Các yếu tố ảnh hưởng đến GDP: GDP là tổng giá trị của các sản phẩm thành

phẩm và của dịch vụ trong 1 năm được tạo ra trong biên giới quốc gia. Gọi đó là tổng sản lượng quốc dân. Nhìn công thức tính GDP ta thấy ngay yếu tố nào ảnh hưởng lên nó: Cách tính 1: GDP= tổng giá trị hàng hóa cùa các ngành+ tổng giá trị dịch vụ trong các ngành. Cách tính 2: GDP= T +Đ +D + C khi T =Mức tiêu thụ trong dân Đ = Mức Đầu tư của các Doanh nghiêp D = số Dư trong xuất khẩu trừ nhập khầu C = mức Chi của Nhà NướcTrong công thức hai, - yếu tố Đ là tiền chi tiêu của các doanh nghiệp bỏ ra để huấn luyện đào tạo đội ngũ công nhân và quản lý trở nên có nnăng xuất cao hơn, tiền chi cho nghiên cứu và phát triển công nghệ và sản phẩm mới, tiền mua thêm máy móc và dụng cụ sản xuất thay thế hay mua mới. - yếu tố D liên quan tới cán cân mậu dịch. Nều xuất khẩu cao hơn nhập khẩu ta có số dương và ngược lại. Ngoài cách nhìn vào thành phần của công thức tính GDP để biết yếu tố ành hường ta cá cách nhìn khác để tiên đoán GDP tăng hay giảm: 1.Mức tiết kiệm của dân và tiền đầu tư của doanh nghiệp ra sao? 2. Có sự ổn định trong kinh tế vĩ mô khi NN quân bằng chi thu hay không? Mức lạm phát thấp, ổn định không?. 3. Chính sách mậu dịch thông thoáng ít rào cản, tạo môi trường thuận lợi cho xuấ khẩu; tạo sự luân chuyển tài chánh dễ dàng hay không? 4. Chính sách hối đoái tiền tệ có hỗ trợ cho xuất khẩu không? Các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát: Năm 2008, nền kinh tế gặp khó khăn với những diễn biến phức tạp của chỉ số giá tiêu dùng. Tính đến cuối tháng 12 năm 2008, CPI đã tăng ở mức 2 con số, trên 20% so với cùng kỳ năm trước. Khi lạm phát tạm thời được kiểm soát nhưng nguy cơ bùng phát trở lại vẫn còn rình rập thì nền kinh tế lại chịu tác động suy thoái của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Các biện pháp chính sách thắt chặt trước đây nhằm kiềm chế lạm phát được thực hiện nới lỏng một cách thận trọng nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế chống lại tác động của cuộc khủng hoảng nhưng vẫn đảm bảo lạm phát ở mức một con số. Có thể nói với tăng trưởng GDP 5,32 % và chỉ số lạm phát 6,88% năm 2009 nền kinh tế đã đạt được những mục tiêu đặt ra. Nhưng những bất ổn kinh tế vĩ mô của Việt Nam vẫn còn đó và lạm phát là một trong những vấn đề cần phải bàn tới khi mà năm 2010 này, sau một thời gian thi hành các chính sách nới lỏng, các yếu tố lạm phát không chỉ còn là nguy cơ tiềm ẩn mà bắt đầu có ảnh hưởng. Những vấn đề chung về lạm phát

lạm phát. song sự gia tăng mức giá bắt đầu từ các nhân tố trên nếu không có sự hỗ trợ bởi các chính sách nhà nước làm tăng cung tiền bằng việc thực hiện chính sách tài khoá ( CSTK) . Tạo vòng xoáy lạm phát? Nhìn nhận về tổng quan kinh tế trong 9 tháng đầu năm. như tăng chi tiêu chính phủ bằng nguồn phát hành. Biểu hiện của nó là sự tăng giá liên tục lâu dài của mức giá chung. và cầu đối với lao động đang có xu hướng tăng cao giúp người lao động . cùng với các nhân tố tác động như trên. Tuy nhiên. đang có những rủi ro đáng kể liên quan đến hai chỉ số vĩ mô còn lại là lạm phát và thâm hụt thương mại. theo cơ quan này. Trong mỗi trường hợp cụ thể các nhân tố có tác động ở mức độ khác nhau đến mức giá chung. ngoại tệ. giảm thuế. nếu chỉ số tăng trưởng và việc làm thể hiện xu hướng tích cực thì ngược lại. cầu đối với hàng hóa xuất khẩu và cầu nội địa gia tăng. lạm phát kỳ vọng có thể tạo ra lạm phát thực tế. về mặt thực nghiệm. nhất là bù đắp thâm hụt ngân sách bằng tiền phát hành. tín dụng tăng trưởng nóng… thì mức tăng giá chỉ trong ngắn hạn sẽ không gây ra lạm phát. vàng. mở rộng đầu tư quá mức. Đây là loại lạm phát mà có thể không giảm nhanh thậm chí khi các yếu tố gây lạm phát ban đầu đã biến mất. Trong đó. Chính vì vậy. Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới sử dụng chỉ số CPI là thước đo lạm phát để thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô. đi liền với ba điểm sáng của nền kinh tế về tăng trưởng hồi phục nhanh. Đo lường mức giá chung thường sử dụng hai thước đo là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số giảm phát GDP (GDP deflator). được thể hiện trên cả bốn chỉ số chính của kinh tế vĩ mô là: tăng trưởng GDP. Sự gia tăng mức giá có thể bắt đầu từ các nguyên nhân do các nhân tố “cầu kéo” và/hoặc nhân tố “phí đẩy”. Theo đánh giá của Ủy ban Kinh tế. chính sách tiền tệ (CSTT) nới lỏng. nền kinh tế trong quý 3 và 9 tháng đầu năm về cơ bản đã được phục hồi. các nhà kinh tế học kinh điển đều nhất trí rằng. nguyên nhân sâu xa của lạm phát là sự tăng trưởng tiền tệ ở mức cao. Theo Milton Friedman “lạm phát luôn luôn và ở đâu cũng là hiện tượng tiền tệ” nhưng các nguyên nhân gây ra các mức lạm phát thì rất đa dạng. Phân tích nguyên nhân gây lạm phát trong những tháng cuối năm 2010: Ủy ban Kinh tế của Quốc hội vừa có báo cáo đánh giá tình hình kinh tế Việt Nam tính đến quý 3 và dự báo cho những tháng cuối năm. Ngoài ra. sự thiếu tin tưởng của các nhà đầu tư vào cơ quan quản lý và kỳ vọng lạm phát cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát. thâm hụt thương mại và lao động việc làm. mà có thể xem như là “lạm phát dai dẳng”.Lạm phát được hiểu một cách chung nhất là sự mất giá tương đối lâu dài và liên tục của tiền giấy so với hàng hóa. tăng trưởng kinh tế nóng. nhiều nghiên cứu về sự gia tăng lạm phát ở các nước đã khẳng định. bởi CPI ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội. Ủy ban Kinh tế cho rằng. một chính sách tỷ giá không hợp lý.

thì nền kinh tế cũng đang đối mặt với ba thách thức không chỉ trong những tháng còn lại của năm nay mà cả năm 2011. Cán cân vãng lai và cán cân thương mại vẫn trong tình trạng thâm hụt cao và dai dẳng. làm gia tăng áp lực lên thị trường ngoại hối và tỷ giá trong bối cảnh dự trữ ngoại hối còn mỏng . bằng mức 6. trong thời gian qua. báo cáo nêu rõ. . Cả ba loại giá này đang diễn biến theo chiều hướng bất lợi và không như kỳ vọng của cơ quan quản lý. nợ nước ngoài của quốc gia tiếp tục tăng.62% cùng kỳ năm 2009. Ủy ban Kinh tế cho rằng. nguyên nhân quan trọng gây nên tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai là do thâm hụt thương mại của Việt Nam vẫn trong tình trạng cao và kéo dài.51%/tháng) khi so với mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới 8%/năm.52% so với cùng kỳ năm trước. Và theo nhiều chuyên gia. bình luận về diễn biến các chỉ số kinh tế vĩ mô. mặc dù nền kinh tế đã được phục hồi và tiếp tục đà tăng trưởng trong những tháng cuối năm 2010 nhưng chất lượng tăng trưởng còn thấp. hay dưới 0. tỷ giá và tiền công.31% trong tháng 9 và 1. thách thức lớn đối với Chính phủ trong nỗ lực kiềm chế lạm phát từ 7 . Lạm phát có thể tăng 8. giá USD trên thị trường tự do tăng cao và biến động khó lường đã cho thấy những khó khăn.52% của cùng kỳ năm 2008 và cao hơn mức tăng trưởng 4. cộng với việc giá vàng và USD trên thị trường tự do tăng cao và biến động khó lường đang tạo ra thách thức lớn cho nỗ lực kiềm chế lạm phát từ 7 .8% trong năm nay”. Đồng thời.46% chỉ trong 9 tháng đầu năm nên dư địa còn lại cho sự gia tăng lạm phát trong quý 4 là rất hẹp (dưới 1. Trong khi đó. nền kinh tế cũng xuất hiện một số rủi ro tiềm ẩn liên quan đến sự gia tăng của ba loại “giá” trên ba thị trường vốn. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng 9 và tháng 10 đã vọt tăng cao mức kỷ lục trong nhiều năm qua. biến động của ba loại giá nói trên không tồn tại độc lập mà tương tác lẫn nhau. Theo các chuyên gia. có khả năng tạo ra vòng xoáy về lạm phát trong quý 4/2010 và có thể là cả trong năm 2011. do tỷ lệ lạm phát đã leo thang 6.có nhiều cơ hội việc làm và cải thiện thu nhập. rủi ro lạm phát là tương đối cao. Ủy ban Kinh tế cho rằng. kiềm chế lạm phát từ 7 -8%/năm.4% Nhìn nhận về diễn biến lạm phát trong những tháng cuối năm. ngoại hối và lao động là lãi suất.05% trong tháng 10. cải thiện thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai và khắc phục tình trạng thiếu hụt điện năng. Cụ thể là tăng trưởng kinh tế trong 9 tháng đầu năm đạt mức 6. Đó là. đạt mức 1.54%/quý. “Chính mức tăng cao đột biến của chỉ số CPI trong hai tháng vừa qua cộng hưởng với xu hướng tăng cao thường xảy ra với chỉ số CPI vào những tháng cuối năm trong bối cảnh giá vàng. đặc biệt là thâm hụt thương mại với Trung Quốc.8% cho cả năm 2010. Cùng với đó.

Tết Nguyên đán.29%. sữa. Thêm vào đó. vật liệu xây dựng… cũng khiến CPI tăng nhẹ. thức ăn chăn nuôi. trong những tháng cuối năm có nhiều yếu tố tác động gây sức ép. nhiều khả năng tỷ lệ lạm phát trong năm sẽ dao động trong khoảng 7. nhóm nhà ở. Ủy ban Kinh tế cho rằng. Căn cứ vào những nguyên nhân gây ra sự tăng cao của chỉ số CPI trong thời gian qua (lạm phát chi phí đẩy.4%. nhu cầu đồ dùng học tập tăng cao đã khiến giá một số mặt hàng lên cao. Bên cạnh đó. Đặc biệt. nên nhiều khả năng.8. vật liệu) có thể nhận thấy. Trong dịp này. nguyên nhân gây ra tăng chỉ số CPI của nhóm giáo dục chỉ mang tính mùa vụ tạm thời. nhưng vẫn có thể xảy ra những đợt điều chỉnh gây ảnh hưởng tới giá hàng hóa trong nước. tăng giá nhóm lương thực. Theo các chuyên gia. bột giấy… tăng. chỉ số CPI của Việt Nam thường có xu hướng tăng cao vào tháng 11 và đặc biệt là tháng 12 hàng năm. Có nghĩa là thu gom tiền vào trong ngân hàng để lượng tiền trong thị trường giảm xuống. . thì sẽ chống được lạm phát. dịch bệnh diễn biến phức tạp sẽ gây áp lực tăng giá. Cho nên hầu hết phương cách sơ đẳng nhất để chống lạm phát và chống phá giá đồng tiền lạm phát là đưa ra chính sách siết chặt tiền tệ. Tết Dương lịch. Nhiều giải pháp chống khan hàng. Ủy ban Kinh tế dự báo.8% trong năm 2010 sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều cho những tháng còn lại của năm. Trong khi những nguyên nhân khác (đóng góp khoảng 0. nhiên liệu trên thị trường thế giới khó biến động mạnh. việc các doanh nghiệp điều chỉnh giá xăng dầu. nếu không có những biện pháp ứng phó hữu hiệu và kịp thời nhằm kiềm chế đã tăng chỉ số CPI trong quý 4. học sinh cả nước bước vào năm học mới. người dân sẽ thiếu tiền trao đổi. dù tốc độ tăng CPI không cao nhưng vẫn có nhiều áp lực gây sức ép tăng giá do một số mặt hàng trên thị trường thế giới như: gạo.9 . tác động của việc điều chỉnh tỷ giá và khả năng thiên tai. đẩy mặt bằng giá tăng. Một số địa phương cũng đã tăng học phí khiến chỉ số giá của nhóm hàng giáo dục tăng 1. mặc dù giá nguyên. đường. Các biện pháp kiềm chế lạm phát: Người ta bảo một trong những nguyên nhân lạm phát là lượng tiền mặt quá lớn còn lưu thông trên thị trường. phân bón.Với thực tế trên. phôi thép.61%) lại đang có chiều hướng gia tăng áp lực trong quý 4 này. nỗ lực kiềm chế lạm phát từ 7 . nhu cầu tiêu dùng hàng hóa dịch vụ phục vụ lễ hội. Bên cạnh đó. sốt giá Theo quy luật. tác động vào giá thị trường trong nước.8% như mục tiêu đề ra sẽ trở nên khó khăn hơn trong quý 4. nỗ lực kiềm chế lạm phát cả năm từ 7 .

.Để đạt mục tiêu kiềm chế chỉ số CPI cả năm tăng khoảng 7%. Đối với một số hàng hóa. khí bán cho điện. nhằm dự trữ hàng hóa kịp thời.66 yen/USD lúc 2. Cơ quan quản lý giá sẽ tổ chức dự báo sát nhu cầu để triển khai kế hoạch sản xuất. Công tác đăng ký giá. các nhà lãnh đạo Nhật Bản quyết định can thiệp vào thị trường.1%. từ mức mục tiêu trước đó là 0.1%. Trong một tuyên bố hôm nay. thực hiện nhằm ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp lệnh giá. Động thái ngày hôm nay “nới lỏng tiền tệ toàn diện’ của thống đốc Masaaki Shirakawa và các đồng nghiệp của ông được đưa ra sau khi có dấu hiệu cho thấy triển vọng tăng trưởng kinh tế Nhật Bản sụt giảm trong cuộc khảo sát Tankan hàng quý do ngân hàng TW Nhật Bản thực hiện. công khai thông tin về giá sẽ được rà soát. Bộ sẽ tiếp tục triển khai các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp về vốn.. không để xảy ra tình trạng thiếu hàng gây sốt giá. Các ngân hàng TW Mỹ và Anh cũng đang thảo luận để nới rộng bản cân đối tài chính của họ do các nước phát triển đang phải chiến đấu để duy trì đà hồi phục từ cuộc khủng hoảng hậu chiến tồi tệ nhất. nước sạch sinh hoạt. sẽ tiếp tục giữ ổn định giá và áp dụng kịp thời biện pháp bình ổn giá khi thị trường có những biến động bất thường.12 ngàn tỉ yen nhằm chặn tỉ giá hối đoái tăng. Lần đầu tiên kể từ năm 2004. cước vận chuyển hành khách bằng xe buýt trong đô thị.. Ngân hàng TW cũng hạ thấp lãi suất cơ bản xuống trong khoảng từ gần zero đến 0. trong tháng trước. Ngân hàng TW Nhật Bản cho biết sẽ lập một quỹ trị giá 5 ngàn tỉ yen (60 tỉ USD) để mua trái phiếu chính phủ và các tài sản khác. Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã tạo sức ép đối với các cấp lãnh đạo chính quyền nhằm tăng cường bảo vệ hoạt động xuất khẩu do đồng yen tăng vọt lên mức cao 15 năm trong tháng trước. kê khai giá. thị trường. kinh doanh bảo đảm đủ lượng hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng. Sau tuyên bố của thống đốc Masaaki Shirakawa. đồng yen Nhật sụt giảm 0. khu công nghiệp.4% xuống 83.. vật tư Nhà nước còn định giá như: điện.11 chiều giờ Tokyo. than. Những ảnh hưởng khi Ngân hàng TW mua trái phiếu chính phủ: Ngân hàng TW Nhật Bản cam kết giữ lãi suất cơ bản ở mức “gần zero” cho đến khi kết thúc nguy cơ giảm phát và sẽ nới rộng bản cân đối tài chính nhằm thúc đẩy đà hồi phục chậm đang chững lại của kinh tế Nhật Bản. bán ra 2. Bộ Tài chính cho biết sẽ thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm kiềm chế tốc độ tăng giá trong những tháng cuối năm. .

lãi suất dẫn đến những hành xử khác của người dân đối với các đồng tiền. Tình hình diễn ra tương tự ngay trên thị trường chính thức. chứ không phải 19. Theo đó. khi tỷ giá liên ngân hàng có lúc lên tới 19.500 đồng/USD mà NHNN công bố. Thực tế này khiến những ngày qua.800 đồng ở TP. Các ngân hàng đều niêm yết giá đúng quy định. giá USD tự do đã lên tới 21. song thực tế. quy mô giao dịch.850 đồng ở Hà Nội. bỏ xa tỷ giá chính thức. một vấn đề nóng bỏng trong điều hành tỷ giá gần đây là giá USD trên thị trường tự do liên tục bứt phá lên mức cao. gần đây. DN lại "bó tay" bởi không mua được để đáp ứng nhu cầu của mình hoặc mua không đủ. Giá trị đồng USD đang giảm trên toàn thế giới nhưng ở Việt Nam nó lại tăng mạnh. cuộc họp khẩn cấp về tình hình kinh tế vĩ mô của Chính phủ kết thúc khá muộn. Ngay sáng 4/11. ngoài giá mua vào bán ra cộng thêm các chi phí khác đã cao hơn giá niêm yết. trong cuộc họp. Một loạt giải pháp đã được đề ra để ứng phó với biến động trên thị trường ngoại hối.000 đồng/USD. Không có sự xuất hiện của Ngân hàng Nhà nước khi công bố hàng loạt giải pháp mới về tiền tệ và ngoại hối.USD tăng giá: Nghịch lý ngoại hối chỉ có ở Việt Nam Nguyên nhân bắt nguồn từ sự méo mó do chính sách tiền tệ. Chính phủ đã chỉ định ông Ông Lê Đức Thúy .HCM và 20. là người chủ trì thông báo các chính sách này. Tối hôm 3/11. Đà tăng giá USD đã diễn ra liên tục trong nửa tháng qua và ngày nào cũng tăng. Nếu trước đây (hồi tháng 8) điều chỉnh là dương 3%. 20.500 như trần. Việc xác định tăng lên đỉnh mới nào thì không ai dám chắc. lúc 9h đêm. trong hệ thống ngân hàng. Chính phủ đã nhận được báo cáo của Ngân hàng Nhà nước về tình hình tỷ giá. Trong khi đó. Đây là một nghịch lý và đã gây ra những tác hại lớn cho nền kinh tế. trạng thái ngoại hối cũng giảm.Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia. Đáng chú ý. đã giảm xuống dương 1% và đến giai . một cuộc họp báo đột xuất đã được triệu tập. Ngày hôm qua (3/11). ngăn chặn lạm phát gia tăng. Nghịch lý ngoại hối chỉ có ở Việt Nam Theo ông Lê Đức Thúy. người dân đổ xô đi mua ngoại tệ. nhưng đã vượt xa trần 19. Hiện tượng này dường như lặp lại tình hình của một số thời kỳ trước.880 đồng. buộc Chính phủ phải đưa ra nhiều biện pháp cấp bách để để bình ổn thị trường. Tình hình nóng bỏng. Dù có giảm xuống chút ít vào cuối giờ chiều.

Điều này cho thấy. người ta chỉ thanh toán bằng đồng Rup. Như thế.5%. Trong khi tín dụng bằng đồng VND tăng có 14. Vì vậy. Đây là nhân tố ảnh hưởng tích cực đến thị trường ngoại hối. Song. Tăng trưởng kinh tế có khả năng vẫn có thể đạt 6. hiện đồng USD đang giảm giá với các đồng tiền khác trên thế giới. cán cân thanh toán sẽ là tốt hơn vì xuất nhập khẩu tốt và luồng vốn vào có chiều hướng tăng lên. tín dụng bằng đồng USD tăng khoảng 52% so với đầu năm. thực tế là họ không dùng đến USD mà bán ra. vàng tăng giá. mức nhập siêu trước đây dự kiến từ 13. về cán cân thanh toán. đến nay các chỉ số kinh tế vĩ mô đều rất tốt.5 tỷ thôi. Còn ở Nga. không nhận USD vì lo USD mất giá. chứ đừng nói là còn găm giữ mà không bán. Đáng chú ý. không có lý do gì để nói VND tiếp tục giảm giá. dự báo cho thấy tăng trưởng xuất khẩu có thể đạt 23% trong khi kế hoạch chỉ 18% và nhập khẩu chỉ tăng trưởng khoảng 17%. thực chất USD sẽ giảm giá khoảng 20% thời gian tới. nhập khẩu và nhập siêu đều giảm. Nhưng do khoản vay ngoại tệ đó là ngắn hạn nên đến kỳ đáo hạn. Ông Thúy cho biết. Hậu quả từ tăng trưởng tín dụng USD quá cao Tại cuộc họp. các doanh nghiệp đã vay USD. các ngân hàng cũng không dư thừa ngoại tệ. ngay từ đầu năm.3%. Năm 2011. Đặc biệt. với chính sách nới lỏng định lượng của FED. Ông Thúy cho biết. tình hình căng thẳng USD đã được cảnh báo.5-14 tỷ thì nay cao nhất 12. Vậy mà ở Việt Nam. ở Lào tiền Kíp đang lên giá so với USD. Với chiều hướng này. tạo nguồn cung giả tạo tạm thời trên thị trường nên giá USD tự do nhiều khi còn thấp hơn ngân hàng. ông Lê Đức Thúy cho biết. tính đến hết tháng 10. Nhưng tỷ giá lại tăng cao là một câu hỏi đặt ra cần phải tìm hiểu và giải quyết. các doanh nghiệp phải mua trả nợ. vàng lên giá và tiền Việt lại mất giá.đoạn những ngày gần đây xuống xấp xỉ 0%. dự báo thặng dư thấp là 1 tỷ.7-6. Con số cập nhật đến 14/10. giảm hơn một nửa so với 2009. còn ở Việt Nam USD tăng giá. dẫn tới nguồn cung tạm thời cạn kiệt trong khi cầu ngày càng tăng lên.6% và tổng tín dụng tăng 21. thì dự báo 2010 thâm hụt 4 tỷ USD. Đây thực sự là một ngịch lý khi trên thế giới USD mất giá. Trong tình hình đó. Theo nhận định của nhiều chuyên gia. cao là 2 tỷ. Thậm chí. . chúng ta cho giảm mà không nổi.8% so với kế hoạch là 6. Để tránh lãi suất tăng cao. Nếu năm 2009 thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể 9 tỷ USD.

000 tỷ so với cuối tháng 9.000 tỷ. xuất khẩu năm nay sẽ tăng vượt kế hoạch. mua vàng tích trữ và nằm ngoài ngân hàng. sức ép giảm lãi suất tiền Việt cũng làm cho uy tín VND bị giảm đáng kể. Trong khi đó. thì trong 15 ngày đầu tháng 10. Dân đã rút VND để mua ngoại tệ hoặc mua vàng.000 tỷ. tiền gửi ngoại tệ lại tăng lên. có thể đẩy giá cả vượt lên trên một con số. không điều chỉnh tỷ giá nhưng giải quyết được những căng thẳng khan hiếm tạm thời trên thị trường ngoại tệ. nếu nói điều chỉnh tỷ giá để khuyến khích xuất khẩu thì đây không phải là công cụ mạnh để làm việc đó. không hạ lãi suất Trong hoàn cảnh đó. Chính phủ đặt vấn đề không điều chỉnh tỷ giá. lạm phát sẽ vọt lên. một số cất trữ. Số tiền hơn 2 tỷ USD này có thể được dùng để mua USD. USD đang yếu đi. Theo ước tính của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia. tiền gửi tiết kiệm bằng VND của người dân giảm đến 45. số dư tiền gửi ngoại tệ thấp hơn số dư cho vay ngoại tệ khoảng 40. Thậm chí. lãi suất dẫn đến những hành xử khác của người dân đối với các đồng tiền. Ông Lê Đức Thúy phân tích. VND không yếu đến mức phải điều chỉnh tỷ giá. Do vậy. nhất là khi lạm phát có xu hướng vượt qua 8% . Mục tiêu quan trọng được đặt lên hàng đầu trong năm nay là ưu tiên ổn định vĩ mô. tâm lý chung của xã hội hiện nay rất kỳ vọng USD sẽ tăng giá. Nói là để hạn chế nhập siêu thì trên thực tế việc nhập siêu cũng đã được hạn chế. các thành viên Chính phủ đã quyết định trong thời điểm này.Như vậy. Điều này rất dễ nhận thấy trên thị trường khi người dân tích trữ ngoại tệ. tức tiền gửi ngoại tệ đã tăng 20. điều chỉnh có thể gây nên những tác động xấu không kiểm soát nổi. tốc độ nhập siêu cả về tương đối lẫn tuyệt đối đã giảm so với kế hoạch ban đầu. Nếu như cuối tháng 9. Còn chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là đáng báo động so với mục tiêu kiếm soát lạm phát. Một khi người dân đã rút tiền Việt để mua ngoại tệ thì đương nhiên ngoại tệ tăng giá. mà ưu tiên hàng đầu là kiểm soát lạm phát. điều chỉnh tỷ giá là không có lợi. câu hỏi đặt ra lúc này là tăng tỷ giá được gì và có nên điều chỉnh không? Mới đây nhất. Trong chiều ngược lại. Sau khi phân tích. Cộng với đó là cách xử lý chính sách và giải trình chính sách làm người dân mất tin tưởng rằng Nhà nước có thể điều chỉnh tỷ giá. và cả gửi lại ngân hàng dưới hình thức ngoại tệ. thì với tác động dây chuyền tâm lý của nó. Thêm vào đó.000 tỷ từ trong nước. người dân sẽ mất niềm tin. ADB đã khuyến cáo. phải thẳng thắn chỉ ra rằng. Ngân hàng Nhà nước với tư cách là người điều hành vĩ mô về tiền tệ phải can thiệp và bán ngoại tệ ra. Bên cạnh đó. số chênh lệch này chỉ còn 20. Nếu điều chỉnh tỷ giá. Nguyên nhân bắt nguồn từ sự méo mó do chính sách tiền tệ. Tuy nhiên. Việt Nam không nên điều chỉnh tỷ giá. Không tăng tỷ giá. Nếu không làm được. Tuy nhiên. . Trong vòng 15 ngày đầu tháng 10. vấn đề đặt ra là. trên thị trường đang có cái sự mất cân đối về cung cầu ngoại tệ cục bộ.

Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2010 dự kiến vượt 12. Đấy về thực chất là một biện pháp thắt chặt tiền tệ các tác dụng ngăn chặn lạm phát. mặc dù sau khủng hoảng. Khu vực nông nghiệp tăng 2. Ông Thuý khẳng định. Dự trữ là để ổn định thị trường. Song. công nghiệp và xây dựng tăng 7. về lãi suất. Chính phủ không đặt vẫn đế giảm lãi suất mà để các ngân hàng thực hiện theo thị trường. trên thực tế. Ngoài ra. Tăng chi tiêu chính phủ dành cho giáo dục: Chính phủ dự báo. trong tháng 9. dự trữ không phải là để cất. lãi suất cho vay 15-17% là mức mà thị trường có thể chấp nhận được. nếu trước đây.6%. Vì thế. Việc tăng lãi suất có tính tích cực.5% (GD&TĐ) – Trong phiên khai mạc Kỳ họp thứ 8. góp phần kiềm chế lạm phát. ít nhất là so với thời kỳ trước năm 2006. Chính phủ yêu cầu đưa lãi suất xuống nhưng nay tình hình đã thay đổi.6%. lãi suất huy động nằm trong khoảng 12-13% mà không có những khoản phụ phí.xã hội và nhiệm vụ năm 2011. Chính phủ chủ trương mạnh dạn can thiệp để giữ ổn định. vẫn còn và còn đủ để can thiệp với những cơn sốt USD kiểu như hiện nay. nhiều người lo ngại sẽ ảnh hưởng đến dự trữ ngoại tệ. Ngân hàng Nhà nước mua tăng được khoảng 300 triệu USD. trong khi đó lạm phát đang đà tăng. Thực tế thì hiện nay. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận định. Tuy nhiên.7% so với dự toán và tăng 17. lượng ngoại hối dự trữ không phải là quá "hẻo".7% cao hơn chỉ tiêu Quốc hội đề ra. Lo ngại tăng trưởng không cao là không có cơ sở. Tuy nhiên. Đợt "bơm" USD lần này. bảo đảm được các nhiệm vụ chi và góp phần giảm bội chi xuống dưới 6%. "Bơm" ngoại tệ ra. vì thế. Nếu lãi suất VND thấp thì USD rất bất lợi. mức tăng sẽ không nhiều. lãi suất cũng không xa lắm so với con số này. nhưng kinh tế nước ta đã sớm ra khỏi tình trạng suy giảm và có mức tăng trưởng khá cao. đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ cho những hoạt động kinh tế cần thiết.2%). dự trữ ngoại tệ tuy đã giảm mạnh so với mức cao nhưng số còn lại trong Ngân hàng Trung ương không phải là quá nhỏ bé. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã báo cáo Quốc hội tình hình kinh tế . những biện pháp đó chưa đủ mạnh để dừng lại tâm lý khan hiếm ngoại tệ. tháng 10 đã bán can thiệp nhỏ giọt 200 triệu USD.6% so với năm 2009. không can thiệp để làm lãi suất thấp hơn. Quốc hội khóa XII. kinh tế toàn cầu phục hồi chậm. sẽ làm giảm bớt áp lực lên tỷ giá khi mà đồng tiền Việt có giá hơn nhờ lãi suất cao hơn. Về lâu dài. thay mặt Chính phủ. thấp hơn kế hoạch đề ra (6. GDP năm 2011 sẽ tăng từ 7 – 7. Điều này sẽ khiến cho lãi suất cho chiều hướng tăng lên. .Về dự trữ ngoại tệ. GDP cả năm 2010 tăng khoảng 6. dự trữ ngoại tệ cần phải tăng mạnh và tăng nhiều hơn nhưng sẽ chọn những thời điểm và thời cơ thuận lợi. ổn định vĩ mô.

5%. Thủ tướng cũng cho rằng. thấp hơn tỷ lệ nhập siêu năm 2009.2% GDP. phát triển đội ngũ nhà giáo. . dự nợ Chính phủ tương đương khoảng 44. thị trường chứng khoán đạt mức vốn hóa khoảng 31. cơ chế tài chính.đào tạo từ mầm non đến đại học. dự trữ ngoại tệ giảm. dưới 20% tổng kim ngạch xuất khẩu. quản lý nhà nước và thực hiện quyền chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước còn nhiều bất cập. cơ bản đảm bảo được các mục tiêu đã đề ra từ đầu năm: Tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 20%. tài sản và đất đài. cán cân thanh toán tổng thể vẫn còn thâm hụt. Phát triển nguồn điện chưa đáp ứng kịp nhu cầu. Đã kết nối internet cho tất cả các trường phổ thông. kỷ cương trong thi cử đã được thực hiện tốt hơn. Các chi ngân sách còn lãng phí. đã đẩy mạnh xã hội hoá để nâng cấp cơ sở vật chất. năng suất chất lượng sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. không khuyến khích tiết kiệm năng lượng và hạn chế việc huy động vốn đầu tư của các thành phần kinh tế vào phát triển nguồn điện. tỷ lệ học sinh bỏ học ở hầu hết các vùng đều giảm.6% GDP. 100% tỉnh. giá thuốc chữa bệnh chưa tốt. nằm trong giới hạn an toàn. dư nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 42.5 tỷ USD. Tính đến hết tháng 9/2010. Đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu xã hội và tích cực triển khai hợp tác đào tạo theo chương trình tiên tiến với các trường đại học nước ngoài. lãi suất cho vay còn cao. Sự phối hợp giữa chính sách tài chính và chính sách tiền tệ còn chưa đồng bộ. Tăng cường giám sát bảo đảm an toàn các tổ chức tín dụng. Kiểm soát chặt chẽ hơn việc thành lập mới các trường đại học. Giáo dục và đào tạo có bước phát triển. cán bộ quản lý và đổi mới phương pháp giảng dạy. dư nợ tín dụng tăng khoảng 25%. thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. tài nguyên quốc gia nhưng hiệu quả đầu tư và tăng trưởng chưa tương xứng. Quản lý giá một số mặt hàng nhất là giá sữa. Kiểm soát nợ xấu dưới 3%. Tỷ giá được điều hành linh hoạt hơn theo nguyên tắc thị trường.Đến hết năm 2010. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2010 ước tăng 19. Tích cực triển khai thực hiện đổi mới cơ chế quản lý giáo dục. bao cấp về giá điện.1%. Khu vực doanh nghiệp nhà nước giữ một phần lớn vốn. cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục . Cùng với việc tăng đầu tư của Nhà nước. Thực hiện điều hành lãi suất cho vay theo cơ chế thỏa thuận và theo hướng giảm dần. tổng kim ngạch nhập khẩu ước tăng 16. Nhập khẩu được kiểm soát chặt chẽ hơn. Nhập siêu cả năm khoảng 13. Chính sách tiền tệ đã góp phần tăng trưởng và kiểm soát lạm phát. Thể chế kinh tế thị trường chưa đồng bộ. nhập siêu cao. Tuy nhiên. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia bậc mầm non và các cấp học phổ thông tăng nhanh.5% GDP. gấp hơn 3 lần so với kế hoạch. giá than còn kéo dài.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful