P. 1
Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa

Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa

|Views: 9,686|Likes:
Được xuất bản bởinguyenthimyle16

More info:

Published by: nguyenthimyle16 on Aug 24, 2010
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

08/14/2013

pdf

text

original

Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa

a) Giá trị sử dụng Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người, ví dụ: cơm để ăn, xe đạp để đi, máy móc, nguyên, nhiên vật liệu để sản xuất... Vật phẩm nào cũng có một số công dụng nhất định. Công dụng của vật phẩm do thuộc tính tự nhiên của vật chất quyết định. Khoa học kỹ thuật càng phát triển, người ta càng phát hiện thêm những thuộc tính mới của sản phẩm và lợi dụng chúng để tạo ra những giá trị sử dụng mới. Giá trị sử dụng chỉ thể hiện ở việc sử dụng hay tiêu dùng. Nó là nội dung vật chất của của cải. Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn. Giá trị sử dụng nói ở đây với tư cách là thuộc tính của hàng hoá, nó không phải là giá trị sử dụng cho bản thân người sản xuất hàng hoá, mà là giá trị sử dụng cho người khác, cho xã hội thông qua trao đổi - mua bán. Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi. b) Giá trị hàng hoá: Muốn hiểu được giá trị phải đi từ giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ về lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi với giá trị sử dụng khác. Ví dụ: 1 m vải = 10 kg thóc. Vải và thóc là hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau về chất, tại sao chúng lại có thể trao đổi được với nhau và trao đổi theo tỷ lệ nào đó. Khi hai sản phẩm khác nhau (vải và thóc) có thể trao đổi được với nhau thì giữa chúng phải có một cơ sở chung nào đó. Cái chung ấy không phải là giá trị sử dụng, tuy nhiên, sự khác nhau về giá trị sử dụng của chúng là điều kiện cần thiết của sự trao đổi. Nhưng cái chung đó phải nằm ngay ở trong cả hai hàng hoá. Nếu gạt giá trị sử dụng của sản phẩm sang một bên, thì giữa chúng chỉ còn một cái chung làm cơ sở cho quan hệ trao đổi. Đó là chúng đều là sản phẩm của lao động. Để sản xuất ra vải hoặc thóc, những người sản xuất đều phải hao phí lao động. Chính hao phí lao động ẩn giấu trong hàng hoá làm cho chúng có thể so sánh được với nhau khi trao đổi. Chúng được trao đổi theo một tỷ lệ nhất định, một số lượng vải ít hơn đổi lấy một lượng thóc nhiều hơn (1 m vải = 10 kg thóc); nhưng lượng lao động hao phí để sản xuất ra chúng là ngang bằng nhau. Lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá ẩn giấu trong hàng hoá chính là cơ sở để trao đổi. Vậy giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá. Chất của giá trị là lao động, vì vậy sản phẩm nào không có lao động của người sản xuất chứa đựng trong đó, thì nó không có giá trị. Sản phẩm nào lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao.

Sau đây là 5 đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền do Lenin vạch ra và do tôi đánh máy lại dựa trên những gì tôi hiểu về thời kì độc quyền trong chủ nghĩa tư bản. Nguyên nhân cụ thể: + Đầu thế kỉ 20 trong các nước tư bản sự cạnh tranh diễn ra hết sức gay gắt dẫn đến: . Chính sự tích tụ và tập trung tư bản đã dẫn tớI sự tích tụ và tập trung sản xuất. 1.Xuất hiện xu thế thành lập các công ty cổ phần + Đầu thế kỉ 20 do KHKT phát triển nên đòi hỏI vốn lớn để ứng dụng được vào sản xuất + Trong khủng hoảng kinh tế chỉ những xí nghiệp lớn đủ khả năng tồn tạI + Sự phát triển hệ thống tín dụng tạo điều kiện cho tập trung sản xuất Sự tập trung sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định sẽ làm hình thành các tổ chức độc quyền – liên minh giữa các nhà tư bản để nắm phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ 1 số loạI hàng hóa nào đó nhằm thu lợI nhuận cao.1 số nhà tư bản có ưu thế về vốn và kĩ thuật chiến thắng và thôn tính các xí nghiệp nhỏ . khi trong công nghiệp diễn ra tích tụ và tập trung sản xuất thì trong ngân hàng cũng có tích tụ và tập trung tư bản. Thực ra bài viết này mang tính bài giảng nhiều hơn. syndicate. Vai trò mớI của tư bản ngân hàng Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền.Ở các nước đế quốc vẫn còn tồn tạI các xí nghiệp nhỏ chưa bị thôn tính vào các tổ chức độc quyền .Trong các nước đế quốc vẫn còn sản xuất hàng hóa của nông dân và thợ thủ công 3 loạI cạnh tranh trong chủ nghĩa đế quốc: giữa các tổ chức độc quyền vớI nhau. Những ai quan tâm thử đọc rồi cho nhận xét nhé. Các hình thức tập trung sản xuất: công ti cổ phần và xí nghiệp liên hiệp b. Sự tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền a. Do nắm . Tư bản tài chính và đầu sỏ tài chính a. và ngay trong nộI bộ từng tổ chức độc quyền 2. Các tổ chức độc quyền Các hình thức tổ chức độc quyền cơ bản: cartel. giữa các tổ chức độc quyền vớI các xí nghiệp ngoài độc quyền. để khi nào có thời gian tôi sẽ diễn giải ra sau nhé. làm hình thành nên các ngân hàng lớn cạnh tranh vớI nhau – các tổ chức độc quyền trong ngân hàng. Sự tập trung sản xuất: là quá trình thay thế các xí nghiệp nhỏ.Sự tồn tạI của các tổ chức độc quyền vẫn dựa trên cơ sở của chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất . consortium Độc quyền và cạnh tranh là 2 mặt trái ngược nhau song ở các nước đế quốc khi xuất hiện các tổ chức độc quyền thì không thủ tiêu được cạnh tranh mà lạI làm cạnh tranh gay gắt hơn . trust. bố trí phân tán bằng cách xí nghiệp lớn có đông công nhân và làm ra một khốI lượng sản phẩm lớn.

các nhà tư bản công nghiệp cũng can thiệp vào họat động của tư bản ngân hàng bằng cách mua cổ phiếu hoặc thành lập ngân hàng cho riêng mình. hình thành nên tư bản tài chính. 3. thực hiện thao túng đờI sống kinh tê. tạo . Song đến thờI chủ nghĩa tư bản độc quyền. đã cử ngườI tham gia vào các tổ chức độc quyền công nghiệp để theo dõi việc sử dụng vốn vay. hàng hóa đem bán ở nước ngoài thu được lợI nhuận lớn hơn so vớI hàng hóa đem bán trong nước. hình thành nên những thỏa thuận có tính chất lũng đoạn giữa các tổ chức độc quyền trong việc sản xuất và tiêu thụ một số loạI hàng hóa. Tư bản tài chính Tư bản tài chính là một loạI tư bản được hình thành trên cơ sở sự xâm nhập lẫn nhau giữa tư bản công nghiệp và tư bản ngân hàng. Tư bản ngân hàng vớI vai trò và địa vị mớI của mình. 2 quá trình thâm nhập ấy gắn kết vớI nhau.được lượng tư bản tiền tệ lớn. làm nảy sinh nhu cầu về thị trường và nguyên liệu ngoài nước. giữa các nước đế quốc diễn ra cuộc cạnh tranh gay gắt để giành giật thị trường thế giớI. Xuất khẩu hàng hóa Xuất khẩu hàng hóa là thủ đoạn để các nước tư bản tiến hành bóc lột các nước chậm phát triển thông qua trao đổI không ngang giá b. Sự phân chia thế giớI về kinh tế Trong thờI kì tư bản tự do cạnh tranh. lượng hàng hóa sản xuất ra chưa lớn. Các nhóm tư bản tài chính có tiềm lực đủ mạnh trở thành các đầu sỏ tài chính ( hay còn gọI là tài phiệt ). Xuất khẩu tư bản Xuất khẩu tư bản cũng là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài nhưng được tiến hành dướI hình thức đầu tư tư bản ra nước ngoài để bóc lột giá trị thặng dư và một số nguồn lợI khác ở các nước nhập khẩu tư bản.Xuất khẩu tư bản sản xuất: nước xuất khẩu tư bản đầu tư vốn để xây mớI hoặc mua lạI xí nghiệp. Xuất khẩu tư bản là một tất yếu trong thờI kì chủ nghĩa tư bản độc quyền vì: Đầu thế kỉ 20 một số nước tư bản đã tích lũy được một lượng vốn khổng lồ mà nếu đầu tư trong nước thì sẽ thu được lợI nhuận ít hơn so vớI nếu đầu tư ở nước ngoài Các nước lạc hậu về kinh tế thì thiếu vốn nhưng giá nhân công thấp và nguyên liệu lạI dồI dào Các nước tương đốI phát triển có nhu cầu về vốn để đổI mớI trang thiết bị kĩ thuật Những hình thức xuất khẩu tư bản: . làm cho tư bản công nghiệp và tư bản ngân hàng dần trở nên đồng nhất vớI nhau.Xuất khẩu tư bản cho vay: nước xuất khẩu tư bản cho chính phủ hoặc tư nhân vay tiền hoặc hàng hóa. Xuất khẩu tư bản a. Do tầm quan trọng của thị trường bên ngoài. đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng . các ngân hàng có khả năng chi phốI nhiều họat động kinh tế-xã hội. b. vật tư 4. Mặt khác. lượng hàng hóa được sản xuất đã tăng chóng mặt. Để hạn chế sự chi phốI của ngân hàng. Đây thực chất là công cụ để các tập đoàn tư bản bóc lột các nước chậm phát triển.chính trị ở các nước tư bản.

nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ chức độc quyên tăng lên làm cho nó càng phát triển cả về qui mô. sự dung hợp giữa độc quyền ngân hàng và độc quyền công nghiệp làm xuất hiện một loại tư bản mới và tầng lớp đại diện cho loại tư bản mới này . muốn đấu tranh để phân chia lạI thế giới. nhưng với không gian sử dụng vốn ở trong nước chật hẹp so với sức phát triển làm xuất hiện một lượng tư bản thừa (tương đố so tham vọng về lợi nhuận của các tổ chức độc quyền) chính vì vậy xuất hiện Xuất khẩu tư bản . ban đầu chỉ diễn ra ở một số nước. (đặc điểm 2) Khi tư bản tài chính ra đời. Sưu tầm trong 5 đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền thì đặc điểm 1: "sự ra đời và thống trị của các tổ chức độc quyền" là quan trọng nhất vì: đặc điểm chính là đặc điểm bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền. trước hết là độc quyền trong sản xuất. Khi các tổ chức độc quyền ra đời một cách phổ biến và trở thành thống trị trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Phương pháp phổ biến là chiến tranh. Sự phân chia thế giớI về lãnh thổ Sự phân chia thế giớI về mặt lãnh thổ là hệ quả tất yếu của sự phân chia thế giớI về kinh tế. tư liệu sản xuất. sức lao động cũng tăng theo kéo theo nhu cầu về tư bản tăng lên. nó chi phối và là một trong nguyên nhân dẫn đến các đặc điểm tiếp theo của nó. độc chiếm nguồn nguyên liệu. lưu thông. quy định quy mô sản xuất của từng tổ chức. biểu hiện ở việc các nước đế quốc xâm chiếm và thuộc địa hóa những nước chậm phát triển hòng độc chiếm nguồn nguyên liệu.Tư bàn tài chính và bọn đầu sỏ tài chính. nó làm cho cơ cấu sản xuất phình to ra.liên minh giữa các tổ chức độc quyền lớn của các nước để phân chia thị trường thế giớI. các đặc điểm còn lại chỉ là phái sinh từ đặc điểm này. nói cách khác.Đặc điểm 3) để giải quyết lượng tư bản thừa. đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của độc quyền ngân hàng. Để đáp ứng nhu cầu tư bản (vôn cho các nhà sản xuất kinh doanh các ngân hàng nhỏ không còn đáp ứng nổi. nhu cầu về.. Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản ở các nước nói chung diễn ra không đều. định ra giá cả độc quyền nhằm thu lợI nhuận độc quyền cao. Khi trên thị trưởng của các nước nhập khẩu tư bản có sự hiện diện của nhiều tổ chức độc quyền thuộc nhiều quốc gia khác nhau dẫn đến sự đụng độ về lợi ích là không . thị trường tiêu thụ hàng hóa và địa điểm lập căn cứ quân sự. có những nước tư bản ra đờI sau nhưng kinh tế lạI phát triển vượt bậc. 5. một số tổ chức độc quyền tư nhân có tiềm năng lớn nhưng theo đà phát triển nó dần trở thành phổ biến của các nước tư bản.nên những tổ chức độc quyền quốc tế . Việc xuất khầu tư bản. trình độ và trở nên thống trị thị trường trong nước..

" đầy là ý kiền và cách phân tích của bản thân tôi thôi nhé.5 đều là phái sinh từ nguyên nhân 1. .điều này dẫn đến sự cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền để phân chia lại thị trường thế giới .Đặc điểm 4. các nước tư bản ra đời sau. nhưng do quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản. đi sau không được hưởng lợi từ sự phân chia này đã phát động chiến tranh để phân chia lại lãnh thổ thế giới. nếu hợp lý bạn có thể tham khảo" .đặc điểm 5 Như vậy rõ ràng ta thấy tất cả các nguyên nhân 2 . Khi sự phân chia thị trường thế giới được hoàn tất.tránh khỏi .

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->