P. 1
Bao Cao Kien Tap Hoan Chinh

Bao Cao Kien Tap Hoan Chinh

|Views: 925|Likes:
Được xuất bản bởitrangnew

More info:

Published by: trangnew on Aug 20, 2010
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

07/12/2013

pdf

text

original

LỜI MỞ ĐẦU Theo quy định trong điều 14 Quy chế 25 của trường Đại học Ngoại thương

về việc thực tập giữa khóa của sinh viên, em đã liên hệ và được nhận thực tập tại Phòng Thanh toán quốc tế của Sở Giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam trong khoảng thời gian từ 29/6/2009 đến 31/7/2009. Trong quá trình học tập tại nhà trường cũng như trong 5 tuần thực tập tại Phòng Thanh toán của Sở Giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, em nhận thấy việc thanh toán các hợp đồng xuất nhập khẩu bằng phương pháp tín dụng chứng từ (L/C) là rất phổ biến, và được các bên tin tưởng áp dụng. Mặt khác, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam là ngân hàng có uy tín hàng đầu và đã có hơn 45 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực này tại Việt Nam và nhận được rất nhiều sự tín nhiệm từ phía khách hàng. Chính vì thế, em đã chọn đề tài “Hoạt động thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ tại Sở Giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam trong thời gian qua”. Bài báo cáo gồm 3 phần chính: Chương I : Khái quát về Sở Giao dịch Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam Chương II : Tình hình thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại Sở Giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Chương III : Một số đề xuất nhằm phát triển hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại Sở Giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình về mặt tài liệu cũng như ý kiến đóng góp của cán bộ Phòng Thanh toán quốc tế - Sở Giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, sự hướng dẫn tận tình của chị Nguyễn Thu Phương. Và xin đặc biệt cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn: ThS. Trần Thu Trang đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành bài báo cáo này.

1

CHƯƠNG I

KHÁI QUÁT VỀ SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 1. Lịch sử hình thành Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam a) Lịch sử hình thành Sở Giao dịch Ngân hàng thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam là đơn vị trực thuộc Ngân hàng thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank). Sở Giao dịch Vietcombank được thành lập theo quyết định số 1215/QĐ-NHNT-TCCB-ĐT ngày 28/12/2005 và hoạt động theo Quyết định số 1234/QĐ-NHNT-TCCB-ĐT ngày 30/12/2005. Lúc đó, Sở Giao dịch trực thuộc Hội Sở chính của Vietcombank. Tháng 5/2006, Sở Giao dịch Vietcombank tách ra hoạt động như một đơn vị độc lập so với Hội Sở chính. Đến ngày 05/06/2008 Sở Giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được chuyển đổi thành Sở Giao dịch Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam theo Quyết định số 431/QĐNHNT-TCCB-ĐT ngày 05/6/2008 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng cổ phần thương mại Ngoại thương Việt Nam. Như vậy, Sở Giao dịch là một chi nhánh của Vietcombank và không có tư cách pháp nhân, được Vietcombank ủy quyền, kinh doanh trên các lĩnh vực được phép. Từ khi thành lập cho đến nay, Sở Giao dịch Vietcombank luôn khẳng định được vị thế “anh cả” trong đại gia đình Vietcombank. Không chỉ hoạt động như một chi nhánh của Vietcombank với thị phần lớn trong nhiều lĩnh vực tại Hà Nội, Sở Giao dịch còn là nơi tiên phong thực hiện các chủ trương chính sách của Vietcombank, đi đầu trong việc thử nghiệm và triển khai các sản phẩm mới cũng như thực hiện một số nghiệp vụ đặc thù khác. Trong thời gian qua, Sở Giao dịch luôn là đơn vị dẫn đầu trong toàn hệ thống

2

Vietcombank về quy mô huy động vốn, ngay cả trong những thời điểm̀ công tác huy động vốn gặp nhiều khó khăn. b) Chức năng và nhiệm vụ Theo Quy chế tổ chức và hoạt động thuộc Quyết định số 1234/QĐNHNT-TCCB-ĐT ngày 30/12/2005, Sở Giao dịch có những chức năng sau: - Huy động vốn - Cho vay - Vay nợ viện trợ - Dịch vụ hối đoái và dịch vụ thẻ - Bảo lãnh
-

Dịch vụ thanh toán gồm có thanh toán quốc tế và thanh toán nội địa.

- Xét duyệt cho vay, kiểm tra xử lý
-

Chiết khấu và cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác

- Các hoạt động khác Tuy nhiên, Sở Giao dịch không được phép tham gia vào lĩnh vực kinh doanh chứng khoán và thị trường tiền tệ liên ngân hàng trừ khi được sự cho phép của Ngân hàng Ngoại thương trung ương. 2. Cơ cấu tổ chức của Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam Theo quyết định số 1235/QĐ-NHNT-TCCB ngày 30/12/2005 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, cơ cấu tổ chức hoạt động của Sở giao dịch Vietcombank như sơ đồ sau:

3

GIÁM ĐỐC SGD

PHÓ GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC

CÁC PHÒNG GIAO DỊCH

CÁC PHÒNG NGHIỆP VỤ

PHÒNG KẾ TOÁN

PHÒNG TÍN DỤNG

PHÒNG THANH TOÁN

PHÒNG BẢO LÃNH

PHÒNG VAY NỢ VIỆN TRỢ

PHÒNG THẺ

PHÒNG KINH DOANH NGOẠI HỐI

Nguồn: Phòng Tổ chức Sở Giao dịch Vietcombank

Hiện Giám đốc của Sở Giao dịch là Ông Nguyễn Danh Lương phụ trách kinh doanh nói chung và Phòng Tổ chức và Phòng Hành chính. Ba Phó Giám đốc phụ trách 3 mảng kinh doanh khác nhau. Sở giao dịch có 15 Phòng Giao dịch trên địa bàn Hà Nội và các Phòng Nghiệp vụ đặt tại trụ sở chính số 2 phố Ngô Quyền, Hà Nội. Khách hàng đến yêu cầu tại Phòng Giao dịch và tùy chính chất mà các giao dịch đó sẽ được chuyển lên Phòng Nghiệp vụ tương ứng để giải quyết. Mỗi Phòng Giao dịch có 10 nhân viên; các Phòng Nghiệp vụ 10-15 người. Riêng Phòng Thanh toán quốc tế có hơn 40 người do 2 phòng : Phòng Thanh toán xuất khẩu và Phòng Thanh toán nhập khẩu đã sáp nhập lại thành một. Tổng số nhân viên của Sở giao dịch là 307 người, hầu hết đều có trình độ từ đại học trở lên. 3. Tình hình kinh doanh của Sở giao dịch trong thời gian qua a) Tình hình chung Các mảng kinh doanh chính của Sở giao dịch Vietcombank là huy động vốn, cho vay, vay nợ viện trợ, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối

4

và dịch vụ thẻ. Tình hình kinh doanh nói chung của Sở Giao dịch được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1: Kết quả kinh doanh của Sở giao dịch Vietcombank 2006-2008 Đơn vị: tỷ đồng

2006 Thứ tự Chỉ tiêu Số tiền 1 2 3 4 Tổng doanh thu Tổng chi Lợi nhuận trước thuế Lợi nhuận sau thuế 2668,32 1894,82 773,50 572,4 Số tiền 3051,57 2226,24 825,33 594,28

2007 Tăng giảm (%) 14.36 17,5 6,7 3,8 Số tiền 3686,01 3008,00 678,01 488,17

2008 Tăng giảm (%) 20,8 48,6 - 17,85 -17,85

Nguồn: Phòng Kế hoạch Sở Giao dịch Vietcombank

Từ bảng trên ta thấy, tổng doanh thu của Sở Giao dịch liên tục tăng trong 3 năm gần đây với tốc độ trên hai con số. Mặt khác, tổng chi cũng tăng mạnh từ 1894,82 tỷ đồng năm 2006 lên 3008,00 tỷ đồng năm 2008, tăng gần gấp đôi. Điều đó cho thấy Sở giao dịch đang tích cực mở rộng kinh doanh sau khi đã ổn định tổ chức và hoạt động. Lợi nhuận trước và sau thuế của Sở giao dịch năm 2007 đều tăng so với năm 2006. Tuy nhiên do khủng hoảng kinh tế thế giới nên năm 2008, lợi nhuận giảm 17,85% so với năm 2007. Nguyên nhân chính của sự sụt giảm này là do hầu hết các ngân hàng đều gặp phải rất nhiều khó khăn trong bối cảnh thị trường tài chính có nhiều biến động vào năm 2008. b) Tình hình cụ thể Tình hình các mảng kinh doanh chính của Sở Giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được trình bày cụ thể dưới đây :

5

- Huy động vốn
Bảng 2: Kết quả huy động vốn của Sở giao dịch Vietcombank 2006-2008 Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu Tổng giá trị huy động vốn (tỷ đồng) Tỷ lệ tăng trưởng vốn huy động (%) 2006 33088,21 24,00 2007 38779,38 17,20 2008 43359,22 11,81

Nguồn: Phòng Kế hoạch Sở Giao dịch Vietcombank Từ đầu năm 2006 đến nay, công tác huy động vốn của Sở Giao dịch Vietcombank khá tốt. Nguồn vốn huy động từ nền kinh tế năm 2007 đạt 38779,38 tỷ đồng và năm 2008 con số này lên tới 43359,22 tỷ đồng. Như vậy trong 3 năm qua, tốc độ tăng trưởng huy động vốn luôn đạt trên hai con số, mặc dù tốc độ có giảm sút do tình hình kinh tế bất lợi. - Hoạt động cho vay
Bảng 3: Kết quả hoạt động tín dụng của Sở giao dịch 2006-2008 Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu Tổng dư nợ cho vay (tỷ VNĐ) Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay (%) Dư nợ cho vay theo kì hạn (tỷ VNĐ) Cho vay ngắn hạn Cho vay trung và dài hạn Cho vay đồng tại trợ 1637,48 414,10 311,99 2480,50 610,25 312,79 3081,13 764,58 628,13 2006 2263,57 23,18 2007 3403,54 44,00 2008 4473,84 31,45

6

Dư nợ cho vay theo loại tiền (tỷ VNĐ) VND USD 779,03 1584,54 1149,72 2253,82 1495,60 2978,24

Nguồn: Phòng Kế hoạch Sở Giao dịch Vietcombank

Hoạt động cho vay của Sở giao dịch Vietcombank đối với khách hàng luôn tăng trưởng trong 3 năm qua. Tốc độ tăng dư nợ luôn tăng trưởng trên 20%, đặc biệt năm 2007 đạt 44%. Mặc dù năm 2008 có giảm sút nhưng vẫn ở mức cao. Trong cơ cấu nợ, cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng hơn 2/3. Điều đó cho thấy các khoản nợ đến hạn có thể đảm bảo được tính thanh khoản cho Sở giao dịch khi cần thiết. Dư nợ cho vay theo USD trong 3 năm qua cao gấp 2 lần dư nợ cho vay theo VNĐ. - Vay nợ viện trợ
Bảng 4: Kết quả hoạt động vay nợ viện trợ của Sở giao dịch 2006-2008

Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu Tổng kim ngạch (tỷ đồng) Tăng trưởng (%) 2006 0,99 12% 2007 1,18 + 19% 2008 0,91 -22,9%

Nguồn: Phòng Kế hoạch Sở Giao dịch Vietcombank

Năm 2007, hoạt động mảng vay nợ viện trợ của Sở giao dịch Vietcombank bao gồm hoạt động nhận viện trợ, thực hiện giải ngân nguồn vốn viện trợ ODA cũng như các khoản đầu tư FDI từ nước ngoàivà hoạt động cho vay đối với các thể nhân nước ngoài . Tổng kim ngạch đạt 1,18 tỷ đồng và mức tăng trưởng là 19% so với năm 2006. Đây là năm mà Sở giao dịch thu xong nợ cho vay vốn ủy thác đầu tư Ấn Độ và được giao làm ngân hàng dịch vụ cho 25 dự án mới. Tuy nhiên năm 2008, doanh số nhận viện trợ và rút vốn giải ngân các khoản viện trợ Chính phủ tại Sở giao dịch giảm mạnh do việc rút vốn giải ngân nguồn viện trợ ODA chậm và hiện các dự án viện trợ không hoàn lại

7

được giao trực tiếp xuống các địa phương nên các nhà tài trợ trực tiếp quản lý vốn và giải ngân cho địa phương mà không thông qua ngân hàng phục vụ nữa. Vì thế, kim ngạch vay nợ viện trợ chỉ đạt 0,91 tỷ đồng, giảm 22,9% so với năm 2007.

- Thanh toán quốc tế
Bảng 5: Kết quả thanh toán quốc tế của Sở giao dịch 2006-2008 Đơn vị: Tỷ đồng Chỉ tiêu Doanh số 2006 Tăng trưởng (%) Thanh toán xuất khẩu Thanh toán nhập khẩu 728,64 3376,84 26,47 5,17 921,74 3651,96 26,50 8,15 1268,85 3984,67 Doanh số 2007 Tăng trưởng Doanh số 2008 Tăng trưởng (%) 37,65 9,11

Nguồn: Phòng Kế hoạch Sở giao dịkch Vietcombank

Hoạt động thanh toán quốc tế phát triển khá trong 3 năm qua. Nhìn vào bảng ta thấy, doanh số thanh toán nhập khẩu luôn cao hơn doanh số thanh toán xuất khẩu. Sự chênh lệch này phản ánh tình trạng nhập siêu của nước ta trong thừoi gian qua. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng doanh số của bộ phận thanh toán xuất khẩu cao hơn thanh toán nhập khẩu rất nhiều, luôn ở mức hai con số. Điều đó cho thấy sự cải thiện trong cơ cấu thanh toán xuất khẩu so với nhập khẩu. - Các mảng khác: Hoạt động bảo lãnh tại Sở giao dịch Vietcombank luôn bảo đảm an toàn và không phát sinh các khoản nợ quá hạn. Bảo lãnh trong nước chiếm 87,23% doanh số phát hành bảo lãnh tại Sở giao dịch và bảo lãnh nước ngoài

8

chiếm 12,77% và chủ yếu là bảo lãnh trên cơ sở bảo lãnh đối ứng. Số dư bảo lãnh của Sở giao dịch ước đạt 1535,82 tỷ VNĐ, hoàn thành 104% kế hoạch. Dịch vụ hối đoái năm 2007 tăng đáng kể so với năm 2006. Lượng kiều hối chuyển về với doanh số chi trả kiều hối đạt khoảng 30 triệu USD và tăng 12% với khoảng 30000 giao dịch. Đặc biệt năm 2008, tổng số ngoại tệ bán phục vụ nhập khẩu xăng dầu là 360,78 triệu USD và tại những thời điểm khó khăn về nguồn ngoại tệ, Sở giao dịch cũng đã hỗ trợ bán ngoại tệ cho một số khách hàng của các chi nhánh Vietcombank khác trên cùng địa bàn. Dịch vụ thẻ của Sở giao dịch trong thời gian qua cũng trên đang đà phát triển. Số lượng thẻ ATM phát hành và doanh số hoạt động của thẻ ATM năm 2007 tăng mạnh, tương ứng là 24,47% và 51,58% do có chủ trương chi trả lương qua tài khoản từ năm 2008. Năm 2008, tình hình kinh doanh thẻ cũng phát triển khá ổn định.

9

CHƯƠNG II

TÌNH HÌNH THANH TOÁN BẰNG TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 1. Tinh hình thanh toán hàng xuất khẩu bằng tín dụng chứng từ a. Quy trình thanh toán hàng xuất khẩu bằng tín dụng chứng từ Trong nghiệp vụ này Sở giao dịch Vietcombank thực hiện chức năng là Ngân hàng thông báo toàn bộ nghiệp vụ do phòng thanh toán xuất đảm nhận được chia thành hai mảng - Thông báo L/C, thông báo sửa L/C - Tiếp nhận, kiểm tra, gửi chứng từ và đòi tiền Có thể khái quát nghiệp vụ thanh toán L/C hàng xuất qua sơ đồ dưới đây (2)
Nhà xuất khẩu

(3 ) (6)

Bộ phận nhận chứng từ

(1) (3)

Phụ trách thanh toán

(1)

(6)

(4)
Trưởng phòng kiểm soát

Ngân hàng nước ngoài

(5)

* Nhận và thông báo L/C, thông báo sửa L/C

10

(1) L/C sau khi mở được chuyển sang Ngân hàng thông báo, bộ phận chứng từ làm nhiệm vụ tiếp nhận và kiểm tra xác nhận mã và chữ ký đúng. Trường hợp L/C chưa có xác nhận mã mẫu hoặc chữ ký, thanh toán viên phải thông báo ngay cho Ngân hàng mở L/C biết. Sau khi kiểm tra xác nhận mã mẫu chữ ký đúng, thanh toán viên lập thông báo theo mẫu điện hoặc mẫu quy định gửi khách hàng. (2) Sau khi kiểm tra thanh toán viên tiến hành lập hồ sơ và ghi vào sổ thanh toán, đưa số liệu vào máy vi tính và gửi thông báo cho khách hàng. Ngân hàng nhận được L/C như thế nào thì báo bằng văn bản y như thế, đảm bảo tính chân thực bề ngoài của việc xác báo này. (3) Trường hợp nhận được điện của các Ngân hàng đại lý ghi rõ các chi tiết đầy đủ gửi sau, hay một câu có nội dung tương tự, trên thông báo gửi khách hàng phải ghi rõ “Thông báo sơ bộ, chưa có hiệu lực thi hành” khi nhận được bản L/C hoặc sửa đổi chi tiết, thanh toán viên phải kiểm tra xác nhận mã, mẫu điện thoại hoặc mẫu chữ ký quy định ở trên. (4) Trường hợp Sở Giao dịch Vietcombank nhận thông báo sửa đổi L/C khi nhận được sửa đổi L/C nếu Ngân hàng mở L/C yêu cầu thông báo lại ý kiến của khách hàng về việc sửa đổi đó, khi nhận được trả lời phải thông báo ngay cho Ngân hàng mở L/C biết. Sở giao dịch Vietcombank sẽ không thông báo sử đổi L/C nếu nó không phải Ngân hàng thông báo gốc, đồng thời thông báo ngay cho Ngân hàng mở L/C về việc không thông báo đó. Trường hợp Ngân hàng mở yêu cầu Sở giao dịch Vietcombank xác nhận L/C, tuỳ từng trường hợp Giám đốc chi nhánh xem xét việc xác nhận hoặc không xác nhận, yêu cầu Ngân hàng mở L/C ký quỹ hoặc không ký quỹ. (5) Sau khi kiểm tra chứng từ, bộ chứng từ được gửi đi đòi tiền có hai trường hợp xảy ra:

11

Trường hợp 1: Nếu chứng từ phù hợp với L/C: L/C có thể cho phép đòi tiền bằng điện hoặc đòi tiền bằng thư. Đòi tiền bằng thư phải theo mẫu quy định đòi tiền bằng điện phải sử dụng các mẫu điện thích hợp và nội dung phải ghi đầy đủ như mẫu thư đòi tiền bằng thư. Đối với L/C cho phép đòi tiền bằng điện tránh thực hiện hai lần. Trường hợp 2: Chứng từ không phù hợp với L/C Đối với các chứng từ sai sót không nghiêm trọng có thể sửa đổi được thì báo ngay cho đơn vị xuất khẩu biết để sửa chữa. Đối với những chứng từ sai sót mà khách hàng không thể sửa chữa được trên thư hoặc điện đòi tiền Ngân hàng nước ngoài phải nêu rõ các điểm không phù hợp và chỉ trả tiền nếu được chấp nhận. Nếu quá 7 ngày kể từ ngày điện đòi tiền, 10 ngày kể từ ngày gửi chứng từ (đòi tiền bằng thư) mà không nhận được báo có, thanh toán viên phải điện nhắc Ngân hàng trả tiền. Đối với các bộ chứng từ không phù hợp điện yêu cầu họ về việc chấp nhận trả tiền. (6) Khi nhận được điện hoặc thư báo có của Ngân hàng nước ngoài, thanh toán hạch toán tiền hàng: Hiện nay Vietcombank đang áp dụng ba hình thức thanh toán: Thanh toán khi nhận được báo có là việc Ngân hàng thanh toán tiền hàng cho đơn vị xuất khẩu chỉ khi Ngân hàng nước ngoài chấp nhận việc trả tiền ngay hoặc đã ghi có cho tài khoản Vietcombank. Đây là hình thức được sử dụng nhiêu nhất hiện nay ở Vietcombank. Chiết khấu miễn truy đòi là việc Ngân hàng mua đứt bộ chứng từ và chịu rủi ro trong việc đòi tiền nước ngoài. Chiết khấu truy đòi là việc Ngân hàng chiết khấu chứng từ, nếu nước ngoài từ chối thanh toán chứng từ thì Ngân hàng truy đòi khách hàng.

12

- Số tiền chiết khấu luôn dưới 100% trị giá hoá đơn (tối đa là 98% trị giá hoá đơn). Thực chất đây là nghiệp vụ ứng trước tiền hàng hay cho vay thế chấp L/C chứ chưa phải mua đứt chứng từ. Bởi vì trong trường hợp Ngân hàng chiết khấu 98% trị giá bộ chứng từ, khi Ngân hàng nước ngoài trả tiền VietcomBank sẽ trả 2% còn lại và chỉ thu lãi số tiền ứng trước. Trường hợp chứng từ xuất trình có sai sót không nghiêm trọng so với điền kiện, điều khoản L/C, khách hàng yêu cầu chiết khấu truy đòi, Giám đốc chi nhánh căn cứ vào từng trường hợp cụ thể xem xét giải quyết và trị giá chiết khấu không vượt quá 90% trị giá chứng từ. Đối với các bộ chứng từ chiết khấu truy đòi, trong vòng 60 ngày kể từ ngày VietcomBank gửi chứng đòi tiền mà không nhận được thông báo trả tiền của nước ngoài, Ngân hàng được tự động ghi nợ tài khoản của khách hàng. Nếu trên tài khoản của khách hàng không có tiền thì trong vòng 07 ngày làm việc Ngân hàng sẽ chuyển số tiền đã chiết khấu sang nợ quá hạn và xử lý như với trường hợp cho vay quá hạn, cam kết của khách hàng được ghi trên thư yêu cầu thanh toán. Trường hợp Ngân hàng mở từ chối thanh toán chứng từ, thanh toán viên phải xác minh lại lý do nước ngoài tự chối thanh toán đồng thời báo cho Ngân hàng. Mặt khác phải điện phản hồi Ngân hàng nước ngoài nếu lý do từ chối thanh toán không xác đáng. b. Kết quả kinh doanh Hoạt động thanh toán hàng xuất khẩu của Sở Giao dịch Vietcombank được chia làm 4 mảng chính:
-

Thông báo L/C Xuất trình chứng từ Chiết khấu chứng từ

13

-

Thanh toán L/C Tình hình hoạt động thanh toán xuất khẩu bằng L/C được thể hiện ở

bảng sau:

Bảng 6: Kết quả hoạt động thanh toán xuất khẩu của Sở giao dịch Vietcombank giai đoạn 2006-2008 Đơn vi: trUSD Chỉ tiêu 2006 Số món/ Tăng doanh số trưởng(%) Thông báo L/C Số món Doanh số Xuất trình chứng từ Số món Doanh số Chiết khấu chứng từ Số món Doanh số Thanh toán L/C Số món Doanh số 2599 271,89 -6,24 13,42 2341 318,34 -9,93 17,08 1876 425,38 -19,86 33,62 72 7,53 2,86 9,29 65 7,74 -9,72 2,79 47 6,84 -27,69 -11,63 2963 256,45 -5,52 14,33 2627 305,99 -11,34 19,32 2146 397,75 -18,31 29,99 2342 212,77 -6,23 29,54 2126 289,67 -9,22 36,14 1879 438,88 -11.62 51,51 2007 Số món/ doanh số Tăng trưởng(%) Số món/ doanh số 2008 Tăng trưởng(%)

14

Nguồn: Báo cáo Tổng hợp Phòng Thanh toán Xuất khẩu Sở Giao dịch Vietcombank

Nhìn vào bảng trên ta thấy có một đặc điểm chung ở cả 4 mục chính của thanh toán xuất khẩu. Đó là số món có xu hướng giảm sút trong 3 năm trở lại đây, tuy nhiên doanh số lại tăng lên một cách đều đặn. Điều đó chứng tỏ giá trị trung bình/món tăng dần theo thời gian. Một điểm đáng lưu ý nữa là ở mục thông báo L/C, xuất trình chứng từ, và thanh toán L/C, tốc độ tăng trưởng cao hơn hẳn so với năm 2007 bất chấp nền kinh tế đang gặp khó khăn. Lý giải cho điều này là do khi nền kinh tế chứa đựng nhiều rủi ro thì khách hàng cũng như các đối tác chỉ tin cậy vào những ngân hàng lớn có uy tín cũng như kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực thanh toán. Chính vì thế mà Ngân hàng Ngoại Thương nói chung và Sở giao dịch nói chung rất được khách hàng tin tưởng. Tuy nhiên, doanh số ở mảng chiết khấu chứng từ năm 2008 đi ngược lại xu hướng tăng chung và chỉ đạt mức 6,84 triệu USD tương đương giảm 11,63% so với năm 2007. Nguyên nhân là do một số khách hàng thường xuyên chiết khấu của phòng xuất chuyển về thanh toán và chiết khấu ở Vietcombank Thái Bình, một số khác do giảm doanh số xuất khẩu nên giảm giao dịch tại Sở giao dịch. Từ bảng trên, ta có thể rút ra: 3 mảng thông báo L/C, xuất trình chứng từ và thanh toán L/C không chênh lệch nhau nhiều về số món cũng như về doanh số. Tuy nhiên mảng chiết khấu chứng từ còn khá hạn chế so với 3 mảng còn lại. 2. Tình hình thanh toán hàng nhập khẩu bằng tín dụng chứng từ a. Quy trình thanh toán hàng nhập khẩu bằng tín dụng chứng từ Trong nghiệp vụ này Vietcombank thực hiện chức năng là Ngân hàng mở L/C, đứng ra cam kết trả tiền cho nhà nhập khẩu nước ngoài. Đây là nghiệp vụ

15

tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất cả về thiệt hại tài chính và dễ làm thương tổn đến uy tín của Ngân hàng. Quy trình nghiệp vụ thanh toán hàng nhập khẩu được chia làm hai mảng: Mở, điều chỉnh L/C và ký quỹ Tiếp nhận, kiểm tra chứng từ, giao chứng từ và trả tiền. Quy trình này được khái quát hoá theo sơ đồ dưới đây:
(1) (2)

Người nhập khẩu

Bộ phận nhận chứng từ

Thanh toán viên phụ trách

(4)

(3)
(3)

(4)

Ngân hàng (3) nước ngoài * Mở, điều chỉnh L/C và ký quỹ

(5)

(1) Doanh nghiệp nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng Thương mại đã ký kết với

nhà xuất khẩu nước ngoài, lập thư xin mở L/C và xuất trình cho VietcomBank với đầy đủ các tài liệu: Giấy xin mở L/C; Bản sao hợp đồng Thương mại hoặc điện, Telex giao dịch mua bán...; Uỷ nhiệm chi thanh toán và thủ tục phí; Hợp đồng vay ngoại tệ. (2) Mở L/C: Khi nhận được yêu cầu mở hoặc điều chỉnh L/C của khách hàng thanh toán viên kiểm tra được nội dung theo mẫu quy định của Vietcombank: Kiểm tra nguồn vốn (vốn vay, vốn tự có) và khả năng thanh toán của khách hàng đối với L/C yêu cầu mở để yêu cầu ký quỹ hoặc xem xét điền kiện miễn giảm ký quỹ theo quy định của Giám đốc chi nhánh. Sau khi kiểm tra nếu hợp lệ thanh toán viên lập hồ sơ L/C, đưa số liệu vào máy vi tính theo quy định.

16

Việc mở L/C được thực hiện bằng một trong những phương thức: bằng điện; bằng telex hoặc bằng thư. Sau đó hạch toán tiền ký quỹ và thu thủ tục phí theo biểu phí dịch vụ hiện hành của Vietcombank. Mức ký quỹ của khách hàng từ 0% đến 100% giá trị thanh toán. Nếu khách hàng yêu cầu điều chỉnh L/C mà phí điều chỉnh do người hưởng lợi chịu thì trong điện thư của Ngân hàng thông báo phải nêu rõ: Phí điều chỉnh sẽ được trừ vào tiền hàng khi thanh toán L/C hoặc lập thư đòi phí sau. Đối với các yêu cầu huỷ L/C trong thời hạn hiệu lực L/C: Nếu Ngân hàng thông báo yêu cầu huỷ L/C thì thanh toán viên phải thông báo ngay cho người mua và đề nghị họ trả lời bằng văn bản. Nếu người mua yêu cầu huỷ L/C, căn cứ vào thư yêu cầu của khách hàng, Vietcombank điện báo cho Ngân hàng thông báo biết, trong nội dung điện thông báo phải ghi rõ: trong vòng 07 ngày làm việc nếu không nhận được trả lời thì L/C tự động huỷ. * Tiếp nhận, kiểm tra chứng từ, giao chứng từ, trả tiền. (3) Kiểm tra chứng từ trước khi giao hàng khách hàng. Khi nhận được chứng từ trước khi giao cho khách hàng. Việc kiểm tra này đảm bảo rằng Ngân hàng mở phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện, điều khoản của L/C đồng thời làm tốt vai trò cố vấn cho khách hàng của mình. Cũng giống Ngân hàng thông báo Ngân hàng mở chỉ kiểm tra tính chính xác trên bề mặt chứng từ mà không cần biết đến tính chất thật giả của chứng từ. (4) Giao chứng từ cho khách hàng. Đây là bước thực hiện sau khi Vietcombank đã kiểm tra chứng từ với sự cẩn thận thích đáng. (5) Trả tiền cho nước ngoài

17

Có hai trường hợp xảy ra: + Trường hợp cho phép đòi tiền bằng điệu: Khi nhận được điện đòi tiền của Ngân hàng xác nhận chứng từ phù hợp, thanh toán viên thực hiện việc trả tiền theo chỉ dẫn trên lệnh chuyển tiền đồng thời thông báo cho Ngân hàng đòi tiền biết nếu họ yêu cầu mẫu điện , trừ phí trên số tiền phải trả và hạch toán theo chế độ Kế toán hiện hành. Khi nhận được điện của Ngân hàng nước ngoài thông báo chứng từ không phù hợp, thanh toán viên phải thông báo ngày cho khách hàng những điểm không phù hợp và yêu cầu người mua trả lời bằng văn bản trong vòng 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của VietcomBank. Nếu chấp nhận thanh toán thì thực hiện việc thanh toán theo quy định, nếu không chấp nhận thanh toán hoặc chỉ chấp nhận thanh toán một phần thì phải thông báo ngay cho Ngân hàng đòi tiền biết. + Trường hợp L/C cho phép đòi tiền bằng chứng từ. Khi nhận được chứng từ nước ngoài xác nhận chứng từ phù hợp, thanh toán viên kiểm tra chữ ký được uỷ tiền, kiểm tra nội dung chứng từ. Nếu phù hợp thì trả tiền và giao chứng từ cho khách hàng. Nếu chứng từ không phù hợp với các điền kiện, điều khoản của L/C thanh toán viên phải báo ngay cho người mua những điểm không phù hợp, yêu cầu họ trong vòng 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo Vietcombank phải có ý kiến bằng văn bản về bộ chứng từ đó. Đối với các L/C thanh toán có kỳ hạn (L/C trả chậm) sau khi kiểm tra chứng từ nếu phù hợp phải lập điện, thư chấp nhận hối phiếu hoặc ký hậu hối phiếu gửi Ngân hàng chuyển chứng từ 30 ngày trước ngày đến hạn của hối phiếu, phải nhắc khách hàng thanh toán đúng hạn. Nếu đến hạn người mua không có khả năng thanh toán phải kịp thời báo cáo lãnh đạo phòng để có hướng xử lý.

18

Trường hợp chứng từ đến sau hàng hoá, nếu người mua yêu cầu Vietcombank phát hành bảo lãnh nhận hàng để nhập hàng theo L/C, người mua phải cam kết bằng văn bản trả tiền kể cả khi chứng từ không phù hợp và thủ tục phí phải theo thủ tục phí hiện hành của VietcomBank . b. Kết quả kinh doanh Hoạt động thanh toán nhập khẩu bằng L/C được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 7: Kết quả hoạt động thanh toán xuất khẩu Sở giao dịch Vietcombank giai đoạn 2006-2008 Đơn vi: món, trUSD,% Chỉ tiêu 2006 Số món/ doanh số Phát hành L/C Số món Doanh số Bảo lãnh nhận hàng Số món Doanh số 946 1011,14 -17,4 10,1 853 1075,43 -9,83 6,36 792 1510,16 -7,15 40,42 2243 2365,7 4,1 7,3 2362 2576,53 5,3 8,9 2145 2474,51 -9,1 -3,95 Tăng trưởng(%) Số món/ doanh số 2007 Tăng trưởng (%) Số món 2008 Tăng trưởng(%)

Nguồn: Báo cáo Tổng hợp Phòng Thanh toán Nhập khẩu Sở Giao dịch Vietcombank

Từ bảng trên ta có thể nhận thấy, thanh toán hàng nhập khẩu bằng L/C chia làm hai mục: Phát hành L/C và Bảo lãnh nhận hàng. Ở mảng Phát hành L/C, số món và doanh số năm 2007 đều tăng so với năm 2006. Tuy nhiên giảm vào năm 2008 do tình hình kinh tế gặp khó khăn, các doanh nghiệp thu hẹp sản xuất nên nhu cầu nhập khẩu giảm mạnh. Vì thế số món và doanh số ở mảng

19

này đều giảm so với năm 2007. Số món năm 2008 giảm 217 món tương ứng 9,1% và doanh số giảm 102,02 triệu USD tương ứng 3,95% so với năm 2007. Ở mảng bảo lãnh nhận hàng, nhìn chung số món bảo lãnh có xu hướng giảm, nhưng với tốc độ ngày càng chậm đi trong 3 năm qua. Nhưng có một điểm đáng lưu ý là tuy số món giảm đều đặn nhưng doanh số bảo lãnh lại tăng, đặc biệt là vào năm 2008 lên tới 1510,16 triệu USD tăng 40% so với năm 2007. Điều đó cho thấy giá trị bảo lãnh nhận hàng của mỗi món tăng lên. Năm 2008, do tình hình kinh tế khó khăn, các doanh nghiệp thiếu vốn trầm trọng nên họ có xu hướng nhờ Ngân hàng lớn có uy tín để bảo lãnh nhận hàng. Chính điều đó đã làm cho doanh số bảo lãnh năm 2008 lại tăng đột biến như thế. Bảng 8: Cơ cấu L/C phát hành tại Sở Giao dịch Vietcombank theo giá trị Số thứ tự 1 2 3 Trị giá L/C < 500 triệu USD 500 tr<= …….<1 tỷ USD >= 1 tỷ USD Số món 1254 705 284 Tỷ trọng (%) 55,9 31,4 12,7

Nguồn: Báo cáo Tổng hợp Phòng Thanh toán Nhập khẩu Sở Giao dịch Vietcombank

Từ bảng trên ta thấy tỷ trọng số L/C có giá trị nhỏ dưới 500 triệu USD là cao nhất, chiếm hơn một nửa số món L/C phát hành bởi Sở giao dịch Vietcombank. Số lượng L/C có trị giá cao hơn 1 tỷ USD chiếm khá ít, chỉ hơn 12,7%. Điều này là do thực tế nhập khẩu ở nước ta. Các khách hàng phần đông là những doanh nghiệp vừa và nhỏ nên nhu cầu và khả năng nhập khẩu hàng hóa có giá trị không cao. 3. Đánh giá hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng tại Sở Giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam a) Thành công

20

Sở Giao dịch Vietcombank là đơn vị luôn khẳng định vị thế “anh cả” trong hệ thống Vietcombank nhờ những thành công đã đạt được trong thời gian qua. - Doanh số thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ không ngừng tăng lên qua các năm với mức tăng trung bình là vào khoảng 15%/ năm đem lại nguồn lợi nhuận rất lớn cho Sở Giao dịch và qua đó thể hiện được uy tín của Sở Giao dịch đối với khách hàng ngày càng được nâng cao. - Hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng được cải thiện về mặt chất lượng do cơ sở vật chất của Phòng Thanh toán ngày càng được hiện đại hóa để bắt kịp với xu thế chung. Hệ thống tin học của Sở Giao dịch ngày càng hoàn thiện hạn chế tối đa sai sót và rủi ro phát sinh và nâng cao tốc độ thanh toán. Thông tin khách hàng được bảo mật cao hơn, an toàn hơn. - Trình độ cán bộ, nhân viên Phòng Thanh toán quốc tế ngày càng được nâng cao. Bảng 9: Cơ cấu lao động theo trình độ

Trình độ Sau đại học Đại học Cao đẳng Tổng

Số người 46 244 12 307

Tỷ lệ (%) 15 81,1 3,9 100

Nguồn: Phòng Tổ chức Sở Giao dịch Vietcombank Hầu hết cán bộ nhân viên (hơn 95%) Phòng Thanh toán quốc tế đều có trình độ đại học và sau đại học, am hiểu về nghiệp vụ, giỏi về Tiếng Anh – ngôn ngữ chính trong thanh toán quốc tế và nắm bắt sử dụng thành thạo mạng SWIFT trong thanh toán quốc tế giữa các ngân hàng. Mặt khác, phong cách

21

giao tiếp văn minh, lịch sự, nhiệt tình, ân cần, chu đáo, tận tình giải đáp những thắc mắc và tư vấn cho khách hàng, hỗ trợ khách hàng trong việc xử lý chứng từ nhằm giảm thiểu những rủi ro trong thanh toán như giao hàng sai, thiếu hoặc lừa đảo,…. - Công tác khách hàng luôn được Sở Giao dịch Vietcombank nói chung và Phòng Thanh toán quốc tế nói riêng chú trọng phát triển. Các khách hàng lớn và truyền thống sử dụng dịch vụ thanh toán xuất nhập khẩu của Phòng Thanh toán có thể kể đến là: + Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam + Công ty Thương mại Kỹ thuật và Đầu tư PETEC + Công ty TNHH MTV Dầu khí tp.HCM ( Saigon Petro) + Tổng Công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí + Tổng Công ty Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí Bên cạnh các khách hàng truyền thống và lâu năm, Sở Giao dịch cũng đã mở rộng mối quan hệ hợp tác với nhiều khách hàng mới, tiềm năng. Mặt khác, Sở Giao dịch không chỉ mở rộng quan hệ với các đối tác trong nước mà còn mở rộng với các đối tác nước ngoài qua các hiệp định hợp tác với Ngân hàng HSBC của Anh và Sumitomo của Nhật. Trong các mối quan hệ đó, Sở Giao dịch đóng vai trò là ngân hàng thông báo thứ 2, hoặc là ngân hàng xác nhận đứng ra đảm bảo lợi ích cho cả nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu, tạo dựng uy tín làm ăn lâu dài với các đối tác. - Hoạt động thanh toán quốc tế cũng góp phần thúc đẩy các hoạt động khác như kinh doanh ngoại tệ, tài trợ xuất nhập khẩu, chuyển tiền phát triển. b) Tồn tại Bên cạnh những thành công lớn đó, trong thời gian vừa qua, Sở giao dịch Vietcombank cũng bộc lộ một số tồn tại cần sớm được giải quyết như sau:

22

- Hoạt động thanh toán xuất khẩu và nhập khẩu bằng L/C của Sở Giao dịch Vietcombank còn chênh lệch nhau quá lớn. Qua phân tích ở phần trên, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng, doanh số thanh toán nhập khẩu lớn hơn rất nhiều so với doanh số thanh toán xuất khẩu. Điều này một phần do một số khách hàng thanh toán hàng nhập khẩu qua Sở Giao dịch Vietcombank nhưng lại thanh toán xuất khẩu qua chi nhánh khác hoặc ngân hàng khác khiến cho Sở giao dịch gặp khó khăn trong việc cân đối nguồn ngoại tệ thanh toán. - Thủ tục thanh toán còn nhiều rườm rà, mang nặng tính hành chính. Điều này dẫn đến việc thời gian xử lý các giao dịch còn rất chậm. Đây là một thực tế đang diễn ra tại hầu hết các ngân hàng Việt Nam. Đó là lý do tại sao các khách hàng tìm đến các ngân hàng liên doanh hay ngân hàng nước ngoài để giao dịch vì tại các ngân hàng này, thủ tục giao dịch nhanh chóng, tiện lợi, chính xác. - Mức phí thiếu cạnh tranh: Bảng 9: Biểu phí một số dịch vụ của Sở Giao dịch Vietcombank so với các ngân hàng khác Thứ tự Dịch vụ Sở Giao dịch Vietcombank 50USD 20-25USD 10USD Ngân hàng Sacombank 10USD 5-15USD 5USD Ngân hàng Việt Nam Tín Nghĩa 10USD 10-15USD 5USD

1 2 3

Phát hành L/C sơ bộ Thông báo thư tín dụng Thông báo sửa đối thư tín dụng

Mặc dù mức phí phát hành L/C của Sở giao dịch Vietcombank thấp hơn so với các ngân hàng Cổ phần Thương mại khác (0,05% giá trị L/C so với mặt

23

bằng chung là 0,075% giá trị L/C) nhưng mức phí các dịch vụ dịch khác liên quan đến L/C lại cao hơn. Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của Sở Giao dịch. - Công tác marketing của Sở Giao dịch còn kém hiệu quả. Trong năm 2008, sự kiện công ty xuất nhập khẩu than Coalimex chuyển sang thanh toán ở chi nhánh khác đã khiến cho doanh thu xuất khẩu của Sở Giao dịch bị sụt giảm rất lớn. Điều này đòi hỏi Sở giao dịch cần có những chiến lược marketing cụ thể nhằm tìm kiếm những khách hàng mới, mở rộng đối tượng khách hàng là các công ty tư nhân.

24

CHƯƠNG III

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO HIỆU QUẢ THANH TOÁN BẰNG TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 1. Cơ hội và thách thức a) Cơ hội - Nhu cầu thanh toán quốc tề đang tăng nhanh. Việc giao lưu buôn bán hàng hóa giữa các doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp nước ngoài đang ngày càng diễn ra sôi động mạnh mẽ, đặc biệt là từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2006, cùng với các hoạt động kinh tế đối ngoại khác. Ngoài ra, công cuộc Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa mà nước ta đang tiến hành cũng khiến cho nhu cầu nhập khẩu để xây dựng đất nước ngày càng lớn, trong khi đó năng lực sản xuất xuất khẩu của các doanh nghiệp ngày một tăng lên. Như vậy, lĩnh vực thanh toán quốc tế rất có tiềm năng phát triển trong thời gian tới. - Ngoài tập quán ngân hàng chuẩn quốc tế, hiện nay bộ tập quán UCP là nguồn luật áp dụng phổ biến của phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ. Bộ tập quán này ngày càng được hoàn chỉnh hơn và liên tục được cập nhật sửa đổi cho cho phù hợp với thực tiễn tạo điều kiện cho hoạt động thanh toán ngày một hoàn thiện, tránh được những rủi ro sai sót gây thiệt hại cho khách hàng. b) Thách thức - Cạnh tranh khốc liệt với ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài. Trước đây, chỉ có Ngân hàng Ngoại thương mới được phép hoạt động trong lĩnh vực thanh toán quốc tế. Tuy nhiên hiện nay, các ngân hàng Cổ phần Thương mại đều được phép kinh doanh trong lĩnh vực này. Các ngân hàng Cổ phần Thương mại tuy mới ra đời và quy mô nhỏ nhưng khá năng động và sáng

25

tạo trong kinh doanh. Mặt khác, từ năm 2009, Việt Nam đã mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ, trong đó có ngành Ngân hàng. Chính vì thế trong thời gian qua đã xuất hiện các ngân hàng 100% vốn nước ngoài, trong đó phải kể đến các đại gia trong ngành tài chính ngân hàng có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực thanh toán quốc tế như ngân hàng HSBC, ANZ, Standard Chartered, Shinhan…Như vậy, Sở Giao dịch Vietcombank đang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ phía các ngân hàng nội địa và các ngân hàng nước ngoài - Trong Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, ngành Ngân hàng là ngành phải chịu ảnh hưởng trực tiếp. Các đối tác, hệ thống Ngân hàng đại lý của Vietcombank trên thế giới hầu hết rơi vào tình trạng khó khăn. Mặt khác, ảnh hưởng lan tỏa của cuộc khủng hoảng cũng ảnh hưởng rất lớn đến các ngành kinh tế khác, gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá cả nước trong 2 quý đầu năm đạt 57,33 tỷ USD, giảm 24,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu là 27,6 tỷ USD, giảm 10,2% và nhập khẩu là 29,73 tỷ USD, giảm 34,1%. Như vậy, nhu cầu thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán bằng L/C nói riêng cũng vì thế mà giảm sút.

2. Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam Để phát triển hoạt động thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ ngang tầm với vị thế và tiềm năng của Sở Giao dịch Vietcombank, cá nhân em đề xuất một số kiến nghị như sau : Thứ nhất: SGD nên tiếp tục tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc hiện đang gặp phải theo hướng tăng tính chủ động, linh hoạt cho bản thân mình. Giải pháp :

26

- Xây dựng các tiêu chuẩn, cơ sở và các căn cứ cơ bản đối với Chi nhánh loại 3 thực hiện nghiệp vụ TTQT trực tiếp. Xoá bỏ cơ chế chi nhánh trình và Trụ Sở chính cấp phép vừa mang tính chủ quan, hành chính, vừa thiếu cơ sở; - Đàm phán với một số nước ngoài khác về nghiệp vụ xuất khẩu ngoại tệ mặt, trong đó bổ sung thêm một số loại ngoại tệ khác như Nhân dân tệ, Kíp Lào, Riel Campuchia. - Hỗ trợ cho các chi nhánh trong việc triển khai thanh toán qua biên giới với Lào và Trung Quốc, đặc biệt trong vấn đề thủ tục, giấy phép. Thứ năm : Tập trung công tác đào tạo lại cán bộ, hình thành đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực TTQT : Giải pháp : - Đào tạo, trang bị kỹ năng đối ngoại cho cán bộ chủ chốt cũng như đội ngũ cán bộ làm việc trong lĩnh vực đối ngoại. - Phối hợp cùng Trung tâm đào tạo mời chuyên gia trong lĩnh vực TTQT và KDNT tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu. - Sưu tầm, tập hợp và dịch các tài liệu, ấn phẩm quốc tế về các nghiệp vụ liên quan, phổ biến tới các cán bộ và các thanh toán viên, đúc rút các tình huống, các trường hợp, các vụ việc mà một số chi nhánh khác gặp phải để chia sẻ, cảnh báo các hình thức lừa đảo. Thứ sáu : phát triển triển khai các sản phẩm, dịch vụ mới phù hợp với trình độ công nghệ hiện có Giải pháp : - Xây dựng kế hoạch triển khai phát triển nghiệp vụ thu đổi ngoại tệ mặt và séc du lịch, kèm theo là quy trình nghiệp vụ, các biện pháp ngăn chặn rủi ro, xử lý rủi ro khi phát sinh.

27

- Ký thoả thuận hợp tác với một số ngân hàng nước ngoài về dịch vụ thanh toán séc du lịch, séc thanh toán với các loại ngoại tệ khác nhau ( séc đa tệ), kèm theo các dịch vụ hỗ trợ khác như đảm bảo rủi ro, tỷ lệ hoa hồng…… - Rà soát lại các sản phẩm ngoại tệ, tìm hiểu việc ứng dụng công cụ phái sinh trong kinh doanh ngoại tệ, định hướng phát triển các nghiệp vụ về ngoại tệ, xây dựng cơ chế điều hoà, kinh doanh ngoại tệ toàn hệ thống theo hướng quản lý theo hạn mức phán quyết, phân quyền và tự chịu trách nhiệm.

28

KẾT LUẬN
Tuy mới tách ra hoạt động độc lập nhưng lại được kế thừa thương hiệu nổi tiếng và uy tín của Vietcombank cùng với việc cơ cấu tổ chức đã hoàn thiện và đi vào hoạt động ổn định, Sở giao dịch Vietcombank đã và đang khẳng định được vị thế của mình. Có thể nói mục tiêu “hiệu quả” gắn liền với hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu tại Sở giao dịch từ lúc thành lập cho tới nay. Bằng lợi thế sẵn có của mình: vốn, kinh nghiêm, uy tín trong lĩnh vực trên Sở giao dịch Vietcombank đã trở thành người bạn đường của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, góp phần không nhỏ vào quá trình thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của cả nước. Tuy nhiên, trước những đổi biến đổi mạnh mẽ, liên tục của môi trường chính trị, kinh tế, xã hội Sở giao dịch Vietcombank đã và đang phải đối mặt không ít khó khăn, trở ngại, đó chính là những nhân tố làm giảm “ hiệu quả” công tác thanh toán xuất nhập khẩu, đặc biệt là bằng phương thức tín dụng chứng từ - một phương thức đang được áp dụng phổ biến. Trước tình hình đó ban lãnh đạo và các cán bộ ngân hàng cần phải phát huy hơn nữa uy tín, thế mạnh và những thành quả đã đạt được. Giải quyết những vướng mắc, tồn tại

29

trong việc nâng cao hiệu quả công tác thanh toán xuất nhập khẩu, củng cố và nâng cao hơn nữa vị thế của ngân hàng. Hy vọng rằng những kiến nghị sẽ trở thành đóng góp dù nhỏ bé trong việc nâng cao hiệu quả công tác thanh toán xuất nhập khẩu bằng tín dụng chứng từ tại đơn vị. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn ThS. Trần Thu Trang đã hướng dẫn em hoàn thành bài báo cáo này.

30

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->