THÔNG TIN VỀ LÃI SUẤT CƠ BẢN BẰNG ĐỒNG VIỆT NAM CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Posted on 08/07/2008 by Civillawinfor LÃI SUẤT VĂN BẢN LOẠI CĂN CỨ LÃI SUẤT ÁP DỤNG MỨC LÃI TỪ SUẤT CAO NHẤT CHO PHÉP TRONG CÁC GIAO DỊCH 01/12/2009 Không vượt 150% lãi suất cơ bản 01/08/2009 Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản

8%/năm

Quyết định số 2665/QĐNHNN Quyết định số 1811/QĐNHNN

7%/năm

7%/năm

Quyết định số 01/07/2009 Không vượt 1539/2009/QĐ150% lãi suất NHNN cơ bản Quyết định số 01/06/2009 Không vượt 1250/2009/QĐ150% lãi suất NHNN cơ bản Quyết định số …/QĐ-NHNN ngày …./2009 01/05/2009 Không vượt 150% lãi suất cơ bản

7%/năm

7%/năm

7%/năm

Quyết định số 01/04/2009 Không vượt 626/QĐ-NHNN 150% lãi suất ngày 24/3/2009 cơ bản Quyết định số 01/03/2009 Không vượt 378/QĐ-NHNN 150% lãi suất ngày 24/2/2009 cơ bản Quyết định số 01/02/2009 Không vượt 172/QĐ-NHNN 150% lãi suất ngày 23/1/2009 cơ bản Quyết định số 3161QĐNHNN ngày 19/12/2008 Quyết định số 2948/QĐNHNN ngày 03 /12/2008 Quyết định số 22/12/2008 Không vượt 150% lãi suất cơ bản 5/12/2008 Không vượt 150% lãi suất cơ bản

7%/năm

7%/năm

8,5%/năm

Lãi suất cơ bản

10%/năm

Lãi suất cơ

11%/năm

21/11/2008 Không vượt

bản

2809/QĐNHNN ngày 20/11/2008 12%/năm Quyết định số 2559/QĐNHNN ngày 03/11/2008 Quyết định số 2316/QĐNHNN ngày 20/10/2008 Quyết định 2131/QĐNHNN ngày 26/9/2008 - Quyết định số 1906/QĐNHNN ngày 29/8/2008 - Quyết định số 1727/QĐ-NHNN ngày 30/7/2008
- 1434/QĐ-NHNN ngày 26 tháng 6 năm 2008

150% lãi suất cơ bản 05/11/2008 Không vượt 150% lãi suất cơ bản 21/10/2008 Không vượt 150% lãi suất cơ bản Không vượt 150% lãi suất cơ bản Không vượt 150% lãi suất cơ bản Không vượt 150% lãi suất cơ bản Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

13%/năm

Lãi suất cơ bản

14%/năm

1/10/2008

Lãi suất cơ bản

14%/năm

1/9/2008

Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản

14%/năm

1/8/2008

14%/năm

1/07/2008

12%/năm

1257/QĐ01/06/2008 Không vượt NHNN ngày 30 150% lãi suất tháng 5 năm cơ bản 2008 1099/QĐ19/05/2008 Không vượt NHNN ngày 16 150% lãi suất tháng 5 năm cơ bản 2008 978/QĐ-NHNN 01/05/2008 Không vượt ngày 29/4/2008 150% lãi suất cơ bản 689/QĐ01/04/2008 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31 tháng 03 cơ bản năm 2008 Quyết định 01/03/2008 Không vượt 479/QĐ150% lãi suất NHNN ngày cơ bản

Lãi suất cơ bản

12%/năm

Lãi suất cơ bản

8.75%/năm

Lãi suất cơ bản

8.75%

Lãi suất cơ bản

8.75%/năm

29 tháng 2 năm 2008 Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản 8.75%/năm 305/QĐ01/02/2008 Không vượt NHNN Ngày 150% lãi suất 30/1/2008 cơ bản 3096/QĐNHNN 2881/QĐNHNN 01/01/2008 Không vượt 150% lãi suất cơ bản 01/12/2007 Không vượt 150% lãi suất cơ bản

8.25%/năm

8.25%/năm

8,25%/năm

2538/QĐ- 01/11/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31/10/2007 cơ bản 2265/QĐ- 01/10/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 28 tháng 9 năm cơ bản 2007 Số:2018/QĐ- 01/09/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30 tháng 8 năm cơ bản 2007 1787/QĐ- 01/08/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31/7/2007 cơ bản 1546/QĐ- 01/07/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 29/06/2007 cơ bản 1143/QĐ- 01/06/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 29 tháng 5 năm cơ bản 2007 908/QĐ01/05/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 27/04/2007 cơ bản 632/QĐ01/04/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 29/03/2007 cơ bản 424/QĐ01/03/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 27/02/2007 cơ bản số 298/QĐ- 01/02/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31/1/2007 cơ bản

8,25%/năm

Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

8,25%/năm

8,25%/năm

Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản

8.25%/năm

8,25%/năm

8,25%/năm

8,25%/năm

Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

2517/QĐ- 01/01/2007 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 29/12/2006 cơ bản 2308/QĐ- 01/12/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30/11/2006 cơ bản 2045/QĐ- 01/11/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30/10/2006 cơ bản 1887/QĐ- 01/10/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 29/09/2006 cơ bản 1714/QĐ- 01/09/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31/08/2006 cơ bản 1522/QĐ- 01/08/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31/7/2006 cơ bản 1234/QĐ- 01/07/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30/6/2006 cơ bản 1234/QĐ- 01/07/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30/06/2006 cơ bản 1044/QĐ- 01/06/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 31/05/2006 cơ bản 854/QĐ01/05/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 28/4/2006 cơ bản 581/QĐ01/04/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30/3/2006 cơ bản 311/QĐ01/03/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 28/2/2006 cơ bản 140/QĐ01/02/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 26/01/2006 cơ bản 1894/QĐ- 01/01/2006 Không vượt NHNN ngày 150% lãi suất 30/12/2005 cơ bản 1746/QĐ- 01/12/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất

8,25%/năm

Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ bản 8,25%/năm

Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm) Lãi suất cơ 0,6875%/tháng bản (8,25%/năm)

8%/năm) 0.80%/năm) 0.50%/năm) cơ bản 1556/QĐ.80%/năm) 0.65%/tháng (7.01/11/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 28/10/2005 cơ bản 1426/QĐ.65%/tháng (7.80%/năm) 0.625%/tháng (7.8%/năm) 0.65%/tháng (7.65%/tháng (7.01/09/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 26/8/2005 cơ bản 1103/QĐ.01/12/2004 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 30/11/2004 của cơ bản Thống đốc Lãi suất cơ bản 0.65%/tháng (7.80%/năm) 0.8%/năm) 0.65%/tháng (7.625%/tháng (7.1/12/2005 Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản 0.80%/năm) 0.8%/năm) 0.8%/năm) 0.01/05/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 29/4/2005 cơ bản 567/QĐ01/05/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 29/4/2005 cơ bản 315/QĐ01/04/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 25/03/2005 cơ bản 211/QĐ01/03/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 28/2/2005 cơ bản 93/QĐ-NHNN 01/02/2005 Không vượt ngày 27 tháng 50% lãi suất 1 năm 2005 cơ bản QĐ số 01/01/2005 Không vượt 1716/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 31/12/2004 của Thống đốc NHNN 1522/QĐ.01/10/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 30/9/2005 cơ bản 1246/QĐ.65%/tháng (7.80%/năm) 0.01/08/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 28/7/2005 cơ bản 936/QĐ01/07/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 30/6/2005 cơ bản 781/QĐ01/06/2005 Không vượt NHNN ngày 50% lãi suất 31/5/2005 cơ bản 567/QDD.65%/tháng (7.65%/tháng (7.65%/tháng (7.50%/năm) .65%/tháng (7.

5%/năm) Lãi suất cơ bản 0.50%/năm) Lãi suất cơ bản 0.5%/năm) * Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam.NHNN Lãi suất cơ bản 0.625%/tháng (7.wordpress.625%/tháng (7.5%/năm) Lãi suất cơ bản 0.50%/năm) QĐ số 01/11/2004 Không vượt 1398/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 29/10/2004 của Thống đốc NHNN QĐ số 01/10/2004 Không vượt 1254/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 30/9/2004 QĐ số 01/09/2004 Không vượt 1079/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 31/8/2004 của Thống đốc NHNN QĐ Số 01/08/2004 Không vượt 968/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 29/7/2004 của Thống đốc NHNN QĐ số 01/07/2004 Không vượt 797/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 29/6/2004 của Thống đốc NHNN QĐ số 01/06/2004 Không vượt 658/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 28/05/2004 của Thống đốc NHNN Lãi suất cơ bản 0.5%/năm) QĐ số 01/03/2004 Không vượt 210/QĐ50% lãi suất NHNN ngày cơ bản 27/02/2004 của Thống đốc NHNN http://thongtinphapluatdansu.625%/tháng (7.625%/tháng (7.625%/tháng (7.com/2008/07/08/070820081/ Lãi suất cơ bản 0.5%/năm) Lãi suất cơ bản 0. .625%/tháng (7.625%/tháng (7.

Tuy nhiên. thì đối với trường hợp tài sản phải thi hành án không phải là hiện vật theo bản án. mức lãi suất cho vay có điều chỉnh cũng không được vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa theo quy định tại Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN. * Ngày 16-7 – 2008. thống đốc nêu rõ mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng ấn định và thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng. lãi suất cho vay có điều chỉnh (floating) được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 19/5/2008 (ngày Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN có hiệu lực thi hành). thì các tổ chức tín dụng và khách hàng vay được thỏa thuận để điều chỉnh lãi suất cho vay đã ghi trong hợp đồng tín dụng.moj.* Hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc áp dụng lãi suất theo quy định tại Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN Ngày 15/7/2008. Bộ Tư pháp. Việc tính lãi suất chậm thi hành án (HƯỚNG DẪN NGHIỆP VỤ CỦA CỤC THI HÀNH ÁN BỘ TƯ PHÁP – http://nghiepvu. về việc điều chỉnh lãi suất cho vay cố định (fixed) được thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký kết trước ngày 19/5/2008. nhưng phải trên cơ sở thực hiện đúng quy định tại Điều 4 Bộ luật Dân sự và không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa theo quy định tại Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN. * Quyết định số 07/2007/QĐ-NHNN Về lãi suất tiền gửi bằng Đô la Mỹ của pháp nhân tại tổ chức tín dụng.gov. trong đó có thỏa thuận lãi suất cho vay có điều chỉnh. thì kể từ ngày 19/5/2008.vn/xembai. thì cơ quan thi hành án thi hành đúng theo quyết định . quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật trước ngày Thông tư này có hiệu lực pháp luật (15/7/1997). pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. theo quy định của pháp luật dân sự. về nguyên tắc tổ chức tín dụng và khách hàng vay tiếp tục thực hiện lãi suất cho vay đó. Bộ Tài chính. Theo văn bản này.Theo quy định tại điểm b khoản 4 mục IV Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Toà án nhân dân tối cao. Đối với các hợp đồng tín dụng được ký kết trước ngày 19/5/2008. Theo công văn. thống đốc Ngân hàng nhà nước có Công văn số 6486/NHNNCSTT gửi các tổ chức tín dụng về việc áp dụng lãi suất đối với khoản nợ gốc quá hạn. Ngân hàng Nhà nước đã ban hành văn bản 6399/NHNN-CSTT hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc áp dụng lãi suất theo quy định tại Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008. mức này nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng. các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng theo lãi suất cho vay có điều chỉnh không vượt quá mức lãi suất cho vay theo quy định tại Quyết dịnh 16/2008/QĐ-NHNN.aspx? nv=137) . Tuy nhiên. * Quyết định số 62/2006/QĐ-NHNN ngày 29/12/2006 ban hành Quy chế thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất. *. Ngoài ra.

quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp chủ động thi hành) và từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (trường hợp thi hành theo đơn yêu cầu) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền.của Toà án.Đối với khoản tiền suất lãi chậm thi hành án. cơ quan thi hành án tính theo mức thấp nhất của khung lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định cho các Ngân hàng thương mại áp dụng theo từng thời kỳ với mức lãi suất vay trung hạn. Ví dụ: Giả sử người phải thi hành án chậm thi hành 01 tháng và nếu lãi suất vay trung hạn là 1%/tháng và khung lãi suất quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định là từ 100% đến 150% mức lãi suất trong hạn.: 23/03/2010 06:00 GMT+7 . Bộ Tài chính. Trong trường hợp này. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. . kể cả các khoản lãi mà bên phải thi hành án phải chịu do chậm thi hành án gây ra.net/2010-0322-bo-tran-lai-suat-khong-so-tao-racuoc-dua-lai-suat Tác giả: MINH TƯỜNG Bài đã được xuất bản. Tuy nhiên. theo quy định tại khoản 1 mục III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Toà án nhân dân tối cao. thì kể từ ngày bản án. từ ngày 15/3/2005 trở đi. Mặt khác. lãi suất chậm thi hành án sẽ được tính: Số tiền lãi chậm thi hành án = (Số tiền chậm thi hành án x 1%) x 100% x 01 tháng chậm thi hành). trong thời gian qua. Ngân hàng Nhà nước chỉ quy định khung lãi suất quá hạn cho các ngân hàng thương mại áp dụng (ví dụ quy định khung lãi suất quá hạn là 100% đến 150% mức lãi suất trong hạn). để thực hiện thống nhất việc tính lãi chậm thi hành án. Thông tư 01/TTLT nêu trên không quy định tiền lãi do chậm thi hành án được tính theo lãi suất của loại vay nào (có kỳ hạn hay không kỳ hạn…) Vì vậy. hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.tuanvietnam. (SOURCE: CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP) Bỏ trần lãi suất: Không sợ tạo ra cuộc đua lãi suất http://www. Bộ Tư pháp.

năm 2008 hai chỉ số này lần lượt là 25. nên bỏ quy định về lãi suất trần huy động để giải tỏa ách tắc trong hệ thống tiền tệ. khi trả lời phỏng vấn Reuters.Xung quanh việc Ngân hàng Nhà nước nên hay không nên bỏ lãi suất trần huy động (lãi suất tiền gửi vào các tổ chức tín dụng) hiện có hai chiều ý kiến: Một. đồng thời cao hơn rất nhiều so với lãi suất tái chiết khấu (7%) và tái cấp vốn (6%). Nhận định của Tuần Việt Nam: hiện có đủ yếu tố thị trường để thay đổi lãi suất trần huy động và khả năng có một cuộc chạy đua lãi suất là khó diễn ra. lãi suất cho vay cũng cao hơn khá nhiều so chỉ số giá tiêu dùng hiện tại. Tình trạng này kéo dài suốt từ năm 2007 đến nay.1%. Lãi suất chạm đỉnh Lãi suất cho vay trên thị trường hiện đang phổ biến ở mức 15-17%. xét trung hạn. Ảnh: SGTT Giải thích tình trạng lãi suất cao hiện nay có thể đưa ra một số lý do sau: Thứ nhất: Lãi suất được đẩy lên cao là do trong thời gian qua xuất hiện tình trạng chênh lệch khá lớn giữa tốc độ tăng trưởng vốn huy động và cho vay. Ngoài ra. trong khi đó tăng trưởng huy động chỉ đạt 46. Cụ thể. tăng trưởng tín dụng là 53. Hai. lãi suất huy động thực tế của nhiều ngân hàng cũng vượt khá xa so với trần 10. Mức lãi suất này được xem là khá cao so với những năm trước đây (trừ năm 2008). năm 2007. tại Hà Nội. Phó Tổng Giám đốc điều hành Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) John Lipsky ngày 22/3. quan ngại việc bỏ trần lãi suất huy động sẽ tạo ra một cuộc đua lãi suất trong hệ thống ngân hàng như năm 2008 sẽ lặp lại. cho rằng: "tiền Đồng Việt Nam hiện nay.4% và . là không có vấn đề" và "bây giờ là lúc cần có chính sách để củng cố niềm tin vào ổn định vĩ mô".5%.9%.

Sau đó tỷ lệ dự trữ bắt buộc được nâng lên 11%. NHNN đặt mục tiêu kiểm soát tín dụng ở mức 25% để phòng ngừa nguy cơ lạm phát khiến cho nguồn vốn ngân hàng càng trở nên khan hiếm. NHNN phát hành 20.4%. lãi suất huy động cân bằng trong dài hạn có thể ở quanh mức 11%-12%.17%. Sức ép thanh khoản hiện nay của các ngân hàng không lớn như thời điểm 2008. vượt xa mục tiêu 25% của NHNN. lãi suất tái cấp vốn 15%. Ngoài ra. Đây là một sự nghịch lý vì thông thường lãi suất chiết khấu là công cụ quan trọng trong điều hành lãi suất trên thị trường. Gói kích cầu bằng hỗ trợ lãi suất đã tạo ra hơn 400. tăng trưởng tín dụng 1. Nhiều doanh nghiệp tìm mọi cách để vay tiền bất chấp nhu cầu thực tế khiến tăng trưởng tín dụng năm 2009 lên mức 37. lãi suất thực tế huy động và cho vay đã cao hơn khá nhiều so với lạm phát và lãi suất chiết khấu của NHNN.4% và 28. Trong khi hiện tại. Khả năng về mức lạm phát cao trong năm nay cũng khó diễn ra do mục tiêu kìm chế lạm phát được ưu tiên trong chỉ đạo của Chính phủ và cầu hàng hóa chưa có dấu hiệu tăng đột biến. Đợt bán Trái phiếu chính phủ ngày 18/3 vừa qua đã đạt 60% tổng giá trị chào bán với lãi suất 12%. Hai tháng đầu năm 2010.000 tỷ đồng vốn giá rẻ cho người đi vay.3%.20. Trong trường hợp này công cụ lãi suất chiết khấu đã giảm đi rất nhiều vai trò của nó. năm 2009 lần lượt là 37. Lúc đó hệ thống ngân hàng căng thẳng thanh khoản khi NHNN thắt chặt các chính sách tiền tệ một cách mạnh mẽ: Ngày 17/03/2008. Năm 2010. họ chỉ thực sự tăng lãi suất huy động khi gặp vấn đề khó khăn trong thanh khoản. Giải thích cho điều này có thể là do NHNN đang rất hạn chế cung tiền qua thị trường mở. lãi suất cơ bản 14%. Thứ ba: Việc nâng lãi suất huy động và cho vay là một hệ quả của việc tăng trưởng tín dụng nóng năm 2009.7%. Lý do NHNN hạn chế việc cung tiền qua thị trường mở có thể xuất phát từ những lo ngại về lạm phát tiền tệ. đồng thời tăng lãi suất cho vay để giảm cầu tiền. Các ngân hàng có thể vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất khá thấp để giải quyết vấn đề thanh khoản của mình sẽ hiệu quả hơn so với việc tăng lãi suất huy . Thứ hai: Lãi suất huy động và cho vay vượt xa lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn của NHNN. Mức chênh lệch kéo dài và quá lớn trên buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất huy động để hút tiền.4%.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc kỳ hạn 1 năm. tái chiết khấu lên 13%. Xét về phía ngân hàng. trong khi đó tăng trưởng tiền gửi lại giảm 0. áp lực trả nợ đè nặng lên nhiều doanh nghiệp bởi việc chi tiêu "quá đà" trong năm trước. Sự khác biệt giữa hiện nay và thời điểm xảy ra cuộc đua lãi suất 2008 Cuộc đua lãi suất năm 2008 diễn ra trong hoàn cảnh đặc biệt bởi nhiều yếu tố hội tụ. do vậy.

ngọai tệ. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đang giữ ở mức ổn định. mục tiêu 6.12% do tình hình nền kinh tế không hồi phục nhanh như phỏng đóan. tăng trưởng GDP suất cho vay trung bình trong năm 13. lãi suất tái cấp tăng từ 11 lên 13%.4%. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc 1% đối với tiền 1/04/2008 tỷ lệ dự trữ bắt buộc nâng - lên 11%.97%. lãi suất cở bản điều chỉnh tăng lên 14%. Lãi suất chiết khấu. Một số khác biệt giữa thời điểm diễn ra cuộc chạy đua lãi suất năm 2008 và hiện nay Năm 2008 Ngày 17/03/2008. lãi suất cơ bản điều chỉnh tăng từ 8.động. thời điểm diễn ra cuộc chạy đua lãi suất lạm phát đang ở mức rất cao. tỷ lệ dự trữ bắt tăng từ 13 lên 15%. - buộc tiếp tục duy trì ở mức thấp. tăng trưởng GDP 5. Nguyên nhân là do lãi suất trên thị trường đã tiệm cận mức cân bằng và có thể nhiều lý do để giảm trong thời gian tới. Phát hành tín phiếu Tháng 3/2010 Không còn tín phiếu bắt buộc. Trong khi đó tính đến tháng 3/2010. . Nhà nước cấm họat động kinh doanh vàng trên sàn giao dịch tự do. chứng khóan. lạm phát chỉ vào khỏang 4%. đồng USD tiếp tục mất giá.5%. Bỏ trần lãi suất huy động không tạo ra cuộc đua lãi suất Những phân tích và lập luận trên cho thấy. tiếp bắt buộc 20. lãi suất tái chiết khấu gửi kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất cơ bản 8%.. tăng trưởng Lạm phát trung bình năm 22.300 tỷ đồng - tục các chính sách tiền tệ mở rộng. So với các kênh đầu tư khác: bất động sản.5%.46%. không kỳ hạn và dưới 12 tháng 3%. một số nhận định còn cho rằng lạm phát có thể trên 30% vào cuối năm 2008. Xét về điều kiện vĩ mô. lãi suất qua đêm quanh mức 7%. lãi suất các kỳ hạn 6 tháng tháng đến 1 năm quanh mức 11.19%.. mức tăng CPI của Việt Nam chỉ ở dưới mức 2 con số. rất ít có khả năng xảy ra một cuộc đua lãi suất như lo ngại của nhiều người khi trần lãi suất huy động. lãi suất tái cấp vốn vốn 7%. Tăng trưởng tín dụng 25. Dự báo của nhiều tổ chức tài chính trong và ngòai nước cho thấy: đến cuối năm 2010. kỳ vọng của các nhà đầu tư năm nay cũng không thể vượt quá 11 . Ngày 1/06/2008.75 lên 12%. Lạm phát mục tiêu 7%. 19/05/2008. lãi tín dụng mục tiêu 25%. lãi suất tái chiết khẩu 6%.

NH nào cũng chỉ muốn cho vay khách hàng tốt. Mặt khác. không cho vay ra được nhiều. minh bạch hoạt động ngân hàng. đây cũng là một bước đi cần thiết trên con đường tự do hóa lãi suất của Việt Nam trong thời gian tới. Các ngân hàng liên tục giảm lãi suất vì khó ở đầu ra http://atpvietnam. nhưng chúng tôi vẫn hạ LS huy động. Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì cho rằng: “Giảm LS huy động để giảm áp lực LS cho vay. 11:15 GMT+7 Dù tốc độ tăng nguồn vốn huy động tiền đồng mấy tháng nay vẫn ở mức thấp. thì dòng tiền vẫn vào ngân hàng mà không còn kênh đầu tư khác.kinh doanh mà lại gửi NH lấy lãi”. LS huy động có thể vẫn tiếp tục giảm. tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho nền kinh tế.Nếu tiếp tục coi mục tiêu kiềm chế lạm phát là ưu tiên hàng đầu của chính sách năm nay. mặt khác không nên để LS tiền gửi cao khiến một số doanh nghiệp không muốn đưa vốn vào sản xuất . Giải pháp này giúp khơi thông dòng chảy tín dụng huy động để hút tiền trở lại hệ thống ngân hàng.15%/năm. nhưng khách hàng tốt thì chỉ vay khi LS ở mức hợp lý (chỉ có khách hàng xấu là vay bằng mọi giá). Ngoài ra. Vì vậy. So sánh mức LS huy động cao nhất tại thời điểm hiện nay với cách đây 2 tháng thì LS tiền gửi của NHTM Nhà nước đã giảm 1%/năm và của NHTM cổ phần giảm 1. Vì vậy để có vốn rẻ khuyến khích nhu cầu vay của DN tốt thì phải hạ LS huy động. mặc dù nhu cầu vốn cuối năm theo quy luật bao giờ cũng tăng cao. . Việc thay đổi trần lãi suất huy động cũng đồng thời giúp cho ngân hàng chính thức hóa được những khoản chi phí để thu hút tiền gửi đã vượt trần trong thời gian qua. nhưng các ngân hàng vẫn liên tục giảm lãi suất (LS) tiền gửi. Rủi ro tín dụng. nhưng nếu tình hình chứng khoán và bất động sản vẫn ảm đạm như hiện nay. Có nhiều nguyên nhân khiến các ngân hàng thương mại (NHTM) liên tục hạ LS huy động tiền đồng trong thời gian qua.aspx Thứ hai.com/vn/thongtinnganh/20732/index. Một trong những nguyên chính là ngân hàng vừa bị hạn chế. Phó Tổng giám đốc một NHTM (xin giấu tên) nói: “Tiền gửi vào chúng tôi trong 3 tháng gần đây sụt giảm trung bình vài trăm tỷ đồng/tháng. 13/10/2008. như nâng mức lãi suất trần huy động lên mức 12% đến 13%. ảnh hưởng khủng hoảng tài chính Mỹ làm khả năng trả nợ của khách hàng giảm sút khiến các NH không muốn đẩy mạnh cho vay mà chú trọng vào việc bảo đảm an toàn hoạt động. tội gì phải trả LS cao để lỗ” . rủi ro lãi suất. thực hiện phương án thận trọng. NHNN có thể bỏ lãi suất trần hoặc. lập lại cân bằng cung cầu trên thị trường tiền tệ. Trong những tháng tới. Ông Kiều Trọng Tuyến. nhưng có nguyên nhân là sự dè dặt tăng trưởng tín dụng trong giai đoạn hiện nay. rủi ro thị trường… do lạm phát trong nước cao. vừa khó cho vay vốn.

Chúng tôi có thông tin là các NH thế giới hiện nay rất khó vay trên thị trường liên NH. nền kinh tế toàn cầu tăng chậm thì áp lực chống lạm phát rõ ràng là không còn nhiều. có ý kiến lại cho rằng hỗ trợ các NH giảm chi phí để giảm LS cho vay bằng các giải pháp tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc.5%/năm so mức cũ. Hiện mức LS huy động USD cao nhất của NH này là 6%/năm. giảm rủi ro và đa dạng hóa khách hàng (có khách hàng có thể cho vay LS thấp. Đây cũng là một động thái đáng chú ý và có thể có những tác động nhất định đến việc điều hành lãi suất thời gian tới của Việt Nam. hay giữ nguyên mức LSCB để đỡ khó khăn cho NH? Tổng giám đốc một NHTM cổ phần nói: “Hệ thống NH có mạnh thì nền kinh tế mới khỏe. nhiên liệu đầu vào trên thế giới đều giảm. Lý do đưa ra là lạm phát tính theo năm của Việt Nam vẫn ở mức cao. phải để xem diễn biến tình hình vài tuần nữa". Thuỵ Điển.5%/năm là hợp lý. Hạ LSCB để “ép” lãi suất cho vay xuống. Khủng hoảng tài chính Mỹ là một ví dụ. Canada. Phó Tổng Giám đốc một NHTM cổ phần nói: " Mặc dù có hiện tượng thừa nguồn USD tại một số NH nhưng đây chỉ là hiện tượng tạm thời.(Nguồn: VNN. Lãi suất cơ bản có thể giảm nhẹ? Tại 2 cuộc họp thành viên Hiệp hội Ngân hàng tại Hà Nội và TP. cho phép sử dụng tín phiếu bắt buộc trên thị trường mở… thì chưa có tác động làm giảm LS cho vay ngay bằng hạ LSCB. Tháng 4 và 5/2008 do nhu cầu vốn các NH đã đẩy LS huy động USD lên mức rất cao (từ 6. Chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành thì cho rằng đúng ra nên duy trì mức LSCB ở mức như hiện nay cho đến hết năm 2008. Tuy nhiên. Việc NHNN giảm lãi suất cơ bản trong giai đoạn tới là tất yếu để tạo sức bật cho nền kinh tế”. Một nhà đầu tư nói: “Với giá nguyên.25%-0. Theo một số NHTM Nhà nước thì nên có sự đồng thuận trong Hiệp hội Ngân hàng để hạ mặt bằng LS huy động USD xuống chỉ ở mức trên 2%/năm. Diễn biến về nguồn vốn ngoại tệ trong bối cảnh khủng hoảng tài chính lan rộng hiện nay tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. cần hỗ trợ các NHTM giảm lỗ. Thêm nữa. vài NH đã cân nhắc tăng lại LS huy động USD. đa số các ngân hàng đề nghị giữ nguyên lãi suất cơ bản (LSCB) ở mức 14%/năm trong những tháng còn lại của năm 2008. Chính phủ phải ưu tiên bảo vệ ngân hàng trước”. đại diện một số NH khác không tán thành. Vì vậy. Ai cũng lo phòng thân cả. Mấy ngày nay.2%-8. trong mấy ngày qua. Vì vậy. Anh.Chưa dám hạ lãi suất huy động ngoại tệ Huy động ngoại tệ tại nhiều NHTM đến cuối tháng 9/2008 có dấu hiệu dư thừa. chưa nên hạ tiếp LS ngoại tệ trong lúc này. ngày 9/10 Eximbank tăng lãi suất huy động USD khoảng 0. HCM vừa qua. nhưng có đối tượng khách hàng xếp hạng tín nhiệm thấp hơn phải chịu LS cao hơn). bất ngờ. Ngân hàng Trung ương của Mỹ. nền kinh tế giảm nhập siêu) vì vậy các NH đã giảm dần LS huy động xuống mức phổ biến hiện nay là 5%-5. 12/10) Mỹ và châu Âu cùng cắt giảm lãi suất chống khủng hoảng . Tuy nhiên từ tháng 7 đến nay do nguồn tiền gửi ngoại tệ tăng khá lớn.5%/năm). Úc. tuy nhiên để dung hòa lợi ích của các bên và phù hợp với diễn biến của lạm phát cũng như tình hình tài chính thế giới thì có thể nên hạ LSCB xuống mức 13. Nếu có vấn đề gì về ngoại tệ trong nước thì các NH Việt Nam cũng khó tiếp cận được vốn cho vay của NH nước ngoài vì xếp hạng tín nhiệm của ta còn thấp. Nếu NH có vấn đề gì là nền kinh tế “chết” nhanh hơn. châu Âu.4%/năm. Trung Quốc… đã đồng loạt giảm lãi suất cơ bản để giải quyết những vấn đề khó khăn của nền kinh tế mỗi nước trong bối cảnh khủng hoảng tài chính đang lan rộng ra toàn cầu. Tuy nhiên. tuỳ theo từng kỳ hạn. việc cho vay ngoại tệ lại hạn chế (do đối tượng được vay thu hẹp.

25%. 6 tháng là 17. Quyết định đồng loạt cắt giảm lãi suất ngày 8/10 xuất phát từ sự suy sụp dây chuyền của nền kinh tế toàn cầu mà kéo theo đó là tất cả các chỉ số chứng khoán Mỹ đang rơi vào một đợt suy giảm tồi tệ nhất kể từ năm 1937.20%-20. 2 tuần là 14. lãi suất tuần qua của các TCTD tiếp tục xu hướng giảm ở cả huy động lẫn cho vay.14%/năm cho kỳ hạn 12 tháng. 4.18%/năm. chỉ số chứng khoán đại diện cho Nhật ngày 8/10 giảm ở mức mạnh nhất trong 2 thập kỷ qua.Thứ tư.05%/năm. HL (Theo Bloomberg. châu Âu đã đồng loạt cắt giảm lãi suất cơ bản. CNN Money) Hiệu ứng tốt từ tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc Thứ hai. Trong khi đó. 22:46 GMT+7 (ATPvietnam.27 điểm phần trăm xuống 6.22%/năm (cao hơn 0. Thuỵ Điển đã cắt giảm lãi suất cơ bản bớt 0. Đây là lần cắt giảm thứ 2 liên tiếp trong vòng 3 tuần qua. lãi suất của Trung Quốc cũng đã được cắt giảm 0.75%. Cụ thể: Lãi suất VND giao dịch bình quân kỳ hạn qua đêm là 11. Lãi suất cho vay phổ biến của khối ngân hàng nhà nước là 20%-20.38%/năm.24%.5% năm bằng VND và 8. Lãi suất bình quân các kỳ hạn bằng USD tương đối ổn định. Đây là một nỗ lực phối hợp chưa từng có tiền lệ nhằm giảm ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái 1929. 3 tháng là 18.09%/năm).Phản ứng đồng thời ngay sau khi cơn bão khủng hoảng tài chính đang mạnh lên hơn bao giờ hết với tất cả các thị trường chứng khoán lớn trên thế giới tụt giảm.com) . 1 năm là 14.5%. lãi suất giao dịch bình quân các kỳ hạn bằng VND trên thị trường liên ngân hàng có xu hướng giảm so với tuần trước đó.33%/năm. 2.5 điểm phần trăm xuống tương ứng 1.72%/năm. Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và 3 ngân hàng trung ương Anh.93%. Trong đó.34%/năm. 8/10/2008. 1 tuần là 13.08 %/năm) và NHTMCP ở mức 17. Cùng kỳ hạn này nhóm NHTMCP cao hơn khoảng 0.8. Con số này thể hiện điều chỉnh giảm khi lãi suất huy động tại các NHTMNN ở mức 17.5%.47%/năm (0.68%/năm. 3. các nước Mỹ. Lãi suất huy động tại các NHTMNN cao nhất cũng chỉ ở mức 17. 6/10/2008.50% năm bằng VND và . 17:03 GMT+7 Theo số liệu báo cáo nhanh của các tổ chức tín dụng đến ngày 30/9/2008.94% năm bằng USD. Canada. Ngân hàng Trung ương Nhật cho dù chưa tham gia vào đợt cắt giảm đồng loạt này nhưng cho biết hoàn toàn ủng hộ quyết định nói trên. khối ngân hàng cổ phần là 20.5% và 4.97%/năm.2% khi đạt mức cao nhất 17. 1 tháng là 16. Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed).

Lý giải cho xu hướng giảm lãi suất tại các khối ngân hàng. Các ngân hàng thương mại niêm yết tỷ giá dưới mức trần được phép khoảng 205-235 đồng/USD.com. trong đó chú trọng giảm lãi suất đối với các doanh nghiệp xuất khẩu.620 đồng/USD..59%-10. 1.vip http://dantri. Lãi suất năm 2007 chính thức khởi tranh Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: thuc-khoi-tranh/2007/1/163032.5-1. thu mua lương thực. Các ngân hàng thương mại niêm yết tỷ giá dưới mức trần được phép khoảng 205235 đồng/USD.560-16. cung . Trong tuần. (Nguồn: Dân Trí. 6/10).000 VNĐ 1. giảm từ 0. hiện ở mức 16.620 đồng/USD. Tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do dao động quanh mức 16. cho vay ưu tiên).600 đồng/USD. Ngoài ra.600đ/USD.vn/kinhdoanh/Lai-suat-nam-2007-chinh- Bộ DVD tổng hợp các đoạn phim lên tinh .000 VNĐ .6% lên 5% nhóm Ngân hàng thương mại nhà nước và Ngân hàng TMCP Ngoại thương bắt đầu áp dụng mức lãi suất cho vay mới. Tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do dao động quanh mức 16.8%/năm so với mức hiện tại (bao gồm cả cho vay thông thường. ngân hàng liên doanh và chi nhánh Ngân hàng nước ngoài cũng đang xem xét giảm lãi suất cho vay phù hợp với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. NHNN cho biết sau khi có quyết định tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng từ 3.BF15W 1. trong tuần theo đánh giá của NHNN diễn biến tỷ giá trên thị trường trong nước tương đối ổn định.000 VNĐ Massage chân Spa Max. hiện ở mức 16..Hộp thả hình tháo ráp [VM111] 641B 185. chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán USD/VND phổ biến từ 40-50 đồng/USD. Một số Ngân hàng thương mại cổ phần.450. chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán USD/VND phổ biến từ 40-50 đồng/USD. doanh nghiệp nhỏ và vừa và các dự án đầu tư có hiệu quả.000 VNĐ Xe đạp tập SP .560-16.820.09% năm bằng USD. diễn biến tỷ giá trên thị trường trong nước tương đối ổn định.9.570-16.570-16.cầu vốn và mặt bằng lãi suất thị trường.800.

Ngân hàng Toàn cầu (G-Bank) tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm VND trên địa bàn Hà Nội với mức tăng bình quân từ 0. Trong quyết định tăng vừa qua. Nếu để ý. hoặc quy mô vốn và thương hiệu chưa thực sự mạnh. Thứ ba. Đầu năm 2007. lãi suất tăng trong khi vốn khả dụng của nhiều ngân hàng dư thừa đã được xem là một nghịch lý. tạo nên một áp lực cạnh tranh mới với những sắc thái mới. lượng tiền thay vì gửi tiết kiệm được đổ vào chứng khoán rất lớn khiến hoạt động ..35%/năm lên 4. Đó là một sự hợp lý.000 USD đến dưới 100.Hà Nội (SHB) quyết định tăng lãi suất huy cấp động đối với cả VND và ngoại tệ.0.55%/năm)… Nam. Ngân hàng Sài Gòn .000 Việt USD với kỳ hạn 2 tháng (tăng tương ứng từ 4.. lạm phát có dấu hiệu chững lại ở mức khả quan nhất trong ba năm qua. 2 tháng từ 7. 12 tháng là 9.3 %/năm. nhu cầu vay tiêu dùng tăng cao. áp lực tăng lãi suất trên thị trường thế giới cũng giảm bớt. có thể thấy phần lớn các ngân hàng tham gia là những gương mặt mới trên thị trường. Nghịch lý trong hợp lý đang tạo ra những sắc thái mới trong đợt khởi động này. Cũng trong năm 2006. Lãi suất mới lĩnh cuối kỳ 6 tháng lên 8.35%/năm. Thứ hai. 2.Mở đầu năm kinh doanh mới. đặc biệt là lãi suất USD.. nhiều ngân hàng sẽ phải tăng!”. Nghịch lý trong hợp lý Những diễn biến trên có vẻ trái với những yếu tố đang hỗ trợ cho khả năng bình ổn lãi suất trên thị trường. Lãi suất VND kỳ hạn 1 tháng. Cuối năm 2006. 24 tháng là 9. 3 và 6 tế tháng.. trong đó tăng mạnh nhất là tiền gửi từ 50. Tuy nhiên những cuộc đua tăng lãi suất mới chỉ thực sự khởi tranh là kênh trong vài ngày trở lại đây.68%/năm. Đây cũng là một hợp lý. thị trường tiêu dùng bước vào mùa mua sắm chuẩn bị Tết Nguyên đán. Trước đó. theo đó tăng lãi suất là một công cụ hiệu quả để hút vốn về phía mình. lãnh đạo một ngân hàng cho rằng nhu cầu vay tiêu dùng tăng cao dịp Tết (giá tiêu dùng cũng tăng cao) là nguyên nhân chính để ngân hàng tăng lãi suất để có tiền đáp ứng.11%/năm. Ngày 16/1. thị trường chứng khoán bước vào thời điểm nóng sốt nhất từ trước tới nay.04 . Nhưng lãi suất vẫn tăng. Thậm chí trong lần trò chuyện với báo chí. áp dụng ngay từ ngày đầu tiên của năm (1/1/2007). lĩnh lãi cuối vốn kỳ. 3 tháng từ 8. tăng từ 7. hàng vẫn Mở hàng lãi suất năm nay là Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank) với quyết đang định tăng lãi suất “Tiết kiệm điện tử”.16%.32 lên 7. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì các mức lãi suất chủ đạo. nhưng lại đúng với yêu cầu hoạt động nội tại của các ngân hàng.68%. với sự tham gia của một loạt ngân hàng cổ phần. Sự cả quyết đó có cơ sở từ sự hợp lý của đợt tăng lãi suất lần này. hàng loạt các ngân hàng cổ phần lần lượt điều chỉnh lãi Ngân suất huy động.64 lên chủ 8. Ngân hàng An Bình (ABBank) điều chỉnh lãi suất huy động tiết kinh kiệm USD với biên độ tăng 0. cung Ngày 15/1. yếu cho Ngày 16/1. một tổng giám đốc ngân hàng cổ phần cả quyết rằng: “Tôi xin cá là lãi suất sẽ vẫn tăng. khả năng đáp ứng cũng đã bị ảnh hưởng từ kỳ đáo hạn tiền gửi cuối năm 2006.25%/năm cho các kỳ hạn 1.1%-0.92 lên 8.76%.

000 VNĐ Bộ DVD tổng hợp các đoạn phim lên tinh . lại không thể kéo dãn ra mãi. Những ngân hàng lớn. Thứ tư. nước… cũng tăng. phí mặt bằng tăng.000 VNĐ Xe đạp tập SP . Những dấu hiệu vốn nước ngoài đổ vào thị trường này bước đầu cho thấy kỳ vọng đó có cơ sở.75% lên 12%? Nguyên thống đốc Ngân hàng nhà nước Cao Sĩ Khiêm. Còn trước mắt.BF15W 1.7 năm nữa. Lãi suất tăng trong bối cảnh này cũng là hợp lý. để đáp ứng vốn thì vẫn phải tăng huy động đầu vào từ lãi suất hấp dẫn. chi phí công sở. cũng mang tính lâu dài và kỳ vọng là thị trường bất động sản sẽ sôi động trở lại trong năm 2007. Đây cũng là sự chia sẻ mang tính lâu dài mà các ngân hàng phải đối mặt. cả tiền điện. có thể sẽ có những cân nhắc khó khăn.huy động của ngân hàng bị ảnh hưởng đáng kể. trong khi chênh lệch lãi suất huy động và cho vay. thành viên Hội đồng tư vấn tiền tệ quốc gia. khi thị trường vốn phát triển mạnh mẽ hơn.. lợi nhuận chủ yếu. Áp lực này có thể chỉ giảm tải trong 5 . Thứ năm. Còn với ngân hàng tham gia cuộc đua. cầu vốn cho nền kinh tế lớn mà kênh chủ yếu vẫn là ngân hàng. Tuy nhiên.net/GL/Kinh-doanh/2008/05/3BA0271C/ Bộ nồi Crystal (TW07003) 665. khả năng tự huy động vốn của các doanh nghiệp tốt hơn.. bên lề kỳ họp Quốc hội. những hợp lý trên chỉ gói gọn trong yêu cầu nội tại của mỗi ngân hàng. 1.Ông bình luận thế nào về việc Ngân hàng nhà nước nâng lãi suất cơ bản từ 8. khi mà tiền lương lao động tăng. đại biểu Cao Sĩ Kiêm. nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.000 VNĐ Sáng 20/5. thương hiệu lớn thường có khả năng cung vốn dồi dào. khả năng hút vốn mạnh thì vẫn có thể “thảnh thơi” trong đợt khởi động này. > Lãi suất cơ bản VND lên 12%. .000 VNĐ Chảo chống dính Smart HJ09005-1/ 20cm 75. dỡ bỏ trần huy động . Theo Minh Đức VnEconomy Lẽ ra phải nâng lãi suất cơ bản từ cuối năm 2007 Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: http://vnexpress. Và kỳ vọng đó hiện thực đồng nghĩa với lượng tiền trong dân cư sẽ rời ngân hàng để đổ vào bất động sản. khẳng định rất ủng hộ việc nâng lãi suất cơ bản.800.820. Do đó tăng lãi suất để giảm bớt lực kéo của thị trường chứng khoán là một hợp lý. mục tiêu tăng trưởng năm nay khá cao. có thâm niên.

Áp dụng biện pháp cũ này trong tình hình mới thì có còn hợp lý? .vn/kinhte/2008/03/773280/ Bộ nồi Crystal (TW07003) 665. Khi lạm phát thì phải rút tiền về rất nhanh và kèm theo đó phải nâng lãi suất. khi ông làm Thống đốc Ngân hàng nhà nước. doanh nghiệp và dân cũng phải chịu. thì Ngân hàng nhà nước và ngân hàng thương mại đều phạm luật. áp dụng ngay những gì có thể sinh lời hoặc có yếu tố cạnh tranh.Trong điều kiện hiện nay nếu không ban hành lãi suất cơ bản thì còn không có tự do hơn nhiều. nền kinh tế bị khựng lại. Hồng Khánh (ghi) DN kêu lên Chính phủ khó khăn về tỷ giá. Khi lạm phát cao. muốn thực hiện lãi suất dương thì phải nâng lãi suất tiền gửi.Nguyên tắc thị trường và những hoạt động tiền tệ có quy luật của nó. Cụ thể là phải đổi mới công nghệ. Đó là con đường tất yếu.Ông nhìn nhận thế nào trước ý kiến cho rằng ban hành lãi suất cơ bản có nghĩa là chưa tự do hóa lãi suất. các giải pháp thành công.Nâng lãi suất cơ bản đến 12% thì tương tự thời kỳ năm 1987-1988. biện pháp nâng lãi suất cơ bản là khả dĩ nhất. ngân hàng.Tôi hoàn toàn ủng hộ việc nâng lãi suất cơ bản. Tất cả phải chấp nhận gồng lên chia sẻ trách nhiệm.Nguồn vốn đổ vào bất động sản và chứng khoán là vốn tín dụng chiếm phần quan trọng. Vừa qua mình quy định lãi suất trần khống chế làm ngân hàng thương mại không huy động được vốn. mọi người phải chịu.. . kéo lãi suất dần xuống thì mọi người đều được hưởng. Chỉ khi nào nền kinh tế ổn định. có thể phải chuyển sản xuất mặt hàng khác. Về phía doanh nghiệp.900.000 VNĐ Hộp thả hình tháo ráp [VM111] 185. trong khi lãi suất cho vay lên tới 19%. hệ quả là gây mất tự do cho các ngân hàng thương mại. . có khả năng thực thi tốt và đảm bảo hài hòa các quyền lợi.Thị trường bất động sản và chứng khoán sẽ chịu tác động thế nào từ việc nâng lãi suất cơ bản? . giống như ta đói thì phải ăn cơm. Nhà nước về mặt vĩ mô khi cân đối cũng phải có chính sách hỗ trợ để một số mặt để doanh nghiệp có thể trụ vững. Đáng lẽ cuối năm ngoái khi lãi suất dâng lên. bỏ lãi suất trần huy động thì sẽ không làm vón cục. mất tự do cho dân và doanh nghiệp. bỏ đi những gì khiếm khuyết. tiếp tục để lãi suất cơ bản hơn 8%. chờ thời cơ phát triển. doanh nghiệp không có vốn vay. cần tính toán một cách chặt chẽ. .Lạm phát lên thì lãi suất phải lên. tê liệt thị trường.000 VNĐ . Ngân hàng nhà nước phải điều chỉnh ngay lãi suất cơ bản. vượt 200-250%. lãi suất Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: http://vietnamnet. đi ngược lại chủ trương của Đảng? . Khi lãi suất cơ bản lên thì hai thị trường kia phải gánh chịu rất lớn và rất khó khăn. Trong bối cảnh hiện nay. thậm chí phải teo lại để trụ vững.000 VNĐ Tủ lạnh ôtô MOBICOOL T08 DC 1.000 VNĐ Maxcare Max-555 60. Mặt khác. ông đánh giá thế nào về tác động của việc nâng lãi suất cơ bản tới các doanh nghiệp? . dân không gửi. tránh phạm luật. .Là Chủ tịch hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa. Như vừa qua chúng ta quy định lãi suất trần.

hỗ trợ DN xuất khẩu. Bộ Công thương đã có cuộc gặp gỡ để tổng hợp ý kiến các Hiệp hội ngành hàng phía Bắc về các giải pháp và hình thức hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh hàng xuất khẩu.. lãi suất cao. Được biết. khan hiếm tiền đồng khiến việc vay vốn khó khăn.. một cuộc gặp gỡ với DN và đại diện DN ở phía Nam cũng sẽ được tổ chức vào chiều mai 14/3/2008 ở TP Hồ Chí Minh về vấn đề này.Đồng USD tiếp tục mất giá. . nếu tình trạng này kéo dài. mục tiêu xuất khẩu năm 2007 có khả năng bị ảnh hưởng. đang đẩy DN xuất khẩu vào hoàn cảnh khó khăn bị dồn nén từ nhiều phía.. Nhiều DN lo ngại. Để tháo gỡ những khó khăn.

nhiều DN đã ví mình đang bị dồn nén từ cả hai đầu. việc bán USD cho các ngân hàng cũng khó khăn do tình trạng • Khó bán USD. (Ảnh: Phước Hà) Tại cuộc gặp. khiến cho DN thiệt thòi trong xuất khẩu. Đại diện các DN và hiệp hội cho biết. Với mức lãi suất này của doanh nghiệp xuất khẩu hiện nay là cứ sản xuất là lỗ. đồng USD xuống giá. DN xuất khẩu thu USD về nhưng càng có nhiều USD lại càng lo. nếu tình trạng này kéo dài thì hiệu quả kinh doanh sẽ bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó. tiếp tục mua nguyên liệu sản xuất thì phải chấp • Nới rộng biên độ tỷ giá lên 1% nhận một mức giá thỏa thuận thấp hơn cả biên độ dao động của quy định. thu USD về thì tỷ giá lại xuống thấp.DN xuất khẩu mong ngân hàng đừng ép giá khi mua USD và tăng cường cho vay xuất khẩu. Một vấn đề khác mà các DN bức xúc là lãi suất đang lên quá cao. lô hàng càng lớn thì nguyên liệu đầu vào là nhập khẩu hay thu gom trong nước đều chịu cảnh giá cả đầu vào lên cao. thậm chí mục tiêu xuất khẩu của từng DN và ngành hàng có thể bị tác động không tốt. doanh nghiệp "khóc dở. xem lại cách sử dụng ngoại tệ • Thiệt đơn thiệt kép vì USD. hai vấn đề nóng nhất mà các DN quan tâm là giá đồng USD ngày càng giảm so với VND. hiện nay. đại diện Hiệp hội Cà phê ca cao cho biết. DN muốn bán USD để trả lương công nhân. ngân hàng không mặn • Ứ đọng USD. DN thuỷ sản kêu cứu dư thừa ngoại tệ. Thứ nhất là. TIN LIÊN QUAN Trong hoàn cảnh đó. một đồng USD so với trước đây DN đã mất mấy trăm VND. có DN đã phải vay vốn tín dụng qua đêm lên tới 4%/tháng. . mếu dở" mà chuyện mua vào. Trong khi đó. hiện tại.

có những doanh nghiệp phải chấp nhận mức lãi 16%/năm. Bùi Xuân Khu cho biết. Có thể Chính phủ nên chỉ đạo các ngân hàng quốc doanh thực hiện lãi suất ở mức hợp lý đối với các hợp đồng vay hàng xuất khẩu. Được biết. (Nguồn ảnh: VNN) Các DN phản ánh. Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Thành Biên sẽ có một cuộc họp quan trọng với các DN và Hiệp hội ngành hàng phía Nam về các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu. đề nghị các ngân hàng tăng cường cho vay xuất khẩu nhiều hơn. sẽ tập hợp ý kiến đề xuất Thủ tướng tìm biện pháp hỗ trợ DN xuất khẩu. lãi suất đi theo hướng nào? Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: ArticleID=106984&ChannelID=3 http://www. DN cố làm để hoàn thành hợp đồng và giữ uy tín với khách hàng. Được biết. Thứ trưởng Bộ Công thương.vn/Tianyon/Index. Bộ Công thương và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã gặp gỡ nhau bàn các biện pháp để giải quyết những bức xúc trên đây của DN. NHNN cũng cần có biện pháp xử lý các ngân hàng thương mại mua bán ngoại tệ thấp hơn mức tỷ giá công bố của NHNN… • Phước Hà Năm 2008. về phía Bộ Công thương đã kiến nghị NHNN yêu cầu và có biện pháp hỗ trợ các ngân hàng thương mại mua toàn bộ ngoại tệ mà các doanh nghiệp thu được từ xuất khẩu theo tỷ giá Nhà nước công bố. vốn vay tín dụng đang lên quá cao với mức 14%/năm. Trước mắt. sẽ đề xuất giải quyết các vấn đề bức xúc nhất là điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ hợp lý để DN xuất khẩu có lãi trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong khoảng một tuần nay.Ngân hàng không mặn mà chuyện mua vào USD. thậm chí có doanh nghiệp còn vay vốn tín dụng qua đêm với 4%/tháng. Trước đó.aspx? . Mức lãi suất này thì làm gì có lãi. cũng như việc có biện pháp để tăng cho vay xuất khẩu. Trao đổi với các DN.tienphong. trong ngày 14/3.

nhiều người dân rút tiền tiết kiệm để đổ vào chứng khoán. Chẳng hạn. cho rằng để đảm bảo an toàn. TP. Khi đó. các công ty niêm yết và những nhà đầu tư cá nhân chùn chân. buộc các NH phải tăng lãi suất để giữ chân khách hàng và cạnh tranh với kênh đầu tư chứng khoán. Thay vì tăng lãi suất liên tục sẽ phá vỡ cam kết thực hiện lãi suất thỏa thuận trong Hiệp hội NH VN. Các NH thương mại ngầm hiểu NH Nhà nước không muốn mặt bằng lãi suất biến động mạnh để có thể tiếp tục kiểm soát lạm phát. “hè nhau” đem gửi tiền NH. sau khi tung ra chương trình khuyến mãi trúng vàng. Hiện nay. NH Nhà nước vừa công bố mức lãi suất cơ bản đồng VN áp dụng trong tháng 1-2008 là 8. vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển NH Nhà nước. đã có những dấu hiệu cho thấy NH Nhà nước muốn ghìm cuộc đua này lại. so với mục tiêu ban đầu thu hút 2. chỉ từ giữa tháng mười hai đến nay đã thu hút trên 800 tỉ đồng tiền gửi. Khó chấp nhận biện pháp hành chính .Chảo chống dính Smart HJ09005-1/ 20cm 75. dự báo cuộc đua tăng lãi suất giữa các ngân hàng (NH) sẽ được tăng tốc mạnh mẽ. các NH tung ra nhiều chiêu khuyến mãi để tăng nhanh vốn huy động. Các công ty chứng khoán. Sang tháng tám. Nhiều đơn vị dư vốn đành phải hạ lãi suất để từ chối bớt tiền gửi. đặc biệt những NH có qui mô còn nhỏ. trong các NH đã có sự lo ngại NH Nhà nước sẽ kiểm soát cho vay bất động sản (BĐS) sau khi kềm cặp cho vay chứng khoán.000 VNĐ Bộ nồi Crystal (TW07003) 665. Có siết cho vay bất động sản? Các chuyên gia NH dự báo mặt bằng lãi suất vẫn đứng ở mức cao hoặc tăng nhẹ trong tháng 1-2008 khi nhu cầu vốn từ các doanh nghiệp vẫn cao cho kỳ kinh doanh Tết Nguyên đán. Trong khi đó. giám đốc NH Nhà nước chi nhánh TP.HCM -Ảnh: Thanh Đạm các NH đồng loạt tăng lãi suất VND do thị trường chứng khoán “bốc hỏa”. Ông Lê Xuân Nghĩa.25%/năm. Đó là vào tháng hai.000 VNĐ Năm 2008. cho vay BĐS chiếm khoảng 10% tổng dư nợ của NH là “chấp nhận được”. không đổi kể từ tháng 12-2005 đến nay. tỉ lệ cho vay BĐS đã vượt 20% tổng dư nợ. thị trường chuyển biến theo hướng ngược lại khi thị trường chứng khoán trở nên trầm lắng. Đến tháng mười một. Lãi suất “nóng. ở NH Eximbank. Ông Hồ Hữu Hạnh. lạnh” theo chứng khoán Giao dịch tại acombank Thị trường tín dụng năm 2007 có ba mốc đáng nhớ. xác nhận NH Nhà nước đang rà soát việc cho vay BĐS của các NH và xem xét lại tỉ lệ trích lập rủi ro cho vay BĐS.000 tỉ đồng trong vòng ba tháng. lãi suất nhích lên trở lại khi các NH cần vốn ngắn hạn để cho doanh nghiệp vay vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh vào cuối năm. Tuy nhiên.000 VNĐ Hộp thả hình tháo ráp [VM111] 185.HCM. thực tế cho thấy ở một số NH cổ phần.000 VNĐ Maxcare Max-555 60.

820.05:24 . Các chuyên gia cho rằng có thể kiểm soát cho vay BĐS thông qua việc xét lại tỉ lệ trích dự phòng rủi ro cao hơn đối với tín dụng BĐS.vn/kinhdoanh/Vi-sao-lai-suat-USD- Xe đạp tập SP . Ngân hàng Á châu (ACB)… và cả thành viên của khối . thậm chí làm thay và can thiệp quá sâu vào hoạt động của NH thương mại. Theo ông.com. lãi suất USD trên thị trường bắt đầu có sự điều chỉnh mang tính khởi động. Vì vậy sẽ là “tai hại” nếu NH Nhà nước lại có thêm một “chỉ thị 03” áp dụng cho BĐS. sẽ khó lòng tìm được sự ủng hộ của thị trường nói chung và các NH nói riêng nếu NH Nhà nước siết cho vay BĐS thông qua việc đưa ra một tỉ lệ khống chế cho vay BĐS đối với một NH.Tuy nhiên. đặc biệt là thời gian gần đây vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào BĐS là rất lớn.900.000 VNĐ Maxcare Max-555 60.vn http://dantri. Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank).com. Sự nối tiếp diễn ra đồng loạt ở khối ngân hàng cổ phần với sự tham gia của Ngân hàng Quốc tế (VIB Bank).000 VNĐ Thảm 2 mặt Pororo 01 2. chắc chắn mặt bằng lãi suất sẽ hạ xuống.000 VNĐ Tủ lạnh ôtô MOBICOOL T08 DC 1. Theo Như Hằng Tuổi trẻ Vì sao lãi suất USD tăng?Cập nhật: 03/05/2007 . Ngân hàng Quân đội (MB). “Nếu NH Nhà nước siết cho vay BĐS. Ngân hàng Đông Nam Á (SeABank) là những cái tên đầu tiên được nhắc đến trong đợt điều chỉnh này. NH cổ phần chỉ có cách xoay qua cạnh tranh giành khách hàng cá nhân. hiện nay các NH quốc doanh đang chiếm thị phần lớn đối với khách hàng công ty. lãnh đạo một NH cho rằng nếu NH Nhà nước đưa ra một tỉ lệ nào đó để áp đặt các NH như chỉ thị 03 nhằm kiểm soát cho vay chứng khoán thì rất khó cho các NH.vip DanTri. Từ giữa tháng 3/2007. Hơn nữa. Việc này không ảnh hưởng lớn đến thị trường như đã làm với chỉ thị về cho vay chứng khoán.800. Điểm đáng chú ý trong diễn biến lãi suất USD từ đầu năm đến nay là vẻ “điềm đạm” khác với sự căng thẳng ở thời điểm cùng kỳ những năm trước.000 VNĐ Lãi suất USD của các ngân hàng vừa có sự điều chỉnh đồng loạt. tăng trưởng kinh tế có phần đóng góp rất lớn từ thị trường BĐS. tuy nhiên thay vì những cuộc đua trước đó đây là nhu cầu nội tại.Nguồn: Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: tang/2007/5/177343. Nhưng với BĐS cho dù giảm giá đến thế nào thì nhà cửa thế chấp vẫn còn đó. mà đối tượng khách hàng này chỉ có hai sản phẩm chính là cho vay BĐS và cho vay tiêu dùng. BĐS có liên quan đến nhiều ngành kinh tế khác. nguồn vốn của NH không còn lối ra. Theo các NH.BF15W 1. Biện pháp này mang tính hành chính.

Tất nhiên. cá biệt lên tới 5. Lý giải này mang tính xã giao nhưng rất thực tế trong cuộc cạnh tranh giữ chân khách hàng gửi tiền giữa các ngân hàng thương mại. Về đợt điều chỉnh này. Nhu cầu vay ngoại tệ cao. theo đó hoạt động chuyển ngoại tệ ra gửi ở nước ngoài hưởng chênh lãi như trước đây phần lớn bị loại trừ. trong khi nguồn cung ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng không đủ đáp ứng (theo nhận định của Techcombank). chênh lệch lãi suất với thị trường thế giới bị rút ngắn. đặc biệt là các doanh nghiệp nhập khẩu. khi mà nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu bước vào mùa cao điểm. những nguồn cung trên đã tác động đến tỷ giá hồi đầu năm. Lý do thứ hai được đưa ra là để đảm bảo nguồn cung ngoại tệ cho nhu cầu vay.5. lãi suất USD đã và đang tăng phổ biến. chênh lệch lãi suất trong nước với thế giới đã được rút ngắn đáng kể. lượng ngoại tệ từ kiều hối tăng mạnh đầu năm cũng là một nguồn cung thuận lợi. không loại trừ khả năng một số ngân hàng mới chuyển đổi sẽ mạnh tay đua để hút khách hàng về mình. áp lực tăng lãi suất mới thực sự bộc lộ và sự vào cuộc của các ngân hàng mới phổ biến hơn. Con số 4 tỷ USD vốn ngoại xếp hàng chờ đổi qua VND để đổ vào thị trường chứng khoán được nhắc đến (có cả trong phát ngôn của một nhà quản lý thị trường. đặc biệt là vì mục đích đáp ứng nhu cầu vay của doanh nghiệp. Đây cũng là một tín hiệu tích cực trong đợt điều chỉnh này. Điểm đáng chú ý trong diễn biến lãi suất USD từ đầu năm đến nay là vẻ “điềm đạm” khác với sự căng thẳng ở thời điểm cùng kỳ những năm trước. Với mặt bằng mới.25% theo lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) vẫn là một chốt chặn trong thỏa thuận của các ngân hàng. Cũng trong nguyên nhân nguồn cung ngoại tệ. dù con số đó chưa có báo cáo kiểm chứng) như một nguồn cung ngoại tệ dồi dào. bởi nguyên nhân chính của đợt điều chỉnh xuất phát từ yêu cầu nội tại của hầu hết các ngân hàng. Giám đốc Trung tâm Thanh toán và Ngân hàng đại lý Techcombank. Ngoài ra. tính chất nóng sốt của những cuộc đua diễn ra từ cuối năm 2003 đến năm 2006 không còn diễn ra gay gắt. có một điểm đáng chú ý liên quan đến . Techcombank… đều đề cập đến một ý nghĩa là tăng quyền lợi cho khách hàng của mình.05%/năm kỳ hạn 12 tháng. đến thời điểm này. tích cực ở hướng hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp trong nước. nhưng mốc 5. cho rằng quyết định tăng lãi suất USD vừa qua là phù hợp với diễn biến của thị trường. Và phải đến tháng 3. Phải chăng. Tuy nhiên. có sự thay đổi trong nguồn cung trên thị trường? Trong các lý giải về quyết định điều chỉnh lãi suất của mình. Qua đợt điều chỉnh.quốc doanh là Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank). Vì sao có sự “điềm đạm” đó? Trước hết có một nguyên nhân xuất phát từ ảnh hưởng của thị trường chứng khoán. MB hay SeABank. Trên thực tế. lãi suất tăng. Đây là lý do cơ bản và là yêu cầu nội tại của hầu hết các ngân hàng hiện nay. từ 5 . xoa dịu áp lực tăng lãi suất.25%/năm kỳ hạn 24 tháng. lãi suất huy động USD trên thị trường đã định hình một mặt bằng mới. Ông Đặng Bảo Khánh. theo hướng tăng của đồng nội tệ.

000 VNĐ Maxcare Max-555 60. bên kia thì nhận định lãi suất đang có chiều hướng giảm. Thời điểm lãi suất USD bắt đầu tăng cũng trùng hợp “ngẫu nhiên” với xu hướng bán ra của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán. doanh nghiệp theo cơ chế mới.000 VNĐ Hộp thả hình tháo ráp [VM111] 185. thay vì tìm đến ngân hàng để hưởng lãi hàng tháng. được quy đổi sang USD để hạch toán lợi nhuận. tỉ giá được giao dịch ổn định quanh mức 16. đó là tại sao lãi suất tăng khi mà các ngân hàng vừa có được một cơ chế hút ngoại tệ rất thuận lợi? Đó là chủ trương “cởi trói” lãi suất USD đối với tiền gửi của tổ chức. Còn các ông chủ nhà băng nói gì? Chưa đáng kể Chứng khoán có "hút" tiền tiết kiệm nhưng không nhiều.015. Incombank… cũng đã lần lượt nâng lãi suất USD đối với tiền gửi của tổ chức.vn/kinhdoanh/Lai-suat-ngan-hang-theo- Tủ lạnh ôtô MOBICOOL T08 DC 1. ACB. thực hiện từ 1/3/2007.vip http://dantri. Mới triển khai.022 đồng ăn 1 USD. gần như không tăng so với những ngày trước. chi trả lợi nhuận… Nguồn cung USD trên thị trường có thêm một lực hút mạnh. hiệu quả cơ chế mới còn chờ kiểm chứng. doanh nghiệp vào ngân hàng.Nguồn: DanTri. tỉ giá USD/VNĐ do Vietcombank TPHCM công bố đứng ở mức 16. Theo Minh Đức VnEconomy Lãi suất ngân hàng theo hướng nào?Cập nhật: 30/03/2007 . Tính chung cả tuần qua.sự dịch chuyển của các dòng vốn trên thị trường chứng khoán.vn Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: huong-nao/2007/3/172749.com. Trên thực tế. Lượng tiền họ thu về. Có một câu hỏi được đặt ra trong đợt điều chỉnh này. cả tỉ giá chính thức do NH Nhà nước .05:47 . Ngày 29/3. các ngân hàng như MB.com.000 VNĐ Bộ nồi Crystal (TW07003) 665.000 VNĐ Thị trường tiền tệ đang đón nhận hai luồng thông tin trái chiều: một bên cho rằng các ngân hàng (NH) sắp có một đợt tăng lãi suất mới. Nhưng có một điểm có thể khẳng định là nguồn vốn huy động theo kênh này vẫn hạn chế khi mà đồng vốn của doanh nghiệp thường năng động tìm những hướng đầu tư thu lợi cao hơn. dù không có thống kê cụ thể như chắc chắn là rất lớn.900. Như vậy xét bình quân trong tháng ba.

Chỉ khác đi là thay vì đó là tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. như vậy buộc các NH phải nâng lãi suất lên.bán USD hiện nay có thể nói là cân bằng. NH Nhà nước đã giải quyết việc thừa vốn tại các NH và giảm bớt sức ép lên lạm phát.phó tổng giám đốc một NH cổ phần nhận định. do đó lãi suất cho vay cũng tăng theo. nếu sự cân bằng này được duy trì” . chứ không còn thiên về bán như trước nữa.000 tỉ đồng ra khỏi nền kinh tế thông qua việc mua bán giấy tờ có giá và đấu thầu trái phiếu. các NH phải trả lãi suất 0. nhu cầu USD bắt đầu tăng trên thị trường nội địa khi nhiều nhà đầu tư nước ngoài bán ra các cổ phiếu và trái phiếu để chuyển lợi nhuận về nước và chuẩn bị cho một chu kỳ kinh doanh mới. nhưng số tiền này cũng được đưa trở lại vào hệ thống NH vì các công ty chứng khoán không giữ tiền. Tuần trước. bất động sản. cục bộ. đang hút vốn như hiện nay thì các NH sẽ tính chuyện tăng lãi suất huy động để thu hút khách hàng và giữ nguồn vốn không bị chảy ra ngoài. Thống đốc NH Nhà nước Lê Đức Thúy cũng thừa nhận việc người dân rút tiền chơi chứng khoán có thể ảnh hưởng đến NH ở chỗ vốn NH huy động không đủ cho nhu cầu kinh tế thì nhất định phải có sự tranh chấp về vốn. Thế nhưng từ tháng ba.25%/tháng cho khoản tiền gửi không kỳ hạn nằm chờ trong tài khoản ở các công ty chứng khoán” . có thiếu vốn đâu mà phải tăng lãi suất” .5%. Các NH lý giải việc tiền đồng tăng giá trong hai tháng đầu năm vì các nhà đầu tư nước ngoài liên tục bán USD để lấy tiền đồng đầu tư vào chứng khoán. Báo cáo của Tổng cục Thống kê cho thấy giá cả tổng thể trong tháng này sẽ giảm 0.3% trong hai tháng đầu năm. “Đúng là người dân ít gửi tiết kiệm nhưng chúng tôi vẫn đang thừa vốn ngắn hạn do các nhà đầu tư trong nước lẫn nước ngoài vẫn để tiền trong tài khoản chờ đầu tư. Theo người này.6-0. Theo các NH. Một NH nước ngoài cũng nhận định việc thừa cung vốn có thể kéo dài đến hết . cung vốn tiền đồng tại NH rất dồi dào cũng còn do các công ty cổ phần nhân lúc giá cổ phiếu ở mức cao đã phát hành cổ phiếu để huy động vốn nhưng chưa sử dụng hết. Tuy nhiên. nơi này đã rút khoảng 12. Doanh nghiệp tìm vốn ở chứng khoán Theo các NH. sau khi tăng khoảng 0.công bố hằng ngày lẫn tỉ giá giao dịch thực tế ở các NH cho thấy tiền đồng đứng giá so với USD. theo lẽ thường. tạm thời gửi ở NH.22% so với tháng hai.. Từ đó có thể nói tỉ giá sẽ tiếp tục ổn định..7%/tháng thì nay chỉ phải trả 0. “Giao dịch mua . làm chỉ số giá cả tiêu dùng (CPI) trong ba tháng đầu năm đạt 3%. khi các kênh đầu tư khác như thị trường chứng khoán. Bộ Tài chính nhắm đến việc duy trì lạm phát trong năm 2007 thấp hơn 7%. việc người dân rút tiết kiệm tiền đồng để đầu tư vào CK đang diễn ra nhưng chưa phải là một trào lưu.đại diện một NH nước ngoài nhận định. “Việc này chỉ diễn ra đây đó. theo đúng với mục tiêu của Chính phủ là giữ lạm phát ở mức dưới mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8. các chuyên gia tài chính cho rằng các NH đang ở trong một trạng thái đặc biệt khiến khả năng tăng lãi suất sẽ khó có thể xảy ra trong một vài tháng tới.trưởng phòng tín dụng của một NH cho biết.

thống nhất.33%/tháng . bất cập của những quy định hiện hành.so với mức lãi suất huy động một tháng từ người dân của các NH là khoảng 0. thậm chí có NH quốc doanh đã cung cấp nguồn vốn kỳ hạn một tháng cho các NH bạn chỉ ở mức 4%/năm (0. bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật Việt Nam và sự hài hòa giữa các quy định của pháp luật liên quan nhưng vẫn . nên cần có hệ thống văn bản pháp luật ngân hàng đồng bộ. Quan điểm chỉ đạo cơ bản của việc sửa đổi. có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 và thay thế Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997/QH10 và Luật sửa đổi. từng bước thực hiện được mục tiêu. những quy định vẫn còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tổ chức và hoạt động của NHNN. thẩm quyền của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là Ngân hàng trung ương và các cơ quan liên quan trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ.quí 2. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 cũng đã tác động mạnh mẽ tới việc điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng trung ương. Lãi suất trên thị trường liên NH đang thấp như vậy chắc chắn sẽ kéo mặt bằng lãi suất huy động của các NH đi xuống” . Luật NHNN Việt Nam số 46/2010/QH12 có nhiều nội dung thay đổi.trưởng phòng vốn và kinh doanh tiền tệ của một NH khẳng định. định hướng về phát triển NHNN theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X. bổ sung Luật NHNN Luật NHNN phải thể chế hóa được quan điểm. nhiều văn bản mới đã được ban hành trong thời gian qua. tại kỳ họp thứ 7. Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12. vai trò của các ngân hàng trung ương đã có sự thay đổi rất lớn nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. thể hiện được tính đặc thù của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Luật NHNN 2010 kế thừa và phát huy những ưu điểm. bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 10/2003/QH11. Ngày 16/6/2010. nhiều chủ trương. sửa đổi so với Luật NHNN Việt Nam năm 1997 và Luật sửa đổi. Đồng thời. Theo Như Hằng Báo Tuổi trẻ Những điểm mới quan trọng trong Luật NHNN Việt Nam 2010 Trong những năm gần đây. Bên cạnh đó. chính sách và định hướng đổi mới của Đảng và Nhà nước về hoạt động ngân hàng nói chung và NHNN nói riêng đã được ban hành. “Lãi suất trên thị trường liên NH đang xuống rất thấp. phù hợp với thể chế chính trị của Việt Nam. khắc phục được những hạn chế. đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế. đổi mới về tổ chức và hoạt động của NHNN. Trong phạm vi bài viết này xin giới thiệu một số điểm mới quan trọng của Luật NHNN Việt Nam 2010. chính sách của Đảng và Nhà nước. đồng thời tạo điều kiện đẩy nhanh cải cách. bổ sung năm 2003. Tại Việt Nam. một phần cũng vì do chậm trễ giải ngân cho chi tiêu Chính phủ tới tháng năm. tạo cơ sở pháp lý để thể chế hoá các chủ trương. sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của hệ thống tài chính nói riêng đã đặt ra yêu cầu có quy định cụ thể hơn về trách nhiệm. dẫn đến yêu cầu cấp thiết trong việc mở rộng vai trò của các ngân hàng trung ương nhằm đảm bảo ổn định hệ thống tài chính và giám sát rủi ro hệ thống hiệu quả.6%/tháng).

chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. việc sửa đổi Luật NHNN phải phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết và thông lệ. bổ sung. Luật NHNN 2010 tạo cơ sở pháp lý để nâng cao một bước trách nhiệm. Hoạt động thông tin. Luật Tổ chức Chính phủ. NHNN có 6 lĩnh vực hoạt động nghiệp vụ chủ yếu gồm: Thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. tạm ứng cho ngân sách. lãi suất. quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra. thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia là một trong những lĩnh vực hoạt động quan trọng nhất của NHNN. Theo đó. Thủ tướng Chính phủ. tỷ giá hối . Về thẩm quyền quyết định chính sách tiền tệ quốc gia. Thẩm quyền cụ thể của NHNN trong việc thực thi chính sách tiền tệ Thống đốc NHNN quyết định việc sử dụng các công cụ tái cấp vốn. bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát. Trong Luật NHNN vừa được thông qua. Chủ tịch nước thực hiện nhiệm vụ. Chính phủ. Chính phủ trình Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hàng năm. Phát hành tiền. Theo quy định của Luật NHNN VN 2010. Những nội dung mới của Luật NHNN Đối với việc hoạch định và thực thi Chính sách tiền tệ Luật quy định rõ khái niệm chính sách tiền tệ quốc gia để làm cơ sở xây dựng thẩm quyền của các cơ quan (Quốc hội. Quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối. Luật cụ thể hóa được vai trò. phù hợp với các luật có liên quan. quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật quy định trong việc đàm phán. Luật bỏ quy định về giới hạn tỷ lệ dữ trữ bắt buộc từ 0% đến 20% để bảo đảm sự linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN. báo cáo. Cho vay. nhằm tạo sự thống nhất chung trong hệ thống pháp luật. Riêng đối với công cụ dự trữ bắt buộc. vị trí của các cơ quan nhà nước trong việc quyết định và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia trên cơ sở phù hợp Hiến pháp. Luật quy định rõ thẩm quyền của Thống đốc NHNN trong việc quyết định sử dụng công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. bảo lãnh. dựa trên yêu cầu tăng cường tính hệ thống.tôn trọng đặc thù của NHNN. Bên cạnh đó. thẩm quyền và tính chủ động của NHNN trong việc sử dụng các công cụ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ cũng như giám sát an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng. tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập quốc tế của nền kinh tế nước ta. gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. tính thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam. Cụ thể là: Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hàng năm được thể hiện thông qua việc quyết định chỉ số giá tiêu dùng và giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. chuẩn mực quốc tế về ngân hàng. Cuối cùng. bảo đảm sự thống nhất giữa các đạo luật mới được ban hành với những nội dung sửa đổi. Trong đó. NHNN) đối với chính sách tiền tệ. Hoạt động thanh toán và ngân quỹ. ký kết. nhiều nội dung trong mục này đã được điều chỉnh để thể hiện chính xác hơn các công cụ của chính sách tiền tệ. đồng thời nâng cao thẩm quyền của NHNN trong việc trả lãi đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc. Thống đốc NHNN quyết định việc sử dụng các công cụ và biện pháp điều hành để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia theo quy định của Chính phủ.

hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng… Vai trò. Thẩm quyền của NHNN trong việc can thiệp. cụ thể: NHNN có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp xử lý đặc biệt đối với TCTD vi phạm nghiêm . giám sát ngân hàng. thực thi chính sách tiền tệ. Thẩm quyền của NHNN trong thực thi chính sách tiền tệ nhằm ổn định giá trị đồng tiền đã được nâng cao hơn . giám sát an toàn hoạt động ngân hàng như sau: Thanh tra. nhiệm vụ của NHNN. NHNN tham gia với Bộ Tài chính về việc phát hành trái phiếu chính phủ. Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước… Đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để NHNN thay đổi nội hàm lãi suất cơ bản theo hướng lãi suất cơ bản không phải là cơ sở để các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh mà làm cơ sở cho việc phòng. can thiệp khi phát sinh khó khăn và chủ động xử lý khi có nguy cơ đổ vỡ. theo dõi. Hình sự. Trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường. giám sát ngân hàng của Luật NHNN với quy định của luật khác thì thực hiện theo quy định của Luật NHNN. Luật đã quy định lãi suất điều hành chính sách tiền tệ và lãi suất cơ bản để chống cho vay nặng lãi.đoái. Về công cụ lãi suất. các quan hệ tín dụng khác. Luật mở rộng phạm vi giám sát đối với toàn bộ hoạt động của một TCTD. Luật quy định theo hướng khẳng định thẩm quyền của NHNN trong toàn bộ quá trình giám sát an toàn hoạt động của TCTD từ khâu cấp phép. công khai thông tin về tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo qui định của pháp luật. giám sát ngân hàng là sự kết hợp thanh tra. Bên cạnh đó. giám sát việc chấp hành chính sách. giám sát cũng được điều chỉnh để tăng cường thẩm quyền trong việc xử lý rủi ro của TCTD. thủ tục thanh tra. vừa đảm bảo để NHNN điều hành. NHNN quyết định chế độ tỷ giá. xử lý sớm các TCTD đã được quy định cụ thể hơn nhằm ngăn chặn kịp thời những khả năng đổ vỡ. giám sát ngân hàng được thực hiện theo quy định của Luật NHNN và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Lao động. dự báo và phân tích kết quả thực hiện cán cân thanh toán quốc tế. dự trữ bắt buộc. trường hợp có sự khác nhau giữa quy định về thanh tra. NHNN tổ chức hệ thống thống kê. Bên cạnh đó. giám sát rủi ro trong hoạt động của đối tượng thanh tra. vừa có cơ sở để áp dụng quy định của các luật liên quan như Luật Dân sự. giám sát hoạt động. NHNN quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các TCTD với nhau và với khách hàng. kể cả các hoạt động thông qua các công ty con của các TCTD. Hoạt động của NHNN được qui định rộng hơn trong trường hợp cho vay đặc biệt đảm bảo có thể can thiệp sớm hơn. trái phiếu do Chính phủ bảo lãnh. giám sát an toàn hoạt động ngân hàng với thanh tra hành chính thông thường thông qua việc đưa ra nguyên tắc cho hoạt động thanh tra. chủ trì lập. Thống đốc NHNN quy định trình tự. pháp luật về tiền tệ và ngân hàng với thanh tra. theo dõi. nghiệp vụ thị trường mở để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Về nguyên tắc thực hiện thanh tra. cơ chế điều hành tỷ giá. chống cho vay nặng lãi trong nền kinh tế. các quy định của Luật NHNN khẳng định sự khác biệt về bản chất giữa thanh tra. giám sát ngân hàng. nhiệm vụ của NHNN trên lĩnh vực thanh tra. Theo quy định của Luật này. dự báo về tiền tệ và ngân hàng. Thống đốc NHNN có quyền thành lập các ban. giám sát an toàn hoạt động ngân hàng: Luật quy định việc thanh tra. hội đồng tư vấn về các vấn đề liên quan đến chức năng. xây dựng quy chế an toàn. Cụ thể.

thực hiện nhiệm vụ. báo cáo của NHNN trước Quốc hội. Theo đó về nguyên tắc Kho bạc Nhà nước phải mở tài khoản tại NHNN. Đối với việc mở tài khoản của Kho bạc Nhà nước: Nhằm mục tiêu bảo đảm NHNN luôn có được đầy đủ. số liệu cho NHNN. các thể chế và thẩm quyền của NHNN đối với các TCTD đã được cụ thể hoá rất rõ trong Luật NHNN. quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật về phá sản đối với TCTD. Đây là nội dung mới. quyết định sáp nhập. đặt TCTD vào tình trạng kiểm soát đặc biệt. NHNN là một cơ quan quản lý tham gia tham mưu kinh tế vĩ mô nên nguồn thông tin là những dữ liệu rất quan trọng để NHNN xây dựng chính sách. Việc Quốc hội ban hành Luật NHNN Việt Nam năm 2010 là một sự kiện quan trọng đánh dấu một bước phát triển mới trong việc hoàn thiện thể chế về tổ chức và hoạt động của NHNN theo cơ chế thị trường. không nhằm mục tiêu kinh doanh thu lợi nhuận (như thành lập Nhà máy in tiền quốc gia. Việc góp vốn thành lập doanh nghiệp nhằm thực thi một số chức năng. Luật đã quy định cụ thể nghĩa vụ của các cá nhân. thị xã. tạm đình chỉ. hợp nhất. người điều hành của TCTD. nhiệm vụ của NHNN. Về nội dung góp vốn thành lập doanh nghiệp: Luật có quy định cho phép NHNN được sử dụng vốn pháp định để góp vốn thành lập doanh nghiệp đặc thù nhằm thực hiện chức năng. miễn nhiệm chức vụ người quản lý. NHNN không tham gia góp vốn vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực khác ngoài chức năng nhiệm vụ của NHNN. huyện. Thẩm quyền quản lý nhà nước đối với bảo hiểm tiền gửi: Hoạt động bảo hiểm tiền gửi gắn chặt với hoạt động ngân hàng và khách hàng gửi tiền tại TCTD. Luật có quy định liên quan đến việc mở tài khoản của Kho bạc Nhà nước tại NHNN. hiệu quả. tham gia góp vốn vào Công ty chuyển mạch thẻ quốc gia…). gồm mua cổ phần của TCTD. công khai hoá các quyết định trong điều hành của mình không những với cơ quan cấp trên mà còn với công chúng. giải thể TCTD. Bên cạnh đó. Tiến sỹ Nguyễn Văn Giàu - . gặp khó khăn về tài chính. đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng. chính xác số liệu về quan hệ tiền gửi và cho vay của NHNN đối với Ngân sách Nhà nước phục vụ công tác điều hành chính sách tiền tệ một cách chặt chẽ. Trong một bài phỏng vấn báo chí. để đảm bảo kỷ luật trong hoạt động ngân hàng. Về tính minh bạch và trách nhiệm giải trình: Luật quy định rõ trách nhiệm giải trình. Luật đã có quy định mang tính nguyên tắc về thẩm quyền của NHNN đối với bảo hiểm tiền gửi: “Thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi” (khoản 14 Điều 4). đánh giá diễn biến thị trường và đưa ra các quyết định. Chính phủ và công chúng. thành phố thuộc tỉnh không có chi nhánh của NHNN. Để bảo đảm có cơ quan Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi. Ngoài ra. tổ chức trong việc cung cấp thông tin. việc thực hiện các giao dịch cho Kho bạc Nhà nước theo quy định của NHNN. quan trọng trong hoạt động của Ngân hàng Trung ương nhằm minh bạch hoá.trọng các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng. nhiệm vụ của NHNN trong quá trình hội nhập kinh tế. thị trường. tiếp cận gần hơn với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế. đình chỉ. thành phố trực thuộc trung ương. có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng. nhiệm vụ của NHNN theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. quận. Ở tỉnh.

Trong bài viết này. chủ thể hỗ trợ giảm cung tiền là các NHTM. Mặc dù trong ngắn hạn. cơ cấu tổ chức. xây dựng theo hướng đảm bảo thực hiện được đồng thời cả hai chức năng nói trên”. nếu các ngân hàng thương mại không chuẩn bị cho lượng trữ tiền cần thiết sẽ dẫn đến không thể cung ứng vốn. việc tăng lãi suất huy động là yếu tố làm giảm . MH – SN http://www. Trước tình hình kinh tế đang có chiều hướng phục hồi như hiện nay. và tất nhiên. Tác giả bài viết này trình bày quan điểm phân tích tại thời điểm tháng 04/2010.sbv. điều mà chúng ta quan tâm là tại sao các ngân hàng đang thực hiện một động thái “trái chiều” so với thời điểm tháng 03/2010? Lúc đó. vì động thái điều chỉnh lãi suất cũng chẳng qua là một “sản phẩm” không thể thiếu của ngân hàng trước các biến động kinh tế. thực hiện các chức năng về quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng. và tất nhiên. thậm chí có nơi là 18% hoặc 20%. nhiệm vụ của NHNN với tư cách là Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Lý do thứ hai. Đây là nội dung quan trọng đã được thực tiễn chứng minh qua các cuộc khủng hoảng tài chính ở các nước vừa qua. Mặc dù NHNN đang cố kìm hãm lạm phát thông qua hàng loạt công cụ tài chính. và điều đó thì sẽ xảy ra ngay trong tương lai gần. các ngân hàng đưa ra mức lãi cho vay thỏa thuận lên đến 16%.vn TẠI SAO NGÂN HÀNG GIẢM LÃI SUẤT CHO VAY VÀ TĂNG LÃI SUẤT HUY ĐỘNG? Saturday. cả hai lý do đều tìm kiếm được sự đồng thuận của NHNN. sau khi được NHNN “bật đèn xanh” cho phép lãi suất cho vay thỏa thuận. Theo đó. sau suy thoái thông thường là lạm phát. Một khi các dự án đi vào triển khai thì nhu cầu tiền sẽ tăng. Có khả năng điểm đầu tiên của đợt bùng nổ cho vay khoảng tháng 6/2011. việc điều chỉnh lãi suất là chuyện đương nhiên. các ngân hàng tăng lãi suất huy động bởi dựa trên 2 lý do chính. Thứ nhất. qua đó khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa hai chức năng quan trọng của một Ngân hàng Trung ương: Thực thi chính sách tiền tệ và giám sát an toàn hoạt động của hệ thống các TCTD. giúp Ngân hàng Nhà nước thực hiện được chính sách của mình là giảm cung tiền để bình ổn giá cả và lạm phát. Hai lý do này đều phục vụ trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn. khi thị trường địa ốc phát triển thì nhu cầu cung ứng vốn tín dụng là tất yếu. Tuy nhiên. Lý do thứ nhất.Thống đốc NHNN cho biết: “Cách thiết kế trong Luật NHNN 2010 đã thể hiện rõ hơn vị trí của NHNN là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ.gov. một số dự án lớn đang rục rịch triển khai sau giai đoạn suy thoái báo trước nhu cầu vay bắt đầu tăng. nhưng công cụ chính vẫn là giảm cung tiền. 17 April 2010 04:41 administrator Bài viết này phân tích việc các ngân hàng tăng lãi suất huy động và giảm lãi suất cho vay trong bối cảnh kinh tế dần phục hồi. Việc tăng huy động tiền gửi bằng cách tăng lãi suất huy động sẽ giúp các Ngân hàng Thương mại dự trữ sẵn lượng tiền cần thiết. Ngoài ra. đồng thời xác định rõ các chức năng. đội ngũ cán bộ và cơ chế vận hành được thiết kế. xin phân tích 2 khía cạnh bao gồm tăng lãi suất huy động và giảm lãi suất cho vay.

Trước những xáo trộn của thị trường tiền tệ. phải giảm lãi suất cho vay. 17 April 2010 04:48 ) http://www.vn/index. nhằm ổn . trước đây các Ngân hàng lấy mức 10. bởi lẽ ngay cả ở mức cho vay thấp xuống như hiện nay thì vẫn không làm các “con cá mập” mặn mà cho lắm mà chỉ cố gắng chờ thời đến khi kinh tế phát triển hơn và cơ hội đầu tư xác định rõ hơn mới chấp nhận mức đó. Một cách tóm luợc. Chính sách lãi suất là một trong những công cụ chính của chính sách tiền tệ. để đảm bảo tỷ suất lợi nhuận. các Ngân hàng Thương mại đang giảm lãi suất cho vay cũng dựa trên 2 lý do. thu nhập không tăng nhanh đến thế! Và để kích cầu tín dụng. Tuỳ thuộc vào từng mục tiêu của chính sách tiền tệ. góp phần ổn định nền kinh tế.4% làm mức sàn cho vay với lý do như thế mới đảm bảo lợi nhuận.Số lần đọc: 11491) www. Mức lãi suất tăng lên từ 4% đến 8% son với với trước đó (khoảng từ 16% đến 20%) làm nản lòng các nhà đầu tư nhỏ hoặc những khách hàng đang cần hỗ trợ của ngân hàng khi mua sắm nhà của hay trang thiết bị tiêu dùng.phát triển thị trường địa ốc hay chứng khoán. hiệu quả của chính sách này đang tác động tích cực đến “nhà nghèo”. vì thực ra. không tác động tích cực đến “nhà giàu”. thì mức này có thể tạm chấp nhận để dễ bề “lướt sóng” qua các phi vụ con con. Tuy nhiên. Cũng chính là mục tiêu kinh tế xã hội trong giai đoạn này vậy.saga. Hoàng Trung Kha Last Updated ( Saturday.aspx?id=17865 ( Bình chọn: 1 -.Thảo luận: 0 -. Ấy nhưng. Lý do thứ hai.vn .vn/view. yếu tố này làm cân bằng (tạm thời) cho các thị trường hi lãi suất huy động tăng lên! Nhận định : Động thái này được theo kiểu “một mũi tên bắn trúng hai con nhạn!”. thì nay không biết họ đang nghĩ gì với những con số ngày xưa?! Hay có thể. Ở góc độ một nhà đầu tư lớn thì động thái này không ảnh hưởng mấy đến các quyết định đầu tư.SAGA. Đối với các nhà đầu tư nhỏ.quantritaichinh. vấn đề là mục đích của động thái này hướng đến đối tượng nào trong nền kinh tế. vì đứng ở các gốc độ khác nhau thì thái độ khác nhau. có một điều kỳ lạ là.php? option=com_content&view=article&id=204:nhtlshdglscv&catid=66:bltc Chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay 19/11/2009 09:24 AM http://www. việc duy trì lãi suất cho vay mức cao đã làm một số ngân hàng mất khách hàng tín dụng hiện tại và khách hàng tín dụng tiềm năng. một loạt các chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian qua đã và đang đem lại những kết quả tích cực. năm 2010 và 2011 là những năm mà tỷ suất lợi nhuận của các ngân hàng thương mại giảm xuống đáng kể ! Hoặc. việc giảm lãi suất cho vay là để duy trì khách hàng và cố gắng để phát huy khả năng đầu tư của các nhà đầu tư vào các lĩnh vực khác như chứng khoán hay địa ốc. Thứ hai. Lý do thứ nhất là trong thời gian qua. Ngân hàng Nhà nước áp dụng cơ chế điều hành lãi suất phù hợp. các nhà quản khối Ngân hàng chắc sẽ còn nghĩ thêm nhiều loại sản phẩm để kinh doanh nào khác chăng! TS.4% (mức trần huy động) + 6% = 16.

bao gồm các loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn. Qua đó. Ngân hàng Nhà nước đã quy định trần lãi suất huy động là 12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 nhằm hạn chế cuộc đua này.cầu vốn và tăng. thay cho việc áp dụng dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn từ 24 tháng trở xuống trong thời gian qua. mức trần lãi suất huy động 12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 cũng không còn hiệu lực. Cùng với diễn biến lạm phát có xu hướng giảm. Trước tình hình đó. trong một loạt các biện pháp kiềm chế lạm phát. Điều này đã đẩy các ngân hàng đến chỗ đua nhau tăng lãi suất huy động. giảm theo sự thay đổi của các mức lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước . quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 5 năm 2002 về việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng VNĐ của tổ chức tín dụng đối với khách hàng hết hiệu lực thi hành. Biện pháp điều hành lãi suất đã có hiệu lực và hiệu quả đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại và lãi suất thị trường. Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra Quyết định số 187/2008/QĐ-NHNN về việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm rút bớt tiền từ lưu thông về. các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh (lãi suất huy động và lãi suất cho vay) bằng đồng Việt Nam không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố áp dụng trong từng thời kỳ. Khắc phục được tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong huy động vốn giữa các Ngân hàng thương mại. an toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo. các nhân trong và ngoài nước quan tâm. Ngân hàng Nhà nước thông báo những điều chỉnh trong chính sách điều hành lãi suất. Đến ngày 17/05/2008. tiền tệ. Việc huy động vốn bằng VNĐ của các tổ chức tín dụng phù hợp với quy định về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản. thể hiện là lãi suất huy động và cho vay của các Ngân hàng thương mại biến động theo cung . Việc điều hành linh hoạt lãi suất. Tiếp đó là quyết định số 346/QĐ-NHNN về việc phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bằng tiền đồng dưới hình thức bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng nhằm thu hút 20. kinh tế vĩ mô ổn định và hoạt động của các Ngân hàng thương mại đảm bảo khả năng thanh toán. tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng phù hợp với chủ trương thắt chặt hoặc nới lỏng tiền tệ một cách thận trọng. đã ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất khả năng thanh toán của các Ngân hàng thương mại trong những tháng cuối năm 2008. Đầu năm 2008. tích cực về hoạt động đầu tư. Theo Quyết định này. củng cố lòng tin của các nhà đầu tư. Các ngân hàng thương mại đối mặt với khó khăn thiếu hụt nguồn cung tiền đồng sau những quyết định của Ngân hàng Nhà nước. doanh nghiệp và người dân đối với hệ thống ngân hàng. tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế. dự báo và có phản ứng khá nhanh nhạy. vừa là công cụ điều tiết thị trường.định và phát triển thị trường tiền tệ. theo dõi. Ngân hàng Nhà nước sẽ mở rộng diện các loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc. tiết kiệm và tiêu dùng. đã và đang trở thành một chỉ số kinh tế quan trọng trên thị trường tài chính. chủ động kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng dư nợ tín dụng phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô. làm cho thị trường tiền tệ và lãi suất trong năm 2009 tương đối ổn định. vừa là động thái phát tín hiệu về chủ trương của Chính phủ và giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước là thắt chặt hay mở rộng tiền tệ.300 tỉ đồng. được các tổ chức. đã tác động làm thu hẹp hoặc mở rộng tín dụng. Kết quả này có ý nghĩa rất quan . Năm 2008 và những tháng đầu năm 2009. Tình trạng thiếu hụt tiền đồng của các ngân hàng thể hiện qua việc lãi suất cho vay qua đêm của các ngân hàng trong vòng một tháng qua đã có lúc lên tới 30%. Đó chính là Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam. Theo Quyết định.

www. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/02/2009. bảo đảm an sinh xã hội và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 627/VPCP-KTTH ngày 23 tháng 01 năm 2009 của Văn phòng Chính phủ về áp dụng lãi suất cho vay thoả thuận của các tổ chức tín dụng. Việc điều tiết lãi suất thị trường theo hướng ổn định. Sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất theo hướng tự do hoá phải trên cơ sở đánh giá một cách khoa học và thực tiễn các điều kiện kinh tế. có hạn chế nhất định việc thử nghiệm và đưa ra thị trường các sản phẩm tín dụng có độ rủi ro cao. cán cân thanh toán. sự an toàn và phát triển của hệ thống tài chính. thể hiện được vai trò và những tác động tích cực của chính sách tiền tệ đối với việc kiềm chế lạm phát và điều tiết kinh tế vĩ mô. Còn những tác động chính của lần điều chỉnh này.44%. cơ quan chức năng sẽ rà soát lại thuế suất nhập khẩu để có điều chỉnh phù hợp. Số lần xem: 2619 Sẽ tập trung ngoại tệ về ngân hàng Theo Thống đốc. . Thông tư được ban hành nhằm thực hiện Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế. “Điều chỉnh nhanh thì có cái lợi của nó. Tuy vậy. cơ chế điều hành lãi suất cơ bản là công cụ can thiệp trực tiếp đối với lãi suất kinh doanh của Ngân hàng thương mại. giám sát nhằm hạn chế rủi ro. cung . trong thời gian tới. Từ những phân tích và nhận định nêu trên. giảm bớt tác động đến nhập siêu.webketoan. nhưng nó có cái là tạo tâm lý kỳ vọng.greatcause Điều chỉnh lãi suất và tỷ giá: Vì sao phải can thiệp mạnh ?Chủ nhật. Xử lý vấn đề này. 03-12-2009. Điều chỉnh nhanh là phải can thiệp. lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước đã ngồi lại với đại diện 5 ngân hàng lớn. Lần này chúng tôi quyết định điều chỉnh nhanh”. điều hành linh hoạt các mức lãi suất chủ đạo và làm tốt công tác truyền thông.php? module=news&function=detail&cat_id=52&id=676 vneconomy.SAGA.vn/news/index. Ở lần điều chỉnh này. lạm phát… Ngân hàng Nhà nước đứng trước lựa chọn điều chỉnh nhanh hoặc “mềm”. Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản phù hợp với quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước và Bộ luật Dân sự. cũng như các rủi ro có thể xảy ra và các biện pháp xử lý để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô.cầu vốn thị trường.tiền tệ ở trong và ngoài nước. Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho rằng: có hai điểm bất lợi cần lưu ý. trong khi biên độ lại thu hẹp còn +/-3% thay cho +/-5% hiện hành. được thực hiện kết hợp giữa điều tiết khối lượng tiền thông qua các công cụ gián tiếp. phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô. mà điều chỉnh theo quan hệ lãi suất. duy trì tăng trưởng kinh tế. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 01/2009/TTNHNN hướng dẫn về lãi suất thoả thuận của các Ngân hàng thương mại đối với cho vay các nhu cầu vốn phục vụ đời sống. Đi cùng với chính sách. Bộ Công Thương sẽ xem xét lại những mặt hàng nhập khẩu không cần thiết để hạn chế. người ta sẽ chờ đợi không biết Thống đốc sẽ điều chỉnh lúc nào. và theo lời ông Giàu là để can thiệp mạnh và bảo vệ tỷ giá. Còn điều chỉnh mềm thì không can thiệp. Thống đốc giải thích. nhằm tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường. Qua lần này. việc điều chỉnh tỷ giá lần này vẫn nằm trong định hướng không phá giá VND. đi kèm theo đó là cơ chế thống kê. 10 / 10 / 2010 http://www. thảo luận với lãnh đạo các ban ngành chức năng để cùng triển khai các giải pháp hỗ trợ khác.trọng. Bên cạnh điều chỉnh tỷ giá. theo dõi và thanh tra. cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.vn . Thủ tướng cũng sẽ tác động đến những tập đoàn xuất khẩu có ngoại tệ lớn để tập trung ngoại tệ về ngân hàng. tỷ giá liên ngân hàng được tăng trực tiếp. thị trường tài chính . VND mất giá 3. việc Ngân hàng Nhà nước tiếp tục áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản là một giải pháp thích hợp.

Một lý do khác.44% thì phần đóng thuế nó cũng tăng lên. có quan điểm nên có cơ chế “tự do” đối với hoạt động này. Thị trường muốn phát triển thì phải có mục tiêu của nó. nghĩa vụ đóng thuế cao hơn cũng giúp hạn chế nhập siêu ở mức nào đó. Cùng với điều chỉnh tỷ giá. lợi ích cơ bản thứ nhất từ việc điều chỉnh mà Thống đốc phân tích là hỗ trợ cho xuất xuất khẩu “là đương nhiên”. Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục nhận các ý kiến đóng góp. Về hoạt động của các sàn vàng. Tuy nhiên. Ông Giàu cũng cho biết. hiện đã nhập 6. Đây cũng là một hình thức kiểm soát tín dụng”. Điều chỉnh lần này tăng thêm tỷ giá 5. Thứ ba. Ngược lại. Nhà nước thu được thêm”. lượng ngoại tệ dự trữ vẫn đảm bảo 12 tuần nhập khẩu. Thuế nhập khẩu mặt hàng nào đó là 5% thì nhân thêm 5. tuy nhiên nhiều ý kiến nghiêng về việc quản lý chặt hơn. Mục tiêu của tín dụng là tạo điều kiện. Tăng trưởng tín dụng hiện đã vượt 33%.7%. Đây cũng là một yếu tố “bôi trơn”. Nợ quốc gia thường là trung và dài hạn”. Thống đốc Nguyễn Văn Giàu nhận định: “Thị trường chứng khoán mấy hôm nay giảm liên tục. Ngân hàng Nhà nước cho phép các doanh nghiệp nhập 10 tấn.Thứ nhất. “Chính sách đúng sẽ tạo được niềm tin”. nếu dựa vào thị trường khác thì không bền vững". dù những tháng gần đây bắt đầu giảm. “Nhưng chúng ta điều hành chính sách và nền kinh tế dần ổn định thì dần dần nó cũng sẽ giảm chứ không thể tăng mãi. “Quy luật thôi. Thống đốc nói. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ tiếp tục giữ ổn định lãi suất cơ bản đến hết năm. Thống đốc nói.44%. Hiện lượng ngoại tệ đang gửi tại các tổ chức tín dụng của các tổ chức. Giải thích về điều này. Thống đốc một lần nữa nhấn mạnh là hiện chưa có văn bản nào điều chỉnh. ông nói. Thống đốc cho biết là đã bàn và cân nhắc rất kỹ. theo hướng giảm bớt chi phí sản xuất. Với lãi suất cơ bản 8%. một phần sử dụng trong nước nhưng một phần phải sử dụng cho nhập khẩu. Theo Thống đốc. Thứ hai. Thứ hai. Về tác động của những chính sách mới đối với thị trường chứng khoán. Và tình hình kinh tế vĩ mô theo nhận định của người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước. Một điểm được lưu ý là quyết định tăng các lãi suất đã được xem xét với việc triển khai và định hướng triển khai gói kích thích kinh tế trong thời gian tới. giảm tín dụng. giải pháp của nó. “khi điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng. doanh nghiệp là khoảng 10 tỷ USD. là tạo tâm lý. chứ không phải theo tăng. quản lý… để tạo cạnh tranh. Khi mà thị trường chuyển dịch từ thị trường này qua thị trường kia là một tất yếu. trong khi từ năm 1999 vàng là hàng hóa thông thường. nghĩa vụ trả nợ quốc gia sẽ tăng lên. đồng bộ với các chính sách điều hành chung. nhưng Thống đốc cho rằng doanh nghiệp sẽ cân nhắc về cơ cấu giá thành sản phẩm. Đã nhập về 6. theo Thống đốc. việc điều chỉnh diễn ra sớm hơn dự kiến. phục vụ cho nền kinh tế chung chứ không riêng theo đối tượng nào đó. lãi suất cho vay tối đa sản xuất kinh doanh là 12%. việc tăng lãi suất cơ bản còn có lý do là để góp phần kiểm soát tín dụng. từ nay đến cuối năm và đầu năm 2010. Tất nhiên là chúng ta phải hài hòa các thị trường.8 tấn vàng Một nội dung khác được Thống đốc đề cập là liên quan đến giá vàng và hoạt động của các sàn vàng. cũng tạo áp lực đối với tỷ giá. đó là mức có thể chấp nhận được. Ngoài ra. là tác động đến những doanh nghiệp đang vay ngoại tệ. nhưng nay có điều chỉnh là còn do yêu cầu cân đối các yêu cầu vĩ mô của nền kinh tế. cộng cả năm là điều chỉnh 5. giúp sự luân chuyển ngoại tệ trong ngân hàng với doanh nghiệp nhanh hơn. có tương tác”. Tín dụng tăng cao. "Thị trường của mình nền tảng là gì.8 tấn và chỉ cho những doanh nghiệp chủ động được nguồn ngoại tệ. Qua lần điều chỉnh lần này. Trong đợt biến động vừa qua. Hiệp hội ngân hàng đề nghị 4 giải pháp giảm lãi suất . Trước nói ổn định. niềm tin. mà Thủ tướng sẽ có tác động đến các tập đoàn có nguồn thu ngoại tệ lớn tập trung về ngân hàng. nếu cộng cả 3% của ngày 24/12/2008 nữa. trước Thống đốc nói giữ ổn định lãi suất cơ bản. Thông tin “mở” là trong Nghị quyết 54 của Chính phủ vừa qua không đề cập đến việc kéo dài hỗ trợ lãi suất ngắn hạn thêm 1 quý như dự kiến. nay khác là vì… Cách đây không lâu. cho vay nhiều. ngoài quản lý xuất nhập khẩu. như trả lời chất vấn trước Quốc hội vừa qua. Ông cũng khẳng định hiện không có tư tưởng kết hối. năm nay nhiều khả năng tăng trưởng kinh tế có thể cao hơn mức đưa ra báo cáo Quốc hội vừa qua. chi phí tài chính nhiều doanh nghiệp sẽ tăng lên.7%. cộng thêm lãi suất vay bình quân 5% nữa là 12.

cụ thể: . Việc đề xuất này dựa trên cơ sở một vài bất cập trong cơ chế huy động vốn đã được cơ quan quản lý điều chỉnh. trong các ngày 21 và 24/9/2010 tại TP. trên thị trường tiền tệ. các tổ chức hội viên nhận định tình hình kinh tế 9 tháng đầu năm 2010 có những thuận lợi và khó khăn đan xen: tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm tăng 6. Theo đó.Hồ Chí Minh và Hà Nội. trong khi đó nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế những tháng cuối năm rất lớn. huy động vốn của các NHTM gặp nhiều khó khăn. Vì những khó khăn trên. một vài bất cập trong cơ chế huy động vốn đã được cơ quan quản lý điều chỉnh. việc giảm dần lãi suất huy động và cho vay theo lộ trình mà các tổ chức hội viên Hiệp hội Ngân hàng đã đề ra tại cuộc họp đầu tháng 7/2010 đến nay vẫn chưa thực hiện được. Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đã có cuộc họp với đại diện lãnh đạo các tổ chức hội viên để bàn các biện pháp hạ dần lãi suất huy động và lãi suất cho vay theo chỉ đạo của Chính phủ. trong khi đó CPI tăng 6. tạo điều kiện để tăng nguồn vốn huy động.Bản in ấn Email Cỡ chữ (Tamnhin.Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam vừa có văn bản gửi các tổ chức hội viên về việc giảm lãi suất huy động và cho vay. tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng có thêm nguồn vốn cho vay.52%.42%. Tuy nhiên. có cơ sở để giảm lãi suất cho vay. đến nay. các NHTM có cơ sở để giảm lãi suất huy động và cho vay. Tại các cuộc họp trên.net) . tiếp tục thực hiện chủ trương giảm dần lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay theo tinh thần của Nghị quyết số 18 và 23/NQ-CP của Chính phủ. giảm áp lực phải tăng huy động vốn của các NHTM.

2%/năm (tại một số NHTM. Hiệp hội Ngân hàng VN kêu gọi các tổ chức hội viên tiếp tục giảm lãi suất cho vay. lãi suất huy động USD lên tới 5. Hiệp hội Ngân hàng đề nghị các NHTM nên điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi không kỳ hạn để tiết giảm chi phí huy động vốn. Mặt khác. Hiệp hội Ngân hàng kêu gọi các NHTM xem xét giảm lãi suất huy động USD. để tạo sự cân đối với lãi suất huy động VNĐ và góp phần thực hiện chủ trương giảm lãi suất theo chỉ đạo của Chính phủ. phổ biến ở mức 4. nghị giảm suất Với những lý do trên. . Hiệp hội Ngân hàng đề nghị các tổ chức hội viên đồng loạt giảm lãi suất huy động kể trên bắt đầu từ 15/10/2010. Về phần cấp tín dụng. nông thôn. giảm nhẹ lãi suất giao dịch thị trường mở. DN sản xuất vừa và nhỏ xuống mức như Chính phủ chỉ đạo. lãi suất huy động USD hiện nay của các NHTM ở Việt Nam đang rất cao. Vì vậy. bổ sung thêm kỳ hạn giao dịch.0%/năm. Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục chủ động điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ: mở rộng hoạt động của thị trường mở. mở rộng nghiệp vụ swap lãi ngoại tệ. các NHTM dễ dàng được tiếp cận nguồn vốn rẻ (lãi suất liên NH hiện nay chỉ xoay quanh 8-9%). là điều kiện cần thiết để các NHTM tiếp tục giảm tiếp lãi suất huy động và lãi suất cho vay dần tiến tới mục tiêu như Chính phủ chỉ đạo.7-5. . tạo điều kiện thu hút nguồn vốn dài hạn. Thứ hai. DN xuất khẩu. một số NHTM đang áp dụng lãi suất huy động không kỳ hạn lên đến 4. Khi các quy định trên có hiệu lực. để tiếp tục hỗ trợ các NHTM giảm mặt bằng lãi suất. Nếu so với thị trường quốc tế. từ đó giảm lãi suất cho vay. Mặt khác. sự liên thông giữa thị trường I và thị trường II sẽ được thông thoáng hơn. . lãi suất tái cấp vốn.8%/năm. Riêng lãi suất không kỳ hạn và lãi suất tiền gửi có kỳ hạn dưới 3 tháng đề nghị các NHTM có mức điều chỉnh giảm mạnh hơn để tạo đường cong lãi suất hợp lý. tiền gửi Kho bạc Nhà nước và các khoản vay của các tổ chức tín dụng có kỳ hạn 3 tháng trở lên được cho phép tính vào nguồn vốn huy động để cho vay. tái chiết khấu Bốn tiếp tục ổn đề định ở mức thấp.2%/năm hiện nay xuống mức không vượt quá 11. để tạo điều kiện cho mặt bằng lãi suất huy động VNĐ trên thị trường giảm xuống. Thứ tư. Thứ ba. Hiệp hội Ngân hàng cho rằng đây là những thuận lợi cơ bản. Cụ thể: Thứ nhất. trên cơ sở giảm lãi suất đầu vào. Hiện nay.5%/năm). đặc biệt cho 3 đối tượng ưu tiên của Chính phủ là khu vực nông nghiệp.Hồ Chí Minh và Hà Nội giảm lãi suất huy động từ mức 11. đề nghị các tổ chức hội viên thực hiện sự đồng thuận tại 2 cuộc họp ngày 21 và 24/9/2010 tại TP. nếu so sánh với lãi suất VNĐ hiện nay đang có sự bất hợp lý. Ngân hàng Nhà nước cũng loại trừ phần bảo lãnh khỏi dư nợ. về lãi suất huy động USD: Mặt bằng lãi suất huy động USD hiện đang có xu hướng tăng cao. nên các NHTM có điều kiện giảm lãi suất huy động và lãi suất cho vay. . từ nay đến cuối năm.Nguồn vốn huy động để cho vay đã được mở rộng hơn do một phần tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế.

Thực ra. ngoài việc có một lượng nước dữ trữ đủ lớn (cung tiền. do đã tận dụng triệt để các nguồn nước. có những cảnh báo cho rằng nếu Ngân hàng Nhà nước VN không có những giải pháp hữu hiệu thì khó tránh khỏi việc cạnh tranh lãi suất không lành mạnh. 04/10/2010 11:33 GMT+7 Cuộc đcoua lãi suất của các ngân hàng: Đâu là vấn đề? Cuộc Cuộc đua lãi suất của các ngân hàng: Đâu là vấn đề? Thứ năm. những người cần vay vốn như những “cánh đồng” cần nước tưới. Không phải đến bây giờ. quyết định sẽ thuộc về cái hồ. 17 Tháng tám 2006. tăng cung tiền) cho các dòng sông. thì sông sẽ hỏi vay nước từ hồ. ngoại tệ dữ trữ…) với một hệ thống cửa thông. khi mà cuộc đua lãi suất bước vào cao trào thì mọi người mới để ý. 14:25 GMT+7 Một ngân hàng trung ương mạnh có tính độc lập cao so với chính phủ là một trong những nền tảng cơ bản nhưng cũng là công cụ hữu hiệu để giảm thiểu những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường. khi quy định trần lãi suất được dỡ bỏ để các ngân hàng được cạnh tranh tự do hơn. Chức năng của ngân hàng trung ương? Hình dung một cách đơn giản. cái hồ còn phải làm sao đó để các dòng sông có thể khai thác một cách tốt nhất (nếu không nói là toàn bộ) lượng nước (nguồn vốn) những cái cây đang giữ. để làm được vai trò điều tiết của mình. Lúc này. "Các nước đều cần có một ngân hàng trung ương mạnh. Khi thiếu nước cung cấp cho những cánh đồng. gây phương hại cho nền kinh tế. điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả". thị trường mở…). .html Thứ hai. Có nhiều lý do tác động đến sự kiện này và một trong những nguyên nhân chính xuất phát từ hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ hiện nay. van xả hợp lý (lãi suất. vào năm 2002.Khánh Nguyên http://tamnhin. nếu xem những người có tiền nhàn rỗi như những “cái cây” giữ nước trên núi. các ngân hàng như những “dòng sông”. Nếu thấy những cánh đồng thực sự cần thêm nước cho việc phát triển cây trồng (kích thích tăng trưởng kinh tế) thì họ sẽ mở van tăng thêm nước (hạ lãi suất. thì ngân hàng trung ương (Ngân hàng Nhà nước) sẽ như một “hồ chứa nước” đóng vai trò điều tiết dòng chảy của tất cả các sông để có một lượng nước vừa đủ Nhìn chung.net/tieu-diem/4691/Hiep-hoi-ngan-hang-de-nghi-4-giai-phap-giam-laisuat.

Thái Lan hay Malaysia tác động ngay lên nền kinh tế của họ. Theo dòng sự kiện TS Ngân hàng kinh doanh lợi nhuận cao: Tín hiệu tốt? Tuổi trẻ “Cổ phiếu ngân hàng sẽ bớt nóng vì lãi suất USD” Thanh Niên Đau đầu vì lãi suất tăng Diễn đàn doanh nghiệp Ngân hàng tăng lãi suất: Doanh nghiệp thêm sức ép đè nặng không tăng thêm. chi phí sản xuất gia tăng và nền kinh tế sẽ phải lãnh đủ. giảm cung tiền). nhất là công cụ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước dường như không có tác dụng là bao. làm như vậy sẽ vi phạm luật cạnh tranh. Đây chính là cuộc đua lãi suất của các ngân hàng VN hiện nay mà tác động nhãn tiền của nó làm cho rủi ro của các ngân hàng lớn hơn. người vay cuối cùng. Ngân hàng Trung ương Mỹ hay Châu Âu đã tác động đến cả nền kinh tế thế giới.Ngược lại. Điều này cũng giải thích tại sao ở các nước có một ngân hàng trung ương mạnh. công bằng và lượng nước trong các cây đã khai thác hết thì đương nhiên các dòng sông sẽ tìm cách lấy bớt nước của những dòng sông khác bằng cách trả một giá (lãi suất) cao hơn. Giải pháp hữu hiệu nhất là nâng cao năng lực và khả năng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước VN sao cho mỗi khi họ đưa ra các quyết định của mình lập tức có tác động ngay đến nền kinh tế. khi thấy nguy cơ do nước quá nhiều có khả năng gây ra ngập lụt (lạm phát) họ sẽ giảm hoặc khóa van lại. điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả thì mỗi động thái của họ đều được mọi người trông đợi. tổng lượng nước dường như một nguồn nước tương tự. Với một quyết định thay đổi lãi suất của mình. Nhưng những quyết định về lãi suất của Ngân hàng Nhà nước VN dường như chẳng có tác dụng gì. Những cuộc đua như vậy không thể tránh được bằng thỏa thuận lãi suất. nhưng những cánh đồng. Hơn nữa. Lúc này. Vai trò của Ngân hàng Nhà nước ở đâu? Khi lượng nước trong hồ không đủ lớn. dự đoán do nó có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế. Phản ứng hợp lý của các dòng sông là tăng giá để giữ nước của mình. Cuộc đua này cho thấy công cụ điều tiết tiền tệ. Cần một ngân hàng trung ương mạnh Mục tiêu quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại là lợi nhuận. Ngân hàng Trung ương Singapore. bằng chứng thực tế đã chứng minh điều này. phải trả chi phí cao hơn cho . thậm chí tìm cách thu hút bớt nước từ các dòng sông (tăng lãi suất. thậm chí có thể ảnh hưởng sang nước láng giềng. tích trữ vào hồ để dùng khi cần thiết. Đây chính là chức năng và vai trò của ngân hàng trung ương. Hơn thế. Việc chạy đua lãi suất của họ là điều đương nhiên. cơ chế điều tiết nguồn nước không hợp lý.

bởi vì việc hạ thấp lãi suất tiền gửi USD khiến các doanh nghiệp và người dân ít có hứng thú với việc gửi đồng tiền này. một điều chưa thể khẳng định chênh lệch lãi suất tiền gửi giữa hai đồng tiền này đủ để thu hút thêm tiền tiết kiệm bằng VND khi lạm phát trong tháng Giêng và tháng Hai của Việt Nam ở mức khá cao. Đó là nhận định của ông Lawrence Wolfe. ▪ LÊ HƯỜNG 09:57 (GMT+7) . cần điều chỉnh lãi suất E-mail Ý kiến (0) Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: Chưa thể khẳng định chênh lệch lãi suất tiền gửi giữa VND và USD để thu hút thêm tiền tiết kiệm bằng VND khi lạm phát trong tháng Giêng và tháng Hai của Việt Nam ở mức khá cao. nếu lạm phát không bắt đầu sụt giảm từ tháng Ba”. Điều này xảy ra là do một số doanh nghiệp xuất khẩu và những người khác nắm giữ USD nhưng không chuyển đổi sang VND.Thứ Tư. khi trao đổi với chúng tôi xung quanh chủ đề lãi suất và tỷ giá ở Việt Nam. • Thảo Nguyên Nếu lạm phát không giảm. 3/3/2010 “Việc điều chỉnh về chính sách lãi suất có thể là cần thiết trong những tháng tới. Việc điều chỉnh về chính sách lãi suất có thể là cần thiết trong những tháng tới. ông bình luận gì về động thái này? Đây là một động thái tốt của Ngân hàng Nhà nước vì bước đi này sẽ giúp tăng khả năng thanh khoản đồng USD. . khi VND đang có lãi suất tiền gửi ở mức 10.Một ngân hàng trung ương mạnh có tính độc lập cao so với chính phủ là một trong những nền tảng cơ bản nhưng cũng là công cụ hữu hiệu để giảm thiểu những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường. Tuy nhiên. nếu lạm phát không bắt đầu sụt giảm từ tháng Ba. Ngân hàng Nhà nước đã quyết định giới hạn lãi suất tiền gửi bằng USD ở mức 1%. Việc hạ thấp lãi suất tiền gửi USD khiến cho việc nắm giữ USD trở nên kém hấp dẫn hơn trong so sánh với VND. Đã từng có tình trạng thiếu hụt USD trong lưu thông gây khó khăn cho các nhà nhập khẩu và những người khác trong việc mua USD để thanh toán hàng hóa nhập khẩu.49%/năm. một chuyên gia ngân hàng.

nhưng không nhất thiết là phần lớn. Giá cả rất nhiều hàng hóa. nhập khẩu của Việt Nam sẽ tăng thêm. quan điểm của ông là gì? Tỷ giá chỉ là một phần. đây là một yếu tố quan trọng giúp cải thiện tình trạng thâm hụt thương mại của Việt Nam. Những nền kinh tế này phải bắt đầu tăng trưởng trở lại trước khi nhu cầu hàng hóa nhập khẩu gia tăng. Việc quản lý và điều chỉnh linh hoạt tỷ giá USD/VND tùy thời điểm sẽ là một công cụ hữu hiệu của cơ quan chức năng và cũng là một phần quan trọng của quá trình làm cân đối cán cân thương mại. đặc biệt nền kinh tế của các quốc gia đã phát triển bị suy thoái trong 2 năm. Bởi vì. Rõ ràng. máy móc và giá của những hàng hóa này cũng gia tăng. Việc cố gắng giới hạn nhập khẩu đối với những hàng hóa công nghiệp cần thiết là phản tác dụng. Vì vậy. Điều này cũng cần sự chú ý của Chính phủ để giám sát và kiểm soát thâm hụt thương mại cũng như đảm bảo cho cán cân thương mại vẫn nằm trong một giới hạn hợp lý trong so sánh với xuất khẩu của đất nước.VND đã giảm giá khoảng 3% so với đồng USD. đang tăng trưởng tương đối nhanh và nền tảng công nghiệp vẫn còn hạn chế. cũng đừng quên là Việt Nam cũng nhập khẩu rất nhiều hàng hóa. giải quyết vấn đề mất cân đối cán cân thương mại có thể là vấn đề dài hạn. Vì vậy. nền kinh tế thế giới. động thái này là tích cực vì sẽ giúp cải thiện tình trạng thâm hụt thương mại của Việt Nam. đặc biệt các sản phẩm hóa dầu. bằng cách làm giá các sản phẩm xuất khẩu rẻ hơn khi tính theo giá USD và sẽ ảnh hưởng nhẹ đến các nhà nhập khẩu vì giá thành hàng nhập khẩu sẽ đắt hơn khi tính bằng VND. Điều này sẽ hỗ trợ nhiều cho xuất khẩu của Việt Nam trong năm nay. điều này có tác động như thế nào đến xuất khẩu và nhập khẩu của các doanh nghiệp trong nước. nhựa. nhưng tác động cũng chỉ có giới hạn. thưa ông? Việc điều chỉnh tỷ giá khoảng 3% đồng VND so với đồng USD sẽ hỗ trợ các nhà xuất khẩu đôi chút. Tuy nhiên. Khối lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam gia tăng cần có sự gia tăng nhu cầu từ các nước nhập khẩu đối với sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam cũng như đưa ra mức giá cao hơn đối với những hàng hóa này. thép. . có ý kiến cho rằng việc tăng tỷ giá USD/VND không thể giải quyết được khó khăn của cán cân thương mại. Việt Nam cần phải tiếp tục nhập khẩu thêm hàng hóa để phục vụ cho công nghiệp cũng như các loại nguyên liệu thô để phục vụ cho sự tăng trưởng kinh tế. Chính phủ cần cố gắng kiểm soát nhập khẩu các hàng hóa phi thiết yếu như các loại xe xa xỉ và các sản phẩm tiêu dùng cao cấp và tiếp tục khuyến khích tiêu dùng các sản phẩm Made in Vietnam. Tuy nhiên. Vì Việt Nam là một nước đang phát triển. nhu cầu nhập khẩu hàng hóa đã thấp hơn trước. Vì vậy. đã bắt đầu hồi phục trong năm qua và nhiều hàng hóa được dự kiến sẽ có mức giá cao hơn từ thời điểm này. Một tin tức tốt lành là các nước phát triển hầu như đã bắt đầu tăng trưởng trở lại từ quý 3/2009 và điều đó có nghĩa rằng khối lượng hàng nhập khẩu từ Việt Nam và các nước khác sẽ tăng trong năm 2010. mất nhiều năm để thực hiện được. đặc biệt là nông sản. Đây cũng là cách làm dễ hơn vì người tiêu dùng ưa thích hơn cũng như phù hợp với các cam kết WTO của Việt Nam.

Ông Nguyễn Văn Giàu. giúp hạn chế nhập siêu ở một mức nào đó. Đăng bởi : www_vinasme. ĐTCK ghi nhận ý kiến của Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu cùng một số chuyên gia xung quanh tác động của chính sách này tới nền kinh tế cũng như TTCK. Quyết định điều chỉnh lãi suất cơ bản và tỷ giá ngày 25/11 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) được cho là gây bất ngờ đối với thị trường khi trước đó cơ quan này liên tục có những công bố về việc sẽ duy trì chính sách tiền tệ ổn định. ngân hàng có huy động được vốn mới có tiền cung cấp cho nền kinh tế. chúng ta chưa can thiệp. Đồng tiền mất giá bao giờ cũng hỗ trợ xuất khẩu. tăng cao sẽ tạo áp lực lên tỷ giá. Bên cạnh điều chỉnh tỷ giá. từ tháng 7 đến tháng 11 mỗi tháng tăng khoảng 2.000 VND/USD.vn/20100303092427556p0c6/neu-lam-phat-khong-giam-can-dieuchinh-lai-suat.2%. giải quyết căng thẳng thị trường. Xử lý lãi suất cũng được chúng tôi bàn rất kỹ. Tăng trưởng tín dụng hiện đã là 34. đồng thời điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên 5.500 VND/USD. giảm bớt biên độ tỷ giá từ 5% xuống còn 3%. Thủ tướng cũng sẽ yêu cầu một số tập đoàn xuất khẩu đang nắm giữ ngoại tệ lớn bán ra cho hệ thống ngân hàng. thị trường biến động khi tỷ giá lên 19.http://vneconomy. Nói cách khác. xem lại phần nhập khẩu những mặt hàng không cần thiết và có tác động tới nhập siêu. mất giá đồng tiền của Việt Nam là 3.htm NHNN điều chỉnh lãi suất và tỷ giá: Nhận diện những tác động Khởi tạo bởi : www_vinasme. để chúng ta có một giá giao dịch cao nhất là 18. xem lãi suất như thế nào cho phù hợp và quyết định chọn tăng lãi suất cơ bản thêm 1%. . Bộ Công Thương sẽ rà soát thuế. Cập nhật: 30/11/2009 14:00 E-mail | Bản in | Lưu xem sau Phải “cởi trói” cho tiền tệ. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Trước đây. Lần này. bình quân từ tháng 3 đến tháng 6 mỗi tháng tăng 4%.44%. sẽ thực hiện các giải pháp đồng bộ. chúng tôi quyết định điều chỉnh nhanh mạnh chính sách tiền tệ.5%.44%. Lần này.

thông điệp mới đây của các nhà lãnh đạo APEC cũng cho thấy. Các động thái điều chỉnh vừa qua cũng nhằm mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. khả năng hấp thụ vốn lớn của doanh nghiệp khiến hệ thống ngân hàng khan hiếm tiền đồng cho vay. bởi chưa khi nào tình hình của các ngân hàng lại căng như dây dàn như thế. các cơ quan khác như Bộ Công Thương phải kiểm soát chống đầu cơ. Việc thiếu thông tin hỗ trợ tác động tới TTCK khiến NĐT không rõ phương hướng tới đây chính sách sẽ được điều hành như thế nào. kiểm soát nhập lậu hoặc thậm chí ra biện pháp hành chính kiểm soát giá vàng. Chính sách hiện tại là hoãn kích thích kinh tế. Nhìn nhận một cách thẳng thắn thì tăng lãi suất cơ bản sau khi duy trì ổn định tới gần 1 năm cho thấy kinh tế đã phần nào phục hồi. Ông Khổng Văn Minh. mà biến thành đường thẳng. không cần hỗ trợ. bảo vệ chỉ số lạm phát. Nhưng quan trọng hơn. theo tôi. Đầu ra không thay đổi. TTCK cũng sẽ dần ổn định trở lại. giải quyết căng thẳng thị trường. Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam Điều chỉnh chính sách tiền tệ như vừa qua là việc buộc phải làm. là phải phối hợp đồng bộ với các thị trường khác. ngân hàng không thể cho vay thì sợi dây căng mãi sẽ đứt. lãi suất kỳ hạn nào cũng giống nhau và kịch trần. có thể mua bán được? Phải “cởi trói” cho tiền tệ.Theo ý kiến của các bộ trưởng tại cuộc họp hôm 24/11. Chẳng hạn. lạm phát phải chấp nhận. cần quyết liệt kích thích kinh tế. xử lý lãi suất cơ bản. Làm sao cứu thị trường tiền tệ. Đường cong lãi suất đã không tồn tại. vì nâng lãi suất cơ bản mà để hỗ trợ lãi suất thì chẳng có ý nghĩa gì. Bà Dương Thu Hương. Thủ tướng kết luận dừng chính sách sách hỗ trợ lãi suất ngắn hạn đúng thời hạn 31/12/2009. Nhiều ý kiến cho rằng. ngân hàng có huy động được vốn mới có tiền cung cấp cho nền kinh tế. điều chỉnh tỷ giá chính thức để cung cầu có thể gặp nhau. quyết định thay đổi về chính sách tiền tệ gây bất ngờ cho hầu hết thành viên tham gia thị trường khi mà trước đó NHNN tuyên bố duy trì ổn định chính sách đến hết năm. kết quả kinh doanh quý IV cũng như hoạt động doanh nghiệp được dự báo không có gì nổi bật. tâm lý NĐT khá bất ổn do hầu như không có thông tin vĩ mô tích cực. nhưng tôi tin nếu kinh tế có dấu hiệu bất ổn thì Chính phủ sẽ có giải pháp để xốc trở lại. Trong bối cảnh như vậy. . Giám đốc đầu tư Quỹ đầu tư Jaccar Trong thời gian vừa qua. Chủ tịch HĐQT Tổng CTCP Phát triển Đô thị Kinh Bắc Tăng trưởng kinh tế trên toàn thế giới chưa ổn định. với thị trường vàng. Ông Đặng Thành Tâm. Hạn chế tăng trưởng tín dụng không cẩn thận là thành tăng trưởng âm. kinh tế Việt Nam “khỏe” rồi. nhưng thực tế là chưa có dấu hiệu bền vững. thắt chặt tiền tệ. Điều này dẫn đến phản ứng thái quá của các NĐT trên TTCK.

003016. góp phần ổn định thanh khoản cho hệ thống ngân hàng khi tín dụng 11 tháng tăng 34. giảm lợi nhuận. hàng hóa xuất khẩu cạnh tranh hơn...Cũng cần nhìn nhận. lưu thông giảm khiến tiền ít đi. CTCK Sài Gòn (SSI) Tăng lãi suất cơ bản giúp các NHTM có thể tăng lãi suất đầu vào. chứ không phải là căng thẳng thật sự về tiền. . VND mất giá ở mức độ vừa phải giúp cho xuất khẩu có lợi. khi hàng nhập nhiều hơn xuất.vn/nd5/detail/tin-kinh-te-tong-hop/tai-chinh-chungkhoan/nhnn-dieu-chinh-lai-suat-va-ty-gia-nhan-dien-nhung-tacdong/52832.. nhiều loại hàng hóa có nguồn gốc nhập khẩu biến động. Nhưng nếu không có can thiệp tiếp theo để tăng lượng cung trên thị trường ngoại hối (các tập đoàn nhà nước bán ngoại tệ hoặc NHNN bán USD đủ lớn ra thị trường) thì mức tỷ giá 18. kinh doanh vàng.500 VND/USD (mức trần) khó có thể duy trì ổn định.html Yếu tố tiền tệ không tác động lớn tới lạm phát Thứ bảy. giữ dòng tiền. vốn gián tiếp không chảy vào đầu tư. khiến họ co cụm lại. Điều chỉnh nhanh. đồng thời giảm bớt động lực mua USD tích trữ. mạnh chính sách tiền tệ sẽ tác động ngay tới tâm lý của DN. trong khi huy động vốn chỉ tăng hơn 26%. đồng thời giảm biên độ dao động giúp các DN xuất khẩu được lợi nhờ đánh giá lại thu nhập bằng ngoại tệ.. IPO doanh nghiệp nhà nước khó thực hiện. 03 Tháng 4 2010 01:24 Đây là nhận định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu khi trao đổi với báo chí xung quanh một số chủ đề dư luận quan tâm hiện nay như chỉ số giá tiêu dùng.com.5%. tính thanh khoản của ngân hàng.vinasme. TTCK suy giảm sẽ kéo theo một loạt hệ lụy như DN không thể huy động được vốn. Việc tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng. Theo Anh Việt ĐTCK http://www. lạm phát không phải hoàn toàn do yếu tố nội tại của Việt Nam. Nhưng các DN có vay nợ nước ngoài sẽ phải tăng trích lập rủi ro.

Có ý kiến phê bình chúng tôi do không cung cấp mạnh thêm lượng tiền cung ứng trong tháng 1 và 2 nên thanh khoản và tín dụng tăng chậm. NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và thận trọng. Trước tình hình đó. Yếu tố tiền tệ tác động tới lạm phát không lớn. . Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao chủ yếu do nhu cầu tăng cao trong dịp Tết. kiểm soát tăng trưởng tín dụng ở mức thấp và quý I-2010 dư nợ tín dụng tăng 3. Bảo hiểm xã hội rút khoảng 60. Kho bạc Nhà nước.000 tỷ đồng nhưng rút dần về sau Tết Nguyên đán. tính chung 3 tháng đầu năm tăng 4.000 tỷ đồng để giải ngân theo quy luật hàng năm. Vào những ngày giáp Tết. ngành phân tích. giá cả nhập khẩu tăng.75%. NHNN hỗ trợ các NHTM 70.PV: Dư luận đang lo ngại chỉ số giá tiêu dùng quý I tăng cao hơn cùng kỳ các năm khác. các NHTM gặp khó khăn về thanh khoản do một số NHTM dự trữ thanh toán thấp và tổ chức kinh tế. Nhà nước điều chỉnh một số mặt hàng làm tăng giá thành sản phẩm.Từ cuối năm 2009 và dịp Tết Nguyên đán Canh Dần. NHNN đã hỗ trợ kịp thời để đảm bảo khả năng an toàn thanh khoản.Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu: Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 năm nay tăng 0. làm rõ những nguyên nhân chỉ số giá tiêu dùng tăng ở mức cao và thực hiện các giải pháp đồng bộ để kiểm soát giá cả hàng hóa.Huy động vốn đến cuối tháng 3 tăng 3. do từ tháng 7-2009. Nhưng . Chính phủ đã chỉ đạo các bộ. ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Yếu tố tiền tệ có tác động như thế nào tới tình hình lạm phát? .8% so với cuối năm 2009 và có xu hướng tăng trở lại .34% so với cuối năm 2009.12%.Thống đốc có nhận xét gì về tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế cũng như các biện pháp hỗ trợ thanh khoản thời gian vừa qua? . cao hơn so với cùng kỳ các năm gần đây.

Theo chỉ đạo của Chính phủ.có ý kiến đánh giá nếu cung cấp tiền cung ứng mạnh thêm trong hai tháng đầu năm sẽ tác động mạnh làm tăng chỉ số giá tiêu dùng và có thể cao hơn 4.8% so với cuối năm 2009. NHNN sẽ xử lý như thế nào? . phát triển hệ thống ngân hàng. Trong quý I năm 2010. NHNN tích cực phối hợp với các bộ.Đối với hoạt động của các sàn vàng chuyển đổi sang hình thức khác. NHNN đã và đang thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ để ổn định lãi suất thị trường theo xu hướng giảm dần như tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với NHTM với kỳ hạn dài hơn. đặc biệt là tiền gửi của dân cư tăng 9.12%. nên phải có thêm thời gian tất toán tài khoản. xét theo lãi suất thực dương và khả năng hấp thụ của nền kinh tế. tín dụng tăng 3. Tốc độ tăng trưởng tín dụng 3. NHNN cũng nghiên cứu theo hướng không cho phép chuyển đổi vốn huy động bằng vàng sang tiền đồng và có thể không thực hiện hoạt động huy động và cho vay bằng vàng vì hoạt động này tiềm ẩn nhiều rủi ro.Việc các ngân hàng huy động vàng với lãi suất thấp có tiềm ẩn nguy cơ gì không thưa Thống đốc? . . báo chí gọi là “biến tướng”. Đồng thời NHNN cũng chỉ đạo các NHTM Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn và điều chỉnh lãi suất giảm dần phù hợp với diễn biến nền kinh tế. hỗ trợ thông qua tái cấp vốn và hoán đổi ngoại tệ. Huy động vốn đang có xu hướng tăng trở lại. lãi suất huy động và cho vay của các NHTM đang ở mức cao. Còn các NHTM đã chấp hành nghiêm chỉnh đóng cửa đúng thời gian quy định.34% so cuối năm 2009.Liệu có xảy ra cuộc đua lãi suất huy động giữa các ngân hàng khi các khoản vay ngắn hạn bằng VND được thực hiện theo cơ chế thỏa thuận? .Về huy động vàng tại các NHTM theo đúng quy định của pháp luật. . chúng tôi sẽ phối hợp các ngành hữu quan kiểm tra nếu có thì xử lý theo pháp luật. đến cuối tháng 3 tăng 3.Thời gian gần đây. và tương ứng với quý I cùng kỳ các năm diễn biến bình thường.34%. tuy nhiên rất rủi ro.2% cho thấy người dân tin tưởng vào hệ thống ngân hàng. có thông tin một số doanh nghiệp hoạt động sàn vàng (doanh nghiệp không thuộc NHTM) chuyển sang hình thức khác.Hiện nay. Gần đây các NHTM đã hạ lãi suất huy động gần bằng 0%. tổng phương tiện thanh toán và tín dụng có xu hướng tăng dần. việc gia hạn thêm 3 tháng là do qua thực tiễn có một số ngân hàng còn trạng thái mở tương đối lớn. ngành liên quan trình Chính phủ ký ban hành Nghị định quản lý và kinh doanh vàng trong thời gian tới. . khối lượng lớn hơn so với trước đây. . Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam phát huy mạnh mẽ và động viên tích cực các ngân hàng hội viên góp phần quan trọng trong việc ổn định.

Hy vọng không ảnh hưởng lớn đến tâm lý nhà đầu tư Công ty Chứng khoán Thăng Long (TSC) “Sự điều chỉnh tỉ giá lần này đã thể hiện sự thay đổi quan điểm của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về điều hành tỉ giá theo hướng phù hợp hơn cung cầu thực tế của thị trường. quyết định này sẽ có lợi cho các .8 tháng trước 1469 lượt xem Ngày 10/2. Một quyết định quan trọng khác được đưa ra có là mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế .trừ tổ chức tín dụng .544 VND/USD . Ngược lại.0%/năm. chúng tôi xin trích đăng ý kiến của một số công ty chứng khoán. Các quyết định liên quan đến ngoại tệ này sẽ có những tác động tiêu cực đến các công ty có các khoản nợ bằng ngoại tệ và các công ty có hoạt động sản xuất phụ thuộc nhiều vào nguyên vật liệu nhập khẩu.tại tổ chức tín dụng tối đa là 1. Quyết định điều chỉnh tỷ giá hối đoái sẽ có tác động như thế nào tới thị trường chứng khoán? Xung quanh chủ đề này. Ngân hàng Nhà nước cũng quy định mức trần tiền gửi USD của các doanh nghiệp ở mức 1%/năm. Đây chính là một hình thức kết hối theo hình thức "tự xử" đối với các tổ chức có tiền gửi USD. ngăn chặn việc đô la hóa trong nền kinh tế và giúp tăng nguồn cung USD đối với các ngân hàng thương mại. Ngân hàng Nhà nước đã công bố điều chỉnh tỷ giá bình quân giao dịch liên ngân hàng lên mức 18.3%.Hùng Anh (Ghi) Điều chỉnh tỷ giá tác động thế nào tới chứng khoán? Xem tin gốc VnEconomy . Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này Kèm theo đó. áp dụng từ 11/2.mà thực tế là giảm giá VND 3.

cầu ngoại tệ của nền kinh tế diễn ra lâu nay. Thanh khoản vẫn đang là vấn đề khó giải quyết . việc phá giá đồng nội tệ cũng sẽ có áp lực lớn lên lạm phát với chi phí nhập khẩu nguyên liệu khi các chi phí về nguyên liệu. bối cảnh lần điều chỉnh tỷ giá này có thể tạo ra những hoài nghi về các chính sách ổn định tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian trước. kế hoạch trả nợ. của mỗi doanh nghiệp. Có thể tạo ra những hoài nghi về chính sách Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) “Động thái chính sách của Ngân hàng Nhà nước có cả tác động tích cực và tiêu cực với nền kinh tế và thị trường chứng khoán. Về mặt tích cực. người nắm giữ ngoại tệ có thể sẽ tăng bán USD cho ngân hàng. áp lực tăng lãi suất cơ bản để kiềm chế lạm phát trở nên rõ ràng hơn. Về mặt tiêu cực. Việc áp trần lãi suất tiền gửi USD của doanh nghiệp cũng sẽ kích thích các doanh nghiệp bán USD trên tiền gửi thanh toán cho ngân hàng hoặc chuyển từ tiết kiệm bằng USD sang VND để tăng cung USD cho thị trường ngoại hối chính thức. tỷ giá USD của ngân hàng đã được điều chỉnh về gần hơn với mức giao dịch của thị trường tự do cho thấy áp lực biện pháp làm cho VND hấp dẫn hơn so với USD và yêu cầu các tổng công ty nhà nước bán ra USD trong 2 tháng qua chưa đủ liều lượng để ổn định mất cân đối cung cầu ngoại tệ khi mà tỷ giá ngân hàng thấp hơn tỷ giá thị trường tự do 700-1. tỉ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại chắc chắn sẽ tiến sát tỉ giá tự do và lúc đó rủi ro chính sách liên quan đến tỉ giá sẽ giảm. mức độ tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thế nào còn tùy thuộc vào quy mô khoản nợ. Sự thay đổi tỉ giá này chỉ đơn thuần phản ánh đúng hơn thực trạng cung . Ngoài ra.100 VND/USD.. Chúng tôi hy vọng quyết định điều chỉnh này không ảnh hưởng lớn đến tâm lí nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài đã giải ngân... Tuy nhiên. Đây có lẽ là một lợi thế đối với các nhà đầu tư nước ngoài có luồng ngoại tệ chưa giải ngân”.8-2.000 VND cho 1 USD (chênh lệch 5-7%). chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chính thức và tự do giảm xuống mức 100-500 đồng/USD (chênh lệch 0.5%). loại hình kinh doanh xuất nhập khẩu. Trong thời gian tới. Áp lực tăng chi phí trả lãi và gốc các khoản vay ngoại tệ của các doanh nghiệp vay USD song chỉ có thu bằng VND cũng sẽ là một vấn đề đáng kể”. Với hành lang tỷ giá mới với mức trần tỷ giá là 19. tăng cung trên thị trường chính thức.. Nếu xét từ góc độ này. máy móc gia tăng đã tăng trở lại đáng kể so với đáy của khủng hoảng một năm trước đây.doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu do giá sản phẩm trở nên cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới.

Đó cũng là chuẩn bị cần thiết để hệ thống ngân hàng Việt Nam hội nhập sâu sắc và toàn diện hơn với hệ thống chuẩn mực kinh doanh ngân hàng của thế giới. với quyền tự chủ về chi phí đầu vào và giá bán đầu ra. Những mức lãi suất khác nhau được áp dụng cho đề xuất vay vốn có độ rủi ro khác nhau. tách biệt với mặt bằng lãi suất của kinh tế thế giới sang điều chỉnh linh hoạt. To chuc tin dung TRẦN TRÍ DŨNG Công ty nghiên cứu DHVP – Phân tích Kinh tế Vebimo. hội nhập với hệ thống tài chính toàn cầu.baomoi. Thực tế đang cho thấy thanh khoản của các ngân hàng nói riêng và thị trường tài chính nói chung vẫn đang là vấn đề khó giải quyết và nó cũng đã có tác động mạnh đến thị trường chứng khoán trong suốt hơn 3 tháng qua.Công ty Chứng khoán Dầu khí (PSI) “Hai quyết định của Ngân hàng Nhà nước được đánh giá là khá mạnh tay sau lần nâng tỷ giá gần đây nhất vào tháng 12/2009.epi Nhìn lại cơ chế điều chỉnh lãi suất ở Việt Nam 02/06/2010 in Chinh sach cong. Cơ chế lãi suất của Việt Nam dần dịch chuyển từ kế hoạch hóa tập trung.com/Info/Dieu-chinh-ty-gia-tac-dong-the-nao-toi-chungkhoan/126/3883418. nhất là từ khi hệ thống ngân hàng hai cấp được thiết lập(1). nếu như không có những sự kiện quá tiêu cực về kinh tế vĩ mô cả trong và ngoài nước . có vẻ như dòng tiền của các nhà đầu tư theo trường phái giá trị đang dần quay trở lại. Tuy nhiên.thì thị trường sẽ có thể tiếp nối đà hồi phục trong thời gian sau Tết”. từng bước tự do hóa. Điều hành lãi suất giai đoạn 1996-2000 . Các tổ chức tín dụng có điều kiện thực hành phân loại tốt hơn các khoản cho vay. là tín hiệu tích cực cho thấy sự hiện diện – cả hình thức và nội dung – của hệ thống ngân hàng hai cấp. duy trì mức thanh khoản tốt nhất cho thị trường tiền tệ – tín dụng. những tác động này dường như đã phản ánh khá mạnh khi VN-Index (tính đến 12/02/2010) đã giảm khoảng 20% so với mức đỉnh 633. Thời gian qua.com (Một bước phát triển mạnh mẽ trong cơ chế điều chỉnh lãi suất. cơ chế điều hành lãi suất đã có những thay đổi căn bản. http://www.21 xác lập vào ngày 23/10/2009. sử dụng đa dạng các công cụ hiện đại. Trong khi những vấn đề tồn tại của nền kinh tế đã phản ánh vào giá cổ phiếu và khiến cho thị trường giảm về mức giá khá hấp dẫn thì trong ngắn hạn. tỷ giá đã được nâng nhằm cải thiện tình hình căng thẳng về cung .cầu ngoại tệ trên thị trường. Chúng tôi cho rằng. Kinh doanh năng động của các ngân hàng thương mại.

Hai chỉ tiêu này được công bố chính thức định kỳ hàng tháng và điều chỉnh kịp thời trong trường hợp cần thiết. Công cụ lãi suất được phát huy tối đa. Nếu chia lãi suất dương cho tỷ lệ lạm phát thì tỷ lệ này rất cao… Năm 1999 là 5. từ cuối những năm 80 cho tới năm 2000. đặc biệt trong hai năm 1998-1999. Từ giữa tháng 1-2008. về cơ bản. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng đã bước đầu thực hiện tự do hóa lãi suất huy động. Thời điểm này. hình thành một cơ chế tự điều chỉnh. Cơ chế điều hành lãi suất với một mức cơ bản kèm biên độ dao động được NHNN áp dụng kể từ tháng 8-2000 thay cho cơ chế lãi suất trần. Đặc điểm đáng chú ý trong giai đoạn các ngân hàng gặp khó khăn thanh khoản này là lãi suất huy động ngắn hạn bằng. ở mức 13%/năm kể từ 10-6-2008. có những thời điểm còn xuất hiện thiểu phát.05%/tháng so với lãi suất tái cấp vốn. liên tục có điều chỉnh và triển khai quyết liệt.5%.350% và năm 2000 là trên 6. quy định chênh lệch lãi suất được xóa bỏ.2%/năm). Đây là nền tảng cho việc xác định điểm cân bằng tỷ giá theo cách tính sức mua tương đương (PPP). Trong một thời gian dài. Năm 2008 chứng kiến sự biến động mạnh của lãi suất với sự điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và uyển chuyển của NHNN.000% (2). các ngân hàng thương mại. quan hệ cung – cầu vốn trên thị trường và thực hiện giải pháp kích cầu của Chính phủ. Thậm chí. NHNN bổ sung 33. NHNN chỉ quy định các mức lãi suất "trần" theo thời hạn cho vay và khống chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay với lãi suất huy động vốn bình quân ở mức 0. Trước sự vận động bất lợi của thị trường chứng khoán và lạm phát tăng cao ngay từ đầu năm 2008. Lãi suất tái cấp vốn cũng tăng gấp hai lần trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 6-2008.000 tỉ đồng vào lưu thông nhưng các ngân . NHNN liên tục điều chỉnh trần lãi suất cho vay theo hướng giảm ngưỡng trần và mức khống chế. NHNN thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ. từ đó. trần lãi suất cho vay lên tới 21%/năm. Lãi suất cao. sử dụng đồng thời các công cụ lãi suất và hoạt động thị trường mở. Từ tháng 7-2000. NHNN điều chỉnh lãi suất cơ bản lên 14%/năm. cơ chế lãi suất của Việt Nam luôn cố gắng duy trì mức lãi suất thực dương – như một giải pháp cho vấn đề lạm phát. nghiệp vụ thị trường mở được áp dụng với lãi suất hình thành qua các phiên giao dịch. Điều hành lãi suất từ sau năm 2000 Đến tháng 5-2001.7%/tháng kể từ ngày 4-9-1999. Mục tiêu kiểm soát lạm phát đã đạt được. Tới cuối tháng 1-1998. là cơ hội tốt đầu tư vào trái phiếu Việt Nam trong thời kỳ này. trong tương quan với các nền kinh tế khu vực. thậm chí cao hơn lãi suất huy động dài hạn. Song hành với việc nới lỏng kiểm soát lãi suất.35%/tháng (tương đương 4. giảm xuống còn 0. NHNN từng bước chuyển sang áp dụng hình thức cho vay bằng ngoại tệ. cơ chế lãi suất thỏa thuận được áp dụng trong hoạt động tín dụng.1%/tháng. Nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện theo cả hai hướng mở rộng và thắt chặt tiền tệ đã không tạo tác động đáng kể nào tới lãi suất. Và kể từ sau tháng 5-2002. Lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh giảm để phù hợp với chỉ số lạm phát. dự trữ bắt buộc đã tăng thêm 1% với tiền gửi nội tệ và ngoại tệ từ không kỳ hạn tới dưới 12 tháng. các tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung – cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ. Mức lãi suất chiết khấu so với cuối năm 2007 tăng thêm 8. chỉ giữ lại quy định trần lãi suất cho vay. Quy định này nhằm khắc phục tình trạng hầu hết các ngân hàng thương mại đều có mức lợi nhuận cao trong khi doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn do biến động kinh tế khu vực và thế giới. Lãi suất tái cấp vốn năm 1997 là 1. Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ. Trong tuần thứ ba của tháng 2-2008. Thay thế cho khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi và tối đa về tiền vay.Trần lãi suất được điều hành linh hoạt trong thời kỳ từ năm 1996 đến tháng 7-2000. Với quy chế điều hành là cho phép tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh không vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Lãi suất tái chiết khấu được qui định ở mức thấp hơn 0. Các nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá cho ngân hàng thương mại cũng được đưa vào sử dụng để bổ sung thêm công cụ điều chỉnh lãi suất.

Nhằm hỗ trợ các đơn vị kinh doanh vượt qua khó khăn trong bối cảnh khủng hoảng tài chính khu vực. Chính phủ có thể cân nhắc dỡ bỏ trần lãi suất huy động 10. Tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB).5%/năm đến 11. Khảo sát nhanh ngày 16-4-2010 tại các ngân hàng thương mại ghi nhận mức lãi suất huy động phổ biến dao động từ 11. cùng với động thái tích cực của lãi suất huy động vốn mới nhất cận kề trung tuần tháng 4-2010. Chấp nhận chi phí đầu vào tăng cao. Hai vấn đề đặt ra Cơ chế điều chỉnh lãi suất một lần nữa trở thành tâm điểm chú ý của người làm chính sách. mặc dù trước đó có thể đã phải thực hành nhiều cách thức không chính thức để thỏa mãn mức bù rủi ro khách gửi tiền muốn (như khuyến mãi). các liệu pháp tiền tệ đã phát huy tác động ổn định kinh tế vĩ mô. Nếu đúng vậy. những thay đổi rõ nét đang diễn ra. với tỷ lệ không nhỏ dành cho các dự án bất động sản và đầu tư tài chính. Thông báo phát hành 20. Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất đang đi lên. Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia (UBGSTCQG) Lê Đức Thúy có ý kiến tại cuộc họp báo thường kỳ Chính phủ ngày 3-3-2010 rằng. Mặc dù khối lượng không lớn nhưng dấu hiệu này gợi mở khả năng tiếp tục duy trì các chính sách tiền tệ – tài chính vĩ mô. kinh doanh trong năm 2008. Trong tháng 6-2008. So với giai đoạn khủng hoảng tiền tệ khu vực 1997-1998. hai câu hỏi được đặt ra nhiều nhất: Thứ nhất. hạn chế mở rộng tín dụng là những dấu hiệu cho thấy hệ thống ngân hàng thương mại cũng gặp khó khăn với vấn đề thanh khoản. Điều này có thể là kết quả của những khoản tín dụng chất lượng thấp đã cung cấp trong thời gian trước. Chi phí lãi vay cao kết hợp với tăng giá đầu vào tạo ra áp lực lớn với sự vận hành sản xuất. rất khó xác định ảnh hưởng của nghiệp vụ này tới lãi suất. chính sách tiền tệ của Việt Nam trong năm 2008 sử dụng nhiều công cụ hơn và cường độ điều chỉnh dồn dập hơn. Trên thị trường. Với mức lãi suất thực dương. ngày 26-22010.9%/năm(4). 2 tỉ đồng trái phiếu chính phủ kỳ hạn 2 năm với lãi suất 11%/năm đã được huy động thành công(3). đã ra quyết định cho phép các ngân hàng thỏa thuận lãi suất cho vay trung và dài hạn (có kỳ hạn trên 365 ngày) với doanh nghiệp. Có ý kiến cho rằng dường như một kịch bản của năm 2008 đã lặp lại? Tuy vậy.5%/năm với kỳ hạn 1 tháng. phiên đấu thầu hai loại trái phiếu chính phủ ngày 13-6-2008 có kỳ hạn 2 năm và 3 năm đã không thu hút được bất kỳ thành viên nào tham gia. cộng đồng kinh doanh và giới nghiên cứu – phân tích vào đầu năm 2010.5% và nới rộng áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận cả với những khoản vay ngắn hạn (có kỳ hạn dưới 365 ngày). nhưng vẫn không tìm được đối tác quan tâm. chỉ hai tuần trước đó. lãi suất huy động điều chỉnh 3 lần chỉ trong vòng 10 ngày và tăng lên 12. có tổ chức tài chính sẵn sàng chuyển nhượng lượng trái phiếu đang sở hữu với mức chiết khấu lên tới 40% mệnh giá. NHNN có tiếp tục sử dụng lãi suất cơ bản làm công cụ chủ đạo điều tiết thị trường tiền tệ? Thứ hai. Lưu ý rằng. tại thời điểm đó. cũng có ý kiến coi những khó khăn trước mắt là cần thiết cho một thị trường tiền tệ vận hành lành mạnh trong tương lai gần.hàng thương mại vẫn tiếp tục tăng lãi suất huy động tiền gửi. chính sách tiền tệ được mở rộng trong các năm từ 1997 đến 1999. lãi suất cho vay dao động từ 17%-20%/năm. Hiệu lực không thật rõ ràng của các nghiệp vụ thị trường mở vào thời kỳ lạm phát gia tăng là tín hiệu sự tồn tại bẫy thanh khoản trong hệ thống tín dụng. thị trường đã chuyển động gần đúng với những dự báo lý thuyết. Vào thời điểm giữa tháng 3-2010. NHNN.300 tỉ đồng tín phiếu bắt buộc được đưa ra vào giữa tháng 2-2008 và thực hiện một tháng sau đó. lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại tiến gần tới trần lãi suất cho vay. Ngày 30-6-2008. mặt bằng lãi suất mới sẽ như thế nào trong thời gian tới? Với câu hỏi thứ hai. . Kết quả thống kê cho thấy: a) Việc tăng lãi suất đồng loạt chứng tỏ các ngân hàng thực chất đang chuẩn hóa lại mức lãi suất công bố minh bạch. Lãi suất thương mại được nâng lên. Những điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước. điều chỉnh tăng dần các công cụ lãi suất là giải pháp hợp lý và sớm mang lại kết quả bình ổn thị trường tiền tệ. Cuối tháng 6-2008. Tại thời điểm đó. Ngân hàng Kiên Long áp dụng lãi suất huy động tiền đồng cao kỷ lục là 20%/năm cho khách hàng gửi tiền kỳ hạn 12 tháng.

Tái bản lần 1. Dù đã được giao quyền chủ động kinh doanh tín dụng. để cả hệ thống ngân hàng chuyển sang vận hành theo cơ chế hai cấp cần nhiều thời gian hơn hẳn việc ban hành các quyết định và văn bản.49% (VND) và 3. tách biệt với chức năng ngân hàng thương mại. Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 9. Bỏ lãi suất cơ bản đồng nghĩa với việc NHNN mất đi một công cụ điều tiết thị trường? Cơ chế thỏa thuận đã từng được áp dụng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.5%/năm trở lên với lãi suất kỳ hạn 3 tháng. ít nhất là về xu hướng giảm tiền gửi ngân hàng.78%. 1) Phạm Minh Chính và Vương Quân Hoàng. trong đó có quyền thỏa thuận lãi suất. tr. tháng 5-2008 (3) Ngày 27-6-2008.79% và ở mức cao nhất (của phép tính giả định tại đây): 12. và dẫn tới tình trạng sức ép tăng lãi suất tiền gửi cao hơn. Các ngân hàng trực thuộc NHNN trước đây và ngân hàng chính sách vào thời điểm đó cũng lần lượt được chuyển đổi để trở thành ngân hàng thương mại thuộc sở hữu nhà nước. có thể do dự báo rằng khả năng NHNN can thiệp sâu để bù thanh khoản cho hệ thống sẽ giảm đi đáng kể theo những động thái chính sách tiền tệ cuối quý I/2010. Trung tâm GDCK Hà Nội đã tổ chức phiên đấu thầu Trái phiếu Chính phủ do Kho bạc Nhà nước phát hành đợt 7-2008. vì ở dưới các cận này. Rõ ràng không thấy sức hấp dẫn với lãi suất tiền đồng của ngân hàng. Tại phiên . Kinh tế Việt Nam: Thăng trầm và Đột phá. Ngan hàng Công Thương Việt Nam. Quan hệ giữa lạm phát với lãi suất và kiềm chế lạm phát ở Việt Nam. Tổng khối lượng gọi thầu là 300 tỉ đồng với kỳ hạn 2 năm. vậy lần áp dụng này có gì mới? Hệ thống ngân hàng hai cấp tại Việt Nam ra đời ngày 23-5-1990 khi NHNN được cấu trúc lại cho phù hợp với chức năng của ngân hàng trung ương hiện đại. Trái phiếu phát hành vào ngày 01-7-2008. nhưng các NHTM vẫn lệ thuộc rất nhiều vào ý kiến chỉ đạo từ NHNN trong việc ra quyết định cho vay và cho vay với giá nào. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Ngoại thương.b) Áp lực cạnh tranh để thu hút nguồn thanh khoản gia tăng. tình trạng đô-la hóa sẽ gia tăng vì lợi ích của người gửi tiền. Từ quan sát chuyển động vi mô này. gọi là ngân hàng thương mại nhà nước hay ngân hàng thương mại quốc doanh. Thực tế này yêu cầu phải có một công cụ ít mang tính hành chính hơn. nếu điều chuyển đầu tư khác và bảo hiểm (thường có liên quan tới sản xuất – kinh doanh) vào nhóm này của điều tra. Sự sẵn sàng cho đầu tư chứng khoán cũng cao hơn. 2010. Tuy nhiên. cùng xu hướng với đầu tư (đầu cơ) bất động sản. Bốn NHTM nhà nước hình thành đầu tiên gồm: Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam.000 đồng. Để có thêm chi tiết. 227-34 (2) Lê Quốc Lý. nhưng cũng không hoàn toàn là thị trường tự do để điều hành lãi suất. c) Mức giảm chênh lệch do xu hướng đồng thuận giảm lãi suất cho vay xuống mức 15% (từ mức cao 17-18%) và xu hướng tăng lãi suất mới chớm xuất hiện này cho thấy NHTM còn phải giải quyết bài toán tương phản giữa tăng thanh khoản và suy giảm lợi nhuận từ hoạt động tín dụng.2% (USD). NXB Tri thức./. mức huy động lãi suất các ngân hàng phải rơi vào khoảng trên 11. Để đảm bảo hấp dẫn. Đối chiếu khảo sát ý kiến người dân về lựa chọn kênh đầu tư trong năm 2009 và 2010 cũng phản ánh sự thay đổi có thể giải thích hiện tượng thu hút vốn ngân hàng khó thời gian vừa qua. Câu hỏi thứ nhất gây nhiều lúng túng hơn. mệnh giá 100. Riêng nhóm sản xuất – kinh doanh không có nhiều cải thiện về xu hướng. có thể xét lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 3 tháng theo công bố của Vietcombank ngày 13-3 là 10. lãi suất VND 3 tháng phải đạt 11. Ở mức kỳ vọng lạm phát thấp nhất. chúng ta sẽ không ngạc nhiên nếu chứng khoán và bất động sản được hưởng lợi từ sự dịch chuyển ý thức đầu tư vừa xét (5).

Đây là những yếu tố quan trọng nhất quyết định mức độ ổn định và phát triển của thị trường BĐS trong năm 2010. Đây là lần thứ 3 KBNN phát hành trái phiếu kỳ hạn 2 năm trong năm 2008 qua hình thức đấu thầu qua TTGDCKHN. thị trường chứng khoán.wordpress. thủ tục pháp lý về BĐS. mức độ đầu tư cơ sở hạ tầng. quy hoạch xây dựng đô thị. Vol.. “Động học của tăng trưởng thực: góc nhìn vi mô”. lãi suất ngân hàng. Theo đó. 1.. có rất nhiều yếu tố tác động đến sự phát triển của thị trường BĐS như: tăng trưởng kinh tế. Vietnam Economy Monitor Weekly. lạm phát.com thực hiện ngày 16-4-2010 về sự hình thành mặt bằng lãi suất huy động mới với nội tệ VND (5) Vebimo. Yếu tố lạm phát mặc dù có bị ảnh hưởng của những tháng đầu năm 2010 nhưng với quyết tâm của Chính phủ để kiềm chế lạm phát thì hy vọng lạm phát cả năm sẽ được khống chế ở mức không quá 2 con số. Lãi suất trần được Bộ Tài chính đưa ra tại phiên đấu thầu là 11. 1. tổng khối lượng trái phiếu huy động thành công là 2 tỉ đồng với lãi suất 11.00%/năm.00%/năm. 12-4-2010. 2010. Tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát Theo dự báo.00%/năm. Kết quả. . bằng lãi suất trần. kinh tế Việt Nam trong năm 2010 được duy trì mức độ phát triển bằng và cao hơn một chút so với năm 2009.com Các yếu tố tác động đến thị trường BĐS năm 2010 Báo cáo của tổ chuyên gia liên ngành về thị trường bất động sản đã đưa ra các yếu tố tác động đến sự phát triển của thị trường BĐS trong năm 2010. (4) Khảo sát do Hệ thống Phân tích Kinh tế Vebimo. và số lượng trái phiếu huy động được là 702 tỉ đồng sau 3 đợt phát hành. chính sách thuế.đấu thầu. Iss. tổng khối lượng dự thầu là 2 tỉ đồng với lãi suất dự thầu 11. pp7-9 NGUỒN: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 9 (201) NĂM 2010 https://luattaichinh. giá nguyên vật liệu xây dựng.

tạo ra không khí sôi động hơn cho thị trường BĐS. Tại các đô thị lớn khác như Đà Nẵng.aspx Điều chỉnh lãi suất và tỷ giá: Ảnh hưởng ra sao đến thị trường? vietstock.5%. đầu năm 2010. lãi suất cơ bản sẽ tăng lên 8%/năm từ 01/12/2009 và tỷ giá liên ngân hàng được nới rộng thêm 5. Lãi suất cơ bản và lãi suất cho vay đầu tư BĐS của các ngân hàng thương mại hiện nay đang ở mức cao. trong quý I năm 2010 mức lãi suất cho vay của một số ngân hàng thương mại hiện đã tới 18%/năm.Công tác quy hoạch xây dựng đô thị và mức độ đầu tư cho cơ sở hạ tầng Năm 2010. Cần Thơ. Lãi suất ngân hàng Lãi suất ngân hàng và sự phát triển của thị trường BĐS có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau rất chặt chẽ. nhất là phân khúc thị trường cao cấp sẽ tiềm ẩn những nguy cơ gây ra hiện tượng “ bong bóng” bất động sản mới. sẽ tạo điều kiện để lãi suất cho vay đầu tư được điều chỉnh về mức thích hợp (khoảng 11% . (Theo DO thij ) http://timnhadat. trong khi đó. thị trường chứng khoán đã phát đi tín hiệu có sự tăng trưởng. Thị trường chứng khoán Cùng với sự tăng trưởng trở lại của nền kinh tế. Theo đó. Nhiều nhà đầu tư đang nghĩ về một kịch bản . Ngân hàng Nhà nước đã ban hành hai quyết định quan trọng liên quan đến chính sách tiền tệ. thành phố Hồ Chí Minh cũng sẽ tiến hành điều chỉnh đồ án quy hoạch chung của thành phố và vùng lân cận.13%/năm). Hải Phòng.com. Việc Chính phủ đã cho phép các ngân hàng thương mại được chủ động điều chỉnh lãi suất huy động và lãi suất cho vay.17:42 25-11-2009 (Vietstock) – Ngày 25/11.vn . thủ đô Hà Nội sẽ hoàn thành đồ án quy hoạch chung xây dựng thủ đô. Mặc dù vậy. một số dự án đầu tư cơ sở hạ tầng có quy mô lớn đang được triển khai một cách khẩn trương sẽ có tác động tích cực đến sự phát triển của thị trường BĐS. nếu việc mở rộng tín dụng một cách ồ ạt vào thị trường BĐS. Chỉ số Vn-Index vào đầu tháng 3 năm 2010 đã đạt ngưỡng trên 530 điểm là yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của thị trường BĐS.com/vi-VN/News/thitruong/2010/06/17680. Theo số liệu khảo sát.

027 hiện tại. lãi suất chiết khấu tăng từ 5%/năm lên 6%/năm. lãi suất cơ bản có tính chất tham chiếu cho lãi suất trần cho vay. Với các điều chỉnh này. bằng cách hỗ trợ lãi suất 2% đến hết Q1/2010. Lãi suất trần huy động điều chỉnh tăng lên trên 10% sẽ giúp hút tiền vào hệ thống ngân hàng. NHNN kiểm soát tín dụng bằng một loạt các biện pháp hành chính. và các ngân hàng sẽ phải cân nhắc trong việc giải ngân tín dụng.5% Ngày 25/11. lãi suất tái cấp vốn tăng từ 7%/năm lên 8%/năm. lãi suất cân bằng thực sự trên thị trường có thể đã vượt xa mức lãi suất trần quy định này. tăng tỷ giá liên ngân hàng 5. Người đi vay cũng dễ dàng tiếp cận vốn hơn.07%. và doanh nghiệp nào sẽ bị ảnh hưởng? Tăng lãi suất cơ bản lên 8%/năm. so với cùng kỳ năm trước tăng 4.55%. NHNN cũng đã có công văn yêu cầu các NHTM hạn chế cho vay đầu tư vào các lĩnh vực phi sản xuất. Thời điểm áp dụng của quy định mới này là từ 01/12/2009. Nay với việc sử dụng công cụ lãi suất. Liệu các chính sách này có tác động tiêu cực đến thị trường hay không. Ngân hàng Nhà nước đã có quyết định điều chỉnh lãi suất cơ bản tăng từ 7%/năm lên 8%/năm. và giảm cung tiền trong nền kinh tế. Bên cạnh đó. khác với các nước lãi suất cơ bản chỉ có tính chất tham chiếu cho lãi suất thị trường.5%) từ mức 17. NHNN cũng thu hẹp biên độ tỷ giá mới cho giao dịch mua bán giao ngay giữa USD và VND là +/3% từ ngày 26/11/2009. Biện pháp này đặc biệt có ý nghĩa khi mà lạm phát đang tăng trở lại. Ở Việt Nam. Trước đó. chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2009 đã tăng ở mức khá cao là 0. tài sản tài chính và kể cả các hoạt động sản xuất kinh doanh. chúng ta đã có thông tin Chính phủ đồng ý chủ trương sẽ tiếp tục gói kích cầu thứ 2. chỉ số CPI tháng 11 của TP. tác động đến nền kinh tế có thể sẽ có hiệu quả và công bằng hơn vì biện pháp này mang tính thị trường nhiều hơn. lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu.năm 2008 sẽ lặp lại. Trước đây. vào ngày 12/11/2009. Việc tăng lãi suất cơ bản đồng nghĩa với tăng trần lãi suất cho vay và huy động. NHNN đã có văn bản số 8883/NHNN-CSTT về việc không thực hiện lãi suất thỏa thuận với đầu tư bất động sản.422 – 18. Tuy nhiên. lãi suất cơ bản sẽ tăng thêm 1% sau hơn 10 tháng được giữ ở mức 7%/năm. NHNN rõ ràng cũng đang có ý định cởi trói cho các ngân hàng thương mại để huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế. Ngoài ra. tăng gần 1.500 VND/USD. Chẳng hạn.55% so với tháng trước. Việc điều chỉnh tăng lãi suất.961. mức lãi suất trần cho vay được khống chế ở mức 10. thay vì +/-5% như trước đây. CPI tăng 5. tăng tính thanh khoản cho thị trường tiền tệ. NHNN đã một lần nữa thể hiện ý chí kiểm soát tốc độ tăng trưởng. Trước đó.5%/năm. theo chúng tôi.52 và 0. Tính trong 10 tháng. chất lượng tín dụng. NHNN cũng công bố mức tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng áp dụng cho ngày 26/11/2009 là 17. Tuy vậy.000 đồng (5. Tăng lãi suất: một mũi tên trúng nhiều đích Với việc đồng loạt tăng 1% đối với lãi suất cơ bản. Chính sách hỗ trợ này .HCM. Như vậy. Chúng tôi cũng nhìn nhận việc “kiểm soát” tốc độ tăng tín dụng này chỉ có ảnh hưởng nhất định trong ngắn hạn. Đồng thời. Tình trạng căng thẳng thanh khoản trong hệ thống NHTM thời gian qua một phần có nguyên nhân từ quy định này.35%. sẽ không ảnh hưởng nhiều đến mức lãi suất trên thị trường trong thời gian tới. mức tỷ giá sàn và trần tương ứng sẽ là 17. mặc dù có thể phải chịu lãi suất vay cao hơn. Có kích hoạt đợt tăng lãi suất trên thị trường? Câu hỏi lớn nhất là liệu việc này có kích hoạt cho một đợt tăng lãi suất trên thị trường hay không? Hiện tại. Hà Nội công bố lần lượt tăng 0. Tổng cục Thống kê vừa cho biết. việc này lại có tác động kép là chi phí vốn của NHTM sẽ cao hơn. kề từ tháng 12/2009.

giày da. Trong khi đó. dầu khí… cũng sẽ được hưởng lợi. cao su. chúng tôi cho rằng bối cảnh hai thời điểm này có sự khác biệt khá lớn. giảm bớt tính trạng đô la hóa trong nền kinh tế. người mua có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận nguồn ngoại tệ). Về tổng thể. Theo VNExpress. các chính sách được xem là để giải quyết hậu quả.000 đồng. việc căng thẳng tỷ giá này không chỉ do thiếu hụt USD trong nền kinh tế. có thể một lượng tiền gián tiếp sẽ được bơm ra cho các doanh nghiệp theo gói kích cầu thứ 2. và Bộ Công Thương sẽ hạn chế nhập khẩu các mặt hàng không cần thiết. ổn định tỷ giá ở mức phù hợp sẽ rất quan trọng. Tỷ giá về mức hợp lý sẽ giúp cho các doanh nghiệp nhập khẩu bớt khó khăn hơn trong việc tiếp cận nguồn tiền thanh toán. dệt may. Các doanh nghiệp xuất khẩu như thủy sản. Ngoài ra. Nhiều nhà đầu tư đang suy nghĩ về một kịch bản năm 2008 sẽ lặp lại. việc ổn định tỷ giá có thể giúp họ tự tin hơn trong việc giải ngân trên TTCK. Chúng tôi không kỳ vọng về việc tăng lãi suất cơ bản sẽ kích hoạt một đợt gia tăng lãi suất trên thị trường. thị trường ngoại tệ đã có những căng thẳng nhất định. điều đáng quan tâm là chi phí vốn của các doanh nghiệp vay vốn bằng ngoại tệ sẽ tăng cao. Nâng tỷ giá: giúp giảm căng thẳng trên thị trường ngoại tệ Thời gian vừa qua. Tuy nhiên. khi các mặt hàng xuất khẩu trở nên cạnh tranh hơn.tiếp tục tạo ra một lượng vốn giá rẻ cho các doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp giới hạn mức thâm hụt cán cân thương mại.com/dieu_chinh_lai_suat_va_ty_gia_anh_huong_ra_sao_den_thi_t ruong_-616626709-50397184. Nhìn nhận một cách khách quan. các tập đoàn nhà nước có nguồn thu ngoại tệ có thể sẽ bán lại cho ngân hàng. Sang Q1/2010. Các doanh nghiệp khác vay vốn bằng ngoại cũng rơi vào tình trạng tương tự. Điều cần xem xét thêm là giá trị nợ bằng ngoại tệ của Chính phủ cũng sẽ tăng lên mạnh. Quyết định điều chỉnh tỷ giá này có thể kéo tỷ giá trên thị trường xuống (khi người bán ngoại tệ sẽ sẵn lòng hơn để bán. mà một phần do việc tích trữ và đầu cơ ngoại tệ. Hồ Bá Tình http://news.việc “thắt chặt” này sẽ có ảnh hưởng ngắn hạn trong tháng 12/2009. Như vậy. Dù vậy. Lãi suất toàn hệ thống tăng cao cũng sẽ ảnh hưởng gián tiếp đến kênh đầu tư trên TTCK. Chênh lệch giữa tỷ giá USD/VND chính thức và phi chính thức đã có lúc lên tới 2. điều này cũng giúp giảm áp lực tăng giá hàng nhập khẩu khi tỷ giá ở mức hợp lý hơn. Năm 2008. các chính sách hiện nay nhằm để ngăn chặn các nguy cơ có thể xảy ra. Tác động đến TTCK và doanh nghiệp Rõ ràng hai thông tin về chính sách tiền tệ và tỷ giá hôm nay đã tác động mạnh đến tâm lý nhà đầu tư. khi kênh tín dụng trong hệ thống ngân hàng sẽ bớt tình trạng ách tắc. và kiềm chế lạm phát. các doanh nghiệp có đòn bẩy cao sẽ bị ảnh hưởng trước tiên. nợ ngoại tệ của Chính phủ cũng sẽ bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó. Quyết định này có thể sẽ giúp nhiều ngân hàng “dễ thở” hơn trong vấn đề thanh khoản. Đối với nhà đầu tư nước ngoài. quy mô thị trường ngoại tệ phi chính thức sẽ thu hẹp lại. Nhiều tập đoàn nhà nước vay vốn bằng ngoại tệ sẽ gặp khó khăn trong vấn đề trả nợ. giảm chi phí cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Bộ Tài chính cũng sẽ rà soát để cân nhắc tăng thuế nhập khẩu nếu còn dư địa. Vì vậy. giải tỏa áp lực lên vấn đề tỷ giá. và gián tiếp giúp tỷ giá thị trường ổn định ở mức mong muốn.socbay. Điều quan trọng khác.html . giúp toàn thị trường vận hành linh hoạt trở lại. Nếu điều này xảy ra.

giảm lãi suất chíết khấu. Trước tiên hãy giả định. đường D dịch chuyển về bên trái tạo thành D’.Mức cung cầu tiền tệ -Cung tiền tệ là tổng thể tiền tệ được sử dụng để giao dịch thanh toán trên thị trường. lãi suất có xu hướng giảm xuống. Lãi suất tăng. Sự thay đổi cung cầu tiền tệ sẽ ảnh hưởng đến lãi suất. Khi nào thì ngân hàng trung ương bơm tiền ra lưu thông. Trên đồ thị lãi suất chuyển từ i sang iA.Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất 3. các nhà doanh nghiệp và các gia đình cắt giảm lượng tiền mặt và tài khoản séc của họ. đường S dịch chuyển sang trái thành S’. với mức giá cả ổn định và dự tính lạm phát trong tương lai là không đáng kể. cung quỹ cho vay được biểu hiện bằng So và cầu quỹ cho vay được biểu hiện bằng Do và lãi suất io. Kết quả là việc tiến hành các dự án đầu tư mới trở nên có lợi hơn. giảm hạn mức tín dụng). đơn vị. mức đầu tư sẽ giảm. mức cầu tiền tệ giảm. giảm lạm phát. Đường cong về mức cung tiền tệ được vẽ thẳng đứng vì việc cung cấp tiền tệ được định ra ở M cho mọi lãi suất. tổng sản phẩm.1. tiền giấy và tiền gửi ngân hàng có thể rút ra bằng séc. Giao điểm giữa D’ và S’ là A’ với mức lãi suất cân bằng mới i’A. hoặc lãi suất gây ra) cũng ảnh hưởng đến lãi suất cân bằng. Các nhà kinh tế đã định nghĩa M là tiền giao dịch bao gồm: M1 là tổng số tiền kim khí và tiền giấy lưu thông bên ngoài ngân hàng cộng với tiền gửi ngân hàng có thể rút ra bằng séc và định nghĩa rộng hơn (M2) bao gồm những tài sản như tài khoản tiền gửi tiết kiệm ngoài tiền kim khí. tổng mức cầu tăng lên. trao đổi. -Cầu tiền tệ là nhu cầu về tiền của cá nhân. khi nào thì hút tiền từ lưu thông về để điều chỉnh lãi suất thị trường một cách hợp lý.5. dịch đường D sang phải tạo ra thăng bằng mới trên thị trường.Lạm phát Chúng ta hãy sử dụng cung cầu quỹ với lãi suất để giải thích sự biến động của lạm phát ảnh hưởng đến lãi suất như thế nào. sẽ thực hiện một chính sách thắt chặt tiền tệ thông qua công cụ của nó (thay đổi tăng mức dự trữ bắt buộc. trên cơ sở đó ổn định thị trường. Mức cung tiền tệ sẽ giảm đi. bởi vì hạn chế mức cung tiền tệ là điều cần thiết để tiền có giá trị. *Chính phủ thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ: khi ngân hàng trung ương lo sợ sắp có suy thoái sẽ tăng mức cung tiền tệ bằng cách bơm tiền vào lưu thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ. tổ chức để làm phương tiện giao dịch. lãi suất thấp thì số tiền dôi ra lớn hơn. lãi suất tăng. 3. người tiêu dùng có khuynh hướng mua nhiều hàng hơn…Vón đầu tư tăng. Đây là mức lãi suất ở điểm số lượng tiền do ngân hàng trung ương đề ra làm mục tiêu phù hợp với số tiền mà công chúng muốn nắm giữ. Giao điểm giữa cung và cầu trên đồ thị xác định lãi suất cân bằng. Nghiên cứu nhân tố cung cầu tiền tệ tác động qua lại đến lãi suất có một ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách tiền tệ. thiết bị. . Ngoài ra những thay đổi dự định trong cầu tìen tệ (không phải do sự thay đổi trong mức giá cả. Tín dụng trở nên dồi dào hơn. thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế. dịch vụ… Đường thẳng đứng S biểu thị ngân hàng trung ương giữ cung cấp tiền tệ ở một lượng định trước gọi là M.5. *Chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ: khi ngân hàng trung ương muốn kiềm chế lạm phát. số tiền chi tiêu về nhà máy.2. mua bán hàng hoá. kho hàng tăng lên. Quyền kiểm soát mức cung tiền tệ được dành cho Chính phủ. lãi suất trên đồ thị chuyển từ I sang iB. Công chúng (các gia đình và các hàng kinh doanh) muốn giữ lượng tiền M1 khác nhau ở những mức lãi suất khác nhau.

Nhiều nhà kinh tế đã khuyến nghị rằng cuộc chiến chống lạm phát nhất định sẽ thất bại nếu chúng ta muốn hạ thấp lãi suất. chi phí thưc của việc vay tiền giảm xuống .Khi lạm phát tăng. ngoại tệ ra bán để kiềm chế lạm phát. lãi suất tăng. đường Do dich chuyển sang phải tạo thành D1. nếu đường cầu dịch chuyển nhiều hơn thì lãi suất cân bằng mới tăng lên. Do cầu quỹ cho vay tăng. tỷ lệ thất nghiệp thất. Khi lạm phát cao. Trên cơ sở đó.Các chính sách của Nhà nước Mục tiêu của nền kinh tế phát triển là: -Tạo ra sản lượng cao. đường cầu dịch chuyển về bên phải. yếu tố kích thích làm tăng cung quỹ cho vay gần như triệt tiêu bởi giá trị thực tế của vốn gốc và tiền lời thu được đã bị hao mòn do tác động của lạm phát. Trong nền kinh tế ổn định và có xu hướng phát triển.Người đi vay sẽ kiếm được khoản thu lợi do giá hàng hóa được mua bằng tiền đi vay sẽ tăng lên. Một sự giảm xuống của cung và một sự tăng lên của cầu đối với quỹ cho vay sẽ đẩy lãi suất tăng từ io đến i1. Điều đó dẫn đến cung quỹ cho vay giảm. Trong tình hình ấy những người có khả năng cho vay không muốn giữ tiền mặt. lãi suất tăng. Bởi vì khi nền kinh tế ổn định. đảm bảo cho lãi suất thực dương. ngoại tệ. ngược lại. trái khoán trở thành một tài sản hấp dẫn hơn. đổ xô đi mua hàng hóa dự trữ vàng. các công ty càng có nhiều ý định vay vốn và tăng số dư nợ nhằm tài trợ cho các cuộc đầu tư được trông đợi là sinh lời. nhà nước nên sử dụng các công cụ lãi suất để tăng vốn đầu tư vào những lĩnh vực cần phát triển cho sự cân đối của nền kinh tế. lãi suất có xu hướng tăng lên. hoặc nhà nước tung vàng. công chúng chỉ muốn giữ một số tiền nhất định đủ cho nhu cầu sử dụng. tăng nhanh tổng sản phẩm quốc dân -Đạt tỷ lệ người có công ăn việc làm cao.5. vì vậy cung tiền vay tăng lên. Tóm lại. dù ở từng mức lãi suất riêng lẻ hay ở tất cả mọi lãi suất.5. ông cho rằng trong mọi trường hợp tỷ lệ lạm phát của một nước là cực kỳ cao trong bất cứ thời kỳ kéo dài nào. Lạm phát tăng.4. khi lạm phát dự tính tăng. đường cung dịch chuyển về bên phải. đặc biệt từ các nguồn vốn trên thị trường trái khoán. của cải tăng lên. Cầu tiền vay tăng lên. sẽ đạt được một điểm cân bằng mới về bên phải. rủi ro trái khoán giảm. Theo Friedman.Sự ổn định của nền kinh tế -Ảnh hưởng đến cung tiền vay: khi nền kinh tế ổn định và phát triển. 3. khi lạm phát dự tính tăng lên . Điều này có một ý nghĩa quan trọng trong việc dự đoán lãi suất khi nền kinh tế có xu hướng lạm phát tăng. -Đảm bảo ổn định giá cả trong điều kiện thị trường tự do hoạt động.Bởi với lãi xuất danh nghĩa cho trước . 3. đường So chuyển về bên trái thành S1 lãi suất tăng.3. . thì tỷ lệ tăng trưởng của cung ứng tiền tệ là cực kỳ cao. có một chính sách lãi suất hợp lý. lãi suất có xu hướng giảm. nhà nước cần phải nâng lãi suất danh nghĩa. Tuy nhiên nếu đường cung dịch chuyển nhiều hơn đường cầu thì lãi suất cân bằng mới có xu hướng giảm xuống. họ muốn đầu tư vào những tài sản thay thế có lợi tức dự tính cao: đầu tư vào các trái khoán công ty. thị trường trái khoán trở nên ổn định hơn. kích thích người ta đi vay hơn là cho vay. không chỉ làm giảm độ lớn của cung mà còn kéo theo việc tăng thêm quy mô về cầu quỹ cho vay . Khi đường cung và đường cầu tiền vay tăng lên và dịch chuyển về bên phải. -Ảnh hưởng đến cầu tiền vay: khi nền kinh tế đang phát triển nhanh nhất là trong giai đoạn phát đạt của một chu kỳ kinh doanh.

tổng sản phẩm tiềm năng được tăng lên. Do thay đổi lãi suất chiết khấu. *Chính sách tài chính: bao gồm chi tiêu của chính phủ và thuế khóa. hạn chế tín dụng của ngân hàng và ngược lại. làm tăng lãi suất. chẳng hạn việc giảm thuế đánh vào thu nhập từ đầu tư làm cho các ngành tăng đầu tư vào máy móc. Nhiệm vụ chính của chính sách thị trường mở là điều hòa cung cầu về các chứng phiếu có giá để tác động vào các ngân hàng thương mại trong việc cung cầu tiền tệ. lãi suất tăng. Với công cụ lãi suất. Yếu tố cấu thành quan trọng nhất của chi phí sản xuất là chi phí tiền lương. tiêu dùng. Như vậy một sự thay đổi về chính sách giá cả cũng làm thay đổi lãi suất. cầu tiền tệ giảm. tăng lượng cầu tiền tệ. Mỗi khi lãi suất chiết khấu thay đổi có xu hướng làm tăng hay giảm chi phí cho vay của ngân hàng trung ương đối với ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng do đó khuyến khích hay cản trở nhu cầu vay vốn. hạn chế hoặc mở rộng hoạt động tín dụng nhằm thực hiện được mục tiêu giảm lạm phát và tăng trưởng kinh tế theo từng thời kỳ. ngân hàng trung ương có thể tác động gián tiếp vào lãi suất thị trường. Chi tiêu của chính phủ là một nhân tố then chốt định mức tổng chi tiêu. *Chính sách tiền tệ: với tư cách ngân hàng của các ngân hàng. Khi chi tiêu của chính phủ tăng trực tiếp làm tăng tổng cầu. từ đó ảnh hưởng đến lãi suất. làm cho nhiều thu nhập hơn được sẵn sang để chi tiêu và làm tăng tổng sản phẩm bằng cách tăng chi tiêu. Một lãi suất chiết khấu cao hay thấp sẽ làm thay đổi lượng vay của ngân hàng. -Ngân hàng trung ương tăng hay giảm mức dự trữ bắt buộc: khi tỷ lệ dự trữ tăng lên ức là ngân hàng trung ương quyết định giảm bớt số vốn khả dụng của ngân hàng kéo theo những khó khăn ngân quỹ cho các ngân hàng. . -Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách thị trường mở: có nghĩa là ngân hàng trung ương thực hiện việc mua bán giấy tờ có giá trên thị trường chứng khoán. tức lượng tiền cung ứng của ngân hàng cho nền kinh tế và cuối cùng sẽ làm thay đổi mức lãi suất thị trường. khi chính phủ giảm thuế. Ngược lại một mức giá cao hơn làm giảm cung tiền tệ theo giá trị thực tế. Do vây cũng như ảnh hưởng của một sự tăng lên trong cung tiền tệ khi mức giá được giữ cố định. Quá trình thực hiện các chính sách của Nhà nước đều tác động lãi suất cân bằng trên thị trường. Nhà nước phải sử dụng các công cụ bằng các chính sách có thể điều chỉnh tốc độ và phương hướng của hoạt động kinh tế. khi tiền lương tăng làm chi phí sản xuất tăng. thuế còn có thể tác động đến mức sản lượng tiềm năng. ngân hàng trung ương thực hiện vai trò chỉ huy đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng của một quốc gia. làm giảm lợi nhuận theo đơn vị sản phẩm tại một mức giá cả. giá trị của đơn vị tiền tệ theo giá trị thực tế tăng. Mức cao hơn của tổng sản phẩm làm tăng lượng cầu tiền tệ. làm lãi suất giảm. bởi vì nó có thể dùng để mua nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn. Nếu mức giá cả giảm mà cung tiền tệ không thay đổi. đường cầu dịch chuyển về bên phải. Ngoài ra. Khi nhà nước thực hiện một chính sách tài chính bành trướng (tăng chi tiêu của Chính phủ và giảm thuế) sẽ ảnh hưởng đến thăng bằng của thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ. cung ứng tín dụng. *Chính sách thu nhập: đó là chính sách về giá cả và tiền lương. ngân hàng trung ương có thể điều tiết hoạt động của nền kinh tế vĩ mô bằng các phương pháp sau: -Ngân hàng có thể quy định lãi suất cho thị trường. giảm nhu cầu đầu tư. đường cầu dịch chuyển về bên phải. ngân hàng trung ương có thể khuyến khích mở rộng hay làm giảm khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cấp cho nền kinh tế. -Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách lãi suất tái chiết khấu: ngân hàng trung ương tái chiết khấu các chứng từ do ngân hàng thương mại xuất trình với điều kiện ngân hàng phải trả một lãi suất nhất định do ngân hàng trung ương đơn phương quy định.Để đạt được mục tiêu trên. chủ động điều chỉnh lãi suất để điều chỉnh tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế. đường cầu dịch chuyển về bên phải. Do đó cũng ảnh hưởng gián tiếp đến lãi suất trên thị trường. lãi suất tăng lên. Vì vậy thông qua việc điều chỉnh lãi suất chiết khấu. lãi suất giảm. nhà máy.

Như vậy khi có một sự cạnh tranh giữa nền công nghiệp trong nước với công nghiệp nước ngoài tăng lên. Tỷ giá sẽ tác động đến quá trình sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu hàng hóa của một nước. 2007:3. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 năm nay tăng 0. Vì vậy khi thấy đồng tiền của nước mình sụt giá. nhà nước điều chỉnh một số mặt hàng làm tăng giá thành sản phẩm. cao hơn so với cùng kỳ năm các năm gần đây (2006: 2. tính chung 3 tháng đầu năm chỉ số giá tiêu dùng tăng 4. khi tỷ giá ngoại tệ tăng.32%).75%. kích thích nhập khẩu. đồng tiền tăng giá. nền công nghiệp trong nước có thể bị sự cạnh tranh của nước ngoài tăng lên. làm cho đồng tiền của mình vững mạnh. Khi nhà nước tăng tỷ giá ngoại tệ sẽ làm tăng giá của hàng nhập khẩu.*Chính sách tỷ giá: bao gồm các biện pháp liên quan đến việc hình thành quan hệ về sức mua giữa tiền của nước này so với một ngoại tệ khác. lãi suất giảm. thị trường ngoại hối. Thưa Thống đốc.02%. Lượng tiền tệ tăng do với một tỷ giá thấp. với một lượng vốn đầu tư nhất định. NHNN sẽ triển khai các giải pháp điều hành lãi suất thỏa thuận phù hợp với cơ chế thị trường”. 9:59 | 16/04/2010 Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu đã trao đổi với báo chí xung quanh một số vấn đề dư luận quan tâm hiện nay về chỉ số giá tiêu dùng quý I tăng 4. giá hàng hóa trong nước tăng lên.edu. Mặt khác. cao hơn cùng kỳ các năm khác. lãi suất giảm. 2008: 9. Ông có ý kiến gì về vấn đề này? Theo Nghị quyết số 36/2009/QH12 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010. Bạn có thể xem thêm tại đây: http://www.vn/file. sàn vàng.5%. giá cả nhập khẩu tăng. Yếu tố tiền tệ tác động tới lạm phát không lớn. năng lãi suất trong nước. thanh khoản của hệ thống ngân hàng.12%. kích thích đầu tư vào sản xuất. nhất là thông thường chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 giảm hoặc chỉ tăng nhẹ. giảm bớt cung tiền tệ. dẫn đến tăng chi phí đầu vào của các xí nghiệp. mục tiêu đặt ra là tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô.12%. không kích thích xuất khẩu. tài sản đầu tư sẽ nhiều hơn. nhất là đối với các ngoại tệ có khả năng chuyển đổi.elearning. kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng không quá 7%.12%. có thể gây áp lực buộc ngân hàng trung ương phải theo đuổi một tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ cao hơn nhằm hạ thấp tỷ giá. nhưng năm nay đã tăng đến 0.19%.75%. Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao chủ yếu do nhu cầu tăng cao trong dịp tết. 2009: 1. tỷ giá.11:04 TÀI CHÍNH NH > NGÂN HÀNG Giải pháp đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô Thứ sáu. dư luận đang quan tâm.hueuni. lượng tiền cung ứng để đảm bảo cân đối ngoại tệ cần chuyển đổi tăng lên. lãi suất tăng lên.php/110/tientevanganhang/htm/c3.8%. phấn đấu tăng trưởng kinh tế 6.htm Ngày gửi: 22/12/2008 . Khi tỷ giá ngoại tệ giảm. cầu tiền tệ giảm. lợi nhuận giảm. do từ tháng . Ông cũng cho biết: “Trong thời gian tới. lo ngại khi chỉ số giá tiêu dùng quý I tăng 4. nhu cầu đầu tư giảm. ngân hàng trung ương sẽ theo đuổi một chính sách tiền tệ thặt chặt hơn.

tiền tệ. đảm bảo khả năng thanh toán. dường như gánh nặng dồn lên vai chính sách tiền tệ? Không hẳn như thế. tháng 4: 4.000 tỷ đồng. Trong quý I/2010. lãi suất và tỷ giá diễn biến theo xu hướng ổn định. rủi ro hệ thống tài chính vẫn có nguy cơ xảy ra. tháng 8: 2. điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trưởng mở. Thanh khoản của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. áp lực đối với tín dụng ngân hàng vẫn còn lớn. Chính phủ đã chỉ đạo các bộ. quyết liệt thì chắc chắn thực hiện được mục tiêu Quốc hội đề ra. Về cơ bản hoạt động ngân hàng an toàn. tháng 11: 2. NHNN đã điều chỉnh giảm dự trữ bắt buộc tiền gửi bằng ngoại tệ.01%. điều tiết lãi suất và tỷ giá theo hướng ổn định. giữ ổn định các mức lãi suất cơ bản. ngành phân tích. tái cấp vốn.7/2009. kinh tế trong nước phục hồi nhưng có nhiều thách thức và khó khăn.33%. kiểm soát tăng trưởng tín dụng ở mức thấp (năm 2009. Vào những ngày giáp Tết. tháng 7: 2. tháng 2: 1. nhưng chịu sự chi phối và điều chỉnh chung bởi một hệ thống văn bản pháp luật. tái cấp vốn để hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD và nền kinh tế. lãi suất đang có vấn đề nhưng các biện pháp chưa đạt hiệu quả cao? Trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chưa vững chắc. Kho bạc Nhà nước. Trước tình hình đó. hệ thống NHTM nước ta chưa đồng đều. bám sát các mục tiêu tiền tệ đã được xác định để điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ. dài hạn bằng VND.16%. cần phải thực hiện đồng bộ các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tài khóa. điều chỉnh tỷ giá tăng cho phù hợp với cung – cầu thị trường và mục tiêu kinh tế vĩ mô. thận trọng với mục tiêu là kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán khoảng 20% và tín dụng khoảng 25%. Trong thời gian cuối năm 2009 và dịp Tết Nguyên đán Canh Dần. thương mại và giá cả…. có chênh lệch lớn về quy mô. tháng 6: 4.75%. tái chiết khấu. để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô theo Nghị quyết của Quốc hội.34% so với cuối năm 2009.11%. quản lý giá thị trường. Để thực hiện các mục tiêu này. Tuy nhiên. tháng 5: 4. NHNN hỗ trợ các NHTM lên đến 70. NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động. Mục tiêu năm 2010 là kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng không quá 7% và đảm bảo tăng trưởng kinh tế khoảng 6. NHNN đã hỗ trợ kịp thời để đảm bảo khả năng an toàn thanh khoản. tổng tài sản chỉ vài ngàn tỷ đồng. chi tiêu ngân sách nhà nước. NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và thận trọng. trong đó chú trọng các giải pháp đảm bảo cân đối lớn của nền kinh tế như xuất nhập khẩu. làm rõ những nguyên nhân chỉ số giá tiêu dùng tăng ở mức cao và thực hiện các giải pháp đồng bộ để kiểm soát giá cả hàng hóa.000 tỷ đồng nhưng rút .47%. tháng 10: 2. có ngân hàng tổng tài sản gần 500. các NHTM gặp khó khăn về thanh khoản do một số NHTM dự trữ thanh toán thấp và tổ chức kinh tế. áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung.65%. Bảo hiểm xã hội rút khoảng 60. NHNN tiếp tục nâng cao chất lượng công tác dự báo kinh tế vĩ mô và tiền tệ.72 và quý I/2010 dư nợ tín dụng tăng 3.33%. ngay từ đầu năm. tháng 1: 0.5%. nhập siêu. linh hoạt. Nhận thức được điều đó. một số ngân hàng quy mô nhỏ. trong đó. tháng 12: 0. nhiệm vụ của chính sách tiền tệ khá nặng nề. Trong thời gian tới. Các giải pháp này được triển khai một cách đồng bộ. tháng 9: 3. góp phần đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô trong năm 2010.4%.01%. chỉ có vài ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán. tháng 3: 4.000 tỷ đồng để giải ngân theo tính quy luật hàng năm.46%. phối hợp đồng bộ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác theo chỉ đạo của Chính phủ.

Với tốc độ tăng trưởng tín dụng là 3. gây lên sự thiếu minh bạch trong khuyến mại huy động vốn. Huy động vốn đang có xu hướng tăng trở lại.8% so với cuối năm 2009. Có ý kiến phê bình chúng tôi do không bơm mạnh thêm lượng tiền cung ứng trong tháng 1 và 2 nên thanh khoản và tín dụng tăng chậm. các ngân hàng nước ngoài. Quỳnh Anh E-mail Bản In http://vccinews. Nếu thực hiện cơ chế cho vay ngắn hạn bằng VND theo lãi suất thỏa thuận.dần về sau Tết Nguyên đán. chỉ đạo các NHTM Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn và điều chỉnh lãi suất giảm dần phù hợp diễn biến nền kinh tế. đến cuối tháng 3 tăng 3. nhưng thị trường thì phải theo quan hệ cung-cầu. khối lượng lớn hơn so với trước đây. tín dụng tăng 3. lãi suất huy động và cho vay của các NHTM đang ở mức cao. không để lạm phát cao và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 6.34% so cuối năm 2009. giám sát đạt hiệu quả chưa cao. đặc biệt là tiền gửi của dân cư tăng 9. tương ứng với quý I cùng kỳ các năm diễn biến bình thường (Quý I/2006 tăng 0. thu phí cho vay. ngân hàng 100% vốn nước ngoài.5%”. Thực hiện Nghị quyết của Chính phủ “về những giải pháp đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. chúng ta áp dụng lãi suất cơ bản đúng theo Bộ luật Dân sự và Luật NHNN. Tôi tin chắc các NHTM Việt Nam. NHNN sẽ triển khai các giải pháp điều hành lãi suất thỏa thuận phù hợp với cơ chế thị trường. ngân hàng liên doanh luôn luôn đồng thuận chính sách của Chính phủ. trong đó có lợi ích của ngân hàng mình. Trong quý I/2010. Bất cập này cùng với việc chưa điều chỉnh kịp thời các quy định của pháp luật. Nhưng có ý kiến đánh giá nếu bơm tiền cung ứng mạnh thêm trong hai tháng đầu năm sẽ tác động mạnh làm tăng chỉ số giá tiêu dùng và có thể cao hơn 4. tổng phương tiện thanh toán và tín dụng có xu hướng tăng dần. NHNN đã và đang thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ để ổn định lãi suất thị trường theo xu hướng giảm dần như tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với NHTM với kỳ hạn dài hơn.51%). hỗ trợ thông qua tái cấp vốn và hoán đổi ngoại tệ. xét theo lãi suất thực dương và khả năng hấp thụ của nền kinh tế.2% cho thấy người dân tin tưởng vào hệ thống ngân hàng. với ý thức chính trị của mình hoạt động vì lợi ích chung của đất nước.vn/?page=detail&folder=70&Id=758 • • Kinh tế Ngày cập nhật 27/04/2010 07:47:00 Chính sách lãi suất: Từ lý thuyết đến thực tế . quý I/2007 tăng 4. huy động vốn do cạnh tranh có thể gây ra lãi suất tăng cao không? Hiện nay. hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy hoạt động tốt đẹp này. phát triển hệ thống ngân hàng.9%. Đối với lãi suất.12%.34%. Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam phát huy mạnh mẽ và động viên tích cực các ngân hàng hội viên góp phần quan trọng trong việc ổn định. công tác thanh tra. ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.

song nhập siêu vẫn ở mức đáng lo ngại (xuất khẩu đạt 14 tỷ USD.23%. vẫn nổi lên những vấn đề tranh luận xoay quanh việc điều hành chính sách lãi suất của NHNN. nhập siêu đạt 3. chuyên gia tài chính bàn luận sôi nổi và đưa ra nhiều giải pháp tại Diễn đàn “Áp lực lạm phát và chính sách tài chính .giúp cho một NHTƯ xác định được các tỷ lệ lãi suất trong ngắn hạn khi các điều kiện kinh tế thay đổi để đạt được hai mục tiêu là ổn định kinh tế trong ngắn hạn và kiểm soát lạm phát trong dài hạn).Cơ chế điều hành lãi suất. nhập khẩu đạt 17. nhiều quan hệ kinh tế chưa thực sự mang tính thị trường thì việc vận dụng các nền tảng lý thuyết (điển hình như quy tắc Taylor . Trong đó. hoạch định chính lãi suất của NHNN cần phải xem xét đến các yếu tố thực tế.tiền tệ”. lãi suất là một trong những công cụ điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của NHTƯ để đạt được mục tiêu tôn chỉ đó.5 tỷ USD). cao hơn rất nhiều mức tăng 9% của quý I/2009. mặc dù đã có những giải đáp cụ thể về chính sách điều hành song trong những tháng đầu năm 2010. đặc biệt là việc dỡ bỏ trần lãi suất huy động có được thực hiện hay không đã gây ảnh hưởng không tích cực đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng. . để đạt được mục tiêu định hướng nêu trên.83%. chính sách tỷ giá trước áp lực lạm phát trong giai đoạn hiện nay đã được các nhà nghiên cứu.5 tỷ USD. lạm phát tuy vẫn trong tầm kiểm soát nhưng đang có xu hướng tăng trở lại. Thực trạng của nền kinh tế VN hiện nay đang phải đối mặt với áp lực lạm phát và với sức phục hồi nền kinh tế còn thiếu vững chắc. vốn đầu tư toàn xã hội tăng 26. Báo DĐDN xin trân trọng giới thiệu tóm lược một số ý kiến của TS Nguyễn Thị Kim Thanh Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng. để hoạch định chính sách lãi suất cần có sự linh hoạt. Một trong những vấn đề của năm 2009. Trong điều kiện như hiện nay. Dù tăng trưởng kinh tế quý 1/2010 đạt 5. Cần linh hoạt Mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của phần lớn NHTƯ của các nước trên thế giới cũng như NHNN VN là ổn định giá trị đồng tiền của quốc gia – thông qua việc kiểm soát lạm phát. Đối với các nền kinh tế thị trường chưa phát triển như VN. cao hơn nhiều mức tăng trưởng quý 1/2009. bám sát mục tiêu định hướng phát triển kinh tế xã hội cũng như các diễn biến thực tế của thị trường.

Đối với những ngân hàng có vốn nhỏ vẫn có sức mạnh trong cạnh tranh thị trường. và những biểu hiện của thị trường những tháng đầu năm 2010 là sự biểu hiện rõ nét của tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh. song với một cấu trúc thị trường tồn tại nhiều NHTM có vốn và thị phần thấp thường nảy sinh những hành vi hạn chế cạnh tranh hay cạnh tranh không lành mạnh. năng lực quản trị. 3 NHTM mà trong đó Nhà nước chiếm cổ phần chi phối.Cho đến thời điểm hiện nay có thể thấy hệ thống Ngân hàng VN đã có sự phát triển vượt bậc về nhiều mặt. nguồn vốn vay của các NHTM từ NHNN để đáp ứng thanh khoản tăng. nhưng ở chừng mực nào đó nó làm giảm hiệu quả của chính sách tự do hóa lãi suất. với mức lãi suất huy động mà NHNN đã khuyến cáo các NHTM cần thực hiện theo thỏa thuận của Hiệp hội Ngân hàng là 10. thị phần huy động vốn và cung ứng tín dụng khoảng 60%. 1 ngân hàng chính sách xã hội) vốn điều lệ đã chiếm 27.. Ngân hàng Chính sách xã hội. Mức độ lớn về vốn điều lệ và tài sản quyết định khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Xét trong hệ thống các TCTD với 73 ngân hàng và 8 tổ chức tín dụng phi ngân hàng chỉ có một số ít NHTM có vốn điều lệ và tài sản lớn. Mặt khác. Riêng khối NHTM nhà nước (2 NHTM NN. Ngoài các khoản vay áp dụng cơ chế hỗ trợ lãi suất trong thời gian qua. nhưng phản ứng của các NHTM là vẫn đua nhau tăng mức lãi suất huy động cao hơn dưới nhiều hình thức. Khi NHNN thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với cho vay trung hạn. Trong quý 1/2010. thông qua vị thế mạnh của mình trong hệ thống. thì chúng ta cũng có không ít các dự án. đặc biệt trong việc ứng dụng các công nghệ ngân hàng mới.28% tổng vốn điều lệ của cả khối. khả năng cạnh tranh của các thành viên trên thị trường tài chính không đồng đều. Mức lãi suất này đã hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của các NHTM (mức tăng trưởng tín dụng quý 1 chỉ đạt 3. vì khi đó lãi suất hình thành trên thị trường chưa phản ánh đúng cung cầu vốn nên việc phân bổ nguồn vốn qua công cụ lãi suất cũng bị méo mó. Cân nhắc lợi ích . các NHTM đã đẩy mức lãi suất cho vay rất cao. với nhóm ngân hàng lớn. Các chính sách ưu đãi này là cần thiết trong quá trình phát triển nền kinh tế hiện nay. đó là thị phần tín dụng áp dụng mức lãi suất chính sách là không nhỏ. tính bền vững trong phát triển chưa cao.5% và lạm phát mục tiêu của Chính phủ là 7% thì đã đảm bảo một mức lãi suất thực hợp lý cho người gửi tiền. từ đó có thể gây ra khủng hoảng ngân hàng.. điều đó cho thấy vốn của các NHTM không khan hiếm. Mức chênh lệch trong chiếm lĩnh thị phần của một ngân hàng lớn nhất với một ngân hàng lớn kế tiếp là tương đối lớn. Trong cấu trúc thị trường hiện nay. năng lực tài chính. Dư nợ tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội và ngân hàng phát triển chiếm khoảng 12. nếu không có những biện pháp ngăn chặn sẽ gây ra những bất ổn của hệ thống ngân hàng. Những hiện tượng này biểu hiện sự bất cập lớn của thị trường.. các lĩnh vực sản xuất được áp dụng lãi suất ưu đãi được thực hiện thông qua Ngân hàng Phát triển. những hành vi chi phối thị trường của các ngân hàng này có thể gây ảnh hưởng tới tác động tổng thể của chính sách NHNN nói chung và chính sách lãi suất nói riêng..34%).1% tổng dư nợ trong nền kinh tế. Tuy nhiên. các dự án đầu tư phát triển được sử dụng các nguồn vốn ưu đãi ODA khác nữa. Tình trạng đua nhau tăng lãi suất cho vay và lãi suất huy động trong năm 2008. khoảng 18%. tăng trưởng tín dụng không cao. Do vậy. còn có một đặc điểm ảnh hưởng không nhỏ đến tính hiệu quả của tự do hóa lãi suất.

Như vậy có nghĩa là các NHTM vẫn có thể tăng lãi suất huy động để cạnh tranh thu hút vốn nếu như NHNN dỡ bỏ trần lãi suất huy động vào thời điểm này. Do vậy. với xu hướng này.. Hơn nữa. theo kết quả ước lượng mô hình đánh giá tác động của lãi suất thực lên tăng trưởng kinh tế theo phương pháp OLS (41 quan sát từ quý 1/2000 đến tháng 3/2010 với mức ý nghĩa 10%) cho thấy khi lãi suất thực cho vay ngắn hạn tăng 1% sẽ làm tăng trưởng kinh tế giảm 0. Vì vậy mức độ biến động của lãi suất thực mới chỉ giải thích được 12. xét về góc độ lãi suất thực tác động đến tăng trưởng kinh tế. vấn đề tỷ giá nổi lên như một điểm nhấn của sự ổn định.04% so với quý trước. tăng trưởng kinh tế. chính sách lãi suất tiền đồng cũng phải giải quyết hài hòa mối quan hệ này. trung bình trong 3 tháng đầu năm 2010 khoảng 2. Tuy nhiên lãi suất thực đang có xu hướng giảm bắt đầu từ tháng 2 do ảnh hưởng của tốc độ gia tăng CPI. khi cân nhắc lợi ích thu được từ các quyết định đầu tư.) đã phải hướng tới sự ổn định này. chính sách lãi suất của NHNN cùng hàng loạt chính sách khác (như yêu cầu các TCty lớn bán ngoại tệ cho NHNN. quy định trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các DN. sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất không được gây ra những cú sốc thị trường. điều chỉnh tỷ giá công bố. tạo tín hiệu áp lực lạm phát. Trong năm 2009. đảm bảo tính ổn định và thực hiện các mục tiêu kiểm soát lạm phát.là đặc điểm nổi bật của thị trường tài chính của VN hiện nay. Đánh giá tác động của lãi suất thực đến tăng trưởng kinh tế. Nhìn vào thực tế của VN hiện tại. Đặc điểm này dễ gây nên những kỳ vọng về lạm phát trước bất cứ một động thái chính sách kinh tế vĩ mô nào. một tín hiệu nâng lãi suất chính sách có thể tạo ra kỳ vọng về lạm phát. Mặt khác. dẫn đến phản ứng theo “bầy đàn”. Và trong trường hợp này.chưa kể đến các hình thức khuyến mãi khác. nhất là chính sách tiền tệ một chính sách theo đuổi mục tiêu lạm phát là trụ cột. Tuy nhiên ngoài lãi suất thực còn nhiều yếu tố khác tác động lên tăng trưởng kinh tế. lãi suất nội tệ. Điều này sẽ gây ra những rối loạn thị trường.Thực tế cho thấy các nhà đầu tư nắm bắt thông tin thị trường không đầy đủ. Điều này là hoàn toàn phù hợp với lý thuyết về mối quan hệ ngược chiều giữa lãi suất. . kinh doanh. Về lý thuyết.8% . tạo áp lực lên tỷ giá. các chủ thể trong nền kinh tế thường quan tâm đến mức lãi suất thực mà mình được nhận được là bao nhiêu. Vì vậy mục tiêu theo đuổi của chính sách lãi suất phải nằm trong mục tiêu của CSTT.3% biến động của tăng trưởng kinh tế. quá trình hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất trong từng thời kỳ luôn phải đảm bảo mục tiêu bao trùm của CSTT là ổn định tiền tệ. mức lãi suất thực mà người gửi tiền nhận được là mức lãi suất thực dương.. với mức chênh lệch quá lớn giữa lãi suất nội tệ với lãi suất ngoại tệ cộng (+) với mức kỳ vọng về tỷ giá sẽ làm dịch chuyển sự nắm giữ giữa nội tệ và ngoại tệ của các thành viên trong thị trường. Chính sách lãi suất là một công cụ của CSTT. thường để theo đuổi mục tiêu lãi suất thực dương thì lãi suất danh nghĩa sẽ được tăng dần. điều chỉnh dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ. đầu tư và tổng sản lượng trong nền kinh tế. Đây là nguyên tắc cơ bản trong hoạch định chính sách lãi suất từng thời kỳ. thì hiện nay các nhà đầu tư vay vốn ngân hàng đang chịu một mức lãi suất thực tương đối cao. Điều đó có nghĩa. hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. kiểm soát lạm phát. lãi suất ngoại tệ và tỷ giá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Hướng tới tự do hóa lãi suất Là một nền kinh tế USD hóa.

hỗ trợ thông qua tái cấp vốn và hoán đổi ngoại tệ và chỉ đạo các NHTM nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn và điều chỉnh lãi suất giảm dần phù hợp diễn biến nền kinh tế. từ đó sẽ giảm bớt gánh nặng cho khu . chính sách này phải giải quyết được những mối quan hệ ràng buộc và bất cập hiện nay trên thị trường tiền tệ. khối lượng lớn hơn so với trước đây. nền kinh tế dần ổn định thì việc tháo dỡ trần lãi suất huy động cũng sẽ được thực hiện nhằm tuân thủ các nguyên tắc trên con đường tự do hóa lãi suất đã lựa chọn. Theo đó. cũng như là diễn biến của lãi suất thực huy động có thể làm kỳ vọng lạm phát gia tăng nên việc thực hiện duy trì mức lãi suất trần trong giai đoạn này là cần thiết để bình ổn mặt bằng lãi suất. Theo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới. Đối với lãi suất huy động. như lãi suất tái cấp vốn. nhưng đồng thời cùng với các công cụ chính sách khác thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển. có cơ sở đầy đủ cho việc xây dựng các giải pháp điều hành trong dài hạn. ổn định mặt bằng lãi suất để kiểm soát lạm phát hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô là nhiệm vụ trước mắt và trọng tâm của ngành ngân hàng trong năm 2010. Đó là áp lực lạm phát gắn với hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.Vì vậy. bên cạnh sự nỗ lực của toàn ngành ngân hàng. Đồng thời trong thời gian này NHNN cũng sẽ tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với NHTM với kỳ hạn dài hơn. do những bất cập về cấu trúc thị trường hiện nay làm nảy sinh tình trạng cạnh tranh lãi suất thiếu lành mạnh. Tuy nhiên để hỗ trợ cho các giải pháp ngắn hạn này có hiệu quả. khi các xu hướng đầu tư đã rõ nét. và từng bước tạo dựng những điều kiện cần thiết để tự do hóa lãi suất. để có thể phát huy được tốt vai trò định hướng của lãi suất cơ bản thì bản thân NHTƯ của quốc gia đó phải xác định được những mục tiêu điều hành cụ thể trên cơ sở định lượng cụ thể về lạm phát. Do vậy. lãi suất chiết khấu. Trên cơ sở mức lãi suất cơ bản. hoặc lãi suất ngắn hạn mà tại đó nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng. Trước mắt. phải thiết lập một mức lãi suất cơ bản định hướng được lãi suất thị trường.Trên nguyên tắc đó. Lượng tiền cung ứng sẽ được điều tiết hợp lý để đảm bảo các mức lãi suất mục tiêu. việc hoàn thiện cơ chế hình thành lãi suất cơ bản – làm cơ sở định hướng chuẩn cho lãi suất thị trường liên ngân hàng. Để thực hiện nhiệm vụ đó. thị trường tiền tệ là một việc cần thiết phải thực hiện trong thời gian này. giảm dần cho vay với lãi suất ưu đãi. phát triển các thị trường nợ một cách có hiệu quả. trong năm 2010 hai vấn đề nổi lên mà chính sách lãi suất cần hướng tới nhiều hơn. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất. lãi suất cho vay qua đêm và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở nhằm chủ động điều tiết lãi suất thị trường và các hành vi cho vay. Song với thực trạng nền kinh tế đang phải đối mặt với những bất cập của thị trường tiền tệ thì áp dụng cơ chế kiểm soát lãi suất trực tiếp là cần thiết. hình thành đồng bộ các mức lãi suất chỉ đạo. đi vay của các thành viên trên thị trường tiền tệ. ngành ngân hàng đang triển khai những giải pháp ứng phó kịp thời. cũng rất cần thiết phải có sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ của các bộ ngành hữu quan trong việc cơ cấu lại thị trường tài chính. Tuy nhiên về lâu dài. tăng trưởng. tự do hóa lãi suất là mục tiêu cần hướng tới để đảm bảo sự vận hành của thị trường về cơ bản tuân theo quy luật cung cầu. phân bổ nguồn vốn hợp lý.

Và dĩ nhiên. Thống đốc nói gì về "chuyện trong nhà" xung quanh gói hỗ trợ này? Nếu như 2008 là năm lạm phát cao. đã phải đối mặt với suy giảm.Thứ Hai. nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước cũng phải bám vào mục tiêu này. "Không giống bất kỳ gói kích thích kinh tế nào" Có lẽ gói hỗ trợ lãi suất ngắn hạn là điểm nổi bật của hoạt động điều hành chính sách tiền tệ năm 2009. 8/2/2010 Hai năm liên tiếp.htm Chính sách lãi suất.. tỷ giá. khi nền kinh tế gặp khó khăn thì Ngân hàng Nhà nước là cơ quan phải gánh chịu nhiều áp lực. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu đã có những chia sẻ với bạn đọc VnEconomy về trách nhiệm của cơ quan này. tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý và đảm bảo an sinh xã hội. hỗ trợ lãi suất ngắn hạn cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. dưới góc nhìn Thống đốc 13:11 (GMT+7) . Trước diễn biến phức tạp của nền kinh tế. 10/10/2010 E-mail Ý kiến (3) Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu.năm mới. Trong một ngày giao thời giữa năm cũ .com/kinh-te/20100427/35AA39BF/Chinh-sach-lai-suat-Tu-lythuyet-den-thuc-te. buộc phải thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt thì sang 2009.vực ngân hàng trong việc cung cấp vốn phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế của cả nước. Chính phủ đã ban hành Quyết định 131/CP. Chính phủ phải điều chỉnh mục tiêu: ổn định kinh tế vĩ mô.Chủ Nhật. ▪ NGUYỄN HOÀI 02:30 (GMT+7) . ngăn ngừa lạm phát. trị giá 1 tỷ .timnhanh. http://tintuc. tình hình kinh tế vĩ mô có phần phức tạp hơn mà biểu hiện rõ nét nhất là nền kinh tế chưa kịp "cắt cơn" lạm phát..

ngân hàng thương mại là tổ chức có đủ điều kiện vật chất để đảm bảo cho hàng triệu khoản vay được thực hiện an toàn. Ngân hàng Nhà nước đã lường trước những hiệu ứng phụ không mong muốn. Thực tế này trái với dự kiến kế hoạch đầu năm: nếu tăng trưởng kinh tế khoảng 6. Chính phủ giao cho Ngân hàng Nhà nước chủ động đề xuất phương án triển khai. Tôi đã báo cáo với Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng một số "vấn đề" xung quanh gói hỗ trợ lãi suất. Ngân hàng Nhà nước tính toán tăng trưởng tín dụng từ 21% . bởi lúc đó.000 USD/người/năm là hợp lý. Kế hoạch và Đầu tư. Thứ hai.5%.2 lần GDP. phải chọn ổn định" Cuối quý 4/2009. ở chỗ: nguồn vốn là của ngân hàng thương mại được giải ngân theo cơ chế thông thường nhưng được Chính phủ hỗ trợ 4% lãi suất. thị trường tiền tệ bắt đầu xuất hiện sức ép tăng trưởng tín dụng. Vụ Chính sách tiền tệ đã phác thảo xong bộ "khung" và trình lên phương án sử dụng chính các tổ chức tín dụng để giải ngân gói kích thích này. gắn lợi ích và trách nhiệm của các ngân hàng với gói kích thích. ngân hàng thương mại khơi thông được tín dụng với lãi suất cho vay gần tương tự điều kiện nền kinh tế hoạt động bình thường. nhưng cuối cùng. điều mà không một hệ thống ngân hàng của quốc gia nào làm được tại thời điểm đó. chẳng hạn như doanh nghiệp nhỏ và vừa. Phương án thứ hai là chỉ hỗ trợ một số khu vực. đến tháng 7/2009. giống như gói kích thích của Trung Quốc. là nên dành cho một số công trình lớn làm động lực kích thích các ngành phụ trợ phát triển. tương đương mức 3 . Thứ nhất. đảm bảo thu nhập bình quân đầu người khoảng 1. "Lúc khó khăn. như việc tăng trưởng tín dụng cao đã gây sức ép lên thị trường ngoại hối do doanh nghiệp vay VND nhiều nên mua ngoại tệ nhiều để nhập khẩu nhiều. một số nhà tư vấn chính sách cho rằng nên gia hạn gói hỗ trợ lãi suất thêm một thời gian. trong khi phương pháp khác không thể đạt được yêu cầu này. Ngân hàng Nhà nước đều vào cuộc xử lý và bàn đi tính lại nhiều lần. ông Cao Sĩ Kiêm. Mặc dù giải pháp này không giống bất kỳ gói kích thích kinh tế nào trên thế giới. Chỉ hai ngày sau. Để đưa gói hỗ trợ lãi suất vào thực tiễn. và quả đúng như vậy. một bộ phận doanh nghiệp vay hợp pháp tại ngân hàng này nhưng gửi . Cùng đó. nhưng chúng có khá nhiều ưu điểm. Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa có đưa ra những con số bi quan về tình trạng hoạt động của doanh nghiệp: 20% phá sản. Mặc dù bộ trưởng các bộ Tài chính.3.23%. thưa Thống đốc? Khi triển khai gói hỗ trợ lãi suất. ngày 17/1/2009. Vì sao vậy và quyết định này liên quan gì đến đồn đoán "Ngân hàng Nhà nước sắp thắt chặt tiền tệ". Nhờ đó. ban đầu có khá nhiều ý kiến khác nhau nhưng tập trung chủ yếu ở hai phương án. Kèm theo đó là cơ chế "hậu kiểm" nên nhìn chung làm yên tâm trước một số nghi ngại. 60% khó khăn và chỉ 20% có thể trụ vững. Phương án thứ nhất.USD. có vẻ như Chính phủ đã "nghiêng" theo giả thuyết này nhưng về sau lại dừng đúng hạn 31/12/2009.

Phải hiểu là sự thay đổi chính sách linh hoạt của ngân hàng trung ương nói là linh hoạt nhưng phải hết sức cẩn trọng. tại kỳ họp Quốc hội. họ duy trì lãi suất 0. từ tháng 3 đến nay là 2%/năm.5% năm và từ đó đến nay là 0. Trên thế giới hiện nay. bất cứ quốc gia nào cũng phải chọn lựa như thế: lúc thuận lợi thì chọn tăng trưởng. và một trong những thách thức lớn là điều hành chính sách tỷ giá. Cũng có người đặt vấn đề vì sao không điều chỉnh sớm hơn một hoặc hai tháng nhưng nếu điều chỉnh sớm. coi đó như một điều kiện tiên quyết. .25%/năm. tháng 2: 1%/năm.5%/năm đến 1%/năm. Thực ra. phải chọn ổn định. giao cho chính các ngân hàng thương mại trực tiếp kiểm tra mục đích sử dụng các khoản vay đã giải ngân và quá trình đó vẫn kéo dài cho đến nay. Để làm được điều này.31% từ đầu năm đến nay. cơ quan này đã quyết định dừng gói hỗ trợ lãi suất đúng hạn với lý do: mục tiêu hàng đầu là ổn định kinh tế vĩ mô. Đối với Trung Quốc.5%/năm. chứ không điều chỉnh từ tháng 12/2009. Thống đốc nói gì về vấn đề này trong năm 2010? Trả lời vấn đề này thì phải nhìn rộng ra bối cảnh xung quanh nước mình. sẽ ảnh hưởng rất xấu đến chính sách vĩ mô. Tỷ giá là vấn đề rất khó của quốc gia. Một xu hướng khác là thực hiện tỷ giá thả nổi theo kiểu "nước lên thuyền lên".ngân hàng kia để hưởng lợi chênh lệch lãi suất khoảng 2%/năm lúc đó. Ngân hàng Nhà nước đã phát hiện ra sự gian dối này nên kịp thời lập kế hoạch thanh tra. hoạt động điều hành của Ngân hàng Nhà nước đã đạt được những mục tiêu do Chính phủ đề ra nhưng ở một số thời điểm còn thận trọng đến mức rụt rè và chưa linh hoạt. họ tích lũy dự trữ ngoại hối rất lớn trong vòng 3 năm sau. theo dự kiến của chúng tôi. lãi suất cơ bản là 5. lãi suất trong tháng Giêng sẽ điều chỉnh thêm từ 0.25%/năm. điều hành tỷ giá nhìn chung có hai xu hướng. Tất nhiên. nhưng về sau có thể lên tới 4 . lúc khó khăn. suốt cả năm. cán cân thương mại Trung Quốc xuất siêu từ 1991. chúng tôi thấy có thể làm lỡ nhịp hệ thống ngân hàng nếu theo hướng này. mặc dù ngân hàng huy động được nhiều vốn hơn nhưng nhìn lợi ích toàn cục. mới công bố phá giá. tôi đã nêu thẳng quan điểm: nếu kéo dài chính sách hỗ trợ lãi suất ngắn hạn. Malaysia: tháng 2: 2. tháng 3 là 0. vì chính sách lãi suất luôn gắn liền với chính sách tỷ giá. Quyết định của Quốc hội cũng được Thủ tướng nhấn mạnh thêm một lần nữa tại phiên họp Chính phủ thường kỳ sau đó là "tập trung cho ổn định kinh tế vĩ mô". Quốc gia láng giềng của Việt Nam là Trung Quốc thực hiện chính sách tỷ giá "chốt cố định" rất nhiều năm.5%/năm. từ tháng 3 đến nay ổn định 0. lúc này chưa cần bàn tới tăng trưởng. Mặt khác. Anh: tháng 1: 1. mãi tới tháng 1/1994 mới phá giá 50%. Tại Mỹ. Canada: tháng 1 và tháng 2/2009 là 1%/năm.5%/năm.5%/năm. Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ của tháng 11/2009. Còn năm 2010. "Nhiều người khuyên tôi nên phá giá thêm" Theo đánh giá chung của các chuyên gia. cân nhắc giữa "được" và "mất".

nợ doanh nghiệp và tác động lạm phát. lập tức giá xăng tăng thêm. có kiểm soát của nhà nước. một ông 4. một ông 2. Agribank. chất lượng tài sản thấp thì vay vốn ngân hàng khó khăn hơn và phải chấp nhận lãi suất cao hơn. linh hoạt và thận trọng" Vậy còn một số mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong năm tới cụ thể như thế nào. Vietinbank hay Vietcombank. khách hàng cũng năm bảy loại chứ không phải như nhau. việc điều hành bằng công cụ phi thị trường đã hình thành "cơ chế hai giá" đối với cả lãi suất và tỷ giá ngay trong hệ thống ngân hàng. tổng phương tiện thanh toán (M2) tăng khoảng 28% do tăng trưởng tín . do đó. cơ cấu vốn dài hạn chiếm tỷ trọng cao nên họ cho vay lãi suất thấp hơn và phải cho vay nhiều hơn thì mới hiệu quả. nhiều đơn hàng. Trong đó.000 tỷ đồng cùng chung một môi trường hoạt động thì rất khó cho cả cơ quan điều hành và các tổ chức kinh doanh. thưa Thống đốc? Đã là thị trường thì phải tuân theo quy luật cung cầu và giá cả. đang theo đuổi chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt theo cung cầu thị trường. tất nhiên là lãi suất cao. Xét ở góc độ ngân hàng thương mại. Thử hỏi. thưa Thống đốc? Mục tiêu điều hành kinh tế của Chính phủ trong năm tới là "tăng trưởng kinh tế 6. vùng xa. mục tiêu tổng quát của Ngân hàng Nhà nước là "chủ động. sẽ phình chỗ kia". tôi có nghe nói có chuyện "hai giá" theo kiểu "hợp đồng ký một đằng". có quản lý. đẩy các giá các hàng hóa khác cao thêm. Và điều này không có ở những ngân hàng lớn như BIDV. Ví dụ.5%. nhóm doanh nghiệp làm ăn kém cỏi. ai chịu nổi? Chưa kể.000 tỷ đồng. Ngược lại. điều kiện của mình hiện nay như thế thì trước mắt cũng phải tạm chấp nhận như vậy. tôi cũng nhận thấy một bất hợp lý là giữa các ngân hàng có quy mô vốn khác nhau. "Khách hàng cũng năm bảy loại chứ không phải như nhau" Có nghi ngại rằng. Gần đây. Năm 2009. linh hoạt và thận trọng". nhóm đối tượng này khi quan hệ với ngân hàng sẽ dễ dàng hơn cả về điều kiện vay cũng như giá vốn. điều chỉnh tỷ giá còn tác động mạnh đến lạm phát. "Chủ động. Do đó. Còn những ngân hàng nhỏ thì phải bươn chải cho vay vùng sâu. vay nợ lúc 7 nghìn VND/USD nhưng sau đó phải trả tới 13 nghìn hay 18 nghìn VND/USD. Nhiều người khuyên tôi nên phá giá thêm. Tuy nhiên. lạm phát dưới 7%". làm ăn ngon lành. khi giá xăng dầu đang là 78 USD/thùng. Xử lý bất cập này như thế nào. "tiền trao cháo múc" một nẻo thì đó chỉ là một bộ phận nhỏ tại một vài ngân hàng thôi. nhưng Ngân hàng Nhà nước phải cân đối với nhiều vấn đề: nợ quốc gia. Đó là điều khó tránh khỏi trong hoạt động thị trường. nếu điều chỉnh tăng tỷ giá. ngân hàng lớn bao giờ cũng dư dả vốn.Đối với Việt Nam. bởi "cấm chỗ này. Có loại khách hàng có tài sản tốt. Tuy nhiên. vay vốn ngân hàng chưa đến hạn đã trả nợ sòng phẳng.

Việt Nam cũng đang thận trọng. khi đọc cùng một lúc 3 quyết định trên. thì trong năm 2010.3 lần là do chống suy giảm kinh tế nên phải chấp nhận như vậy.84 lần là phù hợp http://vneconomy. chiết khấu hoặc chuyển nhượng tín phiếu bắt buộc của NHNN. Nhiều quốc gia châu Á đã "quay về" kích thích thị trường nội địa để duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức khiêm tốn. Tôi lấy ví dụ: các ngân hàng thương mại có thể cho vay tiêu dùng. Trước hết. nhưng chưa thật vững chắc do giá lương thực. tương đương 7. Ngân hàng Nhà nước đã có quyết định giữ nguyên lãi suất cơ bản 14%/năm. Tôi đánh giá rất cao các quyết định này không chỉ bởi tính thời điểm của nó. tới mức định bốc máy gọi điện chúc mừng Thống đốc Nguyễn Văn Giàu như tôi vẫn thường làm.6%/năm lên 5%/năm và cho phép các NHTM được cầm cố chiết khấu và chuyển nhượng tín phiếu bắt buộc trên thị trường thứ cấp. tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc. Điều này giúp các NHTM có điều kiện cấu trúc lại lãi suất theo kỳ hạn và rủi ro như nó vốn thế. ổn định kinh tế vĩ mô.htm Ba quyết định và những tác động lớn về chính sách tài chính tiền tệ (Cập nhật ngày: 30/09/2008) Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã làm cạn kiệt nguồn tín dụng quốc tế và suy giảm kinh tế toàn cầu. Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển Ngân hàng. kiên nhẫn vượt qua khó khăn theo cách này và có lẽ đây là bước đi đầu tiên theo hướng đó. chỉ số này chỉ duy trì 3. Nó cũng cho thấy. trong khi chỉ số giá phi lương thực. ngày 26/9/2008. Rõ ràng là cả 3 quyết định nói trên đã mang lại lợi ích kép cho doanh nghiệp. Lê Xuân Nghĩa: Thú thực. tốc độ tăng trưởng M2 và tăng trưởng tín dụng chỉ ở mức 25%. PV: Thưa TS. Bởi. Tuy nhiên. chỉ số tăng trưởng tín dụng/GDP (28%/5. Giữ lãi suất cơ bản tức là giữ mức lãi suất cho vay tối đa. mà cả ở tầm nhìn trung hạn. các quốc gia này đều gặp trở ngại là lạm phát khá cao. việc giữ nguyên lãi suất cơ bản trong khi tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc và cho phép chiết khấu tín phiếu bắt buộc có liên quan mật thiết với nhau.2%). mặc dù tốc độ gia tăng lạm phát trong tháng Chín giảm mạnh. trong khi có thể điều chỉnh cho vay doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở thang lãi suất thấp hơn (16 17%/năm). cho vay kinh doanh chứng khoán (trong giới hạn được phép) với thang lãi suất cao hơn (20 . chúng tôi sẽ giảm dần và có thể. việc giữ nguyên lãi suất cơ bản 14%/năm là một tín hiệu của NHNN tiếp tục mục tiêu chống lạm phát.21%/năm). đồng thời tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc từ 3.vn/20100208020940992p0c6/chinh-sach-lai-suat-ty-gia-duoi-gocnhin-thong-doc. ngân hàng và . Website NHNN trích đăng phỏng vấn TS. Ông có thể cho biết những phân tích của ông về những quyết định này? TS. tôi đã rất mừng. nhân động thái NHNN đưa ra các quyết định về việc giữ nguyên lãi suất cơ bản.dụng ở mức 38% và đó là phù hợp. thực phẩm giảm nhiều. nếu như trong năm 2009. thực phẩm (core Inflation) vẫn còn khá cao. Nhưng năm 2010. Lê Xuân Nghĩa. Hơn nữa. và cho phép cầm cố. Lê Xuân Nghĩa.

việc mở rộng cho vay đối với một số nhóm doanh nghiệp là quan trọng. Nhật Bản năm 1988 là một ví dụ.. trong khi đối với một số nhóm khác. các chuyên gia ước lượng tỷ trọng chi phí lãi vay ngân hàng trên tổng chi phí của doanh nghiệp có khả năng thương mại quốc tế (tradables) chỉ từ 1. thanh khoản của các NHTM Việt Nam đang khá tốt. chiết khấu hỗ trợ thanh khoản tại NHTW giảm mạnh (ở mức bình thường) so với các tháng trước. PV: Theo ông. tác động của lãi suất ngân hàng trên tổng chi phí của các nhóm doanh nghiệp là rất khác nhau.2. và 3 quyết định nói trên của NHNN Việt Nam cũng nhằm đạt được mục tiêu quan trọng này.5%/năm. thông qua các kênh như: tín dụng. thanh khoản của ngân hàng cần được củng cố vững chắc hơn. cần đặt ra sức ép để quy hoạch lại quy mô kinh . bằng chứng là các giao dịch Repo. Tuy nhiên. và tỷ lệ này ở mức khá cao ở các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu thụ nội địa có tỷ trọng vốn vay ngân hàng trên vốn tự có cao trên 2 lần. Vì vậy. Cùng với đà suy giảm tốc độ gia tăng của lạm phát và thời cơ để tái cấu trúc lại lãi suất theo rủi ro (như đã nói trên). Nói cách khác. sau khi có các quyết định này? TS. một số NHTM đã có kế hoạch cắt giảm lãi suất.. và. đầu tư trực tiếp và xuất khẩu. đối với hệ thống tài chính Việt Nam (kể cả ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng) trước mắt.6 . việc tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc và cho phép chiết khấu hoặc chuyển nhượng tín phiếu bắt buộc cũng có tác dụng cải thiện năng lực tài chính và tăng khả năng phòng ngừa rủi ro của các ngân hàng thương mại. Ngoài ra. có thể dự đoán thế nào về xu thế của lãi suất cho vay của các ngân hàng và tác động của nó đến sản xuất kinh doanh. cập nhật các các số liệu mới về chi phí và lãi suất ngân hàng. nhất là doanh nghiệp xuất khẩu. kỳ hạn ngắn dưới một tuần chỉ xoay quanh lãi suất nghiệp vụ thị trường mở. Tuy nhiên. Đi đầu là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã điều chỉnh lãi suất cho vay doanh nghiệp xuống còn 18. cho vay các dự án chương trình mục tiêu: 17.tradables) là 6 . trong bối cảnh hiện tại. nên hậu quả sẽ còn kéo dài hơn là chúng ta tưởng. đối với doanh nghiệp. nhưng ổn định được thị trường nhà đất và nền kinh tế thì còn phải mất nhiều thời gian hơn thế. đó là “Sự suy kiệt tín dụng toàn cầu”. khả năng điều chỉnh lãi suất cho vay đối với khu vực doanh nghiệp có thể còn sâu hơn trong nhiều tháng tới. Lê Xuân Nghĩa: Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ là rất nghiêm trọng. Đây chính là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. phải củng cố vững chắc thanh khoản và trong trung hạn phải xử lý tốt nợ xấu có thể phát sinh nhiều hơn. Lê Xuân Nghĩa: Ngay sau khi NHNN công bố các quyết định trên.0%.7%. Điều này cho thấy. Với những nỗ lực rất lớn của Chính phủ Mỹ và các nước phát triển (đã khôi phục thanh khoản và xử lý nợ xấu). các định mức thanh khoản được giám sát chặt chẽ. tác động lớn chủ yếu ở các doanh nghiệp sản xuất cho thị trường nội địa và có tỷ trọng vốn tự có trong tổng nguồn vốn thấp. trong khi tỷ lệ này ở các doanh nghiệp không có khả năng thương mại quốc tế (non .mục tiêu chống lạm phát. lãi suất thị trường liên ngân hàng khá thấp. đối với hoạt động ngân hàng. Hiện tại. chúng ta có thể hy vọng sẽ ổn định được hệ thống tài chính trong vòng một năm. do nó bắt nguồn từ thị trường nhà đất. thậm chí vay qua đêm. chuyển tiền. Cần lưu ý rằng.2%/năm. cuộc khủng hoảng tài chính lần này còn có tên gọi khác. PV: Ông bình luận như thế nào về việc công bố quyết định này trong bối cảnh khủng hoảng tài chính ở Mỹ và có nguy cơ lan ra toàn cầu? TS. Nó là một bước đi thận trọng và cần thiết vào thời điểm hiện nay. thì việc tiếp cận vốn ngân hàng để duy trì các hợp đồng thương mại thậm chí còn quan trọng hơn lãi suất. Phân tích bộ số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê 2006. đặc biệt là các ngân hàng nhỏ.

vn/vn/news_detail. các quyết định nói trên là bước đi quan trọng. góp phần làm giảm nhẹ tính căng thẳng ngoại tệ hiện nay.aspx?NewsID=536&IsImportant=0 Giải mã vấn đề căng thẳng ngoại tệ như thế nào? (13-08-2009) Hiện tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối đang căng thẳng và NHNN đang cố gắng giải quyết sự căng thẳng này chủ yếu bằng những biện pháp hành chính. Có thể thấy rằng.eximbank. cần phải có những biện pháp tuyên truyền động viên để cho họ nhận thức được vấn đề.vn http://www. Và như vậy. nhằm giảm bớt những khó khăn tài chính cho doanh nghiệp. Trong các quan hệ kinh tế thì biện pháp khuyến khích hiệu quả nhất là biện pháp kinh tế . Việc nới lỏng chính sách tiền tệ. nhằm ổn định PV: Xin giá chân cả thành và cảm kinh ơn TS.com. Về mặt này có thể thấy rằng NHNN đang thực hiện chức năng của một bộ quản lý nhà nước thay vì là một ngân hàng trung ương thực sự. tế Lê vĩ Xuân mô. Rõ ràng đây là một biện pháp dễ thực hiện và đặc biệt là rất ít tốn kém nhất nhưng tiếc thay thực khó mà đặt hy vọng vào tính hiệu quả của nó. vì thế sẽ phụ thuộc rất lớn vào nỗ lực của Chính phủ và doanh nghiệp. theo NHNN. Những biện pháp mà NHNN thực hiện liệu có khả thi hay là cần phải có những biện pháp kinh tế? Căng thẳng ngoại tệ do nhà xuất khẩu găm giữ ngoại tệ? NHNN cho rằng việc các nhà xuất khẩu găm giữ ngoại tệ là một trong những lý do chính đẩy tình hình căng thẳng ngoại tệ trên thị trường lên cao. trong điều kiện cần thiết phải duy trì các biện pháp chống lạm phát. Nghĩa! Theo Vietstock. từ đó hy vọng rằng họ sẽ bán lại lượng ngoại tệ từ xuất khẩu cho ngân hàng.com. trong việc kiểm soát tốt hơn hiệu quả sử dụng các nguồn lực.doanh và cấu trúc lại vốn chủ sở hữu theo nguyên tắc thị trường nhằm tiết kiệm chi phí và tăng hiệu quả sử dụng vốn.

Nhưng dẫu họ có nhập khẩu các mặt hàng không phù hợp với định hướng hay quan điểm tăng trưởng của chính phủ thì cũng không thể làm ngơ trước những căng thẳng hiện nay vì nó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp mà hệ quả cũng nằm ở vấn đề tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội. Nhà nhập khẩu có nhu cầu ngoại tệ để thanh toán tiền hàng nhập khẩu. Đúng là có chuyện các nhà xuất khẩu găm giữ ngoại tệ nhưng hãy phân tích vì sao họ lại găm giữ ngoại tệ? Không khó để nhận ra rằng có những động cơ kinh tế nằm phía sau các hành vi này. Một lý do cơ bản là các nhà xuất khẩu đang đặt kỳ vọng vào tỷ giá trong tương lai sẽ tăng lên xét theo viễn cảnh các yếu tố kinh tế vĩ mô hiện nay. Nhu cầu nhập khẩu của các doanh nghiệp tăng lên hiện nay cũng cần phải được phân tích kỹ hơn để xem đó có phải là dấu hiệu cho thấy một sự phục hồi kinh tế hay không. Cũng cần lưu ý là nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu từ trước đến nay chưa bao giờ đủ bù đắp cho nhu cầu nhập khẩu do cán cân thương mại của Việt Nam hàng năm luôn thâm hụt.hoặc là những lợi ích kinh tế chứ không phải là tuyên truyền động viên. và nó có tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế cũng như vấn đề việc làm và thu nhập ở góc độ vĩ mô. đó là một nhu cầu hợp lý. phòng tránh được rủi ro tỷ giá mà còn là một hạng mục đầu tư sinh lợi tốt hiện nay. Nhà nhập khẩu cũng dự phần? Có thể ví tình hình căng thẳng ngoại tệ hiện nay giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu như thể “kẻ ăn không hết. Chính vì vậy. Vấn đề cần phân tích sâu hơn một chút là họ nhập khẩu cái gì. người lần không ra”. và dự trữ ngoại hối của NHNN. Cầu ngoại tệ nhập khẩu trong điều kiện đó cần được tài trợ từ các nguồn khác như vay thương mại (sẽ tạo cầu ngoại tệ kỳ hạn). Khi ấy. trong đó có chính sách tỷ giá và chính sách lãi suất. đầu tư nước ngoài. vấn đề căng thẳng ngoại tệ hiện nay trên thị trường không thể đổ hết lỗi cho nhà xuất khẩu mà phải nhìn lại các chính sách kinh tế vĩ mô. Nhu cầu nhập khẩu là rất lớn . Từ trước đến nay năm nào cán cân thương mại của Việt Nam cũng thâm hụt. việc nắm giữ ngoại tệ không những giúp cho họ chủ động hơn trong việc nhập khẩu sau này.

Không ít nhu cầu nhập khẩu hàng hóa có thể chỉ là chiếc vỏ bọc cho nhu cầu đầu cơ ngoại tệ. Có yếu tố đầu cơ không? Cần phải thừa nhận rằng sự căng thẳng ngoại tệ hiện nay không thể không có yếu tố đầu cơ. tính hạn chế hay mặt trái của các chính sách kinh tế hiện nay. Vậy nên trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay. nhu cầu nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục được duy trì hoặc tăng lên cho thấy nền kinh tế vẫn còn sức sống hoặc là dấu hiệu của sự phục hồi tăng trưởng.so với hoạt động xuất khẩu và so với quy mô của một nền kinh tế mở và nhỏ đang hội nhập như Việt Nam. Vấn đề này sẽ còn phải được phân tích thấu đáo hơn ở nhiều khía cạnh khác nhau. Trước hết phải nói đến chính sách hỗ trợ lãi suất 4% của Chính phủ. nên không lâu nữa mặt bằng lãi suất sẽ trở về trạng thái thực của nó để phản ánh cung cầu quỹ cho vay và sức nóng lạm phát dần hiện rõ trong nền kinh tế Việt Nam. Nhưng để tránh cơ chế quản lý ngoại hối của NHNN mà nhu cầu ngoại tệ đầu cơ được che đậy bởi vỏ bọc nhập khẩu hàng hóa. Chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính phủ có thời hạn tám tháng tính từ tháng 2-2009. Mặc dù quyết định hỗ trợ lãi suất của Chính phủ đưa ra những nhóm đối tượng và điều kiện được hỗ trợ lãi suất nhưng do thông tin bất cân xứng mà trong thực tế hầu hết các doanh nghiệp đều có thể tiếp cận vốn hỗ trợ lãi suất. đó là lãi suất cho vay thông thường và lãi suất cho vay đã được hỗ trợ. Chính sách này giúp làm giảm gánh nặng chi phí vốn vay của các nhà sản xuất thông qua khoản hỗ trợ lãi suất 4% so với lãi suất vay vốn thực tế của doanh nghiệp từ tiền ngân sách chứ không phải từ việc nới lỏng chính sách tiền tệ của NHNN nhằm giảm mặt bằng lãi suất 4%. Nhưng phân tích kỹ sẽ thấy rằng cơ hội để đầu cơ trên thị trường ngoại hối hiện nay được tạo ra bởi sự sơ hở. trong đó có yếu tố cầu nhập khẩu ảo. . Do vậy mà lãi suất cho vay được gọi là “thông thường” thì lại là lãi suất “bóng”. Như vậy chính sách này đang tạo ra cơ chế hai lãi suất cho vay trong nền kinh tế. còn lãi suất đã được hỗ trợ mới là lãi suất cho vay theo nghĩa “thông thường”. Các doanh nghiệp sẽ vay vốn bằng đồng nội tệ theo mức lãi suất hỗ trợ và chuyển sang nắm giữ ngoại tệ.

Tỷ giá do NHNN công bố hiện nay không thể phản ánh được mặt bằng tỷ giá trong nền kinh tế. Theo nguyên lý thì khi cầu ngoại tệ tăng nhanh. Thế nhưng. Bây giờ có lẽ là lúc NHNN cần phải bán ngoại tệ ra thị trường để giảm áp lực giảm giá nội tệ. biên độ giao động tỷ giá ±5% mà NHNN giới hạn không thể giải quyết được bài toán tỷ giá hiện nay. Biện pháp hành chính hay biện pháp kinh tế? Giải quyết vấn đề căng thẳng ngoại tệ hiện nay không thể chỉ đơn giản bằng những biện pháp hành chính mà phải là các biện pháp kinh tế. tỷ giá mà NHNN công bố hiện quá cứng nhắc và chưa bao giờ có thể phản ánh được cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ cả. Còn vấn đề điều tiết tỷ giá của Nhà nước phải gắn với mục tiêu chính sách tiền tệ nhưng mục tiêu chính sách thì lại quá chung và không rõ ràng mà ngay chính những người thực thi chính sách cũng không chắc chắn. Trước hết là chính sách tỷ giá. trong khi cung ngoại tệ không tăng hoặc tăng chậm hơn thì áp lực tỷ giá phải gia tăng. NHNN đã mua vào một lượng lớn ngoại tệ làm dự trữ và kịp thời bình ổn tỷ giá.Khi ấy tỷ giá kỳ hạn sẽ có khuynh hướng tăng lên đúng như kỳ vọng và những tài khoản ngoại tệ sẽ được chuyển đổi sang nội tệ để trả nợ vay và hiện thực hóa lợi nhuận có được. Đặc biệt. vấn đề mấu chốt không phải nằm ở biên độ tỷ giá mà là một cơ chế tỷ giá linh hoạt mà Việt Nam đang thiếu. Thị trường ngoại hối lúc bấy giờ có thể lại phải gánh chịu một làn sóng căng thẳng mới theo chiều hướng ngược lại. Nhớ lại trong năm 2007 khi đồng nội tệ lúc ấy đứng trước áp lực tăng giá mạnh so với đồng đô la. Trong khi đó. khi tỷ giá giao dịch của các ngân hàng hiện đều đạt trần biên độ +5% so với tỷ giá do NHNN công bố. NHNN nếu muốn duy trì mức tỷ giá mục tiêu thấp như công bố thì phải đóng vai trò là người bán ngoại tệ ra thị trường. Tuy nhiên vấn đề còn nằm ở chỗ tỷ giá mục tiêu là bao nhiêu trong điều kiện kinh tế vĩ mô . Đây có thể là một đề xuất tốt để Việt Nam dần tiến tới một cơ chế tỷ giá có tính “cởi mở” hơn. Luật NHNN quy định tỷ giá hối đoái được hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Tuy nhiên. Nhiều ý kiến cho rằng NHNN cần nới lỏng hơn nữa biên độ tỷ giá này để tỷ giá trên thị trường có thể phản ánh được cung cầu ngoại tệ.

Theo đó.aspx Tăng trưởng kinh tế. Lý do là để duy trì tỷ giá mục tiêu thấp như vậy thì phí tổn đối với nguồn lực mà NHNN phải bỏ ra rất lớn. lạm phát và chính sách tài chính tiền tệ Quách Đức Pháp . Lãi suất cơ bản hiện vẫn được NHNN duy trì ở mức 7% một năm là khá thấp. lãi suất phải được điều chỉnh tăng lên theo tín hiệu ấm lên của nền kinh tế. Thay vào đó nó phải được điều chỉnh một cách linh hoạt hơn sao cho có thể phản ánh được tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế đang có khuynh hướng tăng lên chứ không phải lo sợ hiệu ứng tâm lý về lạm phát kỳ vọng. Chính sách lãi suất hiện nay của NHNN cũng cần thay đổi. NHNN phải giảm dần dự trữ ngoại tệ đến một giới hạn hợp lý. Hơn nữa nó không góp phần giải quyết được cái lý do người ta phải găm giữ và đầu cơ ngoại tệ như phân tích ở trên. Chỉ một chính sách tỷ giá để giải tỏa căng thẳng ngoại tệ hiện nay là chưa đủ hoặc kèm theo là chi phí quá lớn như đã phân tích. Chắc chắn NHNN sẽ còn nhiều việc phải làm nhưng giải quyết được yêu cầu này thì vấn đề căng thẳng ngoại tệ hiện nay cơ bản được giải tỏa. Đỗ Thiên Anh Tuấn (TBKTSG http://www.tapchitaichinh.vn/Qu%E1%BA%A3ntr%E1%BB%8Bn%E1%BB %99idung/ViewArticleDetail/tabid/56/Key/ViewArticleContent/ArticleId/1082/Defau lt. Việc điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu là một động thái chính sách cần thiết của NHNN hiện nay với kỳ vọng sẽ là “một mũi tên trúng hai đích”. Tỷ giá hiện nay do NHNN công bố là thấp và không thể xem đó là tỷ giá mục tiêu cần điều chỉnh được. Làm như vậy. NHNN cần phối kết giữa chính sách tỷ giá với chính sách lãi suất sao cho có thể thiết lập lại trạng thái cân bằng trên hai thị trường tiền tệ và ngoại hối mà hiện nay đang bị lệch về phía thị trường ngoại hối. Tăng trưởng tín dụng cao như hiện nay có nguy cơ là một ngòi nổ chậm của lạm phát.hiện nay và triển vọng sắp tới. Tỷ giá mục tiêu phải điều chỉnh dần theo hướng tiệm cận đến tỷ giá kỳ hạn sau thời điểm chính sách hỗ trợ lãi suất hết hiệu lực.

có lúc lên tới hai con số. có nhiều nước dựa vào mô hình tăng nhanh đầu tư. Đây không phải là một việc dễ dàng. Thực tế khó có thể phát triển nhanh. tăng trưởng kinh tế cao và lạm phát tăng thường song hành với nhau. hay còn gọi là tăng trưởng kinh tế “theo đường thẳng”.2%. tính chu kỳ của nền kinh tế không chừa bất kỳ quốc gia nào. Kể từ năm 1986 đến nay. ngay cả đối với những nền kinh tế được gọi là “thần kỳ”. Tóm lại.6%/năm. Từ góc độ kinh tế. Nổi bật nhất là hiện tượng tăng trưởng quá nóng. đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế tăng trưởng với nhịp độ cao. tốc độ tăng trưởng chỉ có thể duy trì được dài hạn nếu ở mức vừa phải. Thêm vào đó. mà giữ vững được trong dài hạn. đủ để phát hiện và khảo sát tính chu kỳ của nền kinh tế.tiền tệ. Kinh nghiệm cho thấy lạm phát chỉ cản trở tăng trưởng khi lên đến mức 2 con số. Trung Quốc cũng đã nhiều lần tìm các giải pháp để hạ nhiệt nền kinh tế tăng trưởng quá nóng. lạm phát tăng và không phải quốc gia nào cũng tìm được cách “hạ nhiệt” an toàn. Bài toán khó giải nhất hiện nay là kiềm chế tăng giá trong khi vẫn phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế ở mức cao. tức là nằm trong khung 6 . có hiệu quả hơn và do đó tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn. năm 1992 – 1997 tăng trưởng tới 8. Tuy nhiên. đồng thời. Viện trưởng Viện khoa học Tài chính (Cập nhật: 8/1/2008) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát là bài toán luôn thường trực trên bàn nghị sự của các Chính phủ nhưng cũng khó giải nhất đối với tất cả các nền kinh tế. một số nhà kinh tế vẫn ủng hộ quan điểm chấp nhận khủng hoảng (khủng hoảng lạm phát cao. Bản chất của nền kinh tế thị trường thường xuyên phát sinh ra những nhân tố gây khủng hoảng. khủng hoảng nợ. các nhân tố khủng hoảng kinh tế . Quan điểm thứ hai đang được nhiều nước ủng hộ là tăng trưởng ổn định. theo chúng tôi. tăng trưởng kinh tế đã trải qua 4 giai đoạn thăng trầm: năm 1986 – 1991 chỉ tăng trưởng 4. sự ổn định kinh tế vĩ mô sẽ tạo cơ sở vững chắc cho những bước phát triển trong tương lai.7%/năm. trong đó. Tuy vậy. đồng thời. Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy. thậm chí dẫn tới khủng hoảng. dù phải chấp nhận gánh nặng nợ nước ngoài ngày càng gia tăng.5%. kinh nghiệm quốc tế chỉ ra rằng mức đó không quá 6 – 8%/năm. trong giai đoạn năm 2006 – 2010 nói chung. việc lựa chọn con đường tăng trưởng lại cực kỳ khó khăn. Kết quả là tốc độ tăng trưởng kinh tế xấp xỉ 2 con số. Nền kinh tế nước ta mới chuyển từ cơ chế kế hoạch tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.7%/năm mà đỉnh cao là năm 1995 với GDP tăng 9. nên các chính sách kinh tế vĩ mô phải nhạy cảm và thường xuyên được điều chỉnh phù hợp với tình hình. mục tiêu kinh tế hàng đầu là đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định. nên ưu tiên mục tiêu tăng trưởng. Chúng tôi ủng hộ quan điểm cho rằng Việt Nam cần tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao 8 – 9%/năm. đồng thời lạm phát cũng gia tăng. năm 1998 – 2001 lại hạ xuống còn khoảng 6%/năm và năm 2002 – 2005 phục hồi với trên 7. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. kể cả nền kinh tế thị trường phát triển. vì bản thân tăng trưởng kinh tế nhanh thường chứa đựng nhiều nhân tố gây mất cân đối. tuy thời gian chưa nhiều.7%/năm. do đó. đây là mô hình tăng trưởng nhanh “lồi lõm” nhưng xu hướng chung vẫn đưa nền kinh tế đạt trình độ cao hơn. kiềm chế tốc độ lạm phát dưới 2 con số nhằm ổn định kinh tế vĩ mô. Theo quy luật kinh tế chung. nghĩa là không có hay giảm thiểu khủng hoảng. Ở quốc gia nào cũng vậy.tài chính xuất hiện và ngày càng chín muồi dẫn tới khủng hoảng không thể tránh khỏi. Lý thuyết cũng như thực tiễn đều chỉ ra rằng. nghĩa là tăng trưởng cao bằng mọi giá. nền kinh tế phát triển quá “nóng”. TS. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh và liên tục nhằm phù hợp với xu thế kinh tế thế giới và đáp ứng yêu cầu nội tại của nền kinh tế. hai công cụ kinh tế vĩ mô quan . Bên cạnh đó. song những biểu hiện của nó đã xuất hiện tương đối rõ. Muốn quy mô GDP năm 2010 gấp đôi so với năm 2000 thì tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm phải đạt 7. năm 2008 nói riêng cần cân nhắc phương án đánh đổi giữa mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu lạm phát. nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến lạm phát là những sai lầm trong chính sách tài khoá .PGS. khủng hoảng thâm hụt ngân sách nhà nước) và coi đó như một nhân tố thúc đẩy cải tổ cơ cấu nhanh hơn.

thì ngược lại. chính sách tài khoá tác động rất mạnh tới tăng trưởng và lạm phát. Trong hoạch định chính sách tài chính tiền tệ cũng cần tính tới “tính lây truyền” của lạm phát trên thế giới khi mức độ mở cửa thị trường tăng và thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế tài chính quốc tế. bù lỗ cho một số mặt hàng theo diễn biến “bất ổn định” của thị trường quốc tế. được công khai hơn rất nhiều so với trước đây. Trong một vài năm trở lại đây. Gần đây. không liên quan đến diễn biến giá cả. các số liệu thống kê công bố đến các bài báo kinh tế. từ cả phía thu ngân sách. Bên cạnh đó. hạn chế điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý giá. thậm chí có những thời điểm còn được cho rằng. Rõ ràng. Theo một nghiên cứu của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đối với nhóm 23 nền kinh tế thị trường mới nổi trong giai đoạn năm 1970 – 1999. chúng ta đã chủ trương đặt trọng tâm vào các công cụ tài chính giá cả như cắt giảm thuế nhập khẩu. song hầu hết các nước quanh chúng ta đều kiểm soát tốt giá cả và lạm phát trong khi duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao. về chính sách tài khoá nói riêng. các thông tin đại chúng. thậm chí trong trường hợp “cố định” chính sách tài khoá thì chính sách tiền tệ trở thành công cụ duy nhất. Hiệu quả của chủ trương này như thế nào còn cần thời gian để kiểm chứng song nó cho thấy dường như chúng ta quen sử dụng các công cụ can thiệp của Nhà nước hơn là các công cụ thị trường linh hoạt. chi ngân sách cũng như qui mô bội chi ngân sách nhà nước và cách thức bù đắp bội chi ngân sách nhà nước.…trong khi hầu như “cố định” các công cụ của chính sách tiền tệ. Một điểm đáng ngạc nhiên từ năm 2004 đến nay là. Thực tế ở nước ta lại không theo “truyền thống” đó. tiết kiệm chi ngân sách nhà nước. Trong khi đó. chỉ riêng nước ta dường như lại có cách làm khác. Cũng cùng sức ép từ biến động giá quốc tế.5% trong khi kiềm chế tốc độ lạm phát dưới 2 con số cần phối hợp đồng bộ chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ. nổi bật nhất trong sử dụng chính sách tài khoá chỉ là liên tục điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu. nếu chính sách tài khoá là công cụ vĩ mô tương đối cứng nhắc. mỗi khi đề cập đến tăng trưởng và lạm phát lại không hoặc ít nhắc tới tài chính tiền tệ. chúng ta cần rút ra những bài học kinh nghiệm về kiềm chế lạm phát từ thực tế này. hạn chế điều chỉnh tiền lương tối thiểu.trọng để kiềm chế lạm phát cũng chính là chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ. của Chính phủ. mà không có động thái rõ ràng nào đối với chính sách lãi suất và tỷ giá hối đoái. chính sách tiền tệ lại đặc trưng bởi mức độ linh hoạt rất cao. chỉ điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước luôn được coi là nguyên nhân trực tiếp. tài liệu về ngân sách nhà nước nói chung. Từ các báo cáo chính thức của Quốc hội. song hầu như chỉ dừng lại ở phân tích mức độ hoàn thành dự toán ngân sách hay thay đổi thuế suất đối với thuế nhập khẩu một số mặt hàng chiến lược. Về bản chất. hữu hiệu nhất để thúc đẩy tăng trưởng trong khi vẫn kiểm soát được lạm phát. hội nhập và mở cửa kinh tế. Trong khi đó tất cả các nước có nền kinh tế thị trường đều thừa nhận vai trò quyết định của điều chỉnh lãi suất mỗi khi muốn kiểm soát tốc độ tăng giá và lạm phát. để kìm hãm tốc độ tăng giá có dấu hiệu vượt khỏi tầm kiểm soát. Chính sách tiền tệ còn đáng ngạc nhiên hơn với cố gắng chứng minh sự “vô can” trong việc giá cả leo thang. cắt giảm chi phí sản xuất. thiếu độ linh hoạt vì mỗi sự thay đổi dự toán chi ngân sách hay thay đổi thuế suất từng sắc thuế đều phải thực hiện theo những quy trình tương đối phức tạp. cơ bản dẫn đến lạm phát. thậm chí cường độ tác động còn mạnh hơn do mức độ mở cửa cao hơn. Thực tế diễn biến thị trường quốc tế năm 2004 – 2007 không thuận lợi cho mục tiêu tăng trưởng cao của chúng ta nên việc theo dõi thị trường và kịp thời điều chỉnh chính sách tài khoá và chính . đặc biệt là Trung Quốc. các số liệu. cố tình “quên” mục tiêu chủ yếu của chính sách tiền tệ là kiềm chế lạm phát. Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm 8 – 8. tốc độ lạm phát ở nhóm quốc gia này có mối quan hệ chặt chẽ với lạm phát toàn cầu không kém mối quan hệ với thâm hụt ngân sách. Theo chúng tôi. đổ lỗi cho công tác dự báo thị trường yếu kém và kêu gọi tiết kiệm. Những biến động giá cả từ đầu năm 2004 tới nay cho thấy phần nào những chính sách điều tiết vĩ mô của chúng ta dường như chưa theo kịp tốc độ hội nhập mở cửa nên không thể giải quyết một cách nhất quán và hiệu quả những tác động tiêu cực từ bên ngoài. đặc biệt là đối với mô hình kinh tế như của Việt Nam hiện nay. nên tập trung trí tuệ và sức lực vào việc tìm ra giải pháp kiềm chế tốc độ tăng giá hiện nay nhằm ổn định kinh tế vĩ mô của chúng ta trong “hệ quy chiếu” thị trường. lạm phát. chính sách tiền tệ hầu như ít được nhắc tới.

có thể giúp các NHTM định hướng được mức lãi suất hợp lý. đúng thời điểm sẽ mang lại hiệu quả vượt trội. tạo nên mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đảm bảo hài hoà lợi ích giữa người gửi. lãi suất cơ bản được phát huy tác dụng bởi Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 của Thống đốc NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam. lạm phát trong nước đã có dấu hiệu gia tăng. vốn tồn tại sau một thời gian dài mờ nhạt. Khi kinh tế trong nước bắt đầu hội nhập. các động thái biến động từ thế giới bên ngoài cũng gây sức ép biến đổi trong nước. Do đó. Lãi suất cơ bản giờ đã được sử dụng như một thông điệp có tác động nhanh. Sự sụp đổ hệ thống tài chính khổng lồ của Mỹ là một cú sốc mạnh cho cả nước Mỹ và . là cơ sở để ấn định lãi suất kinh doanh. Theo đó. TCTD và người đi vay. NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt thông qua các công cụ vĩ mô. Việc xây dựng chiến lược phát triển và điều hành của từng TCTD không chỉ phụ thuộc vào yếu tố nội lực mà còn chịu sự chi phối nhiều của yếu tố khách quan. cơn bão giá đã tác động đến mọi ngành trong nền kinh tế. ĐOÀN THỊ HỒNG Nhìn lại khoảng thời gian từ đầu năm 2008 đến nay. ngành ngân hàng đang ở vị trí cao trong danh mục đầu tư thì cũng đã lùi lại trước tác động của yếu tố lạm phát. kiểm soát lạm phát của Chính phủ. Sự cần thiết của việc điều hành chính sách tiền tệ bằng lãi suất cơ bản Cuối năm 2007. mặc dù chưa đầy một năm nhưng mọi ngành trong nền kinh tế nước ta đã trải qua nhiều thời điểm biến động ngoài dự tính. 2009 Sử dụng hợp lý công cụ lãi suất cơ bản • • • Edit Delete Autopost TS. Một quyết định đúng đắn. Với chủ trương thắt chặt tiền tệ. cần phải có sự can thiệp của nhà nước để đưa thị trường đi đúng hướng.asp?Object=4&news_ID=8154530 April 5. Công cụ được NHNN chú trọng là lãi suất cơ bản. đã góp phần hạ nhiệt lãi suất huy động lúc đầu. Sau những giải pháp mạnh của chính sách thắt chặt tiền tệ thì việc điều hành bằng công cụ lãi suất cơ bản ấn định trần lãi suất cho vay thay đổi linh hoạt theo tín hiệu thị trường.org.vn/details. Trong bối cảnh nền kinh tế xoay chiều đi theo hướng không thuận lợi. an sinh xã hội bị ảnh hưởng càng làm tăng sức ép lên các nhà điều hành trong chính sách quản lý.sách tiền tệ theo hướng nới lỏng hay thắt chặt trong từng giai đoạn phát triển là chìa khoá đối phó hữu hiệu với những cú sốc trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập của Việt Nam. Việc điều hành lãi suất theo sát tín hiệu thị trường. Sự vận hành của thị trường đã đến lúc phải có sự can thiệp của nhà nước. nếu để cho thị trường tiếp tục tự vận hành thì dẫn đến thất bại của thị trường. Xét riêng trong lĩnh vực tiền tệ. http://www. Trong đó. mạnh đến cả nền kinh tế. các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản.tapchicongsan. Lãi suất cơ bản trước đây chỉ mang tính định hướng và tham khảo nhưng khi lạm phát tăng đột biến. tính toán trong hoạt động của các TCTD. giúp nền kinh tế dần trở lại nhịp độ phát triển. việc xác định nhân tố trọng yếu và tìm đối sách thích ứng kìm hãm lại chiều hướng đi xuống của nền kinh tế là vô cùng quan trọng.

các khoản vay tiêu dùng thường có kỳ hạn ngắn. thắt chặt tiền tệ cùng với tác động của thế giới bên ngoài đã làm lạm phát trong nước sụt giảm đáng kể và để ngặn chặn nguy cơ giảm phát. kích thích tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế. qua đó giải phóng đầu ra cho ngân hàng.ảnh hưởng lan truyền đến phần còn lại. Lợi nhuận của cả hệ thống ngân hàng đều bị ảnh hưởng. chính sách tiền tệ đã được nới lỏng có kiểm soát. nhất là khối liên minh Châu Âu và các nước phát triển khác. Hơn nữa. nguồn đầu ra tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp cũng bị ách tắc. lãi suất càng cao. sự biến động qua lại tiền gửi của khách hàng giữa các ngân hàng giảm hẳn. Từng ngân hàng khó có thể dự đoán xu hướng thị trường để chủ động điều chỉnh lãi suất. từ 16/5/2008 đến 3/12/2008. việc áp dụng nghiêm ngặt trần lãi suất chỉ trong ngày một. mỗi vùng lại có những đặc thù khác nhau. Kết quả dư nợ ngành ngân hàng không tăng nhiều. Hoạt động của hệ thống tổ chức tài chính vi mô đã chứng minh người nghèo có khả năng vay và thanh toán nợ với lãi suất bằng hoặc cao hơn lãi suất của hệ thống định chế tín dụng . lãi suất cơ bản đã được trở lại bản chất của chính nó nhưng ở một cách nhìn khác theo sát diễn biến thị trường. Người tiêu dùng trong nước hạn chế chi tiêu. Nhưng các khoản huy động với lãi suất cao trong những tháng trước.dịch vụ yếu. nhất là các ngân hàng có quy mô vốn còn nhỏ. Doanh nghiệp không dám vay vì tìm được đầu ra rất khó khăn và nếu có đầu ra thì khả năng thu tiền cũng không chắc do bất cân xứng thông tin. Hơn nữa khách hàng mỗi nơi. ngân hàng vẫn khó tiếp cận khách hàng tốt dù lãi suất hạ. chi phí giao dịch cũng phải khác nhau. việc cạnh tranh lãi suất huy động cao nên chỉ có những ngân hàng thực sự mạnh về tài chính. hộ gia đình có nhu cầu vay vốn tiêu dùng do chi phí quản lý cao. khác với tính bất hợp lý của thời gian trước đó kỳ hạn càng ngắn. Cơn khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tạo ra thiếu hụt thanh khoản nghiêm trọng. Mặc dù nhà nước có chính sách trợ vốn cho doanh nghiệp thu mua sản phẩm nông nghiệp (lúa. Trong điều kiện kinh tế giảm phát. Trong khoảng thời gian 6 tháng. chưa thể giảm nhanh lãi suất cho vay vì phải còn gánh số vốn huy động cao từ nhiều tháng trước. vòng quay vốn nhanh. Nhưng trong thời gian ngắn. Việt Nam cũng không là ngoại lệ. cho thấy sự sâu sát và tính nhất quán trong điều hành lĩnh vực nhạy cảm của thị trường tài chính tiền tệ. nhất là những cá nhân. cầu hàng hóa . đường cong lãi suất huy động cũng trở lại hình dáng hợp lý. Các khoản dự báo trước đây đều phải thay đổi. NHNN đã 10 lần đưa ra Quyết định thay đổi lãi suất cơ bản. ngân hàng không thể thương lượng với khách hàng để hạ lãi suất tiền gửi thấp xuống. Trần lãi suất cho vay giảm nên các khoản giải ngân trước đó khách hàng cũng thường tìm cách trả nợ trước hạn để được vay lại với lãi suất thấp hơn. Việc giảm lãi suất cơ bản. cá ba sa…) thông qua lãi suất thấp nhưng doanh nghiệp vẫn đến ngân hàng một cách dè chừng. đồng vốn được thu hồi nhanh chóng nên có thể chấp nhận được khi vay với mức lãi suất cao hơn lãi suất kinh doanh của doanh nghiệp. kinh tế của nước ngoài cũng đang bị ảnh hưởng của sự suy thoái nên sản phẩm xuất khẩu trong nước bị đọng. thị trường dần đi vào ổn định. Suy thoái kinh tế bao trùm làm nền kinh tế thế giới quay đầu đột ngột từ nỗ lực chống lạm phát sang nỗ lực chặn đà giảm phát. Khi lãi suất cơ bản hạ. Tuy nhiên. tạo được lợi thế khác biệt mới có chủ trương đi đầu trong việc giảm lãi suất huy động và hạ lãi suất cho vay. Việc áp dụng trần lãi suất cho vay cũng hạn chế vốn đến khách hàng cá nhân. ngày hai nên các NHTM cũng không chủ động giảm được cho các khoản huy động trước đó. Với mức lãi suất chấp nhận được. Như vậy. lãi suất càng cao. chính sách tiền tệ không phải là nguyên nhân duy nhất ảnh hưởng đến nền kinh tế. Hiệu quả và hạn chế của việc áp dụng ”trần lãi suất” theo tỷ lệ 150% lãi suất cơ bản Lạm phát đang giảm dần. Nhưng thực tế. NHNN đã linh hoạt điều chỉnh lãi suất cơ bản theo chiều hướng giảm để kích thích sản xuất. giá dầu tuột dốc không phanh khi dự báo nhu cầu sử dụng năng lượng của Mỹ giảm mạnh. doanh nghiệp tiến hành vay vốn kinh doanh. kéo theo việc hạ lãi suất cho vay là tín hiệu tốt cho nền kinh tế. Thay vào đó là khách hàng gửi tiền với kỳ hạn dài hơn. Với chính sách quyết liệt của Chính phủ là kiềm chế lạm phát. Kỳ hạn càng dài. trong nước có nhiều ngân hàng có quy mô còn nhỏ.

chính thức dựa trên hoạt động thương mại. Điều quan trọng là người nghèo không có đủ điều kiện để được vay chứ không phải họ cần vay với lãi suất thấp. Nhu cầu chính của người nghèo là dễ dàng và nhanh chóng vay được được vốn và chi phí giao dịch thấp (thủ tục đơn giản và nhanh chóng nhận được tiền), chứ không phải tín dụng giá rẻ. Quy định trần lãi suất như nhau cho mọi loại hình kinh tế là điều chưa hợp lý. Trong khi chi phí quản lý đồng vốn của dự án tốt phải thấp hơn dự án rủi ro, tỷ lệ trích lập dự phòng của dự án rủi ro cũng phải cao. Trần lãi suất áp dụng cho toàn hệ thống ngân hàng còn làm hạn chế sự phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Nếu áp dụng cùng một mức lãi suất thì khả năng tiếp cận vốn của vay tiêu dùng bị xếp sau thứ tự ưu tiên, làm ảnh hưởng tiêu cực và là nguyên nhân đẩy khách hàng cá nhân ra khỏi hệ thống ngân hàng, họ phải tìm tới thị trường không chính thức với lãi suất cao, nạn cho vay nặng lãi xuất hiện. Nhận định Trong điều kiện kinh tế giảm phát, bên cạnh chính sách giảm lãi suất cho vay nhằm khuyến khích doanh nghiệp vay vốn đầu tư cũng phải khuyến khích vay tiêu dùng vì doanh nghiệp không thể phát triển sản xuất kinh doanh khi không có người tiêu thụ. Khi nền kinh tế trở lại phát triển đúng hướng, thị trường có thể tự vận hành, không cần sự can thiệp của nhà nước thì nên gỡ bỏ trần lãi suất cho vay và hướng đến cơ chế lãi suất thỏa thuận vì ngay trong giai đoạn nền kinh tế có mức lạm phát nằm trong giới hạn cho phép thì lãi suất cho vay các NHTM cũng đã linh hoạt ở mức cao hơn nhiều so với lãi suất cơ bản. Lãi suất nên để thị trường quyết định. Lãi suất thị trường sẽ đảm bảo cả tính công bằng lẫn tính hiệu quả trong cung cấp tín dụng. Lãi suất cơ bản chỉ nên làm định hướng cho các ngân hàng thấy xu hướng của lãi suất. Tài liệu tham khảo chính 1. http://www.sbv.gov.vn 2. N. Gregory Mankiw, Kinh tế vĩ mô. NXB Thống kê 3. TS. Đinh Phi Hổ (2003), Kinh tế nông nghiệp. NXB Thống kê. NGUỒN: www.vnba.org.vn

Điều chỉnh lãi suất: Đồng Việt Nam đi về đâu?
Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Chùm bài viết của

DNSGCT
( Bình chọn: 3 7747) -- Thảo luận: 1 -- Số lần đọc:

(12/06/2008) - Yêu cầu hệ thống ngân hàng thương mại tăng dự trữ bắt buộc, nâng lãi suất huy động nhằm hút tiền ra khỏi lưu thông… là một số biện pháp mà Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã áp dụng nhằm thực hiện mục tiêu chống lạm phát của Chính phủ. Tuy nhiên, lạm phát có nhiều nguyên nhân. Vậy nên, nhiệm vụ chống lạm phát dồn lên vai NHNN được xem là quá nặng nề. Đó là một phần nội dung trong buổi tọa đàm tháng Năm với chủ đề “Sức khỏe của đồng tiền Việt Nam” do Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần tổ chức, tại Press Café, Q.1. Không khí tranh luận sôi nổi đã dấy lên giữa một số khách mời ngay khi chủ đề “Sức khỏe của đồng tiền Việt Nam” được đặt lên bàn buổi tọa đàm. Theo luật sư Nguyễn Ngọc Bích, đồng tiền cũng ví như cánh diều, thể hiện sức mạnh của nền kinh tế. Ông Huỳnh Bửu Sơn - Giám đốc Đối ngoại Công ty PepsiCo Việt Nam - nhận

định rằng đồng tiền Việt Nam, dù có nhích lên nhích xuống trong thời gian gần đây nhưng vẫn khá ổn định so với đồng USD nhờ chính sách tỷ giá neo. Điều đáng lo ngại là tình trạng sức khỏe của các doanh nghiệp. Ông Sơn tỏ ý muốn lắng nghe ý kiến của đại diện doanh nghiệp, nhất là trước thời điểm diễn ra tọa đàm hai ngày, NHNN đã điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản lên 12%. Tuy nhiên, ông Nguyễn Minh Quyền - Phó Giám đốc Công ty Bến Thành Tourist - lại tỏ ra khá thận trọng. Ông đẩy “trái banh” về phía người phụ nữ duy nhất của buổi tọa đàm là bà Vũ Thị Kim Cúc - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Sài Gòn. Bà Cúc nói: - Thực ra ngân hàng cũng là doanh nghiệp đặc thù, vì tất cả các sản phẩm mà chúng tôi cung cấp cho doanh nghiệp và xã hội là các sản phẩm dịch vụ tài chính tiền tệ - đều liên quan đến đồng tiền. Hiện nay thực hiện chủ trương chống lạm phát của Chính phủ, ngân hàng cũng có những khó khăn như doanh nghiệp. Để thu hút được tiền vào ngân hàng thì ngân hàng phải có những sản phẩm huy động vốn có lãi suất cạnh tranh thì khách hàng mới gửi tiền. Ngoài khách hàng tiền gửi, ngân hàng còn có khách hàng tiền vay sử dụng các sản phẩm tín dụng. Với tình hình lãi suất như hiện nay, khách hàng vay tiền phải chịu lãi suất cao, đây là khó khăn mà ngân hàng và doanh nghiệp đã bàn bạc và thống nhất cùng chia sẻ. Tuy nhiên, đây chỉ là những khó khăn trong ngắn hạn; về lâu dài, khi các chính sách của nhà nước có những thay đổi, thì ngân hàng đương nhiên phải điều chỉnh lãi suất để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Theo cảm nhận của chúng tôi, vấn đề tăng trưởng quá cao trong những năm vừa qua mà chưa có sự quan tâm đến lạm phát nên đã để lại một số khó khăn cho nền kinh tế mà hiện nay Chính phủ đang phải giải quyết. Các biện pháp siết chặt tín dụng từ đầu năm 2008, việc tăng dự trữ bắt buộc lên 11% và phát hành tín phiếu bắt buộc chưa có lộ trình làm cho các ngân hàng thương mại (NHTM) gặp khó khăn, gián tiếp ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp. Mặc dù các ngân hàng vẫn duy trì được tính thanh khoản nhưng họ buộc phải “sàng lọc” khá kỹ những đối tượng có nhu cầu vay tiền, đồng thời tìm cách hút tiền về. Về lãi suất cơ bản mới được NHNN điều chỉnh ngày 16/5, sau hai ngày theo dõi, tôi thấy chính sách này đã có những tác động tích cực nhất định. Dường như chưa thỏa mãn với những thông tin mà bà Cúc công bố, ông Trần Sĩ Chương - Phó Chủ tịch HĐQT Công ty Le & Associates - đặt câu hỏi: - Tôi còn nhớ thời điểm NHNN nâng lãi suất lên 11%/năm, bà con ùn ùn mang tiền đến gửi vào ngân hàng. Vậy thì với mức lãi suất huy động trung bình 14% như hiện nay, phản ứng của thị trường như thế nào? Trả lời câu hỏi của ông Chương, bà Vũ Thị Kim Cúc nói: - Trước thời điểm NHNN công bố lãi suất cơ bản mới, lãi suất qua đêm giữa các ngân hàng và tổ chức kinh tế là 20%. Sau cuộc đua lãi suất thời gian qua, giờ đây các NHTM đã nhận ra rằng việc tăng lãi suất nhằm hút tiền về chỉ làm cho luồng tiền chạy từ ngân hàng này sang ngân hàng kia, chứ không tăng thêm tiền chảy vào ngân hàng. Vậy đồng bạc đang ở đâu? Vừa qua tình hình biến động về lãi suất, tỷ giá USD và giá vàng, một số khách hàng cũng chuyển hướng đầu tư thay vì chỉ gửi ngân hàng. Bên cạnh đó, một số hoạt động về tài chính tiền tệ không diễn ra trong ngân hàng. Cách nay ít lâu, trên chuyến bay ra Hà Nội, tôi tình cờ có dịp tiếp xúc với một chị buôn bán hoa vải đang trên đường ra Móng Cái (Quảng Ninh) nhập hàng. Hoa vải của chị ấy bán khắp cả nước, sang cả Lào và Campuchia. Giá trị trung bình mỗi lô hàng chị ấy nhập là hàng tỉ đồng, tuần cao điểm chị ấy thực hiện bốn giao dịch. Nhưng có một điều đặc biệt là tất cả giao dịch của chị ấy đều thực hiện ngoài hệ thống ngân hàng, chỉ liên hệ với người nhận chuyển tiền, cung cấp hàng hóa qua điện thoại và fax. Đây chỉ là một tiểu thương buôn bán nhỏ, còn bao nhiêu các tiểu thương khác và hoạt động khác nữa diễn ra ngoài ngân hàng mà không quản lý và thống kê được. Câu chuyện bà Cúc vừa kể khiến các khách mời xôn xao. Rõ ràng đã tồn tại một mạng lưới ngân hàng ngoài tổ chức đang hoạt động cực kỳ có tổ chức. Đương nhiên, giao dịch tại thị trường có tính linh hoạt cao này cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận mức lãi suất cao hơn, độ rủi ro cao hơn. Ông Huỳnh Bửu Sơn bình luận: - Câu chuyện người bán hoa vải cho thấy rằng khi nền kinh tế còn quá nhiều những giao dịch thanh toán dùng tiền mặt, việc triển khai chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô sẽ gặp khó khăn vì sẽ không thể nào phát huy hết tác dụng.

Ngồi đối diện với ông Huỳnh Bửu Sơn là PGS.TS Trần Hoàng Ngân - Trưởng khoa Ngân hàng Đại học

Kinh tế TP. Hồ Chí Minh. Ông nhập cuộc bằng cách phản biện ý kiến của ông Sơn: - Tôi không nghĩ hệ thống ngân hàng thương mại của chúng ta yếu. Chuyển tiền từ địa phương này đến địa phương kia qua hệ thống ngân hàng là hoàn toàn có thể làm được. Theo tôi, mục đích của các giao dịch tiền mặt là nhằm tránh sự kiểm soát của Nhà nước, lách thuế… Thực tế thì trong cơn sốt bất động sản vừa qua, nhiều nhà đầu cơ đã gõ cửa ngân hàng. Do thủ tục cho vay nhanh nhất, dù là khách hàng quen, cũng mất từ một đến hai ngày nên không ít người đã chấp nhận vay nóng từ thị trường ngầm để thực hiện giao dịch, sau đó dùng tiền vay từ ngân hàng đắp vào khoản vay từ thị trường chợ đen, bởi sau khi cân đối, họ vẫn có lời. Theo ông Trần Sĩ Chương, thị trường ngầm không phải là trường hợp cá biệt, chỉ xảy ra ở Việt Nam. Nó là một hình thức xã hội tự xử lý những bất cập trong cơ cấu quản lý vĩ mô. Thập niên 1980, thị trường ngầm đã chi phối tới 70% - 80% các giao dịch ở Thái Lan, mặc dù lúc đó hệ thống ngân hàng Thái Lan đã được hiện đại hóa, Bangkok Bank được xem là ngân hàng hiện đại nhất thế giới. Yên lặng ghi chép từ đầu buổi tọa đàm, ông Nguyễn Minh Quyền bây giờ mới dè dặt mở lời. Tỏ ra đồng cảm với người đại diện của ngân hàng, ông nêu lên một thực tế: - Đúng là khi ngân hàng huy động vốn với lãi suất cao thì phải cho vay với lãi suất cao hơn. Thế nhưng, mặt bằng lãi suất mới mà NHNN vừa công bố đang khiến nhiều doanh nghiệp lo lắng. Mặt khác, với mức lãi suất huy động cao như trong thời gian qua, đã xuất hiện tình trạng kiều bào ở nước ngoài vay USD với lãi suất thấp để chuyển về cho bà con trong nước đổi ra tiền đồng, gửi vào ngân hàng để hưởng lãi suất cao hơn. Ý kiến của ông Quyền vô hình trung đã đưa mọi người quay trở lại với câu chuyện NHNN điều chỉnh lãi suất cơ bản vừa xảy ra hai ngày trước. Ông Trần Hoàng Ngân nói: - Hiện nay chúng ta đang tập trung toàn lực để kéo chỉ số lạm phát của Việt Nam xuống. Chỉ số CPI tháng Tư, tính theo thông lệ quốc tế (tức là từ cuối tháng Tư năm ngoái đến tháng Tư năm nay) là 21,4%. Còn nếu áp dụng phương pháp tính cộng dồn từng tháng từ đầu năm đến nay thì CPI là 11,6%. Tôi cho rằng mức lãi suất mới mà NHNN vừa công bố là một giải pháp tối ưu vào thời điểm hiện nay. Trong hai ngày qua, chưa xuất hiện việc tiền di chuyển theo mức lãi suất cao từ ngân hàng này qua ngân hàng kia, giúp chúng ta nhận diện được tình trạng sức khỏe của các NHTM. Thêm nữa, lãi suất cao sẽ giúp tăng tiết kiệm và giảm chi tiêu, điều này sẽ kéo chỉ số CPI xuống, dẫn đến lãi suất cơ bản (mỗi tháng được xem xét và điều chỉnh nếu biên độ dao động vượt quá 25 điểm) giảm xuống. Nhờ vậy mà lãi suất cho vay chắc chắn cũng sẽ giảm, khiến doanh nghiệp dễ thở hơn. Nhưng điều quan trọng là phải làm cho lưu thông tiền tệ được thông suốt, phải đảm bảo đủ “máu” nuôi dưỡng cơ thể, hình như lưu thông đang thiếu tiền do thắt chặt tiền tệ? Tiếp lời ông Trần Hoàng Ngân, ông Huỳnh Bửu Sơn nhận xét: - Cần thống kê tiền gửi vào các NHTM biến động như thế nào qua những đợt tăng lãi suất? Lượng tiền chảy vào ngân hàng có thể đã tăng lên nhưng tôi e rằng không nhiều. Theo lời Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu thì tăng trưởng tín dụng đến thời điểm này là 18%, trong khi năm ngoái là 30% đến 50%. Có nghĩa việc nâng lãi suất huy động không thể hút được tiền đồng và đó là điều đáng suy nghĩ vì lượng tiền đồng gọi là nhàn rỗi trong dân đã không lớn lắm như chúng ta nghĩ, và không thể tạo nên một khối cầu khả dụng có thể gây áp lực lạm phát mạnh. Tuy nhiên, khi lãi suất cho vay quá cao, có thể các doanh nghiệp sẽ mang vốn gửi vào ngân hàng hưởng lãi suất thay vì đầu tư cho sản xuất. Nếu chuyện này xảy ra ở một vài doanh nghiệp thì ngân hàng có lợi. Nhưng nếu hàng trăm doanh nghiệp cùng quyết định “bãi” đầu tư, giảm sản xuất kinh doanh, đồng loạt mang tiền gửi ngân hàng thì đó sẽ là tai họa. Ông Trần Hoàng Ngân chuyển sang một hệ quả khác của vấn đề lãi suất: “Với lãi suất cao như vậy, điều tôi e ngại là sẽ có một lượng lớn USD chảy vào thị trường Việt Nam qua các kênh chính thức và không chính thức. Khi đó, chúng ta sẽ lấy tiền ở đâu ra để mua lượng ngoại tệ này? Và vấn đề thứ hai là mua theo giá nào? Liệu chúng ta có hạ giá đồng tiền Việt Nam so với đồng USD để hỗ trợ xuất khẩu?”. Trước thái độ quan ngại của ông Trần Hoàng Ngân, ông Trần Sĩ Chương lại tỏ ra khá điềm

tĩnh. Ông cho rằng khả năng một lượng lớn USD chảy vào Việt Nam là khó thể xảy ra. Ông Chương kể lại chuyện một người bà con của ông ở bên Mỹ ngày hôm trước vừa điện thoại về cho biết một ngân hàng còn đề nghị cho khách hàng vay đến 40 ngàn USD với lãi suất 0% - 2% trong vòng 18 tháng. Mặc dù vậy, theo ông Chương, những nhà đầu cơ chưa chắc đã đổ tiền vào ngân hàng Việt Nam để kiếm lời, bởi e ngại Việt Nam sẽ diễn lại kịch bản từng được Malaysia áp dụng vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế khu vực 1997 - 1998. Tức là đóng băng ngoại tệ, không cho các nhà đầu tư rút ra khỏi thị trường. Mặt khác, dù muốn dù không chúng ta cũng đang phải cạnh tranh với Mỹ trong thu hút đầu tư gián tiếp, bởi hiện cả hai đang cùng rơi vào một cái đáy. Thay vì đổ tiền vào Việt Nam, nhiều khả năng những nhà đầu tư sẽ chọn Mỹ do hệ thống luật pháp và chính sách ở thị trường này giúp họ dễ tiên liệu được tình hình hơn. Ông Chương vừa ngừng lời, ông Trần Hoàng Ngân tiếp: - Vấn đề anh Chương vừa nêu tôi cũng đã được nghe từ chính lãnh đạo một công ty Hàn Quốc có vốn đầu tư vào Việt Nam trong chuyến công tác đến Seoul tuần rồi. Nguyên nhân khiến họ lo lắng là do một báo cáo từ Nhật Bản về thâm hụt cán cân thương mại của nước ta. Tôi đã trả lời họ rằng thâm hụt cán cân thương mại hiện nay của chúng ta là 11 tỉ USD và từ nay cho đến cuối năm, thâm hụt cán cân thương mại không thể vượt quá 25 tỉ USD. Trong thời gian tới, chắc chắn Chính phủ sẽ sử dụng các biện pháp thuế nhằm siết lại nhập khẩu, thậm chí có thể cho tái xuất phôi thép, phân bón… - những hàng hóa tác động mạnh đến chỉ số CPI. Làm việc với khá nhiều đối tác Nhật Bản, ông Trần Sĩ Chương đưa ra một cách lý giải về nguồn gốc báo cáo ông Ngân vừa đề cập. Theo ông, dự báo về thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam trong năm 2008 có thể xuất phát từ tình hình xuất khẩu. Giả sử, tuần thứ nhất có một doanh nghiệp Việt Nam thông báo hủy hợp đồng xuất khẩu. Tuần thứ hai có thêm ba doanh nghiệp thông báo hủy hợp đồng. Tuần thứ ba có thêm bảy hợp đồng xuất khẩu bị hủy… Khi thông tin hàng trăm hợp đồng bị hủy bay tới Nhật thì chúng trở thành căn cứ để người ta đưa ra báo cáo trên. Thực tế thì tình trạng lạm phát tăng, lãi suất cao đang gây khá nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Tiếp lời ông Chương, ông Huỳnh Bửu Sơn cho rằng nên xem xét lại chính sách lãi suất cho xuất nhập khẩu: - Việc NHNN quy định doanh nghiệp xuất khẩu chịu lãi suất vay ngoại tệ cao hơn doanh nghiệp nhập khẩu vô hình trung đã khuyến khích nhập khẩu, gây áp lực lên cán cân thương mại. Thực ra, đối với một nền kinh tế đang phát triển, nhập khẩu máy móc, công nghệ hiện đại phục vụ sản xuất là chuyện hoàn toàn bình thường. Thế nhưng, đối tượng nhập khẩu nhiều nhất là các doanh nghiệp nhà nước. Khi những khoản đầu tư công này không hiệu quả thì sẽ trở thành “lực đẩy” đối với lạm phát. Lập luận cho rằng những doanh nghiệp xuất khẩu không cần ngoại tệ đã buộc các doanh nghiệp xuất khẩu - chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân - vay tiền đồng với lãi suất cao. Với mức lãi suất hấp dẫn như hiện nay, những doanh nghiệp nhập khẩu sau khi vay USD, chỉ cần quy ra tiền đồng rồi gửi vào ngân hàng là đã có lời. Phải chăng đó là lý do khiến những hợp đồng xuất khẩu bị hủy như anh Chương vừa nêu. Lập luận của ông Sơn được sự đồng tình của các khách mời. Ông Trần Hoàng Ngân nói: - Cuối năm 2007, khi mà chỉ số CPI cuối năm lên đến 12,53%, tôi có nêu ra chín nguyên nhân gây nên lạm phát, trong đó nhấn mạnh vào hai điểm là sự nới lỏng chính sách tiền tệ và đầu tư công hiệu quả thấp. Theo báo cáo của Quốc hội, ngân sách hàng năm bội chi 5%. Nghĩa là tổng thu nhập quốc dân (GDP) càng lớn thì bội chi càng lớn, gây nên lạm phát. Đến lúc này, tác động của chính sách tiền tệ vào chỉ số CPI là không lớn, tác nhân chính gây nên lạm phát là đầu tư công không hiệu quả và lạm phát quốc tế. vì vậy không nên quá thắt chặt tiền tệ, gây khó khăn cho sản xuất. Nếu tiếp tục như vậy nền kinh tế nước ta vừa suy giảm, vừa có lạm phát cao! Như vậy, để đẩy lùi lạm phát, không thể chỉ trông chờ vào những giải pháp tiền tệ mà NHNN đưa ra. Ông Huỳnh Bửu Sơn nói: Điều quan trọng nhất là tạo ra niềm tin, cho thấy viễn cảnh kinh tế sẽ phục hồi, ổn định, nhịp độ tăng trưởng duy trì thì mọi chuyện sẽ tốt. Không phải là chúng ta không có giải pháp nhưng những chính sách mà chúng ta đã triển khai trong thời gian qua là hơi cập rập. Sách giáo khoa dạy rằng muốn chống lạm phát thì phải thắt chặt tín dụng. Tuy nhiên, tùy theo tình hình của mỗi nước mà tính toán liều lượng khi áp dụng lý thuyết này vào thực tế. Chúng ta cũng nên xem xét mối tương quan của Việt Nam so với thế giới. Hàng hóa khan hiếm gây nên lạm phát. Trong rổ hàng hóa, chắc chắn chúng ta không thể kéo giá của tất cả mặt hàng xuống. Vậy nên phải xác định rõ những hàng hóa cần ưu tiên kéo giá xuống trước và những mặt hàng đó chúng ta có khả năng kéo được giá của chúng xuống. Tôi nghĩ các doanh nghiệp sản xuất hiện nay đang rất cần được tiếp sức để duy trì hoạt động. Bởi họ chính là cái “phao” giúp nền kinh tế nổi lên trước sức ép lạm phát. Đồng tình với ý kiến của ông Sơn, ông Trần Sĩ Chương bổ sung:

Còn những chính sách đưa ra mà khiến người ta không tiên liệu được thì họ sẽ phản ứng. gây áp lực lên cán cân thương mại” Trần Sĩ Chương . Đồng tiền liền khúc ruột. Nhưng chính sách sẽ không có đủ hiệu lực nếu như không được công chúng tin tưởng.Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Sài Gòn: “Việc tăng lãi suất nhằm hút tiền về chỉ làm cho luồng tiền chạy từ ngân hàng này sang ngân hàng kia. thỉnh thoảng bày tỏ thái độ đồng tình qua những tiếng cười khe khẽ.. cổ phần… Cho nên.Phó Chủ tịch HĐQT Công ty Le & Associates: “Trong giai đoạn 1991-1992. hiện tùy thuộc vào khả năng tiên liệu của công chúng. bao gồm chi phiếu. ngày càng có nhiều người bỏ tiền tích trữ ra đầu tư. Ý kiến của ông Bích cũng đã khép lại không khí tranh luận sôi nổi của buổi tọa đàm. Khi bỏ tiền cho ai đó vay.Giám đốc Đối ngoại Công ty PepsiCo Việt Nam: “Việc NHNN quy định doanh nghiệp xuất khẩu chịu lãi suất vay ngoại tệ cao hơn doanh nghiệp nhập khẩu vô hình trung đã khuyến khích nhập khẩu. Nhưng đến lúc này. theo tôi. Niềm tin. Chính điều đó đặt ra câu hỏi về niềm tin của cả hệ thống.. Chúng ta giải quyết được là nhờ Chính phủ đã thể hiện một quyết tâm chính trị rất cao. tác nhân chính gây nên lạm phát là đầu tư công không hiệu quả và lạm phát quốc tế” Vũ Thị Kim Cúc . Vậy nên những gì thuộc về mẫu số chung của thế giới thì chúng ta bỏ qua một bên để tập trung xem xét những yếu tố “khác với thế giới” gây nên lạm phát. Trong giai đoạn 1991-1992. . Chúng ta giải quyết được là nhờ Chính phủ đã thể hiện một quyết tâm chính trị rất cao” PGS. do những biến động về lãi suất.. Ông nói: . Tại sao chúng ta không áp dụng bài học cũ đó để giải quyết vấn đề lạm phát hiện nay? Khác với mọi lần. tình hình còn tồi tệ hơn hiện thời rất nhiều khi chỉ số CPI đã lên tới 30%/tháng. người cần được đảm bảo rằng sẽ lấy lại được số tiền ấy cộng với khoản chênh lệch mà đồng tiền ấy sinh ra sau một khoảng thời gian nhất định. Không ai biết ông đang nghĩ gì. giá vàng. Cơ sở tạo nên niềm tin là sự ổn cố (an tâm) và khả năng tiên liệu. Hy vọng đăìng sau hiện tượng này là một tín hiệu về sự trở lại của niềm tin! Thượng Tùng ghi Luật sư Nguyễn Ngọc Bích: “Chính sách sẽ không có đủ hiệu lực nếu như không được công chúng tin tưởng” Huỳnh Bửu Sơn . Thời gian gần đây. từ đầu buổi tọa đàm đến giờ. thương phiếu. Vấn đề còn lại là hiệu quả trong đầu tư công. khi đồng tiền ổn định thì những biến thái của nó cũng sẽ ổn. gửi vào ngân hàng để hưởng lãi suất cao hơn. Chính sách tiền tệ coi như đã thuận lý. luật sư Nguyễn Ngọc Bích hầu như không lên tiếng. Đầu tư nước ngoài chúng ta cũng không quan tâm nữa. Không phải đến bây giờ nền kinh tế chúng ta mới trải qua lạm phát. Chính sự tiên đoán chính xác sẽ tạo ra những thay đổi từ từ và kéo dài ổn cố. nên sợ mất là tâm lý chung của những người giữ tiền. tỷ giá USD. Chính sách tỷ giá cũng chỉ có tính chất tương đối.TS Trần Hoàng Ngân: “Tác động của chính sách tiền tệ vào chỉ số CPI là không lớn. chứng khoán.Phó Giám đốc Công ty Bến Thành Tourist: “Đã xuất hiện tình trạng kiều bào ở nước ngoài vay USD với lãi suất thấp để chuyển về cho bà con trong nước đổi ra tiền đồng. Lặng lẽ ghi chép. có lẽ ông không thể yên lặng thêm được nữa. chứ không tăng thêm tiền chảy vào ngân hàng” Nguyễn Minh Quyền . đặc biệt là hình thức đầu tư rất đa dạng và linh hoạt. Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế sử dụng tiền và những biến thái của nó.Những gì xảy ra với tất cả mọi người thì đều có tính tương đối. tình hình còn tồi tệ hơn hiện thời rất nhiều khi chỉ số CPI đã lên tới 30%/tháng.Từ nãy giờ chúng ta nói khá nhiều về chính sách.

vn/view.SAGA. số 251.DNSGCT http://www. ra ngày 30/05/2008 www.VN l Thượng Tùng .SAGA.vn hợp tác với Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần.asset.aspx?id=12277 .Bài www.