn ấn tượng mạnh với hai em. "Bạn ấy tên B. Cha bạn chạy xe ôm, mẹ làm ruộng. Một lần nhậu xỉn, ông đã đốt sách vở của B. và đốt luôn căn nhà khiến bạn ấy phải ra đường ngủ" - Diễm Sương nhớ lại. Lúc đó, bạn bè trong lớp góp

tiền mua tập mới cho B., phân công chép và giảng bài cho bạn. Thế nhưng vì xấu hổ, B. không đến trường nữa… Nói về ước mơ đầu năm học, bạn Kim Tuyền bộc bạch: "Tụi em mong có một ngôi trường riêng để học. Từ khi trường thành lập năm học 2006-2007 đến giờ, tụi em toàn… học ké trường Tiểu học Doi Lầu". Bạn Kim Xuân thổ lộ: "Em mong có nhiều nhà tài trợ đến đây để tặng quà, gạo cho những em nhỏ khó khăn. Ở xã em có nhiều HS nghèo lắm!". Còn bạn Trúc Giang thì: "Em rất thích đi xe đạp đến trường nhưng đường sình lầy, bùn đất văng đầy áo trắng. Đi xe buýt thì hay chen lấn, đứng rất mỏi chân!"… Như Lịch - Phi Loan Nguồn Thanh Niên Online ương lai mờ mịt của năm bà cháu nghèo Ngày người mẹ qua đời, cả thôn Phú Lâm không ai cầm được nước mắt, bởi ngoài việc tiếc thương người phụ nữ mắc bệnh nan y, làng xóm e ngại cho bốn đứa trẻ thơ dại từ nay chỉ còn biết bấu víu vào bà nội tuổi đã hơn 60 tuổi. Chị Trần Thị Hai, ở thôn Phú Lâm Tây, xã Hành Thiện, huyện Nghĩa Hành, Quảng Ngãi, mắc bệnh tim hiểm nghèo. Nhưng nhiều năm liền trước khi nhắm mắt xuôi tay, chị vẫn gắng gượng một thân một mình làm thuê làm mướn nuôi bốn đứa con. Rồi chỉ còn một tháng nữa là đến Tết, chị buộc phải rời xa các con còn nhỏ dại và người mẹ chồng già yếu..., để lại bé nhỏ nhất đang tuổi mẫu giáo, đứa lớn nhất học lớp 12. Trên bàn thờ, làn khói hương lặng lẽ che dần di ảnh của chị Hai. Bà Phụng, mẹ chồng chị nhìn vào di ảnh con dâu rồi ngó mông lung ra cánh đồng phía trước nhà: “Chồng nó bỏ đi, cũng chẳng rõ là đi đâu, chỉ thi thoảng ghé về nhà để hỏi tiền rồi lại đi biền biệt mà không lo gì cho con cái, nhà cửa". "Từ lúc con Hai mất đến giờ đã gần một tháng nhưng chẳng thấy thằng con trai tui về hương khói. Tui không biết phải ăn nói làm sao với bà con, hàng xóm khi nó hành xử như vậy", dứt lời bà Phụng kéo gấu quần lau nước mắt.

Những đứa con cùng bà bên di ảnh của mẹ. Ảnh: Phạm Khang. Bà Phụng kể, bà vào Sài Gòn bán vé số, định đến Tết mới về nhà. Nhưng từ ngày đứa con trai bỏ đi, chối bỏ trách nhiệm làm cha, làm chồng, thương con dâu phải lo làm thuê làm mướn kiếm tiền nuôi con ăn học, bà lại về quê để phụ giúp. Về quê rồi, cũng chẳng biết làm gì để kiếm tiền ngoài việc cùng con dâu canh tác trên bốn sào ruộng của gia đình. Hơn ai hết, bà Phụng hiểu rõ bệnh tình cũng như tình trạng của con dâu. "Nó bị bệnh tim nặng, đã nhiều lần vào Sài Gòn chạy chữa nhưng vì không có tiền nên không thể chữa tới nơi tới chốn. Bác sĩ khuyên không nên làm việc quá sức nhưng nó không làm thuê, làm mướn để kiếm cái ăn thì bốn đứa con nhỏ lấy gì đắp đổi qua ngày", bà mẹ chồng nghẹn ngào nói. Anh Đạo, hàng xóm, cho biết thêm, sau cơn bão số 9, diện tích keo non ở các huyện Ba Tơ, Minh Long, Nghĩa Hành bị ngã đổ rất nhiều. Hàng ngày, chị Hai đi cùng với những người bốc vác thuê lang thang hết đồi này qua núi nọ để thu gom keo non, chất lên xe chở đến cho các nhà buôn. Người mẹ đi làm nhưng không trực tiếp nhận tiền từ các chủ buôn, mà nhờ họ mỗi lần đi ngang qua nhà chị thì ghé lại gửi tiền công của chị cho các con. Biết chị bị bệnh tim nên các chủ buôn cũng ưu tiên, hễ chị thấy mệt lả thì cho phép không phải làm nhưng vẫn tính tiền công của ngày đó cho chị. Hai tháng trước, chị Hai xin phép các chủ buôn về nhà nghỉ vài hôm cho khỏe lại rồi sẽ đi làm tiếp. Không ngờ, chỉ hai ngày sau đó, lúc vừa đi làm ruộng về đến nhà, chị đã mãi mãi ra đi do bệnh tim đột ngột tái phát. Mẹ mất. Cha bỏ đi biền biệt. Bốn đứa trẻ thơ dại chỉ còn biết bấu víu vào bà nội.

Nhìn đăm chiêu vào di ảnh đứa con dâu, bà Phụng thở dài: "Gần một tháng nay, năm bà cháu tôi sống nhờ vào tiền phúng điếu của bà con. Nấn ná được ngày nào hay ngày ấy. Hết khoản tiền này, tui cũng chẳng biết tính sao nữa. Có lẽ, cháu lớn phải nghỉ học, đi làm mướn kiếm tiền". Tính đến phương án hạ sách nhất là cho các cháu nghỉ học, song bà Phụng luôn áy náy trong lòng vì 4 cháu, đứa nào cũng học được. Thằng anh lớn đang học lớp 12; đứa tiếp theo lớp 8, em kế ở lớp 6, còn bé út mới tuổi mẫu giáo. Vùi mặt vào lòng bà nội, bé út thút thít: "Con nhớ mẹ lắm". Biết hoàn cảnh của năm bà cháu, nhà trường và chính quyền địa phương luôn tạo điều kiện để các cháu hàng ngày được cắp sách đến trường. Thi thoảng những người hàng xóm tốt bụng và người qua đường biết được hoàn cảnh của gia đình cũng ghé lại cho vài chục nghìn đồng hoặc mớ rau, con cá. Mệt mỏi nhìn ra cánh đồng trước nhà, bà Phụng thở dài: "Nhìn mấy đứa nhỏ thiếu thốn trong dịp Tết vừa rồi, tôi đau lắm. Mình còn sống nhưng lực bất tòng tâm, không làm ra tiền để lo cho các cháu nên chúng nó phải thiếu trước hụt sau". Đứng sau bà, đứa cháu út rụt rè nhìn khách. Đôi mắt đầy vẻ ngây thơ, chưa hiểu hết nỗi đau mất mẹ. "Họa vô đơn chí", chỉ một tháng sau khi mẹ mất, cậu anh lớn nhất trong nhà lại bị tai nạn giao thông phải nằm một chỗ điều trị lâu dài. Chia tay với VnExpress.net, ngôi nhà nhỏ lặng trong tiếng nấc nghẹn của những đứa trẻ nhỏ: “Anh em cháu rất muốn được đi học, nghèo khổ, cơ cực đến đâu mấy anh em cũng chịu được, nhưng gia đình rơi vào hoàn cảnh thế này không biết xoay xở thế nào để sống". Bạn đọc hảo tâm xin gửi về: em Nguyễn Trọng, lớp 12A gười nghèo gặp khó (ANTĐ) - Theo quy định, người dân khi có nhu cầu đi lao động ở nước ngoài sẽ được vay vốn ngân hàng. Đối tượng chính sách được vay tại Ngân hàng Chính sách, các đối tượng còn lại vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank). Tuy nhiên, vấn đề vay vốn đang là nỗi lo lắng của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động (XKLĐ) cũng như của người lao động.

Ngoài chi phí xuất cảnh, người lao động còn phải lo thêm nhiều khoản khác như học nghề, ngoại ngữ... Thiếu vốn - mất cơ hội Hiện nay, người lao động chỉ có thể vay tối đa 20 triệu đồng tại Agribank. Với mức vay này người lao động chỉ có thể chi phí đi lao động tại một số thị trường “dễ tính” với mức lương thấp như Trung Đông, Malaysia... Còn với các thị trường có yêu cầu cao hơn như Hàn Quốc, Đông Âu, Nhật Bản, Australia... thì tiền vay chỉ đáp ứng được một phần nhỏ chi phí. Theo đánh giá của nhiều doanh nghiệp XKLĐ, nguồn vốn cho vay còn hạn chế, mức cho vay còn thấp, thủ tục lại quá phức tạp. Ông Nguyễn Quốc Sự, Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần Phát triển nguồn nhân lực (LOD) nhận định, nguồn lao động vốn đang yếu về tay nghề, nay lại thiếu về nguồn kinh phí dẫn đến các doanh nghiệp XKLĐ không thể đẩy mạnh số lượng người đi. Như vậy là người lao động đang mất đi cơ hội thoát nghèo. Ông Sự cho biết, quy trình thẩm tra hồ sơ vay vốn tại các địa phương còn kéo dài với nhiều thủ tục, trong khi đó lại không hướng dẫn kỹ nên làm chậm tiến độ vay vốn và xuất cảnh của người lao động. Một số chi nhánh ngân hàng địa phương bắt buộc người lao động phải có xác nhận của Ban chỉ đạo XKLĐ các cấp, mặc dù đã đủ hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp XKLĐ. Ông Lê Thanh, Phó Giám đốc Công ty cổ phần Nhân lực và Thương mại (Vinaconex Mex) cho rằng, với khoản vốn vay 20 triệu đồng, lao động không thể tiếp cận bất cứ thị trường nào. Ngoài chi phí xuất cảnh, người lao động còn phải lo thêm nhiều khoản khác như học nghề, ngoại ngữ, giáo dục định hướng, khám sức khoẻ... Vì thế, các ngân hàng không nên ấn định mức vay cứng nhắc là 20, hay 30 triệu đồng mà nên linh động bằng cách cho vay 80% hay 100% chi phí.

Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Bùi Hồng Lĩnh đề xuất, các ngân hàng cần linh hoạt trong chính sách cho vay. Tốt nhất nên phân chia mức vay theo yêu cầu của thị trường để định lượng mức vay cho hợp lý, tạo điều kiện tối đa cho người lao động và doanh nghiệp. Đâu là nguyên nhân? Phía ngân hàng cho rằng, việc ngân hàng đưa ra một số thủ tục ràng buộc trách nhiệm giữa bên vay và bên cho vay là do tỷ lệ nợ xấu cho vay đi XKLĐ hiện quá cao. Theo đáng giá của Agribank, tính đến hết năm 2009 tỷ lệ nợ xấu chiếm 10,4% so với tổng dư nợ cho vay. Ông Kiều Trọng Tuyến, Phó Tổng giám đốc Agribank cho biết, hiện chưa có quy chế quản lý thu nhập của người lao động đã được vay vốn nên có hiện tượng chây ỳ khiến cho việc thu hồi nợ rất khó khăn. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này như lao động phải về nước trước thời hạn, khách hàng không chịu trả nợ... Ông Phan Đức Tiến - Phó GĐ Chi nhánh Agribank Nghệ An cho rằng, để hạn chế thực trạng này, ngân hàng nên triển khai ký hợp đồng cam kết trách nhiệm với doanh nghiệp XKLĐ, khi lao động gặp rủi ro, doanh nghiệp phải chịu gốc, ngân hàng chịu lãi. Ngoài ra, khi xem xét cấp phép cho doanh nghiệp XKLĐ, cũng nên đánh giá cả năng lực về tài chính, xem xét doanh nghiệp đó có đủ năng lực bồi hoàn cho người lao động khi gặp rủi ro hay không.... Đồng quan điểm trên, bà Ngô Thị Xuyến, Giám đốc Chi nhánh Agribank tỉnh Bắc Giang cho rằng, doanh nghiệp cần công khai các khoản phí doanh nghiệp được thu. Đặc biệt, doanh nghiệp về địa phương tuyển nguồn, không được phép thổi phồng về mức lương, tránh tình trạng người lao động chấp nhận vay vốn với mức cao để đi được thị trường tốt nhưng thực tế mức thu nhập lại không đủ cho lao động trả nợ. D - Sau gần ba năm (từ tháng 10-2007 đến nay) Nghị quyết 10 của Tỉnh ủy Ninh Bình về công tác giảm nghèo đi vào cuộc sống, số hộ nghèo ở địa phương đã giảm nhanh chóng, cơ sở hạ tầng được đầu tư nâng cấp. Nhiều vùng trước đây thuộc diện đặc biệt khó khăn, đã có chuyển biến rõ rệt, dần trở thành vùng nuôi con đặc sản, giúp đời sống của người nghèo nói riêng và nhân dân trong tỉnh nói chung không ngừng được cải thiện. Chung tay giúp người nghèo Một số người sau khi nhìn thấy hiệu quả Nghị quyết 10 của Tỉnh ủy Ninh Bình về công tác giảm nghèo thì đặt câu hỏi: Tại sao việc giảm nghèo không làm sớm mà mãi đến năm 2007 mới có nghị quyết chuyên đề về vấn đề này? Quả thật, trước đây công tác giảm nghèo ở Ninh Bình đã được các cấp, các ngành quan tâm, song chưa có nghị quyết chuyên đề. Bởi theo nhận xét của một số người, tại thời điểm đó chưa bức xúc như thời điểm năm 2007. Thời điểm đó, Ninh Bình chuyển dịch cơ cấu kinh tế khá mạnh. Không ít xã chuyển đổi đất nông nghiệp sang xây dựng khu công nghiệp tập trung mà lớn nhất là hai khu công nghiệp Gián Khẩu và Ninh Phúc. Ðó là chưa kể huyện nào cũng dành đất

cho công nghiệp, riêng xã Khánh Phú (huyện Yên Khánh) dành tới 90% diện tích cho công nghiệp. Tháng 10-2007, Nghị quyết 10 của Tỉnh ủy Ninh Bình ra đời đã thúc đẩy sự "vào cuộc" của các ngành, các cấp và doanh nghiệp ở địa phương chung tay góp sức giúp người nghèo. Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy Nguyễn Thị Thanh cho biết: Ban Dân vận thực hiện bốn nhiệm vụ chính, đó là truyền đạt chủ trương giảm nghèo của tỉnh xuống từng ngành rồi giúp cấp ủy địa phương phân loại hộ nghèo tại cơ sở. Cán bộ cấp ủy đảng và chính quyền nắm chắc hộ nghèo trên địa bàn đến từng thôn, xóm, sau đó xây dựng phương án đầu tư nguồn kinh phí cho vùng nghèo, xã nghèo, hộ nghèo. Bên cạnh đó, Ban Dân vận tổ chức giám sát các công trình phục vụ xã nghèo, hộ nghèo trên cơ sở phát huy tinh thần làm chủ tại cơ sở. Ðồng thời, đôn đốc, kiểm tra chương trình giảm nghèo do các đoàn thể thực hiện. Sau đó, Ban Dân vận phân công đoàn thể phụ trách chương trình giảm nghèo ở các xã nghèo. Sau khi được phân công, mỗi cấp, mỗi ngành đều có cách làm mới, theo hướng cụ thể, chính xác và hiệu quả. Tại xã Ninh Hòa (Hoa Lư), mỗi hộ nghèo có một đảng viên trong cấp ủy, chính quyền và một cán bộ đoàn thể giúp đỡ. Từng đảng viên, hội viên khi được giao nhiệm vụ giúp hộ nghèo phải điều tra để nắm rõ nguyên nhân nghèo, hoàn cảnh gia đình hiện tại cũng như tâm tư, nguyện vọng của người nghèo để tham mưu với cấp ủy đảng, chính quyền xây dựng chính sách đầu tư thích hợp. Người thiếu vốn thì tổ chức vay vốn tín chấp ở Ngân hàng Chính sách xã hội, người thiếu kiến thức về khoa học kỹ thuật thì tổ chức huấn luyện tại bờ, ngay cả người... lười lao động không muốn thoát nghèo thì vận động để họ hiểu và cố gắng vươn lên. Cùng với các tổ chức, đoàn thể, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp phát triển sản xuất ở vùng nghèo, xã nghèo được tỉnh coi trọng. Sự xuất hiện ngày càng nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vùng nghèo, xã nghèo đã giúp cho hàng chục nghìn lao động nông thôn có việc làm mới. Xí nghiệp cói Năng Ðộng, Xí nghiệp tư doanh chiếu cói Minh Quang (huyện Kim Sơn) mỗi đơn vị hiện có từ sáu nghìn đến tám nghìn lao động hằng ngày nhận hàng gia công về sản xuất tại gia đình. Công ty Hồng Ngọc, Công ty may Việt Thái, Cơ sở dạy may Ðức Huân, doanh nghiệp tư nhân Xuân Tình (huyện Yên Mô)... là những cơ sở đào tạo nghề cho người nghèo đạt hiệu quả. Bên cạnh việc chăm lo hỗ trợ hộ nghèo, vùng nghèo của các ngành, các doanh nghiệp, UBND tỉnh có Ðề án 15 về chính sách đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại 23 xã có tỷ lệ hộ nghèo cao. Cụ thể là xây dựng mới 15 chợ tại trung tâm thị trấn, thị tứ để giao lưu hàng hóa giữa các vùng, làm đường giao thông với mức đầu tư hàng nghìn tỷ đồng tại các xã, đầu tư hàng tỷ đồng cho chương trình nước sạch... Tỉnh còn đầu tư xây dựng hơn 10 trường học, 12 trạm y tế tại các xã vùng cao để nâng cao trình độ văn hóa cho đồng bào các dân tộc và chăm sóc sức khỏe của nhân dân tại cộng đồng. Các ngành và cấp ủy đảng, chính quyền địa phương còn xây mới, sửa chữa gần ba nghìn ngôi nhà cho người nghèo, gia đình chính sách. Ða dạng loại hình đào tạo nghề Có thể nói, một trong những thành công của chương trình giảm nghèo ở Ninh Bình thời gian qua là đa dạng các loại hình đào tạo nghề cho người nghèo, xã nghèo. Ngay cả việc

đào tạo nghề nông cho hộ nghèo cũng phong phú. Giám đốc Trung tâm khuyến nông tỉnh, Ngô Tiến Giang, cho biết: Sau khi các ngành ở địa phương xây dựng phương án trợ giúp người nghèo về kỹ thuật, chúng tôi cùng với các đoàn thể tiến hành nhiều cuộc khảo sát tại vùng nghèo, xã nghèo để tìm cây, con nuôi thích hợp. Chẳng hạn đưa bò giống mới về cải tạo đàn bò địa phương ở xã Gia Tường (Nho Quan), lúa chất lượng cao trồng tại xã Khánh Cường, nuôi thỏ ở Khánh Công (Yên Khánh) hoặc nuôi gà sinh học ở Yên Ðồng, Yên Thái (Yên Mô), ếch lồng, ba ba ở huyện Nho Quan. Tuy nhiên, người nghèo thường thiếu đủ thứ, nếu không nắm chắc nguyên nhân nghèo vì đâu sẽ dễ dẫn tới thất bại trong việc xây dựng mô hình trình diễn. Muốn mô hình trình diễn đạt hiệu quả phải chọn điểm xây dựng mô hình. Tức là hộ được chọn phải có năng lực thực hiện mô hình dưới sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật. Họ phải có tư liệu sản xuất, tức là phải có ruộng (nếu là mô hình trồng trọt), chuồng (nếu là mô hình chăn nuôi) và có kinh nghiệm về lĩnh vực đó. Ngoài ra, hộ được chọn làm điểm trình diễn phải có vốn của mình để đầu tư cho dù đó là số rất ít trong tổng vốn đầu tư. Ðiều này khiến cho họ có trách nhiệm hơn so với việc Nhà nước trợ giúp 100% vốn. Cán bộ khuyến nông phối hợp các đoàn thể được phân công giúp hộ nghèo cụ thể đến mức có nhật ký công việc hằng ngày. Chẳng hạn, ngày ngâm ủ thóc giống, gieo mạ, cấy, bón thúc lần 1, bón lần 2 rồi diễn biến sâu bệnh. Thậm chí, ngày bón phân cho lúa, cán bộ khuyến nông cùng với đoàn thể cấp phát phân bón ngay đầu bờ theo đúng định lượng, giám sát nông dân bón phân đúng số lượng đã cấp. Cho nên, khi thu hoạch hầu hết những chân ruộng được bón đúng hướng dẫn của cán bộ khuyến nông thì đều cho năng suất cao so với trước. Trong lĩnh vực chăn nuôi cũng vậy. Nhiều mô hình trợ giúp người nghèo bằng hình thức luân chuyển vật nuôi. Chẳng hạn mô hình chăn nuôi bò ở ba xã bãi ngang huyện Kim Sơn hoặc xã Gia Tường, huyện Nho Quan. Giai đoạn đầu, một số hộ nghèo được cấp bò nuôi sau một - hai năm bò sinh sản thì người chủ chăn nuôi được cấp bê con và chuyển bò mẹ cho hộ nghèo khác nuôi. Không chỉ dạy nông dân làm tốt nghề nông mà còn coi trọng đầu tư phát triển nguồn nhân lực phục vụ ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống. Hiện nay ở Ninh Bình có nhiều "kênh" đào tạo nghề cho nông dân, đó là các đoàn thể như: Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Thanh niên. Song chuyên nghiệp và có quy mô lớn hơn cả đó là Sở Lao động, Thương binh và Xã hội. Trưởng Phòng dạy nghề - việc làm, Vũ Xuân Phong (Sở Lao động, Thương binh và Xã hội) cho biết, mỗi năm tỉnh đào tạo hàng chục nghìn lao động ở nông thôn theo các chương trình dưới hai hình thức. Một là, rót kinh phí đào tạo cho các trung tâm dạy nghề thuộc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội quản lý; hai là, hỗ trợ doanh nghiệp mở lớp dạy nghề. Chị Nguyễn Thị Hương, Giám đốc Công ty may Việt Thái (thị xã Tam Ðiệp) cho biết: Hằng năm, cơ sở đào tạo hơn 100 lao động làm việc trong ba lĩnh vực thêu, may mặc và sản xuất thủ công mỹ nghệ mây tre đan. Mỗi học viên trong thời gian đào tạo nghề tùy theo mức độ, cụ thể mỗi người nghèo được Nhà nước đầu tư hỗ trợ cơ sở dạy nghề ba triệu đồng/khóa học, còn người cận nghèo thì 2,5 triệu đồng/khóa học khi đã thành nghề thì trở thành nhân viên của doanh nghiệp (người bị câm điếc cũng được đào tạo nghề). Còn chị An Thị Thu Thủy, Phó trưởng Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Hoa Lư thì cho biết, học viên là do đảng ủy các xã lập danh sách trên cơ sở mỗi thôn bình xét để số học viên đúng đối tượng là người nghèo, hộ nghèo.

Những vấn đề đặt ra Nghị quyết 10 của Tỉnh ủy Ninh Bình sau gần ba năm đi vào cuộc sống đã thu được kết quả đáng khích lệ. Ðó là bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới, cơ sở hạ tầng được nâng cấp, đời sống người nghèo luôn cải thiện và số hộ nghèo giảm nhanh chóng từ hơn 16% (năm 2007) xuống chỉ còn 6,8% (năm 2009). Tuy nhiên, để chương trình giảm nghèo trong thời gian tới phát huy hiệu quả cần tiếp tục khắc phục những hạn chế. Ðó là việc đào tạo nghề cho nông dân nghèo cần được điều tra kỹ hơn, bởi thời gian qua vẫn còn tình trạng kê khai khống số học viên nhằm rút tiền đào tạo để chi dùng sai mục đích của một vài cơ sở đào tạo nghề cấp huyện. Bên cạnh đó, ý thức học tập của người nghèo chưa cao và vẫn có tình trạng học luân phiên trong một khóa đào tạo để nhận tiền bồi dưỡng. Vì dự án đào tạo nghề quy định số người trong một khóa học và có tiền bồi dưỡng mỗi ngày 5 nghìn đồng/học viên, cho nên xảy ra tình trạng trong một xóm luân phiên nhau đi học chỉ để mục đích nhận tiền bồi dưỡng mà kết quả không học được nghề cần đào tạo. Bên cạnh đó, cần tiếp tục nghiên cứu việc đầu tư, chỉ "đầu tư những trang thiết bị, vật nuôi mà cơ sở cần, tránh đầu tư những thứ mà nhà đầu tư có". Mặt khác, cần tạo thêm cơ hội để người nghèo tiếp cận những tiến bộ KHKT, tranh thủ nguồn vốn đầu tư của các bộ, ngành, đoàn thể ở T.Ư để nhân rộng mô hình trợ giúp người nghèo, tránh tình trạng vốn đầu tư cho vùng nghèo, xã nghèo còn thiếu và mang tính hình thức. Tại một số xã, công tác giảm nghèo chưa bền vững bởi khi nào Nhà nước đầu tư thì số hộ nghèo giảm, khi không còn đầu tư thì số hộ nghèo tăng. Nhận thức của cán bộ tham gia chương trình giảm nghèo chưa cao, nơi nào cán bộ nhiệt tình trách nhiệm thì chương trình đạt hiệu quả, nơi nào cán bộ lơ là thì chậm phát triển. Một số dự án đầu tư của Nhà nước, như: trường học, giao thông, trạm y tế, công trình nước sạch, v.v còn chậm tiến độ. Không ít hộ nghèo còn có thái độ thờ ơ với chương trình giảm nghèo của tỉnh, sự chây ỳ, ỷ lại vào Nhà nước vẫn còn là thách thức đối với chương trình giảm nghèo. Nguyên nhân đói nghèo ở xã 135 Chung Chải 06/11/2008

Chung Chải là xã đặc biệt khó khăn của huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, đời sống của người dân còn nhiều khó khăn, tỉ lệ hộ nghèo gần 70%. Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở xã biên giới vùng cao này?
Xã Chung Chải có 9 bản, 465 hộ, 2.323 nhân khẩu, gồm dân tộc Mông, Si La, Hà Nhì cùng sinh sống. Những năm qua, nhiều công trình đã được đầu tư xây dựng, phục vụ cho đồng bào các dân tộc Kênh mương thủy lợi trong xã như: Dự án nước sinh hoạt ở bản Đoàn Kết được đưa vào xã Chung Chải được sử dụng từ cuối năm 2006, phục vụ cho 108 hộ dân. Kênh mương thủy lợi khe Con Hổ được đầu tư theo CT135, phục vụ tưới tiêu cho kiên cố hóa. phần lớn diện tích lúa nước của trung tâm xã... Tuy nhiên đến nay, số hộ nghèo toàn xã còn ở mức cao (gần 70%). Ông Pờ Xè Chừ, Chủ tịch UBND xã Chung Chải cho biết: Hằng năm, giống cây trồng (lúa, ngô) bà con nông dân trong xã được Nhà nước cấp. Song, do bà con chưa biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT) vào sản xuất, thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất sản lượng cây trồng... nên năng suất đạt thấp. Nghị quyết HĐND xã đưa

phấn đấu năng suất lúa ruộng đạt 35–40 tạ/ha, nhưng qua kiểm tra thực tế hằng năm chỉ đạt khoảng 34–35 tạ/ha. Diện tích lúa ruộng của xã chỉ có 79,5ha, lúa nương 270ha, sản lượng lương thực năm 2007 đạt 787 tấn. Bình quân lương thực 337kg/người/năm. Năm 2008, nhiều ha lúa nước và cả lúa nương bị chuột tàn phá nên năng suất lúa giảm chỉ còn khoảng 25–30tạ/ha. Việc giảm tỉ lệ hộ nghèo (3%) khó có thể đạt được. Điều dễ nhận thấy là bà con nông dân vẫn còn trông chờ vào Nhà nước, chưa tự tìm lối đi trong phát triển kinh tế. Ngoài số giống lúa, ngô được Nhà nước cấp, bà con vẫn sử dụng giống địa phương năng suất thấp. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi chậm, cùng với phong tục tập quán canh tác lạc hậu là nguyên nhân chính dẫn đến năng suất cây trồng chưa cao. Cho đến nay, xã Chung Chải vẫn chưa có một cán bộ đảm nhiệm công tác khuyến nông, khuyến lâm. Ông Lỳ Gió Cà, Phó Chủ tịch UBND xã Chung Chải cho biết: “Xã muốn thành lập mạng lưới khuyến nông, khuyến lâm từ xã xuống bản, nhưng đến nay vẫn chưa tìm được người có thể đảm đương công việc này. Muốn tìm được một cán bộ khuyến nông có năng lực thật sự, tâm huyết với bà con nông dân là rất khó khăn”. Chưa có mạng lưới khuyến nông, việc đưa giống mới, KHKT vào sản xuất chăn nuôi trong xã gặp rất nhiều khó khăn. Trình độ của cán bộ cấp xã cũng còn nhiều hạn chế, công tác tuyên truyền vận động bà con chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi chưa được “đến nơi đến chốn”. Chưa có nhiều mô hình trình diễn để bà con đến tham quan học tập. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ nghèo còn cao ở xã Chung Chải. Một nguyên nhân khác dẫn đến tỉ lệ nghèo còn cao, đó là tình hình nghiện hút thuốc phiện ở xã còn diễn biến phức tạp. Thống kê cho thấy 9/9 bản trong xã đều có người nghiện hút, nhiều gia đình có 2 người nghiện hút. Cái lý “trời cho ăn mới được ăn” cùng với nhiều người nghiện hút càng làm cho cái nghèo thêm túng quẫn ở những hộ có 2-3 người nghiện hút... Muốn đẩy nhanh tốc độ xóa đói giảm nghèo, xã Chung Chải cần thành lập mạng lưới khuyến nông từ xã đến cơ sở, đưa giống mới có năng suất cao, áp dụng KHKT vào sản xuất, chăn nuôi nhằm tăng năng suất và sản lượng cây trồng. Nhưng thiết nghĩ việc làm cần kíp bây giờ là phải vận động những gia đình có người nghiện, các đối tượng nghiện đến cai nghiện tại cộng đồng xã. Có như vậy việc xóa đói giảm nghèo nơi đây mới mong thu được kết quả.

Read more: http://cema.gov.vn/modules.php? name=Content&op=details&mid=11809#ixzz0nvT56nVi Nghèo đói và HIV/AIDS - cái vòng luẩn quẩn Các Website khác - 00:00' 25/03/2004 (GMT+7)
Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2003. Vào Ngày Quốc tế Xoá đói Giảm nghèo, Việt Nam có nhiều thành tích để ăn mừng - song vẫn phải đương đầu với những thách thức to lớn. Việt Nam dẫn đầu các nước đang phát triển về thành tích giảm tỷ lệ nghèo từ trên 60% vào năm 1990 xuống còn 29,1% vào năm 2002. Ngoài ra, Việt Nam còn đặt mục tiêu xoá đói vào năm 2005 và giảm tiếp 60% tỷ lệ người nghèo vào năm 2010. Những thành tích này chủ yếu là kết quả của công cuộc đổi mới rộng rãi được khởi xướng vào năm 1986. Đã từ lâu, UNDP cùng các đối tác quốc tế sát cánh với Chính phủ và nhân dân Việt Nam trong công cuộc đổi mới cũng như hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo của Việt Nam trong quá trình đó. Tuy nhiên, các thành tựu của Việt Nam hiện đang bị đe doạ bởi bệnh dịch HIV/AIDS ngày càng gia tăng. Nếu không kịp thời ngăn chặn, HIV/AIDS sẽ vượt ra ngoài tầm kiểm soát và trở thành một đại dịch gây ra những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế-xã hội như làm cho nghèo đói gia tăng và đẩy lùi những thành quả phát triển đạt được từ trước đến nay.

Theo thông báo mà Bộ Y tế nhận được, tính đến tháng 9 năm 2003, tổng số người bị nhiễm HIV lên tới 71.350. Số trường hợp nhiễm HIV phát hiện được hiện gia tăng khoảng 1.300 người mỗi tháng, trong khi cách đây mới một thập kỷ đó là con số gia tăng của cả một năm. Có thể rút ra kết luận rõ ràng là HIV/AIDS đang gia tăng và với tốc độ cao hơn nhiều. Đây mới chỉ là những trường hợp nhiễm HIV phát hiện được; còn có nhiều người bị nhiễm nhưng không biết hoặc chưa thông báo. Vì vậy, con số thực tế còn cao hơn gấp nhiều lần. Có mối liên quan chặt chẽ giữa nghèo đói và HIV/AIDS - vì vậy, thông điệp về HIV cũng phù hợp với Ngày Quốc tế Xoá đói Giảm nghèo. Nghèo đói làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm và tạo thuận lợi cho sự lây lan của HIV. Tình trạng bị nhiễm HIV có thể khiến cho các cá nhân và gia đình bị lâm vào một cuộc sống nghèo đói. Nghèo đói - HIV/AIDS - nghèo đói hơn trở thành một chuỗi tai hoạ liên đới với nhau. Mặc dù nghèo đói không trực tiếp gây ra HIV, song nó tạo ra môi trường làm gia tăng nguy cơ nhiễm virút HIV của người dân. Do nghèo đói và thiếu cơ hội kinh tế, nhiều thanh niên di cư từ nông thôn lên các thành phố - họ thường không có nơi nương tựa và tiếp xúc với những hành vi nguy cơ. Người nghèo có ít điều kiện được tiếp cận với giáo dục và thông tin, vì vậy có ít hiểu biết hơn về cách thức tự bảo vệ khỏi bị nhiễm HIV. Trong bối cảnh đó, phụ nữ và trẻ em gái là những đối tượng đặc biệt dễ bị tổn thương. Người nghèo còn có điều kiện dinh dưỡng thấp hơn và sức khoẻ kém hơn, làm cho họ ít có khả năng vượt qua nguy cơ bị nhiễm virút HIV và khiến cho những người đã bị nhiễm trở nên mẫn cảm hơn với các hiện tượng viêm nhiễm thứ cấp liên quan tới HIV. Nghèo đói làm gia tăng sự lây lan của HIV/AIDS, và ngược lại bệnh dịch này kìm hãm tăng trưởng kinh tế. Nó tiêu tốn ngân quỹ y tế công cộng và các khoản thu khác của Nhà nước mà lẽ ra có thể được đầu tư cho mục đích phát triển kinh tế và phúc lợi của người dân. Như vậy, nó làm tiêu hao nguồn vốn tiết kiệm và tài sản của quốc gia. Bệnh dịch HIV/AIDS còn làm cho tình trạng nghèo đói trở nên tồi tệ hơn vì nó giảm cơ hội việc làm của những người lao động không bị nhiễm khi thị trường có sự điều chỉnh để đối phó với tác động xấu của bệnh dịch này đối với nền kinh tế quốc gia. TS Nafis Sadik, Đặc phái viên của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc về vấn đề HIV/AIDS ở Châu á Thái Bình Dương, đang ở thăm Việt Nam trong tuần này, nói: "Để thành công, các chính sách cần phải vượt qua những tư tưởng tồn tại từ bao lâu nay - trong đó có quan điểm cơ bản cho rằng nghèo đói và bất bình đẳng là những thực tế không thể tránh khỏi của cuộc sống. HIV/AIDS xảy ra phổ biến hơn nhiều ở người nghèo. Các nhà lãnh đạo trên thế giới đã thông qua mục tiêu giảm một nửa tỷ lệ nghèo cùng cực trong vòng 15 năm tới. Để thành công, phương thức tiếp cận với HIV/AIDS phải vượt ra ngoài phạm trù kinh tế. Phương thức này đòi hỏi phải tiếp cận với những người nghèo nhất, cung cấp cho họ những dịch vụ thiết yếu, được coi như những công cụ cho phép họ vừa tự bảo vệ khỏi bị nhiễm HIV lại vừa tự thoát khỏi cảnh nghèo. Các công cụ cơ bản là giáo dục, chăm sóc y tế và bình đẳng giới, trong đó chú trọng tới thanh niên, vốn là đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất." TS Sadik kêu gọi: "AIDS không phải là một biến cố thông thường. Nó đòi hỏi phải có một sự đáp ứng phi thường. HIV/AIDS là thách thức nghiêm trọng nhất đối với phát triển ở các nước Châu Á - Thái Bình Dương từ trước đến nay, và càng nghiêm trọng hơn bởi nó chưa thể hiện đầy đủ sức tàn phá của mình. Các nước Châu Phi đã chứng kiến tác động khủng khiếp với quy mô lớn nhất của căn bệnh này. Hai trong số các nước tiên tiến nhất ở Châu lục này, Bốt-xoa-na và Nam Phi, đang lường trước khả năng xảy ra một thảm hoạ về kinh tế và sự phân huỷ về xã hội do hậu quả của căn bệnh HIV/AIDS. Điều đó có thể xảy ra tại đây. Nếu tất cả chúng ta cùng chung sức chung lòng và phối hợp hành động - và chỉ bằng cách đó - chúng ta mới có thể ngăn chặn không để cho khu vực Châu Á- Thái Bình Dương có chung số phận như vậy". HIV/AIDS tiếp tục lan rộng và huỷ hoại không biết bao nhiêu con người, gia đình và cộng đồng. Nó đe doạ cướp đi những thành quả phát triển mà Việt Nam tốn bao công sức mới đạt được.

Nhân Ngày Quốc tế Xoá đói Giảm nghèo, UNDP kêu gọi các nhà lãnh đạo Việt Nam huy động mọi nguồn nhân lực và tài lực cần thiết theo phương thức đáp ứng đa ngành. Kinh nghiệm của Việt Nam trong việc giải quyết những biến cố trước đây cho thấy có thể đạt được thành công khi phát huy được nội lực và tập trung sức mạnh tổng hợp của các cá nhân và tập thể cho một mục tiêu duy nhất. Việt Nam cần phải làm hết sức mình để ngăn chặn và đẩy lui sự lây lan của căn bệnh HIV/AIDS. Tuyên bố của UNDP nhân ngày Quốc tế Xóa đói Giảm nghèo Jordan Ryan, Đại diện Thường tr

Trình duyệt của bạn phải hỗ trợ javascript. SỰ NGHÈO ĐÓI VÀ MÔI TRƯỜNG Ở Tải xuống (178K) In (6 trang)HTML thuần tuý

Đề án 1816 của Bộ Y tế: KHÔI PHỤC VÀ NÂNG TẦM MỘT CHỦ TRƯƠNG ĐÚNG Ngày 26/5/2008, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu đã ký Quyết định số
1816/QĐ-BYT phê duyệt Đề án “Cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh” (sau đây viết tắt là Đề án 1816). Đề án 1816 của Bộ Y tế: KHÔI PHỤC VÀ NÂNG TẦM MỘT CHỦ TRƯƠNG ĐÚNG Ngày 26/5/2008, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu đã ký Quyết định số 1816/QĐ-BYT phê duyệt Đề án “Cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh” (sau đây viết tắt là Đề án 1816). Đây là một Đề án có cơ sở khoa học và thực tiễn cao, nên đã được các cơ quan, đơn vị trong toàn ngành y tế hưởng ứng và thi đua thực hiện. Đề án 1816 của Bộ Y tế còn có ý nghĩa lớn là đón đầu thực hiện 3 nghị quyết quan trọng của Ban chấp hành Trung ương khoá X (kỳ họp thứ 7) về đội ngũ trí thức; về công tác thanh niên; và về nông dân, nông nghiệp và nông thôn. Trong gian khó ló ý tưởng Ở nước ta, các tỉnh, thành phố miền Trung thường chịu nhiều khó khăn, gian khổ hơn các tỉnh, thành phố ở hai đầu đất nước, mùa hè thì nắng nóng kéo dài, tiếp đến là mùa mưa thì chịu bão lụt lớn. Đầu tháng 11/1999 và đầu tháng 12/1999, hai trận lụt lịch sử kéo dài liên tiếp xảy ra ở nhiều tỉnh, thành phố miền Trung, làm thiệt hại nặng nề về người và tài sản của nhà nước và của nhân dân. Đồng chí Lê Khả Phiêu (lúc đó là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam) đã đi

thăm bà con vùng lũ và kiểm tra, chỉ đạo công tác khắc phục hậu quả lũ lụt. Khi gặp gỡ, trao đổi với các Đội thanh niên tình nguyện của các địa phương, bộ, ngành (trong đó có thanh niên trường Đại học Y Hà Nội) vào giúp đỡ bà con tại thành phố Huế, đồng chí Tổng bí thư đã đánh giá cao vai trò của các lực lượng này và đã kịp thời chỉ đạo các ngành, các cấp, các địa phương triển khai các biện pháp cụ thể giúp đỡ các nạn nhân, người nghèo và các đối tượng khó khăn… Từ Cuộc vận động: Ngày 3/1/2000, đồng chí Lê Khả Phiêu (khi đó là Tổng Bí thư của Đảng) gửi thư cho cán, bộ nhân viên ngành y tế (qua báo Sức khoẻ & Đời sống) biểu dương những đóng góp to lớn của toàn ngành trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Về công tác y tế năm 2000, đồng chí Lê Khả Phiêu chỉ rõ:"... Ngành y tế phải cùng với các ngành, các cấp giúp đỡ trên 1000 xã nghèo đặc biệt khó khăn, có mặt ở bất cứ nơi nào xa nhất, hẻo lánh nhất, đường đi vất vả nhất, mà ở đó có những con người Việt Nam hàng ngày còn bị bệnh tật và nghèo đói dày vò, thiếu kiến thức về sức khoẻ và đời sống". Quán triệt và thực hiện ý kiến chỉ đạo của đồng chí Lê Khả Phiêu, tại lễ Kỷ niệm 45 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2/2000, Bộ Y tế đã phát động Cuộc vận động ”Tăng cường cán bộ y tế về cơ sở công tác" (sau đây viết tắt là Cuộc vận động) trong thời gian 6 năm (2000-2005), nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của y tế cơ sở, góp phần thực hiện tốt công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong đó có người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội ở nông thôn, miền núi, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ban chỉ đạo Cuộc vận động của Bộ Y tế đã phân công các bệnh viện trung ương, các bệnh viện hạng I cử cán bộ tăng cường cho các bệnh viện tuyến tỉnh, trung tâm y tế tuyến huyện, thời gian mỗi đợt từ 3-6 tháng; Phối hợp với UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo các Sở Y tế triển khai thực hiện cuộc vận động; Tổ chức lễ ra quân: Bệnh viện Bạch Mai tăng cường cho y tế tỉnh Tuyên Quang; Bệnh viện Việt Đức tăng cường cho y tế tỉnh Cao Bằng; Bệnh viện Chợ Rẫy tăng cường cho y tế tỉnh Kiên Giang; Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh tăng cường cho y tế tỉnh Bình Phước… Sơ kết 2 năm (2000-2002) thực hiện Cuộc vận động, Bộ Y tế đã đánh giá cao hiệu quả của Cuộc vận động, đã lựa chọn và tặng Bằng khen cho 15 tập thể và 3 cá nhân điển hình tiến tiến. Đến Đề án 1816: Do tác động của cơ chế thị trường và biến động về mặt tổ chức của y tế cơ sở, nhất là y tế tuyến huyện trong thời gian vừa qua, cùng với chất lượng hoạt động của y tế cơ sở sa sút, tình trạng bệnh nhân bỏ qua tuyến dưới dồn về tuyến trên gây nên quá tải đối với các bệnh viện tuyến trung ương và bệnh viện tuyến tỉnh là khá phổ biến. Vấn đề 2-3 bệnh nhân nằm chung một giường diễn ra ở nhiều bệnh viện. Để giải quyết vấn đề trên và từ kinh nghiệm thực tiễn thời gian qua, Bộ trưởng đã chỉ đạo xây dựng Đề án“Cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh”. Mục tiêu của Đề án 1816:

- Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh của bệnh viện tuyến dưới, đặc biệt là miền núi, vùng sâu, vùng xa thiếu cán bộ y tế. - Giảm tình trạng quá tải cho các bệnh viện tuyến trên, đặc biệt là các bệnh viện tuyến trung ương. - Chuyển giao công nghệ và đào tạo cán bộ tại chỗ nhằm nâng cao tay nghề cho cán bộ y tế tuyến dưới. Nguyên tắc và thời gian cử đi luân phiên:

- Cử cán bộ chuyên môn hoặc kíp cán bộ chuyên môn (gọi tắt là cán bộ đi luân phiên) từ bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến trên có khả năng giải quyết độc lập được các kỹ thuật về luân phiên, hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới. Thời gian công tác do đơn vị cử cán bộ đi luân phiên quyết định, nhưng tối thiểu 03 tháng đối với 01 lần luân phiên của 01 cán bộ. - Một bệnh viện tuyến trên có thể cử cán bộ giúp đỡ nhiều bệnh viện tuyến dưới. Ngược lại, một bệnh viện tuyến dưới có thể nhận cán bộ của nhiều bệnh viện tuyến trên. Chế độ đối với cán bộ đi luân phiên: - Cán bộ đi luân phiên được giữ nguyên biên chế và được hưởng các chế độ như đang công tác tại đơn vị cử đi luân phiên. - Cán bộ đi luân phiên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tại nơi luân phiên (có quyết định khen thưởng của cơ sở, nơi cán bộ đến luân phiên) thì được đơn vị ưu tiên xét nâng bậc lương trước thời hạn, nâng ngạch khi đủ điều kiện và được hưởng các chế độ khen thưởng khác do đơn vị quy định. Triển khai thực hiện Đề án 1816, Bộ Y tế đã thành lập Ban chỉ đạo của Bộ do Bộ trưởng làm Trưởng ban. Ban chỉ đạo của Bộ Y tế đã phối hợp với UBND các tỉnh, thành phố và các đơn vị y tế trong ngành tổ chức lễ triển khai thực hiện Đề án ở cả 3 miền: - Ngày 14/8/2008, tại thành phố Huế, đã tổ chức lễ triển khai thực hiện Đề án 1816 khu vực miền Trung, ký cam kết giữa Bệnh viện Trung ương Huế với Sở Y tế 5 tỉnh miền Trung được hỗ trợ đợt đầu là Hà Tĩnh, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Phú Yên. Có 49 cán bộ của Bệnh viện Trung ương Huế được cử đi luân phiên đợt đầu hỗ trợ cho y tế 5 tỉnh trên. - Ngày 19/8/2008, tại thành phố Hồ Chí Minh, đã tổ chức lễ triển khai thực hiện Đề án 1816 khu vực miền Nam và tiễn 166 cán bộ của 2 bệnh viện trung ương (đóng tại thành phố) và 21 bệnh viện của thành phố được cử đi luân phiên đợt đầu hỗ trợ cho y tế 24 tỉnh miền Nam . - Ngày 30/8/2008, tại Hà Nội, tổ chức lễ triển khai thực hiện Đề án 1816 tại khu vực miền Bắc, ký cam kết và tiễn 223 cán bộ (trong đó có 197 cán bộ của 20 bệnh viện trung ương và 26 cán bộ của 5 bệnh viện Hà Nội) đựơc cử đi luân phiên đợt đầu hỗ trợ cho các tỉnh miền Bắc. Như vậy, khởi động thực hiện Đề án 1816, đã có 438 cán bộ từ 23 bệnh viện tuyến trung ương và 26 bệnh viện hạng I của hai thành phố là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được cử đi luân phiên đợt đầu hỗ trợ cho y tế nhiều địa phương trong cả nước. Những điểm mới của Đề án 1816 so với Cuộc vận động là: - Đề án được Bộ Y tế ra quyết định phê duyệt, so với Kế hoạch của Ban chỉ đạo Cuộc vận động; - Cử cán bộ của bệnh viện tuyến trung ương và bệnh viện hạng I tăng cường cho tuyến dưới (có khu trú căn cứ vào chất lượng), so với cử cán bộ tuyến trên tăng cường cho tuyến dưới của Cuộc vận động (về tới tuyến xã) khá dàn trải. - Phương án hỗ trợ của Đề án 1816 linh hoạt hơn (một bệnh viện tuyến trên có thể hỗ trợ nhiều bệnh viện tuyến dưới, và ngược lại, một bệnh viện tuyến dưới có thể tiếp nhận sự hỗ trợ của nhiều bệnh viện tuyến trên), so với sự phân công (mỗi bệnh viện tăng cường cho một địa phương, ngược lại, mỗi địa phương được tăng cường từ một bệnh viện) của Cuộc vận động. - Đề án 1816 xác định rõ nguồn ngân sách đảm bảo, so với việc giao cho các bệnh viện tự cân đối kinh phí thực hiện của Cuộc vận động… Những điểm mới nêu trên có vai trò rất quan trọng đảm bảo thực hiện thành công Đề án và đó cũng chính là tính khả thi và là tính bền vững của Đề án 1816.

Bộ Y tế ban hành Đề án 1816 là khôi phục và nâng tầm một chủ trương đúng. Đó là chủ trương tiếp tục hướng về cơ sở, đầu tư cho y tế phổ cập, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho đại đa số nhân dân, trong đó có người nghèo và đối tượng chính sách, góp phần thực hiện định hướng công bằng trong chăm sóc sức khoẻ. Giáo sư về với cộng đồng: Đó là tiêu đề do Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu gợi ý cho các phóng viên trong phát biểu chúc mừng và giao nhiệm vụ cho các cán bộ của Bệnh viện Trung ương Huế được cử đi hỗ trợ đợt đầu, trong đó có PGS.TS. Phạm Như Hiệp, Phó Giám đốc Bệnh viện. Trong danh sách cán bộ luân phiên ở khu vực phía Bắc và phía Nam cũng có một số cán bộ là giáo sư, phó giáo sư, lãnh đạo bệnh viện. Vấn đề đặt ra là, cử giáo sư, lãnh đạo bệnh viện đi luân phiên hiệu quả hơn hay là để các cán bộ này thực hiện công tác quản lý, chỉ đạo và kiểm tra, giám sát thì hiệu quả hơn? Lý giải vấn đề này, PGS.TS. Phạm Như Hiệp nói: Đề án 1816 là hỗ trợ toàn diện, thường xuyên và lâu dài. Như vậy, phạm vi hỗ trợ không bó hẹp trong lĩnh vực chuyên môn y dược mà mở rộng ra cả các lĩnh vực khác như quản lý, điều dưỡng, trang thiết bị, kinh tế y tế… Vì vậy, trong thành phần của đoàn cán bộ của Bệnh viện Trung ương Huế cử đi luân phiên có cả cử nhân, điều dưỡng, kỹ thuật viên… Ông Bộ trưởng của dân: Khi đồng chí Nguyễn Quốc Triệu về nhận nhiệm vụ Bộ trưởng Bộ Y tế, có nhiều ý kiến của cán bộ y tế và của người dân nhận định rằng, Bộ trưởng sẽ quan tâm đến công tác y tế cơ sở nhiều hơn, chăm lo đến công tác chăm sóc sức khoẻ người nghèo và đối tượng chính sách nhiều hơn. Cơ sở của nhận định trên là, ngoài chuyên môn chính của Bộ trưởng là bác sỹ, đồng chí bảo vệ luận án Phó tiến sỹ (nay là Tiến sỹ) chuyên ngành xã hội học, đã kinh qua công tác dân số và lãnh đạo chính quyền thành phố, nên cách tiếp cận vấn đề sẽ khoa học hơn, xã hội học hơn và thực tiễn hơn. Sau một số lần đi thăm bệnh viện, thấu hiểu và cảm thông trước tình cảnh người bệnh đã mệt mỏi do ốm đau lại mệt mỏi thêm do phải nằm chung giường trong điều kiện nóng nực, cảm thông với những người bệnh nghèo, sau ốm đau sẽ nghèo hơn… Bộ trưởng đã đặt câu hỏi, phải làm gì để không còn tình trạng bệnh nhân nằm chung giường, và làm thế nào để rút ngắn ngày điều trị giúp người dân đỡ khổ hơn… Bộ trưởng đã chỉ đạo các cơ quan chức năng của Bộ xây dựng, đề xuất và ban hành nhiều văn bản quan trọng đối với định hướng công tác của ngành y tế, trong đó có 2 văn bản thể hiện rõ nét nhất, đó là: Một là, ngày 7/12/2007, Bộ trưởng đã ký ban hành Chỉ thị số 06/2007/CT-BYT về việc nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân, tập trung giải quyết 5 vấn đề sau: Hạn chế tình trạng quá tải bệnh viện; Nâng cao năng lực y tế cơ sở; Đẩy mạnh xã hội hoá công tác khám bệnh, chữa bệnh; Nâng cao y đức trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Sửa đổi, bổ sung một số văn bản quản lý về công tác khám, chữa bệnh. Hai là, ngày 26/5/2008, Bộ trưởng ký ban hành Quyết định số 1816/QĐ-BYT về việc phê duyệt Đề án “Cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ cho các bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh”. Đây mới là những hoạt động đầu tiên triển khai thực hiện một Đề án có tính toàn diện, thường xuyên và lâu dài, vì vậy, sẽ là quá sớm nếu đề cập đến tính hiệu quả của Đề án vào lúc này. Nhưng với tính khả thi của Đề án 1816, với cách điều hành kiên quyết của Bộ Y tế, với sự hưởng ứng nhiệt tình của toàn ngành y tế, với sự vào cuộc của các bộ, ngành và chính quyền các địa phương… chúng tôi tin chắc rằng, Bộ Y tế sẽ thực hiện thành công Đề án 1816, nâng cao được chất lượng công tác khám, chữa bệnh tại các bệnh viện tuyến dưới, giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên, góp phần chăm sóc sức khoẻ nhân dân tốt hơn./.

Tỷ lệ người nghèo bị bệnh không cao hơn người giàu, nhưng tỷ lệ hộ có người bệnh nặng ở nhóm nghèo lại cao hơn nhóm giàu, và đáng lưu ý hơn, chi phí chữa bệnh ở hộ nghèo cũng chiếm tỷ trọng trong ngân sách gia đình nặng nề hơn so với hộ giàu. >> An sinh xã hội đối với nông thôn, miền núi: Không thể chậm trễ hơn Dưới đây là một số kết quả của cuộc điều tra về hệ thống phúc lợi xã hội ở TPHCM vào cuối năm 2008 của Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM. Bài này sẽ trình bày một vài số liệu liên quan tới mức độ ốm đau, tình hình điều trị và chi phí điều trị của cư dân TPHCM, trích từ kết quả cuộc điều tra của chúng tôi về phúc lợi xã hội ở 1.000 hộ gia đình (4.471 nhân khẩu) tại TPHCM vào tháng 9-2008. Mức độ ốm đau Kết quả điều tra cho biết, trong vòng ba tháng (trước thời điểm điều tra), có đến hơn bốn phần năm số hộ gia đình (828 hộ, chiếm 83% tổng số hộ trong mẫu điều tra) có người bị bệnh nhẹ trong vòng ba tháng qua, với tổng cộng 1.681 người mắc bệnh nhẹ (chiếm 38% tổng số nhân khẩu), bao gồm: cảm cúm, nhức đầu, sổ mũi, ho, viêm họng, đau bụng, rối loạn tiêu hóa... <a href='http://www.hatgiong.net/ads/www/delivery/ck.php? n=aa4199ac&amp;cb=INSERT_RANDOM_NUMBER_HERE' target='_blank'><img src='http://www.hatgiong.net/ads/www/delivery/avw.php? zoneid=7&amp;cb=INSERT_RANDOM_NUMBER_HERE&amp;n=aa4199ac' border='0' alt='' /></a> Trong số những gia đình có người bị bệnh nhẹ, 20% chủ hộ trả lời rằng thường chữa trị bằng cách đưa đến bệnh viện công, 1% đến bệnh viện tư, 17% đến bác sĩ tư, 84% tự đi mua thuốc chữa ở nhà, và 2% chữa trị bằng cách khác. Về số người bị bệnh nặng, có tổng cộng 411 hộ (chiếm 41% mẫu điều tra) cho biết có người bị bệnh nặng, hoặc tai nạn, hoặc bị bệnh mãn tính, trong vòng 12 tháng qua (trước thời điểm điều tra), với tổng cộng 505 bệnh nhân (chiếm 11% nhân khẩu trong mẫu điều tra). Có 33% hộ có một người bị bệnh nặng, 6% hộ có hai người, và hơn 1% hộ có từ ba đến bốn người bị bệnh nặng. Trong số này, có 10 người đã qua đời (chiếm 0,2% tổng số nhân khẩu điều tra), có 33 người bị tai nạn (0,7% nhân khẩu) (tai nạn giao thông, té ngã, gãy tay, gãy chân...), còn lại là mắc các loại bệnh như: viêm phổi, viêm phế quản, viêm gan, viêm dạ dày, xuất huyết dạ dày, ung thư, bệnh tim mạch, cao huyết áp, tai biến mạch máu não, bệnh tiểu đường, sỏi thận, gai cột sống, viêm ruột dư, viêm xoang, sốt xuất huyết, sốt siêu vi... Trong số những gia đình có người bị bệnh nặng, 81% chủ hộ cho biết đã đưa bệnh nhân đến bệnh viện công, 10% đến bệnh viện tư, 20% đến phòng mạch bác sĩ tư, 0,7% đến cơ

sở y tế từ thiện, 2% điều trị cách khác, nhưng cũng đáng chú ý là có đến 41% tự đi mua thuốc chữa ở nhà. Tình hình điều trị Không phải ai bị bệnh cũng đều đi khám bệnh và trị bệnh, nhất là những người bị bệnh nhẹ. Tổng cộng những người phải đi điều trị trong vòng 12 tháng, kể cả bệnh nặng và bệnh nhẹ, chiếm 19% nhân khẩu trong mẫu điều tra. Độ tuổi càng lớn thì tỷ lệ có bệnh phải đi điều trị cũng gia tăng theo, nhất là từ 40 tuổi trở lên: trong khi tỷ lệ này chỉ trên dưới 5% nơi những nhóm tuổi dưới 40, thì nơi nhóm 4150 tuổi là 12%, nhóm 51-60 tuổi là 18%, còn nơi nhóm trên 60 tuổi lên tới 31%. Phần lớn các bệnh nhân này đều tới các cơ sở y tế công lập: 71% đến bệnh viện công hoặc trung tâm y tế công, 19% đến bệnh viện tư, 16% đến phòng mạch bác sĩ tư, 1% đến cơ sở y tế từ thiện, và 2% đến nơi khác. Riêng bệnh nhân ở nội thành có tỷ lệ đến phòng mạch bác sĩ tư tương đối đông hơn so với vùng ven và ngoại thành (24%, so với 10% và 12%). Hệ thống bệnh viện tư ở TPHCM hiện nay (tuy chưa phải nhiều, tính đến tháng 9-2008 tổng cộng mới có 30 bệnh viện tư) cộng với hệ thống phòng mạch bác sĩ tư đã đảm nhận việc điều trị một phần khá lớn bệnh nhân: hệ thống tư nhân này đã chữa trị cho khoảng trên 20% số người bị bệnh nặng, và khoảng 45% số người bị bệnh nhẹ cần đi điều trị trong mẫu điều tra. Giữa các nhóm hộ phân theo mức thu nhập (dựa trên phương pháp ngũ phân), không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ nhân khẩu bị bệnh nặng: nhóm 1 (nghèo nhất) có 13% nhân khẩu bị bệnh nặng, nhóm 2 có 11%, nhóm 3 có 12%, nhóm 4 có 13%, và nhóm 5 (giàu nhất) có 12%. Tuy nhiên, nếu xét về số hộ có người bị bệnh nặng, thì nhóm nghèo có tỷ lệ cao hơn: trong khi nhóm giàu nhất có 36% hộ có người bị bệnh nặng, thì tỷ lệ này nơi nhóm hộ nghèo nhất là 47% (lưu ý: số nhân khẩu bình quân mỗi hộ nơi nhóm nghèo cao hơn nhóm khá giả: 5,18 người/hộ so với 3,84). Chi phí chữa bệnhKết quả điều tra cho biết bình quân một người đi điều trị phải chi phí 2,89 triệu đồng/người/năm (chỉ tính số tiền mà bệnh nhân phải trả, không tính khoản tiền mà cơ quan bảo hiểm y tế thanh toán cho những người có thẻ bảo hiểm y tế). Riêng bệnh nhân ở khu vực nội thành là 3,07 triệu, vùng ven 3,54 triệu, và ngoại thành 1,52 triệu đồng/người. Phân tổ theo giới tính, nam bệnh nhân chi bình quân 3,05 triệu đồng/người/năm, còn nữ bệnh nhân thì chi 2,25 triệu. Phân tổ theo tuổi tác, chi phí bình quân một người đi điều trị có xu hướng gia tăng theo độ tuổi, cụ thể như sau: 0-5 tuổi 0,57 triệu đồng/người/năm, 610 tuổi 0,35 triệu, 11-17 tuổi 0,62 triệu, 18-30 tuổi 2,29 triệu, 31-40 tuổi 3,90 triệu, 41-50 tuổi 4,09 triệu, 51-60 tuổi 2,28 triệu, và 61 tuổi trở lên là 3,38 triệu.

Còn nếu phân tổ theo nghề nghiệp và công việc đang làm, chúng ta thấy mức chi phí điều trị khá chênh lệch nhau giữa các nhóm (xếp từ thấp đến cao): học sinh, sinh viên 0,64 triệu đồng/người/năm, nông dân 0,96 triệu, nội trợ 1,64 triệu, công nhân 1,82 triệu, buôn bán nhỏ 2,07 triệu, chủ doanh nghiệp tư nhân 2,53 triệu, nhân viên 3,34 triệu, lao động tiểu thủ công nghiệp và lao động tự do 3,77 triệu, thất nghiệp 3,89 triệu, hưu trí 4,56 triệu, lao động trí óc 5,15 triệu. Cũng tương tự như xu hướng thông thường ở các nước khác, khi mức sống ngày càng cao, người dân càng quan tâm và chi phí nhiều hơn cho việc chăm sóc sức khỏe. Số liệu những năm qua ở TPHCM cũng cho thấy rõ điều này: năm 1990, tỷ lệ chi phí cho y tế chiếm 3,4% trong tổng chi tiêu cho đời sống bình quân người một tháng, năm 1995 con số này tăng lên 4,2%, năm 2000 là 5,0%, năm 2002 là 6,5%, năm 2004 tăng lên 7,0% và năm 2006 là 5,6%(1), trong khi tỷ lệ chi cho ăn uống ngày càng giảm. Sở dĩ tỷ lệ này gia tăng một mặt là do mức thu nhập của dân cư có khá lên, nhưng mặt khác còn do tốc độ trang bị kỹ thuật mới của hệ thống y tế ở TPHCM nên chi phí cũng tăng lên một cách tương ứng. Gánh nặng đối với người nghèoMức chi phí bình quân cho một người phải đi điều trị nơi nhóm hộ nghèo nhất trong vòng 12 tháng (trước thời điểm điều tra) là 2,01 triệu đồng, còn nơi nhóm hộ giàu nhất là 4,04 triệu. Nếu tính riêng số bệnh nhân điều trị nội trú (tức phải nằm bệnh viện), thì mức chi phí bình quân là 6,52 triệu/người/năm, trong đó bệnh nhân thuộc nhóm hộ nghèo nhất là 4,71 triệu, còn nơi nhóm giàu nhất là 9,18 triệu. Do khả năng tài chính eo hẹp, chi phí chạy chữa bệnh tật nơi những gia đình nghèo tất nhiên thấp hơn so với những gia đình khá giả. Điều này mặc nhiên có nghĩa là bệnh nhân nghèo sử dụng các dịch vụ điều trị và chăm sóc trong bệnh viện ít hơn, mua thuốc men ít hơn, với giá rẻ hơn… và hậu quả khó tránh khỏi là kết quả điều trị nói chung cũng thấp hơn so với bệnh nhân gia đình khá giả. Theo kết quả khảo sát vào tháng 9-2008, tiền chi cho y tế và chăm sóc sức khỏe cho mỗi nhân khẩu đạt bình quân hơn 63.000 đồng/tháng, chiếm 5,8% trong tổng chi tiêu cho đời sống của một người mỗi tháng. Phân tổ theo năm nhóm hộ dựa trên mức thu nhập, chúng ta thấy hộ gia đình càng nghèo càng có xu hướng chi phí y tế với tỷ lệ cao hơn: từ mức 3,9% nơi nhóm 5 (khá giả nhất), tăng lên tới 8,6% nơi nhóm 1 (nghèo nhất). Điều này có nghĩa là càng nghèo thì chi phí y tế càng là gánh nặng đối với ngân sách gia đình, mặc dù số tiền chi cho y tế của hộ nghèo vẫn thấp hơn so với nhóm hộ khá giả (xem bảng). Xu hướng nặng gánh chạy chữa bệnh tật đối với người nghèo cũng đã từng được ghi nhận qua một cuộc điều tra tại TPHCM vào năm 1998 của Viện Khoa học Xã hội vùng Nam bộ: trong khi tỷ lệ chi cho y tế bình quân nhân khẩu (tính trên mức thu nhập bình quân nhân khẩu) nơi nhóm hộ 5 (khá giả nhất) là 1,47%, nhóm 4 là 2,13%, thì nơi nhóm 2 lên tới 5,06% và nhóm 1 (nghèo nhất) là 5,84% (2).

Điều này cũng tương tự như tình hình cả nước qua số liệu điều tra năm 2001-2002 của Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê: trong khi nhóm gia đình giàu chỉ chi 11% và nhóm khá chi 17% cho y tế (trong tổng chi tiêu ngoài lương thực và thực phẩm), thì nơi những nhóm gia đình nghèo và cận nghèo, tỷ lệ này lên tới 23-24 (3). Nếu so sánh chi phí y tế năm 2002 với năm 1993 và 1998, thì mức tăng nơi nhóm gia đình nghèo cao hơn hẳn so với mức tăng nơi nhóm gia đình khá giả. Bản phúc trình của Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê nhận định: “Nhóm nghèo và cận nghèo có mức tăng chi cho y tế cao nhất (2,2 lần so với năm 1993 và 1,9 lần so với 1998). Điều này phản ánh thực tế là gánh nặng chi phí y tế ở người nghèo vốn đã “nặng” nay càng “nặng hơn””.(4) So sánh mức chi phí điều trị của một bệnh nhân nội trú với mức thu nhập bình quân đầu người một năm, số liệu cuộc điều tra của chúng tôi vào tháng 9-2008 cho biết: nơi nhóm 5 (giàu nhất), tỷ lệ này là 28%, nơi nhóm 4 là 40%, nhưng nơi nhóm 1 (nghèo nhất) thì số tiền điều trị lên tới 83%, tức chiếm gần hết số thu nhập bình quân đầu người cả năm - đây quả là điều hết sức nặng nề đối với những gia đình nghèo! Số liệu cả nước vào năm 2004 cho thấy tình hình cũng tương tự, nhưng mức độ chi phí có nhẹ hơn phần nào: nơi nhóm 5 (giàu nhất), tỷ lệ này là 25%, còn nơi nhóm 1 (nghèo nhất) là 40%(5). Ai cũng biết mức thu nhập bình quân đầu người ở TPHCM cao hơn các địa phương khác, nhưng điều này không có nghĩa là mọi cư dân ở đây đều có mức sống cao hơn các nơi khác! Một thực tế cần thấy rõ là giá cả sinh hoạt ở thành phố này đắt đỏ hơn các nơi khác, các loại chi phí phải trả trong bệnh viện ở đây cũng cao hơn. Chính vì thế mà những tầng lớp trung bình và nghèo ở thành phố này phải gánh chịu những tỷ trọng chi phí dành cho việc chạy chữa bệnh tật trong ngân sách gia đình nặng nề hơn so với những tầng lớp khá giả ở thành phố này, cũng như so với các tầng lớp trung bình và nghèo ở các địa phương khác. Khi được hỏi rằng “gia đình ông/bà có đủ điều kiện kinh tế để chăm sóc sức khỏe cho mọi thành viên của gia đình hay không”, 47% hộ nhóm 1 (nghèo nhất) trả lời là khó khăn và rất khó khăn, tỷ lệ này nơi nhóm 5 (giàu nhất) chỉ có 4%. Riêng những hộ có người bị bệnh nặng hoặc tai nạn phải nằm bệnh viện, kết quả điều tra cho biết hộ càng nghèo càng có tỷ lệ phải đi vay mượn cao, lên tới 51% nơi nhóm hộ nghèo nhất. Trái ngược với điều mà nhiều người có thể lầm tưởng, ở một nơi như TPHCM, chi phí y tế quả thực là một gánh rất nặng đối với người nghèo, nặng hơn nhiều so với các địa phương khác. Và mặt khác, tầng lớp nghèo cũng chịu nhiều thiệt thòi vì không được hưởng chế độ bảo hiểm y tế nhiều bằng những tầng lớp có thu nhập cao. Mặc dù nhiều năm nay thành phố đã có những chính sách trợ giúp cho người nghèo (cấp hoặc trợ giá mua thẻ bảo hiểm y tế) cũng như một số tổ chức từ thiện cứu trợ bệnh nhân nghèo, nhưng điều này vẫn không làm thay đổi bao nhiêu một hiện thực bất bình đẳng xã

hội và phân hóa xã hội nơi cộng đồng cư dân, phản ánh qua kết quả phân tích mức độ thụ hưởng phúc lợi y tế dựa trên cách tiếp cận cơ cấu xã hội.

Mức chi cho y tế và chăm sóc sức khỏe tính trong tổng chi tiêu cho đời sống bình quân một người một tháng, phân theo năm nhóm hộ dựa trên mức thu nhập, TPHCM 2008 Tổng chi tiêu cho đời Trong đó: Chi cho y tế, Tỷ lệ chi cho y tế, chăm sống một người /tháng chăm sóc sức khỏe sóc sức khỏe tính trên (đồng) (đồng) tổng chi tiêu (%)

Năm nhóm thu nhập (ngũ phân) Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5 Tổng cộng

594.513 51.031 8,58 795.265 38.180 4,80 972.695 71.836 7,39 1.259.611 83.678 6,64 1.841.012 72.723 3,95 1.087.194 63.387 5,83 Nguồn: Cuộc điều tra các hộ gia đình ở TPHCM vào tháng 9-2008

Mẫu điều tra Cuộc điều tra về tình hình thụ hưởng phúc lợi xã hội của các hộ gia đình dân cư được tiến hành vào tháng 9-2008 tại 11 quận và huyện đại diện cho các địa bàn khác nhau của TPHCM. Phương pháp chọn mẫu được thực hiện bằng cách kết hợp giữa cách chọn mẫu điển hình (ở cấp quận huyện và cấp phường xã) với cách chọn mẫu ngẫu nhiên (ở cấp tổ dân phố). Tổng cộng mẫu điều tra là 1.000 hộ gia đình với 4.471 nhân khẩu, thuộc 122 tổ dân phố trong tổng cộng 22 phường và xã thuộc 11 quận và huyện. Trong đó, có 400 hộ ở nội thành (40% mẫu điều tra), 400 hộ ở vùng ven (40%), và 200 hộ ở ngoại thành (20%). Cơ cấu phân bố mẫu này tương đối khớp với cơ cấu phân bố dân cư theo số liệu điều tra năm 2004 của Cục Thống kê TPHCM. Cuộc điều tra này nằm trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu về “Hệ thống phúc lợi ở TPHCM với mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội” của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM (nay là Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM) do ông Trần Hữu Quang làm chủ nhiệm đề tài. Một số nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở nông thôn ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh Ths. Nguyễn Thị Hằng*

Ngày nay, đói nghèo đang trở thành một vấn đề cấp bách của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các nước chậm phát triển và đang phát triển. Mỗi quốc gia muốn thực hiện được mục tiêu phát triển xã hội bền vững thì không thể không giải quyết vấn đề đói nghèo. Trong những năm qua Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về xóa đói giảm nghèo, được các tổ chức quốc tế và các nước đánh giá cao về sự quyết tâm chống nghèo đói của Chính Phủ Việt Nam, đã cho thấy tính ưu việt của chế độ ta là phấn đấu vì mục tiêu con người mà Đảng ta đã xác định: Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với thực hiện công bằng xã hội. Thành phố Hồ Chí Minh là nơi khởi xướng và tổ chức thành công chương trình xóa đói giảm nghèo đồng thời được đánh giá là địa phương đi đầu trong cả nước về phong trào xóa đói giảm nghèo. Đạt được kết quả to lớn như vậy là do thành phố thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trên cơ sở khai thác tốt tiềm năng và thế mạnh trên địa bàn. Thành phố đã tập trung giải quyết ba vấn đề lớn đó là: trợ vốn cho xóa đói giảm nghèo; có phương hướng trợ vốn và các chính sách ưu đãi cho người nghèo. Trải qua chặng đường hơn 10 năm, chương trình xóa đói giảm nghèo đã thực sự trở thành một phong trào quần chúng sôi nổi, rộng khắp ở thành phố và nhân rộng trong cả nước, tạo được những chuyển biến tích cực về nhiều mặt, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện và từng bước nâng cao. Tuy nhiên, tình trạng đói nghèo ở các huyện ngoại thành và sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa nông thôn và thành thị cũng diễn ra ngày càng gay gắt. Vấn đề tìm ra những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở các huyện ngoại thành có ý nghĩa quan trọng giúp chính quyền địa phương nhận thức rõ nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo thực chất là một cuộc chiến chống đói nghèo đô thị, rút ngắn dần khoảng cách giàu nghèo, một trong những tiêu chí quan trọng trong xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh văn minh hiện đại. Ở phạm vi bài viết này, tác giả phân tích một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến nghèo đói ở khu vực ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh. 1. Nguồn lực hạn chế và nghèo nàn Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và thiếu nguồn lực. Người nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì họ không thể đầu tư vào nguồn nhân lực của họ, đồng thời nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi nghèo đói. Người nghèo ở khu vực ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh đa số là sản xuất nông nghiệp, do thiếu vốn nên họ khó có khả năng hướng tới sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Thông thường họ lựa chọn phương án sản xuất tự cung, tự cấp, họ vẫn giữ các phương thức sản xuất truyền thống với giá trị kinh tế thấp, thiếu cơ hội thực hiện các phương án sản xuất mang lợi nhuận cao. Do vẫn theo phương án sản xuất truyền thống nên giá trị sản phẩm và năng suất các loại cây trồng, vật nuôi còn thấp, thiếu tính cạnh tranh trên thị trường và vì vậy đã đưa họ vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo khó. Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế của khu vực phía Nam và của cả nước, đây là địa phương có tốc độ đô thị hóa rất nhanh, không gian đô thị ngày càng được mở rộng đã làm thu hẹp diện tích đất canh tác nông nghiệp. Xu hướng này tất yếu dẫn tới một bộ phận không nhỏ nông dân sống ở các huyện ngoại thành phải chuyển đổi nghề nghiệp, nhưng trên thực tế không phải nông dân nào cũng biết cách thay đổi “phương thức sản xuất” của mình, tức là phải tăng năng suất trên một đơn vị diện tích đất canh tác nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp, chuyển dịch cơ

cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao,... Do đó, một bộ phận nông dân từ lâu đã gắn với sản xuất nông nghiệp bị đẩy vào cảnh khốn khổ vì thiếu nguồn lực để sản xuất. Một số người khác sau khi nhận được số tiền đền bù từ mảnh ruộng của mình trong các dự án quy hoạch không biết sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả dẫn đến hệ quả là: Thứ nhất, chỉ thoát được cảnh đói nghèo trong một thời gian ngắn. Khi đã sử dụng hết số tiền mà họ có được do bán đất và đền bù, giải tỏa thì họ lại tái nghèo. Thứ hai, khi diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp một số lao động trong nông nghiệp không tìm được việc làm mới, thất nghiệp gia tăng và vì vậy họ rất khó khăn trong việc tự mình thoát khỏi đói nghèo. Thứ ba, khi giá đất tăng lên do tác động của đô thị hóa, người nông dân bán đất ồ ạt, nhiều ngôi nhà mới được xây dựng nhưng đó là những ngôi nhà của những người ở nơi khác đến, có nhiều tiền còn nông dân thì bị đẩy vào sâu hơn và đất canh tác cũng thu hẹp lại, vì vậy người nông dân khó có cơ hội để duy trì hoạt động sản xuất nông nghiệp của mình nếu như họ không có kế họach sử dụng đồng vốn kiếm được từ việc bán đất một cách có hiệu quả và cuối cùng cảnh đói nghèo vẫn tiếp tục ở lại với họ. Bên cạnh đó, đa số người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch vụ sản xuất nông nghiệp như khuyến nông, khuyến ngư, bảo vệ động, thực vật; các yếu tố đầu vào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như: điện, nước, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón… đã làm tăng chi phí tính trên một đơn vị giá trị sản phẩm. Khả năng còn hạn chế về vốn của người nghèo và cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng có giới hạn chính là nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi mới sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ, mở rộng sản xuất, tiếp cận thị trường,… Một mặt, do không có tài sản thế chấp, người nghèo phải dựa vào tín chấp với các khoản vay nhỏ, hiệu quả thấp đã làm giảm khả năng hoàn trả vốn. Mặt khác, đa số người nghèo không có kế hoạch sản xuất cụ thể hoặc sử dụng vốn vay không đúng mục đích, do vậy họ khó có điều kiện tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước cũng như các tổ chức tín dụng. Người nghèo còn thiếu thông tin về pháp luật, chính sách và thị trường đã làm cho họ sẽ càng nghèo hơn. 2. Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định Những người nghèo là những người thường có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt và ổn định. Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đủ để đảm bảo cho nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có điều kiện nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát nghèo. Theo số liệu điều tra năm 2004 của Viện Kinh tế TP.Hồ Chí Minh, mức thu nhập bình quân nhân khẩu trên một tháng của khu vực nông thôn ngoại thành là 726.000 đồng/người/tháng, bằng 54,3% mức thu nhập bình quân chung của thành phố(1). Do mức thu nhập thấp nên khả năng chi cho học hành ở khu vực ngoại thành cũng thấp hơn nội thành. Chi cho học hành bình quân một người một tháng của khu vực nông thôn là 24.785 đồng trong khi đó ở khu vực thành thị là 62.535 đồng. Qua số liệu trên cho thấy người dân ở khu vực ngoại thành chi cho giáo dục chỉ bằng 39,6% của khu vực thành thị từ đó có thể khẳng định rằng người nghèo trong khu vực nông thôn ngoại thành chi cho học hành càng ít hơn nữa. Trình độ học vấn thấp không chỉ ảnh hưởng tới thu nhập mà còn ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan về giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái,…ở thế hệ hiện tại mà còn cả thế hệ trong tương lai. Suy dinh dưỡng ở trẻ em và trẻ sơ sinh là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng đến trường của con em các gia đình nghèo nhất và sẽ làm cho việc thoát nghèo thông qua giáo dục và đào tạo

càng trở nên khó khăn hơn. Học vấn thấp và đói nghèo vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của nhau, thường là bạn đồng hành miễn cưỡng đáng buồn của nhau. Đa số người nghèo làm các công việc trong nông nghiệp có mức thu nhập rất thấp. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động phổ thông ở khu vực ngoại thành chiếm 92,9% trong tổng số lao động, đối với khu vực nội thành thì tỷ lệ này là 81,3%. Ở ngoại thành chỉ có 3,1% lao động có trình độ đại học, trong khi đó ở nội thành người có trình độ đại học và trên đại học chiếm tới 13,2%, điều kiện học tập khó khăn là trở ngại lớn đối với người nghèo. Trình độ học vấn thấp làm hạn chế khả năng kiếm việc làm trong các khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao và ổn định. Các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu đô thị mới ngày càng phát triển ở khu vực ngoại thành là cơ hội cho người dân sống nơi đây nhưng đồng thời đây cũng là thách thức lớn đối với người nghèo, bởi lẽ do trình độ học vấn thấp họ khó có thể tìm được việc làm tốt hơn trong các khu công nghiệp, khu chế xuất. Nếu tìm được chỗ làm cũng chỉ là lao động phổ thông. Đây là thực tế không chỉ có ở khu vực ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh mà là một thực trạng phổ biến trong cả nước. 3. Nguyên nhân về nhân khẩu học Quy mô hộ gia đình là “mẫu số” quan trọng có ảnh hưởng đến mức thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ. Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của nghèo đói. Tỷ lệ sinh con trong các hộ gia đình nghèo và khu vực nông thôn thường là rất cao. Đông con là một trong những đặc trưng nổi bậc của các hộ gia đình nghèo. Tỷ lệ sinh của khu vực ngoại thành năm 2000 là 19,00/00 trong khi đó ở các quận nội thành thì tỷ lệ này là 16,80/00. Năm 2002 tỷ lệ này tương ứng ở ngoại thành thành là 17,20/00 và nội thành là 16,30/00. Nhân khẩu bình quân ở ngoại thành cao hơn nội thành, ngoại thành bình quân 4,69 người/hộ, nội thành là 4,63 người/hộ(2). Một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sinh cao trong các hộ sống ở nông thôn mà đặc biệt là những hộ nghèo là do họ không có kiến thức cũng như điều kiện tiếp cận với các biện pháp sức khỏe sinh sản. Tỷ lệ phụ nữ nghèo đặt vòng tránh thai thấp, tỷ lệ nam giới nhận thức chưa đầy đủ trách nhiệm kế hoạch hóa gia đình và sử dụng biện pháp tránh thai chưa cao. Mức độ hiểu biết của các cặp vợ chồng nghèo về vệ sinh, an toàn tình dục, cũng như mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói, sức khỏe sinh sản và gia tăng nhân khẩu còn hạn chế. Dân số tăng nhanh, quy mô gia đình nhiều con ở khu vực ngoại thành là áp lực lớn đối với vấn đề giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo đồng thời tỷ lệ người ăn theo cao trong các hộ nghèo chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói của họ. Gần đây nhiều cuộc điều tra kinh tế xã hội cho thấy, bên cạnh do sự tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội, tốc độ gia tăng dân số nhanh cũng như số con đông trong mỗi gia đình trở thành một lực cản cho vấn đề xóa đói giảm nghèo ở cấp quốc gia, địa phương cũng như trong từng hộ gia đình. 4. Đặc điểm tự nhiên và cơ cấu sản xuất: Do đặc điểm tự nhiên của khu vực nông thôn nói chung và ở ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh nói riêng chủ yếu là sản xuất nông nghiệp truyền thống, công nghiệp chưa có điều kiện phát triển mạnh và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm. Trong những năm gần điều kiện kết cấu hạ tầng ở khu vực nông thôn ngoại thành thành phố Hồ

Chí Minh có cải thiện nhưng chưa thật sự trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế đã không phát huy hiệu quả những chính sách về xóa đói giảm nghèo của chính quyền thành phố. Thực tiễn cho thấy, điều kiện giao thông nông thôn nơi nào không thông suốt, nơi đó sẽ có một nền kinh tế - xã hội “ốm yếu”, ngược lại giao thông nông thôn thông suốt sẽ tạo thuận lợi cho sản phẩm nông nghiệp được tiếp cận với thị trường, từ đó nâng cao đời sống người dân nói chung và đăc biệt là góp phần xóa đói giảm nghèo. Mặt khác, điều kiện tự nhiên của khu vực nông thôn ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh so với những nơi khác có nhiều thuận lợi hơn, tuy nhiên người nghèo ở khu vực này khả năng tiếp cận được những dịch vụ, sản phẩm, thị trường,...cũng khó khăn hơn, khả năng thoát khỏi cảnh nghèo đói của họ trở nên phức tạp hơn. Do điều kiện tự nhiên không thuận lợi như ở nội thành, việc đào tạo nguồn nhân lực hay quá trình thoát khỏi cảnh nghèo khổ từ việc nâng cao nguồn nhân lực cũng khó khăn, mọi chi phí đều cao hơn so với khu vực thành thị, hàng hóa của họ sản xuất ra kém sức cạnh tranh do quá trình vận chuyển. Nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác, các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày và những biến động bất thường xảy ra. Đa số người nghèo của khu vực này sống bằng nghề nông nên dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai, điều kiện thời tiết không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, khả năng đối phó và khắc phục rủi ro này của người nghèo rất kém do nguồn thu nhập thấp, bấp bênh và khả năng tích lũy kém nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, thiên tai, mất nguồn lao động, mất sức khỏe,...). Với năng lực kinh tế mong manh của các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn trong cuộc sống của họ và tất nhiên người nghèo thì càng nghèo hơn. Ngoài ra, người nghèo chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, năng suất thấp do không có trình độ để áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất. Khả năng nâng cao năng suất là rất khó khăn trong khi do áp lực của đô thị hóa ngày càng mạnh, diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp. Khu vực ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh không chỉ giải quyết đối với những người nghèo tại địa phương mà còn phải hứng chịu dòng người nhập cư ở nơi khác đến vốn dĩ là người nghèo không có việc làm ổn định. Do người nghèo ở khu vực này chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, trong khi giá nông sản có xu hướng không tăng hoặc tăng chậm hơn so với giá các sản phẩm công nghiệp, nên cánh kéo về giá cả sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp ngày càng doãn ra đã tác động tiêu cực đến mức sống của người nghèo. 5. Những tác động của chính sách vĩ mô đến người nghèo Thành phố Hồ Chí Minh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời gian qua và đây là một trong những nhân tố có ảnh hưởng tích cực đến chương trình xóa đói giảm nghèo của thành phố, tuy nhiên do quá trình phát triển và mở cửa nền kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tác động tiêu cực đến người nghèo. Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn còn thấp. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản ngành nông lâm thủy sản của thành phố năm 2003 chỉ chiếm 0,64% trong tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn và chỉ chiếm 1% trong tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách địa phương. Chưa chú ý đến các ngành công nghiệp chế biến có quy mô nhỏ ở khu vực nông thôn, thu hút nhiều lao động. Tăng trưởng kinh tế giúp xóa đói giảm nghèo trên diện rộng, song cải thiện tình trạng của người nghèo (về thu nhập, khả năng tiếp cận

thị trường, khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực,...) lại phụ thuộc vào loại hình tăng trưởng kinh tế. Việc phân phối lợi ích tăng trưởng trong các nhóm dân cư gồm cả các nhóm thu nhập phụ thuộc vào đặc tính của tăng trưởng chưa hợp lý. Thông thường, người giàu hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế nhiều hơn những người nghèo và như vậy đã làm tăng thêm khoảng cách giàu nghèo giữa nội thành và ngoại thành là điều khó tránh khỏi. 6. Bất bình đẳng về giới, bệnh tật và sức khỏe kém cũng là yếu tố đẩy con người vào tình trạng nghèo đói trầm trọng. Bất bình đẳng về giới làm sâu sắc hơn tình trạng nghèo đói trên tất cả các mặt. Ngoài những bất công mà cá nhân phụ nữ và trẻ em gái phải gánh chịu do bất bình đẳng thì còn những tác động bất lợi đối với gia đình. Phụ nữ chiếm gần 50% trong tổng số lao động nông nghiệp, trong khi đó chỉ có khoảng ¼ phụ nữ tham gia các lớp tập huấn về kỹ thuật nông nghiệp. Phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng và đào tạo, thường gặp nhiều khó khăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyền quyết định trong hộ gia đình và thường được trả công thấp hơn nam giới cho cùng một công việc. Theo UNDP trong tổng số 1,4 tỷ người nghèo trên thế giới thì có đến 70% là phụ nữ. Mặt khác, phụ nữ có trình độ học vấn thấp dẫn tới tỷ lệ tử vong ở trẻ em, trẻ sơ sinh cao và khả năng cho con em độ tuổi đi học đến trường ở vùng ngoại thành bao giờ cũng thấp hơn khu vực nội thành. Bất bình đẳng giới còn là yếu tố làm gia tăng tỷ lệ sinh, đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đói nghèo của các hộ nông dân ở khu vực ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh. Vấn đề bệnh tật và sức khỏe kém ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, chi tiêu và việc làm của người nghèo bởi các lý do sau: Thứ nhất, mất đi thu nhập thường xuyên từ lao động của họ. Thứ hai, chịu chi phí cao một cách tương đối (so với thu nhập) cho khám, chữa bệnh bao gồm chi phí trực tiếp và gián tiếp. Do đó, chi phí khám chữa bệnh là gánh nặng đối với người nghèo, họ có thu nhập thấp nên việc tích lũy coi như không có gì hoặc rất ít, để có tiền trang trải cho việc chữa bệnh buộc họ phải đi vay mượn, cầm cố tài sản, dẫn đến khả năng thoát khỏi vòng nghèo đói là rất ít. Vấn đề y tế và cung cấp nước sạch cho người nghèo cũng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng nói chung và đối với người nghèo nói riêng, hiện nay ở huyện Cần Giờ có khoảng 20% dân số chưa có nước sạch để sử dụng. Do vậy, cải thiện điều kiện sức khỏe cho người nghèo là một trong những yếu tố đảm bảo cho họ thoát nghèo. Để thực hiện được mục tiêu nâng cao mức sống của người dân nói chung cũng như xóa đói giảm nghèo, tiếp tục phát huy ba vấn đề được đánh giá là chìa khóa thành công 10trong chương trình xóa đói giảm nghèo của thành phố là: trợ vốn cho xóa đói giảm nghèo; có phương hướng trợ vốn và các chính sách ưu đãi cho người nghèo. Đồng thời khắc phục những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo nêu trên, chính quyền thành phố Hồ Chí Minh cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp cơ bản sau đây: Thứ nhất, cần nhận thức quá trình đô thị hóa có tính hai mặt, do vậy trong quá trình quản lý đô thị cần phải cân nhắc một cách thận trọng mang tầm chiến lược, đảm bảo có quy hoạch, có sự kiểm soát chặt chẽ, có hệ thống chứ không phải tự phát như hiện nay. Mặt

khác, cần thấy rằng quá trình đô thị hóa là một tất yếu khách quan, phù hợp với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, đây là yếu tố thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, để khắc phục mặt tiêu cực của quá trình đô thị hóa, chính quyền thành phố cần phải có quy hoạch cụ thể khi thực hiện các dự án sử dụng đất nông nghiệp để từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Có cơ cấu đầu tư hợp lý cho phát triển nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là cho đối tượng người nghèo để họ tự nâng cao năng lực sản xuất của mình, đây là cơ sở để họ tự thoát khỏi đói nghèo. Thứ hai, tăng cường đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn, đặc biệt là con em của những gia đình sản xuất nông nghiệp nằm trong trong khu vực quy hoạch, giải tỏa để thực hiện dự án nào đó. Nếu làm không tốt việc đào tạo nghề và tạo việc làm cho đối tượng này thì đây chính là nguy cơ tìm ẩn dẫn đến đói nghèo, bởi vì họ không có đất để sản xuất nông nghiệp, không có việc làm ổn định và thất nghiệp dẫn đến thu nhập thấp, đây chính là bạn đồng hành của sự đói nghèo. Làm tốt khâu dạy nghề cho thanh niên nông thôn sẽ giảm áp lực dân số tăng nhanh ở khu vực nội thành, người nghèo không bỏ nông thôn ra thành thị để kiếm việc làm. Đây là giải pháp có tính quyết định giúp cho người nghèo tự thoát khỏi vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói. Thứ ba, tuyên truyền giáo dục cho người nghèo tác dụng của vấn đề kế hóa gia đình, đặc biệt là phụ nữ nghèo, khuyến khích bằng hiện vật cho những gia đình sinh ít con, giáo dục cho họ ý thức tự vươn lên chính mình, có ý chí làm giàu, vì đây có thể nói là bản chất cố hữu của người nông dân. Nhà nước có chế độ chính sách, chương trình cụ thể để chăm sóc sức khỏe cho người nghèo. Thứ tư, cung cấp thông tin về thị trường nông sản cho người dân, hỗ trợ kỹ thuật nông nghiệp để giúp những nông dân nghèo nâng cao giá trị sản lượng trên một đơn vị diện tích đất canh tác. Đầu tư cơ sở hạ tầng làng nghề truyền thống và cung cấp thông tin để phát triển và mở mang các làng nghề. Hỗ trợ đối tượng người nghèo chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi đáp ứng yêu cầu của thị trường. Thứ năm, sử dụng một cách có hiệu quả các dự án tài trợ của Nhà nước cho người nghèo, xác định đúng đối tượng được hưởng lợi từ những dự án đó nhằm phát huy tác dụng của các chương trình xóa đói giảm nghèo. Cân nhắc kỹ lưỡng các chính sách đối với người nghèo, người nghèo phải là đối tượng được hưởng lợi từ sự tăng tưởng kinh tế để thu dần khoảng cách giàu nghèo, bất bình đẳng trong xã hội, tuy nhiên không làm triệt tiêu động lực của các tầng lớp khác, các chính sách đó phải được đặt trong mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội. Mở rộng khả năng người nghèo tiếp cận dịch vụ tài ch Người nghèo trong các khu dân cư nằm ngoài khu vực đô thị sẽ được tặng 7 triệu đồng và cho vay thêm 8 triệu đồng với lãi suất ưu đãi để xây nhà. > Người nghèo mòn mỏi chờ nhà giá rẻ / Địa phương không 'mặn mà' xây dựng nhà ở xã hội Thông tin này được Thứ trưởng Xây dựng Nguyễn Trần Nam cho biết chiều 21/5. Theo ông Nam, Bộ vừa trình Thủ tướng đề án Hỗ trợ nhà ở cho người nghèo.

Theo đó, mỗi gia đình nằm trong diện nghèo sẽ được hỗ trợ để có một ngôi nhà rộng 24m2. Những hộ được địa phương xét duyệt sẽ được cấp không 7 triệu đồng và được vay vốn ưu đãi của ngân hàng chính sách xã hội 8 triệu đồng. Các hộ vùng sâu, xa sẽ được hỗ trợ thêm một triệu đồng. Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam cho biết, tổng kinh phí cho đề án này là 10.000 tỷ đồng. Một nửa kinh phí Chính phủ sẽ cấp không, phần còn lại do hệ thống ngân hàng chính sách xã hội cho vay với lãi suất ưu đãi.

Hiện vẫn còn nhiều ngôi nhà ở vào tình trạng này. Ảnh: Khánh Chi. Cùng với đề án này, Bộ Xây dựng cũng đang chuẩn bị đề án xây dựng quỹ đầu tư nhà ở xã hội với mục tiêu tạo dựng quỹ nhà bằng vốn ngân sách nhà nước, khuyến khích các tỉnh chủ động đầu tư xây dựng để tạo quỹ nhà. Nhà nước sẽ bỏ tiền làm nhà cho các công chức nghèo, người nghèo, lực lượng vũ trang thuê, mua... Dự kiến, đề án xây dựng quỹ đầu tư nhà ở xã hội sẽ được trình Chính phủ trong tháng 6.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->