P. 1
chinh+sach+co+tuc

chinh+sach+co+tuc

|Views: 478|Likes:
Được xuất bản bởithuyduong122

More info:

Published by: thuyduong122 on Oct 07, 2010
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

05/28/2013

pdf

text

original

Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp

Sự cần thiết của chính sách cổ tức

Tại sao phải nghiên cứu chính sách cổ tức? Nếu bạn là người ra quyết định tỉ lệ chi trả cổ tức, thì vấn đề bạn quan tâm nhất sẽ là gì? Chắc chắn điều bạn quan tâm sẽ là, liệu chính sách cổ tức mà bạn sắp quyết định có ảnh hưởng đến giá trị thị trường của công ty không? Trong tài chính doanh nghiệp có 3 quyết định cơ bản: quyết định đầu tư, quyết định tàitrợ, và quyết định chi trả cổ tức. Cả ba quyết định trên đều phải nhất quán với mục tiêunhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.Ta cần phải thấy rằng, các quyết định này liên quan với nhau theo một cách nào đó. Thí dụ, các đầu tư của một doanh nghiệp ấn định mức lợi nhuận tương lai và tiềm năngcổ tức tương lai; cấu trúc vốn ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn, và đến lượt mình,chi phí sử dụng vốn ấn định một phần đến số cơ hội đầu tư có thể chấp nhận được; vàchính sách cổ tức ảnh hưởng đến số lượng vốn cổ phần thường trong cấu trúc vốn củamột doanh nghiệp (qua lợi nhuận giữ lại), và mở rộng ra, ảnh hưởng đến chi phí sửdụng vốn. Khi lập các quyết

Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp

định tương quan lẫn nhau này, mục tiêu là tối đa hóa tàisản của cổ đông. Nhưng nếu chỉ xem xét 1 cách cô lập thì chính sách cổ tức có tác động thế nào đến giátrị doanh nghiệp? Một doanh nghiệp lựa chọn một chính sách cổ tức dựa vào đâu? Có chính sách nào tối ưu cho tất cả các doanh nghiệp? Trên thực tế các doanh nghiệplựa chọn chính sách cổ tức nào? Những chính sách cổ tức đó cónhất quán với mục tiêu tối đa hóa tài sản của cổ đông? Trong giai đoạn khó khăn cáccông ty có thường cắt giảm cổ tức không?

Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp

Chính sách cổ tức không có một công thức chung cho moị doanh nghiệp

Trước khi khảo sát khía cạnh mang tính lý thuyết của chính sách cổ tức, chúng ta sẽ lướt nhanh qua các vấn đề có tính chiến lược và pháp lý của chính sách này. Qua đó chúng ta sẽ có được một kết luận sơ bộ là, không hề tồn tại cái gọi chiến lược tối ưu cho chính sách cổ tức mà phải tùy từng trường hợp cụ thể để ra các quyết định cụ

thể.

Khía cạnh mang tính chiến lược Giả dụ rằng hiện nay công ty của bạn đang có một cơ hội đầu tư tốt, vấn đề nằm ở chỗ nên tài trợ cho dự án này bằng nguồn nào đây? Giả dụ rằng lượng vốn cần thiết để tài trợ cho dự án này vượt quá khả năng đi vay của công ty bạn, do đó, buộc công ty của bạn phải huy động đến nguồn vốn chủ sở hữu nếu không muốn bỏ qua cơ hội đầu tư đầy triển vọng này. Vấn đề là nên chọn lựa nguồn vốn chủ sở hữu nào: lợi nhuận giữ lại – giới hạn việc trả cổ tức hay tiếp tục trả cổ tức ở mức cao và phát hành cổ phiếu mới.

khi đó.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Nếu sử dụng lợi nhuận giữ lại và hạn chế việc trả cổ tức. Ngoài ra. công ty nên chọn phương án nào? Quả thật điều này không đơn giản. .Từ đó làm giảm giá trị thị trường cũa cổ phiếu. chính sách này sẽ làm nãn lòng những nhà đầu tư mà mối quan tâm hàng đầu của họ là thu nhập từ cổ tức chứ không phải từ lợi vốn do tăng giá cổ phiếu trong tương lai. Như vậy. sẽ bán cổ phiếu của công ty mà họ đang nắm giữ. điều này mâu thuẩn với mục tiêu tối hậu mà công ty đeo đuổi là tối đa hoá sự giàu có của các cổ đông. quỹ tương hổ. thường là các định chế tài chính như quỹ hưu bỗng. công ty bảo hiểm. những nhà đầu tư này. vấn đề là tùy từng trường hợp cụ thể mà chọn phương án mang lại lợi ích cao nhất. việc cổ phiếu công ty giảm giá do các nhà đầu tư bán đi cổ phiếu mà họ đang nắm giữ sẽ đặt công ty trước một tình huống tồi tệ là bị đe dọa thao túng túng mua . Phương án nào cũng có cái giá của nó. Còn nếu tiếp tục duy trì việc trả cổ tức ở mức cao và phát hành cổ phiếu mới để huy động vốn tài trợ cho dự án thì công ty sẽ phải đối diện với các vấn đề sau: tốn kém phát sinh do chi phí phát hành cổ phiếu mới (trung bình bằng 15% tổng giá trị phát hành) và quyền kiểm soát của cổ đông hiện hành có thể bị đe dọa.

Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Khía cạnh mang tính pháp lý Có phải nhà quản trị có toàn quyền tự do trong việc đưa ra các quyết định liên quan đến chính sách cổ tức không? Câu trả lời là không. người lao động cũng phải gánh chịu rủi ro (mặc dù thấp hơn các cổ đông) và trái quyền của họ trước tài sản của công ty cao hơn các cổ đông. vì hệ thống pháp lý hạn chế quyền này của các nhà quản trị. Mặc dù cổ đông là những người chịu rủi ro cao nhất. Để đảm bảo quyền lợi của các đối tượng này. Ngoài ra. hệ thống pháp lý hạn chế việc công ty trả cổ tức vượt qua lợi nhuận tích lũy. nhưng những đối tượng khác như chủ nợ. Tỷ lệ lợi nhuận trả cổ tức (Dividend payout ratio): Tỷ lệ lợi nhuận trả cổ tức là một tỷ số phản ánh công ty trả cổ tức bao nhiêu phần cho . những điều khoản áp đặt bởi các chủ nợ cũng hạn chế phần nào quyền quyết định của ban quản trị trước các chính sách cổ tức của công ty.

Các công tytăng trưởng cao trong thời kỳ đầu của quá trình hoạt động thường có tỷ lệ trả cổ tứcthấp hoặc bằng không. Cách tính: Tỷ lệ lợi nhuận trả cổ tức = Cổ tức / Thu nhập ròng Phần lợi nhuận không trả cho nhà đầu tư sẽ được dành cho việc đầu tư nhằm cung cấpmột sự tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai. Tuy nhiên. các nhà đầu tư tìm kiếm tăng trưởng vốn có thể thích tỷ lệ trả cổ tức thấphơn bởi vì thu nhập lãi vốn bị đánh thuế thấp hơn (tại các nước như Mỹ). Các nhà đầu tư đang tìm kiếm thu nhậphiện tại cao và tăng trưởng vốn có giới hạn thì thích các công ty có tỷ lệ trả cổ tức cao. Đến khi họ hoạt động ổn định ở giai đoạn trưởng thành thì họlại có xu hướng đền bù lại cho nhà đầu tư từ lợi nhuận của mình Tỷ suất cổ tức (Dividend Yield): .Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp cổ đông từ lợi nhuận sau thuế.

Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp

Tỷ suất cổ tức phản ánh bao nhiêu tiền một nhà đầu tư sẽ kiếm được chỉ tính riêng từcổ tức của một cổ phiếu phổ thông dựa trên giá thị trường hiện tại. Cách tính: Tỷ suất cổ tức = cổ tức hằng năm / giá thị trường hiện tại cho mỗi cổ phiếu

Ví dụ: The Washington Post trả cổ tức $7 và được giao dịch với giá $910 cho mỗi cổphần; còn Altria Group trả cổ tức hằng năm là $2,72 và được giao dịch tại giá $49,75cho mỗi cổ phần. Bằng cách tính toán tỷ suất cổ tức, nhà đầu tư có thể so sánh số tiềnmặt mà anh ta có thể kiếm được từ lợi nhuận hằng năm của mỗi cổ phiếu. Tỷ suất cổ tức của Washington Post = $7 / $910 = 0,0077 Tỷ suất cổ tức của Altria Group = $2,72 / $49,75 = 0,055 Có thể thấy, mặc dù thực tế Washington Post trả cổ tức cao hơn cho mỗi cổ phần,nhưng

Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp

nếu đầu tư $100.000 vào cổ phiếu này thì chỉ nhận được $770 thu nhập hằngnăm, trong khi cùng với số tiền đó mà đầu tư vào Altria Group thì số tiền nhận được là$5.500. Một nhà đầu tư quan tâm thu nhập cổ tức mà không quan tâm thu nhập lãi vốnthì sẽ lựa chọn cổ phiếu thứ 2.

Quá trình chi trả cố tức Các công ty ở Mỹ thường trả cổ tức hàng quý. Còn ở Việt Nam thì các công ty thườngtrả cổ tức 2 lần/năm.Cổ tức thường được đề xuất bởi Hội đồng quản lý và sau đó được thông qua bởi Đạihội đồng cổ đông. Có vài cột mốc thời gian chính sau:  Ngày công bố cổ tức (dividend declaration date): là ngày công ty công bố mứcchi trả cổ tức. Đây là ngày quan trọng bởi vì thông qua việc công bố cổ tức, nhàđầu tư sẽ đánh giá được mức cổ tức là tăng hay giảm, hay vẫn được duy trì; quađó, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được những

Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp

tín hiệu thông tin mà các công ty phátra. Vì vậy, nếu công ty thay đổi cổ tức đột ngột thì đây là ngày mà phản ứng trênthị trường thường sẽ xuất hiện rất rõ.  Ngày giao dịch cuối cùng được hưởng quyền (ex-dividend date): là ngày cuốicùng được hưởng cổ tức, tức là ngày mà nhà đầu tư nên mua cổ phiếu để đượchưởng cổ tức. Do đó, nếu nhà đầu tư mua cổ phiếu sau ngày này thì sẽ khôngđược hưởng cổ phiếu.  Ngày chốt giao dịch không hưởng quyền: là ngày mà nếu các nhà đầu tư muacổ phiếu sẽ không được hưởng cổ tức. Do đó, giá tham chiếu của cổ phiếu ngàynày thường được điều chỉnh xuống tương ứng với số cổ tức để đảm bảo bìnhđẳng giữa các cổ đông, tức là cổ đông được lợi về cổ tức thì bị thiệt về giá vàngược lại.Giá tham chiếu ngày giao dịch không hưởng quyền = giá đóng cửa ngày giaodịch hưởng quyền cuối cùng – cổ tức

Ở Việt Nam.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp  Ngày chốt danh sách cổ đông hay ngày đăng ký cuối cùng (holder-of.recorddate): là ngày Trung tâm lưu ký đóng sổ.  Ngày thanh toán cổ tức (dividend payment date): là ngày mà các cổ đông sẽnhận được cổ tức (thường là 2-3 tuần sau ngày chốt danh sách cổ đông). do qui chế giao dịch là T+3 nên ngày chốt danh sáchcổ đông thường sau 3 ngày so với ngày giao dịch cuối cùng được hưởng quyềnhay sau 2 ngày so với ngày giao dịch không hưởng quyền. . chốt danh sách những cổ đông đượchưởng cổ tức.

Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Ở Việt Nam. các công ty niêm yết thường chia cổ tức làm thành 2 đợt: – Đợt 1 (thường là vào tháng 3. – Đợt 2 (thường là vào tháng 7. cổ tức (sau khi đãđược Đại hội đồng cổ đông thông qua).các công ty có kết quả của kiểm toán và công bố kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh của cả năm vừa rồi và thông báo phân chia lợi nhuận.8): các công ty Chia cổ tức ở Việt Nam thế như nào? sau khi có kết quả nửa năm (2 quýđầu năm) thường tạm ứng cổ tức cho các cổ đông dựa vào chỉ tiêu kế hoạch vàkết quả thực tế đạt được trong nửa năm .4): đây là thời điểm sau khi kết thúc năm tài chính.

vốn cổ phần hay toàn bộ giá trị thị trường tại thời điểm tách hoặc gộp cổ phiếu. . gộp cổ phiếu thường được quy định trong điều lệ công ty và do Đại hội cổ đông quyết định. Tùy theo mục đích của công ty và tình hình thị trường mà công ty có thể tiến hành tách hay gộp cổ phiếu.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Tách và gộp cổ phiếu Là việc làm tăng hoặc giảm số cổ phiếu đang lưu hành của một công ty cổ phần mà không làm thay đổi vốn điều lệ. Việc tách.

Sau đó là đến năm 1956 hãng Disney cũng thực hiện vụ tách cổ phiếu lần đầu tiên với tỷ lệ 2:1. Việc tách gộp cổ phiếu là mới mẻ ở Việt Nam nhưng không hề xa lạ đối với các công ty ở nước ngoài. nó đã xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ XX ở những tập đoàn nổi tiếng và lâu đời. câu trả lời giải đáp về những tác động của việc tách gộp cổ phiếu đối với nhà đầu tư và với bản than công ty phát hành. tiếp theo đó là nhà khổng lồ Ford Motor vào năm 1962. Texas Instruments.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp nhưng trong thực tế thường thì Đại hội cổ đông Vậy tại sao tách gộp cổ phiếu. công ty chuyên cung cấp thiết bị link kiện điện tử của Mỹ vào tháng . thông qua chủ trương và ủy quyền cho Hội đồng quản trị lựa chọn thời điểm thích hợp tiến hành việc tách hoặc gộp cổ phiếu. Vụ tách cổ phiếu sớm nhất diễn ra tại IBM vào tháng 2-1926 với tỷ lệ cứ 1 cổ phiếu cũ đổi thành 3 cổ phiếu mới. Vào tháng 4 cùng năm công ty năng lượng Edison ở Anh cũng tiến hành tách cổ phiếu với tỷ lệ cao hơn 4:1 và tháng 12 năm đó tập đoàn chuyên các động cơ diesel Carterpillar cũng cho phép cổ đông quy đổi 1 cổ phiếu cũ thành 5 cổ phiếu mới.

tập đoàn nước giải khát PepsiCola năm 1967. và nghiệp vụ tách gộp cổ phiếu cũng xuất hiện sớm hơn ở Việt Nam từng đó thời gian.. Tách cổ phiếu sẽ làm tăng số lượng cổ phiếu đang lưu hành và làm giảm mệnh giá cổ phiếu tương ứng với tỷ lệ tách. Vì vậy. do đó giá cổ phiếu trên thị trường cũng sẽ giảm tương ứng và giao dịch được thực hiện dễ dàng hơn. Việc tách cổ phiếu thường được thực hiện khi giá cổ phiếu trên thị trường tăng quá cao làm cho các giao dịch sẽ khó thực hiện và điều này sẽ làm giảm tính thanh khoản của cổ phiếu. khi giá cổ phiếu tăng cao trên thị trường thì việc tách cổ phiếu là cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi . Thị trường chứng khoán thế giới đã đi trước Việt Nam hàng nửa thế kỷ.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp 11 năm 1963. vậy chúng ta những nhà đầu tư đi sau hãy suy nghĩ thấu đáo về nghiệp vụ này để phản ứng linh hoạt trước sự biến động của thị trường..

mệnh giá 10. Ví dụ. đồng thời sau khi tách giá cổ phiếu thường có xu hướng tăng lên. số lượng cổ phiếu được giao dịch trên thị trường tăng lên có thể làm tăng số lượng cổ đông của công ty. . khi đó tổng số cổ phiếu mới của công ty sẽ là 2 triệu cổ phiếu mệnh giá 5.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp cho việc giao dịch cổ phiếu.000 đồng/cổ phiếu. qua đó góp phần làm hạn chế khả năng công ty bị thâu tóm.000 đồng/cổ phiếu. sau khi tách cổ phiếu. một công ty cổ phần ABC có 1 triệu cổ phiếu đang lưu hành.000 đồng/cổ phiếu (tổng giá trị niêm yết là 10 tỷ đồng) và giá thị trường tại thời điểm hiện tại là 100. tổng giá trị niêm yết vẫn là 10 tỷ đồng nhưng giá thị trường của cổ phiếu mới sẽ dao động ở mức 50. Mặt khác.000 đồng/cổ phiếu. Công ty tiến hành tách cổ phiếu theo tỷ lệ 1:2 (nghĩa là người sở hữu 1 cổ phiếu cũ sẽ nhận được 2 cổ phiếu mới).

mệnh giá 10. công ty cổ phần DEF có 6 triệu cổ phiếu đang lưu hành. Như vậy sau khi gộp. trường hợp gộp cổ phiếu sẽ làm giảm số lượng cổ phiếu đang lưu hành. công ty cổ phần DEF tiến hành gộp cổ phiếu theo tỷ lệ 3:1 (nghĩa là cổ đông sở hữu 3 cổ phiếu cũ sẽ nhận được 1 cổ phiếu mới). Theo thống kê ở các nước thì trường hợp gộp cổ phiếu thường ít khi xảy ra đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán bởi vì mục đích duy nhất của việc gộp cổ phiếu là làm cho cổ phiếu đó có giá trị hơn trên thị trường và qua đó làm tăng tính thanh khoản của cổ phiếu. với mệnh giá 30. Ví dụ.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Ngược lại.000 đồng/cổ phiếu.000 đ/cổ phiếu.000 đồng/cổ phiếu và giá thị trường của cổ phiếu mới . mệnh giá cổ phiếu tăng lên và giá thị trường của cổ phiếu cũng tăng lên tương ứng với tỷ lệ gộp cổ phiếu. Để tránh cho giá cổ phiếu của công ty giảm xuống thấp hơn mệnh giá. tổng số cổ phiếu mới của công ty là 2 triệu cổ phiếu. tổng giá trị niệm yết là 60 tỷ đồng và giá thị trường đang ở mức 12.

Trên bảng cân đối kế toán. Thứ hai công ty mua lại cổ phiếu để thưởng cho các nhân viên cấp cao dưới dạng quyền mua cổ phiếu.000 đồng/cổ phiếu. nhờ đó đẩy giá cổ phiếu lên.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp sẽ dao động quanh mức giá 36. cổ phiếu quĩ được ghi vào mục vốn cổ đông (shareholder equity) nhưng mang giá trị âm. khi một công ty nhận thấy cổ phiếu của họ đang đuối giá trên thị trường chứng khoán công ty sẽ tiến hành mua lại cổ phiếu. Việc công ty mua ngược lại cổ phiếu từ thị trường mở sẽ làm giảm số cổ phiếu lưu hành (outstanding stock) của công ty này. . Các công ty sẽ tiến hành mua ngược (repurchase) cổ phiếu vì một số lý do sau đây. Cổ phiếu quỹ: Cổ phiếu quỹ là cổ phiếu do công ty phát hành mua ngược lại từ thị trường chứng khoán. như một biện pháp khích lệ. Thứ nhất.

Cổ tức trả bằng tiền mặt Hầu hết cổ tức được trả dưới dạng tiền mặt. 2. 3. có 3 phương thức chi trả cổ tức cơ bản là: 1. . cổ tức bằng tiền mặt cổ tứcbằng cổ phiếu cổ tức bằng tài sản Trong đó. 2 phương thức đầu là phổ biến nhất. cổ phiếu quĩ có những hạn chế riêng: -Cổ phiếu quĩ không được trả cổ tức -Cổ phiếu quĩ không có quyền biểu quyết -Tổng số cổ phiếu quĩ không được phép vượt quá tỉ lệ vốn hoá mà luật pháp qui định Các phương thức trả cổ tức Thông thường. Cổ tức tiền mặt được trả tính trên cơ sởmỗi cổ phiếu. không giống cổ phiếu phổ thông. Mệnh giá là giá trị được ấn địnhtrong giấy chứng nhận cổ phiếu theo điều lệ hoạt động của công ty. được tính bằng phần trăm mệnh giá.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Tuy nhiên.

000 đồng.000 đồng.200 đồng. Doanh nghiệp không nhậnđược khoản tiền thanh toán nào từ phía cổ đông. Cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu sẽ nhận được tiền cổ tức là 100x1. Cổ tức trả bằng cổ phiếu Trả cổ tức bằng cổ phiếu là doanh nghiệp đưa ra thêm những cổ phiếu của doanhnghiệp theo tỷ lệ đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua. Trả cổ tức bằng tiền mặt làm giảm tiền mặt dẫn đến giảm tài sản và giảm vốn lợinhuận. Nghĩa là mỗi cổ phiếu nhậnđược cổ tức là 10. nghĩa là làm giảm vốn cổ phần cổ đông. Ví dụ: doanh nghiệp tuyên bố trả cổ tức bằng cổ phiếu là 9% một năm. Nghĩa là cổđông hiện .000x12%=1.200= 120.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Ví dụ: mệnh giá của là 10. Tỷ lệ chi trả là 12%. Hình thức trả cổ tức bằng cổ phiếu được áp dụng khi doanh nghiệp dự định giữ lợinhuận cho các mục đích đầu tư và muốn làm an lòng cổ đông.

Trả cổ tức bằng cổ phiếu làm tài khoản chủ sở hữu tăng lên và phần lợi nhuận giảmxuống. Việc trả cổ tức bằng cổ phiếu cũng giống như việc tách cổ phiếu. Hình thức này rất hiếm xảy ra trong thực tiễn. hàng bán. khi các nhà quản trị cân nhắc lựa chọn một chính sách cổ tức chocông ty mình thì họ phải xem xét các yếu tố cơ bản sau: Các hạn chế pháp lý ngăn cấm các cổ tức làm suy yếu vốn: . bất động sản hay cổ phiếu của công ty khác do doanh nghiệp sở hữu. Trong khi đó tách cổ phiếu làm giảm mệnh giá mỗi cổ phần.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp hành sở hữu 100 cổ phiếu sẽ có thêm được 9 cổ phiếu nữa. Cổ tức trả bằng tài sản Doanh nghiệp trả cổ tức cho cổ đông bằng thành phẩm. Cả hai trường hợpđều làm số lượng cổ phần tăng lên và giá trị cổ phần giảm xuống. Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách cổ tức trong doanh nghiệp Về mặt lý thuyết.

Hạn chế lợi nhuận ròng: tức là cổ tức phải được chi trả từ lợi nhuận ròng hiệnnay và thời gian qua. Hạn chế mất khả năng thanh toán: tức là không thể chi trả cổ tức khi doanhnghiệp mất khả năng thanh toán (nợ nhiều hơn tài sản).Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Khi ấn định chính sách cổ tức của mình thì các doanh nghiệp đều phải cân nhắc cáchạn chế sau như các nguyên tắc về mặt pháp lý như:  Hạn chế suy yếu vốn: tức là doanh nghiệp không thể dùng vốn (gồm mệnh giá cổphần thường và thặng dư vốn) để chi trả cổ tức. nhằm ngăn cản các chủ sở hữu thường rút đầu tư ban đầu vàlàm suy yếu vị thế an toàn của các chủ nợ của doanh nghiệp. nhằm đảm bảo quyền ưutiên của chủ nợ đối với tài sản của doanh nghiệp   Các khoản giới hạn trong hợp đồng trái phiếu công ty và các thỏa thuận tàitrợ khác: Các điều khoản hạn chế này có thể giới hạn tổng mức cổ tức của một doanh nghiệp cóthể chi .

nhất là tiền mặt. Các ảnh hưởng của thuế: Khi quyết định chi trả cổ tức. thu nhập cổ tức bị đánhthuế ngay (trong năm hiện hành).Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp trả. dễ dàng tiếp cận với thị trường tín dụng và các nguồn vốnbên ngoài thì càng có nhiều khả năng chi trả cổ tức . thì doanh nghiệp không đượcchi trả cổ tức. vì vậy. doanh nghiệp sẽ cân nhắc đến sự chênh lệch giữa thuếsuất đánh trên thu nhập lãi vốn và thu nhập cổ tức. Khả năng vay và tiếp cận các thị trường vốn: Doanh nghiệp lớn. Hoặc nếu vốn luân chuyển (tài sản lưu động trừ nợ ngắn hạn) hay tỷ lệnợ hiện hành không cao hơn một mức định sẵn nào đó. Ảnh hưởng của thanh khoản: Chi trả cổ tức là dòng tiền đi ra. khả năng thanh khoản của doanh nghiệp phụthuộc vào các tài sản có tính thanh khoản cao. có uy tín. Ngoài ra. Hoặc các yêu cầu về quỹ dự trữ để thanh toán nợ đôi khi cũng hạn chế việcchi trả cổ tức. còn thu nhập lãi vốn có thể hoãn đến các năm sau.

chỉ có vốn cổphần. nhu cầu vốn luân chuyển. Ngược lại. Vì vậy. Lạm phát: Trong môi trường lạm phát. khó tiếp cận vốn bên ngoài thì khi có cơ hội đầu tư mới thuận lợi. các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh thường có nhu cầu để tài trợ cáccơ hội đầu tư hấp dẫn mới. đối với các doanh nghiệp nhỏ. vốn phát sinh từ khấu hao không đủ thay thế tài sản đã cũkỹ.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp bởi khả năng thanh khoản linh hoạtvà tận dụng các cơ hội đầu tư. hơn nữa. Tính ổn định của lợi nhuận: Một doanh nghiệp có lịch sử lợi nhuận ổn định thường sẵn lòng chi trả cổ tức cao hơndoanh nghiệp có thu nhập không ổn định. lạc hậu. số dư tiền mặt giao dịch của doanhnghiệp cũng tăng . họ thường giữ lại phần lớn lợi nhuận và tránh báncổ phần mới ra công chúng vừa tốn kém vừa bất tiện. Các cơ hội tăng trưởng vốn: Thông thường. thường việcchi trả cổ tức không nhất quán với mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.

xuất hiện khi doanh . tiếp cận thị trường tài chính và các yếu tố lien quan khác. Còn các doanh nghiệp có số lượng cổ đông lớn. Bảo vệ chống loãng giá: Việc quyết định giữ lại lợi nhuận. “Hiệu ứng khách hàng” cho thấy các nhà đầu tư sẽ lựa chọn các công ty cóchính sách cổ tức phù hợp với mục tiêu của mình.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp lên. Do đó. Rủi ro loãng giá. tức quyền lợi củachủ sở hữu theo phần trăm bị loãng. chi trả cổ tức có thể còn phụ thuộc vào các quyết định tài trợ. sở thích củacổ đông). doanh nghiệp cần phải giữ lại lợi nhuận nhiều hơn. cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp. Ưu tiên của cổ đông (hiệu ứng khách hàng): Một doanh nghiệp được kiểm soát chặt chẽ với tương đối ít cổ đông thì ban điều hànhcó thể ấn định mức cổ tức theo ưu tiên của các cổ đông (tức là mục tiêu. nhu cầu dòng tiền. rộng rãi thì không thể tínhđến các ưu tiên của cổ đông khi quyết định chi trả cổ tức mà chỉ có thể xem xét cácyếu tố cơ hội đầu tư.

Hội đồng quản lý của doanh nghiệp nên cân nhắc các yếu tố này tùytrường hợp để đạt đến một chính sách cổ tức tốt nhất có thể được. trong khi các yếu tố khác hàm ý một chính sách chi trả thấp hơn. khả năngtạo lợi nhuận... quy mô doanh nghiệp. Các tranh luận về chính sách cổ tức . đặc điểm phát triển của doanh nghiệp. lãi suất ngân hàng.có vài doanh nghiệp lựa chọn chi trả cổ tức thấp để tránh rủi ro loãng giá (vì tránhđược phát hành cổ phần mới do cần vốn). Vì vậy. trong thực tế còn rất nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến sự lựa chọn chínhsách cổ tức như: cấu trúc cổ đông. Một số yếu tố này ủng hộ cổ tức cao. hình thức sở hữu. Ngoài ra..Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp nghiệp phát hành cổ phầnmới vì có thể có cổ đông không mua hoặc không thể mua theo tỷ lệ tương ứng.

2. Giải Nobel kinh tế của MM về chính sách cổ tức đối với giá trị doanh nghiệp Các lập luận về chính sách cổ tức không tác động đến giá trị doanh nghiệp Nhóm do Miller và Modigliani (MM) chủ trương rằng giá trị của một doanh nghiệp chỉ do các quyết định đầu tư ấn định và tỷ lệ chi trả cổ tức chỉ là một chi tiết. Họ cho rằng tác động của một chính sách cổ tức sau đó có thể được bù trừ chính xác bằng các hình thức tài trợ khác. như việc bán cổ phần cổ phần thường chẳng hạn. lập luận này dựa trên một số các giả định chính như sau: . Trường phái trung dung tin rằng chính sách chi trả cổ tức sẽ không tác động đến giá trị doanh nghiệp. tuy nhiên.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Trường phái hữu khuynh bảo thủ tin rằng một sự gia tăng trong chi trả cổ tức sẽ làm tăng giá trị doanh nghiệp. Trường phái tả khuynh cấp tiến tin rằng một sự gia tăng trong chi trả cổ tức sẽ làm giảm giá trị doanh nghiệp.

Giả định này ngụ ý rằng các nhà đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp chỉ trả ít hoặc không chi trả cổ tức có thể bán lại ( không có phí tổn) bất cứ số cổ phần nào mà họ muốn bán để chuyển đổi lãi vốn thành thu nhập thường xuyên. đôi khi việc chi trả cổ tức đưa đến thu càu bán cổ phần mới theo định kỳ. Sự hiện hữu của một chính sách đầu tư cố định. Nếu các doanh nghiệp không phải chi trả các chi phí phát hành cho việc phát hành chứng khoán mới. không kê họ giữ lại lợi nhuận hay chi trả cổ tức. Theo giả định này. các nhà đầu tư không bận tâm vê việc họ sẽ nhận được thu nhập cổ tức hay thu nhập lãi vốn. họ có thể thụ đắc được vốn cô phần cần thiết với cùng chi phí. Không có chi phí phát hành. Không có chi phí giao dịch.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp  Không có thuế. chính sách đầu tư của doanh nghiệp không chịu tác động của    . Theo MM.

thực sự ấn định giá trị của một doanh ngiệp. MM nhận thấy rằng có chứng cứ thực nghiệm đáng kể cho thấy rằng các thay đổi trong chính sách cổ tức ảnh hưởng đến giá cổ phần. nội dung hàm chứa thông tin của chính sách cổ tức ảnh hưởng đến giá cả cổ phần. Như sẽ trình bày trong phần sau. một cắt giảm cổ tức được xem như truyền đạt thông tin bất lợi về triển vọng lợi nhuận của doanh nghiệp. chứ không phải chính sách cổ tức. chứ không phải mô hinh chi trả cổ tức. Một gia tăng trong cổ tức chuyển một loại thông tin nào đó đến cổ đông. ban điều hành doanh nghiệp dự kiến thu nhập tương lại sẽ cao hơn. Hơn nữa. .  Nội dung hàm chứa thông tin. nhiều doanh nghiệp thích một chính sách cổ tức ổn định một cách hợp lý hơn. Tương tự. Đó là. MM cho rằng chính chính sách đầu tư. MM lập luận rằng.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp chính sách cổ tức.

tác động phát tín hiệu này của các thay đổi trong cổ tức tương tự với các tác động phát tín hiệu của các thay đổi trong cấu trúc vốn. được coi là có tiếp cần thông tin về khả năng sinh lời của công ty đầy đủ hơn các thông tin sawnc cho các nhà đầu tư bên ngoài. là người trong nội bộ công ty. ban điều hành. trên thực tế. các nhà đầu tư ưu thích chính sách cổ tức của một doanh nghiệp . các thay đổi trong chi trả cổ tức tiêu biểu một tín hiệu cho các nhà đầu tư về đánh giá của ban điều hành vê lơi nhuận và dòng tiền tương lại của doanh nghiệp. MM cũng cho rằng sự hiện diện của các khách hàng. Hiệu ứng khách hàng. Các thay đổi trong cổ tức được coi như cung cấp các tín hiệu rõ rang về triển vọng tương lại của công ty – thông tin không thể chuyển tải đầy đủ bằng các phương tiện khác như báo cáo thường niên và phần trình bày của ban điều hành trước các nhà phân tích chứng khoán chẳng hạn.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Các tác động phát tín hiệu.

Bạn cũng đã xác định kế hoạch này cần tài trợ bao nhiêu từ vốn vay và báo nhiêu từ lợi nhuận giữ lại. bất kỳ tiền thặng dư nào cũng sẽ được chi trả cổ tức. Tồn tại nguồn tài trợ bên ngoài. các nhà đầu tư khác thích chính sách cổ tức mới sẽ cho rằng cổ phần của doanh nghiệp đang bị bán dưới giá và sẽ mua thêm cổ phần. MM đã tranh luận như sau: giả sử doanhn ghiệp của bạn đã thiết lập kế hoạch đầu tư. các giao dịch này diễn ra ngay tức khắc và không có tổn phí cho nhà đầu tư.1. Điều này có thể đưa đến sụt giảm tạm thời giá cổ phần của doanh nghiệp.1. Trong bài báo vào năm 1961. . 2. tuy nhiên. trong thế giới MM. 2.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp thay đổi chính sách cổ tức có thể mất một số cổ đông qua các doanh nghiệp khác có cính sách cổ tức hấp dẫn hơn. kết quả lả giá trị của cổ phần giữ nguyên không đổi.1. Chính sách cổ tức không tác động đến giá trị doanh nghiệp trong thị trường vốn hoàn hảo.

tiền tăng thêm phải đến từ đâu đó. thì chỉ còn cách tài tài trợ cho cổ tức tăng thêm là phải in thêm cổ phần và bán chúng đi. . mỗi cổ phần trị giá ít hơn so với trước khi có thong báo thay đổi cổ tưc. Nếu doanh nghiệp cố định chính sách vay nợ.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Điêu gì sẽ xãy ra nếu như bạn muốn tăng chi trả cổ tức mà không làm thay đổi chính sách đầu tư và vay nợ. Các cổ đông mới nhận được cổ phần vừa được in ra. Phần lỗ vốn này được bù trừ bằng số cổ tức tiên mặt mà họ nhận được. và cổ đong cũ sẽ chịu một khoảng lỗ vốn trên cổ phần của mình. lợi nhuận. tất cả đều không thay đổi? câu trả lời là phải có “sự chuyển dịch giá trị” từ cổ đông cũ sang các cổ đông mói. Các cổ đông mới chỉ sẵn lòng trở thành thành viên công ty chỉ khi nào bạn chào bán cho họ những cổ phần có giá trị tương đương như những gì họ mất đi. Nhưng doanh nghiệp có khả năng làm điều đó như thế nào khi mà các tài sản. các cơ hội đầu tư và do đó là giá trị thị trường.

nhưng chừng nào mà thị trường vốn còn hiệu quả thì họ chỉ có thể tăng thêm tiền mặt bằng cách bán cổ phần của mình. Có sự khác biệt đối với các cổ đông cũ khi họ nhận được hi trả cổ tức tăng thêm cộng với khoản lỗ vốn hay không? Có thể như thế nếu như chỉ xét đến số tiền mặt mà họ nhận được. Như vậy. nhưng khoản lỗ vốn sẽ được bù trừ một cách tương ứng bởi sự thật là nguồn tiền mới huy dộng ( hộp trắng) sẽ được chi trả cho các cổ đông cũ dưới hình thức cổ tức. Cho .Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Hình trên cho thấy chuyển dịch giá trị này xãy ra như thế nào. các cổ đông chỉ có thể nhận được tiền mặt hoặc là bằng cách thuyết phục các nhà quản lý chi trả cổ tức cao hơn hoặc băng cách bán đi một số cổ phần của mình. khoản lỗ vốn của cacsc ổ đong cũ tượng trưng bằng mốt sụt giảm trong quy mô của các hộp đậm. Doanh nghiệp giả định của chúng ta chi trả 1/3 tổng giá trị của mình với tư cách là cổ tức và huy dộng thêm tiền để làm điều đó bằng cách bán các cổ phần mới.

Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp dù trường họp nào đi chăng nữa cũng sẽ có một sự dịch chuyển giá trị từ cổ đông cũ sang cổ đông mới. trong trương hợp sau. họ nên để cổ tức thay dổi như là kết quả của quiets định đầu tư và quyết định tài trợ. chuyển dịch giá trị được tạo ra bởi sự giảm sút trong các cổ phần mà các cổ đông cũ nắm giữ. Minh họa trường hợp chính sách cổ tức khon tác động đến giá trị doanh nghiệp húng ta hãy xem xét bảng cân đối kế toán hiện tại của Rational Damicomductor . Chúng ta sẽ so sánh hai trường hợp này trong hình sau: Bởi vì các nhà đầu tư sẽ không trả giá cổ phần cao hơn cho những cổ phần của những doanh nghiệp có tỷ lệ chi trả cổ tức cao nên doanh nghiệp không nên lo lắng về chính sách cổ tức. trong trường hợp đầu. sự khác biệt chỉ là hình thức biểu hiện. chuyển dịch giá trị được tạo ra bởi sự pha loãng trong giá trị mỗi cổ phần.

Nhưng cũng rõ ràng rằng tiền mặt không phải là cho không. . chúng phải tốn chi phí. Lưu ý rằng bảng cân đối kế toán là dựa trên giá trị thị trường do đó vốn cổ phần bằng với giá trị thị trường của các cổ phần lưu hành ( giá mỗi cổ phần nhân với số lượng cổ phần đang lưu hành). Bây giờ Rational Demiconductor dùng tiền mặt 1000$ chi trả cổ tức cho cổ đông. Chúng ta không biết dự án này như thế nào và vị thế chúng ta tính NPV.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Bảng cân đối kế toán của Rational Demiconductor (giá thị trường) Rational Demiconductor có 1000$ tiền mặt dành cho một cơ hội đầu tư trị giá 1000$. Lợi ích mang lại cho họ thật rõ ràng: 1000$ tiền mặt có thể chi tiêu.

Bây giờ chúng ta sẽ đánh giá bảng cân đối kế toán sau khi chi trả cổ tức. nguồn tiền có sẵn ngay lập tức chính là tài khoản tiền mặt. chúng ta giả định rằng công ty sẽ tiếp tục với dự án đầu tư. Nhưng tiền mặt này là để dành cho dự án đầu tư. Một lần nữa chúng ta chỉ muốn xem xét chính sách cổ tức ngay bây giờ. Điều này có nghĩa là tiền mặt 1000$ phải được huy động bằng tài trợ mới và chúng được phát hành dưới hình thức nợ và hoặc vốn cổ phần.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Tiền chi trả cổ tức lấy từ đâu? tất nhiên. chúng ta sẽ hoãn các thảo luận về lựa chọn giữa nợ và vốn cổ phần cho đến chương 14 và 15. Bởi vì chúng ta muốn tách biệt các hiệu ứng của chính sách cổ tức trên tài sản của các cổ đông. Cổ phần mới được bán đi và đầu tư mới đựơc thực hiện. Bởi vì chính sách vay nợ và đầu tư của Rational Demiconductor không bị tác động bởi chi trả cổ . Như vậy Rational Demiconductor sẽ tài trợ cho cổ tức bằng 1000$ phát hành cổ phần.

Dễ dàng thấy rằng con số này là: Giá trị cổ phần cổ đông cũ = giá trị doanh nghiệp . Chúng ta cũng biết rằng nếu các cổ đông mới mua cổ phần với giá hợp lý thì giá trị của chúng là 1000$. Giả định này không nhất thiết phải đúng trong thực tế. Chính sách cổ tức không tác động đến giá trị doanh nghiệp .Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp tức cho nên tổng giá trị thị trường phải không thay đổi và ở mức 10000$+NPV (tất cả các yếu tố khác tác động đến giá trị của Rational Demiconductor giả định là không đổi. 1000$ này chính là con số bị mất đi trên giá trị cổ phần của các cổ đông cũ. chúng tôi đưa ra với mục đích làm đơn giảm lý thuyết MM.giá trị cổ phần mới = (10000+NPV) -1000 = 9000 +NPV Các cổ đông cũ nhận được 1000$ cổ tức tiền mặt và chụi một khoản lỗ vốn 1000 $.

Rational Demiconductor đang tái sinh chu kì tiền mặt. Giả định thật sự có giá trị trong lý thuyết của chúng ta là các cổ phần mới sẽ được bán với giá hợp lý. Nói cách khác chúng ta giả định rằng thị trường là hiệu quả. Các cổ phần mới được bán đi để huy động 1000$ phải thật sự trị giá 1000$.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Bằng cách chi trả tiền mặt 1000 $ ở tay này và lấy chúng ở tay khác. Chúng ta sẽ trở lại các chủ đề này trong chốc lát. Tính giá cổ phần Chúng ta đã giả định là các cổ phần mới của Rational Demiconductor sẽ được bán với giá hợp . chi phí phát hành và hàng loạt các phức tạp khác. Tất nhiên các vấn đề đã bỏ qua thuế. Chúng xác nhận rằng chi trả cổ tức để làm giàu cho các cổ đông cũng giống như một lời khuyên rằng một người đầu bếp muốn làm mát nhà bếp chỉ bằng cách mở ngăn cửa tủ lanh.

giá cổ phần cũ giảm 1$ chi trả cổ tức cho mỗi cổ phần. . cổ phần cũ này trị giá 9000+NPV = 11000. Bây giờ chúng ta hãy nhìn sang cổ phần mới. Khi đó cổ phần cũ có giá trị tổng cộng là 10000+NPV = 12000$. doanh nghiệp có 1000 cổ phần lưu hành và dự án có NPV là 2000$. Nói cách khác. Nghĩa là có trị giá là 12$/ cổ phần(12000/1000). Tương đương với 11$/ cổ phần (11000/1000). doanh nghiệp phải phát hành 1000$ /11$ hoặc 91 cổ phần mới để huy động 1000$ tiền mặt. cổ phần mới này phải bán với giá tương tự như các cổ phần còn lại. Sau khi doanh nghiệp chi trả cổ tức và hoàn tất việc tài trợ.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp lý. Nếu các cổ đông mới nhận được giá trị hợp lý. Rõ ràng sau khi phát hành. Nhưng giá hợp lý đó là gì và có bao nhiêu cổ phần mới phát hành ? Giả sử trước khi chi trả cổ tức. chúng phải được định giá 11$. Nói cách khác.

khi đó. khi đó.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp 2. Giả sử rằng công ty A tạo ra một dòng ngân lưu ròng CF không đổi và vĩnh viễn. giá trị của vốn chủ sở hữu theo mô hình chiết khấu cổ tức sẽ là: V0 = D/ke Nếu một phần b của dòng ngân lưu ròng được giữ lại mỗi năm – bắt đầu tư năm tới. Thế nhưng điều giả định này lại là một điều rất vô lý. không tồn tại trong thực tế vì thực tế đâu ai cấm công ty huy động vốn bên ngoài.1. nếu suất sinh lợi mà cổ đông đòi hỏ là ke. Công ty quyết định sử dụng toàn bộ nguồn ngân lưu ròng này để trả cổ tức D (CF = D). .2. Không tồn tại nguồn tài trợ bên ngoài Nếu không tồn tại nguồn tài trợ bên ngoài – nghĩa là công ty không thể huy động vốn bằng cách đi vay hay tăng vốn chủ sở hữu – thì chính sách cổ tức sẽ phát huy tác dụng làm tăng giá trị của công ty một khi công ty có cơ hội đầu tư mới có suất sinh lợi trên vốn đầu tư (ROI) lớn hơn suất sinh lợi hiện hành mà cổ đông đòi hỏi.

trong đó g là tốc độ tăng trưởng cổ tức.1 = 10. khi đó. Tình huống 1: Toàn bộ nguồn ngân lưu ròng được dùng để trả cổ tức Giả dụ công ty A tạo ra một dòng ngân lưu ròng vĩnh viễn là 1000$/năm. Bây giờ thử xem xét một ví dụ bằng số dưới đây.b).Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp phần cổ tức được chia cho cổ đông mỗi năm sẽ là CF(1. Công ty quyết định sử dụng toàn bộ nguồn ngân lưu ròng này để trả cổ tức là D (CF = D). giá trị vốn chủ sở hữu trong trường hợp này sẽ được xác định như sau: V0 = CF(1 – b) / (ke – g) hay V0 = CF(1 – b) / (ke – b * ROI). giá trị của vốn chủ sở hữu theo mô hình chiết khấu cổ tức sẽ là: V0 = D/ke = 1000 / 0. Tình huống 2: 50% của nguồn ngân lưu ròng được giữ lại để tái đầu tư vào dự án có suất sinh lợi trên vốn đầu tư ROI xảy ra bởi một trong ba khả năng sau: . nếu suất sinh lợi mà cổ đông đòi hỏi là ke = 10%.000$.

Nếu ROI = 5% < ke = 10% V0 = CF(1 – b) / (ke – b * ROI) = 1000(1 – 0.15) = 20.5) / (0.000 3.1 – 0. với chính sách cổ tức không đổi.000 2. • Nếu ROI của dự án mới lớn hơn suất sinh lợi đòi hỏi của cổ đông thì giá trị của vốn chủ sở hữu sẽ tăng. tức giữ lại 50% ngân lưu ròng.5 *0.05) = 6. Nếu ROI = ke = 10% V0 = CF(1 – b) / (ke – b * ROI) = 1000(1 – 0.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp 1.5) / (0.5 *0.1 – 0.5 *0.5) / (0. trả cổ tức 50% phần còn lại.666 Rõ ràng. Nếu ROI = 15% > ke = 10% V0 = CF(1 – b) / (ke – b * ROI) = 1000(1 – 0.1) = 10.1 – 0. . cái làm cho giá trị của vốn chủ sở hữu tăng hay giảm chính là suất sinh lợi từ đầu tư vào dự án mới (ROI) bằng nguồn lợi nhuận giữ lại: • Nếu ROI của dự án mới bằng suất sinh lợi đòi hỏi của cổ đông thì giá trị của vốn chủ sở hữu không đổi.

biết suất sinh lợi đòi hỏi của cổ đông là 10%. Như vậy là tình huống thứ nhất của lý thuyết đã được chứng minh. Bây giờ. giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu sẽ là: . cái làm thay đổi giá trị của vốn chủ sở hữu là quyết định đầu tư chứ không phải chính sách cổ tức.1) = +1000$ Tình huống 1: Nếu công ty A giữ lại toàn bộ nguồn ngân lưu ròng của năm nay để đầu tư vào dự án mới và như vậy đồng nghĩa với việc cổ đông của công ty A sẽ không nhận được cổ tức trong năm nay. và nhận được một nguồn ngân lưu ròng là 200$/năm từ năm tới cho đến vĩnh viễn. Giả dụ rằng cơ hội đầu tư mới đòi hỏi công ty A phải chi đầu tư 1000$ vào năm nay. khi đó. khi ấy NPV của dự án sẽ là: NPV = -1000 + (200 / 0.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp • Nếu ROI của dự án mới nhỏ hơn suất sinh lợi đòi hỏi của cổ đông thì giá trị của vốn chủ sở hữu sẽ giảm. Như vậy. chúng ta sẽ chứng minh cho tình huống lý thuyết thứ hai.

nếu có sự tồn tại của nguồn vốn bên ngoài.000$ Tình huống 2: Chi phí đầu tư 1000$ cho dự án mới được huy động từ việc phát hành cổ phiếu mới.1) = 12. thì dù ban quản trị của công ty A có sử dụng chính sách cổ tức kiểu nào đi nữa: không trả cổ tức (tình huống 1) hay vẫn trả cổ tức (tình huống2) thì giá trị của vốn chủ sở hữu cũng không đổi. .1) + (200 / 0.1) – 1000 = 12.000$ Rõ ràng. khi đó: V0 = Cổ tức năm nay + (PV của cổ tức từ hoạt động hiện hành) + (PV của cổ tức từ đầu tư mới)– (Chi phí đầu tư cho dự án mới có được từ phát hành cổ phiếu mới) = 1000 + (1000 / 0.1) + (200 / 0.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp V0 = Cổ tức năm nay + (PV của cổ tức từ hoạt động hiện hành) + (PV của cổ tức từ đầu tư mới) = 0 + (1000 / 0.

là chẳng có ý nghĩa gì cả. về mặt lý thuyết. nếu không tồn tại nguồn tài trợ bên ngoài – tức công ty không thể huy động vốn bằng cách đi vay hay tăng vốn chủ sở hữu (một điều kiện rất vô lý. lý thuyết về chính sách cổ tức cho ta thấy hai điều: Một là. Nói cách khác chính quyết định đầu tư chứ không phải chính sách cổ tức có tác động đến giá trị của vốn chủ sở hữu. nếu tồn tại nguồn tài trợ bên ngoài (tức khác với tình huống 1) thì chính sách cổ tức sẽ chẳng có tác động gì đến giá trị của công ty. Hai là. Nói cách khác. 2. không tồn tại trong thực tế) – thì chính sách cổ tức sẽ phát huy tác dụng làm tăng giá trị của công ty chỉ khi công ty có cơ hội đầu tư mới có suất sinh lợi trên vốn đầu tư (ROI) lớn hơn suất sinh lợi hiện hành.3.1.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Tóm lại. Kết luận chung là chính sách cổ tức. Mua lại cổ phần . chính sách cổ tức khi đó sẽ chẳng có ý nghĩa gì cả. tức lớn hơn ke mà cổ đông đòi hỏi.

Diễn biến này cũng có thể đảo ngược lại.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Chúng ta đã phát hiện ra rằng bất kỳ mộ chi trả cổ tức tiền mặt tăng thêm nào phải được bù trừ bằng một phát hành cổ phần nếu như các chính sách đầu tư và vay nợ được giữ cho không đổi. các cổ đong đã tài trợ cho cổ tức tăng thêm bằng cách bán đi một phần sỡ hữu của họ trong doanh nghiệp. Nhưng nếu như diển biến này không tác động đến sự giàu có của các cổ đông theo cách lập luận xuôi trước đây. bất kỳ sự giảm sút nào trong cổ tức phải được cân đối bằng một sự sụt giảm trong số lượng cổ phần phát hành hoặc bằng cách mua lại số cổ phần lưu hành trước đây. Giả dụ rằng dự án mới Rational Demicomductor không phải là dự án có NPV lớn hơn 0 mà chắc . thì lập luận ngược lại chúng cũng phải cho ra kết quả tương tự. kết quả của hành vi này là giá cổ phần giảm vừa đủ để bù trừ cổ tức tăng thêm. trong thực tế. với chính sách đầu tư và vay nợ cho trước.

bảng cân đối kế toán là: Bảng cân đối kế toán của Rational Demiconductor ( giá thị trường) Tiền mặt 0$ 9000$ Dự án mới nghiệp 0$ Giá trị của doanh Tổng giá trị tài sản 9000$ 9000$ Nợ 0$ Vốn cổ phần Tài sản cố định hiện hữu 9000$ Bởi vì có 1000$ cổ phần đang lưu hành. các nhà quản tri thông bóa rằng dự án sẽ bị từ bỏ và rằng 1000$ dành cho dự án phải được chi trả như là cổ tức tăng thêm 1$/cổ phần. cho nên giá cổ phần là 10000$/1000=10$ trước khi chi trả cổ tức và 9000$/1000=9$/cổ phần sau khi chi trả.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp chắn bị lỗ. Điêu gì sẽ xảy ra nếu thay vào đó Rational Demiconductor sử dụng 1000$ để mua lại cổ phần? Miễn là doanh nghiệp đưa ra giá hợp lý cho mỗi cổ phần thì 1000$ sẽ mua được 100 cổ . sau khi chi trả cổ tức.

Lợi nhuận 1000$ một năm. sự chuyển dịch giá trị sẽ dành cho cổ đông nào không bán chúng đi. Giả sử các nhà đầu tư kỳ vọng cổ tức được duy . Họ đã từ bỏ không nhận cổ tức tiền mặt nhưng lại nhận được một miếng bánh lớn hơn (từ giá trị doanh nghiệp) Mua lại cổ phần và định giá Việc định giá cổ phần ở các doanh nghiệp có mua lại cổ phần của chính mình dể gây nhiều nhẩm lẫn. chúng ta hãy xem xét một ví dụ đơn giản. Họ tử bỏ 1$ cổ tức tiền mặt nhưng kết cục lại nắm giữ cổ phần trị giá là 10$ thay vì 9$/cổ phần. cổ tức cho mỗi cổ phần do đó là 1000$:100=10$. Công ty X có 100 cổ phần đang lưu hành.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp phần (1000$/10$). chúng ta thấy rằng hành động chuyển dịch từ cổ tức tiền mặt sang mua lại cổ phần không ảnh hưởng đến sự giàu có của các cổ đông. Điều này làm cho 900 cổ phần trị giá 900x10$=9000$. Như dự kiến. lưu ý rằng khi cổ phần được mua lại. tất cả được chi trả cổ tức.

Điều này hợp thành giá trị của 1000$ nhận được từ mua lại cổ phần trong năm thứ nhất (PV mua lại= 1000$:1. Vì hiện nay có 100 cổ phần đang lưu hành nên tổng giá trị trưởng của cổ phần là PV cổ phần=100x100$=10000$.1$) và giá trị của 1000$ cổ tức một năm từ đầu năm thứ hai(PV cổ tức= 1000$: . Trong trường hợp này giá trị mõi cổ phần là PV cổ phần=10$/0.1=10000$). Bây giờ giả sử doanh nghiệp thông báo rằng thay vì chi trả cổ tức tiền mặt năm thứ nhất.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp trì vĩnh viễn và tỷ suất sinh lợi đòi hỏi là 10%. Chúng ta cũng có thể đạt được kết quả tương tự bằng cách chiết khấu tổng chi trả cổ tức cho cổ đông (PV cổ phần=1000$/0.1=100$. tổng dòng tiền dự kiến cho các cổ đông ( cổ tức và tiền mặt từ mua lại cổ phần) không thay đổi ơ mức 1000$.1=909. doanh nghiệp sẽ chỉ ra số tiền tương tự mua lại cổ phần của chính mình trên thị trường mở.1=10000$. Vì thế tổng giá trị cổ phần cũng duy trì ở mức 1000$:0.

091$.09 cổ phần. Mỗi cổ phần tiếp tục trị giá 10000$:100=100$ giống như trước đây.91 cổ phần lưu hành.91=11$/cổ phần. số tiền này đủ để mua lại 1000$. mua lại 9. Bây giờ chúng ta sẽ nghĩ gì về các cổ đông dự định bán cổ phần của họ lại cho doanh nghiệp. Vì thế mức giá mà doanh nghiệp mua lại cổ phần phải là 10% cao hơn mức giá của ngày hôm nay. các cổ đông có 10% cổ phần ít hơn trước nhưng lợi nhuận và cổ tức trên mỗi cổ phần lại cao hơn 10% so với trước đây.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp (0. Doanh nghiệp chỉ ra 1000$ mua lại cổ phần của chính mình. Như vậy trong số cổ phần đang lưu hành ngày hôm nay nhà đầu tư không nhận được cổ tưc năm thứ nhất nhưng bù lại họ sẽ nhận được 11$ cổ tức 1 năm . họ đòi hỏi tỷ suất sinh lơi 10% trên đầu tư của mình. Doanh nghiệp khởi sự với 100 cổ phần.110$=9.1x1. Mỗi cổ phần này có thể dự kiến nhận cổ tức là 1000$:90. như vậy sau khi mua lại. hoặc là 110$.1))=9.09 cổ phần và do đó còn lại 90.

thứ ba. Thứ tư. một doanh nghiệp mua lại cổ phần thay vì chi trả cổ tức sẽ làm giảm số lượn cổ phần lưu hành nhưng lại tạo ra hiệu ứng bù trừ bằng một sự tăng lên trong lợi nhuận và cổ tức mỗi cổ phần. thứ nhất. bạn sẽ không nhận được bất kỳ cổ tức nào sau đó). khi định giá vốn cổ phần. Giá trị của mỗi cổ phần do đó là 11: (0. bạn cần phải đưa vào cả hai yếu tố: tiền mặt chi trả với tư cách là cổ tức và tiền mặt được sử dụng để mua lại cổ phần.1)=100$. nếu các yếu tố khác không thay đổi gí trị doanh nghiệp không chịu tác động bởi quyết định lại cổ phần. Black Scholes cho rằng giá trị . thứ hai. chúng ta sẽ cân nhắc cả hai yếu tố: cổ tức dự kiến mỗi cổ phần “và” tiền mặt nhận được từ mua lại cổ phần ( nếu bạn bán lại cổ phần của bạn. Lập luận của trường phái trung dung Lập luận của trường phái trung dung mà chủ yếu là của Miller. khi tính toán dòng tiền “mỗi cổ phần”.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp sau đó.1x1. Ví dụ của chúng ta minh họa nhiều chủ điểm.

Và có lẽ có đủ các doanh nghiệp chuyển sang chính sách cổ tức thập nhằm thõa mãn nhu cầu của khách hang. Có lẽ cổ tức do đó không có doanh nghiệp nào tin rằng họ có thể tăng giá cổ phần bằng cách đơn giản là thay đổi chính sách cổ tức. Trường phái trung dung cũng nhận thức vấn đề này nhưng họ lại đặt ra câu hỏi sau: nếu doanh nghiệp có thể tăng giá cổ phần của mình bằng cách phân phối nhiều hơn hoặc ít hơn cố tức tiền mặt thì tại sao họ không thực sự làm điều đó.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp doanh nghiệp không chịu tác động bởi chính sách phân phối. các doanh nghiệp đã phát hiện ra các khách hang như thế đã lâu. “Hiệu quả cung ứng” này nhất quán với các khách hàng là những nhà đầu tư có yêu cầu các cổ phần chi trả cổ tức thấp. Nếu như thế thì sẽ không có động lực cho các doanh nghiệp “tăng thêm” chuyển sang chính sách chi trả cổ tức thấp. chúng ta cũng đã thấy rằng các nghiên cứu này là đúng trong một thế giới không có chi phí giao dịch và thuế. .

Nếu tất cả các khách hàng đều được thỏa mãn thì yêu cầu của họ về cổ tức cao hoặc thấp sẽ không tác động đến giá hoặc tỷ suất sinh lợi. không có vấn đề gì đối với doanh nghiệp trong việc lựa chọn khách hàng nào đó để thu hút họ. tại sao nhiều nhà đầu tư như thế lại thích chi trả cổ tức cao? . nếu trường phái trung dung đúng. chúng ta không nên kỳ vọng quan sát bất kỳ quan hệ tổng quát giữa chính sách cổ tức và giá thị trường.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Miller. và giá trị của bất kỳ doanh nghiệp riêng lẻ nào sẽ là độc lập với lựa chọn của họ về chính sách cổ tức. Trường phái trung dung nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp không nên thực hiện chính sách cổ tức hào phóng trừ phi họ tin rằng các nhà đầu tư muốn thê. Black và Scholes cũng đã có những phát hiện giống nhau đối với những khách hàng thích chi trả cổ tức cao và họ cho rằng các khách hàng này cũng được thõa mãn. Nhưng điều này không phải là câu trả lời cho câu hỏi.

Đó là lý do tại sao có nhiều thay đổi mới trong lỹ lẽ của trường phái trung dung. . chẳng hạn. thay vì đầu tư trực tiếp vào cổ phần thường thị họ có thể làm điều đó thông qua một quỹ hưu bổng hoặc công ty bảo hiểm để nhận các phân biệt thuế có lợi hơn. có những sai lầm trong lập luận của trường phái trung dung. Nếu cổ tức cao và phải chịu thuế cao thì thật khó tin rằng các nhà đầu tư nhận được những gì mà họ muốn. phản ứng của trường phải trung dung là họ cho rằng có nhiều kẻ hở trong hệ thống thuế để cho các cổ đông có thể sử dụng để tránh chi trả thuế trên cổ tức. Kể từ năm 1986. phần ứng của trường phái trung dung là họ cho rằng các nhà đầu tư nhận được những gì mà họ muốn.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Trước cải cách thuế. vì thế dễ dàng hơn để cho rằng sẽ có một số lượng lớn khách hàng là các nhà đầu tư sẵn lòng nhận cổ tức cao. bất hợp lý về thuế đối với cổ tức đã biến mất tại Mỹ.

Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Có phải là đạo luật cải cách thuế này đã dẫn đến thay đổi trong thái dộ của nhà đầu tư và doanh nghiệp về chính sách cổ tức. Các lập luận về chính sách cổ tức tác động đến giá trị doanh nghiệp Các học giả thuộc trường phái thứ nhì lập luận rằng giá trị cổ phần thực sự chịu ảnh hưởng của sự phân chia lợi nhuận cho cổ tức và giữ lại để . 2. Trong khi đó. Các doanh nghiệp “tin” rằng đạo luật cải cách thuế đã dẫn đến một sức ép chỉ trả cổ tức cao hơn nhưng chúng ta vẫn cần chờ đợi trước khi chúng ta có thể tin rằng đã từng có sự chuyển dịch trong chi trả cổ tức hoặc tỷ suất sinh lợi đòi hỏi của nhà đầu tư.2. Ở Canada chẵng hạn. chúng ta có thể nhận được một số chứng cứ từ kinh nghiệm của các quốc gia khác đã từng thay đổi thuế suất đánh trên cổ tức so với lãi vốn. chi trả cổ tức đã tăng lên sau khi cơ quan thuế đưa ra thuế suất đánh trên lãi vốn và thuế suất đánh trên cổ tức được cắt giảm cho nhà đầu tư.

cổ tức làm giảm tính .1.2. Về cơ bản. vì sự thành bại của dự án mới trong tương lai vẫn còn là một câu hỏi mở. Gordon khẳng định rằng các cổ đông không thích rủi ro có thể thích một mức cổ tức nào đó hơn là hứa hẹn lãi vốn trong tương lai. Theo Gordon. Không thích rủi ro.vì cổ tức là các thu nhập thường xuyên. 2. Kết luận này nói lên điều gì? Một cách cụ thể. trong khi lãi vốn trong tương lai ít chắc chắn hơn. cổ tức được chia trong tương lai cho dù có lớn hơn nhưng rủi ro hơn (vì tính không chắc chắn) do đó sẽ được chiết khấu ở một mức chiết khấu cao hơn. Myron Gordon trong một nghiên cứu của mình đã đưa ra một lập luận thách thức với những lập luận của lý thuyết M&M là 1USD thu nhập cổ tức hôm nay thì lớn hơn 1 USD lợi nhuận được giữ lại ngày hôm nay để đầu tư vào dự án mới. do đó. chắc chắn. họ đồng ý rằng các ý kiến của MM hợp lý nếu có các giả định hạn của MM.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp tái đầu tư. Nhưng chính sách cổ tức trở nên quan trọng hơn khi không có các giả định này.

. chi phí mô giới và các chênh lệch lô lẻ(số chứng khoán bán ra ít. cho phép họ chiết khấu và giảm giá cổ phần. Tuy nhiên trên thực tế. 2. không đủ để tạo thành đơn vị mua bán trên thị trường nên khó bán và giá thấp) làm cho việc bán cổ phần này tốn kém và không thể thay thế một cách hoàn hảo cho các chi trả cổ tức thường xuyên. Trong thế giới MM cho dù các cổ đông nhận chi trả cổ tức thấp hay thậm chí không chi trả cổ tức thì họ vẫn có thể bán theo định kỳ số cổ phần họ nắm giữ để đáp ứng nhu cầu lợi nhuận hiện tại của mình. Chi phí giao dịch nếu bỏ giả định không có chi phí giao dịch cho các nhà đầu tư. Dù có một vài bằng chứng thực nghiệm hỗ trợ cho lập luận này.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp bất trắc của các cổ đông.2. khó có thể khẳng định là lập luận nào có giá trị hơn – lập luận về nội dung hàm chưa thông tin (hay tác động báo hiệu) của cổ tức hay lập luận về cách giải quyết bất trắc của Gordon. các nhà đầu tư sẽ phải bận tâm họ được nhận cổ tức tiền mặt hay lãi vốn.2.

3. DN có thể biến cổ tức thành lãi vốn Như vậy. vì lãi vốn không chịu thuế cho đến khi bán cổ phần. Thuế việc bỏ giả định không có thuế cũng sẽ có tác động đến cổ đông. John A. theo trường phái này.2. Trong nghiên cứu về chính sách cổ tức từ 1920 – 1960. tiền mặt có sẵn hoặc giữ lại hoặc dùng để mua lại cổ phần” => Bằng cách này. DN nên có chính sách cổ tức thấp. thậm chí có thể là zero . Chính sách thuế Mỹ trước năm 1986 Thuế suất biến tế nhân là 50% cao hơn thuế suất biến tế trên lãi vốn là 20 %.Brittain tìm thấy chứng cứ hỗ trợ cho ý kiến này. Nói chung ông thấy rằng thuế suất tăng làm giảm tỷ lệ chi trả cổ tức. để cổ đông nhận được TSSL trước thuế cao hơn dưới hình thức lãi vốn Điển hình cho quan điểm này là “trường phái cấp tiến cánh tả”: “ nếu thuế đánh trên cổ tức cao hơn lãi vốn thì DN nên giữ chính sách cổ tức thấp. Đây là một chính sách thuế khuyến khích DN giữ mức cổ tức thấp.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp 2.

Dn còn có 1 lợi thế khác là thuế đánh trên cổ tức thì phải trả nay khi nhận cổ tức định kì . đôi khi. Lúc này quan điểm của trường phái trung dung mới thật sự có giá trị. còn thuế đánh trên lãi vốn thì phải nộp khi bán cổ phiếu.lúc này lợi ích về thuế suất đả ko còn tồn tại. Cổ đông chỉ còn 1 lợi thế là được hoãn thuế vài năm cho đến khi bán cổ phiếu mà thôi ( Đối với thuế trên lãi vốn) hoặc là miễn thuế khi nhà DT chết đi. tức là có thể hoãn đến các năm sau.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Ngoài lợi về thuế suất. Chính sách thuế của Mỹ đến sau năm 1986 Khi mà mức thuế biến tế thu nhập cổ tức và lãi vốn xấp xỉ nhau. DN vẫn phải chi trả cổ tức tiền mặt. nguyên nhân là nếu cơ quan thuế phát hiện ciệc DN bảo vệ cổ đông khỏi pải chi trả thuế thì DN phải chịu 1 mức thuế phạt rất cao. Mục đích của chinh phủ nhằm hạn chế DN giữ mức lợi nhuận giữ lại quá cao. Tuy nhiên. Họ cho rằng chính sách thuế đối với từng .

Đối với Úc. Ngoài ra. là hệ thống thuế gián thu DN ( lợi nhuận100$/Cp) đóng thuế DN 33% => 67$/Cp + hóa đơn thuế 33$ chi trả cho nhà DT . tùy theo mục đích của định chế mà họ có thể có chính sách cổ tức cho phù hợp với DN mình giả dụ như Quỹ hưu bổng. + đối với 1 định chế miễn thuế thì chính sách thuế trên cổ tức hay lãi vốn cũng chảng có gì ảnh hưởng lớn đến họ. hệ thống thuế khác nhau cũng ảnh hưởng lớn đến chính sách cổ tức: US là 1 QG có hệ thống thuế 2 lần. Thuế suấ trên cổ tức cao hơn lãi vốn nhưng họ có thể bù trừ nhờ hệ thống thuế TNDN phân nhành ( spilit-system) => nhà DT được miễn thuế thì thích một chính sách cổ tức cao hơn trong khi triệu phú thì thích có một chính sách lại nhuận giữ lại cao hơn.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp chủ thể trong kinh tế cũng ảnh hưởng đến chính sách cổ tức. thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập DN Đối với Đức.

họ có thể bán cổ phiếu. họ lại dùng cổ . tùy vào chính sách thuế .Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Nếu thuế suất TNCN của nhà Dt là 33% thì họ ko phải đóng thuế Tương tự với nhà DT thuế suất 47% => họ phải nộp thêm 14$ Thuế suất 15% => Hoàn trả 18$ Như vậy. mà Dn sẽ có chính sách thuế phù hợp sao cho đem lại lợi ích tối đa cho NDT. Có 3 lý thuyết về mong muốn của các nhà đầu tư hay các cổ đông: • • • Cổ đông không quan tâm nhiều đến việc trả Cổ đông thích được trả cổ tức càng nhiều Cổ đông muốn được trả ít cổ tức (tax cổ tức (dividend is irrelevant) càng tốt (bird in the hand). đối với người có thuế suất TN cao thì ko thích chính sách cổ tức cao và ngược lại. preference). loại hình doanh nghiệp chịu thuế. Nếu họ không muốn tiền. Nói chung . Cổ đông khi muốn có tiền.

Cổ . Cổ đông thích được trả cổ tức càng nhiều càng tốt (bird in the hand). Tuy nhiên. Cổ đông muốn được trả ít cổ tức (tax preference). Modigiliani-Miller (Nobel) năm 1962 ủng hộ lý thuyết này. và theo diễn tiến giá của cổ phiếu của công ty có thể sẽ được đẩy lên cao hơn.6%). tỷ lệ thuế nếu cổ đông tái đầu tư thường nhỏ hơn (có trường hợp miễn) là thuế đánh trên thu nhập cổ tức (Cao nhất là 28% và 39. lý thuyết này dựa trên giả thuyết về thị trường vốn hoàn hảo (không có thuế. Không có sự liên quan giữa cổ tức và tăng thêm cổ phần trong công ty. Các nhà đầu tư và cổ đông sẽ đánh giá cao công ty chi trả cổ tức cao.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp tức mua cổ phiếu. nhà đầu tư cú lý trớ…) nên cần xem xét lại. Cổ đông cho cổ tức ít rủi ro hơn là đầu tư thêm vào công ty. Tại Mỹ. không có chi phí môi giới. Họ thích nắm tiền chắc trong tay.

Modigiliani-Miller (Nobel) năm 1962 ủng hộ lý thuyết này. và điều này có thể làm cho giá cổ phiếu bị hạ. họ lại dùng cổ tức mua cổ phiếu. Cổ đông khi muốn có tiền. Có 3 lý thuyết về mong muốn của các nhà đầu tư hay các cổ đông: • • • Cổ đông không quan tâm nhiều đến việc trả Cổ đông thích được trả cổ tức càng nhiều Cổ đông muốn được trả ít cổ tức (tax cổ tức (dividend is irrelevant) càng tốt (bird in the hand).Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp đông sẽ thích hãng trả cổ tức ít. Không có sự liên quan giữa cổ tức và tăng thêm cổ phần trong công ty. . Nếu họ không muốn tiền. Tại Việt Nam chính sách thuế thu nhập có sự khuyến khích nhất định đối với các nhà đầu tư cổ phiếu. họ có thể bán cổ phiếu. preference).

tỷ lệ thuế nếu cổ đông tái đầu tư thường nhỏ hơn (có trường hợp miễn) là thuế đánh trên thu nhập cổ tức (Cao nhất là 28% và 39. Cổ đông muốn được trả ít cổ tức (tax preference). Họ thích nắm tiền chắc trong tay. Cổ đông sẽ thích hãng trả cổ tức ít. Các nhà đầu tư và cổ đông sẽ đánh giá cao công ty chi trả cổ tức cao. . không có chi phí môi giới.6%).Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Tuy nhiên. lý thuyết này dựa trên giả thuyết về thị trường vốn hoàn hảo (không có thuế. và điều này có thể làm cho giá cổ phiếu bị hạ. Tại Mỹ. Cổ đông cho cổ tức ít rủi ro hơn là đầu tư thêm vào công ty. và theo diễn tiến giá của cổ phiếu của công ty có thể sẽ được đẩy lên cao hơn. Cổ đông thích được trả cổ tức càng nhiều càng tốt (bird in the hand). nhà đầu tư cú lý trớ…) nên cần xem xét lại.

4. Vì vậy việc sử dụng vốn cổ phần từ bên ngoài sẽ làm tăng chi phí sử dụng vốn và làm giảm giá trị doanh nghiệp. Sự hiện diện của chí phí phát hành của việc bán cổ phần thường mới cũng có khuynh hướng làm cho các doanh nghiệp ưa thích giữ lại lợi nhuận hơn. 2. việc chi trả lợi nhuận của doanh nghiệp cần cho đầu tư đòi hỏi doanh nghiệp huy động vốn cổ phần từ bên ngoài.2. Với chính sách đầu tư của một doanh nghiệp. Các chi phí phát hành. Ngoài ra. chi phí của việc bán các phát hành nhỏ cổ phần thường nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư thường quá cao cho hầu hết các doanh nghiệp. Tuy nhiên vốn cổ phần từ bên ngoài tốn kém hơn do chi phí phát hành.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Tại Việt Nam chính sách thuế thu nhập có sự khuyến khích nhất định đối với các nhà đầu tư cổ phiếu. Vì vậy các doanh nghiệp có đủ các cơ .

2. Việc huy động vốn cổ phần từ bên ngoài ( như bán cổ phần thường) trong các thị trường vốn làm cho công ty phải chịu sự giám sát kỷ lưởng của các cơ quan điều phối(SEC-ủy ban chứng khoán và thị trường) và các nhà đầu tư tương lai. Chứng cứ thực nghiệm về việc chính sách cổ tức có tác động đến giá trị doanh nghiệp hay không thì vẫn còn chưa rỏ ràng.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp hội đầu tư để có thể sử dụng vốn giữ lại của mình một cách có lợi thường có khuynh hướng thích giữ lại lợi nhuận hơn. việc này được coi như một chức năng giám sát thành quả của ban điều hành. 2. 2. Việc chi trả cổ tức (dòng tiền chi ra) làm giảm số lượng lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư và đòi hỏi sử dụng nhiều vốn cổ phần từ bên ngoài để tài trợ tăng trưởng.2. Các chi phí đại diện cũng có lập luận rằng chi trả cổ tức có thể làm giảm chi phí đại diện giữa các cổ đông (chủ sở hữu) và ban điều hành.5. Một vài nghiên cứu tìm . Các kết luận về tính liên quan của cổ tức.6.

một doanh nghiệp nên xem xét ưu tiên của các cổ đông cùng với các cơ hội đầu tư và chi phí liên quan của lợi nhuận giữ lại so với cổ phần huy động từ bên ngoài. các nhà đầu tư đòi hỏi lợi nhuận trước thuế cao đối với các cổ phần chi trả cổ tức cao hơn so với cổ phần chi trả cổ tức thấp. Nhiều nhà thực hành tin rằng cổ tức rất quan trọng. . vì nội dung hàm chứa thông tin và vốn cổ phần từ bên ngoài tốn kém hơn vốn cổ phần giữ lại. Như vậy khi xác lập một chính sách cổ tức tố ưu. Các nghiên cứu khác thấy rằng giá cổ phần không chịu ảnh hưởng của chính sách chi trả cổ tức.Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp thấy rằng do tác động của thuế.

Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp .

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->