8 BÀI ĐỌC THÊM VỀ DỊCH BỆNH THỦY SẢN

Bài 1. Khái quát về quản lý dịch bệnh thuỷ sản
Dịch bệnh thủy sản (thường gọi là bệnh cá tôm) là khó khăn đầu tiên, gây trở ngại lớn đối với sự phát triển cả về mặt kinh tế và xã hội của nhiều nước trên thế giới. Tổ chức Dịch tễ động vật Thế giới (Office International des Epizooties, viết tắt OIE) được thành lập năm 1923, có trụ sở tại số 12, đường Prony, F-75017 – Paris (Pháp) hiện có 164 quốc gia là thành viên. Việt Nam đã (tái) gia nhập OIE vào năm 1991, vì vậy các bộ luật (code) của OIE có hiệu lực thi hành ở nước ta. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan đại diện của Việt Nam tại Tổ chức OIE. Tổ chức OIE trong Aquatic Animal Health Code 2008 gọi tắt là Aquatic code 2008 đã nêu danh sách 37 loại bệnh của cá (17), nhuyễn thể (8), giáp xác (10), lưỡng thê (2) có ý nghĩa quan trọng về kinh tế với yêu cầu phải khai báo với tổ chức này (xem phụ lục). Những tiêu chuẩn khai báo là: Những bệnh phải khai báo với OIE là những bệnh có thể lây lan, có ảnh hưởng lớn đến kinh tế-xã hội, sức khỏe con người và có ý nghĩa lớn trong thương mại quốc tế về động vật thuỷ sinh và sản phẩm động vật thuỷ sinh. Báo cáo phải được đệ trình mỗi năm một lần, nhưng có những trường hợp phải được báo cáo thường xuyên hơn theo quy định tại các điều khoản 1.2.1.2, 1.2.1.2., 1.2.1.3 và 1.2.1.4. Những thông tin ngắn gọn về các tác nhân gây nên các bệnh trong danh mục bệnh phải báo cáo với OIE cũng như những bệnh đáng kể khác đều được OIE giới thiệu. Những bệnh đáng kể khác được hiểu là những bệnh nguy hiểm hoặc có nguy cơ tiềm ẩn lớn cho nghề NTTS nhưng không có trong Danh mục bệnh phải báo cáo với OIE hoặc là vì chúng ít nguy hiểm hơn, hoặc vì chúng chỉ giới hạn trong một số địa phương hẹp, hoặc là chưa được xác định đầy đủ, nguyên nhân gây bệnh, hoặc chưa có phương pháp chẩn đoán bệnh. Các báo cáo và hồ sơ về những bệnh này được Văn phòng trung tâm (Central Bureau) trong đó có bộ phận Veterinary Administration) OIE cung cấp để cập nhật tình hình phân bố của bệnh. Trong quá khứ đã có những bệnh chưa đưa vào danh mục của OIE vẫn gây tác hại lớn cho sự phát triển nuôi trồng thủy sản ở một số khu vực. Ví dụ, trong Aquatic Code 2000 chưa đề cập đến một số bệnh xảy ra nghiêm trọng châu Á như tình trạng cá vược (Dicentrarchus labrax and Lates spp.) và cá song (Epinephelus spp.) chết hàng loạt vì một số bệnh do vius gây nên; Bệnh đốm đỏ cũng đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc nuôi cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idellus) ở Việt Nam và bệnh lở loét - xuất huyết (EUS) cũng đã gây nên hiện tượng chết hàng loạt ở nhiều loài cá nuôi và cá hoang dại ngoài tự nhiên ở châu Á và Ôxtrâylia… nhưng trong Aquatic Code 2008, một số bệnh trên cá, trên giáp xác, trên lưỡng thê đã được bổ sung, từ 29 bệnh lên đến 37 bệnh. Các quy định trong Aquatic Code rất chặt chẽ. Thí dụ trong AC 2008 có nêu danh sách 10 bệnh ở giáp xác (tăng 2 bệnh so với AC 2000), trong đó có hội chứng Taura (Taura syndrome - TSV), bệnh đốm trắng (White spot disease - WSSV hoặc WSV) và bệnh đầu vàng (Yellowhead disease); Luật quy định các tổ chức có thẩm quyền của nước nhập khẩu ấu trùng tôm, tôm con, tôm bố mẹ và tôm chết (tôm nguyên liệu) có thể yêu cầu các nước xuất khẩu phải đáp ứng các điều kiện về việc đảm bảo tôm không có những dấu hiệu bị nhiễm các bệnh trên.

http://www.ebook.edu.vn

1

kỹ thuật nuôi lạc hậu v. chất lượng nước nuôi kém. Một số vấn đề nổi lên trong việc phát triển nuôi trồng thủy sản ở những năm gần đây: 1) Việc sử dụng hoá chất và thuốc thú y thủy sản khá phổ biến. đã góp phần trong việc du nhập và phát tán mầm bệnh và lây lan nhanh bệnh vào nhiều hệ thống nuôi trồng thủy sản. và đặc biệt là xu hướng tự do hoá thương mại toàn cầu. ảnh hưởng trực tiếp đến động vật thủy sinh. ví dụ. chế độ cho ăn không tốt. môi trường suy thoái và ảnh hưởng ô nhiễm nước thải sinh hoạt trong quá trình đô thị hoá hoặc ô nhiễm môi trường cấp tính (như sự cố tràn dầu) đều có thể gây chết hàng loạt đối với nhiều loài thủy sản sống trong tự nhiên và các đối tượng nuôi trồng. 2) Các bệnh không lây nhiễm thường ít được chú ý hơn so với những bệnh truyền nhiễm. Sự phát triển của nghề nuôi thường nhanh hơn tốc độ phát triển. kể cả các đối tượng nuôi và các quần thể sống trong môi trường tự nhiên. Các tác nhân này trong một số trường hợp có thể gây nên những hiệu ứng phụ. nghiên cứu và kỹ năng quản lý sức khỏe vật nuôi của những người tham gia NTTS. đặc biệt của các đội ngũ quản lý.v đã dẫn đến rất khó vượt qua các thách thức trên. Tuy nhiên. Xu hướng này đã được khởi đầu bởi tình hình kinh tế xã hội nói chung. Vì vậy. gây suy thoái chất lượng nước. gây hiện tượng nở hoa của tảo độc và vi khuẩn coliform. Ví dụ. phong phú. đối tượng nuôi được mở rộng. việc quản lý không phù hợp. Tóm lại..vn 2 . Những tiến bộ trong việc kinh doanh động vật thủy sinh tươi sống cùng với việc sử dụng các phương tiện vận chuyển hiện đại ….. Việc sử dụng hoá chất trong nuôi trồng thủy sản cần được cân nhắc thận trọng hơn và các giải pháp khống chế bệnh dịch phải được xem xét chu đáo. thịt cóc. cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập ngẫu nhiên của bệnh vào các quần thể động vật thủy sinh và vùng địa lý mới. hơn lúc nào hết. ngành NTTS đã phát triển rất mạnh. Những bệnh này thường do những yếu tố hữu sinh và điều kiện môi trường không thuận lợi gây nên. thông qua việc lưu thông con giống sản xuất nhân tạo và các đối tượng nuôi mới cũng như thông qua sự phát triển kinh doanh cá cảnh. như ngộ độc cá nóc. trong thập kỷ qua. hình thức nuôi ngày càng đa dạng. cần được quan tâm đúng mức của cộng đồng.Các tiêu chuẩn về xét nghiệm và chẩn đoán được mô tả trong sách “Diagnostic Manual for Aquatic Animal Diseases “ (2006) của Tổ chức này. việc quản lý dịch bệnh thủy sản càng trở nên cấp thiết. dẫn đến sự thiệt hại trong NTTS và ảnh hưởng tới môi trường sinh thái nói chung. trong nuôi trồng thủy sản nhưng nó cũng đã gây nhiều tổn thất cho người nuôi. các chuyên viên thú y hoạt động trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản! http://www. kỹ thuật nuôi ngày càng hiện đại và năng suất nuôi ngày càng cao. mặt trái của những quan điểm và phương hướng mới này.edu.ebook.. 3) Một vấn đề liên quan khác giữa bệnh thủy sản với sức khỏe con người và vệ sinh an toàn thực phẩm cũng ngày càng được quan tâm nhiều hơn như vấn đề dư lượng thuốc trong động vật thủy sinh có vỏ. ví dụ như sự thiếu hiểu biết trình độ quản lý kém.

chất hoá học đều gây nên tác động xấu tới nguồn lợi hải sản và môi trường biển. Tác động từ hoạt động khai thác hải sản a) Xu hướng biến động của nguồn lợi hải sản: Trong giai đoạn 1991 . cùng với các chất thải từ ao nuôi đã trở thành những nguy cơ gây ô nhiễm hữu cơ nghiêm trọng cho các vùng ven biển. 1. Vì vậy rất nhiều diện tích rừng ngập mặn. Tác động của ngành thuỷ sản tới môi trường sinh thái và tài nguyên thuỷ sản Tác động chính của ngành Thuỷ sản tới môi trường sinh thái và tài nguyên thuỷ sản thông qua hoạt động của ba ngành sản xuất khai thác hải sản. Trong khuôn khổ đề tài chưa có khả năng lượng hoá đầy đủ được các tác động này.AB.020 tấn và năm 2000 con số này đã là 17. a) Diện tích rừng ngập mặn: Tác động trước tiên có thể kể đến là việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản làm thu hẹp diện tích rừng ngập mặn.2001 tốc độ tăng số lượng tàu thuyền máy bình quân hàng năm là 6% và tổng cộng suất tăng bình quân 18%/năm và năng suất bình quân đã giảm từ 0. bao gồm cả việc phá rừng ngập http://www. c) Chỉ số an toàn của rạn san hô: Tình trạng dùng chất nổ và cả xianua trong khai thác hải sản đã đe dọa 85% diện tích rạn san hô ở Việt Nam. Mặc dù những con số này không đánh giá chính xác được sự suy giảm nguồn lợi từ hoạt động khai thác hải sản nhưng vẫn có thể khẳng định rằng khuynh hướng này chắc chắn đang đe dọa tính bền vững của nguồn lợi hải sản. nuôi trồng thuỷ sản. Tổng lượng dầu xâm nhập vào môi trường biển Việt Nam năm 1992 là 7.43 tấn/cv năm 2001. đề tài đánh giá tác động của ba lĩnh vực sản xuất này thông qua một số tiêu chí như sau. điện. mìn. năm 1995 là 10.edu. b) Hàm lượng xianua và dầu trong môi trường nước biển: Theo Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2000 của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường thì từ năm 1999.380 tấn. Do chiến tranh và do con người tàn phá. do ngư dân bắt đầu sử dụng xianua trong khai thác nên có tới 50% số mẫu khảo sát cho thấy có hàm lượng xianua vượt quá giới hạn cho phép. Năm 1943 cả nước có gần 400.Bài 2. Cùng với mật độ tàu thuyền khai thác tăng là hiện tượng khai thác bằng các ngư cụ phạm pháp: mắt lưới quá nhỏ. trong đó rừng ngập mặn ven biển Nam Bộ chiếm tới 250.000 ha rừng ngập mặn. đất trồng lúa đã và đang được chuyển đổi sang làm đầm nuôi tôm. Trimar . 1995).9 tấn/cv năm 1991 xuống còn 0. phá huỷ môi trường sống thuỷ sinh. tai nạn hàng hải đều là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường biển.000 ha. Bên cạnh đó là các sự cố. Kết quả của nhiều cuộc điều tra đều cho thấy tới hơn 50% số ngư dân được phỏng vấn đều cho rằng sản lượng khai thác có xu hướng giảm. với mật độ tàu thuyền khai thác lớn thì lượng chất thải.ebook. 2 Tác động từ hoạt động nuôi trồng thuỷ sản Nuôi trồng thuỷ sản mặn lợ được xác định như hướng phát triển mang tính đột phá của ngành thuỷ sản với mục tiêu tăng tỷ lệ sử dụng mặt nước tiềm năng cho nuôi trồng thuỷ sản cũng như tăng hơn nữa sản lượng nuôi trồng thuỷ sản. Những nghiên cứu từ 1994 đến 1997 cho thấy chỉ còn khoảng 1% rạn san hô ở Việt Nam được xếp loại tốt. dầu. chế biến thuỷ sản. nước dằn tàu xả ra môi trường nước xung quanh cũng là một vấn đề gây nên ô nhiễm môi trường biển. Mặt khác.vn 3 .650 tấn (Cục Môi trường.

000 tấn/năm). Vụ KHCN-Bộ Thuỷ sản). Tuy nhiên.edu. hầu hết các hộ gia đình nuôi trồng thuỷ sản đều không tiến hành xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường.vn 4 . số lượng lớn tiếng ồn. có tới 73. đặc biệt là trong nuôi lồng bè ở các vùng với mật độ lồng cao đã làm cho môi trường nước nuôi ở đây bị ô nhiễm. thức ăn nhân tạo. trong khi phần lớn họ đều sử dụng các hoá chất trong quá trình nuôi. tuy nhiên do phát triển chưa có quy hoạch nên mới trong một thời gian ngắn đã có hiện tượng suy giảm và nhiễm mặn nguồn nước ngầm tại các vùng sử dụng nước ngầm cho nuôi tôm.000180.mặn để làm đầm nuôi tôm.. Ô nhiễm và nhiễm mặn nguồn nước là một vấn đề hết sức nghiêm trọng vì nó vừa ảnh hưởng đến sản xuất lại vừa ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt và sức khoẻ của con người. gây ra dịch bệnh không những cho thuỷ sản nuôi mà còn cho cả con người sử dụng nguồn nước ô nhiễm này trong sinh hoạt.000 ha rừng ngập mặn. quy phạm vệ sinh tốt-SSOP. c) Xu hướng thay đổi môi trường: Qua kết quả điều tra 116 hộ nuôi trồng thuỷ sản. trong đó 70% là rừng trồng. chất lượng rừng ở mức nghèo kiệt. do phần lớn các xí nghiệp chế biến đã được xây dựng từ lâu. khí thải. sử dụng trong nuôi trồng thủy sản. nhiệt. điều kiện tài chính hạn hẹp. các chất hữu cơ cũng có thể là nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước. Thậm chí ngay cả khi không sử dụng hoá chất thì các chất thức ăn dư thừa. đầu tư đổi với trang thiết bị. mùi có nguồn gốc từ các hoạt động chế biến thuỷ sản cũng là một nguyên nhân đáng kể ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường xung quanh và cả sức khoẻ người lao động. công nghệ và thiết bị xử lí lại quá đắt tiền cộng với công tác quản lí môi trường còn lỏng lẻo nên kết quả là hiện chỉ có khoảng trên 40 cơ sở trong tổng số các cơ sở chế biến thuỷ sản trong cả nước có hệ thống xử lí nước thải đáp ứng yêu cầu chất lượng nước thải sau xử lí (Báo cáo Ðánh giá tác động môi trường trong chế biến thuỷ sản năm 2002. Ngành chế biến đã có các bước cải thiện tích cực trong công tác bảo vệ môi trường như nâng cấp. b) Ô nhiễm và nhiễm mặn nguồn nước: Theo điều tra. quản lí vệ sinh an toàn thực phẩm trong cả quá trình từ nuôi trồng thuỷ sản cho tới khâu tiêu thụ sản phẩm cuối cùng. Các loại phân bón. http://www.ebook. Ðây là điều rất đáng lo ngại cho chất lượng môi trường sinh thái cũng như việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản một cách bền vững. thực hiện các tiêu chuẩn ngành. Hiện nay nuôi tôm trên cát đang là một hướng mở mới cho ngành nuôi trồng thuỷ sản. độ ẩm.. Có tới 41% số hộ gia đình nuôi tôm được điều tra tại Ninh Thuận cho rằng chất lượng nguồn nước bị xấu đi và hiện tượng nhiễm mặn nguồn nước ngọt trở nên khá phổ biến (có những ao nuôi tôm có nguồn nước ngọt có độ mặn lên tới 16-17). áp dụng quy phạm sản xuất tốt-GMP. công nghệ. chương trình quản lí chất lượng HACCP. 3. cải tạo nhà xưởng. Tác động từ chế biến thuỷ sản Ngành chế biến thuỷ sản cũng gây ra khá nhiều tác hại cho môi trường bằng số lượng lớn nước thải (10-12 triệu m3/năm) và chất thải rắn và phế thải (khoảng 170.8% cho rằng nuôi trồng thuỷ sản có làm thay đổi môi trường và điều đáng nói ở đây là các thay đổi đó lại là thay đổi không tốt. đến năm 2001 cả nước chỉ còn chưa tới 150. cá nhỏ không những ảnh hưởng tới môi trường mà còn dẫn đến tình trạng suy giảm nguồn lợi hải sản. Ngoài ra. Mất rừng ngập mặn đi đôi với mất cái nôi sinh trưởng của tôm.

Tuy nhiên. để ngành có thể phát triển một cách bền vững và toàn diện thì cũng cần có một quy hoạch phát triển toàn diện và mang tính bền vững. chắc chắn yếu tố bảo vệ môi trường phải được đặt vào vị trí xứng đáng của nó.ebook.Ngành Thuỷ sản của Việt Nam vẫn đang tiếp tục phát triển một cách nhanh chóng nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng của thị trường tiêu dùng cả trong nước và trên thế giới. http://www.vn 5 . Trong đó.edu. Có như vậy. ngành Thuỷ sản mới vừa có thể tiếp tục thu được những thành tựu to lớn hơn nữa và đồng thời vẫn đảm bảo được yếu tố phát triển bền vững.

Fax: +45 35 282755 Email: ad@life. dự án FIBOZOPA đã thực hiện hầu hết các noi dung đặt ra nhằm hoàn tất mục tiêu trước mắt là “Mô tả những yếu tố chính của quá trình nhiễm FZPs cho con người và thủy sản. Các hoạt động xây dựng năng lực và nghiên cứu đa ngành đã và đang được thực hiện bởi 12 cơ quan đối tác trực thuộc 5 Bộ khác nhau tại Việt Nam. tầm quan trọng của việc quản lý các vấn đề trên ở mức quốc gia và địa phương.Bài 3. FZPs cũng rất phổ biến tại Việt Nam. chú trọng vào 3 trở ngại chính trong vấn đề kiểm soát bền vững FZPs tại Việt Nam. hơn nửa tỉ người đứng trước nguy cơ lây nhiễm đặc biệt là dân cư các nước khu vực Đông Nam Á. 1) Hạn chế về năng lực trong việc xác định FZPs 2) Thiếu thông tin về sự lan truyền và phân bố của FZPs.vn 6 . Viện Thú y Khoa Khoa học đời sống. 3) Sự phối hợp giữa các cơ quan nghiên cứu có liên quan còn hạn chế.dk http://www. đánh giá các yếu tố sinh thái quy định mật độ phân bố của chúng cũng như sự phát triển của các thiết bị nghiên cứu ở mức phân tử. đề xuất các biện pháp phòng ngừa và phổ biến đến các bên liên quan trực tiếp”. cho dù chưa thấy xuất hiện sự lây nhiễm ở con người.edu. Sự tăng trưởng nhanh chóng trong nuôi trồng thủy sản tại các nước Đông Nam Á (trong đó sản lượng thủy sản nước ngọt của Việt Nam tăng 9. đặc biệt tại các hệ thống nuôi quảng canh/kết hợp và tại các trại giống (có liên quan đặc biệt tới việc kiểm soát).3 lần trong vài thập kỷ qua) đã làm tăng sự liên quan về vai trò của nuôi trồng thủy sản trong sự lây nhiễm FZPs. Thực hiện dự án bao gồm các cơ quan của Việt Nam và Đan Mạch. Sau hai năm rưỡi tiến hành. dự án FIBOZOPA đã thể hiện vai trò quan trọng trong việc thiết lập nhận thức tầm quốc gia về sự xuất hiện. DK-2000 Frederiksberg C . Thông qua các kết quả đào tạo và nghiên cứu. Dự án đã có các tài liệu cụ thể chứng minh sự lây lan của FZPs trong nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam. Năm 2004 pha I của dự án nghiên cứu và xây dựng năng lực (FIBOZOPA) đã được khởi động nhằm xây dựng năng lực đánh giá hiện trạng và nguy cơ của FZPs trong ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam.ebook. Các cơ quan chịu trách nhiệm chính và đại diện liên hệ: Giáo sư Anders Dalsgaard. được coi như một mối nguy đối với sức khỏe cộng đồng và an toàn thực phẩm trong các sản phẩm thủy sản. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Lương nông Thế giới (FAO) năm 2004 ước tính rằng ký sinh trùng gây bệnh có nguồn gốc thủy sản(FZPs) đã lây nhiễm trên 18 triệu người. Ký sinh trùng gây bệnh có nguồn gốc thủy sản FIBOZOPA là dự án do Danida tài trợ nhằm hỗ trợ nghiên cứu và xây dựng năng lực cho các cơ quan trong nước có liên quan với mục đích ngăn ngừa sự xuất hiện và lan truyền của ký sinh trùng gây bệnh có nguồn gốc thủy sản.ku. Đan Mạch Tel: +45 35 282720. 7 loại ký sinh trùng mới có nguồn gốc thủy sản tại Việt Nam đã được phát hiện và các bằng chứng thuyết phục cho thấy vai trò quan trọng của các động vật lưu trữ trong việc duy trì sự lây truyền FZPs trong tự nhiên. Các nghiên cứu đang tiến hành xác định loài ốc. Đại học Copenhagen Stigboejlen 4. các mối nguy của sự lây nhiễm FZPs trong người và cá.

phát triển và tổng hợp kiến thức chuyên môn về phân loại và sinh vật học của vi tảo biển có hại đã được hình thành trong các giai đoạn I . Điều này cũng sẽ đảm bảo rằng các chương trình trong tương lai về quản lý và giảm thiểu tảo có hại để kiểm soát an toàn cho nguồn hải sản nuôi trồng và tự nhiên ở Việt Nam có thể được xây dựng trên một cơ sở khoa học hình thành trong nước.Bài 4. sự khác nhau theo không gian và thời gian ngắn hoặc trung hạn của các cộng đồng phiêu sinh vật phyto để hiểu hơn về cơ chế sinh sôi phát triển. Những đánh giá nhu cầu của quốc tế tiến hành định kỳ ghi rõ rằng: một thành tố cơ bản trong năng lực quốc gia để giám sát và phát triển các kế hoạch làm giảm lượng tảo có hại là phải có khả năng xác định các sinh vật là nguyên nhân gây nhiễm độc và kiểm tra độc tố trong các sản phẩm từ hải sản. Dự án ‘Nghiên cứu cơ bản về vi tảo độc để bảo vệ nguồn lợi sinh vật biển ở Việt Nam: HABViet’ được bắt đầu vào năm 1998 và hiện tại đang ở giai đoạn thứ ba (2005-2007). ở Việt Nam.ku.vn 7 . độc học về các loại vi khuẩn cyano và sinh vật đáy hình roi có hại ở vùng nước mặn và nước lợ. HBAViet III sẽ tiếp tục củng cố. Dự án Cải thiện Chất lượng Xuất khẩu Thủy sản thuộc Trung tâm Giám định và Đảm bảo Chất lượng Thủy sản Quốc gia (NAFIQCEN) của Bộ Thủy sản Việt Nam. Fax: +45 33134447. nguồn nước uống.ebook. hệ sinh thái. Thông tin liên hệ: Henrik Enevoldsen (PRP). Giai đoạn III tập trung chủ yếu vào: Các nghiên cứu về đa dạng sinh học. các nguồn lợi sinh vật biển. http://www. Việc giám sát vi tảo độc có hại yêu cầu các kỹ năng phân loại vững chắc. Điện thoại: +45 33134446. Khoảng 100 loài vi tảo được biết đến là gây hại cho sức khỏe cộng đồng. hay du lịch. Tài nguyên biển và vi tảo độc Một nghiên cứu cơ bản về vi tảo độc để bảo vệ nguồn lợi sinh vật biển. henrike@bi. HBAViet phối hợp với Chương trình Hỗ trợ Ngành Thủy sản do Danida tài trợ và với SEAQIP. và tiếp tục xây dựng giáo trình giảng dạy tại Đại học Huế. Trung tâm Khoa học và Truyền thông về Tảo Có hại IOC. Nguyên nhân là do chất độc sinh học cực mạnh hoặc quần thể đông đúc của chúng. Đại học Copenhaghen.dk Đối tác : Viện Hải dương học Hải Phòng và Viện Sinh vật học Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh. ví dụ như hải sản.edu. 1353 Copenhagen K Đan Mạch. nuôi trồng thủy sản. Øster Farimagsgade 2D.II. các nhóm nghiên cứu có năng lực có thể miêu tả các loài mới và đưa ra các đặc điểm nhận dạng cơ bản và phát triển các công cụ mới giúp nhận dạng các loài.

Dấu hiệu bệnh lý Khi cá bị bệnh nhẹ rất khó phát hiện bằng mắt thường. Phần gốc của sợi nấm cắm sâu vào màng trứng. Họ Saprolegniaceae. nếu không có biện pháp thích hợp để phòng bệnh. Nấm thủy mi có thể tiết ra chất làm tan rã protein của tế bào tổ chức cơ thể cá. làm tróc vẩy trầy da tạo cơ hội thuận lợi cho vi khuẩn và kí sinh trùng gây bệnh xâm nhập làm cá bị bệnh nặng hơn và tác hại sẽ nghiêm trọng thêm. Trong các loài cá nuôi phổ biến ở Việt Nam. do vậy bệnh này gây tác hại nhiều trong http://www. đặc biệt là trứng của cá chép (Cyprinus Carpio) chịu ảnh hưởng rất lớn của loại bệnh này. Nấm thủy my còn ký sinh gây chết trứng của các loài cá nước ngọt. với nhân trứng chuyển sang màu trắng đục.Bài 5. thuộc nhóm nấm bậc thấp.edu. đây là nhiệt độ vào mùa đông xuân. sau vài ngày tại đó mọc lên các sợi nấm mảnh và phát triển lên thành từng búi nấm trắng như bông. sinh sản hữu tính bằng tiếp hợp. Phân bố và lan truyền bệnh Bệnh nấm thủy my xảy ra ở nhiều loài cá ngọt và trứng cá. một phần gốc bám chắc vào cơ thể cá. thích cọ sát vào các vật thể trong nước. cá mè. 1 đầu sợi nấm bám vào da của cá. như cá chép. đều có thể bị nhiễm bệnh nấm thủy my. phần ngọn tự do ngoài môi trường nước. đường kính sợi nấm khoảng 20-42µm.. Nấm thủy my còn có thể ký sinh làm ung trứng cá.ebook. Sợi nấm có chiều dài từ 3-5mm.. Bệnh nấm thủy my ở động vật thủy sản nước ngọt Tác nhân gây bệnh Gây bệnh là một số loài thuộc các giống: Leptolegnia. phần ngoài của sợi nấm lơ lửng trong nước tủa ra xung quanh. cấu tạo sợi nấm đa bào nhưng không có các vách ngăn. có một số loài thuộc giống Achlya có thể phát triển tốt ở mức nhiệt độ cao hơn thế. trên da cá xuất hiện các vùng trắng xám. cá trôi và một số đối tượng nuôi đặc sản khác như baba. Nếu không có tác động kịp thời có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ cá bột. Trong bể ấp. ếch. Tuy vậy. đầu kia tự do ngoài môi trường nước. do bị kích thích ngứa ngáy. không bình thường. Bộ Saprolegniales. cá trắm cỏ. Bệnh nấm thủy my thường phát triển vào mùa có nhiệt độ thấp. có phân nhánh và chia làm 2 phần.vn 8 . Trong thực tế. Cá bị bệnh nấm thủy mi có hiện tượng bơi lội hỗn loạn. thì hiệu quả của các đợt sinh sản nhân tạo cá chép thường rất thấp do tác hại của nấm thủy my. nhìn trứng cá giống bị nấm thủy my giống như hoa gạo. mùa thu ở miền bắc và mùa mưa ở miền Nam. thích hợp ở nhiệt độ nước từ 18-250C. sau lây sang các trứng khỏe và làm trứng bị chết. cá trê. hoặc đôi khi phải xả bỏ hoàn toàn. Đầu tiên.. kích thích tế bào tổ chức tiết ra dịch nhờn làm cản trở hô hấp và tuần hoàn. Bào tử nấm có tiên mao. Bệnh hay phát triển ở các đàn cá bị thương tổn trên da do tác động đánh bắt. Nấm có khả năng sinh sản bằng nhiều hình thức khác nhau: Sinh sản dinh dưỡng bào tử. khi phát hiện được bằng mắt thường thì bệnh đã nặng. Saprolegnia và Achlya. Các mùa đông xuân và mùa thu là những mùa cho cá sinh sản trong các trại cá giống nước ngọt ở Việt Nam. có thể vận động trong nước nên khả năng lây lan bệnh rất cao. bệnh có thể gặp ở khắp mọi nơi trên thế giới và trứng của chúng. sinh sản vô tính bằng túi bào tử kín. nấm thủy my thường phát triển đầu tiên ở các trứng ung do không được thụ tinh. Trứng cá bị nhiễm nấm thường chết (ung). vận chuyển hay do ký sinh trùng ký sinh. Đây là các nấm dạng sợi.

edu.ebook. Nếu muốn xác định tên giống loài của nấm. Phương pháp chẩn đoán Khi cá nhiễm nấm. sinh sản vô http://www.các ao nuôi vỗ cá bố mẹ.Các hình thức sinh sản dinh dưỡng. để chẩn đoán chính xác cần lấy bệnh phẩm từ cá bệnh. Nấm thường phát triển đầu tiên ở các trứng bị ung. cần nuôi cấy trên các môi trường nấm và quan sát quá trình hình thành cơ quan sinh sản và và tạo bào tử của nấm để phân loại. hàm lượng chất hữu cơ cao và trong các bể ấp có nhiều trứng bị ung.Các hình thức sinh sản dinh dưỡng. các ao lưu giữ giống qua đông và các bể ấp trứng trong các trang trại cá giống. các dấu hiệu bên ngoài thể hiện khá rõ ràng. phân nhánh nhiều. Bệnh phát triển thuận lợi trong các ao nuôi có mật độ cao. Hình ảnh cá và trứng cá bị nhiễm nấm thủy my A. sau lây lan nhanh sang các trứng khỏe và gây chết hàng loạt. kiểm tra dưới kính hiển vi để phát hiện các sợi nấm dài 5-6mm.vn 9 . sinh sản vô tính bằng động bào tử và sinh sản hữu tính của giống nấm Saprolegnia. nước tù bẩn. Tuy vậy. B.

formol 1/500-1/1000 tắm cho trứng trong thời gian 5-15 phút. hoặc cho cá chép thụ tinh nhân tạo. tạo điều kiện cho bào tử nấm xâm nhập và gây bệnh. Methylen 2-3ppm. kết hợp trong các lần kiểm tra cá. dùng thuốc kịp thời cũng chỉ cứu được những trứng còn khỏe mạnh. trong thời gian 60phút. Chọn ngày cho cá đẻ có nhiệt độ thích hợp. ngâm giá thể có trứng trong NaCl 2%. + Định kỳ phun xuống ao thuốc phòng nấm cho cá: không dùng malachite green (MG) 0. H2O2 ở nồng độ d" 1000 µg/ml không gây hại cho trứng cá hồi. Phương pháp phòng và trị bệnh . diệt tạp và cải thiện độ pH. kìm hãm và tiêu diệt sự phát triển của nấm Saprolegnia và Achlya và http://www. sau 6 .2ppm (vì MG bị cấm sử dụng bởi Liên minh châu Âu từ tháng 10 năm 2003 và MG sẽ được thay thế bằng loại thuốc khác không nằm trong danh mục cấm. khi bệnh mới xuất hiện. Trong quá trình ấp trứng. Đặc biệt khi dùng H2O2 ở nồng độ 250-1000 µg/ ml có khả năng ức chế. Ngoài ra cần áp dụng các biện pháp để duy trì và ổn định nhiệt độ trong ao bằng nhiều cách: chuyển cá vào ao có độ sâu lớn. để dùng các loại thuốc sát trùng bôi lên các vết thương tổn để phòng sự phát triển của nấm: Cồn iod bão hòa. Trong bể ấp trứng cá chép. . thời gian phát triển phôi kéo dài tạo điều kiện cho nấm xâm nhập và phát triển.LĐ ) + Với đàn cá bố mẹ. kết quả cho thấy ở nhiệt độ 130C.7ppm trong 10 -15 phút.1.15 ppm. + Đối với trứng cá chép.ebook. để diệt nấm ở trứng cá hồi.0. thuốc tím 1%. + Năm 1997. Khi trứng đã bám vào giá thể. Cũng có thể áp dụng phương pháp ấp khô. có thể dùng một số hóa chất để trị bệnh nấm thủy my: Methylen 23ppm và lặp lại 2 lần trong 1 tuần.Phòng bệnh cho trứng cá: + Nuôi vỗ cá bố mẹ.edu. tắm 2 lần/ngày. phun vào bể MG nồng độ 0. phải thường xuyên vệ sinh mạng tràn để nước lưu thông tốt. C. khử dính và ấp bằng bình vây để hạn chế tác hại của nấm thủy my. + Về mùa đông cần quan tâm tới vấn đề dinh dưỡng đầy đủ để cá chống rét và duy trì sức đề kháng. Thường dùng các loại hóa chất sau: NaCl 2-3%.vn 10 .0.Phòng bệnh cho cá: + Thực hiện kỹ thuuật tẩy dọn ao trước mỗi vụ nuôi: vét bớt bùn đáy. E.Phương pháp trị bệnh: + Đối với cá bệnh. . không nên cho đẻ vào các ngày có nhiệt độ thấp.Cá mè trắng bị bệnh nấm thủy my. nhất là cá chép theo đúng quy trình kỹ thuật để cá bố mẹ có chất lượng tưyến sinh dục tốt. phủ bèo tây trên 2/3 mặt ao. thuốc chống nấm khác. giảm lượng trứng ung do không thụ tinh trong bể ấp.tính bằng động bào tử và sinh sản hữu tính của giống nấm Achlya. cần lựa chọn giá thể và sát trùng giá thể bằng thuốc sát trùng trước khi cho vào bể đẻ. phôi phát triển tốt.5 . dùng vôi bột để sát trùng.8 h lặp lại. Kishio Hatai và các cộng sự của ông đã thử nghiệm nước Hydrogen Peroxide (nước oxy già-H2O2) ở tỷ lệ hoạt tính là 31%. phơi nắng đáy ao. + Nuôi cá với mật độ thích hợp và tránh những tác động cơ học hoặc do ký sinh trùng làm cá bị thương tổn.1-0. 1-2lần/ ngày.Cá trê giống bị nhiễm bệnh nấm thủy my. D-Trứng cá bị nhiễm nấm thủy my. + Đối với trứng cá. Cho cá đẻ với tỷ lệ đực cái phù hợp để tỷ lệ thụ tinh là cao nhất. MG 0.

Như vậy.hạn chế gần như hoàn toàn sự nẩy mầm của các bào tử nấm.8%.6%.vn 11 . sau thời gian 60 phút cho kết quả rất khả quan.6% và 67. là 7.edu.4%. tùy theo điều kiện nhiệt độ nước mà lựa chọn nồng độ cho thích hợp. ------------------------------------------------- http://www.ebook. 46. 500 và 1000 µg/ml có tỷ lệ nở tương ứng là 37. Khi dùng để trị bệnh nấm thủy my trên trứng cá hồi ở nhiệt độ 130C. tuy vậy. H2O2 là một loại thuốc có tác dụng diệt nấm ở động vật thủy sản. trong khi ở lô đối chứng. tỷ lệ nở của các lô thí nghiệm có dùng thuốc với nồng độ 250.

5. Về mùa mưa nên đào rãnh và rải vôi quanh bờ ao để ngăn ngừa phèn. Quản lý các yếu tố môi trường khác nhau (nhiệt độ. 6. cần thực hiện đúng 7 nguyên tắc cơ bản. 3.. Vét bùn tích tụ đáy ao do thức ăn dư thừa phân huỷ. Dưới đây là một số nguyên tắc chọn thuốc sử dụng trong NTTS: .Chọn thuốc rẽ tiền và dễ kiếm. Muốn phòng bệnh cho cá đạt kết quả tốt. Vậy để nuôi cá đạt hiệu quả tốt. Nên bón vôi với lượng 10-15 kg/100m2. rêu. nguồn nước không bị ô nhiễm. Chọn giống tốt không mang mầm bệnh.ebook. nước ao. 4. Còn với ao bị nhiễm phèn thì không nên phơi đáy ao. Mật độ thích hợp là 4-5 con /m2. Ngoài ra trong quá trình nuôi còn sử dụng một số cây thuốc nam như lá giác. hàm lượng oxy hoà tan pH).. độ sâu. ------------------------------------------------------------------------------------------------------------ http://www.Chọn thuốc có biên độ an toàn cao. Chú ý lấy nước vào ao phải qua lưới lọc. màu nước làm thức ăn tự nhiên cho cá.Chọn thuốc có tính diệt trùng cao và chọn lọc thập. từ 3-5 kg/100m2 để phòng bệnh cho cá. Chăm sóc cho ăn đúng KHKT hướng dẫn. rong. .Bài 6. Gây tảo. ngoài việc thực hiện đúng kỹ thuật nuôi. 2. lá xoan. Nếu hai loại thuốc có tác dụng như nhau thì chọn thuốc có biện độ an toàn cao.vn 12 . . Quản lý chất lượng nước ao tốt. kịp thời có biện pháp điều trị thích hợp.. các ký chủ trung gian.Vệ sinh ao đìa sạch sẽ trước khi thả nuôi nhằm mục đích ngăn chặn sự lây nhiễm từ đáy ao. 7. người nuôi còn phải theo dõi hoạt động của cá để phát hiện bệnh dịch. với lượng 7-10kg/10m2.edu. Bảy biện pháp phòng bệnh cho cá Cá là loài động vật sống ở dưới nước. do vậy người nuôi cá muốn kiểm tra tốc độ sinh trưởng cũng như sức khoẻ của cá để phát hiện bệnh dịch là rất khó khăn. Trước khi thả cá vào ao phải tắm cá qua nước muối 200-300g/10 lít nước trong khoảng 10-15 phút.. Phơi đáy 3-5 ngày nhằm tiêu diệt mầm b ệnh nấm. 1. Mật độ nuôi thích hợp sẽ hạn chế sự ô nhiễm trong quá trình nuôi và sự lây lan bệnh dịch nên cá ít bị nhiễm bệnh.

nên trong quá trình chăn nuôi và trồng trọt trong những năm gần đây. Tuy nhiên. khi mới sử dụng có tác dụng phòng và chữa bệnh cũng như kích thích sinh trưởng cho động thực vật nuôi. Aldrin là những chất có độc tính cao để tiêu diệt các loài thân mềm. thuốc trừ dịch hại (Pesticides). thuốc diệt tảo (Algicides).76 tỉ USD. Nhiều chất kích thích sinh trưởng và chất kháng sinh được sử dụng đã theo dây chuyền thực phẩm cũng như nhiều con đường khác xâm nhập vào cơ thể con người. còn dùng DDT.Bài 7. cải thiện tác động của sự ô nhiễm môi trường.edu. gây hại cho con người. thuốc kháng sinh (Antibiotic). thị trường Mỹ. Các chất diệt tạp thường được sử dụng là: Rotense. Trong năm 2002. cho động vật theo dây chuyền thực phẩm. giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 1. mặt khác chúng tạo ra các loại vi khuẩn nhờn với các chất kháng sinh và các vi khuẩn kháng thuốc này sẽ chuyển từ đông thực vật nuôi và môi trường sang người. Hiện nay. Calcium hypochlorite. người ta cũng sử dụng vô số các chất kích thích sinh trưởng và chất kháng sinh để phòng và trị bệnh cho các đối tượng nuôi trồng. Nicotine. Một mặt. Những chất này. thị trường Canada. 10/05/2002) thì trong năm 2001. thì sẽ gây nên hiệu ứng không có lợi. Malachite lục được dùng rộng rãi. hàng chế biến thủy sản hiện nay. Saponin. người ta thường cho thêm các hocmon kích thích sinh trưởng. Theo Ðoàn Cung (Tạp chí thương mại số 23//2002). Tuy nhiên. các chất kháng sinh và các chất hóa học chống vi khuẩn. hàm lượng các chất nầy. Một điều cần phải lưu ý là. khi đã sử dụng nhiều trong môi trường. thì mặt hàng thủy sản xuất khẩu vào thị trường EU giảm 30% so với năm 2001. nhiều loại hóa chất. là do dư lượng thuốc kháng sinh có trong hàng hóa. Quá trình nuôi trồng các động thực vật thủy sản. được sử dụng phổ biến.vn 13 . Ở những ao nuôi tôm thâm canh. đang có nguy cơ không xuất được nhiều sang thị trường EU. chúng có những tác dụng không đặc hiệu kích thích sinh trưởng. Bao gồm: thuốc sát trùng (Disinfectants). Nhiễm bẩn thực phẩm thủy sản do ô nhiễm môi trường và quá trình chế biến NHIỄM BẨN NGUYÊN LIỆU CHẾ BIẾN DO CÁC CHẤT KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG VÀ CÁC CHẤT PHÒNG CHỮA BỆNH Do môi trường ngày càng bị ô nhiễm. nếu dư quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến tôm và chất lượng hàng hóa cũng như gây độc cho người. Các chất diệt khuẩn như Formalin. Ðối với thị trường Mỹ thì sau khi Bang Alabama phát hiện chất kháng sinh http://www. quản lý môi trường hoặc chuyển đổi giới tính động vật thủy sản.ebook. Endrin. dược liệu khác nhau để sát trùng.1 tỉ USD đang là một thách thức lớn đối với ngành chế biến thủy sản Việt Nam. Ngoài ra. chỉ tiêu về kim ngạch xuất khẩu hàng chế biến thủy sản là 2. vượt quá qui định của EU. phòng trị bệnh. hàng xuất khẩu thủy sản Việt Nam đã có mặt trên 30 nước và theo Trần Thị Dung (Bộ Thủy Sản. thuốc diệt ký sinh trùng (Parasiticides). chống các ký sinh đơn bào có khả năng gây bệnh cho động thực vật nuôi.

2. dịch vụ nghề cá và bảo quản . Chlorpromazine 5. http://www. Dapson 7. kem bôi da tay trong tất cả các khâu sản xuất giống. chế biến thủy sản. Colchicine 6.edu. đã cấm bán 6 mặt hàng tôm của Trung Quốc thì tôm Việt Nam cũng bị ảnh hưởng lây. Từ 15/07/2002. Hàn Quốc bắt đầu kiểm tra dư lượng thuốc kháng sinh trong các lô hàng tôm sú và cua ghẹ nhập khẩu vào nước nầy. Chloramphenicol 3. kháng sinh trong sản xuất. Chính vì vậy. Các nitrofuran (bao gồm cả furazolidone) 10. nuôi trồng thủy sản. Dimetridazole 8.vn 14 . Ronidazole Phạm vi cấm sử dụng là: thức ăn.ebook. Chloroform 4. hóa chất. Bộ trưởng Bộ thủy sản đã ban hành quyết định số 01/2002/QÐ-BTS về việc cấm sản xuất. Canada thì công bố áp dụng chế độ lấy mẫu phân tích Chloramphenicol đối với 100% lô hàng thủy sản nhập khẩu từ Việt nam. ngày 22/01/2002. Bao gồm 10 hóa chất sau: 1. chất tẩy rửa. Aristolochia và các chế phẩm của chúng. chất xử lý môi trường. kinh doanh thủy sản. thuốc thú y. lưu thông và sử dụng một số hóa chất.Chloramphenicol. Metronidazole 9.

ebook. Người ta cho rằng. triệu chứng xảy ra sau 10 phút và dẫn đến tử vong sau 30 phút. gồm các tảo dinoflagellates Gonyaulax catenella và G. • • 2. californianeus. LD_50 10 µg.vn 15 . Guanidinium của độc tố làm nghẽn mạch. tìm thấy ở các loài nhuyễn thể ở vùng Alaska.) ở chuột. tetrodotoxin sinh ra do sự ký sinh của một số loài phiêu sinh động vật lên cơ thể thủy sản. 2. Saxidomus giganteus và các loài. Cấu trúc Octahydro-12-(hydroxymethyl)-2-imino-5. Rối loạn đường ruột (tiêu chảy.10.Bài 8. yếu cơ. Triệu chứng: biểu hiện bệnh sau 30 phút cho đến vài giờ sau khi dùng phải nhuyễn thể có chứa độc tố. ngứa môi và phía trong miệng. ngửi phải. C11H17N3O8 Đường xâm nhập: Ăn phải. Mytilus californianeus.5-d]pyrimidine-4.9:7.0 µg. Chưa thấy tử vong Đường xâm nhập: Đường miệng 3.10aH[1.29 C10H17N7O4 Xâm nhập: Ăn phải.PSP (Paralytic Shellfish Poisoning) Độc tố gây liệt cơ • • • • • • • Mã số CAS 35554-08-6 Nguồn gốc: Sinh ra bởi vi sinh vật sống cộng sinh trên một sinh vật khác. Aurocentum. liệt cơ hoành và cơ ngực. Độc tố thủy sản tự nhiên 1. yếu.p. Độc tố có thể sản sinh riêng biệt bởi S. và vật còn lại của phân tử máu trong mạch.edu. sự truyền dẫn xung thần kinh.kg (Ngửi) Triệu chứng: Tê. hít phải.27. dính trên da.11. http://www. Nguồn gốc: tetrodotoxin tìm thấy trong da. liệt cơ Cơ chế tác động: Ưc chế enzyme Cholinesterase Đặc tính Trọng lượng phân tử: 299. nôn mửa. tamarensis. tetrodotoxin ngăn cản sự tăng điện áp gây ra bởi Na của tế bào thần kinh. Nguồn gốc sinh ra tetrodotoxin hiện nay còn chưa biết rõ. hạ huyết áp. prorocentrumlima. gan.12-pentol LD_50 8-20 mg/kg lượng sử dụng Triệu chứng: Tê. bạch tuộc. • • • LD_50: 192 µg.DSP (Diarrhetic Shellfish Poisoning) Độc tố gây tiêu chảy là nhóm gồm nhiều độc tố.kg (i.7. cơ thịt một số loài như: cá nóc. Đặc tính: Trọng lượng phân tử: 319.kg (ăn phải). khó thở. sinh ra do nhuyễn thể ăn phải tảo độc thuộc nhóm dinoflagellates loài Dinophysis spp.3]dioxocino[6. đau bụng) nạn nhân có thể bình phục sau 3-4 ngày không cần điều trị.10a-dimethano. giganteus hay M.Tetrodotoxin (Puffer Fish Poisoning) • • • • • • Tetrodotoxin (Puffer Fish Poisoning) là một loại độc tố thần kinh sinh ra do sự cộng sinh giữa vi sinh vật lên cơ thể cá nóc.vì gây ra sự thay thế Na trong việc phát điện khi màng tế bào bị kích thích. Cơ chế tác động: Vận chuyển ion thần kinh.

Isodomoic acid A – H. Cấu trúc Domoic acid. sản sinh từ tảo đỏ Digenea simplex. PbTx1 có tác dụng mạnh nhất LD_50 180ηg. Nếu nồng độ cao có thể phá huỷ tế bào thần kinh tạm thời hoặc vĩnh viễn gây mất trí nhớ.14 C15H21NO6 Đường xâm nhập: Ăn phải. 6. CFP (Ciguatera Fish Poisoning) Ciguatera Fish Poisoning là loại độc tố gây độc phổ biến nhất. Pseudo – nitzschia pungren f. Trong đó: PbTx1 – 3 là dạng chiếm ưu thế. Đặc tính: Trọng lượng phân tử: 311. NSP (Neurotoxic Shellfish Poisoning) Độc tố thần kinh • • • • • • • Nguồn gốc: Sinh ra bởi trùng roi đáy Gymnodinium breve. Tuy vậy. Tìm thấy trong suốt thời kỳ thủy triều đỏ từ cuối mùa hè cho đến mùa thu hàng năm ngoài khơi Florida tiêu diệt lượng lớn cá và chim. Thay đổi đặc tính của tế bào. Cấu trúc Có các đồng phân: Brevetoxins 1. Liều lượng gây hại là 1 ppb. liều lượng gây mất trí nhớ thấp hơn mức gây độc. http://www.ASP (Amnestic Shellfish Poisoning) Độc tố gây mất trí nhớ • • • • • • • Nguồn gốc ASP. Độc tố thần kinh. Cơ chế tác động: Hoạt hóa thụ quan Kainate Glutamate. vùng chịu trách nhiệm về việc việc học và nhớ. kainic acid và các đồng phân: 5’ epi – DA.kg ở chuột. Liên kết với NMDA và NMDA glutamate thụ cảm. kết quả làm tăng Ca^2+ nội bào. multiseries.9 (PbTx1 -9). DA làm tăng cao Ca^2+ và thương tổn tiếp theo vùng não nơi đường dẫn glutaminergic có nồng độ tăng cao. có thể dẫn đến tử vong. choáng.ebook.edu. thần kinh gây hoa mắt. Brevetoxin có thể nối với phần rời ở cổng h kênh Na+. điện áp phụ thuộc vào kênh calcium. và loài trùng roi khủng Ptychodiscus trevis là một loại dinoflagellate tìm thấy ở Vịnh Mexico và vùng Caribbean. Mức tác dụng của việc ăn phải về thực chất thấp hơn (35-70 mg. domoic acid sinh ra từ tảo đỏ Chondiria armuta. đặc biệt trong vùng CA1 và CA3. tác động dạ dày. thuộc nhóm kích thích thần kinh hay độc tố kích thích.kg ở chuột Triệu chứng: Gây buồn nôn và tiêu chảy sau 30 phút – 6 giờ. Triệu chứng: Giống độc tố PSP Cơ chế tác động: Giải phóng Na+ trong quá trình vận chuyển ion vào trong tế bào. Không điều chỉnh được Na+ vào trong tế bào. Domoic acid thuộc nhóm protein gọi là kainoid. ngất có thể bình phục sau vài ngày.4.kg). gây trở ngại cho chu trình vận chuyển thần kinh ở não. 4ng. Đặc tính: Trọng lượng phân tử: 900 Đường xâm nhập: Đường miệng 5.ml ở cá. loài này cũng gây ra các vụ tương tự trên thế giới. gây ra sự giải phóng thần kinh phá huỷ Acetylcholine gây co cơ. LD_50 4 mg. Có khoảng 400 loài cá có thể nhiễm độc. Mặc dù vậy.vn 16 .

ngăn cản kênh vận chuyển ion Na+ trong màng tế bào dẫn đến sự không cực của màng (depolarization) làm ngừng xung điện thần kinh. tiêu chảy.• • • • • • • Nguồn gốc: Sinh ra bởi loài trùng roi đáy Gambierdicus toxicus ký sinh trên cá. mệt kéo dài 2 – 3 ngày có khi đến 1 năm. 0. Có thể gây vỡ mạch máu dẫn đến tử vong. Gây ra chứng tắt nghẽn thần kinh. Cơ chế tác động: Ciguatoxin tan trong dầu.400 Đường xâm nhập: Đường miệng -----------------------------------------------------------------------------------------------• SƯU TẦM : TRẦN THANH PHONG http://www.000. Nạn nhân tử vong do tê liệt hô hấp. ngứa.4g.kg Ciguatoxin ( chuột) Triệu chứng: Xuất hiện vài giờ sau khi ăn: nôn.edu.vn 17 . Maitotoxin: 3.ebook. Cấu trúc: Gồm 2 độc tố chính là: Ciguatoxin và Maitotoxin LD_50 0. Trọng lượng phân tử: ciguatoxin: 1.kg Maitotoxin.1g. yếu.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful