THÔNG TIN VỀ LÃI SUẤT CƠ BẢN BẰNG ĐỒNG VIỆT NAM CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Posted on 08/07/2008 by Civillawinfor LÃI SUẤT VĂN BẢN LOẠI CĂN CỨ LÃI SUẤT ÁP DỤNG MỨC LÃI TỪ SUẤT CAO NHẤT CHO PHÉP TRONG CÁC GIAO DỊCH 01/12/2009 Không vượt 150% lãi suất cơ bản 01/08/2009 Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản

8%/năm

Quyết định số 2665/QĐNHNN Quyết định số 1811/QĐNHNN

7%/năm

7%/năm

Quyết định số 01/07/2009 Không vượt 1539/2009/QĐ150% lãi suất NHNN cơ bản Quyết định số 01/06/2009 Không vượt 1250/2009/QĐ150% lãi suất NHNN cơ bản Quyết định số …/QĐ-NHNN ngày …./2009 01/05/2009 Không vượt 150% lãi suất cơ bản

7%/năm

7%/năm

7%/năm

Quyết định số 01/04/2009 Không vượt 626/QĐ-NHNN 150% lãi suất ngày 24/3/2009 cơ bản Quyết định số 01/03/2009 Không vượt 378/QĐ-NHNN 150% lãi suất ngày 24/2/2009 cơ bản Quyết định số 01/02/2009 Không vượt 172/QĐ-NHNN 150% lãi suất ngày 23/1/2009 cơ bản Quyết định số 3161QĐNHNN ngày 19/12/2008 Quyết định số 2948/QĐNHNN ngày 03 /12/2008 Quyết định số 22/12/2008 Không vượt 150% lãi suất cơ bản 5/12/2008 Không vượt 150% lãi suất cơ bản

7%/năm

7%/năm

8,5%/năm

Lãi suất cơ bản

10%/năm

Lãi suất cơ

11%/năm

21/11/2008 Không vượt

bản

2809/QĐNHNN ngày 20/11/2008 12%/năm Quyết định số 2559/QĐNHNN ngày 03/11/2008 Quyết định số 2316/QĐNHNN ngày 20/10/2008 Quyết định 2131/QĐNHNN ngày 26/9/2008 - Quyết định số 1906/QĐNHNN ngày 29/8/2008 - Quyết định số 1727/QĐ-NHNN ngày 30/7/2008
- 1434/QĐ-NHNN ngày 26 tháng 6 năm 2008

150% lãi suất cơ bản 05/11/2008 Không vượt 150% lãi suất cơ bản 21/10/2008 Không vượt 150% lãi suất cơ bản Không vượt 150% lãi suất cơ bản Không vượt 150% lãi suất cơ bản Không vượt 150% lãi suất cơ bản Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

13%/năm

Lãi suất cơ bản

14%/năm

1/10/2008

Lãi suất cơ bản

14%/năm

1/9/2008

Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản

14%/năm

1/8/2008

14%/năm

1/07/2008

12%/năm

1257/QĐ01/06/2008 Không vượt NHNN ngày 30 150% lãi suất tháng 5 năm cơ bản 2008 1099/QĐ19/05/2008 Không vượt NHNN ngày 16 150% lãi suất tháng 5 năm cơ bản 2008 978/QĐ-NHNN 01/05/2008 Không vượt ngày 29/4/2008 150% lãi suất cơ bản 689/QĐ01/04/2008 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31 tháng 03 cơ bản năm 2008 Quyết định 01/03/2008 Không vượt 479/QĐ150% lãi suất NHNN ngày cơ bản

Lãi suất cơ bản

12%/năm

Lãi suất cơ bản

8.75%/năm

Lãi suất cơ bản

8.75%

Lãi suất cơ bản

8.75%/năm

29 tháng 2 năm 2008 Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản 8.75%/năm 305/QĐ01/02/2008 Không vượt NHNN Ngày 150% lãi suất 30/1/2008 cơ bản 3096/QĐNHNN 2881/QĐNHNN 01/01/2008 Không vượt 150% lãi suất cơ bản 01/12/2007 Không vượt 150% lãi suất cơ bản

8.25%/năm

8.25%/năm

8,25%/năm

2538/QĐ- 01/11/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31/10/2007 cơ bản 2265/QĐ- 01/10/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 28 tháng 9 năm cơ bản 2007 Số:2018/QĐ- 01/09/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30 tháng 8 năm cơ bản 2007 1787/QĐ- 01/08/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31/7/2007 cơ bản 1546/QĐ- 01/07/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 29/06/2007 cơ bản 1143/QĐ- 01/06/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 29 tháng 5 năm cơ bản 2007 908/QĐ01/05/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 27/04/2007 cơ bản 632/QĐ01/04/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 29/03/2007 cơ bản 424/QĐ01/03/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 27/02/2007 cơ bản số 298/QĐ- 01/02/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31/1/2007 cơ bản

8,25%/năm

Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

8,25%/năm

8,25%/năm

Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản

8.25%/năm

8,25%/năm

8,25%/năm

8,25%/năm

Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

2517/QĐ- 01/01/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 29/12/2006 cơ bản 2308/QĐ- 01/12/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30/11/2006 cơ bản 2045/QĐ- 01/11/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30/10/2006 cơ bản 1887/QĐ- 01/10/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 29/09/2006 cơ bản 1714/QĐ- 01/09/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31/08/2006 cơ bản 1522/QĐ- 01/08/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31/7/2006 cơ bản 1234/QĐ- 01/07/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30/6/2006 cơ bản 1234/QĐ- 01/07/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30/06/2006 cơ bản 1044/QĐ- 01/06/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31/05/2006 cơ bản 854/QĐ01/05/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 28/4/2006 cơ bản 581/QĐ01/04/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30/3/2006 cơ bản 311/QĐ01/03/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 28/2/2006 cơ bản 140/QĐ01/02/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 26/01/2006 cơ bản 1894/QĐ- 01/01/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30/12/2005 cơ bản 1746/QĐ- 01/12/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất

8,25%/năm

Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ bản 8,25%/năm

Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm)

65%/tháng (7.65%/tháng (7.8%/năm) 0.625%/tháng (7.65%/tháng (7.80%/năm) 0.8%/năm) 0.50%/năm) .65%/tháng (7.80%/năm) 0.80%/năm) 0.8%/năm) 0.65%/tháng (7.8%/năm) 0.65%/tháng (7.01/09/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 26/8/2005 cơ bản 1103/QĐ.01/05/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 29/4/2005 cơ bản 567/QĐ01/05/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 29/4/2005 cơ bản 315/QĐ01/04/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 25/03/2005 cơ bản 211/QĐ01/03/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 28/2/2005 cơ bản 93/QĐ-NHNN 01/02/2005 Không vượt ngày 27 tháng 50% lãi suất 1 năm 2005 cơ bản QĐ số 01/01/2005 Không vượt 1716/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 31/12/2004 của Thống đốc NHNN 1522/QĐ.65%/tháng (7.50%/năm) cơ bản 1556/QĐ.65%/tháng (7.65%/tháng (7.8%/năm) 0.01/10/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 30/9/2005 cơ bản 1246/QĐ.80%/năm) 0.80%/năm) 0.01/11/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 28/10/2005 cơ bản 1426/QĐ.625%/tháng (7.01/12/2004 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 30/11/2004 của cơ bản Thống đốc Lãi suất cơ bản 0.1/12/2005 Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản 0.65%/tháng (7.80%/năm) 0.01/08/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 28/7/2005 cơ bản 936/QĐ01/07/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 30/6/2005 cơ bản 781/QĐ01/06/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 31/5/2005 cơ bản 567/QDD.65%/tháng (7.

.5%/năm) QĐ số 01/03/2004 Không vượt 210/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 27/02/2004 của Thống đốc NHNN http://thongtinphapluatdansu.5%/năm) * Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam.625%/tháng (7.5%/năm) Lãi suất cơ bản 0.625%/tháng (7.625%/tháng (7.625%/tháng (7.50%/năm) Lãi suất cơ bản 0.625%/tháng (7.50%/năm) QĐ số 01/11/2004 Không vượt 1398/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 29/10/2004 của Thống đốc NHNN QĐ số 01/10/2004 Không vượt 1254/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 30/9/2004 QĐ số 01/09/2004 Không vượt 1079/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 31/8/2004 của Thống đốc NHNN QĐ Số 01/08/2004 Không vượt 968/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 29/7/2004 của Thống đốc NHNN QĐ số 01/07/2004 Không vượt 797/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 29/6/2004 của Thống đốc NHNN QĐ số 01/06/2004 Không vượt 658/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 28/05/2004 của Thống đốc NHNN Lãi suất cơ bản 0.com/2008/07/08/070820081/ Lãi suất cơ bản 0.625%/tháng (7.5%/năm) Lãi suất cơ bản 0.wordpress.625%/tháng (7.5%/năm) Lãi suất cơ bản 0.NHNN Lãi suất cơ bản 0.

Tuy nhiên. các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng theo lãi suất cho vay có điều chỉnh không vượt quá mức lãi suất cho vay theo quy định tại Quyết dịnh 16/2008/QĐ-NHNN.gov. Ngân hàng Nhà nước đã ban hành văn bản 6399/NHNN-CSTT hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc áp dụng lãi suất theo quy định tại Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008. * Quyết định số 07/2007/QĐ-NHNN Về lãi suất tiền gửi bằng Đô la Mỹ của pháp nhân tại tổ chức tín dụng. về nguyên tắc tổ chức tín dụng và khách hàng vay tiếp tục thực hiện lãi suất cho vay đó. trong đó có thỏa thuận lãi suất cho vay có điều chỉnh. * Quyết định số 62/2006/QĐ-NHNN ngày 29/12/2006 ban hành Quy chế thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất. * Ngày 16-7 – 2008.Theo quy định tại điểm b khoản 4 mục IV Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Toà án nhân dân tối cao. quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật trước ngày Thông tư này có hiệu lực pháp luật (15/7/1997). Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. về việc điều chỉnh lãi suất cho vay cố định (fixed) được thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký kết trước ngày 19/5/2008.* Hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc áp dụng lãi suất theo quy định tại Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN Ngày 15/7/2008. nhưng phải trên cơ sở thực hiện đúng quy định tại Điều 4 Bộ luật Dân sự và không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa theo quy định tại Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN. Theo công văn. Đối với các hợp đồng tín dụng được ký kết trước ngày 19/5/2008. thống đốc nêu rõ mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng ấn định và thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng. Bộ Tài chính.vn/xembai. pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. mức này nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng. Ngoài ra. mức lãi suất cho vay có điều chỉnh cũng không được vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa theo quy định tại Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN. thì đối với trường hợp tài sản phải thi hành án không phải là hiện vật theo bản án. Việc tính lãi suất chậm thi hành án (HƯỚNG DẪN NGHIỆP VỤ CỦA CỤC THI HÀNH ÁN BỘ TƯ PHÁP – http://nghiepvu. theo quy định của pháp luật dân sự. Tuy nhiên. Theo văn bản này. thì cơ quan thi hành án thi hành đúng theo quyết định .moj. lãi suất cho vay có điều chỉnh (floating) được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 19/5/2008 (ngày Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN có hiệu lực thi hành). thì kể từ ngày 19/5/2008. thì các tổ chức tín dụng và khách hàng vay được thỏa thuận để điều chỉnh lãi suất cho vay đã ghi trong hợp đồng tín dụng.aspx? nv=137) . thống đốc Ngân hàng nhà nước có Công văn số 6486/NHNNCSTT gửi các tổ chức tín dụng về việc áp dụng lãi suất đối với khoản nợ gốc quá hạn. *. Bộ Tư pháp.

từ ngày 15/3/2005 trở đi. Ngân hàng Nhà nước chỉ quy định khung lãi suất quá hạn cho các ngân hàng thương mại áp dụng (ví dụ quy định khung lãi suất quá hạn là 100% đến 150% mức lãi suất trong hạn).tuanvietnam. Bộ Tài chính. theo quy định tại khoản 1 mục III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Toà án nhân dân tối cao. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.: 23/03/2010 06:00 GMT+7 . Mặt khác. lãi suất chậm thi hành án sẽ được tính: Số tiền lãi chậm thi hành án = (Số tiền chậm thi hành án x 1%) x 100% x 01 tháng chậm thi hành). quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp chủ động thi hành) và từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (trường hợp thi hành theo đơn yêu cầu) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền. . Tuy nhiên. Ví dụ: Giả sử người phải thi hành án chậm thi hành 01 tháng và nếu lãi suất vay trung hạn là 1%/tháng và khung lãi suất quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định là từ 100% đến 150% mức lãi suất trong hạn. (SOURCE: CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP) Bỏ trần lãi suất: Không sợ tạo ra cuộc đua lãi suất http://www. trong thời gian qua. thì kể từ ngày bản án.của Toà án. Bộ Tư pháp. Trong trường hợp này. hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.net/2010-0322-bo-tran-lai-suat-khong-so-tao-racuoc-dua-lai-suat Tác giả: MINH TƯỜNG Bài đã được xuất bản.Đối với khoản tiền suất lãi chậm thi hành án. Thông tư 01/TTLT nêu trên không quy định tiền lãi do chậm thi hành án được tính theo lãi suất của loại vay nào (có kỳ hạn hay không kỳ hạn…) Vì vậy. kể cả các khoản lãi mà bên phải thi hành án phải chịu do chậm thi hành án gây ra. để thực hiện thống nhất việc tính lãi chậm thi hành án. cơ quan thi hành án tính theo mức thấp nhất của khung lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định cho các Ngân hàng thương mại áp dụng theo từng thời kỳ với mức lãi suất vay trung hạn.

Ảnh: SGTT Giải thích tình trạng lãi suất cao hiện nay có thể đưa ra một số lý do sau: Thứ nhất: Lãi suất được đẩy lên cao là do trong thời gian qua xuất hiện tình trạng chênh lệch khá lớn giữa tốc độ tăng trưởng vốn huy động và cho vay. Phó Tổng Giám đốc điều hành Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) John Lipsky ngày 22/3. Tình trạng này kéo dài suốt từ năm 2007 đến nay. tăng trưởng tín dụng là 53.1%. khi trả lời phỏng vấn Reuters. cho rằng: "tiền Đồng Việt Nam hiện nay. đồng thời cao hơn rất nhiều so với lãi suất tái chiết khấu (7%) và tái cấp vốn (6%). quan ngại việc bỏ trần lãi suất huy động sẽ tạo ra một cuộc đua lãi suất trong hệ thống ngân hàng như năm 2008 sẽ lặp lại. Hai. Ngoài ra. Lãi suất chạm đỉnh Lãi suất cho vay trên thị trường hiện đang phổ biến ở mức 15-17%. trong khi đó tăng trưởng huy động chỉ đạt 46. tại Hà Nội. Mức lãi suất này được xem là khá cao so với những năm trước đây (trừ năm 2008). lãi suất huy động thực tế của nhiều ngân hàng cũng vượt khá xa so với trần 10. là không có vấn đề" và "bây giờ là lúc cần có chính sách để củng cố niềm tin vào ổn định vĩ mô". Cụ thể. Nhận định của Tuần Việt Nam: hiện có đủ yếu tố thị trường để thay đổi lãi suất trần huy động và khả năng có một cuộc chạy đua lãi suất là khó diễn ra.4% và . năm 2008 hai chỉ số này lần lượt là 25. lãi suất cho vay cũng cao hơn khá nhiều so chỉ số giá tiêu dùng hiện tại. nên bỏ quy định về lãi suất trần huy động để giải tỏa ách tắc trong hệ thống tiền tệ. xét trung hạn.Xung quanh việc Ngân hàng Nhà nước nên hay không nên bỏ lãi suất trần huy động (lãi suất tiền gửi vào các tổ chức tín dụng) hiện có hai chiều ý kiến: Một.5%. năm 2007.9%.

do vậy.000 tỷ đồng vốn giá rẻ cho người đi vay. họ chỉ thực sự tăng lãi suất huy động khi gặp vấn đề khó khăn trong thanh khoản. Thứ hai: Lãi suất huy động và cho vay vượt xa lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn của NHNN.20. lãi suất thực tế huy động và cho vay đã cao hơn khá nhiều so với lạm phát và lãi suất chiết khấu của NHNN. Sau đó tỷ lệ dự trữ bắt buộc được nâng lên 11%. Đây là một sự nghịch lý vì thông thường lãi suất chiết khấu là công cụ quan trọng trong điều hành lãi suất trên thị trường. NHNN đặt mục tiêu kiểm soát tín dụng ở mức 25% để phòng ngừa nguy cơ lạm phát khiến cho nguồn vốn ngân hàng càng trở nên khan hiếm. Nhiều doanh nghiệp tìm mọi cách để vay tiền bất chấp nhu cầu thực tế khiến tăng trưởng tín dụng năm 2009 lên mức 37. vượt xa mục tiêu 25% của NHNN.4%. trong khi đó tăng trưởng tiền gửi lại giảm 0. Sức ép thanh khoản hiện nay của các ngân hàng không lớn như thời điểm 2008. Đợt bán Trái phiếu chính phủ ngày 18/3 vừa qua đã đạt 60% tổng giá trị chào bán với lãi suất 12%. Thứ ba: Việc nâng lãi suất huy động và cho vay là một hệ quả của việc tăng trưởng tín dụng nóng năm 2009. Giải thích cho điều này có thể là do NHNN đang rất hạn chế cung tiền qua thị trường mở. Gói kích cầu bằng hỗ trợ lãi suất đã tạo ra hơn 400. Mức chênh lệch kéo dài và quá lớn trên buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất huy động để hút tiền. tái chiết khấu lên 13%. lãi suất tái cấp vốn 15%. NHNN phát hành 20.7%.3%. đồng thời tăng lãi suất cho vay để giảm cầu tiền.17%. lãi suất cơ bản 14%. Trong trường hợp này công cụ lãi suất chiết khấu đã giảm đi rất nhiều vai trò của nó. lãi suất huy động cân bằng trong dài hạn có thể ở quanh mức 11%-12%.4%. Trong khi hiện tại.4% và 28. tăng trưởng tín dụng 1. Ngoài ra. Lý do NHNN hạn chế việc cung tiền qua thị trường mở có thể xuất phát từ những lo ngại về lạm phát tiền tệ. Các ngân hàng có thể vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất khá thấp để giải quyết vấn đề thanh khoản của mình sẽ hiệu quả hơn so với việc tăng lãi suất huy . năm 2009 lần lượt là 37. Sự khác biệt giữa hiện nay và thời điểm xảy ra cuộc đua lãi suất 2008 Cuộc đua lãi suất năm 2008 diễn ra trong hoàn cảnh đặc biệt bởi nhiều yếu tố hội tụ. Năm 2010.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc kỳ hạn 1 năm. Lúc đó hệ thống ngân hàng căng thẳng thanh khoản khi NHNN thắt chặt các chính sách tiền tệ một cách mạnh mẽ: Ngày 17/03/2008. Khả năng về mức lạm phát cao trong năm nay cũng khó diễn ra do mục tiêu kìm chế lạm phát được ưu tiên trong chỉ đạo của Chính phủ và cầu hàng hóa chưa có dấu hiệu tăng đột biến. Xét về phía ngân hàng. áp lực trả nợ đè nặng lên nhiều doanh nghiệp bởi việc chi tiêu "quá đà" trong năm trước. Hai tháng đầu năm 2010.

19/05/2008. tăng trưởng GDP 5. chứng khóan. tiếp bắt buộc 20. tăng trưởng Lạm phát trung bình năm 22. Phát hành tín phiếu Tháng 3/2010 Không còn tín phiếu bắt buộc. Xét về điều kiện vĩ mô. lãi tín dụng mục tiêu 25%. . lãi suất cở bản điều chỉnh tăng lên 14%. ngọai tệ. lãi suất tái cấp vốn vốn 7%. lãi suất tái chiết khẩu 6%. mục tiêu 6. Lãi suất chiết khấu. kỳ vọng của các nhà đầu tư năm nay cũng không thể vượt quá 11 . thời điểm diễn ra cuộc chạy đua lãi suất lạm phát đang ở mức rất cao. tăng trưởng GDP suất cho vay trung bình trong năm 13.5%. - buộc tiếp tục duy trì ở mức thấp. đồng USD tiếp tục mất giá. lạm phát chỉ vào khỏang 4%.46%.4%. lãi suất các kỳ hạn 6 tháng tháng đến 1 năm quanh mức 11.75 lên 12%. Tăng trưởng tín dụng 25..12% do tình hình nền kinh tế không hồi phục nhanh như phỏng đóan. Bỏ trần lãi suất huy động không tạo ra cuộc đua lãi suất Những phân tích và lập luận trên cho thấy. một số nhận định còn cho rằng lạm phát có thể trên 30% vào cuối năm 2008. Dự báo của nhiều tổ chức tài chính trong và ngòai nước cho thấy: đến cuối năm 2010.19%.5%. tỷ lệ dự trữ bắt tăng từ 13 lên 15%. lãi suất qua đêm quanh mức 7%. mức tăng CPI của Việt Nam chỉ ở dưới mức 2 con số. Nguyên nhân là do lãi suất trên thị trường đã tiệm cận mức cân bằng và có thể nhiều lý do để giảm trong thời gian tới. lãi suất tái cấp tăng từ 11 lên 13%.. lãi suất tái chiết khấu gửi kỳ hạn trên 12 tháng. Một số khác biệt giữa thời điểm diễn ra cuộc chạy đua lãi suất năm 2008 và hiện nay Năm 2008 Ngày 17/03/2008. Ngày 1/06/2008.300 tỷ đồng - tục các chính sách tiền tệ mở rộng. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc 1% đối với tiền 1/04/2008 tỷ lệ dự trữ bắt buộc nâng - lên 11%. rất ít có khả năng xảy ra một cuộc đua lãi suất như lo ngại của nhiều người khi trần lãi suất huy động. Nhà nước cấm họat động kinh doanh vàng trên sàn giao dịch tự do. Lạm phát mục tiêu 7%.97%.động. Trong khi đó tính đến tháng 3/2010. So với các kênh đầu tư khác: bất động sản. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đang giữ ở mức ổn định. Lãi suất cơ bản 8%. lãi suất cơ bản điều chỉnh tăng từ 8. không kỳ hạn và dưới 12 tháng 3%.

com/vn/thongtinnganh/20732/index. Rủi ro tín dụng. Giải pháp này giúp khơi thông dòng chảy tín dụng huy động để hút tiền trở lại hệ thống ngân hàng. Vì vậy để có vốn rẻ khuyến khích nhu cầu vay của DN tốt thì phải hạ LS huy động.15%/năm. thực hiện phương án thận trọng. tội gì phải trả LS cao để lỗ” . Ngoài ra. LS huy động có thể vẫn tiếp tục giảm. 13/10/2008. không cho vay ra được nhiều. Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì cho rằng: “Giảm LS huy động để giảm áp lực LS cho vay. Một trong những nguyên chính là ngân hàng vừa bị hạn chế. nhưng nếu tình hình chứng khoán và bất động sản vẫn ảm đạm như hiện nay. nhưng có nguyên nhân là sự dè dặt tăng trưởng tín dụng trong giai đoạn hiện nay.kinh doanh mà lại gửi NH lấy lãi”. đây cũng là một bước đi cần thiết trên con đường tự do hóa lãi suất của Việt Nam trong thời gian tới. ảnh hưởng khủng hoảng tài chính Mỹ làm khả năng trả nợ của khách hàng giảm sút khiến các NH không muốn đẩy mạnh cho vay mà chú trọng vào việc bảo đảm an toàn hoạt động. nhưng các ngân hàng vẫn liên tục giảm lãi suất (LS) tiền gửi. NHNN có thể bỏ lãi suất trần hoặc. vừa khó cho vay vốn. Việc thay đổi trần lãi suất huy động cũng đồng thời giúp cho ngân hàng chính thức hóa được những khoản chi phí để thu hút tiền gửi đã vượt trần trong thời gian qua. Các ngân hàng liên tục giảm lãi suất vì khó ở đầu ra http://atpvietnam. Ông Kiều Trọng Tuyến. NH nào cũng chỉ muốn cho vay khách hàng tốt. Mặt khác. minh bạch hoạt động ngân hàng. mặt khác không nên để LS tiền gửi cao khiến một số doanh nghiệp không muốn đưa vốn vào sản xuất .Nếu tiếp tục coi mục tiêu kiềm chế lạm phát là ưu tiên hàng đầu của chính sách năm nay. thì dòng tiền vẫn vào ngân hàng mà không còn kênh đầu tư khác. 11:15 GMT+7 Dù tốc độ tăng nguồn vốn huy động tiền đồng mấy tháng nay vẫn ở mức thấp. như nâng mức lãi suất trần huy động lên mức 12% đến 13%. nhưng chúng tôi vẫn hạ LS huy động.aspx Thứ hai. . Có nhiều nguyên nhân khiến các ngân hàng thương mại (NHTM) liên tục hạ LS huy động tiền đồng trong thời gian qua. So sánh mức LS huy động cao nhất tại thời điểm hiện nay với cách đây 2 tháng thì LS tiền gửi của NHTM Nhà nước đã giảm 1%/năm và của NHTM cổ phần giảm 1. rủi ro thị trường… do lạm phát trong nước cao. tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho nền kinh tế. rủi ro lãi suất. Vì vậy. Trong những tháng tới. nhưng khách hàng tốt thì chỉ vay khi LS ở mức hợp lý (chỉ có khách hàng xấu là vay bằng mọi giá). Phó Tổng giám đốc một NHTM (xin giấu tên) nói: “Tiền gửi vào chúng tôi trong 3 tháng gần đây sụt giảm trung bình vài trăm tỷ đồng/tháng. lập lại cân bằng cung cầu trên thị trường tiền tệ. mặc dù nhu cầu vốn cuối năm theo quy luật bao giờ cũng tăng cao.

Canada. Tuy nhiên. Chính phủ phải ưu tiên bảo vệ ngân hàng trước”. Thuỵ Điển.5%/năm là hợp lý. Ai cũng lo phòng thân cả. Phó Tổng Giám đốc một NHTM cổ phần nói: " Mặc dù có hiện tượng thừa nguồn USD tại một số NH nhưng đây chỉ là hiện tượng tạm thời. Thêm nữa. Tuy nhiên từ tháng 7 đến nay do nguồn tiền gửi ngoại tệ tăng khá lớn.25%-0.5%/năm so mức cũ. Anh. nền kinh tế giảm nhập siêu) vì vậy các NH đã giảm dần LS huy động xuống mức phổ biến hiện nay là 5%-5.(Nguồn: VNN.4%/năm.2%-8. Trung Quốc… đã đồng loạt giảm lãi suất cơ bản để giải quyết những vấn đề khó khăn của nền kinh tế mỗi nước trong bối cảnh khủng hoảng tài chính đang lan rộng ra toàn cầu. đa số các ngân hàng đề nghị giữ nguyên lãi suất cơ bản (LSCB) ở mức 14%/năm trong những tháng còn lại của năm 2008. Khủng hoảng tài chính Mỹ là một ví dụ. Một nhà đầu tư nói: “Với giá nguyên. Nếu NH có vấn đề gì là nền kinh tế “chết” nhanh hơn.Chưa dám hạ lãi suất huy động ngoại tệ Huy động ngoại tệ tại nhiều NHTM đến cuối tháng 9/2008 có dấu hiệu dư thừa. giảm rủi ro và đa dạng hóa khách hàng (có khách hàng có thể cho vay LS thấp.5%/năm). cho phép sử dụng tín phiếu bắt buộc trên thị trường mở… thì chưa có tác động làm giảm LS cho vay ngay bằng hạ LSCB. tuy nhiên để dung hòa lợi ích của các bên và phù hợp với diễn biến của lạm phát cũng như tình hình tài chính thế giới thì có thể nên hạ LSCB xuống mức 13. có ý kiến lại cho rằng hỗ trợ các NH giảm chi phí để giảm LS cho vay bằng các giải pháp tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc. nền kinh tế toàn cầu tăng chậm thì áp lực chống lạm phát rõ ràng là không còn nhiều. nhưng có đối tượng khách hàng xếp hạng tín nhiệm thấp hơn phải chịu LS cao hơn). Tuy nhiên. bất ngờ. cần hỗ trợ các NHTM giảm lỗ. Ngân hàng Trung ương của Mỹ. 12/10) Mỹ và châu Âu cùng cắt giảm lãi suất chống khủng hoảng . Vì vậy. Hiện mức LS huy động USD cao nhất của NH này là 6%/năm. phải để xem diễn biến tình hình vài tuần nữa". Lãi suất cơ bản có thể giảm nhẹ? Tại 2 cuộc họp thành viên Hiệp hội Ngân hàng tại Hà Nội và TP. chưa nên hạ tiếp LS ngoại tệ trong lúc này. việc cho vay ngoại tệ lại hạn chế (do đối tượng được vay thu hẹp. Úc. đại diện một số NH khác không tán thành. Nếu có vấn đề gì về ngoại tệ trong nước thì các NH Việt Nam cũng khó tiếp cận được vốn cho vay của NH nước ngoài vì xếp hạng tín nhiệm của ta còn thấp. vài NH đã cân nhắc tăng lại LS huy động USD. HCM vừa qua. Đây cũng là một động thái đáng chú ý và có thể có những tác động nhất định đến việc điều hành lãi suất thời gian tới của Việt Nam. Hạ LSCB để “ép” lãi suất cho vay xuống. nhiên liệu đầu vào trên thế giới đều giảm. trong mấy ngày qua. hay giữ nguyên mức LSCB để đỡ khó khăn cho NH? Tổng giám đốc một NHTM cổ phần nói: “Hệ thống NH có mạnh thì nền kinh tế mới khỏe. tuỳ theo từng kỳ hạn. ngày 9/10 Eximbank tăng lãi suất huy động USD khoảng 0. Lý do đưa ra là lạm phát tính theo năm của Việt Nam vẫn ở mức cao. Chúng tôi có thông tin là các NH thế giới hiện nay rất khó vay trên thị trường liên NH. châu Âu. Vì vậy. Việc NHNN giảm lãi suất cơ bản trong giai đoạn tới là tất yếu để tạo sức bật cho nền kinh tế”. Tháng 4 và 5/2008 do nhu cầu vốn các NH đã đẩy LS huy động USD lên mức rất cao (từ 6. Diễn biến về nguồn vốn ngoại tệ trong bối cảnh khủng hoảng tài chính lan rộng hiện nay tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Theo một số NHTM Nhà nước thì nên có sự đồng thuận trong Hiệp hội Ngân hàng để hạ mặt bằng LS huy động USD xuống chỉ ở mức trên 2%/năm. Mấy ngày nay. Chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành thì cho rằng đúng ra nên duy trì mức LSCB ở mức như hiện nay cho đến hết năm 2008.

38%/năm. Cùng kỳ hạn này nhóm NHTMCP cao hơn khoảng 0.Phản ứng đồng thời ngay sau khi cơn bão khủng hoảng tài chính đang mạnh lên hơn bao giờ hết với tất cả các thị trường chứng khoán lớn trên thế giới tụt giảm. Quyết định đồng loạt cắt giảm lãi suất ngày 8/10 xuất phát từ sự suy sụp dây chuyền của nền kinh tế toàn cầu mà kéo theo đó là tất cả các chỉ số chứng khoán Mỹ đang rơi vào một đợt suy giảm tồi tệ nhất kể từ năm 1937.20%-20.47%/năm (0. lãi suất tuần qua của các TCTD tiếp tục xu hướng giảm ở cả huy động lẫn cho vay. Thuỵ Điển đã cắt giảm lãi suất cơ bản bớt 0.34%/năm. 6/10/2008. 8/10/2008.18%/năm.5%.com) .22%/năm (cao hơn 0.25%. các nước Mỹ.14%/năm cho kỳ hạn 12 tháng. 3. lãi suất của Trung Quốc cũng đã được cắt giảm 0. Đây là lần cắt giảm thứ 2 liên tiếp trong vòng 3 tuần qua. 6 tháng là 17.93%.8. Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và 3 ngân hàng trung ương Anh. Ngân hàng Trung ương Nhật cho dù chưa tham gia vào đợt cắt giảm đồng loạt này nhưng cho biết hoàn toàn ủng hộ quyết định nói trên.24%. Lãi suất cho vay phổ biến của khối ngân hàng nhà nước là 20%-20.05%/năm. 17:03 GMT+7 Theo số liệu báo cáo nhanh của các tổ chức tín dụng đến ngày 30/9/2008. 1 tuần là 13.5% và 4.5 điểm phần trăm xuống tương ứng 1.50% năm bằng VND và .5% năm bằng VND và 8. Lãi suất huy động tại các NHTMNN cao nhất cũng chỉ ở mức 17. Đây là một nỗ lực phối hợp chưa từng có tiền lệ nhằm giảm ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái 1929. lãi suất giao dịch bình quân các kỳ hạn bằng VND trên thị trường liên ngân hàng có xu hướng giảm so với tuần trước đó. CNN Money) Hiệu ứng tốt từ tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc Thứ hai.33%/năm. 1 tháng là 16. khối ngân hàng cổ phần là 20. 1 năm là 14.2% khi đạt mức cao nhất 17. Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed). Lãi suất bình quân các kỳ hạn bằng USD tương đối ổn định. Con số này thể hiện điều chỉnh giảm khi lãi suất huy động tại các NHTMNN ở mức 17.27 điểm phần trăm xuống 6. 22:46 GMT+7 (ATPvietnam.Thứ tư. Trong khi đó.94% năm bằng USD. 4. 2.08 %/năm) và NHTMCP ở mức 17.09%/năm). Canada.75%. Trong đó.97%/năm. Cụ thể: Lãi suất VND giao dịch bình quân kỳ hạn qua đêm là 11. châu Âu đã đồng loạt cắt giảm lãi suất cơ bản. chỉ số chứng khoán đại diện cho Nhật ngày 8/10 giảm ở mức mạnh nhất trong 2 thập kỷ qua.68%/năm.5%.72%/năm. 2 tuần là 14. 3 tháng là 18. HL (Theo Bloomberg.

diễn biến tỷ giá trên thị trường trong nước tương đối ổn định.000 VNĐ Xe đạp tập SP .Hộp thả hình tháo ráp [VM111] 641B 185.450. cung . Lãi suất năm 2007 chính thức khởi tranh Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: thuc-khoi-tranh/2007/1/163032.. 6/10).com. Lý giải cho xu hướng giảm lãi suất tại các khối ngân hàng.560-16.BF15W 1. Các ngân hàng thương mại niêm yết tỷ giá dưới mức trần được phép khoảng 205-235 đồng/USD. chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán USD/VND phổ biến từ 40-50 đồng/USD. chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán USD/VND phổ biến từ 40-50 đồng/USD. trong tuần theo đánh giá của NHNN diễn biến tỷ giá trên thị trường trong nước tương đối ổn định.cầu vốn và mặt bằng lãi suất thị trường. Tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do dao động quanh mức 16. Một số Ngân hàng thương mại cổ phần.vn/kinhdoanh/Lai-suat-nam-2007-chinh- Bộ DVD tổng hợp các đoạn phim lên tinh . thu mua lương thực. doanh nghiệp nhỏ và vừa và các dự án đầu tư có hiệu quả.8%/năm so với mức hiện tại (bao gồm cả cho vay thông thường.800.6% lên 5% nhóm Ngân hàng thương mại nhà nước và Ngân hàng TMCP Ngoại thương bắt đầu áp dụng mức lãi suất cho vay mới. ngân hàng liên doanh và chi nhánh Ngân hàng nước ngoài cũng đang xem xét giảm lãi suất cho vay phù hợp với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ..59%-10.620 đồng/USD. giảm từ 0.5-1.600 đồng/USD. NHNN cho biết sau khi có quyết định tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng từ 3. Các ngân hàng thương mại niêm yết tỷ giá dưới mức trần được phép khoảng 205235 đồng/USD. trong đó chú trọng giảm lãi suất đối với các doanh nghiệp xuất khẩu. hiện ở mức 16.09% năm bằng USD. 1.620 đồng/USD. Trong tuần. cho vay ưu tiên).560-16. Ngoài ra. Tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do dao động quanh mức 16.000 VNĐ 1. (Nguồn: Dân Trí.600đ/USD. hiện ở mức 16.570-16.820.9.000 VNĐ .570-16.vip http://dantri.000 VNĐ Massage chân Spa Max.

lãi suất tăng trong khi vốn khả dụng của nhiều ngân hàng dư thừa đã được xem là một nghịch lý. 3 và 6 tế tháng. Ngày 16/1. tăng từ 7. áp dụng ngay từ ngày đầu tiên của năm (1/1/2007). đặc biệt là lãi suất USD.000 Việt USD với kỳ hạn 2 tháng (tăng tương ứng từ 4. nhu cầu vay tiêu dùng tăng cao. Trước đó. thị trường chứng khoán bước vào thời điểm nóng sốt nhất từ trước tới nay. lãnh đạo một ngân hàng cho rằng nhu cầu vay tiêu dùng tăng cao dịp Tết (giá tiêu dùng cũng tăng cao) là nguyên nhân chính để ngân hàng tăng lãi suất để có tiền đáp ứng.3 %/năm. Ngân hàng Toàn cầu (G-Bank) tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm VND trên địa bàn Hà Nội với mức tăng bình quân từ 0. hàng loạt các ngân hàng cổ phần lần lượt điều chỉnh lãi Ngân suất huy động. 3 tháng từ 8. Nghịch lý trong hợp lý đang tạo ra những sắc thái mới trong đợt khởi động này. hàng vẫn Mở hàng lãi suất năm nay là Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank) với quyết đang định tăng lãi suất “Tiết kiệm điện tử”. Sự cả quyết đó có cơ sở từ sự hợp lý của đợt tăng lãi suất lần này. 12 tháng là 9. Cũng trong năm 2006. khả năng đáp ứng cũng đã bị ảnh hưởng từ kỳ đáo hạn tiền gửi cuối năm 2006... Trong quyết định tăng vừa qua. 24 tháng là 9.35%/năm lên 4. Thứ ba. lượng tiền thay vì gửi tiết kiệm được đổ vào chứng khoán rất lớn khiến hoạt động .55%/năm)… Nam. Cuối năm 2006.25%/năm cho các kỳ hạn 1. lĩnh lãi cuối vốn kỳ. thị trường tiêu dùng bước vào mùa mua sắm chuẩn bị Tết Nguyên đán. Nhưng lãi suất vẫn tăng. Đó là một sự hợp lý. Ngân hàng An Bình (ABBank) điều chỉnh lãi suất huy động tiết kinh kiệm USD với biên độ tăng 0. 2 tháng từ 7. Ngân hàng Sài Gòn .000 USD đến dưới 100.04 .32 lên 7.16%.64 lên chủ 8. Đầu năm 2007. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì các mức lãi suất chủ đạo. Tuy nhiên những cuộc đua tăng lãi suất mới chỉ thực sự khởi tranh là kênh trong vài ngày trở lại đây. 2. yếu cho Ngày 16/1. cung Ngày 15/1.Mở đầu năm kinh doanh mới. một tổng giám đốc ngân hàng cổ phần cả quyết rằng: “Tôi xin cá là lãi suất sẽ vẫn tăng.1%-0.Hà Nội (SHB) quyết định tăng lãi suất huy cấp động đối với cả VND và ngoại tệ. Đây cũng là một hợp lý. Lãi suất mới lĩnh cuối kỳ 6 tháng lên 8.11%/năm.92 lên 8. theo đó tăng lãi suất là một công cụ hiệu quả để hút vốn về phía mình.0. Nghịch lý trong hợp lý Những diễn biến trên có vẻ trái với những yếu tố đang hỗ trợ cho khả năng bình ổn lãi suất trên thị trường.76%. tạo nên một áp lực cạnh tranh mới với những sắc thái mới. với sự tham gia của một loạt ngân hàng cổ phần. Lãi suất VND kỳ hạn 1 tháng. Thậm chí trong lần trò chuyện với báo chí.. hoặc quy mô vốn và thương hiệu chưa thực sự mạnh..35%/năm.68%/năm. lạm phát có dấu hiệu chững lại ở mức khả quan nhất trong ba năm qua. áp lực tăng lãi suất trên thị trường thế giới cũng giảm bớt. nhiều ngân hàng sẽ phải tăng!”. Thứ hai. nhưng lại đúng với yêu cầu hoạt động nội tại của các ngân hàng. có thể thấy phần lớn các ngân hàng tham gia là những gương mặt mới trên thị trường. trong đó tăng mạnh nhất là tiền gửi từ 50.68%. Nếu để ý.

. cầu vốn cho nền kinh tế lớn mà kênh chủ yếu vẫn là ngân hàng.. khẳng định rất ủng hộ việc nâng lãi suất cơ bản. Thứ tư. Còn với ngân hàng tham gia cuộc đua. Áp lực này có thể chỉ giảm tải trong 5 . dỡ bỏ trần huy động . có thâm niên. khi thị trường vốn phát triển mạnh mẽ hơn. mục tiêu tăng trưởng năm nay khá cao. nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.75% lên 12%? Nguyên thống đốc Ngân hàng nhà nước Cao Sĩ Khiêm. bên lề kỳ họp Quốc hội. thương hiệu lớn thường có khả năng cung vốn dồi dào. đại biểu Cao Sĩ Kiêm. Theo Minh Đức VnEconomy Lẽ ra phải nâng lãi suất cơ bản từ cuối năm 2007 Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: http://vnexpress. Do đó tăng lãi suất để giảm bớt lực kéo của thị trường chứng khoán là một hợp lý. lại không thể kéo dãn ra mãi. Những dấu hiệu vốn nước ngoài đổ vào thị trường này bước đầu cho thấy kỳ vọng đó có cơ sở. khả năng tự huy động vốn của các doanh nghiệp tốt hơn. lợi nhuận chủ yếu. Và kỳ vọng đó hiện thực đồng nghĩa với lượng tiền trong dân cư sẽ rời ngân hàng để đổ vào bất động sản. cũng mang tính lâu dài và kỳ vọng là thị trường bất động sản sẽ sôi động trở lại trong năm 2007. 1. thành viên Hội đồng tư vấn tiền tệ quốc gia.820.000 VNĐ Xe đạp tập SP .800.000 VNĐ Sáng 20/5.huy động của ngân hàng bị ảnh hưởng đáng kể.BF15W 1. khả năng hút vốn mạnh thì vẫn có thể “thảnh thơi” trong đợt khởi động này.000 VNĐ Bộ DVD tổng hợp các đoạn phim lên tinh .Ông bình luận thế nào về việc Ngân hàng nhà nước nâng lãi suất cơ bản từ 8. Những ngân hàng lớn. có thể sẽ có những cân nhắc khó khăn. > Lãi suất cơ bản VND lên 12%. phí mặt bằng tăng. Còn trước mắt. Lãi suất tăng trong bối cảnh này cũng là hợp lý. cả tiền điện.. Tuy nhiên. để đáp ứng vốn thì vẫn phải tăng huy động đầu vào từ lãi suất hấp dẫn. Đây cũng là sự chia sẻ mang tính lâu dài mà các ngân hàng phải đối mặt. trong khi chênh lệch lãi suất huy động và cho vay.7 năm nữa. những hợp lý trên chỉ gói gọn trong yêu cầu nội tại của mỗi ngân hàng. nước… cũng tăng.000 VNĐ Chảo chống dính Smart HJ09005-1/ 20cm 75.net/GL/Kinh-doanh/2008/05/3BA0271C/ Bộ nồi Crystal (TW07003) 665. chi phí công sở. khi mà tiền lương lao động tăng. Thứ năm.

mất tự do cho dân và doanh nghiệp.Là Chủ tịch hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hồng Khánh (ghi) DN kêu lên Chính phủ khó khăn về tỷ giá. Cụ thể là phải đổi mới công nghệ. Nhà nước về mặt vĩ mô khi cân đối cũng phải có chính sách hỗ trợ để một số mặt để doanh nghiệp có thể trụ vững. có thể phải chuyển sản xuất mặt hàng khác.Lạm phát lên thì lãi suất phải lên. kéo lãi suất dần xuống thì mọi người đều được hưởng. tránh phạm luật.900. Đó là con đường tất yếu. hệ quả là gây mất tự do cho các ngân hàng thương mại. biện pháp nâng lãi suất cơ bản là khả dĩ nhất. . ông đánh giá thế nào về tác động của việc nâng lãi suất cơ bản tới các doanh nghiệp? .000 VNĐ Hộp thả hình tháo ráp [VM111] 185. . bỏ lãi suất trần huy động thì sẽ không làm vón cục.000 VNĐ . có khả năng thực thi tốt và đảm bảo hài hòa các quyền lợi. tiếp tục để lãi suất cơ bản hơn 8%. khi ông làm Thống đốc Ngân hàng nhà nước.000 VNĐ Maxcare Max-555 60. nền kinh tế bị khựng lại. tê liệt thị trường. Ngân hàng nhà nước phải điều chỉnh ngay lãi suất cơ bản. . ngân hàng.Ông nhìn nhận thế nào trước ý kiến cho rằng ban hành lãi suất cơ bản có nghĩa là chưa tự do hóa lãi suất. Khi lạm phát thì phải rút tiền về rất nhanh và kèm theo đó phải nâng lãi suất.vn/kinhte/2008/03/773280/ Bộ nồi Crystal (TW07003) 665. Khi lãi suất cơ bản lên thì hai thị trường kia phải gánh chịu rất lớn và rất khó khăn.Trong điều kiện hiện nay nếu không ban hành lãi suất cơ bản thì còn không có tự do hơn nhiều. dân không gửi. đi ngược lại chủ trương của Đảng? . Áp dụng biện pháp cũ này trong tình hình mới thì có còn hợp lý? . muốn thực hiện lãi suất dương thì phải nâng lãi suất tiền gửi. Khi lạm phát cao. Trong bối cảnh hiện nay. Mặt khác.. doanh nghiệp và dân cũng phải chịu. doanh nghiệp không có vốn vay. thì Ngân hàng nhà nước và ngân hàng thương mại đều phạm luật. trong khi lãi suất cho vay lên tới 19%.000 VNĐ Tủ lạnh ôtô MOBICOOL T08 DC 1.Nguồn vốn đổ vào bất động sản và chứng khoán là vốn tín dụng chiếm phần quan trọng. bỏ đi những gì khiếm khuyết. các giải pháp thành công. cần tính toán một cách chặt chẽ. Tất cả phải chấp nhận gồng lên chia sẻ trách nhiệm. Về phía doanh nghiệp. mọi người phải chịu. chờ thời cơ phát triển. Như vừa qua chúng ta quy định lãi suất trần.Thị trường bất động sản và chứng khoán sẽ chịu tác động thế nào từ việc nâng lãi suất cơ bản? . .Nguyên tắc thị trường và những hoạt động tiền tệ có quy luật của nó. Vừa qua mình quy định lãi suất trần khống chế làm ngân hàng thương mại không huy động được vốn. giống như ta đói thì phải ăn cơm.Tôi hoàn toàn ủng hộ việc nâng lãi suất cơ bản. thậm chí phải teo lại để trụ vững. áp dụng ngay những gì có thể sinh lời hoặc có yếu tố cạnh tranh. lãi suất Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: http://vietnamnet. vượt 200-250%. Đáng lẽ cuối năm ngoái khi lãi suất dâng lên.Nâng lãi suất cơ bản đến 12% thì tương tự thời kỳ năm 1987-1988. Chỉ khi nào nền kinh tế ổn định.

Đồng USD tiếp tục mất giá. hỗ trợ DN xuất khẩu.. Bộ Công thương đã có cuộc gặp gỡ để tổng hợp ý kiến các Hiệp hội ngành hàng phía Bắc về các giải pháp và hình thức hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh hàng xuất khẩu.. Nhiều DN lo ngại. . Được biết. nếu tình trạng này kéo dài. lãi suất cao. khan hiếm tiền đồng khiến việc vay vốn khó khăn. Để tháo gỡ những khó khăn. đang đẩy DN xuất khẩu vào hoàn cảnh khó khăn bị dồn nén từ nhiều phía.. một cuộc gặp gỡ với DN và đại diện DN ở phía Nam cũng sẽ được tổ chức vào chiều mai 14/3/2008 ở TP Hồ Chí Minh về vấn đề này. mục tiêu xuất khẩu năm 2007 có khả năng bị ảnh hưởng.

đại diện Hiệp hội Cà phê ca cao cho biết.DN xuất khẩu mong ngân hàng đừng ép giá khi mua USD và tăng cường cho vay xuất khẩu. hai vấn đề nóng nhất mà các DN quan tâm là giá đồng USD ngày càng giảm so với VND. DN muốn bán USD để trả lương công nhân. có DN đã phải vay vốn tín dụng qua đêm lên tới 4%/tháng. một đồng USD so với trước đây DN đã mất mấy trăm VND. lô hàng càng lớn thì nguyên liệu đầu vào là nhập khẩu hay thu gom trong nước đều chịu cảnh giá cả đầu vào lên cao. . hiện nay. việc bán USD cho các ngân hàng cũng khó khăn do tình trạng • Khó bán USD. nếu tình trạng này kéo dài thì hiệu quả kinh doanh sẽ bị ảnh hưởng. hiện tại. nhiều DN đã ví mình đang bị dồn nén từ cả hai đầu. khiến cho DN thiệt thòi trong xuất khẩu. TIN LIÊN QUAN Trong hoàn cảnh đó. Một vấn đề khác mà các DN bức xúc là lãi suất đang lên quá cao. mếu dở" mà chuyện mua vào. Đại diện các DN và hiệp hội cho biết. đồng USD xuống giá. DN thuỷ sản kêu cứu dư thừa ngoại tệ. doanh nghiệp "khóc dở. thậm chí mục tiêu xuất khẩu của từng DN và ngành hàng có thể bị tác động không tốt. thu USD về thì tỷ giá lại xuống thấp. ngân hàng không mặn • Ứ đọng USD. DN xuất khẩu thu USD về nhưng càng có nhiều USD lại càng lo. Thứ nhất là. Với mức lãi suất này của doanh nghiệp xuất khẩu hiện nay là cứ sản xuất là lỗ. tiếp tục mua nguyên liệu sản xuất thì phải chấp • Nới rộng biên độ tỷ giá lên 1% nhận một mức giá thỏa thuận thấp hơn cả biên độ dao động của quy định. (Ảnh: Phước Hà) Tại cuộc gặp. Trong khi đó. xem lại cách sử dụng ngoại tệ • Thiệt đơn thiệt kép vì USD. Bên cạnh đó.

Có thể Chính phủ nên chỉ đạo các ngân hàng quốc doanh thực hiện lãi suất ở mức hợp lý đối với các hợp đồng vay hàng xuất khẩu. sẽ đề xuất giải quyết các vấn đề bức xúc nhất là điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ hợp lý để DN xuất khẩu có lãi trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Thứ trưởng Bộ Công thương.aspx? .Ngân hàng không mặn mà chuyện mua vào USD. Trước đó. Bùi Xuân Khu cho biết. Mức lãi suất này thì làm gì có lãi. sẽ tập hợp ý kiến đề xuất Thủ tướng tìm biện pháp hỗ trợ DN xuất khẩu. Trao đổi với các DN. Bộ Công thương và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã gặp gỡ nhau bàn các biện pháp để giải quyết những bức xúc trên đây của DN. (Nguồn ảnh: VNN) Các DN phản ánh. Được biết. thậm chí có doanh nghiệp còn vay vốn tín dụng qua đêm với 4%/tháng. Được biết. Trước mắt.tienphong. DN cố làm để hoàn thành hợp đồng và giữ uy tín với khách hàng. cũng như việc có biện pháp để tăng cho vay xuất khẩu. NHNN cũng cần có biện pháp xử lý các ngân hàng thương mại mua bán ngoại tệ thấp hơn mức tỷ giá công bố của NHNN… • Phước Hà Năm 2008. đề nghị các ngân hàng tăng cường cho vay xuất khẩu nhiều hơn. Trong khoảng một tuần nay. lãi suất đi theo hướng nào? Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: ArticleID=106984&ChannelID=3 http://www. trong ngày 14/3. có những doanh nghiệp phải chấp nhận mức lãi 16%/năm.vn/Tianyon/Index. Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Thành Biên sẽ có một cuộc họp quan trọng với các DN và Hiệp hội ngành hàng phía Nam về các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu. về phía Bộ Công thương đã kiến nghị NHNN yêu cầu và có biện pháp hỗ trợ các ngân hàng thương mại mua toàn bộ ngoại tệ mà các doanh nghiệp thu được từ xuất khẩu theo tỷ giá Nhà nước công bố. vốn vay tín dụng đang lên quá cao với mức 14%/năm.

cho rằng để đảm bảo an toàn. Ông Lê Xuân Nghĩa. Ông Hồ Hữu Hạnh. Nhiều đơn vị dư vốn đành phải hạ lãi suất để từ chối bớt tiền gửi. so với mục tiêu ban đầu thu hút 2. Có siết cho vay bất động sản? Các chuyên gia NH dự báo mặt bằng lãi suất vẫn đứng ở mức cao hoặc tăng nhẹ trong tháng 1-2008 khi nhu cầu vốn từ các doanh nghiệp vẫn cao cho kỳ kinh doanh Tết Nguyên đán. Sang tháng tám. chỉ từ giữa tháng mười hai đến nay đã thu hút trên 800 tỉ đồng tiền gửi. Lãi suất “nóng. đặc biệt những NH có qui mô còn nhỏ. xác nhận NH Nhà nước đang rà soát việc cho vay BĐS của các NH và xem xét lại tỉ lệ trích lập rủi ro cho vay BĐS. Đó là vào tháng hai. Hiện nay.000 VNĐ Năm 2008. giám đốc NH Nhà nước chi nhánh TP. lạnh” theo chứng khoán Giao dịch tại acombank Thị trường tín dụng năm 2007 có ba mốc đáng nhớ. Chẳng hạn.000 VNĐ Maxcare Max-555 60. các công ty niêm yết và những nhà đầu tư cá nhân chùn chân. Trong khi đó. “hè nhau” đem gửi tiền NH. dự báo cuộc đua tăng lãi suất giữa các ngân hàng (NH) sẽ được tăng tốc mạnh mẽ. trong các NH đã có sự lo ngại NH Nhà nước sẽ kiểm soát cho vay bất động sản (BĐS) sau khi kềm cặp cho vay chứng khoán. Đến tháng mười một. ở NH Eximbank. thực tế cho thấy ở một số NH cổ phần.000 VNĐ Bộ nồi Crystal (TW07003) 665. cho vay BĐS chiếm khoảng 10% tổng dư nợ của NH là “chấp nhận được”. Các công ty chứng khoán. nhiều người dân rút tiền tiết kiệm để đổ vào chứng khoán. sau khi tung ra chương trình khuyến mãi trúng vàng. Các NH thương mại ngầm hiểu NH Nhà nước không muốn mặt bằng lãi suất biến động mạnh để có thể tiếp tục kiểm soát lạm phát. thị trường chuyển biến theo hướng ngược lại khi thị trường chứng khoán trở nên trầm lắng. Tuy nhiên. Thay vì tăng lãi suất liên tục sẽ phá vỡ cam kết thực hiện lãi suất thỏa thuận trong Hiệp hội NH VN.000 tỉ đồng trong vòng ba tháng. NH Nhà nước vừa công bố mức lãi suất cơ bản đồng VN áp dụng trong tháng 1-2008 là 8. TP. lãi suất nhích lên trở lại khi các NH cần vốn ngắn hạn để cho doanh nghiệp vay vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh vào cuối năm. Khi đó. tỉ lệ cho vay BĐS đã vượt 20% tổng dư nợ.000 VNĐ Hộp thả hình tháo ráp [VM111] 185. buộc các NH phải tăng lãi suất để giữ chân khách hàng và cạnh tranh với kênh đầu tư chứng khoán. không đổi kể từ tháng 12-2005 đến nay. vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển NH Nhà nước. đã có những dấu hiệu cho thấy NH Nhà nước muốn ghìm cuộc đua này lại.Chảo chống dính Smart HJ09005-1/ 20cm 75. các NH tung ra nhiều chiêu khuyến mãi để tăng nhanh vốn huy động.HCM -Ảnh: Thanh Đạm các NH đồng loạt tăng lãi suất VND do thị trường chứng khoán “bốc hỏa”.HCM. Khó chấp nhận biện pháp hành chính .25%/năm.

sẽ khó lòng tìm được sự ủng hộ của thị trường nói chung và các NH nói riêng nếu NH Nhà nước siết cho vay BĐS thông qua việc đưa ra một tỉ lệ khống chế cho vay BĐS đối với một NH.vn/kinhdoanh/Vi-sao-lai-suat-USD- Xe đạp tập SP . mà đối tượng khách hàng này chỉ có hai sản phẩm chính là cho vay BĐS và cho vay tiêu dùng.vip DanTri.000 VNĐ Maxcare Max-555 60.com. đặc biệt là thời gian gần đây vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào BĐS là rất lớn. tăng trưởng kinh tế có phần đóng góp rất lớn từ thị trường BĐS. Các chuyên gia cho rằng có thể kiểm soát cho vay BĐS thông qua việc xét lại tỉ lệ trích dự phòng rủi ro cao hơn đối với tín dụng BĐS. Ngân hàng Á châu (ACB)… và cả thành viên của khối . Theo Như Hằng Tuổi trẻ Vì sao lãi suất USD tăng?Cập nhật: 03/05/2007 .000 VNĐ Thảm 2 mặt Pororo 01 2. Hơn nữa. Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank). BĐS có liên quan đến nhiều ngành kinh tế khác.Tuy nhiên.800. nguồn vốn của NH không còn lối ra.Nguồn: Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: tang/2007/5/177343.820. Vì vậy sẽ là “tai hại” nếu NH Nhà nước lại có thêm một “chỉ thị 03” áp dụng cho BĐS. Ngân hàng Quân đội (MB). Theo ông. tuy nhiên thay vì những cuộc đua trước đó đây là nhu cầu nội tại. Điểm đáng chú ý trong diễn biến lãi suất USD từ đầu năm đến nay là vẻ “điềm đạm” khác với sự căng thẳng ở thời điểm cùng kỳ những năm trước. Nhưng với BĐS cho dù giảm giá đến thế nào thì nhà cửa thế chấp vẫn còn đó.000 VNĐ Tủ lạnh ôtô MOBICOOL T08 DC 1. chắc chắn mặt bằng lãi suất sẽ hạ xuống. lãnh đạo một NH cho rằng nếu NH Nhà nước đưa ra một tỉ lệ nào đó để áp đặt các NH như chỉ thị 03 nhằm kiểm soát cho vay chứng khoán thì rất khó cho các NH.com. Theo các NH. thậm chí làm thay và can thiệp quá sâu vào hoạt động của NH thương mại. Sự nối tiếp diễn ra đồng loạt ở khối ngân hàng cổ phần với sự tham gia của Ngân hàng Quốc tế (VIB Bank). Từ giữa tháng 3/2007. Biện pháp này mang tính hành chính.000 VNĐ Lãi suất USD của các ngân hàng vừa có sự điều chỉnh đồng loạt. Việc này không ảnh hưởng lớn đến thị trường như đã làm với chỉ thị về cho vay chứng khoán. Ngân hàng Đông Nam Á (SeABank) là những cái tên đầu tiên được nhắc đến trong đợt điều chỉnh này. NH cổ phần chỉ có cách xoay qua cạnh tranh giành khách hàng cá nhân.BF15W 1. “Nếu NH Nhà nước siết cho vay BĐS.900. hiện nay các NH quốc doanh đang chiếm thị phần lớn đối với khách hàng công ty.05:24 . lãi suất USD trên thị trường bắt đầu có sự điều chỉnh mang tính khởi động.vn http://dantri.

Về đợt điều chỉnh này. Ngoài ra. đặc biệt là vì mục đích đáp ứng nhu cầu vay của doanh nghiệp. đặc biệt là các doanh nghiệp nhập khẩu. từ 5 . Với mặt bằng mới. theo hướng tăng của đồng nội tệ. tích cực ở hướng hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp trong nước. Tất nhiên. Và phải đến tháng 3.05%/năm kỳ hạn 12 tháng. những nguồn cung trên đã tác động đến tỷ giá hồi đầu năm. chênh lệch lãi suất trong nước với thế giới đã được rút ngắn đáng kể. khi mà nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu bước vào mùa cao điểm. MB hay SeABank. Vì sao có sự “điềm đạm” đó? Trước hết có một nguyên nhân xuất phát từ ảnh hưởng của thị trường chứng khoán. đến thời điểm này. Lý do thứ hai được đưa ra là để đảm bảo nguồn cung ngoại tệ cho nhu cầu vay. Ông Đặng Bảo Khánh. tính chất nóng sốt của những cuộc đua diễn ra từ cuối năm 2003 đến năm 2006 không còn diễn ra gay gắt. cá biệt lên tới 5. dù con số đó chưa có báo cáo kiểm chứng) như một nguồn cung ngoại tệ dồi dào. Phải chăng. có một điểm đáng chú ý liên quan đến . Qua đợt điều chỉnh. xoa dịu áp lực tăng lãi suất. Trên thực tế.5. lãi suất tăng.25% theo lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) vẫn là một chốt chặn trong thỏa thuận của các ngân hàng. có sự thay đổi trong nguồn cung trên thị trường? Trong các lý giải về quyết định điều chỉnh lãi suất của mình. chênh lệch lãi suất với thị trường thế giới bị rút ngắn. trong khi nguồn cung ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng không đủ đáp ứng (theo nhận định của Techcombank). không loại trừ khả năng một số ngân hàng mới chuyển đổi sẽ mạnh tay đua để hút khách hàng về mình. Cũng trong nguyên nhân nguồn cung ngoại tệ. Điểm đáng chú ý trong diễn biến lãi suất USD từ đầu năm đến nay là vẻ “điềm đạm” khác với sự căng thẳng ở thời điểm cùng kỳ những năm trước. cho rằng quyết định tăng lãi suất USD vừa qua là phù hợp với diễn biến của thị trường. Con số 4 tỷ USD vốn ngoại xếp hàng chờ đổi qua VND để đổ vào thị trường chứng khoán được nhắc đến (có cả trong phát ngôn của một nhà quản lý thị trường. lãi suất USD đã và đang tăng phổ biến. Techcombank… đều đề cập đến một ý nghĩa là tăng quyền lợi cho khách hàng của mình. bởi nguyên nhân chính của đợt điều chỉnh xuất phát từ yêu cầu nội tại của hầu hết các ngân hàng. áp lực tăng lãi suất mới thực sự bộc lộ và sự vào cuộc của các ngân hàng mới phổ biến hơn. Nhu cầu vay ngoại tệ cao. Đây là lý do cơ bản và là yêu cầu nội tại của hầu hết các ngân hàng hiện nay. Giám đốc Trung tâm Thanh toán và Ngân hàng đại lý Techcombank. lượng ngoại tệ từ kiều hối tăng mạnh đầu năm cũng là một nguồn cung thuận lợi.quốc doanh là Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank). lãi suất huy động USD trên thị trường đã định hình một mặt bằng mới. nhưng mốc 5.25%/năm kỳ hạn 24 tháng. Tuy nhiên. theo đó hoạt động chuyển ngoại tệ ra gửi ở nước ngoài hưởng chênh lãi như trước đây phần lớn bị loại trừ. Lý giải này mang tính xã giao nhưng rất thực tế trong cuộc cạnh tranh giữ chân khách hàng gửi tiền giữa các ngân hàng thương mại. Đây cũng là một tín hiệu tích cực trong đợt điều chỉnh này.

thay vì tìm đến ngân hàng để hưởng lãi hàng tháng. dù không có thống kê cụ thể như chắc chắn là rất lớn. tỉ giá USD/VNĐ do Vietcombank TPHCM công bố đứng ở mức 16.vip http://dantri.vn Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: huong-nao/2007/3/172749. ACB. Nhưng có một điểm có thể khẳng định là nguồn vốn huy động theo kênh này vẫn hạn chế khi mà đồng vốn của doanh nghiệp thường năng động tìm những hướng đầu tư thu lợi cao hơn.Nguồn: DanTri.000 VNĐ Thị trường tiền tệ đang đón nhận hai luồng thông tin trái chiều: một bên cho rằng các ngân hàng (NH) sắp có một đợt tăng lãi suất mới.900. chi trả lợi nhuận… Nguồn cung USD trên thị trường có thêm một lực hút mạnh.000 VNĐ Maxcare Max-555 60. Thời điểm lãi suất USD bắt đầu tăng cũng trùng hợp “ngẫu nhiên” với xu hướng bán ra của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán. Còn các ông chủ nhà băng nói gì? Chưa đáng kể Chứng khoán có "hút" tiền tiết kiệm nhưng không nhiều.sự dịch chuyển của các dòng vốn trên thị trường chứng khoán.vn/kinhdoanh/Lai-suat-ngan-hang-theo- Tủ lạnh ôtô MOBICOOL T08 DC 1.05:47 . được quy đổi sang USD để hạch toán lợi nhuận.com. doanh nghiệp vào ngân hàng. Tính chung cả tuần qua. Có một câu hỏi được đặt ra trong đợt điều chỉnh này. gần như không tăng so với những ngày trước. cả tỉ giá chính thức do NH Nhà nước . Theo Minh Đức VnEconomy Lãi suất ngân hàng theo hướng nào?Cập nhật: 30/03/2007 . hiệu quả cơ chế mới còn chờ kiểm chứng.022 đồng ăn 1 USD. Như vậy xét bình quân trong tháng ba. Incombank… cũng đã lần lượt nâng lãi suất USD đối với tiền gửi của tổ chức. tỉ giá được giao dịch ổn định quanh mức 16.com. doanh nghiệp theo cơ chế mới. bên kia thì nhận định lãi suất đang có chiều hướng giảm.015. thực hiện từ 1/3/2007.000 VNĐ Bộ nồi Crystal (TW07003) 665.000 VNĐ Hộp thả hình tháo ráp [VM111] 185. các ngân hàng như MB. Mới triển khai. Ngày 29/3. Lượng tiền họ thu về. đó là tại sao lãi suất tăng khi mà các ngân hàng vừa có được một cơ chế hút ngoại tệ rất thuận lợi? Đó là chủ trương “cởi trói” lãi suất USD đối với tiền gửi của tổ chức. Trên thực tế.

nhưng số tiền này cũng được đưa trở lại vào hệ thống NH vì các công ty chứng khoán không giữ tiền.000 tỉ đồng ra khỏi nền kinh tế thông qua việc mua bán giấy tờ có giá và đấu thầu trái phiếu. Theo người này. “Việc này chỉ diễn ra đây đó.đại diện một NH nước ngoài nhận định. theo lẽ thường.7%/tháng thì nay chỉ phải trả 0. nếu sự cân bằng này được duy trì” . Báo cáo của Tổng cục Thống kê cho thấy giá cả tổng thể trong tháng này sẽ giảm 0.22% so với tháng hai. do đó lãi suất cho vay cũng tăng theo. Thế nhưng từ tháng ba. Các NH lý giải việc tiền đồng tăng giá trong hai tháng đầu năm vì các nhà đầu tư nước ngoài liên tục bán USD để lấy tiền đồng đầu tư vào chứng khoán.bán USD hiện nay có thể nói là cân bằng.phó tổng giám đốc một NH cổ phần nhận định. bất động sản. cung vốn tiền đồng tại NH rất dồi dào cũng còn do các công ty cổ phần nhân lúc giá cổ phiếu ở mức cao đã phát hành cổ phiếu để huy động vốn nhưng chưa sử dụng hết.6-0. cục bộ. như vậy buộc các NH phải nâng lãi suất lên. NH Nhà nước đã giải quyết việc thừa vốn tại các NH và giảm bớt sức ép lên lạm phát. Doanh nghiệp tìm vốn ở chứng khoán Theo các NH. Theo các NH. nơi này đã rút khoảng 12. việc người dân rút tiết kiệm tiền đồng để đầu tư vào CK đang diễn ra nhưng chưa phải là một trào lưu. các NH phải trả lãi suất 0. có thiếu vốn đâu mà phải tăng lãi suất” . “Đúng là người dân ít gửi tiết kiệm nhưng chúng tôi vẫn đang thừa vốn ngắn hạn do các nhà đầu tư trong nước lẫn nước ngoài vẫn để tiền trong tài khoản chờ đầu tư. sau khi tăng khoảng 0. chứ không còn thiên về bán như trước nữa.5%. “Giao dịch mua .trưởng phòng tín dụng của một NH cho biết. đang hút vốn như hiện nay thì các NH sẽ tính chuyện tăng lãi suất huy động để thu hút khách hàng và giữ nguồn vốn không bị chảy ra ngoài. Chỉ khác đi là thay vì đó là tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Tuy nhiên. Tuần trước. Thống đốc NH Nhà nước Lê Đức Thúy cũng thừa nhận việc người dân rút tiền chơi chứng khoán có thể ảnh hưởng đến NH ở chỗ vốn NH huy động không đủ cho nhu cầu kinh tế thì nhất định phải có sự tranh chấp về vốn.. Từ đó có thể nói tỉ giá sẽ tiếp tục ổn định. Một NH nước ngoài cũng nhận định việc thừa cung vốn có thể kéo dài đến hết . các chuyên gia tài chính cho rằng các NH đang ở trong một trạng thái đặc biệt khiến khả năng tăng lãi suất sẽ khó có thể xảy ra trong một vài tháng tới. theo đúng với mục tiêu của Chính phủ là giữ lạm phát ở mức dưới mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8. Bộ Tài chính nhắm đến việc duy trì lạm phát trong năm 2007 thấp hơn 7%. nhu cầu USD bắt đầu tăng trên thị trường nội địa khi nhiều nhà đầu tư nước ngoài bán ra các cổ phiếu và trái phiếu để chuyển lợi nhuận về nước và chuẩn bị cho một chu kỳ kinh doanh mới. khi các kênh đầu tư khác như thị trường chứng khoán. làm chỉ số giá cả tiêu dùng (CPI) trong ba tháng đầu năm đạt 3%.. tạm thời gửi ở NH.công bố hằng ngày lẫn tỉ giá giao dịch thực tế ở các NH cho thấy tiền đồng đứng giá so với USD.3% trong hai tháng đầu năm.25%/tháng cho khoản tiền gửi không kỳ hạn nằm chờ trong tài khoản ở các công ty chứng khoán” .

định hướng về phát triển NHNN theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X.33%/tháng .so với mức lãi suất huy động một tháng từ người dân của các NH là khoảng 0. nên cần có hệ thống văn bản pháp luật ngân hàng đồng bộ. vai trò của các ngân hàng trung ương đã có sự thay đổi rất lớn nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. thẩm quyền của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là Ngân hàng trung ương và các cơ quan liên quan trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ. Lãi suất trên thị trường liên NH đang thấp như vậy chắc chắn sẽ kéo mặt bằng lãi suất huy động của các NH đi xuống” . Tại Việt Nam. khắc phục được những hạn chế. Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12. Quan điểm chỉ đạo cơ bản của việc sửa đổi. có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 và thay thế Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997/QH10 và Luật sửa đổi. đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế. Trong phạm vi bài viết này xin giới thiệu một số điểm mới quan trọng của Luật NHNN Việt Nam 2010. chính sách của Đảng và Nhà nước.trưởng phòng vốn và kinh doanh tiền tệ của một NH khẳng định. bất cập của những quy định hiện hành. tại kỳ họp thứ 7. Luật NHNN Việt Nam số 46/2010/QH12 có nhiều nội dung thay đổi. bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 10/2003/QH11. thống nhất. chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tổ chức và hoạt động của NHNN. bổ sung Luật NHNN Luật NHNN phải thể chế hóa được quan điểm. tạo cơ sở pháp lý để thể chế hoá các chủ trương.6%/tháng). sửa đổi so với Luật NHNN Việt Nam năm 1997 và Luật sửa đổi. đồng thời tạo điều kiện đẩy nhanh cải cách. sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của hệ thống tài chính nói riêng đã đặt ra yêu cầu có quy định cụ thể hơn về trách nhiệm. chính sách và định hướng đổi mới của Đảng và Nhà nước về hoạt động ngân hàng nói chung và NHNN nói riêng đã được ban hành. nhiều văn bản mới đã được ban hành trong thời gian qua. bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật Việt Nam và sự hài hòa giữa các quy định của pháp luật liên quan nhưng vẫn . thậm chí có NH quốc doanh đã cung cấp nguồn vốn kỳ hạn một tháng cho các NH bạn chỉ ở mức 4%/năm (0. Theo Như Hằng Báo Tuổi trẻ Những điểm mới quan trọng trong Luật NHNN Việt Nam 2010 Trong những năm gần đây. một phần cũng vì do chậm trễ giải ngân cho chi tiêu Chính phủ tới tháng năm. từng bước thực hiện được mục tiêu. dẫn đến yêu cầu cấp thiết trong việc mở rộng vai trò của các ngân hàng trung ương nhằm đảm bảo ổn định hệ thống tài chính và giám sát rủi ro hệ thống hiệu quả. thể hiện được tính đặc thù của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 cũng đã tác động mạnh mẽ tới việc điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng trung ương. Ngày 16/6/2010. đổi mới về tổ chức và hoạt động của NHNN. phù hợp với thể chế chính trị của Việt Nam. Luật NHNN 2010 kế thừa và phát huy những ưu điểm. Đồng thời. nhiều chủ trương. những quy định vẫn còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. bổ sung năm 2003.quí 2. “Lãi suất trên thị trường liên NH đang xuống rất thấp. Bên cạnh đó.

bổ sung. Phát hành tiền. Trong đó. Về thẩm quyền quyết định chính sách tiền tệ quốc gia. chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.tôn trọng đặc thù của NHNN. Chính phủ trình Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hàng năm. Cụ thể là: Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hàng năm được thể hiện thông qua việc quyết định chỉ số giá tiêu dùng và giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Thống đốc NHNN quyết định việc sử dụng các công cụ và biện pháp điều hành để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia theo quy định của Chính phủ. Luật cụ thể hóa được vai trò. Chính phủ. Chủ tịch nước thực hiện nhiệm vụ. dựa trên yêu cầu tăng cường tính hệ thống. bảo lãnh. nhiều nội dung trong mục này đã được điều chỉnh để thể hiện chính xác hơn các công cụ của chính sách tiền tệ. Bên cạnh đó. tính thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam. quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra. Hoạt động thông tin. vị trí của các cơ quan nhà nước trong việc quyết định và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia trên cơ sở phù hợp Hiến pháp. tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập quốc tế của nền kinh tế nước ta. việc sửa đổi Luật NHNN phải phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết và thông lệ. gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. nhằm tạo sự thống nhất chung trong hệ thống pháp luật. NHNN) đối với chính sách tiền tệ. tạm ứng cho ngân sách. Hoạt động thanh toán và ngân quỹ. Thẩm quyền cụ thể của NHNN trong việc thực thi chính sách tiền tệ Thống đốc NHNN quyết định việc sử dụng các công cụ tái cấp vốn. báo cáo. Theo quy định của Luật NHNN VN 2010. ký kết. Theo đó. Quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối. Riêng đối với công cụ dự trữ bắt buộc. bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát. phù hợp với các luật có liên quan. Cho vay. bảo đảm sự thống nhất giữa các đạo luật mới được ban hành với những nội dung sửa đổi. NHNN có 6 lĩnh vực hoạt động nghiệp vụ chủ yếu gồm: Thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. tỷ giá hối . Trong Luật NHNN vừa được thông qua. Luật quy định rõ thẩm quyền của Thống đốc NHNN trong việc quyết định sử dụng công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Thủ tướng Chính phủ. quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật quy định trong việc đàm phán. thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia là một trong những lĩnh vực hoạt động quan trọng nhất của NHNN. đồng thời nâng cao thẩm quyền của NHNN trong việc trả lãi đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc. Luật NHNN 2010 tạo cơ sở pháp lý để nâng cao một bước trách nhiệm. lãi suất. Cuối cùng. Luật Tổ chức Chính phủ. chuẩn mực quốc tế về ngân hàng. Những nội dung mới của Luật NHNN Đối với việc hoạch định và thực thi Chính sách tiền tệ Luật quy định rõ khái niệm chính sách tiền tệ quốc gia để làm cơ sở xây dựng thẩm quyền của các cơ quan (Quốc hội. thẩm quyền và tính chủ động của NHNN trong việc sử dụng các công cụ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ cũng như giám sát an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng. Luật bỏ quy định về giới hạn tỷ lệ dữ trữ bắt buộc từ 0% đến 20% để bảo đảm sự linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN.

kể cả các hoạt động thông qua các công ty con của các TCTD. trường hợp có sự khác nhau giữa quy định về thanh tra. giám sát hoạt động. giám sát ngân hàng. nghiệp vụ thị trường mở để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Cụ thể. Trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường. giám sát an toàn hoạt động ngân hàng như sau: Thanh tra. giám sát ngân hàng. pháp luật về tiền tệ và ngân hàng với thanh tra. NHNN quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các TCTD với nhau và với khách hàng. nhiệm vụ của NHNN trên lĩnh vực thanh tra. theo dõi. giám sát việc chấp hành chính sách. Thẩm quyền của NHNN trong việc can thiệp. giám sát ngân hàng của Luật NHNN với quy định của luật khác thì thực hiện theo quy định của Luật NHNN. Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước… Đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để NHNN thay đổi nội hàm lãi suất cơ bản theo hướng lãi suất cơ bản không phải là cơ sở để các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh mà làm cơ sở cho việc phòng. các quan hệ tín dụng khác. dự báo và phân tích kết quả thực hiện cán cân thanh toán quốc tế. Luật quy định theo hướng khẳng định thẩm quyền của NHNN trong toàn bộ quá trình giám sát an toàn hoạt động của TCTD từ khâu cấp phép. giám sát an toàn hoạt động ngân hàng: Luật quy định việc thanh tra. Về công cụ lãi suất. hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng… Vai trò. Lao động. Về nguyên tắc thực hiện thanh tra. nhiệm vụ của NHNN.đoái. can thiệp khi phát sinh khó khăn và chủ động xử lý khi có nguy cơ đổ vỡ. NHNN tham gia với Bộ Tài chính về việc phát hành trái phiếu chính phủ. xử lý sớm các TCTD đã được quy định cụ thể hơn nhằm ngăn chặn kịp thời những khả năng đổ vỡ. Bên cạnh đó. Bên cạnh đó. vừa đảm bảo để NHNN điều hành. Theo quy định của Luật này. chống cho vay nặng lãi trong nền kinh tế. các quy định của Luật NHNN khẳng định sự khác biệt về bản chất giữa thanh tra. Thống đốc NHNN có quyền thành lập các ban. Luật mở rộng phạm vi giám sát đối với toàn bộ hoạt động của một TCTD. cụ thể: NHNN có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp xử lý đặc biệt đối với TCTD vi phạm nghiêm . giám sát rủi ro trong hoạt động của đối tượng thanh tra. NHNN tổ chức hệ thống thống kê. xây dựng quy chế an toàn. Thống đốc NHNN quy định trình tự. thủ tục thanh tra. Luật đã quy định lãi suất điều hành chính sách tiền tệ và lãi suất cơ bản để chống cho vay nặng lãi. Thẩm quyền của NHNN trong thực thi chính sách tiền tệ nhằm ổn định giá trị đồng tiền đã được nâng cao hơn . vừa có cơ sở để áp dụng quy định của các luật liên quan như Luật Dân sự. cơ chế điều hành tỷ giá. Hoạt động của NHNN được qui định rộng hơn trong trường hợp cho vay đặc biệt đảm bảo có thể can thiệp sớm hơn. Hình sự. giám sát cũng được điều chỉnh để tăng cường thẩm quyền trong việc xử lý rủi ro của TCTD. dự báo về tiền tệ và ngân hàng. chủ trì lập. trái phiếu do Chính phủ bảo lãnh. hội đồng tư vấn về các vấn đề liên quan đến chức năng. giám sát an toàn hoạt động ngân hàng với thanh tra hành chính thông thường thông qua việc đưa ra nguyên tắc cho hoạt động thanh tra. giám sát ngân hàng là sự kết hợp thanh tra. thực thi chính sách tiền tệ. NHNN quyết định chế độ tỷ giá. dự trữ bắt buộc. giám sát ngân hàng được thực hiện theo quy định của Luật NHNN và các quy định khác của pháp luật có liên quan. công khai thông tin về tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo qui định của pháp luật. theo dõi.

nhiệm vụ của NHNN trong quá trình hội nhập kinh tế. Theo đó về nguyên tắc Kho bạc Nhà nước phải mở tài khoản tại NHNN. đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng. Trong một bài phỏng vấn báo chí. Thẩm quyền quản lý nhà nước đối với bảo hiểm tiền gửi: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi gắn chặt với hoạt động ngân hàng và khách hàng gửi tiền tại TCTD. Đây là nội dung mới. Đối với việc mở tài khoản của Kho bạc Nhà nước: Nhằm mục tiêu bảo đảm NHNN luôn có được đầy đủ. hợp nhất. Về nội dung góp vốn thành lập doanh nghiệp: Luật có quy định cho phép NHNN được sử dụng vốn pháp định để góp vốn thành lập doanh nghiệp đặc thù nhằm thực hiện chức năng. số liệu cho NHNN. thị xã. nhiệm vụ của NHNN. thành phố thuộc tỉnh không có chi nhánh của NHNN. nhiệm vụ của NHNN theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. gặp khó khăn về tài chính. có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng. để đảm bảo kỷ luật trong hoạt động ngân hàng. đánh giá diễn biến thị trường và đưa ra các quyết định.trọng các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng. Luật đã có quy định mang tính nguyên tắc về thẩm quyền của NHNN đối với bảo hiểm tiền gửi: “Thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi” (khoản 14 Điều 4). Việc góp vốn thành lập doanh nghiệp nhằm thực thi một số chức năng. đình chỉ. Về tính minh bạch và trách nhiệm giải trình: Luật quy định rõ trách nhiệm giải trình. NHNN là một cơ quan quản lý tham gia tham mưu kinh tế vĩ mô nên nguồn thông tin là những dữ liệu rất quan trọng để NHNN xây dựng chính sách. người điều hành của TCTD. thực hiện nhiệm vụ. gồm mua cổ phần của TCTD. Chính phủ và công chúng. thị trường. đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt. tiếp cận gần hơn với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Để bảo đảm có cơ quan Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi. miễn nhiệm chức vụ người quản lý. việc thực hiện các giao dịch cho Kho bạc Nhà nước theo quy định của NHNN. chính xác số liệu về quan hệ tiền gửi và cho vay của NHNN đối với Ngân sách Nhà nước phục vụ công tác điều hành chính sách tiền tệ một cách chặt chẽ. Luật đã quy định cụ thể nghĩa vụ của các cá nhân. Việc Quốc hội ban hành Luật NHNN Việt Nam năm 2010 là một sự kiện quan trọng đánh dấu một bước phát triển mới trong việc hoàn thiện thể chế về tổ chức và hoạt động của NHNN theo cơ chế thị trường. thành phố trực thuộc trung ương. quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật về phá sản đối với TCTD. quan trọng trong hoạt động của Ngân hàng Trung ương nhằm minh bạch hoá. hiệu quả. Ở tỉnh. Bên cạnh đó. báo cáo của NHNN trước Quốc hội. quận. tạm đình chỉ. quyết định sáp nhập. huyện. không nhằm mục tiêu kinh doanh thu lợi nhuận (như thành lập Nhà máy in tiền quốc gia. tham gia góp vốn vào Công ty chuyển mạch thẻ quốc gia…). Ngoài ra. NHNN không tham gia góp vốn vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực khác ngoài chức năng nhiệm vụ của NHNN. các thể chế và thẩm quyền của NHNN đối với các TCTD đã được cụ thể hoá rất rõ trong Luật NHNN. tổ chức trong việc cung cấp thông tin. Luật có quy định liên quan đến việc mở tài khoản của Kho bạc Nhà nước tại NHNN. công khai hoá các quyết định trong điều hành của mình không những với cơ quan cấp trên mà còn với công chúng. Tiến sỹ Nguyễn Văn Giàu - . giải thể TCTD.

Mặc dù NHNN đang cố kìm hãm lạm phát thông qua hàng loạt công cụ tài chính. Có khả năng điểm đầu tiên của đợt bùng nổ cho vay khoảng tháng 6/2011. khi thị trường địa ốc phát triển thì nhu cầu cung ứng vốn tín dụng là tất yếu. việc điều chỉnh lãi suất là chuyện đương nhiên. Lý do thứ nhất. 17 April 2010 04:41 administrator Bài viết này phân tích việc các ngân hàng tăng lãi suất huy động và giảm lãi suất cho vay trong bối cảnh kinh tế dần phục hồi. Đây là nội dung quan trọng đã được thực tiễn chứng minh qua các cuộc khủng hoảng tài chính ở các nước vừa qua. xin phân tích 2 khía cạnh bao gồm tăng lãi suất huy động và giảm lãi suất cho vay. các ngân hàng tăng lãi suất huy động bởi dựa trên 2 lý do chính. Việc tăng huy động tiền gửi bằng cách tăng lãi suất huy động sẽ giúp các Ngân hàng Thương mại dự trữ sẵn lượng tiền cần thiết. cả hai lý do đều tìm kiếm được sự đồng thuận của NHNN. việc tăng lãi suất huy động là yếu tố làm giảm . một số dự án lớn đang rục rịch triển khai sau giai đoạn suy thoái báo trước nhu cầu vay bắt đầu tăng. nhiệm vụ của NHNN với tư cách là Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. qua đó khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa hai chức năng quan trọng của một Ngân hàng Trung ương: Thực thi chính sách tiền tệ và giám sát an toàn hoạt động của hệ thống các TCTD. và tất nhiên. nếu các ngân hàng thương mại không chuẩn bị cho lượng trữ tiền cần thiết sẽ dẫn đến không thể cung ứng vốn. nhưng công cụ chính vẫn là giảm cung tiền. Hai lý do này đều phục vụ trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn. Mặc dù trong ngắn hạn. Ngoài ra. đội ngũ cán bộ và cơ chế vận hành được thiết kế. và điều đó thì sẽ xảy ra ngay trong tương lai gần. thực hiện các chức năng về quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng. sau suy thoái thông thường là lạm phát. Theo đó. điều mà chúng ta quan tâm là tại sao các ngân hàng đang thực hiện một động thái “trái chiều” so với thời điểm tháng 03/2010? Lúc đó. Trong bài viết này. đồng thời xác định rõ các chức năng. giúp Ngân hàng Nhà nước thực hiện được chính sách của mình là giảm cung tiền để bình ổn giá cả và lạm phát. Thứ nhất.vn TẠI SAO NGÂN HÀNG GIẢM LÃI SUẤT CHO VAY VÀ TĂNG LÃI SUẤT HUY ĐỘNG? Saturday.gov.Thống đốc NHNN cho biết: “Cách thiết kế trong Luật NHNN 2010 đã thể hiện rõ hơn vị trí của NHNN là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ. xây dựng theo hướng đảm bảo thực hiện được đồng thời cả hai chức năng nói trên”.sbv. chủ thể hỗ trợ giảm cung tiền là các NHTM. cơ cấu tổ chức. MH – SN http://www. Tác giả bài viết này trình bày quan điểm phân tích tại thời điểm tháng 04/2010. thậm chí có nơi là 18% hoặc 20%. các ngân hàng đưa ra mức lãi cho vay thỏa thuận lên đến 16%. Một khi các dự án đi vào triển khai thì nhu cầu tiền sẽ tăng. sau khi được NHNN “bật đèn xanh” cho phép lãi suất cho vay thỏa thuận. Lý do thứ hai. Trước tình hình kinh tế đang có chiều hướng phục hồi như hiện nay. vì động thái điều chỉnh lãi suất cũng chẳng qua là một “sản phẩm” không thể thiếu của ngân hàng trước các biến động kinh tế. và tất nhiên. Tuy nhiên.

nhằm ổn .aspx?id=17865 ( Bình chọn: 1 -.SAGA. phải giảm lãi suất cho vay. không tác động tích cực đến “nhà giàu”. trước đây các Ngân hàng lấy mức 10. Tuỳ thuộc vào từng mục tiêu của chính sách tiền tệ.Trước những xáo trộn của thị trường tiền tệ.Thảo luận: 0 -. Tuy nhiên.Số lần đọc: 11491) www.quantritaichinh. bởi lẽ ngay cả ở mức cho vay thấp xuống như hiện nay thì vẫn không làm các “con cá mập” mặn mà cho lắm mà chỉ cố gắng chờ thời đến khi kinh tế phát triển hơn và cơ hội đầu tư xác định rõ hơn mới chấp nhận mức đó. yếu tố này làm cân bằng (tạm thời) cho các thị trường hi lãi suất huy động tăng lên! Nhận định : Động thái này được theo kiểu “một mũi tên bắn trúng hai con nhạn!”. việc duy trì lãi suất cho vay mức cao đã làm một số ngân hàng mất khách hàng tín dụng hiện tại và khách hàng tín dụng tiềm năng. các Ngân hàng Thương mại đang giảm lãi suất cho vay cũng dựa trên 2 lý do.php? option=com_content&view=article&id=204:nhtlshdglscv&catid=66:bltc Chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay 19/11/2009 09:24 AM http://www. có một điều kỳ lạ là. vì đứng ở các gốc độ khác nhau thì thái độ khác nhau. Chính sách lãi suất là một trong những công cụ chính của chính sách tiền tệ. các nhà quản khối Ngân hàng chắc sẽ còn nghĩ thêm nhiều loại sản phẩm để kinh doanh nào khác chăng! TS. thì nay không biết họ đang nghĩ gì với những con số ngày xưa?! Hay có thể. năm 2010 và 2011 là những năm mà tỷ suất lợi nhuận của các ngân hàng thương mại giảm xuống đáng kể ! Hoặc.phát triển thị trường địa ốc hay chứng khoán.vn/index. vấn đề là mục đích của động thái này hướng đến đối tượng nào trong nền kinh tế. Ấy nhưng. để đảm bảo tỷ suất lợi nhuận. một loạt các chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian qua đã và đang đem lại những kết quả tích cực.4% làm mức sàn cho vay với lý do như thế mới đảm bảo lợi nhuận. Cũng chính là mục tiêu kinh tế xã hội trong giai đoạn này vậy. Mức lãi suất tăng lên từ 4% đến 8% son với với trước đó (khoảng từ 16% đến 20%) làm nản lòng các nhà đầu tư nhỏ hoặc những khách hàng đang cần hỗ trợ của ngân hàng khi mua sắm nhà của hay trang thiết bị tiêu dùng. thu nhập không tăng nhanh đến thế! Và để kích cầu tín dụng. Ngân hàng Nhà nước áp dụng cơ chế điều hành lãi suất phù hợp. hiệu quả của chính sách này đang tác động tích cực đến “nhà nghèo”. Lý do thứ nhất là trong thời gian qua.4% (mức trần huy động) + 6% = 16. vì thực ra. việc giảm lãi suất cho vay là để duy trì khách hàng và cố gắng để phát huy khả năng đầu tư của các nhà đầu tư vào các lĩnh vực khác như chứng khoán hay địa ốc.saga.vn .vn/view. Hoàng Trung Kha Last Updated ( Saturday. Thứ hai. góp phần ổn định nền kinh tế. Lý do thứ hai. 17 April 2010 04:48 ) http://www. Một cách tóm luợc. Đối với các nhà đầu tư nhỏ. thì mức này có thể tạm chấp nhận để dễ bề “lướt sóng” qua các phi vụ con con. Ở góc độ một nhà đầu tư lớn thì động thái này không ảnh hưởng mấy đến các quyết định đầu tư.

Cùng với diễn biến lạm phát có xu hướng giảm. thể hiện là lãi suất huy động và cho vay của các Ngân hàng thương mại biến động theo cung . vừa là công cụ điều tiết thị trường. quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 5 năm 2002 về việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng VNĐ của tổ chức tín dụng đối với khách hàng hết hiệu lực thi hành. Việc huy động vốn bằng VNĐ của các tổ chức tín dụng phù hợp với quy định về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản. các nhân trong và ngoài nước quan tâm.300 tỉ đồng. vừa là động thái phát tín hiệu về chủ trương của Chính phủ và giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước là thắt chặt hay mở rộng tiền tệ. Đến ngày 17/05/2008. Năm 2008 và những tháng đầu năm 2009. Đầu năm 2008. Biện pháp điều hành lãi suất đã có hiệu lực và hiệu quả đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại và lãi suất thị trường. chủ động kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng dư nợ tín dụng phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô. tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế. Qua đó. các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh (lãi suất huy động và lãi suất cho vay) bằng đồng Việt Nam không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố áp dụng trong từng thời kỳ.cầu vốn và tăng. Theo Quyết định. doanh nghiệp và người dân đối với hệ thống ngân hàng. tích cực về hoạt động đầu tư. kinh tế vĩ mô ổn định và hoạt động của các Ngân hàng thương mại đảm bảo khả năng thanh toán. thay cho việc áp dụng dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn từ 24 tháng trở xuống trong thời gian qua. làm cho thị trường tiền tệ và lãi suất trong năm 2009 tương đối ổn định. Ngân hàng Nhà nước đã quy định trần lãi suất huy động là 12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 nhằm hạn chế cuộc đua này. an toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo. được các tổ chức. Trước tình hình đó. Ngân hàng Nhà nước thông báo những điều chỉnh trong chính sách điều hành lãi suất. Việc điều hành linh hoạt lãi suất. Khắc phục được tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong huy động vốn giữa các Ngân hàng thương mại. Tình trạng thiếu hụt tiền đồng của các ngân hàng thể hiện qua việc lãi suất cho vay qua đêm của các ngân hàng trong vòng một tháng qua đã có lúc lên tới 30%. Ngân hàng Nhà nước sẽ mở rộng diện các loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc. bao gồm các loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn. trong một loạt các biện pháp kiềm chế lạm phát. tiết kiệm và tiêu dùng. Tiếp đó là quyết định số 346/QĐ-NHNN về việc phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bằng tiền đồng dưới hình thức bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng nhằm thu hút 20. đã tác động làm thu hẹp hoặc mở rộng tín dụng. củng cố lòng tin của các nhà đầu tư. tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng phù hợp với chủ trương thắt chặt hoặc nới lỏng tiền tệ một cách thận trọng. Điều này đã đẩy các ngân hàng đến chỗ đua nhau tăng lãi suất huy động. mức trần lãi suất huy động 12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 cũng không còn hiệu lực. đã và đang trở thành một chỉ số kinh tế quan trọng trên thị trường tài chính. Theo Quyết định này. Các ngân hàng thương mại đối mặt với khó khăn thiếu hụt nguồn cung tiền đồng sau những quyết định của Ngân hàng Nhà nước. tiền tệ. Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra Quyết định số 187/2008/QĐ-NHNN về việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm rút bớt tiền từ lưu thông về. theo dõi. Kết quả này có ý nghĩa rất quan . Đó chính là Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam. dự báo và có phản ứng khá nhanh nhạy. giảm theo sự thay đổi của các mức lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước .định và phát triển thị trường tiền tệ. đã ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất khả năng thanh toán của các Ngân hàng thương mại trong những tháng cuối năm 2008.

Thông tư được ban hành nhằm thực hiện Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/02/2009. điều hành linh hoạt các mức lãi suất chủ đạo và làm tốt công tác truyền thông. đi kèm theo đó là cơ chế thống kê. lạm phát… Ngân hàng Nhà nước đứng trước lựa chọn điều chỉnh nhanh hoặc “mềm”. Xử lý vấn đề này. và theo lời ông Giàu là để can thiệp mạnh và bảo vệ tỷ giá.44%.webketoan. cơ quan chức năng sẽ rà soát lại thuế suất nhập khẩu để có điều chỉnh phù hợp. nhưng nó có cái là tạo tâm lý kỳ vọng. Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho rằng: có hai điểm bất lợi cần lưu ý. Thống đốc giải thích. bảo đảm an sinh xã hội và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 627/VPCP-KTTH ngày 23 tháng 01 năm 2009 của Văn phòng Chính phủ về áp dụng lãi suất cho vay thoả thuận của các tổ chức tín dụng. Sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất theo hướng tự do hoá phải trên cơ sở đánh giá một cách khoa học và thực tiễn các điều kiện kinh tế.vn/news/index.greatcause Điều chỉnh lãi suất và tỷ giá: Vì sao phải can thiệp mạnh ?Chủ nhật. Lần này chúng tôi quyết định điều chỉnh nhanh”.php? module=news&function=detail&cat_id=52&id=676 vneconomy. duy trì tăng trưởng kinh tế. có hạn chế nhất định việc thử nghiệm và đưa ra thị trường các sản phẩm tín dụng có độ rủi ro cao. www. nhằm tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường. phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô. cung . thảo luận với lãnh đạo các ban ngành chức năng để cùng triển khai các giải pháp hỗ trợ khác. “Điều chỉnh nhanh thì có cái lợi của nó. Việc điều tiết lãi suất thị trường theo hướng ổn định. lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước đã ngồi lại với đại diện 5 ngân hàng lớn. Ở lần điều chỉnh này. Số lần xem: 2619 Sẽ tập trung ngoại tệ về ngân hàng Theo Thống đốc. . giảm bớt tác động đến nhập siêu. cũng như các rủi ro có thể xảy ra và các biện pháp xử lý để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. việc Ngân hàng Nhà nước tiếp tục áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản là một giải pháp thích hợp. Đi cùng với chính sách.tiền tệ ở trong và ngoài nước.SAGA. Còn điều chỉnh mềm thì không can thiệp. cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Bên cạnh điều chỉnh tỷ giá. 10 / 10 / 2010 http://www. tỷ giá liên ngân hàng được tăng trực tiếp. Điều chỉnh nhanh là phải can thiệp. thể hiện được vai trò và những tác động tích cực của chính sách tiền tệ đối với việc kiềm chế lạm phát và điều tiết kinh tế vĩ mô.vn . Qua lần này. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 01/2009/TTNHNN hướng dẫn về lãi suất thoả thuận của các Ngân hàng thương mại đối với cho vay các nhu cầu vốn phục vụ đời sống. cơ chế điều hành lãi suất cơ bản là công cụ can thiệp trực tiếp đối với lãi suất kinh doanh của Ngân hàng thương mại. sự an toàn và phát triển của hệ thống tài chính.cầu vốn thị trường. người ta sẽ chờ đợi không biết Thống đốc sẽ điều chỉnh lúc nào. Bộ Công Thương sẽ xem xét lại những mặt hàng nhập khẩu không cần thiết để hạn chế. Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản phù hợp với quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước và Bộ luật Dân sự. Tuy vậy. thị trường tài chính . Từ những phân tích và nhận định nêu trên. giám sát nhằm hạn chế rủi ro. theo dõi và thanh tra. cán cân thanh toán. trong khi biên độ lại thu hẹp còn +/-3% thay cho +/-5% hiện hành. việc điều chỉnh tỷ giá lần này vẫn nằm trong định hướng không phá giá VND. VND mất giá 3. 03-12-2009. được thực hiện kết hợp giữa điều tiết khối lượng tiền thông qua các công cụ gián tiếp. Thủ tướng cũng sẽ tác động đến những tập đoàn xuất khẩu có ngoại tệ lớn để tập trung ngoại tệ về ngân hàng. Còn những tác động chính của lần điều chỉnh này. mà điều chỉnh theo quan hệ lãi suất. trong thời gian tới.trọng.

7%. niềm tin. một phần sử dụng trong nước nhưng một phần phải sử dụng cho nhập khẩu. hiện đã nhập 6.8 tấn và chỉ cho những doanh nghiệp chủ động được nguồn ngoại tệ. phục vụ cho nền kinh tế chung chứ không riêng theo đối tượng nào đó. Mục tiêu của tín dụng là tạo điều kiện. nhưng Thống đốc cho rằng doanh nghiệp sẽ cân nhắc về cơ cấu giá thành sản phẩm. việc điều chỉnh diễn ra sớm hơn dự kiến. Nhà nước thu được thêm”. giải pháp của nó. Khi mà thị trường chuyển dịch từ thị trường này qua thị trường kia là một tất yếu. Ngoài ra. cũng tạo áp lực đối với tỷ giá. quản lý… để tạo cạnh tranh. Nợ quốc gia thường là trung và dài hạn”. là tác động đến những doanh nghiệp đang vay ngoại tệ. từ nay đến cuối năm và đầu năm 2010. ông nói. Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục nhận các ý kiến đóng góp. Theo Thống đốc. “Nhưng chúng ta điều hành chính sách và nền kinh tế dần ổn định thì dần dần nó cũng sẽ giảm chứ không thể tăng mãi. Cùng với điều chỉnh tỷ giá. Thống đốc Nguyễn Văn Giàu nhận định: “Thị trường chứng khoán mấy hôm nay giảm liên tục. Thống đốc cho biết là đã bàn và cân nhắc rất kỹ. chi phí tài chính nhiều doanh nghiệp sẽ tăng lên. Về hoạt động của các sàn vàng. Điều chỉnh lần này tăng thêm tỷ giá 5. lượng ngoại tệ dự trữ vẫn đảm bảo 12 tuần nhập khẩu. tuy nhiên nhiều ý kiến nghiêng về việc quản lý chặt hơn. trước Thống đốc nói giữ ổn định lãi suất cơ bản. “Chính sách đúng sẽ tạo được niềm tin”. theo Thống đốc. Thống đốc một lần nữa nhấn mạnh là hiện chưa có văn bản nào điều chỉnh. nếu dựa vào thị trường khác thì không bền vững". giúp sự luân chuyển ngoại tệ trong ngân hàng với doanh nghiệp nhanh hơn. Thị trường muốn phát triển thì phải có mục tiêu của nó. Tất nhiên là chúng ta phải hài hòa các thị trường. mà Thủ tướng sẽ có tác động đến các tập đoàn có nguồn thu ngoại tệ lớn tập trung về ngân hàng. nếu cộng cả 3% của ngày 24/12/2008 nữa. việc tăng lãi suất cơ bản còn có lý do là để góp phần kiểm soát tín dụng. lãi suất cho vay tối đa sản xuất kinh doanh là 12%. Thống đốc nói. “Quy luật thôi. Trong đợt biến động vừa qua. Thứ hai. Hiệp hội ngân hàng đề nghị 4 giải pháp giảm lãi suất .44%. Đây cũng là một hình thức kiểm soát tín dụng”. Qua lần điều chỉnh lần này. Và tình hình kinh tế vĩ mô theo nhận định của người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước. "Thị trường của mình nền tảng là gì. dù những tháng gần đây bắt đầu giảm. Thông tin “mở” là trong Nghị quyết 54 của Chính phủ vừa qua không đề cập đến việc kéo dài hỗ trợ lãi suất ngắn hạn thêm 1 quý như dự kiến. Về tác động của những chính sách mới đối với thị trường chứng khoán. nghĩa vụ đóng thuế cao hơn cũng giúp hạn chế nhập siêu ở mức nào đó. Ông Giàu cũng cho biết. Thuế nhập khẩu mặt hàng nào đó là 5% thì nhân thêm 5. ngoài quản lý xuất nhập khẩu.8 tấn vàng Một nội dung khác được Thống đốc đề cập là liên quan đến giá vàng và hoạt động của các sàn vàng. Một lý do khác. Tăng trưởng tín dụng hiện đã vượt 33%. Với lãi suất cơ bản 8%. lợi ích cơ bản thứ nhất từ việc điều chỉnh mà Thống đốc phân tích là hỗ trợ cho xuất xuất khẩu “là đương nhiên”.Thứ nhất. Trước nói ổn định. doanh nghiệp là khoảng 10 tỷ USD. Đây cũng là một yếu tố “bôi trơn”. Ngược lại. nhưng nay có điều chỉnh là còn do yêu cầu cân đối các yêu cầu vĩ mô của nền kinh tế.44% thì phần đóng thuế nó cũng tăng lên.7%. Hiện lượng ngoại tệ đang gửi tại các tổ chức tín dụng của các tổ chức. cho vay nhiều. nay khác là vì… Cách đây không lâu. Một điểm được lưu ý là quyết định tăng các lãi suất đã được xem xét với việc triển khai và định hướng triển khai gói kích thích kinh tế trong thời gian tới. Thứ ba. Ngân hàng Nhà nước cho phép các doanh nghiệp nhập 10 tấn. như trả lời chất vấn trước Quốc hội vừa qua. năm nay nhiều khả năng tăng trưởng kinh tế có thể cao hơn mức đưa ra báo cáo Quốc hội vừa qua. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ tiếp tục giữ ổn định lãi suất cơ bản đến hết năm. Tín dụng tăng cao. là tạo tâm lý. Giải thích về điều này. cộng cả năm là điều chỉnh 5. Tuy nhiên. Thứ hai. nghĩa vụ trả nợ quốc gia sẽ tăng lên. Thống đốc nói. đó là mức có thể chấp nhận được. trong khi từ năm 1999 vàng là hàng hóa thông thường. giảm tín dụng. có quan điểm nên có cơ chế “tự do” đối với hoạt động này. có tương tác”. theo hướng giảm bớt chi phí sản xuất. đồng bộ với các chính sách điều hành chung. Đã nhập về 6. chứ không phải theo tăng. “khi điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng. cộng thêm lãi suất vay bình quân 5% nữa là 12. Ông cũng khẳng định hiện không có tư tưởng kết hối.

tạo điều kiện để tăng nguồn vốn huy động. Theo đó.52%. giảm áp lực phải tăng huy động vốn của các NHTM.Bản in ấn Email Cỡ chữ (Tamnhin. trên thị trường tiền tệ.Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam vừa có văn bản gửi các tổ chức hội viên về việc giảm lãi suất huy động và cho vay.42%. các NHTM có cơ sở để giảm lãi suất huy động và cho vay.Hồ Chí Minh và Hà Nội. có cơ sở để giảm lãi suất cho vay. một vài bất cập trong cơ chế huy động vốn đã được cơ quan quản lý điều chỉnh. đến nay. Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đã có cuộc họp với đại diện lãnh đạo các tổ chức hội viên để bàn các biện pháp hạ dần lãi suất huy động và lãi suất cho vay theo chỉ đạo của Chính phủ. trong khi đó nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế những tháng cuối năm rất lớn. tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng có thêm nguồn vốn cho vay. trong khi đó CPI tăng 6.net) . các tổ chức hội viên nhận định tình hình kinh tế 9 tháng đầu năm 2010 có những thuận lợi và khó khăn đan xen: tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm tăng 6. việc giảm dần lãi suất huy động và cho vay theo lộ trình mà các tổ chức hội viên Hiệp hội Ngân hàng đã đề ra tại cuộc họp đầu tháng 7/2010 đến nay vẫn chưa thực hiện được. Việc đề xuất này dựa trên cơ sở một vài bất cập trong cơ chế huy động vốn đã được cơ quan quản lý điều chỉnh. Vì những khó khăn trên. cụ thể: . Tại các cuộc họp trên. trong các ngày 21 và 24/9/2010 tại TP. tiếp tục thực hiện chủ trương giảm dần lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay theo tinh thần của Nghị quyết số 18 và 23/NQ-CP của Chính phủ. Tuy nhiên. huy động vốn của các NHTM gặp nhiều khó khăn.

nghị giảm suất Với những lý do trên.7-5. Vì vậy. một số NHTM đang áp dụng lãi suất huy động không kỳ hạn lên đến 4. Thứ hai. DN xuất khẩu. lãi suất tái cấp vốn.2%/năm (tại một số NHTM.8%/năm.0%/năm. Về phần cấp tín dụng. giảm nhẹ lãi suất giao dịch thị trường mở. Ngân hàng Nhà nước cũng loại trừ phần bảo lãnh khỏi dư nợ. nông thôn. Hiệp hội Ngân hàng VN kêu gọi các tổ chức hội viên tiếp tục giảm lãi suất cho vay. tạo điều kiện thu hút nguồn vốn dài hạn. bổ sung thêm kỳ hạn giao dịch.2%/năm hiện nay xuống mức không vượt quá 11. Riêng lãi suất không kỳ hạn và lãi suất tiền gửi có kỳ hạn dưới 3 tháng đề nghị các NHTM có mức điều chỉnh giảm mạnh hơn để tạo đường cong lãi suất hợp lý. tiền gửi Kho bạc Nhà nước và các khoản vay của các tổ chức tín dụng có kỳ hạn 3 tháng trở lên được cho phép tính vào nguồn vốn huy động để cho vay. tái chiết khấu Bốn tiếp tục ổn đề định ở mức thấp. DN sản xuất vừa và nhỏ xuống mức như Chính phủ chỉ đạo. Hiệp hội Ngân hàng đề nghị các NHTM nên điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi không kỳ hạn để tiết giảm chi phí huy động vốn. lãi suất huy động USD lên tới 5. đặc biệt cho 3 đối tượng ưu tiên của Chính phủ là khu vực nông nghiệp. để tạo điều kiện cho mặt bằng lãi suất huy động VNĐ trên thị trường giảm xuống. Mặt khác. . mở rộng nghiệp vụ swap lãi ngoại tệ. . Nếu so với thị trường quốc tế.Hồ Chí Minh và Hà Nội giảm lãi suất huy động từ mức 11. Cụ thể: Thứ nhất.Nguồn vốn huy động để cho vay đã được mở rộng hơn do một phần tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế. Khi các quy định trên có hiệu lực. về lãi suất huy động USD: Mặt bằng lãi suất huy động USD hiện đang có xu hướng tăng cao. Thứ tư. các NHTM dễ dàng được tiếp cận nguồn vốn rẻ (lãi suất liên NH hiện nay chỉ xoay quanh 8-9%). nên các NHTM có điều kiện giảm lãi suất huy động và lãi suất cho vay. nếu so sánh với lãi suất VNĐ hiện nay đang có sự bất hợp lý. Hiện nay.5%/năm). để tạo sự cân đối với lãi suất huy động VNĐ và góp phần thực hiện chủ trương giảm lãi suất theo chỉ đạo của Chính phủ. là điều kiện cần thiết để các NHTM tiếp tục giảm tiếp lãi suất huy động và lãi suất cho vay dần tiến tới mục tiêu như Chính phủ chỉ đạo. để tiếp tục hỗ trợ các NHTM giảm mặt bằng lãi suất. Thứ ba. từ đó giảm lãi suất cho vay. lãi suất huy động USD hiện nay của các NHTM ở Việt Nam đang rất cao. Hiệp hội Ngân hàng cho rằng đây là những thuận lợi cơ bản. . đề nghị các tổ chức hội viên thực hiện sự đồng thuận tại 2 cuộc họp ngày 21 và 24/9/2010 tại TP. Hiệp hội Ngân hàng kêu gọi các NHTM xem xét giảm lãi suất huy động USD. từ nay đến cuối năm. sự liên thông giữa thị trường I và thị trường II sẽ được thông thoáng hơn. . phổ biến ở mức 4. Mặt khác. Hiệp hội Ngân hàng đề nghị các tổ chức hội viên đồng loạt giảm lãi suất huy động kể trên bắt đầu từ 15/10/2010. Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục chủ động điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ: mở rộng hoạt động của thị trường mở. trên cơ sở giảm lãi suất đầu vào.

tăng cung tiền) cho các dòng sông. "Các nước đều cần có một ngân hàng trung ương mạnh. Lúc này. có những cảnh báo cho rằng nếu Ngân hàng Nhà nước VN không có những giải pháp hữu hiệu thì khó tránh khỏi việc cạnh tranh lãi suất không lành mạnh. Chức năng của ngân hàng trung ương? Hình dung một cách đơn giản. các ngân hàng như những “dòng sông”. 14:25 GMT+7 Một ngân hàng trung ương mạnh có tính độc lập cao so với chính phủ là một trong những nền tảng cơ bản nhưng cũng là công cụ hữu hiệu để giảm thiểu những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường. điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả". thì ngân hàng trung ương (Ngân hàng Nhà nước) sẽ như một “hồ chứa nước” đóng vai trò điều tiết dòng chảy của tất cả các sông để có một lượng nước vừa đủ Nhìn chung. nếu xem những người có tiền nhàn rỗi như những “cái cây” giữ nước trên núi. 04/10/2010 11:33 GMT+7 Cuộc đcoua lãi suất của các ngân hàng: Đâu là vấn đề? Cuộc Cuộc đua lãi suất của các ngân hàng: Đâu là vấn đề? Thứ năm. . cái hồ còn phải làm sao đó để các dòng sông có thể khai thác một cách tốt nhất (nếu không nói là toàn bộ) lượng nước (nguồn vốn) những cái cây đang giữ. vào năm 2002. thị trường mở…). gây phương hại cho nền kinh tế. 17 Tháng tám 2006. những người cần vay vốn như những “cánh đồng” cần nước tưới. quyết định sẽ thuộc về cái hồ. Khi thiếu nước cung cấp cho những cánh đồng. thì sông sẽ hỏi vay nước từ hồ. van xả hợp lý (lãi suất. Không phải đến bây giờ.net/tieu-diem/4691/Hiep-hoi-ngan-hang-de-nghi-4-giai-phap-giam-laisuat. Có nhiều lý do tác động đến sự kiện này và một trong những nguyên nhân chính xuất phát từ hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ hiện nay. Thực ra. khi mà cuộc đua lãi suất bước vào cao trào thì mọi người mới để ý. Nếu thấy những cánh đồng thực sự cần thêm nước cho việc phát triển cây trồng (kích thích tăng trưởng kinh tế) thì họ sẽ mở van tăng thêm nước (hạ lãi suất.Khánh Nguyên http://tamnhin. khi quy định trần lãi suất được dỡ bỏ để các ngân hàng được cạnh tranh tự do hơn. ngoài việc có một lượng nước dữ trữ đủ lớn (cung tiền. để làm được vai trò điều tiết của mình. do đã tận dụng triệt để các nguồn nước. ngoại tệ dữ trữ…) với một hệ thống cửa thông.html Thứ hai.

làm như vậy sẽ vi phạm luật cạnh tranh. Giải pháp hữu hiệu nhất là nâng cao năng lực và khả năng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước VN sao cho mỗi khi họ đưa ra các quyết định của mình lập tức có tác động ngay đến nền kinh tế. Phản ứng hợp lý của các dòng sông là tăng giá để giữ nước của mình. phải trả chi phí cao hơn cho . Ngân hàng Trung ương Mỹ hay Châu Âu đã tác động đến cả nền kinh tế thế giới. dự đoán do nó có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế. Đây chính là cuộc đua lãi suất của các ngân hàng VN hiện nay mà tác động nhãn tiền của nó làm cho rủi ro của các ngân hàng lớn hơn. Những cuộc đua như vậy không thể tránh được bằng thỏa thuận lãi suất. chi phí sản xuất gia tăng và nền kinh tế sẽ phải lãnh đủ. Theo dòng sự kiện TS Ngân hàng kinh doanh lợi nhuận cao: Tín hiệu tốt? Tuổi trẻ “Cổ phiếu ngân hàng sẽ bớt nóng vì lãi suất USD” Thanh Niên Đau đầu vì lãi suất tăng Diễn đàn doanh nghiệp Ngân hàng tăng lãi suất: Doanh nghiệp thêm sức ép đè nặng không tăng thêm. nhưng những cánh đồng. tích trữ vào hồ để dùng khi cần thiết. điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả thì mỗi động thái của họ đều được mọi người trông đợi. Cuộc đua này cho thấy công cụ điều tiết tiền tệ. giảm cung tiền). Hơn nữa. Hơn thế. thậm chí tìm cách thu hút bớt nước từ các dòng sông (tăng lãi suất. Thái Lan hay Malaysia tác động ngay lên nền kinh tế của họ. Nhưng những quyết định về lãi suất của Ngân hàng Nhà nước VN dường như chẳng có tác dụng gì.Ngược lại. thậm chí có thể ảnh hưởng sang nước láng giềng. người vay cuối cùng. Việc chạy đua lãi suất của họ là điều đương nhiên. Ngân hàng Trung ương Singapore. khi thấy nguy cơ do nước quá nhiều có khả năng gây ra ngập lụt (lạm phát) họ sẽ giảm hoặc khóa van lại. công bằng và lượng nước trong các cây đã khai thác hết thì đương nhiên các dòng sông sẽ tìm cách lấy bớt nước của những dòng sông khác bằng cách trả một giá (lãi suất) cao hơn. cơ chế điều tiết nguồn nước không hợp lý. bằng chứng thực tế đã chứng minh điều này. Với một quyết định thay đổi lãi suất của mình. Điều này cũng giải thích tại sao ở các nước có một ngân hàng trung ương mạnh. Vai trò của Ngân hàng Nhà nước ở đâu? Khi lượng nước trong hồ không đủ lớn. nhất là công cụ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước dường như không có tác dụng là bao. Lúc này. Cần một ngân hàng trung ương mạnh Mục tiêu quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại là lợi nhuận. Đây chính là chức năng và vai trò của ngân hàng trung ương. tổng lượng nước dường như một nguồn nước tương tự.

nếu lạm phát không bắt đầu sụt giảm từ tháng Ba”. ông bình luận gì về động thái này? Đây là một động thái tốt của Ngân hàng Nhà nước vì bước đi này sẽ giúp tăng khả năng thanh khoản đồng USD. • Thảo Nguyên Nếu lạm phát không giảm. một điều chưa thể khẳng định chênh lệch lãi suất tiền gửi giữa hai đồng tiền này đủ để thu hút thêm tiền tiết kiệm bằng VND khi lạm phát trong tháng Giêng và tháng Hai của Việt Nam ở mức khá cao. Đã từng có tình trạng thiếu hụt USD trong lưu thông gây khó khăn cho các nhà nhập khẩu và những người khác trong việc mua USD để thanh toán hàng hóa nhập khẩu. Ngân hàng Nhà nước đã quyết định giới hạn lãi suất tiền gửi bằng USD ở mức 1%. . Điều này xảy ra là do một số doanh nghiệp xuất khẩu và những người khác nắm giữ USD nhưng không chuyển đổi sang VND. ▪ LÊ HƯỜNG 09:57 (GMT+7) . Việc hạ thấp lãi suất tiền gửi USD khiến cho việc nắm giữ USD trở nên kém hấp dẫn hơn trong so sánh với VND. bởi vì việc hạ thấp lãi suất tiền gửi USD khiến các doanh nghiệp và người dân ít có hứng thú với việc gửi đồng tiền này. cần điều chỉnh lãi suất E-mail Ý kiến (0) Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: Chưa thể khẳng định chênh lệch lãi suất tiền gửi giữa VND và USD để thu hút thêm tiền tiết kiệm bằng VND khi lạm phát trong tháng Giêng và tháng Hai của Việt Nam ở mức khá cao. 3/3/2010 “Việc điều chỉnh về chính sách lãi suất có thể là cần thiết trong những tháng tới.49%/năm. khi VND đang có lãi suất tiền gửi ở mức 10. khi trao đổi với chúng tôi xung quanh chủ đề lãi suất và tỷ giá ở Việt Nam. một chuyên gia ngân hàng.Thứ Tư. nếu lạm phát không bắt đầu sụt giảm từ tháng Ba. Tuy nhiên.Một ngân hàng trung ương mạnh có tính độc lập cao so với chính phủ là một trong những nền tảng cơ bản nhưng cũng là công cụ hữu hiệu để giảm thiểu những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường. Việc điều chỉnh về chính sách lãi suất có thể là cần thiết trong những tháng tới. Đó là nhận định của ông Lawrence Wolfe.

Tuy nhiên. động thái này là tích cực vì sẽ giúp cải thiện tình trạng thâm hụt thương mại của Việt Nam. nhưng tác động cũng chỉ có giới hạn. đặc biệt là nông sản. Rõ ràng. giải quyết vấn đề mất cân đối cán cân thương mại có thể là vấn đề dài hạn. mất nhiều năm để thực hiện được. máy móc và giá của những hàng hóa này cũng gia tăng. Tuy nhiên. Việc quản lý và điều chỉnh linh hoạt tỷ giá USD/VND tùy thời điểm sẽ là một công cụ hữu hiệu của cơ quan chức năng và cũng là một phần quan trọng của quá trình làm cân đối cán cân thương mại. Điều này sẽ hỗ trợ nhiều cho xuất khẩu của Việt Nam trong năm nay. đặc biệt các sản phẩm hóa dầu. đã bắt đầu hồi phục trong năm qua và nhiều hàng hóa được dự kiến sẽ có mức giá cao hơn từ thời điểm này. nhập khẩu của Việt Nam sẽ tăng thêm. đang tăng trưởng tương đối nhanh và nền tảng công nghiệp vẫn còn hạn chế. thưa ông? Việc điều chỉnh tỷ giá khoảng 3% đồng VND so với đồng USD sẽ hỗ trợ các nhà xuất khẩu đôi chút.VND đã giảm giá khoảng 3% so với đồng USD. nhu cầu nhập khẩu hàng hóa đã thấp hơn trước. cũng đừng quên là Việt Nam cũng nhập khẩu rất nhiều hàng hóa. điều này có tác động như thế nào đến xuất khẩu và nhập khẩu của các doanh nghiệp trong nước. nhựa. thép. bằng cách làm giá các sản phẩm xuất khẩu rẻ hơn khi tính theo giá USD và sẽ ảnh hưởng nhẹ đến các nhà nhập khẩu vì giá thành hàng nhập khẩu sẽ đắt hơn khi tính bằng VND. Vì vậy. đặc biệt nền kinh tế của các quốc gia đã phát triển bị suy thoái trong 2 năm. . Khối lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam gia tăng cần có sự gia tăng nhu cầu từ các nước nhập khẩu đối với sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam cũng như đưa ra mức giá cao hơn đối với những hàng hóa này. Việt Nam cần phải tiếp tục nhập khẩu thêm hàng hóa để phục vụ cho công nghiệp cũng như các loại nguyên liệu thô để phục vụ cho sự tăng trưởng kinh tế. có ý kiến cho rằng việc tăng tỷ giá USD/VND không thể giải quyết được khó khăn của cán cân thương mại. Một tin tức tốt lành là các nước phát triển hầu như đã bắt đầu tăng trưởng trở lại từ quý 3/2009 và điều đó có nghĩa rằng khối lượng hàng nhập khẩu từ Việt Nam và các nước khác sẽ tăng trong năm 2010. Vì vậy. Chính phủ cần cố gắng kiểm soát nhập khẩu các hàng hóa phi thiết yếu như các loại xe xa xỉ và các sản phẩm tiêu dùng cao cấp và tiếp tục khuyến khích tiêu dùng các sản phẩm Made in Vietnam. Bởi vì. quan điểm của ông là gì? Tỷ giá chỉ là một phần. nhưng không nhất thiết là phần lớn. Vì vậy. Điều này cũng cần sự chú ý của Chính phủ để giám sát và kiểm soát thâm hụt thương mại cũng như đảm bảo cho cán cân thương mại vẫn nằm trong một giới hạn hợp lý trong so sánh với xuất khẩu của đất nước. Việc cố gắng giới hạn nhập khẩu đối với những hàng hóa công nghiệp cần thiết là phản tác dụng. Vì Việt Nam là một nước đang phát triển. nền kinh tế thế giới. Những nền kinh tế này phải bắt đầu tăng trưởng trở lại trước khi nhu cầu hàng hóa nhập khẩu gia tăng. đây là một yếu tố quan trọng giúp cải thiện tình trạng thâm hụt thương mại của Việt Nam. Giá cả rất nhiều hàng hóa. Đây cũng là cách làm dễ hơn vì người tiêu dùng ưa thích hơn cũng như phù hợp với các cam kết WTO của Việt Nam.

sẽ thực hiện các giải pháp đồng bộ.5%. xem lãi suất như thế nào cho phù hợp và quyết định chọn tăng lãi suất cơ bản thêm 1%. từ tháng 7 đến tháng 11 mỗi tháng tăng khoảng 2. Nói cách khác.500 VND/USD. Ông Nguyễn Văn Giàu. ĐTCK ghi nhận ý kiến của Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu cùng một số chuyên gia xung quanh tác động của chính sách này tới nền kinh tế cũng như TTCK. Cập nhật: 30/11/2009 14:00 E-mail | Bản in | Lưu xem sau Phải “cởi trói” cho tiền tệ. giảm bớt biên độ tỷ giá từ 5% xuống còn 3%. thị trường biến động khi tỷ giá lên 19. xem lại phần nhập khẩu những mặt hàng không cần thiết và có tác động tới nhập siêu. Thủ tướng cũng sẽ yêu cầu một số tập đoàn xuất khẩu đang nắm giữ ngoại tệ lớn bán ra cho hệ thống ngân hàng.44%. Bộ Công Thương sẽ rà soát thuế. để chúng ta có một giá giao dịch cao nhất là 18. Đăng bởi : www_vinasme. tăng cao sẽ tạo áp lực lên tỷ giá. bình quân từ tháng 3 đến tháng 6 mỗi tháng tăng 4%. Xử lý lãi suất cũng được chúng tôi bàn rất kỹ.vn/20100303092427556p0c6/neu-lam-phat-khong-giam-can-dieuchinh-lai-suat. ngân hàng có huy động được vốn mới có tiền cung cấp cho nền kinh tế. Quyết định điều chỉnh lãi suất cơ bản và tỷ giá ngày 25/11 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) được cho là gây bất ngờ đối với thị trường khi trước đó cơ quan này liên tục có những công bố về việc sẽ duy trì chính sách tiền tệ ổn định. Đồng tiền mất giá bao giờ cũng hỗ trợ xuất khẩu.htm NHNN điều chỉnh lãi suất và tỷ giá: Nhận diện những tác động Khởi tạo bởi : www_vinasme. đồng thời điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên 5.http://vneconomy. giải quyết căng thẳng thị trường.44%.2%. chúng ta chưa can thiệp. . mất giá đồng tiền của Việt Nam là 3. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Trước đây. Lần này.000 VND/USD. Bên cạnh điều chỉnh tỷ giá. giúp hạn chế nhập siêu ở một mức nào đó. Tăng trưởng tín dụng hiện đã là 34. chúng tôi quyết định điều chỉnh nhanh mạnh chính sách tiền tệ. Lần này.

Trong bối cảnh như vậy. Các động thái điều chỉnh vừa qua cũng nhằm mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. vì nâng lãi suất cơ bản mà để hỗ trợ lãi suất thì chẳng có ý nghĩa gì. lạm phát phải chấp nhận. Nhưng quan trọng hơn. khả năng hấp thụ vốn lớn của doanh nghiệp khiến hệ thống ngân hàng khan hiếm tiền đồng cho vay. ngân hàng không thể cho vay thì sợi dây căng mãi sẽ đứt. Chính sách hiện tại là hoãn kích thích kinh tế. không cần hỗ trợ. với thị trường vàng.Theo ý kiến của các bộ trưởng tại cuộc họp hôm 24/11. kiểm soát nhập lậu hoặc thậm chí ra biện pháp hành chính kiểm soát giá vàng. Hạn chế tăng trưởng tín dụng không cẩn thận là thành tăng trưởng âm. thắt chặt tiền tệ. Việc thiếu thông tin hỗ trợ tác động tới TTCK khiến NĐT không rõ phương hướng tới đây chính sách sẽ được điều hành như thế nào. Điều này dẫn đến phản ứng thái quá của các NĐT trên TTCK. ngân hàng có huy động được vốn mới có tiền cung cấp cho nền kinh tế. là phải phối hợp đồng bộ với các thị trường khác. Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam Điều chỉnh chính sách tiền tệ như vừa qua là việc buộc phải làm. nhưng thực tế là chưa có dấu hiệu bền vững. có thể mua bán được? Phải “cởi trói” cho tiền tệ. xử lý lãi suất cơ bản. các cơ quan khác như Bộ Công Thương phải kiểm soát chống đầu cơ. cần quyết liệt kích thích kinh tế. Bà Dương Thu Hương. Đường cong lãi suất đã không tồn tại. tâm lý NĐT khá bất ổn do hầu như không có thông tin vĩ mô tích cực. Nhìn nhận một cách thẳng thắn thì tăng lãi suất cơ bản sau khi duy trì ổn định tới gần 1 năm cho thấy kinh tế đã phần nào phục hồi. nhưng tôi tin nếu kinh tế có dấu hiệu bất ổn thì Chính phủ sẽ có giải pháp để xốc trở lại. Ông Khổng Văn Minh. mà biến thành đường thẳng. quyết định thay đổi về chính sách tiền tệ gây bất ngờ cho hầu hết thành viên tham gia thị trường khi mà trước đó NHNN tuyên bố duy trì ổn định chính sách đến hết năm. Nhiều ý kiến cho rằng. giải quyết căng thẳng thị trường. . Chủ tịch HĐQT Tổng CTCP Phát triển Đô thị Kinh Bắc Tăng trưởng kinh tế trên toàn thế giới chưa ổn định. Đầu ra không thay đổi. kinh tế Việt Nam “khỏe” rồi. thông điệp mới đây của các nhà lãnh đạo APEC cũng cho thấy. bảo vệ chỉ số lạm phát. lãi suất kỳ hạn nào cũng giống nhau và kịch trần. Ông Đặng Thành Tâm. Thủ tướng kết luận dừng chính sách sách hỗ trợ lãi suất ngắn hạn đúng thời hạn 31/12/2009. điều chỉnh tỷ giá chính thức để cung cầu có thể gặp nhau. bởi chưa khi nào tình hình của các ngân hàng lại căng như dây dàn như thế. theo tôi. TTCK cũng sẽ dần ổn định trở lại. Chẳng hạn. Làm sao cứu thị trường tiền tệ. kết quả kinh doanh quý IV cũng như hoạt động doanh nghiệp được dự báo không có gì nổi bật. Giám đốc đầu tư Quỹ đầu tư Jaccar Trong thời gian vừa qua.

mạnh chính sách tiền tệ sẽ tác động ngay tới tâm lý của DN. TTCK suy giảm sẽ kéo theo một loạt hệ lụy như DN không thể huy động được vốn. CTCK Sài Gòn (SSI) Tăng lãi suất cơ bản giúp các NHTM có thể tăng lãi suất đầu vào.500 VND/USD (mức trần) khó có thể duy trì ổn định. lưu thông giảm khiến tiền ít đi. VND mất giá ở mức độ vừa phải giúp cho xuất khẩu có lợi. 03 Tháng 4 2010 01:24 Đây là nhận định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu khi trao đổi với báo chí xung quanh một số chủ đề dư luận quan tâm hiện nay như chỉ số giá tiêu dùng. chứ không phải là căng thẳng thật sự về tiền.... lạm phát không phải hoàn toàn do yếu tố nội tại của Việt Nam. góp phần ổn định thanh khoản cho hệ thống ngân hàng khi tín dụng 11 tháng tăng 34. tính thanh khoản của ngân hàng.. Nhưng các DN có vay nợ nước ngoài sẽ phải tăng trích lập rủi ro.003016. Nhưng nếu không có can thiệp tiếp theo để tăng lượng cung trên thị trường ngoại hối (các tập đoàn nhà nước bán ngoại tệ hoặc NHNN bán USD đủ lớn ra thị trường) thì mức tỷ giá 18. đồng thời giảm biên độ dao động giúp các DN xuất khẩu được lợi nhờ đánh giá lại thu nhập bằng ngoại tệ.com.Cũng cần nhìn nhận. Theo Anh Việt ĐTCK http://www. Điều chỉnh nhanh. kinh doanh vàng. khiến họ co cụm lại. đồng thời giảm bớt động lực mua USD tích trữ.vn/nd5/detail/tin-kinh-te-tong-hop/tai-chinh-chungkhoan/nhnn-dieu-chinh-lai-suat-va-ty-gia-nhan-dien-nhung-tacdong/52832. IPO doanh nghiệp nhà nước khó thực hiện. vốn gián tiếp không chảy vào đầu tư.html Yếu tố tiền tệ không tác động lớn tới lạm phát Thứ bảy. Việc tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng.vinasme. trong khi huy động vốn chỉ tăng hơn 26%. hàng hóa xuất khẩu cạnh tranh hơn. giảm lợi nhuận. giữ dòng tiền.5%. khi hàng nhập nhiều hơn xuất. nhiều loại hàng hóa có nguồn gốc nhập khẩu biến động. .

Huy động vốn đến cuối tháng 3 tăng 3.12%.Từ cuối năm 2009 và dịp Tết Nguyên đán Canh Dần. do từ tháng 7-2009. Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao chủ yếu do nhu cầu tăng cao trong dịp Tết.Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu: Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 năm nay tăng 0. Yếu tố tiền tệ có tác động như thế nào tới tình hình lạm phát? . Chính phủ đã chỉ đạo các bộ. làm rõ những nguyên nhân chỉ số giá tiêu dùng tăng ở mức cao và thực hiện các giải pháp đồng bộ để kiểm soát giá cả hàng hóa. tính chung 3 tháng đầu năm tăng 4. NHNN đã hỗ trợ kịp thời để đảm bảo khả năng an toàn thanh khoản. Kho bạc Nhà nước. Nhưng . Có ý kiến phê bình chúng tôi do không cung cấp mạnh thêm lượng tiền cung ứng trong tháng 1 và 2 nên thanh khoản và tín dụng tăng chậm. Trước tình hình đó.Thống đốc có nhận xét gì về tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế cũng như các biện pháp hỗ trợ thanh khoản thời gian vừa qua? . Yếu tố tiền tệ tác động tới lạm phát không lớn. Bảo hiểm xã hội rút khoảng 60. kiểm soát tăng trưởng tín dụng ở mức thấp và quý I-2010 dư nợ tín dụng tăng 3. ngành phân tích.000 tỷ đồng nhưng rút dần về sau Tết Nguyên đán. NHNN hỗ trợ các NHTM 70. cao hơn so với cùng kỳ các năm gần đây. Nhà nước điều chỉnh một số mặt hàng làm tăng giá thành sản phẩm. NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và thận trọng.8% so với cuối năm 2009 và có xu hướng tăng trở lại . Vào những ngày giáp Tết. giá cả nhập khẩu tăng. . các NHTM gặp khó khăn về thanh khoản do một số NHTM dự trữ thanh toán thấp và tổ chức kinh tế.75%.000 tỷ đồng để giải ngân theo quy luật hàng năm.PV: Dư luận đang lo ngại chỉ số giá tiêu dùng quý I tăng cao hơn cùng kỳ các năm khác.34% so với cuối năm 2009. ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.

tín dụng tăng 3. Gần đây các NHTM đã hạ lãi suất huy động gần bằng 0%. Theo chỉ đạo của Chính phủ. hỗ trợ thông qua tái cấp vốn và hoán đổi ngoại tệ.Hiện nay. việc gia hạn thêm 3 tháng là do qua thực tiễn có một số ngân hàng còn trạng thái mở tương đối lớn. xét theo lãi suất thực dương và khả năng hấp thụ của nền kinh tế. tổng phương tiện thanh toán và tín dụng có xu hướng tăng dần. Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam phát huy mạnh mẽ và động viên tích cực các ngân hàng hội viên góp phần quan trọng trong việc ổn định.12%. NHNN đã và đang thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ để ổn định lãi suất thị trường theo xu hướng giảm dần như tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với NHTM với kỳ hạn dài hơn. chúng tôi sẽ phối hợp các ngành hữu quan kiểm tra nếu có thì xử lý theo pháp luật. khối lượng lớn hơn so với trước đây. . đặc biệt là tiền gửi của dân cư tăng 9.Việc các ngân hàng huy động vàng với lãi suất thấp có tiềm ẩn nguy cơ gì không thưa Thống đốc? .8% so với cuối năm 2009. . NHNN cũng nghiên cứu theo hướng không cho phép chuyển đổi vốn huy động bằng vàng sang tiền đồng và có thể không thực hiện hoạt động huy động và cho vay bằng vàng vì hoạt động này tiềm ẩn nhiều rủi ro.2% cho thấy người dân tin tưởng vào hệ thống ngân hàng. ngành liên quan trình Chính phủ ký ban hành Nghị định quản lý và kinh doanh vàng trong thời gian tới. Đồng thời NHNN cũng chỉ đạo các NHTM Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn và điều chỉnh lãi suất giảm dần phù hợp với diễn biến nền kinh tế. báo chí gọi là “biến tướng”. Tốc độ tăng trưởng tín dụng 3. nên phải có thêm thời gian tất toán tài khoản. phát triển hệ thống ngân hàng.Liệu có xảy ra cuộc đua lãi suất huy động giữa các ngân hàng khi các khoản vay ngắn hạn bằng VND được thực hiện theo cơ chế thỏa thuận? .Thời gian gần đây. NHNN tích cực phối hợp với các bộ. . lãi suất huy động và cho vay của các NHTM đang ở mức cao. Huy động vốn đang có xu hướng tăng trở lại. có thông tin một số doanh nghiệp hoạt động sàn vàng (doanh nghiệp không thuộc NHTM) chuyển sang hình thức khác. NHNN sẽ xử lý như thế nào? .có ý kiến đánh giá nếu cung cấp tiền cung ứng mạnh thêm trong hai tháng đầu năm sẽ tác động mạnh làm tăng chỉ số giá tiêu dùng và có thể cao hơn 4. Còn các NHTM đã chấp hành nghiêm chỉnh đóng cửa đúng thời gian quy định.Về huy động vàng tại các NHTM theo đúng quy định của pháp luật. Trong quý I năm 2010. đến cuối tháng 3 tăng 3. tuy nhiên rất rủi ro. .34%.Đối với hoạt động của các sàn vàng chuyển đổi sang hình thức khác.34% so cuối năm 2009. và tương ứng với quý I cùng kỳ các năm diễn biến bình thường.

0%/năm. Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này Kèm theo đó. Ngân hàng Nhà nước cũng quy định mức trần tiền gửi USD của các doanh nghiệp ở mức 1%/năm.tại tổ chức tín dụng tối đa là 1.trừ tổ chức tín dụng . Một quyết định quan trọng khác được đưa ra có là mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế . quyết định này sẽ có lợi cho các .8 tháng trước 1469 lượt xem Ngày 10/2. Hy vọng không ảnh hưởng lớn đến tâm lý nhà đầu tư Công ty Chứng khoán Thăng Long (TSC) “Sự điều chỉnh tỉ giá lần này đã thể hiện sự thay đổi quan điểm của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về điều hành tỉ giá theo hướng phù hợp hơn cung cầu thực tế của thị trường.544 VND/USD .Hùng Anh (Ghi) Điều chỉnh tỷ giá tác động thế nào tới chứng khoán? Xem tin gốc VnEconomy . Đây chính là một hình thức kết hối theo hình thức "tự xử" đối với các tổ chức có tiền gửi USD. Ngân hàng Nhà nước đã công bố điều chỉnh tỷ giá bình quân giao dịch liên ngân hàng lên mức 18. Quyết định điều chỉnh tỷ giá hối đoái sẽ có tác động như thế nào tới thị trường chứng khoán? Xung quanh chủ đề này. ngăn chặn việc đô la hóa trong nền kinh tế và giúp tăng nguồn cung USD đối với các ngân hàng thương mại. áp dụng từ 11/2. Các quyết định liên quan đến ngoại tệ này sẽ có những tác động tiêu cực đến các công ty có các khoản nợ bằng ngoại tệ và các công ty có hoạt động sản xuất phụ thuộc nhiều vào nguyên vật liệu nhập khẩu. chúng tôi xin trích đăng ý kiến của một số công ty chứng khoán.3%.mà thực tế là giảm giá VND 3. Ngược lại.

8-2. Nếu xét từ góc độ này. Trong thời gian tới. tăng cung trên thị trường chính thức. loại hình kinh doanh xuất nhập khẩu. tỉ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại chắc chắn sẽ tiến sát tỉ giá tự do và lúc đó rủi ro chính sách liên quan đến tỉ giá sẽ giảm. Có thể tạo ra những hoài nghi về chính sách Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) “Động thái chính sách của Ngân hàng Nhà nước có cả tác động tích cực và tiêu cực với nền kinh tế và thị trường chứng khoán.000 VND cho 1 USD (chênh lệch 5-7%). mức độ tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thế nào còn tùy thuộc vào quy mô khoản nợ. việc phá giá đồng nội tệ cũng sẽ có áp lực lớn lên lạm phát với chi phí nhập khẩu nguyên liệu khi các chi phí về nguyên liệu.doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu do giá sản phẩm trở nên cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới. Áp lực tăng chi phí trả lãi và gốc các khoản vay ngoại tệ của các doanh nghiệp vay USD song chỉ có thu bằng VND cũng sẽ là một vấn đề đáng kể”.. Thanh khoản vẫn đang là vấn đề khó giải quyết . Sự thay đổi tỉ giá này chỉ đơn thuần phản ánh đúng hơn thực trạng cung . Về mặt tích cực.. Tuy nhiên.. của mỗi doanh nghiệp. Đây có lẽ là một lợi thế đối với các nhà đầu tư nước ngoài có luồng ngoại tệ chưa giải ngân”. người nắm giữ ngoại tệ có thể sẽ tăng bán USD cho ngân hàng..5%). kế hoạch trả nợ. Với hành lang tỷ giá mới với mức trần tỷ giá là 19.cầu ngoại tệ của nền kinh tế diễn ra lâu nay. Ngoài ra. bối cảnh lần điều chỉnh tỷ giá này có thể tạo ra những hoài nghi về các chính sách ổn định tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian trước. áp lực tăng lãi suất cơ bản để kiềm chế lạm phát trở nên rõ ràng hơn. Việc áp trần lãi suất tiền gửi USD của doanh nghiệp cũng sẽ kích thích các doanh nghiệp bán USD trên tiền gửi thanh toán cho ngân hàng hoặc chuyển từ tiết kiệm bằng USD sang VND để tăng cung USD cho thị trường ngoại hối chính thức.100 VND/USD. chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chính thức và tự do giảm xuống mức 100-500 đồng/USD (chênh lệch 0. Về mặt tiêu cực. tỷ giá USD của ngân hàng đã được điều chỉnh về gần hơn với mức giao dịch của thị trường tự do cho thấy áp lực biện pháp làm cho VND hấp dẫn hơn so với USD và yêu cầu các tổng công ty nhà nước bán ra USD trong 2 tháng qua chưa đủ liều lượng để ổn định mất cân đối cung cầu ngoại tệ khi mà tỷ giá ngân hàng thấp hơn tỷ giá thị trường tự do 700-1. máy móc gia tăng đã tăng trở lại đáng kể so với đáy của khủng hoảng một năm trước đây. Chúng tôi hy vọng quyết định điều chỉnh này không ảnh hưởng lớn đến tâm lí nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài đã giải ngân.

nếu như không có những sự kiện quá tiêu cực về kinh tế vĩ mô cả trong và ngoài nước . Các tổ chức tín dụng có điều kiện thực hành phân loại tốt hơn các khoản cho vay. Tuy nhiên. Đó cũng là chuẩn bị cần thiết để hệ thống ngân hàng Việt Nam hội nhập sâu sắc và toàn diện hơn với hệ thống chuẩn mực kinh doanh ngân hàng của thế giới. Cơ chế lãi suất của Việt Nam dần dịch chuyển từ kế hoạch hóa tập trung. có vẻ như dòng tiền của các nhà đầu tư theo trường phái giá trị đang dần quay trở lại.21 xác lập vào ngày 23/10/2009. từng bước tự do hóa. Những mức lãi suất khác nhau được áp dụng cho đề xuất vay vốn có độ rủi ro khác nhau. là tín hiệu tích cực cho thấy sự hiện diện – cả hình thức và nội dung – của hệ thống ngân hàng hai cấp. Kinh doanh năng động của các ngân hàng thương mại. hội nhập với hệ thống tài chính toàn cầu. http://www. Chúng tôi cho rằng. tách biệt với mặt bằng lãi suất của kinh tế thế giới sang điều chỉnh linh hoạt. với quyền tự chủ về chi phí đầu vào và giá bán đầu ra. To chuc tin dung TRẦN TRÍ DŨNG Công ty nghiên cứu DHVP – Phân tích Kinh tế Vebimo.baomoi.epi Nhìn lại cơ chế điều chỉnh lãi suất ở Việt Nam 02/06/2010 in Chinh sach cong. nhất là từ khi hệ thống ngân hàng hai cấp được thiết lập(1). tỷ giá đã được nâng nhằm cải thiện tình hình căng thẳng về cung . Thời gian qua.com/Info/Dieu-chinh-ty-gia-tac-dong-the-nao-toi-chungkhoan/126/3883418. Thực tế đang cho thấy thanh khoản của các ngân hàng nói riêng và thị trường tài chính nói chung vẫn đang là vấn đề khó giải quyết và nó cũng đã có tác động mạnh đến thị trường chứng khoán trong suốt hơn 3 tháng qua.thì thị trường sẽ có thể tiếp nối đà hồi phục trong thời gian sau Tết”. cơ chế điều hành lãi suất đã có những thay đổi căn bản. Điều hành lãi suất giai đoạn 1996-2000 .cầu ngoại tệ trên thị trường. những tác động này dường như đã phản ánh khá mạnh khi VN-Index (tính đến 12/02/2010) đã giảm khoảng 20% so với mức đỉnh 633. sử dụng đa dạng các công cụ hiện đại.Công ty Chứng khoán Dầu khí (PSI) “Hai quyết định của Ngân hàng Nhà nước được đánh giá là khá mạnh tay sau lần nâng tỷ giá gần đây nhất vào tháng 12/2009.com (Một bước phát triển mạnh mẽ trong cơ chế điều chỉnh lãi suất. duy trì mức thanh khoản tốt nhất cho thị trường tiền tệ – tín dụng. Trong khi những vấn đề tồn tại của nền kinh tế đã phản ánh vào giá cổ phiếu và khiến cho thị trường giảm về mức giá khá hấp dẫn thì trong ngắn hạn.

Năm 2008 chứng kiến sự biến động mạnh của lãi suất với sự điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và uyển chuyển của NHNN. các tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung – cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ. NHNN chỉ quy định các mức lãi suất "trần" theo thời hạn cho vay và khống chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay với lãi suất huy động vốn bình quân ở mức 0. Lãi suất cao. cơ chế lãi suất thỏa thuận được áp dụng trong hoạt động tín dụng. Từ giữa tháng 1-2008. các ngân hàng thương mại. Các nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá cho ngân hàng thương mại cũng được đưa vào sử dụng để bổ sung thêm công cụ điều chỉnh lãi suất. Đây là nền tảng cho việc xác định điểm cân bằng tỷ giá theo cách tính sức mua tương đương (PPP). Lãi suất tái cấp vốn cũng tăng gấp hai lần trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 6-2008.7%/tháng kể từ ngày 4-9-1999. Song hành với việc nới lỏng kiểm soát lãi suất. giảm xuống còn 0. thậm chí cao hơn lãi suất huy động dài hạn. từ đó. Lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh giảm để phù hợp với chỉ số lạm phát. Quy định này nhằm khắc phục tình trạng hầu hết các ngân hàng thương mại đều có mức lợi nhuận cao trong khi doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn do biến động kinh tế khu vực và thế giới. chỉ giữ lại quy định trần lãi suất cho vay.2%/năm). là cơ hội tốt đầu tư vào trái phiếu Việt Nam trong thời kỳ này.05%/tháng so với lãi suất tái cấp vốn. dự trữ bắt buộc đã tăng thêm 1% với tiền gửi nội tệ và ngoại tệ từ không kỳ hạn tới dưới 12 tháng. Từ tháng 7-2000.000% (2). đặc biệt trong hai năm 1998-1999. NHNN điều chỉnh lãi suất cơ bản lên 14%/năm.35%/tháng (tương đương 4. NHNN bổ sung 33. cơ chế lãi suất của Việt Nam luôn cố gắng duy trì mức lãi suất thực dương – như một giải pháp cho vấn đề lạm phát. nghiệp vụ thị trường mở được áp dụng với lãi suất hình thành qua các phiên giao dịch. Lãi suất tái chiết khấu được qui định ở mức thấp hơn 0. trong tương quan với các nền kinh tế khu vực. Nếu chia lãi suất dương cho tỷ lệ lạm phát thì tỷ lệ này rất cao… Năm 1999 là 5. Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ. ở mức 13%/năm kể từ 10-6-2008. NHNN từng bước chuyển sang áp dụng hình thức cho vay bằng ngoại tệ. Trong tuần thứ ba của tháng 2-2008. về cơ bản. Hai chỉ tiêu này được công bố chính thức định kỳ hàng tháng và điều chỉnh kịp thời trong trường hợp cần thiết. sử dụng đồng thời các công cụ lãi suất và hoạt động thị trường mở. Thậm chí. Trong một thời gian dài.Trần lãi suất được điều hành linh hoạt trong thời kỳ từ năm 1996 đến tháng 7-2000. quy định chênh lệch lãi suất được xóa bỏ. Cơ chế điều hành lãi suất với một mức cơ bản kèm biên độ dao động được NHNN áp dụng kể từ tháng 8-2000 thay cho cơ chế lãi suất trần. Trước sự vận động bất lợi của thị trường chứng khoán và lạm phát tăng cao ngay từ đầu năm 2008. trần lãi suất cho vay lên tới 21%/năm. NHNN liên tục điều chỉnh trần lãi suất cho vay theo hướng giảm ngưỡng trần và mức khống chế. Công cụ lãi suất được phát huy tối đa. Nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện theo cả hai hướng mở rộng và thắt chặt tiền tệ đã không tạo tác động đáng kể nào tới lãi suất. Đặc điểm đáng chú ý trong giai đoạn các ngân hàng gặp khó khăn thanh khoản này là lãi suất huy động ngắn hạn bằng. Thời điểm này.1%/tháng.5%. hình thành một cơ chế tự điều chỉnh. có những thời điểm còn xuất hiện thiểu phát. từ cuối những năm 80 cho tới năm 2000. Thay thế cho khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi và tối đa về tiền vay. Và kể từ sau tháng 5-2002. Với quy chế điều hành là cho phép tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh không vượt quá 150% lãi suất cơ bản. liên tục có điều chỉnh và triển khai quyết liệt. Mục tiêu kiểm soát lạm phát đã đạt được. Lãi suất tái cấp vốn năm 1997 là 1. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng đã bước đầu thực hiện tự do hóa lãi suất huy động.000 tỉ đồng vào lưu thông nhưng các ngân . Mức lãi suất chiết khấu so với cuối năm 2007 tăng thêm 8. Tới cuối tháng 1-1998. quan hệ cung – cầu vốn trên thị trường và thực hiện giải pháp kích cầu của Chính phủ. Điều hành lãi suất từ sau năm 2000 Đến tháng 5-2001.350% và năm 2000 là trên 6. NHNN thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ.

Kết quả thống kê cho thấy: a) Việc tăng lãi suất đồng loạt chứng tỏ các ngân hàng thực chất đang chuẩn hóa lại mức lãi suất công bố minh bạch. kinh doanh trong năm 2008. nhưng vẫn không tìm được đối tác quan tâm. Lãi suất thương mại được nâng lên. Nhằm hỗ trợ các đơn vị kinh doanh vượt qua khó khăn trong bối cảnh khủng hoảng tài chính khu vực. NHNN. Chi phí lãi vay cao kết hợp với tăng giá đầu vào tạo ra áp lực lớn với sự vận hành sản xuất. Tại thời điểm đó. cũng có ý kiến coi những khó khăn trước mắt là cần thiết cho một thị trường tiền tệ vận hành lành mạnh trong tương lai gần. Trên thị trường.9%/năm(4).5%/năm đến 11. Chấp nhận chi phí đầu vào tăng cao.5% và nới rộng áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận cả với những khoản vay ngắn hạn (có kỳ hạn dưới 365 ngày). Thông báo phát hành 20. các liệu pháp tiền tệ đã phát huy tác động ổn định kinh tế vĩ mô. đã ra quyết định cho phép các ngân hàng thỏa thuận lãi suất cho vay trung và dài hạn (có kỳ hạn trên 365 ngày) với doanh nghiệp. chỉ hai tuần trước đó. Nếu đúng vậy. chính sách tiền tệ được mở rộng trong các năm từ 1997 đến 1999. ngày 26-22010. Tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB). Hiệu lực không thật rõ ràng của các nghiệp vụ thị trường mở vào thời kỳ lạm phát gia tăng là tín hiệu sự tồn tại bẫy thanh khoản trong hệ thống tín dụng. Cuối tháng 6-2008. Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất đang đi lên. Mặc dù khối lượng không lớn nhưng dấu hiệu này gợi mở khả năng tiếp tục duy trì các chính sách tiền tệ – tài chính vĩ mô. lãi suất huy động điều chỉnh 3 lần chỉ trong vòng 10 ngày và tăng lên 12. Hai vấn đề đặt ra Cơ chế điều chỉnh lãi suất một lần nữa trở thành tâm điểm chú ý của người làm chính sách. phiên đấu thầu hai loại trái phiếu chính phủ ngày 13-6-2008 có kỳ hạn 2 năm và 3 năm đã không thu hút được bất kỳ thành viên nào tham gia. Ngày 30-6-2008. . Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia (UBGSTCQG) Lê Đức Thúy có ý kiến tại cuộc họp báo thường kỳ Chính phủ ngày 3-3-2010 rằng. với tỷ lệ không nhỏ dành cho các dự án bất động sản và đầu tư tài chính.hàng thương mại vẫn tiếp tục tăng lãi suất huy động tiền gửi. mặt bằng lãi suất mới sẽ như thế nào trong thời gian tới? Với câu hỏi thứ hai.300 tỉ đồng tín phiếu bắt buộc được đưa ra vào giữa tháng 2-2008 và thực hiện một tháng sau đó. Ngân hàng Kiên Long áp dụng lãi suất huy động tiền đồng cao kỷ lục là 20%/năm cho khách hàng gửi tiền kỳ hạn 12 tháng. Chính phủ có thể cân nhắc dỡ bỏ trần lãi suất huy động 10. điều chỉnh tăng dần các công cụ lãi suất là giải pháp hợp lý và sớm mang lại kết quả bình ổn thị trường tiền tệ. Có ý kiến cho rằng dường như một kịch bản của năm 2008 đã lặp lại? Tuy vậy. hai câu hỏi được đặt ra nhiều nhất: Thứ nhất. So với giai đoạn khủng hoảng tiền tệ khu vực 1997-1998. mặc dù trước đó có thể đã phải thực hành nhiều cách thức không chính thức để thỏa mãn mức bù rủi ro khách gửi tiền muốn (như khuyến mãi). Với mức lãi suất thực dương. Vào thời điểm giữa tháng 3-2010. lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại tiến gần tới trần lãi suất cho vay. lãi suất cho vay dao động từ 17%-20%/năm. Những điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước. 2 tỉ đồng trái phiếu chính phủ kỳ hạn 2 năm với lãi suất 11%/năm đã được huy động thành công(3). Khảo sát nhanh ngày 16-4-2010 tại các ngân hàng thương mại ghi nhận mức lãi suất huy động phổ biến dao động từ 11. NHNN có tiếp tục sử dụng lãi suất cơ bản làm công cụ chủ đạo điều tiết thị trường tiền tệ? Thứ hai. tại thời điểm đó. Điều này có thể là kết quả của những khoản tín dụng chất lượng thấp đã cung cấp trong thời gian trước. cùng với động thái tích cực của lãi suất huy động vốn mới nhất cận kề trung tuần tháng 4-2010. hạn chế mở rộng tín dụng là những dấu hiệu cho thấy hệ thống ngân hàng thương mại cũng gặp khó khăn với vấn đề thanh khoản. thị trường đã chuyển động gần đúng với những dự báo lý thuyết. Lưu ý rằng. Trong tháng 6-2008. chính sách tiền tệ của Việt Nam trong năm 2008 sử dụng nhiều công cụ hơn và cường độ điều chỉnh dồn dập hơn. những thay đổi rõ nét đang diễn ra. có tổ chức tài chính sẵn sàng chuyển nhượng lượng trái phiếu đang sở hữu với mức chiết khấu lên tới 40% mệnh giá. cộng đồng kinh doanh và giới nghiên cứu – phân tích vào đầu năm 2010.5%/năm với kỳ hạn 1 tháng. rất khó xác định ảnh hưởng của nghiệp vụ này tới lãi suất.

78%. nhưng cũng không hoàn toàn là thị trường tự do để điều hành lãi suất.5%/năm trở lên với lãi suất kỳ hạn 3 tháng. Tuy nhiên.2% (USD). c) Mức giảm chênh lệch do xu hướng đồng thuận giảm lãi suất cho vay xuống mức 15% (từ mức cao 17-18%) và xu hướng tăng lãi suất mới chớm xuất hiện này cho thấy NHTM còn phải giải quyết bài toán tương phản giữa tăng thanh khoản và suy giảm lợi nhuận từ hoạt động tín dụng. để cả hệ thống ngân hàng chuyển sang vận hành theo cơ chế hai cấp cần nhiều thời gian hơn hẳn việc ban hành các quyết định và văn bản. 1) Phạm Minh Chính và Vương Quân Hoàng.79% và ở mức cao nhất (của phép tính giả định tại đây): 12. chúng ta sẽ không ngạc nhiên nếu chứng khoán và bất động sản được hưởng lợi từ sự dịch chuyển ý thức đầu tư vừa xét (5).49% (VND) và 3. Tại phiên . Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 9. nhưng các NHTM vẫn lệ thuộc rất nhiều vào ý kiến chỉ đạo từ NHNN trong việc ra quyết định cho vay và cho vay với giá nào. cùng xu hướng với đầu tư (đầu cơ) bất động sản. 2010. mức huy động lãi suất các ngân hàng phải rơi vào khoảng trên 11.b) Áp lực cạnh tranh để thu hút nguồn thanh khoản gia tăng./. Kinh tế Việt Nam: Thăng trầm và Đột phá. Tái bản lần 1. vì ở dưới các cận này. Quan hệ giữa lạm phát với lãi suất và kiềm chế lạm phát ở Việt Nam. lãi suất VND 3 tháng phải đạt 11. Thực tế này yêu cầu phải có một công cụ ít mang tính hành chính hơn. có thể xét lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 3 tháng theo công bố của Vietcombank ngày 13-3 là 10. gọi là ngân hàng thương mại nhà nước hay ngân hàng thương mại quốc doanh. Trái phiếu phát hành vào ngày 01-7-2008. Riêng nhóm sản xuất – kinh doanh không có nhiều cải thiện về xu hướng. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Ngoại thương. Ngan hàng Công Thương Việt Nam. Các ngân hàng trực thuộc NHNN trước đây và ngân hàng chính sách vào thời điểm đó cũng lần lượt được chuyển đổi để trở thành ngân hàng thương mại thuộc sở hữu nhà nước. 227-34 (2) Lê Quốc Lý. nếu điều chuyển đầu tư khác và bảo hiểm (thường có liên quan tới sản xuất – kinh doanh) vào nhóm này của điều tra. có thể do dự báo rằng khả năng NHNN can thiệp sâu để bù thanh khoản cho hệ thống sẽ giảm đi đáng kể theo những động thái chính sách tiền tệ cuối quý I/2010. và dẫn tới tình trạng sức ép tăng lãi suất tiền gửi cao hơn. Rõ ràng không thấy sức hấp dẫn với lãi suất tiền đồng của ngân hàng. tách biệt với chức năng ngân hàng thương mại. tr. Để có thêm chi tiết. ít nhất là về xu hướng giảm tiền gửi ngân hàng. Tổng khối lượng gọi thầu là 300 tỉ đồng với kỳ hạn 2 năm. NXB Tri thức. mệnh giá 100. Bốn NHTM nhà nước hình thành đầu tiên gồm: Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam. Dù đã được giao quyền chủ động kinh doanh tín dụng. Câu hỏi thứ nhất gây nhiều lúng túng hơn. trong đó có quyền thỏa thuận lãi suất. tình trạng đô-la hóa sẽ gia tăng vì lợi ích của người gửi tiền. Để đảm bảo hấp dẫn. Đối chiếu khảo sát ý kiến người dân về lựa chọn kênh đầu tư trong năm 2009 và 2010 cũng phản ánh sự thay đổi có thể giải thích hiện tượng thu hút vốn ngân hàng khó thời gian vừa qua. vậy lần áp dụng này có gì mới? Hệ thống ngân hàng hai cấp tại Việt Nam ra đời ngày 23-5-1990 khi NHNN được cấu trúc lại cho phù hợp với chức năng của ngân hàng trung ương hiện đại. Trung tâm GDCK Hà Nội đã tổ chức phiên đấu thầu Trái phiếu Chính phủ do Kho bạc Nhà nước phát hành đợt 7-2008. Ở mức kỳ vọng lạm phát thấp nhất. tháng 5-2008 (3) Ngày 27-6-2008. Bỏ lãi suất cơ bản đồng nghĩa với việc NHNN mất đi một công cụ điều tiết thị trường? Cơ chế thỏa thuận đã từng được áp dụng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Sự sẵn sàng cho đầu tư chứng khoán cũng cao hơn.000 đồng. Từ quan sát chuyển động vi mô này.

1. pp7-9 NGUỒN: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 9 (201) NĂM 2010 https://luattaichinh.com Các yếu tố tác động đến thị trường BĐS năm 2010 Báo cáo của tổ chuyên gia liên ngành về thị trường bất động sản đã đưa ra các yếu tố tác động đến sự phát triển của thị trường BĐS trong năm 2010.com thực hiện ngày 16-4-2010 về sự hình thành mặt bằng lãi suất huy động mới với nội tệ VND (5) Vebimo. “Động học của tăng trưởng thực: góc nhìn vi mô”. Đây là lần thứ 3 KBNN phát hành trái phiếu kỳ hạn 2 năm trong năm 2008 qua hình thức đấu thầu qua TTGDCKHN.00%/năm. Vol. . lạm phát. 1.. (4) Khảo sát do Hệ thống Phân tích Kinh tế Vebimo. 12-4-2010. thủ tục pháp lý về BĐS. Đây là những yếu tố quan trọng nhất quyết định mức độ ổn định và phát triển của thị trường BĐS trong năm 2010. Iss. Lãi suất trần được Bộ Tài chính đưa ra tại phiên đấu thầu là 11.00%/năm.00%/năm. Yếu tố lạm phát mặc dù có bị ảnh hưởng của những tháng đầu năm 2010 nhưng với quyết tâm của Chính phủ để kiềm chế lạm phát thì hy vọng lạm phát cả năm sẽ được khống chế ở mức không quá 2 con số. mức độ đầu tư cơ sở hạ tầng. kinh tế Việt Nam trong năm 2010 được duy trì mức độ phát triển bằng và cao hơn một chút so với năm 2009. giá nguyên vật liệu xây dựng. Vietnam Economy Monitor Weekly..đấu thầu. tổng khối lượng dự thầu là 2 tỉ đồng với lãi suất dự thầu 11. 2010. có rất nhiều yếu tố tác động đến sự phát triển của thị trường BĐS như: tăng trưởng kinh tế.wordpress. Kết quả. Tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát Theo dự báo. chính sách thuế. tổng khối lượng trái phiếu huy động thành công là 2 tỉ đồng với lãi suất 11. và số lượng trái phiếu huy động được là 702 tỉ đồng sau 3 đợt phát hành. bằng lãi suất trần. quy hoạch xây dựng đô thị. thị trường chứng khoán. lãi suất ngân hàng. Theo đó.

tạo ra không khí sôi động hơn cho thị trường BĐS. Theo số liệu khảo sát. (Theo DO thij ) http://timnhadat. Thị trường chứng khoán Cùng với sự tăng trưởng trở lại của nền kinh tế.5%. Tại các đô thị lớn khác như Đà Nẵng.com. Chỉ số Vn-Index vào đầu tháng 3 năm 2010 đã đạt ngưỡng trên 530 điểm là yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của thị trường BĐS. Nhiều nhà đầu tư đang nghĩ về một kịch bản . Việc Chính phủ đã cho phép các ngân hàng thương mại được chủ động điều chỉnh lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Mặc dù vậy. đầu năm 2010. thị trường chứng khoán đã phát đi tín hiệu có sự tăng trưởng.com/vi-VN/News/thitruong/2010/06/17680.vn . Ngân hàng Nhà nước đã ban hành hai quyết định quan trọng liên quan đến chính sách tiền tệ.aspx Điều chỉnh lãi suất và tỷ giá: Ảnh hưởng ra sao đến thị trường? vietstock. nhất là phân khúc thị trường cao cấp sẽ tiềm ẩn những nguy cơ gây ra hiện tượng “ bong bóng” bất động sản mới. lãi suất cơ bản sẽ tăng lên 8%/năm từ 01/12/2009 và tỷ giá liên ngân hàng được nới rộng thêm 5. trong quý I năm 2010 mức lãi suất cho vay của một số ngân hàng thương mại hiện đã tới 18%/năm. Cần Thơ. Lãi suất ngân hàng Lãi suất ngân hàng và sự phát triển của thị trường BĐS có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau rất chặt chẽ.Công tác quy hoạch xây dựng đô thị và mức độ đầu tư cho cơ sở hạ tầng Năm 2010. thủ đô Hà Nội sẽ hoàn thành đồ án quy hoạch chung xây dựng thủ đô. thành phố Hồ Chí Minh cũng sẽ tiến hành điều chỉnh đồ án quy hoạch chung của thành phố và vùng lân cận. sẽ tạo điều kiện để lãi suất cho vay đầu tư được điều chỉnh về mức thích hợp (khoảng 11% . Lãi suất cơ bản và lãi suất cho vay đầu tư BĐS của các ngân hàng thương mại hiện nay đang ở mức cao. Hải Phòng. Theo đó.17:42 25-11-2009 (Vietstock) – Ngày 25/11. nếu việc mở rộng tín dụng một cách ồ ạt vào thị trường BĐS. trong khi đó.13%/năm). một số dự án đầu tư cơ sở hạ tầng có quy mô lớn đang được triển khai một cách khẩn trương sẽ có tác động tích cực đến sự phát triển của thị trường BĐS.

Nay với việc sử dụng công cụ lãi suất. Tính trong 10 tháng.52 và 0. Tình trạng căng thẳng thanh khoản trong hệ thống NHTM thời gian qua một phần có nguyên nhân từ quy định này. NHNN kiểm soát tín dụng bằng một loạt các biện pháp hành chính. NHNN rõ ràng cũng đang có ý định cởi trói cho các ngân hàng thương mại để huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế.55% so với tháng trước. tài sản tài chính và kể cả các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên. và doanh nghiệp nào sẽ bị ảnh hưởng? Tăng lãi suất cơ bản lên 8%/năm. lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu. NHNN cũng đã có công văn yêu cầu các NHTM hạn chế cho vay đầu tư vào các lĩnh vực phi sản xuất. CPI tăng 5. tăng tỷ giá liên ngân hàng 5. Thời điểm áp dụng của quy định mới này là từ 01/12/2009. mức lãi suất trần cho vay được khống chế ở mức 10. NHNN đã một lần nữa thể hiện ý chí kiểm soát tốc độ tăng trưởng. NHNN cũng công bố mức tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng áp dụng cho ngày 26/11/2009 là 17. lãi suất cơ bản có tính chất tham chiếu cho lãi suất trần cho vay. việc này lại có tác động kép là chi phí vốn của NHTM sẽ cao hơn. so với cùng kỳ năm trước tăng 4.422 – 18. chúng ta đã có thông tin Chính phủ đồng ý chủ trương sẽ tiếp tục gói kích cầu thứ 2. lãi suất cân bằng thực sự trên thị trường có thể đã vượt xa mức lãi suất trần quy định này. tác động đến nền kinh tế có thể sẽ có hiệu quả và công bằng hơn vì biện pháp này mang tính thị trường nhiều hơn. lãi suất cơ bản sẽ tăng thêm 1% sau hơn 10 tháng được giữ ở mức 7%/năm. Việc điều chỉnh tăng lãi suất. Việc tăng lãi suất cơ bản đồng nghĩa với tăng trần lãi suất cho vay và huy động. Có kích hoạt đợt tăng lãi suất trên thị trường? Câu hỏi lớn nhất là liệu việc này có kích hoạt cho một đợt tăng lãi suất trên thị trường hay không? Hiện tại.năm 2008 sẽ lặp lại.961. Chính sách hỗ trợ này . chất lượng tín dụng. Biện pháp này đặc biệt có ý nghĩa khi mà lạm phát đang tăng trở lại. Lãi suất trần huy động điều chỉnh tăng lên trên 10% sẽ giúp hút tiền vào hệ thống ngân hàng. Liệu các chính sách này có tác động tiêu cực đến thị trường hay không. lãi suất chiết khấu tăng từ 5%/năm lên 6%/năm.500 VND/USD. Ở Việt Nam. Chẳng hạn. Ngoài ra.000 đồng (5. Đồng thời. mức tỷ giá sàn và trần tương ứng sẽ là 17. và giảm cung tiền trong nền kinh tế.55%.HCM. thay vì +/-5% như trước đây. vào ngày 12/11/2009.07%. Hà Nội công bố lần lượt tăng 0. Trước đó. mặc dù có thể phải chịu lãi suất vay cao hơn. khác với các nước lãi suất cơ bản chỉ có tính chất tham chiếu cho lãi suất thị trường. Ngân hàng Nhà nước đã có quyết định điều chỉnh lãi suất cơ bản tăng từ 7%/năm lên 8%/năm. Người đi vay cũng dễ dàng tiếp cận vốn hơn. kề từ tháng 12/2009.5%) từ mức 17. tăng gần 1. Chúng tôi cũng nhìn nhận việc “kiểm soát” tốc độ tăng tín dụng này chỉ có ảnh hưởng nhất định trong ngắn hạn.5%/năm. Tổng cục Thống kê vừa cho biết. chỉ số CPI tháng 11 của TP.5% Ngày 25/11. Tuy vậy. sẽ không ảnh hưởng nhiều đến mức lãi suất trên thị trường trong thời gian tới. Với các điều chỉnh này. Trước đó.35%. NHNN đã có văn bản số 8883/NHNN-CSTT về việc không thực hiện lãi suất thỏa thuận với đầu tư bất động sản. Như vậy. theo chúng tôi. Bên cạnh đó. chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2009 đã tăng ở mức khá cao là 0. và các ngân hàng sẽ phải cân nhắc trong việc giải ngân tín dụng. Trước đây. bằng cách hỗ trợ lãi suất 2% đến hết Q1/2010. Tăng lãi suất: một mũi tên trúng nhiều đích Với việc đồng loạt tăng 1% đối với lãi suất cơ bản. tăng tính thanh khoản cho thị trường tiền tệ.027 hiện tại. NHNN cũng thu hẹp biên độ tỷ giá mới cho giao dịch mua bán giao ngay giữa USD và VND là +/3% từ ngày 26/11/2009. lãi suất tái cấp vốn tăng từ 7%/năm lên 8%/năm.

Nếu điều này xảy ra. khi kênh tín dụng trong hệ thống ngân hàng sẽ bớt tình trạng ách tắc. Các doanh nghiệp khác vay vốn bằng ngoại cũng rơi vào tình trạng tương tự. Điều này sẽ giúp giới hạn mức thâm hụt cán cân thương mại. Về tổng thể. Điều quan trọng khác. quy mô thị trường ngoại tệ phi chính thức sẽ thu hẹp lại. có thể một lượng tiền gián tiếp sẽ được bơm ra cho các doanh nghiệp theo gói kích cầu thứ 2. Tỷ giá về mức hợp lý sẽ giúp cho các doanh nghiệp nhập khẩu bớt khó khăn hơn trong việc tiếp cận nguồn tiền thanh toán. Bên cạnh đó. Nhìn nhận một cách khách quan. Bộ Tài chính cũng sẽ rà soát để cân nhắc tăng thuế nhập khẩu nếu còn dư địa. giày da. Đối với nhà đầu tư nước ngoài.việc “thắt chặt” này sẽ có ảnh hưởng ngắn hạn trong tháng 12/2009. và Bộ Công Thương sẽ hạn chế nhập khẩu các mặt hàng không cần thiết. Tác động đến TTCK và doanh nghiệp Rõ ràng hai thông tin về chính sách tiền tệ và tỷ giá hôm nay đã tác động mạnh đến tâm lý nhà đầu tư. Các doanh nghiệp xuất khẩu như thủy sản. khi các mặt hàng xuất khẩu trở nên cạnh tranh hơn.com/dieu_chinh_lai_suat_va_ty_gia_anh_huong_ra_sao_den_thi_t ruong_-616626709-50397184. Sang Q1/2010. Trong khi đó. Dù vậy. các tập đoàn nhà nước có nguồn thu ngoại tệ có thể sẽ bán lại cho ngân hàng. giải tỏa áp lực lên vấn đề tỷ giá. Nâng tỷ giá: giúp giảm căng thẳng trên thị trường ngoại tệ Thời gian vừa qua. người mua có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận nguồn ngoại tệ). việc căng thẳng tỷ giá này không chỉ do thiếu hụt USD trong nền kinh tế.000 đồng. và gián tiếp giúp tỷ giá thị trường ổn định ở mức mong muốn. Vì vậy. các chính sách được xem là để giải quyết hậu quả. giảm chi phí cho doanh nghiệp và nền kinh tế. thị trường ngoại tệ đã có những căng thẳng nhất định. Quyết định điều chỉnh tỷ giá này có thể kéo tỷ giá trên thị trường xuống (khi người bán ngoại tệ sẽ sẵn lòng hơn để bán. dệt may. Điều cần xem xét thêm là giá trị nợ bằng ngoại tệ của Chính phủ cũng sẽ tăng lên mạnh. cao su. Nhiều nhà đầu tư đang suy nghĩ về một kịch bản năm 2008 sẽ lặp lại. các doanh nghiệp có đòn bẩy cao sẽ bị ảnh hưởng trước tiên. nợ ngoại tệ của Chính phủ cũng sẽ bị ảnh hưởng. các chính sách hiện nay nhằm để ngăn chặn các nguy cơ có thể xảy ra. ổn định tỷ giá ở mức phù hợp sẽ rất quan trọng. Như vậy. Hồ Bá Tình http://news. Lãi suất toàn hệ thống tăng cao cũng sẽ ảnh hưởng gián tiếp đến kênh đầu tư trên TTCK. điều đáng quan tâm là chi phí vốn của các doanh nghiệp vay vốn bằng ngoại tệ sẽ tăng cao. việc ổn định tỷ giá có thể giúp họ tự tin hơn trong việc giải ngân trên TTCK.socbay. điều này cũng giúp giảm áp lực tăng giá hàng nhập khẩu khi tỷ giá ở mức hợp lý hơn. giảm bớt tính trạng đô la hóa trong nền kinh tế. Ngoài ra. Chúng tôi không kỳ vọng về việc tăng lãi suất cơ bản sẽ kích hoạt một đợt gia tăng lãi suất trên thị trường. Chênh lệch giữa tỷ giá USD/VND chính thức và phi chính thức đã có lúc lên tới 2. Tuy nhiên. Năm 2008.html .tiếp tục tạo ra một lượng vốn giá rẻ cho các doanh nghiệp. Quyết định này có thể sẽ giúp nhiều ngân hàng “dễ thở” hơn trong vấn đề thanh khoản. mà một phần do việc tích trữ và đầu cơ ngoại tệ. giúp toàn thị trường vận hành linh hoạt trở lại. Theo VNExpress. dầu khí… cũng sẽ được hưởng lợi. và kiềm chế lạm phát. chúng tôi cho rằng bối cảnh hai thời điểm này có sự khác biệt khá lớn. Nhiều tập đoàn nhà nước vay vốn bằng ngoại tệ sẽ gặp khó khăn trong vấn đề trả nợ.

đường D dịch chuyển về bên trái tạo thành D’. -Cầu tiền tệ là nhu cầu về tiền của cá nhân. số tiền chi tiêu về nhà máy. tiền giấy và tiền gửi ngân hàng có thể rút ra bằng séc. Công chúng (các gia đình và các hàng kinh doanh) muốn giữ lượng tiền M1 khác nhau ở những mức lãi suất khác nhau. Đường cong về mức cung tiền tệ được vẽ thẳng đứng vì việc cung cấp tiền tệ được định ra ở M cho mọi lãi suất. Tín dụng trở nên dồi dào hơn. Kết quả là việc tiến hành các dự án đầu tư mới trở nên có lợi hơn. Trước tiên hãy giả định. đơn vị. Đây là mức lãi suất ở điểm số lượng tiền do ngân hàng trung ương đề ra làm mục tiêu phù hợp với số tiền mà công chúng muốn nắm giữ. Các nhà kinh tế đã định nghĩa M là tiền giao dịch bao gồm: M1 là tổng số tiền kim khí và tiền giấy lưu thông bên ngoài ngân hàng cộng với tiền gửi ngân hàng có thể rút ra bằng séc và định nghĩa rộng hơn (M2) bao gồm những tài sản như tài khoản tiền gửi tiết kiệm ngoài tiền kim khí. mức cầu tiền tệ giảm. dịch vụ… Đường thẳng đứng S biểu thị ngân hàng trung ương giữ cung cấp tiền tệ ở một lượng định trước gọi là M. Ngoài ra những thay đổi dự định trong cầu tìen tệ (không phải do sự thay đổi trong mức giá cả. lãi suất tăng. các nhà doanh nghiệp và các gia đình cắt giảm lượng tiền mặt và tài khoản séc của họ. mua bán hàng hoá. Giao điểm giữa cung và cầu trên đồ thị xác định lãi suất cân bằng. Khi nào thì ngân hàng trung ương bơm tiền ra lưu thông.5. với mức giá cả ổn định và dự tính lạm phát trong tương lai là không đáng kể. khi nào thì hút tiền từ lưu thông về để điều chỉnh lãi suất thị trường một cách hợp lý. lãi suất trên đồ thị chuyển từ I sang iB. Giao điểm giữa D’ và S’ là A’ với mức lãi suất cân bằng mới i’A. 3. Lãi suất tăng. kho hàng tăng lên. tổ chức để làm phương tiện giao dịch. trao đổi. .Lạm phát Chúng ta hãy sử dụng cung cầu quỹ với lãi suất để giải thích sự biến động của lạm phát ảnh hưởng đến lãi suất như thế nào. đường S dịch chuyển sang trái thành S’. *Chính phủ thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ: khi ngân hàng trung ương lo sợ sắp có suy thoái sẽ tăng mức cung tiền tệ bằng cách bơm tiền vào lưu thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ. hoặc lãi suất gây ra) cũng ảnh hưởng đến lãi suất cân bằng.1. Quyền kiểm soát mức cung tiền tệ được dành cho Chính phủ. tổng sản phẩm. dịch đường D sang phải tạo ra thăng bằng mới trên thị trường. người tiêu dùng có khuynh hướng mua nhiều hàng hơn…Vón đầu tư tăng. thiết bị.Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất 3. lãi suất thấp thì số tiền dôi ra lớn hơn.5. thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế. *Chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ: khi ngân hàng trung ương muốn kiềm chế lạm phát. Mức cung tiền tệ sẽ giảm đi. mức đầu tư sẽ giảm. tổng mức cầu tăng lên. giảm lãi suất chíết khấu. giảm lạm phát. cung quỹ cho vay được biểu hiện bằng So và cầu quỹ cho vay được biểu hiện bằng Do và lãi suất io. trên cơ sở đó ổn định thị trường. Nghiên cứu nhân tố cung cầu tiền tệ tác động qua lại đến lãi suất có một ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách tiền tệ. sẽ thực hiện một chính sách thắt chặt tiền tệ thông qua công cụ của nó (thay đổi tăng mức dự trữ bắt buộc. Sự thay đổi cung cầu tiền tệ sẽ ảnh hưởng đến lãi suất.2. Trên đồ thị lãi suất chuyển từ i sang iA. lãi suất có xu hướng giảm xuống. bởi vì hạn chế mức cung tiền tệ là điều cần thiết để tiền có giá trị. giảm hạn mức tín dụng).Mức cung cầu tiền tệ -Cung tiền tệ là tổng thể tiền tệ được sử dụng để giao dịch thanh toán trên thị trường.

-Ảnh hưởng đến cầu tiền vay: khi nền kinh tế đang phát triển nhanh nhất là trong giai đoạn phát đạt của một chu kỳ kinh doanh. Tóm lại. Điều này có một ý nghĩa quan trọng trong việc dự đoán lãi suất khi nền kinh tế có xu hướng lạm phát tăng. không chỉ làm giảm độ lớn của cung mà còn kéo theo việc tăng thêm quy mô về cầu quỹ cho vay . ông cho rằng trong mọi trường hợp tỷ lệ lạm phát của một nước là cực kỳ cao trong bất cứ thời kỳ kéo dài nào. khi lạm phát dự tính tăng lên . lãi suất tăng. . vì vậy cung tiền vay tăng lên. sẽ đạt được một điểm cân bằng mới về bên phải. ngoại tệ ra bán để kiềm chế lạm phát. các công ty càng có nhiều ý định vay vốn và tăng số dư nợ nhằm tài trợ cho các cuộc đầu tư được trông đợi là sinh lời.Bởi với lãi xuất danh nghĩa cho trước . Cầu tiền vay tăng lên. kích thích người ta đi vay hơn là cho vay. ngược lại.4. đường Do dich chuyển sang phải tạo thành D1. Khi lạm phát cao. lãi suất có xu hướng tăng lên.5. đường So chuyển về bên trái thành S1 lãi suất tăng.Khi lạm phát tăng. Khi đường cung và đường cầu tiền vay tăng lên và dịch chuyển về bên phải. có một chính sách lãi suất hợp lý.Người đi vay sẽ kiếm được khoản thu lợi do giá hàng hóa được mua bằng tiền đi vay sẽ tăng lên. Bởi vì khi nền kinh tế ổn định.Sự ổn định của nền kinh tế -Ảnh hưởng đến cung tiền vay: khi nền kinh tế ổn định và phát triển. Trên cơ sở đó. dù ở từng mức lãi suất riêng lẻ hay ở tất cả mọi lãi suất. thì tỷ lệ tăng trưởng của cung ứng tiền tệ là cực kỳ cao. công chúng chỉ muốn giữ một số tiền nhất định đủ cho nhu cầu sử dụng. đổ xô đi mua hàng hóa dự trữ vàng. đảm bảo cho lãi suất thực dương. Trong nền kinh tế ổn định và có xu hướng phát triển. Một sự giảm xuống của cung và một sự tăng lên của cầu đối với quỹ cho vay sẽ đẩy lãi suất tăng từ io đến i1. chi phí thưc của việc vay tiền giảm xuống .Các chính sách của Nhà nước Mục tiêu của nền kinh tế phát triển là: -Tạo ra sản lượng cao. Nhiều nhà kinh tế đã khuyến nghị rằng cuộc chiến chống lạm phát nhất định sẽ thất bại nếu chúng ta muốn hạ thấp lãi suất. Trong tình hình ấy những người có khả năng cho vay không muốn giữ tiền mặt. 3. tăng nhanh tổng sản phẩm quốc dân -Đạt tỷ lệ người có công ăn việc làm cao. khi lạm phát dự tính tăng. rủi ro trái khoán giảm. Theo Friedman. yếu tố kích thích làm tăng cung quỹ cho vay gần như triệt tiêu bởi giá trị thực tế của vốn gốc và tiền lời thu được đã bị hao mòn do tác động của lạm phát. -Đảm bảo ổn định giá cả trong điều kiện thị trường tự do hoạt động. của cải tăng lên. nhà nước nên sử dụng các công cụ lãi suất để tăng vốn đầu tư vào những lĩnh vực cần phát triển cho sự cân đối của nền kinh tế. hoặc nhà nước tung vàng. tỷ lệ thất nghiệp thất. lãi suất có xu hướng giảm. đường cầu dịch chuyển về bên phải. trái khoán trở thành một tài sản hấp dẫn hơn. Lạm phát tăng. Do cầu quỹ cho vay tăng. đường cung dịch chuyển về bên phải. ngoại tệ. đặc biệt từ các nguồn vốn trên thị trường trái khoán.3. thị trường trái khoán trở nên ổn định hơn. Điều đó dẫn đến cung quỹ cho vay giảm. 3. họ muốn đầu tư vào những tài sản thay thế có lợi tức dự tính cao: đầu tư vào các trái khoán công ty.5. nếu đường cầu dịch chuyển nhiều hơn thì lãi suất cân bằng mới tăng lên. nhà nước cần phải nâng lãi suất danh nghĩa. lãi suất tăng. Tuy nhiên nếu đường cung dịch chuyển nhiều hơn đường cầu thì lãi suất cân bằng mới có xu hướng giảm xuống.

giảm nhu cầu đầu tư. đường cầu dịch chuyển về bên phải. Mỗi khi lãi suất chiết khấu thay đổi có xu hướng làm tăng hay giảm chi phí cho vay của ngân hàng trung ương đối với ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng do đó khuyến khích hay cản trở nhu cầu vay vốn. Nếu mức giá cả giảm mà cung tiền tệ không thay đổi. cung ứng tín dụng. Một lãi suất chiết khấu cao hay thấp sẽ làm thay đổi lượng vay của ngân hàng. Yếu tố cấu thành quan trọng nhất của chi phí sản xuất là chi phí tiền lương. . lãi suất tăng lên. bởi vì nó có thể dùng để mua nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn. Do vây cũng như ảnh hưởng của một sự tăng lên trong cung tiền tệ khi mức giá được giữ cố định. tức lượng tiền cung ứng của ngân hàng cho nền kinh tế và cuối cùng sẽ làm thay đổi mức lãi suất thị trường. khi chính phủ giảm thuế. Như vậy một sự thay đổi về chính sách giá cả cũng làm thay đổi lãi suất. từ đó ảnh hưởng đến lãi suất. *Chính sách tài chính: bao gồm chi tiêu của chính phủ và thuế khóa. ngân hàng trung ương thực hiện vai trò chỉ huy đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng của một quốc gia. Nhà nước phải sử dụng các công cụ bằng các chính sách có thể điều chỉnh tốc độ và phương hướng của hoạt động kinh tế. làm lãi suất giảm. hạn chế tín dụng của ngân hàng và ngược lại. hạn chế hoặc mở rộng hoạt động tín dụng nhằm thực hiện được mục tiêu giảm lạm phát và tăng trưởng kinh tế theo từng thời kỳ. Với công cụ lãi suất. đường cầu dịch chuyển về bên phải. Do đó cũng ảnh hưởng gián tiếp đến lãi suất trên thị trường. chủ động điều chỉnh lãi suất để điều chỉnh tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế. làm giảm lợi nhuận theo đơn vị sản phẩm tại một mức giá cả. Ngược lại một mức giá cao hơn làm giảm cung tiền tệ theo giá trị thực tế. lãi suất tăng. Vì vậy thông qua việc điều chỉnh lãi suất chiết khấu. Khi nhà nước thực hiện một chính sách tài chính bành trướng (tăng chi tiêu của Chính phủ và giảm thuế) sẽ ảnh hưởng đến thăng bằng của thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ. ngân hàng trung ương có thể tác động gián tiếp vào lãi suất thị trường. nhà máy. cầu tiền tệ giảm. Mức cao hơn của tổng sản phẩm làm tăng lượng cầu tiền tệ. tăng lượng cầu tiền tệ. thuế còn có thể tác động đến mức sản lượng tiềm năng. ngân hàng trung ương có thể khuyến khích mở rộng hay làm giảm khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cấp cho nền kinh tế. chẳng hạn việc giảm thuế đánh vào thu nhập từ đầu tư làm cho các ngành tăng đầu tư vào máy móc. đường cầu dịch chuyển về bên phải. Chi tiêu của chính phủ là một nhân tố then chốt định mức tổng chi tiêu. tổng sản phẩm tiềm năng được tăng lên. Ngoài ra.Để đạt được mục tiêu trên. -Ngân hàng trung ương tăng hay giảm mức dự trữ bắt buộc: khi tỷ lệ dự trữ tăng lên ức là ngân hàng trung ương quyết định giảm bớt số vốn khả dụng của ngân hàng kéo theo những khó khăn ngân quỹ cho các ngân hàng. khi tiền lương tăng làm chi phí sản xuất tăng. Quá trình thực hiện các chính sách của Nhà nước đều tác động lãi suất cân bằng trên thị trường. tiêu dùng. -Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách thị trường mở: có nghĩa là ngân hàng trung ương thực hiện việc mua bán giấy tờ có giá trên thị trường chứng khoán. lãi suất giảm. *Chính sách tiền tệ: với tư cách ngân hàng của các ngân hàng. *Chính sách thu nhập: đó là chính sách về giá cả và tiền lương. Nhiệm vụ chính của chính sách thị trường mở là điều hòa cung cầu về các chứng phiếu có giá để tác động vào các ngân hàng thương mại trong việc cung cầu tiền tệ. giá trị của đơn vị tiền tệ theo giá trị thực tế tăng. ngân hàng trung ương có thể điều tiết hoạt động của nền kinh tế vĩ mô bằng các phương pháp sau: -Ngân hàng có thể quy định lãi suất cho thị trường. làm cho nhiều thu nhập hơn được sẵn sang để chi tiêu và làm tăng tổng sản phẩm bằng cách tăng chi tiêu. Do thay đổi lãi suất chiết khấu. Khi chi tiêu của chính phủ tăng trực tiếp làm tăng tổng cầu. làm tăng lãi suất. -Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách lãi suất tái chiết khấu: ngân hàng trung ương tái chiết khấu các chứng từ do ngân hàng thương mại xuất trình với điều kiện ngân hàng phải trả một lãi suất nhất định do ngân hàng trung ương đơn phương quy định.

12%. lãi suất giảm. kích thích đầu tư vào sản xuất.8%. Yếu tố tiền tệ tác động tới lạm phát không lớn.vn/file. khi tỷ giá ngoại tệ tăng. nhà nước điều chỉnh một số mặt hàng làm tăng giá thành sản phẩm. Ông có ý kiến gì về vấn đề này? Theo Nghị quyết số 36/2009/QH12 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010. không kích thích xuất khẩu. do từ tháng . cao hơn so với cùng kỳ năm các năm gần đây (2006: 2. Thưa Thống đốc. Lượng tiền tệ tăng do với một tỷ giá thấp. đồng tiền tăng giá. thị trường ngoại hối. Ông cũng cho biết: “Trong thời gian tới.elearning. thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Khi nhà nước tăng tỷ giá ngoại tệ sẽ làm tăng giá của hàng nhập khẩu. cầu tiền tệ giảm.php/110/tientevanganhang/htm/c3. NHNN sẽ triển khai các giải pháp điều hành lãi suất thỏa thuận phù hợp với cơ chế thị trường”. Khi tỷ giá ngoại tệ giảm.11:04 TÀI CHÍNH NH > NGÂN HÀNG Giải pháp đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô Thứ sáu. ngân hàng trung ương sẽ theo đuổi một chính sách tiền tệ thặt chặt hơn. nhất là đối với các ngoại tệ có khả năng chuyển đổi. giảm bớt cung tiền tệ. kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng không quá 7%. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 năm nay tăng 0. với một lượng vốn đầu tư nhất định. mục tiêu đặt ra là tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô.02%.75%. làm cho đồng tiền của mình vững mạnh. năng lãi suất trong nước. tỷ giá.75%. có thể gây áp lực buộc ngân hàng trung ương phải theo đuổi một tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ cao hơn nhằm hạ thấp tỷ giá. cao hơn cùng kỳ các năm khác. lợi nhuận giảm.*Chính sách tỷ giá: bao gồm các biện pháp liên quan đến việc hình thành quan hệ về sức mua giữa tiền của nước này so với một ngoại tệ khác.12%.5%. Bạn có thể xem thêm tại đây: http://www. 9:59 | 16/04/2010 Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu đã trao đổi với báo chí xung quanh một số vấn đề dư luận quan tâm hiện nay về chỉ số giá tiêu dùng quý I tăng 4. nhưng năm nay đã tăng đến 0. nhất là thông thường chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 giảm hoặc chỉ tăng nhẹ. lượng tiền cung ứng để đảm bảo cân đối ngoại tệ cần chuyển đổi tăng lên.19%. dẫn đến tăng chi phí đầu vào của các xí nghiệp. Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao chủ yếu do nhu cầu tăng cao trong dịp tết. 2009: 1.hueuni. dư luận đang quan tâm. 2007:3. Vì vậy khi thấy đồng tiền của nước mình sụt giá. nền công nghiệp trong nước có thể bị sự cạnh tranh của nước ngoài tăng lên.12%. tính chung 3 tháng đầu năm chỉ số giá tiêu dùng tăng 4. giá hàng hóa trong nước tăng lên. lãi suất tăng lên. kích thích nhập khẩu.htm Ngày gửi: 22/12/2008 . sàn vàng.32%). 2008: 9. lãi suất giảm. tài sản đầu tư sẽ nhiều hơn. lo ngại khi chỉ số giá tiêu dùng quý I tăng 4.edu. Như vậy khi có một sự cạnh tranh giữa nền công nghiệp trong nước với công nghiệp nước ngoài tăng lên. phấn đấu tăng trưởng kinh tế 6. giá cả nhập khẩu tăng. Mặt khác. nhu cầu đầu tư giảm. Tỷ giá sẽ tác động đến quá trình sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu hàng hóa của một nước.

kinh tế trong nước phục hồi nhưng có nhiều thách thức và khó khăn. tháng 5: 4. một số ngân hàng quy mô nhỏ.01%. thận trọng với mục tiêu là kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán khoảng 20% và tín dụng khoảng 25%. chi tiêu ngân sách nhà nước. áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung.65%. tháng 7: 2. Trong thời gian tới. có chênh lệch lớn về quy mô. các NHTM gặp khó khăn về thanh khoản do một số NHTM dự trữ thanh toán thấp và tổ chức kinh tế. quản lý giá thị trường.16%. Chính phủ đã chỉ đạo các bộ. hệ thống NHTM nước ta chưa đồng đều. điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trưởng mở. Các giải pháp này được triển khai một cách đồng bộ. NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và thận trọng. nhiệm vụ của chính sách tiền tệ khá nặng nề. tháng 10: 2. tiền tệ.4%.7/2009. quyết liệt thì chắc chắn thực hiện được mục tiêu Quốc hội đề ra. dài hạn bằng VND.5%.72 và quý I/2010 dư nợ tín dụng tăng 3. tháng 8: 2. bám sát các mục tiêu tiền tệ đã được xác định để điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ. tháng 12: 0. thương mại và giá cả…. tháng 4: 4. dường như gánh nặng dồn lên vai chính sách tiền tệ? Không hẳn như thế. NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động. tháng 1: 0. phối hợp đồng bộ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác theo chỉ đạo của Chính phủ. Thanh khoản của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. giữ ổn định các mức lãi suất cơ bản.01%. Để thực hiện các mục tiêu này. Tuy nhiên.11%. tháng 2: 1. Vào những ngày giáp Tết.75%. Về cơ bản hoạt động ngân hàng an toàn.46%. Mục tiêu năm 2010 là kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng không quá 7% và đảm bảo tăng trưởng kinh tế khoảng 6. tổng tài sản chỉ vài ngàn tỷ đồng. NHNN tiếp tục nâng cao chất lượng công tác dự báo kinh tế vĩ mô và tiền tệ. Trong quý I/2010. NHNN đã hỗ trợ kịp thời để đảm bảo khả năng an toàn thanh khoản. trong đó chú trọng các giải pháp đảm bảo cân đối lớn của nền kinh tế như xuất nhập khẩu.000 tỷ đồng nhưng rút . trong đó. NHNN hỗ trợ các NHTM lên đến 70.000 tỷ đồng. ngay từ đầu năm. linh hoạt. áp lực đối với tín dụng ngân hàng vẫn còn lớn. tháng 11: 2. lãi suất đang có vấn đề nhưng các biện pháp chưa đạt hiệu quả cao? Trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chưa vững chắc.33%. nhưng chịu sự chi phối và điều chỉnh chung bởi một hệ thống văn bản pháp luật.33%. tháng 9: 3.34% so với cuối năm 2009. rủi ro hệ thống tài chính vẫn có nguy cơ xảy ra.000 tỷ đồng để giải ngân theo tính quy luật hàng năm. kiểm soát tăng trưởng tín dụng ở mức thấp (năm 2009. có ngân hàng tổng tài sản gần 500. điều tiết lãi suất và tỷ giá theo hướng ổn định. Trước tình hình đó. làm rõ những nguyên nhân chỉ số giá tiêu dùng tăng ở mức cao và thực hiện các giải pháp đồng bộ để kiểm soát giá cả hàng hóa. Nhận thức được điều đó. ngành phân tích. nhập siêu. tái cấp vốn. đảm bảo khả năng thanh toán. Kho bạc Nhà nước. tháng 6: 4. tái chiết khấu. chỉ có vài ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán. cần phải thực hiện đồng bộ các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tài khóa. tháng 3: 4. tái cấp vốn để hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD và nền kinh tế. góp phần đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô trong năm 2010. điều chỉnh tỷ giá tăng cho phù hợp với cung – cầu thị trường và mục tiêu kinh tế vĩ mô.47%. để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô theo Nghị quyết của Quốc hội. NHNN đã điều chỉnh giảm dự trữ bắt buộc tiền gửi bằng ngoại tệ. Bảo hiểm xã hội rút khoảng 60. lãi suất và tỷ giá diễn biến theo xu hướng ổn định. Trong thời gian cuối năm 2009 và dịp Tết Nguyên đán Canh Dần.

hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy hoạt động tốt đẹp này. khối lượng lớn hơn so với trước đây. quý I/2007 tăng 4. tổng phương tiện thanh toán và tín dụng có xu hướng tăng dần. ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Nhưng có ý kiến đánh giá nếu bơm tiền cung ứng mạnh thêm trong hai tháng đầu năm sẽ tác động mạnh làm tăng chỉ số giá tiêu dùng và có thể cao hơn 4. với ý thức chính trị của mình hoạt động vì lợi ích chung của đất nước. giám sát đạt hiệu quả chưa cao. chỉ đạo các NHTM Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn và điều chỉnh lãi suất giảm dần phù hợp diễn biến nền kinh tế. đến cuối tháng 3 tăng 3. nhưng thị trường thì phải theo quan hệ cung-cầu. không để lạm phát cao và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 6. Thực hiện Nghị quyết của Chính phủ “về những giải pháp đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Quỳnh Anh E-mail Bản In http://vccinews. lãi suất huy động và cho vay của các NHTM đang ở mức cao. gây lên sự thiếu minh bạch trong khuyến mại huy động vốn. Huy động vốn đang có xu hướng tăng trở lại. thu phí cho vay. NHNN sẽ triển khai các giải pháp điều hành lãi suất thỏa thuận phù hợp với cơ chế thị trường. Nếu thực hiện cơ chế cho vay ngắn hạn bằng VND theo lãi suất thỏa thuận. Trong quý I/2010. ngân hàng 100% vốn nước ngoài.51%). Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam phát huy mạnh mẽ và động viên tích cực các ngân hàng hội viên góp phần quan trọng trong việc ổn định. Đối với lãi suất. Với tốc độ tăng trưởng tín dụng là 3. các ngân hàng nước ngoài. Có ý kiến phê bình chúng tôi do không bơm mạnh thêm lượng tiền cung ứng trong tháng 1 và 2 nên thanh khoản và tín dụng tăng chậm. hỗ trợ thông qua tái cấp vốn và hoán đổi ngoại tệ.8% so với cuối năm 2009. Bất cập này cùng với việc chưa điều chỉnh kịp thời các quy định của pháp luật. xét theo lãi suất thực dương và khả năng hấp thụ của nền kinh tế. tín dụng tăng 3. Tôi tin chắc các NHTM Việt Nam. công tác thanh tra.9%.5%”. chúng ta áp dụng lãi suất cơ bản đúng theo Bộ luật Dân sự và Luật NHNN. phát triển hệ thống ngân hàng. NHNN đã và đang thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ để ổn định lãi suất thị trường theo xu hướng giảm dần như tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với NHTM với kỳ hạn dài hơn.2% cho thấy người dân tin tưởng vào hệ thống ngân hàng. trong đó có lợi ích của ngân hàng mình.12%. huy động vốn do cạnh tranh có thể gây ra lãi suất tăng cao không? Hiện nay.34% so cuối năm 2009.vn/?page=detail&folder=70&Id=758 • • Kinh tế Ngày cập nhật 27/04/2010 07:47:00 Chính sách lãi suất: Từ lý thuyết đến thực tế . tương ứng với quý I cùng kỳ các năm diễn biến bình thường (Quý I/2006 tăng 0. ngân hàng liên doanh luôn luôn đồng thuận chính sách của Chính phủ.dần về sau Tết Nguyên đán. đặc biệt là tiền gửi của dân cư tăng 9.34%.

Dù tăng trưởng kinh tế quý 1/2010 đạt 5. lãi suất là một trong những công cụ điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của NHTƯ để đạt được mục tiêu tôn chỉ đó. Báo DĐDN xin trân trọng giới thiệu tóm lược một số ý kiến của TS Nguyễn Thị Kim Thanh Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng. song nhập siêu vẫn ở mức đáng lo ngại (xuất khẩu đạt 14 tỷ USD. chính sách tỷ giá trước áp lực lạm phát trong giai đoạn hiện nay đã được các nhà nghiên cứu.Cơ chế điều hành lãi suất. Trong đó.83%. Một trong những vấn đề của năm 2009. Cần linh hoạt Mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của phần lớn NHTƯ của các nước trên thế giới cũng như NHNN VN là ổn định giá trị đồng tiền của quốc gia – thông qua việc kiểm soát lạm phát. chuyên gia tài chính bàn luận sôi nổi và đưa ra nhiều giải pháp tại Diễn đàn “Áp lực lạm phát và chính sách tài chính .5 tỷ USD). lạm phát tuy vẫn trong tầm kiểm soát nhưng đang có xu hướng tăng trở lại. để đạt được mục tiêu định hướng nêu trên. cao hơn nhiều mức tăng trưởng quý 1/2009.tiền tệ”. bám sát mục tiêu định hướng phát triển kinh tế xã hội cũng như các diễn biến thực tế của thị trường. Thực trạng của nền kinh tế VN hiện nay đang phải đối mặt với áp lực lạm phát và với sức phục hồi nền kinh tế còn thiếu vững chắc. để hoạch định chính sách lãi suất cần có sự linh hoạt. nhập siêu đạt 3. mặc dù đã có những giải đáp cụ thể về chính sách điều hành song trong những tháng đầu năm 2010. Đối với các nền kinh tế thị trường chưa phát triển như VN. . nhập khẩu đạt 17. đặc biệt là việc dỡ bỏ trần lãi suất huy động có được thực hiện hay không đã gây ảnh hưởng không tích cực đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng. vẫn nổi lên những vấn đề tranh luận xoay quanh việc điều hành chính sách lãi suất của NHNN. vốn đầu tư toàn xã hội tăng 26.23%. cao hơn rất nhiều mức tăng 9% của quý I/2009.5 tỷ USD.giúp cho một NHTƯ xác định được các tỷ lệ lãi suất trong ngắn hạn khi các điều kiện kinh tế thay đổi để đạt được hai mục tiêu là ổn định kinh tế trong ngắn hạn và kiểm soát lạm phát trong dài hạn). hoạch định chính lãi suất của NHNN cần phải xem xét đến các yếu tố thực tế. Trong điều kiện như hiện nay. nhiều quan hệ kinh tế chưa thực sự mang tính thị trường thì việc vận dụng các nền tảng lý thuyết (điển hình như quy tắc Taylor .

năng lực tài chính. Trong cấu trúc thị trường hiện nay. nhưng phản ứng của các NHTM là vẫn đua nhau tăng mức lãi suất huy động cao hơn dưới nhiều hình thức. thông qua vị thế mạnh của mình trong hệ thống. Mặt khác.. song với một cấu trúc thị trường tồn tại nhiều NHTM có vốn và thị phần thấp thường nảy sinh những hành vi hạn chế cạnh tranh hay cạnh tranh không lành mạnh.Cho đến thời điểm hiện nay có thể thấy hệ thống Ngân hàng VN đã có sự phát triển vượt bậc về nhiều mặt.. khả năng cạnh tranh của các thành viên trên thị trường tài chính không đồng đều. vì khi đó lãi suất hình thành trên thị trường chưa phản ánh đúng cung cầu vốn nên việc phân bổ nguồn vốn qua công cụ lãi suất cũng bị méo mó. và những biểu hiện của thị trường những tháng đầu năm 2010 là sự biểu hiện rõ nét của tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh. đặc biệt trong việc ứng dụng các công nghệ ngân hàng mới. Dư nợ tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội và ngân hàng phát triển chiếm khoảng 12. Khi NHNN thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với cho vay trung hạn.. Tình trạng đua nhau tăng lãi suất cho vay và lãi suất huy động trong năm 2008. khoảng 18%. tính bền vững trong phát triển chưa cao.34%). 1 ngân hàng chính sách xã hội) vốn điều lệ đã chiếm 27. các NHTM đã đẩy mức lãi suất cho vay rất cao. nhưng ở chừng mực nào đó nó làm giảm hiệu quả của chính sách tự do hóa lãi suất. Mức chênh lệch trong chiếm lĩnh thị phần của một ngân hàng lớn nhất với một ngân hàng lớn kế tiếp là tương đối lớn. Trong quý 1/2010. với nhóm ngân hàng lớn. Ngân hàng Chính sách xã hội. điều đó cho thấy vốn của các NHTM không khan hiếm. Mức độ lớn về vốn điều lệ và tài sản quyết định khả năng cạnh tranh của ngân hàng. nếu không có những biện pháp ngăn chặn sẽ gây ra những bất ổn của hệ thống ngân hàng. Những hiện tượng này biểu hiện sự bất cập lớn của thị trường. Các chính sách ưu đãi này là cần thiết trong quá trình phát triển nền kinh tế hiện nay.. năng lực quản trị.1% tổng dư nợ trong nền kinh tế. các lĩnh vực sản xuất được áp dụng lãi suất ưu đãi được thực hiện thông qua Ngân hàng Phát triển.5% và lạm phát mục tiêu của Chính phủ là 7% thì đã đảm bảo một mức lãi suất thực hợp lý cho người gửi tiền. nguồn vốn vay của các NHTM từ NHNN để đáp ứng thanh khoản tăng. Do vậy. còn có một đặc điểm ảnh hưởng không nhỏ đến tính hiệu quả của tự do hóa lãi suất. Tuy nhiên. tăng trưởng tín dụng không cao. từ đó có thể gây ra khủng hoảng ngân hàng. những hành vi chi phối thị trường của các ngân hàng này có thể gây ảnh hưởng tới tác động tổng thể của chính sách NHNN nói chung và chính sách lãi suất nói riêng. thị phần huy động vốn và cung ứng tín dụng khoảng 60%. Xét trong hệ thống các TCTD với 73 ngân hàng và 8 tổ chức tín dụng phi ngân hàng chỉ có một số ít NHTM có vốn điều lệ và tài sản lớn. đó là thị phần tín dụng áp dụng mức lãi suất chính sách là không nhỏ. thì chúng ta cũng có không ít các dự án. Đối với những ngân hàng có vốn nhỏ vẫn có sức mạnh trong cạnh tranh thị trường. Ngoài các khoản vay áp dụng cơ chế hỗ trợ lãi suất trong thời gian qua. Cân nhắc lợi ích . với mức lãi suất huy động mà NHNN đã khuyến cáo các NHTM cần thực hiện theo thỏa thuận của Hiệp hội Ngân hàng là 10. Mức lãi suất này đã hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của các NHTM (mức tăng trưởng tín dụng quý 1 chỉ đạt 3. 3 NHTM mà trong đó Nhà nước chiếm cổ phần chi phối.28% tổng vốn điều lệ của cả khối. Riêng khối NHTM nhà nước (2 NHTM NN. các dự án đầu tư phát triển được sử dụng các nguồn vốn ưu đãi ODA khác nữa.

8% . quy định trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các DN. Tuy nhiên ngoài lãi suất thực còn nhiều yếu tố khác tác động lên tăng trưởng kinh tế. lãi suất nội tệ. Hơn nữa. chính sách lãi suất của NHNN cùng hàng loạt chính sách khác (như yêu cầu các TCty lớn bán ngoại tệ cho NHNN. chính sách lãi suất tiền đồng cũng phải giải quyết hài hòa mối quan hệ này. quá trình hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất trong từng thời kỳ luôn phải đảm bảo mục tiêu bao trùm của CSTT là ổn định tiền tệ. điều chỉnh tỷ giá công bố. theo kết quả ước lượng mô hình đánh giá tác động của lãi suất thực lên tăng trưởng kinh tế theo phương pháp OLS (41 quan sát từ quý 1/2000 đến tháng 3/2010 với mức ý nghĩa 10%) cho thấy khi lãi suất thực cho vay ngắn hạn tăng 1% sẽ làm tăng trưởng kinh tế giảm 0. tăng trưởng kinh tế. xét về góc độ lãi suất thực tác động đến tăng trưởng kinh tế. một tín hiệu nâng lãi suất chính sách có thể tạo ra kỳ vọng về lạm phát. Vì vậy mức độ biến động của lãi suất thực mới chỉ giải thích được 12.) đã phải hướng tới sự ổn định này. với xu hướng này. kinh doanh. kiểm soát lạm phát. Tuy nhiên lãi suất thực đang có xu hướng giảm bắt đầu từ tháng 2 do ảnh hưởng của tốc độ gia tăng CPI. Chính sách lãi suất là một công cụ của CSTT. Đây là nguyên tắc cơ bản trong hoạch định chính sách lãi suất từng thời kỳ.. thì hiện nay các nhà đầu tư vay vốn ngân hàng đang chịu một mức lãi suất thực tương đối cao. mức lãi suất thực mà người gửi tiền nhận được là mức lãi suất thực dương.chưa kể đến các hình thức khuyến mãi khác. khi cân nhắc lợi ích thu được từ các quyết định đầu tư. sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất không được gây ra những cú sốc thị trường. . Đặc điểm này dễ gây nên những kỳ vọng về lạm phát trước bất cứ một động thái chính sách kinh tế vĩ mô nào. trung bình trong 3 tháng đầu năm 2010 khoảng 2.3% biến động của tăng trưởng kinh tế. đảm bảo tính ổn định và thực hiện các mục tiêu kiểm soát lạm phát. Điều này là hoàn toàn phù hợp với lý thuyết về mối quan hệ ngược chiều giữa lãi suất. Về lý thuyết. Vì vậy mục tiêu theo đuổi của chính sách lãi suất phải nằm trong mục tiêu của CSTT. điều chỉnh dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ. Trong năm 2009. dẫn đến phản ứng theo “bầy đàn”. Và trong trường hợp này. Điều này sẽ gây ra những rối loạn thị trường. các chủ thể trong nền kinh tế thường quan tâm đến mức lãi suất thực mà mình được nhận được là bao nhiêu.là đặc điểm nổi bật của thị trường tài chính của VN hiện nay. hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.04% so với quý trước. tạo tín hiệu áp lực lạm phát. Như vậy có nghĩa là các NHTM vẫn có thể tăng lãi suất huy động để cạnh tranh thu hút vốn nếu như NHNN dỡ bỏ trần lãi suất huy động vào thời điểm này. Điều đó có nghĩa. thường để theo đuổi mục tiêu lãi suất thực dương thì lãi suất danh nghĩa sẽ được tăng dần.Thực tế cho thấy các nhà đầu tư nắm bắt thông tin thị trường không đầy đủ. tạo áp lực lên tỷ giá. lãi suất ngoại tệ và tỷ giá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đánh giá tác động của lãi suất thực đến tăng trưởng kinh tế. Nhìn vào thực tế của VN hiện tại. đầu tư và tổng sản lượng trong nền kinh tế. với mức chênh lệch quá lớn giữa lãi suất nội tệ với lãi suất ngoại tệ cộng (+) với mức kỳ vọng về tỷ giá sẽ làm dịch chuyển sự nắm giữ giữa nội tệ và ngoại tệ của các thành viên trong thị trường. Hướng tới tự do hóa lãi suất Là một nền kinh tế USD hóa. Do vậy.. nhất là chính sách tiền tệ một chính sách theo đuổi mục tiêu lạm phát là trụ cột. Mặt khác. vấn đề tỷ giá nổi lên như một điểm nhấn của sự ổn định.

việc hoàn thiện cơ chế hình thành lãi suất cơ bản – làm cơ sở định hướng chuẩn cho lãi suất thị trường liên ngân hàng. Trước mắt. Để thực hiện nhiệm vụ đó. Lượng tiền cung ứng sẽ được điều tiết hợp lý để đảm bảo các mức lãi suất mục tiêu. cũng rất cần thiết phải có sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ của các bộ ngành hữu quan trong việc cơ cấu lại thị trường tài chính. Song với thực trạng nền kinh tế đang phải đối mặt với những bất cập của thị trường tiền tệ thì áp dụng cơ chế kiểm soát lãi suất trực tiếp là cần thiết. có cơ sở đầy đủ cho việc xây dựng các giải pháp điều hành trong dài hạn. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất. và từng bước tạo dựng những điều kiện cần thiết để tự do hóa lãi suất. tăng trưởng. Tuy nhiên về lâu dài. Do vậy. Theo đó. phát triển các thị trường nợ một cách có hiệu quả. Tuy nhiên để hỗ trợ cho các giải pháp ngắn hạn này có hiệu quả. phân bổ nguồn vốn hợp lý. khối lượng lớn hơn so với trước đây. phải thiết lập một mức lãi suất cơ bản định hướng được lãi suất thị trường.Vì vậy. cũng như là diễn biến của lãi suất thực huy động có thể làm kỳ vọng lạm phát gia tăng nên việc thực hiện duy trì mức lãi suất trần trong giai đoạn này là cần thiết để bình ổn mặt bằng lãi suất. hỗ trợ thông qua tái cấp vốn và hoán đổi ngoại tệ và chỉ đạo các NHTM nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn và điều chỉnh lãi suất giảm dần phù hợp diễn biến nền kinh tế. ngành ngân hàng đang triển khai những giải pháp ứng phó kịp thời. như lãi suất tái cấp vốn.Trên nguyên tắc đó. ổn định mặt bằng lãi suất để kiểm soát lạm phát hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô là nhiệm vụ trước mắt và trọng tâm của ngành ngân hàng trong năm 2010. nhưng đồng thời cùng với các công cụ chính sách khác thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển. để có thể phát huy được tốt vai trò định hướng của lãi suất cơ bản thì bản thân NHTƯ của quốc gia đó phải xác định được những mục tiêu điều hành cụ thể trên cơ sở định lượng cụ thể về lạm phát. Đồng thời trong thời gian này NHNN cũng sẽ tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với NHTM với kỳ hạn dài hơn. Theo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới. hình thành đồng bộ các mức lãi suất chỉ đạo. từ đó sẽ giảm bớt gánh nặng cho khu . bên cạnh sự nỗ lực của toàn ngành ngân hàng. Đó là áp lực lạm phát gắn với hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. do những bất cập về cấu trúc thị trường hiện nay làm nảy sinh tình trạng cạnh tranh lãi suất thiếu lành mạnh. lãi suất cho vay qua đêm và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở nhằm chủ động điều tiết lãi suất thị trường và các hành vi cho vay. tự do hóa lãi suất là mục tiêu cần hướng tới để đảm bảo sự vận hành của thị trường về cơ bản tuân theo quy luật cung cầu. đi vay của các thành viên trên thị trường tiền tệ. thị trường tiền tệ là một việc cần thiết phải thực hiện trong thời gian này. lãi suất chiết khấu. Đối với lãi suất huy động. khi các xu hướng đầu tư đã rõ nét. Trên cơ sở mức lãi suất cơ bản. giảm dần cho vay với lãi suất ưu đãi. chính sách này phải giải quyết được những mối quan hệ ràng buộc và bất cập hiện nay trên thị trường tiền tệ. hoặc lãi suất ngắn hạn mà tại đó nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng. nền kinh tế dần ổn định thì việc tháo dỡ trần lãi suất huy động cũng sẽ được thực hiện nhằm tuân thủ các nguyên tắc trên con đường tự do hóa lãi suất đã lựa chọn. trong năm 2010 hai vấn đề nổi lên mà chính sách lãi suất cần hướng tới nhiều hơn.

buộc phải thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt thì sang 2009. Trong một ngày giao thời giữa năm cũ . nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước cũng phải bám vào mục tiêu này.Thứ Hai. đã phải đối mặt với suy giảm. ▪ NGUYỄN HOÀI 02:30 (GMT+7) . tỷ giá. tình hình kinh tế vĩ mô có phần phức tạp hơn mà biểu hiện rõ nét nhất là nền kinh tế chưa kịp "cắt cơn" lạm phát. 10/10/2010 E-mail Ý kiến (3) Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu. Và dĩ nhiên. Trước diễn biến phức tạp của nền kinh tế. dưới góc nhìn Thống đốc 13:11 (GMT+7) .vực ngân hàng trong việc cung cấp vốn phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế của cả nước. ngăn ngừa lạm phát. Chính phủ phải điều chỉnh mục tiêu: ổn định kinh tế vĩ mô.. 8/2/2010 Hai năm liên tiếp. Thống đốc nói gì về "chuyện trong nhà" xung quanh gói hỗ trợ này? Nếu như 2008 là năm lạm phát cao.năm mới. trị giá 1 tỷ . tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý và đảm bảo an sinh xã hội. hỗ trợ lãi suất ngắn hạn cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. khi nền kinh tế gặp khó khăn thì Ngân hàng Nhà nước là cơ quan phải gánh chịu nhiều áp lực.timnhanh.. Chính phủ đã ban hành Quyết định 131/CP.Chủ Nhật. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu đã có những chia sẻ với bạn đọc VnEconomy về trách nhiệm của cơ quan này.htm Chính sách lãi suất. "Không giống bất kỳ gói kích thích kinh tế nào" Có lẽ gói hỗ trợ lãi suất ngắn hạn là điểm nổi bật của hoạt động điều hành chính sách tiền tệ năm 2009. http://tintuc.com/kinh-te/20100427/35AA39BF/Chinh-sach-lai-suat-Tu-lythuyet-den-thuc-te.

là nên dành cho một số công trình lớn làm động lực kích thích các ngành phụ trợ phát triển. Kèm theo đó là cơ chế "hậu kiểm" nên nhìn chung làm yên tâm trước một số nghi ngại. chẳng hạn như doanh nghiệp nhỏ và vừa. tương đương mức 3 . ban đầu có khá nhiều ý kiến khác nhau nhưng tập trung chủ yếu ở hai phương án.23%. nhưng cuối cùng. Thứ hai. có vẻ như Chính phủ đã "nghiêng" theo giả thuyết này nhưng về sau lại dừng đúng hạn 31/12/2009. điều mà không một hệ thống ngân hàng của quốc gia nào làm được tại thời điểm đó. ngày 17/1/2009. Nhờ đó. như việc tăng trưởng tín dụng cao đã gây sức ép lên thị trường ngoại hối do doanh nghiệp vay VND nhiều nên mua ngoại tệ nhiều để nhập khẩu nhiều. Ngân hàng Nhà nước tính toán tăng trưởng tín dụng từ 21% . ngân hàng thương mại khơi thông được tín dụng với lãi suất cho vay gần tương tự điều kiện nền kinh tế hoạt động bình thường. Ngân hàng Nhà nước đã lường trước những hiệu ứng phụ không mong muốn. Mặc dù bộ trưởng các bộ Tài chính.USD. bởi lúc đó. Phương án thứ hai là chỉ hỗ trợ một số khu vực. ở chỗ: nguồn vốn là của ngân hàng thương mại được giải ngân theo cơ chế thông thường nhưng được Chính phủ hỗ trợ 4% lãi suất.3. Vì sao vậy và quyết định này liên quan gì đến đồn đoán "Ngân hàng Nhà nước sắp thắt chặt tiền tệ". thưa Thống đốc? Khi triển khai gói hỗ trợ lãi suất. ông Cao Sĩ Kiêm. Để đưa gói hỗ trợ lãi suất vào thực tiễn. Phương án thứ nhất. Tôi đã báo cáo với Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng một số "vấn đề" xung quanh gói hỗ trợ lãi suất. một số nhà tư vấn chính sách cho rằng nên gia hạn gói hỗ trợ lãi suất thêm một thời gian. Thứ nhất. giống như gói kích thích của Trung Quốc.2 lần GDP. Cùng đó.5%.000 USD/người/năm là hợp lý. và quả đúng như vậy. Chính phủ giao cho Ngân hàng Nhà nước chủ động đề xuất phương án triển khai. một bộ phận doanh nghiệp vay hợp pháp tại ngân hàng này nhưng gửi . Mặc dù giải pháp này không giống bất kỳ gói kích thích kinh tế nào trên thế giới. Kế hoạch và Đầu tư. "Lúc khó khăn. thị trường tiền tệ bắt đầu xuất hiện sức ép tăng trưởng tín dụng. phải chọn ổn định" Cuối quý 4/2009. Chỉ hai ngày sau. đến tháng 7/2009. Ngân hàng Nhà nước đều vào cuộc xử lý và bàn đi tính lại nhiều lần. Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa có đưa ra những con số bi quan về tình trạng hoạt động của doanh nghiệp: 20% phá sản. gắn lợi ích và trách nhiệm của các ngân hàng với gói kích thích. nhưng chúng có khá nhiều ưu điểm. ngân hàng thương mại là tổ chức có đủ điều kiện vật chất để đảm bảo cho hàng triệu khoản vay được thực hiện an toàn. trong khi phương pháp khác không thể đạt được yêu cầu này. Thực tế này trái với dự kiến kế hoạch đầu năm: nếu tăng trưởng kinh tế khoảng 6. 60% khó khăn và chỉ 20% có thể trụ vững. Vụ Chính sách tiền tệ đã phác thảo xong bộ "khung" và trình lên phương án sử dụng chính các tổ chức tín dụng để giải ngân gói kích thích này. đảm bảo thu nhập bình quân đầu người khoảng 1.

lãi suất trong tháng Giêng sẽ điều chỉnh thêm từ 0. từ tháng 3 đến nay ổn định 0.5%/năm đến 1%/năm. hoạt động điều hành của Ngân hàng Nhà nước đã đạt được những mục tiêu do Chính phủ đề ra nhưng ở một số thời điểm còn thận trọng đến mức rụt rè và chưa linh hoạt. tháng 3 là 0. Canada: tháng 1 và tháng 2/2009 là 1%/năm. tháng 2: 1%/năm. tại kỳ họp Quốc hội. Tất nhiên.31% từ đầu năm đến nay. Cũng có người đặt vấn đề vì sao không điều chỉnh sớm hơn một hoặc hai tháng nhưng nếu điều chỉnh sớm. Đối với Trung Quốc.25%/năm.25%/năm. sẽ ảnh hưởng rất xấu đến chính sách vĩ mô. Một xu hướng khác là thực hiện tỷ giá thả nổi theo kiểu "nước lên thuyền lên". cân nhắc giữa "được" và "mất". Còn năm 2010. . Tỷ giá là vấn đề rất khó của quốc gia. lúc khó khăn. Mặt khác. suốt cả năm. Ngân hàng Nhà nước đã phát hiện ra sự gian dối này nên kịp thời lập kế hoạch thanh tra. bất cứ quốc gia nào cũng phải chọn lựa như thế: lúc thuận lợi thì chọn tăng trưởng.5%/năm. Tại Mỹ. giao cho chính các ngân hàng thương mại trực tiếp kiểm tra mục đích sử dụng các khoản vay đã giải ngân và quá trình đó vẫn kéo dài cho đến nay. Quyết định của Quốc hội cũng được Thủ tướng nhấn mạnh thêm một lần nữa tại phiên họp Chính phủ thường kỳ sau đó là "tập trung cho ổn định kinh tế vĩ mô". lãi suất cơ bản là 5. điều hành tỷ giá nhìn chung có hai xu hướng.5% năm và từ đó đến nay là 0. nhưng về sau có thể lên tới 4 . chúng tôi thấy có thể làm lỡ nhịp hệ thống ngân hàng nếu theo hướng này. họ duy trì lãi suất 0. cơ quan này đã quyết định dừng gói hỗ trợ lãi suất đúng hạn với lý do: mục tiêu hàng đầu là ổn định kinh tế vĩ mô. phải chọn ổn định. chứ không điều chỉnh từ tháng 12/2009. tôi đã nêu thẳng quan điểm: nếu kéo dài chính sách hỗ trợ lãi suất ngắn hạn. họ tích lũy dự trữ ngoại hối rất lớn trong vòng 3 năm sau. Phải hiểu là sự thay đổi chính sách linh hoạt của ngân hàng trung ương nói là linh hoạt nhưng phải hết sức cẩn trọng. và một trong những thách thức lớn là điều hành chính sách tỷ giá. theo dự kiến của chúng tôi. Malaysia: tháng 2: 2. Anh: tháng 1: 1. mãi tới tháng 1/1994 mới phá giá 50%. Để làm được điều này. Thực ra.5%/năm.5%/năm. coi đó như một điều kiện tiên quyết.ngân hàng kia để hưởng lợi chênh lệch lãi suất khoảng 2%/năm lúc đó. Quốc gia láng giềng của Việt Nam là Trung Quốc thực hiện chính sách tỷ giá "chốt cố định" rất nhiều năm. Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ của tháng 11/2009.5%/năm. mới công bố phá giá. từ tháng 3 đến nay là 2%/năm. mặc dù ngân hàng huy động được nhiều vốn hơn nhưng nhìn lợi ích toàn cục. Thống đốc nói gì về vấn đề này trong năm 2010? Trả lời vấn đề này thì phải nhìn rộng ra bối cảnh xung quanh nước mình. vì chính sách lãi suất luôn gắn liền với chính sách tỷ giá. lúc này chưa cần bàn tới tăng trưởng. Trên thế giới hiện nay. "Nhiều người khuyên tôi nên phá giá thêm" Theo đánh giá chung của các chuyên gia. cán cân thương mại Trung Quốc xuất siêu từ 1991.

Năm 2009.000 tỷ đồng cùng chung một môi trường hoạt động thì rất khó cho cả cơ quan điều hành và các tổ chức kinh doanh. có quản lý.5%. việc điều hành bằng công cụ phi thị trường đã hình thành "cơ chế hai giá" đối với cả lãi suất và tỷ giá ngay trong hệ thống ngân hàng. "Khách hàng cũng năm bảy loại chứ không phải như nhau" Có nghi ngại rằng. đẩy các giá các hàng hóa khác cao thêm. Xét ở góc độ ngân hàng thương mại. nhóm đối tượng này khi quan hệ với ngân hàng sẽ dễ dàng hơn cả về điều kiện vay cũng như giá vốn. tất nhiên là lãi suất cao. tôi có nghe nói có chuyện "hai giá" theo kiểu "hợp đồng ký một đằng". Ngược lại. Xử lý bất cập này như thế nào. nhóm doanh nghiệp làm ăn kém cỏi. ngân hàng lớn bao giờ cũng dư dả vốn. Tuy nhiên. Do đó. vay vốn ngân hàng chưa đến hạn đã trả nợ sòng phẳng. sẽ phình chỗ kia". nếu điều chỉnh tăng tỷ giá. tổng phương tiện thanh toán (M2) tăng khoảng 28% do tăng trưởng tín . Còn những ngân hàng nhỏ thì phải bươn chải cho vay vùng sâu. Và điều này không có ở những ngân hàng lớn như BIDV. nhưng Ngân hàng Nhà nước phải cân đối với nhiều vấn đề: nợ quốc gia. điều chỉnh tỷ giá còn tác động mạnh đến lạm phát. Nhiều người khuyên tôi nên phá giá thêm. chất lượng tài sản thấp thì vay vốn ngân hàng khó khăn hơn và phải chấp nhận lãi suất cao hơn.Đối với Việt Nam. vùng xa. làm ăn ngon lành. cơ cấu vốn dài hạn chiếm tỷ trọng cao nên họ cho vay lãi suất thấp hơn và phải cho vay nhiều hơn thì mới hiệu quả. nợ doanh nghiệp và tác động lạm phát. bởi "cấm chỗ này. khách hàng cũng năm bảy loại chứ không phải như nhau. "Chủ động. thưa Thống đốc? Đã là thị trường thì phải tuân theo quy luật cung cầu và giá cả. Agribank. "tiền trao cháo múc" một nẻo thì đó chỉ là một bộ phận nhỏ tại một vài ngân hàng thôi. khi giá xăng dầu đang là 78 USD/thùng. đang theo đuổi chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt theo cung cầu thị trường. Vietinbank hay Vietcombank. một ông 4. Đó là điều khó tránh khỏi trong hoạt động thị trường. linh hoạt và thận trọng".000 tỷ đồng. Tuy nhiên. thưa Thống đốc? Mục tiêu điều hành kinh tế của Chính phủ trong năm tới là "tăng trưởng kinh tế 6. một ông 2. linh hoạt và thận trọng" Vậy còn một số mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong năm tới cụ thể như thế nào. Có loại khách hàng có tài sản tốt. ai chịu nổi? Chưa kể. tôi cũng nhận thấy một bất hợp lý là giữa các ngân hàng có quy mô vốn khác nhau. lập tức giá xăng tăng thêm. Thử hỏi. do đó. nhiều đơn hàng. có kiểm soát của nhà nước. lạm phát dưới 7%". Ví dụ. Trong đó. mục tiêu tổng quát của Ngân hàng Nhà nước là "chủ động. Gần đây. vay nợ lúc 7 nghìn VND/USD nhưng sau đó phải trả tới 13 nghìn hay 18 nghìn VND/USD. điều kiện của mình hiện nay như thế thì trước mắt cũng phải tạm chấp nhận như vậy.

chiết khấu hoặc chuyển nhượng tín phiếu bắt buộc của NHNN. Trước hết. chỉ số này chỉ duy trì 3. Tôi lấy ví dụ: các ngân hàng thương mại có thể cho vay tiêu dùng.84 lần là phù hợp http://vneconomy. cho vay kinh doanh chứng khoán (trong giới hạn được phép) với thang lãi suất cao hơn (20 .htm Ba quyết định và những tác động lớn về chính sách tài chính tiền tệ (Cập nhật ngày: 30/09/2008) Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã làm cạn kiệt nguồn tín dụng quốc tế và suy giảm kinh tế toàn cầu.21%/năm). đồng thời tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc từ 3. Nó cũng cho thấy. tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc. Tôi đánh giá rất cao các quyết định này không chỉ bởi tính thời điểm của nó. việc giữ nguyên lãi suất cơ bản trong khi tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc và cho phép chiết khấu tín phiếu bắt buộc có liên quan mật thiết với nhau. tới mức định bốc máy gọi điện chúc mừng Thống đốc Nguyễn Văn Giàu như tôi vẫn thường làm. việc giữ nguyên lãi suất cơ bản 14%/năm là một tín hiệu của NHNN tiếp tục mục tiêu chống lạm phát. tôi đã rất mừng. Ngân hàng Nhà nước đã có quyết định giữ nguyên lãi suất cơ bản 14%/năm. Hơn nữa. kiên nhẫn vượt qua khó khăn theo cách này và có lẽ đây là bước đi đầu tiên theo hướng đó. nhưng chưa thật vững chắc do giá lương thực. trong khi chỉ số giá phi lương thực. Website NHNN trích đăng phỏng vấn TS. Bởi. nếu như trong năm 2009. và cho phép cầm cố. Lê Xuân Nghĩa. tương đương 7. ngân hàng và . Điều này giúp các NHTM có điều kiện cấu trúc lại lãi suất theo kỳ hạn và rủi ro như nó vốn thế. Lê Xuân Nghĩa: Thú thực. Ông có thể cho biết những phân tích của ông về những quyết định này? TS. mà cả ở tầm nhìn trung hạn. Tuy nhiên. thực phẩm giảm nhiều. Nhiều quốc gia châu Á đã "quay về" kích thích thị trường nội địa để duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức khiêm tốn. khi đọc cùng một lúc 3 quyết định trên. chúng tôi sẽ giảm dần và có thể. Nhưng năm 2010.6%/năm lên 5%/năm và cho phép các NHTM được cầm cố chiết khấu và chuyển nhượng tín phiếu bắt buộc trên thị trường thứ cấp. thực phẩm (core Inflation) vẫn còn khá cao.vn/20100208020940992p0c6/chinh-sach-lai-suat-ty-gia-duoi-gocnhin-thong-doc. Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển Ngân hàng. ổn định kinh tế vĩ mô. PV: Thưa TS. nhân động thái NHNN đưa ra các quyết định về việc giữ nguyên lãi suất cơ bản. thì trong năm 2010.3 lần là do chống suy giảm kinh tế nên phải chấp nhận như vậy. Lê Xuân Nghĩa.2%). Rõ ràng là cả 3 quyết định nói trên đã mang lại lợi ích kép cho doanh nghiệp. Việt Nam cũng đang thận trọng.dụng ở mức 38% và đó là phù hợp. Giữ lãi suất cơ bản tức là giữ mức lãi suất cho vay tối đa. mặc dù tốc độ gia tăng lạm phát trong tháng Chín giảm mạnh. chỉ số tăng trưởng tín dụng/GDP (28%/5. trong khi có thể điều chỉnh cho vay doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở thang lãi suất thấp hơn (16 17%/năm). ngày 26/9/2008. tốc độ tăng trưởng M2 và tăng trưởng tín dụng chỉ ở mức 25%. các quốc gia này đều gặp trở ngại là lạm phát khá cao.

Lê Xuân Nghĩa: Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ là rất nghiêm trọng. do nó bắt nguồn từ thị trường nhà đất. Đây chính là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. đối với hệ thống tài chính Việt Nam (kể cả ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng) trước mắt. đối với doanh nghiệp. PV: Theo ông. Lê Xuân Nghĩa: Ngay sau khi NHNN công bố các quyết định trên. thậm chí vay qua đêm. thanh khoản của các NHTM Việt Nam đang khá tốt. thì việc tiếp cận vốn ngân hàng để duy trì các hợp đồng thương mại thậm chí còn quan trọng hơn lãi suất.6 . Tuy nhiên. chiết khấu hỗ trợ thanh khoản tại NHTW giảm mạnh (ở mức bình thường) so với các tháng trước. cần đặt ra sức ép để quy hoạch lại quy mô kinh . Với những nỗ lực rất lớn của Chính phủ Mỹ và các nước phát triển (đã khôi phục thanh khoản và xử lý nợ xấu). đầu tư trực tiếp và xuất khẩu. trong khi đối với một số nhóm khác. Cần lưu ý rằng.mục tiêu chống lạm phát. nên hậu quả sẽ còn kéo dài hơn là chúng ta tưởng. một số NHTM đã có kế hoạch cắt giảm lãi suất. cập nhật các các số liệu mới về chi phí và lãi suất ngân hàng. và tỷ lệ này ở mức khá cao ở các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu thụ nội địa có tỷ trọng vốn vay ngân hàng trên vốn tự có cao trên 2 lần. khả năng điều chỉnh lãi suất cho vay đối với khu vực doanh nghiệp có thể còn sâu hơn trong nhiều tháng tới.2%/năm. chúng ta có thể hy vọng sẽ ổn định được hệ thống tài chính trong vòng một năm. việc mở rộng cho vay đối với một số nhóm doanh nghiệp là quan trọng. các chuyên gia ước lượng tỷ trọng chi phí lãi vay ngân hàng trên tổng chi phí của doanh nghiệp có khả năng thương mại quốc tế (tradables) chỉ từ 1. chuyển tiền. việc tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc và cho phép chiết khấu hoặc chuyển nhượng tín phiếu bắt buộc cũng có tác dụng cải thiện năng lực tài chính và tăng khả năng phòng ngừa rủi ro của các ngân hàng thương mại. lãi suất thị trường liên ngân hàng khá thấp. bằng chứng là các giao dịch Repo. nhất là doanh nghiệp xuất khẩu. Nó là một bước đi thận trọng và cần thiết vào thời điểm hiện nay. có thể dự đoán thế nào về xu thế của lãi suất cho vay của các ngân hàng và tác động của nó đến sản xuất kinh doanh. tác động lớn chủ yếu ở các doanh nghiệp sản xuất cho thị trường nội địa và có tỷ trọng vốn tự có trong tổng nguồn vốn thấp.. đó là “Sự suy kiệt tín dụng toàn cầu”. Đi đầu là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã điều chỉnh lãi suất cho vay doanh nghiệp xuống còn 18.0%. và. cho vay các dự án chương trình mục tiêu: 17. sau khi có các quyết định này? TS. Vì vậy. các định mức thanh khoản được giám sát chặt chẽ. Điều này cho thấy. cuộc khủng hoảng tài chính lần này còn có tên gọi khác.7%. Ngoài ra. đối với hoạt động ngân hàng. và 3 quyết định nói trên của NHNN Việt Nam cũng nhằm đạt được mục tiêu quan trọng này. đặc biệt là các ngân hàng nhỏ. Hiện tại. phải củng cố vững chắc thanh khoản và trong trung hạn phải xử lý tốt nợ xấu có thể phát sinh nhiều hơn.2. Nhật Bản năm 1988 là một ví dụ. trong bối cảnh hiện tại. thông qua các kênh như: tín dụng. trong khi tỷ lệ này ở các doanh nghiệp không có khả năng thương mại quốc tế (non . nhưng ổn định được thị trường nhà đất và nền kinh tế thì còn phải mất nhiều thời gian hơn thế. thanh khoản của ngân hàng cần được củng cố vững chắc hơn.5%/năm. Phân tích bộ số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê 2006.. Tuy nhiên. tác động của lãi suất ngân hàng trên tổng chi phí của các nhóm doanh nghiệp là rất khác nhau. kỳ hạn ngắn dưới một tuần chỉ xoay quanh lãi suất nghiệp vụ thị trường mở.tradables) là 6 . Cùng với đà suy giảm tốc độ gia tăng của lạm phát và thời cơ để tái cấu trúc lại lãi suất theo rủi ro (như đã nói trên). Nói cách khác. PV: Ông bình luận như thế nào về việc công bố quyết định này trong bối cảnh khủng hoảng tài chính ở Mỹ và có nguy cơ lan ra toàn cầu? TS.

Nghĩa! Theo Vietstock. góp phần làm giảm nhẹ tính căng thẳng ngoại tệ hiện nay. vì thế sẽ phụ thuộc rất lớn vào nỗ lực của Chính phủ và doanh nghiệp. nhằm ổn định PV: Xin giá chân cả thành và cảm kinh ơn TS. cần phải có những biện pháp tuyên truyền động viên để cho họ nhận thức được vấn đề. nhằm giảm bớt những khó khăn tài chính cho doanh nghiệp.com. Việc nới lỏng chính sách tiền tệ. tế Lê vĩ Xuân mô.eximbank. Và như vậy. Rõ ràng đây là một biện pháp dễ thực hiện và đặc biệt là rất ít tốn kém nhất nhưng tiếc thay thực khó mà đặt hy vọng vào tính hiệu quả của nó.com. theo NHNN. Có thể thấy rằng. Trong các quan hệ kinh tế thì biện pháp khuyến khích hiệu quả nhất là biện pháp kinh tế . trong điều kiện cần thiết phải duy trì các biện pháp chống lạm phát. Những biện pháp mà NHNN thực hiện liệu có khả thi hay là cần phải có những biện pháp kinh tế? Căng thẳng ngoại tệ do nhà xuất khẩu găm giữ ngoại tệ? NHNN cho rằng việc các nhà xuất khẩu găm giữ ngoại tệ là một trong những lý do chính đẩy tình hình căng thẳng ngoại tệ trên thị trường lên cao. Về mặt này có thể thấy rằng NHNN đang thực hiện chức năng của một bộ quản lý nhà nước thay vì là một ngân hàng trung ương thực sự.aspx?NewsID=536&IsImportant=0 Giải mã vấn đề căng thẳng ngoại tệ như thế nào? (13-08-2009) Hiện tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối đang căng thẳng và NHNN đang cố gắng giải quyết sự căng thẳng này chủ yếu bằng những biện pháp hành chính. từ đó hy vọng rằng họ sẽ bán lại lượng ngoại tệ từ xuất khẩu cho ngân hàng. trong việc kiểm soát tốt hơn hiệu quả sử dụng các nguồn lực.vn/vn/news_detail.vn http://www.doanh và cấu trúc lại vốn chủ sở hữu theo nguyên tắc thị trường nhằm tiết kiệm chi phí và tăng hiệu quả sử dụng vốn. các quyết định nói trên là bước đi quan trọng.

Nhưng dẫu họ có nhập khẩu các mặt hàng không phù hợp với định hướng hay quan điểm tăng trưởng của chính phủ thì cũng không thể làm ngơ trước những căng thẳng hiện nay vì nó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp mà hệ quả cũng nằm ở vấn đề tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội. đầu tư nước ngoài. Nhà nhập khẩu có nhu cầu ngoại tệ để thanh toán tiền hàng nhập khẩu. và dự trữ ngoại hối của NHNN. Nhu cầu nhập khẩu của các doanh nghiệp tăng lên hiện nay cũng cần phải được phân tích kỹ hơn để xem đó có phải là dấu hiệu cho thấy một sự phục hồi kinh tế hay không.hoặc là những lợi ích kinh tế chứ không phải là tuyên truyền động viên. Khi ấy. phòng tránh được rủi ro tỷ giá mà còn là một hạng mục đầu tư sinh lợi tốt hiện nay. Nhà nhập khẩu cũng dự phần? Có thể ví tình hình căng thẳng ngoại tệ hiện nay giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu như thể “kẻ ăn không hết. Đúng là có chuyện các nhà xuất khẩu găm giữ ngoại tệ nhưng hãy phân tích vì sao họ lại găm giữ ngoại tệ? Không khó để nhận ra rằng có những động cơ kinh tế nằm phía sau các hành vi này. Nhu cầu nhập khẩu là rất lớn . người lần không ra”. Từ trước đến nay năm nào cán cân thương mại của Việt Nam cũng thâm hụt. đó là một nhu cầu hợp lý. trong đó có chính sách tỷ giá và chính sách lãi suất. Cầu ngoại tệ nhập khẩu trong điều kiện đó cần được tài trợ từ các nguồn khác như vay thương mại (sẽ tạo cầu ngoại tệ kỳ hạn). Một lý do cơ bản là các nhà xuất khẩu đang đặt kỳ vọng vào tỷ giá trong tương lai sẽ tăng lên xét theo viễn cảnh các yếu tố kinh tế vĩ mô hiện nay. và nó có tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế cũng như vấn đề việc làm và thu nhập ở góc độ vĩ mô. vấn đề căng thẳng ngoại tệ hiện nay trên thị trường không thể đổ hết lỗi cho nhà xuất khẩu mà phải nhìn lại các chính sách kinh tế vĩ mô. việc nắm giữ ngoại tệ không những giúp cho họ chủ động hơn trong việc nhập khẩu sau này. Cũng cần lưu ý là nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu từ trước đến nay chưa bao giờ đủ bù đắp cho nhu cầu nhập khẩu do cán cân thương mại của Việt Nam hàng năm luôn thâm hụt. Chính vì vậy. Vấn đề cần phân tích sâu hơn một chút là họ nhập khẩu cái gì.

Nhưng để tránh cơ chế quản lý ngoại hối của NHNN mà nhu cầu ngoại tệ đầu cơ được che đậy bởi vỏ bọc nhập khẩu hàng hóa. đó là lãi suất cho vay thông thường và lãi suất cho vay đã được hỗ trợ. Vậy nên trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay. . Mặc dù quyết định hỗ trợ lãi suất của Chính phủ đưa ra những nhóm đối tượng và điều kiện được hỗ trợ lãi suất nhưng do thông tin bất cân xứng mà trong thực tế hầu hết các doanh nghiệp đều có thể tiếp cận vốn hỗ trợ lãi suất. Chính sách này giúp làm giảm gánh nặng chi phí vốn vay của các nhà sản xuất thông qua khoản hỗ trợ lãi suất 4% so với lãi suất vay vốn thực tế của doanh nghiệp từ tiền ngân sách chứ không phải từ việc nới lỏng chính sách tiền tệ của NHNN nhằm giảm mặt bằng lãi suất 4%. tính hạn chế hay mặt trái của các chính sách kinh tế hiện nay.so với hoạt động xuất khẩu và so với quy mô của một nền kinh tế mở và nhỏ đang hội nhập như Việt Nam. Có yếu tố đầu cơ không? Cần phải thừa nhận rằng sự căng thẳng ngoại tệ hiện nay không thể không có yếu tố đầu cơ. trong đó có yếu tố cầu nhập khẩu ảo. Như vậy chính sách này đang tạo ra cơ chế hai lãi suất cho vay trong nền kinh tế. nhu cầu nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục được duy trì hoặc tăng lên cho thấy nền kinh tế vẫn còn sức sống hoặc là dấu hiệu của sự phục hồi tăng trưởng. Không ít nhu cầu nhập khẩu hàng hóa có thể chỉ là chiếc vỏ bọc cho nhu cầu đầu cơ ngoại tệ. còn lãi suất đã được hỗ trợ mới là lãi suất cho vay theo nghĩa “thông thường”. Chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính phủ có thời hạn tám tháng tính từ tháng 2-2009. Trước hết phải nói đến chính sách hỗ trợ lãi suất 4% của Chính phủ. nên không lâu nữa mặt bằng lãi suất sẽ trở về trạng thái thực của nó để phản ánh cung cầu quỹ cho vay và sức nóng lạm phát dần hiện rõ trong nền kinh tế Việt Nam. Nhưng phân tích kỹ sẽ thấy rằng cơ hội để đầu cơ trên thị trường ngoại hối hiện nay được tạo ra bởi sự sơ hở. Các doanh nghiệp sẽ vay vốn bằng đồng nội tệ theo mức lãi suất hỗ trợ và chuyển sang nắm giữ ngoại tệ. Vấn đề này sẽ còn phải được phân tích thấu đáo hơn ở nhiều khía cạnh khác nhau. Do vậy mà lãi suất cho vay được gọi là “thông thường” thì lại là lãi suất “bóng”.

Biện pháp hành chính hay biện pháp kinh tế? Giải quyết vấn đề căng thẳng ngoại tệ hiện nay không thể chỉ đơn giản bằng những biện pháp hành chính mà phải là các biện pháp kinh tế. Trong khi đó. Thị trường ngoại hối lúc bấy giờ có thể lại phải gánh chịu một làn sóng căng thẳng mới theo chiều hướng ngược lại.Khi ấy tỷ giá kỳ hạn sẽ có khuynh hướng tăng lên đúng như kỳ vọng và những tài khoản ngoại tệ sẽ được chuyển đổi sang nội tệ để trả nợ vay và hiện thực hóa lợi nhuận có được. NHNN đã mua vào một lượng lớn ngoại tệ làm dự trữ và kịp thời bình ổn tỷ giá. khi tỷ giá giao dịch của các ngân hàng hiện đều đạt trần biên độ +5% so với tỷ giá do NHNN công bố. Tuy nhiên. Theo nguyên lý thì khi cầu ngoại tệ tăng nhanh. Bây giờ có lẽ là lúc NHNN cần phải bán ngoại tệ ra thị trường để giảm áp lực giảm giá nội tệ. Đặc biệt. Nhiều ý kiến cho rằng NHNN cần nới lỏng hơn nữa biên độ tỷ giá này để tỷ giá trên thị trường có thể phản ánh được cung cầu ngoại tệ. biên độ giao động tỷ giá ±5% mà NHNN giới hạn không thể giải quyết được bài toán tỷ giá hiện nay. NHNN nếu muốn duy trì mức tỷ giá mục tiêu thấp như công bố thì phải đóng vai trò là người bán ngoại tệ ra thị trường. Luật NHNN quy định tỷ giá hối đoái được hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. trong khi cung ngoại tệ không tăng hoặc tăng chậm hơn thì áp lực tỷ giá phải gia tăng. Còn vấn đề điều tiết tỷ giá của Nhà nước phải gắn với mục tiêu chính sách tiền tệ nhưng mục tiêu chính sách thì lại quá chung và không rõ ràng mà ngay chính những người thực thi chính sách cũng không chắc chắn. Tuy nhiên vấn đề còn nằm ở chỗ tỷ giá mục tiêu là bao nhiêu trong điều kiện kinh tế vĩ mô . Thế nhưng. Nhớ lại trong năm 2007 khi đồng nội tệ lúc ấy đứng trước áp lực tăng giá mạnh so với đồng đô la. Trước hết là chính sách tỷ giá. tỷ giá mà NHNN công bố hiện quá cứng nhắc và chưa bao giờ có thể phản ánh được cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ cả. Đây có thể là một đề xuất tốt để Việt Nam dần tiến tới một cơ chế tỷ giá có tính “cởi mở” hơn. vấn đề mấu chốt không phải nằm ở biên độ tỷ giá mà là một cơ chế tỷ giá linh hoạt mà Việt Nam đang thiếu. Tỷ giá do NHNN công bố hiện nay không thể phản ánh được mặt bằng tỷ giá trong nền kinh tế.

hiện nay và triển vọng sắp tới. Làm như vậy. Thay vào đó nó phải được điều chỉnh một cách linh hoạt hơn sao cho có thể phản ánh được tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế đang có khuynh hướng tăng lên chứ không phải lo sợ hiệu ứng tâm lý về lạm phát kỳ vọng.aspx Tăng trưởng kinh tế. Theo đó. Đỗ Thiên Anh Tuấn (TBKTSG http://www. Chắc chắn NHNN sẽ còn nhiều việc phải làm nhưng giải quyết được yêu cầu này thì vấn đề căng thẳng ngoại tệ hiện nay cơ bản được giải tỏa. lạm phát và chính sách tài chính tiền tệ Quách Đức Pháp .vn/Qu%E1%BA%A3ntr%E1%BB%8Bn%E1%BB %99idung/ViewArticleDetail/tabid/56/Key/ViewArticleContent/ArticleId/1082/Defau lt.tapchitaichinh. NHNN cần phối kết giữa chính sách tỷ giá với chính sách lãi suất sao cho có thể thiết lập lại trạng thái cân bằng trên hai thị trường tiền tệ và ngoại hối mà hiện nay đang bị lệch về phía thị trường ngoại hối. lãi suất phải được điều chỉnh tăng lên theo tín hiệu ấm lên của nền kinh tế. Hơn nữa nó không góp phần giải quyết được cái lý do người ta phải găm giữ và đầu cơ ngoại tệ như phân tích ở trên. Lãi suất cơ bản hiện vẫn được NHNN duy trì ở mức 7% một năm là khá thấp. Việc điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu là một động thái chính sách cần thiết của NHNN hiện nay với kỳ vọng sẽ là “một mũi tên trúng hai đích”. Lý do là để duy trì tỷ giá mục tiêu thấp như vậy thì phí tổn đối với nguồn lực mà NHNN phải bỏ ra rất lớn. NHNN phải giảm dần dự trữ ngoại tệ đến một giới hạn hợp lý. Tăng trưởng tín dụng cao như hiện nay có nguy cơ là một ngòi nổ chậm của lạm phát. Chỉ một chính sách tỷ giá để giải tỏa căng thẳng ngoại tệ hiện nay là chưa đủ hoặc kèm theo là chi phí quá lớn như đã phân tích. Chính sách lãi suất hiện nay của NHNN cũng cần thay đổi. Tỷ giá hiện nay do NHNN công bố là thấp và không thể xem đó là tỷ giá mục tiêu cần điều chỉnh được. Tỷ giá mục tiêu phải điều chỉnh dần theo hướng tiệm cận đến tỷ giá kỳ hạn sau thời điểm chính sách hỗ trợ lãi suất hết hiệu lực.

nên các chính sách kinh tế vĩ mô phải nhạy cảm và thường xuyên được điều chỉnh phù hợp với tình hình. đủ để phát hiện và khảo sát tính chu kỳ của nền kinh tế. Lý thuyết cũng như thực tiễn đều chỉ ra rằng. đồng thời lạm phát cũng gia tăng. nên ưu tiên mục tiêu tăng trưởng. việc lựa chọn con đường tăng trưởng lại cực kỳ khó khăn. song những biểu hiện của nó đã xuất hiện tương đối rõ. TS.2%. Bản chất của nền kinh tế thị trường thường xuyên phát sinh ra những nhân tố gây khủng hoảng. Trung Quốc cũng đã nhiều lần tìm các giải pháp để hạ nhiệt nền kinh tế tăng trưởng quá nóng.7%/năm mà đỉnh cao là năm 1995 với GDP tăng 9. một số nhà kinh tế vẫn ủng hộ quan điểm chấp nhận khủng hoảng (khủng hoảng lạm phát cao. kể cả nền kinh tế thị trường phát triển. có hiệu quả hơn và do đó tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn. đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế tăng trưởng với nhịp độ cao. trong giai đoạn năm 2006 – 2010 nói chung.6%/năm. Nền kinh tế nước ta mới chuyển từ cơ chế kế hoạch tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. trong đó. Chúng tôi ủng hộ quan điểm cho rằng Việt Nam cần tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao 8 – 9%/năm. Kể từ năm 1986 đến nay. ngay cả đối với những nền kinh tế được gọi là “thần kỳ”. vì bản thân tăng trưởng kinh tế nhanh thường chứa đựng nhiều nhân tố gây mất cân đối. tuy thời gian chưa nhiều. Quan điểm thứ hai đang được nhiều nước ủng hộ là tăng trưởng ổn định. kiềm chế tốc độ lạm phát dưới 2 con số nhằm ổn định kinh tế vĩ mô. nghĩa là không có hay giảm thiểu khủng hoảng. đây là mô hình tăng trưởng nhanh “lồi lõm” nhưng xu hướng chung vẫn đưa nền kinh tế đạt trình độ cao hơn. đồng thời.tiền tệ. Từ góc độ kinh tế. nền kinh tế phát triển quá “nóng”. lạm phát tăng và không phải quốc gia nào cũng tìm được cách “hạ nhiệt” an toàn. khủng hoảng nợ. kinh nghiệm quốc tế chỉ ra rằng mức đó không quá 6 – 8%/năm. hai công cụ kinh tế vĩ mô quan . đồng thời. các nhân tố khủng hoảng kinh tế . khủng hoảng thâm hụt ngân sách nhà nước) và coi đó như một nhân tố thúc đẩy cải tổ cơ cấu nhanh hơn. Ở quốc gia nào cũng vậy. Tuy vậy. mà giữ vững được trong dài hạn. mục tiêu kinh tế hàng đầu là đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định. tăng trưởng kinh tế cao và lạm phát tăng thường song hành với nhau. Bên cạnh đó. Muốn quy mô GDP năm 2010 gấp đôi so với năm 2000 thì tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm phải đạt 7.tài chính xuất hiện và ngày càng chín muồi dẫn tới khủng hoảng không thể tránh khỏi. có lúc lên tới hai con số.7%/năm. nghĩa là tăng trưởng cao bằng mọi giá. năm 1998 – 2001 lại hạ xuống còn khoảng 6%/năm và năm 2002 – 2005 phục hồi với trên 7. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Kết quả là tốc độ tăng trưởng kinh tế xấp xỉ 2 con số. tính chu kỳ của nền kinh tế không chừa bất kỳ quốc gia nào.5%. Tuy nhiên. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh và liên tục nhằm phù hợp với xu thế kinh tế thế giới và đáp ứng yêu cầu nội tại của nền kinh tế. Nổi bật nhất là hiện tượng tăng trưởng quá nóng. Theo quy luật kinh tế chung. Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy. Bài toán khó giải nhất hiện nay là kiềm chế tăng giá trong khi vẫn phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế ở mức cao.PGS. Kinh nghiệm cho thấy lạm phát chỉ cản trở tăng trưởng khi lên đến mức 2 con số. sự ổn định kinh tế vĩ mô sẽ tạo cơ sở vững chắc cho những bước phát triển trong tương lai. tức là nằm trong khung 6 . thậm chí dẫn tới khủng hoảng. nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến lạm phát là những sai lầm trong chính sách tài khoá . theo chúng tôi.7%/năm. tăng trưởng kinh tế đã trải qua 4 giai đoạn thăng trầm: năm 1986 – 1991 chỉ tăng trưởng 4. do đó. dù phải chấp nhận gánh nặng nợ nước ngoài ngày càng gia tăng. Thêm vào đó. Thực tế khó có thể phát triển nhanh. Viện trưởng Viện khoa học Tài chính (Cập nhật: 8/1/2008) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát là bài toán luôn thường trực trên bàn nghị sự của các Chính phủ nhưng cũng khó giải nhất đối với tất cả các nền kinh tế. Đây không phải là một việc dễ dàng. có nhiều nước dựa vào mô hình tăng nhanh đầu tư. năm 2008 nói riêng cần cân nhắc phương án đánh đổi giữa mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu lạm phát. năm 1992 – 1997 tăng trưởng tới 8. hay còn gọi là tăng trưởng kinh tế “theo đường thẳng”. tốc độ tăng trưởng chỉ có thể duy trì được dài hạn nếu ở mức vừa phải. Tóm lại.

Về bản chất. Chính sách tiền tệ còn đáng ngạc nhiên hơn với cố gắng chứng minh sự “vô can” trong việc giá cả leo thang. Hiệu quả của chủ trương này như thế nào còn cần thời gian để kiểm chứng song nó cho thấy dường như chúng ta quen sử dụng các công cụ can thiệp của Nhà nước hơn là các công cụ thị trường linh hoạt. thiếu độ linh hoạt vì mỗi sự thay đổi dự toán chi ngân sách hay thay đổi thuế suất từng sắc thuế đều phải thực hiện theo những quy trình tương đối phức tạp. cơ bản dẫn đến lạm phát. đặc biệt là đối với mô hình kinh tế như của Việt Nam hiện nay. các số liệu thống kê công bố đến các bài báo kinh tế. Thực tế diễn biến thị trường quốc tế năm 2004 – 2007 không thuận lợi cho mục tiêu tăng trưởng cao của chúng ta nên việc theo dõi thị trường và kịp thời điều chỉnh chính sách tài khoá và chính . song hầu hết các nước quanh chúng ta đều kiểm soát tốt giá cả và lạm phát trong khi duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao. hạn chế điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý giá. Từ các báo cáo chính thức của Quốc hội. Cũng cùng sức ép từ biến động giá quốc tế. Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm 8 – 8. chúng ta đã chủ trương đặt trọng tâm vào các công cụ tài chính giá cả như cắt giảm thuế nhập khẩu. bù lỗ cho một số mặt hàng theo diễn biến “bất ổn định” của thị trường quốc tế.…trong khi hầu như “cố định” các công cụ của chính sách tiền tệ. thậm chí trong trường hợp “cố định” chính sách tài khoá thì chính sách tiền tệ trở thành công cụ duy nhất. chính sách tiền tệ lại đặc trưng bởi mức độ linh hoạt rất cao. đặc biệt là Trung Quốc. nếu chính sách tài khoá là công cụ vĩ mô tương đối cứng nhắc. của Chính phủ. được công khai hơn rất nhiều so với trước đây. mỗi khi đề cập đến tăng trưởng và lạm phát lại không hoặc ít nhắc tới tài chính tiền tệ. Theo một nghiên cứu của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đối với nhóm 23 nền kinh tế thị trường mới nổi trong giai đoạn năm 1970 – 1999. Những biến động giá cả từ đầu năm 2004 tới nay cho thấy phần nào những chính sách điều tiết vĩ mô của chúng ta dường như chưa theo kịp tốc độ hội nhập mở cửa nên không thể giải quyết một cách nhất quán và hiệu quả những tác động tiêu cực từ bên ngoài. hữu hiệu nhất để thúc đẩy tăng trưởng trong khi vẫn kiểm soát được lạm phát. hạn chế điều chỉnh tiền lương tối thiểu. đổ lỗi cho công tác dự báo thị trường yếu kém và kêu gọi tiết kiệm. chính sách tài khoá tác động rất mạnh tới tăng trưởng và lạm phát. Phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước luôn được coi là nguyên nhân trực tiếp. các thông tin đại chúng. tài liệu về ngân sách nhà nước nói chung. để kìm hãm tốc độ tăng giá có dấu hiệu vượt khỏi tầm kiểm soát. nổi bật nhất trong sử dụng chính sách tài khoá chỉ là liên tục điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu. chính sách tiền tệ hầu như ít được nhắc tới. về chính sách tài khoá nói riêng. Gần đây. chi ngân sách cũng như qui mô bội chi ngân sách nhà nước và cách thức bù đắp bội chi ngân sách nhà nước. mà không có động thái rõ ràng nào đối với chính sách lãi suất và tỷ giá hối đoái. lạm phát.5% trong khi kiềm chế tốc độ lạm phát dưới 2 con số cần phối hợp đồng bộ chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ. cắt giảm chi phí sản xuất. chỉ riêng nước ta dường như lại có cách làm khác. Trong hoạch định chính sách tài chính tiền tệ cũng cần tính tới “tính lây truyền” của lạm phát trên thế giới khi mức độ mở cửa thị trường tăng và thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế tài chính quốc tế. Trong một vài năm trở lại đây. không liên quan đến diễn biến giá cả.trọng để kiềm chế lạm phát cũng chính là chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ. tiết kiệm chi ngân sách nhà nước. thì ngược lại. nên tập trung trí tuệ và sức lực vào việc tìm ra giải pháp kiềm chế tốc độ tăng giá hiện nay nhằm ổn định kinh tế vĩ mô của chúng ta trong “hệ quy chiếu” thị trường. Bên cạnh đó. cố tình “quên” mục tiêu chủ yếu của chính sách tiền tệ là kiềm chế lạm phát. Trong khi đó tất cả các nước có nền kinh tế thị trường đều thừa nhận vai trò quyết định của điều chỉnh lãi suất mỗi khi muốn kiểm soát tốc độ tăng giá và lạm phát. hội nhập và mở cửa kinh tế. chúng ta cần rút ra những bài học kinh nghiệm về kiềm chế lạm phát từ thực tế này. tốc độ lạm phát ở nhóm quốc gia này có mối quan hệ chặt chẽ với lạm phát toàn cầu không kém mối quan hệ với thâm hụt ngân sách. Trong khi đó. Rõ ràng. Thực tế ở nước ta lại không theo “truyền thống” đó. chỉ điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc. thậm chí cường độ tác động còn mạnh hơn do mức độ mở cửa cao hơn. Theo chúng tôi. các số liệu. thậm chí có những thời điểm còn được cho rằng. từ cả phía thu ngân sách. song hầu như chỉ dừng lại ở phân tích mức độ hoàn thành dự toán ngân sách hay thay đổi thuế suất đối với thuế nhập khẩu một số mặt hàng chiến lược. Một điểm đáng ngạc nhiên từ năm 2004 đến nay là.

lạm phát trong nước đã có dấu hiệu gia tăng. là cơ sở để ấn định lãi suất kinh doanh. Do đó. Việc điều hành lãi suất theo sát tín hiệu thị trường. Theo đó. đúng thời điểm sẽ mang lại hiệu quả vượt trội. Một quyết định đúng đắn. đã góp phần hạ nhiệt lãi suất huy động lúc đầu. Sự vận hành của thị trường đã đến lúc phải có sự can thiệp của nhà nước. nếu để cho thị trường tiếp tục tự vận hành thì dẫn đến thất bại của thị trường.sách tiền tệ theo hướng nới lỏng hay thắt chặt trong từng giai đoạn phát triển là chìa khoá đối phó hữu hiệu với những cú sốc trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập của Việt Nam. Khi kinh tế trong nước bắt đầu hội nhập. có thể giúp các NHTM định hướng được mức lãi suất hợp lý. NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt thông qua các công cụ vĩ mô. Công cụ được NHNN chú trọng là lãi suất cơ bản. việc xác định nhân tố trọng yếu và tìm đối sách thích ứng kìm hãm lại chiều hướng đi xuống của nền kinh tế là vô cùng quan trọng. ngành ngân hàng đang ở vị trí cao trong danh mục đầu tư thì cũng đã lùi lại trước tác động của yếu tố lạm phát. an sinh xã hội bị ảnh hưởng càng làm tăng sức ép lên các nhà điều hành trong chính sách quản lý. các động thái biến động từ thế giới bên ngoài cũng gây sức ép biến đổi trong nước. Xét riêng trong lĩnh vực tiền tệ. mạnh đến cả nền kinh tế. http://www. Lãi suất cơ bản giờ đã được sử dụng như một thông điệp có tác động nhanh. Trong đó. cần phải có sự can thiệp của nhà nước để đưa thị trường đi đúng hướng. ĐOÀN THỊ HỒNG Nhìn lại khoảng thời gian từ đầu năm 2008 đến nay. mặc dù chưa đầy một năm nhưng mọi ngành trong nền kinh tế nước ta đã trải qua nhiều thời điểm biến động ngoài dự tính. các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản. tính toán trong hoạt động của các TCTD. TCTD và người đi vay. Lãi suất cơ bản trước đây chỉ mang tính định hướng và tham khảo nhưng khi lạm phát tăng đột biến. Trong bối cảnh nền kinh tế xoay chiều đi theo hướng không thuận lợi. giúp nền kinh tế dần trở lại nhịp độ phát triển.asp?Object=4&news_ID=8154530 April 5. Sự sụp đổ hệ thống tài chính khổng lồ của Mỹ là một cú sốc mạnh cho cả nước Mỹ và .vn/details. kiểm soát lạm phát của Chính phủ. Sự cần thiết của việc điều hành chính sách tiền tệ bằng lãi suất cơ bản Cuối năm 2007. tạo nên mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đảm bảo hài hoà lợi ích giữa người gửi. 2009 Sử dụng hợp lý công cụ lãi suất cơ bản • • • Edit Delete Autopost TS.tapchicongsan. Việc xây dựng chiến lược phát triển và điều hành của từng TCTD không chỉ phụ thuộc vào yếu tố nội lực mà còn chịu sự chi phối nhiều của yếu tố khách quan. Với chủ trương thắt chặt tiền tệ. vốn tồn tại sau một thời gian dài mờ nhạt.org. cơn bão giá đã tác động đến mọi ngành trong nền kinh tế. Sau những giải pháp mạnh của chính sách thắt chặt tiền tệ thì việc điều hành bằng công cụ lãi suất cơ bản ấn định trần lãi suất cho vay thay đổi linh hoạt theo tín hiệu thị trường. lãi suất cơ bản được phát huy tác dụng bởi Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 của Thống đốc NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam.

Nhưng trong thời gian ngắn. ngân hàng không thể thương lượng với khách hàng để hạ lãi suất tiền gửi thấp xuống. từ 16/5/2008 đến 3/12/2008. NHNN đã linh hoạt điều chỉnh lãi suất cơ bản theo chiều hướng giảm để kích thích sản xuất. chưa thể giảm nhanh lãi suất cho vay vì phải còn gánh số vốn huy động cao từ nhiều tháng trước. thắt chặt tiền tệ cùng với tác động của thế giới bên ngoài đã làm lạm phát trong nước sụt giảm đáng kể và để ngặn chặn nguy cơ giảm phát. cầu hàng hóa . nhất là các ngân hàng có quy mô vốn còn nhỏ. Trong khoảng thời gian 6 tháng. hộ gia đình có nhu cầu vay vốn tiêu dùng do chi phí quản lý cao. qua đó giải phóng đầu ra cho ngân hàng. Mặc dù nhà nước có chính sách trợ vốn cho doanh nghiệp thu mua sản phẩm nông nghiệp (lúa. ngày hai nên các NHTM cũng không chủ động giảm được cho các khoản huy động trước đó. kéo theo việc hạ lãi suất cho vay là tín hiệu tốt cho nền kinh tế. Người tiêu dùng trong nước hạn chế chi tiêu. trong nước có nhiều ngân hàng có quy mô còn nhỏ. Kết quả dư nợ ngành ngân hàng không tăng nhiều. chi phí giao dịch cũng phải khác nhau. ngân hàng vẫn khó tiếp cận khách hàng tốt dù lãi suất hạ. việc cạnh tranh lãi suất huy động cao nên chỉ có những ngân hàng thực sự mạnh về tài chính. giá dầu tuột dốc không phanh khi dự báo nhu cầu sử dụng năng lượng của Mỹ giảm mạnh. Với mức lãi suất chấp nhận được. Trong điều kiện kinh tế giảm phát. Hơn nữa. chính sách tiền tệ không phải là nguyên nhân duy nhất ảnh hưởng đến nền kinh tế. chính sách tiền tệ đã được nới lỏng có kiểm soát. Hoạt động của hệ thống tổ chức tài chính vi mô đã chứng minh người nghèo có khả năng vay và thanh toán nợ với lãi suất bằng hoặc cao hơn lãi suất của hệ thống định chế tín dụng . NHNN đã 10 lần đưa ra Quyết định thay đổi lãi suất cơ bản. thị trường dần đi vào ổn định. vòng quay vốn nhanh. Như vậy. Việc áp dụng trần lãi suất cho vay cũng hạn chế vốn đến khách hàng cá nhân. Các khoản dự báo trước đây đều phải thay đổi. Từng ngân hàng khó có thể dự đoán xu hướng thị trường để chủ động điều chỉnh lãi suất. Tuy nhiên. việc áp dụng nghiêm ngặt trần lãi suất chỉ trong ngày một. kích thích tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế. Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Khi lãi suất cơ bản hạ. Suy thoái kinh tế bao trùm làm nền kinh tế thế giới quay đầu đột ngột từ nỗ lực chống lạm phát sang nỗ lực chặn đà giảm phát. cho thấy sự sâu sát và tính nhất quán trong điều hành lĩnh vực nhạy cảm của thị trường tài chính tiền tệ.ảnh hưởng lan truyền đến phần còn lại. Thay vào đó là khách hàng gửi tiền với kỳ hạn dài hơn. nhất là khối liên minh Châu Âu và các nước phát triển khác. sự biến động qua lại tiền gửi của khách hàng giữa các ngân hàng giảm hẳn. Với chính sách quyết liệt của Chính phủ là kiềm chế lạm phát. lãi suất càng cao. Lợi nhuận của cả hệ thống ngân hàng đều bị ảnh hưởng. Hơn nữa khách hàng mỗi nơi. Cơn khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tạo ra thiếu hụt thanh khoản nghiêm trọng. các khoản vay tiêu dùng thường có kỳ hạn ngắn. kinh tế của nước ngoài cũng đang bị ảnh hưởng của sự suy thoái nên sản phẩm xuất khẩu trong nước bị đọng. lãi suất càng cao. nhất là những cá nhân.dịch vụ yếu. Hiệu quả và hạn chế của việc áp dụng ”trần lãi suất” theo tỷ lệ 150% lãi suất cơ bản Lạm phát đang giảm dần. đường cong lãi suất huy động cũng trở lại hình dáng hợp lý. cá ba sa…) thông qua lãi suất thấp nhưng doanh nghiệp vẫn đến ngân hàng một cách dè chừng. khác với tính bất hợp lý của thời gian trước đó kỳ hạn càng ngắn. mỗi vùng lại có những đặc thù khác nhau. Kỳ hạn càng dài. doanh nghiệp tiến hành vay vốn kinh doanh. Việc giảm lãi suất cơ bản. lãi suất cơ bản đã được trở lại bản chất của chính nó nhưng ở một cách nhìn khác theo sát diễn biến thị trường. Nhưng thực tế. Doanh nghiệp không dám vay vì tìm được đầu ra rất khó khăn và nếu có đầu ra thì khả năng thu tiền cũng không chắc do bất cân xứng thông tin. nguồn đầu ra tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp cũng bị ách tắc. Nhưng các khoản huy động với lãi suất cao trong những tháng trước. Trần lãi suất cho vay giảm nên các khoản giải ngân trước đó khách hàng cũng thường tìm cách trả nợ trước hạn để được vay lại với lãi suất thấp hơn. đồng vốn được thu hồi nhanh chóng nên có thể chấp nhận được khi vay với mức lãi suất cao hơn lãi suất kinh doanh của doanh nghiệp. tạo được lợi thế khác biệt mới có chủ trương đi đầu trong việc giảm lãi suất huy động và hạ lãi suất cho vay.

chính thức dựa trên hoạt động thương mại. Điều quan trọng là người nghèo không có đủ điều kiện để được vay chứ không phải họ cần vay với lãi suất thấp. Nhu cầu chính của người nghèo là dễ dàng và nhanh chóng vay được được vốn và chi phí giao dịch thấp (thủ tục đơn giản và nhanh chóng nhận được tiền), chứ không phải tín dụng giá rẻ. Quy định trần lãi suất như nhau cho mọi loại hình kinh tế là điều chưa hợp lý. Trong khi chi phí quản lý đồng vốn của dự án tốt phải thấp hơn dự án rủi ro, tỷ lệ trích lập dự phòng của dự án rủi ro cũng phải cao. Trần lãi suất áp dụng cho toàn hệ thống ngân hàng còn làm hạn chế sự phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Nếu áp dụng cùng một mức lãi suất thì khả năng tiếp cận vốn của vay tiêu dùng bị xếp sau thứ tự ưu tiên, làm ảnh hưởng tiêu cực và là nguyên nhân đẩy khách hàng cá nhân ra khỏi hệ thống ngân hàng, họ phải tìm tới thị trường không chính thức với lãi suất cao, nạn cho vay nặng lãi xuất hiện. Nhận định Trong điều kiện kinh tế giảm phát, bên cạnh chính sách giảm lãi suất cho vay nhằm khuyến khích doanh nghiệp vay vốn đầu tư cũng phải khuyến khích vay tiêu dùng vì doanh nghiệp không thể phát triển sản xuất kinh doanh khi không có người tiêu thụ. Khi nền kinh tế trở lại phát triển đúng hướng, thị trường có thể tự vận hành, không cần sự can thiệp của nhà nước thì nên gỡ bỏ trần lãi suất cho vay và hướng đến cơ chế lãi suất thỏa thuận vì ngay trong giai đoạn nền kinh tế có mức lạm phát nằm trong giới hạn cho phép thì lãi suất cho vay các NHTM cũng đã linh hoạt ở mức cao hơn nhiều so với lãi suất cơ bản. Lãi suất nên để thị trường quyết định. Lãi suất thị trường sẽ đảm bảo cả tính công bằng lẫn tính hiệu quả trong cung cấp tín dụng. Lãi suất cơ bản chỉ nên làm định hướng cho các ngân hàng thấy xu hướng của lãi suất. Tài liệu tham khảo chính 1. http://www.sbv.gov.vn 2. N. Gregory Mankiw, Kinh tế vĩ mô. NXB Thống kê 3. TS. Đinh Phi Hổ (2003), Kinh tế nông nghiệp. NXB Thống kê. NGUỒN: www.vnba.org.vn

Điều chỉnh lãi suất: Đồng Việt Nam đi về đâu?
Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Chùm bài viết của

DNSGCT
( Bình chọn: 3 7747) -- Thảo luận: 1 -- Số lần đọc:

(12/06/2008) - Yêu cầu hệ thống ngân hàng thương mại tăng dự trữ bắt buộc, nâng lãi suất huy động nhằm hút tiền ra khỏi lưu thông… là một số biện pháp mà Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã áp dụng nhằm thực hiện mục tiêu chống lạm phát của Chính phủ. Tuy nhiên, lạm phát có nhiều nguyên nhân. Vậy nên, nhiệm vụ chống lạm phát dồn lên vai NHNN được xem là quá nặng nề. Đó là một phần nội dung trong buổi tọa đàm tháng Năm với chủ đề “Sức khỏe của đồng tiền Việt Nam” do Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần tổ chức, tại Press Café, Q.1. Không khí tranh luận sôi nổi đã dấy lên giữa một số khách mời ngay khi chủ đề “Sức khỏe của đồng tiền Việt Nam” được đặt lên bàn buổi tọa đàm. Theo luật sư Nguyễn Ngọc Bích, đồng tiền cũng ví như cánh diều, thể hiện sức mạnh của nền kinh tế. Ông Huỳnh Bửu Sơn - Giám đốc Đối ngoại Công ty PepsiCo Việt Nam - nhận

định rằng đồng tiền Việt Nam, dù có nhích lên nhích xuống trong thời gian gần đây nhưng vẫn khá ổn định so với đồng USD nhờ chính sách tỷ giá neo. Điều đáng lo ngại là tình trạng sức khỏe của các doanh nghiệp. Ông Sơn tỏ ý muốn lắng nghe ý kiến của đại diện doanh nghiệp, nhất là trước thời điểm diễn ra tọa đàm hai ngày, NHNN đã điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản lên 12%. Tuy nhiên, ông Nguyễn Minh Quyền - Phó Giám đốc Công ty Bến Thành Tourist - lại tỏ ra khá thận trọng. Ông đẩy “trái banh” về phía người phụ nữ duy nhất của buổi tọa đàm là bà Vũ Thị Kim Cúc - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Sài Gòn. Bà Cúc nói: - Thực ra ngân hàng cũng là doanh nghiệp đặc thù, vì tất cả các sản phẩm mà chúng tôi cung cấp cho doanh nghiệp và xã hội là các sản phẩm dịch vụ tài chính tiền tệ - đều liên quan đến đồng tiền. Hiện nay thực hiện chủ trương chống lạm phát của Chính phủ, ngân hàng cũng có những khó khăn như doanh nghiệp. Để thu hút được tiền vào ngân hàng thì ngân hàng phải có những sản phẩm huy động vốn có lãi suất cạnh tranh thì khách hàng mới gửi tiền. Ngoài khách hàng tiền gửi, ngân hàng còn có khách hàng tiền vay sử dụng các sản phẩm tín dụng. Với tình hình lãi suất như hiện nay, khách hàng vay tiền phải chịu lãi suất cao, đây là khó khăn mà ngân hàng và doanh nghiệp đã bàn bạc và thống nhất cùng chia sẻ. Tuy nhiên, đây chỉ là những khó khăn trong ngắn hạn; về lâu dài, khi các chính sách của nhà nước có những thay đổi, thì ngân hàng đương nhiên phải điều chỉnh lãi suất để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Theo cảm nhận của chúng tôi, vấn đề tăng trưởng quá cao trong những năm vừa qua mà chưa có sự quan tâm đến lạm phát nên đã để lại một số khó khăn cho nền kinh tế mà hiện nay Chính phủ đang phải giải quyết. Các biện pháp siết chặt tín dụng từ đầu năm 2008, việc tăng dự trữ bắt buộc lên 11% và phát hành tín phiếu bắt buộc chưa có lộ trình làm cho các ngân hàng thương mại (NHTM) gặp khó khăn, gián tiếp ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp. Mặc dù các ngân hàng vẫn duy trì được tính thanh khoản nhưng họ buộc phải “sàng lọc” khá kỹ những đối tượng có nhu cầu vay tiền, đồng thời tìm cách hút tiền về. Về lãi suất cơ bản mới được NHNN điều chỉnh ngày 16/5, sau hai ngày theo dõi, tôi thấy chính sách này đã có những tác động tích cực nhất định. Dường như chưa thỏa mãn với những thông tin mà bà Cúc công bố, ông Trần Sĩ Chương - Phó Chủ tịch HĐQT Công ty Le & Associates - đặt câu hỏi: - Tôi còn nhớ thời điểm NHNN nâng lãi suất lên 11%/năm, bà con ùn ùn mang tiền đến gửi vào ngân hàng. Vậy thì với mức lãi suất huy động trung bình 14% như hiện nay, phản ứng của thị trường như thế nào? Trả lời câu hỏi của ông Chương, bà Vũ Thị Kim Cúc nói: - Trước thời điểm NHNN công bố lãi suất cơ bản mới, lãi suất qua đêm giữa các ngân hàng và tổ chức kinh tế là 20%. Sau cuộc đua lãi suất thời gian qua, giờ đây các NHTM đã nhận ra rằng việc tăng lãi suất nhằm hút tiền về chỉ làm cho luồng tiền chạy từ ngân hàng này sang ngân hàng kia, chứ không tăng thêm tiền chảy vào ngân hàng. Vậy đồng bạc đang ở đâu? Vừa qua tình hình biến động về lãi suất, tỷ giá USD và giá vàng, một số khách hàng cũng chuyển hướng đầu tư thay vì chỉ gửi ngân hàng. Bên cạnh đó, một số hoạt động về tài chính tiền tệ không diễn ra trong ngân hàng. Cách nay ít lâu, trên chuyến bay ra Hà Nội, tôi tình cờ có dịp tiếp xúc với một chị buôn bán hoa vải đang trên đường ra Móng Cái (Quảng Ninh) nhập hàng. Hoa vải của chị ấy bán khắp cả nước, sang cả Lào và Campuchia. Giá trị trung bình mỗi lô hàng chị ấy nhập là hàng tỉ đồng, tuần cao điểm chị ấy thực hiện bốn giao dịch. Nhưng có một điều đặc biệt là tất cả giao dịch của chị ấy đều thực hiện ngoài hệ thống ngân hàng, chỉ liên hệ với người nhận chuyển tiền, cung cấp hàng hóa qua điện thoại và fax. Đây chỉ là một tiểu thương buôn bán nhỏ, còn bao nhiêu các tiểu thương khác và hoạt động khác nữa diễn ra ngoài ngân hàng mà không quản lý và thống kê được. Câu chuyện bà Cúc vừa kể khiến các khách mời xôn xao. Rõ ràng đã tồn tại một mạng lưới ngân hàng ngoài tổ chức đang hoạt động cực kỳ có tổ chức. Đương nhiên, giao dịch tại thị trường có tính linh hoạt cao này cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận mức lãi suất cao hơn, độ rủi ro cao hơn. Ông Huỳnh Bửu Sơn bình luận: - Câu chuyện người bán hoa vải cho thấy rằng khi nền kinh tế còn quá nhiều những giao dịch thanh toán dùng tiền mặt, việc triển khai chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô sẽ gặp khó khăn vì sẽ không thể nào phát huy hết tác dụng.

Ngồi đối diện với ông Huỳnh Bửu Sơn là PGS.TS Trần Hoàng Ngân - Trưởng khoa Ngân hàng Đại học

Kinh tế TP. Hồ Chí Minh. Ông nhập cuộc bằng cách phản biện ý kiến của ông Sơn: - Tôi không nghĩ hệ thống ngân hàng thương mại của chúng ta yếu. Chuyển tiền từ địa phương này đến địa phương kia qua hệ thống ngân hàng là hoàn toàn có thể làm được. Theo tôi, mục đích của các giao dịch tiền mặt là nhằm tránh sự kiểm soát của Nhà nước, lách thuế… Thực tế thì trong cơn sốt bất động sản vừa qua, nhiều nhà đầu cơ đã gõ cửa ngân hàng. Do thủ tục cho vay nhanh nhất, dù là khách hàng quen, cũng mất từ một đến hai ngày nên không ít người đã chấp nhận vay nóng từ thị trường ngầm để thực hiện giao dịch, sau đó dùng tiền vay từ ngân hàng đắp vào khoản vay từ thị trường chợ đen, bởi sau khi cân đối, họ vẫn có lời. Theo ông Trần Sĩ Chương, thị trường ngầm không phải là trường hợp cá biệt, chỉ xảy ra ở Việt Nam. Nó là một hình thức xã hội tự xử lý những bất cập trong cơ cấu quản lý vĩ mô. Thập niên 1980, thị trường ngầm đã chi phối tới 70% - 80% các giao dịch ở Thái Lan, mặc dù lúc đó hệ thống ngân hàng Thái Lan đã được hiện đại hóa, Bangkok Bank được xem là ngân hàng hiện đại nhất thế giới. Yên lặng ghi chép từ đầu buổi tọa đàm, ông Nguyễn Minh Quyền bây giờ mới dè dặt mở lời. Tỏ ra đồng cảm với người đại diện của ngân hàng, ông nêu lên một thực tế: - Đúng là khi ngân hàng huy động vốn với lãi suất cao thì phải cho vay với lãi suất cao hơn. Thế nhưng, mặt bằng lãi suất mới mà NHNN vừa công bố đang khiến nhiều doanh nghiệp lo lắng. Mặt khác, với mức lãi suất huy động cao như trong thời gian qua, đã xuất hiện tình trạng kiều bào ở nước ngoài vay USD với lãi suất thấp để chuyển về cho bà con trong nước đổi ra tiền đồng, gửi vào ngân hàng để hưởng lãi suất cao hơn. Ý kiến của ông Quyền vô hình trung đã đưa mọi người quay trở lại với câu chuyện NHNN điều chỉnh lãi suất cơ bản vừa xảy ra hai ngày trước. Ông Trần Hoàng Ngân nói: - Hiện nay chúng ta đang tập trung toàn lực để kéo chỉ số lạm phát của Việt Nam xuống. Chỉ số CPI tháng Tư, tính theo thông lệ quốc tế (tức là từ cuối tháng Tư năm ngoái đến tháng Tư năm nay) là 21,4%. Còn nếu áp dụng phương pháp tính cộng dồn từng tháng từ đầu năm đến nay thì CPI là 11,6%. Tôi cho rằng mức lãi suất mới mà NHNN vừa công bố là một giải pháp tối ưu vào thời điểm hiện nay. Trong hai ngày qua, chưa xuất hiện việc tiền di chuyển theo mức lãi suất cao từ ngân hàng này qua ngân hàng kia, giúp chúng ta nhận diện được tình trạng sức khỏe của các NHTM. Thêm nữa, lãi suất cao sẽ giúp tăng tiết kiệm và giảm chi tiêu, điều này sẽ kéo chỉ số CPI xuống, dẫn đến lãi suất cơ bản (mỗi tháng được xem xét và điều chỉnh nếu biên độ dao động vượt quá 25 điểm) giảm xuống. Nhờ vậy mà lãi suất cho vay chắc chắn cũng sẽ giảm, khiến doanh nghiệp dễ thở hơn. Nhưng điều quan trọng là phải làm cho lưu thông tiền tệ được thông suốt, phải đảm bảo đủ “máu” nuôi dưỡng cơ thể, hình như lưu thông đang thiếu tiền do thắt chặt tiền tệ? Tiếp lời ông Trần Hoàng Ngân, ông Huỳnh Bửu Sơn nhận xét: - Cần thống kê tiền gửi vào các NHTM biến động như thế nào qua những đợt tăng lãi suất? Lượng tiền chảy vào ngân hàng có thể đã tăng lên nhưng tôi e rằng không nhiều. Theo lời Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu thì tăng trưởng tín dụng đến thời điểm này là 18%, trong khi năm ngoái là 30% đến 50%. Có nghĩa việc nâng lãi suất huy động không thể hút được tiền đồng và đó là điều đáng suy nghĩ vì lượng tiền đồng gọi là nhàn rỗi trong dân đã không lớn lắm như chúng ta nghĩ, và không thể tạo nên một khối cầu khả dụng có thể gây áp lực lạm phát mạnh. Tuy nhiên, khi lãi suất cho vay quá cao, có thể các doanh nghiệp sẽ mang vốn gửi vào ngân hàng hưởng lãi suất thay vì đầu tư cho sản xuất. Nếu chuyện này xảy ra ở một vài doanh nghiệp thì ngân hàng có lợi. Nhưng nếu hàng trăm doanh nghiệp cùng quyết định “bãi” đầu tư, giảm sản xuất kinh doanh, đồng loạt mang tiền gửi ngân hàng thì đó sẽ là tai họa. Ông Trần Hoàng Ngân chuyển sang một hệ quả khác của vấn đề lãi suất: “Với lãi suất cao như vậy, điều tôi e ngại là sẽ có một lượng lớn USD chảy vào thị trường Việt Nam qua các kênh chính thức và không chính thức. Khi đó, chúng ta sẽ lấy tiền ở đâu ra để mua lượng ngoại tệ này? Và vấn đề thứ hai là mua theo giá nào? Liệu chúng ta có hạ giá đồng tiền Việt Nam so với đồng USD để hỗ trợ xuất khẩu?”. Trước thái độ quan ngại của ông Trần Hoàng Ngân, ông Trần Sĩ Chương lại tỏ ra khá điềm

tĩnh. Ông cho rằng khả năng một lượng lớn USD chảy vào Việt Nam là khó thể xảy ra. Ông Chương kể lại chuyện một người bà con của ông ở bên Mỹ ngày hôm trước vừa điện thoại về cho biết một ngân hàng còn đề nghị cho khách hàng vay đến 40 ngàn USD với lãi suất 0% - 2% trong vòng 18 tháng. Mặc dù vậy, theo ông Chương, những nhà đầu cơ chưa chắc đã đổ tiền vào ngân hàng Việt Nam để kiếm lời, bởi e ngại Việt Nam sẽ diễn lại kịch bản từng được Malaysia áp dụng vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế khu vực 1997 - 1998. Tức là đóng băng ngoại tệ, không cho các nhà đầu tư rút ra khỏi thị trường. Mặt khác, dù muốn dù không chúng ta cũng đang phải cạnh tranh với Mỹ trong thu hút đầu tư gián tiếp, bởi hiện cả hai đang cùng rơi vào một cái đáy. Thay vì đổ tiền vào Việt Nam, nhiều khả năng những nhà đầu tư sẽ chọn Mỹ do hệ thống luật pháp và chính sách ở thị trường này giúp họ dễ tiên liệu được tình hình hơn. Ông Chương vừa ngừng lời, ông Trần Hoàng Ngân tiếp: - Vấn đề anh Chương vừa nêu tôi cũng đã được nghe từ chính lãnh đạo một công ty Hàn Quốc có vốn đầu tư vào Việt Nam trong chuyến công tác đến Seoul tuần rồi. Nguyên nhân khiến họ lo lắng là do một báo cáo từ Nhật Bản về thâm hụt cán cân thương mại của nước ta. Tôi đã trả lời họ rằng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay của chúng ta là 11 tỉ USD và từ nay cho đến cuối năm, thâm hụt cán cân thương mại không thể vượt quá 25 tỉ USD. Trong thời gian tới, chắc chắn Chính phủ sẽ sử dụng các biện pháp thuế nhằm siết lại nhập khẩu, thậm chí có thể cho tái xuất phôi thép, phân bón… - những hàng hóa tác động mạnh đến chỉ số CPI. Làm việc với khá nhiều đối tác Nhật Bản, ông Trần Sĩ Chương đưa ra một cách lý giải về nguồn gốc báo cáo ông Ngân vừa đề cập. Theo ông, dự báo về thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam trong năm 2008 có thể xuất phát từ tình hình xuất khẩu. Giả sử, tuần thứ nhất có một doanh nghiệp Việt Nam thông báo hủy hợp đồng xuất khẩu. Tuần thứ hai có thêm ba doanh nghiệp thông báo hủy hợp đồng. Tuần thứ ba có thêm bảy hợp đồng xuất khẩu bị hủy… Khi thông tin hàng trăm hợp đồng bị hủy bay tới Nhật thì chúng trở thành căn cứ để người ta đưa ra báo cáo trên. Thực tế thì tình trạng lạm phát tăng, lãi suất cao đang gây khá nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Tiếp lời ông Chương, ông Huỳnh Bửu Sơn cho rằng nên xem xét lại chính sách lãi suất cho xuất nhập khẩu: - Việc NHNN quy định doanh nghiệp xuất khẩu chịu lãi suất vay ngoại tệ cao hơn doanh nghiệp nhập khẩu vô hình trung đã khuyến khích nhập khẩu, gây áp lực lên cán cân thương mại. Thực ra, đối với một nền kinh tế đang phát triển, nhập khẩu máy móc, công nghệ hiện đại phục vụ sản xuất là chuyện hoàn toàn bình thường. Thế nhưng, đối tượng nhập khẩu nhiều nhất là các doanh nghiệp nhà nước. Khi những khoản đầu tư công này không hiệu quả thì sẽ trở thành “lực đẩy” đối với lạm phát. Lập luận cho rằng những doanh nghiệp xuất khẩu không cần ngoại tệ đã buộc các doanh nghiệp xuất khẩu - chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân - vay tiền đồng với lãi suất cao. Với mức lãi suất hấp dẫn như hiện nay, những doanh nghiệp nhập khẩu sau khi vay USD, chỉ cần quy ra tiền đồng rồi gửi vào ngân hàng là đã có lời. Phải chăng đó là lý do khiến những hợp đồng xuất khẩu bị hủy như anh Chương vừa nêu. Lập luận của ông Sơn được sự đồng tình của các khách mời. Ông Trần Hoàng Ngân nói: - Cuối năm 2007, khi mà chỉ số CPI cuối năm lên đến 12,53%, tôi có nêu ra chín nguyên nhân gây nên lạm phát, trong đó nhấn mạnh vào hai điểm là sự nới lỏng chính sách tiền tệ và đầu tư công hiệu quả thấp. Theo báo cáo của Quốc hội, ngân sách hàng năm bội chi 5%. Nghĩa là tổng thu nhập quốc dân (GDP) càng lớn thì bội chi càng lớn, gây nên lạm phát. Đến lúc này, tác động của chính sách tiền tệ vào chỉ số CPI là không lớn, tác nhân chính gây nên lạm phát là đầu tư công không hiệu quả và lạm phát quốc tế. vì vậy không nên quá thắt chặt tiền tệ, gây khó khăn cho sản xuất. Nếu tiếp tục như vậy nền kinh tế nước ta vừa suy giảm, vừa có lạm phát cao! Như vậy, để đẩy lùi lạm phát, không thể chỉ trông chờ vào những giải pháp tiền tệ mà NHNN đưa ra. Ông Huỳnh Bửu Sơn nói: Điều quan trọng nhất là tạo ra niềm tin, cho thấy viễn cảnh kinh tế sẽ phục hồi, ổn định, nhịp độ tăng trưởng duy trì thì mọi chuyện sẽ tốt. Không phải là chúng ta không có giải pháp nhưng những chính sách mà chúng ta đã triển khai trong thời gian qua là hơi cập rập. Sách giáo khoa dạy rằng muốn chống lạm phát thì phải thắt chặt tín dụng. Tuy nhiên, tùy theo tình hình của mỗi nước mà tính toán liều lượng khi áp dụng lý thuyết này vào thực tế. Chúng ta cũng nên xem xét mối tương quan của Việt Nam so với thế giới. Hàng hóa khan hiếm gây nên lạm phát. Trong rổ hàng hóa, chắc chắn chúng ta không thể kéo giá của tất cả mặt hàng xuống. Vậy nên phải xác định rõ những hàng hóa cần ưu tiên kéo giá xuống trước và những mặt hàng đó chúng ta có khả năng kéo được giá của chúng xuống. Tôi nghĩ các doanh nghiệp sản xuất hiện nay đang rất cần được tiếp sức để duy trì hoạt động. Bởi họ chính là cái “phao” giúp nền kinh tế nổi lên trước sức ép lạm phát. Đồng tình với ý kiến của ông Sơn, ông Trần Sĩ Chương bổ sung:

Đầu tư nước ngoài chúng ta cũng không quan tâm nữa.TS Trần Hoàng Ngân: “Tác động của chính sách tiền tệ vào chỉ số CPI là không lớn. Cơ sở tạo nên niềm tin là sự ổn cố (an tâm) và khả năng tiên liệu. ngày càng có nhiều người bỏ tiền tích trữ ra đầu tư. Chính sách tiền tệ coi như đã thuận lý. đặc biệt là hình thức đầu tư rất đa dạng và linh hoạt. Không phải đến bây giờ nền kinh tế chúng ta mới trải qua lạm phát. tình hình còn tồi tệ hơn hiện thời rất nhiều khi chỉ số CPI đã lên tới 30%/tháng. Ý kiến của ông Bích cũng đã khép lại không khí tranh luận sôi nổi của buổi tọa đàm. tình hình còn tồi tệ hơn hiện thời rất nhiều khi chỉ số CPI đã lên tới 30%/tháng. Khi bỏ tiền cho ai đó vay. theo tôi.Giám đốc Đối ngoại Công ty PepsiCo Việt Nam: “Việc NHNN quy định doanh nghiệp xuất khẩu chịu lãi suất vay ngoại tệ cao hơn doanh nghiệp nhập khẩu vô hình trung đã khuyến khích nhập khẩu. Chúng ta giải quyết được là nhờ Chính phủ đã thể hiện một quyết tâm chính trị rất cao” PGS. thỉnh thoảng bày tỏ thái độ đồng tình qua những tiếng cười khe khẽ.Phó Giám đốc Công ty Bến Thành Tourist: “Đã xuất hiện tình trạng kiều bào ở nước ngoài vay USD với lãi suất thấp để chuyển về cho bà con trong nước đổi ra tiền đồng. chứng khoán. thương phiếu. tỷ giá USD. tác nhân chính gây nên lạm phát là đầu tư công không hiệu quả và lạm phát quốc tế” Vũ Thị Kim Cúc . Nhưng chính sách sẽ không có đủ hiệu lực nếu như không được công chúng tin tưởng. Chính sự tiên đoán chính xác sẽ tạo ra những thay đổi từ từ và kéo dài ổn cố. Niềm tin. luật sư Nguyễn Ngọc Bích hầu như không lên tiếng. gửi vào ngân hàng để hưởng lãi suất cao hơn. cổ phần… Cho nên. từ đầu buổi tọa đàm đến giờ. Đồng tiền liền khúc ruột. Còn những chính sách đưa ra mà khiến người ta không tiên liệu được thì họ sẽ phản ứng. Hy vọng đăìng sau hiện tượng này là một tín hiệu về sự trở lại của niềm tin! Thượng Tùng ghi Luật sư Nguyễn Ngọc Bích: “Chính sách sẽ không có đủ hiệu lực nếu như không được công chúng tin tưởng” Huỳnh Bửu Sơn . Thời gian gần đây. Vậy nên những gì thuộc về mẫu số chung của thế giới thì chúng ta bỏ qua một bên để tập trung xem xét những yếu tố “khác với thế giới” gây nên lạm phát. Không ai biết ông đang nghĩ gì. bao gồm chi phiếu. Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế sử dụng tiền và những biến thái của nó.. khi đồng tiền ổn định thì những biến thái của nó cũng sẽ ổn.Từ nãy giờ chúng ta nói khá nhiều về chính sách. Chúng ta giải quyết được là nhờ Chính phủ đã thể hiện một quyết tâm chính trị rất cao. Trong giai đoạn 1991-1992.Những gì xảy ra với tất cả mọi người thì đều có tính tương đối. hiện tùy thuộc vào khả năng tiên liệu của công chúng. nên sợ mất là tâm lý chung của những người giữ tiền.. người cần được đảm bảo rằng sẽ lấy lại được số tiền ấy cộng với khoản chênh lệch mà đồng tiền ấy sinh ra sau một khoảng thời gian nhất định. giá vàng. Chính sách tỷ giá cũng chỉ có tính chất tương đối. Nhưng đến lúc này. chứ không tăng thêm tiền chảy vào ngân hàng” Nguyễn Minh Quyền . Lặng lẽ ghi chép. Tại sao chúng ta không áp dụng bài học cũ đó để giải quyết vấn đề lạm phát hiện nay? Khác với mọi lần. . gây áp lực lên cán cân thương mại” Trần Sĩ Chương . có lẽ ông không thể yên lặng thêm được nữa. do những biến động về lãi suất. Chính điều đó đặt ra câu hỏi về niềm tin của cả hệ thống.Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Sài Gòn: “Việc tăng lãi suất nhằm hút tiền về chỉ làm cho luồng tiền chạy từ ngân hàng này sang ngân hàng kia.Phó Chủ tịch HĐQT Công ty Le & Associates: “Trong giai đoạn 1991-1992. Ông nói: .. Vấn đề còn lại là hiệu quả trong đầu tư công.

VN l Thượng Tùng .vn/view. ra ngày 30/05/2008 www. số 251.DNSGCT http://www.SAGA.SAGA.vn hợp tác với Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần.aspx?id=12277 .Bài www.asset.