Các yếu tố ảnh hưởng đến GDP: GDP là tổng giá trị của các sản phẩm thành

phẩm và của dịch vụ trong 1 năm được tạo ra trong biên giới quốc gia. Gọi đó là tổng sản lượng quốc dân. Nhìn công thức tính GDP ta thấy ngay yếu tố nào ảnh hưởng lên nó: Cách tính 1: GDP= tổng giá trị hàng hóa cùa các ngành+ tổng giá trị dịch vụ trong các ngành. Cách tính 2: GDP= T +Đ +D + C khi T =Mức tiêu thụ trong dân Đ = Mức Đầu tư của các Doanh nghiêp D = số Dư trong xuất khẩu trừ nhập khầu C = mức Chi của Nhà NướcTrong công thức hai, - yếu tố Đ là tiền chi tiêu của các doanh nghiệp bỏ ra để huấn luyện đào tạo đội ngũ công nhân và quản lý trở nên có nnăng xuất cao hơn, tiền chi cho nghiên cứu và phát triển công nghệ và sản phẩm mới, tiền mua thêm máy móc và dụng cụ sản xuất thay thế hay mua mới. - yếu tố D liên quan tới cán cân mậu dịch. Nều xuất khẩu cao hơn nhập khẩu ta có số dương và ngược lại. Ngoài cách nhìn vào thành phần của công thức tính GDP để biết yếu tố ành hường ta cá cách nhìn khác để tiên đoán GDP tăng hay giảm: 1.Mức tiết kiệm của dân và tiền đầu tư của doanh nghiệp ra sao? 2. Có sự ổn định trong kinh tế vĩ mô khi NN quân bằng chi thu hay không? Mức lạm phát thấp, ổn định không?. 3. Chính sách mậu dịch thông thoáng ít rào cản, tạo môi trường thuận lợi cho xuấ khẩu; tạo sự luân chuyển tài chánh dễ dàng hay không? 4. Chính sách hối đoái tiền tệ có hỗ trợ cho xuất khẩu không? Các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát: Năm 2008, nền kinh tế gặp khó khăn với những diễn biến phức tạp của chỉ số giá tiêu dùng. Tính đến cuối tháng 12 năm 2008, CPI đã tăng ở mức 2 con số, trên 20% so với cùng kỳ năm trước. Khi lạm phát tạm thời được kiểm soát nhưng nguy cơ bùng phát trở lại vẫn còn rình rập thì nền kinh tế lại chịu tác động suy thoái của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Các biện pháp chính sách thắt chặt trước đây nhằm kiềm chế lạm phát được thực hiện nới lỏng một cách thận trọng nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế chống lại tác động của cuộc khủng hoảng nhưng vẫn đảm bảo lạm phát ở mức một con số. Có thể nói với tăng trưởng GDP 5,32 % và chỉ số lạm phát 6,88% năm 2009 nền kinh tế đã đạt được những mục tiêu đặt ra. Nhưng những bất ổn kinh tế vĩ mô của Việt Nam vẫn còn đó và lạm phát là một trong những vấn đề cần phải bàn tới khi mà năm 2010 này, sau một thời gian thi hành các chính sách nới lỏng, các yếu tố lạm phát không chỉ còn là nguy cơ tiềm ẩn mà bắt đầu có ảnh hưởng. Những vấn đề chung về lạm phát

Tuy nhiên. tín dụng tăng trưởng nóng… thì mức tăng giá chỉ trong ngắn hạn sẽ không gây ra lạm phát. và cầu đối với lao động đang có xu hướng tăng cao giúp người lao động . đi liền với ba điểm sáng của nền kinh tế về tăng trưởng hồi phục nhanh. cùng với các nhân tố tác động như trên. chính sách tiền tệ (CSTT) nới lỏng. Theo đánh giá của Ủy ban Kinh tế. Đo lường mức giá chung thường sử dụng hai thước đo là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số giảm phát GDP (GDP deflator). tăng trưởng kinh tế nóng. Ngoài ra. lạm phát kỳ vọng có thể tạo ra lạm phát thực tế. một chính sách tỷ giá không hợp lý. nếu chỉ số tăng trưởng và việc làm thể hiện xu hướng tích cực thì ngược lại. mở rộng đầu tư quá mức. Trong mỗi trường hợp cụ thể các nhân tố có tác động ở mức độ khác nhau đến mức giá chung. lạm phát. nguyên nhân sâu xa của lạm phát là sự tăng trưởng tiền tệ ở mức cao. Trong đó. ngoại tệ. Biểu hiện của nó là sự tăng giá liên tục lâu dài của mức giá chung. Theo Milton Friedman “lạm phát luôn luôn và ở đâu cũng là hiện tượng tiền tệ” nhưng các nguyên nhân gây ra các mức lạm phát thì rất đa dạng. như tăng chi tiêu chính phủ bằng nguồn phát hành. Ủy ban Kinh tế cho rằng. Sự gia tăng mức giá có thể bắt đầu từ các nguyên nhân do các nhân tố “cầu kéo” và/hoặc nhân tố “phí đẩy”. mà có thể xem như là “lạm phát dai dẳng”. Chính vì vậy. giảm thuế. các nhà kinh tế học kinh điển đều nhất trí rằng. về mặt thực nghiệm. được thể hiện trên cả bốn chỉ số chính của kinh tế vĩ mô là: tăng trưởng GDP. cầu đối với hàng hóa xuất khẩu và cầu nội địa gia tăng. Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới sử dụng chỉ số CPI là thước đo lạm phát để thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô. đang có những rủi ro đáng kể liên quan đến hai chỉ số vĩ mô còn lại là lạm phát và thâm hụt thương mại. bởi CPI ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội. Đây là loại lạm phát mà có thể không giảm nhanh thậm chí khi các yếu tố gây lạm phát ban đầu đã biến mất. thâm hụt thương mại và lao động việc làm. theo cơ quan này. nhất là bù đắp thâm hụt ngân sách bằng tiền phát hành. nền kinh tế trong quý 3 và 9 tháng đầu năm về cơ bản đã được phục hồi.Lạm phát được hiểu một cách chung nhất là sự mất giá tương đối lâu dài và liên tục của tiền giấy so với hàng hóa. song sự gia tăng mức giá bắt đầu từ các nhân tố trên nếu không có sự hỗ trợ bởi các chính sách nhà nước làm tăng cung tiền bằng việc thực hiện chính sách tài khoá ( CSTK) . nhiều nghiên cứu về sự gia tăng lạm phát ở các nước đã khẳng định. sự thiếu tin tưởng của các nhà đầu tư vào cơ quan quản lý và kỳ vọng lạm phát cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát. vàng. Phân tích nguyên nhân gây lạm phát trong những tháng cuối năm 2010: Ủy ban Kinh tế của Quốc hội vừa có báo cáo đánh giá tình hình kinh tế Việt Nam tính đến quý 3 và dự báo cho những tháng cuối năm. Tạo vòng xoáy lạm phát? Nhìn nhận về tổng quan kinh tế trong 9 tháng đầu năm.

bằng mức 6.có nhiều cơ hội việc làm và cải thiện thu nhập. kiềm chế lạm phát từ 7 -8%/năm. rủi ro lạm phát là tương đối cao. Cùng với đó.46% chỉ trong 9 tháng đầu năm nên dư địa còn lại cho sự gia tăng lạm phát trong quý 4 là rất hẹp (dưới 1. đặc biệt là thâm hụt thương mại với Trung Quốc. Ủy ban Kinh tế cho rằng. có khả năng tạo ra vòng xoáy về lạm phát trong quý 4/2010 và có thể là cả trong năm 2011. Cán cân vãng lai và cán cân thương mại vẫn trong tình trạng thâm hụt cao và dai dẳng. báo cáo nêu rõ. bình luận về diễn biến các chỉ số kinh tế vĩ mô. giá USD trên thị trường tự do tăng cao và biến động khó lường đã cho thấy những khó khăn. nợ nước ngoài của quốc gia tiếp tục tăng. biến động của ba loại giá nói trên không tồn tại độc lập mà tương tác lẫn nhau. Ủy ban Kinh tế cho rằng.4% Nhìn nhận về diễn biến lạm phát trong những tháng cuối năm.62% cùng kỳ năm 2009. làm gia tăng áp lực lên thị trường ngoại hối và tỷ giá trong bối cảnh dự trữ ngoại hối còn mỏng . Cụ thể là tăng trưởng kinh tế trong 9 tháng đầu năm đạt mức 6. trong thời gian qua. do tỷ lệ lạm phát đã leo thang 6. thì nền kinh tế cũng đang đối mặt với ba thách thức không chỉ trong những tháng còn lại của năm nay mà cả năm 2011. Đó là. đạt mức 1. nguyên nhân quan trọng gây nên tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai là do thâm hụt thương mại của Việt Nam vẫn trong tình trạng cao và kéo dài. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng 9 và tháng 10 đã vọt tăng cao mức kỷ lục trong nhiều năm qua. Trong khi đó.51%/tháng) khi so với mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới 8%/năm. ngoại hối và lao động là lãi suất.05% trong tháng 10. cộng với việc giá vàng và USD trên thị trường tự do tăng cao và biến động khó lường đang tạo ra thách thức lớn cho nỗ lực kiềm chế lạm phát từ 7 .52% so với cùng kỳ năm trước.8% cho cả năm 2010. Theo các chuyên gia. nền kinh tế cũng xuất hiện một số rủi ro tiềm ẩn liên quan đến sự gia tăng của ba loại “giá” trên ba thị trường vốn. “Chính mức tăng cao đột biến của chỉ số CPI trong hai tháng vừa qua cộng hưởng với xu hướng tăng cao thường xảy ra với chỉ số CPI vào những tháng cuối năm trong bối cảnh giá vàng.54%/quý. tỷ giá và tiền công. Lạm phát có thể tăng 8. mặc dù nền kinh tế đã được phục hồi và tiếp tục đà tăng trưởng trong những tháng cuối năm 2010 nhưng chất lượng tăng trưởng còn thấp.52% của cùng kỳ năm 2008 và cao hơn mức tăng trưởng 4. hay dưới 0. . Cả ba loại giá này đang diễn biến theo chiều hướng bất lợi và không như kỳ vọng của cơ quan quản lý. cải thiện thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai và khắc phục tình trạng thiếu hụt điện năng. thách thức lớn đối với Chính phủ trong nỗ lực kiềm chế lạm phát từ 7 .31% trong tháng 9 và 1. Và theo nhiều chuyên gia. Đồng thời.8% trong năm nay”.

Trong khi những nguyên nhân khác (đóng góp khoảng 0. Đặc biệt. nên nhiều khả năng. thức ăn chăn nuôi. Có nghĩa là thu gom tiền vào trong ngân hàng để lượng tiền trong thị trường giảm xuống. Ủy ban Kinh tế cho rằng. nhiều khả năng tỷ lệ lạm phát trong năm sẽ dao động trong khoảng 7. phân bón. Bên cạnh đó.8. phôi thép. nỗ lực kiềm chế lạm phát từ 7 . Tết Dương lịch. nhóm nhà ở. tác động vào giá thị trường trong nước. học sinh cả nước bước vào năm học mới. sốt giá Theo quy luật. Một số địa phương cũng đã tăng học phí khiến chỉ số giá của nhóm hàng giáo dục tăng 1.4%. nhiên liệu trên thị trường thế giới khó biến động mạnh. sữa. nhưng vẫn có thể xảy ra những đợt điều chỉnh gây ảnh hưởng tới giá hàng hóa trong nước. tăng giá nhóm lương thực. dù tốc độ tăng CPI không cao nhưng vẫn có nhiều áp lực gây sức ép tăng giá do một số mặt hàng trên thị trường thế giới như: gạo. Cho nên hầu hết phương cách sơ đẳng nhất để chống lạm phát và chống phá giá đồng tiền lạm phát là đưa ra chính sách siết chặt tiền tệ. bột giấy… tăng. nguyên nhân gây ra tăng chỉ số CPI của nhóm giáo dục chỉ mang tính mùa vụ tạm thời. Ủy ban Kinh tế dự báo.Với thực tế trên. Nhiều giải pháp chống khan hàng. Thêm vào đó. đẩy mặt bằng giá tăng. đường. Bên cạnh đó.8% trong năm 2010 sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều cho những tháng còn lại của năm.8% như mục tiêu đề ra sẽ trở nên khó khăn hơn trong quý 4. vật liệu xây dựng… cũng khiến CPI tăng nhẹ. mặc dù giá nguyên. trong những tháng cuối năm có nhiều yếu tố tác động gây sức ép. nhu cầu tiêu dùng hàng hóa dịch vụ phục vụ lễ hội. Tết Nguyên đán.61%) lại đang có chiều hướng gia tăng áp lực trong quý 4 này. nhu cầu đồ dùng học tập tăng cao đã khiến giá một số mặt hàng lên cao.9 . Trong dịp này. tác động của việc điều chỉnh tỷ giá và khả năng thiên tai. dịch bệnh diễn biến phức tạp sẽ gây áp lực tăng giá. người dân sẽ thiếu tiền trao đổi. nếu không có những biện pháp ứng phó hữu hiệu và kịp thời nhằm kiềm chế đã tăng chỉ số CPI trong quý 4. Các biện pháp kiềm chế lạm phát: Người ta bảo một trong những nguyên nhân lạm phát là lượng tiền mặt quá lớn còn lưu thông trên thị trường. vật liệu) có thể nhận thấy. việc các doanh nghiệp điều chỉnh giá xăng dầu. chỉ số CPI của Việt Nam thường có xu hướng tăng cao vào tháng 11 và đặc biệt là tháng 12 hàng năm. . nỗ lực kiềm chế lạm phát cả năm từ 7 . thì sẽ chống được lạm phát. Căn cứ vào những nguyên nhân gây ra sự tăng cao của chỉ số CPI trong thời gian qua (lạm phát chi phí đẩy. Theo các chuyên gia.29%.

Sau tuyên bố của thống đốc Masaaki Shirakawa.. trong tháng trước. Lần đầu tiên kể từ năm 2004. công khai thông tin về giá sẽ được rà soát. .11 chiều giờ Tokyo. Cơ quan quản lý giá sẽ tổ chức dự báo sát nhu cầu để triển khai kế hoạch sản xuất. khí bán cho điện. kê khai giá. Bộ Tài chính cho biết sẽ thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm kiềm chế tốc độ tăng giá trong những tháng cuối năm. than.12 ngàn tỉ yen nhằm chặn tỉ giá hối đoái tăng. Ngân hàng TW Nhật Bản cho biết sẽ lập một quỹ trị giá 5 ngàn tỉ yen (60 tỉ USD) để mua trái phiếu chính phủ và các tài sản khác. bán ra 2. nhằm dự trữ hàng hóa kịp thời. từ mức mục tiêu trước đó là 0..Để đạt mục tiêu kiềm chế chỉ số CPI cả năm tăng khoảng 7%. không để xảy ra tình trạng thiếu hàng gây sốt giá. thực hiện nhằm ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp lệnh giá. Đối với một số hàng hóa. Động thái ngày hôm nay “nới lỏng tiền tệ toàn diện’ của thống đốc Masaaki Shirakawa và các đồng nghiệp của ông được đưa ra sau khi có dấu hiệu cho thấy triển vọng tăng trưởng kinh tế Nhật Bản sụt giảm trong cuộc khảo sát Tankan hàng quý do ngân hàng TW Nhật Bản thực hiện. sẽ tiếp tục giữ ổn định giá và áp dụng kịp thời biện pháp bình ổn giá khi thị trường có những biến động bất thường..4% xuống 83. kinh doanh bảo đảm đủ lượng hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng. Trong một tuyên bố hôm nay. Bộ sẽ tiếp tục triển khai các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp về vốn. khu công nghiệp.. Công tác đăng ký giá. Các ngân hàng TW Mỹ và Anh cũng đang thảo luận để nới rộng bản cân đối tài chính của họ do các nước phát triển đang phải chiến đấu để duy trì đà hồi phục từ cuộc khủng hoảng hậu chiến tồi tệ nhất.1%. các nhà lãnh đạo Nhật Bản quyết định can thiệp vào thị trường.1%. Những ảnh hưởng khi Ngân hàng TW mua trái phiếu chính phủ: Ngân hàng TW Nhật Bản cam kết giữ lãi suất cơ bản ở mức “gần zero” cho đến khi kết thúc nguy cơ giảm phát và sẽ nới rộng bản cân đối tài chính nhằm thúc đẩy đà hồi phục chậm đang chững lại của kinh tế Nhật Bản. vật tư Nhà nước còn định giá như: điện. Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã tạo sức ép đối với các cấp lãnh đạo chính quyền nhằm tăng cường bảo vệ hoạt động xuất khẩu do đồng yen tăng vọt lên mức cao 15 năm trong tháng trước. đồng yen Nhật sụt giảm 0.66 yen/USD lúc 2. nước sạch sinh hoạt. Ngân hàng TW cũng hạ thấp lãi suất cơ bản xuống trong khoảng từ gần zero đến 0. cước vận chuyển hành khách bằng xe buýt trong đô thị. thị trường.

Một loạt giải pháp đã được đề ra để ứng phó với biến động trên thị trường ngoại hối.800 đồng ở TP. khi tỷ giá liên ngân hàng có lúc lên tới 19.500 đồng/USD mà NHNN công bố. Không có sự xuất hiện của Ngân hàng Nhà nước khi công bố hàng loạt giải pháp mới về tiền tệ và ngoại hối. Chính phủ đã chỉ định ông Ông Lê Đức Thúy . trạng thái ngoại hối cũng giảm.USD tăng giá: Nghịch lý ngoại hối chỉ có ở Việt Nam Nguyên nhân bắt nguồn từ sự méo mó do chính sách tiền tệ. lãi suất dẫn đến những hành xử khác của người dân đối với các đồng tiền. gần đây. Theo đó. Đây là một nghịch lý và đã gây ra những tác hại lớn cho nền kinh tế. Hiện tượng này dường như lặp lại tình hình của một số thời kỳ trước. chứ không phải 19. quy mô giao dịch. một vấn đề nóng bỏng trong điều hành tỷ giá gần đây là giá USD trên thị trường tự do liên tục bứt phá lên mức cao. trong hệ thống ngân hàng. Tình hình nóng bỏng. Trong khi đó. trong cuộc họp.880 đồng. Tình hình diễn ra tương tự ngay trên thị trường chính thức. Dù có giảm xuống chút ít vào cuối giờ chiều. nhưng đã vượt xa trần 19. Ngay sáng 4/11. Ngày hôm qua (3/11). Giá trị đồng USD đang giảm trên toàn thế giới nhưng ở Việt Nam nó lại tăng mạnh. Các ngân hàng đều niêm yết giá đúng quy định. Đà tăng giá USD đã diễn ra liên tục trong nửa tháng qua và ngày nào cũng tăng. Đáng chú ý. người dân đổ xô đi mua ngoại tệ. một cuộc họp báo đột xuất đã được triệu tập. ngăn chặn lạm phát gia tăng. đã giảm xuống dương 1% và đến giai . Chính phủ đã nhận được báo cáo của Ngân hàng Nhà nước về tình hình tỷ giá. Việc xác định tăng lên đỉnh mới nào thì không ai dám chắc. bỏ xa tỷ giá chính thức. ngoài giá mua vào bán ra cộng thêm các chi phí khác đã cao hơn giá niêm yết. cuộc họp khẩn cấp về tình hình kinh tế vĩ mô của Chính phủ kết thúc khá muộn. Nếu trước đây (hồi tháng 8) điều chỉnh là dương 3%. lúc 9h đêm. Tối hôm 3/11.HCM và 20. song thực tế.850 đồng ở Hà Nội. DN lại "bó tay" bởi không mua được để đáp ứng nhu cầu của mình hoặc mua không đủ. Nghịch lý ngoại hối chỉ có ở Việt Nam Theo ông Lê Đức Thúy.000 đồng/USD. buộc Chính phủ phải đưa ra nhiều biện pháp cấp bách để để bình ổn thị trường. giá USD tự do đã lên tới 21. Thực tế này khiến những ngày qua.500 như trần.Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia. là người chủ trì thông báo các chính sách này. 20.

8% so với kế hoạch là 6.đoạn những ngày gần đây xuống xấp xỉ 0%. không có lý do gì để nói VND tiếp tục giảm giá.3%. thực chất USD sẽ giảm giá khoảng 20% thời gian tới. Con số cập nhật đến 14/10. ông Lê Đức Thúy cho biết. Đây thực sự là một ngịch lý khi trên thế giới USD mất giá. Tăng trưởng kinh tế có khả năng vẫn có thể đạt 6. Đáng chú ý. với chính sách nới lỏng định lượng của FED. giảm hơn một nửa so với 2009. hiện đồng USD đang giảm giá với các đồng tiền khác trên thế giới. người ta chỉ thanh toán bằng đồng Rup.5-14 tỷ thì nay cao nhất 12. thì dự báo 2010 thâm hụt 4 tỷ USD. Nếu năm 2009 thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể 9 tỷ USD. Để tránh lãi suất tăng cao. còn ở Việt Nam USD tăng giá. các ngân hàng cũng không dư thừa ngoại tệ. dự báo thặng dư thấp là 1 tỷ.5 tỷ thôi. Song. chúng ta cho giảm mà không nổi. cao là 2 tỷ. tính đến hết tháng 10. Theo nhận định của nhiều chuyên gia. Nhưng do khoản vay ngoại tệ đó là ngắn hạn nên đến kỳ đáo hạn. Trong khi tín dụng bằng đồng VND tăng có 14. Năm 2011. Nhưng tỷ giá lại tăng cao là một câu hỏi đặt ra cần phải tìm hiểu và giải quyết. cán cân thanh toán sẽ là tốt hơn vì xuất nhập khẩu tốt và luồng vốn vào có chiều hướng tăng lên. về cán cân thanh toán. Vậy mà ở Việt Nam. Hậu quả từ tăng trưởng tín dụng USD quá cao Tại cuộc họp. nhập khẩu và nhập siêu đều giảm. Với chiều hướng này. Như thế.7-6. vàng lên giá và tiền Việt lại mất giá. Thậm chí. dự báo cho thấy tăng trưởng xuất khẩu có thể đạt 23% trong khi kế hoạch chỉ 18% và nhập khẩu chỉ tăng trưởng khoảng 17%. tình hình căng thẳng USD đã được cảnh báo. thực tế là họ không dùng đến USD mà bán ra. Điều này cho thấy. đến nay các chỉ số kinh tế vĩ mô đều rất tốt. các doanh nghiệp đã vay USD.5%. Vì vậy. chứ đừng nói là còn găm giữ mà không bán. dẫn tới nguồn cung tạm thời cạn kiệt trong khi cầu ngày càng tăng lên. tạo nguồn cung giả tạo tạm thời trên thị trường nên giá USD tự do nhiều khi còn thấp hơn ngân hàng. mức nhập siêu trước đây dự kiến từ 13. không nhận USD vì lo USD mất giá. Ông Thúy cho biết. các doanh nghiệp phải mua trả nợ. Còn ở Nga. Trong tình hình đó.6% và tổng tín dụng tăng 21. tín dụng bằng đồng USD tăng khoảng 52% so với đầu năm. vàng tăng giá. Đây là nhân tố ảnh hưởng tích cực đến thị trường ngoại hối. . ở Lào tiền Kíp đang lên giá so với USD. Đặc biệt. Ông Thúy cho biết. ngay từ đầu năm.

Như vậy. xuất khẩu năm nay sẽ tăng vượt kế hoạch. mà ưu tiên hàng đầu là kiểm soát lạm phát. một số cất trữ. Bên cạnh đó. sức ép giảm lãi suất tiền Việt cũng làm cho uy tín VND bị giảm đáng kể. VND không yếu đến mức phải điều chỉnh tỷ giá.000 tỷ từ trong nước. Trong chiều ngược lại. Nói là để hạn chế nhập siêu thì trên thực tế việc nhập siêu cũng đã được hạn chế. Một khi người dân đã rút tiền Việt để mua ngoại tệ thì đương nhiên ngoại tệ tăng giá. Dân đã rút VND để mua ngoại tệ hoặc mua vàng. điều chỉnh có thể gây nên những tác động xấu không kiểm soát nổi. Tuy nhiên. Còn chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là đáng báo động so với mục tiêu kiếm soát lạm phát. Theo ước tính của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia. thì với tác động dây chuyền tâm lý của nó. lãi suất dẫn đến những hành xử khác của người dân đối với các đồng tiền. Cộng với đó là cách xử lý chính sách và giải trình chính sách làm người dân mất tin tưởng rằng Nhà nước có thể điều chỉnh tỷ giá. .000 tỷ. Nếu như cuối tháng 9. nhất là khi lạm phát có xu hướng vượt qua 8% . số chênh lệch này chỉ còn 20. tiền gửi ngoại tệ lại tăng lên. người dân sẽ mất niềm tin. lạm phát sẽ vọt lên. câu hỏi đặt ra lúc này là tăng tỷ giá được gì và có nên điều chỉnh không? Mới đây nhất. tức tiền gửi ngoại tệ đã tăng 20. nếu nói điều chỉnh tỷ giá để khuyến khích xuất khẩu thì đây không phải là công cụ mạnh để làm việc đó. trên thị trường đang có cái sự mất cân đối về cung cầu ngoại tệ cục bộ. tốc độ nhập siêu cả về tương đối lẫn tuyệt đối đã giảm so với kế hoạch ban đầu. thì trong 15 ngày đầu tháng 10. Chính phủ đặt vấn đề không điều chỉnh tỷ giá. USD đang yếu đi. Trong vòng 15 ngày đầu tháng 10. tâm lý chung của xã hội hiện nay rất kỳ vọng USD sẽ tăng giá. không điều chỉnh tỷ giá nhưng giải quyết được những căng thẳng khan hiếm tạm thời trên thị trường ngoại tệ. Sau khi phân tích. Thậm chí.000 tỷ. vấn đề đặt ra là. Không tăng tỷ giá. Số tiền hơn 2 tỷ USD này có thể được dùng để mua USD. Nếu điều chỉnh tỷ giá. và cả gửi lại ngân hàng dưới hình thức ngoại tệ. Mục tiêu quan trọng được đặt lên hàng đầu trong năm nay là ưu tiên ổn định vĩ mô. Tuy nhiên. Nếu không làm được. Thêm vào đó. ADB đã khuyến cáo. số dư tiền gửi ngoại tệ thấp hơn số dư cho vay ngoại tệ khoảng 40. có thể đẩy giá cả vượt lên trên một con số. không hạ lãi suất Trong hoàn cảnh đó. các thành viên Chính phủ đã quyết định trong thời điểm này. tiền gửi tiết kiệm bằng VND của người dân giảm đến 45. Nguyên nhân bắt nguồn từ sự méo mó do chính sách tiền tệ. Việt Nam không nên điều chỉnh tỷ giá. Ông Lê Đức Thúy phân tích. điều chỉnh tỷ giá là không có lợi. Ngân hàng Nhà nước với tư cách là người điều hành vĩ mô về tiền tệ phải can thiệp và bán ngoại tệ ra. Điều này rất dễ nhận thấy trên thị trường khi người dân tích trữ ngoại tệ. phải thẳng thắn chỉ ra rằng. Trong khi đó. Do vậy. mua vàng tích trữ và nằm ngoài ngân hàng.000 tỷ so với cuối tháng 9.

. Chính phủ chủ trương mạnh dạn can thiệp để giữ ổn định. lượng ngoại hối dự trữ không phải là quá "hẻo". Tuy nhiên.7% cao hơn chỉ tiêu Quốc hội đề ra. thấp hơn kế hoạch đề ra (6. Nếu lãi suất VND thấp thì USD rất bất lợi. lãi suất cho vay 15-17% là mức mà thị trường có thể chấp nhận được. nhưng kinh tế nước ta đã sớm ra khỏi tình trạng suy giảm và có mức tăng trưởng khá cao. lãi suất huy động nằm trong khoảng 12-13% mà không có những khoản phụ phí. Đấy về thực chất là một biện pháp thắt chặt tiền tệ các tác dụng ngăn chặn lạm phát. Tuy nhiên. về lãi suất. trên thực tế. vẫn còn và còn đủ để can thiệp với những cơn sốt USD kiểu như hiện nay. Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2010 dự kiến vượt 12. nhiều người lo ngại sẽ ảnh hưởng đến dự trữ ngoại tệ. Song. tháng 10 đã bán can thiệp nhỏ giọt 200 triệu USD.2%). mức tăng sẽ không nhiều. kinh tế toàn cầu phục hồi chậm. Ông Thuý khẳng định. sẽ làm giảm bớt áp lực lên tỷ giá khi mà đồng tiền Việt có giá hơn nhờ lãi suất cao hơn. Việc tăng lãi suất có tính tích cực. ít nhất là so với thời kỳ trước năm 2006. GDP năm 2011 sẽ tăng từ 7 – 7. mặc dù sau khủng hoảng. "Bơm" ngoại tệ ra. thay mặt Chính phủ. công nghiệp và xây dựng tăng 7. Đợt "bơm" USD lần này. Về lâu dài. Lo ngại tăng trưởng không cao là không có cơ sở. ổn định vĩ mô. Ngân hàng Nhà nước mua tăng được khoảng 300 triệu USD. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận định. Thực tế thì hiện nay. trong tháng 9.5% (GD&TĐ) – Trong phiên khai mạc Kỳ họp thứ 8. Chính phủ yêu cầu đưa lãi suất xuống nhưng nay tình hình đã thay đổi. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã báo cáo Quốc hội tình hình kinh tế . nếu trước đây. Điều này sẽ khiến cho lãi suất cho chiều hướng tăng lên.7% so với dự toán và tăng 17. Ngoài ra. GDP cả năm 2010 tăng khoảng 6.6%. những biện pháp đó chưa đủ mạnh để dừng lại tâm lý khan hiếm ngoại tệ.6%. bảo đảm được các nhiệm vụ chi và góp phần giảm bội chi xuống dưới 6%.Về dự trữ ngoại tệ. Vì thế. trong khi đó lạm phát đang đà tăng. đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ cho những hoạt động kinh tế cần thiết. dự trữ ngoại tệ tuy đã giảm mạnh so với mức cao nhưng số còn lại trong Ngân hàng Trung ương không phải là quá nhỏ bé. Quốc hội khóa XII. lãi suất cũng không xa lắm so với con số này. Dự trữ là để ổn định thị trường. vì thế. Chính phủ không đặt vẫn đế giảm lãi suất mà để các ngân hàng thực hiện theo thị trường. không can thiệp để làm lãi suất thấp hơn. Khu vực nông nghiệp tăng 2.xã hội và nhiệm vụ năm 2011. dự trữ ngoại tệ cần phải tăng mạnh và tăng nhiều hơn nhưng sẽ chọn những thời điểm và thời cơ thuận lợi. góp phần kiềm chế lạm phát. dự trữ không phải là để cất. Tăng chi tiêu chính phủ dành cho giáo dục: Chính phủ dự báo.6% so với năm 2009.

Sự phối hợp giữa chính sách tài chính và chính sách tiền tệ còn chưa đồng bộ. Nhập siêu cả năm khoảng 13. Quản lý giá một số mặt hàng nhất là giá sữa. phát triển đội ngũ nhà giáo. tổng kim ngạch nhập khẩu ước tăng 16. Các chi ngân sách còn lãng phí. bao cấp về giá điện. phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục . Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia bậc mầm non và các cấp học phổ thông tăng nhanh.5% GDP. 100% tỉnh. Giáo dục và đào tạo có bước phát triển. nhập siêu cao. Tăng cường giám sát bảo đảm an toàn các tổ chức tín dụng. Thể chế kinh tế thị trường chưa đồng bộ. dưới 20% tổng kim ngạch xuất khẩu. Khu vực doanh nghiệp nhà nước giữ một phần lớn vốn.đào tạo từ mầm non đến đại học.Đến hết năm 2010.6% GDP.1%. tỷ lệ học sinh bỏ học ở hầu hết các vùng đều giảm. cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Chính sách tiền tệ đã góp phần tăng trưởng và kiểm soát lạm phát. năng suất chất lượng sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. cán bộ quản lý và đổi mới phương pháp giảng dạy. Đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu xã hội và tích cực triển khai hợp tác đào tạo theo chương trình tiên tiến với các trường đại học nước ngoài. Tích cực triển khai thực hiện đổi mới cơ chế quản lý giáo dục. đã đẩy mạnh xã hội hoá để nâng cấp cơ sở vật chất. cơ bản đảm bảo được các mục tiêu đã đề ra từ đầu năm: Tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 20%. quản lý nhà nước và thực hiện quyền chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước còn nhiều bất cập. Cùng với việc tăng đầu tư của Nhà nước. Thực hiện điều hành lãi suất cho vay theo cơ chế thỏa thuận và theo hướng giảm dần. giá thuốc chữa bệnh chưa tốt. tài nguyên quốc gia nhưng hiệu quả đầu tư và tăng trưởng chưa tương xứng. không khuyến khích tiết kiệm năng lượng và hạn chế việc huy động vốn đầu tư của các thành phần kinh tế vào phát triển nguồn điện. Nhập khẩu được kiểm soát chặt chẽ hơn. dự nợ Chính phủ tương đương khoảng 44. dư nợ tín dụng tăng khoảng 25%. lãi suất cho vay còn cao. giá than còn kéo dài. kỷ cương trong thi cử đã được thực hiện tốt hơn. gấp hơn 3 lần so với kế hoạch. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2010 ước tăng 19.2% GDP. Đã kết nối internet cho tất cả các trường phổ thông. cán cân thanh toán tổng thể vẫn còn thâm hụt. . cơ chế tài chính. Kiểm soát nợ xấu dưới 3%. thị trường chứng khoán đạt mức vốn hóa khoảng 31. thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Tuy nhiên. nằm trong giới hạn an toàn. tài sản và đất đài. Kiểm soát chặt chẽ hơn việc thành lập mới các trường đại học. thấp hơn tỷ lệ nhập siêu năm 2009. dư nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 42.5%. dự trữ ngoại tệ giảm. Tính đến hết tháng 9/2010. Phát triển nguồn điện chưa đáp ứng kịp nhu cầu. Thủ tướng cũng cho rằng.5 tỷ USD. Tỷ giá được điều hành linh hoạt hơn theo nguyên tắc thị trường.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful