DẪN NHẬP KINH THÁNH - 2

Dẫn nhập Sáng Thế ký
Tác giả: Môi-se thường được xem là tác giả.
Sách của nguồn gốc: Sách về nguồn gốc của vũ trụ, nhân loại, tội lỗi, sự cứu
chuộc, đời sống gia đình, sự đồi bại của xã hội, các quốc gia, các ngôn ngữ
khác nhau, dân tộc Hê-bơ-rơ.
Những chương đầu của sách này liên tục bị chỉ trích, nhưng các sự kiện mà
sách trình bày, khi được diễn giải và hiểu đúng, thì chưa bao giờ bị phản
chứng cả.
Mục đích của tác giả sách Sáng thế Ký không nhằm đưa ra một giải thích tỉ
mỉ về cuộc sáng tạo. Chỉ có một chương duy nhất dành cho đề tài nầy
(nhưng chỉ là một nét đại cương sơ sài gồm vài sự kiện cơ bản), trong khi đó
38 chương đã nói về lịch sử tuyển dân.
Chủ đề chính: Tội lỗi của nhân loại, bước đầu tiên trong chương trình cứu
chuộc con người thông qua giao ước của Đức Chúa Trời thực hiện với tuyển
dân và lịch sử ban sơ của họ được phác hoạ ở đây.
Chữ chìa khóa: Bắt đầu.
Lời hứa đầu tiên của Đấng Mê-si-a: SaSt 3:15
Tóm tắt:
I. Lịch Sử Sáng Tạo:
a. về vũ trụ của chúng ta, SaSt 1:1-25
b. về con người, SaSt 1:26-31; SaSt 2:18-24
II. Sự Tích Con Người Đầu Tiên:
a. Sự cám dỗ và sự sa ngã, đặc tính của kẻ cám dỗ, sự trừng phạt đối với tội
lỗi, lời hứa về Đấng Cứu Chuộc sẽ đến, SaSt 3:1-24
b. Sự tích về Ca-in và A-bên, SaSt 4:1-26
c . Gia phả và sự qua đời của các tổ phụ, SaSt 5:1-32
d. Các sự kiện liên quan đến cơn Đại Hồng Thuỷ, SaSt 6:1-8:22
e. Cái Mống giao ước và tội lỗi của Nô-ê, SaSt 9:1-29
f. Hậu duệ của Nô-ê, SaSt 10:1-32
g. Sự lộn xộn về ngôn ngữ tại Ba-bên, SaSt 11:1-32
III. Lịch Sử Tuyển Dân:
1. Sự nghiệp của Áp-ra-ham,
a. Sự kêu gọi của Chúa, SaSt 12:1-20
b. Sự tích về Áp-ra-ham và Lót, SaSt 13:1-14:24
c . Sự khải thị và lời hứa của Chúa với Áp-ra-ham, nhất là lời hứa về đứa
con trai, về việc nhận Đất Thánh làm cơ nghiệp, và một dòng dõi lớn, SaSt
15:1-17:27
d. Ông cầu thay cho các thành phố trên đồng bằng, và sự phá hủy các thành

phố ấy, SaSt 18:1-19:38
e. Cuộc đời Áp-ra-ham tại Ghê-ra, và việc làm trọn lời hứa của đứa con trai
qua sự ra đời của Y-sác, SaSt 20:1-21:34
f. Thử nghiệm lòng vâng phục của Áp-ra-ham trong việc dâng Y-sác làm
của lễ thiêu bởi mệnh lệnh Chúa, SaSt 22:1-19
g. Áp-ra-ham qua đời, SaSt 25:8
2. Sự nghiệp của Y-sác:
a. Sự ra đời của Y-sác, SaSt 21:3
b. Hôn nhân của Y-sác, SaSt 24:1-67
c . Sự ra đời của Gia-cốp và Ê-sau, SaSt 25:20-26
d. Những năm cuối đời, SaSt 26:1-27:46
3. Sự nghiệp của Gia-cốp:
a. Mánh lới của Gia-cốp trong việc giành lấy quyền trưởng nam, SaSt 27:129
b. Khải tượng của Gia-cốp về chiếc thang trời, SaSt 28:10-22
c . Những việc rắc rối liên quan đến hôn nhân và cuộc đời Gia-cốp tại Phađan A-ram (có nghĩa là đồng bằng A-ram - một khu vực quanh Ha-ran tại
Mê-sô-bô-ta-mi Thượng), SaSt 29:1-30:43
4. Sự nghiệp của Ê-sau được thuật trong Sáng thế Ký.
5. Sự nghiệp của Giô-sép, những năm cuối đời của Gia-cốp, và dòng dõi của
gia đình được chọn vào Ai Cập, SaSt 37:1-50:26
Những tên tuổi nổi bật được liên kết với nhau:
- A-đam và Ê-va.
- Ca-in và A-bên.
- Áp-ra-ham và Lót.
- Y-sác và Ích-ma-ên.
- Ê-sau và Gia-cốp.
- Giô-sép và các anh em.
Năm nhân vật thuộc linh vĩ đại:
1. Hê-nóc, người "đồng đi với Đức Chúa Trời".
2. Nô-ê, người đóng tàu.
3. Áp-ra-ham, ông tổ của đức tin.
4. Gia-cốp, người có cuộc đời được đổi thay bằng sự cầu nguyện.
5. Giô-sép, con trai của Gia-cốp, người nô lệ trở thành tể tướng Ai Cập.
Bài học của mọi thời đại:
- Kinh Thánh bắt đầu bằng sự tàn lụi của nhân loại. Thiên đàng bị đánh mất,
SaSt 3:1-24
- Kế hoạch cứu rỗi được lập ra, SaSt 3:15
- Kinh Thánh kết thúc bằng lời hứa cứu chuộc. Thiên đàng được tìm lại.
Xem KhKh 21:1-22:21

Dẫn nhập Xuất Ê-Díp-Tô Ký
Tác giả và nhân vật trọng tâm: Môi-se thường được xem là nhân vật chính.
Chủ đề chính: Lịch sử của Y-sơ-ra-ên từ khi Giô-sép qua đời đến lúc dựng
lên Hội Mạc.
Tư tưởng chủ đạo: Sự Giải Cứu.
Bảng tóm tắt: Bốn Thời Kỳ Trong Lịch Sử Y-sơ-ra-ên
I. Thời Kỳ Nô Lệ:
1. Cảnh đàn áp trong Ai Cập, XuXh 1:7-22
2. Các sự kiện trong thời thơ ấu của Môi-se:
a. Ra đời và được nhận làm con nuôi, XuXh 2:1-10
b. Ý định cứu giúp người anh em của mình, XuXh 2:11-14
c. Bỏ trốn đến Ma-đi-an, XuXh 2:15
d. Lập gia đình, XuXh 2:21 (40 năm trôi qua), Cong Cv 7:30
II. Thời Kỳ Giải Cứu:
a. Sự kêu gọi Môi-se tại bụi gai cháy, XuXh 3:1-10
b. Sứ mệnh của Chúa và sự ban năng lực, XuXh 3:12-22; XuXh 4:1-9
c. Những cớ để bào chữa của Môi-se, XuXh 3:11; XuXh 4:10-13
d. A-rôn liên kết với Môi-se trong việc yêu cầu Pha-ra-ôn phóng thích dân
Y-sơ-ra-ên, XuXh 4:27-31; XuXh 5:1-3
e. Cảnh nô lệ trở nên hà khắc hơn, XuXh 5:5-23
f. Sự chỉ dẫn của Chúa đối với Môi-se và A-rôn, XuXh 6:1-7:25
g. Cuộc tranh cãi với Pha-ra-ôn và việc giáng 10 tai vạ, XuXh 7:1-11:10
h. Lễ Vượt Qua, XuXh 12:1-50
III. Thời Kỳ Kỷ Luật:
a. Xuất Ai Cập, XuXh 12:31-51
b. Những kinh nghiệm trên đường đến núi Si-nai, XuXh 13:1-18:27 xem
phần tham khảo dưới tiêu đề "Loại Hình" dưới đây.
IV. Thời Kỳ Lập Pháp Và Tổ Chức:
a. Đến Si-nai, XuXh 19:1-12
b. Sự hiện ra của Chúa trên núi, XuXh 19:16-25
c. Ban cho Mười Điều Răn, XuXh 20:1-17
d. Những luật khác được công bố, XuXh 21:1-24:18
e. Những chỉ dẫn liên quan đến xây dựng Hội Mạc, Lều Tạm, XuXh 25:127:21
f. Việc bổ nhiệm thầy tế lễ thượng phẩm, XuXh 28:1-43
g. Thờ lạy con bò vàng, XuXh 32:1-35
h. Việc chuẩn bị và dựng lên Hội Mạc, XuXh 35:1-40:38
Cuộc hành hương của Y-sơ-ra-ên, hình ảnh đời sống Cơ Đốc: ICo1Cr 10:1-

11
- Cảnh nô lệ cho người Ai Cập - Hình ảnh nô lệ cho tội lỗi.
- Môi-se như là vị cứu tinh - Hình ảnh của Đấng Christ .
- Xuất Ai Cập - Hình ảnh từ bỏ đời sống tội lỗi.
- Con chiên lễ Vượt Qua - Hình ảnh của Đấng Christ, Con Chiên của Đức
Chúa Trời.
- Pha-ra-ôn đuổi theo Y-sơ-ra-ên, XuXh 14:8-9 - Hình ảnh của sức mạnh
xấu xa đeo đuổi người tin nhận Chúa.
- Sự rẽ Biển Đỏ, XuXh 14:21 - Hình ảnh về sự ngăn trở được cất đi.
- Trụ mây và trụ lửa, XuXh 14:19-20 - Hình ảnh về sự ở cùng của Chúa với
người tin nhận Ngài.
- Bài ca của Môi-se, XuXh 15:1-19 - Hình ảnh về những bài ca của thắng lợi
thuộc linh.
- Đám đông hỗn tạp, XuXh 12:38 - Hình ảnh về người thuộc thế gian lẫn
trong nhà thờ.
- Ma-ra và Ê-lim, XuXh 15:23-27 - Hình ảnh về các kinh nghiệm đắng cay
và ngọt ngào trong đời sống thuộc linh.
- Những nồi thịt, XuXh 16:3 - Hình ảnh về những thú vui xác thịt của sự
sống cũ.
- Ma-na, XuXh 16:4 - Hình ảnh của Đấng Christ, Bánh của sự sống.
- Nước từ hòn đá, XuXh 17:6 - Hình ảnh của Đấng Christ, Nước Hằng Sống
ICo1Cr 10:4.
- Đỡ hai tay của Môi-se, XuXh 17:12 - Hình ảnh về sự hợp tác cần thiết giữa
các lãnh đạo.
- Trong việc xây dựng Hội Mạc (hay Lều Tạm), các khí dụng, lễ nghi, trang
phục của thầy tế lễ, hòm giao ước… được nhận thấy chính là những hình
ảnh về Đấng Christ và Hội Thánh của Ngài.
Dẫn nhập Lê-vi ký
Tên sách: Được đặt theo tên của chi phái tế lễ Lê-vi.
Tác giả: Môi-se thường được xem là tác giả.
Chữ chìa khóa: Đến gần và thánh khiết.
Chủ đề chính: Một sách tóm tắt về luật pháp của Đức Chúa Trời.
Nhân vật chính: Thầy tế lễ thượng phẩm.
Đề tài trọng tâm: Làm thế nào để tội nhân có thể đến gần một Đức Chúa
Trời thánh khiết? Từ Thánh khiết xuất hiện hơn 80 lần trong sách này.
Sách tương hợp: Sách Hê-bơ-rơ.
Phân tích:
I. Phương Pháp Tiếp Cận Đức Chúa Trời:

1. Thông qua của lễ và sinh tế:
a. Của lễ thiêu, hình bóng về sự chuộc tội và hiến dâng LeLv 1:2-9
b. Của lễ chay, biểu thị về sự tạ ơn, LeLv 2:1-2
c. Của lễ chuộc tội, biểu thị sự hoà giải làm lành, LeLv 4:1-35
d. Của lễ chuộc sự mắc lỗi, biểu thị sự thanh sạch khỏi việc mắc lỗi, LeLv
6:2-7
2. Thông qua chức vụ hoà giải của thầy tế lễ:
Thầy tế lễ: sự kêu gọi, LeLv 8:1-5; sự thanh sạch, LeLv 8:6; trang phục,
LeLv 8:7-13; sự chuộc tội cho thầy tế lễ, LeLv 8:14-34; tội lỗi của thầy tế lễ
LeLv 10:1-20
II. Những Luật Pháp Đặc Thù Cai Quản Dân Y-sơ-ra-ên:
1. Về thức ăn, LeLv 11:1-47
2. Về sự sạch sẽ, vệ sinh, tập quán, đạo đức…, tất cả nhằm nhấn mạnh sự
trong sạch của đời sống như là một điều kiện để có được ân sủng của Chúa,
LeLv 12:1-20:27
3. Sự thanh sạch của thầy tế lễ và của lễ, LeLv 21:1-22:33
III. Năm Lễ Hội Thường Niên:
1. Lễ Vượt Qua, bắt đầu từ 14 tháng 4, LeLv 23:5 kỷ niệm việc ra khỏi Ai
Cập.
2. Lễ Ngũ Tuần, ngày 6 tháng 6, kỷ niệm việc ban cho luật pháp, LeLv
23:15.
3. Lễ Thổi Kèn, ngày đầu tiên của tháng 10, LeLv 23:23-25.
4. Đại lễ Chuộc Tội, ngày thứ 10 của tháng 10, thầy tế lễ thượng phẩm vào
trong Nơi Chí Thánh để chuộc tội cho dân sự, LeLv 6:1-34 LeLv 23:26-32.
5. Lễ Lều Tạm, bắt đầu từ ngày thứ 15 của tháng 10, tưởng niệm cuộc sống
trong đồng vắng, cảm tạ về mùa gặt, LeLv 23:39-43.
IV. Luật Tổng Quát Và Các Chỉ Dẫn:
1. Năm Sa-bát, bảy năm một lần, để cho đất nghỉ không cày cấy, LeLv 25:27
2. Năm Hân Hỉ. 50 năm một lần, nô lệ được trả tự do, kẻ mắc nợ được miễn
nợ, và sự hoàn trả cơ nghiệp toàn thể, LeLv 25:8-16
3. Những điều kiện để có phước và các cảnh cáo liên quan đến việc sửa phạt,
LeLv 26:1-46
4. Luật về sự khấn nguyện, LeLv 27:1-34
Dẫn nhập Dân số ký
Tên sách: Bắt nguồn từ việc kiểm tra dân số của Y-sơ-ra-ên.
Tác giả: Môi-se thường được xem là tác giả.
Bài học trọng tâm: Lòng vô tín ngăn cản việc tiến vào một đời sống dư dật,

HeDt 3:7-19
Các đề tài và sự kiện chủ đạo:
1. Tổ chức và lập pháp, Dan Ds 1:1-9:23
2. Rời núi Si-nai, Dan Ds 10:11-12
3. Dân sự khinh thường ma-na, Dan Ds 11:4-6
4. Sự nản lòng của Môi-se, Dan Ds 11:10-15
5. Bảy mươi trưởng lão được bổ nhiệm, Dan Ds 11:16-25
6. Chim cút được gửi đến, Dan Ds 11:31-34
7. Lòng ganh tị của A-rôn và Mi-ri-am, Dan Ds 12:1-16
Thất bại tại Ca-đe: Đi lang thang trong đồng vắng.
8. Cử các thám tử, bản báo cáo của họ, Dan Ds 13:1-33
9. Sự nổi loạn của dân sự, rủa sả giáng trên họ, Dan Ds 14:1-45. Cả thế hệ bị
kết án phải ngã chết trong đồng vắng, Dan Ds 14:29.
10. Những sự kiện liên quan đến 40 năm lang thang trong đồng vắng, Dan
Ds 15:1-19:22
11. Trở lại Ca-đe, tội của Môi-se, và A-rôn qua đời, Dan Ds 20:1-29
12. Con rắn đồng, Dan Ds 21:1-35
13. Ba-la-am, tiên tri hám lợi, và sự đồi bại của Y-sơ-ra-ên, Dan Ds 22:125:18
14. Điều tra dân số thế hệ mới, Dan Ds 26:1-65
15. Những luật khác nhau liên quan đến thừa kế, của lễ dâng, lễ hội, khấn
nguyện… Dan Ds 27:1-30:17
16. Sự phán xét đối với dân Ma-đi-an, Dan Ds 31:1-54 việc phân chia đất
đai phía đông Giô-đanh, Dan Ds 32:1-42
17. Những thành ẩn náu, Dan Ds 35:1-34
Những hình bóng về Đấng Mê-si-a:
- Hòn đá bị đập bằng gậy, Dan Ds 20:7-11 xem ICo1Cr 10:4
- Con rắn đồng, Dan Ds 21:6-9 xem GiGa 3:14
- Những thành ẩn náu, Dan Ds 35:1-34 xem HeDt 6:18
Bảy lần lằm bằm: 1. Liên quan đến đường đi, Dan Ds 11:1-3
2. Liên quan đến lương thực, Dan Ds 11:4-6
3. Liên quan đến những người khổng lồ, Dan Ds 13:33-14:2
4. Liên quan đến các lãnh đạo của họ, Dan Ds 16:3
5. Liên quan đến sự phán xét của Chúa, Dan Ds 16:41
6. Liên quan đến đồng vắng, Dan Ds 20:2-5
7. Lần thứ nhì liên quan đến ma-na, Dan Ds 21:5
Dẫn nhập Phục Truyền Luật Lệ Ký
Tên: Bắt nguồn từ hai từ Hy Lạp, deutros nghĩa là thứ nhì, nomos nghĩa là

luật pháp.
Tác giả: Môi-se thường được xem là tác giả.
Bối cảnh lịch sử: Thế hệ trước của Y-sơ-ra-ên đã chết trong đồng vắng, vì
vậy việc lập lại luật pháp là quan trọng và trình bày luật pháp một cách chi
tiết cho thế hệ mới trước khi họ đi vào Đất Hứa.
Nội dung: Một loạt những bài giảng và lời khuyến cáo được Môi-se đưa ra
tại đồng bằng Mô-áp trước khi băng qua sông Giô-đanh PhuDnl 1:1
Chủ đề chính: Nhắc lại luật pháp đã được ban bố tại núi Si-nai, với lời kêu
gọi vâng phục, xen kẽ việc hồi tưởng những kinh nghiệm của thế hệ trước.
Tư tưởng chủ đạo: Đòi hỏi của Chúa về sự vâng phục, PhuDnl 10:12-13
Bảng tóm tắt:
1. Nhắc lại cách Đức Chúa Trời đối cùng dân Y-sơ-ra-ên trong quá khứ, 1:14:49
2. Nhắc lại Mười Điều Răn và nhắc đến sự kiện dân Y-sơ-ra-ên trở thành
tuyển dân, biệt riêng, vâng phục với mọi mệnh lệnh, điều răn của Chúa 5:111:32
3. Bộ luật buộc phải tuân giữ tại Ca-na-an, 12:1-16:22
4. Sự chúc lành đối với người vâng giữ luật pháp và sự rủa sả đối với kẻ bất
tuân. Đặt trước dân sự con đường sự sống và sự chết, 27:1-30:20
5. Những lời cuối cùng của Môi-se, bài ca của Môi-se, chúc phước … 31:133:29
6. Tường thuật bổ sung về khải tượng cuối cùng và Môi-se qua đời, 34:1-12
Từ chìa khóa: Ghi nhớ. Từ này được lặp đi lặp lại trong suốt quyển sách.
Ghi nhớ:
a. Sự ban cho luật pháp, PhuDnl 4:9-10
b. Bảng giao ước, PhuDnl 4:23
c. Cảnh nô lệ trong quá khứ, PhuDnl 5:15
d. Sự giải cứu vĩ đại, PhuDnl 7:18
e. Sự lãnh đạo của Chúa và sự cung ứng, PhuDnl 8:2-6
f. Những tội lỗi của quá khứ, PhuDnl 9:7
g. Những phán xét của Chúa, PhuDnl 24:9
h. Những ngày đã qua, PhuDnl 32:7
Những đoạn quan trọng:
a. Mệnh lệnh vĩ đại và tầm quan trọng của việc ghi nhớ lời Đức Chúa Trời,
PhuDnl 6:4-12
b. Sự dư dật do Chúa cung ứng và sự nguy hiểm khi quên mệnh lệnh Chúa
và thờ hình tượng, PhuDnl 8:1-20
c. Chúc lành đối với sự vâng phục và rủa sả dành cho tội lỗi, PhuDnl 28:168

Dẫn nhập Giô-suê
Tác giả: Không biết chắc, có lẽ là Giô-suê.
Đề tài chủ yếu: Chinh phục và phân chia đất Ca-na-an.
Tư tưởng chủ đạo: Làm cách nào để thành công trong cuộc chiến của sự
sống, Gios Gs 1:8-9
Phân tích lịch sử:
1. Xâm lăng đất đai, Gios Gs 1:1-5:15
2. Giê-ri-cô sụp đổ, Gios Gs 6:1-27
3. Chiến trận A-hi, dân Y-sơ-ra-ên tại núi Ê-banh và Ga-ri-xim, Gios Gs 7:18:35
4. Chinh phục miền nam, Gios Gs 10:1-43
5. Chinh phục miền bắc, danh sách các vua bị giết, Gios Gs 11:1-12:24
6. Phân chia đất đai, chỉ định các thành ẩn náu, Gios Gs 13:1-22:34
7. Bài giảng từ biệt, Giô-suê qua đời, Gios Gs 23:1-24:33
Bài học gợi ý: Sự chắc chắn hoàn tất các ý muốn của Chúa. Điều này được
thể hiện:
1. Trong sự phán xét giáng xuống người Ca-na-an bởi các tội lỗi ghê gớm
của họ.
2. Trong các dòng dõi của Áp-ra-ham được sở hữu đất đai căn cứ vào lời
hứa của Đức Chúa Trời, SaSt 12:7
Hình ảnh: Căn cứ vào quan niệm chung, việc băng qua sông Giô-đanh tiêu
biểu cho sự chết, đất hứa Ca-na-an tiêu biểu cho thiên đàng. Một sự tương
đồng hay hơn được nêu dưới đây.
Ca-na-an, hình ảnh cao hơn của sự sống Cơ Đốc nhân, giành bởi sự thắng
trong cuộc chiến thuộc linh, RoRm 7:23
Người Ca-na-an, hình ảnh kẻ thù thuộc linh của chúng ta, Eph Ep 6:12
Chiến tranh của Y-sơ-ra-ên, hình ảnh chiến trận thuộc linh. ITi1Tm 6:12
Y-sơ-ra-ên nghỉ ngơi sau khi chinh phục (Gios Gs 11:23), hình ảnh yên nghỉ
của linh hồn, HeDt 4:9.
Người Ca-na-an khuất phục một phần, hình ảnh tội lỗi dây dưa không được
chinh phục, HeDt 12:1
Đoạn chọn đặc biệt:
a. Đức Chúa Trời khích lệ Giô-suê, Gios Gs 1:1-9
b. Bài giảng từ biệt của Giô-suê, Gios Gs 23:1-16; Gios Gs 24:1-7
Dẫn nhập Các Quan Xét
Tác giả: Không rõ, truyền thuyết cho rằng Sa-mu-ên đã viết sách này.

Chủ đề chính: Lịch sử tuyển dân Y-sơ-ra-ên trong thời kỳ của 14 vị quan
xét.
Quyển sách minh họa một loạt những lần trở lại thờ thần tượng của dân
tuyển dân Đức Chúa Trời, sau khi họ chiếm Đất Hứa và bị kẻ thù đàn áp.
Câu chuyện được ký thuật xoay quanh cá tính của các quan xét, đó là những
người được cất lên làm người giải phóng Y-sơ-ra-ên. Mặt trái của bức tranh
được đặc biệt nhấn mạnh trong Kinh Thánh.
Việc nghiên cứu các ngày tháng dường như bộc lộ rằng dân sự chỉ trung
thành với Chúa bằng hình thức bề ngoài trong phần lớn thời gian hơn là
nghiêm túc đọc Lời Chúa để đáp ứng nhu cầu tâm linh.
Bảng tóm tắt: Ba thời kỳ được chia ra trong sách (theo ý tác giả của tập sách
này).
I. Thời Kỳ Ngay Sau Khi Giô-suê Qua Đời, Cac Tl 1:1-2:10
II. Thời Kỳ Bảy Lần Bội Đạo, Sáu Lần Phục Dịch Và Nội Chiến, Cac Tl
3:1-16:31
. Lần phục dịch 1, đối với Mê-sô-bô-ta-mi, quan xét Ốt-ni-ên, Cac Tl 3:5-9
. Lần phục dịch 2, đối với Mô-áp, hai quan xét Ê-hút và Sam-ga, Cac Tl
3:12-31
. Lần phục dịch 3, đối với Gia-bin và Si-sê-ra, hai quan xét Đê-bô-ra và Barác, Cac Tl 4:1-23
. Lần phục dịch 4, đối với Ma-đi-an, quan xét Ghê-đê-ôn, Cac Tl 6:1-7:25
. Nội chiến, các quan xét A-bi-mê-léc, Thô-la và Giai-rơ, Cac Tl 8:33-10:5
. Lần phục dịch 5, đối với Phi-li-tin và Am-môn, các quan xét Giép-thê, Iếpsan, Ê-lôn và Áp-dôn, Cac Tl 10:1-12:15
. Lần phục dịch 6, đối với Phi-li-tin, quan xét Sam-sôn, Cac Tl 13:1-16:31
III. Thời Kỳ Hỗn Loạn Và Vô Chính Phủ, Cac Tl 17:1-21:25
Những sứ điệp thuộc linh:
1. Sự thất bại của con người, sự thương xót và giải cứu của Đức Chúa Trời.
2. Sức mạnh của lời cầu nguyện trong lúc khẩn cấp, khi lời cầu nguyện trở
thành một lời kêu gào thực sự đối với Thượng Đế. Chú ý đến sự lặp đi lặp
lại trong quyển sách này rằng Y-sơ-ra-ên kêu cứu Chúa.
Sách tương hợp: Ga-la-ti. So sánh việc dân Y-sơ-ra-ên trở lại thờ hình tượng
với việc giáo hội Ga-la-ti trở lại coi trọng nghi thức.
Nghiên cứu nhân vật:
. Đê-bô-ra, người phụ nữ yêu nước.
. Ghê-đê-ôn, một dũng sĩ.
. Giép-thê, người đã vội vàng thề nguyện.
. Sam-sôn, người đàn ông tuy mạnh mà yếu.

Dẫn nhập Ru-tơ
* Một câu chuyện đẹp, được xem như một viên ngọc trong văn học.
Một trong hai sách trong Kinh Thánh mà người nữ là nhân vật chính - Ru-tơ,
người nữ Mô-áp, có chồng là người Hê-bơ-rơ# Ê-xơ-tê, người đàn bà Do
Thái trở thành hoàng hậu của một vua ngoại bang.
Tác giả: Không rõ, có thể là Sa-mu-ên.
Thời kỳ: Thời kỳ các quan xét.
Đề tài: Thể nào người phụ nữ Mô-áp trẻ trung có được đời sống sung mãn.
1. Bởi lòng chung thủy tốt đẹp cùng với sự lựa chọn khôn ngoan, Ru R 1:16
2. Bởi sự cần cù khiêm nhường, Ru R 2:2-3
3. Bởi nghe theo lời chỉ dẫn của người bạn lớn tuổi, Ru R 3:1-5
4. Bởi sự thông gia do ý Chúa, Ru R 4:10-11
5. Bởi sự đề cao lên một dòng dõi hoàng tộc, Ru R 4:13-17
Mục đích chính: Cho biết làm thế nào mà người nữ ngoại bang trở thành một
trong những tổ mẫu của Chúa Giê-xu Christ.
Phân tích lịch sử:
1. Sự lưu trú tại Mô-áp, Ru R 1:1-5
2. Kẻ buồn bã trở về quê hương, Ru R 1:6-22
3. Ru-tơ mót lúa trên cánh đồng của Bô-ô, Ru R 2:1-23
4. Ru-tơ lập gia đình với Bô-ô, Ru R 4:13
5. Con trai của Ru-tơ và Bô-ô ra đời, và là ông nội của Đa-vít sau này, Ru R
4:13-16
6. Gia phả của Đa-vít, Ru R 4:18-22
Dẫn nhập I Sa-mu-ên
Tác giả: Không rõ.
Lịch sử: Xoay quanh ba nhân vật.
1. Sa-mu-ên, vị quan xét cuối cùng.
2. Sau-lơ, vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên.
3. Đa-vít, vị vua gương mẫu của Y-sơ-ra-ên.
Thời kỳ: Một trong những thời kỳ quá độ - sự cai trị của quan xét chấm dứt,
vương quốc được thành lập.
Các đề tài và sự kiện chính yếu:
1. Sự ra đời và dâng mình phục vụ Chúa của Sa-mu-ên, ISa1Sm 1:1-28
2. Thất bại của Ê-li trong vai trò quan xét và người cha, ISa1Sm 2:12-36
3. Lời kêu gọi Sa-mu-ên và thời kỳ niên thiếu đáng chú ý, ISa1Sm 3:1-21
4. Việc cướp lấy và trở về của hòm giao ước, ISa1Sm 4:1-6:21
5. Đánh bại người Phi-li-tin nhờ vào lời cầu nguyện của Sa-mu-ên, ISa1Sm

7:1-17
6. Người Y-sơ-ra-ên la hét đòi một vị vua, ISa1Sm 8:1-22
7. Sau-lơ được chọn và xức dầu làm vua, ISa1Sm 9:1-10:27
8. Trận đánh đầu tiên của Sau-lơ, ISa1Sm 11:1-15
9. Sa-mu-ên tuyên cáo vương quốc ra đời và cảnh cáo dân sự về việc họ đám
cả gan đòi một vị vua, ISa1Sm 12:1-25
10. Ý riêng của Sau-lơ và lời tiên tri của Sa-mu-ên, ISa1Sm 13:1-23
11. Giô-na-than giải cứu Y-sơ-ra-ên, ISa1Sm 14:1-16
12. Vâng phục tốt hơn của tế lễ, ISa1Sm 15:1-23
13. Đa-vít được xức dầu làm vua, ISa1Sm 16:1-23
14. Đa-vít giết người khổng lồ Gô-li-át, ISa1Sm 17:1-58
15. Tình bạn của Đa-vít và Giô-na-than, ISa1Sm 18:1-30
16. Sau-lơ bắt bớ Đa-vít, ISa1Sm 18:9-27:4
17. Những năm trị vì cuối cùng của Sau-lơ và sự chết của ông, ISa1Sm 26:131:13
Những sứ điệp thuộc linh: Cầu nguyện, yếu tố có ảnh hưởng lớn trong cuộc
đời của Sa-mu-ên.
a. Được sinh ra do lời cầu nguyện được nhậm, ISa1Sm 1:10-28
b. Tên Sa-mu-ên có nghĩa "cầu xin nơi Đức Giê-hô-va", ISa1Sm 1:20
c. Lời cầu nguyện của Sa-mu-ên đem lại sự giải cứu tại Mích-ba, ISa1Sm
7:2-13
d. Lời cầu nguyện của Sa-mu-ên đang lúc dân sự khăng khăng đòi một vị
vua, ISa1Sm 8:21
e. Sa-mu-ên cầu nguyện không thôi cho dân sự, ISa1Sm 12:33
Năm điều lệch lạc khỏi luật Chúa: Mang lại sự khốn khổ, bất hạnh.
1. Đa-thê, ISa1Sm 1:6
2. Sự dung túng của cha mẹ, ISa1Sm 2:22-25; ISa1Sm 8:1-5
3. Tin cậy vào vật linh thiêng, ISa1Sm 4:3
4. Không kiên nhẫn, ISa1Sm 13:8-9
5. Vâng phục một phần, ISa1Sm 15:1-35
Dẫn nhập II Sa-mu-ên
Tác giả: Không rõ.
Đề tài chính: Sự trị vì của Đa-vít.
Thời kỳ đầu: Những năm đầu trong thời gian trị vì. Trong thời kỳ làm vua
này, dù bận rộn với các chiến dịch quân sự là chuyện thường gặp trong thời
đại ấy, Đa-vít vẫn bộc lộ một đời sống thiêng liêng tin kính.
1. Những Sự Kiện Đầu Tiên:
a. Hành quyết một người dân A-ma-léc tự xưng là đã giết vua Sau-lơ, IISa

2Sm 1:2-16
b. Đa-vít than khóc cho Sau-lơ và Giô-na-than, IISa 2Sm 1:17-27
2. Đa-vít được xức dầu làm vua của xứ Giu-đa, IISa 2Sm 2:4
3. Trận đánh giữa các tùy tùng của Đa-vít với bọn đầy tớ của Ích-bô-sết, IISa
2Sm 2:8-32
4. Những sự kiện nói lên sự kính sợ Đức Chúa Trời của nhà vua:
a. Tìm cầu sự hướng dẫn của Chúa, IISa 2Sm 2:1
b. Trừng phạt những ai tìm cách cầu cạnh, nịnh hót bằng cách ám sát đối thủ
của Đa-vít, IISa 2Sm 4:5-12
c. Sau khi được đề bạt lên làm vua, Đa-vít nhận thức rõ với sự biết ơn rằng
điều ấy đến từ Chúa, IISa 2Sm 5:1-12
d. Sự hạ mình của Đa-vít qua việc qui công sự thắng lợi quân sự của mình là
nhờ vào quyền năng của Chúa, IISa 2Sm 5:20
e. Lòng sốt sắng đưa hòm giao ước về Giê-ru-sa-lem, IISa 2Sm 6:1-5
f. Lòng khao khát xây dựng đền thờ cho Chúa và dâng nhiều tài sản của
mình vào việc xây dựng đền thờ ấy, IISa 2Sm 7:1-8:18
g. Lòng nhân từ của Đa-vít đối với con trai của Giô-na-than, IISa 2Sm 9:113
Thời kỳ giữa: 1. Những thành công lớn lao về quân sự của vua, IISa 2Sm
10:1-19
2. Sự sa ngã của Đa-vít và sự trừng phạt:
a. Bị cám dỗ, IISa 2Sm 11:1-2
b. Đa-vít làm hỏng một gia đình và giết U-ri, IISa 2Sm 11:1-27
c. Sự đoán phạt của Chúa giáng xuống Đa-vít. Qua lời quở trách của tiên tri
Na-than, IISa 2Sm 12:1-14.
Qua việc đứa trẻ bị chết, IISa 2Sm 12:15-18.
Qua việc hư hỏng của con trai Đa-vít: Am-nôn. Qua việc dấy loạn của con
trai là Áp-sa-lôm, IISa 2Sm 15:1-18:33
Thời kỳ cuối: Những năm cuối đời của Đa-vít, IISa 2Sm 20:1-24:25. Những
phần tham khảo khác về sự nghiệp của Đa-vít.
Đoạn chọn đặc biệt: Sự rộng lượng của Đa-vít đối với Mê-phi-bô-sết, IISa
2Sm 9:1-13
Ví von của Na-than, IISa 2Sm 12:1-6
Bài Thi Thiên cảm tạ của Đa-vít, IISa 2Sm 22:1-51
Dẫn nhập I Các Vua
Tác giả: Không rõ
Tựa sách: Trong nguyên bản tiếng Hê-bơ-rơ, sách I & IIVua chỉ là một. Việc
phân chia này có thể nhằm thuận tiện cho các độc giả Hy-lạp.

Bảng tóm tắt: Sách có thể chia thành 2 phần:
I. Lịch sử trị vì của Sa-lô-môn:
1. Sự kiện mở đầu, Đa-vít băng hà và Sa-lô-môn kế vị, IVua 1V 1:1-2:46
2. Những năm đầu trị vì của Sa-lô-môn, thời đại hoàng kim của Y-sơ-ra-ên
và nổi tiếng bởi vì:
a. sự chọn lựa khôn ngoan của vua, IVua 1V 3:5-14
b. sự xét xử sáng suốt của Sa-lô-môn, IVua 1V 3:16-28
c. trí khôn vượt trội của Sa-lô-môn, IVua 1V 4:29-34
d. vương quốc của Sa-lô-môn được mở mang, IVua 1V 4:21
e. sự lộng lẫy của cung điện và hoàng cung, IVua 1V 4:22-28; IVua 1V 7:112
f. xây dựng đền thờ, [dc IVua 5:1-6:37;
[mt g. những công việc xây dựng khác và sự giàu có vô cùng, IVua 1V 9:1723; IVua 1V 10:14-29
h. chuyến viếng thăm của Hoàng hậu Sê-ba, IVua 1V 10:1-13
3. Những năm trị vì tiếp theo của Sa-lô-môn:Vương quốc của Sa-lô-môn
giảm sút vì cớ
a. sự xa hoa quá độ của ông, IVua 1V 10:14-29
b. tính ham mê xác thịt khét tiếng của ông, IVua 1V 11:1-3
c. ông bội đạo xa lìa Đức Chúa Trời, IVua 1V 11:4-8
d. kẻ thù do Chúa dấy lên chống lại ông, IVua 1V 11:14-40
II. Lịch sử vương quốc Y-sơ-ra-ên và Giu-đa:
Từ lúc Sa-lô-môn băng hà cho đến khi Giê-rô-bô-am kế vị tại xứ Giu-đa# và
từ lúc Giê-rô-bô-am kế vị đến lúc A-cha-xia trị vì tại Y-sơ-ra-ên:
1. Tình trạng xâu xé vương quốc bởi sự ngu xuẩn của con trai Sa-lô-môn là
Rô-bô-am, IVua 1V 11:43-12:19
2. Mười chi phái nổi loạn và tôn Giê-rô-bô-am lên làm vua Y-sơ-ra-ên, IVua
1V 12:20
3. So sánh lịch sử của hai vương quốc:
a. Sự trị vì của Rô-bô-am, A-hi-gia, A-sa và Giô-sa-phát tại Giu-đa, IVua 1V
12:1-22:50
b. Sự trị vì độc ác tại Y-sơ-ra-ên của Giê-rô-bô-am, Na-đáp, Ba-ê-sa, Ê-la,
Xim-ri, Ôm-ri, A-háp và A-cha-xia, IVua 1V 12:20-22:53
Nhân vật anh hùng: Tiên tri Ê-li
a. Phần tóm tắt lịch sử cuộc đời ông.
b. Về lời tiên tri.
c. Về phép lạ.
Đoạn chọn đặc biệt:
- Sự lựa chọn khôn ngoan của Sa-lô-môn, IVua 1V 3:5-14
- Lời cầu nguyện của Sa-lô-môn tại lễ dâng đền thờ, IVua 1V 8:22-53

- Chức vụ của Ê-li, IVua 1V 17:1-19:21; IVua 1V 21:1-29
- Sự kêu gọi Ê-li-sê, IVua 1V 19:19-21
Dẫn nhập II Các Vua
* Phần tiếp tục sách Các Vua Thứ Nhất.
Tác giả: Không rõ.
Đề tài chính: Lịch sử các vương quốc Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, từ giai đoạn sau
trị vì của A-cha-xia tại Y-sơ-ra-ên, và Giê-rô-bô-am tại Giu-đa, cho đến thời
kỳ phu tù.
Về phần lịch sử Y-sơ-ra-ên, đó là một bức tranh đen tối về kẻ thống trị suy
đồi và nhân dân tội lỗi, kết cuộc bằng cảnh nô lệ.
Vương quốc Giu-đa cũng suy đồi, nhưng sự xét đoán không xảy đến nhanh
vì ảnh hưởng của một số vị vua trị vì trong thời kỳ này, xem phân tích trong
II Sử ký.
Phần lớn quyển sách này xoáy quanh cuộc đời của tiên tri Ê-li và tiên tri Êli-sê.
Sứ điệp thuộc linh: Ảnh hưởng mạnh mẽ của kẻ thống trị đối với một đất
nước.
Bảng tóm tắt: Có thể chia sách ra ba phần:
I. Chủ Yếu Lịch Sử Những Ngày Cuối Đời Của Ê-li:
1. Ông gọi lửa từ trời xuống để tiêu diệt kẻ thù, IIVua 2V 1:9-12
2. Rẽ sông Giô-đanh, IIVua 2V 2:8
3. Được cất lên trời, IIVua 2V 2:11
II. Chủ Yếu Lịch Sử Ê-li:
1. Ông xin được ơn bội phần, IIVua 2V 2:11
2. Ông làm rẽ nước sông Giô-đanh, IIVua 2V 2:14
3. Chữa lành nước độc, IIVua 2V 2:19-22
4. Rủa sả bọn trẻ cười nhạo ông, IIVua 2V 2:23-24
5. Làm cho quân đội có nước, IIVua 2V 3:15-20
6. Hóa ra nhiều dầu cho bà goá, IIVua 2V 4:1-7
7. Khiến đứa bé đã chết sống lại, IIVua 2V 4:18-37
8. Làm sạch thực phẩm độc gây chết người, IIVua 2V 4:38-41
9. Phát bánh cho đám đông hàng trăm người, IIVua 2V 4:42-44
10. Chữa lành Na-a-man là người bị phung, IIVua 2V 5:5-15
11. Ông giáng bịnh phung trên Ghê-ha-xi, IIVua 2V 5:20-27
12. Khiến lưỡi rìu nổi lên mặt nước, IIVua 2V 6:1-7
13. Vạch trần kế hoạch của vua Sy-ri, IIVua 2V 6:8-17
14. Khiến cho quân Sy-ri bị mù, IIVua 2V 6:18-20
15. Ông nói tiên tri về sự dư dật cho một thành phố bị nạn đói, IIVua 2V

7:1-18
16. Ông làm cho người phụ nữ Su-nem nhận lại sản nghiệp của mình, IIVua
2V 8:3-6
17. Ông nói tiên tri về việc Ha-xa-ên làm vua Sy-ri, IIVua 2V 8:7-15
18. Ông ra lệnh xức dầu cho Giê-hu làm vua, IIVua 2V 9:1-5
19. Ông giữ lấy quyền năng tiên tri lúc lâm chung, IIVua 2V 13:14-19
20. Sự bày tỏ quyền năng Chúa sau khi chết trong mồ mả của ông, IIVua 2V
13:20-21
Bí mật về quyền năng của Ê-li-sê - lòng khao khát được nhận ơn bội phần đã
làm cho ông sống trong tinh thần chiến thắng liên tục.
III. Những Sự Kiện Đáng Chú Ý Trong Lịch Sử Của Giu-đa Và Y-sơ-ra-ên:
1. Giê-hu thực hiện sự phán xét của Chúa đối với Giô-ram, A-cha-xia, Giêsa-bên, 70 đứa con của A-háp, và những kẻ thờ Ba-anh, IIVua 2V 9:1-10:36
2. Sự trị vì tốt đẹp của Giô-ách, IIVua 2V 11:1-12:21
3. Sự trị vì của các vị vua gian ác tại Y-sơ-ra-ên, sau khi mười chi phái bị
thu phục, IIVua 2V 13:1-17:41
4. Sự trị vì tốt đẹp của Ê-xê-chia, IIVua 2V 18:1-20:21
5. Sự trị vì xấu xa của Ma-na-se, IIVua 2V 21:1-26
6. Giô-si-a, vị minh quân cuối cùng, IIVua 2V 22:1-23:37
7. Một loạt những vị vua xấu xa đã đưa đến việc đất nước bị chiếm lấy và
Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, IIVua 2V 25:1-30
Dẫn nhập I Sử ký
Tác giả: Không chắc chắn# có người nghĩ là do E-xơ-ra biên soạn. Trong
nguyên bản tiếng Hê-bơ-rơ thì I & IISử ký chỉ là một mà thôi.
Thời gian: Có lẽ được viết trong thời gian hoặc ngay sau khi bị phu tù. Có
thể được coi là:
Một bổ sung: Cho sách I&IISa-mu-ên, I&IIVua. Một số miêu tả lịch sử gần
như giống y với các sách vừa kể.
Đặc điểm nổi bật: Các sách Sa-mu-ên và sách Các Vua nhắc đến những sự
kiện trong cả hai vương quốc, trong khi đó thì Sử Ký hầu như chỉ nói về lịch
sử nước Giu-đa.
Ý tưởng trọng tâm: Quyền lực tối cao của Đức Chúa Trời, ISu1Sb 4:9-10;
ISu1Sb 5:20; ISu1Sb 11:14; ISu1Sb 12:18; ISu1Sb 14:2,10,14-15
Nhân vật trung tâm: Đa-vít. Về lịch sử cuộc đời Đa-vít.
Phân tích sách:
[tdc I. :
1. Gia phả, ISu1Sb 1:1-9:44

2. Lật đổ và cái chết của Sau-lơ, ISu1Sb 10:1-14
II. Triều Đại Đa-vít:
1. Đa-vít lên ngôi vua, đánh chiếm Giê-ru-sa-lem, thuộc hạ và quân đội hùng
mạnh của ông, ISu1Sb 11:1-12:40
2. Sai lầm của Đa-vít trong việc vận chuyển hòm giao ước trên một chiếc xe
bò mới, ISu1Sb 13:1-14
3. Chiến thắng người Phi-li-tin, ISu1Sb 14:1-17
4. Hòm giao ước được đưa về Giê-ru-sa-lem, ISu1Sb 15:1-29
5. Lễ hội ăn mừng, ISu1Sb 16:1-43
6. Lòng ao ước xây một đền thờ cho Chúa của Đa-vít bì từ chối, ISu1Sb
17:1-27
7. Thắng lợi quân sự to lớn, ISu1Sb 18:1-20:8
8. Cuộc điều tra dân số đầy tội lỗi, ISu1Sb 21:1-30
9. Chuẩn bị vật liệu để xây dựng đền thờ và huấn thị dành cho Sa-lô-môn,
ISu1Sb 12:1-40
10. Tổ chức kỹ hơn các sự vụ trong vương quốc, ISu1Sb 23:1-27:34
11. Lời huấn thị cuối cùng của Đa-vít đối với dân sự và con trai ông là Salô-môn, lập Sa-lô-môn làm vua, ISu1Sb 28:1-29:30. Đa-vít băng hà, ISu1Sb
29:28
Đoạn chọn đặc biệt:
1. Lời cầu nguyện của Gia-bê, ISu1Sb 4:10
2. Đa-vít rảy nước lấy từ giếng bên cửa thành Bết-lê-hem, ISu1Sb 11:17-19
3. Bài thi thiên của Đa-vít, ISu1Sb 16:7-36
4. Mô tả ban hát và ban nhạc của Đa-vít, ISu1Sb 25:1-31
5. Lời chúc phước và cầu nguyện cuối cùng của Đa-vít, ISu1Sb 29:10-19
Những nguyên do chủ yếu về việc làm phu tù cho Ba-by-lôn: Những nguyên
do chủ yếu về việc phu tù tại Ba-by-lôn.
. Biểu đồ phác họa đỉnh cao đạo đức và chiều sâu trong sự sống của các vị
vua xứ Giu-đa, và những mô hình này được nhân dân noi theo - dẫn đến sự
suy sụp của vương quốc.
. Các vị vua như Đa-vít, A-sa, Giô-sa-phát, Giô-ách, Giô-tham, Ê-xê-chia,
Giô-si-a là những người khổng lồ về thuộc linh bất chấp các khuyết điểm
của họ.
. Bởi cớ các nhà cai trị này, đất nước được cứu vãn khỏi sự tiêu diệt trong
một thời kỳ dài.
. Nhưng đại đa số vua, như được trình bày trong biểu đồ, đã không sống trên
bình diện (tiêu chuẩn) cao của sự công bình nhưng đã rơi xuống tội lỗi và
thờ hình tượng lộ liễu, điều mà mang đến sự đoán xét của Chúa và kết cuộc
bằng cảnh phu tù tại Ba-by-lôn.

Dẫn nhập II Sử ký
* Sách này là phần nối tiếp sách Sử Ký thứ nhất và là một bổ sung cho sách
Các Vua.
Lịch sử của Giu-đa được đề cập ở đây, nói chung, là một bức tranh đen tối
của sự bất ổn và xa lìa Chúa, rải rác với các thời kỳ cải cách thuộc linh.
Đặc điểm nổi bật: Nhân tố thuộc linh trong lịch sử được nhấn mạnh nhiều
hơn trong sách Sử Ký hơn là sách Các Vua.
a. Xem dưới đây "Năm Thời Kỳ Cải Cách."
b. Những minh họa khác để tham chiếu chỉ tìm gặp trong II Sử ký.
- Bài diễn thuyết kỉnh kiền của A-bi-gia, IISu 2Sb 13:5-12
- A-sa bỏ quên Đức Chúa Trời, IISu 2Sb 16:12
- Sự liên minh ngu muội của Giô-sa-phát, IISu 2Sb 20:35
- Nguyên nhân cùi của Ô-xia, IISu 2Sb 26:16-21
- Ma-na-se bị bắt làm phu tù và được phục hồi ngôi vị vua, IISu 2Sb 33:1113
Năm thời kỳ cải cách:
1. Thời vua A-sa, IISu 2Sb 15:1-19
2. Thời vua Giô-sa-phát, IISu 2Sb 17:7-10
3. Thời vua Giô-ách và thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa, IISu 2Sb 23:16-19
4. Thời vua Ê-xê-chia, IISu 2Sb 29:1-31:21
5. Thời vua Giô-si-a, IISu 2Sb 34:1-35:26
Tóm tắt:
I. Triều Đại Sa-lô-môn:
1. Sa-lô-môn dâng của lễ tại Ga-ba-ôn, và sự chọn lựa khôn ngoan của ông,
IISu 2Sb 1:1-17
2. Xây dựng đền thờ, IISu 2Sb 2:1-4:22
3. Vinh hiển của Chúa đầy dẫy đền thờ, IISu 2Sb 5:1-14
4. Bài cầu nguyện của Sa-lô-môn tại lễ khánh thành đền thờ, IISu 2Sb 6:142
5. Đức Giê-hô-va hiện ra với Sa-lô-môn một lần nữa vào ban đêm, IISu 2Sb
7:1-22
6. Sự hưng thịnh và danh vọng của Sa-lô-môn, IISu 2Sb 8:1-18
7. Chuyến viếng thăm của hoàng hậu Sê-ba và Sa-lô-môn băng hà, IISu 2Sb
9:1-31
II. Sự Ngu Xuẩn Của Giê-rô-bô-am Dẫn Đến Việc Phân Chia Vương Quốc,
IISu 2Sb 10:1-19
III. Lịch Sử Các Triều Đại Khác Nhau Từ Giê-rô-bô-am Đến Sê-đê-kia:
- A-bi-gia, IISu 2Sb 13:1-22

- A-sa, IISu 2Sb 14:1-16:14
- Giô-sa-phát, IISu 2Sb 17:1-20:37
- Giê-hô-ram, IISu 2Sb 21:1-20
- A-ha-xia, IISu 2Sb 22:1-9
- A-tha-lia (hoàng hậu), IISu 2Sb 22:10-23:15
- Giô-ách, IISu 2Sb 24:1-27
- A-ma-xia, IISu 2Sb 25:1-28
- Ô-xia, IISu 2Sb 26:1-23
- Giô-tham, IISu 2Sb 27:1-9
- A-cha, IISu 2Sb 28:1-27
- Ê-xê-chia, IISu 2Sb 29:1-32:33
- Ma-na-se, IISu 2Sb 33:1-20
- Giô-si-a, IISu 2Sb 34:1-35:26
- Giô-a-cha, IISu 2Sb 36:1-3
- Giô-hô-gia-kim, IISu 2Sb 36:4-8
- Giô-hô-gia-kin, IISu 2Sb 36:9-10
- Sê-đê-kia, IISu 2Sb 36:11-13
Sứ điệp thuộc linh: Sức mạnh của sự cầu nguyện để mang lại sự thành công
và thắng lợi:
IISu 2Sb 11:16; IISu 2Sb 13:13-18; IISu 2Sb 14:11; IISu 2Sb 15:12; IISu
2Sb 17:4;
IISu 2Sb 20:3; IISu 2Sb 26:5; IISu 2Sb 27:6; IISu 2Sb 30:18-20; IISu 2Sb
31:21;
IISu 2Sb 32:20; IISu 2Sb 34:3
Những bài học thuộc linh:
1. Tính ưu việt của trí tuệ, IISu 2Sb 1:7-12
2. Vinh hiển của Chúa tràn đầy đền thờ được sửa soạn, IISu 2Sb 5:13-14
3. Tinh thần khen ngợi làm cho dân sự của Đức Chúa Trời không thể bị đánh
bại, IISu 2Sb 20:20-25
Dẫn nhập E-rơ-xa
Tác giả: Không rõ. Nhìn chung thì người ta đồng ý rằng E-xơ-ra không phải
là tác giả của cả cuốn sách nhưng có thể là người biên soạn của những phần
mà ông không viết. E-xơ-ra là người Do Thái bị lưu đày tại Ba-by-lôn và là
dòng dõi của thầy tế lễ, Exo Er 7:1-6
Đề tài chính: Việc trở về quê hương sau thời kỳ phu tù tại Ba-by-lôn, tái
thiết đền thờ và khởi xướng những cải cách xã hội và tôn giáo.
Sứ điệp thuộc linh: Quyền năng của Lời Đức Chúa Trời trong dời sống con
người. Được nhắc đến như là Lời Đức Chúa Trời, Exo Er 1:1; Exo Er 9:4.

Luật Môi-se, Exo Er 3:2; Exo Er 6:18; Exo Er 7:6. Mệnh lệnh, Exo Er 6:14;
Exo Er 10:3. Luật của Chúa, Exo Er 7:10,14
Bảng tóm tắt:
I. Sự Trở Về Của Những Kiều Dân Do Thái Đầu Tiên, Dưới Sự Lãnh Đạo
Của Xô-rô-ba-bên, [dc Exo 1:1-6:22;;
[mt a. Được vua Si-ru uỷ quyền, Exo Er 1:1-4
b. Tên họ của những người còn lại trong dân, sự trở về Giê-ru-sa-lem, các
thầy tế lễ, người Lê-vi, dòng dõi của các tôi tớ của Sa-lô-môn, và của cải
cùng quà biếu của họ, Exo Er 2:1-70
II. Công Việc Xây Dựng:
a. Lập lại bàn thờ và sự thờ phượng được thiết lập, Exo Er 3:1-6
b. Xây nền của đền thờ, Exo Er 3:8-13
c. Dân của xứ muốn tham gia việc xây đền thờ, Exo Er 4:1-2
d. Khi lời đề nghị của họ bị bác bỏ họ trở thành kẻ phản đối dữ dội, gây nên
sự đình trệ công việc, Exo Er 4:4-24
e. Sau thời gian dài đình trệ, công việc được bắt đầu trở lại bằng chỉ dụ của
vua Đa-ri-út, Exo Er 5:1-6:22
f. Đền thờ xây xong, khánh thành và các nghi lễ xưa được tuân thủ, Exo Er
6:15-22
III. Sự Trở Về Của Kiều Dân Do Thái Lần Thứ Nhì Dưới Thời E-xơ-ra,
Được Vua Ạt-ta-xét-xe Ủy Quyền, Exo Er 7:1-10:44;
a. Danh sách đoàn người lưu đày trở về quê hương cùng E-xơ-ra và họ về
đến Giê-ru-sa-lem, Exo Er 8:1-36
b. E-xơ-ra khiển trách và sửa sai các tệ nạn xã hội, Exo Er 9:1-10:44
Công tác tôn giáo và văn hiến của E-xơ-ra:
- Ông là một tác giả nổi tiếng của vài bài Thi Thiên, đáng chú ý là Thi Tv
119:1-176.
- Theo truyền khẩu xa xưa thì E-xơ-ra đã viết I&II Sử ký, nhưng điều này
không thể chứng minh được. Ông hợp sức với Nê-hê-mi trong việc đề xướng
một cuộc phục hưng đọc Kinh Thánh, NeNe 8:1-18
- Ông nổi tiếng vì là thuỷ tổ của nhà hội người Do Thái và sưu tập hầu hết
các sách trong Cựu Ước.
Đoạn chọn đặc biệt:
1. Sự tin cậy tuyệt vời vào sự che chở của Đức Chúa Trời của E-xơ-ra khi
ông được kêu gọi để đưa một tài sản khổng lồ băng qua những nơi nguy
hiểm, Exo Er 8:21-32
2. Lời cầu nguyện và xưng tội cho dân sự của E-xơ-ra, Exo Er 9:5-15
Dẫn nhập Nê-hê-mi

* Trong bản thảo tiếng Hê-bơ-rơ thì các sách E-xơ-ra và Nê-hê-mi chung
một sách.
Tác giả hoặc soạn giả: Không chắc chắn. Nhiều học giả cho rằng phần lớn
trong sách này là tự truyện của Nê-hê-mi.
Câu chìa khóa: NeNe 6:3
Đề tài chính: Xây lại các bức tường của Giê-ru-sa-lem, nhắc lại một số luật
nào đó của Chúa, và phục hồi các nghi lễ cổ xưa.
Bảng tóm tắt:
I. Nghiên Cứu Theo Loại Hình:
1. Chủ đề: Việc xây lại các bức tường của Giê-ru-sa-lem được coi như hình
ảnh thiết lập vương quốc của Chúa trên đất này.
a. Bức tường đổ nát (NeNe 1:3) có thể tiêu biểu cho sự suy yếu của nước
Chúa.
b. Mùa kiêng ăn và cầu nguyện mở đầu (NeNe 1:4-11) có thể tiêu biểu cho
tình trạng tâm linh phải đặt trước mọi công việc thuộc linh lớn lao.
c. Nê-hê-mi hy sinh một địa điểm tốt đẹp vì cớ chính nghĩa có thể tiêu biểu
cho sự hầu việc mang tính chất hy sinh luôn luôn cần phải có để hoàn thành
một công tác vĩ đại.
d. Việc xem xét thành phố lúc ban đêm (NeNe 2:15-16) có thể tiêu biểu cho
sự cần thiết phải nhìn thẳng vào sự thật trước khi bắt đầu công tác xây dựng.
e. Tìm kiếm sự hợp tác (NeNe 2:17-18) có thể tiêu biểu cho một nhân tố
thiết yếu trong mọi công tác thành công.
f. Tuyển mộ mọi tầng lớp giai cấp (NeNe 3:1-32) tiêu biểu cho tầm quan
trọng của việc tổ chức thấu đáo.
2. Những Phương Pháp Tương Tự Có Thể Được Dùng Để Khắc Phục Các
Trở Ngại Trong Công Tác Thuộc Linh.
a. Nhạo báng, NeNe 2:9.
Khắc phục bằng cách tin cậy vào Đức Chúa Trời, NeNe 2:20
b. Tức giận và khinh bỉ, NeNe 4:3.
Chiến thắng bằng cách cầu nguyện và làm việc chăm chỉ, NeNe 4:4-6
c. Âm mưu, NeNe 4:7-8.
Chiến thắng bằng sự cảnh giác và cầu nguyện, NeNe 4:9
d. Sự làm ngã lòng của bạn bè, NeNe 4:10-12.
Khắc phục bằng lòng can đảm kiên định, NeNe 4:13-14
e. Lòng tham lam ích kỷ, NeNe 5:1-5.
Khắc phục bằng sự quở trách và gương hy sinh, NeNe 5:6-17
f. Công việc hoàn tất, kẻ thù bị hổ thẹn vì sự nỗ lực bền bỉ, NeNe 6:1-15
II. Những Sự Kiện Kết Thúc:
a. Nhắc lại và trình bày luật Chúa, NeNe 8:1-18
b. Thầy tế lễ và người Lê-vi xưng tội và ký kết giao ước, NeNe 9:1-10:39

c. Kêu gọi dân sự hãy cư trú trong Giê-ru-sa-lem, NeNe 11:1-36
d. Khánh thành các vách tường thành Giê-ru-sa-lem, NeNe 12:1-47
e. Những cải cách xã hội và tôn giáo, NeNe 13:1-31
Dẫn nhập Ê-xơ-tê
Tác giả: Không rõ.
Thích hợp với Kinh Điển: Sự đúng đắn của quyển sách này nằm trong danh
sách các sách của Kinh Thánh đã và đang được bàn cãi rất nhiều. Tên của
Đức Chúa Trời không hề xuất hiện trong sách Ê-xơ-tê, trong khi đó thì vị
vua ngoại đạo lại được nhắc đến hơn 150 lần. Trong sách Ê-xơ-tê không hề
có ám chỉ đến sự cầu nguyện hay các sự thờ phượng dưới bất cứ hình thức
nào ngoại trừ sự kiêng ăn.
Sứ điệp: Không nghi ngờ gì, sách Ê-xơ-tê dành được một chỗ đứng trong
Lời Đức Chúa Trời bởi sách này có sự dạy dỗ ẩn tàng về sự quan phòng của
Chúa liên quan đến dân sự của Ngài và sự chắc chắn của việc trừng phạt
đích đáng giáng xuống bất thình lình cho kẻ thù của dân sự.
Đề tài chính: Hoàng hậu Ê-xơ-tê giải cứu người Do Thái.
Câu chìa khóa: EtEt 4:14
Bảng tóm tắt: Những sự kiện chính trong lịch sử xoay quanh ba bữa yến tiệc.
I. Bữa Yến Tiệc Của Vua Xerxes (A-suê-ru) và sự kiện liên quan.
1. Vào ngày thứ 7, lúc vua đang hứng lòng sau khi uống rượu, vua truyền
lệnh cho gọi Hoàng hậu Vả-thi đến trước mặt vua và các quan trưởng, nhưng
bà đã khước từ, EtEt 1:1-12
2. Vụ vua giận dữ quyết định làm theo lời khuyến cáo của các mưu sĩ, và
truất phế hoàng hậu, EtEt 1:13-22
3. Ê-xơ-tê, một cô gái Do Thái, đã được tuyển trong lần tìm kiếm một vị tân
hoàng hậu khắp vương quốc, EtEt 2:1-17
II. Bữa Yến Tiệc Của Ê-xơ-tê, Các Sự Kiện Mở Đầu Và Kết Thúc.
1. Mạc-đô-chê, người Do Thái và là bố nuôi của hoàng hậu Ê-xơ-tê đã cứu
mạng vua, EtEt 2:7 và EtEt 2:21-23
2. Thăng chức Ha-man và Mạc-đô-chê không chịu cúi lạy Ha-man khiến ông
giận dữ và quyết định tiêu diệt tất cả người Do Thái, EtEt 3:1-15
3. Người Do Thái kêu khóc khi được biết âm mưu của Ha-man, EtEt 4:1-4
4. Quyết tâm anh dũng của Ê-xơ-tê khi nàng xuất hiện trước mặt vua với
một kế hoạch trong đầu nhằm chống lại âm mưu đó, EtEt 4:5-17
5. Ê-xơ-tê được vua đón tiếp với sự sủng ái và nàng mời vua cùng Ha-man
đến dự bữa yến tiệc của nàng, EtEt 5:1-8
6. Ha-man dựng cây mộc hình để treo Mạc-đô-chê, EtEt 5:9-14
7. Trong một đêm không ngủ vua đã xem xét các biên bản cung đình và

khám phá rằng Mạc-đô-chê chẳng được ban thưởng dù đã cứu mạng vua,
EtEt 6:1-3
8. Lòng kiêu căng, ích kỷ của Ha-man dẫn đến việc ông ta bị sỉ nhục và
Mạc-đô-chê được sự tôn trọng lớn lao, EtEt 6:4-11
9. Bữa yến tiệc của Ê-xơ-tê và âm mưu của Ha-man bị bại lộ. Ha-man bị
treo trên mộc hình do chính ông dựng lên, EtEt 7:1-10
III. Lễ Phu-rim.
1. Những Sự Kiện Mở Đầu.
a. Người Do Thái trả thù lại những kẻ tìm hại họ với sự ban quyền của vua,
EtEt 8:1-17
b. Việc trả thù được thi hành, EtEt 9:1-32
2. Thiết lập lễ Phu-rim, EtEt 9:20-31
3. Mạc-đô-chê được quyền cao chức trọng, EtEt 10:1-3
Dẫn nhập Gióp
Tác giả: Không rõ.
Ngày tháng: Đây là đề tài được tranh luận nhiều. Theo nhiều học giả thì sách
này là sách xưa nhất trong Kinh Thánh# những học giả khác cho rằng nó
xưa như Xuất Ê-díp-tô Ký.
Địa điểm: Vùng đất U-xơ.
Đề tài chính: Vấn đề tai hoạ đổ xuống trên Gióp. Quyển sách mang tính chất
thi ca và tranh hoạ trong cách miêu tả và có thể chia thành 12 cảnh.
Cảnh 1:
Gióp và gia đình trước những tai hoạ bất thình lình ập xuống họ.
Gióp xuất hiện như là một người cha kính sợ Đức Chúa Trời, không bị sự
phát đạt làm hư hỏng, đóng vai thầy tế lễ để truyền đạo cho đại gia đình của
ông, Giop G 1:5
Cảnh 2:
a. Sa-tan xuất hiện trước mặt Chúa, nói bóng gió là Gióp hầu việc Chúa chỉ
vì Gióp được ân huệ đặc biệt của Chúa, Giop G 1:9-11
b. Sa-tan được phép thử nghiệm Gióp bằng cách làm mất tài sản và làm chết
con cái của Gióp, Giop G 1:12-20
c. Gióp vẫn giữ sự chính trực của mình, Giop G 1:21-22
Cảnh 3:
a. Sa-tan lại xuất hiện trước mặt Chúa, tố cáo rằng nếu thân xác của Gióp bị
tai hoạ thì Gióp sẽ rủa sả Chúa, Giop G 2:1-5
b. Sa-tan được phép tấn công Gióp với một bệnh tật khủng khiếp, Giop G
2:7-8
c. Lời khuyến cáo lộng ngôn của vợ Gióp và sự vâng phục đầy chiến thắng

của Gióp, Giop G 2:9-10
Cảnh 4:
Ba người bạn của Gióp đi đến, và ở 7 ngày, thông cảm trong sự thầm lặng,
Giop G 2:11-13
Cảnh 5:
Sự chịu đựng của Gióp không còn nữa, ông phát ra những lời lằm bằm, Giop
G 3:1-26
Cảnh 6:
Sự bàn cãi kéo dài và không kết quả giữa Gióp và ba người bạn về tai hoạ
của ông.
Các bạn giữ quan điểm cho rằng sự thống khố là hậu quả của tội lỗi cá nhân.
Gióp tự bào chữa và khẳng định là mình vô tội, Giop G 4:1-31:40
Cảnh 7:
Ê-li-hu tham gia cuộc bàn cãi, Giop G 32:1-37:24
Cảnh 8:
Trong cơn gió lốc Chúa trả lời Gióp với sự soi sáng và quở trách, Giop G
38:1-39:38
Cảnh 9:
Lời thú tội của Gióp, Giop G 40:3-5
Cảnh 10:
Chúa nói lần thứ nhì, Giop G 40:7-41:34
Cảnh 11:
a. Lời thú tội lần thứ nhì của Gióp, Giop G 42:1-6
b. Chúa quở trách Ê-li-pha, Binh-đát và Sô-pha về những lời nói ngu dốt của
họ và ra lệnh họ phải dâng của lễ thiêu, Giop G 42:7-9
Cảnh 12:
Gióp cầu nguyện cho bạn hữu mình, Gióp phục hồi sự thịnh vượng của mình
và sống cho tới già, Giop G 42:10-17
Những bài học gợi ý:
1. Quyền năng hiểm ác của Sa-tan trong cuộc sống con người.
2. Việc sử dụng sự thống khổ trong kế hoạch của Đức Chúa Trời như là một
phương tiện để hoàn thiện nhân cách.
Phần chọn đặc biệt: Bài nghị luận của Gióp về trí khôn, Giop G 28:1-28
Dẫn nhập Thi Thiên
* Một trăm năm mươi bài hát thuộc linh cùng với thi ca thuộc linh được sử
dụng trong giáo hội qua mọi thời đại trong việc thờ phượng và lễ bái cầu
nguyện. Sách Thi Thiên được dùng như là sách thánh thi trong đền thờ thứ
nhì.

Chủ đề nổi bật là sự cầu nguyện và khen ngợi, nhưng sách Thi Thiên bao
gồm rất nhiều loại từng trải tôn giáo khác nhau.
Sách Thi Thiên được trích dẫn trong Tân Ước nhiều hơn các sách khác, chỉ
thua sách Ê-sai.
Thi Thiên thường được gọi là Thi Thiên của Đa-vít bởi vì Đa-vít là tác giả
của một số lượng khá lớn các bài Thi Thiên.
Tác giả: Nguồn tác giả của nhiều bài Thi Thiên thì không biết chắc có thể là
trong một số trường hợp tên gắn liền với một số Thi Thiên nào đó có thể nói
đến người sưu tập hơn là chính tác giả.
Dưới đây là bảng danh sách đề nghị của tác giả được lấy từ nhiều ấn bản
khác nhau của Kinh Thánh.
- Được cho là của Đa-vít: 73.
- Của con trai Cô-rê: 11.
- Của A-sáp: 12.
- Của Thê-man: 1
- Của Ê-than: 1.
- Của Sa-lô-môn: 2.
- Của Môi-se: 1.
- Của Xa-cha-ri: 1.
- Của A-ghê: 1.
- Của Ê-xê-chia: một số bài Thi Thiên đáng ngờ.
- Của E-xơ-ra: 1.
Những Thi Thiên còn lại thì vô danh.
Thi Thiên về Đấng Mê-si-a: Dưới đây là những bài Thi Thiên được coi là có
liên quan đến Chúa một cách trực tiếp hay tiêu biểu.
1. Đấng Christ là Vua Thi Tv 2:1-12; 45:1-17; 72:1-20; 110:1-7; 132:18;
11:1-20
2. Sự thống khổ của Chúa, Thi Tv 22:1-31; 41:1-13; 55:23; 12:1-14:7;
69:36; 20:1-21:13
3. Sự phục sinh của Đấng Christ, Thi Tv 16:1-11
4. Sự thăng thiên của Christ, Thi Tv 68:18
Bố cục theo chủ đề: Mỗi Thi Thiên liệt kê dưới đây theo một chủ đề rõ nét.
Con Người:
a. Quyền cao chức trọng, sự đề cao Thi Tv 8:1-9
b. Tội lỗi, Thi Tv 10:1-18; 14:1-7; 35:1-28; 59:1-17 và nhiều Thi Thiên
khác.
Thuộc thế gian và gian ác:
a. Tương phản với sự kính sợ Đức Chúa Trời, Thi Tv 1:1-6; 4:1-8; 5:1-12
b. Sự trì hoãn trừng phạt, Thi Tv 10:1-18
c. Sự phát đạt, Thi Tv 37:1-40; Thi Tv 7:1-17

d. Số phận, Thi Tv 9:1-20; Thi Tv 11:1-7
e. Tin cậy vào sự giàu có, Thi Tv 49:1-20
Kinh nghiệm tôn giáo:
a. Ăn năn, Thi Tv 25:1-22; 38:1-22; 51:1-19; 130:1-8
b. Tha tội, Thi Tv 32:1-11
c. Trở lại tin Chúa, Thi Tv 40:1-17
d. Hiến dâng, Thi Tv 116:1-19
e. Tin cậy, Thi Tv 3:1-8; 16:1-11; 20:1-9; 23:1-6; 27:1-14; 31:1-24; 34:1-22;
42:1-11; 61:1-8; 62:1-12; 91:1-16 121:1-8
f. Sự có thể dạy dỗ được, Thi Tv 25:1-22
g. Nguyện vọng, Thi Tv 42:1-11; 63:1-11; 143:1-12
h. Cầu nguyện, Thi Tv 55:1-23; 70:1-5; 77:1-20; 85:1-13; 86:1-17; 142:1-7;
43:1-12
i. Ngợi khen, Thi Tv 96:1-13; 98:1-9; 100:1-5; 103:1-22; 107:1-43; 136:1-26
145:1-21; 148:1-14; 149:1-9; 150:1-6
j. Thờ phượng, Thi Tv 43:1-5; 84:1-12; 100:1-5 122:1-9; 132:1-18
k.Thống khổ, tai ương, Thi Tv 6:1-10; 13:1-6; 22:1-31 69:1-36; 88:1-18;
102:1-28
l. Tuổi già, Thi Tv 71:1-24
m. Sự sống chóng qua, Thi Tv 39:1-13; 49:1-20; 90:1-17
n. Nhà, Thi Tv 127:1-5
o. Nhớ nhà, Thi Tv 137:1-9
Hội thánh tiêu biểu: a. Sự an toàn của Hội Thánh, Thi Tv 46:1-11
b. Sự vinh hiển của Hội Thánh, Thi Tv 48:1-14; 87:1-7
c. Tình thương đối với Hội Thánh, Thi Tv 84:1-12; 122:1-10
d. Sự hợp nhất trong Hội Thánh, Thi Tv 133:1-3
Lời Đức Chúa Trời: Thi Tv 19:1-14; 119:1-176
Truyền giáo: Thi Tv 67:1-7; 72:1-20; 96:1-13; 98:1-9
Trách nhiệm của người thống trị: Thi Tv 82:1-8; 101:1-8
Thuộc tính của Đức Chúa Trời: a. Sự thông sáng, uy nghi và quyền năng,
Thi Tv 18:1-50; 19:1-14; 29:1-11; 62:1-12; 66:1-20; 89:1-52; 93:1-5; 97:112; 99:1-9; 118:1-29; 147:1-20;
b. Sự thương xót, Thi Tv 32:1-11; 85:1-13; 136:1-26
c. Vô sở bất tri, Thi Tv 139:1-24
d. Quyền năng sáng tạo, Thi Tv 33:1-22; 89:1-52; 104:1-35
Kinh nghiệm của Y-sơ-ra-ên: a. Không tin, Thi Tv 78:1-72
b. Hoang tàn và khốn khổ, Thi Tv 79:1-13; 80:1-19
c. Tái phạm, Thi Tv 81:1-16
d. Sự quan phòng của Đức Chúa Trời, Thi Tv 105:1-45; 106:1-48; 114:1-8

Dẫn nhập Châm ngôn
Một sách sưu tập các cách ngôn về đạo đức và tôn giáo: Bao gồm những dạy
dỗ về cuộc sống đứng đắn. Sách cũng là một bài luận ngắn về sự khôn
ngoan, sự công bình, tiết độ, cần cù, thánh sạch…
Trong những Châm ngôn súc tích thường nêu lên một sự tương phản giữa
khôn ngoan và ngu xuẩn, giữa công bình và tội lỗi.
Tác giả: Sa-lô-môn, nói chung, được công nhận là tác giả của phần lớn trong
sách Châm Ngôn. Có lẽ chính ông không phải là tác giả ban đầu của toàn bộ
Châm Ngôn, chương 30 và 31 là của A-gu-rơ và Lê-mu-ên.
Mục đích chính: Đưa ra những lời dạy dỗ đạo đức, nhất là đối với giới trẻ.
Câu chìa khoá: ChCn 1:4
Tư tưởng chủ đạo: Kính sợ Chúa, được nhắc khoảng 14 lần.
Bảng tóm tắt:
1. Lời khuyến cáo và cảnh cáo của người cha, với sự khích lệ hãy giành lấy
sự khôn ngoan, ChCn 1:1-7:27
2. Lời kêu gọi của sự khôn ngoan, ChCn 8:1-9:18
3. Châm Ngôn của Sa-lô-môn - sự tương phản giữa thiện và ác, khôn ngoan
và ngu xuẩn, ChCn 10:1-20:30
4. Những cách ngôn và lời khuyến cáo có tính chất châm ngôn, ChCn 21:124:34
5. Châm ngôn của Sa-lô-môn do người của Ê-xê-chia sao chép, ChCn 25:129:27
6. Lời của A-gu-rơ, lời cầu nguyện, ChCn 30:1-33
7. Lời của vua Lê-mu-ên, lời khuyên của người mẹ, ChCn 31:1-9
Mô tả về người vợ lý tưởng, ChCn 31:10-31
Đoạn chọn đặc biệt:
- Lời kêu gọi của khôn ngoan, ChCn 1:20-23; ChCn 8:1-36
- Cội nguồn của khôn ngoan, ChCn 2:6
- Sự quí giá của khôn ngoan, ChCn 3:13-26
- Việc chính yếu, ChCn 4:5-13
- Kho tàng đáng giá nhất, ChCn 8:11-36
- Bữa tiệc của khôn ngoan, ChCn 9:1-6;
Những đề tài được bàn đến cách đặc biệt:
- Nóng nảy, ChCn 14:17,29; ChCn 15:18; ChCn 16:32; ChCn 19:11
- Sự hào phóng, ChCn 3:9-10; ChCn 11:24-26; ChCn 14:21; ChCn 19:17;
ChCn 22:9
- Sự sửa trị trẻ con, ChCn 13:24; ChCn 19:18; ChCn 22:6,15; ChCn 23:1314

- Kẻ cám dỗ, ChCn 4:14; ChCn 9:13; ChCn 16:29
- Kính sợ Đức Chúa Trời, ChCn 1:7; ChCn 3:7; ChCn 9:10; ChCn 10:27;
ChCn 14:26-27; ChCn 15:16,33; ChCn 16:6; ChCn 19:23; ChCn 23:17;
ChCn 24:21
- Kẻ ngu xuẩn, nói hành, ChCn 10:18
- Đoản thọ, ChCn 10:21
- Kẻ gây điều tai ác, ChCn 10:23
- Tự cho là công bình, ChCn 12:15
- Dễ cáu, ChCn 12:16
- Phỉ báng tội lỗi, ChCn 14:9
- Nói ngông, ChCn 15:2
- Vô cảm, ChCn 17:10
- Nguy hiểm, ChCn 17:12
- Hão huyền, ChCn 17:24
- Can thiệp vào chuyện của người khác, ChCn 20:3
- Xem thường sự khôn ngoan, ChCn 23:9
- Ngu si, ChCn 27:22
- Tự tin, ChCn 14:16; ChCn 28:26
- Lắm mồm, ChCn 29:11
- Tình Bạn, ChCn 17:17; ChCn 18:24; ChCn 19:4; ChCn 27:10,17
- Hiểu biết thiêng liêng, ChCn 15:11; ChCn 21:2; ChCn 24:12
- Lười biếng, ChCn 6:6-11; ChCn 10:4-5; ChCn 12:27; ChCn 13:4; ChCn
15:19; ChCn 18:9; ChCn 19:15,24; ChCn 20:4,13; ChCn 22:13; ChCn
24:30-34; ChCn 26:13-16
- Hà hiếp, ChCn 14:31; ChCn 22:22; ChCn 28:16
- Kiêu căng, ChCn 6:17; ChCn 11:2; ChCn 13:10; ChCn 15:25; ChCn
16:18-19; ChCn 18:12; ChCn 21:4,24; ChCn 29:23; ChCn 30:13
- Cẩn trọng, ChCn 12:23; ChCn 13:16; ChCn 14:8,15,18; ChCn 15:5; ChCn
16:21; ChCn 18:15; ChCn 27:12
- Kẻ nhạo báng, ChCn 3:34; ChCn 9:7; ChCn 14:6; ChCn 19:25; ChCn 24:9
- Tranh giành, ChCn 3:30; ChCn 10:12; ChCn 15:18; ChCn 16:28 ChCn
17:1,4,19; ChCn 18:6,19; ChCn 20:3; ChCn 22:10; ChCn 25:8; ChCn 30:33
- Tiết độ, ChCn 20:1 ChCn 21:17; ChCn 23:1-3,20; ChCn 23:29-35; ChCn
25:16; ChCn 31:4-7
- Miệng lưỡi, ChCn 4:24; ChCn 10:11-32; ChCn 12:6,18,22; ChCn 13:3;
ChCn 14:3; ChCn 15:1-7,23; ChCn 16:13,23,27; ChCn 17:4; ChCn 18:7,21;
ChCn 19:1; ChCn 20:19; ChCn 21:33; ChCn 26:28; ChCn 30:32
- Của phi nghĩa, ChCn 10:2; ChCn 13:11 ChCn 21:6; ChCn 28:8
- Của cải, ChCn 10:2,15; ChCn 11:4,28; ChCn 13:7,11; ChCn 15:6; ChCn
16:8; ChCn 18:11; ChCn 19:4; ChCn 27:24; ChCn 28:6,22

- Phụ nữ xấu, ChCn 2:16-19; ChCn 5:3-14,20,23; ChCn 6:24-35; ChCn 7:527; ChCn 9:13-18
- Phụ nữ tốt, ChCn 5:18-19; ChCn 31:10-31;
Bài học thuộc linh: Sa-lô-môn là cột chỉ đường chớ không phải là gương
mẫu. Ông vạch ra đường lối đến với sự khôn ngoan, nhưng trong phần sau
của đời ông thì ông đã không đi trong đường lối ấy. Con trai ông là Giê-rôbô-am theo gương của ông chớ không theo sự khuyên bảo của ông và trở
thành kẻ thống trị xấu xa và ngu muội.
Dẫn nhập Truyền đạo
Tên sách: Mượn của Bản Bảy Mươi Dịch Giả.Trong Bản Kinh Thánh Hêbơ-rơ thì sách này được gọi là Koheleth. Nghĩa của từ này có phần nào tranh
cãi, nhưng thường được dịch sang Anh ngữ là "Người Truyền Đạo" hay
"người thuyết giảng."
Tác giả: Không chắc chắn, nhưng thông thường người ta cho rằng tác giả là
Sa-lô-môn, TrGv 1:1-2
Đánh giá từ nét sơ sài của cuộc đời Sa-lô-môn trong Kinh Thánh, nhiều kinh
nghiệm được nhắc trong sách này dường như khớp với những gì mà ông - có
lẽ - đã từng trải.
Câu chìa khóa: TrGv 12:13
Chữ chìa khóa: Vô nghĩa, dưới mặt trời. Mỗi từ ngữ xuất hiện hơn 25 lần.
Nội dung: Sách bao gồm những suy nghĩ và kinh nghiệm của một triết gia
mà tâm trí ông luôn có các mâu thuẫn đối lập của các vấn đề trong cuộc
sống.
Sau khi nói về sự tan vỡ ảo mộng xảy đến với mình, tác giả trình bày quan
điểm của con người theo chủ nghĩa duy vật hưởng lạc - không có gì khác
hơn là sự hưởng thụ các thú vui xác thịt.
Khi ý tưởng này tái hiện trong suốt quyển sách, bày tỏ cách hiển nhiên là tác
giả đang vật lộn với ý tưởng ấy, đồng thời tác giả cũng nói lên những chân
lý sâu sắc về nghĩa vụ và bổn phận của con người đối với Thượng Đế.
Cuối cùng dường như tác giả thoát khỏi sự suy đoán và hồ nghi để đến một
kết luận đáng khâm phục trong TrGv 12:13 "Kính sợ Đức Chúa Trời và giữ
các điều răn Ngài# ấy là trọn phận sự của ngươi"
Bảng tóm tắt:
Chương 1 - 2:
1. Dẫn nhập. Suy nghĩ về vòng lẩn quẩn của cuộc đời đơn điệu, TrGv 1:1-11
2. Con người tự nhiên tìm kiếm hạnh phúc để được thoả mãn.
a. Không thể tìm sự thoả mãn hạnh phúc trong sự khôn ngoan, TrGv 1:12-18
b. Không thể có hạnh phúc và thoả mãn trong thú vui trần tục, TrGv 2:1-3

c. Nghệ thuật hay trồng trọt không mang lại thoả mãn và hạnh phúc, TrGv
2:4-6
d. Của cải dư dật không mang lại hạnh phúc và thoả mãn, TrGv 2:7-11
3. Kết luận:
a. Người khôn ngoan hơn người ngu dại, TrGv 2:12-21
b. Về sự hưởng lạc - không có gì hay hơn là ăn uống và hưởng thụ cuộc đời,
TrGv 2:24-26
Chương 3 :
Quan điểm của con người tự nhiên về vòng đời tẻ nhạt.#
a. Mọi việc đều có chu kỳ, TrGv 3:1-8
b. Kết luận của người theo chủ nghĩa duy vật, TrGv 3:13-22
Chương 4:
Nghiên cứu các tệ nạn xã hội do xa rời đức tin, TrGv 4: 1-15.Kết kuận, tất cả
đều là vô nghĩa và hư không, TrGv 4:16
Chương 5:
a. Lời khuyên về bổn phận tôn giáo, TrGv 5:1-7
b. Vô nghĩa của sự giàu có, TrGv 5: 9-17
c. Kết luận là, ăn uống và hưởng thụ đời, TrGv 5:18-20
Chương 6:
Vô nghĩa của sự sống lâu, TrGv 6:3-12
Chương 7:
a. Một chuỗi những châm ngôn khôn ngoan, TrGv 7:1-24
b. Kết luận về người đàn bà xấu xa, TrGv 7:25-28
Chương 8:
a. Bổn phận công dân, TrGv 8:1-5
b. Sự bất ổn của sự sống, TrGv 8:6-8
c. Sự chắc chắn về sự phán xét của Chúa và sự bất công của cuộc sống,
TrGv 8:10-14
d. Kết luận của người hưởng lạc, TrGv 8:15
e. Công việc của Thượng Đế và con người, TrGv 8:16-17
Chương 9:
a. Những sự việc tương tự xảy đến cho người công bình và người gian ác
nấm mồ là đích của sự sống, con người là một loài vật của hoàn cảnh. Kết
luận giống như của người hưởng lạc: Hãy ăn uống, vì ngày mai chúng ta sẽ
chết,# TrGv 9:1-9
b. Sự khôn ngoan thì ưu việt, mặc dù thường không được coi trọng, TrGv
9:13-18
Chương 10:
Các châm ngôn khôn ngoan, sự tương phản giữa khôn ngoan và ngu dại,
vv…

Chương 11:
a. Lời khuyên về sự rộng lượng, TrGv 11:1-6
b. Lời khuyên đối với người trẻ, TrGv 11:9-10
Chương 12:
Sự mô tả dưới hình thức thi ca về tuổi già, TrGv 12:1-7. Những lời kết thúc
của nhà truyền đạo và kết luận cuối cùng liên quan đến bổn phận cao cả nhất
của con người, TrGv 12:8-14
Dẫn nhập Nhã ca
Tác giả: Sa-lô-môn, căn cứ vào truyền thuyết.
Sách này bị phê phán dữ dội bởi vì ngôn từ khêu gợi trong sách.
Việc sách nầy được xếp vào Kinh Thánh đã được nhiều học giả kính sợ
Chúa trong mọi thời đại bào chữa. Nhiều người coi sách như là một ngụ
ngôn thuộc linh, tiêu biểu cho tình cảm thiêng liêng tồn tại giữa Đức Chúa
Trời với dân sự của Ngài hay là giữa Đấng Christ và Hội Thánh Ngài.
Sách là một bài thơ Đông phương: Những từ ngữ sôi nổi chỉ có thể được
diễn giải cách thoả đáng bởi một tâm trí thuộc linh trưởng thành sâu sắc.
Bảng tóm tắt: (Tân lang tiêu biểu cho Đấng Christ# tân phụ tiêu biểu cho
Hội Thánh).
1. Sự thông công thuộc linh giữa tân phụ và tân lang thiên thượng, Nha Dc
1:1-2:7
2. Tân phụ nhớ nhung người bạn đồng hành của mình và đi tìm kiếm chàng,
Nha Dc 2:8-3:5
3. Cuộc trò chuyện sôi nổi của tân phụ và tân lang về tình yêu song phương
và sự ái mộ lẫn nhau, Nha Dc 3:6-8:14
Tư tưởng chủ đạo: Người Yêu Của Ta, danh phận của người tin Chúa dành
cho Đấng Christ, Nha Dc 2:16
Đoạn tương ứng: Thi Tv 45:1-17
Những minh họa phụ:
I. Tân Lang Thiên Thượng:
1. Tình yêu của chàng che đậy mọi tì vết của tân phụ, Nha Dc 4:7
2. Chàng vui mừng vì cớ nàng, EsIs 62:5
3. Chàng phó sự sống của mình cho nàng, Eph Ep 5:25
4. Chàng sẽ đến để rước nàng, Mat Mt 25:6
II. Tân Phụ:
1. Yêu thương tân lang, Nha Dc 2:16
2. Cảm thấy sự không xứng đáng của mình, Nha Dc 1:5
3. Đã được làm thanh sạch và mặc áo bào không tì vết, KhKh 19:8
4. Dồi mình bằng châu báu của ân điển Đức Chúa Trời, EsIs 61:10

5. Đưa ra lời mời đến dự lễ cưới, KhKh 22:17
Tiệc cưới: 1. Sự sửa soạn bởi Người Cha dành cho con trai mình, Mat Mt
22:2
2. Sự sửa soạn tốn kém đã được thực hiện, Mat Mt 22:4
3. Mời đến dự tiệc, một vinh dự lớn lao, KhKh 19:9
4. Lời mời bị nhiều người khinh dể, Mat Mt 22:5
5. Lời mời dành cho mọi tầng lớp, Mat Mt 22:10
6. Quên mặc áo lễ dự cưới sẽ bị từ chối, Mat Mt 22:11-13
Dẫn nhập Ê-sai
Nhà tiên tri: Ông là con trai của A-mốt, hành chức tiên tri vào triều đại của
Ô-xia, Giô-tham, A-háp và Ê-xê-chia, EsIs 1:1
Sự kêu gọi Ê-sai và xức dầu cho ông, EsIs 6:1-8
Gia đình Ê-sai, EsIs 7:3; EsIs 8:3-4
Ê-sai được xem là vị tiên tri vĩ đại nhất thời Cựu Ước: 1. Bởi ông là tiên tri
của sự cứu chuộc một cách rõ nét.
2. Nhiều đoạn trong sách Ê-sai là những đoạn hay nhất trong văn học.
Một số học giả hiện đại nghiên cứu lời tiên tri dưới hình thức thi ca này
chẳng khác gì nhà thực vật học nghiên cứu hoa, mổ xẻ và phân tích hoa vậy.
Với phương pháp như vậy, tinh hoa và tính thống nhất của sách, chẳng khác
chi bông hồng, đã bị lãng quên bởi bị lôi ra thành nhiều mảnh để khảo xét.
Bảng tóm tắt:
Phần I: Chương 1-39, nhắc đến các sự kiện đưa đến tình trạng phu tù.
a. Lời hô hào và cảnh cáo và sự phán xét của Đức Chúa Trời, xen lẫn lời tiên
đoán về những năm tháng sáng sủa hơn và sự giáng lâm của Đấng Mê-si-a,
EsIs 1:1-12:6
b. Lời tiên tri về các quốc gia xung quanh - A-si-ri, Ba-by-lôn, Mô-áp, Aicập, Phi-li-tin, Sy-ri, Ê-đôm và Ty-rơ, . . . EsIs 13:1-23:18
c. Bài viết về tội lỗi và sự khốn cùng của nhân dân, những lời hứa về cứu
rỗi, một bài ca về niềm tin cậy nơi Đức Chúa Trời, và sự chăm sóc của Ngài
đối với vườn nho của Ngài, EsIs 24:1-27:13
d. Chủ yếu là những tai họa được loan báo nghịch cùng Ép-ra-im và Giê-rusa-lem, nhất là về việc nhờ cậy vào các đồng minh nước ngoài, EsIs 28:131:9
e. Lời hứa về một vị vua công bình và tràn đầy Thánh Linh, sự đề cao người
công bình, và biến đồng vắng thành ngôi vườn của Chúa, EsIs 32:1-35:10
f. Ê-xê-chia được giải cứu khỏi bàn tay người A-si-ri, kéo dài tuổi thọ của
ông, EsIs 36:1-39:8
Phần II:

Phần II của sách gồm các lời tiên đoán, lời cảnh cáo, và những lời hứa nhắc
đến các sự kiện sau thời kỳ phu tù và mãi tận chế độ Cơ Đốc giáo sau này.
Phần này có lời tiên tri nói rất nhiều về Đấng Mê-si-a.
Chữ chìa khóa: Sự cứu rỗi. Tên của Ê-sai có nghĩa "sự cứu rỗi của Đức Chúa
Trời."
Sự cứu rỗi:
a. Nguồn cứu rỗi, EsIs 12:3
b. Sự mừng rỗ của cứu rỗi, EsIs 25:9
c. Tường của sự cứu rỗi, EsIs 26:1
d. Sự cứu đời đời, EsIs 45:17
e. Ngày cứu rỗi, EsIs 49:8
f. Bàn chân của người rao sự cứu rỗi, EsIs 52:7
g. Quảng bá sự cứu rỗi, EsIs 52:10
h. Cánh tay của sự cứu rỗi, EsIs 59:16
i. Mão của sự cứu rỗi, EsIs 59:17
j. Áo cứu rỗi, EsIs 61:10
k. Ánh sáng cứu rỗi, EsIs 62:1
Bảy điều còn lại đời đời:
1. Quyền năng của Chúa, EsIs 26:4
2. Sự phán xét của Chúa, EsIs 33:14
3. Sự vui mừng, EsIs 35:10
4. Sự cứu rỗi, EsIs 45:17
5. Sự nhân từ, EsIs 54:8
6. Giao ước, EsIs 55:3
7. Ánh sáng, EsIs 60:19
Dẫn nhập Giê-rê-mi
* Gần tiểu sử và sứ điệp của "vị tiên tri khác."
Thời kỳ: Những ngày đen tối trong vương quốc của Giu-đa, từ Giô-si-a năm
thứ 13 (vị vua tốt cuối cùng) mãi cho đến vài năm sau thời kỳ phu tù.
Chủ đề chính: Sự tái phạm tội, cảnh nô lệ và trở về quê hương của người Do
Thái.
Cuộc đời của Giê-rê-mi:
- Gia đình, Gie Gr 1:1
- Sự ra đời, được Chúa chọn để làm tiên tri, Gie Gr 1:5
- Sự kêu gọi lúc còn trẻ, trong thời vua Giô-si-a, Gie Gr 1:2-6
- Sự ban năng lực của Chúa, Gie Gr 1:9
- Sự ủy nhiệm, Gie Gr 1:10
- Lời hứa về sự hiện diện của Chúa, Gie Gr 1:19

- Sức ép của nhiệm vụ trên Giê-rê-mi, Gie Gr 20:9
- Nâng đỡ bởi Lời Đức Chúa Trời, Gie Gr 15:16
- Tiên đoán về sự bị bắt bớ, Gie Gr 1:19 bị cùm, Gie Gr 20:2
- Trong hố bùn, Gie Gr 38:6
- Bị đưa sang Ai-cập, Gie Gr 43:5-7
Bảng tóm tắt:
1. Kêu gọi làm tiên tri, Gie Gr 1:1-19
2. Sự quở trách, cảnh cáo và lời hứa dành cho người Do Thái, Gie Gr 2:120:18
3. Vạch mặt kẻ thống trị, cũng như bọn chăn bất trung và tiên tri giả, Gie Gr
21:1-23:40
4. Tiên đoán về sự phán xét của Chúa, và sự đánh bại Giê-ru-sa-lem, và 70
năm làm phu tù, Gie Gr 25:1-29:32
5. Lời hứa về sự trở về quê hương của người Do Thái, Gie Gr 30:1-33:26
6. Lời tiên tri phát sinh bởi tội lỗi của Sê-đê-kia và Giê-hô-gia-kim, Gie Gr
34:1-39:18
7. Tình trạng bi đát của những người còn sót lại trong xứ Giu-đa, và lời tiên
tri về họ, Gie Gr 40:1-44:30
8. An ủi Ba-rúc, Gie Gr 45:1-5
9. Lời tiên tri về các quốc gia thù địch, Gie Gr 46:1-51:64
Sứ điệp:
1. Một số điểm chính yếu:
a. Nguồn nước sống và hồ chứa, Gie Gr 2:13
b. Vết nhơ tội lỗi không thể xóa được, Gie Gr 2:22
c. Tìm kiếm một người, Gie Gr 5:1
d. Đường lối cũ tốt nhất, Gie Gr 6:16
e. Cơ hội đã đánh mất, Gie Gr 8:20
f. Lời kêu gọi đầy nước mắt về ăn năn, Gie Gr 9:1
g. Tình trạng suy đồi của lòngngười, Gie Gr 17:9
h. Người thợ gốm và đất sét, Gie Gr 18:1-23
i. Người chăn bất trung, Gie Gr 23:1-40
j. Tìm kiếm Đức Chúa Trời như thế nào, Gie Gr 19:23
k. Giao ước mới, Gie Gr 31:31-34
l. Sự cắt xén lời Đức Chúa Trời, Gie Gr 36:21-24
2. Bị từ chối, ruồng rẫy bởi:
a. Láng giềng của mình, Gie Gr 11:19-21
b. Gia đình của mình, Gie Gr 12:6
c. Các thầy tế lễ và tiên tri, Gie Gr 20:1-2
d. Bạn hữu của mình, Gie Gr 20:10
e. Bởi toàn thể dân sự, Gie Gr 26:8

f. Bởi vua, Gie Gr 36:23
Dẫn nhập Ca Thương
* Cuốn sách tiếp theo của Giê-rê-mi.
Chủ đề: Một loại những bài hát tang lễ dưới hình thức thể thơ chữ đầu, được
viết như là cho một quốc tang, miêu tả cảnh phu tù và tàn phá Giê-ru-sa-lem.
Trong ấn bản Bảy Mươi Dịch Giả, người ta phát hiện dòng chữ giới thiệu
như sau: "Việc xảy ra sau khi Y-sơ-ra-ên lâm vào cảnh phu tù đến nỗi Giêrê-mi ngồi khóc và ca ai oán và viết bài ca thương về Giê-ru-sa-lem."
Trong bản Kinh Thánh Hê-bơ-rơ, các chương 1,2,4,5 đều có 22 câu, và mỗi
câu bắt đầu bằng một chữ cái trong số 22 chữ cái Hê-bơ-rơ lần lượt theo thứ
tự.
Trong chương 3, ba câu đầu tiên bắt đầu bằng ký tự aleph, và cứ thế tiếp tục
cho đến hết chương này.
Chương 5 có 22 câu nhưng không theo thể thơ chữ đầu.
Bảng tóm tắt:
1. Sự điêu tàn của Giê-ru-sa-lem và cảnh khốn cùng của những người bị lưu
đày, vì cớ tội lỗi của họ, CaAc 1:1-22
2. Chúa, Đấng chăn dắt của Y-sơ-ra-ên đã phó dân sự của Ngài vào một số
phận khủng khiếp, CaAc 2:1-22
3. Sự đau buồn của Giê-rê-mi đối với cảnh thống khổ của nhân dân của ông,
sự tin cậy của Giê-rê-mi ở nơi Đức Chúa Trời, và sự bắt bớ đối với Giê-rêmi CaAc 3:1-66
4. Vinh quang thời trước của Y-sơ-ra-ên tương phản với cảnh bi đát hiện tại
của họ, CaAc 4:1-22
5. Lời cầu nguyện xin sự thương xót, CaAc 5:1-22
Câu chìa khóa: CaAc 1:12
Dẫn nhập Ê-xê-chi-ên
Tên: Có nghĩa là "Đức Chúa Trời làm vững mạnh."
Sách này: Cũng giống như sách Đa-ni-ên và sách Khải huyền, có thể được
coi là sách huyền bí. Sách gồm nhiều hình ảnh khó diễn giải. Thế nhưng,
nhiều dạy dỗ trong sách thì rõ ràng và có giá trị cao nhất.
Bảng tóm tắt:
Phần I: Sự Sửa Soạn Và Kêu Gọi Tiên Tri, [dc Exe 1:1-3:27;;
[mt a. Con trai của thầy tế lễ, Exe Ed 1:3
b. Đưa những phu tù sang Ba-by-lôn, Exe Ed 1:1.

Vua thứ nhì, Exe Ed 24:11-16
c. Khải tượng của Ê-xê-chi-ên về Đức Chúa Trời, Exe Ed 1:1-28
d. Sự kêu gọi Ê-xê-chi-ên, Exe Ed 1:3
e. Sự uỷ nhiệm ông và việc được ban năng lực, Exe Ed 2:1-3:27
f. Thức ăn thuộc linh, Exe Ed 3:1-3, xem sách KhKh 10:10
g. Nhiệm vụ của Ê-xê-chi-ên như là người canh giữ thuộc linh, Exe Ed 3:411,17-21
h. Ê-xê-chi-ên yêu cầu được cảm động bởi Thánh Linh ở mức độ cao nhất.
Mệnh đề "Đức Giê-hô-va phán" được lặp lại nhiều lần trong cả sách.
Tư tưởng chủ đạo: "Ta là Chúa Hằng Hữu"
Phần II: Miêu Tả Tình Trạng Bội Đạo Của Dân Giu-đa Trước Khi Bị Bắt
Làm Phu Tù:
a. Phần lớn là khải tượng, lời cảnh cáo, và lời tiên đoán về tội ác của dân sự,
và sự tàn phá sắp xảy đến với Giê-ru-sa-lem, Exe Ed 4:1-24:27
b. Sự phán xét của Chúa đối với bảy nước xung quanh, Exe Ed 25:1-32:32
Phần III: Chủ Yếu Tiên Đoán Và Lời Hứa, liên quan đến các phương cách
để khôi phục sự vinh hiển của đất nước, [dc Exe 33:1-48:35;;
[mt a. Bằng cách lưu ý đến những lời cảnh cáo của người canh giữ thuộc
linh và ăn năn tội lỗi, Exe Ed 33:1-33
b. Bằng cách sa thải kẻ chăn bất trung, và người chăn tốt lành sẽ đến và chăn
giữ bầy chiên, Exe Ed 34:1-31
c. Bằng sự phục hưng đất nước và phục hưng thuộc linh trong thung lũng
đầy các hài cốt khô, Exe Ed 36:1-37:28
d. Bằng cách đánh bại các kẻ thù của đất nước, Exe Ed 38:1-39:29
e. Bằng cách xây một nơi thánh mới, Exe Ed 40:1-42:20
f. Bằng cách trả lại vinh hiển của Chúa, Exe Ed 43:4-5; 44:4
g. Bởi chức vụ của một thầy tế lễ trung tín, Exe Ed 44:9-31
h. Bởi nước sự sống tuôn chảy từ nơi thánh, Exe Ed 47:1-23 xem KhKh
22:1-2
Những sự kiện nổi bật:
1. Sự vinh hiển của Chúa ra khỏi đền thờ, Exe Ed 10:16-18; 11:23
2. Giê-ru-sa-lem thất thủ, Exe Ed 33:21
3. Nói tiên tri về sự trở lại của vinh quang Đức Chúa Trời khi Ngài hiện ra,
Exe Ed 44:4
Đoạn chọn đặc biệt:
1. Tấm lòng mới, Exe Ed 11:19; 36:25-28
2. Trách nhiệm cá nhân, Exe Ed 18:20-32
3. Vữa chưa tôi, Exe Ed 13:10-15
4. Tìm kiếm người chánh trực, Exe Ed 22:30. Xem Gie Gr 5:1
5. Những người nghe đa cảm, Exe Ed 33:30-32

6. Các chương dành cho người truyền đạo, Exe Ed 13:1-23; Exe Ed 33:134:31
7. Sự phục hưng, Exe Ed 37:1-28
Dẫn nhập Đa-ni-ên
Sách đọc chung với sách Khải huyền.
Tác giả: Đa-ni-ên, giống như Ê-xê-chi-ên, là một phu tù tại Ba-by-lôn. Đani-ên được dẫn đến trước mặt vua Nê-bu-cát-nết-sa lúc còn niên thiếu và
được đào tạo bằng các môn khoa học và ngôn ngữ Ba-by-lôn (của người
Canh-đê)# DaDn 1:17-18
Sự nghiệp: Giống như Giô-sép - được cất nhắc đến địa vị cao nhất trong
vương quốc (DaDn 2:48), Đa-ni-ên vẫn giữ vững đời sống thuộc linh trong
một cung đình của người ngoại đạo, DaDn 6:10
Chủ đề chính: Quyền tối cao của Đức Chúa Trời trên mọi công việc của con
người qua mọi thời đại. Lời thú nhận của vị vua theo ngoại giáo về sự thật
này tạo nên những câu chìa khoá của sách này, DaDn 2:47; DaDn 4:37;
DaDn 6:26
Phần I:
Phần lớn là lời tường thuật về tiểu sử cá nhân và lịch sử địa phương. Gồm
một bản tường thuật về các sự kiện hồi hộp và sự can thiệp vượt trên tất cả
của Chúa trong Cựu Ước. Đoạn này nhắc đến sáu mâu thuẫn (xung đột) đạo
đức mà Đa-ni-ên và các bạn ông đã trải qua.
Mâu thuẫn thứ 1: Giữa sự ăn uống buông thả của người ngoại đạo và sự ăn
uống kiêng cữ nghiêm nhặt để cải thiện sức khoẻ.
Sự ăn uống kiêng cữ đã thắng, DaDn 1:8-15
Mâu thuẫn thứ 2: Giữa các phù phép của bọn ngoại giáo và sự khôn ngoan
thiên thượng trong việc giải mộng cho vua.
Sự khôn ngoan đến từ Chúa đã thắng, DaDn 2:1-47
Mâu thuẫn thứ 3: Sự thờ hình tượng nghịch cùng sự trung thành của Đức
Chúa Trời.
Lòng trung thành với Đức Chúa Trời đã thắng, DaDn 3:1-30
Mâu thuẫn thứ 4: Sự kiêu ngạo của vị vua ngoại giáo nghịch cùng quyền tối
thượng của Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời đã thắng, vua bị đuổi ra ngoài để ăn cỏ, DaDn 4:4-37
Mâu thuẫn thứ 5: Xúc phạm vật thánh.
Sự tôn kính Chúa đã thắng - chữ viết trên tường, Bên-xát-sa bị truất phế,
DaDn 5:1-30
Mâu thuẫn thứ 6: Giữa âm mưu hiểm ác và sự quan phòng của Đức Chúa
Trời đối với những người thánh của Ngài.

Sự quan phòng của Đức Chúa Trời đã thắng, miệng sư tử bị khoá lại, DaDn
6:1-28;
Phần II:
Khải Tượng Và Lời Tiên Tri về bàn tay kiểm soát của Đức Chúa Trời di
chuyển các cảnh khác nhau trong toàn cảnh lịch sử, DaDn 7:1-12:13
Sự diễn giải: Sách Đa-ni-ên là sách đọc chung với sách Khải huyền# cả hai
sách gồm nhiều hình ảnh mang tính chất huyền bí.
Sự cố gắng làm cho các lời tiên tri trong sách Đa-ni-ên và sách Khải huyền
khớp với các sự thật và sự kiện trong lịch sử nhân loại đã gây ra một sự mâu
thuẫn không dứt về ý kiến.
Sự diễn giải đúng đắn các chi tiết trong khải tượng không phải lúc nào cũng
rõ ràng. Hai sự thật, nhìn chung, được hầu hết học giả công nhận:
1. Những lời tiên tri tiêu biểu sự khải thị về tương lai đã được vén màn phần
nào trong lịch sử thế tục và lịch sử thiêng liêng.
2. Khải tượng nhắm về sự khải hoàn sau rốt của vương quốc Đức Chúa Trời
trên mọi quyền lực thế gian và Sa-tan.
Trong chương 7, nhiều nhà bình luận xem bốn con thú là tiêu biểu cho bốn
đế quốc gồm Ba-by-lôn, Ba-tư, Hy Lạp và La Mã (DaDn 7:1-7), tiếp theo là
một khải tượng của Mê-si-a sắp giáng lâm.
Trong chương 8, là một thời kỳ khác của lịch sử Ba-tư và Hy Lạp xuất hiện
dưới hình bóng của một con thú.
Chương 9 gồm lời cầu nguyện của Đa-ni-ên và lời tiên tri đã được vén màn
vào thời đại giáng lâm của Đấng Mê-si-a.
Chương 10 đến chương 12 gồm những lời tiên tri bổ sung và khải thị thêm
về các sự kiện tương lai. Ba chương này là một bãi chiến trường của các
cuộc tranh cãi về thần học với nhiều cách diễn giải khác nhau.
Đoạn chọn đặc biệt:
1. Mục đích của Đa-ni-ên, DaDn 1:8
2. Tảng đá ra từ ngọn núi, DaDn 2:44-45
3. Câu trả lời của ba bạn Hê-bơ-rơ, DaDn 3:16-18
4. Bữa tiệc của Bên-xát-sa, DaDn 5:1-31
5. Đa-ni-ên trong hang sư tử, DaDn 6:1-24
6. Khải tượng về sự phán xét, DaDn 7:9-14
7. Lời hứa cho người cứu được linh hồn người khác, DaDn 12:3
Dẫn nhập Ô-sê
Tác giả: Ô-sê, con trai của Bê-ê-ri, DaDn 1:1. Người cùng thời kỳ với Ê-sai
và Mi-chê. Sứ điệp của Ô-sê được nhắm vào vương quốc phía Bắc.
Sự phù hợp đặc biệt với nhiệm vụ của ông:

1. Ông được nghĩ là một người dân bản xứ của phía Bắc, và quen thuộc với
tình trạng xấu xa tồn tại trong Y-sơ-ra-ên.
2. Hiển nhiên là ông đã lấy một ngưòi vợ tỏ ra là không chung thủy. Một số
học giả nghi ngờ điểm này, nhưng nếu điều này là đúng thì sẽ giúp Ô-sê
miêu tả cách sống động thái độ của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên,
"người vợ gian dâm" của ông, OsHs 1:2-3; 2:1-5, nhưng văn phong trong
sách này rất bóng bẩy và điều ấy có thể nói rằng kinh nghiệm của Ô-sê với
vợ mình chỉ mang tính chất ngụ ngôn (hay ẩn dụ).
Sứ điệp thuộc linh: Sự bội đạo xa rời Đức Chúa Trời chính là tội gian dâm
thuộc linh.
a. Đức Chúa Trời, người chồng, OsHs 2:20; EsIs 54:5
b. Y-sơ-ra-ên, người vợ không trinh bạch, OsHs 2:2
Bảng tóm tắt:
Phần I: Sự Bội Đạo Của Y-sơ-ra-ên:
Được tiêu biểu bằng kinh nghiệm của tiên tri trong đời sống hôn nhân, OsHs
1:1-3:5
Phần II: Bài Giảng Của Tiên Tri:
Chủ yếu mô tả việc phạm tội trở lại và tội thờ hình tượng của dân sự, xen lẫn
với lời răn đe và khuyên bảo, OsHs 4:1-13:16
Lời kêu gọi chính thức về sự ăn năn và lời hứa về những phước lành sau
này, OsHs 14:1-9
Những minh hoạ của ngôn từ hết sức bóng bẩy: Thường diễn tả tình trạng
xấu xa tại Y-sơ-ra-ên.
1. Thung lũng A-cô, con đường hy vọng, OsHs 2:15 xem Gios Gs 7:24-26
2. "Liên kết với hình tượng", OsHs 4:17
3. "Pha lẫn với nhiều quốc gia" (không còn là một quốc gia biệt riêng và
thánh), OsHs 7:8
4. Một cái bánh dẹp chỉ nướng một bên, OsHs 7:8
5. "Các dân ngoại nuốt sức mạnh của Y-sơ-ra-ên" (bị suy yếu bởi sự liên kết
gian tà) OsHs 7:9
6. "Tóc bạc lém đém" (già trước tuổi, sự trở nên xấu mà không biết), OsHs
7:9
7. Y-sơ-ra-ên bị nuốt chửng (bản sắc dân tộc bị biến mất), OsHs 8:8
8. Món đồ không giá trị (một khí mảnh bị hư và vô dụng đối với Chúa),
OsHs 8:8
9. Thích lừa lọc (không thành thật trong việc buôn bán), OsHs 12:7
Đoạn chọn đặc biệt: Sự ăn năn và sự ban phước lành, OsHs 14:1-9
Dẫn nhập Giô-ên

Tác giả: Giô-ên, một tiên tri của Giu-đa, ta biết rất ít về ông, Gio Ge 1:1
Tên: Nghĩa là "Giê-hô-va là Đức Chúa Trời."
Ngày tháng: Không biết chắc.
Văn phong: Cao thượng, sách được viết một cách thanh nhã và mạnh mẽ.
Tư tưởng chủ đạo: Sự ăn năn của cả nước và sự ban phước lành.
Duyên cớ: Một trận dịch cào cào và một nạn hạn hán trầm trọng, được xem
như là những trừng phạt tội lỗi của dân sự. Trận dịch là lời tiên tri nói về sự
xâm lăng sắp xảy đến của các đội quân thù địch của Giu-đa.
Từ ngữ chìa khóa: Ngày của Chúa, Gio Ge 1:15; 2:1,11,31; 3:14;
Ngày của Chúa: 1. Quãng thời gian phán xét dân sự vì cớ tội lỗi của họ.
a. Trận dịch cào cào, Gio Ge 1:4-9
b. Nạn hạn hán trầm trọng, Gio Ge 1:10-20
c. Sự xâm lăng của những kẻ thù, Gio Ge 2:1-10
2. Những kêu gọi ăn năn và cầu nguyện, Gio Ge 2:12-17
3. Lời hứa về giải cứu trong tương lai, Gio Ge 2:18-20
4. Sẽ có một thời được phước lớn.
a. Trong thiên nhiên, mưa dồi dào sẽ bảo đảm được mùa, Gio Ge 2:23-24
b. Sự đầy dẫy Đức Thánh Linh sẽ mở ra một cuộc phấn hưng lớn, Gio Ge
2:28-32 xem Cong Cv 2:1-47
5. Trong Thung lũng Giê-hô-sa-phát.
a. Các nước ngoại bang (Gờ réc) sẽ bị phán xét, Gio Ge 3:1-16
b. Si-ôn sẽ nhận phước lành vinh hiển, Gio Ge 3:17-21
Đoạn chọn đặc biệt:
1. Sự ăn năn hết lòng, Gio Ge 2:12-17
2. Lời hứa về sự đầy dẫy Thánh Linh trong những ngày sau đó, Gio Ge 2:2832
Dẫn nhập A-mốt
Tác giả: Tên của A-mốt có nghĩa là "gánh nặng" hay "người mang gánh
nặng."
Một dông dân của Tê-kô-a, trong chi phái Giu-đa.
Một người chăn cừu và chăm sóc cây vả, AmAm 7:14
Sự kêu gọi ông, AmAm 7:15
Ý đồ muốn bịt miệng A-mốt, AmAm 7:10-13
Ngày tháng: Nói tiên tri vào triều đại Giê-rô-bô-am II tại Y-sơ-ra-ên, và Ôxia tại Giu-đa.
Văn phong: Bình dị nhưng sinh động như tranh. Trong sách rất nhiều ẩn dụ
gây nhiều chú ý, những minh hoạ.
a. Chận ép sự thương xót của Đức Chúa Trời bởi kẻ phạm tội được so sánh

với chiếc xe bò đầy ắp, AmAm 2:13
b. Áp lực của nhiệm vụ đặt trên tiên tri được ví với tiếng gầm thét của sư tử,
AmAm 3:8
c. Sự thoát nạn trong đường tơ kẽ tóc của những người Do Thái còn sót lại
được ví như người chăn cừu chỉ còn giành lại hai xương cẳng hay cái tai từ
họng sư tử, AmAm 3:12
d. Sự thiếu thốn lời Chúa được ví như nạn đói kém trong thế giới tự nhiên,
AmAm 8:11-12
A-mốt với tư cách là tiên tri, hình bóng về Đấng Christ trên nhiều phương
diện:
1. Về nghề nghiệp, ông là người làm công, AmAm 7:14
2. Về địa vị hèn mọn, nhìn nhận gốc gác thấp hèn của ông, AmAm 7:15
3. Về phương pháp dạy dỗ bằng minh hoạ.
4. Trong lời tuyên bố của ông về sự linh cảm của Chúa, "Đây là những gì
Chúa phán" xuất hiện 40 lần trong lời tiên tri của ông.
5. Trong việc bị kết tội phản quốc, AmAm 7:10; GiGa 19:12
6. Trong áp lực của nhiệm vụ đè nặng trên ông, AmAm 3:8; GiGa 9:4
7. Trong việc vạch mặt sự ích kỷ của bọn nhà giàu, AmAm 6:4-6; LuLc
12:15-21
Bảng tóm tắt:
1. Những xét đoàn gần kề đối với các nước xung quanh, AmAm 1:3-15;
AmAm 2:1-3
2. Bài giảng răn đe:
a. Đối với Giu-đa, AmAm 2:4-5
b. Đối với Y-sơ-ra-ên, AmAm 2:6-16
3. Lời kêu gọi Y-sơ-ra-ên hãy tìm kiếm Đức Chúa Trời bằng tấm lòng thành,
AmAm 5:1-27
4. Lên án đời sống xa hoa, AmAm 6:4-14
5. Một chuỗi những khải tượng:
a. Khải tượng về cào cào, AmAm 7:1-3
b. Khải tượng về lửa, AmAm 7:4-5
c. Khải tượng về dây dọi, AmAm 7:7-9
d. Khải tượng về giỏ trái chín, AmAm 8:1-3
e. Khải tượng về nơi thánh bị đánh, AmAm 9:1-10
6. Các khải tượng bị gián đoạn bởi ý đồ hăm doạ người tiên tri, AmAm
7:10-13
7. Việc tiên đoán người Y-sơ-ra-ên bị tan lạc và trở về quê hương, AmAm
9:9-15

Dẫn nhập Áp-đia
Tác giả: Không biết gì về ông.
Lời tiên tri: Xoáy quanh một mối thù máu xa xưa giữa Ê-đôm và Y-sơ-ra-ên.
Người Ê-đôm là con cháu của Ê-sau, và có một mối thù hiềm với Y-sơ-ra-ên
bởi vì Gia-cốp đã đánh lừa quyền con trưởng của tổ tiên họ, SaSt 25:21-34;
SaSt 27:41
Tư tưởng chủ đạo: Câu 10. Người Ê-đôm từ chối không cho người Y-sơ-raên đi ngang qua đất của họ, Dan Ds 20:14-21. Họ vui mừng vì cớ Giê-ru-salem bị đánh chiếm, Thi Tv 137:7
Bảng tóm tắt: Sự sụp đổ của Ê-đôm vì cớ họ kiêu căng và làm điều sai quấy
đối với Gia-cốp, ApOv 1:1-16
Việc giải cứu dân sự và sát nhập Ê-đôm vào vương quốc Y-sơ-ra-ên sau này,
ApOv 1:17-21
Bài học thuộc linh: Sự quan phòng và chăm sóc đặc biệt của Đức Chúa Trời
đối với người Do Thái, và việc chắc chắn hình phạt những kẻ bắt bớ họ.
Dẫn nhập Giô-na
Tác giả: Giô-na người xứ Ga-li-lê, một trong những tiên tri đầu tiên, IIVua
2V 14:25
Được kêu gọi đi truyền giáo tại Ni-ni-ve và cảnh cáo kẻ thù của đất nước
ông, ông đi những hết sức gượng gạo.
Bản ký thuật bị người không tin nhạo cười cho là thần thoại, và một vài học
giả đã xem lời ký thuật này như là một truyền thuyết hoặc chỉ là một ví von!
Người Do Thái xem nó như là có tính chất lịch sử, xem Josephus Anti. IX.
10:2.
Chúa Giê-xu trưng dẫn Giô-na, chứng minh lời ký thuật này chính xác, Mat
Mt 12:39-41; LuLc 11:29-30
Cá tính của Giô-na:
1. Một phần thánh hóa, một sự pha trộn kỳ quặc giữa mạnh mẽ và yếu đuối.
2. Có ý riêng, Gion Gn 1:1-3
3. Kính sợ Đức Chúa Trời, Gion Gn 1:9
4. Can đảm, Gion Gn 1:12
5. Hay cầu nguyện, Gion Gn 2:1-9
6. Vâng phục sau khi bị sửa phạt, Gion Gn 3:3-4
7. Niềm tin mù quáng và ích kỷ, thất vọng khi Ni-ni-ve ăn năn, Gion Gn 3:410; Gion Gn 4:1
8. Nghĩ quá nhiều về danh dự bản thân, Gion Gn 4:2-3
Bảng tóm tắt:

Chương 1: Lẩn trốn mệnh lệnh của Đức Chúa Trời# sự bỏ chạy và bị trừng
phạt của tiên tri.
Chương 2: Lời cầu nguyện và được giải cứu.
Chương 3: Vâng phục sự ủy nhiệm lần thứ nhì
Chương 4: Lời phàn nàn có tính trẻ con của người tiên tri# sự bày tỏ lòng
thương xót lớn lao của Đức Chúa Trời, cùng với sự quở trách tiên tri.
Bài học thuộc linh:
1. Sự nguy hiểm của việc trốn tránh nhiệm vụ.
2. Cám dỗ của lòng yêu nước ích kỷ và niềm tin mù quáng về tôn giáo.
3. Đức Chúa Trời sử dụng những con người bất toàn như phương tiện truyền
bá chân lý.
4. Sự lớn lao của lòng thương xót của Đức Chúa Trời.
Dẫn nhập Mi-chê
Tác giả: Mi-chê, người bản xứ tại Mô-rê-sết, thuộc Giu-đa. Ông nói tiên tri
vào thời triều đại của Giô-tham, A-cha và Ê-xê-chia, là người cùng thời với
Ê-sai, MiMk 1:1
Tên của ông có nghĩa "Ai giống như Giê-hô-va." Ông thuộc về Giu-đa
nhưng nói tiên tri với cả Giu-đa lẫn Y-sơ-ra-ên.
Sự xức dầu của ông, MiMk 3:8
Bảng tóm tắt:
I. Sự Phân Chia Tổng Quát:
a. Chương 1 - 3, chủ yếu là những răn đe về sự phán xét sắp xảy đến.
b. Chương 4 - 5, lời hứa của tiên tri về sự giải cứu.
c. Chương 6 - 7, chủ yếu là sự khuyên bảo và thú nhận tội lỗi của đất nước,
cùng với lời hứa khôi phục đất nước.
II. Lên Án Những Tội Lỗi Riêng Tư:
a. Thờ hình tượng, MiMk 1:7; MiMk 5:13
b. Những kế hoạch và mưu mô xấu xa, MiMk 2:1
c. Sự tham lam, MiMk 2:2
d. Lòng tham của hoàng tử, tiên tri và thầy tế lễ, MiMk 3:2-11
e. Phù phép, đồng bóng, bói toán, MiMk 5:11
f. Không thành thật, MiMk 6:10-12
g. Sự đồi bại toàn cầu, MiMk 7:2-4
h. Phản bội, MiMk 7:5-6
III. Những Hy Vọng Tương Lai:
a. Thiết lập một vương quốc công bình, MiMk 5:2
b. Sự giáng lâm của vua Mê-si-a, MiMk 5:2
c. Sự cải cách và khôi phục đất nước, MiMk 7:7-17

d. Thắng lợi trọn vẹn của ân điển Đức Chúa Trời, MiMk 7:18-20
Được trích dẫn:
a. Bởi vài trưởng lão, vì vậy cứu mạng Giê-rê-mi, Gie Gr 26:16-19; MiMk
3:12
b. Bởi Toà Công Luận , tâu cùng Hê-rốt Đại đế vào lúc Chúa Giê-xu giáng
sinh, Mat Mt 2:5-6; MiMk 5:2
c. Bởi Đấng Christ, lúc cử các môn đồ ra đi giảng đạo, Mat Mt 10:35-36;
MiMk 7:6
Những đoạn đáng chú ý:
- Định nghĩa về tôn giáo chân chính, MiMk 6:8
- Nơi sinh của Chúa Giê-xu được tuyên bố, MiMk 5:2
- Đức Chúa Trời cất bỏ tội lỗi của người tin nhận Ngài, MiMk 7:18-19
Dẫn nhập Na-hum
Tác giả: Biết rất ít về ông. Tên của ông có nghĩa "thương xót" hay "đầy sự
yên ủi."
Ngày tháng: Một quãng thời gian trước khi Ni-ni-ve sụp đổ.
Chủ đề chính: Sự tàn phá thành Ni-ni-ve.
Khung cảnh lịch sử: Một số học giả xem sách này là tiếp theo của sách Giôna.
Dường như người A-sy-ri sau khi ăn năn bởi bài giảng của Giô-na, chẳng
bao lâu lại thờ hình tượng trở lại.
Họ cướp bóc các nước khác, và thủ đô của họ giống như hang sư tử đầy mồi,
NaNk 2:11-12
Mục đích của sách: Là tuyên bố sự báo thù của Đức Chúa Trời đối với thành
phố đẫm máu và an ủi Giu-đa với các lời hứa giải cứu cho sau này, NaNk
3:1; NaNk 1:13-15
Bảng tóm tắt:
Chương 1:
Khải tượng về sự uy nghi và sức mạnh vô địch của Giê-hô-va, Đấng bẻ gãy
cái ách của người A-sy-ri và giải cứu Giu-đa.
Chương 2:
Một miêu tả đầy kịch tính về cuộc bao vây Ni-ni-ve.
Chương 3:
Một tai hoạ được tuyên cáo trên thành phố đẫm máu và sự huỷ diệt hoàn
toàn được báo trước.
Chú ý: Một số các nhà giải kinh cho rằng NaNk 2:4 là ám chỉ các xe hơi
hiện đại, nhưng đây chỉ là sự giải thích gượng ép.

Dẫn nhập Ha-ba-cúc
Tác giả: Một số người suy luận từ bài thi thiên mà tác giả cầu nguyện (HaKb
3:1-19) và từ việc hướng dẫn "trưởng ban nhạc", cho rằng tác giả là một
người hát trong đền thờ, nhưng đây chỉ là phỏng đoán.
Ngày tháng: Không chắc chắn. Hiển nhiên là vị tiên tri sống vào thời kỳ Baby-lôn (Canh-đê). Nhiều học giả ấn định thời gian của lời tiên tri và vào lúc
triều đại của Giê-hô-gia-kim.
Chủ đề chính: Sự mầu nhiệm trong ơn thần hựu của Đức Chúa Trời.
Câu chìa khóa: HaKb 1:3
Bảng tóm tắt: Sách mở đầu với vị tiên tri trong tình trạng bối rối về điều
mầu nhiệm khó hiểu của sự gian ác không bị hình phạt trên thế gian này.
Hai chương đầu chủ yếu là mẫu đối thoại giữa Ha-ba-cúc và Đức Chúa Trời.
1. Vị tiên tri phàn nàn với Đức Chúa Trời rằng ai ai cũng bạo ngược tội lỗi,
nhưng chẳng hề thấy kẻ gian ác bị trừng phạt, HaKb 1:1-4
2. Ông nhận được sự trả lời tiết lộ kế hoạch của Đức Chúa Trời qua việc sử
dụng người Ba-by-lôn (người Canh-đê) như là một công cụ nhanh và khủng
khiếp để phán xét các nước gian ác, HaKb 1:5-11
3. Vấn đề đạo đức vẫn chưa được trả lời trong tâm trí của nhà tiên tri. Làm
sao mà một Đức Chúa Trời thánh khiết lại có thể sử dụng người ngoại đạo
gian tà để tàn phá những con người công bình hơn họ? Phải chăng điều sai
quấy và bạo ngược cứ tiếp diễn mãi mãi? HaKb 1:12-17
4. Nhà tiên tri đi lên vọng canh để nhìn khắp nơi. Ông nhận được câu trả lời
của Chúa rằng mục đích của Ngài sẽ được hoàn tất trong chốc lát, và khích
lệ ông hãy chờ đợi, HaKb 2:1-3. Sau đó tiếp theo là một câu nói trở thành
khẩu hiệu trong hội thánh Chúa HaKb 2:4
5. Hài lòng với ánh sáng mới mà ông nhận được, tiên tri thốt ra một loạt năm
tai hoạ giáng cho sự không thành thật (HaKb 2:6), sự tham lam (HaKb 2:9),
công việc đẫm máu (HaKb 2:12), sự ăn chơi trụy lạc (HaKb 2:15) và thờ
hình tượng (HaKb 2:18-20) của đại cường quốc.
6. Cuối cùng ông thốt lên lời cầu nguyện cao thượng (hay thi thiên ngợi
khen), nói về sự uy nghi và vinh hiển của Đức Giê-hô-va và tuyên bố sự tin
cậy không giao động của ông vào kế hoạch của Chúa, HaKb 3:1-19
Những đoạn đáng chú ý:
HaKb 2:4 Sao Mai của sự cải cách, RoRm 1:17; HeDt 10:38
HaKb 2:15 tai hoạ dành cho kẻ làm người ta say.
HaKb 3:17-18 một đức tin chiến thắng tất cả.
Dẫn nhập Sô-phô-ni

Tác giả: Rõ ràng ông là con cháu trực hệ của vua Ê-xê-chia, SoXp 1:1
Ông nói tiên tri vào triều đại vua Giô-si-a, vua của Giu-đa, SoXp 1:1
Người ta nghĩ rằng ông thốt ra lời tiên tri gần với đầu triều đại của vua Giôsi-a, trước khi sự phục hưng tôn giáo xảy ra trên khắp vương quốc vào thời
kỳ ấy, xem IIVua 2V 22:1-23:37
Truyền thuyết cho rằng Sô-phô-ni đã hiệp lực với nữ tiên tri Hun-đa và Giêrê-mi trong việc khởi xướng cuộc cải cách của vương quốc.
Chủ đề chính: Những phán xét triệt để của Đức Chúa Trời.
Câu chìa khóa: SoXp 1:12
Nội dung: Giọng văn của sách hết sức u buồn, và đầy dẫy lời ngăm đe và
vạch trần tội lỗi. Nhưng mặt trời ló dạng sau làn mây đen ở chương cuối
cùng, và nhà tiên tri báo trước về một ngày vui mừng sắp đến, lúc đó người
Do Thái sẽ trở thành một sự ngợi khen ở giữa mọi dân tộc trên thế gian.
Bảng tóm tắt:
1. Sự tuyên cáo về các phán xét sắp xảy ra với Giu-đa, SoXp 1:1-18
2. Kêu gọi ăn năn, SoXp 2:1-3
3. Những phán xét răn đe với các nước xung quanh, SoXp 2:4-15
4. Một tai hoạ tuyên bố cho những tội nhân của Giê-ru-sa-lem vì cớ họ sa
đoạ và mù thuộc linh, tiếp tục sống trong sự gian ác, bất chấp mọi phán xét
dành cho các quốc gia theo dị giáo.
5. Một phán xét toàn cầu được báo trước, trong đó chỉ có một thiểu số người
còn sót kính sợ Chúa thoát nợ, SoXp 3:8-13
6. Vinh hiển tương lai của Y-sơ-ra-ên, lúc đó Giê-hô-va sẽ giải cứu dân sự
của Ngài, và khiến họ trở nên tiếng tăm trên khắp đất này, SoXp 3:14-20
Dẫn nhập A-ghê
Tác giả: "Người tiên tri của đền thờ" được nhiều người biết đến vì ông được
sinh ra vào thời kỳ 70 năm phu tù tại Ba-by-lôn, và trở về Giê-ru-sa-lem
cùng với Xô-rô-ba-bên. Tiên tri là một đồng công với Xa-cha-ri, Exo Er 5:1;
6:14
Chủ đề chính: Sự quở trách gay gắt đối với sự cẩu thả trong công việc xây
dựng đền thờ, cùng với những khuyến cáo khích lệ và những lời hứa cho
những ai gánh vác công việc.
Câu chìa khóa: AgKg 2:4
Duyên cớ lịch sử: Những người còn sống sót trở về quê nhà sau thời kỳ phu
tù, bận tâm về việc riêng một cách ích kỷ, quan tâm trong việc làm nhà ở của
họ cho đẹp đẽ hơn là việc tái thiết đền thờ của Chúa. Công việc tái thiết bị
ngưng nhiều năm, AgKg 1:4
Sứ điệp:

1.Sự quở trách gay gắt, chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời đã từ chối không ban
phước bởi vì đền thờ của Ngài vẫn bị bỏ bê trong tình trạng điêu tàn, AgKg
1:3-11
2. Những lời khích lệ khi công việc tái thiết đền thờ được bắt đầu trở lại,
AgKg 1:12-15
3. Những lời hứa cảm động cho những người lớn tuổi trước khi từng thấy
đền thờ của Sa-lô-môn và thất vọng khi nhìn vật liệu đơn sơ họ đang có,
AgKg 2:3. Họ được biết là sẽ có sự bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời
và sự xuất hiện của Đấng Mê-si-a, lúc đó vinh quang của Chúa sẽ đầy dẫy
đền thờ, AgKg 2:7-9
4. Lời nhắc nhở rằng họ không xứng đáng để xây nhà của Đức Giê-hô-va
vạn quân, AgKg 2:10-14
5. Những tiên đoán về số phận diệt vong của các nước ngoại đạo và lời tán
dương Xô-rô-ba-bên như là một công cụ được Đức Chúa Trời tuyển chọn,
AgKg 2:20-23
Đoạn chọn đặc biệt: AgKg 2:4-9
Sự hiện diện của Chúa, làm vững mạnh, AgKg 2:4
Quyền năng của Chúa, làm rúng động, AgKg 2:6
Vinh quang của Chúa tràn ngập, AgKg 2:7
Bình an của Chúa sắp đến, AgKg 2:9
Dẫn nhập Xa-cha-ri
Tác giả: Con trai của Ba-ra-chi, XaDr 1:1
Ta biết rất ít về tiên tri này, ông là người cùng thời với A-ghê và cộng tác
với A-ghê dấy lên phong trào người Do Thái trong việc tái thiết đền thờ tại
Giê-ru-sa-lem, Exo Er 6:14
Hiển nhiên ông là người trai trẻ vào lúc nói tiên tri, XaDr 2:4
Trong bản Bảy Mươi Dịch Giả thì vài thi thiên được công nhận là của Xacha-ri và A-ghê.
Ngày tháng: Hai tháng sau khi A-ghê nói tiên tri (so sánh AgKg 1:1; XaDr
1:1)
Văn phong: Rất bóng bẩy.
Tiên tri của khải tượng dài: Giống như A-ghê, ông thấy tình trạng tội lỗi và
thờ ơ về tôn giáo của nhân dân mình, đưa ra những khuyến cáo gây xúc
động đã giúp cho việc tái thiết đền thờ.
Nhưng lời tiên tri của ông có một phạm vi rộng hơn - ông nhìn xuống các
thời đại và đã thấy sự giáng lâm của Vua Mê-si-a và bình minh của một
ngày sáng của hơn dành cho Si-ôn.
Câu chìa khóa: XaDr 1:3; XaDr 4:6

Hy vọng trong tương lai: "Khi buổi chiều đến sẽ có sự sáng," XaDr 14:7
Bảng tóm tắt: Lời hô hào mở đầu, XaDr 1:1-6
Phần I: Một chuỗi bảy khải tượng
1. Người đàn ông cưỡi ngựa hồng, đứng trong những cây sim, XaDr 1:7-17
2. Bốn cái sừng và bốn thợ rèn, XaDr 1:18-21
3. Người đàn ông cầm dây đo, XaDr 2:1-13
4. Làm thanh sạch thầy tế lễ thượng phẩm, XaDr Xa3:1-10
5. Chân đèn bằng vàng và hai cây ô-li-ve, XaDr 4:1-14
6. Cuộn sách bay, XaDr 5:1-4
7. Người đàn bà trong cái giỏ, XaDr 5:5-11
8. Bốn cỗ xe ngựa, XaDr 6:1-8. Đội mão triều thiên cho thầy tế lễ thượng
phẩm, XaDr 6:10-15
Phần II:
Trả lời những người đại diện đến từ Bê-tên về việc kiêng ăn. Cuối cùng thì
những ngày kiêng ăn sẽ biến thành các lễ hội.
Phần III:
Những tiên đoán về một thời kỳ của lịch sử Do Thái và một khải tượng về
khải hoàn tối hậu của nước trời, XaDr 9:1-14:21
Nhân tố Mê-si (?): Đấng Mê-si-a như là Vua.#
a. Đến lần thứ nhất trong sự thấp hèn, XaDr 9:9
b. Hoàng tử Bình An, XaDr 9:10
c. Bị đóng đinh trên thập tự giá, XaDr 12:10
d. Người chăn chiên bị đàn chiên bỏ rơi, XaDr 13:7
Đoạn chọn đặc biệt:
1. Bí mật của sự thành công trong công việc thuộc linh, XaDr 4:6-10
2. Hoàng tử Bình An sẽ đến, XaDr 9:9-10
3. Suối làm thanh sạch, XaDr 13:1
Dẫn nhập Ma-la-chi
Tác giả: Ta không biết vì về cuộc đời của vị tiên tri này ngoại trừ những gì
được tìm thấy trong sách. Có lẽ ông là người cùng thời với Nê-hê-mi, những
tình trạng được mô tả trong lời tiên tri rất khớp với thời kỳ đó.
Văn phong: Mạnh mẽ và bất thường. Chúa được miêu tả như là có một cuộc
đối thoại với dân sự của Ngài.
"Nhưng các ngươi hỏi rằng" tương phản với "Chúa Toàn Năng phán rằng"
trong suốt ba chương đầu.
Chủ đề: Một bức tranh sống động về thời kỳ kết thúc lịch sử Cựu Ước, cho
thấy rằng cần phải có những cải cách to lớn để dọn đường cho Đấng Mê-si-a
sắp đến.

Câu chìa khóa: MaMl 3:8
Bảng tóm tắt:
I. Mặt trái của bức tranh: Những tội không thành thật, dân sự vong ân bội
nghĩa, và thầy tế lễ không trung tín.
1. Ăn cắp của Đức Chúa Trời.
a. bởi không đáp lại tình thương của Đức Chúa Trời, MaMl 1:2
b. bởi không tôn trọng Danh Đức Chúa Trời, MaMl 1:6
c. bởi việc dâng lên của lễ có vết nhơ, MaMl 1:7-8,13-14
d. các thầy tế lễ với gương xấu xa đã trở thành những hòn đá làm vấp phạm,
thay vì họ phải là những lãnh tụ thuộc linh, MaMl 2:1-8
e. bởi việc kính trọng những kẻ có tội, MaMl 2:17 MaMl 3:15
f. bởi việc giữ lại của dâng 1/10 cách ích kỷ, MaMl 3:8
g. bởi việc bào chữa cho sự không tin kính, MaMl 3:14
2. Tội lỗi xã hội.
a. đối đãi nhau gian trá, MaMl 2:10
b. kết hôn với kẻ không tin Chúa, MaMl 2:11
c. những người vợ ly dị, MaMl 2:4-16
d. theo tà thuật, bất khiết, ức hiếp, MaMl 3:5
II. Mặt phải của bức tranh:
1. Những lời hứa vinh hiển.
a. về sự đến của sứ giả giao ước, MaMl 3:1-4
b. về sự dốc tràn phước lành lớn lao, MaMl 3:10-12
c. về những thánh nhân trở thành châu báu (hay kho tàng) đặc biệt của Đức
Giê-hô-va, MaMl 3:16-18
d. về bình minh của một ngày mới mà sự công bình sẽ chiến thắng MaMl
4:2-3
e. về sự xuất hiện của một nhân vật cải cách thuộc linh trước khi ngày của
Chúa ập đến, MaMl 4:5-6
Đoạn chọn đặc biệt:
Chương 3: sứ giả giao ước được làm thanh sạch, MaMl 3:1-4
Chương 3: cơn mưa phước lành, MaMl 3:10
Chương 3: những viên đá quý của Đức Chúa Trời, MaMl 3:16-17
Dẫn nhập Ma-thi-ơ
Tác giả: Ma-thi-ơ, cũng được gọi là Lê-vi, một trong mười hai sứ đồ, Mac
Mc 2:14. Không nghi ngờ gì, ông là người Do Thái giữ chức người thu thuế
của La Mã, Mat Mt 10:3. Khi được Chúa Giê-xu kêu gọi, ông đã bỏ tất cả để
theo Ngài, LuLc 5:27-28. Ông tổ chức một bữa tiệc lớn cho Chúa, Ngài đã
dự tiệc bất chấp một thực tế là kẻ thu thuế bị người ta khinh thường, LuLc

5:29.
Sách được viết cho: Chủ yếu là người Do Thái. Quan điểm này được xác
nhận bởi một thực tế là có khoảng 60 đoạn liên quan đến lời tiên tri của
người Do Thái và 40 đoạn trích dẫn từ Cựu Ước. Sứ mệnh của Chúa Giê-xu
đối với người Do Thái được nhấn mạnh đặc biệt, Mat Mt 10:5-6; 15:24.
Từ chìa khóa: Làm trọn, được nhắc đi nhắc lại để chỉ rằng những lời tiên tri
trong Cựu Ước được làm trọn trong Đấng Christ. Từ Vương Quốc được xuất
hiện 30 lần. Chúa Giê-xu là Vua, Mat Mt 2:2; 21:5; 22:11; 25:34;
27:11,37,42.
Mục đích rõ ràng: Chứng tỏ Chúa Giê-xu người Na-xa-rét là Mết-si-a, có
phẩm cách Vua theo như lời tiên tri của người Do Thái.
Đặc điểm nổi bật:
1. Gia phả đầy đủ của Đấng Christ, Mat Mt 1:1-17
2. Những sự kiện và bài giảng chỉ có trong sách Phúc Âm này:
a. Sự viếng thăm của các nhà thông thái đông phương, Mat Mt 2:1
Chạy trốn sang Ai Cập, Mat Mt 2:13-14
Việc tàn sát các bé trai, 2:16
Trở về Na-xa-rét, 2:19-23
b. Người Pha-ri-si và Sa-đu-sê đến xin chịu báp-tem của Giăng Mat Mt 3:7
c. Bài giảng trên núi, Mat Mt 5:1-7:29
d. “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta.” Mat Mt 11:28
e. Phi-e-rơ đi trên mặt nước, Mat Mt 14:28-31
f. Vạch mặt bọn Pha-ra-si, như là một bài giảng mở rộng, Mat Mt 23:1-39
g. Giu-đa nhận 30 miếng bạc, Mat Mt 26:15
h. Trả lại 30 miếng bạc, Mat Mt 27:3-10
Giấc mơ của vợ Phi-lát, Mat Mt 27:19
Các thánh sống lại và ra khỏi mồ mả, Mat Mt 27:52
Canh gác ngôi mộ, Mat Mt 27:64-66
i. Việc hối lộ các binh sĩ, Mat Mt 28:12-13
Động đất, Mat Mt 28:2
Ủy nhiệm sứ mệnh vĩ đại, Mat Mt 28:19-20
3. Phép lạ chỉ có trong sách Ma-thi-ơ:
a. Hai người mù được chữa lành, Mat Mt 9:28-30
b. Tiền nộp thuế, Mat Mt 17:24-27
4. Những ví von chỉ gặp trong sách Ma-thi-ơ:
a. Cỏ lùng (hay cỏ dại), Mat Mt 13:24 kho tàng được chôn giấu, Mat Mt
13:44 ngọc châu, 13:45 cái lưới, 13:47.
b. Người đầy tớ không thương xót, Mat Mt 18:23.
c. Các công nhân trong vườn nho, Mat Mt 20:1-16.
d. Hai đứa con trai, Mat Mt 21:28-32.

e. Đám cưới của con trai nhà vua, Mat Mt 22:1-14.
f. Mười người nữ đồng trinh, Mat Mt 25:1-13.
Những ta-lâng, Mat Mt 25:14-30
Chiên và dê, Mat Mt 25:31-46
Phân tích: Từ lập trường của địa vị là Vua của Đấng Christ.
Người - Vua: Câu chuyện về Đấng Mết-si-a có phẩm cách Vua.
Gia phả và sự giáng sinh, Mat Mt 1:1-25; tìm kiếm 2:2; thờ phượng Ngài,
2:11; báo tin về Ngài, 3:1-12; thắng lợi thuộc linh của Ngài, 4:1-11; sự tuyên
cáo về Ngài, 4:17; kêu gọi môn đệ, 4:18-22; luật lệ và huấn thị, 5:1-7:29; lời
nói và việc làm của Ngài, 8:1-12:50; các thí dụ về nước trời, 13:1-58; việc
giết người tiền phong, 14:1-12; quyền năng của Ngài vượt trên sức mạnh
thiên nhiên và bệnh tật, 14:14-36; 15:32-39; sự khải thị của Ngài về lòng
cứng cỏi của con người, chính Ngài đến để chịu thương khó và vinh hiển,
16:1-17:27; sự dạy dỗ của Ngài về các nguyên tắc của thiên quốc, 18:120:34; sự khải hoàn đi vào kinh đô, sự chối bỏ Ngài, các thí dụ và lời tiên tri,
21:1-22:14; Ngài ngăn trở âm mưu của người Pha-ri-si và Sa-đu-sê, 22:1546; Ngài vạch mặt các lãnh tụ, 23:1-39; lời tiên tri và các thí dụ về tương lai,
24:1-25:46; những sự kiện dẫn đến sự phản bội Ngài, 26:1-46; sự xét xử
Ngài, 26:57-75; 27:1-31; sự đóng đinh Ngài, 27:31-50; các sự kiện xảy ra
ngay sau khi Ngài chết, 27:51-56; Ngài tái xuất hiện trên đất và Ngài giao
nhiệm vụ cho các môn đệ, 28:1-20.
Dẫn nhập Mác
Tác giả: Mác, con trai của Ma-ri tại Giê-ru-sa-lem, Cong Cv 12:12.
Được nhắc đến như là Giăng Mác trong Cong Cv 12:25. Là họ hàng thân
thích với Ba-na-ba, CoCl 4:10.
Hiệp lực với Phao-lô và Ba-na-ba trong chuyến truyền giáo đầu tiên, Cong
Cv 12:25; 13:5. Tạm thời xa lìa Phao-lô, Cong Cv 13:13; 15:37-39
Sau đó khôi phục lại tình bạn với Phao-lô, IITi 2Tm 4:11.
Truyền thuyết xa xưa chứng thực rằng Mác là bạn đồng hành của Phi-e-rơ.
Một vài tác giả xưa đã gọi sách này là sách Phúc Âm Phi-e-rơ.
Nhìn chung, người ta thừa nhận Phi-e-rơ có lẽ đã cung cấp nhiều tài liệu
hoặc gợi ý nhiều tài liệu được ghi trong sách này.
Sách được viết cho: Người ta nghĩ rằng tác giả đã nghĩ đến các Cơ Đốc nhân
không phải gốc Do Thái trong lúc chuẩn bị quyển sách này.
Sách không phù hợp lắm với các độc giả Do Thái, ta có thể thấy rõ điều này
từ thực tế là sách chỉ có một ít trưng dẫn đến từ lời tiên tri Cựu Ước. Hơn
nữa, việc giải thích các từ ngữ và tập tục Do Thái nói lên rằng tác giả nghĩ
đến người Gờ-réc khi ông viết sách này, Mac Mc 3:17; 5:41; 7:1-4,11,34;.

Chủ đề chính: Đấng Christ, người đầy tớ không mệt mỏi của Đức Chúa Trời
và của con người.
Cuộc đời của Chúa Giê-xu được miêu tả là đầy các việc tốt.
Thời gian cầu nguyện của Chúa bị gián đoạn, Mac Mc 1:35-37; thỉnh thoảng
Ngài không có thì giờ để dùng bữa, 3:20; bởi Ngài vâng phục lời kêu gọi
vĩnh cửu cho sự hầu việc, bạn hữu Ngài cho rằng Ngài rối loạn trí óc, 3:21;
Ngài bị bám theo lúc Ngài tìm nơi nghỉ ngơi, 6:31-34.
Từ chìa khóa: Lập tức, được lặp đi lặp lại suốt quyển sách.
Đặc điểm nổi bật: Sách này ngắn nhất trong 4 sách Phúc Âm.
- Văn phong sống động và sinh động như tranh. Nhiều vấn đề chính cũng
được tìm thấy trong sách Ma-thi-ơ và sách Lu-ca, nhưng sách Mác không
chỉ đơn thuần là lặp lại mà có ghi nhiều chi tiết không có ở hai sách kia.
- Sách Phúc Âm Mác, cũng như sách Phúc Âm Giăng, mở đầu bằng một
tuyên bố về thần tánh của Đức Chúa Giê-xu Christ, nhưng khác với sách
Giăng, sách Mác không triển khai giáo lý này.
- Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ cuốn sách sẽ bộc lộ một sự thật là mục đích của
tác giả là thông qua các công việc kỳ diệu của Chúa Giê-xu để chứng minh
thần tánh của Ngài chứ không bằng lời nói của tác giả.
- Nhiều quan hệ cá nhân của Chúa dược tìm gặp trong sách Phúc Âm này,
chẳng hạn như: “ở chung với thú rừng”, Mac Mc 1:13; “Ngài đặt tên cho họ
là Bô-a-nẹt,” Mac Mc 3:17; “Chúa Giê-xu nổi giận,” Mac Mc 10:14; “các
môn đồ thất kinh,” Mac Mc 10:32; ‘đám đông lắng nghe Ngài một cách vui
lòng,” Mac Mc 12:37, vv…
- Mặc dù nhấn mạnh quyền năng Đức Chúa Trời của Đấng Christ, tác giả
thường ám chỉ đến tình cảm con người của Ngài: Ngài thất vọng, Mac Mc
3:5; Ngài mệt mỏi, 4:38; Ngài thắc mắc, 6:6; Ngài thở dài, 7:34; 8:12; Ngài
thương yêu, 10:21.
- Ma-thi-ơ nhìn về quá khứ và giải quyết chủ yếu với các lời tiên tri vì cớ
độc giả người Do Thái, và cũng dành nhiều chỗ cho bài giảng của Chúa
chúng ta.
- Mác thì cô đọng hơn, và ít nói về lời tiên tri# chỉ có bài ghi ngắn về lời
giảng của Chúa, nhưng nhấn mạnh đến công việc vĩ đại của Chúa Giê-xu.
- Mười chín phép lạ được ghi trong quyển sách ngắn này chứng tỏ quyền
năng siêu nhiên của Chúa.
- Tám phép lạ chứng minh quyền năng của Ngài đối với bệnh tật, Mac Mc
1:31,41; 2:3-12; 31:1-4; 5:25; 7:32; 8:23; 10:46.
- Năm phép lạ cho thấy quyền năng của Ngài đối với thiên nhiên, Mac Mc
4:39; 6:41-49; 8:8-9; 11:13-14.
- Bốn phép lạ nói lên quyền lực của Ngài đối với ma quỷ, Mac Mc 1:25; 5:113; 7:25-30; 9:26.

- Hai phép lạ cho thấy Ngài đắc thắng sự chết, 5:42; 16:9.
Bảng tóm tắt: Sách có thể chia thành 6 phần.
Phần I: Những sự kiện dẫn nhập và ban đầu dẫn đến chức vụ công khai của
Đấng Christ, [dc Mac 1:1-13;.
Trong chương đầu tiên này Mác bất thình lình đi ngay vào đề tài.
Ông mở đầu bằng lời công bố Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời, Mac Mc
1:1.
Rồi Ngài dừng lại ở năm bước sửa soạn cho công việc của Ngài.
1. người tiên phong của Ngài đến, Mac Mc 1:2-8
2. Ngài chịu báp-tem nơi sông Giô-đanh, Mac Mc 1:9
3. Ngài ban năng lực bởi Thánh Linh, Mac Mc 1:10
4. Đức Chúa Trời làm chứng rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời, Mac Mc
1:11
5. Ngài đụng độ với kẻ thù của Ngài, Mac Mc 1:12-13
Phần II: Chức vụ ban đầu tại Ga-li-lê, [dc Mac 1:14-7:23;;
Mác bỏ qua toàn bộ chức vụ ban đầu của Chúa tại xứ Giu-đê, xem [dc Gi
2:13-4:2;.
[tdc Phần III: Chuyến đi đến Ty-rơ và Si-đôn, Mac Mc 7:24-30.
Phần IV: Lời dạy dỗ và việc làm của Đấng Christ tại bắc Ga-li-lê, Mac Mc
7:31-9:50
Phần V: Chức vụ cuối cùng tại Bê-rê, và chuyến đi về Giê-ru-sa-lem, Mac
Mc 10:1-52
Phần VI: Những sự kiện trong tuần Thương khó, Mac Mc 11:1-16:8.
Dẫn nhập Lu-ca
Tác giả: Lu-ca, vị y sĩ được yêu mến, xem CoCl 4:14; Lu-ca cũng là tác giả
của sách Công Vụ Các Sứ Đồ# cả hai sách được viết cho cùng một đối
tượng.
Lu-ca là bạn thân và là người đồng hành với Phao-lô, như trong lời ám chỉ
của bản thân ông có nói đến chuyến đi của sứ đồ. Trong sách Công Vụ Các
Sứ Đồ có chỗ tác giả chuyển đổi đại danh từ sang thể số nhiều “chúng tôi”,
nói rằng chính ông có mặt trong chuyến đi ấy, Cong Cv 16:10; 20:6; 27:1;
28:16.
Nhiều học giả thấy điều gì đó về giáo lý của Phao-lô trong sách Phúc Âm
Lu-ca. Ngày tháng chính xác về lúc viết sách Phúc Âm này thì không biết rõ.
Nhưng nếu sách được viết sau khi Lu-ca đến vì chịu ảnh hưởng của Phao-lô,
thì tự nhiên sách phải có màu sắc của văn kể chuyện (nhưng thực tế không
phải vậy).
Sách được viết cho: Thê-ô-phi-lơ, chưa xác định được người này là ai.

Những bằng chứng trong sách nói lên rằng sách được viết đặc biệt cho người
Gơ-réc (tức người không phải gốc Do Thái). Điều này được suy ra từ sự thật
là tác giả đã cố gắng giải thích các tập quán của người Do Thái và đôi khi
thấy các tên Do Thái bằng từ ngữ Hy-lạp.
Mục đích: Đưa ra bản tường trình về cuộc đời Chúa Giê-xu một cách mạch
lạc và có thứ tự như là bởi chính người mắt thấy tai nghe, LuLc 1:1-4.
Câu chìa khoá: LuLc 1:4
Đặc điểm nổi bật:
1. Đó là một Phúc Âm về ân điển toàn cầu của Đức Chúa Trời,LuLc 2:32;
3:6; 24:47.
2. Đó là một Phúc Âm về “con người.” Sách Phúc Âm này nhấn mạnh thái
độ cảm thông của Đấng Christ đối với người nghèo, người thấp hèn và
người bị xã hội ruồng bỏ. Các môn dồ nghèo, LuLc 6:20; người đàn bà tội
lỗi, LuLc 7:37 Ma-ri Ma-đơ-len, LuLc 8:2 người Sa-ma-ri, LuLc 10:33;
người thu thuế và người có tội, LuLc 15:1; người ăn mày bị bỏ mặc, LuLc
16:20-21 người phung, LuLc 17:21 kẻ cướp sắp chết, LuLc 23:43 vv...
3. Đó là một Phúc Âm cầu nguyện, Phúc Âm ấy đặc biệt nhấn mạnh đến sự
cầu nguyện.
a. sách gồm ba ngụ ngôn về cầu nguyện không có ghi trong các sách Phúc
Âm kia. Người bạn lúc nửa đêm, LuLc 11:5-8; vị quan toà không công bình,
18:1-8; người Pha-ri-si và người thu thuế, 18:9-14
b. sách gồm những lời cầu nguyện của Đấng Christ - vào lúc Ngài chịu báptem, LuLc 3:21; trong đồng vắng, LuLc 5:16; trước khi chọn các môn đồ,
6:12; lúc biến hình, 9:29; trước khi đưa ra Bài Cầu Nguyện Chung 11:1; cho
Phi-e-rơ, 22:32; tại vườn Ghết-sê-ma-nê, 22:44; trên thập tự giá, 23:46; vv..
4. Các chương đầu của sách có giọng điệu vui mừng và ngợi khen.
Một số thánh ca Cơ Đốc dược lấy từ sách Phúc Âm này. “Kinh cầu đức mẹ
đồng trinh,” theo lời nói của thiên sứ với Ma-ri, LuLc 1:28-33; “Bài tụng
đức mẹ đồng trinh,”, bài ca ngợi của Ma-ri, LuLc 1:46-55; “Kinh ngợi khen”
của Xa-cha-ri, LuLc 1:68-79; “Vịnh tụng ca” của các thiên sứ trên trời,
LuLc 2:13-14; “cho phép con ra đi” nỗi vui mừng của Si-mê-ôn, LuLc 2:2932.
5. Sách hết sức đề cao phụ nữ. Phụ nữ xuất hiện một cách nổi bật trong lời
tường thuật của Lu-ca.
Trong LuLc 1:1-80 có Ma-ri, Ê-li-sa-bét# ở {dc Lu 10:1-38-42; có Ma-ri và
Ma-thê# những con gái của Giê-ru-sa-lem, LuLc 23:27; vài bà goá được
nhắc đến, 2:37; 4:26; 7:12; 18:3; 21:2.
6. Tiểu sử của Đấng Christ trong sách Lu-ca thì đầy đủ hơn so với các sách
Phúc Âm kia.
Có hơn phân nửa tài liệu trong sách Lu-ca là không có trong ba sách kia.

Nhiều lời nói quan trọng nhất của Chúa chúng ta cũng như những sự cố đáng
chú ý của cuộc đời Ngài đều được ghi lại trong sách này.
Ví dụ: Phép lạ về đánh cá, LuLc 5:6; làm sống lại đứa con trai của người đàn
bà goá, 7:11-17; mười người phung, 17:12; Man-chu được chữa lành, 22:51.
Những sự cố khác và lời nói được Lu-ca ghi lại# Đấng Christ khóc cho Giêru-sa-lem, LuLc 19:41; nhắc đến lời đàm đạo giữa Môi-se và Ê-li trên núi
Biến Hình, 9:30-31; vả mồ hôi như máu, 22:44; Chúa Giê-xu đứng trước
Hê-rốt, 23:8; Lời Chúa nói với các phụ nữ Giê-ru-sa-lem, 23:28; tên cướp ăn
năn, 23:40; đi bộ đến Em-ma-út, 24:13.
Bảng tóm tắt:
1. Dẫn nhập, LuLc 1:1-4; sự giáng sinh của Chúa Giê-xu và các sự cố liên
quan với thời niên thiếu của Chúa cho đến lúc Ngài chịu lễ báp-tem và chịu
sự cám dỗ, LuLc 1:5-4:13.
2. Sự bắt đầu chức vụ công khai của Ngài, chủ yếu là ở Ga-li-lê, 4:14-9:50.
3. Hành trình đến Giê-ru-sa-lem, đi ngang qua Sa-ma-ri và Bê-rê, chức vụ
chủ yếu tại Bê-rê, LuLc 9:51-19:28.
4. Những ngày cuối đời, gồm các sự kiện của tuần Thương Khó và chịu
đóng đinh trên thập tự, LuLc 19:29-23:55.
5. Các sự kiện liên quan đến sự phục sinh và sự thăng thiên, 24:1-51.
Dẫn nhập Giăng
Tác giả: Sứ đồ Giăng.
Ngày tháng: Không chắc chắn, có lẽ cuối thế kỷ thứ nhất.
Mục đích chính: Truyền đầy đức tin trong Chúa Giê-xu trong tư cách Con
Đức Chúa Trời.
Câu chìa khóa: GiGa 20:31
Đặc điểm nổi bật:
1. Sách này được coi là sâu sắc nhất và thuộc linh nhất trong Kinh Thánh.
2.Trong sách này, Đấng Christ đã mặc khải chính Ngài và Đức Chúa Trời
một cách đầy đủ nhất, so với các sách Phúc Am tóm tắt khác.
a. về cá nhân và thuộc tính của Ngài, xem phần chú thích “Ta là” của Đấng
Christ.
b. về thần tính của Ngài, GiGa 1:1; 10:30-38; 12:45; 14:7-9; 16:15.
c. về công việc của Thánh Linh, xem phần chú thích về Đức Thánh Linh.
d. về nhiệm vụ mà Đức Chúa Trời giao phó cho chính Ngài. Về thí dụ, trong
chương 5, Ngài tuyên bố rằng Ngài được Đức Chúa Trời sai đến, sáu lần liên
tiếp như vậy, GiGa 5:23; 5:24; 5:30; 5:36; 5:37; 5:38.
e. về địa vị là Cha của Đức Chúa Trời. Đấng Christ nói về Đức Chúa Trời là
“Cha” hơn cả trăm lần.

Đức Chúa Trời là cha thuộc linh, GiGa 4:23; Ngài là Cha ban sự sống, 5:21;
sứ điệp của Cha, 7:16; Cha là Đấng lớn hơn hết, 10:29; công việc của Cha,
14:10; Đức Chúa Trời là Cha ngự trong con người, 14:23; Cha vĩnh hằng,
17:5; Cha thánh, 17:11; Cha công bình, 17:17,25.
3. Đặc điểm có lẽ nổi bật nhất của sách Phuc Âm này là hơn phân nửa sách
là dành cho các sự kiện của cuộc đời Đấng Christ và những lời phán của
Ngài vào lúc cuối đời.
4. Bài giảng và các mẫu đàm thoại chỉ gặp trong sách này - cuộc nói chuyện
với Ni-cô-đem, GiGa 3:1-21; với người đàn bà Sa-ma-ri, 4:1-26; bài giảng
cho người Do Thái tại lễ Lều Tạm, 7:14-39; 8:3-58; vì von về người chăn
chiên hiền lành, GiGa 10:1-30; một loạt những dạy dỗ riêng tư với các môn
đệ, những lời an ủi và lời cầu thay của Ngài, GiGa 14:1-17:26; Ngài gặp gỡ
các môn đệ tại biển Ga-li-lê, GiGa 21:1-25.
5. Giăng ghi chép tám phép lạ của Chúa (chưa kể sự phục sinh của Ngài) để
chứng minh thần tính của Ngài. Sáu phép lạ nói trên chỉ có trong sách Phuc
Âm Giăng.
- Hoá nước thành rượu, GiGa 2:1-11.
- Chữa lành con trai quan thị vệ, GiGa 4:46-54.
- Chữa lành người bại ở ao Bê-tết-đa, GiGa 5:1-9.
- Chữa lành người mù từ thuở sanh ra, GiGa 9:1-7.
- Khiến La-xa-rơ sống lại, GiGa 11:1-59.
- Thả lưới đánh cá lần thứ nhì, GiGa 21:1-6.
6. Hai dòng tư tưởng lớn xuyên suốt sách này rất có lợi cho việc đeo đuổi:
a. Đức tin: GiGa 3:16-18; 5:24; 6:29,40; 7:38; 8:24; 10:37-38; 11:25-27;
12:46; 14:12.
b. Sự sống đời đời: GiGa 3:15,16,36; 4:14; 5:24; 6:27,51; 11:26; 12:50;
17:3; 20:31.
Bảng tóm tắt: Sách có thể chia ra 5 phần:
1. Đoạn mở đầu: Ngôi Lời trở thành xác thịt, GiGa 1:1-18.
2. Sự bày tỏ thần tính của Đấng Christ đối với thế gian kèm theo bởi sự
chứng nhận gồm sáu phần. Đó là của Giăng Báp-tít, Thánh Linh, các môn
đệ, những việc làm to tát của Đấng Christ, của Đức Chúa Cha và của Kinh
Thánh, GiGa 1:19-12:50.
3. Sự mặc khải riêng và sự dạy dỗ riêng cho các môn đệ, GiGa 13:1-17:50.
4. Sự hạ mình và chiến thắng sự chết của Ngài, GiGa 18:1-20:31.
5. Phần kết, GiGa 21:1-23.
Dẫn nhập Công Vụ Các Sứ Đồ
Tác giả: Lu-ca, vị y sĩ được yêu mến. Ở một ý nghĩa nào đó sách này được

xem là cuốn tiếp theo của sách Phúc Âm Lu-ca và được gửi cho Thê-ô-philơ, Cong Cv 1:1.
Chủ đề chính: Lịch sử phát triển của giáo hội ban đầu, từ lúc Chúa thăng
thiên đến lúc Phao-lô bị cầm tù tại La Mã, và mở ra chức vụ truyền giáo của
ông ở dó. Nhiều người nghiên cứu Kinh Thánh thấy được sự bắt đầu chính
thức thời đại Thánh Linh trong sách này. Việc Chúa Giê-xu ra đi chính là sự
công bố một chiến dịch vĩ đại khắp thế giới, thông qua trung gian của con
người dưới quyền năng của Thánh Linh, Cong Cv 1:8.
Sách có thể chia làm 2 phần: Thời kỳ truyền giáo trong nước và thời kỳ
truyền giáo ở nước ngoài.
I. Thời kỳ truyền giáo trong nước, với Giê-ru-sa-lem là trung tâm. Công việc
truyền giáo chủ yếu cho người Do Thái tại Palestine, và sứ đồ Phi-e-rơ là
nhân vật nổi bật nhất.
1. Các sự kiện chuẩn bị.
a. sự giao phó nhiệm vụ của Đức Chúa Trời, Cong Cv 1:4-8.
b. Chúa thăng thiên, Cong Cv 1:10-11.
c. Thánh Linh giáng lâm, Cong Cv 2:1-4.
d. sự trang bị công nhân, Cong Cv 2:4; 4:31.
2. Chức vụ truyền giáo.
a. của Phi-e-rơ vào ngày lễ Ngũ Tuần, Cong Cv 2:14-40.
Bài giảng thứ nhì của Phi-e-rơ, Cong Cv 3:12-26.
Bài phát biểu của Phi-e-rơ trưóc toà Công Luận Do Thái, Cong Cv 4:5-12.
b. của Ê-tiên, Cong Cv 7:1-10.
c. của Phi-líp và Phi-e-rơ, Cong Cv 8:5-25.
d. của Phi-líp, Cong Cv 8:26-40.
3. Những sự thật liên quan đến giáo hội.
a. sự tăng trưởng của giáo hội.
b. sự đầy dẫy Thánh Linh, Cong Cv 4:31.
c. sự hợp nhất và lòng yêu thương, Cong Cv 4:32-37.
d. sức mạnh thuộc linh của giáo hội, Cong Cv 5:12-16.
e. việc bổ nhiệm các chấp sự, Cong Cv 6:1-6.
4. Sự bắt bớ giáo hội, Cong Cv 4:1-3,17-22; 5:17-18,40; 6:8-15.
5. Những bắt bớ do Sau-lơ của Tạt-sơ Cong Cv 8:1-3; 9:1.
II. Thời kỳ truyền giáo ở nước ngoài. Bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem như là trung
tâm điều hành, chẳng bao lâu được chuyển đến An-ti-ốt xứ Sy-ri.
1. Những sự kiện sơ bộ dẫn đến sự truyền giáo toàn cầu.
a. chức vụ của Phi-líp tại Sa-ma-ri, hợp sức với Phi-e-rơ và Giăng, Cong Cv
8:5-25.
b. sự tin Chúa của Phao-lô, ông trở thành giáo sĩ vĩ đại nhất và nhân vật
chính trong giáo hội vào thời kỳ này, Cong Cv 9:1-10.

c. tầm nhìn của Phi-e-rơ được mở rộng nhờ vào khải tượng tại thành Sê-sarê, dẫn đến chức vụ truyền giáo cho người ngoại bang tại thành Sê-sa-rê,
Cong Cv 10:1-43.
d. sự đầy dẫy Thánh Linh ở người không phải Do Thái và Phi-e-rơ bênh vực
cho công việc truyền giáo của mình ở đó, Cong Cv 10:44-11:18.
e. phê chuẩn công việc của Ba-na-ba tại An-ti-ốt và cử ông làm đại diện của
giáo hội Giê-ru-sa-lem, Cong Cv 11:22-24.
f. Ba-na-ba đưa Sau-lơ từ Tạt-sơ trở về An-ti-ốt, hai người hợp tác để xây
dựng Hội Thánh tại đó và lần đầu tiên các môn đồ ở An-ti-ốt được gọi là Cơ
Đốc nhân, Cong Cv 11:25-26.
g. Việc xen vào giữa. Hê-rốt bắt bớ Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem. Gia-cơ qua
đời, Phi-e-rơ bị tù và được giải cứu, Cong Cv 12:1-19.
2. Sự kiện đánh dấu một kỷ nguyên mới trong lịch sử truyền giáo hải ngoại.
Dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh, giáo hội tại An-ti-ốt đã cử Phao-lô và
Ba-na-ba làm giáo sĩ truyền giáo, Giăng Mác đi cùng họ, Cong Cv 13:1-5.
3. Hành trình truyền giáo lần thứ nhất của Phao-lô. Các giáo sĩ gồm Phao-lô,
Ba-na-ba và Giăng Mác, Cong Cv 13:4-14:26.
Những nơi được viếng thăm và các sự kiện nổi bật:
- Đảo Chíp-rơ: tại đó quan trấn thủ trở lại tin nhận Chúa và tên của Sau-lơ
được đổi thành Phao-lô được ghi chép ở đây, Cong Cv 13:4-12.
- Bẹt-giê ở Bam-phi-ly, nơi mà Giăng Mác lìa bỏ nhóm truyền giáo, Cong
Cv 13:13.
- An-ti-ốt xứ Bi-si-đi, bài giảng vĩ đại của Phao-lô tại nhà hội.
- Sự chống đối của người Do Thái và công việc truyền giáo trong những
người ngoại, Cong Cv 13:44-49.
- Bị người Do Thái xua đuổi khỏi thành phố, các nhà truyền giáo đi đến Ycô-ni. Tại đây họ làm việc được một thời gian, nhưng sự bắt bớ dấy lên và
họ bỏ trốn đến thành Lít-trơ và Đẹt-bơ, Cong Cv 14:6.
- Chữa lành người bại tại Lít-trơ dẫn đến kết quả là đám dân chúng đề nghị
thờ phượng Phao-lô và Ba-na-ba, nhưng người Do Thái dấy lên sự phản đối
và ném đá Phao-lô.
- Không bị khuất phục, hai người anh hùng trốn thoát đến Đẹt-bơ, tại đó họ
giảng Phúc Âm và dạy dỗ cho nhiều người, Cong Cv 14:8-20.
Từ điểm này các giáo sĩ trở lại con đường cũ, thăm viếng lại và tổ chức các
Hội Thánh, rồi trở về An-ti-ốt xứ Sy-ri, trình một bản báo cáo về chuyến
truyền giáo của họ, Cong Cv 14:21-28.
4. Hội đồng tại Giê-ru-sa-lem.
a. vấn nạn, Cong Cv 15:5-6.
b. luận điểm của Phi-e-rơ bênh vực cho sự tự do của Cơ Đốc nhân, 15:7-11.
c. Phao-lô và Ba-na-ba thuật lại kinh nghiệm của họ, Cong Cv 15:12.

d. Bài diễn thuyết của Gia-cơ và quyết định của hội đồng tán thành miễn cho
người không phải gốc Do Thái các quy định về luật theo nghi lễ, Cong Cv
15:13-29.
Giu-đa và Si-la được cử đến An-ti-ốt để đưa thư của hội đồng cho nhà thờ,
Cong Cv 15:27-30.
5. Hành trình truyền giáo lần thứ nhì của Phao-lô, Cong Cv 15:36-18:22.
a. Những sự kiện ban đầu:
Sự bất đồng giữa Phao-lô và Ba-na-ba về Giăng Mác. Phao-lô chọn Si-la đi
cùng với ông trong hành trình này, Cong Cv 15:36-40.
b. Những nơi được thăm viếng và các sự kiện nổi bật:
- Viếng thăm các nhà thờ tại Sy-ri và Si-li-xi, Cong Cv 15:41. Tại Lít-trơ,
Ti-mô-thê cùng với đoàn truyền giáo đi thăm viếng nhiều thành phố thuộc
Tiểu Á Tế Á và củng cố Hội Thánh, Cong Cv 15:41-16:7.
- Thánh Linh dẫn dắt họ đến Trô-ách, tại đó họ được kêu gọi đến châu Au
bởi một khải tượng của người Ma-xê-đoan, Cong Cv 16:7-10.
- Tại Phi-líp Phao-lô và Si-la bị bỏ tủ và người đề lao trở lại tin Chúa, Cong
Cv 16:12-34; và một số Hội Thánh được thành lập.
- Sự kiện quan trọng tiếp theo là thành lập Hội Thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca, tại
đó sự bắt bớ dấy lên và họ đi đến Bê-rê, Cong Cv 17:1-10. Tại đây các giáo
sĩ tìm gặp một số học trò trung tín về Lời Chúa ngay sau khi trở lại đạo,
Cong Cv 17:11-12.
- Một trận bắt bớ lại bùng nổ, và Phao-lô đi đến A-thên, để lại Ti-mô-thê và
Si-la để xây dựng Hội Thánh, Cong Cv 17:13-15.
- Tại A-thên Phao-lô phát hiện một thành phố đầy dẫy hình tượng, và giảng
một bài trên Đồi Hỏa Thần, nhưng chỉ có một ít người trở lại đạo, Cong Cv
17:15-34.
- Tại Cô-rinh-tô Phao-lô chẳng bao lâu lại cùng với Ti-mô-thê và Si-la thành
lập một Hội Thánh. Công việc tiến hành trong sự bắt bớ trong 18 tháng,
Cong Cv 18:1-17.
- Sau một thời gian dài, Phao-lô chào tạm biệt các anh em, rồi lên tàu đi Syri, tạm dừng lại ở Ê-phê-sô và kết thúc hành trình của ông tại An-ti-ốt, Cong
Cv 18:18-22.
6. Hành trình truyền giáo lần thứ 3 của Phao-lô, Cong Cv 18:23-21:15.
Những nơi được thăm viếng và các sự kiện nổi bật:
- Thăm viếng các Hội Thánh tại Ga-la-ti và xứ Phi-ri-gi.
- Việc xen vào. A-bô-lô tại Ê-phê-sô, Cong Cv 18:24-28.
- Phao-lô trở về Ê-phê-sô và phát hiện một nhóm tín đồ chưa được dạy dỗ
đến nơi đến chốn, và dẫn họ đi vào một đời sống thuộc linh dư dật hơn,
Cong Cv 19:1-7.
- Ông tiếp tục công việc tại Ê-phê-sô trong hai năm, Cong Cv 19:8-10. Chúa

bày tỏ sự tán đồng công việc của ông qua việc ban ân tứ chữa bệnh cho
Phao-lô, Cong Cv 19:11-12. Nhiều tội nhân nhận tội và đốt sách tà thuật,
Cong Cv 19:11-20.
- Trận náo động dấy lên giữa đám thợ bạc, vì họ e rằng sự giảng dạy của
Phao-lô sẽ làm hỏng công việc làm ăn bằng nghề làm hình tượng của họ,
Cong Cv 19:23-24.
- Phao-lô rời Ê-phê-sô, rồi thăm viếng các nhà thờ tại Ma-xê-đoan, sau đó
đến Hy Lạp, Cong Cv 20:1-2. Ông lưu lại ba tháng tại Hy Lạp, rồi trở về
Ma-xê-đoan và đi đến Trô-ách và giảng đạo, Cong Cv 20:3-12.
- Từ Trô-ách Phao-lô đi đến thành Mi-lê và mời các trưởng lão đến, Cong
Cv 20:13-17.
- Tại Mi-lê, Phao-lô giảng bài từ biệt với các trưởng lão, 20:17-38.
- Từ Mi-lê Phao-lô đi về Giê-ru-sa-lem, ông được Thánh Linh cảnh cáo
trước là các hoạn nạn đang đón chờ ông tại đó, Cong Cv 21:1-17.
7. Phao-lô tại Giê-ru-sa-lem và Sê-sa-rê.
a. Ông thuật lại cho giáo hội nghe các kinh nghiệm về chức vụ của mình
giữa các người ngoại bang, Cong Cv 21:18-20.
b. Để dập tắt sự nghi ngờ, Phao-lô được nài xin là hãy nhận một lời thề
nguyện của người Do Thái và ông đã làm theo, Cong Cv 21:20-26.
c. Phao-lô bị các kẻ thù gốc Do Thái bắt tại đền thờ và được các binh sĩ La
Mã cứu thoát, 21:27-40.
d. Phao-lô bào chữa cho mình trước đám đông, Cong Cv 22:1-21.
e. Phao-lô khẳng định quyền công dân La Mã của mình để khỏi bị đánh đòn,
Cong Cv 22:25-30.
f. Phao-lô ra hầu trước tòa án Do Thái tối cao, Cong Cv 23:1-10.
g. Chúa hiện ra với Phao-lô vào ban dêm cùng với một sứ điệp làm ông can
đảm lên, Cong Cv 23:11.
h. Một âm mưu của người Do Thái để giết Phao-lô dẫn đến việc Phao-lô
được đưa đi đến Sê-sa-rê, Cong Cv 23:12-33.
i. Sự buộc tội của người Do Thái đối với Phao-lô và sự bào chữa của Phaolô trước quan tổng đốc là Phê-lít, Cong Cv 24:1-21.
j. Bài nói chuyện của Phao-lô trước Phê-lít về niềm tin của ông đối với Đấng
Christ, Cong Cv 24:24-26.
k. Sự biện hộ của Phao-lô trước Phê-tu và lời kêu gọi đối với Sê-sa, Cong
Cv 25:1-12.
l. Bài giảng cho vua Ac-ríp-ba, Cong Cv 26:1-29.
8. Hành trình của Phao-lô đến La Mã với thân phận của một tù nhân, Cong
Cv 27:1-28:16.
a. Giai đoạn đầu của chuyến đi, Cong Cv 27:2-13.
b. Cơn bão và sức mạnh thuộc linh của Phao-lô, Cong Cv 27:14-36.

c. Tàu bị đắm và thoát bạn lên bờ, Cong Cv 27:38-44.
d. Những việc từng trải trên đảo Man-tơ, Cong Cv 28:1-10.
e. Phao-lô đến La Mã và chức vụ của ông tại đó, Cong Cv 28:16-31.
Dẫn nhập Rô-ma
Tác giả: Sứ đồ Phao-lô.
Thư gửi cho: Các Cơ Đốc nhân người La Mã, RoRm 1:7.
Câu chìa khóa: RoRm 1:16; RoRm 5:1.
Sách có thể chia làm hai phần chính.
Phần I: Giáo lý, RoRm 1:1-11:36.
Phần II: Sống đạo, RoRm 12:1-16:27.
Chủ đề:
Phần I:
Kế hoạch cứu rỗi, xưng công bình bởi đức tin và nên thánh bởi Thánh Linh.
Phần II:
Chủ yếu là những khuyên bảo về nghĩa vụ của Cơ Đốc nhân.
A. Luận điểm tài tình: Trong phần I, vị sứ đồ tiếp tục chứng minh rằng nhân
loại bị vây quanh bởi ba bức tường không thể vượt qua được.
1. Bức tường của tội lỗi toàn cầu, RoRm 1:1-3:31.
2. Bức tường của các khuynh hướng tội lỗi và dục vọng xác thịt, RoRm
7:15-24.
3. Bức tường của sự chọn lựa tối cao của Đức Chúa Trời, RoRm 9:7-18.
Trong luận điểm của Phao-lô, ông nêu ra tình trạng đáng sợ của nhân loại,
ông vạch ra những cánh cửa thương xót của Chúa dành cho kế hoạch cứu
rỗi, qua đó tất cả con người đều có thể thoát được sự đoán xét sắp xảy đến
của Chúa nếu họ muốn được như vậy.
Chúng tôi xin minh họa luận điểm của sứ đồ Phao-lô bằng hình vẽ sau đây
về các bức tường ngăn cách và cửa thoát.
Chuỗi xích chìa khóa: Cho thấy dòng suy nghĩ, RoRm 1:16; 3:22-23; 4:3;
5:1,18; 9:31-32; 10:3-4, 6-9.
Bảng tóm tắt:
Phần I: Kế hoạch cứu rỗi.
1. Sự cần thiết của kế hoạch cứu rỗi, căn cứ vào tội lỗi khắp thế gian của
nhân loại.
a. Của thế giới người ngoại, RoRm 1:18-2:16.
b. Cũng như người Do Thái, chịu sự kết án của luật pháp, RoRm 2:17-3:20.
c. Tất cả đều là tội nhân, RoRm 3:23.
2. Phương pháp của Kế hoạch Cứu rỗi, xưng công bình hay sự công bình
bằng đức tin, [dc Ro 3:29-30;.

a. toàn cầu, RoRm 3:29-30.
b. tuân thủ luật pháp, RoRm 3:31.
3. Được minh họa trong cuộc đời của Ap-ra-ham, [dc Ro 4:1-25;.
a. Lìa bỏ việc làm, RoRm 4:1-6.
b. Lìa bỏ lễ nghi, RoRm 4:9-12.
c. Lìa bỏ luật pháp, RoRm 4:13-25.
4. Phước hạnh trong kế hoạch cứu rỗi, có hiệu lực thông qua tình thương của
Đức Chúa Trời được bày tỏ bằng sự chết hy sinh của Đấng Christ, RoRm
5:1-11.
5. Phạm vi của quà tặng vô điều kiện về sự cứu rỗi được giải thích, RoRm
5:12-21.
6. An điển ban cho vô điều kiện ấy không khuyến khích người ta tiếp tục
sống trong tội lỗi, nhưng đòi hỏi phải đóng đinh trên thập tự giá bản chất đồi
bại của con người và một cuộc đời hầu việc thánh khiết cho Đức Chúa Trời,
RoRm 6:1-23.
7. Trong chương 7, Phao-lô nói một cách rõ ràng về sự chống chọi với
khuynh hướng phạm tội và các ham muốn xác thịt. Có phải là ông nhắc đến
các từng trải của ông trước hoặc sau khi tin Chúa thì đó là một câu hỏi mà
nhiều sinh viên thần học bất dồng quan điểm. Tất cả đều đồng ý rằng Phaolô miêu tả một cách sống động cuộc xung đột đang xảy ra trong lòng con
người, RoRm 7:7-24.
8. Đỉnh cao của kế hoạch Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi được phác họa trong
chương 8. Đó là một sự sống thuộc linh mới mẻ có tự do và công bình thông
qua đức tin trong Đấng Christ. Đây là một trong những chương thuộc linh vĩ
đại trong Kinh Thánh, Thánh Linh được nhắc đến 19 lần trong chương này,
RoRm 8:1-39.
9. Vấn đề xen vào. Sự quan tâm sâu xa của Phao-lô đối với dân tộc của ông,
RoRm 9:1-5.
10. Sự mầu nhiệm của việc chọn lựa của Chúa và cách đối xử của Đức Chúa
Trời đối với Y-sơ-ra-ên.
a. Những đặc quyền của Y-sơ-ra-ên, RoRm 9:4-5; RoRm 3:1-2.
b. Sự khác biệt giữa dòng dõi thuộc linh và dòng dõi xác thịt của Ap-ra-ham,
RoRm 9:6-13.
c. Sự mầu nhiệm của chủ quyền tối cao của Đức Chúa Trời, RoRm 9:14-24.
d. Các tiên tri tiên đoán rằng dân Do Thái không sống đúng theo đặc quyền
của họ, sự kêu gọi người ngoại và họ tiếp nhận kế hoạch của Đức Chúa Trời
về sự công bình bởi đức tin, RoRm 9:25-33.
11. Quan niệm sai lầm của người Do Thái về kế hoạch của Đức Chúa Trời,
hậu quả là họ tự cho mình là công bình, RoRm 10:1-3.
12. Kế hoạch cứu rỗi bởi đức tin được giải thích và sự áp dụng trên khắp thế

gian, RoRm 10:4-18.
13. Cách đối xử của Đức Chúa Trời với Y-sơ-ra-ên, RoRm 10:19-11:12.
14. Người ngoại được cảnh cáo là đừng khoe khoang vì cớ đặc quyền của
họ, nhưng hãy cẩn thận e rằng sẽ bị kết tội, 11:13-22.
15. Sự tiên đoán về việc phục quốc của Y-sơ-ra-ên và sự mầu nhiệm của
đường lối Đức Chúa Trời là không thể dò được, RoRm 11:23-26.
Phần II: Thực tiễn. Lời khuyên bảo và dạy dỗ liên quan đến nghĩa vụ của Cơ
Đốc nhân, [dc Ro 12:1-16:27;.
Chương 12:
Chương này trình bày một trong những bảng tóm lược hay nhất về nghĩa vụ
Cơ Đốc nhân được ghi trong Kinh Thánh, RoRm 12:1-21.
Chương 13:
1. Bổn phận xã hội và công dân, RoRm 13:1-10.
2. Bổn phận sống trong sự sáng, RoRm 13:11-14.
Chương 14:1-15:7:;;
Nghĩa vụ đối với kẻ yếu đuối.
1. Cứu xét vào lúc phán xét, [dc Ro 14:1-3;.
2. Cẩn thận đừng có làm vấp phạm, [dc Ro 14:15-23;.
3. Giúp đỡ họ và chớ làm đẹp lòng mình, [dc Ro 15:1-7;.
[cd Những ý nghĩ kết luận: Chủ yếu là kinh nghiệm cá nhân và lời chào.
Chương 15:
1. Lý do để tạ ơn hộ người ngoài và chức vụ ở khắp nơi trong vòng các
người ngoại của sứ đồ, RoRm 15:8-21.
2. Phao-lô ao ước được thăm viếng La Mã và lời chào của ông đối với các
bạn hữu Cơ Đốc nhân, RoRm 15:22-16:16.
3. Những lời cuối cùng và chúc phước, RoRm 15:17-27.
Dẫn nhập I Cô-rinh-tô
Tác giả: Sứ đồ Phao-lô.
Bối cảnh lịch sử: Hội Thánh tại Cô-rinh-tô do Phao-lô thành lập trong
chuyến truyền giáo lần thứ nhì. Hội Thánh ấy tiêm nhiễm các điều xấu xa
của một thành phố dâm loạn vây quanh hội thánh lúc bấy giờ.
Người Hy Lạp tự hào về học thức và triết học của họ, nhưng đồng thời họ
cũng hết sức trái đạo đức. Họ rất chuộng việc hùng biện.
Rõ ràng là A-bô-lô, một Cơ Đốc nhân gốc Do Thái có tài hùng biện, đã đi
đến Cô-rinh-tô và thu hút được trí tưởng tượng của các tín đồ Cơ Đốc giáo
Hy-lạp, Cong Cv 18:24-28
Sự kiện này dẫn đến việc so sánh với A-bô-lô, với tài ăn nói, và các lãnh tụ
tôn giáo - nhất là đối với việc làm mất uy tín Phao-lô, vì Phao-lô không có

ngoại hình gây sự thu hút (IICo 2Cr 10:10)
Đây có lẽ chính là manh mối dẫn đến sự phe đảng trong Hội Thánh, (ICo1Cr
1:11-13). Phao-lô ao ước làm thanh sạch Hội Thánh khỏi bị tinh thần bè phái
và tính bất khiết, đó cũng là nguyên cớ đầu tiên Phao-lô viết thư tín này.
Thư tín có thể chia ra hai phần :
Phần I: Chủ đề chính.
Việc làm thanh sạch hội thánh khỏi các quan niệm sai lầm trong chức vụ,
kiêu ngạo về tri thức, các tệ nạn xã hội và sự vô trật tự, ICo1Cr 1:1-11:34
Chuỗi xích chìa khóa: Cho thấy các quan niệm sai lầm trong chức vụ,
ICo1Cr 1:12-17; ICo1Cr 3:4-7,21-22; ICo1Cr 4:6-7
Bảng tóm tắt:
1. Lời chào, ICo1Cr 1:1-9
2. Nhu cầu làm thanh sạch Hội Thánh khỏi sự chia bè kết đảng, tôn thờ con
người, và làm vinh hiển sự khôn ngoan của đời này, ICo1Cr 1:10-31
3. Chức vụ gương mẫu của Phao-lô. Ong hoàn toàn không có ý định trình
bày sự khôn ngoan của đời này. Ông chỉ đơn thuần nêu lên sự khôn ngoan
của Đức Chúa Trời trong một sứ điệp do Thánh Linh mạc khải, ICo1Cr 2:116
4. Xung đột giữa các lãnh tụ là dấu hiệu của sự không trưởng thành và xác
thịt, ICo1Cr 3:1-8;
5. Quan điểm đúng đắn về chức vụ, mục sư phải là:
a. Người truyền bá chân lý, ICo1Cr 3:1-2
b. Người làm vườn, ICo1Cr 3:6-8
c. Người đồng công với Đức Chúa Trời ICo1Cr 3:9
d. Người thợ xây, cá tính, ICo1Cr 3:10
e. Người đầy tớ đáng tin cậy, ICo1Cr 4:1-2
f. Người chịu khổ vì cớ Chúa, ICo1Cr 4:9-13
g. Gương mẫu, ICo1Cr 4:16-17
h. Ngườiquản trị môn đệ, ICo1Cr 4:18-21
6. Bổn phận làm thánh sạch hội thánh.
a. Khỏi sự vô đạo đức, ICo1Cr 5:1-13
b. Khỏi sự kiện cáo, ICo1Cr 6:1-8
c. Người tin Chúa như là chi thể của thân thể Chúa và là đền của Thánh
Linh, phải được làm thanh sạch khỏi mọi ham muốn xác thịt, ICo1Cr 6:9-20
7. Làm cho hôn nhân trở nên thánh khiết và tất cả quan hệ xác thịt và yêu
cầu tối cao của sự sống thuộc linh, ICo1Cr 7:1-40
8. Lý tưởng của Cơ Đốc nhân đòi hỏi phải hy sinh một số quyền lợi và đặc
quyền
nào đó vì cớ người yếu đuối và người không biết. Chẳng hạn, ăn thịt cúng
thần tượng, [dc ICo 8:1-13;

[mtc 9. Gương của Phao-lô về việc từ bỏ một số quyền lợi và tự do vì cớ
giành được linh hồn cho Đấng Christ, [dc ICo 9:9-27;
[mtc 10. Gương của Y-sơ-ra-ên về việc không một lòng một dạ với Chúa
như là lời cảnh cáo đối với hội thánh, [dc ICo 10:1-15;
[mtc 11. Tình huynh đệ trong thánh lễ Tiệc Thánh đòi hỏi phải xa lánh các
giao kết xấu xa, [dc ICo 10:16-21;
[mtc 12. Ảnh hưởng của Cơ Đốc nhân phải được gìn giữ trong vấn đề ăn
uống, [dc ICo 10:23-33;
[mtc 13. Các tập quán xã hội phải được tôn trọng trong vấn đề ăn mặc, [dc
ICo 11:1-16;
[mtc 14. Làm thanh sạch hội thánh khỏi sự vô trật tự trong Tiệc Thánh, và sự
tôn trọng cần phải có trong lễ ấy, [dc ICo 11:17-34;;
[tdc Phần II: Những dạy dỗ về giáo điều và lời khuyên:
1. Về tính đa dạng của ân tứ thuộc linh, ICo1Cr 12:1-31
2. Tính ưu việt của tình thương, ICo1Cr 13:1-13
3. Tính vượt trội của lời tiên tri so với ân tứ nói tiếng lạ và tầm quan trọng
của việc duy trì trật tự thích đáng ở nơi nhóm họp công cộng, ICo1Cr 14:110
4. Giáo điều về sự phục sinh, ICo1Cr 15:1-48
5. Những dạy dỗ kết luận và lời chào, ICo1Cr 16:1-24
Dẫn nhập II Cô-rinh-tô
Tác giả: Sứ đồ Phao-lô.
Chủ đề chính: Có phần nào che giấu, nhưng hiển nhiên là trong tâm trí Phaolô nghĩ về việc bào chữa, chứng minh cho địa vị sứ đồ của mình khi ông viết
sách này.
Cả hai thư tín viết cho Hội Thánh Cô-rinh-tô nói lên rằng có một nhân tố
trong Hội Thánh có xu hướng làm tai tiếng chức vụ của ông cũng như quyền
lực của Phao-lô. Xu hướng ấy được nêu rõ trong các đoạn văn của chuỗi
xích chìa khóa dưới đây.
Nội dung: Đây là một trong những bức thư mang tính chất cá nhân nhất của
Phao-lô. Ông bàn kỹ về chức vụ của mình, ông thố lộ tâm can và bộc lộ
động cơ của mình, bày tỏ tình thương và tâm tình thuộc linh với Hội Thánh.
Chuỗi xích chìa khóa: IICo 2Cr 3:1 IICo 2Cr 5:12; IICo 2Cr 7:2; IICo 2Cr
10:2-3; IICo 2Cr 11:5-6; IICo 2Cr 12:11; IICo 2Cr 13:3
Bảng tóm tắt: Không có sự phân chia ý tưởng một cách xác định trong thư
tín này, nhưng vấn đề chủ yếu có thể được sắp xếp dưới ba tiêu đề.
I. Các đặc điểm chức vụ sứ đồ:
1. An ủi, IICo 2Cr 1:4-7; 7:7,13

2. Chịu khổ, IICo 2Cr 1:5-9; 4:8-12; 6:4-10; 7:5; 11:24-48; 12:7-10
3. Chân thành, IICo 2Cr 1:12; 2:27; 4:2; 7:2
4. Kiên định, IICo 2Cr 1:17-19; 4:1,16
5. Quan tâm, IICo 2Cr 2:3-4; 7:7-8; 11:2-3; 12:20-21
6. Chiến thắng, IICo 2Cr 2:14; 4:8-9; 12:10
7. Hy sinh, IICo 2Cr 4:5,11,15; 5:13; 11:7-9
8. Tình thương của Đấng Christ chính là động cơ chi phối ông, IICo 2Cr
4:11; 5:14
9. Thuộc linh, IICo 2Cr 4:18; 5:16; 10:4
10. Thuyết phục, IICo 2Cr 5:11,20; 6:1; 10:1-2
11. Hòa giải, IICo 2Cr 5:19-21
12. Chứng minh bằng sự sốt sắng, sự hoạn nạn và việc làm tốt, IICo 2Cr
5:13; 6:4-10; 12:12
13. Có uy quyền, IICo 2Cr 10:1-11
14. Tự lập, IICo 2Cr 11:9
II. Những lời hô hào và dạy dỗ liên quan đến tính rộng lượng, IICo 2Cr 8:19:15
III. Địa vị sứ đồ của Phao-lô:
1. Bị mang tiếng bởi một nhân tố trong Hội Thánh, IICo 2Cr 10:7-10; 12:11;
13:3
2. Uy quyền của chức vụ, IICo 2Cr 2:9; 13:2
3. Chứng nhận tính xác thực bởi:
a. Chúa, IICo 2Cr 1:1,21-22; 3:5,6; 4:6
b. Bởi sự chịu khổ không ai bì kịp vì cớ chính nghĩa, IICo 2Cr 6:4-10;
11:23-27
c. Bởi sự mặc khải lạ lùng mà ông nhận được, IICo 2Cr 12:1-5
d. Bởi những hành vi vĩ đại, IICo 2Cr 12:12
Đoạn chọn đặc biệt:
1. Chức vụ lý tưởng, IICo 2Cr 4:1-18
2. Chiến thắng sự chết, IICo 2Cr 5:1-9
3. Kêu gọi tách khỏi thế gian, IICo 2Cr 6:14-18
4. Bảng liệt kê những thống khổ mà Phao-lô gánh chịu, IICo 2Cr 11:24-33
Dẫn nhập Ga-la-ti
Tác giả: Sứ đồ Phao-lô.
Ngày tháng: Có lẽ năm 55-60 SC.
Thư tín được viết cho: Hội Thánh Ga-la-ti, một vùng của Tiểu Á Tế Á, mà
biên giới chính xác của Ga-la-ti không được biết rõ.
Chủ đề chính: Bảo vệ giáo điều với sự biện minh bằng đức tin, cảnh cáo việc

quay trở lại với Do Thái giáo, và một sự bào chữa về chức sứ đồ của Phaolô.
Đại Hiến Chương của Giáo Hội: Một số tác giả đã gọi tên như vậy cho thư
tín này. Luận điểm chính yếu là ủng hộ sự tự do của Cơ Đốc nhân ngược lại
với sự dạy dỗ của những người theo Do Thái giáo. Những thầy giáo giả dối
này cứ khăng khăng cho rằng tuân thủ các luật theo nghi lễ là một phần thiết
yếu trong kế hoạch cứu rỗi.
Câu chìa khóa: GaGl 5:1
Chuỗi xích chìa khóa: cho thấy dòng suy tưởng, GaGl 1:6; GaGl 2:11-16;
GaGl 3:1-11; GaGl 4:9-11; GaGl 5:1-7; GaGl 6:15
Những từ nhấn mạnh: Đức tin, ân điển, tự do, thập tự giá.
Thư tín có thể chia thành 4 phần:
Phần I:Lời chào thăm và dẫn nhập, GaGl 1:1-9
Phần II: Lời kể về kinh nghiệm của Phao-lô nhằm bênh vực cho lời tuyên bố
của ông nói ông là chức sứ đồ chân chính.
1. Phúc Âm mà ông rao giảng đến trực tiếp từ sự mặc khải của Đấng Christ
đang lúc ông là một người Do Thái sốt sắng với việc bắt bớ Hội Thánh,
GaGl 1:10-16
2. Trong nhiều năm ông đi xa khỏi Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem và lao động
độc lập với các sứ đồ khác, GaGl 1:17-23
3. Trong công tác giữa những người ngoại, Phao-lô luôn được Chúa dẫn dắt,
và trong trường hợp của Tít, là người Hy-lạp, Phao-lô kiên quyết cho rằng
Tít phải được miễn làm theo luật nghi lễ, GaGl 2:1-5
4. Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem xác nhận chức sứ đồ và công tác của Phao-lô
giữa người ngoại, GaGl 2:7-10
5. Phao-lô chẳng hề nao núng khi quở trách Phi-e-rơ, Ba-na-ba, và những Cơ
Đốc nhân gốc Do Thái khác, khi ông trông thấy họ nhượng bộ với các xu
hướng lễ nghi, GaGl 2:11-14
Phần III: Phao-lô bảo vệ giáo lý Xưng công bình bởi đức tin, chứ không phải
bởi việc làm của luật pháp.
1. Bằng cách nêu ra sự ngu xuẩn của các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái đã từ bỏ
đức tin mới và ánh sáng của họ để quay trở lại chủ nghĩa luật pháp cứng
ngắc, GaGl 2:15-21
2. Bằng cách kêu gọi trở lại các kinh nghiệm thuộc linh trước đây của người
Ga-la-ti, GaGl 3:1-5
3. Bằng cách cho thấy Áp-ra-ham được xưng công bình bởi đức tin, GaGl
3:6-9
4. Bằng cách chứng tỏ luật pháp không có quyền năng cứu chuộc nhưng chỉ
mang lại sự rủa sả cho những ai không tuân theo luật pháp, chính vì đó mà
Đấng Christ đã cứu chuộc những ai tin Ngài, GaGl 3:10-14

5. Bằng cách chứng minh rằng luật pháp không thể bãi bỏ giao ước cứu rỗi
bởi đức tin, GaGl 3:15-18
6. Bằng cách chỉ ra rằng mục đích của luật pháp có vai trò người hướng dẫn
để dọn đường cho Đấng Christ, GaGl 3:19-25
7. Bằng cách cho thấy sự mất mát của những ai từ bỏ đức tin trong Đấng
Christ và quay trở lại chủ nghĩa luật pháp.
a. Họ đánh mất phước lành kế tự vì là con cái Đức Chúa Trời, và trở lại làm
tôi mọi cho lề thói, GaGl 3:26-4:11
b. Họ đánh mất tình cảm coi trọng sự lao động đã làm vì lợi ích của họ,
GaGl 4:11-16
c. Họ có nguy cơ trở thành con của Áp-ra-ham theo phần xác, thay vì là con
của lời hứa, GaGl 4:19-31
d. Họ chẳng những đánh mất sự tự do thuộc linh mà còn cho sự hy sinh của
Đấng Christ không còn giá trị đối với họ, GaGl 5:1-6
Phần IV: Cảnh cáo, Dạy dỗ và Khuyên bảo:
1. Cảnh cáo về các thầy giáo giả dối, và sự lạm dụng tự do, GaGl 5:7-13
2. Khuyên bảo về sự sống thuộc linh.
a. Sự xung đột giữa xác thịt và Thánh Linh, GaGl 5:17-18
b. Việc làm của xác thịt không được vào nước Đức Chúa Trời, GaGl 5:19-21
c. Trái của Thánh Linh phải được bày tỏ trong đời sống Cơ Đốc nhân, GaGl
5:22-26
3. Những đặc trưng của sự sống thuộc linh
a. Giúp đỡ và mang gánh nặng, GaGl 6:1-2
b. Hạ mình, tự suy xét, tự gánh lấy phần mình, vằ lòng từ thiện, GaGl 6:3-6
4. Sự tương phản giữa giáo điều của các thầy giáo giả và của Phao-lô. Giáo
điều của các thầy giáo giả khoe các nghi lễ và có dấu vết trong xác thịt, còn
giáo điều của Phao-lô thì khoe thập tự giá và có dấu vết của Chúa Giê-xu,
GaGl 6:12-17
Dẫn nhập Ê-phê-sô
Tác giả: Sứ đồ Phao-lô.
Ngày tháng: Có lẽ được viết tại La Mã, năm 60-64 SC.
Chức vụ tại Ê-phê-sô của Phao-lô: Lần thăm viếng đầu tiên của ông, Cong
Cv 18:18-21 trong lần thăm viếng thứ nhì, người tin Chúa nhận được Thánh
Linh, Cong Cv 19:2-7 Phao-lô tiếp tục công việc với sự thành công đáng kể,
Cong Cv 19:9-20 sự xung đột giữa Phao-lô với những người thợ bạc, Cong
Cv 19:23-41 bài giảng với các trưởng lão tại Ê-phê-sô, Cong Cv 20:17-35
Duyên cớ lịch sử của thư tín: Những người Do Thái tin Chúa trong thời kỳ
ban đầu của giáo hội có xu hướng biệt lập và cách ly với các anh em người

nước ngoài. Tình huống này trong Hội Thánh tại Ê-phê-sô có lẽ đã dẫn đến
việc viết bức thư này, ý chủ đạo của thư tín này chính là sự hiệp một của Cơ
Đốc nhân.
Câu chìa khóa: Eph Ep 4:13
Chuỗi xích chìa khóa: Cho thấy dòng ý tưởng, Eph Ep 1:10; 2:6,14-22; 4:316
Chủ đề chính: Sự hiệp một của Hội Thánh, nhất là giữa tín đồ gốc Do Thái
và tín đồ ngoại bang.
Điều này được thấy qua việc xuất hiện nhiều lần của một số từ ngữ chẳng
hạn.
1.Từ ngữ “với” và “cùng nhau”, Eph Ep 1:10; 2:6; 2:22
2.Từ ngữ “một”, một người mới, Eph Ep 2:14-15 một thể, Eph Ep 2:16 một
Thánh Linh, Eph Ep 2:18 một sự trông cậy, Eph Ep 4:4 một Chúa, một đức
tin, một phép báp-tem, một Đức Chúa Trời và một Cha của mọi người, Eph
Ep 4:5-6
Những từ và từ ngữ khác xuất hiện lập lại.
1. Trong Đức Chúa Giê-xu Christ, Eph Ep 1:1,3,6,12,15,20; 2:10,13; 3:11;
4:21
2. Ở các nơi trên trời, Eph Ep 1:3,20; 2:6; 3:10
3. Sự dư dật của ân điển, Eph Ep 1:7; 2:7
Sự giàu có của cơ nghiệp vinh hiển, Eph Ep 1:18; 3:16
Sự giàu có của Đấng Christ, Eph Ep 3:8
Bảng tóm tắt:
Phần I: Hội Thánh và kế hoạch cứu rỗi
Ghi chú: Trong việc thảo luận kế hoạch cứu rỗi trong các thư tín khác nhau,
Phao-lô có sự nhấn mạnh khác nhau, Phao-lô có sự nhấn mạnh khác nhau.
Trong sách La Mã ông bàn đến đức tin phải độc lập với việc làm# trong sách
Ga-la-ti thì đức tin phải tách khỏi các nghi lễ, và trong sách Ê-phê-sô thì đó
là sự hiệp một của tín đồ.
Chương 1:
1. Lời chào, Eph Ep 1:1-2
2. Hội Thánh được định bởi ý Chúa, Eph Ep 1:3-6
3. Kế hoạch cứu rỗi
a. Thông qua công việc cứu chuộc của Đấng Christ, Eph Ep 1:7-8
b. Có phạm vi rộng khắp vũ trụ, Eph Ep 1:9-10
c. Bảo đảm một sự kế nghiệp thuộc linh dư dật, Eph Ep 1:11-14
d. Cầu nguyện để tín đồ được soi sáng một cách đầy đủ về sự cung ứng dư
dật của kế hoạch cứu rỗi.
Chương 2:
e. Kế hoạch ấy cung cấp một sự phục sinh thuộc linh khỏi tội lỗi và cất các

tín đồ lên một nơi thiên thượng, Eph Ep 2:1-6
f. Đó hoàn toàn là bởi ân điển chứ không phải bởi việc làm, Eph Ep 2:7-10
g. Người ngoại ngày trước cách xa Đức Chúa Trời, nhưng nhờ huyết Đấng
Christ mà
được gần với kế hoạch cứu rỗi, Eph Ep 2:11-13
h. Kế hoạch cứu rỗi cất hết mọi ngăn trở giữa người Do Thái và người ngoại
và khiến hiệp một trong thân thể là nơi ngự của Thánh Linh, Eph Ep 2:14-22
Chương 3:
i. Sự mầu nhiệm về mục đích Chúa được mạc khải cho Phao-lô và bổ nhiệm
ông làm sứ đồ cho người ngoại, Eph Ep 3:1-12
j. Phao-lô cầu nguyện lần thứ hai cho sự trọn vẹn thuộc linh của Hội Thánh
và sự thấu hiểu tình thương vô hạn của Đấng Christ đối với Hội Thánh, Eph
Ep 3:14-21
Phần I I: Ứng dụng thực tiển.
Kế hoạch của Chúa đã kêu gọi gì đối với Hội Thánh.
Chương 4:
1. Sự hiệp một của tín đồ
a. Trong Thánh Linh, Eph Ep 4:1-3
b. Nhắc đến bảy sự hiệp một, Eph Ep 4:4-6
c. Sự đa dạng của ân tứ nhưng hiệp một trong thân thể của Đấng Christ, Eph
Ep 4:7-16
2. Sự sống trước sau như một của Cơ Đốc nhân, người tin Chúa bước đi.
a. Không như người phạm tội, Eph Ep 4:17-21
b. Trong sự sống mới, từ bỏ các tội lỗi cũ, Eph Ep 4:22-32
Chương 5:
c. Bước đi trong tình thương và thánh sạch, Eph Ep 5:1-7
d. Bước đi trong sự sáng, Eph Ep 5:8-14
e. Bước đi cẩn thận, đầy dẫy Thánh Linh, Eph Ep 5:15-21
3. Đời sống gia đình.
a. Bổn phận của chồng và vợ, Eph Ep 5:22-23
Chương 6:
b. Bổn phận của con cái, cha mẹ, chủ tớ, Eph Ep 6:1-9
4. Cuộc chiến tranh thuộc linh.
a. Nguồn sức mạnh, Eph Ep 6:10
b. Ao giáp và kẻ thù, Eph Ep 6:11-18
5. Những lời kết và chúc phước, Eph Ep 6:19-24
Đoạn chọn đặc biệt:
- Bài cầu nguyện của Phao-lô dành cho Hội Thánh, Eph Ep 1:16-23; 3:14-21
- Sự hiệp một của Cơ Đốc nhân, Eph Ep 4:3-16
- Áo giáp thuộc linh, Eph Ep 6:10-17

Dẫn nhập Phi-líp
Tác giả: Sứ đồ Phao-lô.
Ngày tháng: Không chắc chắn, có lẽ được viết tại La Mã, năm 60-64 SC.
Hội Thánh: Hội Thánh Phi-líp là một trong những Hội Thánh lý tưởng về
nhiều phương diện. Đây là một Hội Thánh biết đánh giá và có lòng rộng rãi,
xem Phi Pl 4:15-16; ICo1Cr 8:2
Hội Thánh này được Phao-lô sáng lập trong chuyến truyền giáo lần thứ nhì,
giữa cơn bão táp của sự bắt bớ. Sự khởi đầu của công việc rất khiêm tốn,
trong vòng ít phụ nữ nhóm nhau bên bờ sông. Ly-đi, một người buôn hàng
vải sắc tía, là người đầu tiên trở lại với Chúa, sau đó chẳng bao lâu, người
cai ngục và gia đình cũng tin Chúa. Những người này, có lẽ cùng với một
vài người khác, đã trở thành nòng cốt của Hội Thánh, xem Cong Cv 16:1240
Đặc trưng của thư tín này: Đây là một bức thư tình thương thuộc linh gửi
Hội Thánh, tràn ngập tình cảm ấm áp và sự biết ơn. Được viết trong hoàn
cảnh khắc nghiệt, đang lúc ông là một tù nhân thì trong thư Phao-lô đã nhấn
mạnh đến thắng lợi và sự vui mừng.
Sự vui mừng trong cầu nguyện, Phi Pl 1:4 trong Phúc Âm, Phi Pl 1:18 trong
tình anh em Cơ Đốc nhân, Phi Pl 2:1-2 trong sự hy sinh vì chính nghĩa, Phi
Pl 2:17-18 trong Chúa, Phi Pl 3:1 vì cớ tình thương dành cho Hội Thánh, Phi
Pl 4:10
Sứ điệp trọng tâm: Giê-xu Christ
Chương 1:
1. Như là nguồn của trái thuộc linh, Phi Pl 1:11
2. Như là đề tài của cầu nguyện, Phi Pl 1:18
3. Như là động cơ tối cao của sự hầu việc của Cơ Đốc nhân, Phi Pl 1:20-21
Chương 2:
4. Như là một gương và tinh thần tuyệt hảo, Phi Pl 2:5-11
Chương 3:
5. Sự hiểu biết về Ngài chính là phần thưởng cao nhất cho những gì phấn
đấu trong cuộc sống, Phi Pl 2:7-14
6. Vào lúc Ngài tái lâm, thân thể của những kẻ tin Ngài sẽ biến hóa đổi mới,
Phi Pl 2:20-21
Chương 4:
7.Ngài có quyền năng vô hạn trong sự sống của các Cơ Đốc nhân, Phi Pl
4:13
8.Ngài là phương tiện trung gian để Đức Chúa Trời cung ứng cho mọi nhu
cầu của tín đồ, Phi Pl 4:19

Bảng tóm tắt:
Chương 1:
1. Lời chào hỏi, Phi Pl 1:1-7
2. Một sự bộc lộ riêng tư của ví sứ đồ cho biết đời sống nội tâm và thái độ
của ông đối với Hội Thánh.
a. Sự quan tâm sâu sắc đối với sự phát triển về mặt thuộc linh của Hội
Thánh, Phi Pl 1:8-11
b. Ông tin chắc rằng sự xiềng xích của ông đã chứng minh là niềm phước
hạnh cho nhiều người, Phi Pl 1:12-19
c. Ong mong đợi và ao ước rằng cho dù sự cầm tù ông sẽ đi đến kết quả gì
chăng nữa thì Đấng Christ sẽ được đề cao bởi sự sống hay sự chết của ông,
Phi Pl 1:20
d. Ong biết rằng sự chết là điều phước lành đối với mình, nhưng vì cảm thấy
rằng công việc của mình chưa hoàn tất nên ông hy vọng được thăm viếng
Hội Thánh Phi-líp một lần nữa, Phi Pl 1: 21-25
e. Quan tâm chính của ông chính là sự trung tín của Hội Thánh trong cơn bắt
bớ, Phi Pl 1:27-30
Chương 2:
3. Những lời khuyên bảo về đời sống Cơ Đốc nhân và cá tính của họ.
a. hiệp một, hạ mình và tự quên mình, Phi Pl 2:1-4
b. tìm kiếm tâm tình của Đấng Christ, Phi Pl 2:5-13
c. hợp tác với Đức Chúa Trời trong công việc thực hiện sự cứu rỗi cá nhân
và sống cho Đức Chúa Trời như đứa con đẹp lòng Ngài giữa thế giới gian
ác, Phi Pl 2:12-16
4. Lời khen của sứ đồ dành cho hai người đưa tin, Ti-mô-thê và Ep-ba-phôđích, [dc Phi 2:19-30;
[td Chương 3:
5. Cảnh cáo những người theo Do Thái giáo, Phi Pl 3:1-3
6. Bài kể về kinh nghiệm của sứ đồ.
a. Từng là người Do Thái có đặc quyền và sốt sắng, đã từ bò mọi sự công
bình về mặt luật pháp để tiếp nhận sự công bình của Đấng Christ bởi đức tin,
Phi Pl 3:4-9
b. Hoài bảo muốn được biết Đấng Christ và dự phần quyền phép sống lại
của Ngài, và vươn tới một đích cuối cùng là có cá tính như Đấng Christ, Phi
Pl 3:10-14
7. Những lời khuyên tiếp theo cho Hội Thánh.
a. Làm theo gương của sứ đồ, Phi Pl 3:15-17
b. Coi chừng kẻ thù nghịch thập tự giá, Phi Pl 3:18-19
c. Trở thành công dân thiên quốc, trông đợi một sự biến hóa vĩ đại vào lúc
Chúa tái lâm, Phi Pl 3:20-21

Chương 4:
d. Đứng vững trong Chúa, hiệp một, giúp đỡ, nhơn từ, không lo âu, hay cầu
nguyện và suy nghĩ cao thượng, Phi Pl 4:1-8
8. Những lời kết thúc bằng sự cảm kích, một lời hứa về sự chăm sóc của
Chúa đối với mọi điều cần dùng, lời chào và chúc phước, Phi Pl 4:10-23
Dẫn nhập Cô-lô-se
Tác giả: Sứ đồ Phao-lô
Ngày tháng: Có lẽ được viết từ La-mã, năm 60-64 SC
Thư được viết cho: Hội Thánh tại Cô-lô-se, một thành phố thuộc Tiểu Á Tế
Á.
Mục đích:
1. Nói chung, một lá thư thiện ý, nhằm khuyên bảo và dạy dỗ tín đồ.
2. Nói riêng, nhằm chống lại những sai lầm về mặt giáo lý được phát sinh và
phát triển do sự trộn lẫn các dạy dỗ của đạo Do Thái với các nghiên cứu
đông phương và triết học. Những dị giáo này có xu hướng làm lu mờ vinh
hiển của Đấng Christ.
Những đặc trưng: Bức thư trình bày một sự giống nhau đáng kể với thư tín
Ê-phê-sô, cả về mặt tư tưởng và ngôn từ, nhưng mỗi thư đều có điểm đặc
biệt riêng. Trong thư tín Ê-phê-sô, Phao-lô bàn kỹ đến tư tưởng rằng Hội
Thánh là thân thể của Đấng Christ, trong khi đó thì trong thư tín Cô-lô-se
ông lại nhấn mạnh rằng Đấng Christ là đầu của Hội Thánh.
Những lời cảnh cáo về việc nhờ cậy vào sự khôn ngoan của đời này đã xuất
hiện trong thư tín Cô-rinh-tô thứ nhất, nay cũng xuất hiện trong thư tín Côlô-se.
Bảng tóm tắt:
I.:
Chương 1:
1. Lời chào và lời khen của sứ đồ, CoCl 1:1-8
2. Lời cầu nguyện cho Hội Thánh.
a. Để Hội Thánh đầy dẫy trí khôn, kết quả trong việc lành, có sức mạnh nhờ
quyền năng Chúa, CoCl 1:9-11
b. Tạ ơn vì cớ được dự phần thuộc linh, sự giải cứu vĩ đại, và sự cứu chuộc
khỏi tội lỗi, CoCl 1:12-14
I I. Giáo lý:
Chủ đề, vinh hiển của con người và công việc của Đấng Christ.
Chương 1:
[mtc 1. Sự ưu việt đầy vinh hiển của Ngài.
a. là hình ảnh của Đức Chúa Trời, CoCl 1:15

b. Đấng sáng tạo ra muôn loài, CoCl 1:16
c. Ngài có trước muôn vật, CoCl 1:17
d. Ngài là đầu của Hội Thánh, CoCl 1:18
e. Sự đầy dẫy của Đức Chúa Trời trong Ngài, CoCl 1:19
f. Cuộc hòa giải của Ngài, CoCl 1:20-23
g. Sự mầu nhiệm về việc Chúa ở trong lòng tín đồ được công bố trong chức
vụ của sứ đồ Phao-lô, CoCl 1:24-29
Chương 2:
2. Sự lo lắng của Phao-lô về tình trạng của Hội Thánh.
a. Các chi thể phải hiệp một trong tình thương, phải có sự hiểu biết đầy đủ
hơn về những mầu nhiệm thuộc linh về Cha và Đấng Christ, CoCl 2:1-3
b. Ông cảnh cáo những giáo lý giả và nài xin hãy có niềm tin vững vàng
trong Đấng Christ, CoCl 2:4-7
I I I. Giáo lý và bút chiến.
Chương 2:
1. Nguy hiểm của triết lý thế gian và chủ nghĩa luật pháp, CoCl 2:8
2. Vinh hiển siêu việt của Đấng Christ và quyền năng của Ngài về các phép
tắc thuộc linh tương phản với những gì thuộc hệ thống nghi lễ, CoCl 2:4-13
3. Quyền năng giải phóng của thập tự giá trong việc xoá bỏ những nghi thức
cổ hủ, CoCl 2:14-17
4. Những cảnh cáo về việc thiên sứ và các chũ nghĩa huyền bí giả tạo, điều
đó không tôn trọng Đấng Christ vì Ngài là đầu của Hội Thánh, CoCl 2:18-18
5. Những cảnh cáo đối với chủ nghĩa nghi lễ và chủ nghĩa khổ hạnh, CoCl
2:20-23
Khuyên bảo.
Chương 3:
1. Sự ham mến trên trời, 3:1-4
2. Làm chết các dục vọng xác thịt, CoCl 3:5-7
3. Gạt bỏ những tình cảm xấu xa và mặc lấy ân điển và đức hạnh của Đấng
Christ, CoCl 3:8-14
4. Sự bình an của Đấng Christ cai trị để có sự hiệp một và biết ơn, CoCl 3:15
5. Tìm kiếm chân lý để giúp đỡ nhau trong việc dạy dỗ và cảnh cáo cùng
ngợi khen# hãy nhân danh Đấng Christ để làm mọi sự, CoCl 3:16-17
Gia đình.
Chương 3,4:
1.Bổn phận của các thành viên trong gia đình Cơ Đốc nhân: vợ, chồng, con
cái, cha mẹ, chủ tớ, CoCl 3:18-4:1
Anh em trong Chúa.
Chương 4:
1. Yêu cầu của Phao-lô về việc cầu nguyện và lời khuyên về các hành vi xã

hội, CoCl 4:3-6
2. Lời chào kết thúc và lời khen những người làm việc, CoCl 4:7-18
Dẫn nhập I Tê-sa-lô-ni-ca
Tác giả: Sứ đồ Phao-lô.
Ngày tháng: Thời gian và không gian không chắc chắn. Nói chung thì người
ta nghĩ rằng đây là những bức thư đầu tiên của Phao-lô và có lẽ được viết từ
Cô-rinh-tô, năm 49-54 SC.
Hội Thánh: Do Phao-lô thành lập trong chuyến truyền giáo lần thứ nhì.
Phao-lô đã gặp sự chống đối dữ dội, nhưng ông đã thành công trong việc
chinh phục một số người Do Thái và rất nhiều người Hy-lạp cho Chúa, đã
làm cho ông thành lập một Hội Thánh trung tín, Cong Cv 17:1-10
Duyên cớ lịch sử: Phao-lô cử Ti-mô-thê đến động viên và củng cố Hội
Thánh. Trong chuyến về, bản báo cáo của Ti-mô-thê rõ ràng đã tạo nguồn
cảm hứng để vị sứ đồ viết thư tín này, ITe1Tx 3:6
Những đề tài chính: Đây là một trong những bức thư mang tính cá nhân nhất
của Phao-lô, thư này không có tính chất giáo lý hay bút chiến như những lá
thư khác.
Phần thân bài của thư tín này chủ yếu gồm những lời khen, hồi ức cá nhân,
lời khuyên và hô hào.
Chân lý trọng tâm, được nhấn mạnh vào sự trông cậy tương lai vào sự tái
lâm của Đấng Christ.
Bảng tóm tắt: Thư tín có thể chia ra 6 phần.
I.Đoạn tán dương:
Chương 1:
1. Lời chào thăm, ITe1Tx 1: 1
2. Khen ngợi Hội Thánh. Bởi sự trung tín và hầu việc yêu thương của Hội
Thánh, ITe1Tx 1:2-4 Bởi sự tiếp đãi thuộc linh, ITe1Tx 1:5-6 Bởi ảnh
hưởng gương mẫu, ITe1Tx 1:7-8 Bởi sự dẹp bỏ hình tượng và bởi sự trông
cậy thuộc linh, ITe1Tx 1:9-10
I I. Đoạn hồi tưởng:
Phao-lô nhắc họ về đặc điểm của chức vụ ông.
Chương 2:
1. Dạn dĩ, chân thành, kính sợ Đức Chúa Trời, nói đúng chân lý, không ích
kỷ, ITe1Tx 2:2-5
2. Khiêm nhường, nhu mì, có lòng yêu thương, cần cù, không chỗ chê trách
được và như người cha, ITe1Tx 2:6-12
3. Ông nhắc đến sự chịu dạy dỗ và chịu khổ của Hội Thánh, ITe1Tx 2:13-14
4. Nhắc đến niềm ao ước của sứ đồ muốn viếng thăm Hội Thánh, và Hội

Thánh là niềm vinh hiển và vui mừng của ông, ITe1Tx 2:17-20
III. Đoạn người đưa tin (sứ giả):
Chương 3:
1. Cử Ti-mô-thê đến củng cố Hội Thánh, ITe1Tx 3:1-5
2. Bản báo cáo có lợi của sứ giả và kết quả an ủi và vui mừng của báo cáo
ấy, ITe1Tx 3:6-9
3. Phao-lô sốt sắng cầu nguyện để ông có thể viếng thăm Hội Thánh và giúp
đỡ họ phát triển về mặt thuộc linh, ITe1Tx 3:10-13
IV. Đoạn khuyên bảo:
Chương 4:
1. Lời khuyên đối với sự thánh sạch cá nhân và xã hội, ITe1Tx 4:1-8
2. Lời khuyên bảo về tình thương chi thể và sự cần cù, ITe1Tx 4:9-12
V. Đoạn trông cậy tương lai:
Chương 4: Sự tái lâm của Chúa.
1. Niềm hy vọng an ủi cho người có thân nhân qua đời, ITe1Tx 4:13-14
2. Thứ tự phục sinh, ITe1Tx 4:15
3. Phương cách và những sự kiện kèm theo sự xuất hiện của Đấng Christ,
ITe1Tx 4:16-18
Chương 5:
4. Thời điểm Ngài đến thì không thể biết được, ITe1Tx 5:1-2
5. Bất ngờ đối với tín đồ, ITe1Tx 5:3
6. Con cái của sự sáng phải sẵn sàng cho, ITe1Tx 5:4-8
7. Sự an toàn của tín đồ, ITe1Tx 5:9-11
VI.Đoạn bổn phận:
1. Lời khuyên về bổn phận sống đạo của đời sống Cơ Đốc nhân, ITe1Tx
5:12-22
2. Những lời huấn thị. Kết thúc và chúc phước, ITe1Tx 5:23-28
Đoạn chọn đặc biệt:
- Sự tái lâm của Đấng Christ, ITe1Tx 4:13-5:11
- Bổn phận sống đạo, ITe1Tx 5:12-22. Đoạn đọc chung với RoRm 12:1-21
Dẫn nhập II Tê-sa-lô-ni-ca
* Cuốn tiếp theo của sách Tê-sa-lô-ni-ca thứ nhất.
Tác giả: Sứ đồ Phao-lô.
Ngày tháng: Có lẽ được viết từ Cô-rinh-tô ngay sau khi viết thư thứ nhất.
Duyên cớ lịch sử: Hiển nhiên là một số từ ngữ trong lá thư thứ nhất của
Phao-lô gửi cho Hội Thánh này đã bị diễn giải sai. Khi ông nhắc đến sự
không thể biết chắc thời điểm Chúa tái lâm, những ngôn từ của ông được
hiểu là sự dạy dỗ rằng ngày của Chúa là gần kề.

Điều này gây hậu quả kích động, không thích đáng. Nhiều người trở lại tin
Chúa thì cảm thấy bất ổn và trong tình trạng báo động, IITe 2Tx 2:2. Họ có
quan điểm sai lệch về sự gần kề của việc Chúa tái lâm, đã làm xáo trộn cuộc
sống của họ.
Một số người nghĩ rằng, qua việc cách dùng từ ở câu 2 và câu 3 trong
chương 2, Hội Thánh đã nhận một lá thư giả mạo làm rắc rối thêm vấn đề#
nhưng đó chỉ thuần túy là phỏng đoán. Có một ít nghi ngờ rằng lá thư của
Phao-lô được viết nhằm giúp ổn định Hội Thánh rối rắm và lo âu.
Chủ đề trọng tâm: Sự tái lâm của Đấng Christ
Câu chìa khóa: IITe 2Tx 3:5
Bảng tóm tắt: Sách chia làm 3 phần.
I.Chương 1:
1. Lời chào thăm và tạ ơn, IITe 2Tx 1:1-3
2.
a. Những lời an ủi Hội Thánh trong cơn bắt bớ, IITe 2Tx 1:4-6
b. Một sự tương phản rõ nét được phác họa giữa số phận vinh hiển của
người tin Chúa vào thời điểm Chúa tái lâm, và số phận của kẻ gian ác không
ăn năn, IITe 2Tx 1:7-12
I I. Chương 2:
1. Lời cảnh cáo đối với sự bất ổn gây ra bởi quan điểm sai lầm về Chúa tái
lâm, IITe 2Tx 2:1-2
2. Loan báo những sự kiện sẽ xảy ra trước khi Chúa tái lâm.
a. có sự bội đạo, IITe 2Tx 2:3
b. kẻ có tội tự tôn cao mình, IITe 2Tx 2:3-4
c. vào đúng kỳ kẻ nghịch cùng luật pháp sẽ hiện ra, kèm theo phép lạ, dấu lạ
và việc kỳ lạ, IITe 2Tx 2:5-9
d. con người thuộc Sa-tan sẽ bị tiêu diệt vào lúc Chúa tái lâm, IITe 2Tx 2:8
e một sự giả dối đầy quyền phép sẽ đánh lừa kẻ gian ác, IITe 2Tx 2:10-12
3. Lời kêu gọi yêu thương với người tin Chúa là người được hưởng các đặc
quyền của phúc âm để bám lấy một giáo lý lành mạnh, IITe 2Tx 2:13-15
4. Lời chúc phước an ủi, IITe 2Tx 2:16-17
I I I. Chương 3:
1. Sự tin tưởng của sứ đồ đối với Hội Thánh.
a. ông yêu cầu họ cầu nguyện, IITe 2Tx 3:1-2
b. ông tin rằng họ sẽ lánh xa điều ác và vâng phục các mệnh lệnh của ông,
IITe 2Tx 3:3-4
c. ông ra lệnh họ phải kiên nhẫn chờ đợi sự tái lâm của Chúa và tách khỏi
các anh em không biết tu đức hạnh, IITe 2Tx 3:5-6
2. Gương sứ đồ.
a. về cách sách có kỷ luật, IITe 2Tx 3:7

b. về việc tự lập một cách tự nguyện vỉ cớ để có ảnh hưởng tốt, IITe 2Tx
3:8-9
c. kiên quyết đòi người tin Chúa phải làm việc, IITe 2Tx 3:10
3. Những lời khuyên kết luận.
a. về kẻ lười biếng và kẻ lăng xăng lắm chuyện, IITe 2Tx 3:11-12
b. về sự lao động đầy kiên nhận và kẻ không vâng phục ngoan cố, IITe 2Tx
3:13-14
4. Sự chúc phước và lời chào, IITe 2Tx 3:16-18
Dẫn nhập I Ti-mô-thê
Tác giả: Sứ đồ Phao-lô.
Ngày tháng: Không chắc chắn.
Chủ đề chính: Những lời khuyên và lời nhắc nhở đối với một mục sư trẻ về
hành vi cá nhân và công việc của mục sư.
Câu chìa khóa: ITi1Tm 3:15
Bảng tóm tắt:
I. Chủ yếu là lời khuyên có tính chất giáo lý và các kinh nghiệm cá nhân.
Chương 1:
1. Lời chào thăm, ITi1Tm 1:1-2
2. Lời khuyên về cách xử ký với các thầy dạy luật.
a. họ là những kẻ nhấn mạnh đến phù ngôn hơn là sự ngoan đạo chân chính
thay vì xây dựng cá tính con người thì họ lại gây sự cãi lẫy,# ITi1Tm 1:3-6
b. họ là kẻ ao ước trở thành thầy giáo dạy luật pháp mà chẳng hiểu ý nghĩa
của luật pháp, ITi1Tm 1:7-11
3. Kinh nghiệm của Phao-lô.
a. ông được kêu gọi vào chức vụ trong lúc phản đối dữ dội với Phúc Âm,
ITi1Tm 1:12-13
b. ông cảm tạ ân điển Chúa và thú nhận mình là không xứng đáng, ITi1Tm
1:14-15
c. ông kinh nghiệm được sự nhịn nhục của Đấng Christ, ITi1Tm 1:16
4. Lời huấn thị trong lòng lần thứ nhất với Ti-mô-thê, ITi1Tm 1:18-20
I I. Cầu nguyện và khuyên bảo đối với đàn ông và phụ nữ.
Chương 2:
1. Cầu thay cho mọi người đàn ông, ITi1Tm 2:1-4
2. Đấng Christ là Đấng Trung bảo, ITi1Tm 2:5-6
3. Phao-lô là sứ đồ của người ngoại bang, ITi1Tm 2:7
4. Bổn phận của đàn ông và đàn bà, ITi1Tm 2:8-15
I I I. Giám mục thuộc linh. Phẩm cách của người giám mục và chấp sự.
Chương 3:

1. Phẩm cách của người giám mục.
a. cá tính và thói quen, ITi1Tm 3:2-3
b. thái độ đối với gia đình và bản thân, ITi1Tm 3:4-5
c. kinh nghiệm và tiếng tốt, ITi1Tm 3:6-7
2. Phẩm cách của chấp sự.
a. cá tính, thói quen, kinh nghiệm về Đấng Christ, ITi1Tm 3:8-9
b. chịu thử thách một thời gian, ITi1Tm 3:10
c. có vợ trung tín và khéo cai trị gia đình, ITi1Tm 3:11-12
d. phước hạnh dành cho chấp sự, ITi1Tm 3:13
3. Mục đích của lá thứ, ITi1Tm 3:15
4. Sự mầu nhiệm của việc Đấng Christ trở thành người, ITi1Tm 3:46
IV. Những lời tiên đoán và lời khuyên.
Chương 4:
1. Tiên đoán về việc bỏ đạo sau này và sự hoành hành của giáo lý ma quỉ sẽ
đưa đến hậu quả phá hoại gia đình và hình thành sự khổ tu không có Chúa,
ITi1Tm 4:1-4
2. Lời khuyên về việc dạy dỗ, hành vi của mục sư, gương mục sư.
a. các dấu hiệu của một mục sư tốt của Đấng Christ, ITi1Tm 4:6
b. tính ưu việt của sự tin kính, ITi1Tm 4:7-8
c. tầm quan trọng của gương tin kính, ITi1Tm 4:12
d. bổn phận siêng đọc Kinh Thánh và dạy dỗ việc vận dụng các ơn cá nhân,#
ITi1Tm 4:13-14
e. tầm quan trọng của sự trầm tư mặc tưởng và dâng hiến trọn vẹn, cùng với
việc cảnh giác với các hành vi bản thân, vì cớ để có ảnh hưởng cứu người
khác, ITi1Tm 4:15-16
V. Lời khuyên về công việc quản trị của mục sư.
Chương 5:
1. Nhã nhặn với người già và người trẻ, ITi1Tm 5:1-2
2. Thái độ của giáo hội đối với đàn bà góa, ITi1Tm 5:13-16 Ghi chú: Đoạn
này cần được nghiên cứu với sự hiểu biết về thời đại và hoàn cảnh xã hội.
3. Bổn phận đối với trưởng lão, ITi1Tm 5:17-20
4. Bổn phận có hành động công tâm và cẩn trọng, ITi1Tm 5:21-22
5. Phần xen vào, lời khuyên về vấn đề riêng tư cá nhân, ITi1Tm 5:23-25
Chương 6:
6. Phước lành của sự thỏa lòng, ITi1Tm 6: 6-8
7. Nguy hiểm của sự giàu có và bổn phận của mục sư là phải tránh tham
lam. ITi1Tm 6:9-12
8. Một huấn thị long trọng cho mục sư trẻ phải giữ lấy giáo lý được thanh
sạch cho đến khi Vua muôn vua xuất hiện, ITi1Tm 6:13-16
9. Bổn phận của kẻ đầy tớ, ITi1Tm 6:1-2

10. Bổn phận phải xa cách những giáo sư hay gây sự cãi lẫy, ITi1Tm 6:3-5
11. Một lời hô hào nhằm cảnh cáo người giàu đừng kiêu ngạo và tự cậy
mình và nài khuyên họ phải từ thiện, đầu tư nơi thiên quốc, ITi1Tm 6:17-19
12. Lời huấn thị cuối cùng phải trung tín và tránh xa các giáo lý giả dối,
ITi1Tm 6:20-21
Dẫn nhập II Ti-mô-thê
Tác giả: Sứ đồ Phao-lô.
Địa điểm và thời gian: Có lẽ được viết từ La Mã, năm 65-67 SC. Thư này
ghi lại những lời nói cuối cùng của sứ đồ.
Mục đích: 1. Chung: Khích lệ và chỉ dẫn một mục sư trẻ về công tác mục sư.
2. Riêng: Yêu cầu Ti-mô-thê, người con đức tin của sứ đồ, hãy vội vã trở về
La Mã để có thể an ủi người bạn đồng hành, IITi 2Tm 1:4; 4:9,21
Duyên cớ lịch sử: Nói chung thì người ta cho rằng Phao-lô chịu tù tộihai lần
tại La Mã, và trong lần ở tù thứ nhì, ông đã viết lá thư này. Trước đó Phao-lô
có được một số tự do nào đó và sống trong căn nhà do ông thuê, Cong Cv
28:30
Vào lúc đó ông có thể tiếp cận các bạn hữu của mình, nhưng giờ đây ông bị
giam kỹ, ngay cả Ô-nê-sim cũng thấy khó khăn để tìm gặp Phao-lô, IITi
2Tm 1:17. Nhiều người cộng tác với Phao-lô trước đây nay đã bỏ rơi ông,
IITi 2Tm 1:15 và ông được dự kiến sẽ bị hành quyết nay mai, IITi 2Tm 4:6.
Một giọng thống thiết của nỗi cô đơn xuyên suốt lá thư, và không lấy làm lạ
khi mà Phao-lô nóng lòng muốn gặp Ti-mô-thê thân thương của ông.
Tính chất riêng biệt của lá thư: Cả hai lá thư gửi Ti-mô-thê đều hàm chứa
những lời căn dặn bức xúc. Rất có thể Ti-mô-thê không được khỏe lắm,
ITi1Tm 5:23
Có lẽ Ti-mô-thê cũng nhút nhát, IITi 2Tm 1:6-7. Từ ngữ “hỗ thẹn” được
xuất hiện nổi bật trong thư tín này.
Ti-mô-thê được thúc giục đừng hỗ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa, cũng
đừng xấu hổ vì có người bạn tù là Phao-lô, IITi 2Tm 1:8 hay là người làm
công cho Chúa, IITi 2Tm 2:18
Phao-lô khuyên nhủ Ti-mô-thê phải tự coi mình là người chiến sĩ trong một
chiến dịch khó khăn, IITi 2Tm 2:3-4
Thư có thể được chia ra làm 4 phần: Bản thân các chương cho ta sự phân
đoạn tự nhiên.
Bảng tóm tắt:
I. Lời chào thăm cá nhân, những lời căn dặn và các kinh nghiệm.
[td Chương 1:

1. Lời chào thân thương, IITi 2Tm 1:1-4
2. Lời nhắc nhở về tổ tiên tin kính Chúa của Ti-mô-thê và lời căn dặn phải
sốt sắng và can đảm, IITi 2Tm 1:5-8
3. Nhắc đến kế hoạch cứu rỗi thông qua Đấng Christ, IITi 2Tm 1:11-12
4. Lời ám chỉ đến việc kêu gọi người viết thư vào trong công tác và niềm tin
cậy bất di bất dịch của Phao-lô đối với Chúa, IITi 2Tm 1:11-12
5. Lời căn dặn lần hai, IITi 2Tm 1:13-14
6. Nhắc đến sự không trung tín của các Hội Thánh tại châu Á và tán dương
tính có thể tin cậy của Ô-nê-si-phô-rơ, IITi 2Tm 1:15-18
I I. Chủ yếu là lời khuyên dành cho người tôi tớ trẻ của Chúa.
Chương 2:
1. Với tư cách là người chiến sĩ thuộc linh, vận động viên thuộc linh và nông
dân thuộc linh.
a. Hãy mạnh mẽ trong ân điển của Chúa và chọn lựa những người phụ tá
trung tín, IITi 2Tm 2:1-2
b. Hãy chứng tỏ bản chất chịu đựng và tách khỏi các vương vấn của đời, IITi
2Tm 2:3-4
c. Như là một vận động viên phải tuân theo luật thi đấu, IITi 2Tm 2:5
d. Như là một nông dân mong đợi hoa mầu, IITi 2Tm 2:6
2. Những chân lý phải ghi nhớ trong tâm trí.
a. Sự phục sinh của Đấng Christ, sự giảng đạo đã đưa đến việc bỏ tù Phaolô, IITi 2Tm 2:7-9
b. Chịu thương khó vì giáo hội và chết vì Đấng Christ để dẫn đến sự sống
đời đời và vinh dự thuộc linh, IITi 2Tm 2:9-12
3. Lời khuyên về cách xử trí đối với dị giáo và sự tranh cãi tôn giáo.
a. Bằng cách răn bảo nghiêm túc đối với kẻ hay cãi lẫy, IITi 2Tm 2:14
b. Bằng cách cố gắng trở thành người giãi bày chân lý một cách tài tình, IITi
2Tm 2:15
c. Bằng cách tránh những lời không có Chúa và giáo lý xa lạ có thể ăn lan
vào sự sống thuộc linh và tàn phá đức tin, IITi 2Tm 2:16-18
d. Bằng cách nhớ rằng sức mạnh của nền vững bền của Đức Chúa Trời và
Cơ Đốc nhân là phải tránh khỏi điều gian ác, IITi 2Tm 2:19
e. Bằng cách nhớ rằng Hội Thánh, giống như một căn nhà lớn, trong đó có
những đồ dùng cao sang và đồ dùng hèn mọn, và mục đích của mỗi Cơ Đốc
nhân là phải hữu ích cho Chủ của mình, IITi 2Tm 2:20-21
4. Lời khuyên về những khao khát cá nhân và cách xử trí việc xung đột.
a. Tầm quan trọng của sự thánh sạch cá nhân và sự đeo đuổi thuộclinh, IITi
2Tm 2:22
b. Sự cần thiết của việc tránh những câu hỏi ngu muội và xung đột bằng
cách kiên nhẫn đối xử với kẻ đối địch, hy vọng rằng họ sẽ ăn năn, ITi1Tm

2:23-26
I I I. Chủ yếu là lời tiên tri về sự bội đạo và sự suy đồi của xã hội, cùng với
lời khuyên hãy vững vàng kiên định.
Chương 3:
1. Những cá tính gian ác của con người vào ngày sau rốt, họ đội lốt tôn giáo
để thực hiện điều dâm dục, IITi 2Tm 3:1-6 Sự điên dại của họ sẽ bị bày tỏ
cho thiên hạ vào một ngày nào đó, IITi 2Tm 3:7-9
2. Đoạn xen vào, nhắc đến sự bắt bớ, IITi 2Tm 3:11-12
3. Tiên đoán về xu hướng tội lỗi ngày càng tăng, IITi 2Tm 3:13
4. Kêu gọi Ti-mô-thê hãy vững vàng vì cớ những cơ hội thuộc linh và đã
sớm được đào tạo bằng Kinh Thánh, IITi 2Tm 3:14-15
5. Sức mạnh của Lời Đức Chúa Trời được hà hơi để trang bị và hoàn thiện
các Cơ Đốc nhân vào các công tác, IITi 2Tm 3:16-17
IV. Lời huấn thị long trọng, một kết cuộc thắng lợi, một sự bị bỏ rơi đau
buồn, một lời kêu gọi thống thiết, một niềm tin trọn vẹn
Chương 4:
1. Lời huấn thị long trọng
a. về sự trung tín trong việc giảng đạo, IITi 2Tm 4:1-2
b. tiên đoán về một thời nào đó, người ta coi thường chân lý, ham nghe
những giáo sư giả giảng cho họ những lời lẽ chìu theo tư dục, IITi 2Tm 4:34
c. Lời khuyên răn chức vụ sốt sắng và trung tín, IITi 2Tm 4:5
2. Sự kết thúc sự nghiệp của Phao-lô.
a. sự nghiệp ấy chấm dứt trong một tinh thần thắng lợi, IITi 2Tm 4:6-8
b. trong niềm tin trọn vẹn nơi Chúa, IITi 2Tm 4:17-18
3. Sự cần tình bạn, cái gì đó đã làm nhẹ bớt sự gian khổ trong cảnh tù tội.
a. Nỗi cô đơn do sự ra đi của bạn bè và sự bỏ rơi của bạn đồng hành không
thể nhờ cậy được, IITi 2Tm 4:10-12,16
b. Một vài tiện nghi cần có để lên tinh thần trong cảnh tù, IITi 2Tm 4:13
c. Ti-mô-thê được giục giã đến ngay, IITi 2Tm 4:9,21
d. Lời chào cuối thư và chúc phước, IITi 2Tm 4:19-22
Dẫn nhập TÍT
Tác giả: Sứ đồ Phao-lô.
Những sự kiện liên quan đến tít: Tít là người ngoại bang, GaGl 2:3 một
người bạn thân thiết và là phụ tá của Phao-lô, IICo 2Cr 2:13; 7:6,13; 8:23
Một sứ giả của Hội Thánh Cô-rinh-tô, IICo 2Cr 8:16-18 là một người đáng
tin cậy và không ích kỷ, IICo 2Cr 12:18, là bạn đồng hành với Phao-lô và
Ba-na-ba trên hành trình đến Giê-ru-sa-lem, GaGl 2:1 Phao-lô để chàng ở lại

Cơ-rết để chăm sóc Hội Thánh, Tit Tt 1:5 Tít ở La Mã lúc Phao-lô bị bỏ tù
lần thứ nhì, IITi 2Tm 4:10 Dường như Tít khoẻ mạnh và chín chắn hơn Timô-thê.
Chủ đề chính: Lời khuyên bảo và lời căn dặn liên quan đến bổn phận mục sư
và các giáo lý, với sự nhấn mạnh đặc biệt đến nên làm việc lành.
Câu chìa khóa: Tit Tt 1:5; 3:8
Tư tưởng chủ đạo: Sự nhấn mạnh vào việc lành được thấy ở các câu, Tit Tt
1:16; 2:7,14; 3:1,8,14 Đây là câu trả lời đầy đủ cho những ai cho rằng có
một sự mâu thuẫn về giáo lý giữa thư tín của Phao-lô với thư tín của Gia-cơ.
Cá tính của người Cơ-rết là như vậy, cho nên Phao-lô đã nghĩ rằng cần thiết
phải khuyến cáo mục sư của họ nhấn mạnh vào cuộc sống trước sau như một
của Cơ Đốc nhân. Tuy thế thì bức thư này không hề dạy rằng cứu rỗi nhờ
việc lành, Tit Tt 3:5
Bảng tóm tắt:
I. Chủ yếu là lời dạy dỗ về tổ chức Hội Thánh và kỷ cương:
Chương 1:
1. Lời chào và nhắc đến niềm trông cậy vinh hiển của Tin Lành, Tit Tt 1: 1-4
2. Mục đích của việc phân công Tít đến Cơ-rết, Tit Tt 1:5
3. Trật tự trong nhà thờ và kỷ cương:
a. cá tính và phẩm cách của trưởng lão và giám mục, Tit Tt 1:6-9
b. bổn phận phải bịt miệng các giáo sư giả ham lợi, Tit Tt 1:10-11
c. nết xấu của người Cơ-rết buộc phải quở nặng và bám chắc vào chân lý, Tit
Tt 1:12-14
d. lên án sự ô uế nội tâm và đạo đức giả, Tit Tt 1:15-16
I I. Giáo lý lành mạnh và việc lành:
Chương 2;
[mtc 1. Sự dạy dỗ của sứ đồ thích hợp cho các tầng lớp giai cấp khác nhau.
[mt a. về tinh thần và hành vi của người già cả, Tit Tt 2:2-3
b. những dạy dỗ thích hợp với người trẻ, Tit Tt 2:4-6
c. lời căn dặn Tít về gương cá nhân của ông, Tit Tt 2:7-9
d. bổn phận của tôi tớ, Tit Tt 2:13
2. Cơ hội khắp thế gian của những yêu cầu thuộc ơn cứu rỗi.
a. xả thân và tin kính khi sống ở đời này, Tit Tt 2:11-12
b. mong chờ sự trông cậy phước hạnh được thực hiện khi Chúa tái lâm, Tit
Tt 2:13
c. sống thánh khiết, Tit Tt 2:14
3. Tầm quan trọng của việc cưỡng chế thực hiện những chân lý này, Tit Tt
2:15
I I I. Chủ yếu là những dạy dỗ bổ sung về giáo lý làm việc lành và phương
pháp cứu rỗi của Chúa.

Chương 3:
1. Bổn phận và nghĩa vụ xã hội, Tit Tt 3:1-2
2. Phương pháp đầy ân điển của sự cứu rỗi
a. tính chất toàn cầu của tội lỗi, Tit Tt 3:3
b. ân điển làm tẩy sạch thông qua Đấng Christ, chớ không bởi việc lành, là
nền tảng của sự cứu rỗi, Tit Tt 3:4-7
3. Tầm quan trọng của việc lành phải được dạy dỗ thường xuyên, Tit Tt 3:8
4. Cách xử lý đối với những câu hỏi ngu xuẩn và tà đạo, Tit Tt 3:9-11
5. Những lời kết luận và chúc phước, Tit Tt 3:12-15
Đoạn chọn đặc biệt: Sự trông cậy phước hạnh, Tit Tt 2:11-14
Được cứu bởi ân điển, Tit Tt 3:4-7
Dẫn nhập Phi-lê-môn
* Một bức thư cá nhân về sự cầu thay có lẽ do Phao-lô viết từ La Mã, và gửi
cho Phi-lê-môn tại Cô-lô-se, CoCl 4:7-9
Những sự thật về Phi-lê-môn: Hiển nhiên Phi-lê-môn là một thành viên của
Hội Thánh Cô-lô-se, và dường như Phao-lô đã gặp Phi-lê-môn tại nhà của
ông, Phil Plm 1:2
Lòng nhân từ của Phi-lê-môn (Phil Plm 1:5-7), Phao-lô yêu cầu Phi-lê-môn
chuẩn bị một chỗ trọ (Phil Plm 1:22) nói rằng ông ta là người khá giả.
Bởi Phao-lô chưa hề có mặt ở Cô-lô-se (CoCl 2:1), ắt hẳn là Phi-lê-môn đã
gặp Phao-lô ở nơi nào đó, có thể là tại Ê-phê-sô vì nơi này không xa Cô-lôse lắm.
Có lẽ Phao-lô đã giúp cho Phi-lê-môn tin Chúa.
Câu chuyện về Ô-nê-sim: Ông ta là một tên nô lệ bỏ trốn của Phi-lê-môn. Ta
có thể hiểu ngầm là Ô-nê-sim đã lấy cắp và bỏ trốn đến La Mã, Phil Plm
1:18 tại đó ông được Phao-lô dẫn dắt tin nhận Chúa (so sánh Phil Plm 1:10)
Ông trở thành một môn đồ tin kính của Chúa, CoCl 4:9. Phao-lô muốn giữ
Ô-nê-sim tại La Mã để làm phụ tá cho mình Phil Plm 1:13 nhưng không
được sự đồng ý của Phi-lê-môn, Phao-lô cảm thấy có bổn phận phải trả
người nô lệ về cho chủ nhân.
Vì vậy sứ đồ viết bức thư cầu thay rất hay nầy, khẩn cầu Phi-lê-môn tha thứ
và hậu đãi Ô-nê-sim.
Bảng tóm tắt:
1. Lời chào khen ngợi và thân mật, Phil Plm 1:1-7
2. Lời chứng nhận về sự thay đổi cá tính của Ô-nê-sim, Phil Plm 1:10-11
3. Lời kêu gọi thân thiết xin tha thứ cho người nô lệ trở về, Phil Plm 1:12-19
4. Lời chào tạm biệt và chúc phước, Phil Plm 1:20-25
Những bài học thuộc linh: Rút từ gương của Phao-lô.

1. Tầm quan trọng của sự quan tâm đến kẻ bất hạnh.
2. Bổn phận tôn trọng luật pháp của người tin Chúa: Ô-nê-sim phải quay về
với chủ nhân của mình.
3. Tình huynh đệ Cơ Đốc xóa bỏ mọi phân biệt giai cấp và xã hội.
Dẫn nhập Hê-bơ-rơ
Tác giả và ngày tháng: Không rõ .
Thư này không có tên người viết rõ ràng, được cho là của Phao-lô, Ba-na-ba,
Lu-ca, A-bô-lô và nhiều người khác.
Mục đích: Hiển nhiên là thư này được biết cho các Cơ Đốc nhân gốc Hê-bơrơ. Những Cơ Đốc nhân này luôn có nguy cơ trở lại với Do Thái giáo, và ít
nhất cũng tiếp xúc quá nhiều với các nghi lễ. Mục đích chính của giáo lý mà
tác giả đưa ra là trình bày sự vinh hiển siêu việt của thời đại Cơ Đốc khi so
sánh với thời đại Cựu Ước.
Từ chìa khóa: Tốt hơn, hay tốt hơn cả.
Bằng cách theo dõi những từ này, độc giả sẽ phát hiện dòng suy tưởng
chính.
Những từ và từ ngữ được lặp đi lặp lại:
Ngồi, nói đến công việc đã làm trọn của Đấng Christ, HeDt 1:3; 10:12; 12:2
Sự kêu gọi thiên thượng, HeDt 3:1 thầy tế lễ, HeDt 4:14 sự ban cho, HeDt
6:4 của cải, HeDt 10:34 quê hương, HeDt 11:16 thành phố, HeDt 12:22
Hãy, một chuỗi 11 lời căn dặn.
1. Hãy cẩn thận, HeDt 4:1
2. Hãy gắng sức, HeDt 4:11
3. Hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, HeDt 4:16
4. Hãy tấn tới, HeDt 6:1
5. Hãy đến gần, HeDt 10:22
6. Hãy cầm giữ, HeDt 10:23
7. Hãy chăm sóc nhau, HeDt 10:24
8. Hãy quăng hết mọi vướng mắc và chạy đưa bằng sự kiên nhẫn, HeDt 12:1
9. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời một cách đẹp lòng Ngài, HeDt 12:23
10. Hãy đi tới, HeDt 13:13
11. Hãy dâng tế lễ bằng lời ngợi khen, HeDt 13:15
Thư có thể chia làm 2 phần: Phần I chủ yếu là giáo lý, phần II chủ yếu là
sống đạo.
Bảng tóm tắt:
Phần I. Sự ưu việt của Đấng Christ:
Chương 1:
1. Cao trọng hơn các tiên tri vì có sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, HeDt

1:1-3
2. Cao trọng hơn cả thiên sứ.
a. có một danh xưng tốt đẹp, HeDt 1:4
b. được nhìn nhận là con độc sanh của Cha thiên thượng, HeDt 1:5
c. mọi thiên sứ được truyền lệnh phải thờ lạy Ngài, HeDt 1:6
d. được cất lên cao hơn cả thiên sứ và ngự bên hữu Đức Chúa Trời cho đến
đời đời, HeDt 1:8-14
Chương 2:
e. sứ điệp của Ngài là tối hậu và nguy khốn cho kẻ xem thường, HeDt 2:1-4
f. Đức Chúa Giê-xu ở dưới thiên sứ một chút, chết cho nhân loại để có thể
mang nhiều người vào trong sự vinh hiển của chính Ngài cùng với Cha thiên
thượng và phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, HeDt 2:9-14
Phần II. Tính ưu việt của chức thầy tế lễ của Chúa Giê-xu Christ.
Chương 2 (tiếp theo)
1. Ngài khoác lấy bản chất con người
a. sửa soạn cho công việc hòa giải của Ngài, HeDt 2:16-17
b.chịu cám dỗ để Ngài có thể giúp kẻ bị cám dỗ, HeDt 2:18
Chương 3:
2. Lời kêu gọi hãy suy nghĩ kỹ đến chức thầy tế lễ của Đấng Christ, HeDt
3:1
3. Sự cao trọng của Ngài hơn cả Môi-se, Môi-se như là một tôi tớ, còn Đấng
Christ là Con, HeDt 3:2-6
4. Phần xen vào, thất bại của Y-sơ-ra-ên.
a. chẳng được vào sự yên nghỉ trong xứ Ca-na-an, HeDt 3:7-11
b. họ không thể vào xứ yên nghỉ vì cớ không tin, HeDt 3:12-19
Chương 4:
c. lời cảnh cáo giáo hội không được đi theo gương của Y-sơ-ra-ên bất tín,
mà phải bước vào sự yên nghỉ của đức tin, HeDt 4: 1-8
d. người tin Chúa yên nghỉ tong công việc của sự cứu chuộc và thôi không
tin vào công việc của bản thân nữa, HeDt 4:9-11
e. quyền năng của Đức Chúa Trời, HeDt 4:12-13
Bắt đầu lại đề tài chức vụ thầy tế lễ của Đấng Christ.
1. Chức vụ thầy tế lễ đầy thương xót của Đấng Christ, một sự khích lệ cho
sự kiên định và cầu nguyện, HeDt 4:14-16
Chương 5:
2. Thầy tế lễ thượng phẩm, chức vụ và công việc:
a. từ trong loài người chọn ra, HeDt 5:1
b. thương xót vì sự yếu đuối của chính thầy tế lễ, HeDt 5:2
c. dâng của tế lễ cho bản thân và cho dân sự, HeDt 5:3
d. chức ấy do Đức Chúa Trời chọn, HeDt 5:4

3. Đặc điểm của chức thầy tế lễ của Đấng Christ
a. được chọn bởi Đức Chúa Trời theo một thứ bậc mới, HeDt 5:5-6
b. Ngài dâng lời cầu nguyện một cách tha thiết xin được giải cứu khỏi sự
chết trong tinh thần vâng phục, HeDt 5:5-6
c. trở thành nguồn cứu rỗi đời đời, HeDt 5:9-10
4. Lời quở trách, cảnh cáo, kêu gọi và khen thưởng (phần xen vào).
d. quở trách sự chậm hiểu và sự không trưởng thành, HeDt 5:11-14
Chương 6:
e. một lời kêu gọi hãy tấn tới về phương diện chân lý, giáo lý, HeDt 6:1-3
f. một lời cảnh cáo dành cho những ai đã hưởng được những đặc quyền cao
hơn trong giao ước mới mà lại quay lưng khỏi Đấng Christ, HeDt 6:4-8
g. lời khen thưởng của một giáo hội và sự tin tưởng rằng người tin Chúa sẽ
tiếp tục trung tín và thừa tự được lời hứa, HeDt 6:9-12
Đề tài về chức thầy tế lễ của Đấng Christ một lần nữa được lặp lại.
5. Sự chắc chắn làm trọn các lời hứa của Đức Chúa Trời
a. được minh hoạ trong cuộc đời của Ap-ra-ham, HeDt 6:13-15
b. xác nhận bằng một lời thề, HeDt 6:16-17
c. giống như cái neo của linh hồn, HeDt 6:18-19
d. được bảo đảm bằng thầy tế lẽ thượng phẩm trên trời, HeDt 6:20
Chương 7:
6. Chức thầy tế lễ của Mên-chi-xê-đéc, một hình bóng của Đấng Christ.
a. có một danh xưng vĩ đại và thuộc về một thứ bậc đời đời, HeDt 7:1-3
b. được vinh dự với của dâng một phần mười của Ap-ra-ham và cao trọng
hơn cả chức thầy tế lễ của A-rôn, HeDt 7:4-10
7. Tóm tắt phẩm chất cao trọng của chức thầy tế lễ của Đấng Christ.
a. giống như chức thầy tế lễ của Mên-chi-xê-đéc thuộc về một thứ bậc đời
đời và được xác nhận
b. bằng lời thề của Đức Chúa Trời, HeDt 7: 11-22
c. bất biến và vô hạn về quyền năng, HeDt 7:23-25
d. vô tội và trọn vẹn, dâng chính mình Ngài làm tế lễ, HeDt 7:26-28
Chương 8:
d. chức thầy tế lễ đó nay được thi hành nơi thánh thiên thượng, HeDt 8:1-5
e. trung bảo thông qua một giao ước tốt đẹp hơn, HeDt 8:9-13
Chương 9:
f. các nghi lễ cổ xưa và các tế lễ do thầy tế lễ thi hành chỉ là hình bóng,
HeDt 9:1-10
g. công việc cứu chuộc của Đấng Christ và huyết Ngài tẩy sạch khỏi tội lỗi
là những thực tế siêu phàm, HeDt 9:11-15
h. các điều khoản của giao ước cũ làm hình bóng cho công việc hy sinh trọn
vẹn của Đấng Christ trong giao ước mới, HeDt 9:16-28

Chương 10:
i. nhắc lại các tế lễ của người Do Thái không hiệu quả trong việc cất bỏ tội
lỗi. Trong khi đó Đấng Christ thông qua sự hy sinh một lần đủ cả của Ngài,
hoàn tất công tác cứu chuộc cho nhân loại và ngồi bên hữu Đức Chúa Trời,
chờ đợi sự làm trọn kế hoạch của Thượng Đế, HeDt 10:1-18
II. Chủ yếu là giáo lý sống đạo và lời căn dặn.
1. Đặc quyền đi vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời thông qua sự hy sinh
và chức thầy tế lễ của Đấng Christ, HeDt 10:19-21
2. Lời căn dặn
a. đến gần Chúa trong sự thờ phượng với sự chắc chắn hoàn toàn, với tấm
lòng được sửa soạn, HeDt 10:22
b. kiên định , khích lệ nhau và trung tín, HeDt 10:23-25
3. Lời cảnh cáo về hiểm hoạ tái phạm tội
a. hình phạt giáng cho những kẻ coi thường luật pháp Môi-se, HeDt 10:28
b. số phận tồi tệ của những ai coi thường sự hy sinh của Đấng Christ và
Thánh Linh ban ơn của Chúa, HeDt 10:29-31
4. Lời nhắc nhở các tín hữu gốc Hê-bơ-rơ về sự chịu đựng ngoan cường
trước đây đối với các thống khổ và lời khuyên hãy kiên nhẫn và nhịn nhục,
HeDt 10:32-39
Chương 11:
5. Điểm danh các anh hùng và nữ anh hùng của đức tin
a. phạm vi của đức tin, HeDt 11:1-3
b. các gương đức tin đáng chú ý:
. A-bên, HeDt 11:4
. Hê-nóc, HeDt 11:5-6
. Nô-ê, HeDt 11:7
. Ap-ra-ham và Sa-ra, HeDt 11:8-19
. Y-sác, Gia-cốp và Giô-sép, HeDt 11:20-22
. Môi-se và cha mẹ của người, HeDt 11:23-29
. Giô-suê và Y-sơ-ra-ên, HeDt 11:30
. Ra-háp, HeDt 11:31
Những tín đồ nổi bật khác, HeDt 11:32-40
Chương 12:
6. Các lực sĩ thuộc linh, cuộc chạy đua của Cơ Đốc nhân.
a. khán giả, sự chuẩn bị, và chạy như thế nào, HeDt 12:1
b. mắt chăm nhìn vào chủ nhân tại đích, nhớ lại thắng lợi của Ngài, HeDt
12:2
c. sự hà hơi của Thánh Linh khi mệt mỏi, HeDt 12:3-4
d. giá trị của sự khổ nhọc và kỷ luật trong huấn luyện, HeDt 12:5-10
e. kết quả tốt đẹp của sự khổ nhọc và huấn luyện, HeDt 12:11

f. lời khuyên nhủ hãy vững vàng và ngay thẳng, HeDt 12:12-13
7. Lời khuyên hãy cầu sự bình an cho mọi người, thánh khiết và cảnh giác
đối với các ảnh hưởng xấu xa, HeDt 12:14-15
8. Lời cảnh cáo về việc bán sự chúc phước sự sống, HeDt 12:16-17
9. Một tương phản giữa núi Si-nai của Cựu Ước và núi Si-ôn của Tân Ước.
a. núi Si-nai với sự bày tỏ quyền năng đáng sợ của Đức Chúa Trời, HeDt
12:18-21
b. núi Si-ôn với đoàn người vinh hiển trong Giê-ru-sa-lem trên trời, HeDt
12:22-24
10. Lời cảnh cáo trịnh trọng về việc nghe lời phán sứ điệp trên trời về sự tạm
bợ của sự vật trần gian và tính vĩnh hằng của thiên quốc Đức Chúa Trời,
HeDt 12:25-28
Chương 13:
1. Những lời khuyên cuối cùng về bổn phận của Cơ Đốc nhân
a. bổn phận xã hội, HeDt 13:1-6
b. bổn phận đối với những người dẫn dắt về mặt tôn giáo, HeDt 13:7
c. Đấng Christ không thay đổi sẽ hà hơi làm bền vững trong giáo lý Cơ Đốc,
HeDt 13:8-9
d. Bổn phận cách biệt khỏi thế gian của Cơ Đốc nhân, HeDt 13:10-14
e. Bổn phận tạ ơn, lòng rộng rãi và vâng phục kẻ dẫn dắt, HeDt 13:15-17
2. Những lời kết luận
a. Yêu cầu về sự cầu nguyện cho và tuyên bố phước lành, HeDt 13:18-21
b. Lời chào cuối cùng và chúc phước, HeDt 13:22-25
Đoạn chọn đặc biệt: Chịu khổ, một sự chuẩn bị cho chức vụ thầy tế lễ, HeDt
2:9-18
Sự yên nghỉ của đức tin, HeDt 4:1-11
Sự trưởng thành thuộc linh, HeDt 5:12-6:2
Giao ước mới, HeDt 8:8-13
Chương đức tin. Điểm danh các anh hùng, HeDt 11:1-40
Chương về “lực sĩ thuộc linh” và cuộc chạy đua của Cơ Đốc nhân. Sự khó
khăn, sự sửa phạt, và kỷ luật là nhằm chuẩn bị cho sự thắng lợi, HeDt 12:113
Dẫn nhập Gia-cơ
Tác giả: Không biết chắc. Trong Kinh Thánh Tân Ước có ba người nổi bật
mang tên Gia-cơ. Nói chung thì người ta đồng ý Gia-cơ, được Phao-lô gọi là
“người em trai của Chúa” (GaGl 1:19), là tác giả của bức thư.
Độc giả: Hiển nhiên là thư được gửi đến những người Do Thái tin Chúa
sống ngoài vùng Đất Thánh# cũng có thể là viết cho những người Do Thái

tin kính sống rải rác khắp nơi trên thế giới, Gia Gc 1:1
Chủ đề chính: Tôn giáo thực tiễn, minh chứng chính bản thân tôn giáo bằng
việc lành, tương phản với sự xưng nhận đức tin mà thôi.
Câu chìa khóa: Gia Gc 1:27; 2:26
Sự đối kháng tưởng tượng về giáo lý giữa Phao-lô và Gia-cơ: Mọi mâu
thuẫn giả định về giáo lý giữa thư này và thư Rô-ma là hoàn toàn tưởng
tượng.
Phao-lô bị các giáo sư giả quấy nhiễu trong nhà thờ thì đương nhiên ông
phải nhấn mạnh nhiều về sự xưng công bình bởi đức tin độc lập với việc
tuân thủ các nghi lễ. Tuy nhiên, khi viết cho Tít thì Phao-lô đã đặt tầm quan
trọng của việc lành làm chủ đề của bức thư, nhân đó cho thấy sự hài hòa
hoàn toàn với giáo lý của thư Gia-cơ. Rõ ràng là trong lá thư của Gia-cơ, tác
giả có vẻ như hạ thấp giá trị của đức tin, nhưng thực ra là sự đồng ý có tri
thức với chân lý, và không phải là “đức tin cứu rỗi” được Phao-lô đề cập.
BẢNG TÓM TẮT: Thư này không dễ gì phân tích, nhưng phần lớn nội
dung có thể sắp xếp dưới hai tiêu đề, tôn giáo giả và tôn giáo chân chính.
I. Những dấu hiệu của tôn giáo chân chính:
Chương 1:
1. Sự vui mừng và nhịn nhục trong những cơn thử thách, Gia Gc 1:2-4
2. Đức tin không dao động và một lòng một dạ, Gia Gc 1:5-8
3. Chấp nhận sự an bài cuộc sống của Đức Chúa Trời, Gia Gc 1:9-11
4. Chịu đựng sự cám dỗ, Gia Gc 1:12
5. Nhận ra nguồn gốc của cám dỗ và hậu quả khi khuất phục sự cám dỗ, Gia
Gc 1:13-15
6. Nhận ra Đức Chúa Trời chính là nguồn của mọi phước hạnh, Gia Gc 1:1618
7. Lắng nghe thuộc linh, cẩn thận trong lời nói và chậm giận, Gia Gc 1:1920
8. Bỏ mọi điều ô uế, và nhu mì nhận lấy chân lý cứu rỗi, Gia Gc 1:21
9. Tìm tòi chân lý và sống theo chân lý ấy, Gia Gc 1:25
10. Rộng lượng và thanh sạch, Gia Gc 1:27
Chương 2:
11. Việc lành
a. như là một minh chứng cho đức tin, Gia Gc 2:18
b. phối hợp đức tin và làm trọn vẹn đức tin, Gia Gc 2:21-25
Chương 3:
12. Sự khôn ngoan thuộc trời, Gia Gc 3:17-18;
II. Các dấu hiệu của tôn giáo giả:
Chương 1:
1. Nghe lời Chúa không cẩn thận và chóng quên, Gia Gc 1:22-24

2. Tôn giáo không có giá trị, kèm theo một miệng lưỡi không cầm giữ, Gia
Gc 1:26
Chương 2:
3. Thiên vị, trọng người giàu và khinh kẻ nghèo, Gia Gc 2:1-9
4. Chỉ vâng phục phần nào đối với luật pháp, Gia Gc 2:10-12
5. Không có lòng thương xót, Gia Gc 2:13
6. Chỉ xưng nhận đức tin và không có hành động thương xót và giúp đỡ, Gia
Gc 2:14-16
7. Đức tin không hành động, Gia Gc 2:17-18
8. Người có tri thức đồng ý với chân lý: đức tin phải có việc làm, và không
làm thay đổi đặc tính ấy, Gia Gc 2:19-20
Chương 3:
9. Lưỡi không trị phục, sức tàn phá của nó, Gia Gc 3:1-8
10. Sự khen ngợi và rủa sả đều xuất phát từ cùng một cái miệng, Gia Gc 3:912
11. Ganh tỵ, tham vọng ích kỷ và sự khôn ngoan của quỉ Sa-tan, Gia Gc
3:14-16
Chương 4:
12. Sự bất an và lòng tư dục, Gia Gc 4:1-2
13. Lời cầu nguyện không được nhậm và tính chất thế gian, Gia Gc 4:3-4
14. Kiêu ngạo, cố chấp, bất khiết, hai lòng và không ăn năn, Gia Gc 4:5-9
15. Gièm pha và sự xét đoán không công tâm, Gia Gc 4:11-12
16. Tự phụ trong việc kế hoạch công việc làm ăn trong tương lai, Gia Gc
4:13-16
17. Bỏ lơ bổn phận đã biết trước, Gia Gc 4:17
I I I. Lời cảnh cảo, khuyên nhủ và dạy dỗ:
Chương 5:
1. Lời cảnh cáo kẻ giàu
a. Về cảnh khốn khổ trong tương lai, Gia Gc 5:1-2
b. Về việc tích trữ của cái và không trả tiền công cho người nghèo, Gia Gc
5:3-4
c. Về việc tìm kiếm thú vui và bắt bớ người công bình, Gia Gc 5:5-6
2. Lời khuyên nhủ trong ánh sáng Chúa tái lâm
a. Hãy nhịn nhục và vững lòng, đừng lằm bằm lẫn nhau, Gia Gc 5:7-10
b. Hãy theo gương tiên tri và Gióp trong sự chịu đựng, Gia Gc 5:10-11
c. Chớ có thề thốt, Gia Gc 5:12
3. Sự dạy dỗ về cầu nguyện, xưng tội và giành lấy linh hồn.
a. Cầu nguyện trong lúc khốn cùng và cầu nguyện cho người đau ốm, Gia
Gc 5:13-15
b. Xưng tội và cầu thay, Gia Gc 5:16

c. Lời cầu nguyện linh nghiệm được minh hoạ bởi Ê-li-sê, Gia Gc 5:16-18
d. Bổn phận cứu lấy linh hồn, Gia Gc 5:19-20
Dẫn nhập I Phi-e-rơ
Tác giả: Sứ đồ Phi-e-rơ.
Đó không phải là Si-môn Phi-e-rơ thuở ban đầu, bốc đồng và đầy sự yếu
đuối, đó là con người được Đấng Christ gọi là Si-môn, Mac Mc 14:37; LuLc
22:31; GiGa 21:15-17. Tác giả chính là Phi-e-rơ mà Đấng Christ nói tiên tri
sẽ trở thành một tảng đá lớn, GiGa 1:42 cũng là một con người nhưng được
rèn luyện sau nhiều năm chịu khổ và thử thách, được thêm sức bằng phép
báp-tem của Thánh Linh. Rõ ràng là bức thư thuộc về thời kỳ sau của cuộc
đời Phi-e-rơ.
Thời gian và địa điểm khi viết thư: Không biết chắc. Ba-by-lôn được nhắc
đến trong IPhi 1Pr 5:13 có thể là hoặc không phải là thành phố bên bờ sông
Ơ-phơ-rát. Nhiều người nghĩ rằng đó là Rô-ma, được gọi bóng bẩy là Ba-bylôn.
Độc giả của thư: Thư được viết cho tuyển dân của Đức Chúa Trời ở rải rác
khắp Tiểu Á Tế Á. Có lẽ cho toàn bộ các Cơ Đốc nhân trong vùng, người
Do Thái lẫn người Gơ-réc. Đối với những Hội Thánh chủ yếu do Phao-lô
thành lập, Phi-e-rơ gửi sứ điệp thuộc linh này để khích lệ, dạy dỗ và khuyến
cáo.
Mục đích: Trong lúc viết thư này, Phi-e-rơ đã tuân thủ hai mệnh lệnh (hay
điều răn) đặc biệt do Chúa Giê-xu truyền phán với ông.
1. Khích lệ và thêm sức các anh em, LuLc 22:32
2. Chăn bầy chiên của Đức Chúa Trời, GiGa 21:15-17
Từ chìa khóa: Chịu khổ. Xuất hiện hơn 15 lần trong thư.
Câu chìa khóa: IPhi 1Pr 4:1
Chủ đề trọng tâm: Đắc thắng khổ nạn được nêu gương trong cuộc đời Chúa
Giê-xu.
Bảng tóm tắt: Lời chào thăm, IPhi 1Pr 1:1-2
I. Sự cứu rỗi vinh hiển:
Chương 1:
1. Sự trông cậy sống tập trung vào sự sống lại của Đấng Christ, IPhi 1Pr 1: 3
2. Cơ nghiệp không hư và không suy tàn, IPhi 1Pr 1:4
3. Một quyền phép Đức Chúa Trời khiến cho người tin Chúa được đắc thắng
sự khổ nạn.
a. bởi đức tin, IPhi 1Pr 1: 5
b. vui mừng trong những thử thách, IPhi 1Pr 1:6
c. tiến tới như vàng được tinh luyện trong lửa lúc Chúa Giê-xu hiện ra, IPhi

1Pr 1:7
d. trong tình thương và vui mừng khôn tả, IPhi 1Pr 1:8
4. Kế hoạch mầu nhiệm.
a. về sự cứu rỗi mà các đấng tiên tri đã tìm tòi suy xét, nói tiên tri về sự
thương khó của Chúa Giê-xu và vinh hiển được bộc lộ sau này một điều lạ
lùng đối với các thiên sứ, IPhi 1Pr 1:10-12
b. sự cứu rỗi ấy kêu gọi tự kiềm chế, vâng phục, không thuộc thế gian và
kính sợ Đức Chúa Trời của các tín đồ, IPhi 1Pr 1:13-17
c. sự cứu rỗi là vô giá, IPhi 1Pr 1: 18-19
d. được chọn trước buổi sáng thế, IPhi 1Pr 1:20-21
I I. Sự sống của tín đồ, trong ánh sáng của sự cứu rỗi vĩ đại.
Chương 1 (tiếp theo):
1. Được làm thanh sạch và sinh lại bằng chân lý vĩnh hằng, và bày tỏ lòng
yêu thương anh em, IPhi 1Pr 1:22-25
Chương 2:
2. Được giải phóng khỏi mọi sở thích xấu xa và đòi cho được sữa thiêng
liêng của Đạo (tức là Lời Đức Chúa Trời) để lớn lên, IPhi 1Pr 2:1-3
3. Trở nên những viên đá sống trong ngôi đền thuộc linh, trong đó Đấng
Christ là viên đá góc nhà, IPhi 1Pr 2:5-6
4. Xem Chúa là quí báu, Ngài bị từ chối và trở thành viên đá vấp chân đối
với kẻ không tin, IPhi 1Pr 2:7-8
I I I. Chức vụ và bổn phận của tín đồ.
Chương 2 (tiếp theo):
1. Đáng kính trọng và thánh khiết vì là dân sự của Đức Chúa Trời và phải
dâng lời ngợi khen lên Đấng Giải Cứu của họ, IPhi 1Pr 2:9-10
2. Như là người kiều ngụ, là khách đi đường, phải kiêng những dục vọng tội
lỗi, IPhi 1Pr 2:11
3. Bổn phận công dân và xã hội. Cách cư xử không chê trách được đối với
dân ngoại, vâng phục kẻ cầm quyền, nhân đó ngăn miệng sự phê phán thù
địch, IPhi 1Pr 2:12-15
4. Bổn phận của người công dân tốt, IPhi 1Pr 2:16-17
5. Bổn phận trong gia đình với đức tin.
a. Của tôi tớ là phải vâng phục và nhịn nhục, ngay cả khi bị nạn oan ức,
nhân đó làm đẹp lòng Đức Chúa Trời, IPhi 1Pr 2:18-20
b. Hãy nghĩ đến Đấng Christ, Đấng chịu khổ làm mẫu mực và Đấng gánh
thay tội lỗi, IPhi 1Pr 2:21-25
Chương 3:
c. Về các người vợ, cần thanh sạch và được trang sức với các ơn thuộc linh,
IPhi 1Pr 3:1-6
d. Về những người chồng, hãy ân cần chu đáo với vợ, IPhi 1Pr 3:7

e. Hết thảy mọi người hãy yêu thương, lòng đầy thương xót, thông cảm, nhã
nhặn và dung thứ, IPhi 1Pr 3:8-9
f. Cần ghi nhớ rằng sự trường thọ và lời cầu nguyện được khứng là dành cho
những ai gìn giữ môi miệng, xa lánh điều ác, làm điều lành và sống hòa bình
với mọi người, IPhi 1Pr 3:10-13
IV. Sự dạy dỗ và khích lệ đối với sự chịu khổ.
Chương 3 (tiếp theo):
1. Chịu khổ vì cớ công bình chính là nguyên cớ để vui mừng, không sợ sệt,
và cần kèm theo sự sẵn sàng minh chứng cho kinh nghiệm của Cơ Đốc nhân
và bởi một đời sống tốt, IPhi 1Pr 3:14-17
2. Gương của sự chịu khổ của Đấng Christ, công việc thuộc linh, được đề
cao, IPhi 1Pr 3:18-22
Chương 4:
3. Sự chịu thương khó hy sinh của Đấng Christ kêu gọi sự xả thân, hiến dâng
cho Đức Chúa Trời và từ bỏ mọi tư dục trước đây, IPhi 1Pr 4:1-3
4. Phần xen vào, những dạy dỗ về bổn phận sống đạo của Cơ Đốc nhân
nhằm để làm vinh hiển danh Đức Chúa Trời, IPhi 1Pr 4:7-11
5. Những thử thách thống khổ chớ lấy làm lạ và phải chịu đựng cách vui
mừng, IPhi 1Pr 4:12
6. Chịu khổ cùng với Đấng Christ và chịu khổ vì Đấng Christ, phải chịu
đựng cách vui mừng, vì biết rằng điều ấy dẫn đến thắng lợi thuộc linh, IPhi
1Pr 4:13-14
7. Đừng bao giờ phải chịu khổ vì là kẻ làm điều gian ác, nhưng một khi
được kêu gọi để chịu khổ như là Cơ Đốc nhân để làm vinh hiển Đức Chúa
Trời và phó thác linh hồn của chúng ta cho sự gìn giữ của Ngài, IPhi 1Pr
4:15-19
V. Những lời khuyên nhủ và cảnh cáo cuối cùng:
Chương 5:
1. Đối với các trưởng lão của Hội Thánh, về tinh thần để chăn giữ bầy chiên,
IPhi 1Pr 5:1-4
2. Đối với người trẻ cũng như người già, hãy khiêm nhường và tin cậy Chúa,
IPhi 1Pr 5:5-7
3. Những lời cảnh cáo đối với ma quỉ, IPhi 1Pr 5:8-9
4. Sự chúc phước và lời chào, IPhi 1Pr 5:10-14
Đấng Christ của Phi-e-rơ:
- Nguồn trông cậy, IPhi 1Pr 1:3
- Con chiên hy sinh làm của tế lễ, IPhi 1Pr 1:19
- Viên đá góc nhà, IPhi 1Pr 2:6
- Gương mẫu trọn vẹn, IPhi 1Pr 2:21
- Đấng chịu khổ lý tưởng, IPhi 1Pr 2:23

- Đấng gánh tội lỗi, IPhi 1Pr 2:24
- Người chăn linh hồn, IPhi 1Pr 2:25
- Chúa được đề cao, IPhi 1Pr 3:22
Bảy điều quí trọng trong thư tín của Phi-e-rơ:
- Những thử thách thống khổ, IPhi 1Pr 1:7
- Huyết Đấng Christ, IPhi 1Pr 1:19
- Hòn đá sống, IPhi 1Pr 2:4
- Chính bản thân Đấng Christ, IPhi 1Pr 2:6
- Nhu mì và yên lặng, IPhi 1Pr 3:4
- Đức tin của tín đồ, IIPhi 2Pr 1:1
- Những lời hứa của Đức Chúa Trời, IIPhi 2Pr 1:4
Dẫn nhập II Phi-e-rơ
Tác giả: Sứ đồ Phi-e-rơ, IIPhi 2Pr 1:1
Ngày tháng: Có lẽ được viết năm 60-70 SC.
Chủ đề trọng tâm: Một sự cảnh cáo các giáo sư giả và những kẻ nhạo báng.
Nhằm làm triệt tiêu những ảnh hưởng của giáo lý giả, Phi-e-rơ đã hết sức
nhấn mạnh đến Lời Đức Chúa Trời và việc chắc chắn phải làm trọn những
lời hứa của Đức Chúa Trời.
Câu chìa khóa: IIPhi 2Pr 3:1
Một sự đối chiếu: Giữa IITim và IIPhi .
Trong những thư tín nầy, mỗi tác giả nhắc đến một sự kiện là họ sắp qua đời,
IITi 2Tm 4:6; IIPhi 2Pr 1:14
Cả hai tác giả tiên đoán những thời kỳ nguy hại đối với Hội Thánh
a. Sự tràn lan của đạo dối, [dc IITi 3:13;; [dc 4:3;; [dc IIPhi 2:1;
[mt b. Sự đồi bại toàn thể của xã hội, [dc IITi 3:1-7;; [dc IIPhi 2:10-22;
[mt c. Sự bỏ đạo sắp diễn ra, [dc IITi 4:3-4;; [dc IIPhi 2:2,20-22;
[cd Bảng tóm tắt: Lời chào thăm, IIPhi 2Pr 1:1-2
I. Sự sống thuộc linh:
Chương 1:
1. Sự kêu gọi vào, IIPhi 2Pr 1:3
2. Được giữ chặt nhờ vào những lời hứa quý báu, IIPhi 2Pr 1:4
3. Bảy bước cần thiết trong sự phát triển và kết trái của sự sống thuộc linh,
IIPhi 2Pr 1:5-8
4. Số phận chung cuộc, IIPhi 2Pr 1:10-11
5. Lời nhắc nhở chia tay, IIPhi 2Pr 1:12-15
6. Kinh nghiệm vinh hiển, IIPhi 2Pr 1:16-18
7. Nguồn gốc từ Đức Chúa Trời của Kinh Thánh là quyền năng soi sáng của
Kinh Thánh, IIPhi 2Pr 1:19-21

II. Thầy giáo giả, cá tính đồi bại và giáo lý của chúng:
Chương 2:
1. Tà đạo và sự chối bỏ Chúa của họ, IIPhi 2Pr 2:1
2. Tính phổ biến của tà đạo, ảnh hưởng xấu xa, lòng tham và đạo đức giả,
IIPhi 2Pr 2:2-3
3. Sự phán xét thẳng tay của Đức Chúa Trời đối với những thiên sứ sa ngã,
con người trước nạn hồng thuỷ, Sô-đôm và Gô-mô-rơ là sự cảnh cáo đối với
việc không kính sợ Đức Chúa Trời, IIPhi 2Pr 2:4-6
4. Sự giải cứu của Đức Chúa Trời cho người công bình và cầm giữ kẻ ác chờ
đến sự phán xét sau nầy, IIPhi 2Pr 2:7-9
5. Mô tả thêm về các thầy giáo bỏ đạo, cá tính của họ, công việc cùng số
phận của họ.
a. lòng tư dục, cả gan tự đắc, ngạo mạn, và buông tuồng quá mức, IIPhi 2Pr
2:10-13
b. ảnh hưởng tai hại của họ và bỏ đạo vì cớ tham lam, IIPhi 2Pr 2:14-16
c. sự trống trải của họ, sự bất ổn và số phận của họ, IIPhi 2Pr 2:17
d. lời văn hoa hư đản của họ, cùng với đời sống dâm dục, hứa hẹn về tự do
của con người, nhưng kết cuộc lại là nô lệ cho sự hư nát, IIPhi 2Pr 2:18-19
e. sự bỏ đạo và sự băng hoại hoàn toàn của họ, IIPhi 2Pr 2:20-22
III. Những tiên đoán về kẻ nhạo báng, ngày Chúa tái lâm, và lời khuyên nhủ
hãy vững vàng trong đức tin.
Chương 3:
1. Mục đích của bức thư, IIPhi 2Pr 3:1-2
2. Sự khiêu khích của kẻ nhạo báng, IIPhi 2Pr 3-4
3. Sự dại dột của những kẻ khiêu khích.
a. vì không biết Kinh Thánh Cựu Ước, IIPhi 2Pr 3:5-6
b. về việc thế gian này được giữ lại để dành cho sự phán xét bằng lửa, IIPhi
2Pr 3:7
4. Giải thích về sự chậm trễ của Chúa.
a. chiều dài của ngày thuộc về Đức Chúa Trời, IIPhi 2Pr 3:8
b. sự thương xót của Đức Chúa Trời làm trì hoãn sự trừng phạt, IIPhi 2Pr 3:9
5. Ngày Chúa tái lâm chắc chắn phải đến, IIPhi 2Pr 3:10
6. Thái độ và sự trông cậy của người tin Chúa, IIPhi 2Pr 3:11-14
7. Lời khen ngợi của thư tín Phi-e-rơ và lời cảnh cáo đối với việc bóp méo
Kinh Thánh, IIPhi 2Pr 3:15-16
8. Lời khuyên nhủ hãy vững vàng và tăng trưởng thuộc linh, IIPhi 2Pr 3:1718
Dẫn nhập I Giăng

Tác giả: Sứ đồ Giăng.
Địa điểm và thời gian: Không biết chắc, có lẽ được viết tại Ê-phê-sô gần
cuối thế kỷ thứ I.
Độc giả của thư: Hiển nhiên là gửi cho giáo hội nói chung bởi thư không có
lời chào thăm, lời tạm biệt, hay những ám chỉ cá nhân khác# vì vậy thư này
là loại thư chung.
Trong thư tín đồ được gọi bằng những danh hiệu trìu mến như “con cái bé
mọn”, IGi1Ga 2:1,18,28; 3:7,18; 4:4; 5:21 và “người bạn yêu dấu”, IGi1Ga
3:2,21; 4:1,7,11
Mục đích: Tác giả nhắc bốn lý do để viết thư này đến các tín đồ: nhằm tăng
thêm niềm vui mừng của họ, IGi1Ga 1:4 nhằm gìn giữ họ khỏi tội lỗi,
IGi1Ga 2:1 nhằm cảnh cáo họ về các giáo sư giả, IGi1Ga 2:26 nhằm củng cố
đức tin của họ trong Đấng Christ và cam đoan với họ về sự sống đời đời,
IGi1Ga 5:13
Từ chìa khóa: Tình huynh đệ, hiểu biết, yêu thương.
Chủ đề trọng tâm: Đức Chúa Trời là sự sống, sự sáng, công bình và yêu
thương. Cá tính của Ngài kêu gọi cuộc sống thánh khiết và tình yêu thương
anh em của tín đồ.
Đặc điểm nổi bật: Thư này có thể đặt tên là “thư của sự chắc chắn.” Thư mở
đầu bằng một lời phát biểu khẳng định về sự hiểu biết Chúa của chính bản
thân tác giả, IGi1Ga 1:1-3
Thư nhấn mạnh đến sự hiểu biết thuộc linh mà tín đồ có thể nhận được. Từ
ngữ “biết” hoặc các từ tương đương xuất hiện hơn 30 lần.
Bảy ví dụ quan trọng mà từ ngữ “chúng ta (hay các anh em) biết, xuất hiện:
Người tin Chúa biết:
1. Đó là một sự sống công bình nói lên sự sinh lại, IGi1Ga 2:29; 5:18
2. Rằng chúng ta sẽ giống như Đấng Christ lúc Ngài tái lâm, IGi1Ga 3:2
3. Rằng Đấng Christ đã đến để cất đi tội lỗi của chúng ta, IGi1Ga 3:5
4. Rằng tình thương anh em nói rằng chúng ta đã vượt khỏi sự chết vào sự
sống, IGi1Ga 3:14
5. Rằng Ngài ngự trong chúng ta với sự ấn chứng của Thánh Linh, IGi1Ga
3:24
6. Rằng chúng ta có sự sống đời đời, IGi1Ga 5:13
7. Rằng Ngài nghe lời cầu xin của chúng ta, IGi1Ga 5:15
Bảng tóm tắt:
I.Đức Chúa Trời là sự sống và sự sáng
Chương 1:
1. Được bày tỏ trong Đấng Christ, IGi1Ga 1:1-2
2. Mục đích của bức thư, IGi1Ga 1:3-4
3. Điều kiện để giao hảo với Đức Chúa Trời

a. đi trong sự sáng, IGi1Ga 1:5-7
b. xưng nhận tội lỗi, IGi1Ga 1:8-10
Chương 2:
c. Tiếp nhận Chúa Giê-xu như là Đấng cầu thay và của lễ chuộc tội, IGi1Ga
2:1-2
4. Sự vâng phục chính là sự kiểm tra về sự giao hảo.
a. theo gương Chúa Giê-xu, IGi1Ga 2:3-6
b. vâng phục điều răn mới về tình thương là ở trong sự sáng, IGi1Ga 2:7-11
5. Một sứ điệp gửi đến các tầng lớp tín đồ khác nhau về sự hiểu biết thuộc
linh và thắng được ma quỉ, IGi1Ga 2:12-14
6. Lời cảnh cáo đối với việc ham mến thế gian, IGi1Ga 2:15-17
7. Sự trổi dậy của những kẻ chống lại Đấng Christ, cùng với sự bỏ đạo và
chối Chúa, chính là dấu hiệu của thời kỳ sau rốt, IGi1Ga 2:18-23
8. Một lời khuyên nhủ phải ở trong lẽ thật, với sự tin chắc rằng sự xức dầu
từ nơi Chúa sẽ dạy đủ mọi việc, IGi1Ga 2:24-27
9. Sự ở trong Chúa sẽ tạo ra sự tin cậy và sự công bình chính là dấu hiệu của
sự sinh ra mới mẻ bởi Chúa, IGi1Ga 2:28-29
II. Đức Chúa Trời là tình thương công bình.
Chương 3:
1. Tình thương của Ngài được bày tỏ trong việc tôn cao các tín đồ lên địa vị
con cái Đức Chúa Trời, IGi1Ga 3:1-2
2. Cuộc sống công bình chính là cách thử nghiệm phận làm con Đức Chúa
Trời, IGi1Ga 3:3-10
3. Tình thương anh em chính là dấu hiệu nổi bật của sự sống thuộc linh,
IGi1Ga 3:11-15
4. Bản thân tình thương được bày tỏ qua sự hy sinh, chớ không phải chỉ
bằng môi miệng, IGi1Ga 3:16-18
5. Kết quả của tình thương là sự vững chắc và lời cầu nguyện được nhậm,
IGi1Ga 3:19-22
6. Đức tin và tình thương anh em thì rất cần thiết đối với sự giao hảo với
Chúa, IGi1Ga 3:23-24
Chương 4:
7. Phần xen vào. Tinh thần của lẽ thật và những sai lầm của thế gian cùng
với phương pháp thử nghiệm chúng.
a. thái độ của họ đối với sự hóa thân thành người của Đấng Christ quyết định
nguồn gốc và cá tính của họ, IGi1Ga 4:1-3
b. những dấu hiệu thế gian của kẻ chống lại Đấng Christ, IGi1Ga 4:4-6
8. Tình thương Thiên Chúa
a. Trong lòng con người nói lên sự sinh lại, IGi1Ga 4:7
b.Được bày tỏ trong sự hóa thân thành người và công việc hy sinh của Đấng

Christ, IGi1Ga 4:8-10
c. Ơ trong tín đồ tạo ra tình thương anh em, và hà hơi chứng minh về Đấng
Christ như là Cứu Chúa của nhân loại, IGi1Ga 4:11-16
d. Khi được làm trọn, làm vững chắc và cất bỏ mọi sợ hãi, IGi1Ga 4:17-18
e. Khơi dậy tình thương đối với Đức Chúa Trời và với anh em, IGi1Ga 4:1921
III. Đức tin và tình thương. Những nguyên lý để đắc thắng trong cuộc xung
đột với thế gian và các quyền lực ma quỉ.
Chương 5:
1. Sự sống vâng phục bằng tình thương, IGi1Ga 5:1-3
2. Thắng hơn thế gian, IGi1Ga 5:4-5
3. Sự làm chứng của Đức Chúa Trời ở dưới đất và trên trời, IGi1Ga 5:6-9
4. Sự chứng nhận của Thánh Linh, IGi1Ga 5:10
5. Sự ban cho sự sống đời đời thông qua Con Đức Chúa Trời, IGi1Ga 5:1113
6. Sự chắc chắn của lời cầu nguyện được nhậm, IGi1Ga 5:14-15
7. Cách đối xử với một anh em phạm tội, IGi1Ga 5:16
8. Bốn phần hiểu biết của tín đồ, IGi1Ga 5:18-20
Dẫn nhập II Giăng
Tác giả: Sứ đồ Giăng.
Độc giả: Gửi “bà được chọn cùng con cái bà”. Một số ngươi nghĩ rằng bức
thư này nói đến một phụ nữ Cơ Đốc nhân cùng gia đình và sinh sống tại Êphê-sô, một số người khác lại nghĩ rằng thư được gửi cho giáo hội và các
thành viên của giáo hội được nhân cách hóa.
Nếu giả thiết thứ nhất là đúng thì sách này là sách duy nhất trong Tân Ước
được gửi cho một phụ nữ.
Những từ nhấn mạnh: Tình yêu thương, xuất hiện 4 lần, lẽ thật, 5 lần.
Mục đích: Bức thư hiển nhiên được viết để thức tỉnh những người bạn đối
với tà giáo và việc kết giao với các giáo sư giả, IIGi 2Ga 7-11
Bảng tóm tắt: Chủ đề chính, một bài giảng về lẽ thật và các sự giả nguỵ.
I. Lẽ thật Đức Chúa Trời có liên quan với tín đồ.
a. Liên kết họ lại trong tình thương anh em, IIGi 2Ga 1:1
b. Ở trong họ đời đời, IIGi 2Ga 1:2
c. Cùng với tình thương, được biểu hiện trong tinh thần của lời chào thăm
của họ, IIGi 2Ga 1:3
d. Sự vâng phục bằng tình thương, đường lối mà họ bước theo, IIGi 2Ga 4-6
II. Những sai lầm thuộc thế gian.
a. Có nhiều kẻ dỗ dành, IIGi 2Ga 1:7

b. Phủ nhận sự hóa thành xác thịt của Đức Chúa Giê-xu Christ, IIGi 2Ga 1:9
c. Phải cảnh giác đối với họ, IIGi 2Ga 1:8
d. Tách khỏi sự dạy dỗ của Đức Chúa Giê-xu Christ, IIGi 2Ga 1:9
e. Nguy hiểm của sự giao hảo với kẻ đi theo thế gian, IIGi 2Ga 1:10-11
III. Những lời kết luận, IIGi 2Ga 12-13
Dẫn nhập III Giăng
Tác giả: Sứ đồ Giăng.
Thư gửi cho: Gai-út, IIIGi 3Ga 1:1
Tư tưởng chủ đạo: Lòng mến khách của Cơ Đốc nhân.
Bảng tóm tắt: Vấn đề chủ đề xoay quanh ba nhân vật: Gai-út, Đi-ô-trép và
Đê-mê-triu và một số các nhà truyền giảng lưu hành.
I. Gai-út, người nhận thư.
1. Sự nhận dạng. Việc này khó xác định một cách chắc chắn. Có nhiều người
mang tên này được đề cập trong Tân Ước. Một người được Phao-lô nói đến
trong RoRm 16:23 có lẽ cũng là người mà Giăng đề cập đến, nhưng cũng
không chắc chắn.
2. Đặc điểm của:
a. xứng đáng với lòng yêu mến của Giăng, IIIGi 3Ga 1:1-2
b. một Cơ Đốc nhân trước sau như một, bước đi trong chân lý, IIIGi 3Ga
1:3-4
c. được làm chứng về lòng mến khách, IIIGi 3Ga 1:5-6
II. Đi-ô-trép, rõ ràng là một lãnh đạo của Hội Thánh.
a. Tự cho mình là trung tâm và cuồng tín, IIIGi 3Ga 1:9
b. Ra vẻ ta đây là chúa tể của vườn nho, nhưng sẽ bị sứ đồ quở trách khi ông
đến nơi, IIIGi 3Ga 10
III. Đê-mê-triu, tương phản với Đi-ô-trép, một Cơ Đốc nhân mẫu mực với
tiếng tốt, IIIGi 3Ga 12
IV. Những nhà truyền giảng Phúc Âm.
a. Những người hầu việc Chúa lưu hành không nhận thù lao vì cớ Chúa Giêxu, IIIGi 3Ga 1:7
b. Xứng đáng nhận được sự đón tiếp nồng hiệt và lòng mến khách, nhưng lại
bị một Đi-ô-trép ngạo mạn xua đuổi gay gắt, IIIGi 3Ga 1:8-11
V. Lời chào kết thúc, IIIGi 3Ga 1:13-14
Dẫn nhập Giu-đe
Tác giả: Có lẽ là Giu-đe, anh em của Gia-cơ. Nếu quả đúng như vậy thì Giu-

đe rất có thể đã là người em trai của Chúa chúng ta# so sánh Mac Mc 6:3;
GaGl 1:19
Lúc đầu những em trai của Chúa không tin Ngài, GiGa 7:5 nhưng sau khi
Chúa Giê-xu phục sinh, họ trở thành môn đệ của Ngài, Cong Cv 1:14. Có
thể là Giu-đe, bởi cớ không tin lúc ban đầu, cảm thấy rằng mình không xứng
đáng để ký tên như là người em trai của Chúa. Cho nên trong thư ông đã tự
xưng mình chỉ là tôi tớ, Giu Gd 1:1
Mục đích chính: Rõ ràng là lá thư được viết nhằm để cảnh cáo Hội Thánh
đối với các giáo sư vô đạo đức và báo động tà giáo đang làm nguy hại đến
đức tin của tín đồ.
Câu chìa khóa: Giu Gd 1:3-4
Bảng tóm tắt: 1. Lơi chào, Giu Gd 1:1-2
2. Duyên cớ để viết thư này, và một lời khuyên nhủ về việc bảo vệ đức tin
bởi cớ sự xâm nhập của các giáo sư vô đạo đức và thuộc tà giáo, Giu Gd
1:3-4
3. Những cảnh cáo từ việc Đức Chúa Trời đối xử với tội nhân trong quá khứ,
Giu Gd 3-4
a. trừng phạt Y-sơ-ra-ên vì cớ không tin, Giu Gd 1:5
b. số phận của các thiên sứ sa ngã và người Sô-đôm đồi bại, Giu Gd 1:6-7
4. Đặc trưng của những giáo sư không kính sợ Đức Chúa Trời được mô tả,
và một tai hoạ được loan báo dành cho họ, Giu Gd 8-13
5. Về phần lời tiên tri
a. của Hê-nóc, ông báo trước số phận của kẻ không kính sợ Chúa, Giu Gd
1:14-16
b. của các sứ đồ, về kẻ nhạo báng trong thời kỳ sau rốt, Giu Gd 1:17-19
6. Tóm tắt về bổn phận Cơ Đốc nhân.
a. tăng trưởng thuộc linh và năng cầu nguyện, Giu Gd 1:20
b. yêu mến Đức Chúa Trời và tin cậy Đấng Christ trong sự cứu rỗi đời đời,
Giu Gd 1:21
c. hoạt động giành lấy linh hồn, Giu Gd 24-28
Dẫn nhập Khải huyền
Tác giả: Sứ đồ Giăng.
Địa điểm: Có lẽ là đảo Bát-mô, phía ngoài bờ tây của Tiểu Á Tế Á, tại đó
Giăng bị đày ải “vì cớ Lời Đức Chúa Trời và sự làm chứng cho Giê-xu
Christ.”
Ngày tháng: Không chắc chắn# theo các ý kiến truyền khẩu thì vào khoảng
năm 96 SC.
Tính đáng tin cậy của sách: Sách được tuyên bố là khải thị của Đức Chúa

Giê-xu Christ, KhKh 1:1
Các phương pháp diễn giải: Những phương pháp hết sức khác nhau và
thường mang tính tưởng tượng. Hàng trăm quyển sách được viết về sách
Khải huyền này.
Có 4 trường phái chính về cách suy tưởng trong việc giải quyết vấn đề chủ
đề.
1. Trường phái quá khứ: Họ tin rằng những lời tiên tri của sách Khải huyền
đã được làm trọn.
2. Trường phái tương lai: Tin rằng sách gồm sự tiên đoán về lịch sử vũ trụ.
3. Trường phái lịch sử: Coi các sự kiện trong sách như là một sự miêu tả
tượng trưng lịch sử giáo hội, từ thời Tân Ước cho đến cuối thời đại.
4. Trường phái dung hòa hay trường phái lý tưởng: Nhấn mạnh đến các
nguyên tắc thuộc linh của sách và không có ý định giáo lý hoá các chi tiết
của những khải tượng huyền bí (hay mầu nhiệm) hơn. Trường phái này tin
rằng có 3 dạng đoạn viết trong sách Khải huyền:
Những đoạn rất rõ ràng về mặt dạy dỗ thuộc linh, những đoạn khá huyền bí,
và vẫn chứa đựng một phần tử của chân lý mang tính dạy dỗ# và những
đoạn giấu kín mà sự hiểu biết hiện nay của chúng ta không thể diễn giải một
cách xác thực rõ ràng.
Có lẽ một vài lời tiên tri bao gồm hai phần tử, phần tử gần và phần tử xa.
Phần tử gần đặc biệt nhắc đến những sự kiện trong thời đại của Giăng hoặc
ngay sau đó# phần tử xa thì nói về những sự kiện trong những thời đại sắp
tới.
Những điểm đặc thù:
1. Sách Khải huyền là sách duy nhất trong Kinh Thánh bao gồm một lời hứa
đặc biệt dành cho những độc giả vâng phục (KhKh 1:3) và đồng thời tuyên
bố một sự rủa sả giáng trên những ai sửa chữa nội dung của sách, KhKh
22:18-19
2. Số 7 là con số nổi bật trong sách: Bảy chân đèn, bảy Hội Thánh, bảy ấn,
bảy thiên sứ, bảy loa, bảy tiếng sấm sét, bảy bát, bảy linh, bảy ngôi sao,vv…
và bảy “không có gì hơn nữa.”.
3. Những chương kết thúc của sách bao gồm một sự tương phản nổi bật với
những chương mở đầu của Sáng thế Ký.
Sáng thế Ký nói về sự dựng nên mặt trời, sự thâm nhập của tội lỗi vào thế
gian, sự tuyên bố về sự rủa sả, sự thắng lợi của sa-tan, và sự cấm ăn “cây sự
sống”.
Sách Khải huyền kể về một nơi mà tại đó không cần mặt trời, tại đó tội lỗi bị
trục xuất, tại đó sự rủa sả đã đi khỏi. Sa-tan bị lật đổ, và sự cho phép đối với
“cây sự sống.”
Kế hoạch nghiên cứu: Mặc dù sách này thường bị bỏ qua vì có đặc tính

huyền bí của sách, có nhiều quan điểm sẽ mang lại sự nghiên cứu có ích lợi
mà không cần đến sự cố gắng diễn giải một cách giáo điều hay áp đặt. Nếu
sách được viết bằng mật mã, chúng ta sẽ không dám xưng mình đã khám
phá một chìa khoá có thể tiết lộ sự mầu nhiệm trong sách.
Chủ đề gợi ý: Sự mâu thuẫn thuộc linh và đạo đức của các thời đại.
Nhân vật trọng tâm: Chiên Con, cuối cùng là kẻ chiến thắng mọi quyền lực
của Sa-tan. Từ Chiên Con được nhắc đến khoảng 30 lần.
Những sự kiện thế kỷ: Có nhiều sự kiện như vậy trong sách, chúng tôi gợi ý
hai sự kiện cần được ghi nhớ để nghiên cứu các khải tượng.
1. Sự ra đời của đứa bé trai, được nhiều người xem như là sự hoá thân thành
người của Chúa Giê-xu Christ, KhKh 12:1-18
2. Tiếng kèn thứ bảy (KhKh 11:15) báo tin sự thắng lợi trên khắp cõi thế
gian của Ngài.
Bảng tóm tắt: Sách có thể được chia ra một loạt những khải tượng, một vài
khải tượng được che giấu một phần hoặc toàn bộ, những khải tượng khác thì
khá rõ ràng trong sự dạy dỗ. Không phải lúc nào ta cũng có thể bảo rằng tại
điểm nào thì một khải tượng kết thúc và một khải tượng khác bắt đầu, nhưng
để cho tiện, chúng ta sẽ nghiên cứu chúng dưới những con số khác nhau, tùy
thuộc vào quan điểm của người nghiên cứu.
Chương 1:
1. Giới thiệu và lời hứa dành cho những độc giả vâng phục, KhKh 1:1-3:22
2. Lời chào của Giăng và của Chúa Giê-xu Christ vinh hiển, KhKh 4:1-8:13
Khải tượng 1:
1. Của Chúa Giê-xu Christ vinh hiển, KhKh 1:9-16
2. Mệnh lệnh của Ngài bảo phải viết cho bảy Hội Thánh, KhKh 1:19
3. Sứ điệp gửi các Hội Thánh, KhKh 2:1-3:22
Chương 2:
a. Gửi Ê-phê-sô, Hội Thánh mất đi sự sốt sắng, kiên trì hầu việc, mạnh mẽ
trong kỷ cương, nhưng tình thương trở nên nguội lạnh, KhKh 2:1-7
b. Gửi Si-miệc-nơ, Hội Thánh nghèo nhưng thật sự là giàu, phải đương đầu
với một thời kỳ bắt bớ, KhKh 2:8-11
c. Gửi Bẹt-găm, Hội Thánh trong môi trường của ác quỷ, tuy vững vàng
nhưng bị dị giáo ảnh hưởng, KhKh 2:12-17
d. Gửi Thi-a-ti-rơ, Hội Thánh làm việc lành, nhưng lại dung nhượng tiên tri
giả, KhKh 2:18-19
Chương 3:
e. Gửi Sạt-đe, Hội Thánh đang chết, KhKh 3:1-6
f. Gửi Phi-la-đen-phi, Hội Thánh yếu đuối nhưng trung tín, KhKh 3:7-13
g. Gửi Lao-đi-xê, Hội Thánh hâm hẩm và tự mãn, khoe khoang của cải của
Hội Thánh nhưng thật ra thì khổ sở, nghèo ngặt và mù lòa, KhKh 3:14-22

Ý tưởng tái hiện, những lời hứa dành cho ai khắc phục.
Khải tượng II : Che giấu một phần
Chương 4:
1. Khải tượng về Đức Chúa Trời ngự trên ngôi báu trên trời, Đấng Sáng Tạo
vũ trụ, nhận sự thờ phượng của mọi sinh vật và của hai mươi bốn vị trưởng
lão, KhKh 4:1-11
Chương 5:
2. Việc mở ra bảy cuộn sách được đóng ấn bởi Chiên Con, việc hát bài ca
mới và sự thờ phượng toàn thế giới đối với Chiên Con.
Sự diễn giải gợi ý: chỉ có Đấng Christ mới có thể tiết lộ các mầu nhiệm sâu
xa nhất của Đức Chúa Trời.
Chương 6:
3. Việc mở ra 6 cái ấn (được che giấu), KhKh 6:1-17 Có nhiều cách diễn
giải khác nhau rất nhiều# không đáng để thêm vào những cách diễn giải
khác. Một bài học rõ ràng, KhKh 6:9-11 là người tin Chúa được thử nghiệm
qua sự chậm trễ của Đức Chúa Trời.
Khải tượng III: Che giấu phần nào.
Chương 7:
Ý tưởng gợi ý, sự che chở của Đức Chúa Trời đối với dân sự của Ngài,
KhKh 7:1-8
Khải tượng IV:
Chương 7: Những sự bảo đảm làm yên ủi.
a. vô số những con người đáng kính, KhKh 7:9-10
b. phương tiện mà nhờ đó họ được xuất hiện trước mặt Đức Chúa Trời,
KhKh 7:13-15
c. những hoạt động của họ và niềm vui đời đời, KhKh 7:15-17
Khải tượng V: Che giấu phần nào.
Chương 8:
Sự kiện trọng yếu, việc mở dấu ấn thứ bảy, trên trời yên lặng, KhKh 8:1
Sự giải thích có thể được. Mọi âm nhạc và tiếng của thiên sứ trở nên thầm
lặng bởi sự kiện là, trong thời kỳ của dấu ấn thứ bảy, Đức Chúa Giê-xu
Christ phải ra đi để làm sứ mệnh trên đất. Điều này không hẳn chỉ là sự
tưởng tượng. Sự trọn đủ về mặt thời gian đã sắp đến, KhKh 10:6. Nếu cách
diễn giải này là đúng, KhKh 8:8, chúng ta đang ở ngọn nguồn của kế hoạch
cứu rỗi của Đức Chúa Trời, và chúng ta sẽ thấy được những sự kiện nhắm
vào sự ra đời của con trai trong KhKh 12:1-18
Trong KhKh 8:3-4 ý tưởng dường như là lời cầu nguyện của các thánh đồ
đang lay lên tới Đức Chúa Trời để cầu xin vương quốc của Đấng Mê-si-a
được đến.
Chương 9:

Rồi tiếp theo một phần được che giấu của khải tượng, việc thổi 6 cái loa,
KhKh 8:1-9:21, hiển nhiên là loan báo sự phán xét sắp xảy đến.
Chương 10 và 11:
Khải tượng VI:
Che giấu phần nào. Chúng ta chẳng có thể nói gì hơn là các sự kiện dường
như đang di chuyển hướng về sự làm trọn kế hoạch của Đức Chúa Trời.
Điều này được nêu lên bởi sự loan báo của thiên sứ dũng mãnh (KhKh 10:57) rằng chẳng còn sự chậm trễ nào nữa, và tin lành do các tiên tri rao truyền
sắp được làm trọn.
Trong nhiều ý kiến khác nhau như vậy, việc đưa ra lời diễn giải cho cuộn
sách nhỏ trong chương 10 và cho hai nhân chứng trong chương 11 quả là
điều nguy hiểm. Bởi vì hai sự kiện này xảy ra ngay trước khi đứa bé trai ra
đời trong chương 12, các sự kiện này có thể liên quan đến thời kỳ tiên tri
trước khi Đấng Christ giáng sinh.
Có lẽ chương 12-20 bao gồm những khải tượng được che giấu phần nào với
sự xung đột dữ dội với Đấng Mê-si-a.
Khải tượng VII:
Chương 12 & 13:
Sự kiện vĩ đại của kỷ nguyên. Sự ra đời đứa bé trai, Đấng Christ, và những
quyền lực sa-tan cũng được bày tỏ cùng lúc nhằm để tiêu diệt Ngài.
Việc biện minh quan điểm này chính là ở chỗ trong thời gian Ngài sống dưới
dất thì các quyền lực tối tăm được hoạt động một cách điên cuồng. Chú ý
đến ý đồ của Hê-rốt nhằm tiêu diệt em bé Giê-xu, vô số trường hợp quỷ ám,
và sự chống đối đầy ác ý để đưa đến một kết cục là Chúa Giê-xu bị đóng
đinh.
Ở đây chúng tôi không đưa ra cách diễn giải chi tiết về các điều mầu nhiệm,
nhưng xin độc giả chú ý đến những vũ khí thuộc linh để có được sự thắng
lợi, KhKh 12:11
Khải tượng VIII: Che giấu phần nào.
Chương 14:
Không cần sự diễn giải gượng ép, chúng ta cũng có thể xem như chương này
là một bảng tóm tắt mang tính chất tiên tri về sự xung đột sắp diễn ra giữa
Chiên Con và các kẻ thù của Ngài, KhKh 14:1-13
Nếu quan điểm này được chấp nhận, trong năm câu đầu tiên 144.000 đại
diện cho các tín đồ xuất chúng của chế độ Cơ Đốc cổ đại# có lẽ nói về việc
mở ra hoạt động truyền giáo toàn cầu, KhKh 14:6-7 là lời loan báo sơ bộ về
thắng lợi tối hậu, KhKh 14:8-11
Nói về phước lành của các tín đồ quá cố KhKh 14:12-13
Khải tượng IX: Che giấu phần nào.
Chương 14:

Mùa gặt và mùa hái nho, KhKh 14:16-20
Khải tượng X: Che giấu phần nào.
Chương 15:
1. Những người chiến thắng lúc ban sơ và bài hát của họ, KhKh 15:1-4
2. Bảy thiên sứ và những cái chén vàng, KhKh 15:5-8
Chương 16:
Việc đổ 7 bát thạnh nộ, KhKh 16:1-21
Khải tượng XI: Che giấu
Chương 17,18:
Số phận của Ba-by-lôn, thành phố điếm đàng, và những kẻ thù của Chiên
Con mà Ngài sẽ đánh bại.
Khải tượng XII:
Chương 19:
1. Ban hợp xướng Ha-lê-lu-gia trên trời mừng thắng lợi thuộc linh, KhKh
19:1-6
2. Hôn lễ của Chiên Con, KhKh 19:7-9
Khải tượng XIII: 1. Đấng Christ, Đấng chinh phục thuộc linh, cưỡi ngựa
trắng, đánh các nước bằng ngọn gươm thuộc linh, KhKh 19:11-16
2. Che giấu phần nào. Con thú và tiên tri giả cùng các đồng minh của họ bị
Đấng Christ đánh bại.
Khải tượng XIV: Che giấu phần nào
Chương 20:
1. Trói buộc Sa-tan, KhKh 20:1-3
2. Sự phục sinh đầu tiên, KhKh 20:4-6
3. Sa-tan được phóng thích, và các hoạt động gian tà của nó, KhKh 20:7-9
4. Số phận của Sa-tan, con thú và tiên tri giả, KhKh 20:10
5. Phán xét cuối cùng, KhKh 20:11-15
Khải tượng XV:
Chương 21-22. Trời mới đất mới. Thành phố Thánh, hình bóng của Hội
Thánh, tân nương của Chiên Con.
Chương 21. Các đặc trưng về: Có nguồn gốc từ trời, KhKh 21:2 chói sáng,
KhKh 21:11 biệt riêng và được che chở, KhKh 21:12 có thể vào được,
KhKh 21:13 nền tảng vững chắc, KhKh 21:14 không thể lay chuyển, KhKh
21:16 được trang trí đẹp, KhKh 21:18-21 có một đền thờ thuộc linh, KhKh
21:22 được chiếu sáng bởi Đức Chúa Trời, KhKh 21:23-25 vinh hiển, KhKh
21:26 không bị ô uế, KhKh 21:27
Chương 22: Thiên đàng được khôi phục. Những ký hiệu để phân biệt: dòng
sông sự sống, KhKh 22:1 cây sự sống, KhKh 22:2 cất bỏ sự rủa sả, KhKh
22:3 khải tượng phước lành và dấu của Đức Chúa Trời trên thánh đồ, KhKh
22:4 ngày vĩnh cửu và sự trị vì của các thánh đồ.

Những dạy dỗ cuối cùng, đáng tin cậy và có thật, KhKh 22:6 nhấn mạnh đến
sự trở lại gần kề của Chúa, KhKh 22:7 chỉ có Đức Chúa Trời là được thờ
phượng, KhKh 22:8-9 cá tính có xu hướng vĩnh cửu và cuối cùng, KhKh
22:11 lời hứa cuối cùng, KhKh 22:14 lời mời cuối cùng, KhKh 22:17 lời
cảnh cáo cuối cùng, KhKh 22:18-19
Chúc phước và cầu nguyện, KhKh 22:21

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful