P. 1
Dinh Duong Cay Trong

Dinh Duong Cay Trong

|Views: 141|Likes:
Được xuất bản bởihoamy35t43647645

More info:

Published by: hoamy35t43647645 on Nov 30, 2010
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

06/10/2013

pdf

text

original

Trường ĐẠI HỌC CẦN THƠ Khoa Nông Nghiệp & SHƯD

BÀI BÁO CÁO PHÌ NHIÊU ĐẤT
GVHD: Nhóm thực hiện: 1. Thái Trương Hoa Mỹ 2. Võ Thành Tấn 3. Huỳnh Văn Tửng 4. Võ Hoàng Nghiệm 5. Nguyễn Thị Tuyền 6. Nguyễn Thị Thúy Kiều 3096951 3096960 3093420 3093373 3093419 3096945

TS. Châu Minh Khôi Câu 1: So sánh các con đường mất đạm khi bón phân đạm chứa amonium cho đất phèn trồng lúa và đất phù sa trồng lúa. Trả lời: Đất phù xa trồng lúa: Sự mất đạm do khử nitrate rất cao, thong thường 60-70%. Lượng phân bón vào bị bay hơi dưới dạng N20, N2 vì phân đạm chứa NH4+ bám vào lớp đất mặt sẽ bị oxi-hóa thành nitrate tại lớp đất mỏng tiếp giáp với nước. NH4+ + O2 Vi sinh vật: Nitro somonas, nitro solobus, nitro cystis, nitro sospina. Chúng phát triển tốt ở pH là: 7-7.5, nhiệt độ: 28-30oC, độ ẩm: 40-70%. 2NO2- + O2
VSV
-

VSV

2NO2- + 2H2O + 4H+ + năng lượng

2NO3- + năng lượng

NO2 NO3 Vi sinh vật: Nitro bacter, nitro spira, nitro cosus Chúng phát triển tốt ở pH trung tính, hơi kiềm và vẫn phát triển tốt ở môi trường chua. Tất cả VSV nitrate hóa thường tập trung thành từng đám gần rễ lúa trong lớp đất mặt. NO3- sau đó trực di xuống tầng khử bên dưới khử thành N2, N2O và mất ở dạng hơi. (Nhờ vi khuẩn phản nitrate hoạt động mạnh, chúng tập trung nhiều ở tầng sâu). Một số ít đạm bị mất ở dạng NH3: Đạm kích thích rong, tảo phát triển, lấy CO2 từ H2O làm pH>9 nên: NH4+ NH3 (bay lên) Đất phèn trồng lúa: Nhóm VSV phản nitrate hoạt động ở tầng mặt. Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phản nitrate hóa sảy ra mạnh mẽ. VSV phản nitrate hóa là những VSV yếm khí tùy ý.

nCO2 + nH2O =H2CO3 H+ + HCO3CO32. khi ammonia được tạo ra tùy thuộc vào điều kiện pH của môi trường mà NH4+ có thể chuyển thành khí NH3 phát thải vào không khí. lượng emzyme urease tạo ra ít làm cho sự thủy phân xảy ra chậm hơn. tùy vùng) làm cho hoạt động của vi sinh vật bị ức chế . Trong khi sét có có khả năng kiềm giử tốt NH4+ (đặc biệt là khoáng sét 2-1).  Do rửa trôi: Đối với đất phèn có thành phần cơ giới nặng (tỉ lệ sét > 50%). Sự thủy phân làm pH của nước ruộng gia tăng có thể gây ra mất đạm ở dạng khí NH3 nếu bón vượt quá liều lượng 60kgN/ha/lần. pH của đất thấp kết hợp với sự tăng pH khi thủy phân urea đưa pH trong ruộng lúa đến trung tính lượng NH4+ chuyển thành NH3 rất ít và như thế hầu như đạm không bị mất trên đất phèn ngập nước. Trên đất phù sa: pH của nước gần trung tính kết hợp bón urea làm cho rong. . tảo có điều kiện phát triển mạnh và ảnh hưởng quan trọng đến sự biến động pH của nước bằng sự tiêu thụ CO2 thì sự phát triển của tảo có thể đẩy pH lên 10 vào buổi trưa và giảm 2 đơn vị hoặc hơn vào ban đêm. Trên đất phèn: pH của đất thấp (pH<4.+ H+ Do sự thủy phân của urea lượng CO3. Đối với đất phù sa thì có thành phần cơ giới trung bình (tỉ lệ sét từ 20 – 30%).sinh ra nhiều làm cho phản ứng cân bằng theo chiều nghịch. Dưới tác dụng của enzyme urease chúng sẽ chia cắt ammonia ra khỏi carbon dioxide trong phân tử urea và kết quả là: urease CO(NH2)2 (Urea) +2H2O (NH4)2CO3 + H2O (NH4)2CO3 NH4HCO3 + NH4OH Trên ruộng lúa mực nước cao phù hợp cho tiến trình thủy phân xảy ra. Khi pH cao NH + 4 sẽ chuyển thành NH3 làm mất đạm. Vì vậy đất phèn có khả năng kiềm giữ NH4+ tốt hơn đất phù sa. . lượng H+ tiêu thụ tăng làm cho pH của nước lúc này tăng.Khi bón urea vào ruộng thì phân tử urea sẽ bị phá hủy thông qua quá trình thủy phân.

pH hoặc chế độ tưới là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến áp suất của khí NH3. nhiệt độ. N2O. Tốc độ gió.Chu kỳ chất N N2 Phaân boùn NH3 Caây troàng laáy ñi Coá ñònh sinh hoïc N2. KẾT LUẬN: trong cùng điều kiện ngập nước của đất trồng lúa nhưng thực tế sự mất đạm khi bón urea của đất phù sa cao hơn trên đất phèn. độ ẩm của đất. tốc độ thấm. khả năng trao đổi cation. mất đạm còn thụ thuộc vào tỷ lệ và cách bón thúc. NO Chaát thaûi cuûa ñoäng vaät Bay hôi caây troàng Dö thöøa cuûa haáp thu caây troàng pH cao Khoaùng hoùa vi sinh vaät ñaát Khöû nitrate NH4+ thu sinh Chaát höõu cô Haáp hoïc NO3 Nitrate hoùa Röûa troâi Ngoài ra. .

Ở đất ngập nước. do đó quá trình này xảy ra nhanh hơn so với ở đất thoáng khí. một số vi sinh vật háo khí có thể sử dụng NO3 như nhận điện tử. quá trình khử nitrate sẽ chậm lại. . Quá trình khử nitrate: 1. Trong điều kiện thiếu ôxy.cạn Do keo đất đa số là keo âm nên khả năng giữ NH4+ của đất này giảm kết hợp hàm lượng oxy cao NH4+ dẽ bị nitrate hóa tạo ra NO3-. Tuy nhiên điều kiện đủ ôxy này lại làm gia tăng quá trình nitrate hóa đạm NH4.+ 2H2O + 4H+ + năng lượng NO3. khi bón urea vào đất nó bị thủy phân tạo ra NH4+ sau đó NH4+ tùy vào điều kiện môi trường mà nó có thể chuyển trực tiếp thành NH3 hoặc tiếp tục quá trình nitrate hóa. Trả lời Chu trình thủy phân urea: urease CO(NH2)2 (Urea) +2H2O (NH4)2CO3 + H2O (NH4)2CO3 NH4HCO3 + NH4OH Ta thấy. nhiệt độ và pH của đất. Khử nitrite (NO2) thành nitric oxide (NO). rồi nitrous oxide (N2O) rồi N và sau cùng là khí N2.Câu 2: So sánh các con đường mất đạm khi bón phân đạm chứa amoni cho đất phù sa trồng lúa và đất phù sa trồng cây trồng cạn. 2NO3• 2NO2- 2NO N2O N2 Các vi khuẩn khử nitrate trên đây đều là vi khuẩn háo khí. Ở đất thoáng khí (thoát thủy tốt) mức độ mất N do khử nitrate tùy thuộc vào ẩm độ. cung cấp cho quá trình khử nitrate. Nên trong điều kiện đất thoáng khí. Nitrosomonas NH4+ + O2 Nitrobacter 2NO2. và trong tầng khử. cung cấp đủ ôxy cho vi khuẩn. vì vi khuẩn khử nitrate thiếu ôxy nên khử ôxy của NO3.sẽ bị trục di xuống tầng khử bên dưới để cuối cùng tạo ra khí nitơ tự do phát thải vào không khí dẫn đến sự mất đạm. Khử nitrate (NO3) thành nitrite (NO2).+ năng lượng 2NO2. 2.+ O2 2NO3.

5 trở lên có mật số vi khuẩn khử nitrate cao nhất.dễ trục di xuống tầng khử bị vi sinh vật yếm khí khử thành N2O. pH khoảng 6-6. hàm lượng đạm ammonium luôn luôn ở dưới mức gây hại cho rễ. Trên đất phù sa trồng lúa nước nhiều nên keo đất hoạt động nhiều và giữ lại nhiều NH4+ trên bề mặt không trục di xuống tầng khử bên dưới. Trong điều kiện này cây trồng có thể bị thiếu đạm. trên bề mặt đất. Bởi vì cách bón phân này làm NH4 khi có cơ hội phản ứng với keo đất. Ở loại đất nặng như đã nói trên. Ở đất hơi chua. .• Đối với ẩm độ.gây độc cho cây và tăng NO.5. vì một số trong chúng thường bị keo đất hấp phụ. • • KẾT LUẬN: trên cùng một loại đất phù sa thì sự mất đạm diễn ra mạnh hơn ở đất không ngập nước còn ở đất ngập nước thì diễn ra chậm hơn. Sự mất đạm còn chịu ảnh hưởng quan trọng của nhiệt độ: trên loại đất có thành phần cơ giới nặng có thể hình thành một vùng ứ nước quanh béc tưới. Mặt khác pH của đất còn ảnh hưởng trên loại khí thải ra trong quá trình khử nitrate. Ảnh hưởng này có thể do các hệ phân hóa tố của vi khuẩn nhạy cảm với pH của môi trường. Ẩm độ đất càng tăng cao (cho đến mức độ ruộng bị ngập nước) mức đô mất N do khử nitrate càng tăng. Trên đất phù sa trồng lúa xảy ra hiện tượng yếm khí nên mất đạm chủ yếu ở giai đoạn khử nitrate: NH4+ NO2NO3N2O N2 Thông thường NO2 tồn tại không lâu trong đất mà bị oxi hóa thành NO3. N2 mất đi do bay hơi. Ngoài ra. phân nửa lượng khí thải ra là N2O. Nếu gặp trường hợp này ta nên cung cấp một lượng nhỏ đạm dưới dạng urea hay ammonium sẽ hạn chế được việc mất đạm do phản đạm hóa. trên đất phù sa trồng màu đất thoáng khí nên có nhiều vi sinh vật hiếu khí nên đạm cũng dễ bị mất do phản ứng nitrate hóa: NH4+ + NO2NO3NO3 dễ bị trục di xuống tầng khử tạo ra N2O. Ở đất quá chua. Đất phù sa trồng màu: sự mất đạm rất nghiêm trọng khi bón phân chứa urea hoặc phân chứa ammonium. nhiệt độ lớp đất mătj luôn cao nên NH3 dễ bay hơi.nhưng nếu bón nhiều đạm tăng NH4+ và pH thì sẽ gây ra ức chế hoạt động của vi khuẩn oxi hóa NO3làm tích lũy NO2. Đất có pH từ 5. vi khuẩn có khuynh hướng thải ra NO. Mật số vi khuẩn khử nitrate rất kém ở đất chua. mặc dù đạm vẫn được cấp đầy đủ từ hệ thống bón tưới. Và ở đất trung tính hoặc hơi kiềm lúc đầu vi khuẩn thải ra N2O nhưng sau đó N2 chiếm thể tích phóng thích quan trọng hơn. N2 gây mất đạm. Ở vùng ứ nước này nếu nhiệt độ đất cao sẽ có tình trạng thiếu oxy và các phản ứng khử sẽ gây ra hiện tượng mất đạm vào không khí dưới dạng N2 hay N2O. pH của đất cũng ảnh hưởng đến mật số vi khuẩn khử nitrate trong đất. Trông đất phù sa tươi xốp NO3. Nhưng do đất có pH trung tính và có nhiều đạm là điều kiện cho các loài rong tảo phát triển từ đó lầm pH nước tăng lên như đã trình bày ở câu trên và do đó NH4+ sẽ thành NH3 phát thải vào không khí làm mất đạm. đất có ẩm độ dưới 70 % ( khả năng bảo hòa nước của đất) có mức độ mất N do khử nitrate tương đối ít.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->