Bài thuyết trình

:

I. Thực trạng
1. Số dân: Việt Nam là một quốc gia có dân số khá cao so với mặt bằng chung của khu vực và thế giới. Tính đến 0h ngày 1-4-2009, dân số Việt Nam là 85.789.573 người, đứng thứ 3 trong khu vực sau Philippin và Indonesia, thứ thứ 13 trên thế giới. Và cho đến ngày 31/12/2009, con số này là gần 85,8 triệu người.Từ năm 1999 đến năm 2009, dân số Việt Nam tăng thêm 9,47 triệu người, trung bình mỗi năm nước ta tăng thêm 947 nghìn người. Với tốc độ dân số gia tăng như hiện nay và giữ vững trong nhiều năm tới, chắc chắn đến giữa thế kỉ 21, dân số nước ta vượt qua ngưỡng 100 triệu, lọt vào top 10 của thế giới. Nhận xét biểu đồ : 2. Cơ cấu dân số Nhịp độ già hòa dân số : _Nhịp độ già hóa ở nước ta tăng nhanh hơn nhịp tăng dân số và càng ngày càng tăng nhanh hơn. Từ 1979 đến 1989, dân số tăng them 20% thì người cao tuổi tăng them 25%. Từ 1989- 1999, các tỉ lệ tuong ứng là 18% và 33%. Nhìn toàn bộ thời kì 1979 đến 2007, dân số Việt Nam tăng lên 1,61 lần còn người cao tuổi tăng 2,17 lần. “ Cơ cấu dân số vàng” là gì? Hai người trong độ tuổi lao động mới phải “ gánh một người ăn theo”, người ta nói rằng, đây là “cơ cấu dân số vàng” hay “ Dư lợi dân số”.Giai đoạn 1979- 2007, “ Tỷ số phụ thuộc không ngừng giảm xuống: Năm 1979, cứ 100 người ở độ tuổi lao động phải nuôi 98 người ngoài độ tuổi lao động ( bình quân mỗi người phải nuôi 0,98 người phụ thuộc) Năm 2007 chỉ còn 53,7 giảm tới hơn 45% Năm 2010, nước ta là 1 nước có “ cơ cấu dân số vàng”. Các chuyên gia luôn gọi cơ cấu dân số Việt Nam những năm gần đây là “cơ cấu dân số vàng”. Đó là thời kỳ mà nhóm dân số trong độ tuổi lao động cao gần gấp đôi nhóm dân số trong độ tuổi phụ thuộc. Hơn thế nữa, nhóm phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (14-49 tuổi) tăng nhanh. Tính đến thời điểm này cứ 2 phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ thì mới có 1 người ra khỏi độ tuổi này. Nếu năm 1989, cả nước chỉ có 17 triệu phụ nữ trong độ tuổi này thì qua 10 năm sau con số này đã là 26 triệu. Đây là điều đáng lo ngại với các nhà hoạch định chính sách. Và cũng là lí do khiến các chuyên gia lo lắng về sự bùng phát của làn sóng bùng nổ dân số đợt 2 nếu sự quản lí bị lơ là.

tình hình mất cân bằng giới tính xuất hiện thì tốc độ tăng dân số vẫn cao. tỷ lệ này ở 16 tỉnh. tương đương với số dân của một tỉnh. số lượng bé trai nhiều hơn bé gái.KHHGD 18/7/2007 . Đó là mức tăng dân số “ kỉ lục” được vào cáo tại Hội nghị Công tác dân số . Tốc độ tăng dân số Dân số VN có xu hướng gia tăng nhanh chóng. hơn 73% là nông thôn cư trú trên tuyệt đại bộ phận lãnh thổ nước ta ). . Mật độ dân số: . ven biển với trung du và miền núi. với tỷ lệ chênh lệch là 112/100.13 tr người. Theo thông báo của tổng cục thống kê đến năm 2024 dân số nước ta sẽ vượt 100 triệu dân.86 lần mật độ TQ(136 người/km2) gấp 10 lần các nước đang phát triển. trong khi đó Tây Nguyên là 89 người/km2. thành phố là rất cao. 6.Giữa thành thị và nông thôn (dân thành thị chiếm 27% tổng số dân. Đặc biệt.Chính sách phát triển dân số hợp lí và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động. lúc đó mật độ dân số sẽ lên 335 người/km2.mật độ dân số nước ta cao liên tục gia tăng. sống trên diện tích nhỏ hẹp. Tăng trưởng dân số VN: Hiện nay dân số nước ta đang đứng thứ 13 trên thế giới _ Bình quân mỗi năm nước ta tăng them 1. Tây Bắc chỉ có 69 người /km2 (mức trung bình của cả nước là 254 người/km2) . Năm 2007 mật độ khoảng 254 người/km2. nhưng trong vài năm trở lại đây.225 người/km2. gấp 6-7 lần mật độ dân số trung bình của thế giới(30-40 người/km2). 4. 5. gấp 1.Giữa vùng đồng bằng. từ 115 đến 118 (2007). Cách đây 10 năm tỉ lệ giới tính ở Việt Nam ngang bằng với mức độ trung bình của thế giới là cứ 100 bé gái thì có 105107 bé trai. Phân bố dân số Dân cư phân bố chưa hợp lí . Năm 2006 mật độ dân số ở vùng Đồng bằng Sông Hồng là 1.3.

lọt vào top 10 của thế giới. dân số Việt Nam tăng thêm 9. cả nước chỉ có 17 triệu phụ nữ trong độ tuổi này thì qua 10 năm sau con số này đã là 26 triệu. và Đồng bằng sông Cửu Long. Tính đến 0h ngày 1-4-2009.8 triệu người. Năm 2007.Từ năm 1999 đến năm 2009. tỉ lệ sinh có thể cao hơn nữa vào năm 2008. Với tốc độ dân số gia tăng như hiện nay và giữ vững trong nhiều năm tới. mang lại nhiều cơ hội cho các cặp vợ chồng hiếm muộn… Chính những yếu tố trên đã làm nảy sinh tình trạng mất cân bằng giữa sinh và tử.Mặt khác khoa học kĩ thuật cũng góp phần làm giảm tỉ lệ tử ở trẻ sơ sinh. sự mất cân bằng giới tính đáng báo động theo hướng thừa nam. Hơn thế nữa. Đặc biệt. 1. Và cho đến ngày 31/12/2009. trung bình mỗi năm nước ta tăng thêm 947 nghìn người. Nguyên nhân sự bùng nổ dân số Việt Nam là một quốc gia có dân số khá cao so với mặt bằng chung của khu vực và thế giới.573 người. vùng Tây Nguyên vẫn trên 3 con/ 1 gia đình _ Mấy năm gần đây. Đó là thời kỳ mà nhóm dân số trong độ tuổi lao động cao gần gấp đôi nhóm dân số trong độ tuổi phụ thuộc. Đây là điều đáng lo ngại với các nhà hoạch định chính sách.47 triệu người. thiếu nữ cũng khiến nhiều đàn ông Việt Nam tương lai khó lấy vợ. II. Và cũng là lí do khiến các chuyên gia lo lắng về sự bùng phát của làn sóng bùng nổ dân số đợt 2 nếu sự quản lí bị lơ là.789. Ngoài ra. . Cơ cấu dân số Việt Nam vẫn là cơ cấu dân số trẻ: Các chuyên gia luôn gọi cơ cấu dân số Việt Nam những năm gần đây là “cơ cấu dân số vàng”. thứ thứ 13 trên thế giới. dẫn đến tình trạng tăng dân số một cách chóng mặt. chỉ còn 3 trong tổng số 8 vùng đạt được mức sinh gần 2. tỉ lệ sinh 3 con tăng vọt._ Tính đến năm 2006.1 con gồm Đồng bằng Sông Hồng. dân số Việt Nam “vỡ kế hoạch”. dân số Việt Nam là 85. Đông Nam Bộ. chắc chắn đến giữa thế kỉ 21. dân số nước ta vượt qua ngưỡng 100 triệu. đứng thứ 3 trong khu vực sau Philippin và Indonesia. Nếu năm 1989. con số này là gần 85. nhóm phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (14-49 tuổi) tăng nhanh. Tính đến thời điểm này cứ 2 phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ thì mới có 1 người ra khỏi độ tuổi này.

tỷ lệ sinh con thứ ba đột nhiên tăng vọt. công chức và người dân sống tại vùng đô thị (theo điều tra ban đầu. “Vin” vào điều 10 Pháp lệnh: Các cặp vợ chồng có quyền quyết định số con. vui nhà đã tranh thủ. Lỗi này là do có nhiều cặp vợ chồng (kể cả đối tượng là đảng viên. muôn sinh con trai… Điều này có thể thấy rất rõ ở Việt Nam. Quan niệm lạc hậu: ở một số nước đặc biệt là các nước phương đông vẫn còn một số quan niệm lạc hậu: sinh nhiều con. Dù Nghị định 104/CP về hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Dân số quy định “ít” ở đây được hiểu là chỉ nên có từ 1. tư tưởng trọng nam khinh nữ.2. đẻ thêm. Hà Nội đang là nơi dẫn đầu tỷ lệ sinh con thứ 3)... CBCNV) đã cố tình hiểu sai tinh thần của Pháp lệnh Dân số”. tại các vùng dân tộc thiểu số hoặc các vùng nông thôn thường có tư tưởng sinh càng . thua thiệt hơn và bao vấn đề khác.2 con”. và thời điểm sinh con và Điều 4 quy định nên sinh ít con nhưng không nói rõ ít là bao nhiêu nên nhiều hộ gia đình với mong muốn có con trai hay có thêm con cho vui cửa. nhất là tăng tỷ lệ sinh con thứ 3 với sự góp mặt đột biến của nhiều “khổ chủ” là các đảng viên. Đời sống của một bộ phận dân cư còn khó khăn: Mấy năm trở lại đây. 3. Còn ở nông thôn nơi hơn 70% dân số đang sinh sống những năm trở lại đây khi kinh tế gía đình vươn lên chiếm vai trò chủ đạo thì số con đông bỗng nhiên trở thành một lợi thế hơn so với những gia đình có 1-2 con và không ít trường hợp dẫn đến thu nhập ít hơn. Tính ra đã có tới 38 “điểm nóng” trong toàn quốc về việc phá rào. phá vỡ mô hình truyền thống “mỗi gia đình chỉ dừng lại ở 2 con“ để sinh con thứ ba thậm chí thứ tư… chỉ với mong muốn sinh được một cậu con trai nối dõi. Nhận thức chưa tốt của một bộ phận dân cư: Điều gì khiến dân số nước ta tăng trong năm vừa qua.

Tuyên truyền về kế hoạch hoá gia đình của Đảng và Nhà nước chưa thực sự sát xao đến từng hộ dân. Nhu cầu về "lực lượng sản xuất": ở các quốc gia kém phát triển như ở Việt Nam. lao động chân tay là chủ yếu. do đó mà ở các vùng này gia đình nào cũng có 3 con trở lên. sức lao động càng nhiều. sử dụng lao động cơ bắp. trong xã hội như vậy thì dân số càng tăng. những nơi mà khoa học kỹ thuật chưa mấy phát triển và việc áp dụng khoa học và sản xuất còn rất hạn chế. các nhà khoa học đã tính toán rằng các tài nguyên trên Trái Đất chỉ có thể nuôi sống tối đa được khoảng 11 tỉ người mà thôi. Nếu dân số không được kiểm soát mà vẫn tiếp tục tăng trưởng một cách vô hạn như hiện nay thì viễn cảnh về một ngày tận thế sẽ không còn là quá xa vời. 5. cộng với những nguồn năng lượng có sẵn trong tự nhiên để sản xuât. nhất là ở nôn thôn và các vùng sâu vùng xa. Ở các nước này vai trò và địa vị của người phụ nữ vẫn còn rất thấp. Thiết nghĩ đối với các vấn đề nhạy cảm này ở một nước trình độ dân trí còn thấp như ở Việt Nam thì nhà nước nên có các biện pháp tuyên truyền. nơi mà tình trạng sinh đẻ nhiều con phát triển mạnh nhất. bởi nếu nhìn vào giới tự nhiên thì có thể thấy những loài động vật bị tuyệt chủng hoặc đe dọa tuyệt chủng đều là những loài có số lượng ít ỏi. Có thể nhiều người sẽ cho rằng việc có nhiều người thì sao có thể khiến cho nhân loại diệt vong được. và nguyên nhân của điều đó chính là nằm . Có thể khẳng định vấn đề này có ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn vong của nhân loại. Phải chăng nếu số lượng người trên Trái Đất càng nhiều thì càng đảm bảo chắc chắn hơn cho sự tồn tại của nhân loại chứ? Tuy nhiên thực tế không phải như vậy. để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của từng quốc gia . Các vấn đề nảy sinh từ việc bùng nổ dân số vẫn chưa được tuyên truyền một cách rộng rãi. Do đó mà dân số thế giới của chúng ta không ngừng tăng lên một cách nhanh chóng. I. Tác động của sự bùng nổ dân số thế giới. càng đẩy mạnh sức sản xuất xã hội. khuyên nhủ và giải thích cho người dân hiểu rõ bên cạnh các biện pháp cưỡng chế cũng như xử phạt.nhiều càng tốt và nhất thiết phải có con trai. lực lượng sản xuất vẫn chỉ mới ở trình độ cơ khí thủ công. phụ nữ nhiều nơi vẫn chưa được giải phóng hoàn toàn 4.

Dân số và vấn đề nghèo đói. điều đó là vô cùng khó khăn ngay cả với một quốc gia phát triển chứ đừng nói là một quốc gia kém phát triển. Nếu để ý có thể thấy rất nhiều vấn đề toàn cầu khác chính là xuất phát từ vấn đề bùng nổ dân sô. b. Dân số và vấn đề bệnh tật. những nước nghèo vẫn cứ nghèo. Mặc dù chưa có nhà khoa học nào khẳng định được mối liên hệ giữa vấn đề bùng nổ dân số và bệnh tật. Tây Phi đã xuất hiện tình trạng thiếu nước ngọt hoàn toàn. c. nếu muốn đảm bảo nhu cầu cho số dân mới tăng đó thì thu nhập quốc dân bình quân mỗi năm phải tăng khoảng 13%.[6] Bùng nổ dân số dẫn tới điều liện sống nghèo khổ. một số vùng Nam Á. Có thể lấy ví dụ sau để thấy được điều đó: theo thống kê năm 2000. Ở nhiều nước kém phát triển thuộc châu Phi. chiến tranh xung đột triền miên khiến cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân không được đảm bảo chính là nguyên nhân chính dẫn tới bệnh tật tràn lan ở châu lục này. Tài nguyên than trên thế giới cũng chỉ còn dùng được 1500 năm nữa. mỗi năm phải đào lên được 25 loại khoáng sản trong lòng đất. Trên phạm vi quốc tế. Đông Phi. và ước tính 12 loại tài nguyên khác chỉ duy trì đựoc 50 năm nữa là cùng. a. bùng nổ dân số sẽ dẫn tới sự chênh lệch trong phân phối của cải giữa các khu vực. chủ yếu là ở các quốc gia châu Phi (chiếm tới 2/3 số người mắc bệnh). dịch bệnh gia tăng. Trong phạm vi một quốc gia. việc bùng nổ dân số sẽ khiến cho mức sống của người dân trong nước bị hạ xuống. tại các quốc gia đang và kém phát triển.ở chúng ta. lương thực căng thẳng. lạc hậu. .mức sống của người dân giảm dẫn tới các dịch vụ chăm sóc tối thiểu không được đáp ứng. Trong đó nghiêm trọng nhất là phải kể tới vấn đề thiếu nước ngọt. tuy nhiên trên thực tế. Dân số và vấn đề tài nguyên thiếu hụt. thế giới có khoảng 40 triệu người bị nhiễm AIDS. Trong xã hội công nghiệp hiện đại. có tác giả cho rằng: nếu dân số tăng lên 1% thì thu nhập quốc dân tăng khoảng 4%. Dân số và vấn đề thiếu đất canh tác. d. Ở phương Tây. trong đó 90% là ở các nước đang phát triển. Tài nguyên dầu lửa. để đảm bảo cho cuộc sống của mỗi nguời. khiến cho những nước giàu vẫn cứ giàu. tỉ lệ tăng dân số hàng năm rất cao lên đến 3%. Vào đầu thế kỉ XXI. Trung Mỹ. những nước có tốc độ bùng nổ dân số cao nhất thế giới cũng là những nước mà ở đó vấn đề dịch bệnh đang trở nên rất nghiêm trọng. nếu tiếp tục được khai thác với tốc độ như trong thập niên 90 của thế kỉ trước thì sẽ cạn kiệt đến năm 2016. nhất là Bắc Phi. mặt bằng chất lượng dân số của thế giới bị kéo tuột xuống.

6 mẫu và tới năm 1960 chỉ là 3. rộng lớn tới tương lai của nhân loại. và để đảm bảo sinh tồn cho mình người ta có thể sẵn sàng làm mọi việc. vấn đề bùng nổ dân số cũng là một vấn đề có tầm ảnh hưởng sâu sắc. xã hội. g. đô thị hóa. Cùng với quá trình công nghiệp hóa. Dân số tăng nhanh gây ra nhiều bất ổn trong xã hội. Đầu năm 2008 vừa qua đã xảy ra cuộc khủng hoảng lương thực lớn và chưa bao giờ vấn đề an ninh lương thực lại được đặt ra cấp thiết như lúc này.9 mẫu. Hiện nay đại đa số các đang phát triển tại châu Á.1 mẫu. khai thác đất quá mức…khiến cho sự phá hoại môi trường sinh thái ngày càng tăng lên. Dân số và vấn đề ô nhiễm môi trường.1 mẫu. năm 1960 giảm xuống chỉ còn 7. khủng bố. có ảnh hưởng tới sự tôn vong của nhân loại. Nghiêm trọng hơn. gây nên những hậu quả to lớn. không còn gí nghi ngờ nữa. châu Phi và Mỹ La-tinh đã phải nhập lương thực.Với sự tăng trưởng cùa dân số trên toàn thế giới. hiện đại hóa và đô thị hóa đang diễn ra trên khắp thế giới. sự bùng nổ dân số đã khiến cho tình hình ô nhiễm môi trường ngày càng trở lên nghiêm trọng. Ruộng đất giảm. năm 1968 là 6. việc kiếm được miếng ăn sẽ ngày càng trở lên khó khăn hơn. đó là nạn cướp bóc. Tại các nước đang phát triển. khan hiếm tài nguyên đều có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp.…Dễ thấy khi dân số tăng cao. Có thể thấy vấn đề bùng nổ dân số đối với vấn đề nghèo đói. dân số tăng nhanh làm cho vấn đề lương thực trên phạm vi toàn cầu ngày càng trở lên căng thẳng. Các biện pháp và triển vọng .5 mẫu. thiếu “không gian sinh tồn” có thể dẫn tới các cuộc xung đột. ô nhiễm môi trường. Dân số và vấn đề an ninh. cho đến nay vẫn tiếp tục sử dụng sử dụng một cách rộng rãi các loại thuốc trừ sâu. đó là một minh chứng rõ ràng cho hậu quả của việc bùng nổ dân số tại các nước này. xuất phát từ vấn đề dân số quá nhiều dẫn tới việc thiếu đất sống. bình quann ruộng đất canh tác theo đầu người ngày một giảm đi. do sức ép của việc phát triển kinh tế. Ruộng đất canh tác giảm đi tất nhiên không chỉ vì lí do dân số bùng nổ mà còn do nhiều nguyên nhân khác như quá trình công nghiệp hóa. kể cả phạm tội. e. dịch bệnh. chiến tranh giữa các nhóm người. chính vì vậy. Năm 1950 bình quân ruộng đất theo đầu người trên thế giới là 8. Bản thân các vấn đề đó đã là các vấn đề mang tính toàn cầu. tuy nhiên nguyên nhân dân số tăng lên vẫn là nguyên nhân chủ yếu. năm 1974 còn 5. II.

Cộng đồng quốc tế cũng rất chú ý đến vấn đề này và các biện pháp kiểm soát đã được đề xuất.. đặc biệt là ở các nước kém phát triển và đang phát triển. bản làng để đưa thông tin và dịch vụ đến tận người dân. xóm. Do đó. Một số các biện pháp tiêu biểu như: Một là. ổn định và kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình trong hệ thống tổ chức bộ máy của ngành Y tế.. đặc biệt là duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới cộng tác viên dân số ở thôn. nâng cao nhận thức của người dân. đặc biệt là giới trẻ đối với việc chấp nhận và tự nguyện thực hiện kế hoạch hoá gia đình/ chăm sóc sức khoẻ sinh sản. triển khai mạnh và đồng loạt các chiến dịch lồng ghép truyền thông và cung cấp dịch vụ kế hoạch hoá gia đình ở khu . các tổ chức xã hội và những người có uy tín trong cộng đồng đối với công tác Dân số . Dân số tăng nhanh không phù hợp với mức dộ tăng trưởng kinh tế toàn cầu dẫn đến một loạt các ảnh hưởng tiêu cực khác như đói nghèo. Các biện pháp Vấn đề tăng trưởng dân số với một tốc đột chóng mặt từ trước đến giờ vẫn là một vấn đề mang tính toàn cầu cần sự hợp tác của tất cả chủ thể tham gia quan hệ quốc tế giải quyết. vùng khó khăn.1. tập trung cho vùng nông thôn. chủ yếu là kiềm chế mức độ sinh sản. Hai là. đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả các hoạt động truyền thông. việc kiểm soát sự tăng trưởng dân số đã là một nhiệm vụ mang tính toàn cầu. nhanh chóng củng cố. nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động. di cư.kế hoạch hoá gia đình. nơi mức sinh còn cao. vùng miền núi. đoàn thể. giáo dục và vận động nhằm tăng cường hơn nữa sự cam kết ủng hộ của các cấp ủy đảng. trộm cắp. chính quyền. các ngành.. tiếp tục nâng cao nhận thức và đẩy mạnh hơn quá trình chuyển đổi hành vi trong nhân dân. các đại biểu dân cử.

Ba là. phòng chống HIV/AIDS của ngành nhằm tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực cũng như kết quả thực hiện chương trình. đa dạng cho các nhóm đối tượng. Sáu là. rút kinh nghiệm để xác định mô hình tối ưu để triển khai trong giai đoạn tới.kế hoạch hoá gia đình/chăm sóc sức khoẻ sinh sản.kế hoạch hoá gia đình/chăm sóc sức khoẻ sinh sản với các hoạt động truyền thông trong chương trình y tế dự phòng. các phương tiện và dịch vụ.kế hoạch hoá gia đình. kịp thời. tổ chức thực hiện tốt các chính sách hiện hành. tháng đầu của năm. vận động và cung cấp dịch vụ. đẩy mạnh xã hội hoá công tác dân số . tạo khí thế và đạt nhanh các chỉ tiêu kế hoạch từ những ngày đầu. vệ sinh và an toàn thực phẩm. an toàn và thuận tiện các phương tiện và dịch vụ kế hoạch hoá gia đình/chăm sóc sức khoẻ sinh sản có chất lượng. cán bộ đạt kết quả cao trong tuyên truyền. đảm bảo duy trì cơ cấu giới tính khi sinh ở mức cho phép. xúc tiến mạnh hợp tác quốc tế nhằm tăng thêm nguồn lực đảm bảo thực hiện công tác này. chú trọng kiểm soát chặt tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh để đề xuất và thực hiện các biện pháp can thiệp phù hợp.vực khó khăn. tăng cường các hoạt động tiếp thị xã hội. Tăng cường lồng ghép các hoạt động truyền thông về dân số . Bốn là. . mở rộng và phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ kế hoạch hoá gia đình/chăm sóc sức khoẻ sinh sản nhằm đáp ứng đầy đủ. kế hoạch hoá gia đình/chăm sóc sức khoẻ sinh sản. khuyến khích tập thể và cá nhân thực hiện tốt mục tiêu dân số . đồng thời tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các chính sách có tác dụng thúc đẩy chấp nhận và thực hiện kế hoạch hoá gia đình/chăm sóc sức khoẻ sinh sản trong nhân dân. khu vực đông dân có mức sinh cao. Năm là. mở rộng thử nghiệm một số mô hình nâng cao chất lượng dân số.

● Khảo sát năm 2005. tỉ lệ bé trai/bé gái cũng đạt mức 115/100 ● Nhiều hệ lụy tai hại: xung đột.Bảy là. điều hành. đang và sẽ vẫn là một trong những nhiệm vụ quan trong của Đảng và nhà nước ta trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. nếu không ban hành qui định trên. . ● Tháng 1/2005. một số tỉnh ở Việt Nam. việc ban hành các qui định mang tính áp chế này lại gây ra sự mất cân bằng về giới: ● Nhiều phụ nữ ở Trung Quốc đã phá thai khi biết mình mang thai con gái. Trung Quốc đã có thể có thêm 400 triệu dân. Ổn định dân số đã. Các giải pháp trong thực tiễn của Việt Nam cũng như ở một số nước lớn trên thế giới đã tỏ ra có hiệu quả bước đầu : Ban hành các giải pháp về luật: ● Việt Nam qui định mỗi gia đình chỉ có 1-2 con. tệ nạn xã hội. ● Thế hệ trẻ ngày nay đã có sự thay đổi về quan niệm sinh con. nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học. ● 40 triệu người dân Trung Quốc đối diện nguy cơ không có bạn đời trong tương lai. án mạng. ● Hiệu quả của biện pháp này là nhanh chóng. ● Trung Quốc ban hành qui định mỗi gia đình có 1 con từ năm 1979. tức thì. chương trình và hoạch định chính sách. chấp nhận có ít con để nuôi dạy cho tốt. tỉ lệ bé trai/bé gái ở Trung Quốc là 119/100 (thế giới: 105/100). hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý. đảm bảo các cơ sở thông tin và khoa học cần thiết cho công tác chỉ đạo. Theo tính toán. Riêng đối với trường hợp của Việt Nam thì vấn đề dân số từ xưa đến nay đã là một vấn đề cần sự can thiệp của các cơ quan chính quyền nhà nước. Tuy nhiên.

nước ta đã từng bước vươn lên khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế và trở thành một quốc gia đang trên đà phát triển. qui định cho phép người trên 18 tuổi mua thuốc tránh thai khẩn cấp vào năm 2007 đã khiến doanh số loại thuốc này tăng gấp đôi. sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. ● Các biện pháp tránh thai giúp giảm tỉ lệ sinh con ngoài ý muốn. Sự bùng nổ dân số ở Việt Nam đã tác động rất nhiều đến đời sống xã hội của người dân. vừa hạn chế gia tăng dân số. Nhà nước. gái bán hoa tại các khu vực nhạy cảm. vừa giảm thiểu lây truyền các bệnh xã hội. ● Một số biện pháp “cực đoan” như triệt sản sẽ khiến người được thực hiện trở nên vô sinh. Việt Nam hy vọng nâng cao ý thức người dân trong việc hạn chế gia tăng dân số. Chừng ấy thời gian là chưa đủ để Việt Nam có thể khắc phục hết những di chứng của chiến tranh và vươn lên phát triển. góp phần lớn trong nỗ lực giảm dân số của các chính phủ những năm gần đây. lại vừa trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ trong thế kỷ XX và giành độc lập thống nhất nước nhà mới được hơn 30 năm. Nhưng cũng chính vì điều này mà Việt Nam cũng đã không phải là một ngoại lệ khi trở thành “nạn nhân” của những vấn đề toàn cầu trong đó có dân số. việc tránh thai không đạt hiệu quả như mong muốn. Những năm cuối của thế kỷ XX trở về trước. khiến nhiều trường hợp. tốc độ gia tăng dân số ở nước ta thuộc hàng cao nhất thế giới. Đặc biệt khi nước ta có tới hơn 80% dân số sống bằng nông nghiệp thì sự bùng nổ dân số kéo theo việc ảnh hưởng đến diện . ● Tổ chức phát bao cao su miễn phí cho thanh niên.Đây cũng là mặt trái cần chú ý của biện pháp kế hoạch hoá 2) Tuyên truyền các biện pháp tránh thai ● Rất nhiều các biện pháp tránh thai đã được áp dụng tại Việt Nam từ những năm 1980. ● Tất cả các biện pháp tránh thai đều ẩn chứa nguy cơ thất bại. gây nên hậu quả vĩnh viễn đối với họ. ● Ở Mỹ. Tuy nhiên nhờ công cuộc đổi mới 1986. 3) Các giải pháp dài hạn ● Với hệ thống tuyên truyền viên đến tận cơ sở. Liên hệ thực tại ở Việt Nam: Nước ta là một nước nhỏ.

308. ý thức của người dân trong vấn đề này ngày càng được cải thiện và nâng cao. dân số Việt Nam khoảng 1 triệu người.Tỷ lệ gia tăng dân số trung bình hàng năm đã giảm từ 1.2009 là 85.tích đất canh tác bình quân trên đầu người ngày một giảm đi. Thế nhưng từ 1986 đến nay.. từ 1926 đến 1965. năm 1901 cả nước có 10 triệu người.. tỷ lệ gia tăng dân số giảm thấp nhất trong vòng 50 năm qua.573 người. dân số Việt Nam đã đi vào quỹ đạo ổn định và cũng có dấu hiệu tích cực khi tỷ lệ sinh và tỷ lệ tử đang giảm đi đáng kể. Kết quả đó một phần là nhờ vào chính sách hợp lý của nhà nước. mở ra triển vọng thực hiện được mục tiêu mà nhà nước đã đề ra là tiến tới ổn định quy mô dân số từ giữa thế kỉ 21. tỉ lệ tăng dân số đã giảm dần từng năm.789.2% (giai đoạn 1999 – 2009 .1999) xuống còn 1. . về giáo dục. tăng 8 bậc so với năm 2005. số người tăng thêm mỗi năm ở mức dưới 1 triệu người. Chính phủ và nhà nước đã rất cố gắng để ổn định sự gia tăng dân số. dân số tăng gấp 2 lần. thời vua Hùng dựng nước.Hiện tỷ lệ sinh con thứ 3 giảm từ 20. năm 1926 là 16.Quy mô dân số của Việt Nam đến thời điểm tháng 4.Tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của một phụ nữ) giảm xuống còn 2. Mỗi năm Việt Nam tăng thêm 974. Và cơ bản cho đến thời điểm này..7% (giai đoạn 1989 .với hàng loạt những hành động biện pháp giúp đỡ chính phủ ta thông qua các dự án về xóa đói giảm nghèo. 2. trong khi số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tăng lên so với trước đó .000 người. .000 người và đây cũng là lần đầu tiên trong nhiều thập kỷ. Nước ta cũng hết sức tạo điều kiện cho các tổ chức tình nguyện về vấn đề dân số và trẻ em đến hoạt động tại Việt Nam trong đó đáng kể nhất là: Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF). chỉ 25 năm dân số đã tăng gấp đôi.Theo sử sách. . Triển vọng Triển vọng ngăn chặn sự bùng nổ dân số ở Việt Nam Đầu tiên chúng ta nên khẳng định Có hay không triển vọng ngăn chặn việc bùng nổ dân số ở Việt Nam trong tương lai??? Theo một số bài báo và một số chyên gia cho rằng VN sẽ diễn ra bùng nổ dân số lần 2 trong 10 năm nữa. với số thời gian 30 năm. khoảng năm 2000 TCN..Chỉ số HID của Việt Nam đứng thứ 116/177.8% năm 2005 xuống còn 16% năm 2009 . từ 1960 đến 1985. làm tốt công tác tuyên truyền. Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA). Tuy nhiên chúng tôi xin đưa ra 1 số dữ liệu sau: Kết quả sơ bộ của Tổng cục điều tra Dân số và nhà ở mới đây cho thấy.03 con và đạt mức sinh thay thế .

2 con + nhận thức của người dân trong đó là phần lớn giới trẻ đã có sự thay đổi: sinh ít con để nuôi dạy được tốt hơn Đó là những tín hiệu tốt đẹp để chúng ta tin tưởng và hy vọng rằng trong tương lai Vn sẽ thực sự ngăn chặn được sự bùng nổ dân số . . . Và những cơ sở đó là: Kinh tế VN đang có những bước tiến đáng kể + sự quyết liệt của pháp luật :mỗi gia đình chỉ nên sinh 1. nhận thức trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình còn hạn chế. Việt Nam ngày càng khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế. lạc hậu . 3. nếu muốn giảm bùng nổ dân số trong tương lai ở Việt Nam thì việc đầu tiên phải làm là ( một trong những biện pháp dài hạn là) nâng cao đời sống người dân bằng việc phát triển kinh tế. Tác động: . 2. trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định. 2. Quyết định thời gian và khoảng cách sinh con. Khi đời sống ổn định rồi.vấn đề đang rất nóng bỏng hiện nay. cá nhân trong việc thực hiện cuộc vận động dân số và kế hoạch hóa gia đình. thì việc nâng cao ý thức người dân trong công tác kế hoạch hóa gia đình sẽ không còn là vấn đề quá lớn nữa. Sinh 1 hoặc 2 con.Do kinh tế kém phát triển. Như đã nói ở trên. chăm sóc sức khỏe sinh sản: 1. một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên tình trạng bùng nổ dân số ở VN là nhận thức của người dân. bệnh lây truyền qua đường tình dục.Như vậy có thể khẳng định rằng chúng ta phải thừa nhận tốc độ gia tăng dân số đang chậm lại. thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản. HIV/AIDS và thực hiện các nghĩa vụ khác liên quan đến sức khỏe sinh sản”. đời sống con người còn nghèo nàn. Tại Pháp lệnh sửa đổi điều 10 của Pháp lệnh Dân số số 15/2008/PLUBTVQH12 ngày 27/12/2008 thì Điều 10 của Pháp lệnh Dân số năm 2003 được sửa đổi như sau: “Quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng. Bảo vệ sức khỏe. với vai trò là chủ tịch ASEAN Việt Nam đã và đang đạt được những thành công đáng kể trong nỗ lực tăng trưởng kinh tế đất nước.Trình độ dân trí chưa cao. Năm 2010.Do những hủ tục phong kiến lạc hậu còn tồn tại cho đến tận này nay…. Vì thế. Trong xu thế hội nhập với thế giới.. Việc sinh con thứ 3 ( không thuộc 1 trong 7 TH được sinh con thứ 3 do PL quy định) sẽ là vi phạm pháp luật. 1. vì vậy nói Việt Nam có thể ngăn chặn vấn đề bùng nổ dân số là hoàn toàn có cơ sở.

mất cân bằng tự nhiên và xã hội .bệnh dịch lây lan. trình độ mù chữ cao.cạn kiệt nguồn tài nguyên. suy thoái nòi giống .kìm hãm sự phát triển của đất nước 3. ô nhiễm môi trường .. Nhận thức của giới trẻ .rối loạn xã hội. thiếu nước) . khổ cực.thất nghiệp.kinh tế nghèo nàn lạc hậu.( đói kéo dài. tệ nạn xã hội tăng . thất hoch. trình độ dân trí thấp .

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful