P. 1
Bội chi Ngân sách nhà nước

Bội chi Ngân sách nhà nước

|Views: 13,869|Likes:
Được xuất bản bởidankoss1989

More info:

Published by: dankoss1989 on Sep 02, 2010
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

01/25/2015

pdf

text

original

Bội chi Ngân sách nhà nước

Tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước bền vững ổn định la mục tiêu chung hầu hết các quốc gia. Trong đó, tăng trưởng kinh tế là điều kiện tiên quyết cũng là mục tiêu. Muốn tăng trưởng kinh tế thì vốn là một yếu tố không thể thiếu trong mọi quá trình sản xuất và hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn huy động cho các hoạt động của cả nền kinh tế được bắt nguồn từ nhiều nguồn: vốn đầu tư nước ngoài, vốn của các cá nhân, các nhà đầu tư, các tổ chức… trong đó một nguồn vốn lớn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong mọi nền kinh tế từ trước tới nay là ngân sách nhà nước (NSNN). Do đó, bội chi ngân sách cũng là một vấn đề chung cho mọi quốc gia hiện nay. Trong khuôn khổ ngắn của bài viết chỉ xin trình bày một số vấn đề về “ Bội chi ngân sách của Việt Nam trong giai đoạn thời kỳ hội nhập- Thực trạng và giải pháp”. Bội chi ngân sách nhà nước là số chênh lệch giữa chi lớn hơn thu. Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi NSNN: - Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh. Khủng hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tăng lên. ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN. Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ. - Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước. Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi NSNN. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm bớt. Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu. Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn,...), tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi NSNN. Dù ở những mức độ khác nhau nhưng bội chi ngân sách nhà nước là tình trạng đang diễn ra ở hầu hết các quốc gia trên thế giới do số thu ngân sách có hạn trong khi nhu cầu chi tiêu của Nhà nước lại không ngừng tăng lên, dẫn đến mất cân đối chi và thu, bội chi ngân sách xảy ra. Khi sản lượng của nền kinh tế thấp dưới mức sản lượng tiềm năng, thì Chính phủ có thể tăng mức chi ngân sách, chấp nhận bội chi để thúc đẩy hoạt động kinh tế. Vì vậy, bội chi ngân sách không chỉ diễn ra phổ biến đối với các nước nghèo, kém phát triển mà xảy ra ngay cả đối với những nước thuộc nhóm các nền kinh tế phát triển nhất (nhóm OECD). Đối với các nước đang phát triển, bội chi ngân sách thường để đáp ứng nhu cầu rất lớn về đầu tư cơ sở hạ tầng ban đầu như: Giao thông, điện, nước... Nhiều nước phát

8%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm dần từ năm 1996 đến năm 1999 và đến năm . năm 1986: 38. mức chi tiêu nhiều hơn so với mức thu vào lại thêm việc các nước Đông Âu và Liên Xô cắt giảm các nguồn viện trợ làm tình hình bội chi càng trầm trọng. khoản vay và viện trợ năm 1984 là 71. năm 1988: 32. năm 1985 là 40. Chính phủ đã phải giải quyết bội chi không chỉ bằng nguồn tiền đi vay nợ của nước ngoài mà còn bằng cả cách phát hành tiền dẫn đến tình trạng lạm phát cao. năm 1990 là 46.1995. Năm 1986 Số tiền phát 22.7%) và một số nhỏ do các khoản thu từ bán công trái trong nước. Trong thời gian 5 năm 1986 . 1993: 3. bội chi ngân sách vẫn diễn ra thường xuyên nhưng mức bội chi đã có những thành tựu đáng mừng so với những năm 80 của thế kỷ trước.1%.1995. 1.9 hành bù đắp bội chi (tỷ đồng) 1987 89.9%. năm 1989: 24. thâm hụt NSNN được khống chế ở mức thấp. do vậy khó duy trì tăng trưởng cao và bền vững của nền kinh tế gây ảnh hưởng tới đời sống cùa dân cư. mức bội chi ngân sách đã giảm xuống do những điều chỉnh tích cự theo hướng thắt chặt chi tiêu của chính phủ.3%.2% và năm 1995 là 4. Thêm vào đó. Trong những năm này.17% (1991: 1. bội chi ngân sách trong thời gian còn làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ . Bội chi xảy ra trong thời gian dài. 1994: 2. đây là giai đoạn có mức bội chi ngân sách cao do tình hình ngân sách còn yếu kém. 59.1 1988 450 1989 1655 1990 1200 Số còn lại được bù đắp bằng các khoản vay nợ và viện trợ của nước ngoài (so với bội chi.6%. đe dọa sự ổn định vĩ mô. Giai đoạn từ năm 1996-2000.17%).4%. tỷ lệ bội chi NSNN so với GDP chỉ ở mức 1. làm tăng thêm gánh nặng nợ nần cho quốc gia. Tuy nhiên. Xử lý bội chi ngân sách nhà nước đang là bài toán nan giải. Từ năm 1991. 1992:1. quy mô lớn và tốc độ cao được coi là nguyên nhân trực tiếp và quyết định gây ra lạm phát.7% mức thâm hụt này được hệ thống Ngân hàng thanh toán bằng cách phát hành tiền. do tác động của khủng hoảng tài chính ở các nước Đông Nam Á nên nền kinh tế có gặp không ít khó khăn.9%. năm 1987: 32. số thâm hụt NSNN đã giảm dần qua từng năm và được bù đắp bằng vay của dân và vay nước ngoài. tình hình thu chi NSNN đã có nhiều chuyển biến tích cực: nguồn thu đã đáp ứng được nhu cầu chi tiêu thường xuyên của chính phủ và co chi đầu tư cho phát triển.4% đến 4.triển và đang phát triển trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á cũng vẫn bội chi ngân sách.4%. Vài nét về tình hình bội chi ngân sách của Việt Nam Từ năm 2001 trở lại đây.5%. Thời kỳ từ năm 1986.1990.

2 1999 18.7 4. bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. nhất là trong năm 2005. hiệu quả nhằm nâng dần phần tích lũy của ngân sách cho đầu tư phát triển. Đây là thời kỳ suy thoái và thiểu phát. tốc độ này mới tăng lên chút ít.37 4. thì bình quân thời kỳ 1996-2000 đã đạt 19.9 GDP vào NSNN (%) Bội chi NSNN so 3 với GDP (%) 1997 19.7% và chiếm tỷ trọng gần một phần tư tổng thu ngân sách Nhà nước. nên mức bội chi NSNN như trên không tác động gây ra lạm phát mà có tác động làm cho nền kinh tế chuyển sang giai đoạn đi lên.6. cao hơn mức bình quân năm 19911995 (2. Khoản chi thường xuyên của ngân sách thường được khống chế tối đa trong khuôn khổ khả năng thu ngân sách. Chi ngân sách đã được thực hiên theo nguyên tắc tiết kiệm.95% GDP và năm 1998 có mức bội chi thấp nhất là 2.. Trong đó. Tỷ lệ bội chi NSNN ở mức từ 3. kích thích tăng trưởng. Tốc độ tăng thu hằng năm bình quân là 18. mức bội chi ngân sách nhà nước đã có những biến chuyển tích cực do sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và công tác thu có những thành tựu đáng kể . thể hiện rõ định hướng của nhà nước trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Chi tiêu ngân sách hàng năm đã được Quốc hội thảo luận và thông qua trong các phiên họp của mình.9%. dễ kiểm tra và không trùng lắp. tăng tỉ lệ động viên từ thuế so với GDP.7%/năm và chiếm tỷ trọng 20. Mỗi khoản chi được xác định trên cơ sở phân định rõ đối tượng và mục đích cụ thể. chi ngân sách cho giáo dục .95 Tỷ lệ bội chi bình quân 5 năm là 3.63%). Tỉ lệ động viên GDP vào NSNN nếu năm 1992 mới đạt 17%. Hệ thống thuế đã và dang được cải cách theo hướng mở rộng cơ sở thu thuế.đào tạo tăng từ 15% (năm . Từ năm 2001 trở lại đây. dễ làm.. Trong đó.49 4. Tổng chi NSNN trong 5 năm 2001 .6 2000 19.05 2.2000. dễ hiểu. Tốc độ tăng chi thường xuyên được khống chế thấp hơn tốc độ tăng chi cho phát triển. các sắc thuế có nội dung rõ ràng. thuế đất đai. Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đưa vào cân đối ngân sách tăng bình quân 14. thu từ dầu thô tăng bình quân hàng năm 18.6% so với mục tiêu. Năm 1996 Tỉ lệ động viên 21. tỷ trọng chi cho đầu tư phát triển là khoảng 29. thuế tài nguyên).87% GDP. đảm bảo công bằng. đơn giản.4 1998 19.8%.95% GDP năm 2000. điều chỉnh và phân phối lại thu nhập. chủ yếu do những năm vừa qua giá dầu thô tăng mạnh.2005 tăng 18. Thuế đã được xem xét đúng với vai trò cơ bản củ nó trong cơ chế thị trường là tạo nguồn thu cho ngân sách.0% GDP năm 1996 lên 4.2% (đạt 8.49%. Năm 2000 có mức bội chi cao nhất là 4.2% GDP). nhiều sắc lệnh thuế mới ban hành phù hợp với điều kiên nước ta và thông lệ quốc tế (thuế thu nhập.

Bội chi NSNN so với GDP (2001-2007) .2000). Đặc biệt. chi khoa học .2000) lên 19% (năm 2005).0%. năm 2006: 11. năm 2002: 1.8%). Sự tăng lên của bội chi ngân sách là do nhà nước đầu tư một lượng lớn vào các công trình xây dựng cơ bản như giao thông vận tải thông qua phát hành trái phiếu chính phủ. mức bội chi NSNN so với GDP chỉ ở mức 2. chi cho y tế và kinh phí thực hiện chính sách đối với người có công.9%-5% GDP. Nếu tính những khoản này vào cân đối ngân sách nhà nước thì mức bội chi những năm qua sẽ khoảng 5%.1%.6.2%. Tốc độ này nếu trừ đi yếu tố tăng trưởng thì còn cao hơn tỷ lệ lạm phát hằng năm (năm 2001: 0. năm 2004: 8.63% và giai đoạn từ năm 1996-2000 ở mức 3. ở mức 17-18%/ năm. tốc độ tăng bội chi NSNN là khá cao. năm 2003: 9.87% so với GDP thì có thể thấy tỉ lệ trong giai đoạn này đang ở mức cao (khoảng 5% so với GDP).1%. thực hiện nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo tăng trên 2.5 lần… Do đó bội chi NSNN trong giai đoạn này về cơ bản đuợc cân đối ở mức 5% GDP và thực hiện ở mức 4. trong 8 năm qua.6%.2% GDP. từ năm 2001 đến nay.7%. phát hành lượng lớn công trái giáo dục được phát hành để thu hút tiền cho đầu tư kiên cố hoá trường lớp học. gia đình chính sách. nếu xét về tỉ lệ bội chi ngân sách so với GDP giai đoạn năm 19911995. năm 2005: 9. năm 2007: 7. Tuy nhiên.công nghệ đạt 2% (chi cho 2 lĩnh vực này tăng gần 5 lần so với giai đoạn 1996 . Bội chi ngân sách nhà nước so với GDP 6 5 4 3 2 1 0 19 95 19 97 19 99 20 01 20 03 20 05 20 07 19 91 19 93 Béi chi NSNN/GDP ( Nguồn: Bộ Tài Chính) Nếu xét trong cả giai đoạn từ năm 1996 tới nay thì mức bội chi NSNN cũng không ngừng tăng lên.

7%.2 nghìn tỷ đồng.3% và 113.6%. trong khi tỉ lệ tăng trưởng của Việt Nam chỉ đạt 6. giảm. chi phát triển sự nghiệp kinh tế.xã hội. ngân sách được điều hành theo chủ trương thắt chặt chi tiêu tiến hành tiết kiệm.tỉ lệ bội chi ngân sách vẫn ở mức cao 8% GDP.9% thì năm 2000 là 5%). sự ra đời của Luật NSNN năm 1996 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong phương pháp điều hành tài khóa. tình trạng lãng phí. chính sách tài khóa đã được điều hành theo hướng giảm áp lực lạm phát.2% (riêng chỉ đầu tư xây dựng cơ bản là 66%).mức bội chi ngân sách cần thực hiện dưới mức 8% để đảm bảo được an ninh tài chính quốc gia và kiềm chế nguy cơ lạm phát lại xảy ra.23% thì tỉ lệ lạm phát lên tới 23%. trong khi tổng chi ước tính là 330. Theo ý kiến của các đại biểu Quốc hội trong phiên họp ngày 26/05/2009. (năm 1999 là 4. Như vậy. đoàn thể bằng 69. quản lý Nhà nước. Liên tiếp từ năm 1999 đến nay.Trong 9 tháng đầu năm 2009. tâm lý lo ngại nguy cơ giá cả tăng vọt không kiểm soát được. tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 274. Trong đó.9% dự toán năm. chi trả nợ và viện trợ bằng 70. do giá dầu thô trên thế giới giảm xuống trong những tháng đầu năm trong khi yêu cầu chi cho các chương trình của chính phủ vẫn lớn: so với mức dự toán thì chi đầu tư phát triển bằng 67. an ninh quốc phòng. Tổng chi ngân sách nhà nước năm 2008 tăng 22. tiềm lực tài chính. Như vậy.25 20 15 10 5 0 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Tèc ® t¨ng béi chi NSNN é Tèc ® t¨ng GDP é CPI Năm 2008. trong năm nay.3%. giúp cải thiện rất lớn tình hình ngân sách những năm qua. Đây là bài toán khó cho chính phủ để có thể phục hồi nhanh nền kinh tế sau khủng hoảng. do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. bội chi ngân sách tính trên GDP tăng liên tục. giãn thuế để khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất. cắt giảm chi thường xuyên. Do đối mặt với những khó khăn về nguồn thu. Việc duy trì được mức bội chi ngân sách 5% so với GDP trong thời gian vừa qua có thể coi là thành tựu lớn trong điều hành kinh tế vĩ mô vì vẫn thúc đẩy nền kinh tế tăng . điều này cũng cho thấy chính sách nới lỏng tài khóa đã được thực hiện.4 nghìn tỷ đồng. chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên vượt dự toán tương ứng ở mức 118. nguồn thu của ngân sách nhà nước đã bị ảnh hưởng do ảnh hưởng của những chính sách thực hiện miễn.3% so với năm 2007 và bằng 118.

tức là khoảng 1.7%) và năm 2008 (23%). lượng vay tiền từ bên ngoài vào bù đắp thâm hụt NSNN chiếm khoảng 1/3 số thâm hụt.trưởng tương đối ổn định.125 ( Nguồn: Bộ Tài chính) Kết quả là đưa đến kích thích tiêu dùng quá lớn thì ở chu kỳ sau sẽ tăng tỷ lệ lạm phát mà lạm phát cao lại làm giảm đầu tư và hệ quả tất yếu là giảm mục tiêu tăng trưởng.500 8.7% so với GDP.5%-1.4% năm 2007 là một con số khá lớn trong chi tiêu của Chính phủ.253 7.450 22.000 32. đã xuất hiện nhiều bất cập trong tình hình thu chi ngân sách: . Nếu cộng thêm cả phần vay về cho vay lại.420 27.382 Số tiền vay nước ngoài để bù đắp bội chi NSNN 13. Đây là một trong những nguyên nhân gây ra tinh hình lam phát cao trong năm 2007 (12. Qua đồ thị dưới đây cho thấy. Tuy nhiên.18%. từ năm 2001 tới đây. Thực tế trong những năm qua.500 12. ở mức 17. nếu tăng chi quá mức cho phép. do phải kích cầu đầu tư nên ngân sách nhà nước (NSNN) đã chi một lượng tiền lớn ra lưu thông nên tốc độ tăng bội chi NSNN là khá cao.041 7.5% GDP. Nhưng bên cạnh đó.000 36. lượng tiền từ bên ngoài vào nền kinh tế nước ta qua bù đắp thâm hụt NSNN khoảng 2%-2.895 18. .Theo đánh giá của các chuyên gia. Theo lý thuyết về tổng cầu của nhà kinh tế học Keyness. tăng chi NSNN để kích thích tiêu dùng và tăng cầu tiêu dùng sẽ kích thích đầu tư phát triển. tức là tăng chi đến mức làm cho thâm hụt ngân sách nhà nước ở mức cao và để bù đắp thâm hụt này.326 7. Chính phủ sẽ phải huy động từ nguồn vay trong nước và vay nợ nước ngoài làm cho việc trả nợ hàng năm lên đến trên dưới 15% tổng chi ngân sách. góp phần đưa đến tăng trưởng cao. chi NSNN đã tăng từ 27% GDP năm 2001 lên 40. Vay của Chính phủ để bù đắp bội chi NSNN (Đơn vị: Tỷ đồng) Năm 2007 2006 2005 2004 2003 2002 Số tiền vay trong nước để bù đắp bội chi NSNN 43.

Việc chênh lệch gần 2% trong kết quả cũng đưa đến con số tuyệt đối là hàng nghìn tỷ đồng trong bội chi ngân sách. Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Ông Lê Quốc Lý khẳng định: nếu cộng lượng vốn lớn được đầu tư ra các công trình giao thông và thủy lợi thông qua hình thức phát hành trái phiếu chính phủ và lượng công trái giáo dục được phát hành để thu hút tiền cho đầu tư kiên cố hóa trường học (hai lượng tiền lớn không cân đối vào NSNN).Nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước là thuế nhưng trong những năm vừa qua. lao động chiếm 19.32% thì năm 2007 tăng lên 19. Từ khi mở cửa hội nhập.Trong khi mức bội chi ngân sách vẫn cao thì mức thu của ngân sách nhà nước lại giảm xuống. tình trạng buôn lậu. trốn thuế gia tăng cả về quy mô. Kết quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế còn ở mức thấp: trong 3 nhân tố đóng góp vào tốc độ tăng trưởng kinh tế thì vốn chiếm tới 52. Điều quan ngại là tình trạng này lại có sự tiếp tay. hình thức. biến chất trong khu vực nhà nước. mức bội chi ngân sách của Việt Nam năm 2007 nếu tính theo thông lệ quốc tế phải là 6.82% và năm 2007 chiếm 24. nếu tính bội chi ngân sách theo thông lệ của IMF thì Việt Nam cần bổ sung thêm một số nội dung vào tính bội chi ngân sách: Đầu tư vốn theo nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA.đây các khoản chi lớn không được đưa vào cân đối ngân sách hàng năm. Vụ trưởng Vụ Tài chính. . Thu ngân sách 2008 dù . còn năng suất .11%. phương tiện.9% GDP. bảo kê của những kẻ thoái hoá.Chi NSNN so với GDP từ 2001 – 2007 45 40 35 30 25 20 15 10 5 0 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Tổng chi NSNN Chi tiêu thường xuyên Chi tiêu/GDP .37%. thì bội chi NSNN trong những năm qua không phải chỉ là 5% GDP.Tiền tệ.nhân tố tổng hợp (TEP).7%. Các hoạt động đầu tư do ngân hàng phát triển Việt Nam hỗ trợ.chỉ chiếm 28. nhất là nhập lậu.Theo chuyên gia tư vấn quốc tế Jitendra Modi. nhân tố chất lượng . . thấp xa so với tỉ trọng trên dưới 40% của các nước trong khu vực. trong tổng thu ngân sách. Cho vay bằng hình thức trái phiếu ưu đãi và chi đầu tư ngoài ngân sách. gian lận thương mại.2%. thu từ thuế quan năm 2006 chiếm 15. thay vì con số xấp xỉ 5% GDP như báo cáo của Chính phủ trước QH. thu từ dầu thô và thuế xuất nhập khẩu chiếm tỉ trọng khá lớn: thu từ dầu thô năm 2006 chiếm 29. Như vậy.1%.

dự án được tập trung đầu tư cho các dự án. Trong lĩnh vực đầu tư và cấp phát vôn từ ngân sách. nhưng có 35. thu dầu thô (giảm 12. tăng 18. yêu cầu giảm mức thuế quan xuống 0-5% là yêu cầu tất yếu với Việt Nam. Điều 8. Luật NSNN sửa đổi năm 2002 mở rộng thêm quyền chủ động trong việc huy động vốn của ngân sách địa phương. cũng nghĩa là nguồn thu cho ngân sách nhà nước từ đây cũng sẽ giảm xuống. Thu từ dầu thô không chỉ phụ thuộc vào trữ lượng. Thực chất của các nguồn cho địa phương vay là bội chi ngân sách nhà nước nhưng những khoản vay này còn chưa được quản lý chặt chẽ để quyết toán. trường hợp tỉnh. ngừng triển khai.Theo khoản 3. dự án thực tế không giảm do toàn bộ kinh phí tiết kiệm được từ việc đình hoãn. Luật NSNN năm 1996.000 tỷ đồng. thúc đẩy tăng trưởng. thu XNK tăng 23. giãn tiến độ 1.6% so dự toán). công trình khác.Tăng mức chi ngân sách cho đầu tư phát triển là chủ trương đúng. ngân sách địa phương được cân đối theo nguyên tắc tổng số chi không vượt quá tổng số thu.400 tỷ đồng vượt dự toán là do giá dầu thô trên thị trường thế giới tăng 41 USD/thùng so với giá tính dự toán.968 dự án với tổng số vốn là 5. không ổn định. đầu tư còn dàn trải. tỷ lệ giải ngân vốn còn thấp với chủ trương tăng chi ngân sách cho đầu tư phát triển nhằm kích thích tổng cầu nền kinh tế. Theo một nghiên cứu của Viện Khoa học Tài chính.920 tỷ đồng).9% tổng chi NSNN.654 tỷ đồng). và thu xuất nhập khẩu (giảm 10.500 tỷ đồng (tăng 34. sản lượng khai thác. thành phố trực thuộc Trung ương có nhu cầu đầu tư kết cấu hạ tầng thì được phép huy động vốn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và phải cân đối vào ngân sách địa phương để trả nợ khi đến hạn. số tiền đầu tư cho các công trình. hiệu quả đầu tư chưa cao. Trong tiến trình hội nhập. thu ngân sách Nhà nước trong năm 2009 này sẽ giảm khoảng 53. trái lại nó thể hiện tính chưa bền vững và sự phụ thuộc của các nguồn thu NSNN nước ta. xuất hiện mâu thuẫn giữa tốc độ tăng chi đầu tư xây dựng cơ bản còn chậm. thúc đẩy tốc ..vượt dự toán 76. Tuy nhiên.3% so dự toán.314 tỷ đồng do suy giảm từ ba nguồn thu quan trọng là thu nội địa (giảm 29. là biện pháp kinh tế có thể làm tăng tổng cầu. .500 tỷ đồng (tăng 33.740 tỷ đồng). . Chính phủ đã chỉ đạo đình hoãn. . Như vậy. thu từ đất tăng 5. mặc dù chúng ta chấp nhận về nguyên tắc là không có việc bội chi ngân sách địa phương nhưng thực tế lại vẫn cho phép địa phương vay để đầu tư.000 tỷ đồng. Tỷ lệ giải ngân vốn XDCB đến hết tháng 9/ 2008 mới đạt xấp xỉ 52% dự toán.Cơ cấu chi ngân sách nhiều bất cập. Chi đầu tư phát triển ước cả năm đạt 118.3% so với dự toán. Vay vốn đầu tư thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5 năm do hội đồng nhân dân tỉnh quyết định (không phải theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định như trước đây). Những phân tích trên cho thấy thu ngân sách còn chứa đựng nhiều yếu tố đột biến. Đó là những khoản thu không trực tiếp phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh trong nước. mà còn phụ thuộc khá lớn vào giá cả dầu mỏ trên thị trường thế giới. ngừng triển khai và giãn tiến độ các công trình.991 tỷ đồng bằng 8% kế hoạch vốn năm 2008. chiếm 24.

Việc áp dụng . -Thứ hai. nợ thuế. rà soát lại các hoạt động thu chi NSNN để tăng thu giảm chi. Vậy làm thế nào để có thể giảm được mức bội chi ngân sách hiện nay? Đây là bài toán khó cho các nhà điều hành hiện nay. buôn lậu. bãi bỏ những khoản phí. Thứ nhất. công trình có hiệu quả kinh tế cao. bù lỗ. + Huy động nguồn vốn của cá nhân để giảm chi tiêu của chính phủ. nên thay đổi cách cân đối ngân sách nhà nước theo thông lệ quốc tế. Nhưng bội chi tăng thêm phải được sử dụng cho những công trình có hiệu quả. xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm để tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. vừa tích luỹ tài chính tạo nguồn để trả nợ vừa bù đắp bội chi. Điều đó sẽ tạo thuận lợi để so sánh mức bội chi của nước ta với các nước. cũng như để xác định mức độ an toàn về nợ Chính phủ khi xem xét cân đối kinh tế vĩ mô. Các dự án được đầu tư. hàng hóa dịch vụ cho nền kinh tế. tạo ra các khoản đóng góp bất hợp lý dưới mọi hình thức + Nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong nước đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn của nhà nước để tăng nguồn thu cho ngân sách đồng thời cũng giảm tình trạng doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. hoặc phải sử dụng bội chi để đầu tư vào những công trình xây dựng cơ bản tạo môi trường thuận lợi cho kinh doanh. công trình cấp bách.Các giải pháp Xuất phát từ những hạn chế nêu trên xin đưa ra một số biện pháp để khắc phục như sau: -Thứ nhất. Đây là biện pháp thường được các chuyên gia cho là có hiệu quả và ít ảnh hưởng tới nền kinh tế nhưng cũng là khó thực hiện do có độ trễ về thời gian và đòi hỏi các giải pháp phải mang tính đồng bộ: + Tăng cường quản lý để các công trình đầu tư của Nhà nước thực sự có hiệu quả. cần có đội ngũ các chuyên gia thẩm định để đánh giá chi tiết cẩn thận hiệu quả kinh tế của các dự án xin đầu tư. kịp thời ngăn chặn tình trạng lạm dụng. + Nâng cao hiệu quả của công tác thu thuế. tạo sản phẩm. hoặc thủ tục không đầy đủ sang cho các công trình chuyển tiếp. các lĩnh vực theo mục tiêu phát triển trong từng thời kỳ. Như vậy. nhằm kiểm soát nghiêm ngặt tình trạng thuế. pháp luật cũng như phát triển môi trường kinh doanh để thu hút vốn đầu tư vào các ngành. Muốn vậy cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách. đặc biệt là các dự án đầu tư công phải là những dự án tập trung vào những ngành kinh tế trọng điểm của đất nước và phải có kế hoạch hợp lý. khởi công chậm. Đồng thời cũng cần nhanh chóng hoàn thiện các luật thuế. cần có sự rà soát để chuyển vốn từ các công trình chưa khởi công. chính phủ phải chi ngân sách để duy trì. lệ phí không còn phù hợp.độ tăng trưởng kinh tế. yêu cầu chi tiêu của chính phủ thì ngày càng lớn để thực hiện các chương trình của mình trong khi những khoản thu vào để chi ra lại có xu hướng giảm đi. 2. tiếp tục rà soát để giảm. Thứ hai.

đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn. -Thứ ba. y tế. các tổ chức tài chính quốc tế về tính minh bạch trong quản lý kinh tế của Việt Nam. . quan trọng hơn là sẽ làm rõ được bản chất của thâm hụt ngân sách. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với QH. đầu tư vào các ngành kinh trọng điểm của quốc gia. đẩy mạnh thực hiện xã hội công tác giáo dục. Nhưng có lẽ rằng. hạn chế và kiểm soát chặt chẽ các nguồn chi vượt dự toán ngân sách -Thứ tư. văn hóa thông tin… đi liền với sự quản lý chặt chẽ của nhà nước vì đây là những lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người dân và trực tiếp tác động đến sức cạnh tranh trong dài hạn của quốc gia.chuẩn mực quốc tế sẽ tạo lòng tin đối với các nhà đầu tư nước ngoài. cần cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng ưu tiên cho phát triển an sinh xã hội. giúp các ĐBQH nắm bắt thông tin và có căn cứ để thảo luận trước khi thông qua Nghị quyết phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm do Chính phủ trình.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->