Bội chi Ngân sách nhà nước

Tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước bền vững ổn định la mục tiêu chung hầu hết các quốc gia. Trong đó, tăng trưởng kinh tế là điều kiện tiên quyết cũng là mục tiêu. Muốn tăng trưởng kinh tế thì vốn là một yếu tố không thể thiếu trong mọi quá trình sản xuất và hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn huy động cho các hoạt động của cả nền kinh tế được bắt nguồn từ nhiều nguồn: vốn đầu tư nước ngoài, vốn của các cá nhân, các nhà đầu tư, các tổ chức… trong đó một nguồn vốn lớn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong mọi nền kinh tế từ trước tới nay là ngân sách nhà nước (NSNN). Do đó, bội chi ngân sách cũng là một vấn đề chung cho mọi quốc gia hiện nay. Trong khuôn khổ ngắn của bài viết chỉ xin trình bày một số vấn đề về “ Bội chi ngân sách của Việt Nam trong giai đoạn thời kỳ hội nhập- Thực trạng và giải pháp”. Bội chi ngân sách nhà nước là số chênh lệch giữa chi lớn hơn thu. Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi NSNN: - Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh. Khủng hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tăng lên. ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN. Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ. - Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước. Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi NSNN. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm bớt. Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu. Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn,...), tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi NSNN. Dù ở những mức độ khác nhau nhưng bội chi ngân sách nhà nước là tình trạng đang diễn ra ở hầu hết các quốc gia trên thế giới do số thu ngân sách có hạn trong khi nhu cầu chi tiêu của Nhà nước lại không ngừng tăng lên, dẫn đến mất cân đối chi và thu, bội chi ngân sách xảy ra. Khi sản lượng của nền kinh tế thấp dưới mức sản lượng tiềm năng, thì Chính phủ có thể tăng mức chi ngân sách, chấp nhận bội chi để thúc đẩy hoạt động kinh tế. Vì vậy, bội chi ngân sách không chỉ diễn ra phổ biến đối với các nước nghèo, kém phát triển mà xảy ra ngay cả đối với những nước thuộc nhóm các nền kinh tế phát triển nhất (nhóm OECD). Đối với các nước đang phát triển, bội chi ngân sách thường để đáp ứng nhu cầu rất lớn về đầu tư cơ sở hạ tầng ban đầu như: Giao thông, điện, nước... Nhiều nước phát

tỷ lệ bội chi NSNN so với GDP chỉ ở mức 1. mức chi tiêu nhiều hơn so với mức thu vào lại thêm việc các nước Đông Âu và Liên Xô cắt giảm các nguồn viện trợ làm tình hình bội chi càng trầm trọng. năm 1986: 38. Thêm vào đó. Vài nét về tình hình bội chi ngân sách của Việt Nam Từ năm 2001 trở lại đây. làm tăng thêm gánh nặng nợ nần cho quốc gia. đây là giai đoạn có mức bội chi ngân sách cao do tình hình ngân sách còn yếu kém. khoản vay và viện trợ năm 1984 là 71. Chính phủ đã phải giải quyết bội chi không chỉ bằng nguồn tiền đi vay nợ của nước ngoài mà còn bằng cả cách phát hành tiền dẫn đến tình trạng lạm phát cao. 1993: 3. Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm dần từ năm 1996 đến năm 1999 và đến năm .17% (1991: 1. số thâm hụt NSNN đã giảm dần qua từng năm và được bù đắp bằng vay của dân và vay nước ngoài.7% mức thâm hụt này được hệ thống Ngân hàng thanh toán bằng cách phát hành tiền. 59. Trong thời gian 5 năm 1986 .1990. Tuy nhiên.2% và năm 1995 là 4.6%.7%) và một số nhỏ do các khoản thu từ bán công trái trong nước.5%. Trong những năm này.4%. Giai đoạn từ năm 1996-2000. Thời kỳ từ năm 1986. mức bội chi ngân sách đã giảm xuống do những điều chỉnh tích cự theo hướng thắt chặt chi tiêu của chính phủ. 1992:1. năm 1990 là 46. 1994: 2.17%).4%.triển và đang phát triển trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á cũng vẫn bội chi ngân sách.9%. đe dọa sự ổn định vĩ mô. năm 1988: 32. Năm 1986 Số tiền phát 22. bội chi ngân sách vẫn diễn ra thường xuyên nhưng mức bội chi đã có những thành tựu đáng mừng so với những năm 80 của thế kỷ trước.1995. Từ năm 1991.1%. năm 1989: 24.1995. thâm hụt NSNN được khống chế ở mức thấp.9 hành bù đắp bội chi (tỷ đồng) 1987 89.3%.1 1988 450 1989 1655 1990 1200 Số còn lại được bù đắp bằng các khoản vay nợ và viện trợ của nước ngoài (so với bội chi. năm 1987: 32.4% đến 4. năm 1985 là 40. do vậy khó duy trì tăng trưởng cao và bền vững của nền kinh tế gây ảnh hưởng tới đời sống cùa dân cư. tình hình thu chi NSNN đã có nhiều chuyển biến tích cực: nguồn thu đã đáp ứng được nhu cầu chi tiêu thường xuyên của chính phủ và co chi đầu tư cho phát triển. 1. Bội chi xảy ra trong thời gian dài.9%. bội chi ngân sách trong thời gian còn làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ .8%. quy mô lớn và tốc độ cao được coi là nguyên nhân trực tiếp và quyết định gây ra lạm phát. do tác động của khủng hoảng tài chính ở các nước Đông Nam Á nên nền kinh tế có gặp không ít khó khăn. Xử lý bội chi ngân sách nhà nước đang là bài toán nan giải.

thuế tài nguyên).49%.87% GDP. Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đưa vào cân đối ngân sách tăng bình quân 14. các sắc thuế có nội dung rõ ràng.37 4. mức bội chi ngân sách nhà nước đã có những biến chuyển tích cực do sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và công tác thu có những thành tựu đáng kể . thể hiện rõ định hướng của nhà nước trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Trong đó. dễ làm. thuế đất đai.7% và chiếm tỷ trọng gần một phần tư tổng thu ngân sách Nhà nước. cao hơn mức bình quân năm 19911995 (2.2% (đạt 8. đảm bảo công bằng. Khoản chi thường xuyên của ngân sách thường được khống chế tối đa trong khuôn khổ khả năng thu ngân sách.2005 tăng 18.4 1998 19. đơn giản.2 1999 18.2% GDP).9%. Chi ngân sách đã được thực hiên theo nguyên tắc tiết kiệm. Tỷ lệ bội chi NSNN ở mức từ 3. thì bình quân thời kỳ 1996-2000 đã đạt 19. bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. tăng tỉ lệ động viên từ thuế so với GDP..05 2..95% GDP năm 2000. Năm 1996 Tỉ lệ động viên 21. Thuế đã được xem xét đúng với vai trò cơ bản củ nó trong cơ chế thị trường là tạo nguồn thu cho ngân sách. Tốc độ tăng thu hằng năm bình quân là 18.95% GDP và năm 1998 có mức bội chi thấp nhất là 2. dễ hiểu.6% so với mục tiêu. Mỗi khoản chi được xác định trên cơ sở phân định rõ đối tượng và mục đích cụ thể. hiệu quả nhằm nâng dần phần tích lũy của ngân sách cho đầu tư phát triển.49 4.6. dễ kiểm tra và không trùng lắp.7%/năm và chiếm tỷ trọng 20. Tổng chi NSNN trong 5 năm 2001 .95 Tỷ lệ bội chi bình quân 5 năm là 3.2000. nhiều sắc lệnh thuế mới ban hành phù hợp với điều kiên nước ta và thông lệ quốc tế (thuế thu nhập. Đây là thời kỳ suy thoái và thiểu phát.0% GDP năm 1996 lên 4. Tốc độ tăng chi thường xuyên được khống chế thấp hơn tốc độ tăng chi cho phát triển. nên mức bội chi NSNN như trên không tác động gây ra lạm phát mà có tác động làm cho nền kinh tế chuyển sang giai đoạn đi lên.63%). kích thích tăng trưởng. tỷ trọng chi cho đầu tư phát triển là khoảng 29. Chi tiêu ngân sách hàng năm đã được Quốc hội thảo luận và thông qua trong các phiên họp của mình. Từ năm 2001 trở lại đây. Tỉ lệ động viên GDP vào NSNN nếu năm 1992 mới đạt 17%.6 2000 19.9 GDP vào NSNN (%) Bội chi NSNN so 3 với GDP (%) 1997 19. Năm 2000 có mức bội chi cao nhất là 4. điều chỉnh và phân phối lại thu nhập. chủ yếu do những năm vừa qua giá dầu thô tăng mạnh. tốc độ này mới tăng lên chút ít. Hệ thống thuế đã và dang được cải cách theo hướng mở rộng cơ sở thu thuế. nhất là trong năm 2005. chi ngân sách cho giáo dục . Trong đó.8%. thu từ dầu thô tăng bình quân hàng năm 18.đào tạo tăng từ 15% (năm .7 4.

9%-5% GDP.2000).7%. trong 8 năm qua. Nếu tính những khoản này vào cân đối ngân sách nhà nước thì mức bội chi những năm qua sẽ khoảng 5%. tốc độ tăng bội chi NSNN là khá cao. ở mức 17-18%/ năm.công nghệ đạt 2% (chi cho 2 lĩnh vực này tăng gần 5 lần so với giai đoạn 1996 . Đặc biệt.8%). chi khoa học .2000) lên 19% (năm 2005).1%. Sự tăng lên của bội chi ngân sách là do nhà nước đầu tư một lượng lớn vào các công trình xây dựng cơ bản như giao thông vận tải thông qua phát hành trái phiếu chính phủ.63% và giai đoạn từ năm 1996-2000 ở mức 3. Bội chi NSNN so với GDP (2001-2007) .6. phát hành lượng lớn công trái giáo dục được phát hành để thu hút tiền cho đầu tư kiên cố hoá trường lớp học. năm 2004: 8. năm 2006: 11. chi cho y tế và kinh phí thực hiện chính sách đối với người có công. Tốc độ này nếu trừ đi yếu tố tăng trưởng thì còn cao hơn tỷ lệ lạm phát hằng năm (năm 2001: 0. năm 2007: 7. nếu xét về tỉ lệ bội chi ngân sách so với GDP giai đoạn năm 19911995. gia đình chính sách.5 lần… Do đó bội chi NSNN trong giai đoạn này về cơ bản đuợc cân đối ở mức 5% GDP và thực hiện ở mức 4. thực hiện nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo tăng trên 2.1%.0%.87% so với GDP thì có thể thấy tỉ lệ trong giai đoạn này đang ở mức cao (khoảng 5% so với GDP). Tuy nhiên. năm 2002: 1. năm 2003: 9. từ năm 2001 đến nay.2%.2% GDP. Bội chi ngân sách nhà nước so với GDP 6 5 4 3 2 1 0 19 95 19 97 19 99 20 01 20 03 20 05 20 07 19 91 19 93 Béi chi NSNN/GDP ( Nguồn: Bộ Tài Chính) Nếu xét trong cả giai đoạn từ năm 1996 tới nay thì mức bội chi NSNN cũng không ngừng tăng lên. năm 2005: 9. mức bội chi NSNN so với GDP chỉ ở mức 2.6%.

2% (riêng chỉ đầu tư xây dựng cơ bản là 66%). ngân sách được điều hành theo chủ trương thắt chặt chi tiêu tiến hành tiết kiệm. sự ra đời của Luật NSNN năm 1996 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong phương pháp điều hành tài khóa.3% và 113. Liên tiếp từ năm 1999 đến nay. tình trạng lãng phí. giúp cải thiện rất lớn tình hình ngân sách những năm qua. nguồn thu của ngân sách nhà nước đã bị ảnh hưởng do ảnh hưởng của những chính sách thực hiện miễn. (năm 1999 là 4.9% thì năm 2000 là 5%).mức bội chi ngân sách cần thực hiện dưới mức 8% để đảm bảo được an ninh tài chính quốc gia và kiềm chế nguy cơ lạm phát lại xảy ra. tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 274. chi phát triển sự nghiệp kinh tế. chi trả nợ và viện trợ bằng 70.25 20 15 10 5 0 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Tèc ® t¨ng béi chi NSNN é Tèc ® t¨ng GDP é CPI Năm 2008. chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên vượt dự toán tương ứng ở mức 118. tâm lý lo ngại nguy cơ giá cả tăng vọt không kiểm soát được. trong khi tỉ lệ tăng trưởng của Việt Nam chỉ đạt 6. cắt giảm chi thường xuyên.3% so với năm 2007 và bằng 118.6%.3%. Như vậy. trong năm nay. do giá dầu thô trên thế giới giảm xuống trong những tháng đầu năm trong khi yêu cầu chi cho các chương trình của chính phủ vẫn lớn: so với mức dự toán thì chi đầu tư phát triển bằng 67. Trong đó.4 nghìn tỷ đồng. Tổng chi ngân sách nhà nước năm 2008 tăng 22.Trong 9 tháng đầu năm 2009.tỉ lệ bội chi ngân sách vẫn ở mức cao 8% GDP.2 nghìn tỷ đồng.23% thì tỉ lệ lạm phát lên tới 23%. quản lý Nhà nước. giảm. Do đối mặt với những khó khăn về nguồn thu. Đây là bài toán khó cho chính phủ để có thể phục hồi nhanh nền kinh tế sau khủng hoảng. đoàn thể bằng 69. an ninh quốc phòng.9% dự toán năm. Theo ý kiến của các đại biểu Quốc hội trong phiên họp ngày 26/05/2009. do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.7%. chính sách tài khóa đã được điều hành theo hướng giảm áp lực lạm phát. tiềm lực tài chính. Như vậy. Việc duy trì được mức bội chi ngân sách 5% so với GDP trong thời gian vừa qua có thể coi là thành tựu lớn trong điều hành kinh tế vĩ mô vì vẫn thúc đẩy nền kinh tế tăng . điều này cũng cho thấy chính sách nới lỏng tài khóa đã được thực hiện. giãn thuế để khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất.xã hội. bội chi ngân sách tính trên GDP tăng liên tục. trong khi tổng chi ước tính là 330.

382 Số tiền vay nước ngoài để bù đắp bội chi NSNN 13.500 12.041 7.450 22. ở mức 17. góp phần đưa đến tăng trưởng cao.000 32. Vay của Chính phủ để bù đắp bội chi NSNN (Đơn vị: Tỷ đồng) Năm 2007 2006 2005 2004 2003 2002 Số tiền vay trong nước để bù đắp bội chi NSNN 43. lượng vay tiền từ bên ngoài vào bù đắp thâm hụt NSNN chiếm khoảng 1/3 số thâm hụt. tăng chi NSNN để kích thích tiêu dùng và tăng cầu tiêu dùng sẽ kích thích đầu tư phát triển.000 36. Thực tế trong những năm qua.trưởng tương đối ổn định. Chính phủ sẽ phải huy động từ nguồn vay trong nước và vay nợ nước ngoài làm cho việc trả nợ hàng năm lên đến trên dưới 15% tổng chi ngân sách. tức là khoảng 1. Đây là một trong những nguyên nhân gây ra tinh hình lam phát cao trong năm 2007 (12. từ năm 2001 tới đây. do phải kích cầu đầu tư nên ngân sách nhà nước (NSNN) đã chi một lượng tiền lớn ra lưu thông nên tốc độ tăng bội chi NSNN là khá cao.326 7. tức là tăng chi đến mức làm cho thâm hụt ngân sách nhà nước ở mức cao và để bù đắp thâm hụt này.420 27. Tuy nhiên. chi NSNN đã tăng từ 27% GDP năm 2001 lên 40.4% năm 2007 là một con số khá lớn trong chi tiêu của Chính phủ.253 7.895 18.5% GDP. Qua đồ thị dưới đây cho thấy. . Theo lý thuyết về tổng cầu của nhà kinh tế học Keyness. lượng tiền từ bên ngoài vào nền kinh tế nước ta qua bù đắp thâm hụt NSNN khoảng 2%-2. Nếu cộng thêm cả phần vay về cho vay lại. nếu tăng chi quá mức cho phép.7%) và năm 2008 (23%).5%-1.18%.Theo đánh giá của các chuyên gia.125 ( Nguồn: Bộ Tài chính) Kết quả là đưa đến kích thích tiêu dùng quá lớn thì ở chu kỳ sau sẽ tăng tỷ lệ lạm phát mà lạm phát cao lại làm giảm đầu tư và hệ quả tất yếu là giảm mục tiêu tăng trưởng.7% so với GDP. đã xuất hiện nhiều bất cập trong tình hình thu chi ngân sách: . Nhưng bên cạnh đó.500 8.

Kết quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế còn ở mức thấp: trong 3 nhân tố đóng góp vào tốc độ tăng trưởng kinh tế thì vốn chiếm tới 52. trốn thuế gia tăng cả về quy mô. Việc chênh lệch gần 2% trong kết quả cũng đưa đến con số tuyệt đối là hàng nghìn tỷ đồng trong bội chi ngân sách.nhân tố tổng hợp (TEP). Điều quan ngại là tình trạng này lại có sự tiếp tay. còn năng suất . mức bội chi ngân sách của Việt Nam năm 2007 nếu tính theo thông lệ quốc tế phải là 6. nếu tính bội chi ngân sách theo thông lệ của IMF thì Việt Nam cần bổ sung thêm một số nội dung vào tính bội chi ngân sách: Đầu tư vốn theo nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA.82% và năm 2007 chiếm 24. Từ khi mở cửa hội nhập. bảo kê của những kẻ thoái hoá.Nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước là thuế nhưng trong những năm vừa qua. thu từ thuế quan năm 2006 chiếm 15.Tiền tệ.9% GDP. . lao động chiếm 19. gian lận thương mại. Như vậy. hình thức. trong tổng thu ngân sách. Vụ trưởng Vụ Tài chính. Cho vay bằng hình thức trái phiếu ưu đãi và chi đầu tư ngoài ngân sách.1%. Thu ngân sách 2008 dù . Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Ông Lê Quốc Lý khẳng định: nếu cộng lượng vốn lớn được đầu tư ra các công trình giao thông và thủy lợi thông qua hình thức phát hành trái phiếu chính phủ và lượng công trái giáo dục được phát hành để thu hút tiền cho đầu tư kiên cố hóa trường học (hai lượng tiền lớn không cân đối vào NSNN).11%. thu từ dầu thô và thuế xuất nhập khẩu chiếm tỉ trọng khá lớn: thu từ dầu thô năm 2006 chiếm 29. phương tiện.Trong khi mức bội chi ngân sách vẫn cao thì mức thu của ngân sách nhà nước lại giảm xuống. tình trạng buôn lậu. thay vì con số xấp xỉ 5% GDP như báo cáo của Chính phủ trước QH.đây các khoản chi lớn không được đưa vào cân đối ngân sách hàng năm.Theo chuyên gia tư vấn quốc tế Jitendra Modi. thấp xa so với tỉ trọng trên dưới 40% của các nước trong khu vực.37%. thì bội chi NSNN trong những năm qua không phải chỉ là 5% GDP. Các hoạt động đầu tư do ngân hàng phát triển Việt Nam hỗ trợ. . nhân tố chất lượng .7%.chỉ chiếm 28. nhất là nhập lậu. biến chất trong khu vực nhà nước.2%.32% thì năm 2007 tăng lên 19.Chi NSNN so với GDP từ 2001 – 2007 45 40 35 30 25 20 15 10 5 0 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Tổng chi NSNN Chi tiêu thường xuyên Chi tiêu/GDP .

400 tỷ đồng vượt dự toán là do giá dầu thô trên thị trường thế giới tăng 41 USD/thùng so với giá tính dự toán. Đó là những khoản thu không trực tiếp phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh trong nước. sản lượng khai thác.000 tỷ đồng. Tỷ lệ giải ngân vốn XDCB đến hết tháng 9/ 2008 mới đạt xấp xỉ 52% dự toán.991 tỷ đồng bằng 8% kế hoạch vốn năm 2008. là biện pháp kinh tế có thể làm tăng tổng cầu. .9% tổng chi NSNN. dự án được tập trung đầu tư cho các dự án. Chi đầu tư phát triển ước cả năm đạt 118. thu XNK tăng 23. thúc đẩy tăng trưởng.968 dự án với tổng số vốn là 5.920 tỷ đồng). ngừng triển khai. Thực chất của các nguồn cho địa phương vay là bội chi ngân sách nhà nước nhưng những khoản vay này còn chưa được quản lý chặt chẽ để quyết toán. tỷ lệ giải ngân vốn còn thấp với chủ trương tăng chi ngân sách cho đầu tư phát triển nhằm kích thích tổng cầu nền kinh tế. Như vậy. Chính phủ đã chỉ đạo đình hoãn. không ổn định. thu từ đất tăng 5.3% so với dự toán. thành phố trực thuộc Trung ương có nhu cầu đầu tư kết cấu hạ tầng thì được phép huy động vốn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và phải cân đối vào ngân sách địa phương để trả nợ khi đến hạn.654 tỷ đồng). trường hợp tỉnh.740 tỷ đồng). Luật NSNN sửa đổi năm 2002 mở rộng thêm quyền chủ động trong việc huy động vốn của ngân sách địa phương. xuất hiện mâu thuẫn giữa tốc độ tăng chi đầu tư xây dựng cơ bản còn chậm. số tiền đầu tư cho các công trình.500 tỷ đồng (tăng 34. chiếm 24. thu dầu thô (giảm 12.6% so dự toán). thúc đẩy tốc . thu ngân sách Nhà nước trong năm 2009 này sẽ giảm khoảng 53. Trong tiến trình hội nhập. và thu xuất nhập khẩu (giảm 10.500 tỷ đồng (tăng 33. . ngừng triển khai và giãn tiến độ các công trình. Điều 8. cũng nghĩa là nguồn thu cho ngân sách nhà nước từ đây cũng sẽ giảm xuống.000 tỷ đồng. Tuy nhiên. mà còn phụ thuộc khá lớn vào giá cả dầu mỏ trên thị trường thế giới.Tăng mức chi ngân sách cho đầu tư phát triển là chủ trương đúng. hiệu quả đầu tư chưa cao. công trình khác. Vay vốn đầu tư thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5 năm do hội đồng nhân dân tỉnh quyết định (không phải theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định như trước đây). . dự án thực tế không giảm do toàn bộ kinh phí tiết kiệm được từ việc đình hoãn. Luật NSNN năm 1996.. Thu từ dầu thô không chỉ phụ thuộc vào trữ lượng. đầu tư còn dàn trải.Cơ cấu chi ngân sách nhiều bất cập.314 tỷ đồng do suy giảm từ ba nguồn thu quan trọng là thu nội địa (giảm 29. tăng 18. mặc dù chúng ta chấp nhận về nguyên tắc là không có việc bội chi ngân sách địa phương nhưng thực tế lại vẫn cho phép địa phương vay để đầu tư. Theo một nghiên cứu của Viện Khoa học Tài chính.3% so dự toán. giãn tiến độ 1. trái lại nó thể hiện tính chưa bền vững và sự phụ thuộc của các nguồn thu NSNN nước ta. ngân sách địa phương được cân đối theo nguyên tắc tổng số chi không vượt quá tổng số thu. Những phân tích trên cho thấy thu ngân sách còn chứa đựng nhiều yếu tố đột biến. nhưng có 35. Trong lĩnh vực đầu tư và cấp phát vôn từ ngân sách. yêu cầu giảm mức thuế quan xuống 0-5% là yêu cầu tất yếu với Việt Nam.Theo khoản 3.vượt dự toán 76.

buôn lậu. 2. cũng như để xác định mức độ an toàn về nợ Chính phủ khi xem xét cân đối kinh tế vĩ mô. tạo sản phẩm. Như vậy. Thứ nhất. rà soát lại các hoạt động thu chi NSNN để tăng thu giảm chi. bãi bỏ những khoản phí. Các dự án được đầu tư.Các giải pháp Xuất phát từ những hạn chế nêu trên xin đưa ra một số biện pháp để khắc phục như sau: -Thứ nhất. pháp luật cũng như phát triển môi trường kinh doanh để thu hút vốn đầu tư vào các ngành. Thứ hai. + Nâng cao hiệu quả của công tác thu thuế. yêu cầu chi tiêu của chính phủ thì ngày càng lớn để thực hiện các chương trình của mình trong khi những khoản thu vào để chi ra lại có xu hướng giảm đi. các lĩnh vực theo mục tiêu phát triển trong từng thời kỳ. Vậy làm thế nào để có thể giảm được mức bội chi ngân sách hiện nay? Đây là bài toán khó cho các nhà điều hành hiện nay. nhằm kiểm soát nghiêm ngặt tình trạng thuế. Đồng thời cũng cần nhanh chóng hoàn thiện các luật thuế. Điều đó sẽ tạo thuận lợi để so sánh mức bội chi của nước ta với các nước. bù lỗ. chính phủ phải chi ngân sách để duy trì. Nhưng bội chi tăng thêm phải được sử dụng cho những công trình có hiệu quả. nợ thuế. cần có sự rà soát để chuyển vốn từ các công trình chưa khởi công. vừa tích luỹ tài chính tạo nguồn để trả nợ vừa bù đắp bội chi. đặc biệt là các dự án đầu tư công phải là những dự án tập trung vào những ngành kinh tế trọng điểm của đất nước và phải có kế hoạch hợp lý. xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm để tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. hoặc phải sử dụng bội chi để đầu tư vào những công trình xây dựng cơ bản tạo môi trường thuận lợi cho kinh doanh. tạo ra các khoản đóng góp bất hợp lý dưới mọi hình thức + Nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong nước đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn của nhà nước để tăng nguồn thu cho ngân sách đồng thời cũng giảm tình trạng doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Việc áp dụng . hoặc thủ tục không đầy đủ sang cho các công trình chuyển tiếp. nên thay đổi cách cân đối ngân sách nhà nước theo thông lệ quốc tế. tiếp tục rà soát để giảm. -Thứ hai.độ tăng trưởng kinh tế. khởi công chậm. Muốn vậy cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách. công trình có hiệu quả kinh tế cao. lệ phí không còn phù hợp. kịp thời ngăn chặn tình trạng lạm dụng. Đây là biện pháp thường được các chuyên gia cho là có hiệu quả và ít ảnh hưởng tới nền kinh tế nhưng cũng là khó thực hiện do có độ trễ về thời gian và đòi hỏi các giải pháp phải mang tính đồng bộ: + Tăng cường quản lý để các công trình đầu tư của Nhà nước thực sự có hiệu quả. công trình cấp bách. cần có đội ngũ các chuyên gia thẩm định để đánh giá chi tiết cẩn thận hiệu quả kinh tế của các dự án xin đầu tư. hàng hóa dịch vụ cho nền kinh tế. + Huy động nguồn vốn của cá nhân để giảm chi tiêu của chính phủ.

Nhưng có lẽ rằng. đẩy mạnh thực hiện xã hội công tác giáo dục. giúp các ĐBQH nắm bắt thông tin và có căn cứ để thảo luận trước khi thông qua Nghị quyết phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm do Chính phủ trình. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với QH. y tế. quan trọng hơn là sẽ làm rõ được bản chất của thâm hụt ngân sách. . văn hóa thông tin… đi liền với sự quản lý chặt chẽ của nhà nước vì đây là những lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người dân và trực tiếp tác động đến sức cạnh tranh trong dài hạn của quốc gia. hạn chế và kiểm soát chặt chẽ các nguồn chi vượt dự toán ngân sách -Thứ tư. các tổ chức tài chính quốc tế về tính minh bạch trong quản lý kinh tế của Việt Nam.chuẩn mực quốc tế sẽ tạo lòng tin đối với các nhà đầu tư nước ngoài. cần cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng ưu tiên cho phát triển an sinh xã hội. đầu tư vào các ngành kinh trọng điểm của quốc gia. -Thứ ba. đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful