P. 1
sản xuất rau an toàn

sản xuất rau an toàn

|Views: 525|Likes:
Được xuất bản bởihpv1989

More info:

Published by: hpv1989 on Oct 22, 2010
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

11/10/2012

pdf

text

original

n xuất rau an toàn – cần kiên trì và những giải pháp đồng bộ Nhằm bảo đảm an toàn vệ sinh

thực phẩm, sức khỏe cho người dân, TP Thanh Hóa đã tiên phong trong việc xây dựng các mô hình trồng rau an toàn. Song, do nhiều nguyên nhân mà vài năm trở lại đây, mô hình trồng rau an toàn không được phát triển, nhân rộng... Diện tích trồng rau an toàn bị thu hẹp Ai cũng hiểu được sự quan trọng của rau trong khẩu phần Sản xuất rau an toàn ở xã Quảng Thắng, TP Thanh Hóa ăn hàng ngày, nhưng hiện nay người dân thường có tâm lý lo sợ mỗi khi ăn rau, bởi trong quá trình sản xuất, người trồng rau đã sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật, trong khi đó thời gian cách ly lại không được bảo đảm, có hộ thu hoạch rau bán sau khi phun thuốc. Trước thực trạng trên, năm 2003, TP Thanh Hóa chỉ đạo cho 4 xã Đông Hải, Đông Hương, Quảng

Thành, Quảng Thắng thực hiện thí điểm mô hình rau an toàn (RAT). Để khuyến khích phát triển và nhân rộng mô hình, chính quyền thành phố đã hỗ trợ đầu tư xây dựng công trình cấp thoát nước, điện thắp sáng, hỗ trợ máy bơm, mở lớp tập huấn về kỹ thuật trồng RAT cho người dân. Mô hình trồng RAT ngay lập tức nhận được sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân. Thời kỳ “hoàng kim” của mô hình sản xuất RAT kéo dài được 3 năm (2003 – 2005), với hơn 10 ha rau các loại như: dưa chuột, ớt, khoai tây, cà chua, hành tỏi, bắp cải, su hào... Mỗi năm người dân quay vòng được từ 4 đến 5 vụ, cho giá trị kinh tế cao gấp từ 2 đến 3 lần so với cấy lúa. Một sào RAT nếu trừ chi phí sản xuất thì trung bình mỗi năm cho lãi từ 5 đến 7 triệu đồng. Hiệu quả là thế, nhưng những năm gần đây, mô hình trồng RAT ở TP Thanh Hóa hầu như không phát triển, diện tích RAT không những không được mở rộng trên địa bàn mà còn bị thu hẹp dần. Xã Đông Hải, vốn đi đầu trong phong trào trồng và phát triển mô hình RAT, xã đã xây dựng được khu trồng RAT khá quy mô, rộng 3 ha, với nhiều chủng loại rau có chất lượng, giá trị kinh tế cao. Nhưng từ

Hiện tại trên địa bàn xã chỉ còn hơn 1 ha trồng rau theo mô hình RAT nhưng chưa chắc nó đã an toàn. nguyên nhân chính là do quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ. không có sự quản lý cũng như kiểm định gì về chất lượng và độ an toàn trong rau của bất kỳ cơ quan chức năng nào. mô hình sản xuất RAT ở đây không còn được duy trì vì diện tích đất sản xuất RAT đã bị thu hồi để xây dựng khu tái định cư. phục vụ cho dự án phát triển đô thị của thành phố. Không chỉ ở 2 xã Đông Hải. năm 2003. xã đã xây dựng khu trồng RAT rộng 2 ha. quỹ đất sử dụng cho sản . bởi những mô hình này là do người dân tự phát làm. song mô hình này chỉ hoạt động được một năm rồi “đóng băng” do gặp khó khăn trong quỹ đất canh tác. xã Quảng Thành hiện nay diện tích trồng RAT cũng đang bị thu hẹp và mất dần. hiệu quả kinh tế đem lại từ việc trồng rau so với các công việc khác không cao. Mô hình trồng RAT trên địa bàn thành phố chưa được phát triển.năm 2008. nên người dân không còn thiết tha. Quảng Thắng cũng là xã tiêu biểu trong việc xây dựng mô hình sản xuất RAT. Quảng Thắng mà cả ở xã Đông Hương.

.. chưa thực sự tin tưởng vào RAT. chia nhiều ô thửa (phần lớn diện tích chỉ ở quy mô hộ gia đình).. hệ thống kênh mương tuy đã được đầu tư nhưng thiếu đồng bộ. cho dù đã được tập huấn những kiến thức về kỹ thuật trồng RAT nhưng nhận thức về RAT của người dân trồng rau trên địa bàn vẫn còn nhiều hạn chế. nhỏ lẻ. không ít hộ dân sản xuất RAT chạy theo năng suất và lợi nhuận. Ngược lại. chưa có hệ thống thủy lợi chuyên biệt cho sản xuất rau màu thực phẩm. không quan tâm đến việc bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Cần kiên trì và có những giải pháp đồng bộ . Hệ thống phân phối thì chắp vá.. ngay chính những người tiêu dùng vẫn chưa có thói quen và có ý thức trong việc mua và dùng RAT. có người còn ham rau giá rẻ..xuất RAT đã ít mà vùng trồng thì manh mún. chủ yếu phục vụ canh tác lúa nước. cứ được giá là bán. sản phẩm thu hoạch chủ yếu là thương lái trực tiếp thu mua nên chưa thể tạo được niềm tin về RAT trong tâm lý người tiêu dùng. Tất cả những điều này đã và đang làm ảnh hưởng đến sự phát triển của mô hình sản xuất RAT. chưa tạo được thương hiệu. Hơn nữa.

tạo được quỹ đất cho người dân sản xuất. hỗ trợ cho người dân trồng RAT. không bón phân hữu cơ chưa qua ủ mục cũng như chọn lọc chủng loại thuốc . các cấp chính quyền TP cần có cơ chế chính sách mạnh hơn nữa nhằm khuyến khích. Đồng thời. bón phân cân đối về dinh dưỡng. cũng cần tổ chức nhiều lớp tập huấn về sản xuất RAT tới các hộ nông dân giúp họ hiểu được thế nào là an toàn. tạo ra phong trào trồng RAT thực sự rầm rộ trong nhân dân. từ đó biết trồng cây khỏe. Tổ chức xây dựng được vùng chuyên canh RAT gắn với thương hiệu của các hợp tác xã. nhưng khó khăn lớn nhất hiện nay là TP không còn quỹ đất để thực hiện và phát triển mô hình trồng RAT. nắm bắt được những tiêu chí cơ bản về RAT và các đặc điểm sinh lý của cây rau qua từng giai đoạn phát triển. Kêu gọi các nhà đầu tư thực hiện nhiều dự án có quy mô lớn. có vậy RAT mới tìm được chỗ đứng trên thị trường. Bên cạnh đó. muốn phát triển và nhân rộng mô hình sản xuất RAT trước hết chính quyền TP cần phải quy hoạch. Chính vì vậy.Trồng RAT trên địa bàn TP phải đối mặt với nhiều khó khăn. doanh nghiệp tạo niềm tin cho người tiêu dùng.

sơ chế. 4 cơ sở đầu tư xây dựng nhà sơ chế rau đủ tiêu chuẩn an toàn. quảng bá. xây dựng thương hiệu và quầy.bảo vệ thực vật. phân phối cần thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền. 10 vùng được quy hoạch bờ bao hệ thống tưới tiêu tiên tiến phục vụ sản xuất. bảo quản.500 m2. giá trị 400. Đồng thời. phân tán.500 triệu đồng/ha/năm. song chậm . Hiện Chi cục Bảo vệ thực vật đang thực hiện giám sát và chứng nhận chất lượng vùng sản xuất rau an toàn của Công ty CP Chế biến thực phẩm Nam Triệu. tích cực triển khai nhiều mô hình sản xuất rau an toàn gắn với tiêu thụ sản phẩm như mô hình khép kín sản xuất. TP Thanh Hóa sẽ có được những vùng RAT thực sự an toàn và phát triển.. Sớm quy hoạch chi tiết vật chất kỹ thuật. nhỏ lẻ.. chế biến.100 tấn/năm. Ngoài ra. Điều đáng quan tâm là thực trạng diện tích manh mún. Toàn thành phố hiện có 25 khu nhà lưới. 17 Tháng 10 2009 07:00 Cung chưa đủ cầu Trên địa bàn thành phố. xây dựng thương hiệu trên thị trường. (baothanhhoa. các đơn vị. hiện có hai đơn vị là Chi cục Bảo vệ thực vật và Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng KHCN có tư cách pháp nhân tổ chức chứng nhận chất lượng. năng suất 90. chỉ đạo sản xuất vùng rau an toàn diễn ra đã lâu. gây khó khăn cho công tác quy hoạch. đóng gói tiêu thụ sản phẩm với quy mô 5 ha. thông tin khoa học kỹ thuật về sản xuất rau. vùng sản xuất khác thực hiện tự giám sát nội bộ và công bố tiêu chuẩn chất lượng theo quy định. trang bị máy tính nối mạng theo dõi thị trường. nhà kính trồng rau sạch quy mô 23. và nhất là thời gian cách ly trước khi thu hoạch được bảo đảm.vn) Thứ bảy. Bên cạnh đó. điểm bán RAT tạo thuận lợi cho người tiêu dùng. các nhà sản xuất. Làm tốt được những điều đó. trang thiết bị phục vụ sản xuất.

Bình quân. chưa có giấy chứng nhận của các cơ quan chức năng… để tạo lòng tin cho người tiêu dùng. làm chủ nhiệm. liên kết sản xuất. thủy lợi. Nhận thức hạn chế của một số hộ dân dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện. từ đó. Do vậy.000ha rau màu được gieo trồng hàng vụ. khu sơ chế. Trước tình trạng đó. Tuy nhiên. bảo quản thiếu. rau an toàn chưa có nhãn hiệu. chưa đồng bộ. Theo Văn Lượng / Báo điện tử Hải Phòng Thời gian qua.được khắc phục. ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất rau an toàn tại TP Cần Thơ. năm 2003. đổi thửa. hoàn thiện qui trình sản . chế biến. tuân thủ biện pháp kỹ thuật sản xuất rau an toàn. phần lớn nông dân canh tác rau theo phương pháp truyền thống. có trên 5. thời gian cách ly của thuốc BVTV. Bước khởi đầu hiệu quả Một hộ trồng rau an toàn ở phường Long Tuyền. tiến sĩ Trần Văn Hai. Trường Ðại học Cần Thơ. tập trung. do: nhiều điểm trồng rau an toàn rơi vào vùng qui hoạch. nhóm nghiên cứu đã điều tra thực trạng sản xuất rau của nông dân tại các vùng trồng rau trọng điểm. không chú ý đến dư lượng thuốc trong sản phẩm. tiêu thụ sản phẩm rau an toàn. một số đề tài nghiên cứu sản xuất rau an toàn do TP Cần Thơ phối hợp với Trường Ðại học Cần Thơ thực hiện đã đạt kết quả khả quan. cho thuê. diện tích trồng rau màu của TP Cần Thơ tăng lên theo chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Cơ sở hạ tầng đường. phân đạm vô cơ. chưa bảo đảm thời gian cách ly. Ðể đảm bảo những tiêu chuẩn về rau an toàn. TP Cần Thơ. việc triển khai ứng dụng những kết quả này đang gặp không ít khó khăn. có chế chính sách khuyến khích. tạo điều kiện cho người sử dụng đất dồn điền. quận Bình Thủy. Tuy nhiên. yêu cầu quy hoạch chi tiết vùng chuyên canh sản xuất rau an toàn theo hướng hàng hóa với số lượng lớn phục vụ thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu là cần thiết và đi trước một bước. Ðề tài do Phó Giáo sư. Thành phố quan tâm. phân bón. Những năm gần đây. chuyển nhượng. lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV). chi cục BVTV Cần Thơ đã thực hiện đề tài “Triển khai ứng dụng kỹ thuật sản xuất và nghiên cứu khả năng tiêu thụ rau an toàn ở TP Cần Thơ”. tích tụ ruộng đất để hình thành vùng sản xuất rau an toàn. khuyến khích các doanh nghiệp liên doanh. lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật. hệ thống tưới tiêu. Ðây được xem là bước khởi đầu trong nghiên cứu. chưa xây dựng được mạng lưới tiêu thụ rộng rãi. cán bộ Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng. TP Cần Thơ sắp triển khai dự án “Xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn phục vụ tiêu dùng tại Cần Thơ” nhằm giải quyết những vấn đề trên.

Tiêu biểu là mô hình che lưới trên cải xà lách trong mùa mưa tại phường Hưng Thạnh. từng thời vụ canh tác. nhà khoa học. quận Bình Thủy được xem là một mô hình hoạt động đạt hiệu quả cao so với các vùng sản xuất rau an toàn khác của TP Cần Thơ vì tìm được đầu mối tiêu thụ sản phẩm ổn định là siêu thị Metro. Tuy nhiên. năng suất cao hơn ruộng không che lưới là 8. cung ứng cho siêu thị Metro. nhà lưới đơn giản và các mô hình ứng dụng tổng hợp. chính quyền địa phương và doanh nghiệp trong quá trình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn. Nhóm nghiên cứu tổ chức tập huấn và chuyển giao qui trình sản xuất rau an toàn cho nông dân trong vùng trồng rau. HTX sản xuất khoảng 3 tấn rau.577kg/ha và lợi nhuận cao hơn 6. giảm ô nhiễm và ngộ độc thuốc BVTV đối với người trực tiếp sản xuất và tiêu thụ rau. huyện của TP Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang. quận Cái Răng.5 đến 2. Ðây là một mô hình có sự phối hợp chặt chẽ của nông dân.44 lần/vụ tùy theo từng loại rau. Phó Giáo sư. lợi nhuận cao hơn 13. tiến sĩ Trần Văn Hai. rau an toàn thường có giá cao hơn rau bình thường nên đa phần người tiêu dùng có thu nhập chưa cao ngại tìm mua rau an toàn. người bán rau còn ngại tìm rau an toàn để bán vì sợ không có người mua và sợ bán không có lời. tạo thương hiệu cho rau an toàn tại TP Cần Thơ”. Vì vậy. Kết quả cho thấy: năng suất và lợi nhuận của ruộng rau áp dụng theo qui trình sản xuất rau an toàn thường cao hơn ruộng canh tác theo tập quán của nông dân. cần xây dựng vùng sản xuất rau an toàn với sự kiểm tra và giám sát của ngành chức năng. Những vấn đề cần quan tâm Từ thành công của đề tài trên. Trong đó. màu các loại.5 triệu đồng/ha. tìm thị trường tiêu thụ rau. kết hợp với kỹ thuật bảo vệ cây trồng từ các kết quả đã nghiên cứu. xây dựng cửa hàng kinh doanh phân phối rau an toàn. Tuy nhiên.040kg/ha. nhận xét: “75% người tiêu dùng có nhu cầu sử dụng rau an toàn để bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Mô hình trồng dưa leo có màng phủ nông nghiệp năng suất cao hơn 5. Những mô hình áp dụng cho các điểm trình diễn là dùng màng phủ nông nghiệp. Các điểm trồng rau an toàn còn nhỏ lẻ. HTX có 12 thành viên.7 triệu đồng/ha. Qua điều tra tình hình lưu thông rau trên thị trường và tập quán tiêu thụ rau của người tiêu dùng. Các loại thuốc BVTV sử dụng trên rau an toàn thường là thuốc trừ sâu sinh học. chủ nhiệm đề tài. Ðời sống và thu nhập của thành viên HTX luôn ổn định. Bên cạnh đó. manh mún vì nhiều nguyên do. Bình quân 1 tháng. Còn phía người tiêu dùng không biết khi mua rau an toàn về dùng có đúng là rau an toàn hay không. quận Bình Thủy… đáp ứng phần nào nhu cầu rau an toàn của người tiêu dùng. góp phần làm sạch môi trường.xuất rau an toàn dựa trên những kỹ thuật của nông dân. thực hiện 62 điểm trình diễn ở các hộ dân ở 6 quận. các mô hình và kỹ thuật sản xuất rau an toàn ngày càng được nhân rộng. Hợp tác xã (HTX) sản xuất rau an toàn Long Tuyền. với 5ha chuyên sản xuất rau an toàn. Một số điểm trồng rau an toàn trước đây như . Mô hình đậu cove có lợi nhuận chênh lệch so với ruộng bình thường lên đến trên 18 triệu đồng/ha… Rau được sản xuất theo qui trình kỹ thuật rau an toàn hạn chế được số lần phun thuốc BVTV không cần thiết từ 0. nếu nhìn tổng quát thì TP Cần Thơ chưa xây dựng được những vùng chuyên canh sản xuất rau an toàn với qui mô và diện tích lớn. Một số địa phương đã đầu tư xây dựng vùng sản xuất rau an toàn như huyện Phong Ðiền.

Ðây là một tin vui đối với nông dân sản xuất rau an toàn và cả người tiêu dùng. Bài. công ty du lịch. có giấy chứng nhận của các cơ quan chức năng để người tiêu dùng tin tưởng. phường An Bình (quận Ninh Kiều) rơi vào vùng đất qui hoạch nên nông dân không dám phát triển mô hình. Ngoài một số siêu thị có uy tín để người tiêu dùng yên tâm khi chọn mua rau an toàn. Trường Ðại học Cần Thơ và Chi cục Bảo vệ Thực vật thành phố xây dựng”. thời gian thực hiện dự án từ nay đến hết năm 2007. Ngoài ra. dự án cũng sẽ xây dựng một số cửa hàng tiêu thụ rau an toàn ở một số chợ. có nhãn hiệu. rất nhiều ý kiến đề xuất là rau an toàn cần được đóng gói. cho biết: “Dự án được thực hiện nhằm tiếp tục phát triển những vùng sản xuất rau an toàn ở huyện Phong Ðiền và quận Bình Thủy. phân phối rau an toàn cần được quan tâm đầu tư bởi có tìm được thị trường tiêu thụ sản phẩm. giữa năm 2006. Song song đó. cung cấp rau an toàn cho các nhà hàng. có bao bì. hiện đại đã được Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng. việc xây dựng các mạng lưới kinh doanh. hệ thống các siêu thị trên địa bàn thành phố. Dự án sử dụng qui trình sản xuất rau chất lượng cao dựa trên tiến bộ kỹ thuật mới. Song song với việc xây dựng mô hình trồng rau an toàn trong nông dân và mô hình trồng rau an toàn trong nhà lưới.phường Hưng Thạnh (quận Cái Răng). Do đó. ảnh: Nguồn: Báo điện tử Cần Thơ. phần lớn các vùng trồng rau an toàn được thực hiện từ kinh phí đầu tư của địa phương hoặc các dự án sản xuất. nông dân mới yên tâm sản xuất. các siêu thị… giúp nông dân tiêu thụ sản phẩm. rất ít chợ có đầu mối tiêu thụ rau an toàn vì không có gì chứng minh với người tiêu dùng đây thực sự là rau an toàn. Hướng đi 10:04-03/11/2008 mới cho CÁT ÐẰNG rau an toàn . Trước yêu cầu thực tiễn. liên kết với các công ty xuất khẩu rau quả có uy tín. dự án “Xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn phục vụ tiêu dùng tại Cần Thơ” vừa được UBND thành phố phê duyệt. Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp TP Cần Thơ. Mặt khác. rất ít nông hộ tự đầu tư kinh phí để trồng vì không bảo đảm được đầu ra cho sản phẩm. Thạc sĩ Phạm Văn Quỳnh. chủ nhiệm dự án. đáp ứng nhu cầu tiêu dùng rau an toàn ngày càng cao. Dự kiến. Thị trường tiêu thụ rau an toàn là một vấn đề đang được nhiều người quan tâm. dự án cũng hướng tới sản xuất một số rau quả sạch đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. tổng kinh phí thực hiện dự án trên 887 triệu đồng.

Trong tháng 11-2008. Hóc Môn và Thủ Đức. Mục tiêu của mô hình này là từng bước hướng đến một thị trường cung cấp RAT cho toàn TP. giúp người tiêu dùng an tâm khi lựa chọn RAT không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. mức tiêu thụ và thúc đẩy phát triển RAT. đồng thời nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước trong việc kiểm soát chặt chẽ dư lượng chất độc trong rau. giấy chứng nhận đủ điều kiện VSATTP sẽ bị thu hồi. dự kiến trong tháng 11-2008. Đây được xem như một hướng đi mới cho việc tiêu thụ RAT của TPHCM. nếu phát hiện các sạp RAT không đạt các điều kiện bắt buộc. Theo đó. Nguồn: Sài Gòn giải phóng Online . Hóc Môn và Thủ Đức.Sắp tới rau an toàn đóng gói trước khi đưa ra bày bán tại các chợ đầu mối. Chi cục Bảo vệ thực vật Trung tâm Tư vấn và Hỗ trợ nông nghiệp (thuộc Sở NN-PTNT TPHCM) sẽ triển khai thí điểm mô hình kinh doanh sạp rau an toàn (RAT) tại 3 chợ đầu mối Bình Điền. mô hình sạp RAT sẽ được triển khai thí điểm tại 3 chợ đầu mối. ngăn chặn và xử lý kịp thời hành vi vi phạm các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP). cũng như được cơ quan chức năng và ban quản lý chợ dán logo RAT lên sạp và trên các sản phẩm. TPHCM: Nhập hơn 70% lượng rau tiêu thụ Rau an toàn ra chợ: Hướng đi mới! Như đã nói ở trên. Chi cục Bảo vệ thực vật Trung tâm Tư vấn và Hỗ trợ nông nghiệp (thuộc Sở NN-PTNT TPHCM) sẽ triển khai thí điểm mô hình kinh doanh sạp rau an toàn (RAT) tại 3 chợ đầu mối Bình Điền. đồng thời giúp người tiêu dùng an tâm hơn khi lựa chọn sản phẩm RAT không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. sẽ được dán logo RAT và Trong tháng 11-2008. Đây được xem như một hướng đi mới cho việc tiêu thụ RAT của TPHCM. Qua những đợt kiểm tra đột xuất. đồng thời giúp người tiêu dùng an tâm hơn khi lựa chọn sản phẩm RAT không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. các sạp RAT phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện VSATTP do Sở Y tế TPHCM cấp.

. một người thường xuyên có nhu cầu mua rau sạch đã cho biết: “Người tiêu dùng ai cũng muốn mua được sản phẩm rau sạch để bảo đảm sức khỏe gia đình nhưng ở thành phố không có cửa hàng hay siêu thị nào bán rau sạch đã được kiểm định. những mô hình sản xuất rau an toàn đã được phổ biến và nhân rộng ở nhiều địa phương trong tỉnh. Khi ra chợ hay . đầu ra cho sản phẩm rau an toàn vẫn là bài toán khó chưa tìm được lời giải. Chị Phạm Thu Huyền... 56. NTV) Trong thời gian qua.Sau khi tham quan vùng sản xuất. đại diện vùng sản xuất rau an toàn tại xã An Thọ. mang lại lợi ích cho người tiêu dùng về nguồn rau sạch và hiệu quả kinh tế đối với người trồng rau. trường học. cán bộ Trung tâm khuyến nông giới thiệu các quy trình sản xuất và mong muốn rau an toàn đến được với nhiều người dân thành phố. Khi rau an toàn đâu là sản phẩm sạch thực sự ? chưa đến người tiêu dùng. toàn thành phố quy vùng sản xuất tập trung trên diện tích 600 ha sản xuất rau màu. trong đó có 200 ha áp dụng quy trình sản xuất an toàn. Tuy nhiên.. đặc biệt là các bếp ăn tập thể.8 ha được công bố sản phẩm đạt tiêu chuẩn quy trình rau an toàn và được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp giấy chứng nhận. đơn vị quân đội… Cùng với vùng sản xuất rau An Thọ.

Thực tế. Tuy nhiên. trồng rau mang lại giá trị cao nhưng cũng dễ biến động. không dùng thuốc ngoài danh mục sẽ khó thực hiện. Sự thất bại của mô hình rau sạch thực sự là điều xót xa đối với những người tâm huyết với dự án sản xuất rau sạch ở Bắc Ninh. Và câu hỏi tại sao rau sạch chưa đến tay người tiêu dùng ? . việc nói quản lý được người nông dân không dùng thuốc trừ sâu độc hại. muốn rau sạch bảo đảm “sạch”.người sản xuất phá sản và gần 1 sào cà rốt của gia đình anh sẽ có tổng thu nhập hơn 5 triệu đồng thì mới có lợi nhuận.T trên địa bàn tỉnh nhưng chỉ có 91. Mặt khác. anh Hoàn tâm sự “chưa bao giờ các tư thương chấp nhận mua sản phẩm rau của gia đình anh theo giá của rau sạch mà vẫn bị đánh đồng như nông sản của các hộ trồng rau khác ở địa phương”. Vì trên thực tế không ai có thể quản lý được việc dùng thuốc trừ sâu của nông dân.A.. Vấn đề khó khăn nữa trong việc sản phẩm rau sạch chưa đến được với người tiêu dùng là do kinh doanh R. đó cũng là điều dễ hiểu. .4 ha diện tích trồng rau an toàn và 3 cơ sở được cấp giấy chứng nhận sản xuất rau sạch.T là lĩnh vực khó.Vậy.các cửa hàng người bán nào cũng nói rau được bán là rau sạch nhưng lại không có dấu được kiển định. sau hơn 4 năm triển khai dự án về trồng R. Đồng thời tạo sự hài hòa được lợi ích giữa doanh nghiệp và nông dân. Hiện nay. chưa có cửa hàng hay siêu thị nào bán rau sạch. diện tích được mở rộng nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nông dân.A. rủi ro. Rau mua vẫn theo giá rau sạch nhưng chất lượng thì tôi không biết được có hoàn toàn sạch không?” Sự lo ngại của chị Huyền cũng chính là nỗi lo của không ít người tiêu dùng khác trên địa bàn tỉnh. đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng vẫn cần tìm lời giải phù hợp! Bá Trung Kỹ thuật canh tác cây ớt 1-Giống ớt cay F1 số 20 của công ty cổ phần Giống cây trồng miền Nam. 2-Công ty Trang . trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. đòi hỏi nhà quản lý. Người tiêu dùng dù biết đến những lợi ích của rau sạch cũng không biết mua ở đâu.. làm gì để rau sạch có chỗ đứng trên thị trường. “Sản phẩm rau sạch có bảo đảm là “sạch”? hay không được đặt ra cho nhà quản lý cũng như người sản xuất. các doanh nghiệp và nông dân phải bắt tay với nhau.

nông gồm có các giống: Ớt chỉ thiên sư tử Thái lan. TN65 (F1) (chỉ địa). ớt chỉ thiên (F1) TN16 Hàn quốc. Giống (chỉ địa) TN48 (F1). . Ớt (chỉ địa) Chi li Trang nông (F1) Hàn quốc. TN49 (F1) (chỉ địa).

Nhằm kéo dài mùa vụ thu hoạch và bình ổn giá cả. Khả năng thích ứng kỹ thuật Kỹ thuật này sẽ thích ứng với mọi diện tích ruộng. .2004 ::: minhquan] Ớt (Capsicum annum) là loại rau rất có giá ở Indonesia. Những yêu cầu chăm bón Đất phải xốp. Độ pH 5.8. từ nhỏ đến lớn. cho nên sản lượng và giá cả bị dao động rõ rệt trong năm. sạch. không có quá nhiều hàm lượng sét. với tỷ lệ 1:1. Cho đến nay. Nói chung. dễ thoát nước và giàu chất hữu cơ. Lợi thế kỹ thuật Sản lượng ớt và giá cả sẽ ổn định suốt năm. nông dân có được nguồn thu nhập thêm trong mùa khô.com]> Kỹ thuật Hạt giống Hạt giống phải chín già. một hệ thống trồng ớt trái mùa đã được triển khai. Những quả giống chín già phải có màu đỏ. Lượng nước vừa đủ. đều nhau và không bị sâu bệnh. ở Indonesia thường trồng ớt vào đầu mùa khô.5-6. việc trồng ớt ở Indonesia vẫn theo mùa. bằng cách sử dụng plastic đen để phủ đất.Kỹ thuật trồng ớt trái mùa [20 . thay vì dao động giữa thừa và thiếu. Sản lượng hạ thấp vào mùa mưa. phải có rãnh thoát nước tốt. [http://agriviet.Apr . hay trên các luống đất được làm kỹ. Cây giống Đất để ươm cây giống là đất trộn phân. Cây giống ươm trong các túi nhựa.

Nước tưới được bơm vào cho từng gốc cây. Cây giống cần được tưới nước hằng ngày. Khung đỡ rộng từ 1-2m và cao 40-50cm. được uống cong một nửa và được cắm xuống đất để giữ cho các cạnh cách nhau 50cm. Nếu độ pH đất thấp. Phân bón cơ bản cần dùng là urê trộn lẫn với phân (300kg/ha). và KCl (Kaliclorua) (250kg/ha). mặt tối bên dưới sẽ làm cho cỏ không mọc được). Phòng trừ sâu bệnh: Trừ ruồi hại quả bằng bẫy bả eugenol methyl. Phủ plastic đen: Khoảng 12 cuộn/ha. Các cây cách nhau 50cm và các hàng cách nhau 70cm. Trồng ớt vào buổi sáng sớm hay lúc hoàng hôn. Các loài gây hại và dịch bệnh đều có thể kiểm soát bằng việc phun các loại thuốc bảo vệ thực vật thích hợp Thu hoạch và sau thu hoạch . Trồng trọt Mỗi luống trồng thành 2 hàng. Nếu đất rất chua. Chúng dài khoảng 40cm. Trên mặt plastic trổ các lỗ chữ thập tại những vị trí trồng cây để cho cây có thể tăng trưởng. Các mặt xung quanh để ngỏ để tạo sự thông thoáng cho luống trồng. Luống thường rộng 120cm. và sau đó được cày bừa kỹ. Cần phải làm luống cao trước khi trồng cây giống. rãnh giữa luống rộng 40cm và sâu 20cm quanh luống. hoặc khi cần thiết. Làm đất Đất cần được dọn sạch và cày bừa. Plastic nên được căng đều trên mặt luống với mặt ánh bạc hướng lên trên. Cây giống là cây ưa sáng. thì bón khoảng 2tấn/ha dolomite. Được phủ bằng rơm rạ hay vật liệu tương tự. tránh ánh sáng trực sạ. Plastic được rải vào buổi trưa khi ánh nắng mặt trời bắt đầu gay gắt. thì bón thêm dolomite hay vôi. nhưng phải được che bằng giàn có khung đỡ. Khi cây giống được 25-30 ngày tuổi có thể đem ra trồng được. Bảo vệ Cây giống bị chết hay sâu bệnh thì cần được thay thế. rác rưởi. Độ nóng sẽ làm co giãn chất nhựa cho nên nó dễ bị dão. phối hợp với phân trộn compost và chế phẩm phân bón cơ bản. Plastic có màu ánh bạc ở mặt trên và màu đen ở mặt dưới (Mặt ánh bạc sẽ phản chiếu ánh nắng mặt trời và xua đuổi côn trùng. Mép plastic được kéo thấp xuống các bờ luống và được buộc chặt vào vị trí bằng các lạt tre. SP36 (250-300kg/ha).Đất luống phải được don sạch cỏ.

Fabaceae [http://agriviet. Việc bao gói cho vận chuyển cần phải tạo những lỗ thoáng khí. lứa ớt đầu tiên có thể thu hoạch. Dolichos sesquipedalis L.com] ThS. Trần Thị Ba Bộ môn Khoa Học Cây Trồng Khoa Nông Nghiệp & Sinh học ứng dụng. Có thể dùng loại túi lưới. Trường ĐHCT . chúng sẽ biến thành màu đỏ tươi. Đến thời gian này. Rau màu Kỹ thuật trồg đậu đũa [30 - ĐẬU ĐŨA Tên khoa học: Vigna sesquipedalis Fruwirth Vigna sinensis spp. Nơi bảo quản phải khô ráo và thoáng mát. Họ Đậu: Leguminosae.Sau 60-70 ngày.

giàu protein. Sau khi nẩy mầm cây tăng trưởng nhanh. Hoa lưỡng tính. Thân bò.8 mm/ngày. nhụy đực gồm 9 dính + 1 rời. Dạng trái cực dài. Đậu xuất khẩu sang Châu Âu và Canada thì thích trái dài trung bình. tỉ lệ thụ phấn chéo bởi côn trùng rất thấp trong điều kiện khí hậu khô. Tuy nhiên. Đậu đũa là loại rau phổ biến ở thị trường Châu Á. kết trái kéo dài 1. nhiệt độ ban ngày thích hợp là 25 . nơi có vủ lượng 1500 . không lông. nhu cầu của thị trường nước ngoài trong những năm gần đây là tiêu thụ trái tươi và đông lạnh. Philippines. trái non thẳng. có góc cạnh. Indonesia và mở rộng sang Châu Phi. chất bột đường và vitamin A. GIỚI THIỆU Đậu đũa bắt nguồn từ một trong ba loài phụ của đậu cowpea (Vigna unquiculata) được trồng nhiều ở Trung Quốc. màu xanh đậm vì có nhiều trái/kg. hệ thống rễ phát triển tốt. Phẩm chất trái dựa trên màu sắc và chiều dài trái. . Hạt hình quả thận. pH từ 5. mặt lá ít lông tơ. 2. mắt thân thường có màu tím. cây ra hoa.120 cm. Trái tươi có giá trị dinh dưỡng tương đối cao. Trồng trong mùa nắng có tưới đậu mọc tốt như trong mùa mưa. Tùy theo sự tăng trưởng và cường độ thu hái. Đậu mọc tốt ở vùng đồng bằng và nơi có cao độ trung bình.35oC và nhiệt độ ban đêm không dưới 15oC. thích hợp trên đất nhiều hữu cơ. ở cao độ cao > 700 m sự ra hoa của đậu bị hạn chế nhất là vào mùa có thời tiết lạnh.21 noản.30 hạt. láng.6. nhưng trong điều kiện ẩm ướt tỉ lệ nầy có thể tăng đến 40%. Tràng hoa có 5 cánh rời. Đậu đũa chịu hạn giỏi đồng thời tăng trưởng tốt trong mùa mưa ẩm độ cao. Phát hoa mọc ở nách lá. Đậu đũa phản ứng với độ dài ngày không rỏ rệt nhưng thiên về cây ngày ngắn. màu sắc và kích thước thay đổi. Nam Châu Á như Bangladesh. Đậu trồng được trên mọi loại đất . bầu noản với 12 . Trái dài 30 . Lá kép 3 lá phụ với cuống dài.4 tháng sau khi trồng. lá mọc xen kẻ. ra hoa 35 ngày sau khi gieo và bắt đầu cho thu hoạch trái tươi 2 tuần sau khi hoa nở.2000 mm.2 tháng và cây tàn 3 . hoa màu vàng hay xanh lơ mọc thành chùm ở đỉnh. leo quấn.1. vùng Đông Nam Châu Á như Thái Lan.5 . trái chứa 10 . màu xanh nhạt. trái già co thắt lại. yêu cầu nhập khẩu đậu đũa rất thay đổi tùy mỗi thị trường. Ấn Độ. Đậu đũa thích khí hậu nóng. Pakistan.5 . màu xanh nhạt hầu hết được chấp nhận ở Thái Lan và Hồng Kông trong khi Brunei thì thích trái ngắn. ĐẶC TÍNH SINH HỌC Cây thân thảo hằng năm. Nhu cầu nước cả vụ là 6 . mềm.

canh tác phải làm giàn.1.2 x 0. năng suất cao và thường trồng trong mùa nắng.40 kg hạt (dạng lùn). thoát nước tốt.70 cm tùy giống. Những nơi đất thấp phải lên luống cao 15 . thu hoạch tập trung. 4. 4. vụ Xuân Hè gieo tháng 2 .2.9 dl. Đậu leo cho năng suất từ 18 -25 tấn/ha. hạt đen và hạt trắng đen. KỸ THUẬT CANH TÁC 4. Các giống còn phân biệt bởi sắc tố đỏ tím ở đuôi trái.20 cm.35 cm. Mùa nắng nên gieo dầy để thu được năng suất cao. Lượng giống gieo 18 . khả năng thích nghi điều hiện thời tiết của các giống rất cũng khác nhau. hạt đỏ. sai trái.75 ngày.3. Khử đất với Basudin và Kitazin hạt trước khi gieo. vụ Hè Thu gieo tháng 5 . Đậu leo: có rất nhiều giống như giống đậu hạt trắng. Năng suất. Đối với đậu leo gieo hạt khoảng cách 1. GIỐNG Có 2 nhóm giống là đậu lùn và đậu leo. ăn ngon. bón 1 tấn vôi/ha. hạt trắng đỏ. thời gian sinh trưởng ngắn 70 .3.2. trái ngắn 30 .70 cm. Thân sinh trưởng vô hạn.3 dl. Bón phân: . Cách trồng Chọn đất cao. ăn ngon. làm sạch cỏ. năng suất thấp hơn đậu leo. ăn giòn. Vụ Đông Xuân gieo tháng 11 .1. Đối với đậu lùn gieo hạt khoảng cách 50 x 30 cm. thịt trái chắc. 3.6 dl và vụ Thu Đông gieo tháng 8 . mỗi lổ để 2 cây. phẩm chất trái. màu trái thay đổi từ xanh nhạt (giống hạt trắng) đến xanh rất đậm (giống hạt đen). cày xới kỷ và phơi ải 7 .10 ngày. Hiện nay các Công Ty Giống có nhiều giống cao sản đã qua tuyển lựa và thích hợp canh tác cho các mùa khác nhau và cho trái đáp ứng yêu cầu thương phẩm.40 m. thích hợp canh tác trong mùa mưa. Giống hạt trắng cho trái thịt dầy. Đậu lùn: cây cao 50 . 3. mỗi lỗ để 2 cây. Giống hạt đỏ và hạt đen cho trái thịt mỏng. Mùa mưa ít nắng nên gieo thưa để dễ chăm sóc và thu hái.12 dl. Đậu lùn thu ít lứa. trái dài 40 . Thời vụ Đậu đũa trồng quanh năm nhờ có nhiều giống.20 kg hạt /ha (đậu leo) và 30 . 4.

Trong thời gian thu hoạch trái tươi. không giật mạnh làm rụng nụ hoa các lứa sau. Đậu cho thu hoạch kéo dài 30 . 20 . loại phân và liều lượng bón cho 1 ha: Loại phân Tổng số Vôi (tấn) 1 Phân chuồng (tấn) 20 16-16-8 (kg) 1.5 tấn/ha.Lượng phân bón tùy theo điều kiện dinh dưỡng có sẳn trong đất và nhu cầu của cây qua từng giai đoạn sinh trưởng. bón phân NPK và vun mép còn lại. 100 .5 thu rộ. bón phân NPK rồi vun mép lấp phân và giữ ấm gốc.250 kg/ha P2 O5: 150 . Đậu đũa cho năng suất cao hơn đậu cove nên thường bón lượng phân cao hơn. tưới dậm phân đạm và kali 10 ngày/lần để kéo dài thời gian thu trái và trái đậu được tốt. THU HOẠCH Đậu lùn cho thu hoạch 40 . Sau đây là một ví dụ về thời điểm. cách ngày thu 1 lần.25 tấn phân chuồng và 1-2 tấn tro trấu. 150 . Khi thu dùng dao cắt hay dùng tay vặn nhẹ trái. Bón thúc lần 2: làm cỏ và đánh rảnh bên phía đối diện. .45 ngày và đậu leo cho thu hoạch 45 . 50 kg DAP và 50 kg KCl hoặc 400 . 5. khoảng 150 .000 kg super lân. Các khâu chăm sóc khác thực hiện như canh tác đậu cove.000 Urê (kg) 100 DAP (kg) 50 KCl (kg) 50 Bón lót Tưới thúc Bón thúc 2Bón nuôi trái lần 1 20 300 400 300 100 50 50 Bón thúc lần 1: làm cỏ và đánh rảnh một bên hàng đậu.120 kg /ha Dựa vào công thức trên có thể bón cho 1 : 1 tấn phân 16-16-8. Năng suất lứa đầu rất thấp. mỗi lần thu khoảng 1 -1. Công thức phân thường dùng cho đậu đũa là: N: 180 .1.200 kg KCl. Lứa thứ 4 .50 ngày sau khi gieo.150 kg Urê.200 kg/ha.40 ngày với 12 -15 lứa.450 kg Urê.200 kg/ha K2O : 80 . 800 .

chuyên môn hóa các loại cây đặc sản (cây ăn quả. [http://agriviet. công ty trách nhiệm hữu hạn chuyên sản xuất và phân phối rau an toàn… Tuy nhiên.Rau an toàn những sản phẩm rau tươi bao gồm tất cả các loại rau ăn củ. Nhu cầu đối với rau an toàn và khả năng sản xuất rau an toàn là rất lớn. năng suất đạt 150 tạ/ha và sản lượng trên 9. hoa. đậu ngọt.KHCN ngày 28/4/1998 về sản xuất rau an toàn của Bộ Nông nghiệp và PTNT thì “rau an toàn“ được khái niệm như sau: những sản phẩm rau tươi bao gồm tất cả các loại rau ăn củ. thân. Nhiệm vụ người sản xuất rau là không ngừng trau dồi nâng cao sự hiểu biết và nắm vững quy luật sinh trưởng. cải bắp. Do đó. về lâu dài. kim loại nặng. hàm lượng các hoá chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức mức tiêu chuẩn cho phép. áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến để không ngừng nâng cao năng suất. Theo số liệu của Tổng cục thống kê. hành tây. hàm lượng các hoá chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức mức tiêu chuẩn cho phép. an toàn cho người tiêu dùng và môi trường. quả có chất lượng đúng với đặc tính giống của chúng. môi sinh. lá.BNN . … Sản xuất rau phải trở thành một nghề ở những vùng chuyên canh rau. hoa. Đồng bằng Sông cửu Long và Đông Nam Bộ. thân. chuyển dịch cơ cấu cây trồng mà còn nâng cao thu nhập cho người sản xuất rau ở các vùng sản xuất thâm canh. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT. chất lượng rau. cây cảnh…) hay chuyển từ sản xuất rau truyền thống sang sản xuất rau an toàn. Đảm bảo thành phần dinh dưỡng chủ yếu trong từng loại rau. dư lượng nitrat.000ha trồng rau.com] Việt Nam hiện có gần 400.1998/QĐ . Đứng trước thách thức này đòi hỏi họ phải vận động để thay đổi hoạt động sản xuất như chuyển dần một phần lao động trong nông hộ sang tham gia hoạt động phi nông nghiệp.Sạch. việc sản xuất nông nghiệp của nông dân ở các vùng này ngày càng khó khăn. Ngày nay. su hào. phát triển của cây rau. đối với mỗi địa phương cũng có những đặc thù riêng về phát triển nghề trồng rau an toàn. diện tích trồng rau cả nước đến năm 2005 là 644 nghìn ha. an toàn cho người tiêu dùng và môi trường thì được coi là đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. súp lơ. cải thiện chế độ dinh dưỡng cho người lao động. sản lượng đạt gần 6 triệu tấn/năm với nhiều loại rau. Đã hình thành nên các vùng chuyên canh rau lớn ở Đồng bằng sông Hồng. Nói đúng hơn. Phát triển nghề trồng rau không những giải quyết tốt việc làm cho lực lượng lao động nông thôn. Rau an toàn phải đáp ứng được các yêu cầu sau: . người tiêu dùng đã quan tâm nhiều đến sự an toàn của thực phẩm bởi sự tồn dư một số chất độc hại trong cây rau như: các hóa chất bảo vệ thực vật. an toàn về chất lượng: Khi sản phẩm rau không chứa các dư lượng dưới đây vượt ngưỡng cho phép: + Thuốc bảo vệ thực vật + Hàm lượng nitrat + Kim loại nặng + Vi sinh vật gây hại Trong đó mức độ an toàn về chất lượng thực phẩm là quan trọng nhất. quá trình đô thị hóa đã làm diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp với tốc độ rất nhanh. đậu nhiệt đới và á nhiệt đới như: cà chua. So với tổng diện tích và sản lượng rau hàng năm nói chung. hợp tác xã chuyên ngành kiểu mới. gọi tắt là rau an toàn. dưa chuột. TIÊU THỤ RAU AN TOÀN Ở VIỆT NAM Trong những năm qua. Đi cùng với quá trình thay đổi hình thái canh tác là sự thay đổi về tổ chức sản xuất như sự ra đời của các nhóm. … Theo Quyết định số 67 . quả có chất lượng đúng với đặc tính giống của chúng. góp phần cải thiện môi trường.5 triệu tấn. Đặc biệt phải thực hiện quy trình sản xuất rau sạch một cách triệt để. rau an toàn hiện nay chiếm chưa tới 10%. trên thị trường . vi sinh vật có hại. lá. tăng thu nhập.

nhất là khu nông nghiệp công nghệ cao để tạo đột phá cho sản xuất rau. hoa. Cách tưới này không chỉ hiệu quả đối với vùng thiếu nước mà ở đâu nếu áp dụng cũng góp phần hạn chế sâu bệnh hại do giảm ẩm độ xung quanh cây trồng. Hạ tầng cơ sở cho sản xuất rau. hoa quả cho thu nhập 400-500 triệu đồng/ha nhưng cho tới nay. nên có nhiều chỉ tiêu không sát". hoa. nhưng trái vụ thì hầu như không có. giao hàng đến tay người mua nước ngoài đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm như Công ty liên doanh của Hà Lan-Indonesia HATSFARM ở Đà Lạt hiện nay. đạt 30% kế hoạch. đóng gói bao bì. Tuy nhiên. quả đã trở thành quy hoạch treo. quả cho thu hoạch trên 6. Sản xuất chủ yếu vẫn theo quy mô hộ gia đình. thường phải sử dụng chung với sản xuất cây lương thực và cây công nghiệp nên rất khó đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) Nguyễn Trí Ngọc thừa nhận: "Trước đây.5 tấn triệu trái cây. tạo sản lượng lớn ổn định. lập trang trại để tạo ra được các vùng sản xuất lớn. Quy mô sản xuất quá nhỏ bé khiến cho sản lượng hàng hóa không nhiều (quy mô sản xuất của Thái Lan là 5-10 ha/hộ. dựa chủ yếu vào khai thác lợi thế tự nhiên. Hầu hết các địa phương đều chưa có quy hoạch cụ thể tạo thuận lợi cho việc tích tụ đất. Một số mô hình sản xuất rau an toàn trong nhà có mái che tại Mộc Châu. . Vì vậy. Lại thêm việc tổ chức hoạt động xuất khẩu của hầu hết các doanh nghiệp trong lĩnh vực rau. hoa. do thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau quả ở Việt Nam vẫn ở quy mô nhỏ lẻ. do chưa tính đến yếu tố Việt Nam sẽ gia nhập WTO. lại không đồng bộ. hoặc quy hoạch đất cho cây lương thực và cây công nghiệp mà chưa có quy hoạch cụ thể cho phát triển sản xuất rau. dù đã có mặt ở thị trường 50 nước nhưng kim ngạch xuất khẩu rau quả của chúng ta không được như mong đợi mà là sự trồi sụt thất thường theo diễn biến thị trường. vấn đề lớn nhất hiện nay là cả nước hiện thiếu một chương trình đồng bộ có mục tiêu về phát triển sản xuất và xuất khẩu rau. Bắt đầu tháo gỡ từ vùng nguyên liệu. So với mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD vào năm 2010 của "Chương trình phát triển rau quả và hoa cây cảnh thời kỳ 1999. chất lượng cao. chỉ sử dụng nông dược hữu cơ. Đa phần các doanh nghiệp xuất khẩu rau. tập trung.6 triệu tấn rau với tiềm năng rất lớn về xuất khẩu. chính qui theo các qui trình tiên tiến từ canh tác đến thu hái. Mặc dù đã có những mô hình sản xuất rau. 1. theo mùa vụ nên vào thời kỳ cao điểm của các mùa vụ ( mùa đông với rau. hoa. quả của Việt Nam. hoa. nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển sản . Trong khi đó. Công tác quy hoạch chưa được quan tâm đúng mức và tổ chức thực hiện còn nhiều bất cập nên nhiều quy hoạch diện tích trồng rau. với mỗi hộ từ 200 . hoa. hoa. quả không gắn được thương hiệu của doanh nghiệp vào sản phẩm. quả. thiếu. vai trò và lợi ích của việc phát triển sản xuất và xuất khẩu rau. lưu kho bảo quản lạnh. đáp ứng yêu cầu thị trường cho xuất khẩu. Chưa có đơn vị nào tổ chức kinh doanh sản xuất. mùa hè với quả) thì lượng hàng hoá tập trung quá cao.4 triệu ha rau. quả vừa yếu. tiêu thụ. quả xuất khẩu.. xuất khẩu bài bản. sản xuất hàng hoá. dưỡng sinh. Các biện pháp dù đơn lẻ hay đồng bộ cũng đều nằm trong khuyến cáo của quy trình sản xuất rau an toàn trong nhà lưới với 2 dạng: . không tiêu thụ nhanh thì thua lỗ nặng. chế biến. chưa thành sản xuất hàng hóa. Sử dụng nhà lưới dùng vỉ để ươm cây con trong canh tác rau là xu thế phát triển mạnh. vận chuyển. nhận thức về vị trí. cung cấp một phần rau sạch cho thị trường Hà Nội Đạm Phú Mỹ hướng đến thị trường mới Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.000 m2 cho hoa hoặc quả.chỉ được phép cung ứng và tiêu thụ rau an toàn. chọn lựa. cả nước hiện có trên 1. hoa. khi xây dựng chương trình xuất khẩu rau quả. thủ công trong thu hoạch. Trong sản xuất rau an toàn áp dụng biện pháp tưới nhỏ giọt. hoa.. ổn định cho xuất khẩu. chỉ tập trung nhiều vào quy hoạch đất cho phát triển công nghiệp và đô thị.2010" thì đến năm 2006 chúng ta mới xuất khẩu được hơn 260 triệu USD. còn của Australia là 40-50 ha/hộ). chuyên canh cho rau. Quy mô nhỏ lẻ. tưới thấm dẫn nước bằng ống nhựa.Sản xuất rau trong nhà lưới không sử dụng các hoá chất. không tạo được sản lượng đủ lớn. Cho tới nay. Không có thương hiệu riêng cũng khiến rau quả Việt Nam không tạo được chỗ đứng trên thị trường. quả. quả ở nhiều cấp chính quyền và doanh nghiệp còn hạn chế. phân loại. tất cả diện tích trồng rau cần phải chuyển sang sản xuất rau an toàn. một số nhà máy chế biến được xây dựng xong nhưng thiếu nguyên liệu hoặc có nguyên liệu nhưng không đảm bảo các yêu cầu và chất lượng cho chế biến xuất khẩu. 9.Sản xuất trong nhà lưới có sử dụng hạn chế các hoá chất bảo vệ thực vật và phân khoáng.300 m2 cho rau. tỉnh Sơn La đã đem lại hiệu quả kinh tế rất cao. sản xuất của người nông dân vẫn chủ yếu theo kinh nghiệm và phương pháp truyền thống. Theo nhận định của nhiều chuyên gia. quả còn thiếu tính chuyên nghiệp.

Công nghệ này đã đảm bảo được độ an toàn rất cao cả về mặt chất lượng cũng như hình thức và được nhiều người ưa chuộng. Ths.. quả đã được thực tế chứng minh là vượt trội. Nguồn nước tưới lấy từ giếng hoặc tưới nước sạch được cung cấp đầy đủ từ lúc cây con đến mỗi giai đoạn sinh trưởng. hoa. Đặc biệt phải chú ý đến các vùng trọng điểm. quả còn rất thấp mặc dù thu nhập của rau. ở Việt Nam đã có công nghệ sản xuất rau an toàn bằng công nghệ cao không dùng đất. đặc biệt là các sản phẩm thu được rất sạch. mía.400 tấn/ha. SOLATE . Sản xuất rau an toàn phải thực sự trở thành một nghề ở những vùng chuyên canh rau. Hệ thống công nghệ cao cũng giúp tự động hóa điều chỉnh trong nhiều khâu khác như ánh sáng. phổ biến kinh nghiệm của những người trồng rau giỏi. hoa.xuất rau. cây giống trong nhà kính có khả năng đem lại năng suất rất cao. giao thông thuận tiện. chủng loại rau phong phú. cà phê. … Phân bón được sử dụng trên 10 nguyên tố đa vi lượng cần thiết cho sự sinh trưởng của cây rau đã được phân tích. quả Việt Nam. Sản phẩm rau an toàn có thị trường tiêu thụ ổn định. năng suất của dưa chuột vẫn chưa phải là cao so với thế giới bởi vì tại Philippines. Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội. bức xạ nhiệt.TS. giá nhựa. Đây là công nghệ sản xuất rau an toàn của Mỹ đã được nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và phát triển ở nước ta . kinh tế. nguồn nước. xã hội mỗi vùng. Lý do đơn giản là điều kiện khí hậu của Việt Nam không được thuận lợi vì có độ ẩm cao. Công nghệ này hoàn toàn mới mẻ bởi khâu gieo hạt và trồng rau hoàn toàn không dùng đất mà trên các giá thể sẵn có như hộp xốp. Đỗ Đức Hưng . kiểm chứng trên cơ sở khoa học. đa dạng. Hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu rau quả đang được coi là vấn đề cốt lõi để có tăng thu nhập. hoa. chè. Tuy vậy. bảo đảm chất dinh dưỡng. Hiện nay.PGS. có thương hiệu trên thị trường. tăng chất lượng của rau.600 tấn/ha. bảo quản và chế biến rau.. Hệ thống tưới nhỏ giọt được bố trí tự động hoặc bán tự động dưới dạng dung dịch theo thời gian và lưu lượng để cây có thể hút trực tiếp một cách đồng đều và tiết kiệm đặc biệt với vùng hạn hán. những hỗ trợ của Nhà nước cho rau.. có vị trí nhất định trong nền sản xuất nông nghiệp. Hồ Hữu An.Phát triển nghề trồng rau an toàn tức là việc tổ chức xây dựng ngành sản xuất RAT thành một ngành sản xuất riêng. các cây giống ươm trong nhà kính. những vùng có diện tích lớn và tập trung khối lượng sản phẩm lớn. ở Australia còn lên tới 500 . Ví dụ: Dưa chuột có thể đạt năng suất khoảng 250 tấn/ha so với mức bình thường trồng ở ngoài là 70 . Nhờ vậy. quả chưa thỏa đáng so với cây lúa.80 tấn/ha. Phát triển nghề trồng rau an toàn nhằm phát huy những thuận lợi về tự nhiên. có giá trị hàng hoá cao. dưa chuột sản xuất trong nhà kính có thể đạt 300 . đáp ứng với nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong và ngoài nước. phát triển của từng cây rau.

năng suất bị giảm rõ rệt. có thể vươn dài như một dây leo. có độ phì vao. Quả màu xanh. Thời gian chiếu sáng 8-10giờ/ ngày là thích hợp. Vụ muộn: geo từ tháng 12 đến hết tháng 1 năm sau. Vì vây. Kỹ thuật gieo trồng và thời vụ Thời vụ: Có 3 vụ gieo trồng: Vụ sớm: gieo từ tháng 8 đến tháng 9. dễ thoát nước. Yêu cầu sinh thái Nhiệt độ thích hợp để sinh trưởng là 12-20oC. Thời kì ra hoa cần ẩm nhiều.Cách trồng đậu cô ve Đặc điểm sinh học . Độ ẩm đất 65% là thích hợp. . cây lùn không leo.Đậu cô ve lùn. Độ ẩm không khí thấp có thể gây ra hiện tượng rụng hoa. Quả ăn không ngon bằng đậu vàng. hạt nâu. Cây có khả năng tạo nhánh ở mức trung bình. lại ít rễ phụ. Vụ chính gieo từ tháng chín đến hết tháng11. Vợt quá 80% cây dễ bị bệnh. Đậu côve có bộ rễ ăn nông. có lóng. Trong trường hợp vươn dài. Thân mảnh. Tuy nhiên. còn gọi là đậu xanh. Đậu côve thuộc loại a ngắn ngày. Ăn quả xanh có thể để giả ăn hạt. cao 30-40cm. Tính chống chịu khá hơn đậu vàng. chỉ trồng ở vụ đông xuân mới có năng suất cao.Đậu cô ve lùn đều thuộc nhóm đậu lùn. rụng quả và nhiều hiện tượng khác thường làm mất giá trị thương phẩm. đậu vàng không chịu đợc giá lạnh dưới 10oC. Cây có dạng bụi. . Kỹ thuật trồng .Đậu cô ve ưa các loại đất nhẹ. Do đó chúng yêu cầu đất luôn được giữ ẩm. Đất cần tơi xốp.

trương lên làm rách vỏ áo. Hàng được rạch cách nhau 30-40 cm. Tra xong lấy tay xoa đất lấp kín hạt. Hạt được đặt vào các hốc.. Cây đậu có lá vàng. Khi đậu cao 20 cm thì xới mặt luống. hạt dễ bị trẫm. Vụ sớm cần chú ý lên luống cao và dốc để thoát nước. tạo điều kiện cho nấm và vi khuẩn xâm nhập vào gây bệnh. Kỹ thuật chăm sóc Sau khi gieo hạt không nên tưới nguyên nhân nước đậm làm hạt hút no nước quá mạnh. mặt luống bị đóng váng. Dùng cuốc rạch thành từng hàng trên luống. Tốt nhất là trước khi gieo nên tưới nước láng qua trên mặt luống nếu đất bị khô để đảm bảo độ ẩm cho hạt.Làm đất và bón lót. Đặc biệt là bệnh chết vàng. Khi đậu có 2-3 lá thật thì nạo cỏ. Lần thứ nhất khi cây có 4-5 lá thật. Nếu xới khi đất còn ướt có thể làm thương tổn rễ và gốc cây. Trường hợp sờ đất thấy mát tay thì không cần tới nước lên luống. chỉ bón nhẹ. gieo hạt: đất được làm kĩ đập nhỏ để đậu nhanh bén rễ. thu nhặt cỏ và vun cao gốc. úa rồi chết. sau đó mới gieo hạt. 8-10 tấn phân chuồng đã ủ thật hoai mục 100-125 kg phân lân 25-35 kg phân kali 25 kg phân đạm urê Các loại phân lân và kali được trộn ủ với phân chuồng trước khi bón. Lần thứ hai khi cây 7-8 lá thật. xới đất và vun nhẹ vào gốc. mỗi hốc tra 2-3 hạt. Bón lót cho 1 ha đậu vàng trồng thuần cần.9-1m. nhưng cần đợi khô đất mới được tiến hành xới. nhất thiết phải xới xáo lại. Bón thúc cho đậu vàng đợc tiến hành 3 lần. sâu 10-12cm lấp đất phủ kín phân rồi tra hạt lên trên. Luống có bề mặt rộng 0. Riêng phân đạm lúc trồng đậu mới trộn lẫn với phân chuồng hoai để bón hoặc rắc lên bề mặt rạch rồi đảo sau. . Sau mỗi trận mưa. Mỗi hec ta gieo 80kg hạt giống. Phân lót được bón theo rạch. Cây trên hàng cách nhau 10-15cm.

quả bị sâu bệnh. . không bị sâu bệnh hại ở những vụ chính. Trước khi phơi chọn kĩ để loại quả xấu. Chọn lấy những quả lứa đầu làm giống. hái về để nguyên cả vỏ phơi thật khô. Dùng 60kg urê bón cho 1 ha cho cả ba lần. Khi quả để giống đã già. Hai lần sau bón thúc phân đậm hơn. Biện pháp chọn giống và giữ giống: Muốn chọn giống đậu côve. cần chọn những ruộng tốt. hái sớm những quả lứa sau để tập trung chất dinh dưỡng nuôi quả để giống. quả dị hình. Có thể thay thế phân đạm bằng 7-8 tấn phân ngâm để bón thúc.Lần thứ ba khi nụ sắp nở. Sau đó phơi khô: Rải hạt lên nong nia phơi thêm 1-2 nắng nhẹ cho hạt thật khô rồi đem bảo quản nơi thoáng mát để trồng ở vụ sau. Phân dùng để bón thúc là phân đạm.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->