Các yếu tố ảnh hưởng đến GDP: GDP là tổng giá trị của các sản phẩm thành

phẩm và của dịch vụ trong 1 năm được tạo ra trong biên giới quốc gia. Gọi đó là tổng sản lượng quốc dân. Nhìn công thức tính GDP ta thấy ngay yếu tố nào ảnh hưởng lên nó: Cách tính 1: GDP= tổng giá trị hàng hóa cùa các ngành+ tổng giá trị dịch vụ trong các ngành. Cách tính 2: GDP= T +Đ +D + C khi T =Mức tiêu thụ trong dân Đ = Mức Đầu tư của các Doanh nghiêp D = số Dư trong xuất khẩu trừ nhập khầu C = mức Chi của Nhà NướcTrong công thức hai, - yếu tố Đ là tiền chi tiêu của các doanh nghiệp bỏ ra để huấn luyện đào tạo đội ngũ công nhân và quản lý trở nên có nnăng xuất cao hơn, tiền chi cho nghiên cứu và phát triển công nghệ và sản phẩm mới, tiền mua thêm máy móc và dụng cụ sản xuất thay thế hay mua mới. - yếu tố D liên quan tới cán cân mậu dịch. Nều xuất khẩu cao hơn nhập khẩu ta có số dương và ngược lại. Ngoài cách nhìn vào thành phần của công thức tính GDP để biết yếu tố ành hường ta cá cách nhìn khác để tiên đoán GDP tăng hay giảm: 1.Mức tiết kiệm của dân và tiền đầu tư của doanh nghiệp ra sao? 2. Có sự ổn định trong kinh tế vĩ mô khi NN quân bằng chi thu hay không? Mức lạm phát thấp, ổn định không?. 3. Chính sách mậu dịch thông thoáng ít rào cản, tạo môi trường thuận lợi cho xuấ khẩu; tạo sự luân chuyển tài chánh dễ dàng hay không? 4. Chính sách hối đoái tiền tệ có hỗ trợ cho xuất khẩu không? Các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát: Năm 2008, nền kinh tế gặp khó khăn với những diễn biến phức tạp của chỉ số giá tiêu dùng. Tính đến cuối tháng 12 năm 2008, CPI đã tăng ở mức 2 con số, trên 20% so với cùng kỳ năm trước. Khi lạm phát tạm thời được kiểm soát nhưng nguy cơ bùng phát trở lại vẫn còn rình rập thì nền kinh tế lại chịu tác động suy thoái của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Các biện pháp chính sách thắt chặt trước đây nhằm kiềm chế lạm phát được thực hiện nới lỏng một cách thận trọng nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế chống lại tác động của cuộc khủng hoảng nhưng vẫn đảm bảo lạm phát ở mức một con số. Có thể nói với tăng trưởng GDP 5,32 % và chỉ số lạm phát 6,88% năm 2009 nền kinh tế đã đạt được những mục tiêu đặt ra. Nhưng những bất ổn kinh tế vĩ mô của Việt Nam vẫn còn đó và lạm phát là một trong những vấn đề cần phải bàn tới khi mà năm 2010 này, sau một thời gian thi hành các chính sách nới lỏng, các yếu tố lạm phát không chỉ còn là nguy cơ tiềm ẩn mà bắt đầu có ảnh hưởng. Những vấn đề chung về lạm phát

Sự gia tăng mức giá có thể bắt đầu từ các nguyên nhân do các nhân tố “cầu kéo” và/hoặc nhân tố “phí đẩy”. thâm hụt thương mại và lao động việc làm. đi liền với ba điểm sáng của nền kinh tế về tăng trưởng hồi phục nhanh. Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới sử dụng chỉ số CPI là thước đo lạm phát để thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô. mở rộng đầu tư quá mức. nhiều nghiên cứu về sự gia tăng lạm phát ở các nước đã khẳng định. song sự gia tăng mức giá bắt đầu từ các nhân tố trên nếu không có sự hỗ trợ bởi các chính sách nhà nước làm tăng cung tiền bằng việc thực hiện chính sách tài khoá ( CSTK) . nếu chỉ số tăng trưởng và việc làm thể hiện xu hướng tích cực thì ngược lại. Tạo vòng xoáy lạm phát? Nhìn nhận về tổng quan kinh tế trong 9 tháng đầu năm. Đo lường mức giá chung thường sử dụng hai thước đo là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số giảm phát GDP (GDP deflator). tăng trưởng kinh tế nóng. Ngoài ra. Ủy ban Kinh tế cho rằng. Theo đánh giá của Ủy ban Kinh tế. giảm thuế. ngoại tệ. Biểu hiện của nó là sự tăng giá liên tục lâu dài của mức giá chung. cùng với các nhân tố tác động như trên. Trong mỗi trường hợp cụ thể các nhân tố có tác động ở mức độ khác nhau đến mức giá chung. lạm phát kỳ vọng có thể tạo ra lạm phát thực tế. Theo Milton Friedman “lạm phát luôn luôn và ở đâu cũng là hiện tượng tiền tệ” nhưng các nguyên nhân gây ra các mức lạm phát thì rất đa dạng. mà có thể xem như là “lạm phát dai dẳng”. được thể hiện trên cả bốn chỉ số chính của kinh tế vĩ mô là: tăng trưởng GDP. tín dụng tăng trưởng nóng… thì mức tăng giá chỉ trong ngắn hạn sẽ không gây ra lạm phát. nguyên nhân sâu xa của lạm phát là sự tăng trưởng tiền tệ ở mức cao. chính sách tiền tệ (CSTT) nới lỏng. sự thiếu tin tưởng của các nhà đầu tư vào cơ quan quản lý và kỳ vọng lạm phát cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát. Tuy nhiên. đang có những rủi ro đáng kể liên quan đến hai chỉ số vĩ mô còn lại là lạm phát và thâm hụt thương mại. nền kinh tế trong quý 3 và 9 tháng đầu năm về cơ bản đã được phục hồi. Chính vì vậy. theo cơ quan này. như tăng chi tiêu chính phủ bằng nguồn phát hành. nhất là bù đắp thâm hụt ngân sách bằng tiền phát hành. bởi CPI ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội. và cầu đối với lao động đang có xu hướng tăng cao giúp người lao động . Đây là loại lạm phát mà có thể không giảm nhanh thậm chí khi các yếu tố gây lạm phát ban đầu đã biến mất. một chính sách tỷ giá không hợp lý. vàng.Lạm phát được hiểu một cách chung nhất là sự mất giá tương đối lâu dài và liên tục của tiền giấy so với hàng hóa. cầu đối với hàng hóa xuất khẩu và cầu nội địa gia tăng. về mặt thực nghiệm. các nhà kinh tế học kinh điển đều nhất trí rằng. Trong đó. lạm phát. Phân tích nguyên nhân gây lạm phát trong những tháng cuối năm 2010: Ủy ban Kinh tế của Quốc hội vừa có báo cáo đánh giá tình hình kinh tế Việt Nam tính đến quý 3 và dự báo cho những tháng cuối năm.

62% cùng kỳ năm 2009. Cụ thể là tăng trưởng kinh tế trong 9 tháng đầu năm đạt mức 6. Đó là. Ủy ban Kinh tế cho rằng. đạt mức 1. giá USD trên thị trường tự do tăng cao và biến động khó lường đã cho thấy những khó khăn.có nhiều cơ hội việc làm và cải thiện thu nhập. Lạm phát có thể tăng 8. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng 9 và tháng 10 đã vọt tăng cao mức kỷ lục trong nhiều năm qua. rủi ro lạm phát là tương đối cao. bình luận về diễn biến các chỉ số kinh tế vĩ mô. Ủy ban Kinh tế cho rằng. Trong khi đó. Cùng với đó. báo cáo nêu rõ. nền kinh tế cũng xuất hiện một số rủi ro tiềm ẩn liên quan đến sự gia tăng của ba loại “giá” trên ba thị trường vốn. tỷ giá và tiền công.52% của cùng kỳ năm 2008 và cao hơn mức tăng trưởng 4. nguyên nhân quan trọng gây nên tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai là do thâm hụt thương mại của Việt Nam vẫn trong tình trạng cao và kéo dài.54%/quý. nợ nước ngoài của quốc gia tiếp tục tăng.05% trong tháng 10. cộng với việc giá vàng và USD trên thị trường tự do tăng cao và biến động khó lường đang tạo ra thách thức lớn cho nỗ lực kiềm chế lạm phát từ 7 . làm gia tăng áp lực lên thị trường ngoại hối và tỷ giá trong bối cảnh dự trữ ngoại hối còn mỏng .4% Nhìn nhận về diễn biến lạm phát trong những tháng cuối năm. thì nền kinh tế cũng đang đối mặt với ba thách thức không chỉ trong những tháng còn lại của năm nay mà cả năm 2011. hay dưới 0.46% chỉ trong 9 tháng đầu năm nên dư địa còn lại cho sự gia tăng lạm phát trong quý 4 là rất hẹp (dưới 1. cải thiện thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai và khắc phục tình trạng thiếu hụt điện năng. Và theo nhiều chuyên gia. “Chính mức tăng cao đột biến của chỉ số CPI trong hai tháng vừa qua cộng hưởng với xu hướng tăng cao thường xảy ra với chỉ số CPI vào những tháng cuối năm trong bối cảnh giá vàng.8% cho cả năm 2010. có khả năng tạo ra vòng xoáy về lạm phát trong quý 4/2010 và có thể là cả trong năm 2011. biến động của ba loại giá nói trên không tồn tại độc lập mà tương tác lẫn nhau. thách thức lớn đối với Chính phủ trong nỗ lực kiềm chế lạm phát từ 7 . Cả ba loại giá này đang diễn biến theo chiều hướng bất lợi và không như kỳ vọng của cơ quan quản lý.8% trong năm nay”.52% so với cùng kỳ năm trước. . kiềm chế lạm phát từ 7 -8%/năm. ngoại hối và lao động là lãi suất.31% trong tháng 9 và 1. bằng mức 6. Đồng thời. Cán cân vãng lai và cán cân thương mại vẫn trong tình trạng thâm hụt cao và dai dẳng. Theo các chuyên gia. đặc biệt là thâm hụt thương mại với Trung Quốc.51%/tháng) khi so với mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới 8%/năm. trong thời gian qua. mặc dù nền kinh tế đã được phục hồi và tiếp tục đà tăng trưởng trong những tháng cuối năm 2010 nhưng chất lượng tăng trưởng còn thấp. do tỷ lệ lạm phát đã leo thang 6.

Bên cạnh đó. Tết Dương lịch.61%) lại đang có chiều hướng gia tăng áp lực trong quý 4 này. Đặc biệt. tác động của việc điều chỉnh tỷ giá và khả năng thiên tai. sốt giá Theo quy luật. vật liệu) có thể nhận thấy. chỉ số CPI của Việt Nam thường có xu hướng tăng cao vào tháng 11 và đặc biệt là tháng 12 hàng năm. nhiên liệu trên thị trường thế giới khó biến động mạnh.29%. Trong dịp này. nỗ lực kiềm chế lạm phát cả năm từ 7 . Trong khi những nguyên nhân khác (đóng góp khoảng 0. nhưng vẫn có thể xảy ra những đợt điều chỉnh gây ảnh hưởng tới giá hàng hóa trong nước.Với thực tế trên. người dân sẽ thiếu tiền trao đổi. Tết Nguyên đán. Ủy ban Kinh tế dự báo. Các biện pháp kiềm chế lạm phát: Người ta bảo một trong những nguyên nhân lạm phát là lượng tiền mặt quá lớn còn lưu thông trên thị trường. Thêm vào đó. phân bón. đường. thức ăn chăn nuôi. bột giấy… tăng. trong những tháng cuối năm có nhiều yếu tố tác động gây sức ép. Có nghĩa là thu gom tiền vào trong ngân hàng để lượng tiền trong thị trường giảm xuống. Một số địa phương cũng đã tăng học phí khiến chỉ số giá của nhóm hàng giáo dục tăng 1. Cho nên hầu hết phương cách sơ đẳng nhất để chống lạm phát và chống phá giá đồng tiền lạm phát là đưa ra chính sách siết chặt tiền tệ. dịch bệnh diễn biến phức tạp sẽ gây áp lực tăng giá. tăng giá nhóm lương thực.4%. Căn cứ vào những nguyên nhân gây ra sự tăng cao của chỉ số CPI trong thời gian qua (lạm phát chi phí đẩy. nếu không có những biện pháp ứng phó hữu hiệu và kịp thời nhằm kiềm chế đã tăng chỉ số CPI trong quý 4. nỗ lực kiềm chế lạm phát từ 7 . Bên cạnh đó. nhóm nhà ở. vật liệu xây dựng… cũng khiến CPI tăng nhẹ. dù tốc độ tăng CPI không cao nhưng vẫn có nhiều áp lực gây sức ép tăng giá do một số mặt hàng trên thị trường thế giới như: gạo. học sinh cả nước bước vào năm học mới.8% như mục tiêu đề ra sẽ trở nên khó khăn hơn trong quý 4. nên nhiều khả năng. thì sẽ chống được lạm phát. nhu cầu tiêu dùng hàng hóa dịch vụ phục vụ lễ hội.8. tác động vào giá thị trường trong nước. Nhiều giải pháp chống khan hàng. phôi thép. Theo các chuyên gia.9 . đẩy mặt bằng giá tăng. mặc dù giá nguyên. nhu cầu đồ dùng học tập tăng cao đã khiến giá một số mặt hàng lên cao.8% trong năm 2010 sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều cho những tháng còn lại của năm. việc các doanh nghiệp điều chỉnh giá xăng dầu. sữa. . nguyên nhân gây ra tăng chỉ số CPI của nhóm giáo dục chỉ mang tính mùa vụ tạm thời. nhiều khả năng tỷ lệ lạm phát trong năm sẽ dao động trong khoảng 7. Ủy ban Kinh tế cho rằng.

từ mức mục tiêu trước đó là 0. thị trường. Ngân hàng TW cũng hạ thấp lãi suất cơ bản xuống trong khoảng từ gần zero đến 0.1%. Bộ Tài chính cho biết sẽ thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm kiềm chế tốc độ tăng giá trong những tháng cuối năm.1%. Động thái ngày hôm nay “nới lỏng tiền tệ toàn diện’ của thống đốc Masaaki Shirakawa và các đồng nghiệp của ông được đưa ra sau khi có dấu hiệu cho thấy triển vọng tăng trưởng kinh tế Nhật Bản sụt giảm trong cuộc khảo sát Tankan hàng quý do ngân hàng TW Nhật Bản thực hiện. trong tháng trước. Sau tuyên bố của thống đốc Masaaki Shirakawa. cước vận chuyển hành khách bằng xe buýt trong đô thị. thực hiện nhằm ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp lệnh giá. . than. Những ảnh hưởng khi Ngân hàng TW mua trái phiếu chính phủ: Ngân hàng TW Nhật Bản cam kết giữ lãi suất cơ bản ở mức “gần zero” cho đến khi kết thúc nguy cơ giảm phát và sẽ nới rộng bản cân đối tài chính nhằm thúc đẩy đà hồi phục chậm đang chững lại của kinh tế Nhật Bản. nhằm dự trữ hàng hóa kịp thời. không để xảy ra tình trạng thiếu hàng gây sốt giá. sẽ tiếp tục giữ ổn định giá và áp dụng kịp thời biện pháp bình ổn giá khi thị trường có những biến động bất thường. Cơ quan quản lý giá sẽ tổ chức dự báo sát nhu cầu để triển khai kế hoạch sản xuất.. các nhà lãnh đạo Nhật Bản quyết định can thiệp vào thị trường.12 ngàn tỉ yen nhằm chặn tỉ giá hối đoái tăng. nước sạch sinh hoạt. Trong một tuyên bố hôm nay. bán ra 2. đồng yen Nhật sụt giảm 0. Bộ sẽ tiếp tục triển khai các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp về vốn. Công tác đăng ký giá. vật tư Nhà nước còn định giá như: điện.. khí bán cho điện.4% xuống 83. kinh doanh bảo đảm đủ lượng hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng. khu công nghiệp.Để đạt mục tiêu kiềm chế chỉ số CPI cả năm tăng khoảng 7%.. kê khai giá. Ngân hàng TW Nhật Bản cho biết sẽ lập một quỹ trị giá 5 ngàn tỉ yen (60 tỉ USD) để mua trái phiếu chính phủ và các tài sản khác.11 chiều giờ Tokyo.66 yen/USD lúc 2. Đối với một số hàng hóa. Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã tạo sức ép đối với các cấp lãnh đạo chính quyền nhằm tăng cường bảo vệ hoạt động xuất khẩu do đồng yen tăng vọt lên mức cao 15 năm trong tháng trước. Các ngân hàng TW Mỹ và Anh cũng đang thảo luận để nới rộng bản cân đối tài chính của họ do các nước phát triển đang phải chiến đấu để duy trì đà hồi phục từ cuộc khủng hoảng hậu chiến tồi tệ nhất. công khai thông tin về giá sẽ được rà soát. Lần đầu tiên kể từ năm 2004..

Thực tế này khiến những ngày qua. gần đây. buộc Chính phủ phải đưa ra nhiều biện pháp cấp bách để để bình ổn thị trường. nhưng đã vượt xa trần 19. Không có sự xuất hiện của Ngân hàng Nhà nước khi công bố hàng loạt giải pháp mới về tiền tệ và ngoại hối. Tình hình diễn ra tương tự ngay trên thị trường chính thức. Nếu trước đây (hồi tháng 8) điều chỉnh là dương 3%. Một loạt giải pháp đã được đề ra để ứng phó với biến động trên thị trường ngoại hối. Theo đó. Đáng chú ý.500 như trần. người dân đổ xô đi mua ngoại tệ. Đà tăng giá USD đã diễn ra liên tục trong nửa tháng qua và ngày nào cũng tăng. Việc xác định tăng lên đỉnh mới nào thì không ai dám chắc.880 đồng.850 đồng ở Hà Nội. cuộc họp khẩn cấp về tình hình kinh tế vĩ mô của Chính phủ kết thúc khá muộn. trong hệ thống ngân hàng. Nghịch lý ngoại hối chỉ có ở Việt Nam Theo ông Lê Đức Thúy. một cuộc họp báo đột xuất đã được triệu tập. giá USD tự do đã lên tới 21. là người chủ trì thông báo các chính sách này. 20. quy mô giao dịch. song thực tế. Hiện tượng này dường như lặp lại tình hình của một số thời kỳ trước. bỏ xa tỷ giá chính thức. Giá trị đồng USD đang giảm trên toàn thế giới nhưng ở Việt Nam nó lại tăng mạnh. Tối hôm 3/11. ngăn chặn lạm phát gia tăng. Các ngân hàng đều niêm yết giá đúng quy định. trong cuộc họp.500 đồng/USD mà NHNN công bố.800 đồng ở TP. Trong khi đó.USD tăng giá: Nghịch lý ngoại hối chỉ có ở Việt Nam Nguyên nhân bắt nguồn từ sự méo mó do chính sách tiền tệ.Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia. một vấn đề nóng bỏng trong điều hành tỷ giá gần đây là giá USD trên thị trường tự do liên tục bứt phá lên mức cao. Đây là một nghịch lý và đã gây ra những tác hại lớn cho nền kinh tế. Ngay sáng 4/11. đã giảm xuống dương 1% và đến giai . Dù có giảm xuống chút ít vào cuối giờ chiều. DN lại "bó tay" bởi không mua được để đáp ứng nhu cầu của mình hoặc mua không đủ.HCM và 20. lãi suất dẫn đến những hành xử khác của người dân đối với các đồng tiền. ngoài giá mua vào bán ra cộng thêm các chi phí khác đã cao hơn giá niêm yết.000 đồng/USD. trạng thái ngoại hối cũng giảm. Chính phủ đã nhận được báo cáo của Ngân hàng Nhà nước về tình hình tỷ giá. khi tỷ giá liên ngân hàng có lúc lên tới 19. Chính phủ đã chỉ định ông Ông Lê Đức Thúy . lúc 9h đêm. Tình hình nóng bỏng. Ngày hôm qua (3/11). chứ không phải 19.

5-14 tỷ thì nay cao nhất 12. các doanh nghiệp đã vay USD. còn ở Việt Nam USD tăng giá. mức nhập siêu trước đây dự kiến từ 13. Tăng trưởng kinh tế có khả năng vẫn có thể đạt 6. về cán cân thanh toán. Con số cập nhật đến 14/10. chúng ta cho giảm mà không nổi. dẫn tới nguồn cung tạm thời cạn kiệt trong khi cầu ngày càng tăng lên. Như thế. Để tránh lãi suất tăng cao. thực tế là họ không dùng đến USD mà bán ra. chứ đừng nói là còn găm giữ mà không bán. giảm hơn một nửa so với 2009. vàng lên giá và tiền Việt lại mất giá. thì dự báo 2010 thâm hụt 4 tỷ USD. Ông Thúy cho biết. Nhưng tỷ giá lại tăng cao là một câu hỏi đặt ra cần phải tìm hiểu và giải quyết. Thậm chí. Điều này cho thấy. người ta chỉ thanh toán bằng đồng Rup. với chính sách nới lỏng định lượng của FED. hiện đồng USD đang giảm giá với các đồng tiền khác trên thế giới. ở Lào tiền Kíp đang lên giá so với USD. các doanh nghiệp phải mua trả nợ. không nhận USD vì lo USD mất giá. không có lý do gì để nói VND tiếp tục giảm giá. Còn ở Nga. ngay từ đầu năm. tình hình căng thẳng USD đã được cảnh báo. Vậy mà ở Việt Nam. đến nay các chỉ số kinh tế vĩ mô đều rất tốt. Theo nhận định của nhiều chuyên gia. tính đến hết tháng 10. cán cân thanh toán sẽ là tốt hơn vì xuất nhập khẩu tốt và luồng vốn vào có chiều hướng tăng lên. tín dụng bằng đồng USD tăng khoảng 52% so với đầu năm. Đây là nhân tố ảnh hưởng tích cực đến thị trường ngoại hối. dự báo thặng dư thấp là 1 tỷ. Đáng chú ý.7-6. Song.5%. Đặc biệt. nhập khẩu và nhập siêu đều giảm. thực chất USD sẽ giảm giá khoảng 20% thời gian tới. các ngân hàng cũng không dư thừa ngoại tệ. Đây thực sự là một ngịch lý khi trên thế giới USD mất giá. ông Lê Đức Thúy cho biết.3%. Ông Thúy cho biết. Vì vậy. vàng tăng giá. Nếu năm 2009 thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể 9 tỷ USD. Hậu quả từ tăng trưởng tín dụng USD quá cao Tại cuộc họp. . Năm 2011.8% so với kế hoạch là 6. cao là 2 tỷ.đoạn những ngày gần đây xuống xấp xỉ 0%. Trong khi tín dụng bằng đồng VND tăng có 14. tạo nguồn cung giả tạo tạm thời trên thị trường nên giá USD tự do nhiều khi còn thấp hơn ngân hàng.6% và tổng tín dụng tăng 21. dự báo cho thấy tăng trưởng xuất khẩu có thể đạt 23% trong khi kế hoạch chỉ 18% và nhập khẩu chỉ tăng trưởng khoảng 17%.5 tỷ thôi. Nhưng do khoản vay ngoại tệ đó là ngắn hạn nên đến kỳ đáo hạn. Với chiều hướng này. Trong tình hình đó.

Nếu như cuối tháng 9. câu hỏi đặt ra lúc này là tăng tỷ giá được gì và có nên điều chỉnh không? Mới đây nhất. Theo ước tính của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia. một số cất trữ. nhất là khi lạm phát có xu hướng vượt qua 8% . Sau khi phân tích. thì với tác động dây chuyền tâm lý của nó. nếu nói điều chỉnh tỷ giá để khuyến khích xuất khẩu thì đây không phải là công cụ mạnh để làm việc đó. ADB đã khuyến cáo. tức tiền gửi ngoại tệ đã tăng 20. không điều chỉnh tỷ giá nhưng giải quyết được những căng thẳng khan hiếm tạm thời trên thị trường ngoại tệ. Nếu điều chỉnh tỷ giá. điều chỉnh có thể gây nên những tác động xấu không kiểm soát nổi. mà ưu tiên hàng đầu là kiểm soát lạm phát. Nguyên nhân bắt nguồn từ sự méo mó do chính sách tiền tệ. Bên cạnh đó. số chênh lệch này chỉ còn 20. và cả gửi lại ngân hàng dưới hình thức ngoại tệ. Mục tiêu quan trọng được đặt lên hàng đầu trong năm nay là ưu tiên ổn định vĩ mô. Trong vòng 15 ngày đầu tháng 10. Thậm chí. Cộng với đó là cách xử lý chính sách và giải trình chính sách làm người dân mất tin tưởng rằng Nhà nước có thể điều chỉnh tỷ giá. Tuy nhiên. Chính phủ đặt vấn đề không điều chỉnh tỷ giá. tâm lý chung của xã hội hiện nay rất kỳ vọng USD sẽ tăng giá. thì trong 15 ngày đầu tháng 10. Nói là để hạn chế nhập siêu thì trên thực tế việc nhập siêu cũng đã được hạn chế. người dân sẽ mất niềm tin. tiền gửi tiết kiệm bằng VND của người dân giảm đến 45. Việt Nam không nên điều chỉnh tỷ giá. lạm phát sẽ vọt lên. trên thị trường đang có cái sự mất cân đối về cung cầu ngoại tệ cục bộ. Trong chiều ngược lại. Số tiền hơn 2 tỷ USD này có thể được dùng để mua USD. VND không yếu đến mức phải điều chỉnh tỷ giá. . có thể đẩy giá cả vượt lên trên một con số. Do vậy. Ông Lê Đức Thúy phân tích. phải thẳng thắn chỉ ra rằng.000 tỷ từ trong nước. Thêm vào đó. Trong khi đó. mua vàng tích trữ và nằm ngoài ngân hàng. không hạ lãi suất Trong hoàn cảnh đó. tiền gửi ngoại tệ lại tăng lên. Dân đã rút VND để mua ngoại tệ hoặc mua vàng. vấn đề đặt ra là. xuất khẩu năm nay sẽ tăng vượt kế hoạch. tốc độ nhập siêu cả về tương đối lẫn tuyệt đối đã giảm so với kế hoạch ban đầu.Như vậy. Điều này rất dễ nhận thấy trên thị trường khi người dân tích trữ ngoại tệ.000 tỷ so với cuối tháng 9. Còn chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là đáng báo động so với mục tiêu kiếm soát lạm phát. lãi suất dẫn đến những hành xử khác của người dân đối với các đồng tiền.000 tỷ. Một khi người dân đã rút tiền Việt để mua ngoại tệ thì đương nhiên ngoại tệ tăng giá. điều chỉnh tỷ giá là không có lợi.000 tỷ. Không tăng tỷ giá. Nếu không làm được. sức ép giảm lãi suất tiền Việt cũng làm cho uy tín VND bị giảm đáng kể. các thành viên Chính phủ đã quyết định trong thời điểm này. Ngân hàng Nhà nước với tư cách là người điều hành vĩ mô về tiền tệ phải can thiệp và bán ngoại tệ ra. USD đang yếu đi. số dư tiền gửi ngoại tệ thấp hơn số dư cho vay ngoại tệ khoảng 40. Tuy nhiên.

dự trữ không phải là để cất. nhiều người lo ngại sẽ ảnh hưởng đến dự trữ ngoại tệ. đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ cho những hoạt động kinh tế cần thiết. Lo ngại tăng trưởng không cao là không có cơ sở. Khu vực nông nghiệp tăng 2. vì thế. Dự trữ là để ổn định thị trường. Chính phủ yêu cầu đưa lãi suất xuống nhưng nay tình hình đã thay đổi. Thực tế thì hiện nay. "Bơm" ngoại tệ ra. thay mặt Chính phủ. trong tháng 9.5% (GD&TĐ) – Trong phiên khai mạc Kỳ họp thứ 8. những biện pháp đó chưa đủ mạnh để dừng lại tâm lý khan hiếm ngoại tệ.7% so với dự toán và tăng 17. Tuy nhiên. Nếu lãi suất VND thấp thì USD rất bất lợi. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã báo cáo Quốc hội tình hình kinh tế . Vì thế.6%.xã hội và nhiệm vụ năm 2011. Chính phủ chủ trương mạnh dạn can thiệp để giữ ổn định. thấp hơn kế hoạch đề ra (6. Tuy nhiên.7% cao hơn chỉ tiêu Quốc hội đề ra. Ngân hàng Nhà nước mua tăng được khoảng 300 triệu USD. Chính phủ không đặt vẫn đế giảm lãi suất mà để các ngân hàng thực hiện theo thị trường. công nghiệp và xây dựng tăng 7. GDP năm 2011 sẽ tăng từ 7 – 7. kinh tế toàn cầu phục hồi chậm. Quốc hội khóa XII. Đấy về thực chất là một biện pháp thắt chặt tiền tệ các tác dụng ngăn chặn lạm phát. lượng ngoại hối dự trữ không phải là quá "hẻo". ít nhất là so với thời kỳ trước năm 2006. dự trữ ngoại tệ tuy đã giảm mạnh so với mức cao nhưng số còn lại trong Ngân hàng Trung ương không phải là quá nhỏ bé. trong khi đó lạm phát đang đà tăng.2%). về lãi suất. Điều này sẽ khiến cho lãi suất cho chiều hướng tăng lên. GDP cả năm 2010 tăng khoảng 6. nhưng kinh tế nước ta đã sớm ra khỏi tình trạng suy giảm và có mức tăng trưởng khá cao. mức tăng sẽ không nhiều. lãi suất cho vay 15-17% là mức mà thị trường có thể chấp nhận được. Tăng chi tiêu chính phủ dành cho giáo dục: Chính phủ dự báo. không can thiệp để làm lãi suất thấp hơn. Việc tăng lãi suất có tính tích cực. tháng 10 đã bán can thiệp nhỏ giọt 200 triệu USD. . trên thực tế. vẫn còn và còn đủ để can thiệp với những cơn sốt USD kiểu như hiện nay. Ông Thuý khẳng định. sẽ làm giảm bớt áp lực lên tỷ giá khi mà đồng tiền Việt có giá hơn nhờ lãi suất cao hơn. mặc dù sau khủng hoảng. góp phần kiềm chế lạm phát. Song. lãi suất huy động nằm trong khoảng 12-13% mà không có những khoản phụ phí. nếu trước đây.6% so với năm 2009.6%. dự trữ ngoại tệ cần phải tăng mạnh và tăng nhiều hơn nhưng sẽ chọn những thời điểm và thời cơ thuận lợi.Về dự trữ ngoại tệ. Ngoài ra. bảo đảm được các nhiệm vụ chi và góp phần giảm bội chi xuống dưới 6%. ổn định vĩ mô. Đợt "bơm" USD lần này. Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2010 dự kiến vượt 12. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận định. lãi suất cũng không xa lắm so với con số này. Về lâu dài.

Cùng với việc tăng đầu tư của Nhà nước. năng suất chất lượng sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. không khuyến khích tiết kiệm năng lượng và hạn chế việc huy động vốn đầu tư của các thành phần kinh tế vào phát triển nguồn điện. Phát triển nguồn điện chưa đáp ứng kịp nhu cầu.6% GDP. Thể chế kinh tế thị trường chưa đồng bộ. lãi suất cho vay còn cao. cơ chế tài chính. Khu vực doanh nghiệp nhà nước giữ một phần lớn vốn. dự trữ ngoại tệ giảm. tài nguyên quốc gia nhưng hiệu quả đầu tư và tăng trưởng chưa tương xứng. dư nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 42. Thủ tướng cũng cho rằng. Tính đến hết tháng 9/2010. cán bộ quản lý và đổi mới phương pháp giảng dạy. cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2010 ước tăng 19. Tích cực triển khai thực hiện đổi mới cơ chế quản lý giáo dục.5% GDP. giá thuốc chữa bệnh chưa tốt.5%. bao cấp về giá điện. thấp hơn tỷ lệ nhập siêu năm 2009. tài sản và đất đài. tổng kim ngạch nhập khẩu ước tăng 16. Nhập siêu cả năm khoảng 13.2% GDP. kỷ cương trong thi cử đã được thực hiện tốt hơn. Chính sách tiền tệ đã góp phần tăng trưởng và kiểm soát lạm phát. thị trường chứng khoán đạt mức vốn hóa khoảng 31. dưới 20% tổng kim ngạch xuất khẩu. Nhập khẩu được kiểm soát chặt chẽ hơn. thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Quản lý giá một số mặt hàng nhất là giá sữa. cơ bản đảm bảo được các mục tiêu đã đề ra từ đầu năm: Tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 20%. Sự phối hợp giữa chính sách tài chính và chính sách tiền tệ còn chưa đồng bộ. Đã kết nối internet cho tất cả các trường phổ thông. tỷ lệ học sinh bỏ học ở hầu hết các vùng đều giảm. Tuy nhiên. Giáo dục và đào tạo có bước phát triển. Thực hiện điều hành lãi suất cho vay theo cơ chế thỏa thuận và theo hướng giảm dần. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia bậc mầm non và các cấp học phổ thông tăng nhanh. cán cân thanh toán tổng thể vẫn còn thâm hụt. Kiểm soát chặt chẽ hơn việc thành lập mới các trường đại học. dự nợ Chính phủ tương đương khoảng 44. Các chi ngân sách còn lãng phí. giá than còn kéo dài. nhập siêu cao. đã đẩy mạnh xã hội hoá để nâng cấp cơ sở vật chất.5 tỷ USD. 100% tỉnh. dư nợ tín dụng tăng khoảng 25%. quản lý nhà nước và thực hiện quyền chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước còn nhiều bất cập. gấp hơn 3 lần so với kế hoạch.đào tạo từ mầm non đến đại học. Tăng cường giám sát bảo đảm an toàn các tổ chức tín dụng. Tỷ giá được điều hành linh hoạt hơn theo nguyên tắc thị trường. phát triển đội ngũ nhà giáo.1%. Kiểm soát nợ xấu dưới 3%. nằm trong giới hạn an toàn. phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục . Đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu xã hội và tích cực triển khai hợp tác đào tạo theo chương trình tiên tiến với các trường đại học nước ngoài. .Đến hết năm 2010.