THÔNG TIN VỀ LÃI SUẤT CƠ BẢN BẰNG ĐỒNG VIỆT NAM CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Posted on 08/07/2008 by Civillawinfor LÃI SUẤT VĂN BẢN LOẠI CĂN CỨ LÃI SUẤT ÁP DỤNG MỨC LÃI TỪ SUẤT CAO NHẤT CHO PHÉP TRONG CÁC GIAO DỊCH 01/12/2009 Không vượt 150% lãi suất cơ bản 01/08/2009 Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản

8%/năm

Quyết định số 2665/QĐNHNN Quyết định số 1811/QĐNHNN

7%/năm

7%/năm

Quyết định số 01/07/2009 Không vượt 1539/2009/QĐ150% lãi suất NHNN cơ bản Quyết định số 01/06/2009 Không vượt 1250/2009/QĐ150% lãi suất NHNN cơ bản Quyết định số …/QĐ-NHNN ngày …./2009 01/05/2009 Không vượt 150% lãi suất cơ bản

7%/năm

7%/năm

7%/năm

Quyết định số 01/04/2009 Không vượt 626/QĐ-NHNN 150% lãi suất ngày 24/3/2009 cơ bản Quyết định số 01/03/2009 Không vượt 378/QĐ-NHNN 150% lãi suất ngày 24/2/2009 cơ bản Quyết định số 01/02/2009 Không vượt 172/QĐ-NHNN 150% lãi suất ngày 23/1/2009 cơ bản Quyết định số 3161QĐNHNN ngày 19/12/2008 Quyết định số 2948/QĐNHNN ngày 03 /12/2008 Quyết định số 22/12/2008 Không vượt 150% lãi suất cơ bản 5/12/2008 Không vượt 150% lãi suất cơ bản

7%/năm

7%/năm

8,5%/năm

Lãi suất cơ bản

10%/năm

Lãi suất cơ

11%/năm

21/11/2008 Không vượt

bản

2809/QĐNHNN ngày 20/11/2008 12%/năm Quyết định số 2559/QĐNHNN ngày 03/11/2008 Quyết định số 2316/QĐNHNN ngày 20/10/2008 Quyết định 2131/QĐNHNN ngày 26/9/2008 - Quyết định số 1906/QĐNHNN ngày 29/8/2008 - Quyết định số 1727/QĐ-NHNN ngày 30/7/2008
- 1434/QĐ-NHNN ngày 26 tháng 6 năm 2008

150% lãi suất cơ bản 05/11/2008 Không vượt 150% lãi suất cơ bản 21/10/2008 Không vượt 150% lãi suất cơ bản Không vượt 150% lãi suất cơ bản Không vượt 150% lãi suất cơ bản Không vượt 150% lãi suất cơ bản Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

13%/năm

Lãi suất cơ bản

14%/năm

1/10/2008

Lãi suất cơ bản

14%/năm

1/9/2008

Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản

14%/năm

1/8/2008

14%/năm

1/07/2008

12%/năm

1257/QĐ01/06/2008 Không vượt NHNN ngày 30 150% lãi suất tháng 5 năm cơ bản 2008 1099/QĐ19/05/2008 Không vượt NHNN ngày 16 150% lãi suất tháng 5 năm cơ bản 2008 978/QĐ-NHNN 01/05/2008 Không vượt ngày 29/4/2008 150% lãi suất cơ bản 689/QĐ01/04/2008 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31 tháng 03 cơ bản năm 2008 Quyết định 01/03/2008 Không vượt 479/QĐ150% lãi suất NHNN ngày cơ bản

Lãi suất cơ bản

12%/năm

Lãi suất cơ bản

8.75%/năm

Lãi suất cơ bản

8.75%

Lãi suất cơ bản

8.75%/năm

29 tháng 2 năm 2008 Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản 8.75%/năm 305/QĐ01/02/2008 Không vượt NHNN Ngày 150% lãi suất 30/1/2008 cơ bản 3096/QĐNHNN 2881/QĐNHNN 01/01/2008 Không vượt 150% lãi suất cơ bản 01/12/2007 Không vượt 150% lãi suất cơ bản

8.25%/năm

8.25%/năm

8,25%/năm

2538/QĐ- 01/11/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31/10/2007 cơ bản 2265/QĐ- 01/10/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 28 tháng 9 năm cơ bản 2007 Số:2018/QĐ- 01/09/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30 tháng 8 năm cơ bản 2007 1787/QĐ- 01/08/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31/7/2007 cơ bản 1546/QĐ- 01/07/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 29/06/2007 cơ bản 1143/QĐ- 01/06/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 29 tháng 5 năm cơ bản 2007 908/QĐ01/05/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 27/04/2007 cơ bản 632/QĐ01/04/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 29/03/2007 cơ bản 424/QĐ01/03/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 27/02/2007 cơ bản số 298/QĐ- 01/02/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31/1/2007 cơ bản

8,25%/năm

Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

8,25%/năm

8,25%/năm

Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản

8.25%/năm

8,25%/năm

8,25%/năm

8,25%/năm

Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

2517/QĐ- 01/01/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 29/12/2006 cơ bản 2308/QĐ- 01/12/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30/11/2006 cơ bản 2045/QĐ- 01/11/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30/10/2006 cơ bản 1887/QĐ- 01/10/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 29/09/2006 cơ bản 1714/QĐ- 01/09/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31/08/2006 cơ bản 1522/QĐ- 01/08/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31/7/2006 cơ bản 1234/QĐ- 01/07/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30/6/2006 cơ bản 1234/QĐ- 01/07/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30/06/2006 cơ bản 1044/QĐ- 01/06/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31/05/2006 cơ bản 854/QĐ01/05/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 28/4/2006 cơ bản 581/QĐ01/04/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30/3/2006 cơ bản 311/QĐ01/03/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 28/2/2006 cơ bản 140/QĐ01/02/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 26/01/2006 cơ bản 1894/QĐ- 01/01/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30/12/2005 cơ bản 1746/QĐ- 01/12/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất

8,25%/năm

Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ bản 8,25%/năm

Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm)

65%/tháng (7.01/09/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 26/8/2005 cơ bản 1103/QĐ.8%/năm) 0.01/08/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 28/7/2005 cơ bản 936/QĐ01/07/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 30/6/2005 cơ bản 781/QĐ01/06/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 31/5/2005 cơ bản 567/QDD.80%/năm) 0.8%/năm) 0.65%/tháng (7.65%/tháng (7.1/12/2005 Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản 0.8%/năm) 0.01/10/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 30/9/2005 cơ bản 1246/QĐ.80%/năm) 0.65%/tháng (7.65%/tháng (7.8%/năm) 0.80%/năm) 0.01/05/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 29/4/2005 cơ bản 567/QĐ01/05/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 29/4/2005 cơ bản 315/QĐ01/04/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 25/03/2005 cơ bản 211/QĐ01/03/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 28/2/2005 cơ bản 93/QĐ-NHNN 01/02/2005 Không vượt ngày 27 tháng 50% lãi suất 1 năm 2005 cơ bản QĐ số 01/01/2005 Không vượt 1716/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 31/12/2004 của Thống đốc NHNN 1522/QĐ.80%/năm) 0.65%/tháng (7.8%/năm) 0.625%/tháng (7.50%/năm) .65%/tháng (7.65%/tháng (7.01/12/2004 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 30/11/2004 của cơ bản Thống đốc Lãi suất cơ bản 0.80%/năm) 0.65%/tháng (7.80%/năm) 0.65%/tháng (7.65%/tháng (7.01/11/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 28/10/2005 cơ bản 1426/QĐ.625%/tháng (7.50%/năm) cơ bản 1556/QĐ.

625%/tháng (7.625%/tháng (7.NHNN Lãi suất cơ bản 0.wordpress.5%/năm) Lãi suất cơ bản 0.5%/năm) Lãi suất cơ bản 0. .625%/tháng (7.5%/năm) * Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam.625%/tháng (7.625%/tháng (7.5%/năm) Lãi suất cơ bản 0.50%/năm) QĐ số 01/11/2004 Không vượt 1398/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 29/10/2004 của Thống đốc NHNN QĐ số 01/10/2004 Không vượt 1254/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 30/9/2004 QĐ số 01/09/2004 Không vượt 1079/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 31/8/2004 của Thống đốc NHNN QĐ Số 01/08/2004 Không vượt 968/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 29/7/2004 của Thống đốc NHNN QĐ số 01/07/2004 Không vượt 797/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 29/6/2004 của Thống đốc NHNN QĐ số 01/06/2004 Không vượt 658/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 28/05/2004 của Thống đốc NHNN Lãi suất cơ bản 0.com/2008/07/08/070820081/ Lãi suất cơ bản 0.625%/tháng (7.50%/năm) Lãi suất cơ bản 0.625%/tháng (7.5%/năm) QĐ số 01/03/2004 Không vượt 210/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 27/02/2004 của Thống đốc NHNN http://thongtinphapluatdansu.

về nguyên tắc tổ chức tín dụng và khách hàng vay tiếp tục thực hiện lãi suất cho vay đó. * Quyết định số 07/2007/QĐ-NHNN Về lãi suất tiền gửi bằng Đô la Mỹ của pháp nhân tại tổ chức tín dụng. Đối với các hợp đồng tín dụng được ký kết trước ngày 19/5/2008. Theo công văn. Bộ Tư pháp. pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. * Quyết định số 62/2006/QĐ-NHNN ngày 29/12/2006 ban hành Quy chế thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất. thì kể từ ngày 19/5/2008. * Ngày 16-7 – 2008. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. mức này nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng. mức lãi suất cho vay có điều chỉnh cũng không được vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa theo quy định tại Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN.gov. quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật trước ngày Thông tư này có hiệu lực pháp luật (15/7/1997). lãi suất cho vay có điều chỉnh (floating) được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 19/5/2008 (ngày Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN có hiệu lực thi hành).moj. Tuy nhiên.* Hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc áp dụng lãi suất theo quy định tại Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN Ngày 15/7/2008. theo quy định của pháp luật dân sự. Tuy nhiên.Theo quy định tại điểm b khoản 4 mục IV Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Toà án nhân dân tối cao. thống đốc nêu rõ mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng ấn định và thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng. thì các tổ chức tín dụng và khách hàng vay được thỏa thuận để điều chỉnh lãi suất cho vay đã ghi trong hợp đồng tín dụng. Theo văn bản này. thì đối với trường hợp tài sản phải thi hành án không phải là hiện vật theo bản án.aspx? nv=137) . nhưng phải trên cơ sở thực hiện đúng quy định tại Điều 4 Bộ luật Dân sự và không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa theo quy định tại Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN. Bộ Tài chính. Việc tính lãi suất chậm thi hành án (HƯỚNG DẪN NGHIỆP VỤ CỦA CỤC THI HÀNH ÁN BỘ TƯ PHÁP – http://nghiepvu. thống đốc Ngân hàng nhà nước có Công văn số 6486/NHNNCSTT gửi các tổ chức tín dụng về việc áp dụng lãi suất đối với khoản nợ gốc quá hạn.vn/xembai. trong đó có thỏa thuận lãi suất cho vay có điều chỉnh. *. về việc điều chỉnh lãi suất cho vay cố định (fixed) được thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký kết trước ngày 19/5/2008. các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng theo lãi suất cho vay có điều chỉnh không vượt quá mức lãi suất cho vay theo quy định tại Quyết dịnh 16/2008/QĐ-NHNN. Ngân hàng Nhà nước đã ban hành văn bản 6399/NHNN-CSTT hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc áp dụng lãi suất theo quy định tại Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008. Ngoài ra. thì cơ quan thi hành án thi hành đúng theo quyết định .

Ngân hàng Nhà nước chỉ quy định khung lãi suất quá hạn cho các ngân hàng thương mại áp dụng (ví dụ quy định khung lãi suất quá hạn là 100% đến 150% mức lãi suất trong hạn).Đối với khoản tiền suất lãi chậm thi hành án. quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp chủ động thi hành) và từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (trường hợp thi hành theo đơn yêu cầu) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền. từ ngày 15/3/2005 trở đi. thì kể từ ngày bản án. để thực hiện thống nhất việc tính lãi chậm thi hành án. (SOURCE: CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP) Bỏ trần lãi suất: Không sợ tạo ra cuộc đua lãi suất http://www. Trong trường hợp này. trong thời gian qua.: 23/03/2010 06:00 GMT+7 . Tuy nhiên. Bộ Tư pháp.của Toà án. hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.tuanvietnam. Mặt khác. kể cả các khoản lãi mà bên phải thi hành án phải chịu do chậm thi hành án gây ra. Thông tư 01/TTLT nêu trên không quy định tiền lãi do chậm thi hành án được tính theo lãi suất của loại vay nào (có kỳ hạn hay không kỳ hạn…) Vì vậy.net/2010-0322-bo-tran-lai-suat-khong-so-tao-racuoc-dua-lai-suat Tác giả: MINH TƯỜNG Bài đã được xuất bản. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. theo quy định tại khoản 1 mục III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Toà án nhân dân tối cao. lãi suất chậm thi hành án sẽ được tính: Số tiền lãi chậm thi hành án = (Số tiền chậm thi hành án x 1%) x 100% x 01 tháng chậm thi hành). Bộ Tài chính. . cơ quan thi hành án tính theo mức thấp nhất của khung lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định cho các Ngân hàng thương mại áp dụng theo từng thời kỳ với mức lãi suất vay trung hạn. Ví dụ: Giả sử người phải thi hành án chậm thi hành 01 tháng và nếu lãi suất vay trung hạn là 1%/tháng và khung lãi suất quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định là từ 100% đến 150% mức lãi suất trong hạn.

5%. Tình trạng này kéo dài suốt từ năm 2007 đến nay. năm 2008 hai chỉ số này lần lượt là 25. nên bỏ quy định về lãi suất trần huy động để giải tỏa ách tắc trong hệ thống tiền tệ.4% và . lãi suất cho vay cũng cao hơn khá nhiều so chỉ số giá tiêu dùng hiện tại. quan ngại việc bỏ trần lãi suất huy động sẽ tạo ra một cuộc đua lãi suất trong hệ thống ngân hàng như năm 2008 sẽ lặp lại. đồng thời cao hơn rất nhiều so với lãi suất tái chiết khấu (7%) và tái cấp vốn (6%).Xung quanh việc Ngân hàng Nhà nước nên hay không nên bỏ lãi suất trần huy động (lãi suất tiền gửi vào các tổ chức tín dụng) hiện có hai chiều ý kiến: Một. lãi suất huy động thực tế của nhiều ngân hàng cũng vượt khá xa so với trần 10.9%. Ảnh: SGTT Giải thích tình trạng lãi suất cao hiện nay có thể đưa ra một số lý do sau: Thứ nhất: Lãi suất được đẩy lên cao là do trong thời gian qua xuất hiện tình trạng chênh lệch khá lớn giữa tốc độ tăng trưởng vốn huy động và cho vay. khi trả lời phỏng vấn Reuters. cho rằng: "tiền Đồng Việt Nam hiện nay.1%. Ngoài ra. Nhận định của Tuần Việt Nam: hiện có đủ yếu tố thị trường để thay đổi lãi suất trần huy động và khả năng có một cuộc chạy đua lãi suất là khó diễn ra. Lãi suất chạm đỉnh Lãi suất cho vay trên thị trường hiện đang phổ biến ở mức 15-17%. Cụ thể. năm 2007. xét trung hạn. Hai. Mức lãi suất này được xem là khá cao so với những năm trước đây (trừ năm 2008). tăng trưởng tín dụng là 53. Phó Tổng Giám đốc điều hành Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) John Lipsky ngày 22/3. tại Hà Nội. trong khi đó tăng trưởng huy động chỉ đạt 46. là không có vấn đề" và "bây giờ là lúc cần có chính sách để củng cố niềm tin vào ổn định vĩ mô".

Đây là một sự nghịch lý vì thông thường lãi suất chiết khấu là công cụ quan trọng trong điều hành lãi suất trên thị trường.4%.7%. Sau đó tỷ lệ dự trữ bắt buộc được nâng lên 11%.000 tỷ đồng vốn giá rẻ cho người đi vay. Gói kích cầu bằng hỗ trợ lãi suất đã tạo ra hơn 400. Giải thích cho điều này có thể là do NHNN đang rất hạn chế cung tiền qua thị trường mở. Nhiều doanh nghiệp tìm mọi cách để vay tiền bất chấp nhu cầu thực tế khiến tăng trưởng tín dụng năm 2009 lên mức 37. họ chỉ thực sự tăng lãi suất huy động khi gặp vấn đề khó khăn trong thanh khoản. NHNN phát hành 20. đồng thời tăng lãi suất cho vay để giảm cầu tiền. Ngoài ra. lãi suất thực tế huy động và cho vay đã cao hơn khá nhiều so với lạm phát và lãi suất chiết khấu của NHNN. Lý do NHNN hạn chế việc cung tiền qua thị trường mở có thể xuất phát từ những lo ngại về lạm phát tiền tệ.20. do vậy. lãi suất cơ bản 14%. Trong trường hợp này công cụ lãi suất chiết khấu đã giảm đi rất nhiều vai trò của nó. NHNN đặt mục tiêu kiểm soát tín dụng ở mức 25% để phòng ngừa nguy cơ lạm phát khiến cho nguồn vốn ngân hàng càng trở nên khan hiếm. Thứ ba: Việc nâng lãi suất huy động và cho vay là một hệ quả của việc tăng trưởng tín dụng nóng năm 2009. Năm 2010. lãi suất huy động cân bằng trong dài hạn có thể ở quanh mức 11%-12%. Khả năng về mức lạm phát cao trong năm nay cũng khó diễn ra do mục tiêu kìm chế lạm phát được ưu tiên trong chỉ đạo của Chính phủ và cầu hàng hóa chưa có dấu hiệu tăng đột biến. tăng trưởng tín dụng 1. Xét về phía ngân hàng.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc kỳ hạn 1 năm. Lúc đó hệ thống ngân hàng căng thẳng thanh khoản khi NHNN thắt chặt các chính sách tiền tệ một cách mạnh mẽ: Ngày 17/03/2008. Đợt bán Trái phiếu chính phủ ngày 18/3 vừa qua đã đạt 60% tổng giá trị chào bán với lãi suất 12%. năm 2009 lần lượt là 37. áp lực trả nợ đè nặng lên nhiều doanh nghiệp bởi việc chi tiêu "quá đà" trong năm trước. lãi suất tái cấp vốn 15%.3%.4%. Sức ép thanh khoản hiện nay của các ngân hàng không lớn như thời điểm 2008. vượt xa mục tiêu 25% của NHNN. Các ngân hàng có thể vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất khá thấp để giải quyết vấn đề thanh khoản của mình sẽ hiệu quả hơn so với việc tăng lãi suất huy . Hai tháng đầu năm 2010. tái chiết khấu lên 13%. Mức chênh lệch kéo dài và quá lớn trên buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất huy động để hút tiền. Thứ hai: Lãi suất huy động và cho vay vượt xa lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn của NHNN. Sự khác biệt giữa hiện nay và thời điểm xảy ra cuộc đua lãi suất 2008 Cuộc đua lãi suất năm 2008 diễn ra trong hoàn cảnh đặc biệt bởi nhiều yếu tố hội tụ. trong khi đó tăng trưởng tiền gửi lại giảm 0.4% và 28.17%. Trong khi hiện tại.

tăng trưởng GDP 5.46%. mục tiêu 6. tỷ lệ dự trữ bắt tăng từ 13 lên 15%. Phát hành tín phiếu Tháng 3/2010 Không còn tín phiếu bắt buộc. Tăng trưởng tín dụng 25. Lãi suất chiết khấu. lãi suất các kỳ hạn 6 tháng tháng đến 1 năm quanh mức 11. Trong khi đó tính đến tháng 3/2010. Lãi suất cơ bản 8%.75 lên 12%. thời điểm diễn ra cuộc chạy đua lãi suất lạm phát đang ở mức rất cao. Bỏ trần lãi suất huy động không tạo ra cuộc đua lãi suất Những phân tích và lập luận trên cho thấy. Ngày 1/06/2008.. lãi suất tái chiết khẩu 6%.5%.. 19/05/2008. lãi suất cở bản điều chỉnh tăng lên 14%. lãi tín dụng mục tiêu 25%. không kỳ hạn và dưới 12 tháng 3%.97%. lãi suất qua đêm quanh mức 7%. So với các kênh đầu tư khác: bất động sản. lãi suất cơ bản điều chỉnh tăng từ 8. .19%. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đang giữ ở mức ổn định. ngọai tệ.5%. lãi suất tái cấp vốn vốn 7%. lãi suất tái cấp tăng từ 11 lên 13%. Dự báo của nhiều tổ chức tài chính trong và ngòai nước cho thấy: đến cuối năm 2010. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc 1% đối với tiền 1/04/2008 tỷ lệ dự trữ bắt buộc nâng - lên 11%.300 tỷ đồng - tục các chính sách tiền tệ mở rộng. tiếp bắt buộc 20. chứng khóan. đồng USD tiếp tục mất giá. Nhà nước cấm họat động kinh doanh vàng trên sàn giao dịch tự do. - buộc tiếp tục duy trì ở mức thấp.động. mức tăng CPI của Việt Nam chỉ ở dưới mức 2 con số.4%. tăng trưởng GDP suất cho vay trung bình trong năm 13. Xét về điều kiện vĩ mô. Lạm phát mục tiêu 7%.12% do tình hình nền kinh tế không hồi phục nhanh như phỏng đóan. Một số khác biệt giữa thời điểm diễn ra cuộc chạy đua lãi suất năm 2008 và hiện nay Năm 2008 Ngày 17/03/2008. một số nhận định còn cho rằng lạm phát có thể trên 30% vào cuối năm 2008. lãi suất tái chiết khấu gửi kỳ hạn trên 12 tháng. kỳ vọng của các nhà đầu tư năm nay cũng không thể vượt quá 11 . rất ít có khả năng xảy ra một cuộc đua lãi suất như lo ngại của nhiều người khi trần lãi suất huy động. lạm phát chỉ vào khỏang 4%. Nguyên nhân là do lãi suất trên thị trường đã tiệm cận mức cân bằng và có thể nhiều lý do để giảm trong thời gian tới. tăng trưởng Lạm phát trung bình năm 22.

Các ngân hàng liên tục giảm lãi suất vì khó ở đầu ra http://atpvietnam.15%/năm. thực hiện phương án thận trọng. Ông Kiều Trọng Tuyến. Giải pháp này giúp khơi thông dòng chảy tín dụng huy động để hút tiền trở lại hệ thống ngân hàng. Phó Tổng giám đốc một NHTM (xin giấu tên) nói: “Tiền gửi vào chúng tôi trong 3 tháng gần đây sụt giảm trung bình vài trăm tỷ đồng/tháng. NHNN có thể bỏ lãi suất trần hoặc. rủi ro thị trường… do lạm phát trong nước cao. Vì vậy. ảnh hưởng khủng hoảng tài chính Mỹ làm khả năng trả nợ của khách hàng giảm sút khiến các NH không muốn đẩy mạnh cho vay mà chú trọng vào việc bảo đảm an toàn hoạt động. 13/10/2008. . vừa khó cho vay vốn. LS huy động có thể vẫn tiếp tục giảm. Rủi ro tín dụng. nhưng các ngân hàng vẫn liên tục giảm lãi suất (LS) tiền gửi. đây cũng là một bước đi cần thiết trên con đường tự do hóa lãi suất của Việt Nam trong thời gian tới. mặc dù nhu cầu vốn cuối năm theo quy luật bao giờ cũng tăng cao. Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì cho rằng: “Giảm LS huy động để giảm áp lực LS cho vay. nhưng chúng tôi vẫn hạ LS huy động. Vì vậy để có vốn rẻ khuyến khích nhu cầu vay của DN tốt thì phải hạ LS huy động. So sánh mức LS huy động cao nhất tại thời điểm hiện nay với cách đây 2 tháng thì LS tiền gửi của NHTM Nhà nước đã giảm 1%/năm và của NHTM cổ phần giảm 1. Ngoài ra. thì dòng tiền vẫn vào ngân hàng mà không còn kênh đầu tư khác. tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho nền kinh tế. nhưng có nguyên nhân là sự dè dặt tăng trưởng tín dụng trong giai đoạn hiện nay.Nếu tiếp tục coi mục tiêu kiềm chế lạm phát là ưu tiên hàng đầu của chính sách năm nay. Có nhiều nguyên nhân khiến các ngân hàng thương mại (NHTM) liên tục hạ LS huy động tiền đồng trong thời gian qua. rủi ro lãi suất. tội gì phải trả LS cao để lỗ” .aspx Thứ hai. nhưng nếu tình hình chứng khoán và bất động sản vẫn ảm đạm như hiện nay. như nâng mức lãi suất trần huy động lên mức 12% đến 13%. 11:15 GMT+7 Dù tốc độ tăng nguồn vốn huy động tiền đồng mấy tháng nay vẫn ở mức thấp. lập lại cân bằng cung cầu trên thị trường tiền tệ. mặt khác không nên để LS tiền gửi cao khiến một số doanh nghiệp không muốn đưa vốn vào sản xuất . Việc thay đổi trần lãi suất huy động cũng đồng thời giúp cho ngân hàng chính thức hóa được những khoản chi phí để thu hút tiền gửi đã vượt trần trong thời gian qua. Một trong những nguyên chính là ngân hàng vừa bị hạn chế. Mặt khác. nhưng khách hàng tốt thì chỉ vay khi LS ở mức hợp lý (chỉ có khách hàng xấu là vay bằng mọi giá).com/vn/thongtinnganh/20732/index. Trong những tháng tới. minh bạch hoạt động ngân hàng. NH nào cũng chỉ muốn cho vay khách hàng tốt.kinh doanh mà lại gửi NH lấy lãi”. không cho vay ra được nhiều.

đại diện một số NH khác không tán thành.5%/năm là hợp lý. nhưng có đối tượng khách hàng xếp hạng tín nhiệm thấp hơn phải chịu LS cao hơn). Chính phủ phải ưu tiên bảo vệ ngân hàng trước”. giảm rủi ro và đa dạng hóa khách hàng (có khách hàng có thể cho vay LS thấp. Trung Quốc… đã đồng loạt giảm lãi suất cơ bản để giải quyết những vấn đề khó khăn của nền kinh tế mỗi nước trong bối cảnh khủng hoảng tài chính đang lan rộng ra toàn cầu. 12/10) Mỹ và châu Âu cùng cắt giảm lãi suất chống khủng hoảng . vài NH đã cân nhắc tăng lại LS huy động USD. Nếu có vấn đề gì về ngoại tệ trong nước thì các NH Việt Nam cũng khó tiếp cận được vốn cho vay của NH nước ngoài vì xếp hạng tín nhiệm của ta còn thấp. Tuy nhiên từ tháng 7 đến nay do nguồn tiền gửi ngoại tệ tăng khá lớn. Hiện mức LS huy động USD cao nhất của NH này là 6%/năm. tuy nhiên để dung hòa lợi ích của các bên và phù hợp với diễn biến của lạm phát cũng như tình hình tài chính thế giới thì có thể nên hạ LSCB xuống mức 13. đa số các ngân hàng đề nghị giữ nguyên lãi suất cơ bản (LSCB) ở mức 14%/năm trong những tháng còn lại của năm 2008. Thêm nữa. Úc. nền kinh tế toàn cầu tăng chậm thì áp lực chống lạm phát rõ ràng là không còn nhiều.2%-8. Vì vậy. Đây cũng là một động thái đáng chú ý và có thể có những tác động nhất định đến việc điều hành lãi suất thời gian tới của Việt Nam. trong mấy ngày qua. nền kinh tế giảm nhập siêu) vì vậy các NH đã giảm dần LS huy động xuống mức phổ biến hiện nay là 5%-5. Hạ LSCB để “ép” lãi suất cho vay xuống. Ngân hàng Trung ương của Mỹ. việc cho vay ngoại tệ lại hạn chế (do đối tượng được vay thu hẹp.(Nguồn: VNN. Nếu NH có vấn đề gì là nền kinh tế “chết” nhanh hơn. Theo một số NHTM Nhà nước thì nên có sự đồng thuận trong Hiệp hội Ngân hàng để hạ mặt bằng LS huy động USD xuống chỉ ở mức trên 2%/năm. tuỳ theo từng kỳ hạn. Canada. Vì vậy. phải để xem diễn biến tình hình vài tuần nữa". có ý kiến lại cho rằng hỗ trợ các NH giảm chi phí để giảm LS cho vay bằng các giải pháp tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc. Lý do đưa ra là lạm phát tính theo năm của Việt Nam vẫn ở mức cao. Ai cũng lo phòng thân cả. Tuy nhiên. bất ngờ. Chúng tôi có thông tin là các NH thế giới hiện nay rất khó vay trên thị trường liên NH. Tháng 4 và 5/2008 do nhu cầu vốn các NH đã đẩy LS huy động USD lên mức rất cao (từ 6. Chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành thì cho rằng đúng ra nên duy trì mức LSCB ở mức như hiện nay cho đến hết năm 2008. Mấy ngày nay.5%/năm so mức cũ.4%/năm. Lãi suất cơ bản có thể giảm nhẹ? Tại 2 cuộc họp thành viên Hiệp hội Ngân hàng tại Hà Nội và TP. Một nhà đầu tư nói: “Với giá nguyên. Khủng hoảng tài chính Mỹ là một ví dụ.Chưa dám hạ lãi suất huy động ngoại tệ Huy động ngoại tệ tại nhiều NHTM đến cuối tháng 9/2008 có dấu hiệu dư thừa. HCM vừa qua. ngày 9/10 Eximbank tăng lãi suất huy động USD khoảng 0. Diễn biến về nguồn vốn ngoại tệ trong bối cảnh khủng hoảng tài chính lan rộng hiện nay tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.5%/năm).25%-0. Phó Tổng Giám đốc một NHTM cổ phần nói: " Mặc dù có hiện tượng thừa nguồn USD tại một số NH nhưng đây chỉ là hiện tượng tạm thời. Thuỵ Điển. Tuy nhiên. châu Âu. Anh. chưa nên hạ tiếp LS ngoại tệ trong lúc này. nhiên liệu đầu vào trên thế giới đều giảm. Việc NHNN giảm lãi suất cơ bản trong giai đoạn tới là tất yếu để tạo sức bật cho nền kinh tế”. hay giữ nguyên mức LSCB để đỡ khó khăn cho NH? Tổng giám đốc một NHTM cổ phần nói: “Hệ thống NH có mạnh thì nền kinh tế mới khỏe. cần hỗ trợ các NHTM giảm lỗ. cho phép sử dụng tín phiếu bắt buộc trên thị trường mở… thì chưa có tác động làm giảm LS cho vay ngay bằng hạ LSCB.

Cụ thể: Lãi suất VND giao dịch bình quân kỳ hạn qua đêm là 11. lãi suất tuần qua của các TCTD tiếp tục xu hướng giảm ở cả huy động lẫn cho vay. châu Âu đã đồng loạt cắt giảm lãi suất cơ bản.Thứ tư.18%/năm. 1 tuần là 13. Lãi suất huy động tại các NHTMNN cao nhất cũng chỉ ở mức 17. 22:46 GMT+7 (ATPvietnam.38%/năm.33%/năm. 3.34%/năm.com) . 2 tuần là 14.5% và 4. lãi suất của Trung Quốc cũng đã được cắt giảm 0. 2. 4.75%.08 %/năm) và NHTMCP ở mức 17.97%/năm. Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và 3 ngân hàng trung ương Anh.24%. 1 năm là 14.25%. 3 tháng là 18.94% năm bằng USD. 6 tháng là 17. 8/10/2008.2% khi đạt mức cao nhất 17. Lãi suất bình quân các kỳ hạn bằng USD tương đối ổn định. Lãi suất cho vay phổ biến của khối ngân hàng nhà nước là 20%-20.50% năm bằng VND và .68%/năm.93%.05%/năm. Đây là một nỗ lực phối hợp chưa từng có tiền lệ nhằm giảm ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái 1929. Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed). Con số này thể hiện điều chỉnh giảm khi lãi suất huy động tại các NHTMNN ở mức 17. 1 tháng là 16. Canada.5% năm bằng VND và 8. HL (Theo Bloomberg.Phản ứng đồng thời ngay sau khi cơn bão khủng hoảng tài chính đang mạnh lên hơn bao giờ hết với tất cả các thị trường chứng khoán lớn trên thế giới tụt giảm. Quyết định đồng loạt cắt giảm lãi suất ngày 8/10 xuất phát từ sự suy sụp dây chuyền của nền kinh tế toàn cầu mà kéo theo đó là tất cả các chỉ số chứng khoán Mỹ đang rơi vào một đợt suy giảm tồi tệ nhất kể từ năm 1937. khối ngân hàng cổ phần là 20.72%/năm. 17:03 GMT+7 Theo số liệu báo cáo nhanh của các tổ chức tín dụng đến ngày 30/9/2008.5 điểm phần trăm xuống tương ứng 1. các nước Mỹ. lãi suất giao dịch bình quân các kỳ hạn bằng VND trên thị trường liên ngân hàng có xu hướng giảm so với tuần trước đó.09%/năm). Trong khi đó.22%/năm (cao hơn 0.5%.47%/năm (0.8. Cùng kỳ hạn này nhóm NHTMCP cao hơn khoảng 0. Thuỵ Điển đã cắt giảm lãi suất cơ bản bớt 0. CNN Money) Hiệu ứng tốt từ tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc Thứ hai.20%-20. Đây là lần cắt giảm thứ 2 liên tiếp trong vòng 3 tuần qua.5%. chỉ số chứng khoán đại diện cho Nhật ngày 8/10 giảm ở mức mạnh nhất trong 2 thập kỷ qua. Trong đó.14%/năm cho kỳ hạn 12 tháng. Ngân hàng Trung ương Nhật cho dù chưa tham gia vào đợt cắt giảm đồng loạt này nhưng cho biết hoàn toàn ủng hộ quyết định nói trên.27 điểm phần trăm xuống 6. 6/10/2008.

ngân hàng liên doanh và chi nhánh Ngân hàng nước ngoài cũng đang xem xét giảm lãi suất cho vay phù hợp với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. trong tuần theo đánh giá của NHNN diễn biến tỷ giá trên thị trường trong nước tương đối ổn định.000 VNĐ 1. thu mua lương thực. hiện ở mức 16. Lãi suất năm 2007 chính thức khởi tranh Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: thuc-khoi-tranh/2007/1/163032.600đ/USD.450. trong đó chú trọng giảm lãi suất đối với các doanh nghiệp xuất khẩu. diễn biến tỷ giá trên thị trường trong nước tương đối ổn định.820.09% năm bằng USD. chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán USD/VND phổ biến từ 40-50 đồng/USD. Một số Ngân hàng thương mại cổ phần.9.000 VNĐ .com. Tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do dao động quanh mức 16.8%/năm so với mức hiện tại (bao gồm cả cho vay thông thường. doanh nghiệp nhỏ và vừa và các dự án đầu tư có hiệu quả.000 VNĐ Xe đạp tập SP . Các ngân hàng thương mại niêm yết tỷ giá dưới mức trần được phép khoảng 205-235 đồng/USD. NHNN cho biết sau khi có quyết định tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng từ 3.600 đồng/USD. hiện ở mức 16.. Ngoài ra.620 đồng/USD.59%-10.000 VNĐ Massage chân Spa Max. Lý giải cho xu hướng giảm lãi suất tại các khối ngân hàng. (Nguồn: Dân Trí. chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán USD/VND phổ biến từ 40-50 đồng/USD. Các ngân hàng thương mại niêm yết tỷ giá dưới mức trần được phép khoảng 205235 đồng/USD.570-16. 1. 6/10).5-1.560-16. giảm từ 0.vip http://dantri.. cho vay ưu tiên).Hộp thả hình tháo ráp [VM111] 641B 185.800.6% lên 5% nhóm Ngân hàng thương mại nhà nước và Ngân hàng TMCP Ngoại thương bắt đầu áp dụng mức lãi suất cho vay mới.620 đồng/USD.570-16. cung . Trong tuần.BF15W 1.560-16. Tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do dao động quanh mức 16.cầu vốn và mặt bằng lãi suất thị trường.vn/kinhdoanh/Lai-suat-nam-2007-chinh- Bộ DVD tổng hợp các đoạn phim lên tinh .

Thứ ba. áp lực tăng lãi suất trên thị trường thế giới cũng giảm bớt. Đây cũng là một hợp lý. Tuy nhiên những cuộc đua tăng lãi suất mới chỉ thực sự khởi tranh là kênh trong vài ngày trở lại đây.1%-0. áp dụng ngay từ ngày đầu tiên của năm (1/1/2007). Đầu năm 2007. Nghịch lý trong hợp lý đang tạo ra những sắc thái mới trong đợt khởi động này. thị trường tiêu dùng bước vào mùa mua sắm chuẩn bị Tết Nguyên đán. thị trường chứng khoán bước vào thời điểm nóng sốt nhất từ trước tới nay.25%/năm cho các kỳ hạn 1.. khả năng đáp ứng cũng đã bị ảnh hưởng từ kỳ đáo hạn tiền gửi cuối năm 2006. lạm phát có dấu hiệu chững lại ở mức khả quan nhất trong ba năm qua. Nhưng lãi suất vẫn tăng. Nếu để ý. trong đó tăng mạnh nhất là tiền gửi từ 50.0. 2 tháng từ 7. nhu cầu vay tiêu dùng tăng cao. Ngân hàng An Bình (ABBank) điều chỉnh lãi suất huy động tiết kinh kiệm USD với biên độ tăng 0. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì các mức lãi suất chủ đạo. Sự cả quyết đó có cơ sở từ sự hợp lý của đợt tăng lãi suất lần này. Ngày 16/1. tăng từ 7. 12 tháng là 9. hoặc quy mô vốn và thương hiệu chưa thực sự mạnh.35%/năm. lãnh đạo một ngân hàng cho rằng nhu cầu vay tiêu dùng tăng cao dịp Tết (giá tiêu dùng cũng tăng cao) là nguyên nhân chính để ngân hàng tăng lãi suất để có tiền đáp ứng.04 . 3 tháng từ 8.000 Việt USD với kỳ hạn 2 tháng (tăng tương ứng từ 4.32 lên 7. Nghịch lý trong hợp lý Những diễn biến trên có vẻ trái với những yếu tố đang hỗ trợ cho khả năng bình ổn lãi suất trên thị trường. Trước đó.000 USD đến dưới 100. Thứ hai. một tổng giám đốc ngân hàng cổ phần cả quyết rằng: “Tôi xin cá là lãi suất sẽ vẫn tăng.35%/năm lên 4. đặc biệt là lãi suất USD. Trong quyết định tăng vừa qua. cung Ngày 15/1.Hà Nội (SHB) quyết định tăng lãi suất huy cấp động đối với cả VND và ngoại tệ. nhiều ngân hàng sẽ phải tăng!”. 2. tạo nên một áp lực cạnh tranh mới với những sắc thái mới.76%.68%/năm. hàng vẫn Mở hàng lãi suất năm nay là Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank) với quyết đang định tăng lãi suất “Tiết kiệm điện tử”. Thậm chí trong lần trò chuyện với báo chí.64 lên chủ 8.11%/năm.. với sự tham gia của một loạt ngân hàng cổ phần.Mở đầu năm kinh doanh mới. Cuối năm 2006. 3 và 6 tế tháng. hàng loạt các ngân hàng cổ phần lần lượt điều chỉnh lãi Ngân suất huy động. nhưng lại đúng với yêu cầu hoạt động nội tại của các ngân hàng.92 lên 8. Ngân hàng Sài Gòn .55%/năm)… Nam. lĩnh lãi cuối vốn kỳ. Cũng trong năm 2006. theo đó tăng lãi suất là một công cụ hiệu quả để hút vốn về phía mình. Ngân hàng Toàn cầu (G-Bank) tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm VND trên địa bàn Hà Nội với mức tăng bình quân từ 0. yếu cho Ngày 16/1. có thể thấy phần lớn các ngân hàng tham gia là những gương mặt mới trên thị trường. Lãi suất mới lĩnh cuối kỳ 6 tháng lên 8.. Lãi suất VND kỳ hạn 1 tháng.3 %/năm. 24 tháng là 9. Đó là một sự hợp lý.68%.16%. lãi suất tăng trong khi vốn khả dụng của nhiều ngân hàng dư thừa đã được xem là một nghịch lý. lượng tiền thay vì gửi tiết kiệm được đổ vào chứng khoán rất lớn khiến hoạt động ..

phí mặt bằng tăng. những hợp lý trên chỉ gói gọn trong yêu cầu nội tại của mỗi ngân hàng. để đáp ứng vốn thì vẫn phải tăng huy động đầu vào từ lãi suất hấp dẫn. thương hiệu lớn thường có khả năng cung vốn dồi dào. Áp lực này có thể chỉ giảm tải trong 5 . Và kỳ vọng đó hiện thực đồng nghĩa với lượng tiền trong dân cư sẽ rời ngân hàng để đổ vào bất động sản. khả năng tự huy động vốn của các doanh nghiệp tốt hơn.. Thứ năm. khi mà tiền lương lao động tăng.BF15W 1. nước… cũng tăng.75% lên 12%? Nguyên thống đốc Ngân hàng nhà nước Cao Sĩ Khiêm. Theo Minh Đức VnEconomy Lẽ ra phải nâng lãi suất cơ bản từ cuối năm 2007 Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: http://vnexpress. 1.000 VNĐ Xe đạp tập SP . đại biểu Cao Sĩ Kiêm. mục tiêu tăng trưởng năm nay khá cao. có thâm niên. Tuy nhiên. cầu vốn cho nền kinh tế lớn mà kênh chủ yếu vẫn là ngân hàng. Còn với ngân hàng tham gia cuộc đua. thành viên Hội đồng tư vấn tiền tệ quốc gia.000 VNĐ Bộ DVD tổng hợp các đoạn phim lên tinh .huy động của ngân hàng bị ảnh hưởng đáng kể. Do đó tăng lãi suất để giảm bớt lực kéo của thị trường chứng khoán là một hợp lý. lại không thể kéo dãn ra mãi. khẳng định rất ủng hộ việc nâng lãi suất cơ bản.7 năm nữa. lợi nhuận chủ yếu.800. Còn trước mắt. khi thị trường vốn phát triển mạnh mẽ hơn. dỡ bỏ trần huy động . khả năng hút vốn mạnh thì vẫn có thể “thảnh thơi” trong đợt khởi động này. cả tiền điện.Ông bình luận thế nào về việc Ngân hàng nhà nước nâng lãi suất cơ bản từ 8. Lãi suất tăng trong bối cảnh này cũng là hợp lý.net/GL/Kinh-doanh/2008/05/3BA0271C/ Bộ nồi Crystal (TW07003) 665. trong khi chênh lệch lãi suất huy động và cho vay. cũng mang tính lâu dài và kỳ vọng là thị trường bất động sản sẽ sôi động trở lại trong năm 2007.000 VNĐ Sáng 20/5. bên lề kỳ họp Quốc hội.000 VNĐ Chảo chống dính Smart HJ09005-1/ 20cm 75. > Lãi suất cơ bản VND lên 12%. có thể sẽ có những cân nhắc khó khăn.. chi phí công sở. Những ngân hàng lớn. Đây cũng là sự chia sẻ mang tính lâu dài mà các ngân hàng phải đối mặt. . Thứ tư. Những dấu hiệu vốn nước ngoài đổ vào thị trường này bước đầu cho thấy kỳ vọng đó có cơ sở. nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.820.

Về phía doanh nghiệp. kéo lãi suất dần xuống thì mọi người đều được hưởng. Đáng lẽ cuối năm ngoái khi lãi suất dâng lên.Lạm phát lên thì lãi suất phải lên. Khi lãi suất cơ bản lên thì hai thị trường kia phải gánh chịu rất lớn và rất khó khăn. hệ quả là gây mất tự do cho các ngân hàng thương mại.vn/kinhte/2008/03/773280/ Bộ nồi Crystal (TW07003) 665. Áp dụng biện pháp cũ này trong tình hình mới thì có còn hợp lý? . biện pháp nâng lãi suất cơ bản là khả dĩ nhất. áp dụng ngay những gì có thể sinh lời hoặc có yếu tố cạnh tranh. mất tự do cho dân và doanh nghiệp. thậm chí phải teo lại để trụ vững. khi ông làm Thống đốc Ngân hàng nhà nước.000 VNĐ Tủ lạnh ôtô MOBICOOL T08 DC 1.Là Chủ tịch hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hồng Khánh (ghi) DN kêu lên Chính phủ khó khăn về tỷ giá. thì Ngân hàng nhà nước và ngân hàng thương mại đều phạm luật. Tất cả phải chấp nhận gồng lên chia sẻ trách nhiệm. lãi suất Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: http://vietnamnet. vượt 200-250%. cần tính toán một cách chặt chẽ. mọi người phải chịu. . doanh nghiệp và dân cũng phải chịu. bỏ lãi suất trần huy động thì sẽ không làm vón cục.900. .. giống như ta đói thì phải ăn cơm. . tránh phạm luật.Thị trường bất động sản và chứng khoán sẽ chịu tác động thế nào từ việc nâng lãi suất cơ bản? .000 VNĐ Hộp thả hình tháo ráp [VM111] 185. có khả năng thực thi tốt và đảm bảo hài hòa các quyền lợi. Chỉ khi nào nền kinh tế ổn định. .Nguồn vốn đổ vào bất động sản và chứng khoán là vốn tín dụng chiếm phần quan trọng. Đó là con đường tất yếu. Như vừa qua chúng ta quy định lãi suất trần. đi ngược lại chủ trương của Đảng? . có thể phải chuyển sản xuất mặt hàng khác. bỏ đi những gì khiếm khuyết. Mặt khác. tiếp tục để lãi suất cơ bản hơn 8%. các giải pháp thành công. Khi lạm phát cao. Cụ thể là phải đổi mới công nghệ. Nhà nước về mặt vĩ mô khi cân đối cũng phải có chính sách hỗ trợ để một số mặt để doanh nghiệp có thể trụ vững. Vừa qua mình quy định lãi suất trần khống chế làm ngân hàng thương mại không huy động được vốn.Tôi hoàn toàn ủng hộ việc nâng lãi suất cơ bản. Trong bối cảnh hiện nay.Nguyên tắc thị trường và những hoạt động tiền tệ có quy luật của nó.Trong điều kiện hiện nay nếu không ban hành lãi suất cơ bản thì còn không có tự do hơn nhiều. Khi lạm phát thì phải rút tiền về rất nhanh và kèm theo đó phải nâng lãi suất. ông đánh giá thế nào về tác động của việc nâng lãi suất cơ bản tới các doanh nghiệp? . Ngân hàng nhà nước phải điều chỉnh ngay lãi suất cơ bản. dân không gửi.000 VNĐ . trong khi lãi suất cho vay lên tới 19%. nền kinh tế bị khựng lại.Ông nhìn nhận thế nào trước ý kiến cho rằng ban hành lãi suất cơ bản có nghĩa là chưa tự do hóa lãi suất. ngân hàng.000 VNĐ Maxcare Max-555 60. tê liệt thị trường. chờ thời cơ phát triển. muốn thực hiện lãi suất dương thì phải nâng lãi suất tiền gửi.Nâng lãi suất cơ bản đến 12% thì tương tự thời kỳ năm 1987-1988. doanh nghiệp không có vốn vay.

Nhiều DN lo ngại. lãi suất cao. một cuộc gặp gỡ với DN và đại diện DN ở phía Nam cũng sẽ được tổ chức vào chiều mai 14/3/2008 ở TP Hồ Chí Minh về vấn đề này.. hỗ trợ DN xuất khẩu. khan hiếm tiền đồng khiến việc vay vốn khó khăn.Đồng USD tiếp tục mất giá. đang đẩy DN xuất khẩu vào hoàn cảnh khó khăn bị dồn nén từ nhiều phía. . Được biết. Để tháo gỡ những khó khăn. mục tiêu xuất khẩu năm 2007 có khả năng bị ảnh hưởng... Bộ Công thương đã có cuộc gặp gỡ để tổng hợp ý kiến các Hiệp hội ngành hàng phía Bắc về các giải pháp và hình thức hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh hàng xuất khẩu. nếu tình trạng này kéo dài.

thậm chí mục tiêu xuất khẩu của từng DN và ngành hàng có thể bị tác động không tốt. Một vấn đề khác mà các DN bức xúc là lãi suất đang lên quá cao. hiện tại. đại diện Hiệp hội Cà phê ca cao cho biết. một đồng USD so với trước đây DN đã mất mấy trăm VND. DN xuất khẩu thu USD về nhưng càng có nhiều USD lại càng lo. đồng USD xuống giá. DN thuỷ sản kêu cứu dư thừa ngoại tệ. nhiều DN đã ví mình đang bị dồn nén từ cả hai đầu.DN xuất khẩu mong ngân hàng đừng ép giá khi mua USD và tăng cường cho vay xuất khẩu. Thứ nhất là. Với mức lãi suất này của doanh nghiệp xuất khẩu hiện nay là cứ sản xuất là lỗ. mếu dở" mà chuyện mua vào. có DN đã phải vay vốn tín dụng qua đêm lên tới 4%/tháng. thu USD về thì tỷ giá lại xuống thấp. . việc bán USD cho các ngân hàng cũng khó khăn do tình trạng • Khó bán USD. tiếp tục mua nguyên liệu sản xuất thì phải chấp • Nới rộng biên độ tỷ giá lên 1% nhận một mức giá thỏa thuận thấp hơn cả biên độ dao động của quy định. TIN LIÊN QUAN Trong hoàn cảnh đó. hiện nay. Đại diện các DN và hiệp hội cho biết. DN muốn bán USD để trả lương công nhân. xem lại cách sử dụng ngoại tệ • Thiệt đơn thiệt kép vì USD. khiến cho DN thiệt thòi trong xuất khẩu. (Ảnh: Phước Hà) Tại cuộc gặp. Bên cạnh đó. nếu tình trạng này kéo dài thì hiệu quả kinh doanh sẽ bị ảnh hưởng. ngân hàng không mặn • Ứ đọng USD. lô hàng càng lớn thì nguyên liệu đầu vào là nhập khẩu hay thu gom trong nước đều chịu cảnh giá cả đầu vào lên cao. doanh nghiệp "khóc dở. hai vấn đề nóng nhất mà các DN quan tâm là giá đồng USD ngày càng giảm so với VND. Trong khi đó.

có những doanh nghiệp phải chấp nhận mức lãi 16%/năm. Có thể Chính phủ nên chỉ đạo các ngân hàng quốc doanh thực hiện lãi suất ở mức hợp lý đối với các hợp đồng vay hàng xuất khẩu. DN cố làm để hoàn thành hợp đồng và giữ uy tín với khách hàng. Trao đổi với các DN. sẽ đề xuất giải quyết các vấn đề bức xúc nhất là điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ hợp lý để DN xuất khẩu có lãi trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Bùi Xuân Khu cho biết. sẽ tập hợp ý kiến đề xuất Thủ tướng tìm biện pháp hỗ trợ DN xuất khẩu. NHNN cũng cần có biện pháp xử lý các ngân hàng thương mại mua bán ngoại tệ thấp hơn mức tỷ giá công bố của NHNN… • Phước Hà Năm 2008. Mức lãi suất này thì làm gì có lãi.Ngân hàng không mặn mà chuyện mua vào USD.tienphong.aspx? . đề nghị các ngân hàng tăng cường cho vay xuất khẩu nhiều hơn. Thứ trưởng Bộ Công thương. lãi suất đi theo hướng nào? Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: ArticleID=106984&ChannelID=3 http://www. Bộ Công thương và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã gặp gỡ nhau bàn các biện pháp để giải quyết những bức xúc trên đây của DN. Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Thành Biên sẽ có một cuộc họp quan trọng với các DN và Hiệp hội ngành hàng phía Nam về các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu.vn/Tianyon/Index. cũng như việc có biện pháp để tăng cho vay xuất khẩu. Trước mắt. thậm chí có doanh nghiệp còn vay vốn tín dụng qua đêm với 4%/tháng. Được biết. vốn vay tín dụng đang lên quá cao với mức 14%/năm. Được biết. (Nguồn ảnh: VNN) Các DN phản ánh. trong ngày 14/3. Trong khoảng một tuần nay. Trước đó. về phía Bộ Công thương đã kiến nghị NHNN yêu cầu và có biện pháp hỗ trợ các ngân hàng thương mại mua toàn bộ ngoại tệ mà các doanh nghiệp thu được từ xuất khẩu theo tỷ giá Nhà nước công bố.

000 tỉ đồng trong vòng ba tháng. Khi đó. dự báo cuộc đua tăng lãi suất giữa các ngân hàng (NH) sẽ được tăng tốc mạnh mẽ. Các NH thương mại ngầm hiểu NH Nhà nước không muốn mặt bằng lãi suất biến động mạnh để có thể tiếp tục kiểm soát lạm phát. thực tế cho thấy ở một số NH cổ phần. Đó là vào tháng hai. Đến tháng mười một. Khó chấp nhận biện pháp hành chính .000 VNĐ Maxcare Max-555 60. Sang tháng tám.HCM -Ảnh: Thanh Đạm các NH đồng loạt tăng lãi suất VND do thị trường chứng khoán “bốc hỏa”. vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển NH Nhà nước.Chảo chống dính Smart HJ09005-1/ 20cm 75. Thay vì tăng lãi suất liên tục sẽ phá vỡ cam kết thực hiện lãi suất thỏa thuận trong Hiệp hội NH VN.000 VNĐ Năm 2008. lạnh” theo chứng khoán Giao dịch tại acombank Thị trường tín dụng năm 2007 có ba mốc đáng nhớ. giám đốc NH Nhà nước chi nhánh TP. lãi suất nhích lên trở lại khi các NH cần vốn ngắn hạn để cho doanh nghiệp vay vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh vào cuối năm. Ông Hồ Hữu Hạnh. không đổi kể từ tháng 12-2005 đến nay. đã có những dấu hiệu cho thấy NH Nhà nước muốn ghìm cuộc đua này lại. cho vay BĐS chiếm khoảng 10% tổng dư nợ của NH là “chấp nhận được”. Chẳng hạn. đặc biệt những NH có qui mô còn nhỏ. tỉ lệ cho vay BĐS đã vượt 20% tổng dư nợ. sau khi tung ra chương trình khuyến mãi trúng vàng. Tuy nhiên. Ông Lê Xuân Nghĩa.000 VNĐ Bộ nồi Crystal (TW07003) 665. chỉ từ giữa tháng mười hai đến nay đã thu hút trên 800 tỉ đồng tiền gửi. các NH tung ra nhiều chiêu khuyến mãi để tăng nhanh vốn huy động.25%/năm. cho rằng để đảm bảo an toàn. NH Nhà nước vừa công bố mức lãi suất cơ bản đồng VN áp dụng trong tháng 1-2008 là 8. Lãi suất “nóng. ở NH Eximbank. so với mục tiêu ban đầu thu hút 2. “hè nhau” đem gửi tiền NH. nhiều người dân rút tiền tiết kiệm để đổ vào chứng khoán. trong các NH đã có sự lo ngại NH Nhà nước sẽ kiểm soát cho vay bất động sản (BĐS) sau khi kềm cặp cho vay chứng khoán. Các công ty chứng khoán. thị trường chuyển biến theo hướng ngược lại khi thị trường chứng khoán trở nên trầm lắng. TP. Nhiều đơn vị dư vốn đành phải hạ lãi suất để từ chối bớt tiền gửi. buộc các NH phải tăng lãi suất để giữ chân khách hàng và cạnh tranh với kênh đầu tư chứng khoán. Có siết cho vay bất động sản? Các chuyên gia NH dự báo mặt bằng lãi suất vẫn đứng ở mức cao hoặc tăng nhẹ trong tháng 1-2008 khi nhu cầu vốn từ các doanh nghiệp vẫn cao cho kỳ kinh doanh Tết Nguyên đán. xác nhận NH Nhà nước đang rà soát việc cho vay BĐS của các NH và xem xét lại tỉ lệ trích lập rủi ro cho vay BĐS. các công ty niêm yết và những nhà đầu tư cá nhân chùn chân.000 VNĐ Hộp thả hình tháo ráp [VM111] 185.HCM. Hiện nay. Trong khi đó.

Sự nối tiếp diễn ra đồng loạt ở khối ngân hàng cổ phần với sự tham gia của Ngân hàng Quốc tế (VIB Bank).com.BF15W 1.Tuy nhiên. NH cổ phần chỉ có cách xoay qua cạnh tranh giành khách hàng cá nhân. Hơn nữa. sẽ khó lòng tìm được sự ủng hộ của thị trường nói chung và các NH nói riêng nếu NH Nhà nước siết cho vay BĐS thông qua việc đưa ra một tỉ lệ khống chế cho vay BĐS đối với một NH.000 VNĐ Maxcare Max-555 60.vip DanTri. tăng trưởng kinh tế có phần đóng góp rất lớn từ thị trường BĐS.820. hiện nay các NH quốc doanh đang chiếm thị phần lớn đối với khách hàng công ty. mà đối tượng khách hàng này chỉ có hai sản phẩm chính là cho vay BĐS và cho vay tiêu dùng.com. Theo ông.000 VNĐ Lãi suất USD của các ngân hàng vừa có sự điều chỉnh đồng loạt. Vì vậy sẽ là “tai hại” nếu NH Nhà nước lại có thêm một “chỉ thị 03” áp dụng cho BĐS. Biện pháp này mang tính hành chính.Nguồn: Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: tang/2007/5/177343.vn http://dantri. Theo Như Hằng Tuổi trẻ Vì sao lãi suất USD tăng?Cập nhật: 03/05/2007 . thậm chí làm thay và can thiệp quá sâu vào hoạt động của NH thương mại. Ngân hàng Quân đội (MB).800. Ngân hàng Đông Nam Á (SeABank) là những cái tên đầu tiên được nhắc đến trong đợt điều chỉnh này. Nhưng với BĐS cho dù giảm giá đến thế nào thì nhà cửa thế chấp vẫn còn đó.900.vn/kinhdoanh/Vi-sao-lai-suat-USD- Xe đạp tập SP . nguồn vốn của NH không còn lối ra. chắc chắn mặt bằng lãi suất sẽ hạ xuống. Các chuyên gia cho rằng có thể kiểm soát cho vay BĐS thông qua việc xét lại tỉ lệ trích dự phòng rủi ro cao hơn đối với tín dụng BĐS. BĐS có liên quan đến nhiều ngành kinh tế khác.000 VNĐ Thảm 2 mặt Pororo 01 2. Việc này không ảnh hưởng lớn đến thị trường như đã làm với chỉ thị về cho vay chứng khoán. lãi suất USD trên thị trường bắt đầu có sự điều chỉnh mang tính khởi động. Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank). “Nếu NH Nhà nước siết cho vay BĐS. Theo các NH. Từ giữa tháng 3/2007. tuy nhiên thay vì những cuộc đua trước đó đây là nhu cầu nội tại. lãnh đạo một NH cho rằng nếu NH Nhà nước đưa ra một tỉ lệ nào đó để áp đặt các NH như chỉ thị 03 nhằm kiểm soát cho vay chứng khoán thì rất khó cho các NH.05:24 .000 VNĐ Tủ lạnh ôtô MOBICOOL T08 DC 1. đặc biệt là thời gian gần đây vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào BĐS là rất lớn. Ngân hàng Á châu (ACB)… và cả thành viên của khối . Điểm đáng chú ý trong diễn biến lãi suất USD từ đầu năm đến nay là vẻ “điềm đạm” khác với sự căng thẳng ở thời điểm cùng kỳ những năm trước.

chênh lệch lãi suất trong nước với thế giới đã được rút ngắn đáng kể. Và phải đến tháng 3. Con số 4 tỷ USD vốn ngoại xếp hàng chờ đổi qua VND để đổ vào thị trường chứng khoán được nhắc đến (có cả trong phát ngôn của một nhà quản lý thị trường.5. trong khi nguồn cung ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng không đủ đáp ứng (theo nhận định của Techcombank). dù con số đó chưa có báo cáo kiểm chứng) như một nguồn cung ngoại tệ dồi dào.25% theo lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) vẫn là một chốt chặn trong thỏa thuận của các ngân hàng. Phải chăng. lãi suất tăng. bởi nguyên nhân chính của đợt điều chỉnh xuất phát từ yêu cầu nội tại của hầu hết các ngân hàng. Ông Đặng Bảo Khánh. không loại trừ khả năng một số ngân hàng mới chuyển đổi sẽ mạnh tay đua để hút khách hàng về mình. có một điểm đáng chú ý liên quan đến . lượng ngoại tệ từ kiều hối tăng mạnh đầu năm cũng là một nguồn cung thuận lợi. Trên thực tế. Tất nhiên. lãi suất huy động USD trên thị trường đã định hình một mặt bằng mới. cá biệt lên tới 5. theo hướng tăng của đồng nội tệ. lãi suất USD đã và đang tăng phổ biến. đặc biệt là các doanh nghiệp nhập khẩu.quốc doanh là Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank). nhưng mốc 5.25%/năm kỳ hạn 24 tháng. áp lực tăng lãi suất mới thực sự bộc lộ và sự vào cuộc của các ngân hàng mới phổ biến hơn. MB hay SeABank. Đây là lý do cơ bản và là yêu cầu nội tại của hầu hết các ngân hàng hiện nay. đặc biệt là vì mục đích đáp ứng nhu cầu vay của doanh nghiệp. Giám đốc Trung tâm Thanh toán và Ngân hàng đại lý Techcombank. Lý giải này mang tính xã giao nhưng rất thực tế trong cuộc cạnh tranh giữ chân khách hàng gửi tiền giữa các ngân hàng thương mại. chênh lệch lãi suất với thị trường thế giới bị rút ngắn. những nguồn cung trên đã tác động đến tỷ giá hồi đầu năm. Tuy nhiên. theo đó hoạt động chuyển ngoại tệ ra gửi ở nước ngoài hưởng chênh lãi như trước đây phần lớn bị loại trừ. Đây cũng là một tín hiệu tích cực trong đợt điều chỉnh này. Vì sao có sự “điềm đạm” đó? Trước hết có một nguyên nhân xuất phát từ ảnh hưởng của thị trường chứng khoán. xoa dịu áp lực tăng lãi suất. Ngoài ra. Điểm đáng chú ý trong diễn biến lãi suất USD từ đầu năm đến nay là vẻ “điềm đạm” khác với sự căng thẳng ở thời điểm cùng kỳ những năm trước. có sự thay đổi trong nguồn cung trên thị trường? Trong các lý giải về quyết định điều chỉnh lãi suất của mình. khi mà nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu bước vào mùa cao điểm. Techcombank… đều đề cập đến một ý nghĩa là tăng quyền lợi cho khách hàng của mình. Về đợt điều chỉnh này. Với mặt bằng mới. Qua đợt điều chỉnh. tích cực ở hướng hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp trong nước. đến thời điểm này. Nhu cầu vay ngoại tệ cao. từ 5 . cho rằng quyết định tăng lãi suất USD vừa qua là phù hợp với diễn biến của thị trường. Cũng trong nguyên nhân nguồn cung ngoại tệ. Lý do thứ hai được đưa ra là để đảm bảo nguồn cung ngoại tệ cho nhu cầu vay. tính chất nóng sốt của những cuộc đua diễn ra từ cuối năm 2003 đến năm 2006 không còn diễn ra gay gắt.05%/năm kỳ hạn 12 tháng.

05:47 . Tính chung cả tuần qua.com. chi trả lợi nhuận… Nguồn cung USD trên thị trường có thêm một lực hút mạnh. gần như không tăng so với những ngày trước.000 VNĐ Hộp thả hình tháo ráp [VM111] 185. thực hiện từ 1/3/2007. hiệu quả cơ chế mới còn chờ kiểm chứng. Ngày 29/3. dù không có thống kê cụ thể như chắc chắn là rất lớn. Nhưng có một điểm có thể khẳng định là nguồn vốn huy động theo kênh này vẫn hạn chế khi mà đồng vốn của doanh nghiệp thường năng động tìm những hướng đầu tư thu lợi cao hơn. Như vậy xét bình quân trong tháng ba.sự dịch chuyển của các dòng vốn trên thị trường chứng khoán. bên kia thì nhận định lãi suất đang có chiều hướng giảm. tỉ giá được giao dịch ổn định quanh mức 16.015.vn Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: huong-nao/2007/3/172749.000 VNĐ Thị trường tiền tệ đang đón nhận hai luồng thông tin trái chiều: một bên cho rằng các ngân hàng (NH) sắp có một đợt tăng lãi suất mới. được quy đổi sang USD để hạch toán lợi nhuận. Theo Minh Đức VnEconomy Lãi suất ngân hàng theo hướng nào?Cập nhật: 30/03/2007 .vn/kinhdoanh/Lai-suat-ngan-hang-theo- Tủ lạnh ôtô MOBICOOL T08 DC 1. Incombank… cũng đã lần lượt nâng lãi suất USD đối với tiền gửi của tổ chức. Trên thực tế. Có một câu hỏi được đặt ra trong đợt điều chỉnh này. Lượng tiền họ thu về.000 VNĐ Bộ nồi Crystal (TW07003) 665. doanh nghiệp theo cơ chế mới. Mới triển khai. đó là tại sao lãi suất tăng khi mà các ngân hàng vừa có được một cơ chế hút ngoại tệ rất thuận lợi? Đó là chủ trương “cởi trói” lãi suất USD đối với tiền gửi của tổ chức. Còn các ông chủ nhà băng nói gì? Chưa đáng kể Chứng khoán có "hút" tiền tiết kiệm nhưng không nhiều. thay vì tìm đến ngân hàng để hưởng lãi hàng tháng.900. doanh nghiệp vào ngân hàng.Nguồn: DanTri.com.vip http://dantri. cả tỉ giá chính thức do NH Nhà nước . tỉ giá USD/VNĐ do Vietcombank TPHCM công bố đứng ở mức 16. Thời điểm lãi suất USD bắt đầu tăng cũng trùng hợp “ngẫu nhiên” với xu hướng bán ra của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán.000 VNĐ Maxcare Max-555 60. ACB.022 đồng ăn 1 USD. các ngân hàng như MB.

phó tổng giám đốc một NH cổ phần nhận định.3% trong hai tháng đầu năm. Theo người này. cung vốn tiền đồng tại NH rất dồi dào cũng còn do các công ty cổ phần nhân lúc giá cổ phiếu ở mức cao đã phát hành cổ phiếu để huy động vốn nhưng chưa sử dụng hết. Theo các NH. nhu cầu USD bắt đầu tăng trên thị trường nội địa khi nhiều nhà đầu tư nước ngoài bán ra các cổ phiếu và trái phiếu để chuyển lợi nhuận về nước và chuẩn bị cho một chu kỳ kinh doanh mới.000 tỉ đồng ra khỏi nền kinh tế thông qua việc mua bán giấy tờ có giá và đấu thầu trái phiếu.5%. các NH phải trả lãi suất 0.22% so với tháng hai. sau khi tăng khoảng 0. Báo cáo của Tổng cục Thống kê cho thấy giá cả tổng thể trong tháng này sẽ giảm 0.. nơi này đã rút khoảng 12. Thế nhưng từ tháng ba. Tuy nhiên. Bộ Tài chính nhắm đến việc duy trì lạm phát trong năm 2007 thấp hơn 7%. Chỉ khác đi là thay vì đó là tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.7%/tháng thì nay chỉ phải trả 0. khi các kênh đầu tư khác như thị trường chứng khoán. bất động sản. “Đúng là người dân ít gửi tiết kiệm nhưng chúng tôi vẫn đang thừa vốn ngắn hạn do các nhà đầu tư trong nước lẫn nước ngoài vẫn để tiền trong tài khoản chờ đầu tư. có thiếu vốn đâu mà phải tăng lãi suất” .công bố hằng ngày lẫn tỉ giá giao dịch thực tế ở các NH cho thấy tiền đồng đứng giá so với USD. Tuần trước. cục bộ.25%/tháng cho khoản tiền gửi không kỳ hạn nằm chờ trong tài khoản ở các công ty chứng khoán” . tạm thời gửi ở NH. NH Nhà nước đã giải quyết việc thừa vốn tại các NH và giảm bớt sức ép lên lạm phát. “Việc này chỉ diễn ra đây đó. như vậy buộc các NH phải nâng lãi suất lên.6-0. Các NH lý giải việc tiền đồng tăng giá trong hai tháng đầu năm vì các nhà đầu tư nước ngoài liên tục bán USD để lấy tiền đồng đầu tư vào chứng khoán.. “Giao dịch mua . các chuyên gia tài chính cho rằng các NH đang ở trong một trạng thái đặc biệt khiến khả năng tăng lãi suất sẽ khó có thể xảy ra trong một vài tháng tới. chứ không còn thiên về bán như trước nữa.trưởng phòng tín dụng của một NH cho biết. do đó lãi suất cho vay cũng tăng theo. việc người dân rút tiết kiệm tiền đồng để đầu tư vào CK đang diễn ra nhưng chưa phải là một trào lưu. theo lẽ thường.đại diện một NH nước ngoài nhận định. đang hút vốn như hiện nay thì các NH sẽ tính chuyện tăng lãi suất huy động để thu hút khách hàng và giữ nguồn vốn không bị chảy ra ngoài. Từ đó có thể nói tỉ giá sẽ tiếp tục ổn định. Thống đốc NH Nhà nước Lê Đức Thúy cũng thừa nhận việc người dân rút tiền chơi chứng khoán có thể ảnh hưởng đến NH ở chỗ vốn NH huy động không đủ cho nhu cầu kinh tế thì nhất định phải có sự tranh chấp về vốn. theo đúng với mục tiêu của Chính phủ là giữ lạm phát ở mức dưới mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8.bán USD hiện nay có thể nói là cân bằng. nếu sự cân bằng này được duy trì” . nhưng số tiền này cũng được đưa trở lại vào hệ thống NH vì các công ty chứng khoán không giữ tiền. Một NH nước ngoài cũng nhận định việc thừa cung vốn có thể kéo dài đến hết . làm chỉ số giá cả tiêu dùng (CPI) trong ba tháng đầu năm đạt 3%. Doanh nghiệp tìm vốn ở chứng khoán Theo các NH.

quí 2. bổ sung Luật NHNN Luật NHNN phải thể chế hóa được quan điểm. Lãi suất trên thị trường liên NH đang thấp như vậy chắc chắn sẽ kéo mặt bằng lãi suất huy động của các NH đi xuống” . những quy định vẫn còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Luật NHNN 2010 kế thừa và phát huy những ưu điểm. thống nhất. bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 10/2003/QH11. chính sách của Đảng và Nhà nước. thẩm quyền của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là Ngân hàng trung ương và các cơ quan liên quan trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ. sửa đổi so với Luật NHNN Việt Nam năm 1997 và Luật sửa đổi. Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12. Theo Như Hằng Báo Tuổi trẻ Những điểm mới quan trọng trong Luật NHNN Việt Nam 2010 Trong những năm gần đây. bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật Việt Nam và sự hài hòa giữa các quy định của pháp luật liên quan nhưng vẫn .33%/tháng . Bên cạnh đó.trưởng phòng vốn và kinh doanh tiền tệ của một NH khẳng định. đồng thời tạo điều kiện đẩy nhanh cải cách. nhiều chủ trương. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 cũng đã tác động mạnh mẽ tới việc điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng trung ương. Ngày 16/6/2010. Tại Việt Nam. từng bước thực hiện được mục tiêu.6%/tháng). chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tổ chức và hoạt động của NHNN. đổi mới về tổ chức và hoạt động của NHNN. bất cập của những quy định hiện hành. Đồng thời. đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế. nhiều văn bản mới đã được ban hành trong thời gian qua. thậm chí có NH quốc doanh đã cung cấp nguồn vốn kỳ hạn một tháng cho các NH bạn chỉ ở mức 4%/năm (0. nên cần có hệ thống văn bản pháp luật ngân hàng đồng bộ.so với mức lãi suất huy động một tháng từ người dân của các NH là khoảng 0. có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 và thay thế Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997/QH10 và Luật sửa đổi. thể hiện được tính đặc thù của hệ thống ngân hàng Việt Nam. tại kỳ họp thứ 7. tạo cơ sở pháp lý để thể chế hoá các chủ trương. bổ sung năm 2003. Trong phạm vi bài viết này xin giới thiệu một số điểm mới quan trọng của Luật NHNN Việt Nam 2010. định hướng về phát triển NHNN theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X. phù hợp với thể chế chính trị của Việt Nam. chính sách và định hướng đổi mới của Đảng và Nhà nước về hoạt động ngân hàng nói chung và NHNN nói riêng đã được ban hành. khắc phục được những hạn chế. dẫn đến yêu cầu cấp thiết trong việc mở rộng vai trò của các ngân hàng trung ương nhằm đảm bảo ổn định hệ thống tài chính và giám sát rủi ro hệ thống hiệu quả. Quan điểm chỉ đạo cơ bản của việc sửa đổi. một phần cũng vì do chậm trễ giải ngân cho chi tiêu Chính phủ tới tháng năm. “Lãi suất trên thị trường liên NH đang xuống rất thấp. Luật NHNN Việt Nam số 46/2010/QH12 có nhiều nội dung thay đổi. sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của hệ thống tài chính nói riêng đã đặt ra yêu cầu có quy định cụ thể hơn về trách nhiệm. vai trò của các ngân hàng trung ương đã có sự thay đổi rất lớn nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.

Cuối cùng. việc sửa đổi Luật NHNN phải phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết và thông lệ. Cho vay. NHNN) đối với chính sách tiền tệ. Chính phủ. thẩm quyền và tính chủ động của NHNN trong việc sử dụng các công cụ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ cũng như giám sát an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng. Theo quy định của Luật NHNN VN 2010. Luật NHNN 2010 tạo cơ sở pháp lý để nâng cao một bước trách nhiệm. Luật bỏ quy định về giới hạn tỷ lệ dữ trữ bắt buộc từ 0% đến 20% để bảo đảm sự linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN. Về thẩm quyền quyết định chính sách tiền tệ quốc gia. bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát. nhiều nội dung trong mục này đã được điều chỉnh để thể hiện chính xác hơn các công cụ của chính sách tiền tệ. tính thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam. Luật cụ thể hóa được vai trò. tỷ giá hối . phù hợp với các luật có liên quan. thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia là một trong những lĩnh vực hoạt động quan trọng nhất của NHNN. Quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối. Riêng đối với công cụ dự trữ bắt buộc. Hoạt động thông tin. gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Hoạt động thanh toán và ngân quỹ. quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra. vị trí của các cơ quan nhà nước trong việc quyết định và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia trên cơ sở phù hợp Hiến pháp. bảo lãnh. nhằm tạo sự thống nhất chung trong hệ thống pháp luật. tạm ứng cho ngân sách. Chủ tịch nước thực hiện nhiệm vụ. Bên cạnh đó. báo cáo. Trong Luật NHNN vừa được thông qua. Thủ tướng Chính phủ. dựa trên yêu cầu tăng cường tính hệ thống. Chính phủ trình Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hàng năm. NHNN có 6 lĩnh vực hoạt động nghiệp vụ chủ yếu gồm: Thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. Luật quy định rõ thẩm quyền của Thống đốc NHNN trong việc quyết định sử dụng công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. chuẩn mực quốc tế về ngân hàng. bảo đảm sự thống nhất giữa các đạo luật mới được ban hành với những nội dung sửa đổi. ký kết.tôn trọng đặc thù của NHNN. chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. bổ sung. Cụ thể là: Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hàng năm được thể hiện thông qua việc quyết định chỉ số giá tiêu dùng và giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Trong đó. Thống đốc NHNN quyết định việc sử dụng các công cụ và biện pháp điều hành để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia theo quy định của Chính phủ. Phát hành tiền. Những nội dung mới của Luật NHNN Đối với việc hoạch định và thực thi Chính sách tiền tệ Luật quy định rõ khái niệm chính sách tiền tệ quốc gia để làm cơ sở xây dựng thẩm quyền của các cơ quan (Quốc hội. Thẩm quyền cụ thể của NHNN trong việc thực thi chính sách tiền tệ Thống đốc NHNN quyết định việc sử dụng các công cụ tái cấp vốn. Luật Tổ chức Chính phủ. lãi suất. Theo đó. tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập quốc tế của nền kinh tế nước ta. quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật quy định trong việc đàm phán. đồng thời nâng cao thẩm quyền của NHNN trong việc trả lãi đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc.

Bên cạnh đó. cơ chế điều hành tỷ giá. NHNN tham gia với Bộ Tài chính về việc phát hành trái phiếu chính phủ. Luật đã quy định lãi suất điều hành chính sách tiền tệ và lãi suất cơ bản để chống cho vay nặng lãi.đoái. cụ thể: NHNN có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp xử lý đặc biệt đối với TCTD vi phạm nghiêm . Lao động. xử lý sớm các TCTD đã được quy định cụ thể hơn nhằm ngăn chặn kịp thời những khả năng đổ vỡ. can thiệp khi phát sinh khó khăn và chủ động xử lý khi có nguy cơ đổ vỡ. giám sát việc chấp hành chính sách. pháp luật về tiền tệ và ngân hàng với thanh tra. giám sát ngân hàng là sự kết hợp thanh tra. công khai thông tin về tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo qui định của pháp luật. Luật quy định theo hướng khẳng định thẩm quyền của NHNN trong toàn bộ quá trình giám sát an toàn hoạt động của TCTD từ khâu cấp phép. Thống đốc NHNN có quyền thành lập các ban. giám sát an toàn hoạt động ngân hàng như sau: Thanh tra. kể cả các hoạt động thông qua các công ty con của các TCTD. trường hợp có sự khác nhau giữa quy định về thanh tra. Thống đốc NHNN quy định trình tự. giám sát ngân hàng được thực hiện theo quy định của Luật NHNN và các quy định khác của pháp luật có liên quan. hội đồng tư vấn về các vấn đề liên quan đến chức năng. giám sát an toàn hoạt động ngân hàng: Luật quy định việc thanh tra. Về nguyên tắc thực hiện thanh tra. giám sát rủi ro trong hoạt động của đối tượng thanh tra. chủ trì lập. NHNN tổ chức hệ thống thống kê. giám sát hoạt động. theo dõi. giám sát ngân hàng của Luật NHNN với quy định của luật khác thì thực hiện theo quy định của Luật NHNN. Thẩm quyền của NHNN trong việc can thiệp. hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng… Vai trò. nhiệm vụ của NHNN. Hoạt động của NHNN được qui định rộng hơn trong trường hợp cho vay đặc biệt đảm bảo có thể can thiệp sớm hơn. thủ tục thanh tra. Theo quy định của Luật này. giám sát an toàn hoạt động ngân hàng với thanh tra hành chính thông thường thông qua việc đưa ra nguyên tắc cho hoạt động thanh tra. dự báo về tiền tệ và ngân hàng. dự trữ bắt buộc. NHNN quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các TCTD với nhau và với khách hàng. vừa đảm bảo để NHNN điều hành. thực thi chính sách tiền tệ. Cụ thể. theo dõi. nghiệp vụ thị trường mở để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước… Đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để NHNN thay đổi nội hàm lãi suất cơ bản theo hướng lãi suất cơ bản không phải là cơ sở để các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh mà làm cơ sở cho việc phòng. Thẩm quyền của NHNN trong thực thi chính sách tiền tệ nhằm ổn định giá trị đồng tiền đã được nâng cao hơn . trái phiếu do Chính phủ bảo lãnh. NHNN quyết định chế độ tỷ giá. Hình sự. Trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường. dự báo và phân tích kết quả thực hiện cán cân thanh toán quốc tế. Luật mở rộng phạm vi giám sát đối với toàn bộ hoạt động của một TCTD. vừa có cơ sở để áp dụng quy định của các luật liên quan như Luật Dân sự. các quan hệ tín dụng khác. chống cho vay nặng lãi trong nền kinh tế. giám sát ngân hàng. giám sát cũng được điều chỉnh để tăng cường thẩm quyền trong việc xử lý rủi ro của TCTD. các quy định của Luật NHNN khẳng định sự khác biệt về bản chất giữa thanh tra. nhiệm vụ của NHNN trên lĩnh vực thanh tra. giám sát ngân hàng. Bên cạnh đó. Về công cụ lãi suất. xây dựng quy chế an toàn.

tham gia góp vốn vào Công ty chuyển mạch thẻ quốc gia…). Việc Quốc hội ban hành Luật NHNN Việt Nam năm 2010 là một sự kiện quan trọng đánh dấu một bước phát triển mới trong việc hoàn thiện thể chế về tổ chức và hoạt động của NHNN theo cơ chế thị trường. Theo đó về nguyên tắc Kho bạc Nhà nước phải mở tài khoản tại NHNN. các thể chế và thẩm quyền của NHNN đối với các TCTD đã được cụ thể hoá rất rõ trong Luật NHNN. Để bảo đảm có cơ quan Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi. công khai hoá các quyết định trong điều hành của mình không những với cơ quan cấp trên mà còn với công chúng. gồm mua cổ phần của TCTD. quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật về phá sản đối với TCTD. quan trọng trong hoạt động của Ngân hàng Trung ương nhằm minh bạch hoá. Đây là nội dung mới. gặp khó khăn về tài chính. Về tính minh bạch và trách nhiệm giải trình: Luật quy định rõ trách nhiệm giải trình. hợp nhất. Chính phủ và công chúng. miễn nhiệm chức vụ người quản lý. Bên cạnh đó. nhiệm vụ của NHNN trong quá trình hội nhập kinh tế. để đảm bảo kỷ luật trong hoạt động ngân hàng. thực hiện nhiệm vụ. Luật đã có quy định mang tính nguyên tắc về thẩm quyền của NHNN đối với bảo hiểm tiền gửi: “Thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi” (khoản 14 Điều 4). không nhằm mục tiêu kinh doanh thu lợi nhuận (như thành lập Nhà máy in tiền quốc gia. Luật đã quy định cụ thể nghĩa vụ của các cá nhân. Về nội dung góp vốn thành lập doanh nghiệp: Luật có quy định cho phép NHNN được sử dụng vốn pháp định để góp vốn thành lập doanh nghiệp đặc thù nhằm thực hiện chức năng. thành phố trực thuộc trung ương. Ở tỉnh. báo cáo của NHNN trước Quốc hội. NHNN là một cơ quan quản lý tham gia tham mưu kinh tế vĩ mô nên nguồn thông tin là những dữ liệu rất quan trọng để NHNN xây dựng chính sách. chính xác số liệu về quan hệ tiền gửi và cho vay của NHNN đối với Ngân sách Nhà nước phục vụ công tác điều hành chính sách tiền tệ một cách chặt chẽ. thị trường. huyện. việc thực hiện các giao dịch cho Kho bạc Nhà nước theo quy định của NHNN. có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng. người điều hành của TCTD. nhiệm vụ của NHNN. thành phố thuộc tỉnh không có chi nhánh của NHNN. Trong một bài phỏng vấn báo chí. tạm đình chỉ. nhiệm vụ của NHNN theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. giải thể TCTD. Luật có quy định liên quan đến việc mở tài khoản của Kho bạc Nhà nước tại NHNN. đánh giá diễn biến thị trường và đưa ra các quyết định. Thẩm quyền quản lý nhà nước đối với bảo hiểm tiền gửi: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi gắn chặt với hoạt động ngân hàng và khách hàng gửi tiền tại TCTD. thị xã. NHNN không tham gia góp vốn vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực khác ngoài chức năng nhiệm vụ của NHNN. Ngoài ra. đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng. tiếp cận gần hơn với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế.trọng các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng. số liệu cho NHNN. hiệu quả. Việc góp vốn thành lập doanh nghiệp nhằm thực thi một số chức năng. tổ chức trong việc cung cấp thông tin. đình chỉ. Tiến sỹ Nguyễn Văn Giàu - . quyết định sáp nhập. Đối với việc mở tài khoản của Kho bạc Nhà nước: Nhằm mục tiêu bảo đảm NHNN luôn có được đầy đủ. quận. đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.

nhưng công cụ chính vẫn là giảm cung tiền. các ngân hàng tăng lãi suất huy động bởi dựa trên 2 lý do chính. Có khả năng điểm đầu tiên của đợt bùng nổ cho vay khoảng tháng 6/2011. nếu các ngân hàng thương mại không chuẩn bị cho lượng trữ tiền cần thiết sẽ dẫn đến không thể cung ứng vốn.gov. Hai lý do này đều phục vụ trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn. Tuy nhiên. và tất nhiên. xây dựng theo hướng đảm bảo thực hiện được đồng thời cả hai chức năng nói trên”. Trước tình hình kinh tế đang có chiều hướng phục hồi như hiện nay. việc tăng lãi suất huy động là yếu tố làm giảm . việc điều chỉnh lãi suất là chuyện đương nhiên. MH – SN http://www. nhiệm vụ của NHNN với tư cách là Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Lý do thứ hai. và tất nhiên. 17 April 2010 04:41 administrator Bài viết này phân tích việc các ngân hàng tăng lãi suất huy động và giảm lãi suất cho vay trong bối cảnh kinh tế dần phục hồi. Trong bài viết này. Theo đó. đội ngũ cán bộ và cơ chế vận hành được thiết kế. qua đó khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa hai chức năng quan trọng của một Ngân hàng Trung ương: Thực thi chính sách tiền tệ và giám sát an toàn hoạt động của hệ thống các TCTD. Tác giả bài viết này trình bày quan điểm phân tích tại thời điểm tháng 04/2010. cơ cấu tổ chức.vn TẠI SAO NGÂN HÀNG GIẢM LÃI SUẤT CHO VAY VÀ TĂNG LÃI SUẤT HUY ĐỘNG? Saturday. sau khi được NHNN “bật đèn xanh” cho phép lãi suất cho vay thỏa thuận. vì động thái điều chỉnh lãi suất cũng chẳng qua là một “sản phẩm” không thể thiếu của ngân hàng trước các biến động kinh tế.sbv. cả hai lý do đều tìm kiếm được sự đồng thuận của NHNN. Mặc dù trong ngắn hạn. Lý do thứ nhất. Một khi các dự án đi vào triển khai thì nhu cầu tiền sẽ tăng. Đây là nội dung quan trọng đã được thực tiễn chứng minh qua các cuộc khủng hoảng tài chính ở các nước vừa qua. sau suy thoái thông thường là lạm phát. giúp Ngân hàng Nhà nước thực hiện được chính sách của mình là giảm cung tiền để bình ổn giá cả và lạm phát. đồng thời xác định rõ các chức năng. các ngân hàng đưa ra mức lãi cho vay thỏa thuận lên đến 16%. Thứ nhất. một số dự án lớn đang rục rịch triển khai sau giai đoạn suy thoái báo trước nhu cầu vay bắt đầu tăng. xin phân tích 2 khía cạnh bao gồm tăng lãi suất huy động và giảm lãi suất cho vay. thậm chí có nơi là 18% hoặc 20%. Mặc dù NHNN đang cố kìm hãm lạm phát thông qua hàng loạt công cụ tài chính. và điều đó thì sẽ xảy ra ngay trong tương lai gần. Việc tăng huy động tiền gửi bằng cách tăng lãi suất huy động sẽ giúp các Ngân hàng Thương mại dự trữ sẵn lượng tiền cần thiết. khi thị trường địa ốc phát triển thì nhu cầu cung ứng vốn tín dụng là tất yếu. Ngoài ra. chủ thể hỗ trợ giảm cung tiền là các NHTM. điều mà chúng ta quan tâm là tại sao các ngân hàng đang thực hiện một động thái “trái chiều” so với thời điểm tháng 03/2010? Lúc đó. thực hiện các chức năng về quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng.Thống đốc NHNN cho biết: “Cách thiết kế trong Luật NHNN 2010 đã thể hiện rõ hơn vị trí của NHNN là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ.

bởi lẽ ngay cả ở mức cho vay thấp xuống như hiện nay thì vẫn không làm các “con cá mập” mặn mà cho lắm mà chỉ cố gắng chờ thời đến khi kinh tế phát triển hơn và cơ hội đầu tư xác định rõ hơn mới chấp nhận mức đó.4% (mức trần huy động) + 6% = 16. Tuy nhiên. thu nhập không tăng nhanh đến thế! Và để kích cầu tín dụng. Ngân hàng Nhà nước áp dụng cơ chế điều hành lãi suất phù hợp. Mức lãi suất tăng lên từ 4% đến 8% son với với trước đó (khoảng từ 16% đến 20%) làm nản lòng các nhà đầu tư nhỏ hoặc những khách hàng đang cần hỗ trợ của ngân hàng khi mua sắm nhà của hay trang thiết bị tiêu dùng. vì đứng ở các gốc độ khác nhau thì thái độ khác nhau.saga. các Ngân hàng Thương mại đang giảm lãi suất cho vay cũng dựa trên 2 lý do.SAGA.vn/index.phát triển thị trường địa ốc hay chứng khoán. Hoàng Trung Kha Last Updated ( Saturday. có một điều kỳ lạ là. các nhà quản khối Ngân hàng chắc sẽ còn nghĩ thêm nhiều loại sản phẩm để kinh doanh nào khác chăng! TS. vì thực ra. Chính sách lãi suất là một trong những công cụ chính của chính sách tiền tệ. yếu tố này làm cân bằng (tạm thời) cho các thị trường hi lãi suất huy động tăng lên! Nhận định : Động thái này được theo kiểu “một mũi tên bắn trúng hai con nhạn!”. nhằm ổn . góp phần ổn định nền kinh tế. Ở góc độ một nhà đầu tư lớn thì động thái này không ảnh hưởng mấy đến các quyết định đầu tư. vấn đề là mục đích của động thái này hướng đến đối tượng nào trong nền kinh tế.php? option=com_content&view=article&id=204:nhtlshdglscv&catid=66:bltc Chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay 19/11/2009 09:24 AM http://www. Tuỳ thuộc vào từng mục tiêu của chính sách tiền tệ. Lý do thứ nhất là trong thời gian qua. thì mức này có thể tạm chấp nhận để dễ bề “lướt sóng” qua các phi vụ con con. trước đây các Ngân hàng lấy mức 10.4% làm mức sàn cho vay với lý do như thế mới đảm bảo lợi nhuận. Thứ hai. việc giảm lãi suất cho vay là để duy trì khách hàng và cố gắng để phát huy khả năng đầu tư của các nhà đầu tư vào các lĩnh vực khác như chứng khoán hay địa ốc.vn . năm 2010 và 2011 là những năm mà tỷ suất lợi nhuận của các ngân hàng thương mại giảm xuống đáng kể ! Hoặc. 17 April 2010 04:48 ) http://www.aspx?id=17865 ( Bình chọn: 1 -.Số lần đọc: 11491) www. thì nay không biết họ đang nghĩ gì với những con số ngày xưa?! Hay có thể. một loạt các chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian qua đã và đang đem lại những kết quả tích cực. Đối với các nhà đầu tư nhỏ. việc duy trì lãi suất cho vay mức cao đã làm một số ngân hàng mất khách hàng tín dụng hiện tại và khách hàng tín dụng tiềm năng. Cũng chính là mục tiêu kinh tế xã hội trong giai đoạn này vậy. để đảm bảo tỷ suất lợi nhuận. không tác động tích cực đến “nhà giàu”.Thảo luận: 0 -. Một cách tóm luợc. Ấy nhưng. phải giảm lãi suất cho vay.Trước những xáo trộn của thị trường tiền tệ.vn/view. Lý do thứ hai.quantritaichinh. hiệu quả của chính sách này đang tác động tích cực đến “nhà nghèo”.

Tiếp đó là quyết định số 346/QĐ-NHNN về việc phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bằng tiền đồng dưới hình thức bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng nhằm thu hút 20. Các ngân hàng thương mại đối mặt với khó khăn thiếu hụt nguồn cung tiền đồng sau những quyết định của Ngân hàng Nhà nước. Kết quả này có ý nghĩa rất quan . Điều này đã đẩy các ngân hàng đến chỗ đua nhau tăng lãi suất huy động. Qua đó. làm cho thị trường tiền tệ và lãi suất trong năm 2009 tương đối ổn định. vừa là động thái phát tín hiệu về chủ trương của Chính phủ và giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước là thắt chặt hay mở rộng tiền tệ.300 tỉ đồng. quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 5 năm 2002 về việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng VNĐ của tổ chức tín dụng đối với khách hàng hết hiệu lực thi hành. củng cố lòng tin của các nhà đầu tư. đã ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất khả năng thanh toán của các Ngân hàng thương mại trong những tháng cuối năm 2008. Biện pháp điều hành lãi suất đã có hiệu lực và hiệu quả đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại và lãi suất thị trường. tiền tệ. Đến ngày 17/05/2008. Việc huy động vốn bằng VNĐ của các tổ chức tín dụng phù hợp với quy định về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản.định và phát triển thị trường tiền tệ. các nhân trong và ngoài nước quan tâm. Ngân hàng Nhà nước sẽ mở rộng diện các loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc. Theo Quyết định này. thay cho việc áp dụng dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn từ 24 tháng trở xuống trong thời gian qua. Khắc phục được tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong huy động vốn giữa các Ngân hàng thương mại. vừa là công cụ điều tiết thị trường. các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh (lãi suất huy động và lãi suất cho vay) bằng đồng Việt Nam không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố áp dụng trong từng thời kỳ. được các tổ chức. mức trần lãi suất huy động 12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 cũng không còn hiệu lực. đã và đang trở thành một chỉ số kinh tế quan trọng trên thị trường tài chính. chủ động kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng dư nợ tín dụng phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô. đã tác động làm thu hẹp hoặc mở rộng tín dụng. theo dõi. Theo Quyết định. doanh nghiệp và người dân đối với hệ thống ngân hàng. tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước đã quy định trần lãi suất huy động là 12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 nhằm hạn chế cuộc đua này. dự báo và có phản ứng khá nhanh nhạy. tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng phù hợp với chủ trương thắt chặt hoặc nới lỏng tiền tệ một cách thận trọng. Đầu năm 2008. tiết kiệm và tiêu dùng. Việc điều hành linh hoạt lãi suất. bao gồm các loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn. kinh tế vĩ mô ổn định và hoạt động của các Ngân hàng thương mại đảm bảo khả năng thanh toán. Tình trạng thiếu hụt tiền đồng của các ngân hàng thể hiện qua việc lãi suất cho vay qua đêm của các ngân hàng trong vòng một tháng qua đã có lúc lên tới 30%. trong một loạt các biện pháp kiềm chế lạm phát. Năm 2008 và những tháng đầu năm 2009. giảm theo sự thay đổi của các mức lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước . tích cực về hoạt động đầu tư. Ngân hàng Nhà nước thông báo những điều chỉnh trong chính sách điều hành lãi suất. thể hiện là lãi suất huy động và cho vay của các Ngân hàng thương mại biến động theo cung . Đó chính là Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra Quyết định số 187/2008/QĐ-NHNN về việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm rút bớt tiền từ lưu thông về. Cùng với diễn biến lạm phát có xu hướng giảm. Trước tình hình đó. an toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo.cầu vốn và tăng.

Việc điều tiết lãi suất thị trường theo hướng ổn định. việc Ngân hàng Nhà nước tiếp tục áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản là một giải pháp thích hợp. thảo luận với lãnh đạo các ban ngành chức năng để cùng triển khai các giải pháp hỗ trợ khác. người ta sẽ chờ đợi không biết Thống đốc sẽ điều chỉnh lúc nào. trong khi biên độ lại thu hẹp còn +/-3% thay cho +/-5% hiện hành. điều hành linh hoạt các mức lãi suất chủ đạo và làm tốt công tác truyền thông. theo dõi và thanh tra. Bên cạnh điều chỉnh tỷ giá. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/02/2009. thị trường tài chính . mà điều chỉnh theo quan hệ lãi suất. sự an toàn và phát triển của hệ thống tài chính. Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản phù hợp với quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước và Bộ luật Dân sự. lạm phát… Ngân hàng Nhà nước đứng trước lựa chọn điều chỉnh nhanh hoặc “mềm”.webketoan. cán cân thanh toán. Điều chỉnh nhanh là phải can thiệp. 10 / 10 / 2010 http://www. Qua lần này. 03-12-2009. cơ chế điều hành lãi suất cơ bản là công cụ can thiệp trực tiếp đối với lãi suất kinh doanh của Ngân hàng thương mại. cơ quan chức năng sẽ rà soát lại thuế suất nhập khẩu để có điều chỉnh phù hợp. trong thời gian tới. việc điều chỉnh tỷ giá lần này vẫn nằm trong định hướng không phá giá VND. phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Bộ Công Thương sẽ xem xét lại những mặt hàng nhập khẩu không cần thiết để hạn chế. Tuy vậy.greatcause Điều chỉnh lãi suất và tỷ giá: Vì sao phải can thiệp mạnh ?Chủ nhật. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 01/2009/TTNHNN hướng dẫn về lãi suất thoả thuận của các Ngân hàng thương mại đối với cho vay các nhu cầu vốn phục vụ đời sống. thể hiện được vai trò và những tác động tích cực của chính sách tiền tệ đối với việc kiềm chế lạm phát và điều tiết kinh tế vĩ mô. có hạn chế nhất định việc thử nghiệm và đưa ra thị trường các sản phẩm tín dụng có độ rủi ro cao.44%. “Điều chỉnh nhanh thì có cái lợi của nó. Xử lý vấn đề này. bảo đảm an sinh xã hội và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 627/VPCP-KTTH ngày 23 tháng 01 năm 2009 của Văn phòng Chính phủ về áp dụng lãi suất cho vay thoả thuận của các tổ chức tín dụng. đi kèm theo đó là cơ chế thống kê. cung . giảm bớt tác động đến nhập siêu.tiền tệ ở trong và ngoài nước. lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước đã ngồi lại với đại diện 5 ngân hàng lớn.vn . và theo lời ông Giàu là để can thiệp mạnh và bảo vệ tỷ giá. tỷ giá liên ngân hàng được tăng trực tiếp. Đi cùng với chính sách. Còn những tác động chính của lần điều chỉnh này.cầu vốn thị trường. Thống đốc giải thích. Từ những phân tích và nhận định nêu trên.SAGA. giám sát nhằm hạn chế rủi ro. được thực hiện kết hợp giữa điều tiết khối lượng tiền thông qua các công cụ gián tiếp. Ở lần điều chỉnh này. www. VND mất giá 3.trọng. duy trì tăng trưởng kinh tế. Thủ tướng cũng sẽ tác động đến những tập đoàn xuất khẩu có ngoại tệ lớn để tập trung ngoại tệ về ngân hàng.php? module=news&function=detail&cat_id=52&id=676 vneconomy. Lần này chúng tôi quyết định điều chỉnh nhanh”. cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Số lần xem: 2619 Sẽ tập trung ngoại tệ về ngân hàng Theo Thống đốc. nhưng nó có cái là tạo tâm lý kỳ vọng. Thông tư được ban hành nhằm thực hiện Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế. Còn điều chỉnh mềm thì không can thiệp. cũng như các rủi ro có thể xảy ra và các biện pháp xử lý để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất theo hướng tự do hoá phải trên cơ sở đánh giá một cách khoa học và thực tiễn các điều kiện kinh tế.vn/news/index. . nhằm tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường. Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho rằng: có hai điểm bất lợi cần lưu ý.

hiện đã nhập 6. Ngân hàng Nhà nước cho phép các doanh nghiệp nhập 10 tấn. Tín dụng tăng cao. Theo Thống đốc. Thông tin “mở” là trong Nghị quyết 54 của Chính phủ vừa qua không đề cập đến việc kéo dài hỗ trợ lãi suất ngắn hạn thêm 1 quý như dự kiến. nghĩa vụ trả nợ quốc gia sẽ tăng lên. Trước nói ổn định. Cùng với điều chỉnh tỷ giá. từ nay đến cuối năm và đầu năm 2010. Giải thích về điều này. doanh nghiệp là khoảng 10 tỷ USD. Thứ ba. Điều chỉnh lần này tăng thêm tỷ giá 5. cộng thêm lãi suất vay bình quân 5% nữa là 12. lợi ích cơ bản thứ nhất từ việc điều chỉnh mà Thống đốc phân tích là hỗ trợ cho xuất xuất khẩu “là đương nhiên”. Thị trường muốn phát triển thì phải có mục tiêu của nó. là tác động đến những doanh nghiệp đang vay ngoại tệ. Hiện lượng ngoại tệ đang gửi tại các tổ chức tín dụng của các tổ chức. Qua lần điều chỉnh lần này. Thứ hai.Thứ nhất. tuy nhiên nhiều ý kiến nghiêng về việc quản lý chặt hơn. “Chính sách đúng sẽ tạo được niềm tin”. cho vay nhiều.7%. nếu cộng cả 3% của ngày 24/12/2008 nữa. mà Thủ tướng sẽ có tác động đến các tập đoàn có nguồn thu ngoại tệ lớn tập trung về ngân hàng. Ngược lại. theo Thống đốc. Tăng trưởng tín dụng hiện đã vượt 33%. cũng tạo áp lực đối với tỷ giá. giúp sự luân chuyển ngoại tệ trong ngân hàng với doanh nghiệp nhanh hơn. ngoài quản lý xuất nhập khẩu. Thuế nhập khẩu mặt hàng nào đó là 5% thì nhân thêm 5. “Nhưng chúng ta điều hành chính sách và nền kinh tế dần ổn định thì dần dần nó cũng sẽ giảm chứ không thể tăng mãi. Thống đốc nói. Thống đốc cho biết là đã bàn và cân nhắc rất kỹ. giảm tín dụng. Về hoạt động của các sàn vàng.8 tấn vàng Một nội dung khác được Thống đốc đề cập là liên quan đến giá vàng và hoạt động của các sàn vàng. nay khác là vì… Cách đây không lâu. “Quy luật thôi. “khi điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng. việc điều chỉnh diễn ra sớm hơn dự kiến. như trả lời chất vấn trước Quốc hội vừa qua. nghĩa vụ đóng thuế cao hơn cũng giúp hạn chế nhập siêu ở mức nào đó. Với lãi suất cơ bản 8%. dù những tháng gần đây bắt đầu giảm. Khi mà thị trường chuyển dịch từ thị trường này qua thị trường kia là một tất yếu. Mục tiêu của tín dụng là tạo điều kiện. Nhà nước thu được thêm”. Tất nhiên là chúng ta phải hài hòa các thị trường.7%. chứ không phải theo tăng. Trong đợt biến động vừa qua. đó là mức có thể chấp nhận được. Và tình hình kinh tế vĩ mô theo nhận định của người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước. trong khi từ năm 1999 vàng là hàng hóa thông thường. Một lý do khác.44% thì phần đóng thuế nó cũng tăng lên. Ông cũng khẳng định hiện không có tư tưởng kết hối. cộng cả năm là điều chỉnh 5. Thống đốc một lần nữa nhấn mạnh là hiện chưa có văn bản nào điều chỉnh. Ông Giàu cũng cho biết. trước Thống đốc nói giữ ổn định lãi suất cơ bản. Hiệp hội ngân hàng đề nghị 4 giải pháp giảm lãi suất . nhưng nay có điều chỉnh là còn do yêu cầu cân đối các yêu cầu vĩ mô của nền kinh tế. giải pháp của nó. theo hướng giảm bớt chi phí sản xuất. ông nói. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ tiếp tục giữ ổn định lãi suất cơ bản đến hết năm. Thống đốc nói. có tương tác”.44%. có quan điểm nên có cơ chế “tự do” đối với hoạt động này. Về tác động của những chính sách mới đối với thị trường chứng khoán. Đây cũng là một yếu tố “bôi trơn”. "Thị trường của mình nền tảng là gì. lượng ngoại tệ dự trữ vẫn đảm bảo 12 tuần nhập khẩu. nhưng Thống đốc cho rằng doanh nghiệp sẽ cân nhắc về cơ cấu giá thành sản phẩm. quản lý… để tạo cạnh tranh. Thống đốc Nguyễn Văn Giàu nhận định: “Thị trường chứng khoán mấy hôm nay giảm liên tục. lãi suất cho vay tối đa sản xuất kinh doanh là 12%. Ngoài ra. Tuy nhiên. Đã nhập về 6. phục vụ cho nền kinh tế chung chứ không riêng theo đối tượng nào đó. một phần sử dụng trong nước nhưng một phần phải sử dụng cho nhập khẩu. Thứ hai. Nợ quốc gia thường là trung và dài hạn”. Đây cũng là một hình thức kiểm soát tín dụng”. Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục nhận các ý kiến đóng góp. việc tăng lãi suất cơ bản còn có lý do là để góp phần kiểm soát tín dụng. nếu dựa vào thị trường khác thì không bền vững". niềm tin. là tạo tâm lý.8 tấn và chỉ cho những doanh nghiệp chủ động được nguồn ngoại tệ. đồng bộ với các chính sách điều hành chung. Một điểm được lưu ý là quyết định tăng các lãi suất đã được xem xét với việc triển khai và định hướng triển khai gói kích thích kinh tế trong thời gian tới. năm nay nhiều khả năng tăng trưởng kinh tế có thể cao hơn mức đưa ra báo cáo Quốc hội vừa qua. chi phí tài chính nhiều doanh nghiệp sẽ tăng lên.

các tổ chức hội viên nhận định tình hình kinh tế 9 tháng đầu năm 2010 có những thuận lợi và khó khăn đan xen: tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm tăng 6.net) . trong khi đó CPI tăng 6.42%. huy động vốn của các NHTM gặp nhiều khó khăn. trên thị trường tiền tệ.Bản in ấn Email Cỡ chữ (Tamnhin. Tại các cuộc họp trên. Việc đề xuất này dựa trên cơ sở một vài bất cập trong cơ chế huy động vốn đã được cơ quan quản lý điều chỉnh. Theo đó. có cơ sở để giảm lãi suất cho vay. cụ thể: . Vì những khó khăn trên. tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng có thêm nguồn vốn cho vay. trong khi đó nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế những tháng cuối năm rất lớn.Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam vừa có văn bản gửi các tổ chức hội viên về việc giảm lãi suất huy động và cho vay.52%. trong các ngày 21 và 24/9/2010 tại TP. các NHTM có cơ sở để giảm lãi suất huy động và cho vay. giảm áp lực phải tăng huy động vốn của các NHTM.Hồ Chí Minh và Hà Nội. việc giảm dần lãi suất huy động và cho vay theo lộ trình mà các tổ chức hội viên Hiệp hội Ngân hàng đã đề ra tại cuộc họp đầu tháng 7/2010 đến nay vẫn chưa thực hiện được. Tuy nhiên. một vài bất cập trong cơ chế huy động vốn đã được cơ quan quản lý điều chỉnh. đến nay. tạo điều kiện để tăng nguồn vốn huy động. tiếp tục thực hiện chủ trương giảm dần lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay theo tinh thần của Nghị quyết số 18 và 23/NQ-CP của Chính phủ. Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đã có cuộc họp với đại diện lãnh đạo các tổ chức hội viên để bàn các biện pháp hạ dần lãi suất huy động và lãi suất cho vay theo chỉ đạo của Chính phủ.

. DN xuất khẩu.5%/năm). tái chiết khấu Bốn tiếp tục ổn đề định ở mức thấp. Mặt khác. . về lãi suất huy động USD: Mặt bằng lãi suất huy động USD hiện đang có xu hướng tăng cao. đặc biệt cho 3 đối tượng ưu tiên của Chính phủ là khu vực nông nghiệp. để tiếp tục hỗ trợ các NHTM giảm mặt bằng lãi suất. giảm nhẹ lãi suất giao dịch thị trường mở. lãi suất huy động USD lên tới 5. . Hiện nay. Ngân hàng Nhà nước cũng loại trừ phần bảo lãnh khỏi dư nợ. Hiệp hội Ngân hàng đề nghị các NHTM nên điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi không kỳ hạn để tiết giảm chi phí huy động vốn.7-5. để tạo điều kiện cho mặt bằng lãi suất huy động VNĐ trên thị trường giảm xuống. từ nay đến cuối năm. Nếu so với thị trường quốc tế. Riêng lãi suất không kỳ hạn và lãi suất tiền gửi có kỳ hạn dưới 3 tháng đề nghị các NHTM có mức điều chỉnh giảm mạnh hơn để tạo đường cong lãi suất hợp lý. Mặt khác. Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục chủ động điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ: mở rộng hoạt động của thị trường mở.2%/năm hiện nay xuống mức không vượt quá 11. tiền gửi Kho bạc Nhà nước và các khoản vay của các tổ chức tín dụng có kỳ hạn 3 tháng trở lên được cho phép tính vào nguồn vốn huy động để cho vay. Vì vậy. nên các NHTM có điều kiện giảm lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Cụ thể: Thứ nhất. Về phần cấp tín dụng. các NHTM dễ dàng được tiếp cận nguồn vốn rẻ (lãi suất liên NH hiện nay chỉ xoay quanh 8-9%). mở rộng nghiệp vụ swap lãi ngoại tệ. Hiệp hội Ngân hàng đề nghị các tổ chức hội viên đồng loạt giảm lãi suất huy động kể trên bắt đầu từ 15/10/2010. Hiệp hội Ngân hàng cho rằng đây là những thuận lợi cơ bản.Hồ Chí Minh và Hà Nội giảm lãi suất huy động từ mức 11. là điều kiện cần thiết để các NHTM tiếp tục giảm tiếp lãi suất huy động và lãi suất cho vay dần tiến tới mục tiêu như Chính phủ chỉ đạo. Thứ tư. lãi suất tái cấp vốn. sự liên thông giữa thị trường I và thị trường II sẽ được thông thoáng hơn. từ đó giảm lãi suất cho vay. bổ sung thêm kỳ hạn giao dịch. Thứ hai. nếu so sánh với lãi suất VNĐ hiện nay đang có sự bất hợp lý. để tạo sự cân đối với lãi suất huy động VNĐ và góp phần thực hiện chủ trương giảm lãi suất theo chỉ đạo của Chính phủ. đề nghị các tổ chức hội viên thực hiện sự đồng thuận tại 2 cuộc họp ngày 21 và 24/9/2010 tại TP.0%/năm. lãi suất huy động USD hiện nay của các NHTM ở Việt Nam đang rất cao.Nguồn vốn huy động để cho vay đã được mở rộng hơn do một phần tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế. tạo điều kiện thu hút nguồn vốn dài hạn. Hiệp hội Ngân hàng VN kêu gọi các tổ chức hội viên tiếp tục giảm lãi suất cho vay. một số NHTM đang áp dụng lãi suất huy động không kỳ hạn lên đến 4. Thứ ba. Khi các quy định trên có hiệu lực. nông thôn.8%/năm. Hiệp hội Ngân hàng kêu gọi các NHTM xem xét giảm lãi suất huy động USD. .2%/năm (tại một số NHTM. nghị giảm suất Với những lý do trên. phổ biến ở mức 4. trên cơ sở giảm lãi suất đầu vào. DN sản xuất vừa và nhỏ xuống mức như Chính phủ chỉ đạo.

html Thứ hai. thì sông sẽ hỏi vay nước từ hồ. 14:25 GMT+7 Một ngân hàng trung ương mạnh có tính độc lập cao so với chính phủ là một trong những nền tảng cơ bản nhưng cũng là công cụ hữu hiệu để giảm thiểu những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường.Khánh Nguyên http://tamnhin. van xả hợp lý (lãi suất. Thực ra. điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả". ngoài việc có một lượng nước dữ trữ đủ lớn (cung tiền. ngoại tệ dữ trữ…) với một hệ thống cửa thông. "Các nước đều cần có một ngân hàng trung ương mạnh. những người cần vay vốn như những “cánh đồng” cần nước tưới. thì ngân hàng trung ương (Ngân hàng Nhà nước) sẽ như một “hồ chứa nước” đóng vai trò điều tiết dòng chảy của tất cả các sông để có một lượng nước vừa đủ Nhìn chung. khi mà cuộc đua lãi suất bước vào cao trào thì mọi người mới để ý. . 17 Tháng tám 2006. Nếu thấy những cánh đồng thực sự cần thêm nước cho việc phát triển cây trồng (kích thích tăng trưởng kinh tế) thì họ sẽ mở van tăng thêm nước (hạ lãi suất. Có nhiều lý do tác động đến sự kiện này và một trong những nguyên nhân chính xuất phát từ hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ hiện nay. có những cảnh báo cho rằng nếu Ngân hàng Nhà nước VN không có những giải pháp hữu hiệu thì khó tránh khỏi việc cạnh tranh lãi suất không lành mạnh. cái hồ còn phải làm sao đó để các dòng sông có thể khai thác một cách tốt nhất (nếu không nói là toàn bộ) lượng nước (nguồn vốn) những cái cây đang giữ. tăng cung tiền) cho các dòng sông. thị trường mở…). các ngân hàng như những “dòng sông”. quyết định sẽ thuộc về cái hồ. Chức năng của ngân hàng trung ương? Hình dung một cách đơn giản. khi quy định trần lãi suất được dỡ bỏ để các ngân hàng được cạnh tranh tự do hơn.net/tieu-diem/4691/Hiep-hoi-ngan-hang-de-nghi-4-giai-phap-giam-laisuat. 04/10/2010 11:33 GMT+7 Cuộc đcoua lãi suất của các ngân hàng: Đâu là vấn đề? Cuộc Cuộc đua lãi suất của các ngân hàng: Đâu là vấn đề? Thứ năm. gây phương hại cho nền kinh tế. Lúc này. nếu xem những người có tiền nhàn rỗi như những “cái cây” giữ nước trên núi. do đã tận dụng triệt để các nguồn nước. Không phải đến bây giờ. vào năm 2002. để làm được vai trò điều tiết của mình. Khi thiếu nước cung cấp cho những cánh đồng.

cơ chế điều tiết nguồn nước không hợp lý. Giải pháp hữu hiệu nhất là nâng cao năng lực và khả năng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước VN sao cho mỗi khi họ đưa ra các quyết định của mình lập tức có tác động ngay đến nền kinh tế. Nhưng những quyết định về lãi suất của Ngân hàng Nhà nước VN dường như chẳng có tác dụng gì. Vai trò của Ngân hàng Nhà nước ở đâu? Khi lượng nước trong hồ không đủ lớn. Theo dòng sự kiện TS Ngân hàng kinh doanh lợi nhuận cao: Tín hiệu tốt? Tuổi trẻ “Cổ phiếu ngân hàng sẽ bớt nóng vì lãi suất USD” Thanh Niên Đau đầu vì lãi suất tăng Diễn đàn doanh nghiệp Ngân hàng tăng lãi suất: Doanh nghiệp thêm sức ép đè nặng không tăng thêm. Hơn thế. Phản ứng hợp lý của các dòng sông là tăng giá để giữ nước của mình. công bằng và lượng nước trong các cây đã khai thác hết thì đương nhiên các dòng sông sẽ tìm cách lấy bớt nước của những dòng sông khác bằng cách trả một giá (lãi suất) cao hơn. phải trả chi phí cao hơn cho . giảm cung tiền). Đây chính là chức năng và vai trò của ngân hàng trung ương. chi phí sản xuất gia tăng và nền kinh tế sẽ phải lãnh đủ. Đây chính là cuộc đua lãi suất của các ngân hàng VN hiện nay mà tác động nhãn tiền của nó làm cho rủi ro của các ngân hàng lớn hơn. nhưng những cánh đồng. Lúc này. khi thấy nguy cơ do nước quá nhiều có khả năng gây ra ngập lụt (lạm phát) họ sẽ giảm hoặc khóa van lại. thậm chí tìm cách thu hút bớt nước từ các dòng sông (tăng lãi suất. nhất là công cụ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước dường như không có tác dụng là bao. Thái Lan hay Malaysia tác động ngay lên nền kinh tế của họ. làm như vậy sẽ vi phạm luật cạnh tranh. điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả thì mỗi động thái của họ đều được mọi người trông đợi. dự đoán do nó có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế.Ngược lại. Cần một ngân hàng trung ương mạnh Mục tiêu quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại là lợi nhuận. Với một quyết định thay đổi lãi suất của mình. tổng lượng nước dường như một nguồn nước tương tự. thậm chí có thể ảnh hưởng sang nước láng giềng. Ngân hàng Trung ương Singapore. tích trữ vào hồ để dùng khi cần thiết. Điều này cũng giải thích tại sao ở các nước có một ngân hàng trung ương mạnh. Cuộc đua này cho thấy công cụ điều tiết tiền tệ. Ngân hàng Trung ương Mỹ hay Châu Âu đã tác động đến cả nền kinh tế thế giới. Những cuộc đua như vậy không thể tránh được bằng thỏa thuận lãi suất. bằng chứng thực tế đã chứng minh điều này. Việc chạy đua lãi suất của họ là điều đương nhiên. Hơn nữa. người vay cuối cùng.

Việc hạ thấp lãi suất tiền gửi USD khiến cho việc nắm giữ USD trở nên kém hấp dẫn hơn trong so sánh với VND. 3/3/2010 “Việc điều chỉnh về chính sách lãi suất có thể là cần thiết trong những tháng tới. • Thảo Nguyên Nếu lạm phát không giảm. một điều chưa thể khẳng định chênh lệch lãi suất tiền gửi giữa hai đồng tiền này đủ để thu hút thêm tiền tiết kiệm bằng VND khi lạm phát trong tháng Giêng và tháng Hai của Việt Nam ở mức khá cao. nếu lạm phát không bắt đầu sụt giảm từ tháng Ba. Đó là nhận định của ông Lawrence Wolfe. Việc điều chỉnh về chính sách lãi suất có thể là cần thiết trong những tháng tới.49%/năm. ▪ LÊ HƯỜNG 09:57 (GMT+7) . Điều này xảy ra là do một số doanh nghiệp xuất khẩu và những người khác nắm giữ USD nhưng không chuyển đổi sang VND.Một ngân hàng trung ương mạnh có tính độc lập cao so với chính phủ là một trong những nền tảng cơ bản nhưng cũng là công cụ hữu hiệu để giảm thiểu những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường. nếu lạm phát không bắt đầu sụt giảm từ tháng Ba”. khi trao đổi với chúng tôi xung quanh chủ đề lãi suất và tỷ giá ở Việt Nam. bởi vì việc hạ thấp lãi suất tiền gửi USD khiến các doanh nghiệp và người dân ít có hứng thú với việc gửi đồng tiền này. cần điều chỉnh lãi suất E-mail Ý kiến (0) Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: Chưa thể khẳng định chênh lệch lãi suất tiền gửi giữa VND và USD để thu hút thêm tiền tiết kiệm bằng VND khi lạm phát trong tháng Giêng và tháng Hai của Việt Nam ở mức khá cao. khi VND đang có lãi suất tiền gửi ở mức 10. Tuy nhiên. Ngân hàng Nhà nước đã quyết định giới hạn lãi suất tiền gửi bằng USD ở mức 1%. ông bình luận gì về động thái này? Đây là một động thái tốt của Ngân hàng Nhà nước vì bước đi này sẽ giúp tăng khả năng thanh khoản đồng USD. một chuyên gia ngân hàng. .Thứ Tư. Đã từng có tình trạng thiếu hụt USD trong lưu thông gây khó khăn cho các nhà nhập khẩu và những người khác trong việc mua USD để thanh toán hàng hóa nhập khẩu.

đặc biệt là nông sản. Vì vậy. nền kinh tế thế giới. Điều này cũng cần sự chú ý của Chính phủ để giám sát và kiểm soát thâm hụt thương mại cũng như đảm bảo cho cán cân thương mại vẫn nằm trong một giới hạn hợp lý trong so sánh với xuất khẩu của đất nước. máy móc và giá của những hàng hóa này cũng gia tăng. Đây cũng là cách làm dễ hơn vì người tiêu dùng ưa thích hơn cũng như phù hợp với các cam kết WTO của Việt Nam. thép. Điều này sẽ hỗ trợ nhiều cho xuất khẩu của Việt Nam trong năm nay. Khối lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam gia tăng cần có sự gia tăng nhu cầu từ các nước nhập khẩu đối với sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam cũng như đưa ra mức giá cao hơn đối với những hàng hóa này. Vì Việt Nam là một nước đang phát triển. nhưng không nhất thiết là phần lớn. Việc quản lý và điều chỉnh linh hoạt tỷ giá USD/VND tùy thời điểm sẽ là một công cụ hữu hiệu của cơ quan chức năng và cũng là một phần quan trọng của quá trình làm cân đối cán cân thương mại. mất nhiều năm để thực hiện được. Tuy nhiên. nhu cầu nhập khẩu hàng hóa đã thấp hơn trước. Một tin tức tốt lành là các nước phát triển hầu như đã bắt đầu tăng trưởng trở lại từ quý 3/2009 và điều đó có nghĩa rằng khối lượng hàng nhập khẩu từ Việt Nam và các nước khác sẽ tăng trong năm 2010. đặc biệt các sản phẩm hóa dầu. điều này có tác động như thế nào đến xuất khẩu và nhập khẩu của các doanh nghiệp trong nước. đặc biệt nền kinh tế của các quốc gia đã phát triển bị suy thoái trong 2 năm. đang tăng trưởng tương đối nhanh và nền tảng công nghiệp vẫn còn hạn chế. Những nền kinh tế này phải bắt đầu tăng trưởng trở lại trước khi nhu cầu hàng hóa nhập khẩu gia tăng. đã bắt đầu hồi phục trong năm qua và nhiều hàng hóa được dự kiến sẽ có mức giá cao hơn từ thời điểm này. giải quyết vấn đề mất cân đối cán cân thương mại có thể là vấn đề dài hạn. Vì vậy.VND đã giảm giá khoảng 3% so với đồng USD. Bởi vì. nhập khẩu của Việt Nam sẽ tăng thêm. nhựa. đây là một yếu tố quan trọng giúp cải thiện tình trạng thâm hụt thương mại của Việt Nam. Việt Nam cần phải tiếp tục nhập khẩu thêm hàng hóa để phục vụ cho công nghiệp cũng như các loại nguyên liệu thô để phục vụ cho sự tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên. bằng cách làm giá các sản phẩm xuất khẩu rẻ hơn khi tính theo giá USD và sẽ ảnh hưởng nhẹ đến các nhà nhập khẩu vì giá thành hàng nhập khẩu sẽ đắt hơn khi tính bằng VND. cũng đừng quên là Việt Nam cũng nhập khẩu rất nhiều hàng hóa. Chính phủ cần cố gắng kiểm soát nhập khẩu các hàng hóa phi thiết yếu như các loại xe xa xỉ và các sản phẩm tiêu dùng cao cấp và tiếp tục khuyến khích tiêu dùng các sản phẩm Made in Vietnam. nhưng tác động cũng chỉ có giới hạn. động thái này là tích cực vì sẽ giúp cải thiện tình trạng thâm hụt thương mại của Việt Nam. quan điểm của ông là gì? Tỷ giá chỉ là một phần. Rõ ràng. Vì vậy. . thưa ông? Việc điều chỉnh tỷ giá khoảng 3% đồng VND so với đồng USD sẽ hỗ trợ các nhà xuất khẩu đôi chút. có ý kiến cho rằng việc tăng tỷ giá USD/VND không thể giải quyết được khó khăn của cán cân thương mại. Việc cố gắng giới hạn nhập khẩu đối với những hàng hóa công nghiệp cần thiết là phản tác dụng. Giá cả rất nhiều hàng hóa.

giải quyết căng thẳng thị trường. bình quân từ tháng 3 đến tháng 6 mỗi tháng tăng 4%. Thủ tướng cũng sẽ yêu cầu một số tập đoàn xuất khẩu đang nắm giữ ngoại tệ lớn bán ra cho hệ thống ngân hàng. sẽ thực hiện các giải pháp đồng bộ. Quyết định điều chỉnh lãi suất cơ bản và tỷ giá ngày 25/11 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) được cho là gây bất ngờ đối với thị trường khi trước đó cơ quan này liên tục có những công bố về việc sẽ duy trì chính sách tiền tệ ổn định. chúng ta chưa can thiệp. Lần này. Bộ Công Thương sẽ rà soát thuế.44%. Ông Nguyễn Văn Giàu. xem lại phần nhập khẩu những mặt hàng không cần thiết và có tác động tới nhập siêu. từ tháng 7 đến tháng 11 mỗi tháng tăng khoảng 2. Cập nhật: 30/11/2009 14:00 E-mail | Bản in | Lưu xem sau Phải “cởi trói” cho tiền tệ. ngân hàng có huy động được vốn mới có tiền cung cấp cho nền kinh tế. mất giá đồng tiền của Việt Nam là 3. đồng thời điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên 5. ĐTCK ghi nhận ý kiến của Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu cùng một số chuyên gia xung quanh tác động của chính sách này tới nền kinh tế cũng như TTCK.http://vneconomy. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Trước đây.2%.000 VND/USD. Nói cách khác.htm NHNN điều chỉnh lãi suất và tỷ giá: Nhận diện những tác động Khởi tạo bởi : www_vinasme. Xử lý lãi suất cũng được chúng tôi bàn rất kỹ. Lần này. Đồng tiền mất giá bao giờ cũng hỗ trợ xuất khẩu. để chúng ta có một giá giao dịch cao nhất là 18.500 VND/USD.5%. Tăng trưởng tín dụng hiện đã là 34. Bên cạnh điều chỉnh tỷ giá. giúp hạn chế nhập siêu ở một mức nào đó. Đăng bởi : www_vinasme. xem lãi suất như thế nào cho phù hợp và quyết định chọn tăng lãi suất cơ bản thêm 1%. tăng cao sẽ tạo áp lực lên tỷ giá.44%. giảm bớt biên độ tỷ giá từ 5% xuống còn 3%. chúng tôi quyết định điều chỉnh nhanh mạnh chính sách tiền tệ.vn/20100303092427556p0c6/neu-lam-phat-khong-giam-can-dieuchinh-lai-suat. thị trường biến động khi tỷ giá lên 19. .

các cơ quan khác như Bộ Công Thương phải kiểm soát chống đầu cơ. điều chỉnh tỷ giá chính thức để cung cầu có thể gặp nhau. vì nâng lãi suất cơ bản mà để hỗ trợ lãi suất thì chẳng có ý nghĩa gì. Chủ tịch HĐQT Tổng CTCP Phát triển Đô thị Kinh Bắc Tăng trưởng kinh tế trên toàn thế giới chưa ổn định. Trong bối cảnh như vậy. không cần hỗ trợ. kinh tế Việt Nam “khỏe” rồi. khả năng hấp thụ vốn lớn của doanh nghiệp khiến hệ thống ngân hàng khan hiếm tiền đồng cho vay. thông điệp mới đây của các nhà lãnh đạo APEC cũng cho thấy. tâm lý NĐT khá bất ổn do hầu như không có thông tin vĩ mô tích cực. theo tôi. Ông Khổng Văn Minh. Đường cong lãi suất đã không tồn tại. quyết định thay đổi về chính sách tiền tệ gây bất ngờ cho hầu hết thành viên tham gia thị trường khi mà trước đó NHNN tuyên bố duy trì ổn định chính sách đến hết năm. giải quyết căng thẳng thị trường. Bà Dương Thu Hương. Thủ tướng kết luận dừng chính sách sách hỗ trợ lãi suất ngắn hạn đúng thời hạn 31/12/2009.Theo ý kiến của các bộ trưởng tại cuộc họp hôm 24/11. Ông Đặng Thành Tâm. Các động thái điều chỉnh vừa qua cũng nhằm mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. bảo vệ chỉ số lạm phát. xử lý lãi suất cơ bản. bởi chưa khi nào tình hình của các ngân hàng lại căng như dây dàn như thế. nhưng thực tế là chưa có dấu hiệu bền vững. Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam Điều chỉnh chính sách tiền tệ như vừa qua là việc buộc phải làm. Nhìn nhận một cách thẳng thắn thì tăng lãi suất cơ bản sau khi duy trì ổn định tới gần 1 năm cho thấy kinh tế đã phần nào phục hồi. cần quyết liệt kích thích kinh tế. thắt chặt tiền tệ. Nhiều ý kiến cho rằng. Việc thiếu thông tin hỗ trợ tác động tới TTCK khiến NĐT không rõ phương hướng tới đây chính sách sẽ được điều hành như thế nào. Chẳng hạn. mà biến thành đường thẳng. Giám đốc đầu tư Quỹ đầu tư Jaccar Trong thời gian vừa qua. với thị trường vàng. là phải phối hợp đồng bộ với các thị trường khác. Chính sách hiện tại là hoãn kích thích kinh tế. Nhưng quan trọng hơn. kiểm soát nhập lậu hoặc thậm chí ra biện pháp hành chính kiểm soát giá vàng. lạm phát phải chấp nhận. Điều này dẫn đến phản ứng thái quá của các NĐT trên TTCK. Hạn chế tăng trưởng tín dụng không cẩn thận là thành tăng trưởng âm. . ngân hàng không thể cho vay thì sợi dây căng mãi sẽ đứt. kết quả kinh doanh quý IV cũng như hoạt động doanh nghiệp được dự báo không có gì nổi bật. Đầu ra không thay đổi. có thể mua bán được? Phải “cởi trói” cho tiền tệ. lãi suất kỳ hạn nào cũng giống nhau và kịch trần. nhưng tôi tin nếu kinh tế có dấu hiệu bất ổn thì Chính phủ sẽ có giải pháp để xốc trở lại. ngân hàng có huy động được vốn mới có tiền cung cấp cho nền kinh tế. Làm sao cứu thị trường tiền tệ. TTCK cũng sẽ dần ổn định trở lại.

vốn gián tiếp không chảy vào đầu tư.vn/nd5/detail/tin-kinh-te-tong-hop/tai-chinh-chungkhoan/nhnn-dieu-chinh-lai-suat-va-ty-gia-nhan-dien-nhung-tacdong/52832.003016. khiến họ co cụm lại. VND mất giá ở mức độ vừa phải giúp cho xuất khẩu có lợi. giảm lợi nhuận.vinasme. Nhưng nếu không có can thiệp tiếp theo để tăng lượng cung trên thị trường ngoại hối (các tập đoàn nhà nước bán ngoại tệ hoặc NHNN bán USD đủ lớn ra thị trường) thì mức tỷ giá 18.5%. lưu thông giảm khiến tiền ít đi.com. trong khi huy động vốn chỉ tăng hơn 26%.html Yếu tố tiền tệ không tác động lớn tới lạm phát Thứ bảy. 03 Tháng 4 2010 01:24 Đây là nhận định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu khi trao đổi với báo chí xung quanh một số chủ đề dư luận quan tâm hiện nay như chỉ số giá tiêu dùng. Việc tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng. giữ dòng tiền.. kinh doanh vàng. hàng hóa xuất khẩu cạnh tranh hơn.. chứ không phải là căng thẳng thật sự về tiền. nhiều loại hàng hóa có nguồn gốc nhập khẩu biến động.Cũng cần nhìn nhận. tính thanh khoản của ngân hàng.. Nhưng các DN có vay nợ nước ngoài sẽ phải tăng trích lập rủi ro. Điều chỉnh nhanh. IPO doanh nghiệp nhà nước khó thực hiện. góp phần ổn định thanh khoản cho hệ thống ngân hàng khi tín dụng 11 tháng tăng 34. lạm phát không phải hoàn toàn do yếu tố nội tại của Việt Nam. CTCK Sài Gòn (SSI) Tăng lãi suất cơ bản giúp các NHTM có thể tăng lãi suất đầu vào. đồng thời giảm biên độ dao động giúp các DN xuất khẩu được lợi nhờ đánh giá lại thu nhập bằng ngoại tệ. TTCK suy giảm sẽ kéo theo một loạt hệ lụy như DN không thể huy động được vốn. mạnh chính sách tiền tệ sẽ tác động ngay tới tâm lý của DN. khi hàng nhập nhiều hơn xuất. Theo Anh Việt ĐTCK http://www.500 VND/USD (mức trần) khó có thể duy trì ổn định. đồng thời giảm bớt động lực mua USD tích trữ.. .

Vào những ngày giáp Tết. .75%.Từ cuối năm 2009 và dịp Tết Nguyên đán Canh Dần. làm rõ những nguyên nhân chỉ số giá tiêu dùng tăng ở mức cao và thực hiện các giải pháp đồng bộ để kiểm soát giá cả hàng hóa. Có ý kiến phê bình chúng tôi do không cung cấp mạnh thêm lượng tiền cung ứng trong tháng 1 và 2 nên thanh khoản và tín dụng tăng chậm. NHNN hỗ trợ các NHTM 70. các NHTM gặp khó khăn về thanh khoản do một số NHTM dự trữ thanh toán thấp và tổ chức kinh tế. ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Nhà nước điều chỉnh một số mặt hàng làm tăng giá thành sản phẩm. kiểm soát tăng trưởng tín dụng ở mức thấp và quý I-2010 dư nợ tín dụng tăng 3.000 tỷ đồng để giải ngân theo quy luật hàng năm. cao hơn so với cùng kỳ các năm gần đây. Kho bạc Nhà nước. Yếu tố tiền tệ tác động tới lạm phát không lớn.8% so với cuối năm 2009 và có xu hướng tăng trở lại . NHNN đã hỗ trợ kịp thời để đảm bảo khả năng an toàn thanh khoản. NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và thận trọng.000 tỷ đồng nhưng rút dần về sau Tết Nguyên đán.Huy động vốn đến cuối tháng 3 tăng 3. Chính phủ đã chỉ đạo các bộ.34% so với cuối năm 2009.Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu: Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 năm nay tăng 0.PV: Dư luận đang lo ngại chỉ số giá tiêu dùng quý I tăng cao hơn cùng kỳ các năm khác. Nhưng .Thống đốc có nhận xét gì về tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế cũng như các biện pháp hỗ trợ thanh khoản thời gian vừa qua? . Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao chủ yếu do nhu cầu tăng cao trong dịp Tết. do từ tháng 7-2009. ngành phân tích. Trước tình hình đó. giá cả nhập khẩu tăng. Bảo hiểm xã hội rút khoảng 60. Yếu tố tiền tệ có tác động như thế nào tới tình hình lạm phát? . tính chung 3 tháng đầu năm tăng 4.12%.

.Đối với hoạt động của các sàn vàng chuyển đổi sang hình thức khác. và tương ứng với quý I cùng kỳ các năm diễn biến bình thường. hỗ trợ thông qua tái cấp vốn và hoán đổi ngoại tệ.Thời gian gần đây. Đồng thời NHNN cũng chỉ đạo các NHTM Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn và điều chỉnh lãi suất giảm dần phù hợp với diễn biến nền kinh tế. lãi suất huy động và cho vay của các NHTM đang ở mức cao. nên phải có thêm thời gian tất toán tài khoản.2% cho thấy người dân tin tưởng vào hệ thống ngân hàng.Việc các ngân hàng huy động vàng với lãi suất thấp có tiềm ẩn nguy cơ gì không thưa Thống đốc? .Về huy động vàng tại các NHTM theo đúng quy định của pháp luật. Tốc độ tăng trưởng tín dụng 3.34%. NHNN tích cực phối hợp với các bộ. Trong quý I năm 2010.Hiện nay. có thông tin một số doanh nghiệp hoạt động sàn vàng (doanh nghiệp không thuộc NHTM) chuyển sang hình thức khác. chúng tôi sẽ phối hợp các ngành hữu quan kiểm tra nếu có thì xử lý theo pháp luật. . Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam phát huy mạnh mẽ và động viên tích cực các ngân hàng hội viên góp phần quan trọng trong việc ổn định. việc gia hạn thêm 3 tháng là do qua thực tiễn có một số ngân hàng còn trạng thái mở tương đối lớn. xét theo lãi suất thực dương và khả năng hấp thụ của nền kinh tế. Theo chỉ đạo của Chính phủ.có ý kiến đánh giá nếu cung cấp tiền cung ứng mạnh thêm trong hai tháng đầu năm sẽ tác động mạnh làm tăng chỉ số giá tiêu dùng và có thể cao hơn 4. NHNN cũng nghiên cứu theo hướng không cho phép chuyển đổi vốn huy động bằng vàng sang tiền đồng và có thể không thực hiện hoạt động huy động và cho vay bằng vàng vì hoạt động này tiềm ẩn nhiều rủi ro. khối lượng lớn hơn so với trước đây. NHNN đã và đang thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ để ổn định lãi suất thị trường theo xu hướng giảm dần như tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với NHTM với kỳ hạn dài hơn. Huy động vốn đang có xu hướng tăng trở lại.12%. đến cuối tháng 3 tăng 3.8% so với cuối năm 2009. . Gần đây các NHTM đã hạ lãi suất huy động gần bằng 0%. NHNN sẽ xử lý như thế nào? . đặc biệt là tiền gửi của dân cư tăng 9. .34% so cuối năm 2009. ngành liên quan trình Chính phủ ký ban hành Nghị định quản lý và kinh doanh vàng trong thời gian tới. tổng phương tiện thanh toán và tín dụng có xu hướng tăng dần. tín dụng tăng 3. báo chí gọi là “biến tướng”. phát triển hệ thống ngân hàng.Liệu có xảy ra cuộc đua lãi suất huy động giữa các ngân hàng khi các khoản vay ngắn hạn bằng VND được thực hiện theo cơ chế thỏa thuận? . Còn các NHTM đã chấp hành nghiêm chỉnh đóng cửa đúng thời gian quy định. tuy nhiên rất rủi ro.

quyết định này sẽ có lợi cho các . Ngân hàng Nhà nước cũng quy định mức trần tiền gửi USD của các doanh nghiệp ở mức 1%/năm.tại tổ chức tín dụng tối đa là 1.0%/năm. chúng tôi xin trích đăng ý kiến của một số công ty chứng khoán. Ngân hàng Nhà nước đã công bố điều chỉnh tỷ giá bình quân giao dịch liên ngân hàng lên mức 18. Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này Kèm theo đó.3%. Hy vọng không ảnh hưởng lớn đến tâm lý nhà đầu tư Công ty Chứng khoán Thăng Long (TSC) “Sự điều chỉnh tỉ giá lần này đã thể hiện sự thay đổi quan điểm của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về điều hành tỉ giá theo hướng phù hợp hơn cung cầu thực tế của thị trường.Hùng Anh (Ghi) Điều chỉnh tỷ giá tác động thế nào tới chứng khoán? Xem tin gốc VnEconomy . Ngược lại.8 tháng trước 1469 lượt xem Ngày 10/2. áp dụng từ 11/2.mà thực tế là giảm giá VND 3. ngăn chặn việc đô la hóa trong nền kinh tế và giúp tăng nguồn cung USD đối với các ngân hàng thương mại.544 VND/USD . Quyết định điều chỉnh tỷ giá hối đoái sẽ có tác động như thế nào tới thị trường chứng khoán? Xung quanh chủ đề này.trừ tổ chức tín dụng . Một quyết định quan trọng khác được đưa ra có là mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế . Đây chính là một hình thức kết hối theo hình thức "tự xử" đối với các tổ chức có tiền gửi USD. Các quyết định liên quan đến ngoại tệ này sẽ có những tác động tiêu cực đến các công ty có các khoản nợ bằng ngoại tệ và các công ty có hoạt động sản xuất phụ thuộc nhiều vào nguyên vật liệu nhập khẩu.

Về mặt tiêu cực. loại hình kinh doanh xuất nhập khẩu. Về mặt tích cực. mức độ tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thế nào còn tùy thuộc vào quy mô khoản nợ. Với hành lang tỷ giá mới với mức trần tỷ giá là 19. Ngoài ra. Chúng tôi hy vọng quyết định điều chỉnh này không ảnh hưởng lớn đến tâm lí nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài đã giải ngân. tỉ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại chắc chắn sẽ tiến sát tỉ giá tự do và lúc đó rủi ro chính sách liên quan đến tỉ giá sẽ giảm. Thanh khoản vẫn đang là vấn đề khó giải quyết . Đây có lẽ là một lợi thế đối với các nhà đầu tư nước ngoài có luồng ngoại tệ chưa giải ngân”. chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chính thức và tự do giảm xuống mức 100-500 đồng/USD (chênh lệch 0. của mỗi doanh nghiệp. Sự thay đổi tỉ giá này chỉ đơn thuần phản ánh đúng hơn thực trạng cung .100 VND/USD.000 VND cho 1 USD (chênh lệch 5-7%)... người nắm giữ ngoại tệ có thể sẽ tăng bán USD cho ngân hàng.. áp lực tăng lãi suất cơ bản để kiềm chế lạm phát trở nên rõ ràng hơn. kế hoạch trả nợ.8-2. bối cảnh lần điều chỉnh tỷ giá này có thể tạo ra những hoài nghi về các chính sách ổn định tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian trước. tăng cung trên thị trường chính thức. Tuy nhiên. Áp lực tăng chi phí trả lãi và gốc các khoản vay ngoại tệ của các doanh nghiệp vay USD song chỉ có thu bằng VND cũng sẽ là một vấn đề đáng kể”.cầu ngoại tệ của nền kinh tế diễn ra lâu nay. Việc áp trần lãi suất tiền gửi USD của doanh nghiệp cũng sẽ kích thích các doanh nghiệp bán USD trên tiền gửi thanh toán cho ngân hàng hoặc chuyển từ tiết kiệm bằng USD sang VND để tăng cung USD cho thị trường ngoại hối chính thức. Trong thời gian tới.5%). Có thể tạo ra những hoài nghi về chính sách Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) “Động thái chính sách của Ngân hàng Nhà nước có cả tác động tích cực và tiêu cực với nền kinh tế và thị trường chứng khoán. tỷ giá USD của ngân hàng đã được điều chỉnh về gần hơn với mức giao dịch của thị trường tự do cho thấy áp lực biện pháp làm cho VND hấp dẫn hơn so với USD và yêu cầu các tổng công ty nhà nước bán ra USD trong 2 tháng qua chưa đủ liều lượng để ổn định mất cân đối cung cầu ngoại tệ khi mà tỷ giá ngân hàng thấp hơn tỷ giá thị trường tự do 700-1.. Nếu xét từ góc độ này. việc phá giá đồng nội tệ cũng sẽ có áp lực lớn lên lạm phát với chi phí nhập khẩu nguyên liệu khi các chi phí về nguyên liệu.doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu do giá sản phẩm trở nên cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới. máy móc gia tăng đã tăng trở lại đáng kể so với đáy của khủng hoảng một năm trước đây.

hội nhập với hệ thống tài chính toàn cầu. với quyền tự chủ về chi phí đầu vào và giá bán đầu ra. duy trì mức thanh khoản tốt nhất cho thị trường tiền tệ – tín dụng.thì thị trường sẽ có thể tiếp nối đà hồi phục trong thời gian sau Tết”. những tác động này dường như đã phản ánh khá mạnh khi VN-Index (tính đến 12/02/2010) đã giảm khoảng 20% so với mức đỉnh 633.21 xác lập vào ngày 23/10/2009.Công ty Chứng khoán Dầu khí (PSI) “Hai quyết định của Ngân hàng Nhà nước được đánh giá là khá mạnh tay sau lần nâng tỷ giá gần đây nhất vào tháng 12/2009. Các tổ chức tín dụng có điều kiện thực hành phân loại tốt hơn các khoản cho vay. Cơ chế lãi suất của Việt Nam dần dịch chuyển từ kế hoạch hóa tập trung. Thời gian qua. Điều hành lãi suất giai đoạn 1996-2000 .com (Một bước phát triển mạnh mẽ trong cơ chế điều chỉnh lãi suất. sử dụng đa dạng các công cụ hiện đại. từng bước tự do hóa. là tín hiệu tích cực cho thấy sự hiện diện – cả hình thức và nội dung – của hệ thống ngân hàng hai cấp.cầu ngoại tệ trên thị trường. Chúng tôi cho rằng. Đó cũng là chuẩn bị cần thiết để hệ thống ngân hàng Việt Nam hội nhập sâu sắc và toàn diện hơn với hệ thống chuẩn mực kinh doanh ngân hàng của thế giới. To chuc tin dung TRẦN TRÍ DŨNG Công ty nghiên cứu DHVP – Phân tích Kinh tế Vebimo. nếu như không có những sự kiện quá tiêu cực về kinh tế vĩ mô cả trong và ngoài nước . Thực tế đang cho thấy thanh khoản của các ngân hàng nói riêng và thị trường tài chính nói chung vẫn đang là vấn đề khó giải quyết và nó cũng đã có tác động mạnh đến thị trường chứng khoán trong suốt hơn 3 tháng qua. nhất là từ khi hệ thống ngân hàng hai cấp được thiết lập(1).epi Nhìn lại cơ chế điều chỉnh lãi suất ở Việt Nam 02/06/2010 in Chinh sach cong.com/Info/Dieu-chinh-ty-gia-tac-dong-the-nao-toi-chungkhoan/126/3883418. Những mức lãi suất khác nhau được áp dụng cho đề xuất vay vốn có độ rủi ro khác nhau. Tuy nhiên. cơ chế điều hành lãi suất đã có những thay đổi căn bản. có vẻ như dòng tiền của các nhà đầu tư theo trường phái giá trị đang dần quay trở lại. Kinh doanh năng động của các ngân hàng thương mại. tách biệt với mặt bằng lãi suất của kinh tế thế giới sang điều chỉnh linh hoạt. Trong khi những vấn đề tồn tại của nền kinh tế đã phản ánh vào giá cổ phiếu và khiến cho thị trường giảm về mức giá khá hấp dẫn thì trong ngắn hạn.baomoi. http://www. tỷ giá đã được nâng nhằm cải thiện tình hình căng thẳng về cung .

Thậm chí. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng đã bước đầu thực hiện tự do hóa lãi suất huy động. cơ chế lãi suất của Việt Nam luôn cố gắng duy trì mức lãi suất thực dương – như một giải pháp cho vấn đề lạm phát. giảm xuống còn 0. là cơ hội tốt đầu tư vào trái phiếu Việt Nam trong thời kỳ này. Lãi suất tái cấp vốn năm 1997 là 1. có những thời điểm còn xuất hiện thiểu phát. cơ chế lãi suất thỏa thuận được áp dụng trong hoạt động tín dụng. NHNN từng bước chuyển sang áp dụng hình thức cho vay bằng ngoại tệ. Mục tiêu kiểm soát lạm phát đã đạt được. Quy định này nhằm khắc phục tình trạng hầu hết các ngân hàng thương mại đều có mức lợi nhuận cao trong khi doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn do biến động kinh tế khu vực và thế giới. Nếu chia lãi suất dương cho tỷ lệ lạm phát thì tỷ lệ này rất cao… Năm 1999 là 5. về cơ bản. Các nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá cho ngân hàng thương mại cũng được đưa vào sử dụng để bổ sung thêm công cụ điều chỉnh lãi suất. Hai chỉ tiêu này được công bố chính thức định kỳ hàng tháng và điều chỉnh kịp thời trong trường hợp cần thiết. sử dụng đồng thời các công cụ lãi suất và hoạt động thị trường mở. Và kể từ sau tháng 5-2002. hình thành một cơ chế tự điều chỉnh. Đặc điểm đáng chú ý trong giai đoạn các ngân hàng gặp khó khăn thanh khoản này là lãi suất huy động ngắn hạn bằng. chỉ giữ lại quy định trần lãi suất cho vay. Trước sự vận động bất lợi của thị trường chứng khoán và lạm phát tăng cao ngay từ đầu năm 2008. thậm chí cao hơn lãi suất huy động dài hạn. các ngân hàng thương mại. từ đó.2%/năm). NHNN bổ sung 33.350% và năm 2000 là trên 6. các tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung – cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ.05%/tháng so với lãi suất tái cấp vốn. quan hệ cung – cầu vốn trên thị trường và thực hiện giải pháp kích cầu của Chính phủ. Nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện theo cả hai hướng mở rộng và thắt chặt tiền tệ đã không tạo tác động đáng kể nào tới lãi suất. NHNN điều chỉnh lãi suất cơ bản lên 14%/năm. Trong tuần thứ ba của tháng 2-2008. Trong một thời gian dài. Năm 2008 chứng kiến sự biến động mạnh của lãi suất với sự điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và uyển chuyển của NHNN. Lãi suất tái cấp vốn cũng tăng gấp hai lần trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 6-2008. trần lãi suất cho vay lên tới 21%/năm. đặc biệt trong hai năm 1998-1999. nghiệp vụ thị trường mở được áp dụng với lãi suất hình thành qua các phiên giao dịch. Đây là nền tảng cho việc xác định điểm cân bằng tỷ giá theo cách tính sức mua tương đương (PPP). liên tục có điều chỉnh và triển khai quyết liệt. Với quy chế điều hành là cho phép tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh không vượt quá 150% lãi suất cơ bản. trong tương quan với các nền kinh tế khu vực. Thay thế cho khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi và tối đa về tiền vay. Từ giữa tháng 1-2008.5%. Song hành với việc nới lỏng kiểm soát lãi suất.35%/tháng (tương đương 4.000 tỉ đồng vào lưu thông nhưng các ngân . quy định chênh lệch lãi suất được xóa bỏ. Mức lãi suất chiết khấu so với cuối năm 2007 tăng thêm 8. Điều hành lãi suất từ sau năm 2000 Đến tháng 5-2001. Cơ chế điều hành lãi suất với một mức cơ bản kèm biên độ dao động được NHNN áp dụng kể từ tháng 8-2000 thay cho cơ chế lãi suất trần. NHNN thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ. Thời điểm này. Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ. Công cụ lãi suất được phát huy tối đa. Tới cuối tháng 1-1998.Trần lãi suất được điều hành linh hoạt trong thời kỳ từ năm 1996 đến tháng 7-2000. Từ tháng 7-2000. ở mức 13%/năm kể từ 10-6-2008. Lãi suất cao. dự trữ bắt buộc đã tăng thêm 1% với tiền gửi nội tệ và ngoại tệ từ không kỳ hạn tới dưới 12 tháng. Lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh giảm để phù hợp với chỉ số lạm phát.000% (2). NHNN chỉ quy định các mức lãi suất "trần" theo thời hạn cho vay và khống chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay với lãi suất huy động vốn bình quân ở mức 0. NHNN liên tục điều chỉnh trần lãi suất cho vay theo hướng giảm ngưỡng trần và mức khống chế. từ cuối những năm 80 cho tới năm 2000.1%/tháng.7%/tháng kể từ ngày 4-9-1999. Lãi suất tái chiết khấu được qui định ở mức thấp hơn 0.

5%/năm với kỳ hạn 1 tháng. Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất đang đi lên. lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại tiến gần tới trần lãi suất cho vay. các liệu pháp tiền tệ đã phát huy tác động ổn định kinh tế vĩ mô. hạn chế mở rộng tín dụng là những dấu hiệu cho thấy hệ thống ngân hàng thương mại cũng gặp khó khăn với vấn đề thanh khoản. Chi phí lãi vay cao kết hợp với tăng giá đầu vào tạo ra áp lực lớn với sự vận hành sản xuất. mặt bằng lãi suất mới sẽ như thế nào trong thời gian tới? Với câu hỏi thứ hai. có tổ chức tài chính sẵn sàng chuyển nhượng lượng trái phiếu đang sở hữu với mức chiết khấu lên tới 40% mệnh giá. . Nhằm hỗ trợ các đơn vị kinh doanh vượt qua khó khăn trong bối cảnh khủng hoảng tài chính khu vực. nhưng vẫn không tìm được đối tác quan tâm. Điều này có thể là kết quả của những khoản tín dụng chất lượng thấp đã cung cấp trong thời gian trước. lãi suất huy động điều chỉnh 3 lần chỉ trong vòng 10 ngày và tăng lên 12. hai câu hỏi được đặt ra nhiều nhất: Thứ nhất. Có ý kiến cho rằng dường như một kịch bản của năm 2008 đã lặp lại? Tuy vậy. Hiệu lực không thật rõ ràng của các nghiệp vụ thị trường mở vào thời kỳ lạm phát gia tăng là tín hiệu sự tồn tại bẫy thanh khoản trong hệ thống tín dụng. NHNN. cộng đồng kinh doanh và giới nghiên cứu – phân tích vào đầu năm 2010. Cuối tháng 6-2008. kinh doanh trong năm 2008. ngày 26-22010. tại thời điểm đó. lãi suất cho vay dao động từ 17%-20%/năm. Trong tháng 6-2008. NHNN có tiếp tục sử dụng lãi suất cơ bản làm công cụ chủ đạo điều tiết thị trường tiền tệ? Thứ hai. điều chỉnh tăng dần các công cụ lãi suất là giải pháp hợp lý và sớm mang lại kết quả bình ổn thị trường tiền tệ. rất khó xác định ảnh hưởng của nghiệp vụ này tới lãi suất. 2 tỉ đồng trái phiếu chính phủ kỳ hạn 2 năm với lãi suất 11%/năm đã được huy động thành công(3). cùng với động thái tích cực của lãi suất huy động vốn mới nhất cận kề trung tuần tháng 4-2010. Chính phủ có thể cân nhắc dỡ bỏ trần lãi suất huy động 10.hàng thương mại vẫn tiếp tục tăng lãi suất huy động tiền gửi. cũng có ý kiến coi những khó khăn trước mắt là cần thiết cho một thị trường tiền tệ vận hành lành mạnh trong tương lai gần. chỉ hai tuần trước đó.300 tỉ đồng tín phiếu bắt buộc được đưa ra vào giữa tháng 2-2008 và thực hiện một tháng sau đó. Trên thị trường. mặc dù trước đó có thể đã phải thực hành nhiều cách thức không chính thức để thỏa mãn mức bù rủi ro khách gửi tiền muốn (như khuyến mãi). Với mức lãi suất thực dương. Lãi suất thương mại được nâng lên. chính sách tiền tệ của Việt Nam trong năm 2008 sử dụng nhiều công cụ hơn và cường độ điều chỉnh dồn dập hơn. Chấp nhận chi phí đầu vào tăng cao. thị trường đã chuyển động gần đúng với những dự báo lý thuyết. Tại thời điểm đó. Tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB).5%/năm đến 11. Lưu ý rằng.9%/năm(4). Mặc dù khối lượng không lớn nhưng dấu hiệu này gợi mở khả năng tiếp tục duy trì các chính sách tiền tệ – tài chính vĩ mô. phiên đấu thầu hai loại trái phiếu chính phủ ngày 13-6-2008 có kỳ hạn 2 năm và 3 năm đã không thu hút được bất kỳ thành viên nào tham gia. Hai vấn đề đặt ra Cơ chế điều chỉnh lãi suất một lần nữa trở thành tâm điểm chú ý của người làm chính sách. Ngày 30-6-2008. với tỷ lệ không nhỏ dành cho các dự án bất động sản và đầu tư tài chính. đã ra quyết định cho phép các ngân hàng thỏa thuận lãi suất cho vay trung và dài hạn (có kỳ hạn trên 365 ngày) với doanh nghiệp. chính sách tiền tệ được mở rộng trong các năm từ 1997 đến 1999. Kết quả thống kê cho thấy: a) Việc tăng lãi suất đồng loạt chứng tỏ các ngân hàng thực chất đang chuẩn hóa lại mức lãi suất công bố minh bạch. Khảo sát nhanh ngày 16-4-2010 tại các ngân hàng thương mại ghi nhận mức lãi suất huy động phổ biến dao động từ 11. Ngân hàng Kiên Long áp dụng lãi suất huy động tiền đồng cao kỷ lục là 20%/năm cho khách hàng gửi tiền kỳ hạn 12 tháng.5% và nới rộng áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận cả với những khoản vay ngắn hạn (có kỳ hạn dưới 365 ngày). Thông báo phát hành 20. Nếu đúng vậy. những thay đổi rõ nét đang diễn ra. Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia (UBGSTCQG) Lê Đức Thúy có ý kiến tại cuộc họp báo thường kỳ Chính phủ ngày 3-3-2010 rằng. Những điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước. Vào thời điểm giữa tháng 3-2010. So với giai đoạn khủng hoảng tiền tệ khu vực 1997-1998.

gọi là ngân hàng thương mại nhà nước hay ngân hàng thương mại quốc doanh.2% (USD). NXB Tri thức. Kinh tế Việt Nam: Thăng trầm và Đột phá. cùng xu hướng với đầu tư (đầu cơ) bất động sản. Sự sẵn sàng cho đầu tư chứng khoán cũng cao hơn. Thực tế này yêu cầu phải có một công cụ ít mang tính hành chính hơn. Tái bản lần 1. Các ngân hàng trực thuộc NHNN trước đây và ngân hàng chính sách vào thời điểm đó cũng lần lượt được chuyển đổi để trở thành ngân hàng thương mại thuộc sở hữu nhà nước. trong đó có quyền thỏa thuận lãi suất. tách biệt với chức năng ngân hàng thương mại. Dù đã được giao quyền chủ động kinh doanh tín dụng.000 đồng. vậy lần áp dụng này có gì mới? Hệ thống ngân hàng hai cấp tại Việt Nam ra đời ngày 23-5-1990 khi NHNN được cấu trúc lại cho phù hợp với chức năng của ngân hàng trung ương hiện đại. c) Mức giảm chênh lệch do xu hướng đồng thuận giảm lãi suất cho vay xuống mức 15% (từ mức cao 17-18%) và xu hướng tăng lãi suất mới chớm xuất hiện này cho thấy NHTM còn phải giải quyết bài toán tương phản giữa tăng thanh khoản và suy giảm lợi nhuận từ hoạt động tín dụng. mức huy động lãi suất các ngân hàng phải rơi vào khoảng trên 11. Trung tâm GDCK Hà Nội đã tổ chức phiên đấu thầu Trái phiếu Chính phủ do Kho bạc Nhà nước phát hành đợt 7-2008. Từ quan sát chuyển động vi mô này. Câu hỏi thứ nhất gây nhiều lúng túng hơn. Bỏ lãi suất cơ bản đồng nghĩa với việc NHNN mất đi một công cụ điều tiết thị trường? Cơ chế thỏa thuận đã từng được áp dụng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. 227-34 (2) Lê Quốc Lý.79% và ở mức cao nhất (của phép tính giả định tại đây): 12. nhưng cũng không hoàn toàn là thị trường tự do để điều hành lãi suất. 2010. tình trạng đô-la hóa sẽ gia tăng vì lợi ích của người gửi tiền. mệnh giá 100./. Ở mức kỳ vọng lạm phát thấp nhất. ít nhất là về xu hướng giảm tiền gửi ngân hàng. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Ngoại thương. để cả hệ thống ngân hàng chuyển sang vận hành theo cơ chế hai cấp cần nhiều thời gian hơn hẳn việc ban hành các quyết định và văn bản. lãi suất VND 3 tháng phải đạt 11. vì ở dưới các cận này.5%/năm trở lên với lãi suất kỳ hạn 3 tháng. và dẫn tới tình trạng sức ép tăng lãi suất tiền gửi cao hơn. nếu điều chuyển đầu tư khác và bảo hiểm (thường có liên quan tới sản xuất – kinh doanh) vào nhóm này của điều tra. Tại phiên . có thể do dự báo rằng khả năng NHNN can thiệp sâu để bù thanh khoản cho hệ thống sẽ giảm đi đáng kể theo những động thái chính sách tiền tệ cuối quý I/2010. Rõ ràng không thấy sức hấp dẫn với lãi suất tiền đồng của ngân hàng. Trái phiếu phát hành vào ngày 01-7-2008. Quan hệ giữa lạm phát với lãi suất và kiềm chế lạm phát ở Việt Nam. tháng 5-2008 (3) Ngày 27-6-2008. 1) Phạm Minh Chính và Vương Quân Hoàng. Đối chiếu khảo sát ý kiến người dân về lựa chọn kênh đầu tư trong năm 2009 và 2010 cũng phản ánh sự thay đổi có thể giải thích hiện tượng thu hút vốn ngân hàng khó thời gian vừa qua.49% (VND) và 3.78%. nhưng các NHTM vẫn lệ thuộc rất nhiều vào ý kiến chỉ đạo từ NHNN trong việc ra quyết định cho vay và cho vay với giá nào. Riêng nhóm sản xuất – kinh doanh không có nhiều cải thiện về xu hướng.b) Áp lực cạnh tranh để thu hút nguồn thanh khoản gia tăng. Tổng khối lượng gọi thầu là 300 tỉ đồng với kỳ hạn 2 năm. Bốn NHTM nhà nước hình thành đầu tiên gồm: Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam. Ngan hàng Công Thương Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 9. Để có thêm chi tiết. có thể xét lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 3 tháng theo công bố của Vietcombank ngày 13-3 là 10. chúng ta sẽ không ngạc nhiên nếu chứng khoán và bất động sản được hưởng lợi từ sự dịch chuyển ý thức đầu tư vừa xét (5). Để đảm bảo hấp dẫn. tr. Tuy nhiên.

quy hoạch xây dựng đô thị. giá nguyên vật liệu xây dựng. Vol. Đây là những yếu tố quan trọng nhất quyết định mức độ ổn định và phát triển của thị trường BĐS trong năm 2010. “Động học của tăng trưởng thực: góc nhìn vi mô”.đấu thầu. bằng lãi suất trần.wordpress.com thực hiện ngày 16-4-2010 về sự hình thành mặt bằng lãi suất huy động mới với nội tệ VND (5) Vebimo. và số lượng trái phiếu huy động được là 702 tỉ đồng sau 3 đợt phát hành. kinh tế Việt Nam trong năm 2010 được duy trì mức độ phát triển bằng và cao hơn một chút so với năm 2009.com Các yếu tố tác động đến thị trường BĐS năm 2010 Báo cáo của tổ chuyên gia liên ngành về thị trường bất động sản đã đưa ra các yếu tố tác động đến sự phát triển của thị trường BĐS trong năm 2010. 1.00%/năm.. Yếu tố lạm phát mặc dù có bị ảnh hưởng của những tháng đầu năm 2010 nhưng với quyết tâm của Chính phủ để kiềm chế lạm phát thì hy vọng lạm phát cả năm sẽ được khống chế ở mức không quá 2 con số. pp7-9 NGUỒN: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 9 (201) NĂM 2010 https://luattaichinh. mức độ đầu tư cơ sở hạ tầng. Tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát Theo dự báo. Đây là lần thứ 3 KBNN phát hành trái phiếu kỳ hạn 2 năm trong năm 2008 qua hình thức đấu thầu qua TTGDCKHN. thị trường chứng khoán..00%/năm. (4) Khảo sát do Hệ thống Phân tích Kinh tế Vebimo. chính sách thuế. Lãi suất trần được Bộ Tài chính đưa ra tại phiên đấu thầu là 11. 1. lạm phát. thủ tục pháp lý về BĐS. Kết quả. 12-4-2010. Iss. Vietnam Economy Monitor Weekly. . lãi suất ngân hàng.00%/năm. Theo đó. 2010. có rất nhiều yếu tố tác động đến sự phát triển của thị trường BĐS như: tăng trưởng kinh tế. tổng khối lượng dự thầu là 2 tỉ đồng với lãi suất dự thầu 11. tổng khối lượng trái phiếu huy động thành công là 2 tỉ đồng với lãi suất 11.

5%. nếu việc mở rộng tín dụng một cách ồ ạt vào thị trường BĐS.com/vi-VN/News/thitruong/2010/06/17680. thủ đô Hà Nội sẽ hoàn thành đồ án quy hoạch chung xây dựng thủ đô. Tại các đô thị lớn khác như Đà Nẵng.17:42 25-11-2009 (Vietstock) – Ngày 25/11. Thị trường chứng khoán Cùng với sự tăng trưởng trở lại của nền kinh tế. thành phố Hồ Chí Minh cũng sẽ tiến hành điều chỉnh đồ án quy hoạch chung của thành phố và vùng lân cận. sẽ tạo điều kiện để lãi suất cho vay đầu tư được điều chỉnh về mức thích hợp (khoảng 11% . Lãi suất cơ bản và lãi suất cho vay đầu tư BĐS của các ngân hàng thương mại hiện nay đang ở mức cao.aspx Điều chỉnh lãi suất và tỷ giá: Ảnh hưởng ra sao đến thị trường? vietstock.Công tác quy hoạch xây dựng đô thị và mức độ đầu tư cho cơ sở hạ tầng Năm 2010. Hải Phòng.vn . Theo số liệu khảo sát. Theo đó. thị trường chứng khoán đã phát đi tín hiệu có sự tăng trưởng. Lãi suất ngân hàng Lãi suất ngân hàng và sự phát triển của thị trường BĐS có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau rất chặt chẽ. tạo ra không khí sôi động hơn cho thị trường BĐS. nhất là phân khúc thị trường cao cấp sẽ tiềm ẩn những nguy cơ gây ra hiện tượng “ bong bóng” bất động sản mới. trong quý I năm 2010 mức lãi suất cho vay của một số ngân hàng thương mại hiện đã tới 18%/năm. Chỉ số Vn-Index vào đầu tháng 3 năm 2010 đã đạt ngưỡng trên 530 điểm là yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của thị trường BĐS. Cần Thơ.com. trong khi đó. một số dự án đầu tư cơ sở hạ tầng có quy mô lớn đang được triển khai một cách khẩn trương sẽ có tác động tích cực đến sự phát triển của thị trường BĐS. (Theo DO thij ) http://timnhadat. Nhiều nhà đầu tư đang nghĩ về một kịch bản . đầu năm 2010. Việc Chính phủ đã cho phép các ngân hàng thương mại được chủ động điều chỉnh lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Mặc dù vậy.13%/năm). Ngân hàng Nhà nước đã ban hành hai quyết định quan trọng liên quan đến chính sách tiền tệ. lãi suất cơ bản sẽ tăng lên 8%/năm từ 01/12/2009 và tỷ giá liên ngân hàng được nới rộng thêm 5.

sẽ không ảnh hưởng nhiều đến mức lãi suất trên thị trường trong thời gian tới. Đồng thời. NHNN cũng thu hẹp biên độ tỷ giá mới cho giao dịch mua bán giao ngay giữa USD và VND là +/3% từ ngày 26/11/2009.55%. NHNN đã một lần nữa thể hiện ý chí kiểm soát tốc độ tăng trưởng. lãi suất cơ bản sẽ tăng thêm 1% sau hơn 10 tháng được giữ ở mức 7%/năm. và các ngân hàng sẽ phải cân nhắc trong việc giải ngân tín dụng. Có kích hoạt đợt tăng lãi suất trên thị trường? Câu hỏi lớn nhất là liệu việc này có kích hoạt cho một đợt tăng lãi suất trên thị trường hay không? Hiện tại. chất lượng tín dụng.500 VND/USD. Chẳng hạn. Trước đây. Tăng lãi suất: một mũi tên trúng nhiều đích Với việc đồng loạt tăng 1% đối với lãi suất cơ bản.HCM.422 – 18. Nay với việc sử dụng công cụ lãi suất. lãi suất cân bằng thực sự trên thị trường có thể đã vượt xa mức lãi suất trần quy định này. mặc dù có thể phải chịu lãi suất vay cao hơn. Việc điều chỉnh tăng lãi suất.55% so với tháng trước.35%. Trước đó. Lãi suất trần huy động điều chỉnh tăng lên trên 10% sẽ giúp hút tiền vào hệ thống ngân hàng. việc này lại có tác động kép là chi phí vốn của NHTM sẽ cao hơn. lãi suất tái cấp vốn tăng từ 7%/năm lên 8%/năm. vào ngày 12/11/2009. Ngân hàng Nhà nước đã có quyết định điều chỉnh lãi suất cơ bản tăng từ 7%/năm lên 8%/năm. Ngoài ra. tài sản tài chính và kể cả các hoạt động sản xuất kinh doanh. thay vì +/-5% như trước đây. Hà Nội công bố lần lượt tăng 0.năm 2008 sẽ lặp lại.000 đồng (5. Tuy nhiên. chỉ số CPI tháng 11 của TP. so với cùng kỳ năm trước tăng 4. Thời điểm áp dụng của quy định mới này là từ 01/12/2009. chúng ta đã có thông tin Chính phủ đồng ý chủ trương sẽ tiếp tục gói kích cầu thứ 2. Chúng tôi cũng nhìn nhận việc “kiểm soát” tốc độ tăng tín dụng này chỉ có ảnh hưởng nhất định trong ngắn hạn. và doanh nghiệp nào sẽ bị ảnh hưởng? Tăng lãi suất cơ bản lên 8%/năm. Chính sách hỗ trợ này . Như vậy. tăng tỷ giá liên ngân hàng 5.07%. khác với các nước lãi suất cơ bản chỉ có tính chất tham chiếu cho lãi suất thị trường. Với các điều chỉnh này.027 hiện tại. lãi suất chiết khấu tăng từ 5%/năm lên 6%/năm. tăng tính thanh khoản cho thị trường tiền tệ. Ở Việt Nam. tăng gần 1. CPI tăng 5. NHNN kiểm soát tín dụng bằng một loạt các biện pháp hành chính.52 và 0. và giảm cung tiền trong nền kinh tế. Tính trong 10 tháng. Biện pháp này đặc biệt có ý nghĩa khi mà lạm phát đang tăng trở lại. NHNN rõ ràng cũng đang có ý định cởi trói cho các ngân hàng thương mại để huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế.5% Ngày 25/11. kề từ tháng 12/2009.5%) từ mức 17. tác động đến nền kinh tế có thể sẽ có hiệu quả và công bằng hơn vì biện pháp này mang tính thị trường nhiều hơn. Việc tăng lãi suất cơ bản đồng nghĩa với tăng trần lãi suất cho vay và huy động. bằng cách hỗ trợ lãi suất 2% đến hết Q1/2010. mức lãi suất trần cho vay được khống chế ở mức 10. chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2009 đã tăng ở mức khá cao là 0.5%/năm. theo chúng tôi. NHNN đã có văn bản số 8883/NHNN-CSTT về việc không thực hiện lãi suất thỏa thuận với đầu tư bất động sản. lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu. NHNN cũng công bố mức tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng áp dụng cho ngày 26/11/2009 là 17. mức tỷ giá sàn và trần tương ứng sẽ là 17. lãi suất cơ bản có tính chất tham chiếu cho lãi suất trần cho vay. NHNN cũng đã có công văn yêu cầu các NHTM hạn chế cho vay đầu tư vào các lĩnh vực phi sản xuất. Tuy vậy. Bên cạnh đó. Liệu các chính sách này có tác động tiêu cực đến thị trường hay không. Tổng cục Thống kê vừa cho biết. Trước đó. Người đi vay cũng dễ dàng tiếp cận vốn hơn.961. Tình trạng căng thẳng thanh khoản trong hệ thống NHTM thời gian qua một phần có nguyên nhân từ quy định này.

thị trường ngoại tệ đã có những căng thẳng nhất định. điều đáng quan tâm là chi phí vốn của các doanh nghiệp vay vốn bằng ngoại tệ sẽ tăng cao. giày da. Sang Q1/2010. Trong khi đó. và gián tiếp giúp tỷ giá thị trường ổn định ở mức mong muốn. Nâng tỷ giá: giúp giảm căng thẳng trên thị trường ngoại tệ Thời gian vừa qua. điều này cũng giúp giảm áp lực tăng giá hàng nhập khẩu khi tỷ giá ở mức hợp lý hơn. Nếu điều này xảy ra. Quyết định điều chỉnh tỷ giá này có thể kéo tỷ giá trên thị trường xuống (khi người bán ngoại tệ sẽ sẵn lòng hơn để bán. dệt may.tiếp tục tạo ra một lượng vốn giá rẻ cho các doanh nghiệp. giải tỏa áp lực lên vấn đề tỷ giá. Điều quan trọng khác. Nhiều tập đoàn nhà nước vay vốn bằng ngoại tệ sẽ gặp khó khăn trong vấn đề trả nợ. nợ ngoại tệ của Chính phủ cũng sẽ bị ảnh hưởng. Tuy nhiên.000 đồng. giảm chi phí cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Tác động đến TTCK và doanh nghiệp Rõ ràng hai thông tin về chính sách tiền tệ và tỷ giá hôm nay đã tác động mạnh đến tâm lý nhà đầu tư.com/dieu_chinh_lai_suat_va_ty_gia_anh_huong_ra_sao_den_thi_t ruong_-616626709-50397184. Ngoài ra. giúp toàn thị trường vận hành linh hoạt trở lại. Bên cạnh đó. Bộ Tài chính cũng sẽ rà soát để cân nhắc tăng thuế nhập khẩu nếu còn dư địa. Các doanh nghiệp xuất khẩu như thủy sản. Hồ Bá Tình http://news. người mua có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận nguồn ngoại tệ). và Bộ Công Thương sẽ hạn chế nhập khẩu các mặt hàng không cần thiết. khi kênh tín dụng trong hệ thống ngân hàng sẽ bớt tình trạng ách tắc. mà một phần do việc tích trữ và đầu cơ ngoại tệ. khi các mặt hàng xuất khẩu trở nên cạnh tranh hơn. các chính sách được xem là để giải quyết hậu quả. dầu khí… cũng sẽ được hưởng lợi. Chúng tôi không kỳ vọng về việc tăng lãi suất cơ bản sẽ kích hoạt một đợt gia tăng lãi suất trên thị trường.socbay. Về tổng thể. Như vậy. Theo VNExpress. Các doanh nghiệp khác vay vốn bằng ngoại cũng rơi vào tình trạng tương tự. các tập đoàn nhà nước có nguồn thu ngoại tệ có thể sẽ bán lại cho ngân hàng. các doanh nghiệp có đòn bẩy cao sẽ bị ảnh hưởng trước tiên.việc “thắt chặt” này sẽ có ảnh hưởng ngắn hạn trong tháng 12/2009. quy mô thị trường ngoại tệ phi chính thức sẽ thu hẹp lại.html . Vì vậy. việc ổn định tỷ giá có thể giúp họ tự tin hơn trong việc giải ngân trên TTCK. các chính sách hiện nay nhằm để ngăn chặn các nguy cơ có thể xảy ra. Lãi suất toàn hệ thống tăng cao cũng sẽ ảnh hưởng gián tiếp đến kênh đầu tư trên TTCK. Quyết định này có thể sẽ giúp nhiều ngân hàng “dễ thở” hơn trong vấn đề thanh khoản. Dù vậy. cao su. chúng tôi cho rằng bối cảnh hai thời điểm này có sự khác biệt khá lớn. Chênh lệch giữa tỷ giá USD/VND chính thức và phi chính thức đã có lúc lên tới 2. Nhìn nhận một cách khách quan. giảm bớt tính trạng đô la hóa trong nền kinh tế. việc căng thẳng tỷ giá này không chỉ do thiếu hụt USD trong nền kinh tế. Tỷ giá về mức hợp lý sẽ giúp cho các doanh nghiệp nhập khẩu bớt khó khăn hơn trong việc tiếp cận nguồn tiền thanh toán. và kiềm chế lạm phát. có thể một lượng tiền gián tiếp sẽ được bơm ra cho các doanh nghiệp theo gói kích cầu thứ 2. Điều này sẽ giúp giới hạn mức thâm hụt cán cân thương mại. ổn định tỷ giá ở mức phù hợp sẽ rất quan trọng. Năm 2008. Nhiều nhà đầu tư đang suy nghĩ về một kịch bản năm 2008 sẽ lặp lại. Điều cần xem xét thêm là giá trị nợ bằng ngoại tệ của Chính phủ cũng sẽ tăng lên mạnh. Đối với nhà đầu tư nước ngoài.

các nhà doanh nghiệp và các gia đình cắt giảm lượng tiền mặt và tài khoản séc của họ. Đường cong về mức cung tiền tệ được vẽ thẳng đứng vì việc cung cấp tiền tệ được định ra ở M cho mọi lãi suất. *Chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ: khi ngân hàng trung ương muốn kiềm chế lạm phát. cung quỹ cho vay được biểu hiện bằng So và cầu quỹ cho vay được biểu hiện bằng Do và lãi suất io. hoặc lãi suất gây ra) cũng ảnh hưởng đến lãi suất cân bằng. sẽ thực hiện một chính sách thắt chặt tiền tệ thông qua công cụ của nó (thay đổi tăng mức dự trữ bắt buộc.2. người tiêu dùng có khuynh hướng mua nhiều hàng hơn…Vón đầu tư tăng. Trên đồ thị lãi suất chuyển từ i sang iA. đơn vị. tổ chức để làm phương tiện giao dịch. trên cơ sở đó ổn định thị trường. Kết quả là việc tiến hành các dự án đầu tư mới trở nên có lợi hơn. khi nào thì hút tiền từ lưu thông về để điều chỉnh lãi suất thị trường một cách hợp lý. đường S dịch chuyển sang trái thành S’. -Cầu tiền tệ là nhu cầu về tiền của cá nhân. giảm lãi suất chíết khấu. kho hàng tăng lên. Sự thay đổi cung cầu tiền tệ sẽ ảnh hưởng đến lãi suất. . Tín dụng trở nên dồi dào hơn. dịch đường D sang phải tạo ra thăng bằng mới trên thị trường. *Chính phủ thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ: khi ngân hàng trung ương lo sợ sắp có suy thoái sẽ tăng mức cung tiền tệ bằng cách bơm tiền vào lưu thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ. mức cầu tiền tệ giảm. giảm hạn mức tín dụng). Trước tiên hãy giả định.Mức cung cầu tiền tệ -Cung tiền tệ là tổng thể tiền tệ được sử dụng để giao dịch thanh toán trên thị trường. Giao điểm giữa D’ và S’ là A’ với mức lãi suất cân bằng mới i’A. với mức giá cả ổn định và dự tính lạm phát trong tương lai là không đáng kể. Các nhà kinh tế đã định nghĩa M là tiền giao dịch bao gồm: M1 là tổng số tiền kim khí và tiền giấy lưu thông bên ngoài ngân hàng cộng với tiền gửi ngân hàng có thể rút ra bằng séc và định nghĩa rộng hơn (M2) bao gồm những tài sản như tài khoản tiền gửi tiết kiệm ngoài tiền kim khí. 3. Ngoài ra những thay đổi dự định trong cầu tìen tệ (không phải do sự thay đổi trong mức giá cả. đường D dịch chuyển về bên trái tạo thành D’. lãi suất thấp thì số tiền dôi ra lớn hơn. mức đầu tư sẽ giảm. Khi nào thì ngân hàng trung ương bơm tiền ra lưu thông. Đây là mức lãi suất ở điểm số lượng tiền do ngân hàng trung ương đề ra làm mục tiêu phù hợp với số tiền mà công chúng muốn nắm giữ. lãi suất trên đồ thị chuyển từ I sang iB. lãi suất tăng. mua bán hàng hoá. số tiền chi tiêu về nhà máy. Nghiên cứu nhân tố cung cầu tiền tệ tác động qua lại đến lãi suất có một ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách tiền tệ. Mức cung tiền tệ sẽ giảm đi. Quyền kiểm soát mức cung tiền tệ được dành cho Chính phủ.Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất 3. Công chúng (các gia đình và các hàng kinh doanh) muốn giữ lượng tiền M1 khác nhau ở những mức lãi suất khác nhau.1. Giao điểm giữa cung và cầu trên đồ thị xác định lãi suất cân bằng. tổng sản phẩm. thiết bị.Lạm phát Chúng ta hãy sử dụng cung cầu quỹ với lãi suất để giải thích sự biến động của lạm phát ảnh hưởng đến lãi suất như thế nào. giảm lạm phát. thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế. lãi suất có xu hướng giảm xuống. bởi vì hạn chế mức cung tiền tệ là điều cần thiết để tiền có giá trị. dịch vụ… Đường thẳng đứng S biểu thị ngân hàng trung ương giữ cung cấp tiền tệ ở một lượng định trước gọi là M.5. trao đổi. Lãi suất tăng.5. tiền giấy và tiền gửi ngân hàng có thể rút ra bằng séc. tổng mức cầu tăng lên.

thị trường trái khoán trở nên ổn định hơn. đường cầu dịch chuyển về bên phải. 3. dù ở từng mức lãi suất riêng lẻ hay ở tất cả mọi lãi suất. lãi suất tăng. tăng nhanh tổng sản phẩm quốc dân -Đạt tỷ lệ người có công ăn việc làm cao. khi lạm phát dự tính tăng lên .Sự ổn định của nền kinh tế -Ảnh hưởng đến cung tiền vay: khi nền kinh tế ổn định và phát triển. Một sự giảm xuống của cung và một sự tăng lên của cầu đối với quỹ cho vay sẽ đẩy lãi suất tăng từ io đến i1. công chúng chỉ muốn giữ một số tiền nhất định đủ cho nhu cầu sử dụng. trái khoán trở thành một tài sản hấp dẫn hơn. Trên cơ sở đó. Trong tình hình ấy những người có khả năng cho vay không muốn giữ tiền mặt.Các chính sách của Nhà nước Mục tiêu của nền kinh tế phát triển là: -Tạo ra sản lượng cao.4. nhà nước nên sử dụng các công cụ lãi suất để tăng vốn đầu tư vào những lĩnh vực cần phát triển cho sự cân đối của nền kinh tế. Do cầu quỹ cho vay tăng. ông cho rằng trong mọi trường hợp tỷ lệ lạm phát của một nước là cực kỳ cao trong bất cứ thời kỳ kéo dài nào.3. Tóm lại. kích thích người ta đi vay hơn là cho vay. hoặc nhà nước tung vàng. -Đảm bảo ổn định giá cả trong điều kiện thị trường tự do hoạt động. yếu tố kích thích làm tăng cung quỹ cho vay gần như triệt tiêu bởi giá trị thực tế của vốn gốc và tiền lời thu được đã bị hao mòn do tác động của lạm phát. các công ty càng có nhiều ý định vay vốn và tăng số dư nợ nhằm tài trợ cho các cuộc đầu tư được trông đợi là sinh lời.5. -Ảnh hưởng đến cầu tiền vay: khi nền kinh tế đang phát triển nhanh nhất là trong giai đoạn phát đạt của một chu kỳ kinh doanh. lãi suất có xu hướng giảm. họ muốn đầu tư vào những tài sản thay thế có lợi tức dự tính cao: đầu tư vào các trái khoán công ty. ngoại tệ. Bởi vì khi nền kinh tế ổn định. chi phí thưc của việc vay tiền giảm xuống . tỷ lệ thất nghiệp thất. khi lạm phát dự tính tăng. nếu đường cầu dịch chuyển nhiều hơn thì lãi suất cân bằng mới tăng lên. .Khi lạm phát tăng. vì vậy cung tiền vay tăng lên. 3. đường cung dịch chuyển về bên phải. Cầu tiền vay tăng lên. Khi đường cung và đường cầu tiền vay tăng lên và dịch chuyển về bên phải. Trong nền kinh tế ổn định và có xu hướng phát triển. có một chính sách lãi suất hợp lý. đặc biệt từ các nguồn vốn trên thị trường trái khoán. không chỉ làm giảm độ lớn của cung mà còn kéo theo việc tăng thêm quy mô về cầu quỹ cho vay . rủi ro trái khoán giảm. Điều đó dẫn đến cung quỹ cho vay giảm. Lạm phát tăng.Bởi với lãi xuất danh nghĩa cho trước . lãi suất tăng. đổ xô đi mua hàng hóa dự trữ vàng. nhà nước cần phải nâng lãi suất danh nghĩa. Nhiều nhà kinh tế đã khuyến nghị rằng cuộc chiến chống lạm phát nhất định sẽ thất bại nếu chúng ta muốn hạ thấp lãi suất. Khi lạm phát cao. Theo Friedman. ngược lại. lãi suất có xu hướng tăng lên. sẽ đạt được một điểm cân bằng mới về bên phải.5. thì tỷ lệ tăng trưởng của cung ứng tiền tệ là cực kỳ cao. đảm bảo cho lãi suất thực dương. ngoại tệ ra bán để kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên nếu đường cung dịch chuyển nhiều hơn đường cầu thì lãi suất cân bằng mới có xu hướng giảm xuống. đường Do dich chuyển sang phải tạo thành D1. của cải tăng lên. đường So chuyển về bên trái thành S1 lãi suất tăng.Người đi vay sẽ kiếm được khoản thu lợi do giá hàng hóa được mua bằng tiền đi vay sẽ tăng lên. Điều này có một ý nghĩa quan trọng trong việc dự đoán lãi suất khi nền kinh tế có xu hướng lạm phát tăng.

Do vây cũng như ảnh hưởng của một sự tăng lên trong cung tiền tệ khi mức giá được giữ cố định. đường cầu dịch chuyển về bên phải. thuế còn có thể tác động đến mức sản lượng tiềm năng. đường cầu dịch chuyển về bên phải. ngân hàng trung ương có thể khuyến khích mở rộng hay làm giảm khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cấp cho nền kinh tế. giảm nhu cầu đầu tư. hạn chế tín dụng của ngân hàng và ngược lại. lãi suất tăng lên. Mức cao hơn của tổng sản phẩm làm tăng lượng cầu tiền tệ. Nhà nước phải sử dụng các công cụ bằng các chính sách có thể điều chỉnh tốc độ và phương hướng của hoạt động kinh tế. Như vậy một sự thay đổi về chính sách giá cả cũng làm thay đổi lãi suất. tăng lượng cầu tiền tệ. nhà máy. Ngược lại một mức giá cao hơn làm giảm cung tiền tệ theo giá trị thực tế. từ đó ảnh hưởng đến lãi suất. Do thay đổi lãi suất chiết khấu. bởi vì nó có thể dùng để mua nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn. . làm tăng lãi suất. giá trị của đơn vị tiền tệ theo giá trị thực tế tăng. *Chính sách tiền tệ: với tư cách ngân hàng của các ngân hàng. đường cầu dịch chuyển về bên phải. -Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách lãi suất tái chiết khấu: ngân hàng trung ương tái chiết khấu các chứng từ do ngân hàng thương mại xuất trình với điều kiện ngân hàng phải trả một lãi suất nhất định do ngân hàng trung ương đơn phương quy định. *Chính sách tài chính: bao gồm chi tiêu của chính phủ và thuế khóa. Mỗi khi lãi suất chiết khấu thay đổi có xu hướng làm tăng hay giảm chi phí cho vay của ngân hàng trung ương đối với ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng do đó khuyến khích hay cản trở nhu cầu vay vốn. cung ứng tín dụng. làm giảm lợi nhuận theo đơn vị sản phẩm tại một mức giá cả. Một lãi suất chiết khấu cao hay thấp sẽ làm thay đổi lượng vay của ngân hàng. Do đó cũng ảnh hưởng gián tiếp đến lãi suất trên thị trường. Ngoài ra. làm lãi suất giảm. ngân hàng trung ương có thể điều tiết hoạt động của nền kinh tế vĩ mô bằng các phương pháp sau: -Ngân hàng có thể quy định lãi suất cho thị trường.Để đạt được mục tiêu trên. Quá trình thực hiện các chính sách của Nhà nước đều tác động lãi suất cân bằng trên thị trường. khi tiền lương tăng làm chi phí sản xuất tăng. Chi tiêu của chính phủ là một nhân tố then chốt định mức tổng chi tiêu. Nếu mức giá cả giảm mà cung tiền tệ không thay đổi. cầu tiền tệ giảm. lãi suất giảm. khi chính phủ giảm thuế. lãi suất tăng. -Ngân hàng trung ương tăng hay giảm mức dự trữ bắt buộc: khi tỷ lệ dự trữ tăng lên ức là ngân hàng trung ương quyết định giảm bớt số vốn khả dụng của ngân hàng kéo theo những khó khăn ngân quỹ cho các ngân hàng. -Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách thị trường mở: có nghĩa là ngân hàng trung ương thực hiện việc mua bán giấy tờ có giá trên thị trường chứng khoán. *Chính sách thu nhập: đó là chính sách về giá cả và tiền lương. hạn chế hoặc mở rộng hoạt động tín dụng nhằm thực hiện được mục tiêu giảm lạm phát và tăng trưởng kinh tế theo từng thời kỳ. Vì vậy thông qua việc điều chỉnh lãi suất chiết khấu. ngân hàng trung ương có thể tác động gián tiếp vào lãi suất thị trường. chẳng hạn việc giảm thuế đánh vào thu nhập từ đầu tư làm cho các ngành tăng đầu tư vào máy móc. làm cho nhiều thu nhập hơn được sẵn sang để chi tiêu và làm tăng tổng sản phẩm bằng cách tăng chi tiêu. Yếu tố cấu thành quan trọng nhất của chi phí sản xuất là chi phí tiền lương. Khi chi tiêu của chính phủ tăng trực tiếp làm tăng tổng cầu. chủ động điều chỉnh lãi suất để điều chỉnh tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế. ngân hàng trung ương thực hiện vai trò chỉ huy đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng của một quốc gia. tiêu dùng. Với công cụ lãi suất. tức lượng tiền cung ứng của ngân hàng cho nền kinh tế và cuối cùng sẽ làm thay đổi mức lãi suất thị trường. Khi nhà nước thực hiện một chính sách tài chính bành trướng (tăng chi tiêu của Chính phủ và giảm thuế) sẽ ảnh hưởng đến thăng bằng của thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ. tổng sản phẩm tiềm năng được tăng lên. Nhiệm vụ chính của chính sách thị trường mở là điều hòa cung cầu về các chứng phiếu có giá để tác động vào các ngân hàng thương mại trong việc cung cầu tiền tệ.

htm Ngày gửi: 22/12/2008 .02%.elearning. không kích thích xuất khẩu. tỷ giá. lượng tiền cung ứng để đảm bảo cân đối ngoại tệ cần chuyển đổi tăng lên. lãi suất giảm. với một lượng vốn đầu tư nhất định. 2007:3. NHNN sẽ triển khai các giải pháp điều hành lãi suất thỏa thuận phù hợp với cơ chế thị trường”. 9:59 | 16/04/2010 Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu đã trao đổi với báo chí xung quanh một số vấn đề dư luận quan tâm hiện nay về chỉ số giá tiêu dùng quý I tăng 4. do từ tháng . mục tiêu đặt ra là tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô.12%. cao hơn cùng kỳ các năm khác. Khi nhà nước tăng tỷ giá ngoại tệ sẽ làm tăng giá của hàng nhập khẩu. khi tỷ giá ngoại tệ tăng. phấn đấu tăng trưởng kinh tế 6. Tỷ giá sẽ tác động đến quá trình sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu hàng hóa của một nước. làm cho đồng tiền của mình vững mạnh. giá cả nhập khẩu tăng. nhất là đối với các ngoại tệ có khả năng chuyển đổi. Thưa Thống đốc. có thể gây áp lực buộc ngân hàng trung ương phải theo đuổi một tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ cao hơn nhằm hạ thấp tỷ giá.75%. đồng tiền tăng giá.12%. Vì vậy khi thấy đồng tiền của nước mình sụt giá. giảm bớt cung tiền tệ. dẫn đến tăng chi phí đầu vào của các xí nghiệp.edu. lợi nhuận giảm. dư luận đang quan tâm. thanh khoản của hệ thống ngân hàng. giá hàng hóa trong nước tăng lên.*Chính sách tỷ giá: bao gồm các biện pháp liên quan đến việc hình thành quan hệ về sức mua giữa tiền của nước này so với một ngoại tệ khác. cao hơn so với cùng kỳ năm các năm gần đây (2006: 2. Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao chủ yếu do nhu cầu tăng cao trong dịp tết. Bạn có thể xem thêm tại đây: http://www. tính chung 3 tháng đầu năm chỉ số giá tiêu dùng tăng 4. lãi suất tăng lên. kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng không quá 7%. Yếu tố tiền tệ tác động tới lạm phát không lớn. 2009: 1. 2008: 9.75%. nhưng năm nay đã tăng đến 0. lo ngại khi chỉ số giá tiêu dùng quý I tăng 4.19%. Như vậy khi có một sự cạnh tranh giữa nền công nghiệp trong nước với công nghiệp nước ngoài tăng lên. sàn vàng. Khi tỷ giá ngoại tệ giảm.hueuni. nhà nước điều chỉnh một số mặt hàng làm tăng giá thành sản phẩm. lãi suất giảm. Ông có ý kiến gì về vấn đề này? Theo Nghị quyết số 36/2009/QH12 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010.12%. nhu cầu đầu tư giảm.32%). kích thích nhập khẩu. nền công nghiệp trong nước có thể bị sự cạnh tranh của nước ngoài tăng lên. tài sản đầu tư sẽ nhiều hơn. kích thích đầu tư vào sản xuất.5%.vn/file.php/110/tientevanganhang/htm/c3.8%. ngân hàng trung ương sẽ theo đuổi một chính sách tiền tệ thặt chặt hơn. nhất là thông thường chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 giảm hoặc chỉ tăng nhẹ. Lượng tiền tệ tăng do với một tỷ giá thấp. thị trường ngoại hối.11:04 TÀI CHÍNH NH > NGÂN HÀNG Giải pháp đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô Thứ sáu. Ông cũng cho biết: “Trong thời gian tới. Mặt khác. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 năm nay tăng 0. cầu tiền tệ giảm. năng lãi suất trong nước.

Mục tiêu năm 2010 là kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng không quá 7% và đảm bảo tăng trưởng kinh tế khoảng 6.34% so với cuối năm 2009. Chính phủ đã chỉ đạo các bộ. Các giải pháp này được triển khai một cách đồng bộ. lãi suất và tỷ giá diễn biến theo xu hướng ổn định. điều tiết lãi suất và tỷ giá theo hướng ổn định. hệ thống NHTM nước ta chưa đồng đều.47%. NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động. nhập siêu.33%. tháng 4: 4.11%. tháng 1: 0. Vào những ngày giáp Tết. Kho bạc Nhà nước.000 tỷ đồng nhưng rút . Trong thời gian tới. kiểm soát tăng trưởng tín dụng ở mức thấp (năm 2009. tháng 12: 0. dài hạn bằng VND. cần phải thực hiện đồng bộ các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tài khóa. Trước tình hình đó. Thanh khoản của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. linh hoạt.01%. Để thực hiện các mục tiêu này. NHNN hỗ trợ các NHTM lên đến 70. NHNN đã điều chỉnh giảm dự trữ bắt buộc tiền gửi bằng ngoại tệ.5%. ngay từ đầu năm. tái cấp vốn để hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD và nền kinh tế. có chênh lệch lớn về quy mô. Tuy nhiên.16%. điều chỉnh tỷ giá tăng cho phù hợp với cung – cầu thị trường và mục tiêu kinh tế vĩ mô. kinh tế trong nước phục hồi nhưng có nhiều thách thức và khó khăn. ngành phân tích.33%. tháng 8: 2. trong đó. tháng 10: 2. phối hợp đồng bộ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác theo chỉ đạo của Chính phủ. góp phần đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô trong năm 2010. nhưng chịu sự chi phối và điều chỉnh chung bởi một hệ thống văn bản pháp luật. tái chiết khấu. chỉ có vài ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán. tháng 3: 4. để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô theo Nghị quyết của Quốc hội. tháng 2: 1.72 và quý I/2010 dư nợ tín dụng tăng 3. NHNN đã hỗ trợ kịp thời để đảm bảo khả năng an toàn thanh khoản. tái cấp vốn.7/2009. Trong thời gian cuối năm 2009 và dịp Tết Nguyên đán Canh Dần. tiền tệ. dường như gánh nặng dồn lên vai chính sách tiền tệ? Không hẳn như thế. NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và thận trọng. Về cơ bản hoạt động ngân hàng an toàn. tháng 6: 4. quyết liệt thì chắc chắn thực hiện được mục tiêu Quốc hội đề ra. điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trưởng mở. áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung. nhiệm vụ của chính sách tiền tệ khá nặng nề. tháng 7: 2. chi tiêu ngân sách nhà nước. Bảo hiểm xã hội rút khoảng 60. rủi ro hệ thống tài chính vẫn có nguy cơ xảy ra.65%. trong đó chú trọng các giải pháp đảm bảo cân đối lớn của nền kinh tế như xuất nhập khẩu.000 tỷ đồng. tháng 9: 3.000 tỷ đồng để giải ngân theo tính quy luật hàng năm. thương mại và giá cả….01%.75%. các NHTM gặp khó khăn về thanh khoản do một số NHTM dự trữ thanh toán thấp và tổ chức kinh tế. lãi suất đang có vấn đề nhưng các biện pháp chưa đạt hiệu quả cao? Trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chưa vững chắc. một số ngân hàng quy mô nhỏ. giữ ổn định các mức lãi suất cơ bản.46%. tổng tài sản chỉ vài ngàn tỷ đồng. NHNN tiếp tục nâng cao chất lượng công tác dự báo kinh tế vĩ mô và tiền tệ. tháng 5: 4. tháng 11: 2. Trong quý I/2010. áp lực đối với tín dụng ngân hàng vẫn còn lớn.4%. thận trọng với mục tiêu là kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán khoảng 20% và tín dụng khoảng 25%. đảm bảo khả năng thanh toán. quản lý giá thị trường. có ngân hàng tổng tài sản gần 500. bám sát các mục tiêu tiền tệ đã được xác định để điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ. làm rõ những nguyên nhân chỉ số giá tiêu dùng tăng ở mức cao và thực hiện các giải pháp đồng bộ để kiểm soát giá cả hàng hóa. Nhận thức được điều đó.

tương ứng với quý I cùng kỳ các năm diễn biến bình thường (Quý I/2006 tăng 0. gây lên sự thiếu minh bạch trong khuyến mại huy động vốn.8% so với cuối năm 2009. Với tốc độ tăng trưởng tín dụng là 3. đến cuối tháng 3 tăng 3. với ý thức chính trị của mình hoạt động vì lợi ích chung của đất nước. huy động vốn do cạnh tranh có thể gây ra lãi suất tăng cao không? Hiện nay.12%. thu phí cho vay.51%). đặc biệt là tiền gửi của dân cư tăng 9. nhưng thị trường thì phải theo quan hệ cung-cầu. quý I/2007 tăng 4. Nếu thực hiện cơ chế cho vay ngắn hạn bằng VND theo lãi suất thỏa thuận. phát triển hệ thống ngân hàng. Trong quý I/2010. ngân hàng 100% vốn nước ngoài.34% so cuối năm 2009.34%. giám sát đạt hiệu quả chưa cao. trong đó có lợi ích của ngân hàng mình. hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy hoạt động tốt đẹp này. Có ý kiến phê bình chúng tôi do không bơm mạnh thêm lượng tiền cung ứng trong tháng 1 và 2 nên thanh khoản và tín dụng tăng chậm. tín dụng tăng 3. Đối với lãi suất. chúng ta áp dụng lãi suất cơ bản đúng theo Bộ luật Dân sự và Luật NHNN.vn/?page=detail&folder=70&Id=758 • • Kinh tế Ngày cập nhật 27/04/2010 07:47:00 Chính sách lãi suất: Từ lý thuyết đến thực tế .2% cho thấy người dân tin tưởng vào hệ thống ngân hàng. khối lượng lớn hơn so với trước đây. lãi suất huy động và cho vay của các NHTM đang ở mức cao. NHNN đã và đang thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ để ổn định lãi suất thị trường theo xu hướng giảm dần như tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với NHTM với kỳ hạn dài hơn. không để lạm phát cao và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 6. các ngân hàng nước ngoài.dần về sau Tết Nguyên đán. Nhưng có ý kiến đánh giá nếu bơm tiền cung ứng mạnh thêm trong hai tháng đầu năm sẽ tác động mạnh làm tăng chỉ số giá tiêu dùng và có thể cao hơn 4. Tôi tin chắc các NHTM Việt Nam. xét theo lãi suất thực dương và khả năng hấp thụ của nền kinh tế.9%. Huy động vốn đang có xu hướng tăng trở lại. NHNN sẽ triển khai các giải pháp điều hành lãi suất thỏa thuận phù hợp với cơ chế thị trường. chỉ đạo các NHTM Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn và điều chỉnh lãi suất giảm dần phù hợp diễn biến nền kinh tế. Thực hiện Nghị quyết của Chính phủ “về những giải pháp đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. công tác thanh tra. hỗ trợ thông qua tái cấp vốn và hoán đổi ngoại tệ. tổng phương tiện thanh toán và tín dụng có xu hướng tăng dần.5%”. Quỳnh Anh E-mail Bản In http://vccinews. ngân hàng liên doanh luôn luôn đồng thuận chính sách của Chính phủ. Bất cập này cùng với việc chưa điều chỉnh kịp thời các quy định của pháp luật. Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam phát huy mạnh mẽ và động viên tích cực các ngân hàng hội viên góp phần quan trọng trong việc ổn định.

Thực trạng của nền kinh tế VN hiện nay đang phải đối mặt với áp lực lạm phát và với sức phục hồi nền kinh tế còn thiếu vững chắc. bám sát mục tiêu định hướng phát triển kinh tế xã hội cũng như các diễn biến thực tế của thị trường. song nhập siêu vẫn ở mức đáng lo ngại (xuất khẩu đạt 14 tỷ USD. mặc dù đã có những giải đáp cụ thể về chính sách điều hành song trong những tháng đầu năm 2010. Trong đó. Cần linh hoạt Mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của phần lớn NHTƯ của các nước trên thế giới cũng như NHNN VN là ổn định giá trị đồng tiền của quốc gia – thông qua việc kiểm soát lạm phát. Báo DĐDN xin trân trọng giới thiệu tóm lược một số ý kiến của TS Nguyễn Thị Kim Thanh Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng.tiền tệ”. đặc biệt là việc dỡ bỏ trần lãi suất huy động có được thực hiện hay không đã gây ảnh hưởng không tích cực đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng. chuyên gia tài chính bàn luận sôi nổi và đưa ra nhiều giải pháp tại Diễn đàn “Áp lực lạm phát và chính sách tài chính . để đạt được mục tiêu định hướng nêu trên.giúp cho một NHTƯ xác định được các tỷ lệ lãi suất trong ngắn hạn khi các điều kiện kinh tế thay đổi để đạt được hai mục tiêu là ổn định kinh tế trong ngắn hạn và kiểm soát lạm phát trong dài hạn). lãi suất là một trong những công cụ điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của NHTƯ để đạt được mục tiêu tôn chỉ đó. . nhiều quan hệ kinh tế chưa thực sự mang tính thị trường thì việc vận dụng các nền tảng lý thuyết (điển hình như quy tắc Taylor . Một trong những vấn đề của năm 2009.23%. Đối với các nền kinh tế thị trường chưa phát triển như VN.83%. Trong điều kiện như hiện nay.5 tỷ USD. cao hơn rất nhiều mức tăng 9% của quý I/2009. lạm phát tuy vẫn trong tầm kiểm soát nhưng đang có xu hướng tăng trở lại. cao hơn nhiều mức tăng trưởng quý 1/2009.5 tỷ USD).Cơ chế điều hành lãi suất. hoạch định chính lãi suất của NHNN cần phải xem xét đến các yếu tố thực tế. nhập siêu đạt 3. chính sách tỷ giá trước áp lực lạm phát trong giai đoạn hiện nay đã được các nhà nghiên cứu. để hoạch định chính sách lãi suất cần có sự linh hoạt. vốn đầu tư toàn xã hội tăng 26. nhập khẩu đạt 17. vẫn nổi lên những vấn đề tranh luận xoay quanh việc điều hành chính sách lãi suất của NHNN. Dù tăng trưởng kinh tế quý 1/2010 đạt 5.

3 NHTM mà trong đó Nhà nước chiếm cổ phần chi phối. khả năng cạnh tranh của các thành viên trên thị trường tài chính không đồng đều. Đối với những ngân hàng có vốn nhỏ vẫn có sức mạnh trong cạnh tranh thị trường. Mức chênh lệch trong chiếm lĩnh thị phần của một ngân hàng lớn nhất với một ngân hàng lớn kế tiếp là tương đối lớn. Ngân hàng Chính sách xã hội. các NHTM đã đẩy mức lãi suất cho vay rất cao.34%). Mức lãi suất này đã hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của các NHTM (mức tăng trưởng tín dụng quý 1 chỉ đạt 3.28% tổng vốn điều lệ của cả khối. song với một cấu trúc thị trường tồn tại nhiều NHTM có vốn và thị phần thấp thường nảy sinh những hành vi hạn chế cạnh tranh hay cạnh tranh không lành mạnh. Cân nhắc lợi ích .. với nhóm ngân hàng lớn. đó là thị phần tín dụng áp dụng mức lãi suất chính sách là không nhỏ. các lĩnh vực sản xuất được áp dụng lãi suất ưu đãi được thực hiện thông qua Ngân hàng Phát triển. vì khi đó lãi suất hình thành trên thị trường chưa phản ánh đúng cung cầu vốn nên việc phân bổ nguồn vốn qua công cụ lãi suất cũng bị méo mó. thì chúng ta cũng có không ít các dự án. với mức lãi suất huy động mà NHNN đã khuyến cáo các NHTM cần thực hiện theo thỏa thuận của Hiệp hội Ngân hàng là 10. tăng trưởng tín dụng không cao. Các chính sách ưu đãi này là cần thiết trong quá trình phát triển nền kinh tế hiện nay. thị phần huy động vốn và cung ứng tín dụng khoảng 60%. 1 ngân hàng chính sách xã hội) vốn điều lệ đã chiếm 27. nguồn vốn vay của các NHTM từ NHNN để đáp ứng thanh khoản tăng. Mức độ lớn về vốn điều lệ và tài sản quyết định khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Ngoài các khoản vay áp dụng cơ chế hỗ trợ lãi suất trong thời gian qua.. những hành vi chi phối thị trường của các ngân hàng này có thể gây ảnh hưởng tới tác động tổng thể của chính sách NHNN nói chung và chính sách lãi suất nói riêng. nếu không có những biện pháp ngăn chặn sẽ gây ra những bất ổn của hệ thống ngân hàng. từ đó có thể gây ra khủng hoảng ngân hàng. Xét trong hệ thống các TCTD với 73 ngân hàng và 8 tổ chức tín dụng phi ngân hàng chỉ có một số ít NHTM có vốn điều lệ và tài sản lớn. đặc biệt trong việc ứng dụng các công nghệ ngân hàng mới. và những biểu hiện của thị trường những tháng đầu năm 2010 là sự biểu hiện rõ nét của tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh. Trong cấu trúc thị trường hiện nay. Tuy nhiên.1% tổng dư nợ trong nền kinh tế. khoảng 18%. tính bền vững trong phát triển chưa cao. Trong quý 1/2010. các dự án đầu tư phát triển được sử dụng các nguồn vốn ưu đãi ODA khác nữa. thông qua vị thế mạnh của mình trong hệ thống. năng lực tài chính. Dư nợ tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội và ngân hàng phát triển chiếm khoảng 12.. còn có một đặc điểm ảnh hưởng không nhỏ đến tính hiệu quả của tự do hóa lãi suất. nhưng phản ứng của các NHTM là vẫn đua nhau tăng mức lãi suất huy động cao hơn dưới nhiều hình thức. Mặt khác. điều đó cho thấy vốn của các NHTM không khan hiếm. Khi NHNN thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với cho vay trung hạn.. Do vậy. năng lực quản trị. Tình trạng đua nhau tăng lãi suất cho vay và lãi suất huy động trong năm 2008.5% và lạm phát mục tiêu của Chính phủ là 7% thì đã đảm bảo một mức lãi suất thực hợp lý cho người gửi tiền. nhưng ở chừng mực nào đó nó làm giảm hiệu quả của chính sách tự do hóa lãi suất.Cho đến thời điểm hiện nay có thể thấy hệ thống Ngân hàng VN đã có sự phát triển vượt bậc về nhiều mặt. Những hiện tượng này biểu hiện sự bất cập lớn của thị trường. Riêng khối NHTM nhà nước (2 NHTM NN.

. lãi suất ngoại tệ và tỷ giá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. quá trình hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất trong từng thời kỳ luôn phải đảm bảo mục tiêu bao trùm của CSTT là ổn định tiền tệ. theo kết quả ước lượng mô hình đánh giá tác động của lãi suất thực lên tăng trưởng kinh tế theo phương pháp OLS (41 quan sát từ quý 1/2000 đến tháng 3/2010 với mức ý nghĩa 10%) cho thấy khi lãi suất thực cho vay ngắn hạn tăng 1% sẽ làm tăng trưởng kinh tế giảm 0. đầu tư và tổng sản lượng trong nền kinh tế. Do vậy. Điều đó có nghĩa. sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất không được gây ra những cú sốc thị trường. một tín hiệu nâng lãi suất chính sách có thể tạo ra kỳ vọng về lạm phát.là đặc điểm nổi bật của thị trường tài chính của VN hiện nay. Về lý thuyết. điều chỉnh dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ. quy định trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các DN.chưa kể đến các hình thức khuyến mãi khác. Điều này là hoàn toàn phù hợp với lý thuyết về mối quan hệ ngược chiều giữa lãi suất. đảm bảo tính ổn định và thực hiện các mục tiêu kiểm soát lạm phát. Trong năm 2009. Hướng tới tự do hóa lãi suất Là một nền kinh tế USD hóa. Đây là nguyên tắc cơ bản trong hoạch định chính sách lãi suất từng thời kỳ. mức lãi suất thực mà người gửi tiền nhận được là mức lãi suất thực dương. Đặc điểm này dễ gây nên những kỳ vọng về lạm phát trước bất cứ một động thái chính sách kinh tế vĩ mô nào. Hơn nữa. xét về góc độ lãi suất thực tác động đến tăng trưởng kinh tế. với mức chênh lệch quá lớn giữa lãi suất nội tệ với lãi suất ngoại tệ cộng (+) với mức kỳ vọng về tỷ giá sẽ làm dịch chuyển sự nắm giữ giữa nội tệ và ngoại tệ của các thành viên trong thị trường. Như vậy có nghĩa là các NHTM vẫn có thể tăng lãi suất huy động để cạnh tranh thu hút vốn nếu như NHNN dỡ bỏ trần lãi suất huy động vào thời điểm này. . Vì vậy mức độ biến động của lãi suất thực mới chỉ giải thích được 12. tạo áp lực lên tỷ giá. nhất là chính sách tiền tệ một chính sách theo đuổi mục tiêu lạm phát là trụ cột. chính sách lãi suất tiền đồng cũng phải giải quyết hài hòa mối quan hệ này.. với xu hướng này. trung bình trong 3 tháng đầu năm 2010 khoảng 2. kiểm soát lạm phát. Vì vậy mục tiêu theo đuổi của chính sách lãi suất phải nằm trong mục tiêu của CSTT. thường để theo đuổi mục tiêu lãi suất thực dương thì lãi suất danh nghĩa sẽ được tăng dần. điều chỉnh tỷ giá công bố.3% biến động của tăng trưởng kinh tế. Chính sách lãi suất là một công cụ của CSTT. Mặt khác. vấn đề tỷ giá nổi lên như một điểm nhấn của sự ổn định. Đánh giá tác động của lãi suất thực đến tăng trưởng kinh tế. chính sách lãi suất của NHNN cùng hàng loạt chính sách khác (như yêu cầu các TCty lớn bán ngoại tệ cho NHNN. hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. tăng trưởng kinh tế.04% so với quý trước. dẫn đến phản ứng theo “bầy đàn”.8% . các chủ thể trong nền kinh tế thường quan tâm đến mức lãi suất thực mà mình được nhận được là bao nhiêu.Thực tế cho thấy các nhà đầu tư nắm bắt thông tin thị trường không đầy đủ.) đã phải hướng tới sự ổn định này. tạo tín hiệu áp lực lạm phát. khi cân nhắc lợi ích thu được từ các quyết định đầu tư. lãi suất nội tệ. Điều này sẽ gây ra những rối loạn thị trường. Nhìn vào thực tế của VN hiện tại. kinh doanh. Tuy nhiên ngoài lãi suất thực còn nhiều yếu tố khác tác động lên tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên lãi suất thực đang có xu hướng giảm bắt đầu từ tháng 2 do ảnh hưởng của tốc độ gia tăng CPI. thì hiện nay các nhà đầu tư vay vốn ngân hàng đang chịu một mức lãi suất thực tương đối cao. Và trong trường hợp này.

để có thể phát huy được tốt vai trò định hướng của lãi suất cơ bản thì bản thân NHTƯ của quốc gia đó phải xác định được những mục tiêu điều hành cụ thể trên cơ sở định lượng cụ thể về lạm phát. tự do hóa lãi suất là mục tiêu cần hướng tới để đảm bảo sự vận hành của thị trường về cơ bản tuân theo quy luật cung cầu. hoặc lãi suất ngắn hạn mà tại đó nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng. Đó là áp lực lạm phát gắn với hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. khối lượng lớn hơn so với trước đây. nền kinh tế dần ổn định thì việc tháo dỡ trần lãi suất huy động cũng sẽ được thực hiện nhằm tuân thủ các nguyên tắc trên con đường tự do hóa lãi suất đã lựa chọn. giảm dần cho vay với lãi suất ưu đãi. tăng trưởng. có cơ sở đầy đủ cho việc xây dựng các giải pháp điều hành trong dài hạn. Để thực hiện nhiệm vụ đó. do những bất cập về cấu trúc thị trường hiện nay làm nảy sinh tình trạng cạnh tranh lãi suất thiếu lành mạnh. hình thành đồng bộ các mức lãi suất chỉ đạo. và từng bước tạo dựng những điều kiện cần thiết để tự do hóa lãi suất. Trên cơ sở mức lãi suất cơ bản. Theo đó. Do vậy. phát triển các thị trường nợ một cách có hiệu quả. trong năm 2010 hai vấn đề nổi lên mà chính sách lãi suất cần hướng tới nhiều hơn. thị trường tiền tệ là một việc cần thiết phải thực hiện trong thời gian này. phân bổ nguồn vốn hợp lý. như lãi suất tái cấp vốn. nhưng đồng thời cùng với các công cụ chính sách khác thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển. Đối với lãi suất huy động. đi vay của các thành viên trên thị trường tiền tệ. Trước mắt. Tuy nhiên về lâu dài. bên cạnh sự nỗ lực của toàn ngành ngân hàng. chính sách này phải giải quyết được những mối quan hệ ràng buộc và bất cập hiện nay trên thị trường tiền tệ. khi các xu hướng đầu tư đã rõ nét. Lượng tiền cung ứng sẽ được điều tiết hợp lý để đảm bảo các mức lãi suất mục tiêu. phải thiết lập một mức lãi suất cơ bản định hướng được lãi suất thị trường. cũng rất cần thiết phải có sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ của các bộ ngành hữu quan trong việc cơ cấu lại thị trường tài chính. ổn định mặt bằng lãi suất để kiểm soát lạm phát hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô là nhiệm vụ trước mắt và trọng tâm của ngành ngân hàng trong năm 2010. Song với thực trạng nền kinh tế đang phải đối mặt với những bất cập của thị trường tiền tệ thì áp dụng cơ chế kiểm soát lãi suất trực tiếp là cần thiết. lãi suất cho vay qua đêm và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở nhằm chủ động điều tiết lãi suất thị trường và các hành vi cho vay. từ đó sẽ giảm bớt gánh nặng cho khu . lãi suất chiết khấu. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất.Vì vậy. Đồng thời trong thời gian này NHNN cũng sẽ tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với NHTM với kỳ hạn dài hơn. cũng như là diễn biến của lãi suất thực huy động có thể làm kỳ vọng lạm phát gia tăng nên việc thực hiện duy trì mức lãi suất trần trong giai đoạn này là cần thiết để bình ổn mặt bằng lãi suất.Trên nguyên tắc đó. Tuy nhiên để hỗ trợ cho các giải pháp ngắn hạn này có hiệu quả. ngành ngân hàng đang triển khai những giải pháp ứng phó kịp thời. việc hoàn thiện cơ chế hình thành lãi suất cơ bản – làm cơ sở định hướng chuẩn cho lãi suất thị trường liên ngân hàng. Theo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới. hỗ trợ thông qua tái cấp vốn và hoán đổi ngoại tệ và chỉ đạo các NHTM nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn và điều chỉnh lãi suất giảm dần phù hợp diễn biến nền kinh tế.

tình hình kinh tế vĩ mô có phần phức tạp hơn mà biểu hiện rõ nét nhất là nền kinh tế chưa kịp "cắt cơn" lạm phát.. buộc phải thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt thì sang 2009.vực ngân hàng trong việc cung cấp vốn phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế của cả nước. Trước diễn biến phức tạp của nền kinh tế. ▪ NGUYỄN HOÀI 02:30 (GMT+7) .Chủ Nhật. tỷ giá. nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước cũng phải bám vào mục tiêu này.com/kinh-te/20100427/35AA39BF/Chinh-sach-lai-suat-Tu-lythuyet-den-thuc-te. đã phải đối mặt với suy giảm. hỗ trợ lãi suất ngắn hạn cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. 10/10/2010 E-mail Ý kiến (3) Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu. Chính phủ phải điều chỉnh mục tiêu: ổn định kinh tế vĩ mô. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu đã có những chia sẻ với bạn đọc VnEconomy về trách nhiệm của cơ quan này. trị giá 1 tỷ . Thống đốc nói gì về "chuyện trong nhà" xung quanh gói hỗ trợ này? Nếu như 2008 là năm lạm phát cao. Chính phủ đã ban hành Quyết định 131/CP. Trong một ngày giao thời giữa năm cũ . http://tintuc. dưới góc nhìn Thống đốc 13:11 (GMT+7) . "Không giống bất kỳ gói kích thích kinh tế nào" Có lẽ gói hỗ trợ lãi suất ngắn hạn là điểm nổi bật của hoạt động điều hành chính sách tiền tệ năm 2009. tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý và đảm bảo an sinh xã hội.. 8/2/2010 Hai năm liên tiếp.Thứ Hai.htm Chính sách lãi suất.timnhanh. khi nền kinh tế gặp khó khăn thì Ngân hàng Nhà nước là cơ quan phải gánh chịu nhiều áp lực. ngăn ngừa lạm phát. Và dĩ nhiên.năm mới.

điều mà không một hệ thống ngân hàng của quốc gia nào làm được tại thời điểm đó. "Lúc khó khăn. Vì sao vậy và quyết định này liên quan gì đến đồn đoán "Ngân hàng Nhà nước sắp thắt chặt tiền tệ". Kế hoạch và Đầu tư. Cùng đó. Phương án thứ nhất. nhưng chúng có khá nhiều ưu điểm. Ngân hàng Nhà nước đã lường trước những hiệu ứng phụ không mong muốn. bởi lúc đó. ngân hàng thương mại là tổ chức có đủ điều kiện vật chất để đảm bảo cho hàng triệu khoản vay được thực hiện an toàn. 60% khó khăn và chỉ 20% có thể trụ vững. một bộ phận doanh nghiệp vay hợp pháp tại ngân hàng này nhưng gửi . ban đầu có khá nhiều ý kiến khác nhau nhưng tập trung chủ yếu ở hai phương án. như việc tăng trưởng tín dụng cao đã gây sức ép lên thị trường ngoại hối do doanh nghiệp vay VND nhiều nên mua ngoại tệ nhiều để nhập khẩu nhiều. ông Cao Sĩ Kiêm. gắn lợi ích và trách nhiệm của các ngân hàng với gói kích thích. đảm bảo thu nhập bình quân đầu người khoảng 1.2 lần GDP. ngân hàng thương mại khơi thông được tín dụng với lãi suất cho vay gần tương tự điều kiện nền kinh tế hoạt động bình thường. Thực tế này trái với dự kiến kế hoạch đầu năm: nếu tăng trưởng kinh tế khoảng 6. thị trường tiền tệ bắt đầu xuất hiện sức ép tăng trưởng tín dụng. là nên dành cho một số công trình lớn làm động lực kích thích các ngành phụ trợ phát triển. thưa Thống đốc? Khi triển khai gói hỗ trợ lãi suất. chẳng hạn như doanh nghiệp nhỏ và vừa.000 USD/người/năm là hợp lý. Thứ nhất. Thứ hai. Ngân hàng Nhà nước đều vào cuộc xử lý và bàn đi tính lại nhiều lần.23%. Để đưa gói hỗ trợ lãi suất vào thực tiễn. Nhờ đó. một số nhà tư vấn chính sách cho rằng nên gia hạn gói hỗ trợ lãi suất thêm một thời gian. phải chọn ổn định" Cuối quý 4/2009. Mặc dù giải pháp này không giống bất kỳ gói kích thích kinh tế nào trên thế giới. và quả đúng như vậy. Kèm theo đó là cơ chế "hậu kiểm" nên nhìn chung làm yên tâm trước một số nghi ngại.USD. có vẻ như Chính phủ đã "nghiêng" theo giả thuyết này nhưng về sau lại dừng đúng hạn 31/12/2009. Vụ Chính sách tiền tệ đã phác thảo xong bộ "khung" và trình lên phương án sử dụng chính các tổ chức tín dụng để giải ngân gói kích thích này. Chỉ hai ngày sau. tương đương mức 3 . trong khi phương pháp khác không thể đạt được yêu cầu này. Chính phủ giao cho Ngân hàng Nhà nước chủ động đề xuất phương án triển khai.5%. ngày 17/1/2009. Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa có đưa ra những con số bi quan về tình trạng hoạt động của doanh nghiệp: 20% phá sản. Phương án thứ hai là chỉ hỗ trợ một số khu vực. đến tháng 7/2009. nhưng cuối cùng. ở chỗ: nguồn vốn là của ngân hàng thương mại được giải ngân theo cơ chế thông thường nhưng được Chính phủ hỗ trợ 4% lãi suất. Tôi đã báo cáo với Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng một số "vấn đề" xung quanh gói hỗ trợ lãi suất. Mặc dù bộ trưởng các bộ Tài chính.3. Ngân hàng Nhà nước tính toán tăng trưởng tín dụng từ 21% . giống như gói kích thích của Trung Quốc.

cơ quan này đã quyết định dừng gói hỗ trợ lãi suất đúng hạn với lý do: mục tiêu hàng đầu là ổn định kinh tế vĩ mô. Để làm được điều này.5%/năm.5%/năm. suốt cả năm. coi đó như một điều kiện tiên quyết. sẽ ảnh hưởng rất xấu đến chính sách vĩ mô. cán cân thương mại Trung Quốc xuất siêu từ 1991. tôi đã nêu thẳng quan điểm: nếu kéo dài chính sách hỗ trợ lãi suất ngắn hạn. Thực ra. Anh: tháng 1: 1. mặc dù ngân hàng huy động được nhiều vốn hơn nhưng nhìn lợi ích toàn cục.31% từ đầu năm đến nay. tại kỳ họp Quốc hội. cân nhắc giữa "được" và "mất". bất cứ quốc gia nào cũng phải chọn lựa như thế: lúc thuận lợi thì chọn tăng trưởng. Thống đốc nói gì về vấn đề này trong năm 2010? Trả lời vấn đề này thì phải nhìn rộng ra bối cảnh xung quanh nước mình. mới công bố phá giá. Mặt khác.5%/năm đến 1%/năm. họ tích lũy dự trữ ngoại hối rất lớn trong vòng 3 năm sau. lúc khó khăn. Quyết định của Quốc hội cũng được Thủ tướng nhấn mạnh thêm một lần nữa tại phiên họp Chính phủ thường kỳ sau đó là "tập trung cho ổn định kinh tế vĩ mô". Tất nhiên. nhưng về sau có thể lên tới 4 . Một xu hướng khác là thực hiện tỷ giá thả nổi theo kiểu "nước lên thuyền lên". Ngân hàng Nhà nước đã phát hiện ra sự gian dối này nên kịp thời lập kế hoạch thanh tra. lúc này chưa cần bàn tới tăng trưởng. Còn năm 2010.25%/năm.5%/năm. Tại Mỹ.25%/năm. Trên thế giới hiện nay. tháng 2: 1%/năm. Tỷ giá là vấn đề rất khó của quốc gia. từ tháng 3 đến nay là 2%/năm. họ duy trì lãi suất 0. giao cho chính các ngân hàng thương mại trực tiếp kiểm tra mục đích sử dụng các khoản vay đã giải ngân và quá trình đó vẫn kéo dài cho đến nay. điều hành tỷ giá nhìn chung có hai xu hướng. mãi tới tháng 1/1994 mới phá giá 50%. Đối với Trung Quốc.5%/năm. Canada: tháng 1 và tháng 2/2009 là 1%/năm. từ tháng 3 đến nay ổn định 0. lãi suất trong tháng Giêng sẽ điều chỉnh thêm từ 0.ngân hàng kia để hưởng lợi chênh lệch lãi suất khoảng 2%/năm lúc đó. vì chính sách lãi suất luôn gắn liền với chính sách tỷ giá. lãi suất cơ bản là 5. Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ của tháng 11/2009. phải chọn ổn định. Quốc gia láng giềng của Việt Nam là Trung Quốc thực hiện chính sách tỷ giá "chốt cố định" rất nhiều năm. Cũng có người đặt vấn đề vì sao không điều chỉnh sớm hơn một hoặc hai tháng nhưng nếu điều chỉnh sớm.5% năm và từ đó đến nay là 0. theo dự kiến của chúng tôi. Malaysia: tháng 2: 2. . chúng tôi thấy có thể làm lỡ nhịp hệ thống ngân hàng nếu theo hướng này. hoạt động điều hành của Ngân hàng Nhà nước đã đạt được những mục tiêu do Chính phủ đề ra nhưng ở một số thời điểm còn thận trọng đến mức rụt rè và chưa linh hoạt. tháng 3 là 0. Phải hiểu là sự thay đổi chính sách linh hoạt của ngân hàng trung ương nói là linh hoạt nhưng phải hết sức cẩn trọng. và một trong những thách thức lớn là điều hành chính sách tỷ giá. chứ không điều chỉnh từ tháng 12/2009. "Nhiều người khuyên tôi nên phá giá thêm" Theo đánh giá chung của các chuyên gia.

mục tiêu tổng quát của Ngân hàng Nhà nước là "chủ động. một ông 2. khách hàng cũng năm bảy loại chứ không phải như nhau. "Chủ động. tổng phương tiện thanh toán (M2) tăng khoảng 28% do tăng trưởng tín . Do đó. vay vốn ngân hàng chưa đến hạn đã trả nợ sòng phẳng. chất lượng tài sản thấp thì vay vốn ngân hàng khó khăn hơn và phải chấp nhận lãi suất cao hơn. việc điều hành bằng công cụ phi thị trường đã hình thành "cơ chế hai giá" đối với cả lãi suất và tỷ giá ngay trong hệ thống ngân hàng. nhóm đối tượng này khi quan hệ với ngân hàng sẽ dễ dàng hơn cả về điều kiện vay cũng như giá vốn. Gần đây. Agribank.5%. bởi "cấm chỗ này. nợ doanh nghiệp và tác động lạm phát. thưa Thống đốc? Đã là thị trường thì phải tuân theo quy luật cung cầu và giá cả. Thử hỏi.000 tỷ đồng. điều chỉnh tỷ giá còn tác động mạnh đến lạm phát. nếu điều chỉnh tăng tỷ giá. Có loại khách hàng có tài sản tốt. Vietinbank hay Vietcombank. linh hoạt và thận trọng" Vậy còn một số mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong năm tới cụ thể như thế nào. Tuy nhiên. thưa Thống đốc? Mục tiêu điều hành kinh tế của Chính phủ trong năm tới là "tăng trưởng kinh tế 6. có quản lý. Nhiều người khuyên tôi nên phá giá thêm. khi giá xăng dầu đang là 78 USD/thùng. tôi cũng nhận thấy một bất hợp lý là giữa các ngân hàng có quy mô vốn khác nhau.Đối với Việt Nam. "tiền trao cháo múc" một nẻo thì đó chỉ là một bộ phận nhỏ tại một vài ngân hàng thôi. điều kiện của mình hiện nay như thế thì trước mắt cũng phải tạm chấp nhận như vậy. nhiều đơn hàng. Xét ở góc độ ngân hàng thương mại. ngân hàng lớn bao giờ cũng dư dả vốn.000 tỷ đồng cùng chung một môi trường hoạt động thì rất khó cho cả cơ quan điều hành và các tổ chức kinh doanh. một ông 4. đẩy các giá các hàng hóa khác cao thêm. ai chịu nổi? Chưa kể. linh hoạt và thận trọng". có kiểm soát của nhà nước. Năm 2009. nhóm doanh nghiệp làm ăn kém cỏi. tất nhiên là lãi suất cao. tôi có nghe nói có chuyện "hai giá" theo kiểu "hợp đồng ký một đằng". nhưng Ngân hàng Nhà nước phải cân đối với nhiều vấn đề: nợ quốc gia. Ví dụ. lạm phát dưới 7%". Xử lý bất cập này như thế nào. Đó là điều khó tránh khỏi trong hoạt động thị trường. đang theo đuổi chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt theo cung cầu thị trường. vay nợ lúc 7 nghìn VND/USD nhưng sau đó phải trả tới 13 nghìn hay 18 nghìn VND/USD. làm ăn ngon lành. Ngược lại. do đó. vùng xa. Và điều này không có ở những ngân hàng lớn như BIDV. sẽ phình chỗ kia". cơ cấu vốn dài hạn chiếm tỷ trọng cao nên họ cho vay lãi suất thấp hơn và phải cho vay nhiều hơn thì mới hiệu quả. "Khách hàng cũng năm bảy loại chứ không phải như nhau" Có nghi ngại rằng. lập tức giá xăng tăng thêm. Còn những ngân hàng nhỏ thì phải bươn chải cho vay vùng sâu. Trong đó. Tuy nhiên.

việc giữ nguyên lãi suất cơ bản trong khi tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc và cho phép chiết khấu tín phiếu bắt buộc có liên quan mật thiết với nhau.21%/năm). Bởi. nhưng chưa thật vững chắc do giá lương thực. Ông có thể cho biết những phân tích của ông về những quyết định này? TS. Giữ lãi suất cơ bản tức là giữ mức lãi suất cho vay tối đa.84 lần là phù hợp http://vneconomy.dụng ở mức 38% và đó là phù hợp. kiên nhẫn vượt qua khó khăn theo cách này và có lẽ đây là bước đi đầu tiên theo hướng đó. chỉ số tăng trưởng tín dụng/GDP (28%/5. Điều này giúp các NHTM có điều kiện cấu trúc lại lãi suất theo kỳ hạn và rủi ro như nó vốn thế. Tôi đánh giá rất cao các quyết định này không chỉ bởi tính thời điểm của nó. trong khi chỉ số giá phi lương thực. tôi đã rất mừng. chúng tôi sẽ giảm dần và có thể. Nhiều quốc gia châu Á đã "quay về" kích thích thị trường nội địa để duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức khiêm tốn.6%/năm lên 5%/năm và cho phép các NHTM được cầm cố chiết khấu và chuyển nhượng tín phiếu bắt buộc trên thị trường thứ cấp. Lê Xuân Nghĩa. Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển Ngân hàng. Tôi lấy ví dụ: các ngân hàng thương mại có thể cho vay tiêu dùng. nếu như trong năm 2009.3 lần là do chống suy giảm kinh tế nên phải chấp nhận như vậy. Lê Xuân Nghĩa. thì trong năm 2010. khi đọc cùng một lúc 3 quyết định trên. ngân hàng và . chiết khấu hoặc chuyển nhượng tín phiếu bắt buộc của NHNN. tốc độ tăng trưởng M2 và tăng trưởng tín dụng chỉ ở mức 25%. Hơn nữa. Nó cũng cho thấy. trong khi có thể điều chỉnh cho vay doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở thang lãi suất thấp hơn (16 17%/năm). các quốc gia này đều gặp trở ngại là lạm phát khá cao. tới mức định bốc máy gọi điện chúc mừng Thống đốc Nguyễn Văn Giàu như tôi vẫn thường làm.htm Ba quyết định và những tác động lớn về chính sách tài chính tiền tệ (Cập nhật ngày: 30/09/2008) Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã làm cạn kiệt nguồn tín dụng quốc tế và suy giảm kinh tế toàn cầu. thực phẩm giảm nhiều.vn/20100208020940992p0c6/chinh-sach-lai-suat-ty-gia-duoi-gocnhin-thong-doc. Ngân hàng Nhà nước đã có quyết định giữ nguyên lãi suất cơ bản 14%/năm. Nhưng năm 2010. thực phẩm (core Inflation) vẫn còn khá cao. mặc dù tốc độ gia tăng lạm phát trong tháng Chín giảm mạnh. Lê Xuân Nghĩa: Thú thực. mà cả ở tầm nhìn trung hạn. PV: Thưa TS. chỉ số này chỉ duy trì 3. tương đương 7. Trước hết. Tuy nhiên. cho vay kinh doanh chứng khoán (trong giới hạn được phép) với thang lãi suất cao hơn (20 . và cho phép cầm cố. Rõ ràng là cả 3 quyết định nói trên đã mang lại lợi ích kép cho doanh nghiệp. nhân động thái NHNN đưa ra các quyết định về việc giữ nguyên lãi suất cơ bản. ngày 26/9/2008. Việt Nam cũng đang thận trọng. Website NHNN trích đăng phỏng vấn TS.2%). tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc. ổn định kinh tế vĩ mô. việc giữ nguyên lãi suất cơ bản 14%/năm là một tín hiệu của NHNN tiếp tục mục tiêu chống lạm phát. đồng thời tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc từ 3.

bằng chứng là các giao dịch Repo. Phân tích bộ số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê 2006. trong bối cảnh hiện tại. đối với doanh nghiệp. đặc biệt là các ngân hàng nhỏ.2.7%.0%. PV: Theo ông. đầu tư trực tiếp và xuất khẩu. kỳ hạn ngắn dưới một tuần chỉ xoay quanh lãi suất nghiệp vụ thị trường mở. và. trong khi tỷ lệ này ở các doanh nghiệp không có khả năng thương mại quốc tế (non . cuộc khủng hoảng tài chính lần này còn có tên gọi khác. Lê Xuân Nghĩa: Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ là rất nghiêm trọng.mục tiêu chống lạm phát.6 . Tuy nhiên. chiết khấu hỗ trợ thanh khoản tại NHTW giảm mạnh (ở mức bình thường) so với các tháng trước. thì việc tiếp cận vốn ngân hàng để duy trì các hợp đồng thương mại thậm chí còn quan trọng hơn lãi suất. nhất là doanh nghiệp xuất khẩu. các chuyên gia ước lượng tỷ trọng chi phí lãi vay ngân hàng trên tổng chi phí của doanh nghiệp có khả năng thương mại quốc tế (tradables) chỉ từ 1. Cần lưu ý rằng. Nó là một bước đi thận trọng và cần thiết vào thời điểm hiện nay. thanh khoản của ngân hàng cần được củng cố vững chắc hơn. Nhật Bản năm 1988 là một ví dụ. Hiện tại. các định mức thanh khoản được giám sát chặt chẽ. Cùng với đà suy giảm tốc độ gia tăng của lạm phát và thời cơ để tái cấu trúc lại lãi suất theo rủi ro (như đã nói trên). Ngoài ra. việc tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc và cho phép chiết khấu hoặc chuyển nhượng tín phiếu bắt buộc cũng có tác dụng cải thiện năng lực tài chính và tăng khả năng phòng ngừa rủi ro của các ngân hàng thương mại. một số NHTM đã có kế hoạch cắt giảm lãi suất. thông qua các kênh như: tín dụng. phải củng cố vững chắc thanh khoản và trong trung hạn phải xử lý tốt nợ xấu có thể phát sinh nhiều hơn.tradables) là 6 . lãi suất thị trường liên ngân hàng khá thấp.2%/năm. cho vay các dự án chương trình mục tiêu: 17. sau khi có các quyết định này? TS. Lê Xuân Nghĩa: Ngay sau khi NHNN công bố các quyết định trên. Với những nỗ lực rất lớn của Chính phủ Mỹ và các nước phát triển (đã khôi phục thanh khoản và xử lý nợ xấu). đối với hoạt động ngân hàng.5%/năm. Vì vậy. chuyển tiền. thanh khoản của các NHTM Việt Nam đang khá tốt. trong khi đối với một số nhóm khác. và tỷ lệ này ở mức khá cao ở các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu thụ nội địa có tỷ trọng vốn vay ngân hàng trên vốn tự có cao trên 2 lần. do nó bắt nguồn từ thị trường nhà đất. nên hậu quả sẽ còn kéo dài hơn là chúng ta tưởng.. khả năng điều chỉnh lãi suất cho vay đối với khu vực doanh nghiệp có thể còn sâu hơn trong nhiều tháng tới. Đây chính là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. thậm chí vay qua đêm. Tuy nhiên. cập nhật các các số liệu mới về chi phí và lãi suất ngân hàng. và 3 quyết định nói trên của NHNN Việt Nam cũng nhằm đạt được mục tiêu quan trọng này. Nói cách khác.. việc mở rộng cho vay đối với một số nhóm doanh nghiệp là quan trọng. tác động lớn chủ yếu ở các doanh nghiệp sản xuất cho thị trường nội địa và có tỷ trọng vốn tự có trong tổng nguồn vốn thấp. chúng ta có thể hy vọng sẽ ổn định được hệ thống tài chính trong vòng một năm. Điều này cho thấy. PV: Ông bình luận như thế nào về việc công bố quyết định này trong bối cảnh khủng hoảng tài chính ở Mỹ và có nguy cơ lan ra toàn cầu? TS. tác động của lãi suất ngân hàng trên tổng chi phí của các nhóm doanh nghiệp là rất khác nhau. đó là “Sự suy kiệt tín dụng toàn cầu”. đối với hệ thống tài chính Việt Nam (kể cả ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng) trước mắt. cần đặt ra sức ép để quy hoạch lại quy mô kinh . nhưng ổn định được thị trường nhà đất và nền kinh tế thì còn phải mất nhiều thời gian hơn thế. có thể dự đoán thế nào về xu thế của lãi suất cho vay của các ngân hàng và tác động của nó đến sản xuất kinh doanh. Đi đầu là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã điều chỉnh lãi suất cho vay doanh nghiệp xuống còn 18.

Về mặt này có thể thấy rằng NHNN đang thực hiện chức năng của một bộ quản lý nhà nước thay vì là một ngân hàng trung ương thực sự.eximbank. Nghĩa! Theo Vietstock. trong việc kiểm soát tốt hơn hiệu quả sử dụng các nguồn lực. trong điều kiện cần thiết phải duy trì các biện pháp chống lạm phát. theo NHNN.com.vn/vn/news_detail. Có thể thấy rằng. Và như vậy. góp phần làm giảm nhẹ tính căng thẳng ngoại tệ hiện nay.vn http://www. nhằm ổn định PV: Xin giá chân cả thành và cảm kinh ơn TS.aspx?NewsID=536&IsImportant=0 Giải mã vấn đề căng thẳng ngoại tệ như thế nào? (13-08-2009) Hiện tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối đang căng thẳng và NHNN đang cố gắng giải quyết sự căng thẳng này chủ yếu bằng những biện pháp hành chính.com. vì thế sẽ phụ thuộc rất lớn vào nỗ lực của Chính phủ và doanh nghiệp. Trong các quan hệ kinh tế thì biện pháp khuyến khích hiệu quả nhất là biện pháp kinh tế . tế Lê vĩ Xuân mô. các quyết định nói trên là bước đi quan trọng. Rõ ràng đây là một biện pháp dễ thực hiện và đặc biệt là rất ít tốn kém nhất nhưng tiếc thay thực khó mà đặt hy vọng vào tính hiệu quả của nó. cần phải có những biện pháp tuyên truyền động viên để cho họ nhận thức được vấn đề. Những biện pháp mà NHNN thực hiện liệu có khả thi hay là cần phải có những biện pháp kinh tế? Căng thẳng ngoại tệ do nhà xuất khẩu găm giữ ngoại tệ? NHNN cho rằng việc các nhà xuất khẩu găm giữ ngoại tệ là một trong những lý do chính đẩy tình hình căng thẳng ngoại tệ trên thị trường lên cao. từ đó hy vọng rằng họ sẽ bán lại lượng ngoại tệ từ xuất khẩu cho ngân hàng. Việc nới lỏng chính sách tiền tệ. nhằm giảm bớt những khó khăn tài chính cho doanh nghiệp.doanh và cấu trúc lại vốn chủ sở hữu theo nguyên tắc thị trường nhằm tiết kiệm chi phí và tăng hiệu quả sử dụng vốn.

việc nắm giữ ngoại tệ không những giúp cho họ chủ động hơn trong việc nhập khẩu sau này. và dự trữ ngoại hối của NHNN. Cũng cần lưu ý là nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu từ trước đến nay chưa bao giờ đủ bù đắp cho nhu cầu nhập khẩu do cán cân thương mại của Việt Nam hàng năm luôn thâm hụt. phòng tránh được rủi ro tỷ giá mà còn là một hạng mục đầu tư sinh lợi tốt hiện nay. Nhu cầu nhập khẩu của các doanh nghiệp tăng lên hiện nay cũng cần phải được phân tích kỹ hơn để xem đó có phải là dấu hiệu cho thấy một sự phục hồi kinh tế hay không. Nhà nhập khẩu cũng dự phần? Có thể ví tình hình căng thẳng ngoại tệ hiện nay giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu như thể “kẻ ăn không hết. Cầu ngoại tệ nhập khẩu trong điều kiện đó cần được tài trợ từ các nguồn khác như vay thương mại (sẽ tạo cầu ngoại tệ kỳ hạn). Nhưng dẫu họ có nhập khẩu các mặt hàng không phù hợp với định hướng hay quan điểm tăng trưởng của chính phủ thì cũng không thể làm ngơ trước những căng thẳng hiện nay vì nó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp mà hệ quả cũng nằm ở vấn đề tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội. Vấn đề cần phân tích sâu hơn một chút là họ nhập khẩu cái gì. Đúng là có chuyện các nhà xuất khẩu găm giữ ngoại tệ nhưng hãy phân tích vì sao họ lại găm giữ ngoại tệ? Không khó để nhận ra rằng có những động cơ kinh tế nằm phía sau các hành vi này. vấn đề căng thẳng ngoại tệ hiện nay trên thị trường không thể đổ hết lỗi cho nhà xuất khẩu mà phải nhìn lại các chính sách kinh tế vĩ mô. Nhà nhập khẩu có nhu cầu ngoại tệ để thanh toán tiền hàng nhập khẩu.hoặc là những lợi ích kinh tế chứ không phải là tuyên truyền động viên. đầu tư nước ngoài. Một lý do cơ bản là các nhà xuất khẩu đang đặt kỳ vọng vào tỷ giá trong tương lai sẽ tăng lên xét theo viễn cảnh các yếu tố kinh tế vĩ mô hiện nay. Chính vì vậy. Nhu cầu nhập khẩu là rất lớn . và nó có tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế cũng như vấn đề việc làm và thu nhập ở góc độ vĩ mô. Từ trước đến nay năm nào cán cân thương mại của Việt Nam cũng thâm hụt. trong đó có chính sách tỷ giá và chính sách lãi suất. đó là một nhu cầu hợp lý. người lần không ra”. Khi ấy.

Nhưng để tránh cơ chế quản lý ngoại hối của NHNN mà nhu cầu ngoại tệ đầu cơ được che đậy bởi vỏ bọc nhập khẩu hàng hóa. Mặc dù quyết định hỗ trợ lãi suất của Chính phủ đưa ra những nhóm đối tượng và điều kiện được hỗ trợ lãi suất nhưng do thông tin bất cân xứng mà trong thực tế hầu hết các doanh nghiệp đều có thể tiếp cận vốn hỗ trợ lãi suất. Chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính phủ có thời hạn tám tháng tính từ tháng 2-2009. Có yếu tố đầu cơ không? Cần phải thừa nhận rằng sự căng thẳng ngoại tệ hiện nay không thể không có yếu tố đầu cơ. nên không lâu nữa mặt bằng lãi suất sẽ trở về trạng thái thực của nó để phản ánh cung cầu quỹ cho vay và sức nóng lạm phát dần hiện rõ trong nền kinh tế Việt Nam. còn lãi suất đã được hỗ trợ mới là lãi suất cho vay theo nghĩa “thông thường”. trong đó có yếu tố cầu nhập khẩu ảo. Do vậy mà lãi suất cho vay được gọi là “thông thường” thì lại là lãi suất “bóng”. Như vậy chính sách này đang tạo ra cơ chế hai lãi suất cho vay trong nền kinh tế. Vậy nên trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay. Các doanh nghiệp sẽ vay vốn bằng đồng nội tệ theo mức lãi suất hỗ trợ và chuyển sang nắm giữ ngoại tệ. Trước hết phải nói đến chính sách hỗ trợ lãi suất 4% của Chính phủ. đó là lãi suất cho vay thông thường và lãi suất cho vay đã được hỗ trợ. Vấn đề này sẽ còn phải được phân tích thấu đáo hơn ở nhiều khía cạnh khác nhau.so với hoạt động xuất khẩu và so với quy mô của một nền kinh tế mở và nhỏ đang hội nhập như Việt Nam. Không ít nhu cầu nhập khẩu hàng hóa có thể chỉ là chiếc vỏ bọc cho nhu cầu đầu cơ ngoại tệ. . tính hạn chế hay mặt trái của các chính sách kinh tế hiện nay. nhu cầu nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục được duy trì hoặc tăng lên cho thấy nền kinh tế vẫn còn sức sống hoặc là dấu hiệu của sự phục hồi tăng trưởng. Chính sách này giúp làm giảm gánh nặng chi phí vốn vay của các nhà sản xuất thông qua khoản hỗ trợ lãi suất 4% so với lãi suất vay vốn thực tế của doanh nghiệp từ tiền ngân sách chứ không phải từ việc nới lỏng chính sách tiền tệ của NHNN nhằm giảm mặt bằng lãi suất 4%. Nhưng phân tích kỹ sẽ thấy rằng cơ hội để đầu cơ trên thị trường ngoại hối hiện nay được tạo ra bởi sự sơ hở.

Bây giờ có lẽ là lúc NHNN cần phải bán ngoại tệ ra thị trường để giảm áp lực giảm giá nội tệ. Tỷ giá do NHNN công bố hiện nay không thể phản ánh được mặt bằng tỷ giá trong nền kinh tế. khi tỷ giá giao dịch của các ngân hàng hiện đều đạt trần biên độ +5% so với tỷ giá do NHNN công bố. Tuy nhiên vấn đề còn nằm ở chỗ tỷ giá mục tiêu là bao nhiêu trong điều kiện kinh tế vĩ mô . Thế nhưng. Nhớ lại trong năm 2007 khi đồng nội tệ lúc ấy đứng trước áp lực tăng giá mạnh so với đồng đô la. Biện pháp hành chính hay biện pháp kinh tế? Giải quyết vấn đề căng thẳng ngoại tệ hiện nay không thể chỉ đơn giản bằng những biện pháp hành chính mà phải là các biện pháp kinh tế. tỷ giá mà NHNN công bố hiện quá cứng nhắc và chưa bao giờ có thể phản ánh được cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ cả. Thị trường ngoại hối lúc bấy giờ có thể lại phải gánh chịu một làn sóng căng thẳng mới theo chiều hướng ngược lại. Còn vấn đề điều tiết tỷ giá của Nhà nước phải gắn với mục tiêu chính sách tiền tệ nhưng mục tiêu chính sách thì lại quá chung và không rõ ràng mà ngay chính những người thực thi chính sách cũng không chắc chắn. vấn đề mấu chốt không phải nằm ở biên độ tỷ giá mà là một cơ chế tỷ giá linh hoạt mà Việt Nam đang thiếu. NHNN đã mua vào một lượng lớn ngoại tệ làm dự trữ và kịp thời bình ổn tỷ giá. Theo nguyên lý thì khi cầu ngoại tệ tăng nhanh. Luật NHNN quy định tỷ giá hối đoái được hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Tuy nhiên. Nhiều ý kiến cho rằng NHNN cần nới lỏng hơn nữa biên độ tỷ giá này để tỷ giá trên thị trường có thể phản ánh được cung cầu ngoại tệ.Khi ấy tỷ giá kỳ hạn sẽ có khuynh hướng tăng lên đúng như kỳ vọng và những tài khoản ngoại tệ sẽ được chuyển đổi sang nội tệ để trả nợ vay và hiện thực hóa lợi nhuận có được. Trước hết là chính sách tỷ giá. Đây có thể là một đề xuất tốt để Việt Nam dần tiến tới một cơ chế tỷ giá có tính “cởi mở” hơn. Đặc biệt. trong khi cung ngoại tệ không tăng hoặc tăng chậm hơn thì áp lực tỷ giá phải gia tăng. biên độ giao động tỷ giá ±5% mà NHNN giới hạn không thể giải quyết được bài toán tỷ giá hiện nay. Trong khi đó. NHNN nếu muốn duy trì mức tỷ giá mục tiêu thấp như công bố thì phải đóng vai trò là người bán ngoại tệ ra thị trường.

Tỷ giá hiện nay do NHNN công bố là thấp và không thể xem đó là tỷ giá mục tiêu cần điều chỉnh được.aspx Tăng trưởng kinh tế. Lý do là để duy trì tỷ giá mục tiêu thấp như vậy thì phí tổn đối với nguồn lực mà NHNN phải bỏ ra rất lớn. lạm phát và chính sách tài chính tiền tệ Quách Đức Pháp .hiện nay và triển vọng sắp tới. Thay vào đó nó phải được điều chỉnh một cách linh hoạt hơn sao cho có thể phản ánh được tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế đang có khuynh hướng tăng lên chứ không phải lo sợ hiệu ứng tâm lý về lạm phát kỳ vọng.vn/Qu%E1%BA%A3ntr%E1%BB%8Bn%E1%BB %99idung/ViewArticleDetail/tabid/56/Key/ViewArticleContent/ArticleId/1082/Defau lt. Việc điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu là một động thái chính sách cần thiết của NHNN hiện nay với kỳ vọng sẽ là “một mũi tên trúng hai đích”. Chắc chắn NHNN sẽ còn nhiều việc phải làm nhưng giải quyết được yêu cầu này thì vấn đề căng thẳng ngoại tệ hiện nay cơ bản được giải tỏa. Chỉ một chính sách tỷ giá để giải tỏa căng thẳng ngoại tệ hiện nay là chưa đủ hoặc kèm theo là chi phí quá lớn như đã phân tích. NHNN cần phối kết giữa chính sách tỷ giá với chính sách lãi suất sao cho có thể thiết lập lại trạng thái cân bằng trên hai thị trường tiền tệ và ngoại hối mà hiện nay đang bị lệch về phía thị trường ngoại hối. Tỷ giá mục tiêu phải điều chỉnh dần theo hướng tiệm cận đến tỷ giá kỳ hạn sau thời điểm chính sách hỗ trợ lãi suất hết hiệu lực. NHNN phải giảm dần dự trữ ngoại tệ đến một giới hạn hợp lý.tapchitaichinh. Theo đó. Làm như vậy. Đỗ Thiên Anh Tuấn (TBKTSG http://www. Lãi suất cơ bản hiện vẫn được NHNN duy trì ở mức 7% một năm là khá thấp. lãi suất phải được điều chỉnh tăng lên theo tín hiệu ấm lên của nền kinh tế. Chính sách lãi suất hiện nay của NHNN cũng cần thay đổi. Tăng trưởng tín dụng cao như hiện nay có nguy cơ là một ngòi nổ chậm của lạm phát. Hơn nữa nó không góp phần giải quyết được cái lý do người ta phải găm giữ và đầu cơ ngoại tệ như phân tích ở trên.

tài chính xuất hiện và ngày càng chín muồi dẫn tới khủng hoảng không thể tránh khỏi.7%/năm. Nổi bật nhất là hiện tượng tăng trưởng quá nóng.6%/năm. Kinh nghiệm cho thấy lạm phát chỉ cản trở tăng trưởng khi lên đến mức 2 con số. Chúng tôi ủng hộ quan điểm cho rằng Việt Nam cần tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao 8 – 9%/năm. Quan điểm thứ hai đang được nhiều nước ủng hộ là tăng trưởng ổn định. thậm chí dẫn tới khủng hoảng. ngay cả đối với những nền kinh tế được gọi là “thần kỳ”.7%/năm mà đỉnh cao là năm 1995 với GDP tăng 9. nên các chính sách kinh tế vĩ mô phải nhạy cảm và thường xuyên được điều chỉnh phù hợp với tình hình. đồng thời. năm 1998 – 2001 lại hạ xuống còn khoảng 6%/năm và năm 2002 – 2005 phục hồi với trên 7. theo chúng tôi. dù phải chấp nhận gánh nặng nợ nước ngoài ngày càng gia tăng. Đây không phải là một việc dễ dàng. đồng thời. Tuy nhiên. tăng trưởng kinh tế cao và lạm phát tăng thường song hành với nhau. năm 2008 nói riêng cần cân nhắc phương án đánh đổi giữa mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu lạm phát. sự ổn định kinh tế vĩ mô sẽ tạo cơ sở vững chắc cho những bước phát triển trong tương lai. Tuy vậy. mục tiêu kinh tế hàng đầu là đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định. có lúc lên tới hai con số. tức là nằm trong khung 6 .2%. tuy thời gian chưa nhiều. hay còn gọi là tăng trưởng kinh tế “theo đường thẳng”. mà giữ vững được trong dài hạn. kinh nghiệm quốc tế chỉ ra rằng mức đó không quá 6 – 8%/năm. tốc độ tăng trưởng chỉ có thể duy trì được dài hạn nếu ở mức vừa phải. Trung Quốc cũng đã nhiều lần tìm các giải pháp để hạ nhiệt nền kinh tế tăng trưởng quá nóng.tiền tệ. năm 1992 – 1997 tăng trưởng tới 8. trong đó. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. song những biểu hiện của nó đã xuất hiện tương đối rõ. trong giai đoạn năm 2006 – 2010 nói chung. Viện trưởng Viện khoa học Tài chính (Cập nhật: 8/1/2008) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát là bài toán luôn thường trực trên bàn nghị sự của các Chính phủ nhưng cũng khó giải nhất đối với tất cả các nền kinh tế. tính chu kỳ của nền kinh tế không chừa bất kỳ quốc gia nào.7%/năm. nên ưu tiên mục tiêu tăng trưởng. Tóm lại. Thêm vào đó. có hiệu quả hơn và do đó tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn. các nhân tố khủng hoảng kinh tế . nghĩa là không có hay giảm thiểu khủng hoảng. hai công cụ kinh tế vĩ mô quan . nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến lạm phát là những sai lầm trong chính sách tài khoá . Thực tế khó có thể phát triển nhanh. khủng hoảng thâm hụt ngân sách nhà nước) và coi đó như một nhân tố thúc đẩy cải tổ cơ cấu nhanh hơn. vì bản thân tăng trưởng kinh tế nhanh thường chứa đựng nhiều nhân tố gây mất cân đối. Ở quốc gia nào cũng vậy. do đó. Theo quy luật kinh tế chung. khủng hoảng nợ. Kết quả là tốc độ tăng trưởng kinh tế xấp xỉ 2 con số. một số nhà kinh tế vẫn ủng hộ quan điểm chấp nhận khủng hoảng (khủng hoảng lạm phát cao. đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế tăng trưởng với nhịp độ cao. đồng thời lạm phát cũng gia tăng. đây là mô hình tăng trưởng nhanh “lồi lõm” nhưng xu hướng chung vẫn đưa nền kinh tế đạt trình độ cao hơn. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh và liên tục nhằm phù hợp với xu thế kinh tế thế giới và đáp ứng yêu cầu nội tại của nền kinh tế. có nhiều nước dựa vào mô hình tăng nhanh đầu tư. kiềm chế tốc độ lạm phát dưới 2 con số nhằm ổn định kinh tế vĩ mô. tăng trưởng kinh tế đã trải qua 4 giai đoạn thăng trầm: năm 1986 – 1991 chỉ tăng trưởng 4. Lý thuyết cũng như thực tiễn đều chỉ ra rằng. TS. Từ góc độ kinh tế. Nền kinh tế nước ta mới chuyển từ cơ chế kế hoạch tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. nghĩa là tăng trưởng cao bằng mọi giá.5%. đủ để phát hiện và khảo sát tính chu kỳ của nền kinh tế. Bên cạnh đó. Kể từ năm 1986 đến nay. lạm phát tăng và không phải quốc gia nào cũng tìm được cách “hạ nhiệt” an toàn. việc lựa chọn con đường tăng trưởng lại cực kỳ khó khăn. kể cả nền kinh tế thị trường phát triển. Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy. Bản chất của nền kinh tế thị trường thường xuyên phát sinh ra những nhân tố gây khủng hoảng. nền kinh tế phát triển quá “nóng”. Bài toán khó giải nhất hiện nay là kiềm chế tăng giá trong khi vẫn phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế ở mức cao.PGS. Muốn quy mô GDP năm 2010 gấp đôi so với năm 2000 thì tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm phải đạt 7.

Gần đây. nên tập trung trí tuệ và sức lực vào việc tìm ra giải pháp kiềm chế tốc độ tăng giá hiện nay nhằm ổn định kinh tế vĩ mô của chúng ta trong “hệ quy chiếu” thị trường. Trong khi đó. Chính sách tiền tệ còn đáng ngạc nhiên hơn với cố gắng chứng minh sự “vô can” trong việc giá cả leo thang. đặc biệt là đối với mô hình kinh tế như của Việt Nam hiện nay. mỗi khi đề cập đến tăng trưởng và lạm phát lại không hoặc ít nhắc tới tài chính tiền tệ. chính sách tiền tệ hầu như ít được nhắc tới. chính sách tài khoá tác động rất mạnh tới tăng trưởng và lạm phát. Trong một vài năm trở lại đây. đặc biệt là Trung Quốc. Theo một nghiên cứu của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đối với nhóm 23 nền kinh tế thị trường mới nổi trong giai đoạn năm 1970 – 1999. chính sách tiền tệ lại đặc trưng bởi mức độ linh hoạt rất cao. Hiệu quả của chủ trương này như thế nào còn cần thời gian để kiểm chứng song nó cho thấy dường như chúng ta quen sử dụng các công cụ can thiệp của Nhà nước hơn là các công cụ thị trường linh hoạt. song hầu hết các nước quanh chúng ta đều kiểm soát tốt giá cả và lạm phát trong khi duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao. hạn chế điều chỉnh tiền lương tối thiểu.5% trong khi kiềm chế tốc độ lạm phát dưới 2 con số cần phối hợp đồng bộ chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ. hội nhập và mở cửa kinh tế. Theo chúng tôi. nổi bật nhất trong sử dụng chính sách tài khoá chỉ là liên tục điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu. từ cả phía thu ngân sách. mà không có động thái rõ ràng nào đối với chính sách lãi suất và tỷ giá hối đoái. Rõ ràng. Bên cạnh đó. hạn chế điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý giá. các số liệu. các thông tin đại chúng. Thực tế ở nước ta lại không theo “truyền thống” đó. chúng ta cần rút ra những bài học kinh nghiệm về kiềm chế lạm phát từ thực tế này. nếu chính sách tài khoá là công cụ vĩ mô tương đối cứng nhắc. chỉ điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Cũng cùng sức ép từ biến động giá quốc tế. cơ bản dẫn đến lạm phát. thậm chí có những thời điểm còn được cho rằng. cố tình “quên” mục tiêu chủ yếu của chính sách tiền tệ là kiềm chế lạm phát.…trong khi hầu như “cố định” các công cụ của chính sách tiền tệ. Từ các báo cáo chính thức của Quốc hội. cắt giảm chi phí sản xuất. của Chính phủ. thậm chí trong trường hợp “cố định” chính sách tài khoá thì chính sách tiền tệ trở thành công cụ duy nhất. song hầu như chỉ dừng lại ở phân tích mức độ hoàn thành dự toán ngân sách hay thay đổi thuế suất đối với thuế nhập khẩu một số mặt hàng chiến lược. Trong khi đó tất cả các nước có nền kinh tế thị trường đều thừa nhận vai trò quyết định của điều chỉnh lãi suất mỗi khi muốn kiểm soát tốc độ tăng giá và lạm phát. được công khai hơn rất nhiều so với trước đây. chi ngân sách cũng như qui mô bội chi ngân sách nhà nước và cách thức bù đắp bội chi ngân sách nhà nước. không liên quan đến diễn biến giá cả. Trong hoạch định chính sách tài chính tiền tệ cũng cần tính tới “tính lây truyền” của lạm phát trên thế giới khi mức độ mở cửa thị trường tăng và thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế tài chính quốc tế. Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm 8 – 8. đổ lỗi cho công tác dự báo thị trường yếu kém và kêu gọi tiết kiệm. bù lỗ cho một số mặt hàng theo diễn biến “bất ổn định” của thị trường quốc tế. thiếu độ linh hoạt vì mỗi sự thay đổi dự toán chi ngân sách hay thay đổi thuế suất từng sắc thuế đều phải thực hiện theo những quy trình tương đối phức tạp.trọng để kiềm chế lạm phát cũng chính là chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ. tốc độ lạm phát ở nhóm quốc gia này có mối quan hệ chặt chẽ với lạm phát toàn cầu không kém mối quan hệ với thâm hụt ngân sách. lạm phát. chúng ta đã chủ trương đặt trọng tâm vào các công cụ tài chính giá cả như cắt giảm thuế nhập khẩu. các số liệu thống kê công bố đến các bài báo kinh tế. về chính sách tài khoá nói riêng. thì ngược lại. chỉ riêng nước ta dường như lại có cách làm khác. Một điểm đáng ngạc nhiên từ năm 2004 đến nay là. thậm chí cường độ tác động còn mạnh hơn do mức độ mở cửa cao hơn. Phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước luôn được coi là nguyên nhân trực tiếp. tài liệu về ngân sách nhà nước nói chung. để kìm hãm tốc độ tăng giá có dấu hiệu vượt khỏi tầm kiểm soát. Thực tế diễn biến thị trường quốc tế năm 2004 – 2007 không thuận lợi cho mục tiêu tăng trưởng cao của chúng ta nên việc theo dõi thị trường và kịp thời điều chỉnh chính sách tài khoá và chính . hữu hiệu nhất để thúc đẩy tăng trưởng trong khi vẫn kiểm soát được lạm phát. Những biến động giá cả từ đầu năm 2004 tới nay cho thấy phần nào những chính sách điều tiết vĩ mô của chúng ta dường như chưa theo kịp tốc độ hội nhập mở cửa nên không thể giải quyết một cách nhất quán và hiệu quả những tác động tiêu cực từ bên ngoài. Về bản chất. tiết kiệm chi ngân sách nhà nước.

cơn bão giá đã tác động đến mọi ngành trong nền kinh tế. Lãi suất cơ bản trước đây chỉ mang tính định hướng và tham khảo nhưng khi lạm phát tăng đột biến. mặc dù chưa đầy một năm nhưng mọi ngành trong nền kinh tế nước ta đã trải qua nhiều thời điểm biến động ngoài dự tính. các động thái biến động từ thế giới bên ngoài cũng gây sức ép biến đổi trong nước. tính toán trong hoạt động của các TCTD. Khi kinh tế trong nước bắt đầu hội nhập. Xét riêng trong lĩnh vực tiền tệ. ngành ngân hàng đang ở vị trí cao trong danh mục đầu tư thì cũng đã lùi lại trước tác động của yếu tố lạm phát. cần phải có sự can thiệp của nhà nước để đưa thị trường đi đúng hướng. http://www. có thể giúp các NHTM định hướng được mức lãi suất hợp lý. tạo nên mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đảm bảo hài hoà lợi ích giữa người gửi. đã góp phần hạ nhiệt lãi suất huy động lúc đầu. Việc xây dựng chiến lược phát triển và điều hành của từng TCTD không chỉ phụ thuộc vào yếu tố nội lực mà còn chịu sự chi phối nhiều của yếu tố khách quan. Sự sụp đổ hệ thống tài chính khổng lồ của Mỹ là một cú sốc mạnh cho cả nước Mỹ và . lạm phát trong nước đã có dấu hiệu gia tăng. Lãi suất cơ bản giờ đã được sử dụng như một thông điệp có tác động nhanh. Công cụ được NHNN chú trọng là lãi suất cơ bản.sách tiền tệ theo hướng nới lỏng hay thắt chặt trong từng giai đoạn phát triển là chìa khoá đối phó hữu hiệu với những cú sốc trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập của Việt Nam. Theo đó. giúp nền kinh tế dần trở lại nhịp độ phát triển. các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản. kiểm soát lạm phát của Chính phủ. Với chủ trương thắt chặt tiền tệ. Sự cần thiết của việc điều hành chính sách tiền tệ bằng lãi suất cơ bản Cuối năm 2007. Trong đó. mạnh đến cả nền kinh tế. Do đó. việc xác định nhân tố trọng yếu và tìm đối sách thích ứng kìm hãm lại chiều hướng đi xuống của nền kinh tế là vô cùng quan trọng. Việc điều hành lãi suất theo sát tín hiệu thị trường. an sinh xã hội bị ảnh hưởng càng làm tăng sức ép lên các nhà điều hành trong chính sách quản lý. Trong bối cảnh nền kinh tế xoay chiều đi theo hướng không thuận lợi.vn/details. lãi suất cơ bản được phát huy tác dụng bởi Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 của Thống đốc NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam. nếu để cho thị trường tiếp tục tự vận hành thì dẫn đến thất bại của thị trường. 2009 Sử dụng hợp lý công cụ lãi suất cơ bản • • • Edit Delete Autopost TS. TCTD và người đi vay. ĐOÀN THỊ HỒNG Nhìn lại khoảng thời gian từ đầu năm 2008 đến nay.asp?Object=4&news_ID=8154530 April 5. NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt thông qua các công cụ vĩ mô.tapchicongsan. đúng thời điểm sẽ mang lại hiệu quả vượt trội. vốn tồn tại sau một thời gian dài mờ nhạt. Sau những giải pháp mạnh của chính sách thắt chặt tiền tệ thì việc điều hành bằng công cụ lãi suất cơ bản ấn định trần lãi suất cho vay thay đổi linh hoạt theo tín hiệu thị trường. Sự vận hành của thị trường đã đến lúc phải có sự can thiệp của nhà nước. Một quyết định đúng đắn.org. là cơ sở để ấn định lãi suất kinh doanh.

Khi lãi suất cơ bản hạ. Với mức lãi suất chấp nhận được. Mặc dù nhà nước có chính sách trợ vốn cho doanh nghiệp thu mua sản phẩm nông nghiệp (lúa. kéo theo việc hạ lãi suất cho vay là tín hiệu tốt cho nền kinh tế. kinh tế của nước ngoài cũng đang bị ảnh hưởng của sự suy thoái nên sản phẩm xuất khẩu trong nước bị đọng. kích thích tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế. Nhưng trong thời gian ngắn. Với chính sách quyết liệt của Chính phủ là kiềm chế lạm phát. cá ba sa…) thông qua lãi suất thấp nhưng doanh nghiệp vẫn đến ngân hàng một cách dè chừng. tạo được lợi thế khác biệt mới có chủ trương đi đầu trong việc giảm lãi suất huy động và hạ lãi suất cho vay. sự biến động qua lại tiền gửi của khách hàng giữa các ngân hàng giảm hẳn. Các khoản dự báo trước đây đều phải thay đổi. chi phí giao dịch cũng phải khác nhau. đồng vốn được thu hồi nhanh chóng nên có thể chấp nhận được khi vay với mức lãi suất cao hơn lãi suất kinh doanh của doanh nghiệp. cho thấy sự sâu sát và tính nhất quán trong điều hành lĩnh vực nhạy cảm của thị trường tài chính tiền tệ. trong nước có nhiều ngân hàng có quy mô còn nhỏ. Kỳ hạn càng dài. hộ gia đình có nhu cầu vay vốn tiêu dùng do chi phí quản lý cao. ngân hàng không thể thương lượng với khách hàng để hạ lãi suất tiền gửi thấp xuống. Nhưng thực tế. ngày hai nên các NHTM cũng không chủ động giảm được cho các khoản huy động trước đó. từ 16/5/2008 đến 3/12/2008. Suy thoái kinh tế bao trùm làm nền kinh tế thế giới quay đầu đột ngột từ nỗ lực chống lạm phát sang nỗ lực chặn đà giảm phát. Hoạt động của hệ thống tổ chức tài chính vi mô đã chứng minh người nghèo có khả năng vay và thanh toán nợ với lãi suất bằng hoặc cao hơn lãi suất của hệ thống định chế tín dụng . Hiệu quả và hạn chế của việc áp dụng ”trần lãi suất” theo tỷ lệ 150% lãi suất cơ bản Lạm phát đang giảm dần. NHNN đã 10 lần đưa ra Quyết định thay đổi lãi suất cơ bản. Trong khoảng thời gian 6 tháng.dịch vụ yếu. giá dầu tuột dốc không phanh khi dự báo nhu cầu sử dụng năng lượng của Mỹ giảm mạnh. Trần lãi suất cho vay giảm nên các khoản giải ngân trước đó khách hàng cũng thường tìm cách trả nợ trước hạn để được vay lại với lãi suất thấp hơn. doanh nghiệp tiến hành vay vốn kinh doanh. việc áp dụng nghiêm ngặt trần lãi suất chỉ trong ngày một. qua đó giải phóng đầu ra cho ngân hàng. đường cong lãi suất huy động cũng trở lại hình dáng hợp lý. vòng quay vốn nhanh. Hơn nữa. lãi suất càng cao. Trong điều kiện kinh tế giảm phát. Người tiêu dùng trong nước hạn chế chi tiêu. Nhưng các khoản huy động với lãi suất cao trong những tháng trước. cầu hàng hóa . Kết quả dư nợ ngành ngân hàng không tăng nhiều. Doanh nghiệp không dám vay vì tìm được đầu ra rất khó khăn và nếu có đầu ra thì khả năng thu tiền cũng không chắc do bất cân xứng thông tin. các khoản vay tiêu dùng thường có kỳ hạn ngắn. thị trường dần đi vào ổn định. Thay vào đó là khách hàng gửi tiền với kỳ hạn dài hơn. Hơn nữa khách hàng mỗi nơi. việc cạnh tranh lãi suất huy động cao nên chỉ có những ngân hàng thực sự mạnh về tài chính. Việc giảm lãi suất cơ bản. mỗi vùng lại có những đặc thù khác nhau. thắt chặt tiền tệ cùng với tác động của thế giới bên ngoài đã làm lạm phát trong nước sụt giảm đáng kể và để ngặn chặn nguy cơ giảm phát. lãi suất càng cao. chính sách tiền tệ đã được nới lỏng có kiểm soát. chưa thể giảm nhanh lãi suất cho vay vì phải còn gánh số vốn huy động cao từ nhiều tháng trước. lãi suất cơ bản đã được trở lại bản chất của chính nó nhưng ở một cách nhìn khác theo sát diễn biến thị trường. khác với tính bất hợp lý của thời gian trước đó kỳ hạn càng ngắn. nhất là các ngân hàng có quy mô vốn còn nhỏ. Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Tuy nhiên. Cơn khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tạo ra thiếu hụt thanh khoản nghiêm trọng. ngân hàng vẫn khó tiếp cận khách hàng tốt dù lãi suất hạ. NHNN đã linh hoạt điều chỉnh lãi suất cơ bản theo chiều hướng giảm để kích thích sản xuất.ảnh hưởng lan truyền đến phần còn lại. chính sách tiền tệ không phải là nguyên nhân duy nhất ảnh hưởng đến nền kinh tế. Như vậy. nguồn đầu ra tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp cũng bị ách tắc. nhất là khối liên minh Châu Âu và các nước phát triển khác. nhất là những cá nhân. Lợi nhuận của cả hệ thống ngân hàng đều bị ảnh hưởng. Việc áp dụng trần lãi suất cho vay cũng hạn chế vốn đến khách hàng cá nhân. Từng ngân hàng khó có thể dự đoán xu hướng thị trường để chủ động điều chỉnh lãi suất.

chính thức dựa trên hoạt động thương mại. Điều quan trọng là người nghèo không có đủ điều kiện để được vay chứ không phải họ cần vay với lãi suất thấp. Nhu cầu chính của người nghèo là dễ dàng và nhanh chóng vay được được vốn và chi phí giao dịch thấp (thủ tục đơn giản và nhanh chóng nhận được tiền), chứ không phải tín dụng giá rẻ. Quy định trần lãi suất như nhau cho mọi loại hình kinh tế là điều chưa hợp lý. Trong khi chi phí quản lý đồng vốn của dự án tốt phải thấp hơn dự án rủi ro, tỷ lệ trích lập dự phòng của dự án rủi ro cũng phải cao. Trần lãi suất áp dụng cho toàn hệ thống ngân hàng còn làm hạn chế sự phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Nếu áp dụng cùng một mức lãi suất thì khả năng tiếp cận vốn của vay tiêu dùng bị xếp sau thứ tự ưu tiên, làm ảnh hưởng tiêu cực và là nguyên nhân đẩy khách hàng cá nhân ra khỏi hệ thống ngân hàng, họ phải tìm tới thị trường không chính thức với lãi suất cao, nạn cho vay nặng lãi xuất hiện. Nhận định Trong điều kiện kinh tế giảm phát, bên cạnh chính sách giảm lãi suất cho vay nhằm khuyến khích doanh nghiệp vay vốn đầu tư cũng phải khuyến khích vay tiêu dùng vì doanh nghiệp không thể phát triển sản xuất kinh doanh khi không có người tiêu thụ. Khi nền kinh tế trở lại phát triển đúng hướng, thị trường có thể tự vận hành, không cần sự can thiệp của nhà nước thì nên gỡ bỏ trần lãi suất cho vay và hướng đến cơ chế lãi suất thỏa thuận vì ngay trong giai đoạn nền kinh tế có mức lạm phát nằm trong giới hạn cho phép thì lãi suất cho vay các NHTM cũng đã linh hoạt ở mức cao hơn nhiều so với lãi suất cơ bản. Lãi suất nên để thị trường quyết định. Lãi suất thị trường sẽ đảm bảo cả tính công bằng lẫn tính hiệu quả trong cung cấp tín dụng. Lãi suất cơ bản chỉ nên làm định hướng cho các ngân hàng thấy xu hướng của lãi suất. Tài liệu tham khảo chính 1. http://www.sbv.gov.vn 2. N. Gregory Mankiw, Kinh tế vĩ mô. NXB Thống kê 3. TS. Đinh Phi Hổ (2003), Kinh tế nông nghiệp. NXB Thống kê. NGUỒN: www.vnba.org.vn

Điều chỉnh lãi suất: Đồng Việt Nam đi về đâu?
Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Chùm bài viết của

DNSGCT
( Bình chọn: 3 7747) -- Thảo luận: 1 -- Số lần đọc:

(12/06/2008) - Yêu cầu hệ thống ngân hàng thương mại tăng dự trữ bắt buộc, nâng lãi suất huy động nhằm hút tiền ra khỏi lưu thông… là một số biện pháp mà Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã áp dụng nhằm thực hiện mục tiêu chống lạm phát của Chính phủ. Tuy nhiên, lạm phát có nhiều nguyên nhân. Vậy nên, nhiệm vụ chống lạm phát dồn lên vai NHNN được xem là quá nặng nề. Đó là một phần nội dung trong buổi tọa đàm tháng Năm với chủ đề “Sức khỏe của đồng tiền Việt Nam” do Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần tổ chức, tại Press Café, Q.1. Không khí tranh luận sôi nổi đã dấy lên giữa một số khách mời ngay khi chủ đề “Sức khỏe của đồng tiền Việt Nam” được đặt lên bàn buổi tọa đàm. Theo luật sư Nguyễn Ngọc Bích, đồng tiền cũng ví như cánh diều, thể hiện sức mạnh của nền kinh tế. Ông Huỳnh Bửu Sơn - Giám đốc Đối ngoại Công ty PepsiCo Việt Nam - nhận

định rằng đồng tiền Việt Nam, dù có nhích lên nhích xuống trong thời gian gần đây nhưng vẫn khá ổn định so với đồng USD nhờ chính sách tỷ giá neo. Điều đáng lo ngại là tình trạng sức khỏe của các doanh nghiệp. Ông Sơn tỏ ý muốn lắng nghe ý kiến của đại diện doanh nghiệp, nhất là trước thời điểm diễn ra tọa đàm hai ngày, NHNN đã điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản lên 12%. Tuy nhiên, ông Nguyễn Minh Quyền - Phó Giám đốc Công ty Bến Thành Tourist - lại tỏ ra khá thận trọng. Ông đẩy “trái banh” về phía người phụ nữ duy nhất của buổi tọa đàm là bà Vũ Thị Kim Cúc - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Sài Gòn. Bà Cúc nói: - Thực ra ngân hàng cũng là doanh nghiệp đặc thù, vì tất cả các sản phẩm mà chúng tôi cung cấp cho doanh nghiệp và xã hội là các sản phẩm dịch vụ tài chính tiền tệ - đều liên quan đến đồng tiền. Hiện nay thực hiện chủ trương chống lạm phát của Chính phủ, ngân hàng cũng có những khó khăn như doanh nghiệp. Để thu hút được tiền vào ngân hàng thì ngân hàng phải có những sản phẩm huy động vốn có lãi suất cạnh tranh thì khách hàng mới gửi tiền. Ngoài khách hàng tiền gửi, ngân hàng còn có khách hàng tiền vay sử dụng các sản phẩm tín dụng. Với tình hình lãi suất như hiện nay, khách hàng vay tiền phải chịu lãi suất cao, đây là khó khăn mà ngân hàng và doanh nghiệp đã bàn bạc và thống nhất cùng chia sẻ. Tuy nhiên, đây chỉ là những khó khăn trong ngắn hạn; về lâu dài, khi các chính sách của nhà nước có những thay đổi, thì ngân hàng đương nhiên phải điều chỉnh lãi suất để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Theo cảm nhận của chúng tôi, vấn đề tăng trưởng quá cao trong những năm vừa qua mà chưa có sự quan tâm đến lạm phát nên đã để lại một số khó khăn cho nền kinh tế mà hiện nay Chính phủ đang phải giải quyết. Các biện pháp siết chặt tín dụng từ đầu năm 2008, việc tăng dự trữ bắt buộc lên 11% và phát hành tín phiếu bắt buộc chưa có lộ trình làm cho các ngân hàng thương mại (NHTM) gặp khó khăn, gián tiếp ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp. Mặc dù các ngân hàng vẫn duy trì được tính thanh khoản nhưng họ buộc phải “sàng lọc” khá kỹ những đối tượng có nhu cầu vay tiền, đồng thời tìm cách hút tiền về. Về lãi suất cơ bản mới được NHNN điều chỉnh ngày 16/5, sau hai ngày theo dõi, tôi thấy chính sách này đã có những tác động tích cực nhất định. Dường như chưa thỏa mãn với những thông tin mà bà Cúc công bố, ông Trần Sĩ Chương - Phó Chủ tịch HĐQT Công ty Le & Associates - đặt câu hỏi: - Tôi còn nhớ thời điểm NHNN nâng lãi suất lên 11%/năm, bà con ùn ùn mang tiền đến gửi vào ngân hàng. Vậy thì với mức lãi suất huy động trung bình 14% như hiện nay, phản ứng của thị trường như thế nào? Trả lời câu hỏi của ông Chương, bà Vũ Thị Kim Cúc nói: - Trước thời điểm NHNN công bố lãi suất cơ bản mới, lãi suất qua đêm giữa các ngân hàng và tổ chức kinh tế là 20%. Sau cuộc đua lãi suất thời gian qua, giờ đây các NHTM đã nhận ra rằng việc tăng lãi suất nhằm hút tiền về chỉ làm cho luồng tiền chạy từ ngân hàng này sang ngân hàng kia, chứ không tăng thêm tiền chảy vào ngân hàng. Vậy đồng bạc đang ở đâu? Vừa qua tình hình biến động về lãi suất, tỷ giá USD và giá vàng, một số khách hàng cũng chuyển hướng đầu tư thay vì chỉ gửi ngân hàng. Bên cạnh đó, một số hoạt động về tài chính tiền tệ không diễn ra trong ngân hàng. Cách nay ít lâu, trên chuyến bay ra Hà Nội, tôi tình cờ có dịp tiếp xúc với một chị buôn bán hoa vải đang trên đường ra Móng Cái (Quảng Ninh) nhập hàng. Hoa vải của chị ấy bán khắp cả nước, sang cả Lào và Campuchia. Giá trị trung bình mỗi lô hàng chị ấy nhập là hàng tỉ đồng, tuần cao điểm chị ấy thực hiện bốn giao dịch. Nhưng có một điều đặc biệt là tất cả giao dịch của chị ấy đều thực hiện ngoài hệ thống ngân hàng, chỉ liên hệ với người nhận chuyển tiền, cung cấp hàng hóa qua điện thoại và fax. Đây chỉ là một tiểu thương buôn bán nhỏ, còn bao nhiêu các tiểu thương khác và hoạt động khác nữa diễn ra ngoài ngân hàng mà không quản lý và thống kê được. Câu chuyện bà Cúc vừa kể khiến các khách mời xôn xao. Rõ ràng đã tồn tại một mạng lưới ngân hàng ngoài tổ chức đang hoạt động cực kỳ có tổ chức. Đương nhiên, giao dịch tại thị trường có tính linh hoạt cao này cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận mức lãi suất cao hơn, độ rủi ro cao hơn. Ông Huỳnh Bửu Sơn bình luận: - Câu chuyện người bán hoa vải cho thấy rằng khi nền kinh tế còn quá nhiều những giao dịch thanh toán dùng tiền mặt, việc triển khai chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô sẽ gặp khó khăn vì sẽ không thể nào phát huy hết tác dụng.

Ngồi đối diện với ông Huỳnh Bửu Sơn là PGS.TS Trần Hoàng Ngân - Trưởng khoa Ngân hàng Đại học

Kinh tế TP. Hồ Chí Minh. Ông nhập cuộc bằng cách phản biện ý kiến của ông Sơn: - Tôi không nghĩ hệ thống ngân hàng thương mại của chúng ta yếu. Chuyển tiền từ địa phương này đến địa phương kia qua hệ thống ngân hàng là hoàn toàn có thể làm được. Theo tôi, mục đích của các giao dịch tiền mặt là nhằm tránh sự kiểm soát của Nhà nước, lách thuế… Thực tế thì trong cơn sốt bất động sản vừa qua, nhiều nhà đầu cơ đã gõ cửa ngân hàng. Do thủ tục cho vay nhanh nhất, dù là khách hàng quen, cũng mất từ một đến hai ngày nên không ít người đã chấp nhận vay nóng từ thị trường ngầm để thực hiện giao dịch, sau đó dùng tiền vay từ ngân hàng đắp vào khoản vay từ thị trường chợ đen, bởi sau khi cân đối, họ vẫn có lời. Theo ông Trần Sĩ Chương, thị trường ngầm không phải là trường hợp cá biệt, chỉ xảy ra ở Việt Nam. Nó là một hình thức xã hội tự xử lý những bất cập trong cơ cấu quản lý vĩ mô. Thập niên 1980, thị trường ngầm đã chi phối tới 70% - 80% các giao dịch ở Thái Lan, mặc dù lúc đó hệ thống ngân hàng Thái Lan đã được hiện đại hóa, Bangkok Bank được xem là ngân hàng hiện đại nhất thế giới. Yên lặng ghi chép từ đầu buổi tọa đàm, ông Nguyễn Minh Quyền bây giờ mới dè dặt mở lời. Tỏ ra đồng cảm với người đại diện của ngân hàng, ông nêu lên một thực tế: - Đúng là khi ngân hàng huy động vốn với lãi suất cao thì phải cho vay với lãi suất cao hơn. Thế nhưng, mặt bằng lãi suất mới mà NHNN vừa công bố đang khiến nhiều doanh nghiệp lo lắng. Mặt khác, với mức lãi suất huy động cao như trong thời gian qua, đã xuất hiện tình trạng kiều bào ở nước ngoài vay USD với lãi suất thấp để chuyển về cho bà con trong nước đổi ra tiền đồng, gửi vào ngân hàng để hưởng lãi suất cao hơn. Ý kiến của ông Quyền vô hình trung đã đưa mọi người quay trở lại với câu chuyện NHNN điều chỉnh lãi suất cơ bản vừa xảy ra hai ngày trước. Ông Trần Hoàng Ngân nói: - Hiện nay chúng ta đang tập trung toàn lực để kéo chỉ số lạm phát của Việt Nam xuống. Chỉ số CPI tháng Tư, tính theo thông lệ quốc tế (tức là từ cuối tháng Tư năm ngoái đến tháng Tư năm nay) là 21,4%. Còn nếu áp dụng phương pháp tính cộng dồn từng tháng từ đầu năm đến nay thì CPI là 11,6%. Tôi cho rằng mức lãi suất mới mà NHNN vừa công bố là một giải pháp tối ưu vào thời điểm hiện nay. Trong hai ngày qua, chưa xuất hiện việc tiền di chuyển theo mức lãi suất cao từ ngân hàng này qua ngân hàng kia, giúp chúng ta nhận diện được tình trạng sức khỏe của các NHTM. Thêm nữa, lãi suất cao sẽ giúp tăng tiết kiệm và giảm chi tiêu, điều này sẽ kéo chỉ số CPI xuống, dẫn đến lãi suất cơ bản (mỗi tháng được xem xét và điều chỉnh nếu biên độ dao động vượt quá 25 điểm) giảm xuống. Nhờ vậy mà lãi suất cho vay chắc chắn cũng sẽ giảm, khiến doanh nghiệp dễ thở hơn. Nhưng điều quan trọng là phải làm cho lưu thông tiền tệ được thông suốt, phải đảm bảo đủ “máu” nuôi dưỡng cơ thể, hình như lưu thông đang thiếu tiền do thắt chặt tiền tệ? Tiếp lời ông Trần Hoàng Ngân, ông Huỳnh Bửu Sơn nhận xét: - Cần thống kê tiền gửi vào các NHTM biến động như thế nào qua những đợt tăng lãi suất? Lượng tiền chảy vào ngân hàng có thể đã tăng lên nhưng tôi e rằng không nhiều. Theo lời Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu thì tăng trưởng tín dụng đến thời điểm này là 18%, trong khi năm ngoái là 30% đến 50%. Có nghĩa việc nâng lãi suất huy động không thể hút được tiền đồng và đó là điều đáng suy nghĩ vì lượng tiền đồng gọi là nhàn rỗi trong dân đã không lớn lắm như chúng ta nghĩ, và không thể tạo nên một khối cầu khả dụng có thể gây áp lực lạm phát mạnh. Tuy nhiên, khi lãi suất cho vay quá cao, có thể các doanh nghiệp sẽ mang vốn gửi vào ngân hàng hưởng lãi suất thay vì đầu tư cho sản xuất. Nếu chuyện này xảy ra ở một vài doanh nghiệp thì ngân hàng có lợi. Nhưng nếu hàng trăm doanh nghiệp cùng quyết định “bãi” đầu tư, giảm sản xuất kinh doanh, đồng loạt mang tiền gửi ngân hàng thì đó sẽ là tai họa. Ông Trần Hoàng Ngân chuyển sang một hệ quả khác của vấn đề lãi suất: “Với lãi suất cao như vậy, điều tôi e ngại là sẽ có một lượng lớn USD chảy vào thị trường Việt Nam qua các kênh chính thức và không chính thức. Khi đó, chúng ta sẽ lấy tiền ở đâu ra để mua lượng ngoại tệ này? Và vấn đề thứ hai là mua theo giá nào? Liệu chúng ta có hạ giá đồng tiền Việt Nam so với đồng USD để hỗ trợ xuất khẩu?”. Trước thái độ quan ngại của ông Trần Hoàng Ngân, ông Trần Sĩ Chương lại tỏ ra khá điềm

tĩnh. Ông cho rằng khả năng một lượng lớn USD chảy vào Việt Nam là khó thể xảy ra. Ông Chương kể lại chuyện một người bà con của ông ở bên Mỹ ngày hôm trước vừa điện thoại về cho biết một ngân hàng còn đề nghị cho khách hàng vay đến 40 ngàn USD với lãi suất 0% - 2% trong vòng 18 tháng. Mặc dù vậy, theo ông Chương, những nhà đầu cơ chưa chắc đã đổ tiền vào ngân hàng Việt Nam để kiếm lời, bởi e ngại Việt Nam sẽ diễn lại kịch bản từng được Malaysia áp dụng vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế khu vực 1997 - 1998. Tức là đóng băng ngoại tệ, không cho các nhà đầu tư rút ra khỏi thị trường. Mặt khác, dù muốn dù không chúng ta cũng đang phải cạnh tranh với Mỹ trong thu hút đầu tư gián tiếp, bởi hiện cả hai đang cùng rơi vào một cái đáy. Thay vì đổ tiền vào Việt Nam, nhiều khả năng những nhà đầu tư sẽ chọn Mỹ do hệ thống luật pháp và chính sách ở thị trường này giúp họ dễ tiên liệu được tình hình hơn. Ông Chương vừa ngừng lời, ông Trần Hoàng Ngân tiếp: - Vấn đề anh Chương vừa nêu tôi cũng đã được nghe từ chính lãnh đạo một công ty Hàn Quốc có vốn đầu tư vào Việt Nam trong chuyến công tác đến Seoul tuần rồi. Nguyên nhân khiến họ lo lắng là do một báo cáo từ Nhật Bản về thâm hụt cán cân thương mại của nước ta. Tôi đã trả lời họ rằng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay của chúng ta là 11 tỉ USD và từ nay cho đến cuối năm, thâm hụt cán cân thương mại không thể vượt quá 25 tỉ USD. Trong thời gian tới, chắc chắn Chính phủ sẽ sử dụng các biện pháp thuế nhằm siết lại nhập khẩu, thậm chí có thể cho tái xuất phôi thép, phân bón… - những hàng hóa tác động mạnh đến chỉ số CPI. Làm việc với khá nhiều đối tác Nhật Bản, ông Trần Sĩ Chương đưa ra một cách lý giải về nguồn gốc báo cáo ông Ngân vừa đề cập. Theo ông, dự báo về thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam trong năm 2008 có thể xuất phát từ tình hình xuất khẩu. Giả sử, tuần thứ nhất có một doanh nghiệp Việt Nam thông báo hủy hợp đồng xuất khẩu. Tuần thứ hai có thêm ba doanh nghiệp thông báo hủy hợp đồng. Tuần thứ ba có thêm bảy hợp đồng xuất khẩu bị hủy… Khi thông tin hàng trăm hợp đồng bị hủy bay tới Nhật thì chúng trở thành căn cứ để người ta đưa ra báo cáo trên. Thực tế thì tình trạng lạm phát tăng, lãi suất cao đang gây khá nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Tiếp lời ông Chương, ông Huỳnh Bửu Sơn cho rằng nên xem xét lại chính sách lãi suất cho xuất nhập khẩu: - Việc NHNN quy định doanh nghiệp xuất khẩu chịu lãi suất vay ngoại tệ cao hơn doanh nghiệp nhập khẩu vô hình trung đã khuyến khích nhập khẩu, gây áp lực lên cán cân thương mại. Thực ra, đối với một nền kinh tế đang phát triển, nhập khẩu máy móc, công nghệ hiện đại phục vụ sản xuất là chuyện hoàn toàn bình thường. Thế nhưng, đối tượng nhập khẩu nhiều nhất là các doanh nghiệp nhà nước. Khi những khoản đầu tư công này không hiệu quả thì sẽ trở thành “lực đẩy” đối với lạm phát. Lập luận cho rằng những doanh nghiệp xuất khẩu không cần ngoại tệ đã buộc các doanh nghiệp xuất khẩu - chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân - vay tiền đồng với lãi suất cao. Với mức lãi suất hấp dẫn như hiện nay, những doanh nghiệp nhập khẩu sau khi vay USD, chỉ cần quy ra tiền đồng rồi gửi vào ngân hàng là đã có lời. Phải chăng đó là lý do khiến những hợp đồng xuất khẩu bị hủy như anh Chương vừa nêu. Lập luận của ông Sơn được sự đồng tình của các khách mời. Ông Trần Hoàng Ngân nói: - Cuối năm 2007, khi mà chỉ số CPI cuối năm lên đến 12,53%, tôi có nêu ra chín nguyên nhân gây nên lạm phát, trong đó nhấn mạnh vào hai điểm là sự nới lỏng chính sách tiền tệ và đầu tư công hiệu quả thấp. Theo báo cáo của Quốc hội, ngân sách hàng năm bội chi 5%. Nghĩa là tổng thu nhập quốc dân (GDP) càng lớn thì bội chi càng lớn, gây nên lạm phát. Đến lúc này, tác động của chính sách tiền tệ vào chỉ số CPI là không lớn, tác nhân chính gây nên lạm phát là đầu tư công không hiệu quả và lạm phát quốc tế. vì vậy không nên quá thắt chặt tiền tệ, gây khó khăn cho sản xuất. Nếu tiếp tục như vậy nền kinh tế nước ta vừa suy giảm, vừa có lạm phát cao! Như vậy, để đẩy lùi lạm phát, không thể chỉ trông chờ vào những giải pháp tiền tệ mà NHNN đưa ra. Ông Huỳnh Bửu Sơn nói: Điều quan trọng nhất là tạo ra niềm tin, cho thấy viễn cảnh kinh tế sẽ phục hồi, ổn định, nhịp độ tăng trưởng duy trì thì mọi chuyện sẽ tốt. Không phải là chúng ta không có giải pháp nhưng những chính sách mà chúng ta đã triển khai trong thời gian qua là hơi cập rập. Sách giáo khoa dạy rằng muốn chống lạm phát thì phải thắt chặt tín dụng. Tuy nhiên, tùy theo tình hình của mỗi nước mà tính toán liều lượng khi áp dụng lý thuyết này vào thực tế. Chúng ta cũng nên xem xét mối tương quan của Việt Nam so với thế giới. Hàng hóa khan hiếm gây nên lạm phát. Trong rổ hàng hóa, chắc chắn chúng ta không thể kéo giá của tất cả mặt hàng xuống. Vậy nên phải xác định rõ những hàng hóa cần ưu tiên kéo giá xuống trước và những mặt hàng đó chúng ta có khả năng kéo được giá của chúng xuống. Tôi nghĩ các doanh nghiệp sản xuất hiện nay đang rất cần được tiếp sức để duy trì hoạt động. Bởi họ chính là cái “phao” giúp nền kinh tế nổi lên trước sức ép lạm phát. Đồng tình với ý kiến của ông Sơn, ông Trần Sĩ Chương bổ sung:

do những biến động về lãi suất. Còn những chính sách đưa ra mà khiến người ta không tiên liệu được thì họ sẽ phản ứng. Thời gian gần đây.Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Sài Gòn: “Việc tăng lãi suất nhằm hút tiền về chỉ làm cho luồng tiền chạy từ ngân hàng này sang ngân hàng kia. Niềm tin. nên sợ mất là tâm lý chung của những người giữ tiền. Ông nói: . chứ không tăng thêm tiền chảy vào ngân hàng” Nguyễn Minh Quyền . giá vàng. hiện tùy thuộc vào khả năng tiên liệu của công chúng. Nhưng chính sách sẽ không có đủ hiệu lực nếu như không được công chúng tin tưởng. tình hình còn tồi tệ hơn hiện thời rất nhiều khi chỉ số CPI đã lên tới 30%/tháng. Chính sách tỷ giá cũng chỉ có tính chất tương đối. người cần được đảm bảo rằng sẽ lấy lại được số tiền ấy cộng với khoản chênh lệch mà đồng tiền ấy sinh ra sau một khoảng thời gian nhất định.. tỷ giá USD. Cơ sở tạo nên niềm tin là sự ổn cố (an tâm) và khả năng tiên liệu. Chúng ta giải quyết được là nhờ Chính phủ đã thể hiện một quyết tâm chính trị rất cao. theo tôi. gửi vào ngân hàng để hưởng lãi suất cao hơn. Chính sự tiên đoán chính xác sẽ tạo ra những thay đổi từ từ và kéo dài ổn cố. Vấn đề còn lại là hiệu quả trong đầu tư công. luật sư Nguyễn Ngọc Bích hầu như không lên tiếng.Những gì xảy ra với tất cả mọi người thì đều có tính tương đối.Phó Chủ tịch HĐQT Công ty Le & Associates: “Trong giai đoạn 1991-1992. Trong giai đoạn 1991-1992. gây áp lực lên cán cân thương mại” Trần Sĩ Chương . có lẽ ông không thể yên lặng thêm được nữa. . tác nhân chính gây nên lạm phát là đầu tư công không hiệu quả và lạm phát quốc tế” Vũ Thị Kim Cúc .. Đồng tiền liền khúc ruột. khi đồng tiền ổn định thì những biến thái của nó cũng sẽ ổn. thương phiếu. ngày càng có nhiều người bỏ tiền tích trữ ra đầu tư. bao gồm chi phiếu. đặc biệt là hình thức đầu tư rất đa dạng và linh hoạt. Tại sao chúng ta không áp dụng bài học cũ đó để giải quyết vấn đề lạm phát hiện nay? Khác với mọi lần. Đầu tư nước ngoài chúng ta cũng không quan tâm nữa. Ý kiến của ông Bích cũng đã khép lại không khí tranh luận sôi nổi của buổi tọa đàm.Giám đốc Đối ngoại Công ty PepsiCo Việt Nam: “Việc NHNN quy định doanh nghiệp xuất khẩu chịu lãi suất vay ngoại tệ cao hơn doanh nghiệp nhập khẩu vô hình trung đã khuyến khích nhập khẩu. từ đầu buổi tọa đàm đến giờ. Chính điều đó đặt ra câu hỏi về niềm tin của cả hệ thống. Nhưng đến lúc này. cổ phần… Cho nên. Lặng lẽ ghi chép.TS Trần Hoàng Ngân: “Tác động của chính sách tiền tệ vào chỉ số CPI là không lớn. Chúng ta giải quyết được là nhờ Chính phủ đã thể hiện một quyết tâm chính trị rất cao” PGS. Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế sử dụng tiền và những biến thái của nó. Khi bỏ tiền cho ai đó vay.Phó Giám đốc Công ty Bến Thành Tourist: “Đã xuất hiện tình trạng kiều bào ở nước ngoài vay USD với lãi suất thấp để chuyển về cho bà con trong nước đổi ra tiền đồng. Hy vọng đăìng sau hiện tượng này là một tín hiệu về sự trở lại của niềm tin! Thượng Tùng ghi Luật sư Nguyễn Ngọc Bích: “Chính sách sẽ không có đủ hiệu lực nếu như không được công chúng tin tưởng” Huỳnh Bửu Sơn . chứng khoán. Không phải đến bây giờ nền kinh tế chúng ta mới trải qua lạm phát. thỉnh thoảng bày tỏ thái độ đồng tình qua những tiếng cười khe khẽ.Từ nãy giờ chúng ta nói khá nhiều về chính sách. Chính sách tiền tệ coi như đã thuận lý.. Không ai biết ông đang nghĩ gì. Vậy nên những gì thuộc về mẫu số chung của thế giới thì chúng ta bỏ qua một bên để tập trung xem xét những yếu tố “khác với thế giới” gây nên lạm phát. tình hình còn tồi tệ hơn hiện thời rất nhiều khi chỉ số CPI đã lên tới 30%/tháng.

vn/view.VN l Thượng Tùng .DNSGCT http://www.asset.SAGA.vn hợp tác với Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần. ra ngày 30/05/2008 www.Bài www. số 251.aspx?id=12277 .SAGA.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful