Bội chi Ngân sách nhà nước

Tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước bền vững ổn định la mục tiêu chung hầu hết các quốc gia. Trong đó, tăng trưởng kinh tế là điều kiện tiên quyết cũng là mục tiêu. Muốn tăng trưởng kinh tế thì vốn là một yếu tố không thể thiếu trong mọi quá trình sản xuất và hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn huy động cho các hoạt động của cả nền kinh tế được bắt nguồn từ nhiều nguồn: vốn đầu tư nước ngoài, vốn của các cá nhân, các nhà đầu tư, các tổ chức… trong đó một nguồn vốn lớn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong mọi nền kinh tế từ trước tới nay là ngân sách nhà nước (NSNN). Do đó, bội chi ngân sách cũng là một vấn đề chung cho mọi quốc gia hiện nay. Trong khuôn khổ ngắn của bài viết chỉ xin trình bày một số vấn đề về “ Bội chi ngân sách của Việt Nam trong giai đoạn thời kỳ hội nhập- Thực trạng và giải pháp”. Bội chi ngân sách nhà nước là số chênh lệch giữa chi lớn hơn thu. Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi NSNN: - Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh. Khủng hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tăng lên. ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN. Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ. - Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước. Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi NSNN. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm bớt. Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu. Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn,...), tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi NSNN. Dù ở những mức độ khác nhau nhưng bội chi ngân sách nhà nước là tình trạng đang diễn ra ở hầu hết các quốc gia trên thế giới do số thu ngân sách có hạn trong khi nhu cầu chi tiêu của Nhà nước lại không ngừng tăng lên, dẫn đến mất cân đối chi và thu, bội chi ngân sách xảy ra. Khi sản lượng của nền kinh tế thấp dưới mức sản lượng tiềm năng, thì Chính phủ có thể tăng mức chi ngân sách, chấp nhận bội chi để thúc đẩy hoạt động kinh tế. Vì vậy, bội chi ngân sách không chỉ diễn ra phổ biến đối với các nước nghèo, kém phát triển mà xảy ra ngay cả đối với những nước thuộc nhóm các nền kinh tế phát triển nhất (nhóm OECD). Đối với các nước đang phát triển, bội chi ngân sách thường để đáp ứng nhu cầu rất lớn về đầu tư cơ sở hạ tầng ban đầu như: Giao thông, điện, nước... Nhiều nước phát

Từ năm 1991. 1. 1993: 3.6%. do tác động của khủng hoảng tài chính ở các nước Đông Nam Á nên nền kinh tế có gặp không ít khó khăn. năm 1986: 38.7%) và một số nhỏ do các khoản thu từ bán công trái trong nước.17%). 1992:1. Thời kỳ từ năm 1986. năm 1988: 32.1995. mức bội chi ngân sách đã giảm xuống do những điều chỉnh tích cự theo hướng thắt chặt chi tiêu của chính phủ. 59.4% đến 4. làm tăng thêm gánh nặng nợ nần cho quốc gia. Năm 1986 Số tiền phát 22.2% và năm 1995 là 4. 1994: 2. mức chi tiêu nhiều hơn so với mức thu vào lại thêm việc các nước Đông Âu và Liên Xô cắt giảm các nguồn viện trợ làm tình hình bội chi càng trầm trọng.1990.8%. bội chi ngân sách trong thời gian còn làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ . số thâm hụt NSNN đã giảm dần qua từng năm và được bù đắp bằng vay của dân và vay nước ngoài. năm 1985 là 40. khoản vay và viện trợ năm 1984 là 71. đe dọa sự ổn định vĩ mô. đây là giai đoạn có mức bội chi ngân sách cao do tình hình ngân sách còn yếu kém. Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm dần từ năm 1996 đến năm 1999 và đến năm .3%.1%. Trong thời gian 5 năm 1986 . bội chi ngân sách vẫn diễn ra thường xuyên nhưng mức bội chi đã có những thành tựu đáng mừng so với những năm 80 của thế kỷ trước. quy mô lớn và tốc độ cao được coi là nguyên nhân trực tiếp và quyết định gây ra lạm phát.4%. Bội chi xảy ra trong thời gian dài. do vậy khó duy trì tăng trưởng cao và bền vững của nền kinh tế gây ảnh hưởng tới đời sống cùa dân cư.9%.5%.7% mức thâm hụt này được hệ thống Ngân hàng thanh toán bằng cách phát hành tiền. Vài nét về tình hình bội chi ngân sách của Việt Nam Từ năm 2001 trở lại đây. thâm hụt NSNN được khống chế ở mức thấp.1 1988 450 1989 1655 1990 1200 Số còn lại được bù đắp bằng các khoản vay nợ và viện trợ của nước ngoài (so với bội chi.1995. năm 1990 là 46.17% (1991: 1.9 hành bù đắp bội chi (tỷ đồng) 1987 89. Giai đoạn từ năm 1996-2000. năm 1989: 24. năm 1987: 32. Trong những năm này. Thêm vào đó.9%. Chính phủ đã phải giải quyết bội chi không chỉ bằng nguồn tiền đi vay nợ của nước ngoài mà còn bằng cả cách phát hành tiền dẫn đến tình trạng lạm phát cao. tình hình thu chi NSNN đã có nhiều chuyển biến tích cực: nguồn thu đã đáp ứng được nhu cầu chi tiêu thường xuyên của chính phủ và co chi đầu tư cho phát triển. tỷ lệ bội chi NSNN so với GDP chỉ ở mức 1. Tuy nhiên.4%. Xử lý bội chi ngân sách nhà nước đang là bài toán nan giải.triển và đang phát triển trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á cũng vẫn bội chi ngân sách.

Chi ngân sách đã được thực hiên theo nguyên tắc tiết kiệm. thuế đất đai.8%. Tỉ lệ động viên GDP vào NSNN nếu năm 1992 mới đạt 17%.6% so với mục tiêu.95% GDP và năm 1998 có mức bội chi thấp nhất là 2. nhất là trong năm 2005. chủ yếu do những năm vừa qua giá dầu thô tăng mạnh. tỷ trọng chi cho đầu tư phát triển là khoảng 29. cao hơn mức bình quân năm 19911995 (2.đào tạo tăng từ 15% (năm .6.7 4. dễ làm.2 1999 18.2% (đạt 8.7% và chiếm tỷ trọng gần một phần tư tổng thu ngân sách Nhà nước.63%).49%. Tổng chi NSNN trong 5 năm 2001 . Chi tiêu ngân sách hàng năm đã được Quốc hội thảo luận và thông qua trong các phiên họp của mình.6 2000 19. hiệu quả nhằm nâng dần phần tích lũy của ngân sách cho đầu tư phát triển. Từ năm 2001 trở lại đây.9 GDP vào NSNN (%) Bội chi NSNN so 3 với GDP (%) 1997 19. Thuế đã được xem xét đúng với vai trò cơ bản củ nó trong cơ chế thị trường là tạo nguồn thu cho ngân sách. Mỗi khoản chi được xác định trên cơ sở phân định rõ đối tượng và mục đích cụ thể..9%. đơn giản. tốc độ này mới tăng lên chút ít.95 Tỷ lệ bội chi bình quân 5 năm là 3.87% GDP. Năm 2000 có mức bội chi cao nhất là 4. các sắc thuế có nội dung rõ ràng.4 1998 19. đảm bảo công bằng. Tỷ lệ bội chi NSNN ở mức từ 3.95% GDP năm 2000. bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Tốc độ tăng thu hằng năm bình quân là 18.05 2. dễ hiểu. điều chỉnh và phân phối lại thu nhập..7%/năm và chiếm tỷ trọng 20. mức bội chi ngân sách nhà nước đã có những biến chuyển tích cực do sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và công tác thu có những thành tựu đáng kể .2005 tăng 18. chi ngân sách cho giáo dục .49 4. Tốc độ tăng chi thường xuyên được khống chế thấp hơn tốc độ tăng chi cho phát triển. dễ kiểm tra và không trùng lắp. Đây là thời kỳ suy thoái và thiểu phát. nhiều sắc lệnh thuế mới ban hành phù hợp với điều kiên nước ta và thông lệ quốc tế (thuế thu nhập. thu từ dầu thô tăng bình quân hàng năm 18. Hệ thống thuế đã và dang được cải cách theo hướng mở rộng cơ sở thu thuế. thì bình quân thời kỳ 1996-2000 đã đạt 19.2% GDP). tăng tỉ lệ động viên từ thuế so với GDP. thể hiện rõ định hướng của nhà nước trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. nên mức bội chi NSNN như trên không tác động gây ra lạm phát mà có tác động làm cho nền kinh tế chuyển sang giai đoạn đi lên.37 4. Trong đó. Khoản chi thường xuyên của ngân sách thường được khống chế tối đa trong khuôn khổ khả năng thu ngân sách. thuế tài nguyên). kích thích tăng trưởng. Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đưa vào cân đối ngân sách tăng bình quân 14.2000. Trong đó.0% GDP năm 1996 lên 4. Năm 1996 Tỉ lệ động viên 21.

năm 2007: 7. ở mức 17-18%/ năm.công nghệ đạt 2% (chi cho 2 lĩnh vực này tăng gần 5 lần so với giai đoạn 1996 . chi cho y tế và kinh phí thực hiện chính sách đối với người có công.2% GDP.6. Nếu tính những khoản này vào cân đối ngân sách nhà nước thì mức bội chi những năm qua sẽ khoảng 5%. Bội chi NSNN so với GDP (2001-2007) .0%. Bội chi ngân sách nhà nước so với GDP 6 5 4 3 2 1 0 19 95 19 97 19 99 20 01 20 03 20 05 20 07 19 91 19 93 Béi chi NSNN/GDP ( Nguồn: Bộ Tài Chính) Nếu xét trong cả giai đoạn từ năm 1996 tới nay thì mức bội chi NSNN cũng không ngừng tăng lên. tốc độ tăng bội chi NSNN là khá cao. Tốc độ này nếu trừ đi yếu tố tăng trưởng thì còn cao hơn tỷ lệ lạm phát hằng năm (năm 2001: 0. từ năm 2001 đến nay.63% và giai đoạn từ năm 1996-2000 ở mức 3.9%-5% GDP. Đặc biệt. thực hiện nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo tăng trên 2. năm 2005: 9.1%.8%).7%. nếu xét về tỉ lệ bội chi ngân sách so với GDP giai đoạn năm 19911995.2000).2%. Sự tăng lên của bội chi ngân sách là do nhà nước đầu tư một lượng lớn vào các công trình xây dựng cơ bản như giao thông vận tải thông qua phát hành trái phiếu chính phủ. gia đình chính sách. Tuy nhiên. mức bội chi NSNN so với GDP chỉ ở mức 2. phát hành lượng lớn công trái giáo dục được phát hành để thu hút tiền cho đầu tư kiên cố hoá trường lớp học. năm 2004: 8.6%. chi khoa học .2000) lên 19% (năm 2005). năm 2002: 1. năm 2006: 11. trong 8 năm qua. năm 2003: 9.1%.5 lần… Do đó bội chi NSNN trong giai đoạn này về cơ bản đuợc cân đối ở mức 5% GDP và thực hiện ở mức 4.87% so với GDP thì có thể thấy tỉ lệ trong giai đoạn này đang ở mức cao (khoảng 5% so với GDP).

Tổng chi ngân sách nhà nước năm 2008 tăng 22. cắt giảm chi thường xuyên. chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên vượt dự toán tương ứng ở mức 118. tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 274. đoàn thể bằng 69. bội chi ngân sách tính trên GDP tăng liên tục. Theo ý kiến của các đại biểu Quốc hội trong phiên họp ngày 26/05/2009.3% so với năm 2007 và bằng 118. giãn thuế để khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất. Liên tiếp từ năm 1999 đến nay.6%.3% và 113. do giá dầu thô trên thế giới giảm xuống trong những tháng đầu năm trong khi yêu cầu chi cho các chương trình của chính phủ vẫn lớn: so với mức dự toán thì chi đầu tư phát triển bằng 67. trong khi tổng chi ước tính là 330.23% thì tỉ lệ lạm phát lên tới 23%.4 nghìn tỷ đồng. giúp cải thiện rất lớn tình hình ngân sách những năm qua.2 nghìn tỷ đồng.7%.2% (riêng chỉ đầu tư xây dựng cơ bản là 66%). tình trạng lãng phí. Do đối mặt với những khó khăn về nguồn thu. chi trả nợ và viện trợ bằng 70.Trong 9 tháng đầu năm 2009.3%. chính sách tài khóa đã được điều hành theo hướng giảm áp lực lạm phát. trong khi tỉ lệ tăng trưởng của Việt Nam chỉ đạt 6. Như vậy. Đây là bài toán khó cho chính phủ để có thể phục hồi nhanh nền kinh tế sau khủng hoảng. giảm. nguồn thu của ngân sách nhà nước đã bị ảnh hưởng do ảnh hưởng của những chính sách thực hiện miễn. ngân sách được điều hành theo chủ trương thắt chặt chi tiêu tiến hành tiết kiệm. an ninh quốc phòng.tỉ lệ bội chi ngân sách vẫn ở mức cao 8% GDP. trong năm nay. Việc duy trì được mức bội chi ngân sách 5% so với GDP trong thời gian vừa qua có thể coi là thành tựu lớn trong điều hành kinh tế vĩ mô vì vẫn thúc đẩy nền kinh tế tăng .mức bội chi ngân sách cần thực hiện dưới mức 8% để đảm bảo được an ninh tài chính quốc gia và kiềm chế nguy cơ lạm phát lại xảy ra.9% thì năm 2000 là 5%). do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Trong đó.9% dự toán năm. sự ra đời của Luật NSNN năm 1996 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong phương pháp điều hành tài khóa.xã hội. chi phát triển sự nghiệp kinh tế. tâm lý lo ngại nguy cơ giá cả tăng vọt không kiểm soát được. điều này cũng cho thấy chính sách nới lỏng tài khóa đã được thực hiện. Như vậy. (năm 1999 là 4.25 20 15 10 5 0 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Tèc ® t¨ng béi chi NSNN é Tèc ® t¨ng GDP é CPI Năm 2008. tiềm lực tài chính. quản lý Nhà nước.

từ năm 2001 tới đây. Qua đồ thị dưới đây cho thấy.000 36. Thực tế trong những năm qua. tức là tăng chi đến mức làm cho thâm hụt ngân sách nhà nước ở mức cao và để bù đắp thâm hụt này.450 22.4% năm 2007 là một con số khá lớn trong chi tiêu của Chính phủ. lượng vay tiền từ bên ngoài vào bù đắp thâm hụt NSNN chiếm khoảng 1/3 số thâm hụt.5%-1.125 ( Nguồn: Bộ Tài chính) Kết quả là đưa đến kích thích tiêu dùng quá lớn thì ở chu kỳ sau sẽ tăng tỷ lệ lạm phát mà lạm phát cao lại làm giảm đầu tư và hệ quả tất yếu là giảm mục tiêu tăng trưởng. . đã xuất hiện nhiều bất cập trong tình hình thu chi ngân sách: . ở mức 17. góp phần đưa đến tăng trưởng cao.253 7.5% GDP. Đây là một trong những nguyên nhân gây ra tinh hình lam phát cao trong năm 2007 (12.500 12. do phải kích cầu đầu tư nên ngân sách nhà nước (NSNN) đã chi một lượng tiền lớn ra lưu thông nên tốc độ tăng bội chi NSNN là khá cao.000 32. Chính phủ sẽ phải huy động từ nguồn vay trong nước và vay nợ nước ngoài làm cho việc trả nợ hàng năm lên đến trên dưới 15% tổng chi ngân sách.7% so với GDP. tức là khoảng 1. Vay của Chính phủ để bù đắp bội chi NSNN (Đơn vị: Tỷ đồng) Năm 2007 2006 2005 2004 2003 2002 Số tiền vay trong nước để bù đắp bội chi NSNN 43. Nếu cộng thêm cả phần vay về cho vay lại. chi NSNN đã tăng từ 27% GDP năm 2001 lên 40. Tuy nhiên.500 8.7%) và năm 2008 (23%).Theo đánh giá của các chuyên gia.420 27. nếu tăng chi quá mức cho phép.18%.041 7. tăng chi NSNN để kích thích tiêu dùng và tăng cầu tiêu dùng sẽ kích thích đầu tư phát triển.trưởng tương đối ổn định.326 7.895 18. lượng tiền từ bên ngoài vào nền kinh tế nước ta qua bù đắp thâm hụt NSNN khoảng 2%-2. Nhưng bên cạnh đó. Theo lý thuyết về tổng cầu của nhà kinh tế học Keyness.382 Số tiền vay nước ngoài để bù đắp bội chi NSNN 13.

hình thức. Như vậy. .chỉ chiếm 28.11%. Việc chênh lệch gần 2% trong kết quả cũng đưa đến con số tuyệt đối là hàng nghìn tỷ đồng trong bội chi ngân sách.1%.7%. nếu tính bội chi ngân sách theo thông lệ của IMF thì Việt Nam cần bổ sung thêm một số nội dung vào tính bội chi ngân sách: Đầu tư vốn theo nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA. thì bội chi NSNN trong những năm qua không phải chỉ là 5% GDP. lao động chiếm 19.2%. Thu ngân sách 2008 dù .32% thì năm 2007 tăng lên 19. Cho vay bằng hình thức trái phiếu ưu đãi và chi đầu tư ngoài ngân sách. gian lận thương mại. Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Ông Lê Quốc Lý khẳng định: nếu cộng lượng vốn lớn được đầu tư ra các công trình giao thông và thủy lợi thông qua hình thức phát hành trái phiếu chính phủ và lượng công trái giáo dục được phát hành để thu hút tiền cho đầu tư kiên cố hóa trường học (hai lượng tiền lớn không cân đối vào NSNN).đây các khoản chi lớn không được đưa vào cân đối ngân sách hàng năm. thu từ thuế quan năm 2006 chiếm 15.Theo chuyên gia tư vấn quốc tế Jitendra Modi.Chi NSNN so với GDP từ 2001 – 2007 45 40 35 30 25 20 15 10 5 0 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Tổng chi NSNN Chi tiêu thường xuyên Chi tiêu/GDP . Kết quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế còn ở mức thấp: trong 3 nhân tố đóng góp vào tốc độ tăng trưởng kinh tế thì vốn chiếm tới 52. còn năng suất . mức bội chi ngân sách của Việt Nam năm 2007 nếu tính theo thông lệ quốc tế phải là 6.37%.9% GDP. trốn thuế gia tăng cả về quy mô. trong tổng thu ngân sách. nhất là nhập lậu. Các hoạt động đầu tư do ngân hàng phát triển Việt Nam hỗ trợ. Vụ trưởng Vụ Tài chính. thu từ dầu thô và thuế xuất nhập khẩu chiếm tỉ trọng khá lớn: thu từ dầu thô năm 2006 chiếm 29. nhân tố chất lượng . tình trạng buôn lậu. Từ khi mở cửa hội nhập.Nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước là thuế nhưng trong những năm vừa qua.Tiền tệ. bảo kê của những kẻ thoái hoá.nhân tố tổng hợp (TEP). thấp xa so với tỉ trọng trên dưới 40% của các nước trong khu vực. phương tiện. biến chất trong khu vực nhà nước.82% và năm 2007 chiếm 24. Điều quan ngại là tình trạng này lại có sự tiếp tay. .Trong khi mức bội chi ngân sách vẫn cao thì mức thu của ngân sách nhà nước lại giảm xuống. thay vì con số xấp xỉ 5% GDP như báo cáo của Chính phủ trước QH.

400 tỷ đồng vượt dự toán là do giá dầu thô trên thị trường thế giới tăng 41 USD/thùng so với giá tính dự toán.vượt dự toán 76. mà còn phụ thuộc khá lớn vào giá cả dầu mỏ trên thị trường thế giới. Theo một nghiên cứu của Viện Khoa học Tài chính. nhưng có 35. dự án thực tế không giảm do toàn bộ kinh phí tiết kiệm được từ việc đình hoãn. giãn tiến độ 1.968 dự án với tổng số vốn là 5. ngừng triển khai và giãn tiến độ các công trình.740 tỷ đồng).Cơ cấu chi ngân sách nhiều bất cập.654 tỷ đồng). không ổn định. Luật NSNN năm 1996. trường hợp tỉnh. là biện pháp kinh tế có thể làm tăng tổng cầu.3% so dự toán. thu XNK tăng 23. tỷ lệ giải ngân vốn còn thấp với chủ trương tăng chi ngân sách cho đầu tư phát triển nhằm kích thích tổng cầu nền kinh tế. Đó là những khoản thu không trực tiếp phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh trong nước. thúc đẩy tăng trưởng. trái lại nó thể hiện tính chưa bền vững và sự phụ thuộc của các nguồn thu NSNN nước ta. Như vậy. Tỷ lệ giải ngân vốn XDCB đến hết tháng 9/ 2008 mới đạt xấp xỉ 52% dự toán.500 tỷ đồng (tăng 33. yêu cầu giảm mức thuế quan xuống 0-5% là yêu cầu tất yếu với Việt Nam. ngân sách địa phương được cân đối theo nguyên tắc tổng số chi không vượt quá tổng số thu.. thu từ đất tăng 5.9% tổng chi NSNN. . Thu từ dầu thô không chỉ phụ thuộc vào trữ lượng.314 tỷ đồng do suy giảm từ ba nguồn thu quan trọng là thu nội địa (giảm 29. cũng nghĩa là nguồn thu cho ngân sách nhà nước từ đây cũng sẽ giảm xuống. thu dầu thô (giảm 12. thúc đẩy tốc .000 tỷ đồng. Trong tiến trình hội nhập. Tuy nhiên. Luật NSNN sửa đổi năm 2002 mở rộng thêm quyền chủ động trong việc huy động vốn của ngân sách địa phương. công trình khác. hiệu quả đầu tư chưa cao.Tăng mức chi ngân sách cho đầu tư phát triển là chủ trương đúng. sản lượng khai thác. Chính phủ đã chỉ đạo đình hoãn.991 tỷ đồng bằng 8% kế hoạch vốn năm 2008.3% so với dự toán. Trong lĩnh vực đầu tư và cấp phát vôn từ ngân sách.Theo khoản 3.500 tỷ đồng (tăng 34. và thu xuất nhập khẩu (giảm 10. mặc dù chúng ta chấp nhận về nguyên tắc là không có việc bội chi ngân sách địa phương nhưng thực tế lại vẫn cho phép địa phương vay để đầu tư. thu ngân sách Nhà nước trong năm 2009 này sẽ giảm khoảng 53. tăng 18. ngừng triển khai. Chi đầu tư phát triển ước cả năm đạt 118. . Điều 8.920 tỷ đồng). dự án được tập trung đầu tư cho các dự án.000 tỷ đồng. xuất hiện mâu thuẫn giữa tốc độ tăng chi đầu tư xây dựng cơ bản còn chậm. số tiền đầu tư cho các công trình.6% so dự toán). Những phân tích trên cho thấy thu ngân sách còn chứa đựng nhiều yếu tố đột biến. thành phố trực thuộc Trung ương có nhu cầu đầu tư kết cấu hạ tầng thì được phép huy động vốn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và phải cân đối vào ngân sách địa phương để trả nợ khi đến hạn. chiếm 24. đầu tư còn dàn trải. Vay vốn đầu tư thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5 năm do hội đồng nhân dân tỉnh quyết định (không phải theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định như trước đây). . Thực chất của các nguồn cho địa phương vay là bội chi ngân sách nhà nước nhưng những khoản vay này còn chưa được quản lý chặt chẽ để quyết toán.

cần có sự rà soát để chuyển vốn từ các công trình chưa khởi công. hoặc phải sử dụng bội chi để đầu tư vào những công trình xây dựng cơ bản tạo môi trường thuận lợi cho kinh doanh. nên thay đổi cách cân đối ngân sách nhà nước theo thông lệ quốc tế. hoặc thủ tục không đầy đủ sang cho các công trình chuyển tiếp. yêu cầu chi tiêu của chính phủ thì ngày càng lớn để thực hiện các chương trình của mình trong khi những khoản thu vào để chi ra lại có xu hướng giảm đi.độ tăng trưởng kinh tế. pháp luật cũng như phát triển môi trường kinh doanh để thu hút vốn đầu tư vào các ngành. Như vậy. bù lỗ. khởi công chậm. nợ thuế. Việc áp dụng . công trình cấp bách. Đồng thời cũng cần nhanh chóng hoàn thiện các luật thuế. Các dự án được đầu tư. tạo ra các khoản đóng góp bất hợp lý dưới mọi hình thức + Nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong nước đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn của nhà nước để tăng nguồn thu cho ngân sách đồng thời cũng giảm tình trạng doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. 2. công trình có hiệu quả kinh tế cao. + Huy động nguồn vốn của cá nhân để giảm chi tiêu của chính phủ. kịp thời ngăn chặn tình trạng lạm dụng. vừa tích luỹ tài chính tạo nguồn để trả nợ vừa bù đắp bội chi. xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm để tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Thứ hai.Các giải pháp Xuất phát từ những hạn chế nêu trên xin đưa ra một số biện pháp để khắc phục như sau: -Thứ nhất. bãi bỏ những khoản phí. cũng như để xác định mức độ an toàn về nợ Chính phủ khi xem xét cân đối kinh tế vĩ mô. cần có đội ngũ các chuyên gia thẩm định để đánh giá chi tiết cẩn thận hiệu quả kinh tế của các dự án xin đầu tư. chính phủ phải chi ngân sách để duy trì. tiếp tục rà soát để giảm. lệ phí không còn phù hợp. nhằm kiểm soát nghiêm ngặt tình trạng thuế. Muốn vậy cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách. Vậy làm thế nào để có thể giảm được mức bội chi ngân sách hiện nay? Đây là bài toán khó cho các nhà điều hành hiện nay. Đây là biện pháp thường được các chuyên gia cho là có hiệu quả và ít ảnh hưởng tới nền kinh tế nhưng cũng là khó thực hiện do có độ trễ về thời gian và đòi hỏi các giải pháp phải mang tính đồng bộ: + Tăng cường quản lý để các công trình đầu tư của Nhà nước thực sự có hiệu quả. đặc biệt là các dự án đầu tư công phải là những dự án tập trung vào những ngành kinh tế trọng điểm của đất nước và phải có kế hoạch hợp lý. các lĩnh vực theo mục tiêu phát triển trong từng thời kỳ. hàng hóa dịch vụ cho nền kinh tế. rà soát lại các hoạt động thu chi NSNN để tăng thu giảm chi. + Nâng cao hiệu quả của công tác thu thuế. -Thứ hai. Điều đó sẽ tạo thuận lợi để so sánh mức bội chi của nước ta với các nước. Nhưng bội chi tăng thêm phải được sử dụng cho những công trình có hiệu quả. Thứ nhất. buôn lậu. tạo sản phẩm.

đầu tư vào các ngành kinh trọng điểm của quốc gia. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với QH. . giúp các ĐBQH nắm bắt thông tin và có căn cứ để thảo luận trước khi thông qua Nghị quyết phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm do Chính phủ trình. -Thứ ba.chuẩn mực quốc tế sẽ tạo lòng tin đối với các nhà đầu tư nước ngoài. quan trọng hơn là sẽ làm rõ được bản chất của thâm hụt ngân sách. văn hóa thông tin… đi liền với sự quản lý chặt chẽ của nhà nước vì đây là những lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người dân và trực tiếp tác động đến sức cạnh tranh trong dài hạn của quốc gia. y tế. Nhưng có lẽ rằng. cần cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng ưu tiên cho phát triển an sinh xã hội. các tổ chức tài chính quốc tế về tính minh bạch trong quản lý kinh tế của Việt Nam. hạn chế và kiểm soát chặt chẽ các nguồn chi vượt dự toán ngân sách -Thứ tư. đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn. đẩy mạnh thực hiện xã hội công tác giáo dục.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful