co mot tap tai lieu viet ve cach do van toc anh sang phylearn2005: trong bai thi Apho

cung co mot bai do anh sang phylearn2005: bang nguyet thuc phylearn2005: phuong phap Michelson phylearn2005: giao thoa phylearn2005 is typing... phylearn2005: phuong phap cua Fizoeu Vào khoảng năm 1670, nhà thiên văn người đan mạch Ole Roemer đã tiến hành quan sát mặt trăng IO của Sao Mộ phylearn2005 is typing... phylearn2005: day la trong bai thi Apho

ừa đọc được một phương pháp đo vận tốc ánh sáng trong môi trường chất lỏng. Phương pháp này được Fizeau sử dụng vào năm 1951, chính xác là đo vận tốc ánh sáng trong môi trường chuyển động. Mô tả: Một tia sáng đơn sắc đi từ nguồn sáng laser A đến một bản nửa phản xạ B chia làm 2 tia. Hệ tia phản xạ BKDEB sau khi phản xạ trên B một lần nữa rồi đi vào máy giao thoa F. Hệ tia truyền qua BEDKB sau khi truyền qua B một lần nữa rồi cùng đi vào máy giao thoa F. Hai tia sáng kể trên đi qua một quãng đường như nhau nhưng các tia sáng KD và BE thì truyền qua chất lỏng. Nếu môi trường chất lỏng đứng yên thì hiệu quang trình của hai tia sáng vào F là như nhau. Tuy nhiên trong thí nghiệm thì môi trường là đang chuyển động với vận tốc u. Điều này làm cho hiệu quang trình của hai tia sáng vào F là thay đổi, dẫn đến sự lệch của vân sáng trung tâm. Đo độ lệch của vân sáng trung tâm, ta có thể tính lại hiệu quang trình của hai tia. Nếu đo chính xác các khoảng cách KD và BE ta sẽ xác định được vận tốc truyền ánh sáng trong chất lỏng đối với hệ quy chiếu đứng yên.

Chú ý rằng vận tốc ánh sáng trong chất lỏng chuyển động tính theo v = c ± ku với: Các nhà khoa học đã đo vận tốc ánh sáng như thế nào?
Phan Thanh Hiền

Đó là một câu hỏi rất hay. Vào đầu thế kỉ 17, rất nhiều nhà khoa học đã tin rằng không có cái gì gọi là “vận tốc ánh sáng”; họ nghĩ ánh sáng có thể di chuyển tức thời, không cần thời gian. Nhưng Galileo không đồng ý, và ông ta bắt đầu tiến hành thí nghiệm đo vận tốc ánh sáng. Ông và người trợ lý mỗi người cầm một cái đèn, đứng trên đỉnh đồi cách nhau một dặm. Galileo bật đèn, và người trợ lý được dặn là sẽ bật đèn của anh ta ngay khi thấy ánh sáng từ đèn của Galileo. Galileo muốn đo xem mất bao lâu ông ta mới thấy ánh đèn từ bên kia đồi.

các nhà du . Trước sự ngạc nhiên của ông. nghĩa là bạn nhìn thấy Sao Mộc và mặt trăng của nó 1 giờ trong quá khứ. biết được thời gian di chuyển của Io và sự thay đổi khoảng cách giữa Trái Đất và Sao Mộc như thế nào. Vậy là khi nhìn Sao Mộc qua kính thiên văn. Người ta làm như thế nào? À.. dụng cụ thiết bị đã phát triển.Và ông ta có thể chia cho khoảng cách để tính vận tốc ánh sáng.76 ngày để quay 1 vòng quanh Sao Mộc. Thế nên Roemer hy vọng là ông có thể dự đoán chính xác chuyển động này. nhiều người đã đo vận tốc ánh sáng một cách chính xác hơn. Tại sao quĩ đạo của nó đôi khi nhanh hơn và đôi lúc chậm hơn ? Đó cũng là điều mà Roemer thắc mắc.000005s) mà khoảng đó thì ko có dụng cụ nào thời của Galileo đo được. ánh sáng đi 1 dặm trong 1 thời gian cực ngắn (khoảng 0. Cứ cho rằng nó mất 1 tiếng đi. nó chỉ xuất hiện ở vị trí khác nhau phụ thuộc vào thời gian ánh sáng cần để đi thôi. Vậy cái mà ta cần là một khoảng cách rất lớn để ánh sáng di chuyển. Thật ra IO đã không thay đổi quĩ đạo của nó. cỡ vài triệu dặm. nó có hơi chậm hơn ngày giờ đã định một chút. (khoảng 300. ông thấy rằng vệ tinh này không xuất hiện đúng ở chỗ mà nó được dự đoán. Và điều ngược lại sẽ xảy ra nếu Sao Mộc và Trái Đất ở gần nhau hơn. Vào khoảng năm 1670. ta có thể đo nó với độ chính xác không ngờ. nhà thiên văn người đan mạch Ole Roemer đã tiến hành quan sát rất cẩn thận mặt trăng IO của Sao Mộc. nghĩa là nó sẽ cần 1 khoảng thời gian để đi từ Sao Mộc tới Trái Đất. còn ở thời điểm khác thì nó sớm hơn một chút. thì ánh ánh sáng sẽ mất thời gian lâu hơn để đi từ đây tới đó. Roemer ghi nhận rằng IO tới sớm hơn vị trí dự đoán trrên quĩ đạo của nó khi Trái Đất ở gần Sao Mộc hơn. cái mà bạn nhìn thấy hiện nay là ánh sáng được truyền đi từ 1 tiếng trước. Việc đó có thực hiện được không? Vấn đề là vận tốc ánh sáng thường quá lớn để đo được bằng cách này. Tuy nhiên. Vào một thời điểm chính xác của năm. A! tôi biết vì sao lại như vậy rồi. Thật khó hiểu. Khi Sao Mộc ở xa hơn. Hãy nghĩ thế này: nếu ánh sáng không di chuyển nhanh tức thời. Đốm đen là bóng của IO. và không ai có thể nghĩ ra một cách trả lời xác đáng. Roemer có thể tính được vận tốc ánh sáng. Với công nghệ kỹ thuật ngày nay. và theo lý thuyết thì chu kỳ quay này phải luôn có thời gian như vậy.. Và nó tới chậm khi Trái Đất ở xa Sao Mộc hơn. có lẽ là 1 tiếng 15 phút trước thay vì 1 tiếng.000 dặm/s hay 300. Ông ta tính ra là 186. IO mất 1. Trong chuyến lên Mặt Trăng của tàu Apollo 11. Đúng rồi đó! Bây giờ.000km/s Nhiều năm sau.000 km/s). Vậy là Roemer đã nhìn thấy IO sớm hơn bình thường.

17 March 2009 11:57 Vào cuối thế kỉ 19. khoảng 2. Nhà khoa học ở Trái Đất có thể dùng laser chiếu vào guơng đó và đo ánh sáng phản chiếu lại. Newcomb đã xác định kích thước của hệ mặt trời với độ chính xác vô địch mãi cho đến tận hàng thập niên sau khi ông qua đời. hơn 200 năm sau những quan sát của Roemer. như sóng radio và vi sóng. Ông đã đo vận tốc với số đo như thế: 300. Vận tốc của chúng có được đo cùng cách như vậy không? Có. ông quyết định.hành đã gắn gương phẳng vào 1 hòn đá trên mặt Trăng. Năm 1854.000 km/s. được cho là di chuyển trên cùng 1 vận tốc như ánh sáng. và ông đã rời bước không tham gia cuộc thẩm vấn.000km/s và đó là bằng chứng hùng hồn rằng ánh sáng và sóng điện từ có vận tốc như nhau. vào bất kỳ thời điểm nào cũng đạt được cùng 1 kết quả: gần bằng 300. ở tuổi 19. vào năm 1888. Nhưng ông chẳng biết làm sao mình được nhận vào. Tấm gương phản chiếu tàu Apollo 11 đã để lại trên Mặt Trăng Simon Newcomb. Ông không thể mạo hiểm chịu nhục bị người ta đuổi ra. nhà thiên văn học vĩ đại của nước Mĩ Tuesday. Ảnh. ông không phải là công dân Mĩ và chỉ có chút kiến thức thiên văn học mà ông có thể khẳng định rằng là do ông tự lượm lặt từ một vài cuốn sách đã cũ rích. . Simon Newcomb đứng bên ngoài những cánh cổng của Đài quan sát Hải quân Mĩ ở thủ đô Washington khát khao được vào bên trong để xem những chiếc kính thiên văn và có lẽ còn gặp mặt một trong các nhà thiên văn ở đó.5 s cho 1 chu kỳ (Ý tưởng này không khác mấy so với Galileo) Và bất cứ ai dùng cách này để đo vận tốc ánh sáng. Heinrich Hertz đã phát sóng điện từ phòng thí nghiệm của ông. Những loại sóng điện từ khác.

Ông xem Cambridge là trung tâm trí tuệ của quốc gia và thích có một chỗ đứng ở Harvard hơn. ông vẫn không phải là công dân Mĩ. Newcomb trở lại Đài quan sát Hải quân nhận vai trò giáo sư toán học. Garfield thắng cử chương trình Sao Kim đi qua Mặt trời của người Mĩ và phụ trách việc mua sắm chiếc kính thiên văn khúc xạ có độ mở ống kính lớn nhất thế giới cho Đài quan sát Hải quân. tốt nghiệp Khoa Khoa học Lawrence ở trường Đại học Harvard. nhưng quyết định bổ nhiệm ông làm sĩ quan hải quân do chính tay tổng thống Abraham Lincoln kí. ông đã bỏ ra không biết bao nhiêu thời gian một mình nghiên cứu toán học và thiên văn học. nhưng cả hai điều đó đã không xảy ra. Newcomb đã có đủ vận may gặp được người anh hùng thời Nội chiến General James Abram Garfield. Sinh ra ở Canada. . làm việc như một ‘máy tính’ tại Văn phòng Niên giám Hàng hải ở Cambridge. hay có lẽ còn là một nhà toán học tại Văn phòng Niên giám Hàng hải nữa. Chỉ vài tháng sau chuyến trở lại Washington của ông. Thủ đô Washington không phải là trung tâm trí tuệ của quốc gia. Sau đó. và đã thực hiện một chuyến hành trình gian khổ dài 4000km từ Cambridge đến các miền hoang dã ở miền trung Canada với tư cách là thành viên của đội khoa học người Mĩ tổ chức quan sát nhật thực toàn phần của Mặt trời. có nhiều lí do để người ta làm việc cho một cơ quan thiết yếu phục vụ cho chiến tranh. mùa thu năm 1861. thật khó mà tưởng tượng làm thế nào Newcomb có thể tìm được một vị trí phù hợp tốt hơn với những tài năng ngoại hạng và các tham vọng của ông. Chẳng phải Newcomb muốn tìm một chỗ đứng nào đó tại Đài quan sát Hải quân sau chuyến viếng thăm hụt của ông. nơi những mối giao tiếp thích hợp có thể mang lại sự ủng hộ cho nghiên cứu khoa học vượt xa những phương tiện mà đa số các viện học thuật có được. với thu nhập đủ để kết hôn và xây dựng gia đình. Và với đất nước ở vào những ngày đầu của một cuộc nội chiến.Bảy năm sau. Một thế kỉ sau khi ông qua đời. nhưng nó là trung tâm quyền lực. Là một giáo sư tại Đài quan sát Hải quân sẽ mang lại cho ông sự an toàn và một địa vị tôn kính trong cộng đồng khoa học. Trong những năm tháng giữa hai lần đó. Massachusetts.

thực hiện ở các trạm phân bố rộng rãi có kinh độ và vĩ độ đã biết. Năm 1716. bộ sưu tập các công trình nghiên cứu của ông lưu giữ ở Thư viện Quốc hội chứa hơn 46. GM – là cần thiết để tính toán rõ ràng bán trục lớn của quỹ đạo Trái đất. Tuy vậy. Hội Thiên văn học Thái Bình Dương đã tuyên bố trong phần biểu dương của mình rằng “ông đã đóng góp nhiều hơn bất kì người Mĩ nào khác kể từ thời [Benjamin] Franklin để làm cho nền khoa học Mĩ được tôn vinh và trọng vọng trên toàn khắp thế giới”. Những lần đi qua đó của Kim tinh hiếm gặp trong vòng tuổi thọ của một người. Những người bạn Mĩ thì tôn vinh những thành tựu của ông với những mức độ danh dự. hoặc bán trục lớn của bất kì hành tinh nào khác. trong đó có Huy chương Copley 1890. giống như những người khác trước ông từng như thế. do Hội Hoàng gia London trao tặng. một lần đi qua cách lần kia tám năm. khi Kim tinh đi qua giữa hai vật thể đó. toán học. bằng cách so sánh các quan sát. ông cũng đã sắp đặt một cách độc lập một con đường khác để đi đến cùng mục tiêu đó. và không phải rời khỏi Washington. Mặt trời vẫn là một bí ẩn. vẫn có một chút hi vọng cho người ta ước tính chính xác khối lượng của nó. và khi trao cho ông Huy chương vàng Catherine Wolfe Brune đầu tiên.000 đề mục. nhà toán học và thiên văn học người Scotland. Optica Promota. khoảng cách từ Trái đất đến Mặt trời. đề xuất rằng người ta sẽ có thể xác định chính xác khoảng cách từ Trái đất đến Mặt trời. Trong cuốn sách năm 1663 của ông. Cuối cùng. nhận thấy giá trị của hằng số hấp dẫn vũ trụ G và khối lượng M của Mặt trời – hay ít nhất là tích của chúng. nhưng bản thân các cặp cách nhau hơn một thế kỉ. Sự đi qua của Kim tinh Trong số những cuốn sách Newcomb đọc và tìm ra lối đi cho mình là cuốn Những nguyên lí toán học của Triết học tự nhiên của Isaac Newton. vật lí học và kinh tế học nằm ngoài phạm vi của bài báo này. Chúng ta tập trung vào những đóng góp của Newcomb cho một trong những vấn đề thiên văn học trọng điểm của thời kì ông: đó là xác định chính xác đơn vị thiên văn. và cho đến khi cơ sở vật lí của phần bên trong của nó được hiểu tốt hơn. Edmond Halley đã đệ trình lên Hội Hoàng gia London một đề . Chúng xảy ra thành cặp. người ta cho rằng Newcomb là thiên văn học lừng danh nhất thế giới. Một bản kê đầy đủ nhiều thành tựu của Newcomb về thiên văn học. James Gregory. thường được gọi gọn là cuốn Principia.Vào cuối thế kỉ 19. nhưng ông đã thất vọng. Newcomb đã làm mọi thứ ông có thể để đảm bảo cho sự thành công của những chiến dịch to lớn của người Mĩ nhằm xác định chính xác hơn đơn vị thiên văn bằng cách quan sát sự đi qua của Kim tinh vào năm 1874 và 1882. với chi phí rất thấp. Ông bị gây ấn tượng sâu sắc bởi phát triển của Newton về các phương trình của chuyển động đối với các vật thể trong hệ mặt trời (xem phần chữ trong bảng bên dưới). Thật vậy. Các học viện và hiệp hội khoa học châu Âu liên tục trao cho ông các vinh dự cao nhất của họ. ông đã thành công trong việc suy luận ra một giá trị chính xác hơn sớm hơn.

Pháp. Nếu Quốc hội có thể phê chuẩn tài trợ cho một chương trình của người Mĩ. Về phương diện sự nghiệp. mất khoảng 20 phút giữa lần tiếp xúc thứ nhất và thứ hai.5 triệu kilomet. Chuyển động tương đối giữa Kim tinh và Mặt trời. khi nhìn từ Trái đất. Newcomb biết rằng các nhà quan sát khác nhau ở cùng một nơi thường không đồng ý với nhau về thời gian của mỗi lần tiếp xúc. Về mặt nhân cách của cuộc đời ông. Đức. Năm 1869. nếu không tốt hơn.xuất gồm một kế hoạch chi tiết nhằm thu thập các quan sát đi qua đó. Thông thường. hoan hỉ với sự ra đời của ba cô con gái và thương tiếc tiễn đưa người con trai mới sinh đã qua đời. Một trở ngại trong việc quan sát các lần đi qua bằng mắt là không có cách nào cho các quan sát thực hành cả. nhưng Newcomb vẫn tìm được thời gian nghĩ tới sự tiếp cận nhanh chóng lần đi qua năm 1874 của Kim tinh. mặc dù ông biết rằng ông không có khả năng sống để mà thấy cặp đi qua tiếp theo vào năm 1761 và 1769. đã lấy vợ. Newcomb có lí do để cho rằng ông sẽ sống để nhìn thấy những lần đi qua năm 1784 và 1882 của Kim tinh và ông sẽ có khả năng tham gia vào bất kì chiến dịch quan sát nào do người Mĩ thực hiện. xảy ra vài giờ sau đó. Bốn lần tiếp xúc hành tinh-Mặt trời xảy ra một lượt. Sự khác biệt đủ lớn cho thuyền trưởng James Cook ghi lại mối quan ngại của ông về độ chính xác của các quan sát do các thành viên của đội thám hiểm của ông thu nhặt ở Papeete. Các phương pháp truyền thống quan sát một lần đi qua là ghi lại những khoảng thời gian chính xác khi rìa của hành tinh và Mặt trời dường như đi vào tiếp xúc nhau – hai lần khi hành tinh đi lên bề mặt Mặt trời và hai lần khi nó đi ra khỏi4. thật chậm.xấp xỉ 7. ông đã bắt đầu các quan sát cho một catalog sao sáng cơ bản mới. Halley mất năm 1742. Ông biết rằng các quốc gia châu Âu sẽ tổ chức những chương trình đặc biệt nhằm quan sát sự kiện đó. và 20 phút giữa lần tiếp xúc thứ ba và thứ tư. Newcomb muốn làm mọi thứ ông có thể để đảm bảo rằng các kết quả ít nhất là có chất lượng ngang bằng. hay nhiều . hoàn thành một nghiên cứu về quỹ đạo của Thiên vương tinh và Hải vương tinh. Tahiti. ông đã trở thành một công dân Mĩ. và năm 1870. kết quả của người châu Âu. Thập niên đầu tiên của ông tại Đài quan sát Hải quân đã trôi qua. năm 1769. Mặc dù bị bao vây bởi công việc. và đã đến Iowa để quan sát một lần nhật thực. ông đã thực hiện chuyến hành trình xuyên Đại Tây Dương đầu tiên của mình sang châu Âu để quan sát một kì nhật thực và gặp gỡ các nhà thiên văn học hàng đầu của nước Anh. nhưng phần nhiều chương trình quan sát do ông đề xuất đã được thực hiện. ông được bầu làm viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học quốc gia. và Nga. Các ước tính của đơn vị thiên văn do các nhà quan sát khác nhau suy luận ra bằng các quan sát của lần đi qua năm 1769 chênh lệch nhau đến 5% .

đặc biệt khi chúng hoạt động trên các tuyến cáp xuyên đại dương hỏng hóc thường xuyên. Bằng cách quan sát những lần che khuất Mặt trăng khi những ngôi sao đã biết đi phía sau rìa của Mặt trăng. đã mời Newcomb đến nhà riêng của ông để thảo luận công việc trong buổi ăn tối. Các so sánh thời gian điện báo thì không tiện lợi cho lắm và thường không xác thực. nên ông đã sáng tạo ra những bảng đặc biệt cho các đội quan sát sự đi qua sử dụng. Bản thân Garfield sẽ lái hướng các yêu cầu ngân sách trước Quốc hội. chỉ riêng các phân bổ đặc biệt. Newcomb đã thiết kế ra một chiếc camera mới và độc nhất vô nhị gồm một kính thiên văn định nhật tiêu cự dài. Newcomb đã khổ sở nhận thấy các bảng số liệu Mặt trăng tốt nhất sẵn có khác đáng kể với những quan sát gần đó. một giáo sư toán học khác tại Đài quan sát Hải quân. Trong quãng thời gian tồn tại của chương trình tám năm.5 triệu kilomet. không bao gồm tài trợ chung. các nhà quan sát có thể xác định chính xác kinh độ. là sử dụng công nghệ chụp ảnh đang ra đời. và một tấm phim lắp ráp5 (xem hình 2 và 3). Newcomb không hề tham gia bất kì đội nào gửi đi quan sát sự đi qua năm 1874. chủ tịch Ủy ban phân bổ ngân sách của Thượng viện Mĩ. Ngay cả những chiếc đồng hồ tốt nhất có sẵn khi đó cũng sẽ bị lệch hàng giây trong hàng tuần mà các đội quan sát di chuyển đến những nơi xa xôi hơn. Newcomb được bổ nhiệm làm thư kí của Ủy ban về Sự đi qua của Kim tinh của người Mĩ vào năm 1871 (hình 1). cố định. Newcomb thật .nhất là hai lượt. Nhưng có một trở ngại còn cơ bản hơn nữa: Mặt trời không có biên ngoài rõ nét. Trách nhiệm của ông là chuẩn bị thông tin mang tính chương trình và dự toán ngân quỹ để đệ trình với Quốc hội. đã cộng lên tới 375000 đô la. Ông cũng không tiến hành các quan sát ước tính đơn vị thiên văn – nhiệm vụ đó giao cho William Harkness. Garfield. tức hơn 7 triệu đô la theo mệnh giá năm 2009. Việc xác định kinh độ ở những nơi xa xôi vẫn là một thách thức. trong một đời người khó mà mang lại cơ hội để rèn kĩ năng. khoảng 1. sử dụng một đồng hồ vẫn giữ ổn định trong những khoảng thời gian ngắn cỡ vài giờ. hoặc không thể thực hiện. Không có chuyện các chính khách tra hỏi các nhà khoa học về từng đồng tiền đầu tư. Newcomb kết luận rằng hi vọng duy nhất của việc thu thập quan sát của những lần đi qua sắp tới sẽ mang lại một ước tính của đơn vị thiên văn tốt hơn 1%. Trong khi camera đang được chế tạo thì ông chuẩn bị những tài liệu chi tiết để đảm bảo rằng các quan sát do những đội người Mĩ thực hiện sẽ có độ chính xác cao nhất khả dĩ. Dựa trên lời khuyên từ các chuyên gia có kinh nghiệp chụp ảnh Mặt trời. với Newcomb cung cấp bất kì thông tin nào cần thiết khi quá trình được triển khai. Mỗi người quan sát phải vạch ra một rìa bằng mắt riêng của mình.

Garfield đã chịu đựng hơn 10 tuần trước khi qua đời vì bị nhiễm trùng bụng quá nặng. Ông đã khảo sát những cách tiếp cận khác nhằm giải quyết vấn đề và dừng lại ở một phương pháp khác. Chẳng có quyền lực gì để buông lơi nhiệm vụ được phân công của ông tại Đài quan sát Hải quân. Các thí nghiệm vận tốc ánh sáng Bắt đầu với những ý tưởng rất sớm của ông về việc suy luận ra đơn vị thiên văn từ các quan sát những lần đi qua của Kim tinh. Newcomb thì đưa ra thủ tục ngược lại. Newcomb hết sức đau lòng trước cái chết của vị chính khách “duy nhất thật sự đáng kính” mà ông từng biết. Năm . Ngày 02/07/1881. Garfield được bầu làm tổng thống năm 1880. kết hợp một giá trị chính xác hơn cho vận tốc của ánh sáng với những phép đo mới cải tiến gần đó của sự quang sai ánh sáng để ước tính chính xác hơn vận tốc của Trái đất trên quỹ đạo của nó.5 giây cung. Newcomb đã nghi ngờ sâu sắc về độ chính xác mà phương pháp đó có thể thu được. Ông kết luận rằng hướng biểu kiến của ánh sáng sao đi đến Trái đất bị biến đổi bởi vận tốc của Trái đất trên quỹ đạo quay của nó. ông bị một kẻ ám sát bắn trúng. một thập niên trôi qua và chẳng ai dừng bước đoái hoài gì tới nhiệm vụ đó.sự có đi Nam Phi để quan sát sự đi qua năm 1882. Newcomb đã hỗ trợ sáng chế ra một đơn vị điều hòa không khí cho phòng bệnh ở Nhà Trắng và sắp xếp cho Alexander Bell chế tạo một cái cân cảm ứng để giúp các bác sĩ tìm kiếm viên đạn nằm trong bụng của vị tổng thống. Newcomb đành cố gắng khuấy động niềm say mê trong cộng đồng vật lí học. Bradley gọi hiệu ứng đó là sự quang sai của ánh sáng. Việc kết hợp vận tốc ánh sáng với chu kì quỹ đạo sẽ mang lại chu vi và bán trục lớn của quỹ đạo. Năm 1725. nhà thiên văn học người Anh James Bradley phát hiện thấy toàn bộ các sao mà ông quan sát dường như chuyển động trong những elip nhỏ có chu kì hàng năm và bán trục lớn khoảng 20. Newcomb cũng muốn đi khỏi Washington và thư giãn đầu óc của ông sau cái chết của Garfield. cũng chẳng có thiết bị cần thiết để kiểm tra các thí nghiệm vận tốc ánh sáng. và ông đã sử dụng một giá trị gần đúng cho vận tốc của Trái đất để ước tính vận tốc ánh sáng. Thật thảm thương. người chia sẻ niềm say mê của Newcomb tìm kiếm kết quả tốt hơn cho kích thước của hệ mặt trời. tương đối so với vận tốc hữu hạn của ánh sáng. nhưng chủ yếu là để gặp David Gill. Thật không may. giám đốc Đài quan sát Hoàng gia tại Mũi Hảo Vọng.

và những dấu tíc chúng tạo ra được ghi lại trên cùng trục đó. sự kết hợp các tiếp xúc điện. Michelson lưu ý rằng ông đã đọc các kế hoạch của Newcomb nhằm đo chính xác hơn vận tốc của ánh sáng và sau đó mô tả các thí nghiệm ông đang thẩm tra. Các đoạn đường thẳng được xác định chính xác bởi Cục khảo sát đo đạc và miền duyên hải. Newcomb và Michelson đã làm việc cùng nhau để lắp đặt thiết bị của Newcomb trong một đài quan sát tạm thời. sử dụng một vạch ranh giới thiết lập trên đảo Analostan (nay là đảo Theodore Roosevelt). nằm cao trên thượng nguồn con sông Potomac. trên nền đất Fort Whipple (được đặt tên lại là Fort Myer vào năm 1881). và hết sức có ấn tượng. xác thực. Newcomb đã sử dụng một đồng hồ cơ có các kim lắp đặt trong trạng thái hoạt động của nó. Các kim được sử dụng để kích hoạt một solenoid trong bộ phận bút ghi của một trống thì kế và tạo những dấu tíc ở những thời điểm đã biết trên trục thời gian do thì kế vẽ nên. hay các điểm ngắt. Maryland. Newcomb thật ngạc nhiên khi ông nhận được một bức thư. Newcomb đã có thể xác định thời điểm của những dấu tíc tạo ra bởi gương quay bằng cách đo vị trí tương đối của chúng so với những thời điểm đã biết của các dấu tíc đồng hồ. hoặc đến một kính phản xạ ở xa hơn nằm cách góc phía tây bắc của Đài tưởng niệm Washington chỉ vài mét. khi Newcomb trở thành sĩ quan thuộc Văn phòng Niên giám Hải quân. Khi Thượng viện cuối cùng đã phê chuẩn đề xuất của Newcomb về số tiền tài trợ 5000 đô la. và tự động các dụng cụ điện trước khi có phát triển bóng chân không hay transistor. Newcomb có thể xác định . và phép đo tam giác đạc. gửi từ Albert Michelson. một viên sĩ quan hải quân trẻ được phân công đến giảng dạy vật lí tại Học viện Hải quân Mĩ. Nó cho phép tắt mở nhanh chóng. Các thí nghiệm đã sử dụng gương quay bốn mặt như trong hình 4 để gửi các xung ánh sáng đến một kính phản xạ đặt tại Đài quan sát Hải quân cũ ở Foggy Bottom. Bản đồ chi tiết xem ở hình 5. Michelson đã được điều động đến Washington để hỗ trợ cho các thí nghiệm. Tín hiệu từ các kim trên bộ phận gương quay cũng được nối với thì kế. Newcomb đã đi thăm Michelson ở Annapolis.1877. Cách thức Newcomb làm chủ để đo chính xác những khoảng thời gian một vài chục micro giây – cho đến chưa đầy một micro giây – cần giải thích một chút. và rơle hay solenoid được định lượng như công nghệ gờ trước cánh máy bay. Vào nửa cuối thế kỉ 19. cách Nghĩa trang quốc gia Arlington không xa lắm6. nhỏ. đề ngày 26 tháng 4 năm 1878. Bằng cách lấy trung bình trên nhiều nghìn sự kiện như vậy. Mùa hè năm 1880. ông lập tức bắt đầu đi tìm tài trợ để tự ông tiến hành các thí nghiệm. cơ quan đã chuyển từ Cambridge về thủ đô Washington. Sau khi hoàn thành một bộ quan sát.

nhưng độ chính xác của giá trị mới của họ vẫn không đạt tới giá trị mà Newcomb thu được với chi phí thấp hơn nhiều. Harkness đã công bố những kết quả ban đầu của những phân tích của ông về các quan sát sự đi qua. Newcomb đã ước tính đơn vị thiên văn vào khoảng 149. ông đã hoàn thành phân tích của ông về các thí nghiệm vận tốc ánh sáng Washington và đã công bố một báo cáo chi tiết8. và các thí nghiệm Cleveland. Washington. Cuối năm 1881. ông ước tính đơn vị thiên văn là 148. ông đã chọn giá trị mà nhà thiên văn học người Thụy Điển Magnus Nyren tìm ra. Ohio. . nhỏ hơn tới 1 triệu km9. không dễ gì được tha thứ ở thủ đô của quốc gia. phần nhiều sự thăng tiến nhanh chóng của ông trong cộng đồng khoa học quốc gia và quốc tế là nhờ sự ủng hộ của những người bạn đầy quyền lực và những người cố vấn. nằm trong khoảng 0. Newcomb và Michelson đã thống nhất với nhau kết hợp các giá trị thu được từ Annapolis. George Airy (nhà thiên văn học hoàng gia ở nước Anh). còn Airy thì nghỉ hưu. người có các quan sát được thu thập tại Đài quan sát Pulkovo ở Saint Peterburg. Henry. và Newcomb nhận thấy nguồn quỹ của ông bị đe dọa. Michelson đã rời bỏ trọng trách của ông vào năm 1881 và chấp nhận một vị trí làm giáo sư tại Khoa Khoa học ứng dụng ở Cleveland. Những khinh suất trước đây. Benjamin Peirce (sĩ quan Cục đo đạc và Miền duyên hải). Năm năm sau đó. Peirce. Kết hợp các giá trị vận tốc ánh sáng của ông và quang sai ánh sáng của Nyren.572 triệu km. trong đó có Josseph Henry (thư kí của Viện Smithsonian). Newcomb và Michelson đã phối hợp chặt chẽ với nhau chỉ trong vài tháng. Giá trị thu được được chấp nhận rộng rãi và vẫn được xem là chuẩn trong hơn bốn thập kỉ. và đặc biệt là James Garfield. nhưng sự hợp tác chính của họ tỏ ra là một điểm mốc quan trọng trong cuộc đời của Michelson. Nga. Sự sụp đổ chính trị Một người tài năng như Simon Newcomb. Cuối cùng. Newcomb đã khuyến khích ông tiếp tục các thí nghiệm vận tốc ánh sáng – thậm chí còn giúp tìm tài trợ và cho ông mượn thiết bị.vận tốc góc trung bình của gương quay và thu được độ phân giải thời gian cần thiết cho các thí nghiệm vận tốc ánh sáng của ông. Mặc dù Harkness và các đồng sự của ông đã trau chuốt các tính toán của họ vào năm sau đó.005% giá trị được sử dụng ngày nay. cho dù tưởng tượng hay thực sự.59 triệu km. Sau khi xem xét những ước tính mới được công bố về quang sai ánh sáng. Sau khi nhận được tài trợ rời khỏi cơ quan hải quân đến theo đuổi nghiên cứu tiến sĩ ở châu Âu. Ước tính đơn vị thiên văn Khi Newcomb trở lại từ Nam Phi vào năm 1883. vào tháng 10 năm 1888. và Garfield đều qua đời.

các đại biểu đến từ các quốc gia hàng đầu châu Âu đã phê chuẩn. viết một cuốn sách vi tích phân. Với sự chấp thuận của thư kí hải quân. phát sinh bởi việc Newcomb tham gia với các nhà thiên văn khác thúc đẩy việc đưa Đài quan sát Hải quân dưới sự lãnh đạo của một nhà thiên văn danh tiếng và có lẽ còn chuyển nó sang một bộ khác thuộc chính phủ. Newcomb quyết định làm khoa học tốt nhất mà ông có thể với các tài nguyên ông tranh thủ được. sau khi ông qua đời. Tập trung vào những mục tiêu mà ông đặt ra cho bản thân mình trước đó hàng thập kỉ. nhưng Thượng viện tài trợ thích đáng cho ông để triển khai tiếp tục những phần việc còn lại của công trình nghiên cứu của ông. dẫu vậy. Những oán thù cũ. phục vụ trong các ủy ban cố vấn cho sinh viên. ông đảm nhận vị trí giáo sư toán học và thiên văn học tại trường Đại học Johns Hopkins ở Baltimore. hệ thống Newcomb – tức là bảng các thông số hệ mặt trời của ông (khối lượng các hành tinh. nơi nó tồn tại cho đến ngày nay. chu kì quay. ông đã làm việc không biết mệt mỏi để suy ra một bộ hằng số thiên văn thích hợp và hoàn thành một bản phân loại sao sáng cơ bản hầu như sử dụng hết các quan sát thu thập tại các đài quan sát hàng đầu của thế giới kể từ năm 1750. Năm 1903. .Thay vì dành thời gian của ông để tranh giành chính trị. Newcomb bị buộc nghỉ hưu khỏi lực lượng hải quân vào năm sau đó. Đài quan sát Hải quân chuyển đến những cơ sở mới ở tây bắc thủ đô Washington. khiến ông không còn được hoan nghênh ở đó nữa. Hệ thống của ông trở thành chuẩn quốc tế vào năm 1901 – trừ ở Mĩ. Ông chắc chắn không thể toại nguyện nhìn thấy hệ thống của ông được sử dụng ở Phòng Niên giám Hàng hải Mĩ. lấy lại niềm say mê của ông với kinh tế học. Mãi cho đến năm 1912. thì hệ thống của Newcom mới thật sự trở thành chuẩn tại phòng Niên giám Hàng hải. ông vẫn tiếp tục theo đuổi kế hoạch riêng của mình. Năm 1893. năm sau đó. và giữ vai trò biên tập viên của Tập san Toán học Hoa Kì. ông buộc phải từ bỏ phương pháp mới mà ông đã thiết lập ba thập kỉ trước đó và theo đuổi một phương pháp đã được chứng minh và ít tính toán hơn. Newcomb khinh khỉnh trước cấu trúc quan liêu mới đó. tại Hội nghị quốc tế Paris về các hằng số cơ bản. Maryland. Năm 1896. đồng thời vẫn giữ vai trò sĩ quan thuộc Văn phòng Niên giám Hàng hải. về nguyên tắc. thư kí hải quân đã thực hiện một điều chỉnh đưa Văn phòng Niên giám Hàng hải thành một cơ sở của Đài quan sát Hải quân. thường trao đổi trực tiếp với thư kí hải quân. Newcomb đã thuyết giảng. Newcomb đã bỏ ra thập kỉ cuối cùng của cuộc đời ông nghiên cứu về cái ông xem là thách thức tối hậu – tiên đoán chính xác các chuyển động của Mặt trăng. Với tư cách là giáo sư. và đơn vị thiên văn) và các vị trí sao. Học viện Carnege ở Washington bắt đầu tài trợ cho nghiên cứu của ông. Không có tài trợ để thuê một đội máy tính.

Thật hợp lí. nguyệt thực này xảy ra trong mỗi vòng quay khi Io đi qua phía sau Mộc tinh. mỗi người cầm một cái đèn lồng.Ngày 11 tháng 7 năm 1909. Từ đó Galileo kết luận rằng hoặc là sự lan truyền ánh sáng là tức thời.Aristote cho rằng thị giác bắt nguồn từ một thay đổi tức thời môi trường do ánh sáng xung quanh gây ra. Ông yêu cầu họ gửi cho nhau các chớp sáng bằng cách đưa tay che trước đèn. Galileo là người đầu tiên tiến hành thí nghiệm để kiểm tra giả thiết này. Römer chuyên nghiên cứu vấn đề quỹ đạo của một trong các mặt trăng của Mộc tinh. Mỗi người phải trả lời cho người kia bằng một chớp sáng ngay khi nhận được chớp sáng do người kia phát ra. Tại đây. tên là Io. Ông phát hiện ra một hiện tượng lạ: thời gian để Io thực hiện được một vòng quay quanh Mộc tinh không cố định. Ông đặt hai người ở hai vị trí khác nhau. những người đã khai mở kỷ nguyên khoa học hiện đại. Năm 1671. Römer xác định thời gian để Io đi hết một vòng quỹ đạo của nó quanh Mộc tinh bằng cách đo khoảng thời gian giữa hai lần nguyệt thực liên tiếp của mặt trăng Mộc tinh. tốt hơn cả bất kì ai sẽ làm được trong hàng thập kỉ sau khi ông qua đời. HiepKhachQuay dịch (theo Physics Today. ở . nhà thiên văn học người Đan Mạch là Ole Römer (1644-1710) mới chứng minh được rằng kết luận thứ hai của Galileo là đúng. cho tới thế kỷ XVII tất cả các nhà tư tưởng vẫn đinh ninh rằng sự lan truyền ánh sáng là tức thời và vận tốc của ánh sáng là vô hạn. các đồng nghiệp trong lĩnh vực khoa học. cùng với gia đình của ông. Địa vị siêu hình học của ánh sáng thời Trung Cổ vẫn còn tiếp tục củng cố niềm tin này: bởi vì ánh sáng là biểu hiện của Chúa mà Chúa thì hiện diện khắp nơi. Nhưng. ông không phát hiện ra bất kỳ khác biệt nào. Trung thành với danh tiếng là người quan sát tự nhiên. nên sự lan truyền của ánh sáng phải là tức thời. Ba ngày sau. mà thay đổi theo chu kỳ (trung bình là 42 giờ rưỡi). mộ táng của Newcomb nằm cao phía trên dòng sông Potomac trên cùng dải đất nơi ông đã dựng lên một đài quan sát tạm thời để tiến hành các thí nghiệm cho phép ông xác định kích cỡ của hệ mặt trời tốt hơn bất kì ai có thể làm trước đó – thật vậy. rồi sau đó rút tay lại. trong chuyến chu du hằng năm quanh Mặt Trời. Ngoại trừ Alhazen và một số rất ít các nhà bác học khác. số tháng 2/2009) TTO . mỗi buổi sáng khi tỉnh dậy và mở mắt ra. cũng khư khư giữ chặt quan điểm cho rằng ánh sáng đến với chúng ta mà không cần mất một khoảng thời gian nào. Xét cho cùng. thì các khoảng thời gian giữa hai chớp sáng kế tiếp nhau xuất phát từ cùng một người phải càng dài nếu khoảng cách giữa hai người càng xa. Ngay cả Kepler và Descartes. Newcomb đã không thể kháng nổi sự tàn phá đau đớn của chứng ung thư bàng quang. Thời gian này tăng khoảng 20 phút khi Trái Đất. và bạn bè. đã dành cho một phút mặc niệm sau khi an táng ông với đầy đủ nghi thức quân sự tại Nghĩa trang quốc gia Arlington. Phải mãi tới sau này. hoặc là vận tốc của ánh sáng là cực lớn. khi tách hai người ra xa hơn. chỉ vài ngày sau khi hoàn thành các tính toán mặt trăng của ông. Galileo nhận xét một cách đúng đắn rằng nếu ánh sáng phải mất thời gian để lan truyền. được Galileo phát hiện năm 1610 ngay sau khi phát minh ra kính thiên văn. thư kí hải quân George Meyer. chúng ta có cảm giác rằng các hình ảnh của thế giới xung quanh xâm chiếm tức thì ý thức của chúng ta. các đại sứ và bộ trưởng của một số nước. vua Louis XIV mời Römer đến làm việc tại Đài thiên văn hoàng gia Paris mà ông vừa thành lập. tổng thống William Howard Taft.

. ánh sáng nguyên thủy liên quan tới Vụ nổ Lớn của vũ trụ đang chiếu sáng những vùng đất mới khi nó tiếp tục truyền đi ra xa.5 lần vòng quanh trái đất trong một giây). Sở dĩ Römer thành công ở chỗ mà Galileo đã thất bại. đó là vì khoảng cách Mộc tinh . Ole Römer (1644-1710) đo vận tốc ánh sáng năm 1676. Như vậy quan niệm của Descartes về một plenum truyền tức thời các thay đổi cơ học do ánh sáng gây ra là hoàn toàn sai lầm. Kết quả của hai phép đo chênh nhau khoảng hai mươi phút: đó là thời gian cần thiết để ánh sáng đi qua khoảng cách bằng đường kính của quỹ đạo Trái Đất. cách Trái Đất hàng tỉ năm ánh sáng. Hình 7. TRỊNH XUÂN THUẬN Ở một nơi đó trong không gian ngoài kia.Trái Đất là khoảng 600 triệu kilômét. Römer đã giải thích chính xác độ lệch biểu kiến của chu kỳ quỹ đạo của Io là bằng chứng cho thấy ánh sáng từ Io phải mất một khoảng thời gian nhất định để đến được Trái Đất.xa Mộc tinh nhất. mặc dù cường độ của nó yếu hơn nhiều. và khoảng thời gian gần 20 phút (giá trị chính xác đo được bằng các máy đo hiện đại là 16 phút 36 giây) là ứng với thời gian bổ sung cần thiết để ánh sáng đi từ Io tới vị trí xa nhất của Trái Đất . từ hai vị trí khác nhau của Trái Đất trên quỹ đạo của nó quanh Mặt Trời: 1) khi Trái Đất gần Mộc tinh và Io nhất. và giảm cũng chừng ấy thời gian khi Trái Đất gần Mộc tinh nhất (H. Nhà thiên văn học Đan Mạch đo khoảng thời gian giữa hai lần nguyệt thực liên tiếp của mặt trăng Io của Mộc tinh. Mà thời gian Io quay một vòng quanh Mộc tinh không thể thăng giáng. và 2) khi Trái Đất cách xa chúng nhất. nên phải dùng các khoảng cách thiên văn mới có thể làm sáng tỏ được sự chênh lệch thời gian mà ánh sáng phải mất để đến được chúng ta. các sóng vô tuyến phát đi từ một chương trình truyền hình nào đó cũng đang lan truyền ra không gian sâu thẳm ngoài kia. một dạng khác của bức xạ điện từ phát sinh trên Trái Đất. Chỉ cần chia khoảng cách này (tính bằng các kỹ thuật khác) cho thời gian 20 phút là biết vận tốc của ánh sáng. trong khi hai người truyền cho nhau các chớp sáng trong thí nghiệm của Galileo chỉ cách nhau vài trăm mét ! Bởi vì vận tốc của ánh sáng là cực lớn (7. 7). cũng giống như Mặt Trăng luôn quay quanh Trái Đất một vòng hết đúng một tháng. Trái ngược lại hoàn toàn.

đúng hơn là tốc độ cực đại trong chân không. với chiết hơi cao 2. Euclid. xem hình 2). Ánh sáng truyền trong một chất. Tuy nhiên. tốc độ của ánh sáng giảm đi khá nhiều (125. phản xạ. đồng chất theo đường thẳng. Thực tế khoa học đã được hiểu rõ này không phải là sản phẩm của kỉ nguyên Nguyên tử hay thời kì Phục hưng. đã được các nhà khoa học xác định một cách kĩ lưỡng. và 200. môi trường có chiết suất bằng 1. mặc dù tần số vẫn giữ nguyên không đổi.5).9 nghìn tỉ dặm. quãng đường mà ánh sáng đi được trong một năm.000 km/giây. Proxima . Như vậy. nhiễu xạ hoặc bị nhiễu loạn theo một số cách khác. Do hành trình khổng lồ mà ánh sáng truyền đi trong không gian bên ngoài giữa các thiên hà (xem hình 1) và bên trong Dải Ngân hà. Ánh sáng truyền đi xấp xỉ 300. sau khi ánh sáng truyền đi được hai lần một khoảng cách cho trước thì cường độ của nó giảm đi bốn lần. chỉ còn khoảng 60% tốc độ của nó trong chân không.Khái niệm cơ bản ẩn sau cả hai sự kiện trên có liên quan tới tốc độ của ánh sáng (và tất cả những dạng khác của bức xạ điện từ). Optica. tốc độ của ánh sáng.000 km trên giây trong chân không.0. có thể điều chỉnh bằng cách làm thay đổi môi trường hoặc với sự giao thoa lượng tử. nhưng vận tốc sẽ giảm xuống còn 225.000 km/giây trong thủy tinh (chiết suất 1. hoặc khoảng 5. nên sự giãn nở của các sao có thể đo được không chỉ bằng km. với tốc độ gần như không đổi. mà còn bằng năm ánh sáng. trừ khi nó bị khúc xạ. tốc độ và bước sóng của ánh sáng giảm đi (xem hình 2). khoảng 350 năm trước Công nguyên.3. Không hẳn là một hằng số. cường độ của ánh sáng (và các bức xạ điện từ khác) tỉ lệ nghịch với bình phương của khoảng cách truyền đi. Khoảng cách từ Trái Đất tới ngôi sao gần nhất ngoài hệ mặt trời của chúng ta. Một năm ánh sáng bằng 9. trong chuyên luận mang tính bước ngoặc của ông. Trong kim cương. mà đã được xúc tiến khởi đầu bởi nhà bác học Hi Lạp cổ đại. chẳng hạn như thủy tinh hoặc nước.000 km/giây trong nước (chiết suất 1.5 nghìn tỉ km.4.000 km/giây). gần 300. hay môi trường. Khi ánh sáng truyền trong không khí đi vào một môi trường khác. và ngày nay được biểu diễn dưới dạng một giá trị không đổi có mặt trong các phương trình với kí hiệu c.

và lịch sử thời cổ đại. Mặc dù một số sao quan sát thấy trên bầu trời đêm trên Trái Đất đã chết từ lâu. Trong thực tế.21 triệu năm ánh sáng.24 năm ánh sáng. quá khứ đã qua. trừ khi trên đường đi nó đã chạm phải các thiên thể phản xạ hoặc các mảnh vỡ khúc xạ. nhưng không còn nhìn thấy nữa đối với các nhà nghiên cứu ngày nay. và khoảng cách đến thiên hà Andromeda là chừng 2.000 năm ánh sáng. trong thời kì mà các nhà tiên phong người Babilon. ánh sáng từ sự hủy diệt của chúng (và bóng tối của sự vắng mặt của chúng) chưa đi hết khoảng cách khổng lồ trong không gian sâu thẳm vì chưa đủ thời gian. xấp xỉ 4. các nhà thiên văn Hi Lạp mô tả các chòm sao.21 triệu năm về trước mới tới được Trái Đất. các nhà chiêm tinh người A Rập. nhưng sóng ánh sáng mang hình ảnh của chúng vẫn còn chạm tới mắt người và kính viễn vọng. Sao đuôi và các sao khác trong chòm sao này đã xuất hiện dưới dạng sao siêu mới trên bầu trời khoảng giữa năm 500 và 1000 trước Công nguyên. Khi các nhà thiên văn ngắm nhìn bầu trời đêm là lúc họ đang quan sát một hỗn hợp thời gian thực. Empedocles thuộc vùng Acragas.Centauri. Có thể so sánh như thế này. thì Scorpius (Scorpio đối với các nhà chiêm tinh học) vẫn có hình dạng con bọ cạp. Ví dụ. người sống vào khoảng năm 450 trước Công nguyên. Điều này có nghĩa là ánh sáng rời thiên hà Andromeda 2. Dải Ngân hà có đường kính ước tính chừng 150. là một trong những triết gia đầu tiên được ghi nhận đã nhận định rằng ánh sáng truyền đi .

xuất hiện trong chòm sao Cassiopeia. Những quan trắc các thiên thể mới lạ này khiến cho Brahe và những người đương thời với ông đi tới chỗ nghi vấn về khái niệm phổ biến cho rằng vũ trụ hoàn hảo và không thay đổi có tốc độ ánh sáng vô hạn. nó không đòi hỏi phải có một tính toán gì ghê gớm để nhận ra rằng tốc độ của ánh sáng hiển nhiên vượt quá tốc độ của âm thanh. Ông bổ sung thêm ghi chú cho công trình công bố của ông rằng khoảng chân không trống rỗng không hề làm chậm tốc độ của ánh sáng. Nhà bác học người A Rập Alhazen là nhà khoa học nghiên cứu quang học nghiêm túc đầu tiên cho rằng (vào khoảng năm 1000 sau Công nguyên) ánh sáng có một tốc độ hữu hạn.với một vận tốc giới hạn. nhưng không đưa ra được bất cứ lời giải thích khoa học nào hợp lí về sự chậm trễ đó. Gần một thiên niên kỉ sau này. với một mức độ hữu hạn. nhà vật lí người Đức Johannes Kepler chứng minh rằng tốc độ của ánh sáng là tức thời. nhưng lại kích thích trí tò mò. . và cùng với họ. Niềm tin cho rằng ánh sáng có tốc độ vô hạn khó bị thay thế. mặc dù một vài nhà khoa học đã bắt đầu nghi vấn về tốc độ của ánh sáng vào thế kỉ thứ 16. nhà quang học tiên phong người Anh Roger Bacon đã viết rằng tốc độ của ánh sáng là hữu hạn. làm cản trở. thường xuất hiện trong những đám mưa to sấm dữ. nhưng sau khi bị buộc tội phản quốc và làm ma thuật. đã mang theo những nghi vấn về tốc độ của ánh sáng. nhà thiên văn cảm thấy bối rối. Với lóe sáng và màu sắc trước khi có tiếng nổ chừng vài giây. nhà bác học và nhà toán học người La Mã Anicius Boethius đã thử dẫn chứng bằng tài liệu tốc độ của ánh sáng. ông đã bị chém đầu vì nỗ lực mang tính khoa học của mình. cuộc truy tìm của những người đương thời của ông tìm kiếm chất ête được cho là lấp đầy không gian và đã mang ánh sáng đi. cường độ sáng của nó giảm dần. mặc dù rất nhanh. Trước thời gian này. người ta đã tự hỏi về tốc độ của ánh sáng. khoảng chừng năm 525 sau Công nguyên. đa số các nhà khoa học trong thời kì này vẫn giữ quan điểm cho rằng tốc độ của ánh sáng là vô hạn và không thể nào đo được. Năm 1572. Sau khi quan sát một “ngôi sao mới” đột ngột xuất hiện trên nền trời. Bí mật ẩn sau các vụ nổ của người Trung Hoa đã dẫn đường cho họ tới phương Tây trong giữa thế kỉ 19. các nhà nghiên cứu phải xem lóe sáng của tia chớp theo sau là tiếng sấm rền. Kể từ những ứng dụng sớm nhất của loại bột đen dùng làm pháo hoa và tín hiệu bởi người Trung Hoa. Mãi tới năm 1604. và vào năm 1250. và rồi biến mất dần khỏi tầm nhìn trong thời gian 18 tháng. nhà thiên văn học nổi tiếng người Đan Mạch Tycho Brahe là người đầu tiên mô tả sao siêu mới. Tuy nhiên.

Khi sao Mộc đi xa khỏi Trái Đất. Roemer có thể tiên đoán được tính tuần hoàn của chu kì che khuất đối với vệ tinh này (hình 3). Công trình của Roemer làm xôn xao cộng đồng khoa học. tiến tới sai số cực đại khoảng 22 phút (một sự chênh lệch tương đối lớn.Không lâu sau khi phát minh và một số cải tiến tương đối thô đối với kính thiên văn. ngài Isaac Newton đã viết trong một chuyên luận mang tính bước ngoặc của ông vào năm 1687. “Bây giờ có thể khẳng định từ hiện tượng các vệ tinh của Mộc tinh. Bằng cách nghiên cứu vệ tinh Io của sao Mộc và những che khuất thường xuyên của nó. Roemer có thể ước tính tốc độ của ánh sáng chừng 137. Hình 3 minh họa mô phỏng hình vẽ nguyên thủy của Roemer phác họa phương pháp của ông dùng để xác định tốc độ ánh sáng. nhất là khi xem xét quãng đường mà ánh sáng đi được trong khoảng thời gian này). Tuy nhiên. sau một vài tháng. nhà thiên văn người Đan Mạch Ole Roemer (năm 1676) là nhà khoa học đầu tiên thực hiện một cố gắng nghiêm khắc để ước tính tốc độ của ánh sáng. . rằng ánh sáng truyền đi liên tục và cần khoảng 7 hoặc 8 phút để truyền từ Mặt Trời tới Trái Đất”. được xác nhận bởi quan trắc của các nhà thiên văn khác. đúng là kì quặc. Roemer sớm nhận ra rằng những sai lệch quan sát thấy là do sự thay đổi khoảng cách giữa Trái Đất và sao Mộc. Chẳng hạn. do quỹ đạo của các hành tinh này. ông lưu ý rằng những tiên đoán của ông trở nên kém chính xác trước những khoảng thời gian tương đối lâu. và nhiều nhà nghiên cứu bắt đầu xem xét lại các luận cứ của họ về tốc độ vô hạn của ánh sáng. Áp dụng những tính toán tương đối không chính xác cho khoảng cách giữa Trái Đất và sao Mộc được biết vào thời kì đó. những tiên đoán của ông lại trở nên chính xác hơn trong một vài tháng. nên cần nhiều thời gian hơn để tới được Trái Đất. với chu kì tự lặp lại.000 km) trên giây. Quan điểm đáng kính và danh tiếng rộng rãi của Newton là phương tiện để khởi động cuộc cách mạng khoa học. Rồi sau đó. ánh sáng phải truyền một khoảng cách xa hơn. Philosophiae Naturalis Prinicipia Mathematica (Các nguyên lí toán học của triết học tự nhiên). và giúp khởi xướng các nghiên cứu mới bởi các nhà khoa học tán thành rằng tốc độ của ánh sáng là hữu hạn. đây thật sự là một ước tính rất gần với tốc độ chính xác của ánh sáng. Làm việc tại Đài quan sát Paris.000 nghìn dặm (hoặc 220.

000 km/giây. nhưng Arago đã nhận định đúng đắn rằng ánh sáng truyền trong nước chậm hơn so với trong không khí. Fizeau chế tạo được một dụng cụ làm lóe ra một chùm ánh sáng qua một bánh xe răng cưa (thay cho gương xoay) và rồi đi tới một gương cố định đặt cách đấy 5.000 dặm/giây. một sai lầm dẫn ông tới chỗ tin rằng dòng điện truyền nhanh hơn ánh sáng. Mức độ quang sai của các sao có thể xác định từ tỉ số của tốc độ quỹ đạo của Trái Đất và tốc độ của ánh sáng. Charles Wheatstones. Bằng cách đo góc quang sai sao và áp dụng dữ liệu về tốc độ quỹ đạo của Trái Đất. một năm sau khi Newton qua đời.5 dặm. Fizeau có thể tính được tốc độ ánh sáng. Bradley có thể đi tới một ước tính đặc biệt chính xác. mà khai thác những thuận lợi của khám phá của Arago và mở rộng thiết kế gương xoay của Wheatstones. nhà nghiên cứu kính vạn hoa và là nhà tiên phong trong khoa âm học. Năm 1834. các nhà khoa học kình địch nhau là Armand Fizeau và JeanBernard-Leon Foucault độc lập nhau đã cố gắng đo tốc độ ánh sáng. sử dụng phương pháp quang sai của các sao. Ông cũng phát hiện thấy ánh sáng truyền trong không khí nhanh hơn trong nước (xác nhận giả thuyết của Arago). Năm 1728. . Những hiện tượng này là hiển nhiên bởi các thay đổi biểu kiến vị trí của các sao do chuyển động của Trái Đất xung quanh Mặt Trời. Trong khi đó. Bằng cách quay bánh xe ở tốc độ nhanh. Năm 1849. Mặc dù thất bại khi cố gắng hoàn thành công trình của mình trước khi bị hỏng thị lực vào năm 1850.Người tiếp theo mang tới một ước tính hữu ích cho tốc độ của ánh sáng là nhà vật lí người Anh James Bradley. đã thử đo tốc độ của dòng điện. Wheatstones phát minh ra một dụng cụ sử dụng gương xoay và sự phóng điện qua chai Leyden để làm phát ra và đo thời gian chuyển động của tia lửa điện qua gần như tám dặm dây dẫn. một thực tế mà người đồng hương là Foucault sau đó đã xác minh được bằng thực nghiệm. Nghiên cứu của Wheatstones sau này được mở rộng bởi nhà khoa học người Pháp Dominique Francis Jean Arago. Với tốc độ quay của bánh xe và khoảng cách truyền bởi xung ánh sáng đã biết. ở Pháp. Bradley đã ước tính tốc độ ánh sáng trong chân không xấp xỉ 301. không dựa trên các sự kiện thiên thể. Thật không may. ông có thể lái chùm tia qua khe nằm giữa hai răng cưa trên hành trình đi ra xa và bắt lấy tia phản xạ trong khe lân cận trên hành trình quay trở lại. các tính toán của ông (và có lẽ là do dụng cụ của ông) có sai sót nên Wheatstones đã ước tính vận tốc của dòng điện là 288.

Michelson đã nỗ lực gia tăng độ chính xác của phương pháp đó. và ông cũng kết luận rằng tốc độ ánh sáng qua một môi trường cho trước tỉ lệ nghịch với chiết suất.Foucault dùng một gương xoay nhanh điều khiển bằng tuabin khí nén để đo tốc độ ánh sáng. nhà vật lí người Mĩ gốc Ba Lan tên là Albert M. Ông phát hiện thấy tốc độ ánh sáng trong nước hoặc trong thủy tinh chỉ khoảng 2/3 giá trị của nó trong không khí. Rồi sau đó. nên độ chính xác của phương pháp Michelson cũng cao gấp hơn 20 lần so với phương pháp của Foucault.000 dặm/giây).000 km/giây (xấp xỉ 185. Foucault có thể tính được tốc độ ánh sáng là 298. cho phép sai số trong khoảng 30 dặm/giây. Trong thiết bị của ông (xem hình 4). Đường đi của ánh sáng trong dụng cụ của Foucault đủ ngắn để dùng trong các phép đo tốc độ ánh sáng trong các môi trường khác ngoài không khí. Đầu tư các thấu kính và gương chất lượng cao để hội tụ và phản xạ chùm ánh sáng trên quãng đường dài hơn nhiều so với trong thí nghiệm của Foucault. và đã thành công trong việc đo tốc độ ánh sáng vào năm 1878 với mẫu thiết bị phức tạp hơn đặt dọc theo bức tường dài 2000 foot nằm trên đôi bờ sông Severn ở Maryland. . Kết quả đáng chú ý này phù hợp với những tiên đoán về hành trạng ánh sáng đã được phát triển hàng trăm năm trước đó từ lí thuyết sóng của sự truyền ánh sáng.355 dặm/giây (299. Trong khoảng thời gian cần thiết để ánh sáng phản xạ qua dãy gương và quay trở lại gương xoay. một chùm ánh sáng hẹp truyền qua một kẽ hở và rồi truyền qua một cửa sổ thủy tinh (đóng vai trò bộ tách chùm tia) có mặt chia độ tinh vi trước khi chạm tới gương đang xoay nhanh.909 km/giây). Ánh sáng phản xạ từ gương xoay hướng qua một bộ gương cố định theo đường zigzag để tăng chiều dài đường đi của thiết bị lên khoảng 20m mà không phải tăng tương ứng kích thước của dụng cụ. ánh sáng phản xạ từ vị trí bị lệch của gương xoay đi theo một hành trình mới trở lại nguồn phát và đi vào kính hiển vi gắn trên thiết bị. Dưới sự chỉ dẫn của Foucault. Sự lệch nhỏ của ánh sáng có thể nhìn thấy qua kính hiển vi và ghi lại. Bằng việc phân tích dữ liệu thu thập từ thí nghiệm của ông. Michelson tính được kết quả cuối cùng là 186. một sự lệch nhỏ của vị trí gương xoay đã xảy ra. Do độ phức tạp tăng lên trong thiết kế thí nghiệm của ông.

Đặt trên một phiến đá đang quay từ từ rộng khoảng 5 feet vuông và dày 14 inch. họ đã thiết kế một chiếc giao thoa kế tách một chùm ánh sáng và lại gửi mỗi chùm tia đi theo hai đường khác nhau. Thất bại trong việc phát hiện sự thay . Một khi phiến đá được đưa vào chuyển động. Michelson đã hợp sức với nhà khoa học Edward Morley vào năm 1887 nghĩ ra một phương pháp thực nghiệm tìm kiếm ête bằng cách quan sát sự thay đổi tương đối tốc độ của ánh sáng khi Trái Đất hoàn thành vòng quay của nó xung quanh Mặt Trời. nhưng cả hai nhà khoa học đều không quan sát thấy gì. đa số các nhà khoa học vẫn tin rằng ánh sáng truyền qua không gian bằng một môi trường trung chuyển gọi là ête. Thiết bị thí nghiệm do Michelson và Morley xây dựng thật khổng lồ (hình 5). một giá trị vẫn được xem là chuẩn trong vòng 25 năm tiếp sau đó.320 dặm/giây (299. Ánh sáng truyền qua bộ tách chùm. thu được tốc độ lớn nhất là 10 vòng/giờ. thiết bị được bảo vệ thêm bởi một hồ thủy ngân bên dưới đóng vai trò bộ giảm sốc không có ma sát để loại bỏ các dao động ảnh hưởng từ phía Trái Đất. mất tới hàng giờ mới có tạm dừng lần nữa. mỗi đường dài 10m. Để thực hiện mục tiêu này. Tuy nhiên. bằng một dãy gương bố trí phức tạp. được xác định với một chiếc kính hiển vi quan sát vân giao thoa.Vào cuối những năm 1800. và phản xạ bởi hệ thống gương. Michelson và Morley giải thích rằng nếu như Trái Đất chuyển động qua môi trường ête thì chùm tia phản xạ tới lui vuông góc với dòng ête sẽ phải truyền đi xa hơn so với chùm tia phản xạ song song với dòng ête. Michelson đã sử dụng giao thoa kế của ông để xác định chính xác tốc độ của ánh sáng là 186.853 km/giây). Kết quả sẽ là sự trễ ở một trong hai chùm tia có thể phát hiện khi hai chùm tia tái kết hợp qua hiện tượng giao thoa.

cuối cùng đã đưa tới lí thuyết của Albert Einstein vào đầu thế kỉ 20. Einstein công bố thuyết tương đối đặc biệt của ông. Mặc dù lí thuyết của Einstein ảnh hưởng đến toàn bộ thế giới vật lí. ví dụ như các định luật chuyển động của Isaac Newton. và khi vận tốc đạt tới tốc độ ánh sáng thì khối lượng tiến tới vô cùng. tương đối đối với nhà quan sát. Nói cách khác. Einstein đã giả sử trong các tính toán của ông rằng tốc độ của ánh sáng truyền giữa hai hệ quy chiếu vẫn giữ nguyên không đổi đối với các nhà quan sát ở cả hai nơi. sau đó là thuyết tương đối tổng quát vào năm 1915. thúc đẩy các nghiên cứu khoa học nghiêm túc hơn về bản chất của ête xem là môi trường trung chuyển ánh sáng. Lấy ví dụ. Lí thuyết giải thích được tại sao thí nghiệm Michelson-Morley thất bại trong việc tạo ra những kết quả như mong đợi. nên điều này làm thay đổi cách mà nhà quan sát có thể liên hệ vị trí và vận tốc của các vật. bởi vì để gia tốc đến khối lượng vô hạn cần một lượng năng lượng vô hạn. Năm 1905. đối với một nhà quan sát ở mặt đất. Do nhà quan sát ở hệ quy chiếu này sử dụng ánh sáng để xác định vị trí và vận tốc của các vật trong hệ quy chiếu kia. các khoảng thời gian trở nên ngắn hơn. Do chúng thách thức những giả thuyết đã tồn tại từ lâu. khi vận tốc của vật tăng. Khi một hệ quy chiếu đang chuyển động. Kết quả của ông đưa tới một số kết quả khác thường. hàm ý chính của những lí thuyết cơ bản của Einstein và phương trình tương đối tính thường được trích dẫn của ông E = mc2 có thể tóm tắt như sau: • • • Chiều dài của một vật giảm. nhưng nó có những quan hệ đặc biệt quan trọng đối với những nhà khoa học đang nghiên cứu ánh sáng. Ý tưởng về tính tương đối thể hiện qua khái niệm cho rằng vận tốc của một vật chỉ có thể được xác định tương đối với vị trí của nhà quan sát. mặc dù hiệu ứng chỉ trở nên đáng kể khi vận tốc tương đối của vật đạt gần tới tốc độ ánh sáng. Lí thuyết thứ nhất đề cập tới sự chuyển động của các vật thể ở vận tốc không đổi tương đối với nhau. Tuy nhiên. một nhà du hành vũ trụ chuyển động với tốc độ ánh sáng hoặc gần tốc độ ánh sáng có thể rời Trái Đất trong nhiều năm và quay trở lại trải qua khoảng thời gian mất có vài ba tháng. Tóm lại. nên lí thuyết của Einstein là một lực lượng cách mạng trong vật lí học. Khối lượng của một vật đang chuyển động tăng theo vận tốc của nó. người đàn ông đó đang chuyển động ở vận tốc 601 dặm/giờ. Nó cũng chứng minh được rằng . Vì lí do này nên người ta giữ niềm tin rằng chuyển động nhanh hơn tốc độ ánh sáng là không thể có được. Einstein sử dụng khái niệm này để tìm ra một vài công thức quan trọng mô tả cách các vật thể trong một hệ quy chiếu xuất hiện khi nhìn từ hệ quy chiếu kia đang chuyển động đều tương đối với hệ quy chiếu thứ nhất. còn lí thuyết thứ hai tập trung vào gia tốc và mối liên hệ của nó với hấp dẫn.đổi tốc độ ánh sáng bởi thí nghiệm Michelson-Morley đã đặt dấu chấm hết cho cuộc tranh luận về ête. một người đàn ông đang đi bên trong một chiếc máy bay dân dụng cỡ lớn có vẻ đang đi ở tốc độ khoảng 1 dặm/giờ đối với hệ quy chiếu là chiếc máy bay (còn chính chiếc máy bay đang chuyển động với vận tốc 600 dặm/giờ).

792 Carl I.4 Giao thoa kế vô Keith Davy Froome 299.không gì có thể chuyển động nhanh hơn tốc độ ánh sáng trong chân không. những tiến bộ đạt được trong công nghệ vô tuyến và vi sóng đã mang lại phương pháp mới lạ cho việc đo tốc độ ánh sáng.4588 Vào cuối thế kỉ 19. các nhà khoa học thực nghiệm tiếp tục sử dụng các thiết bị ngày càng phức tạp để đo giá trị chính xác của tốc độ ánh sáng và giảm sai số trong các phép đo này.000 298.000 402.800 299. Aslakson Radar Shoran 299. Trong khi đó.457 Peter Woods và Colleagues laser 299.000 301.910 300.5 220.792. và tốc độ này là một hằng số và có giá trị không thay đổi.000 299.990 299.75 tuyến Kenneth M. Các phép đo vận tốc ánh sáng Năm 1667 1676 1726 1834 1838 1849 1862 1868 1875 1879 1888 1889 1890s 1907 1923 1926 1928 1932 1935 1947 1949 1951 1973 1978 Nhà nghiên cứu galileo Galilei Ole Roemer James Bradley Charles Wheatstone Francis Arago Armand Fizeau Leon Foucault James Clerk Maxwell Marie-Alfred Cornu Albert Michelson Heinrich Rudolf Hertz Edward Bennett Rosa Henry Rowland Edward Bennett Rosa và Noah Dorsey Andre Mercier Albert Michelson August Karolus và Otto Mittelstaedt Michelson và Pease Phương pháp Đèn lồng có mái che Vệ tinh của sao Mộc Hiện tượng quang sai Gương quay Gương quay Bánh xe quay Gương quay Tính toán lí thuyết Gương quay Gương quay Bức xạ điện từ Phép đo điện Quang phổ kế Phép đo điện Phép đo điện Gương quay (giao thoa kế) Lá chắn Kerr Giá trị ước tính km/giây 333.788 299.798 299.795 299.778 Gương quay (giao 299.792. Năm 1888.000 301.000 284.792.792.774 thoa kế) Louis Essen Hộp cộng hưởng 299. hơn 200 năm sau những . Evenson laser 299.336 315.000 300.

cộng đồng khoa học đã đặt ra một chuẩn cho tốc độ ánh sáng.000 km/giây. Vài năm sau. và tính được vận tốc của những sóng này truyền trong không gian như sau: Vận tốc (v) = 1/ (ε . Năm 1891. mà bằng suy luận toán học. Một bằng chứng nữa thu thập trong những năm 1940 và 1950. Trong nghiên cứu của ông cố gắng tìm kiếm mối liên hệ giữa điện và từ. hai hằng số này có thể đo được với mức độ chính xác tương đối cao. khi nhà vật lí người Anh Keith Davy Froome sử dụng sóng vô tuyến và Louis Essen sử dụng vi sóng tiến hành đo đạc chính xác hơn tốc độ của bức xạ điện từ. Maxwell cũng được ghi nhận với việc định nghĩa tốc độ ánh sáng và các dạng khác của bức xạ điện từ. . Michelson chế tạo một giao thoa kế cỡ lớn sử dụng kính thiên văn khúc xạ tại Đài quan sát Lick ở California. xác nhận lí thuyết của James Clerk Maxwell cho rằng sóng vô tuyến và ánh sáng đều là các dạng của bức xạ điện từ. Pease thực hiện hàng loạt phép đo trong vài năm và cuối cùng đã xác định được giá trị chính xác cho tốc độ ánh sáng là 299. và μ là độ từ thẩm của không gian tự do. nhưng người cộng sự của ông tại núi Wilson. vào năm 1941. một điều ngược lại với định luật Faraday. không phải bằng phép đo. μ)1/2 trong đó ε là hằng số điện môi. và áp dụng cùng kĩ thuật trên với kính thiên văn 100 inch.845 km/giây cho tốc độ ánh sáng. tiếp tục sử dụng kĩ thuật có tính sáng kiến chỉ đạo nghiên cứu trong những năm 1930. kính thiên văn lớn nhất thế giới lúc bấy giờ. Maxwell đã lí thuyết hóa rằng một điện trường biến thiên sẽ tạo ra từ trường biến thiên. Pease. dựa trên một tài liệu biên soạn từ những phép đo chính xác nhất của thời kì đó. Francis G. 299. nhà vật lí người Đức Heinrich Rudolf Hertz đo được tốc độ của sóng vô tuyến. phép đo chính xác nhất thu được tính đến thời điểm đó. Gần 30 năm sau.quan trắc thiên thể tiên phong của Roemer. Hertz thu được giá trị gần 300. Hình 6 biểu diễn những phép đo tốc độ ánh sáng trong vòng 200 năm qua. tiếp tục những nghiên cứu của ông về tốc độ ánh sáng và thiên văn học.774 km/giây. Michelson đạt tới giá trị 299. Sử dụng một giao thoa kế cải tiến. Những quan trắc của ông dựa trên sự trễ thời gian tới của ánh sáng khi quan sát các vật thể ở xa.773 km/giây. Bằng cách hợp nhất thêm một gương xoay hình bát giác vào thiết kế thí nghiệm của ông. Kết quả là một giá trị rất gần với tốc độ ánh sáng đo được. Giá trị này. Ông đề xuất rằng sóng điện từ bao gồm các sóng dao động điện và từ kết hợp. có thể phân tích định lượng để đo được cả kích thước của thiên thể và tốc độ ánh sáng. Mặc dù Michelson chết trước khi hoàn tất thí nghiệm của ông. ví dụ như các sao. Michelson di chuyển thí nghiệm của ông tới Đài quan sát núi Wilson.

792. Có một cuộc tranh luận ôn hòa về bằng chứng tồn tại cho thấy tốc độ ánh sáng đang giảm đi kể từ thời Big Bang. Như vậy.458 km/s bởi Đại hội toàn thể lần thứ 17 về Cân nặng và Đo lường. laser trở thành công cụ nghiên cứu ổn định với tần số và bước sóng có tính xác định cao.792. . kết quả cuối cùng trong việc định nghĩa lại đơn vị mét qua một ước tính chính xác cao cho tốc độ ánh sáng. Năm 1972.Vào cuối thập niên 1960.000 dặm) trên giây. tốc độ ánh sáng được làm tròn là 300. Khởi đầu với những cố gắng mang tính đột phá vào năm 1676 của Roemer. giới hạn sai số của sự ước tính được thu hẹp. Cuối cùng. tốc độ ánh sáng được định nghĩa là 299. mặc dù tốc độ ánh sáng không thay đổi đáng kể kể từ những tính toán hồi thế kỉ thứ 17 của Roemer. lúc nó có thể di chuyển nhanh hơn nhiều. Việc đạt được một giá trị chuẩn cho tốc độ ánh sáng có tầm quan trọng đối với việc thiết lập một hệ đơn vị quốc tế cho phép các nhà khoa học từ khắp nơi trên thế giới so sánh dữ liệu và tính toán của họ với nhau.792. tương tự như phương pháp thực nghiệm đã được tiến hành bởi Keith Davy Froome bằng vi sóng vào năm 1958.282 dặm/giây). vào năm 1983. mét được định nghĩa là khoảng cách mà ánh sáng truyền đi được trong chân không trong khoảng thời gian 1/299. Một vài nhóm nghiên cứu ở Mĩ và một số nước khác đã đo tần số của vạch 633 nanomét từ laser helium-neon và thu được kết quả chính xác cao.000 km (hoặc 186. Tuy nhiên. hơn 300 năm sau cố gắng đo đạc nghiêm túc đầu tiên.458 m/s (186. Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ quốc gia (Mĩ) đã dùng kĩ thuật laser đo được tốc độ 299. tốc độ ánh sáng đã được đo ít nhất là 163 lần bằng nhiều kĩ thuật đa dạng bởi hơn 100 nhà nghiên cứu (xem bảng ở trên). như một số nhà nghiên cứu đã đề xuất. Một điều nhanh chóng trở nên hiển nhiên là một phép đo đồng thời cả tần số và bước sóng sẽ mang lại giá trị rất chính xác cho tốc độ ánh sáng. nói chung (cả trong nhiều tính toán khoa học). Mặc dù các luận cứ được đưa ra và phản đối kéo dài cuộc tranh luận này. Khi các phương pháp và dụng cụ khoa học được cải tiến.458 giây.

Spring. Ở phân một này Newton còn đưa ra bản tính lực học của quang học. Davidson Luận bàn về sự vận động của vật thể”. ông đã chứng minh được mối quan hệ giữa tác dụng của lực hấp dẫn với định luật diện tích của Kepier. Chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ giữa lực và quỹ đạo của vật chuyển động dưới tác dụng của lực hấp dẫn. họ thu được giá trị cho tốc độ ánh sáng có thể so sánh được với giá trị thu được với những thiết bị hiện đại và phức tạp hơn. lại là những cái mà mọi vật thể đều có trong phạm vi thực nghiệm của chúng ta có thể làm được thì được coi là thuộc tính phổ biến của mọi vật thể". và Michael W. Tuy có thể tưởng tượng ra bất cứ giả thuyết nào tương phản với nó nhưng trước khi không xuất hiện hiện tượng khác. Zuckerman. Quy luật hai: "Đối với cùng một kết quả trong giới tự nhiên. nhưng ông lại đưa ra một kết luận sai lầm: “Tốc độ của ánh sáng khi qua chất môi giới ánh sáng xuyên qua chậm lớn hơn tốc độ của ánh sáng khi qua chất môi giới ánh sáng xuyên qua nhanh". Trong điểm thứ nhất là đưa ra điểm -quan trọng của tích phân và vi phân.. phần này chia làm 14 chương. khoảng cách giữa Mộc tinh và Trái Đất được biết với độ chính xác cao. không cần phải tìm kiếm nguyên nhân khác trong sự vật của giới tự nhiên. lấy nó để xác định những lượng nhỏ vô hạn. suy luận ra lực hấp dẫn tỷ lệ thuận vôi bình phương khoảng cách. Quy luật ba: "Thuộc tính của vật thể. Lawrence D. . Trọng điểm thứ hai là dùng phương pháp cực hạn để vận dụng những lượng nhỏ vô cùng để giải thích ý nghĩa đúng đắn định luật của Kepler. mà chỉ có một loạt cải tiến trong các thiết bị khoa học liên quan tới việc làm tăng độ chính xác của phép đo dùng để thiết lập tốc độ ánh sáng.. Khi các nhà nghiên cứu áp dụng dữ liệu này để làm việc lại với những tính toán đã được thực hiện trong vài thế kỉ qua. Quy luật một: "Ngoài những cái chân thực và đã đủ để thuyết minh hiện tượng của nó ra. đủ để khiến nó chính xác hơn hoặc xuất hiện ngoại lệ thì vẫn phải xem xét như thế". không thích dùng thừa nguyên nhân để khoe khoang mình". Fellers. Ví dụ. cần phải làm hết khả năng quy nó về cùng một nguyên nhân". Các nhà vật lí cho rằng tốc độ ánh sáng thực sự như đã đo được bởi Roemer và những người tiếp sau ông không có sự thay đổi đáng kể. Quy luật bốn: "Trong triết học thực nghiệm. bởi vì giới tự nhiên thích đơn giản hóa. hoặc là cực kỳ gần sát với chính xác. Tác giả: Kenneth R.nhưng đa số các nhà khoa học vẫn đoan chắc rằng tốc độ ánh sáng là một hằng số. chúng ta phải coi những mệnh đề được dẫn ra từ trong các hiện tượng vận dụng phép quy nạp bình thường là hoàn toàn chính xác. Thomas J. cũng như đường kính của hệ mặt trời và đường đi quỹ đạo của các hành tinh. Ngày nay. phàm là những cái vừa không thể tăng mạnh cũng không thể giảm yếu.

Một trong các phương pháp đó là phương pháp dùng bánh xe quay 8hình vẽ)do nhà vât lí người Pháp : Fizeau đề xuất và thực hiện! Ánh sáng được phát ra từ khe thứ nhất của một bánh xe quay rất nhanh. phương pháp dùng giao thoa kế.. Thay đổi vận tốc quay của bánh xe và khoảng cách từ báng xe đên gương sao cho khi ánh sáng phản xạ trở lại đi qua đúng khe tiếp theo của bánh xe Như vậy thời gian truyền sáng là 2S/c chính bằng thời gian bánh xe quay được giữa hai khe liên tiếp.. [marq=left]Chúc các bạn có những phút bổ ích với diễn đàn![/marq] nvbien Đại sứ Bài viết: 256 Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 3 10. về sau còn một số phương pháp nưa như phương pháp gương quay. truyền đến một cái gương vf phản xạ trở lại.180 năm sau vận tốc ánh sáng mới được đo băng phương pháp thực nghiệm khá chính xác trên mặt đất với nhiều phương phap khác nhau. 2005 1:19 am Giới tính: Gửi: 1 Cảm ơn Đã nhận: 11 Cảm ơn • • Gửi Email cho nvbien Website ..

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful