P. 1
tiểu luận thuế

tiểu luận thuế

|Views: 2,243|Likes:
Được xuất bản bởitutruong_tubo

More info:

Published by: tutruong_tubo on Jan 13, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

05/22/2013

pdf

text

original

LỜI MỞ ĐẦU

Thuế là công cụ quan trọng của nhà nuớc dùng để tạo nguồn thu cho ngân sách, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo công bằng xã hội. Trong các loại thuế thì thuế tài sản ngày càng được Chính phủ quan tâm bởi loại thuế này có số thu ổn định, bền vững và có thể chiếm tỷ trọng cao trong tổng số thu ngân sách nhà nuớc. Trong số các sắc thuế về tài sản, thuế BĐS là một loại thuế có tầm quan trọng trong nền kinh tế và có tác động nhiều mặt đối với kinh tế chính trị xã hội. Việt Nam là một nuớc đang trên đà phát triển, để có thể duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế Nhà nước phải luôn luôn quan tâm tới các chính sách kinh tế trong đó có chính sách thuế. Những năm gần đây Nhà nước đã và đang thực hiện chiến lược cải cách thuế, nhiều sắc thuế được sửa đổi bổ sung như: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp… và hiện đang nghiên cứu để ban hành nhiều sắc thuế mới khác như thuế môi trường, thuế tài sản, thuế nhà đất. Trong bối cảnh như vậy, vấn đề cải cách chính sách thuế BĐS nhằm nâng tỷ trọng thu ngân sách từ thuế tài sản, ổn định và phát triển lành mạnh thị trường BĐS đang trở nên vô cùng cấp thiết. Chính vì vậy, bài tiểu luận: “Chính sách thuế bất động sản ở Việt Nam giai đoạn 2002-2009” đưa ra những tìm hiểu cơ bản về thuế BĐS ở Việt Nam giai đoạn 2002-2009 và kiến nghị một số giải pháp nhằm cải cách và nâng cao hiệu quả chính sách thuế BĐS ở Việt Nam sau này.

Chương I: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ BẤT ĐỘNG SẢN 1. Khái quát về các sắc thuế bất động sản Thuế bất động sản được hình thành là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống thuế của mỗi quốc gia. Tùy theo đặc thù của từng nước, thuế thu vào bất động sản được thể hiện ở nhiều sắc thuế khác nhau, thu hằng năm hoặc thu một lần. Các sắc thuế phổ biến được áp dụng gồm: • Thuế của cải đánh trên giá trị tài sản ròng của cá nhân. • Thuế đánh vào đất • Thuế đánh vào nhà • Thuế bất động sản • Thuế đăng kí tài sản • Thuế thừa kế, quà tặng • Thuế đánh vào thu nhập từ bất động sản 2. Đặc điểm của thuế bất động sản Ngoài những đặc điểm chung của thuế như: là thuế trực thu, không mang tính hoàn trả trực tiếp, tính bắt buộc, tính pháp lý…Thuế bất động sản có những đặc điểm nổi bật sau: • Thuế bất động sản dựa trên nguyên tắc đánh thuế theo lợi ích. Những người được hưởng lợi ích từ nhà nước sẽ phải nộp thuế cao. Nhà, đất và các công trình kiến trúc khác được bảo tồn, phát triển và sinh lời là nhờ được thừa hưởng nhiều lợi ích từ các dịch vụ công của nhà nước. • Thuế BĐS là một loại thuế tài sản, được xem như một khoản thu bổ sung của thuế đánh vào thu nhập. • Thuế BĐS là loại thuế đăng kí thường dễ thu do người có BĐS thường muốn công khai đăng kí để được nhà nước bảo vệ quyền sở hữu hay quyền sử dụng hợp pháp của mình.

3. Thuế BĐS giúp đáp ứng nhu cầu dịch vụ công cộng giữa các địa phương về khoản chi. thuế BĐS sẽ làm thay đổi quan hệ cung – cầu về BĐS. kiểm soát.2. góp phần vào việc bình ổn giá cả trên thị trường BĐS. Vai trò của chính sách thuế bất động sản Thuế là công cụ chủ yếu để tạo nguồn thu cho NSNN và là công cụ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. quy mô chi tiêu… 3. Trên cơ sở đó. quản lý quỹ đất. thường chiếm chủ yếu trong tổng số thu từ thuế tài sản. cầu bất động sản và bình ổn giá cả thị trường BĐS Nhà nước có quy định phạm vi áp dụng đối với từng sắc thuế BĐS và quy định thuế suất cao hay thấp của từng sắc thuế sẽ tác động đến việc nắm giữ. thực hiện công bằng xã hội trong sử dụng và chuyển dịch BĐS Qua thuế BĐS nhà nước có thể thực hiện việc kiểm kê. Hơn nữa. nhà nước thực hiện đánh thuế trong trường hợp sử dụng đất như là một nhu cầu thiết yếu hoặc có thể áp dụng thuế suất 0% hoặc không thu thuế đối với các trường hợp sử dụng đất để xây nhà chung cư. Vai trò của chính sách thuế bất động sản thể hiện ở những mặt sau. Để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào việc phát triển thị trường BĐS. Để hạn chế đầu cơ. sử dụng hay chuyển dịch BĐS.3. 3. Góp phần điều tiết cung. nhà nước có thể áp dụng mức thuế cao đối với các trường hợp nắm giữ nhiều BĐS nhưng không sử dụng hoặc sử dụng BĐS không đúng mục đích. Thuế BĐS là một công cụ hấp dẫn trong việc tạo nguồn lực cho địa phương. nhà nước . Là công cụ quan trọng để điều hòa thu nhập. xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển quỹ đất ở… 3.1. Tạo nguồn thu quan trọng cho ngân sách địa phương BĐS gắn liền với mỗi địa phương và chịu sự quản lý trực tiếp của địa phương đó. nhà ở và các công trình kiến trúc khác trong xã hội. thứ tự ưu tiên.

Giá thị trường Giá thị trường của bất động sản là giá được hình thành theo quan hệ cung cầu trên thị trường bất động sản. Đối với người có thu nhập cao từ BĐS thì việc chuyển dịch BĐS phải chịu sự điều tiết cao hơn những người không có phát sinh thu nhập hoặc có thu nhập thấp hơn. Thông qua việc chấp hành các sắc thuế sẽ giúp nhà nước phát hiện những bất cập. Giá tính thuế thường được xác định theo giá thị trường hoặc tiền cho thuê của bất động sản. vướng mắc trong quá trình hoạt động của thị trường BĐS để có biện pháp xử lý kịp thời.có thể động viên một phần đóng góp của chủ sở hữu BĐS có nhiều thu nhập từ tiền cho thuê. Giá tính thuế bất động sản Đối với các loại thuế được tính theo giá trị của đối tượng chịu thuế thì việc xác định trị giá tính thuế là một khâu trung tâm của quá trình hành thu. Giúp nhà nước kiểm soát hoạt động kinh doanh BĐS. chuyển nhượng. cũng như số lần chuyển nhượng BĐS. quy mô BĐS mà từng tổ chức. khuyến khích sử dụng đất. Từ việc ban hành các sắc thuế đến việc triển khai thực hiện cùng với việc thanh tra thuế. cá nhân nắm giữ. thực hiện công bằng. để định giá theo phương pháp này cũng cần một cơ sở dữ liệu tập . Mặt khác. Thuế bất động sản cũng là một loại thuế được tính theo giá trị. 3. nhà hợp lý. ngôi nhà cần định giá được xác định bằng giá thị trường cả lô đất hoặc ngôi nhà có đặc điểm giống nhau (tương tự). nhà nước có thể chủ động trong việc điều tiết các hoạt động liên quan tới BĐS. Có ba phương pháp truyền thống được sử dụng trong việc định giá thị trường của bất động sản. ngôi nhà tương tự. góp phần điều hòa thu nhập xã hội. 4. có hiệu quả. hệ thống thuế BĐS. Phương pháp này thích hợp khi thị trường bất động sản phát triển và xuất hiện tính tương đồng giữa lô đất.1. 4. chính quyền các cấp đã nắm vững được số lượng.4. Người nắm giữ BĐS nhiều hơn mức trung bình của xã hội phải chịu mức thuế suất cao hơn so với người nắm giữ ít BĐS. đảm bảo thị trường BĐS phát triển lành mạnh. Qua đó. • Phương pháp giá so sánh: giá của lô đất.

vượt xa giá trị thực của nó. 4. Tuy vậy. Tuy nhiên.trung về giao dịch bất động sản để đảm bảo công tác định giá được chính xác. Sử dụng giá thị trường để thu thuế sẽ có điều kiện để thực hiện chính sách chống đầu cơ hoặc thu hồi một phần vốn đầu tư cơ sở hạ tầng thông qua giá trị bất động sản được hưởng lợi tăng lên. tiền cho thuê có nhược điểm là tồn tại dưới dạng hình thức.2. hài hòa. • Phương pháp chi phí: giá của bất động sản cần định giá được xác định bằng cách xác định giá của lô đất cộng với chi phí xây dựng công trình trên đât. Vì tính hạn chế này nên nhiều nước áp dụng giá thị trường trong tính thuế đều có chế độ miễn giảm thuế cho người có thu nhập thấp. giá trị của bất động sản sẽ được xác định bằng tổng dòng thu nhập tiềm năng (thu nhập ròng) trong tương lai được quy đổi về giá trị hiện tại. • Phương pháp thu nhập: giá trị của bất động sản chính là tổng thu nhập trong tương lai mà bất động sản mang lại. Tiền cho thuê Tiền cho thuê là khoản tiền mà người cho thuê trả cho chủ sở hữu bất động sản (thường là một năm) trong điều kiện bình thường của thị trường. Do đó. Tiền cho thuê dùng để tính thuế bất động sản không phải là tiền thuê thực tế mà là do cơ quan thuế xác định dựa trên các dữ liệu sẵn có sau khi tiến hành tổng điều tra nhà đất. Giá thị trường được coi là công khai. Tiền cho thuê do cơ quan thuế xác định thường rất khó hiểu đối với người nộp . minh bạch và dễ hiểu. Việc tính thuế dựa vào tiền cho thuê có ưu điểm là khả năng dự báo và sự ổn định của số thu ngân sách được đảm bảo do không phụ thuộc vào biến động thị trường. khi giá trị của ngôi nhà tăng lên nhưng thu nhập của chủ sở hữu lại không tăng. Tiền cho thuê được cập nhật để phản ánh biến động của giá cả và được sử dụng để tính tiền cho thuê của các tài sản hình thành sau thời điểm này. đặc biệt trong bối cảnh bùng nổ của thị trường bất động sản làm giá nhà đất tăng lên nhanh chóng. Phương pháp này được sử dụng trong trường hợp thị trường bất động sản ít phát triển và thường áp dụng đối với bất động sản mới và tương đối hiếm.

Tiền cho thuê cũng rất khó xác định do những thông tin liên quan đến tiền cho thuê của bất động sản mẫu thường không đầy đủ. .thuế vì họ không biết tiền cho thuê thực tế là bao nhiêu.

Đây là một loại thuế trực thu. trong đó cấp xã tối thiểu 70%. thuế SDĐNN được để lại 100% cho địa phương. Đối tượng chịu thuế là đất dùng vào sản xuất nông nghiệp gồm đất trồng trọt.Chương II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH THUẾ BĐS VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2002-2009 Thuế BĐS là loại thuế lấy BĐS như đất. thuế SDĐNN đã tạo ra nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước. khi mà các ngành công nghiệp chưa phát triển và thu ngân sách thấp trong khi chi ngân sách không ngừng tăng qua các năm. 1. đất rừng trồng. đã tạo điều kiện cho ngân sách địa phương có nguồn thu ổn định và phát triển thị trường BĐS ở khu vực nông thôn. . hạng đất và định suất thuế tính bằng kg thóc trên một đơn vị diện tích từng hạng đất. nhà. căn cứ vào khả năng sinh lời của đất. Căn cứ tính thuế được xác định theo diện tích đất. đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản. Căn cứ vào đó. nhằm điều tiết một phần thu nhập của các đối tượng có quyền sử dụng đất nông nghiệp. Thuế sử dụng đất nông nghiệp Là thuế thu vào các chủ thể có quyền sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp. Theo quy định hiện hành. trong thời kì đổi mới. Thuế SDĐNN được thực hiện từ 01/01/1994 theo quy định tại luật thuế SDĐNN (Quốc hội thông qua năm 1993). thuế đất và lệ phí trước bạ. Thuế SDĐNN góp phần tăng thu cho NSNN. vật kiến trúc gắn liền với đất làm đối tượng đánh thuế. có thể thấy các sắc thuế BĐS hiện hành tại Việt Nam gồm: thuế sử dụng đất nông nghiệp. Pháp lệnh thuế bổ sung đối với hộ gia đình SDĐNN vượt quá hạn mức diện tích.

080 404. từ đó làm gia tăng hàng hóa BĐS trên thị trường.284. tình hình chuyển dịch cơ cấu cây trồng. người SDĐ có thể thuê lại đất hoặc chuyển nhượng quyền SDĐ cho người khác.660 - - 22.314 35.515 31.17 1.06 0.03 0.46 0.582 thu Tỷ trọng thu thuế SDĐNN/Thu NSNN (%) 0.860 177.Bảng 1: Số thuế SDĐNN giai đoạn 2002-2009 Số thuế Năm SDĐNN (tỷ đồng) QT2002 QT2003 QT2004 QT2005 QT2006 UTH2007 UTH2008 DT2009 Tổng thu 8 năm Bình quân năm (Nguồn: Bộ tài chính) Thuế BĐS giúp nhà nước quản lý được quỹ đất nông nghiệp.0 .511 189 So với năm trước (%) 20 86 102 84 87 78 55 Số thu Tỷ trọng thu từ BĐS thuế (tỷ đồng) 7590 12.1%) do các nguyên nhân: chính sách miễn. vật nuôi nên thuế SDĐNN giúp quản lý và thúc đẩy sự phát triển thị trường BĐS ở nông thôn.21 0.02 0.13 Số NSNN (tỷ đồng) 123.201 20. Thuế SDĐNN góp phần thúc đẩy việc SDĐ có hiệu quả.776 283.37 0.65 4 285.62 0.05 0.847 350. Bên cạnh những mặt đạt được.64 0.85 0.009 26.09 0.000 2.21 0.842 311. việc áp dụng thuế SDĐNN tại Việt Nam còn tồn tại nhưng hạn chế sau: • Tỷ trọng từ thu thuế SDĐNN đã có xu hướng giảm đi rất nhiều trong thời gian gần đây (từ năm 2003 đến nay chiếm chưa đến 0. Nếu không sử dụng hoặc SDĐ không hiệu quả thì để tiết kiệm chi phí thuế.01 - 178.832 SDĐNN/Thu từ BĐS (%) 10. giảm thuế SDĐNN của nhà nước có hiệu lực từ (Nghị quyết số 15/2003/QH11 ngày 17/6/2003 của QH khóa 11 về việc 1 772 151 130 111 97 76 42 1.686 24.64 0.333 0.513 20.409 224.840 408.03 0.

trong thực tiễn thực hiện. giá cả biến động trên thị trường nên việc tính thuế bằng thóc sẽ không phù hợp nữa. • Diện nộp thuế SDĐNN quá rộng. Tuy nhiên. Do vậy. giảm thuế SDĐNN gắn liền với nhiều chính sách xã hội làm nội dung chính sách phức tạp. kết quả động viên về thuế SDĐNN trong thời gian qua có phần đi ngược với mục tiêu ban đầu mà chính sách đề ra.với đất trồng cây lâu năm cao hơn đất trồng cây hàng năm. Hiện nay. Nay nước ta đã chuyển sang kinh tế thị trường nhưng lại vẫn dùng tiêu chí là dựa trên hạng đất và diện tích để đánh thuế không còn phù hợp. trên thực tế khó thực hiện được. tốc độ công nghiệp hóa hiện đại hóa ngày càng nhanh.miễn giảm thuế SDĐNN đến năm 2010) nên số thuế thu được chủ yếu từ thuế tồn đọng các năm trước. Cụ thể. nhưng quy ra tiền để thu thuế. mức thuế suất rất ổn định. việc xác định hạng đất thường thiếu khách quan. Thậm chí mức động viên về thuế SDĐNN có phần cao hơn so với thuế đất ở. dễ phát sinh những tiêu cực. • Mục tiêu ban đầu của chính sách thuế SDĐNN là khuyến khích SDĐ tiết kiệm. dẫn đến số thu giảm đáng kể từ năm 2003. Việc xác định hàng đất để áp thuế suất tính thuế SDĐNN cho hợp lý và công bằng. • Chính sách thuế SDĐNN ban hành vào những năm đầu thập niên 90. trung du cao hơn ở đồng bằng. khi đó cả xã hội đang quen với việc xác định hạng đất. đất xây dựng công trình. gây nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện. nếu so sánh với giá đất thì mức động viên về thuế SDĐNN đối với đất ở miền núi. nảy sinh nhiều trường hợp cùng một diện tích đất nhưng được xếp hạng là hạng đất thấp để đóng thuế SDĐNN thấp nhưng khi bị thu hồi lại được xếp hạng đất cao để được đền bù cao. việc lập số thuế và thông báo số thuế qua từng vụ đến từng hộ nông dân thường . • Chính sách miễn. do tác động của giá đất trong nền kinh tế thị trường. diện tích ruộng đất phân tán. • Bất hợp lý và không công bằng khi tính thuế suất bằng thóc. hiệu quả.

đất xây dựng công trình. do chuyển đổi ruộng đất làm khối lượng công việc quản lý. tốn kém. 2. tầng càng cao thì hệ số càng thấp. các tổ chức không vì mục đích kinh doanh hoặc để ở. bằng từ 3-32 lần mức thuế SDĐNN cao nhất trong vùng. Đối tượng chịu thuế là đất ở. Căn cứ tính thuế đất được xác định theo thuế SDĐNN. số tương đối so với thu từ BĐS và thu NSNN tuy có tăng giảm nhưng biên độ dao động thấp. Thuế đất Thuế đất được thực hiện từ ngày 01/10/1992 theo quy định pháp lệnh Thuế nhà. Không thu thuế đất đối với đất sử dụng vì lợi ích công cộng. tăng dần về số tuyệt đối và tốc độ tăng khá nhanh. Trong trường hợp còn có sự tranh chấp hoặc chưa xác định được quyền SDĐ thì tổ chức. Thuế đất trong thời gian qua đã đóng góp số thu cho NSNN khá ổn định. phúc lợi xã hội hoặc từ thiện không vì mục đích kinh doanh và đất chuyên dùng vào việc thờ cúng của các tôn giáo. Bảng 2: Số thu thuế đất thời kì 2002-2009 Năm Số thu thuế đất So với năm Số thu thuế từ BĐS (tỷ đồng) Tỷ trọng thu thuế đất/Thu từ BĐS Số thu NSNN (tỷ đồng) Tỷ trọng thu thuế đất/Thu NSNN (tỷ đồng) trước (%) . Đối tượng nộp thuế là các tổ chức cá nhân có quyền SDĐ ở. cá nhân đang trực tiếp SDĐ là đối tượng nộp thuế đất. việc thu thuế SDĐ sẽ phân bổ theo hệ số cho các tầng khác nhau.xuyên có biến động do chia tách hộ. đất xây dựng công trình. Trường hợp bên Việt Nam tham gia xí nghiệp liên doanh được nhà nước cho góp vốn pháp định bằng quyền SDĐ (theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) thì tổ chức hoặc người đại diện cho bên Việt Nam dùng đất để góp vốn theo hợp đồng đã kí kết là đối tượng nộp thuế đất. thu thuế SDĐNN ngày càng phức tạp. đất. Đối với nhà ở nhiều tầng hoặc nhiều hộ ở.

19 0.21 0.2% so với tổng thu NSNN.009 26.590 12.333 2.842 311.17 2.87 2.99 - 123.686 24.24 - 582 - 22.314 35.6% so với thu từ BĐS và 0. cá nhân trở nên hiệu quả hơn.47 2.513 20. đất xây dựng công trình và số thu bình quân hàng năm chỉ đạt 582 tỷ đồng.860 177. Thuế góp phần khuyến khích tổ chức cá nhân SDĐ tiết kiệm phù hợp với pháp luật về đất đai.409 224.660 (%) 4. nhà nước cũng quản lý được các diện tích đâts ở.18 0. chiếm 2.847 350.515 31.832 178.2 (Nguồn: Bộ Tài chính) Thuế đất góp phần tăng cường quản lý nhà nước đối với việc SDĐ.6 0.201 20. cá nhân phải có trách nhiệm kê khai tình hình SDĐ với cơ quan thuế (kể cả trường hợp có sự thay đổi). cá nhân SDĐ tiết kiệm và có hiệu quả hơn.45 2. đất ao.582 (%) 0. trong khi số thu hằng năm chi khoảng trên một nửa diện tích đất ở.284.64 5 285. Cách xác định số thuế nhà đất theo quy định của Pháp lệnh thuế nhà đất hiện hành đã góp phần khuyến khích các tổ chức.29 2.776 283.000 2. chi phí quản lý thu thuế lớn. Điều này giúp nhà nước có kế hoạch tổng thể trong việc quy hoạch các cơ sở hạ tầng. chính sách thuế đất hiện hành đã bộc lộ một số hạn chế như sau: • Thuế đất là loại thuế tỏ ra kém hiệu quả.27 0. Bên cạnh với việc thu thuế đất ổn địn.17 0.2 0.43 2. Bên cạnh kết quả đạt được.2 0.840 408. . đất xây dựng các công trình của các tổ chức và cá nhân do các tổ chức.080 404. đất vườn.652 107% 122% 118% 115% 108% 126% 117% - 7.49 2.QT2002 QT2003 QT2004 QT2005 QT2006 QT2007 UTH2008 DT2009 Tổng thu 8 năm Bình quân 1 năm 336 359 438 515 594 644 814 952 4. các khu kinh tế trọng điểm… vừa làm cho việc SDĐ của tổ chức.

. loại 2/4. quyền sử dụng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các tài sản là nhà đất. cho thuê… Theo đó. Không phân biệt giữa người có một nhà hoặc một thửa đất với người có nhiều nhà hoặc sử dụng nhiều đất. Nhà nước đã có nhiều chính sách khuyến khích. Những năm gần đây. Luật đất đai năm 2003 tạo điều kiện cho phát triển nhà. cụ thể là không phân biệt giữa việc SDĐ trong hạn mức và vượt hạn mức. bệnh binh 2/3. gia đình liệt sĩ được hưởng chế độ trợ cấp của Nhà nước nhưng không miễn giảm đối với các đối tượng là người có công với cách mạng. Hơn nữa thuế đất chưa có sự điều tiết cao đối với những đối tượng có quyền sủ dụng đất với diện tích lớn để khuyến khích SDĐ tiết kiệm. phát triển nhà ở. • Căn cứ tính thuế còn nhiều bất cập. Luật nhà ở năm 2005 và Luật kinh doanh BĐS năm 2006 đã tạo hành lang phpas lý để các tổ chức. thị trường BĐS về nhà đất đã được hình thành và phát triển. 4/4. hiệu quả và hạn chế đầu cơ về đất. • Chính sách miễn giảm thuế chưa tạo sự công bằng.• Đối tượng chịu thuế chưa hợp lý. đất. Lệ phí trước bạ Lệ phí trước bạ là khoản thu chi đăng kí quyền sở hữu. sung săn và sung thể thao. Việc xét miễn giảm thuế do thiên tai. phương tiện vận tải. 3/3… gây thắc mắc. cá nhân thuộc các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển nhà ở để bán. đẩy giá nhà đất lên cao không hợp lý mà chưa có công cụ điều tiết từ phía nhà nước. khiếu nại đề nghị được đối xử công bằng. Chính sách hiện hành lệ phí trước bạ được thực hiện theo Nghị định số 176/1999/NĐ-CP ngày 21/12/1999 và Nghị định số 80/2008/NĐ-CP ngày 29/07/2008 của Chính phủ. dịch họa tính theo tỷ lệ về tài sản bị thiệt hại so với toàn bộ tài sản có trên lô đất chịu thuế thường khó xác định chính xác nên hầu như không có trường hợp nào được xem xét miễn giảm theo đúng luật. Việc miễn thuế đối với gia đình thương binh loại 1/4. 3. Trên thị trường xuất hiện nhiều hoạt động về đầu cơ nhà. thương binh hạng 3/4.

409 224.817 2.52 14.515 31.776 283.842 311.363 4.284.513 20.78 Số thu NSNN (Tỷ đồng) 123.415 7.02 1.79 - 3.660 thu lệ phí trước bạ/Thu từ BĐS (%) 17.590 12.83 1.840 404.607 2.759 - 22.96 1. chiếm khoảng 17% số thu từ BĐS và 1.Căn cứ tính lệ phí trước bạ là giá trị tài sản lệ phí trước bạ và mức thu lệ phí trước bạ quy định bằng tỷ lệ phần trăm trên giá trị tài sản tính lệ phí trước bạ.686 24.000 404.314 35. Thông qua việc thu lệ phí trước bạ.832 178.251 30. lệ phí trước bạ tại nước ta là khoản thu tương đối ổn định và tăng ổn định hàng năm.201 20.009 26. kiểm soát đối với BĐS.5%.99 0.91 13.06 22. Bảng 3: Số thu lệ phí trước bạ thời kì 2002-2009 Số thu lệ Năm phí trước bạ (tỷ đồng) QT2002 QT2003 QT2004 QT2005 QT2006 UTH2007 UTH2008 DT2009 Tổng thu 8 năm Bình quân 1 năm (Nguồn: Bộ Tài chính) Việc thu lệ phí trước bạ đã phục vụ tốt yêu cầu kiểm kê.57 1. Mức thu lệ phí trước bạ hiên hành đối với nhà đất là 0.493 6.332 1.65 4 285.860 177. Trong đó: giá trị đất tính lệ phí trước bạ bằng diện tích nhà chịu lệ phí trước bạ nhân với giá 1m2 đất.075 Tỷ trọng So với năm trước (%) 136 143 107 120 134 143 113 Số thu từ BĐS (tỷ đồng) 7.16 0.847 350.08 1. cán bộ thuế cũng đã phát hiện một số 1.01 17.32 .15 14.52 12. Nói chung.582 Tỷ trọng thu lệ phí trước bạ/Thu NSNN 1.3% số thu NSNN.797 3.07 18.000 2. giá trị nhà tính lệ phí trước bạ bằng diện tích nhà chịu lệ phí trước bạ nhân với giá 1m2 nhà và nhân với tỷ lệ chất lượng còn lại của nhà chịu lệ phí trước bạ.44 1.333 16.

Do đó. quyến sử dụng BĐS. cụ thể về những tài sản thuộc diện quản lý của Nhà nước phải làm đầy đủ thủ tục đăng kí trước bạ để việc thực thi chế đọ thu lệ phí trước bạ thuận lợi. nên tên gọi lệ phí trước bạ là chưa hợp lý. trách nhiệm trong việc phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan chức năng.1. giá trị của BĐS đăng kí trước bạ.BĐS của nhà nước. khó xác định. Những kết quả đạt được 4. Quy định tổ chức thực hiện về cơ chế. Hơn nữa. Mức động viên từ lệ phí trước bạ khá cao nhưng với danh nghĩa là một khoản lệ phí nên căn cứ pháp lý chưa cao và chưa phù hợp với tính chất của khoản thu. Lệ phí trước bạ được áp dụng từ lâu và đã trở thành khoản đóng góp khá quen thuộc. của tập thể hay tư nhân bị chiếm dụng trái pháp luật. lệ phí trước bạ đáp ứng nguyện vọng của người nộp là muốn được xác định quyền sở hữu tài sản hợp pháp. Về nội dung. thuân tiện cho việc tra cứu khi có kiện tụng. với chính quyền trong việc xác định quyền sở hữu.1. Đánh giá chung về chính sách thuế BĐS hiện hành 4. Giá trị của BĐS làm căn cứ tính lệ phí trước bạ cũng chưa hợp lý. 4. Hiện nay nhà nước chưa có quy định rõ ràng. tranh chấp nên lệ phí trước bạ là một khoản thu thương đối thuận lợi. Tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách địa phương . góp phần ngăn chặn các hiện tượng xã hội tiêu cực. Nhưng việc thu lệ phí trước bạ thời gian qua không thuần túy là lệ phí hành chính mà mang tính chất của một sắc thuế có tác dụng điều tiết đối với một số loại tài sản. Nếu được tính theo giá thị trường tại thời điểm chuyển dịch tài sản nhưng giá thị trường lại biến động phức tạp.1. về xử lý vi phạm không rõ ràng dẫn đến tình trạng thất thu về lệ phí trước bạ đang xảy ra phổ biến ở hầu hết các địa phương kể cả việc quy định khống chế mức thu tối đa 500 triệu đồng/vụ đối với những tài sản có giá trị lớn. việc thu lệ phí trước bạ thường phát sinh hai thái cực: mức động viên cao nếu giá tính lệ phí trước nạ bám sát thị trường nhưng nếu dựa vào giá quy định thì thất thu cho ngân sách nhà nước.

The báo cáo của chính phủ trình Quốc hội (Văn bản số 93/BC-CP ngày 19/10/2007). triển khai và quản lý chặt chẽ các sắc thuế BĐS trong thực tế. từ sau khi thi hành Luật đất đai 2003 công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được đẩy mạnh. vi phạm pháp luật của các tổ chức. Thông qua việc ban hành. giúp nhà nước kiểm soát hoạt động của thị trường bất động sản. phát triển quỹ BĐS nói riêng và KTXH nói chung.8%) chứng tỏ nguồn thu này khá ổn định và bền vững. Đối với các địa phương có điều kiện KTXH khó khăn thì đây là nguồn thu quan trọng để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Như vậy có thể thấy rằng. 10 tỉnh đạt từ 70% đến 80% và 27 tỉnh đạt dưới 70%. cá nhân. 4.3 Khuyến khích người sử dụng đất tiết kiệm và hiệu quả góp phần điều tiết cung cầu bất động sản. 4. gia đình và cá nhân mới thấy được sự cần thiết phải hoàn thiện các thủ tục liên quan đến giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất. cá nhân trong việc sử dụng và chuyển nhượng đất đai. Nhà nước nắm được hiện trạng và biến động về đất đai kể từ đó có biện pháp quản lý cho phù hợp. hộ gia đình.1. các đối tượng sử dụng đất phải tính toán đến hiệu quả của việc nắm giữ và sử dụng đất phù hợp với nhu cầu và khả năng tài chính của mình. Nhờ có việc triển khai các sắc thuế BĐS. các tổ chức. cơ quan chức năng đã kiểm soát được hoạt động của thị trường BĐS. phát hiện ra những việc làm sai trái.2.1. Khuyến khích người nắm giữ bất động sản hoàn thành các thủ tục giấy tờ liên quan đến bất động sản. Nhà nước có thể bù đắp một phần chi phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển thị trường BĐS.4 Góp phần đảm bảo công bằng xã hội . Đối với những diện tích không cần sử dụng hoặc sử dụng hiệu quả không cao thì có thể chuyển nhượng cho người khác.Thông qua nguồn thu từ thuế BĐS. 4.1. gây tác động xấu đến hoạt động của thị trường BĐS. Số thu từ BĐS từ 2002-2009 hầu như đạt trên 7% so với tổng thu NSNN (trừ năm 2006 đạt 6. Tính đến 30/09/2007 đã có 13 tỉnh cấp GCN đạt trên 90%. thông qua việc kê khai và nộp thuế của các tổ chức. Về phía Nhà nước. cho thuê hoặc trả lại.

quyền sử dụng đất. Ngoài ra.82%. 4. giá trị BĐS đã không bao quát được nhiều đối tượng và phạm vi tính thuế.Một trong các mục tiêu mà chính sách thuế hướng đến là đảm bảo công bằng xã hội. 4. tồn tại những điểm không nhất quán trong việc đánh thuế cùng một đối tượng chịu thuế. chẳng hạn như việc chưa quy định thu thuế đối với nhà tách khỏi thuế đất dẫn đến các hiện tượng lách luật bằng cách chuyển giá sang nhà để trốn thuế đất. Hơn nữa chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN nói chung và thị trường BĐS nói riêng không được thực hiện trong chính sách BĐS.2. Tồn tại một số quy định chồng chéo. .2. Tỷ trọng nguồn thu từ thuế BĐS trong tổng thu ngân sách nhà nước và ngân sách địa phương hàng năm còn thấp. giảm thuế trong các sắc thuế BĐS trong thời gian qua đã thánh tận thu vào những người không có hoặc hạn chế khả năng nộp thuế. công tác hành thu của cơ quan còn gặp nhiều trở ngại dẫn đến thất thu thuế BĐS lên đến hàng ngàn tỷ đồng mỗi năm. 4.2. trùng lắp trong các sắc thuế bất động sản hiện hành • Giữa thuế SDĐNN và thuế đất còn tồn tại những căn cứ tính thuế không hợp lý. góp phần giảm bớt gánh nặng thuế cho các đối tượng cần được ưu đãi. Trong Hiến pháp thì quy định một số trường hợp miễn giảm thuế chi tiết trong căn cứ tính thuế. Hạn chế và nguyên nhân 4. bình quân thời kì 2002-2009 chỉ đạt 7. Bên cạnh đó. Với các quy định về miễn. Việc đánh giá hiệu quả sử dụng BĐS rất phức tạp vì gồm nhiều cơ quan nhà nước khác nhau trong việc quản lý BĐS.2. Các sắc thuế bất động sản chưa động viên thuế hợp lý từ người nộp thuế Chính sách thuế BĐS hiện hành tỏ ra kém hiệu quả. Số thu từ thuế BĐS chiếm tỷ trọng thấp so với thu NSNN. tạo ra những trách nhiệm pháp lý không công bằng giữa những người sử dụng đất và sơ hữu nhà. Nguyên nhân do các sắc thuế đã quá lạc hậu về cơ sở tính thuế.3. pháp luật cũng chưa có quy định chặt chẽ về quản lý hồ sơ nhà ở và đất dẫn đến tình trạng chưa hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.2.1.

QH đã thông qua Luật quản lý thuế có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007 và bãi bỏ các quy định về quản lý thuế trong các luật. đối với những người có thu nhập thấp. Trong nhiều trường hợp đất đai được mua đi bán lại trong tình trạng không có giấy tờ và không nộp thuế. mua bán nhà trao tay không qua đăng kí với cơ quan quản lý nhà nước diễn ra phổ biến. tạo ra nhiều lợi nhuận nhưng người hưởng lợi lại không phải chịu một nghĩa vụ tài chính nào. với quy định đất không có giấy tờ hoặc giấy tờ không đầy đủ vẫn phải nộp. mua sắm BĐS phần lớn để đầu cơ. có nhu cầu thực sự cần sử dụng thì các khoản thuế và phí phải nộp khi thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiện nay lại khá cao và trùng lặp. pháp lệnh về thuế. Chính sách thuế BĐS chưa có tác dụng kiểm soát được hành vi chuyển dịch BĐS.5.2. gây thất thu cho ngân sách Nhà nước về thuế. thực hiện và xử lý vi phạm về thu thuế không còn phù hợp. các sắc thuế BĐS hiện hành còn quy định các vấn đề về quản lý. Khi tiến hành quy hoạch sẽ làm cho một số người tự nhiên được hưởng lợi và một số người bị thiệt hại một cách vô lý. Về thuế nhà đất. Trên thị trường hiện nay còn phần lớn các giao dịch về quyền SDĐ diễn ra nhưng Nhà nước không thu được thuế từ hoạt động chuyển quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ nên thất thu thuế khá lớn. 4. Đối với những người có thu nhập cao. các địa phương . 4. Điều này dẫn đến hiện tượng chuyển quyền sử dụng đất. Do vậy.2.4. Ngược lại. Các công trình hạ tầng kĩ thuật mà Nhà nước đầu tư vào phát triển đô thị nâng giá trị SDĐ.• Về công tác quản lý thuế: Ngày 29/11/2006. Mức thuế SDĐNN và thuế đất mà đối tượng này phải nộp còn thấp nên chưa khuyến khích được người dân sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả. Đó là do thiếu những quy định về thuế BĐS phải nộp . Các sắc thuế bất động sản chưa thực sự góp phần vào việc sử dụng đất có hiệu quả và chưa phát huy được vai trò điều tiết đối với thị trường BĐS Chính sách thuế BĐS hiện hành của Việt Nam chưa phát huy rõ được vai trò điều tiết cung cầu trên thị trường BĐS cũng như hạn chế tình trạng đầu cơ.

biếu tặng bất động sản chưa hợp lý Hiện nay. Việt Nam quy định về thuế thừa kế. Quy định về thừa kế. Điều này đã tạo sơ hở trong việc kiểm soát đối với các hành vi trên thị trường BĐS. Vì thế hiện tượng đầu cơ thu lợi vẫn còn diễn ra khá phổ biến.cũng chỉ quản lý được khoảng 80% các đối tượng nộp thuế và số diện tích đất tính thuế so với diện tích đất do cơ quan địa chính cung cấp (Báo cáo số 93/BCCP ngày 19/10/2007 về tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Ngoài ra. Ban hành Luật thuế nhà đất chính xác và hợp lý Do chính sách thuế lộ rõ nhiều bất cập như thiếu quy định về thuế nhà hay căn cứ tính thuế không hợp lý. chính sách thuế BĐS trong thời gian qua chưa đánh thuế đối với hành vi chuyển quyền sử dụng đất khi người sử dụng đất góp vốn. nhưng trên thực tế quy định này chưa phát huy được tác dụng trong việc quản lý và bình ổn thị trường BĐS.2. Xuất phát từ việc chiếm dụng bất hợp pháp nên đất đai không đầy đủ giấy tờ trong thời gian qua chiếm tỷ trọng tương đối lớn nhưng người chiếm dụng không phải chịu bất kì một khoản thuế gì. một lượng lớn BĐS không có giấy tờ sẽ được giao dịch thông qua thị trường BĐS không chính thức. Mô hình cải cách cần được thực hiện như sau: 1. Tuy nhiên quá trình cải cách cần được tiến hành theo lộ trình và căn cứ vào mục tiêu cải cách đã đề ra. chuyển nhượng đất thuê.6. biếu tặng BĐS trong chính sách thuế thu nhập cá nhân. cá nhân có thu nhập từ CQSDĐ mới được đưa vào đới tượng chịu thuế. 4. Các hộ gia đình. không đảm bảo công bằng xã hội . Bên cạnh đó. góp cổ phần bằng giá trị quyền SDĐ khi nhận tiền bồi thường về đất hoặc được thừa kế. tình trạng sử dụng đất không hiệu quả. đầu cơ BĐS gây thất thoát thu ngân sách. Trong điều kiện như vậy. Chương III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH SÁCH THUẾ BĐS Ở VIỆT NAM Chính sách thuế BĐS hiện hành đã bộc lộ nhiều bất cập nên việc cải cách càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

• Xây dựng sắc thuế thừa kế. tác đọng xấu ddeend nền kinh tế. Ngoài ra. • Hoàn thiện quy định về thuế thu nhập đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản. Tuy nhiên về lâu dài. bao quát được nhiều tình huống thừa kế. Nhà nước nên ban hành ngay Luật thuế SDĐ và Luật thuế nhà để thay thế Luật thuế SDĐNN nhằm hoàn thiện chính sách thuế BĐS. xây dựng mới khi chuyển nhượng các tài sản thuộc danh mục Nhà nước quản lý muốn xác lập quyền sử dụng hợp pháp đối với đất và quyền sở hữu hợp pháp đối với đất và quyền sở hữu hợp pháp đối với nhà và các tài sản khác là đối tượng nộp thuế. bổ sung và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2009. bổ sung chính sách này. 2. Từ những hạn chế về chính sách lệ phí trước bạ hiện hành như tên gọi không đúng bản chất của khoản thu. Việt Nam có chủ trương miễn thuế SDĐNN đến năm 2010. quà tặng về tìa sản với một mức thuế thống nhất là 10%. căn cứ tính thuế và một số vấn đề khác. . nâng cao thành Luật thuế đăng kí tài sản như sau: . Vì vậy. tính pháp lý chưa cao nên cần kế thừa. quyền sử dụng khi mua mới hoặc chuyển nhượng một số tài sản thuộc diện Nhà nước có thể quản lý. cần nghiên cứu hoạt động thừa kế. sửa đổi. trước mắt cần tập trung sửa đổi thuế nhà đất. tặng quà và áp dụng thuế suất lũy tiến.Tổ chức cá nhân khi mua sắm. Cải cách các sắc thuế và các khoản thu tài chính liên quan đến bất động sản • Xây dựng Luật thuế đăng kí tài sản thay thế quy định của Chính phủ về Lệ phí trước bạ. thậm chí kéo dài sau 2010 nên hiện tại chưa cần sử đổi thuế SDĐNN. Thuế thu nhập đối với hoạt động chuyển nhượng BĐS hiện nay gồm thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp. trong đó có BĐS. tặng quà để ban hành một sắc thuế riêng. Hai luật thuế này được sửa đổi. quà tặng.và làm cho thị trường BĐS hoạt động bất ổn.Thuế đăng kí tài sản chỉ đánh một lần vào thời điểm làm thủ tục đăng kí quyền sở hữu. Sau khi chính sách miễn thuế SDĐNN hết thời hạn. . Hiện tại thuế thu nhập cá nhân có quy định về thuế đánh vào thu nhập nhận được do thừa kế.

Theo quy định này có thể hiểu khi cá nhân bán BĐS duy nhất thì sẽ được miễn thuế. Đồng thời.Khoản 2. • Hoàn thiện chính sách thu tài chính khác đối với bất động sản. Cần tính toán để thuế sử dụng đất có thể bù đắp và thay thế khoản thu này trong tương lai. . . khoản thu này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu từ BĐS nhưng sẽ có xu hướng giảm dần vì khi quá trình công nghiệp hóa. mạnh dạn loại bỏ những khoản phí. Để việc xác định giá đất được phù hợp. Nhà nước cũng cần mở rộng diện được hưởng chính sách miễn giảm tiền thuê đất. Nhà nước cần nghiên cứu xây dựng cơ chế tính giá đất có sủ dụng hệ số điều chỉnh và dựa trên sự biến động các yếu tố liên quan. Vì vậy người sở hữu nhiều căn nhà có thể làm thủ tục cho. sản xuất kinh doanh.Đối với khoản thu tiền sủ dụng đất. tặng nhà dất ở.Đối với khoản thu tiền thuế đất.. lệ phí không cần thiết nhằm giảm bớt thủ tục hành chính cho người dân. tuy nhiên khi các khoản thuế BĐS đã chiếm một tỷ lệ cao. hiện đại hóa hoàn thành. Hai bộ luật này còn tồn tại một số hạn chế và cần được cải cách cho phù hợp hơn. Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân có quy định “Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở. . khoản thu này tương đối ổn định. Tuy nhiên vấn đề xác định BĐS duy nhất chưa được quy định chặt chẽ.Đối với các khoản thu khác cần phải rà soát tất cả các khoản thu. tặng người thân rồi bán căn nhà còn lại theo diện BĐS duy nhất. . cần nghiên cứu để giảm dần tỷ trọng của khoản thu này trong cơ cấu thu từ BĐS nhằm khuyến khích đầu tư.Luật thuế thu nhập cá nhân cũng không quy định số lầm được cho. nhu cầu sử dụng đất sẽ giảm. Các giải pháp hỗ trợ thực hiện cải cách chính sách thuế bất động sản • Xây dựng cơ chế giá đất tự điều chỉnh phù hợp với biếc động kinh tế-xã hội.”. . quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở duy nhất. 3.

Nhà nước cần tăng cường các cuộc hội thảo. quản lý được người có nhiều BĐS tại nhiều địa phương khác nhau. phù hợp với chính sách thuế BĐS. nghiệp vụ. đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ thuế. cá nhân trong xã hội hiểu rõ nội dung. tạo sự đồng bộ. từ đó tăng thu cho NSNN. đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền như tổ chức thi. giảng dạy miễn phí …Với mục tiêu làm cho mọi tổ chức. tạo sự đồng tình cao với chính sách thuế mới. . . quản lý thị trường BĐS. Nghiên cứu ban hành Luật đăng kí BĐS nhằm kiểm soát được một người có nhiều nhà. sẵn sàng tự nguyện tham gia và vận động nhân dân cùng thực hiện nghĩa vụ. diễn dàn về chính sách thuế mới. Cơ sở dữ liệu này đảm bảo thông tin kịp thời giưa các cơ quan từ trung ương tới địa phương. Nhà nước cần xây dựng phương pháp quản lý thuế hiện đại.Hoàn thành các công tác cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ nhằm đưa đất đã có chủ sử dụng vào diện chịu thuế.Sửa đổi. Ngoài ra cần có những chương trình đào tạo kiến thức cho cán bộ thuế về quản lý BĐS. bổ sung các quy định pháp luật về BĐS. bản chất tốt đẹp của chính sách thuế BĐS. . công nghệ hóa công tác quản lý. Xây dựng cơ sở dữ liệu BĐS quốc gia. phù hợp với chính sách thuế BĐS. phổ biến việc cải cách chính sách thuế bất động sản. Trong đó: . chính sách thuế BĐS cùng với việc nâng cao đạo đức nghề nghiệp của cán bộ thuế. nhiều đất để tính thuế.• Kiểm soát chặt chẽ việc đăng kí bất động sản và các giao dịch bất động sản. • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền. đào tạo.Quy định rõ ràng và khuyến khích các đối tượng chưa được cấp quyền sở hữu nhà nên đăng kí sở hữu để được nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp. Trên cơ sở đó. Từ đó mới có thể đáp ứng được yêu cầu quản lý hàng loạt sắc thuế BĐS có phạm vi rất rộng và tính toán phức tạp như hiện nay.Thống kê BĐS của người sử dụng (sở hữu). • Hiện đại hóa công tác quản lý thuế và nâng cao kiến thức.

Như vậy.KẾT LUẬN Bài tiểu luận nghiên cứu một số vấn đề cơ bản và mang tính thời sự trong các sắc thuế BĐS hiện hành để tìm ra những hạn chế chủ yếu và đưa ra định huớng và đề xuất giải pháp hoàn thiện. đồng bộ chính sách và phù hợp với mục tiêu phát triển của đất nước. Có thể thấy rằng chính sách thuế BĐS hiện hành ở Việt Nam còn rất nhiều điểm bất hợp lý và chưa phát huy tốt vai trò tạo nguồn thu cho ngân sách. điều tiết thị trường BĐS và đảm bảo công bằng xã hội. Từ đó giúp ban hành và thực thi các chính sách thuế BĐS hợp lý và hiệu quả nhất. việc xác định mục tiêu cải cách chính sách thuế BĐS cần tập trung phát huy đầy đủ vai trò của thuế BĐS. .

gov. 5. “Sử dụng công cụ thuế điều tiết thị trường bất động sản”. Nguyễn Thị Liên – PGS.vn” • “Hội thảo cách đánh thuế tài sản ở Việt Nam” (25/08/2008) .Hà Nội 3. trang 36-39. Em xin chân thành cảm ơn. Nguyễn Văn Hiệu. Nguyễn Thị Mỹ Linh.Quá trình nghiên cứu do giới hạn về thời gian. Kế hoạch thực hiện chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010. PGS. Tạp chí Tài chính (Số 05/2008).mof. Nhà xuất bản Tài chính. Tài liệu hội thảo ngày 23/8/2008. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. nguồn tài liệu nên không tránh khỏi tồn tại những thiếu sót. ETV2 – Bộ Tài chính (2008). Hà Nội (2008).TS. 4. Mong nhận được sự đóng góp từ cô giáo.TS. Website Bộ Tài chính: http://www. 2. Bộ Tài chính (2005). Cách đánh thuế tài sản ở Việt Nam. Giáo trình nghiệp vụ thuế.

• “Thuế tài sản đang đi sau cuộc sống” (17/09/2009) .

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->