You are on page 1of 45

Chương 1: Tổng quan về dịch vụ ngân hàng thương mại

Ngân hàng là một loại hình tổ chức kinh doanh có vai trò vô cùng quan trọng.Ngân hàng
là chủ thể cung cấp vốn cho nền kinh tế và là nơi thu hút ngồn tiền nhàn rỗi từ nền kinh
tế. Hệthống ngân hàng với hàng chi nhánh trên toàn thế giới có khả năng chi phối đến sự
phát triển trên mọi lĩnh vực và trên phạm vi nền kinh tế toàn cầu. Hoạt động ngân hàng
trong bối cảnh hiện nay không ngừng phát triển trên mọi phương diện, từ sự ra đời các
sản phẩm dịch vụ mới và làn sóng sát nhập hình thành tập đoàn ngân hàng có quy mô
toàn cầu. Sự thànhg công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực của ngân hàng trong
việc cung ứng dịch vụ. Trong chương này sẽ trình bày khái quát về dịch vụ ngân hàng và
những khuynh hướng tác động tới hoạt động cung ứng dịch vụ của ngân hàng thương
mại.

1.1Khái niệm, đặc điểm dịch vụ ngân hàng thương mại

1.1.1Khái niệm

Có hai quan điểm khác nhau về sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
Theo nghĩa rộng, sản phẩm dịch vụ ngân hàng bao gồm toàn bộ các hoạt động tiền
tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối của ngân hàng. Quan điểm này phù hợp với cách phân
ngành dịch vụ ngân hàng trong dịch vụ tài chính của WTO và của Hiệp định thương mại
tự do Việt Nam - Hoa kì cũng như cách phân loại của nhiều nước phát triển trên thế giới.
Theo nghĩa hẹp, dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động không thuộc
phạm vi kinh doanh tiền tệ và các nghiệp vụ ngân hàng theo chức năng của một trung
gian tài chính (huy động tiền gửi, cho vay). Như vậy, dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm
những hoạt động ngoại bảng, dịch vụ thu phí như chuyển tiền, bảo lãnh, thanh toán quốc
tế...
Dịch vụ ngân hàng là dịch vụ tài chính do ngân hàng thương mại cung cấp

Theo WTO,Dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính được một nhà
cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ bảo hiểm và dịch
vụ có liên quan đến bảo hiểm , mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác

Dịch vụ tài chính có đặc trưng bởi hoạt động huy động và sử dụng các quỹ, thể hiện quá
trình huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính.
1
1.1.2Đặc điểm

Tính chất: Là dịch vụ tài chính

Chủ thể cung cấp : Ngân hàng thương mại

Quy mô : Danh mục dịch vụ ngân hàng rất đa dạng, có thể tích hợp dịch vụ theo chiều
dọc và chiều ngang

1.1.3. Sự hình thành và phát triển dịch vụ ngân hàng

Sự hình thành và phất triển dịch vụ ngân hàng gắn liền với quá trình hình thành và phát
triển của ngân hàng thương mại. Dịch vụ ngân hàng được hình thành từ thời trung cổ.
Trong thời kỳ này mỗi quốc gia sử dụng một đồng tiền riêng và đông tiền đó chỉ được sử
dụng trong phạm vi địa phương và quốc gia của mình. Điều đó đã gây không ít trở ngại
trong hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hoá giữa các địa phương. Đáp ứng nhu cầu của
các nhà buôn, một bộ phận thương nhân chuyên cung ứng dịch vụ đổi tiền cho các nhà
buôn. Thuật ngữ Bank, Banque hàm ý chỉ chiéc ghế dài hay bàn của người đổi tiền. Điều
đó đã khắc hoạ rõ nét hình ảnh của ngân hàng đầu tiên với nghiệp vụ đổi tiền và chiết
khấu thương phiếu giúp cho các nhà buôn có vốn kinh doanh.

Công nghiệp ngân hàng đã dần lan rộng từ nền văn minh cỏ đại hy lạp và la mã snag văn
minh bắc Âu và Tây Âu. Dịch vụ cho vay và tiền gửi phát triển. Cùng với sự phát triển
những con đường thương mại xuyên lục địa và những chuyển biến trong nghành hàng hải
vào các thế kỷ 15.16.17 đã dần chuyển trung tâm thương mại của thế giới từ Địa Trung
Hải sang chân Âu vad quần đảo Anh, Nơi công nghiệp ngân hàng trở thành công nghiệp
hàng đầu. Việc ứng dụng phương thức sản xuất quy mô lớn đòi hỏi sự tài trợ thương mại
có tính toàn cầu do đó cần thiết phát triển các phương thức thanh toán mà ngân hàng là
chủ thể cung ứng dịch vụ thanh toán. Trải qua một thời kỳ dài từ dịch vụ đổi tiền, dịch vụ
ngân hàng phát triển đa dạng với ndịch vụ tiền gửi, cho vay,dịch vụ thanh toán và các
dịch vụ ngân hàng hiện đại khác

1.2 Phân loại dịch vụ ngân hàng


2
1.2.1. Theo quy mô giao dịch dịch vụ ngân hàng bao gồm dịch vụ ngân hàng bán buôn
và dịch vụ ngân hàng bán lẻ

Dịch vụ ngân hàng bán buôn là dịch vụ cung ứng cho tập đoàn lớn và các NHTM khác
với quy mô và giá trị lớn. Với dịch vụ ngân hàng bán buôn, NHTM cung ứng dịch vu với
chi phí thấp nhất để các tập đoàn và các NHTM khác có thể tiếp cận và đầu tư với chi phí
thấp nhất thị trường .

Dịch vụ ngân hàng bán lẻ:

1.2.2. Theo thời hạn cung ứng dịch vụ: Dịch vụ ngân hàng bao gồm dịch vụ ngân
hàng ngắn hạn và dịch vụ ngân hàng trung dài hạn

Dịch vụ ngân hàng ngắn hạn là dịch vụ được ngân hàng cung cấp có thời hạn dưới 1
nămbao gồm dịch vụ tiền gửi ngắn hạn , cho vay ngắn hạn hoạt động tài trợ thương
mại…

Dịch vụ ngân hàng trung dài hạn là các dịnh vụ ngân hàng cung cấp có thời hạn từ 1 năm
trở lên.

1.2.3 Theo tính chất của nghiệp vụ NHTM dịch vụ ngân hàng bao gồm: dịch vụ huy
động vốn, dịch vụ tín dụng, dịch vụ thanh toán, dịch vụ uỷ thác và dịch vụ khác

Dịch vụ huy động vốn bao gồm: dịch vụ tiền gửi, tiền vay

1.2.4. Theo quá trình phát triển của NHTM dịch vụ ngân hàng bao gồm dịch vụ
truyền thống và dịch vụ ngân hàng hiện đại .

* Dịch vụ ngân hàng truyền thống bao gồm dịch vụ nhận tiền gửi, cho vay và dịch vụ
thanh toán

+Nhận tiền gửi: cho vay là hoạt động có tính sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã sử
dụng nhiều phương thức để huy động vốn trong đó nguồn vốn quan trọng đó là các khoản
tiền gửi của khách hàng.Dịch vụ tiền gửi đã đem lại sự sinh lợi cho khách hàng trên cơ sở
lãi suất huy động.

3
+Cho vay : trong thời kỳ đầu các ngân hàng thực hiện chiết khấu thương phiếu cho
thương nhân. Bản chất đây là hoạt động cho vay đối với doanh nhân trên cơ sở thế cấp
các khoản phải thu hoặc chuyển nhượng quyền đòi nợ cho ngân hàng lấy tiền mặt. Sau
một quá trình hoạt động ngân hàng tiến hành cho vay trực tiếp không thông qua thương
phiếu nhằm mở rộng hoạt động cho vay theo chủ thể và bao trùm nền kinh tế.Ngân hàng
tài trợ cho Chính phủ trong thực thi vai trò bằng các khoản vay hoặc mua trái phiếu chính
phủ nhằm tài trợ cho quân sự, đầu tư cơ sở hạ tầng…

+Dịch vụ thanh toán Lịch sử cho thấy rằng một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên
thực hiện là dịch vụ trao đổi ngoại tệ. Ngân hàng thực hiện hoạt động mua bán ngoại tệ
nhằm đáp ứng nhu cầu ngoại hối phục vụ hoạt động chi trả và đầu tư giữa người cư trú và
người không cư trú.Cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu và châu Mỹ đã đánh dấu sự
ra đời những hoạt động và dịch vụ ngân hàng mới. Một dịch vụ được đánh giá là phát
minh của nhân loại đó là tài khoản tiền gửi giao dịch. Tài khoản tiền gửi giao dịch cho
phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho hoạt động mua sẵm hàng hoá dịch vụ. Việc
cung cấp dịch vụ này được xem là một trong những bước đi quan trọng trong công
nghiệp ngân hàng vì nó đã cải thiện đáng kể hiệu quả của quá trình thanh toán, làm cho
hoạt động giao dịch trở nên dễ dàng hơn, nhanh chóng và an toàn hơn.

*Dịch vụ ngân hàng hiện đại

+ Cho vay tiêu dùng Trong lịch sử hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với
các nmhân và hộ gia đình vì họ cho rằng các khoản vay cho tiêu dùng có quy mô rất nhỏ
và rủi ro tín dụng tương đối cao và do đó chúng có tính sinh lời thấp. Sự cạnh tranh khốc
liệt giữa các ngân hàng, giữa các ngân hàng với các định chế trung gian khác đã buộc các
ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là nhóm khách hàng tiềm năng.Cho tới
những năm 1920,1930 nhiều ngânnhàng lớn đã thành lập phòng tín dụng tiêu dùng lớn
mạnh . Sau thế chiến thứ hai, tín dụng tiêu dùng là một trong những loại hình tín dụng có
mưc tăng trưởng mạnh nhất. Mặc dù nền kinh tế phát triển chậm lại nhưng tín dụng tiêu

4
dùng vẫn khẳng định vị trí là dịch vụ quan trọng và đem lại nguồn thu cơ bản cho
NHTM.

+Tư vấn tài chính: Các ngân hàng đã từ lâu đã nhận được yêu cầu tư vấn tài chính từ phía
khách hàng nhất là hoạt động tư vấn tiết kiệm và đầu tư. Hiện nay, các ngân hàng cung
cấp dịch vụ tư vấn tài chính rất đa dạng :tư vấn tái cấu trúc doanh nghiệp, tư vấn niêm
yết, tư vấn phát hành, tư vấn kế hoạch tài chính và các hoạt động tư vấn tài chính khác
cho các chủ thể trong và ngoài nước.

+ Quản lý tiền mặt: Qua quá trình hoạt động, các ngânn hàng nhận thức rằng một số
nghiệp vụ ngân hàng thực hiện cho chính mình cũng có lợi ích đối với khách hàng, trong
đó dịch vụ quản lý tiền mặt là một dich vụ điển hình. Các ngân hàng quản lý hoạt động
thu chi cho một công ty kinh doanh và đầu tư nguồn tiền nhàn rỗi vào chứng khoán sinh
lợi và tín dụng ngắn hạn cho tới khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán. Đối với
người tiêu dùng, ngân hàng cung cấp dịch vụ tương tự cho phép khách hàng được mua và
bán chứng khoán di chuyển vốn trong nhiều quỹ tương hỗ, viết séc và sử dụng thẻ tín
dụng cho khoản vay tức thời.

+ Dịch vụ thuê mua: đây là hình thức tín dụng tài trợ bằng tài sản, máy móc thiết bị. Thoả
thuận thuê mua được thể hiện thông qua một hợp đồng giữa hai hay nhiều bên, liên quan
tới một hay nhiều tài sản. Người cho thuêchuyển giao tài sản cho người thuê sử dụng
trong thời gian nhất định và người thuêu phải trả cho người cho thuê một khoản tiền trên
cơ sở giá trị và giá trị sử dụng tài sản theo định kỳ bao gồm tiền gốc và lãi. Trong thời
gian diễn ra hoạt dộng cho thuê tài sản quyền sở hữu đối với tài sản thuộc về người cho
thuê và quyền sử dụng thuộc về người thuê. Trong quá trình cho thuê nếu có sự có đe doạ
đến sự an toàn tài sản cho thuê người cho thuê sẽ thu hồi tài sản ngay lập tức do đó có thể
giảm thiểu rủi ro.

+ Cho vay tài trợ dự án . các ngân hàng rất năng động trong hoạt động tài trợ cho hoạt
động đầu tư xây dựng cơ bản đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ cao. Rủi ro đối với loại
hình tín dụng này rất cao nen thường được thực hiện thông qua công ty đầu tư là công ty
5
con của tập đoàn ngân hàng và có sự tham gia của các nhà đầu tư khác nhằm chia sẻ rủi
ro. Ví dụ điển hình đó là Bankers Trust Veture Capital…

+Bán các dịch vụ bảo hiểm: Các ngân hàng thực hiện dịch vụ cung cấp dịch vụ baỏ hiểm
cho khách hàng vay vốn nhằm đẩm bảo hạn chế rủi ro tín dụng trong trường hợp khách
haqngf gặp rủi ro không có khả năng thanh toán nợ. Các ngân hàng thường bảo hiêm rcho
khách hàng thông qua liên doanh hoặc các thoả thuận đại lý kinh doanh . Ngân hàng sẽ
nhận được thu nhập từ dịch vụ đó.Ngân hàng thực hiện dịch vụ này nhằm thực hiện chính
sách đa dạng hoá dịch vụ cung ứng nhằm tăng khả năng cạnh tranh khi các định chế tài
chính phi ngân hàng cũng cung cấp dịch vụ ngân hàng.

+ Cung cấp kế hoạch hưu trí. Phòng uỷ thác của ngân hàng rất năng động trong việc quản
lý kế hoạch hưu trí mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho người lao động. Ngân hàng thực
hiện hoạt động chi trả lương hưu và đầu tư khoản tiền tích luỹ. Ngân hàng cũng bán ké
hoạch hưu trí cho các cá nhân và giữ chúng cho tới khi người sở hữu cần đến.

+ Cung cấp dịch vụ môi giới chứng khoán:Trên thị trường tài chính hiện nay nhiều ngân
hàng đang cố gắng nỗ lực để trở thành bách hoá tài chính thực sự cung cấp đủ dich vụ tài
chính nhằm sản phẩm dịch vụ thoả mãn nhu cầu của khách hàng ở mọi địa điểm. Do đó
các ngân hàng bắt đầu cung ứng dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng
cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu mà không tiếp cận dịch vụ môi giới của chủ thể kinh
doanh chứng khoán khác.

+ Cung cấp dịch vụ hỗ tương và trợ cấp: Ngân hàng cung cấp dịch vụ tiền gửi với lãi suất
thâp, nhiều khách hàng đã hướng tới việc sử dụng sản phẩm đầu tư “invesment produts”
đặc biệt là các tài khoản của quỹ hỗ tương và hợp đồng trợ cấp. Đây là loại hình dịch vụ
cung cấp có tính sinh lời cao hơn tài khoản tiền gửi truyền thống nhưng cũng có nhiều rủi
ro hơn. Hợp dồng trợ cấp bao gồm các kế hoạch tiết kiệm dài hạn cam kết thanh toán một
khoản tiền mặt hàng năm cho khách hàng bắt đầu từ một ngày nhất định trong tương
lai(ngày nghỉ hưu). Đối với quỹ hỗ tương bao gồm các chương trình đầu tư được quản lý

6
một cách chuyên nghiệp nhằm đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác
phù hợp với mục tiêu của quỹ.

+ Cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn. Ngân hàng cạnh tranh với
các tổ chức tài chính khác trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng đàu tư và dịch vụ ngân
hàng bán buôn. Khách hàng của dịch vụ này là các tập đoàn lớn. Dịch vụ này bao gồm
dịch vụ tư vấn mục tiêu hợp nhất, tài trợ mua lại công ty, bảo lãnh phát hành chứng
khoán, cung cấp công cụ marketing chiến lược, các dịch vụ phòng ngùa rủi ro. các ngân
hàng cũng đi sâu vào thị trường cho vay bảo đảm đối với khách hàng là chính phủ và
doanh nghiệp nhằm tài trợ cho các khoản nợ và cung ứng vốn với chi phí thấp nhất.

1.3 Vai trò của dịch vụ ngân hàng

Một số ngườ cho rằng ngân hàng không có vai trò gì đặc biệt, chỉ nhận tièn gửi rồi cho
vay lại hưởng chênh lệch lãi suất. Trên thực tế, để tồn tại và phát triển trong bối cảnh
cạnh tranh gay gắt trên thị trường cung ứng dịch vụ tài chính, ngân hàng thương mại phải
cung ứng dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội

Dịch vụ ngân hàng có vai trò chu chuyển dòng vốn tiết kiệm nhàn rỗi thành các khoản tín
dụng tài trợ cho hoạt động đầu tư của nền kinh tế

Dịch vụ ngân hàng với vai trò trung gian trong hoạt động thanh toán của nền kinh tế. Với
dịch vụ thanh toán, ngân hàng thương mại thay mặt khách hành thực hiện hoạt động
thanh toán trên cơ sở cung cấp phương tiện thanh toán như séc, thẻ thanh toán…và mạng
lưới thanh toán thanh toán điện tử, kết nối với các quỹ…

Dịch vụ ngân hàng với vai trò là chủ thể bảo lãnh Ngân hàng cam kết trả nợ cho khách
hàng trong trong hợp khách hàng mất khả năng thanh toán.

Dịch vụ ngân hàng với vai trò đại lý: ngân hàng thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ
tài sản trên cơ sở hợp đồng uỷ thác.

7
Dịch vụ ngân hàng với vai trò thực hiện chính sách: Thông qua thcung ứng dịch vụ
NHTM thực hiện các chính sách vĩ mô của chính phủ, góp phần điều tiết nền sự tăng
trưởng kinh tế và theo đuổi mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô

1.4 Một số khuynh hướng ảnh hưởng đến hoạt động cung ứng dịch vụ của ngân
hàng

* Danh mục dịch vụ được điều chỉnh nhanh chóng thể hiện sự tăng trưởng loại hình dịch
vụ theo hướng thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng

Quá trình mở rộng danh mục dịch vụ được diễn ra rất nhanh chóng dưới áp lực cạnh
tranh gia tăng giữa NHTM với các định chế tài chính phi ngân hàng, từ sự hiểu biết và
đòi hỏi cao hơn của khách hàng và sự đổi mới của công nghệ. Đièu này gây áp lực tăng
chi phí và đặt ngân hàng vào tình trạng rủi ro tiềm tàng cao hơn tuy nhiên những dịch vụ
mới cũng tác động tích cực tới hoạt động ngân hàng vì nó tạo ra nguồn thu mới cho ngân
hàng từ phí dịch vụ. Đây là nguồn thu có xu hướng tăng nhanh hơn so với nguuồn thu từ
dịch vụ truyền thống.

* Sự gia tăng cạnh tranh

Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính ngày càng trở nên quyết liệt khi ngân hàng
và đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục dịch vụ. các ngân hàng trong nước cung cấp
dịch vụ tín dụng, tiền gưỉ hay cung cấp dkế hoạch hưu trí hoặc dịch vụ tư vấn đều đối mắt
với sự cạnh tranh trực tiếp từ ngân hàng khác hoặc các tập đoàn tài chính ngân hàng lớn.
Aps lực cạnh tranh đóng vai trò nư động lực thúc đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ trong
tương lai.

* Phi quản lý hoá

Cạnh tranh và quá trình mở rộng dịch vụ ngân hàng được thúc đẩy bởi sự nới lỏng các
quy định, giảm sự kiểm soát của chính phủ. Xu hướng này lan rộng toàn cầu. Các quốc
gia như Australia, Canada, Anh, Nhật đã nới rộng phạm vi pháp lý của ngân hàng, cho

8
chủ thể kinh doanh chứng khoán, và cho công ty dịch vụ tài chính khác. Do đó, chi phí và
rủi ro tiềm tàng cũng tăng lên.

* Sự gia tăng chi phí vốn

Sự nới lỏng luật lệ kết hợp với sự gia tăng cạnh tranh làm tăng chi phí huy động vốn .
Các ngân hàng cạnh tranh lẫn nhau trong hoạt động huy dộng vốn dẫn đến cạnh tranh lãi
suất, để thu hút tiền gửi các ngân hàng buộc tăng lãi suất nhằm tài trợ cho tài sản có. Các
ngân hàng nỗ lực tìm kiếm nguồn vốn mới dưới nhiều phương thức: hoạt động trênn thị
trường mở,chứng khoán hoá một số tài sản…

*Sự gia tăng nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất.

Sự cạnh tranh trên thị trường dịch vụ ngân hàng đã tạo thuận lợi cho công chúng bằng
thoả mãn ngày càng cao nhu cầu của công chúng. Để thu hút công chúng gửi tiền, các sản
phẩm tiền gửi đã sử dụng cơ chế thả nổi lãi suất theo điều kiện thị trường. Các khoản tiền
gửi với lãi suất cố định không còn tính bền vững như trước nữa bởi công chúng lựa chọn
công cụ và ngân hàng nào đáp ứng tốt hơn nhu cầu về thu nhập của họ. Do đó các ngân
hàng phải cố gắng giữ thị phần dịch vụ buộc phải đảm bảo đáp ứng nhu cầu thu nhập
công chúng gửi tiền và nhạy cảm với điều chỉnh thói quen phân phối các khoản tiết kiệm
của công chúng.

*Sự củng cổ và mở rộng hoạt động về mặt địa lý


Sử dụng có hiệu quả quá trình tự động hoá và những đổi mới công nghệ đòi hỏi
các hoạt động ngân hàng phải có quy mô lớn. Vì vậy, ngân hàng cần phải mở rộng cơ sở
khách hàng bằng cách vươn tới các thị trường mới, xa hơn và gia tăng số lượng tài khoản.
Kết quả là hoạt động mở chi nhánh ngân hàng diễn ra. Mô hình công ty sở hữu ngân hàng
mua lại các ngân hàng nhỏ và đưa chúng trở thành bộ phận của các tổ chức ngân hàng đa
trụ sở đã ngày càng phổ biến. Nhiều vụ hợp nhất đã diễn ra như vụ hợp nhất giữa
Chemical Bank và Chase Manhattan ở Newyork hay Bank of America và Nations Bank.
Số lượng các ngân hàng sở hữu độc lập đang có xu hướng giảm và quy mô trung bình của
các ngân hàng đang có xu hướng tăng. Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đang tìm mọi
cách để đạt được sự đa dạng hoá, ngân hàng không còn muốn duy trì mô hình ngân hàng
cổ điển và nhấn mạnh vai trò của nó như là các tổ chức tài chính năng động, đổi mới và
hướng về khách hàng.
Với sự phát triển tự động hoá, ngày càng nhiều ngân hàng mở chi nhánh ở những
9
vùng xa với các thiết bị viễn thông và máy rút tiền tự động, một phương pháp mở rộng
quy mô thị trường hơn là xây dựng các cơ sở vật chất mới. Trong nhiều trường hợp, hệ
thống thiết bị vệ tinh cung cấp dịch vụ hữu hạn sẽ thay thế các văn phòng chi nhánh đa
năng của ngân hàng.
*Quá trình toàn cầu hoá ngân hàng
Sự bành trướng địa lý và hợp nhất các ngân hàng đã vượt ra khỏi ranh giới một
lãnh thổ quốc gia và lan rộng ra với quy mô toàn cầu. Ngày nay, các ngân hàng lớn trên
thế giới cạnh tranh với nhau trên tất cả các lục địa. Quá trình tự do hoá các dịch vụ tài
chính cho phép các ngân hàng thuộc các quốc gia khác nhau đều có quyền cung cấp các
dịch vụ tài chính trên thị trường quốc tế và cùng cạnh tranh trong một môi trường bình
đẳng.
*Rủi ro vỡ nợ gia tăng
Trong khi xu hướng hợp nhất và bành trướng về mặt địa lý đã giúp nhiều ngân
hàng ít tổn thương hơn trước điều kiện kinh tế trong nước thì sự đẩy mạnh cạnh tranh
giữa các ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng kèm theo các khoản tín dụng
có vấn đề của một nền kinh tế luôn biến động cũng dẫn tới sự phá sản ngân hàng ở nhiều
quốc gia trên thế giới. Xu hướng phi quản lý trong lĩnh vực tài chính cũng làm cho các
thủ đoạn kinh doanh có thể xảo trá hơn, nơi mà sự phá sản, thôn tính và thanh lý ngân
hàng dễ xảy ra hơn.

Chương 2: Tổ chức hoạt động cung ứng dịch vụ ngân hàng


10
Một trong những yêu cầu cơ bản của dịch vụ ngân hàng là sự tiện lợi. Khách hàng mong
muốn sử dụng tài khoản giao dịch tài khoản tiết kiệm, và các khoản vay tại thời điểm và
địa diểm thích hợp nhất. Trong lịch sử phát triển của ngân hàng, sự tiện lợiđồng nghĩa với
vị trí của ngân hàng.Mọi doanh nghiệp và công chúng muốn sử dụng dịch vụ ngânhàng
tại nơi họ sống chứ không phải ở một nơi nào đó. Cùng với sự phát triển của công nghệ
thông tin và công nghệ ngân hàng vị trí địa lý không còn là vấn đề quan trọng quyết định
như trước mà công nghệ chính là yếu tố quyết định tới chất lượng dịch vụ. Trong chương
này trình bày về chiến lược sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, tổ chức hoạt động cung ứng
sản phẩm dịch vụ.

2.1 Chiến lược sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thương mại

2.1.1Khái niệm

Chiến lược sản phẩm ngân hàng là bộ phận của chiến lược marketing ngân hàng bao gồm
việc xác định hệ thống sản phẩm dịch vụ mục tiêu và hệ thống chính sách nhằm đảm bảo
thoả mãn nhu càu của khách hàng vkhi sử dụng dịch vụ đó.

2.1.2 Vai trò của chiến lược sản phẩm

Ngày nay trong điều kiện tiến bộ của khoa học kỹ thuật, tốc độ phát triển dịch vụ và sản
phẩm ngân hàng nhanh chóng vàkhông ngừng.Sự phát triên dịch vụ nhằm đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của khách hàng. Chiến lược sản phẩm dịch vụ của ngân hàng là công
cụ cạnh tranh hữu hiệu và là phương thức tạo ra nhu cầu mới từ đó tạo ra sản phẩm dịch
vụ mới.Sản phẩm dịch vụ ngân hàng bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ ngoại vi. Một
vấn đề quan trọng mà nhà quản trị cần chú ý đó là khách hàng không phân biệt dịch vụ
nào là dịch vụ cơ bản và dịch vụ ngoại vi. Ấn tượng và phản ứng của khách hàng tới tổng
thể dịch vụ của ngân hàng. Do đó, ngân hàng cần quan tâm đến chất lượng tổng thẻ của
dịch vụ ngân hàng.

2.1.3.Nguyên tắc xây dựng chiến lược sản phẩm

11
* Ngân hàng phải tự đánh giá về toàn bộ sản phẩm dịch vụ hiện có. Sản phẩm , dịch vụ
được chấp nhận ở mức độ nào? sự thay đổi sản phẩm dịch vụ theo hướng nào?

*Phát triên sản phẩm dịch vụ mới đảm bảo được tính độc đáo của sản phẩm. Tăng trưởng
và phát triển căn cứ vào tính khác biệt chứ không căn cứ vào đặc tính tốt của sản phẩm

*Chiến lược sản phẩm đáp ứng chính sách đa dạng hoá nhằm khai thác và đáp ứng tốt
nhất nhu cầu thị trường và phân tán rủi ro.

2.1.4. Nội dung chính sách sản phẩm

* Thực hiện phân đoạn thị trườngđể nắm bắt được nhu cầu và đặc điểm khách hàng để
xác định hệ thống sản phẩm dịch vụ phù hợp với từng giai đoạn cụ thể của thị trường.

*Nghiên cứu khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng với hệ thống sản phẩm dịch vụ đang
cung ứng.

* Nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm dịch vụ

*Nghiên cứu chu kỳ khách hàng

2.2 Thiết lập mạng lưới cung cấp dịch vụ ngân hàng

Mạng lưới cung cấp dịch vụ ngân hàng bao gồm toàn bộ hệ thống phương tiện vật chất và
nhân sự nhằm đưa sản phẩm dịch vụ tới khách hàng. Để tăng trưởng thị phần trên thị
trường cung ứng dịch vụ ngân hàng, các ngân hàng thiết lập mạng lưới chi nhánh nhằm
đưa sản phẩm dịch vụ đến với khách hàng.

2.2.1. Tổ chức mạng lưới chi nhánh

Khi ngân hàng muốn thâm ngập vào thị trường mới hoặc cung cấp hệ thống dịch vụ mới
thì điều kiện đầu tiên thực thi kế hoạch đó là mở rộng mạng lưới cung cấp bằng việc xây
dựng chi nhánh mới với mục tiêu và vai trò đã xác định. Địa điểm, hình thức và dịch vụ
nào phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng. Ngân hàng phải xác định rõ vai trò và chức
năng của các chi nhánh trong mạng lưới.

* Vai trò của chi nhánh


12
+Tập trung vào khách hàng, đặc biệt thu hút khách hàng mới.

+ Đáp ứng yêu cầu về dịch vụ của khách hàng trên cơ sở danh mục dịch vụ chi nhánh
được phép cung cấp. Cung cấp sản phẩm dịch vụ mang tính tích dịch vụ trọn gói, thoả
mãn tốt nhất yêu cầu của khách hàng.

+Xây dựng hình ảnh của ngân hàng với hệ thống dịch vụ nổi trội

+Xây dựng chi nhánh mới theo chiến lược mở rộng dịch vụ

+ Chi nhánh xây dựng sản phẩm dịch vụ cá biệt nhằm thu hút nguồn tiền gửi và tạo ra
nguồn thu từ phí một cách ổn định theo phướng hướng ngân hàng bán lẻ

* Điều kiện xây dựng chi nhánh mới

+Điều kiện vốn tài trợ cho chi nhánh mới

Việc hxây dựng chi nhánh mới là quyết định sử dụng vốn, do đó nó yêu cầu dòng tiền
đầu tư ban đầu phục vụ cho hoạt động thuê, mua tài sản. Các chi nhánh được thiết khi
dòng tiền dòng vào ở tương lai đảm bảo vốn đầu tư ban đầu và có được tỷ lệ thu nhập
hợp lý.

+ Điều kiện về vị trí địa lý

Ngày nay, một vị trí tốt cho chi nhánh thoả mán các điều kiện sau

1.Có nhiều xe cộ qua lại. Điều này có ý nghĩa thu hút khách hàng tiềm năng căn cứ vào
khả năng tự tiếp cận của khách hàng tới dịch vụ của ngân hàng trên cơ sở chính sách giao
tiếp của ngân hàng tại vị trí có nhiều dòng người và xe cộ qua lại

2.Có nhiều cửa hàng bán lẻ và của hàng bách hoá nằm xung quanh vị trí lựa chọn vì đây
là nơi mà chi nhánh có thể huiy động được một lượng tiền gửi và cung cấp các khoản tín
dụng tiêu dùng.

3.Số dân trên 45 tuối độc thân. Đây là tập khách hàng có các khoản tiết kiệm lớn vad mcó
nhu cầu dịch vụ uỷ thác lớn

13
4.Thu nhập trung bình và trình độ dân trí cao

5. Số lượng chi nhánh và các phương tiện dịch vụ của đối thủ cạnh tranh không gia tăng
quá nhanh để chi nhánh có cơ hột khai thác và có được thị phần thích hợp

6. Tốc độ gia tăng dân số trung bình

7. Số lượng dân cư đông, mật độ dân cư trên trung bình

Đối với chi nhánh được thiết lập chủ yếu vào thu hút tiền gửi thì địa điểm hợp lý là tại
các khu vực có thu nhập hộ gia đình và cá nhân ở mức trung bình trở lên, nơi có cửa hàng
bán lẻ và bách hoá có mật độ tập trung cao. Ngân hàng muốn phát triển dịch vụ tài khoản
giao dịch thông qua chi nhánh thường phát triển chi nhánh ở các khu vực dân cư có mức
thu nhập cao hoặc có nhiều trung tâm thương mại và cửa hàng bán lẻ. Đối với các chi
nhánh thành lập nhằm cung cấp dịch vụ tín dụng tiêu dùng nên chọn khu vực có nhiều hộ
gia đình trẻ tại những chung cư bên cạnh trung tâm thương mại, cửa hàng bán lẻ và nơi
có dòng phương tiện qua lại lớn. Đối với các dịch vụ tín dụng tài trợ thương mại thường
tập trung tại trung tâm thành phố nơi đặt trụ sở của NHTM.

+Điều kiện về tính hiệu quả của thiết lập chi nhánh

Việc thiết lập chi nhánh mới là quyết định sử dụng vốn, nó sẽ phát sinh dòng tiền ra phục
vụ cho hoạt động đầu tư vào chi nhánh mới. Các chi nhánh sẽ được thành lập nếu dòng
tiền vào trong tương lai NCF đủ lớn để bảo đảm cho ngân hàng có tỷ lệ thu nhập hợp lý
E(r).

Dòng tiền tài trợ choviệc = ∑ NCFi / ( 1+E(r))ⁿ

thành lập chi nhánh

Một chi nhánh mới được đánh giá là có hiệu quả kinh tế nếu tỷ lệ thu nhập dự tính lớn
hơn hay bằng tỷ lệ thu nhập tối thiểu phải trả cho các cổ đông. Thu nhập của chi nhánh
14
phụ thuộc vào nhu cầu của công chúng đối với các dịch vụ mà chi nhánh cung cấp,phụ
thuộc vào nhà quản lý và chất lượng nguồn nhân lực, chi phí vốn và nguồn lực cần thiết
khác.

Thiết lập chi nhánh mới, nhà quản trị không nhất thiết tập trung vào E(r) m à c ần thi ết
ph ải quan tâm đ ến phương sai của E(r) v h ệ s ố t ư ơng quan giữa E(r) v ới c ác chi

nhánh đang hoạt động và các tài sản khác của ngân hàng.Tác động của thu nhập dự kiến
của chi nhánh mới lên toàn bộ thu nhậpR(t) của các chi nhánh đang hoạt động và những
tài sản khác ROA

E(Rt)= W x E(RB) + (1-W)E( ROA)

Trong đó W là tỷ trọng nguồn lực đầu tư vào chi nhánh mới B trong tổng nguồn lực của
ngân hàng

∂²(Rt)= W² ∂²RB + (1-W) ∂²( ROA) +2 W (1-W)COV(RB, ROA)

15
Chương4 ĐỊNH GIÁ CÁC DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính cho
nền kinh tế như huy động tiền gửi, cho vay, bảo lãnh, thanh toán…. Ngân hàng mua
nguyên liệu và bán sản phẩm thông qua giá: Giá đó chính là lãi suất và các khoản chi phí
khác

Định giá hay xác định giá là nội dung quan trọng trong quản lý hoạt động của ngân
hàng vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập và chi phí của ngân hàng, quyết định khả
năng chiếm lĩnh thị trường, khả năng phát triển của ngân hàng.

16
Chương định giá các dịch vụ của ngân hàng thương mại tập trung nghiên cứu các
loại giá, phương pháp định giá sản phẩm của ngân hàng thương mại.

1. Các loại giá sản phẩm của ngân hàng thương mại.

Ngân hàng cung cấp dịch vụ với giá cả nhất định. Với tư cách là trung gian tài
chính, ngân hàng phải trả giá cho khách hàng về phần lớn nguồn tiền mà ngân hàng huy
động được cấu thành chi phí của ngân hàng cung cấp - cấu thành thu nhập của ngân hàng.
Do tính chất và yêu cầu về các sản phẩm, giá các sản phẩm của ngân hàng rất đa dạng,
cho phép ngân hàng tiếp cận với hàng triệu khách hàng khác nhau, thuộc những vùng,
ngành nghề,….. khác nhau.

Giá các sản phẩm của ngân hàng có thể chia thành hai phần: Lãi suất và phí.

1.1. Lãi suất ( năm): Là tỷ lệ (%) của số lãi trên gốc trong thời gian nhất định (1
năm). Ví dụ, lãi suất tiền gửi là 12% / năm. Nếu khách hàng gửi vào ngân hàng 100 triệu,
với thời hạn 6 tháng, thì ngân hàng sẽ phải trả số tiền lãi cho khách khi đến hạn là:

100 triệu x 6 tháng x 12% /12 = 6 triệu

1.1.1. Lãi suất huy động và lãi suất tài trợ: Là các loại lãi suất ngân hàng trả cho
nguồn huy động bao gồm lãi suất tiền gửi giao dịch, lãi suất tiết kiệm và lãi suất tài trợ
như lãi suất chiết khấu, lãi suất cho vay.. Để đảm bảo thu nhập ròng, lãi suất huy động
bình quân phải nhỏ hơn lãi suất tài trợ bình quân.

1.1.2. Lãi suất ngắn hạn và lãi suất trung, dài hạn: Lãi suất được phân biệt theo
thời hạn của sản phẩm. Thời hạn càng dài rủi ro càng lớn, do vậy, lãi suất dài hạn thường
cao hơn ngắn hạn.

1.1.3.Lãi suất cố định, thả nổi hoặc hỗn hợp.

Lãi suất thả nổi: Là lãi suất thay đổi theo cung cầu trên thị trường ( lãi suất thị
trường). Khi ngân hàng áp dụng lãi suất thả nổi, lãi sẽ tính theo lãi suất thị trường vào
thời điểm tính lãi. Lãi suất thả nổi có thể hạn chế rủi ro lãi suất cho ngân hàng, tuy nhiên,

17
lại gây khó khăn cho khách hàng trong việc lập kế hoạch đầu tư và vì vậy có thể gây rủi
ro cho khách hàng. Phần lớn doanh nghiệp vay và người gửi tiết kiệm đều muốn chọn lãi
suất cố định.

Lãi suất cố định: Là lãi suất được định trước trong hợp đồng và không thay đổi
trong suốt thời gian tồn tại của hợp đồng. Lãi suất cố định giúp cho ngân hàng và khách
hàng biết trước số lãi ( thu được hoặc phải trả), tuy nhiên, có thể tạo ra rủi ro lãi suất khi
lãi suất thị trường thay đổi lớn. Lãi suất thả nổi thường được áp dụng trong quan hệ giữa
các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Trong những năm gần đây,
trước bất ổn của thị trường tài chính quốc tế và tính liên kết ràng buộc ngày càng tăng
giữa các trung gian tài chính, ngân hàng có xu hướng mở rộng phạm vi áp dụng lãi suất
thả nổi trong quan hệ tài trợ cho khách hàng.

Lãi suất hỗn hợp: Là sự kết hợp giữa lãi suất thả nổi và cố định: cố định trong một
số lần trả lãi và thay đổi sau một số lần trả lãi. Ví dụ, Ngân hàng ĐT và PTVN cho vay 5
năm, thu lãi 3 tháng một lần. Ngân hàng áp dụng lãi suất hiện hành cho năm thứ nhất ( cố
định trong 1 năm) và sẽ thay đổi lãi suất trong từng năm tiếp theo. Lãi suất hỗn hợp
thường được áp dụng cho các khoản huy động và tài trợ trung và dài hạn.

1.1.4. Lãi suất trần và sàn.

Lãi suất trần là mức lãi suất cao nhất. Lãi suất sàn là mức lãi suất thấp nhất. Thứ
nhất, lãi suất trần và sàn có thể do ngân hàng nhà nước đặt ra và bắt buộc ngân hàng
thương mại phải tuân thủ. Để hạn chế các ngân hàng cạnh tranh đẩy giá tiền gửi lên quá
cao có thể gây ra khủng hoảng thanh khoản ( hoặc độc quyền hạ giá tiền gửi gây tổn hại
cho người tiết kiệm), Ngân hàng Nhà nước quy định lãi suất trần và sàn. Tương tự như
vậy đối với lãi suất tài trợ. Lãi suất trần và sàn phản ánh sự can thiệp trực tiếp của ngân
hàng Nhà nước vào chính sách lãi suất của ngân hàng thương mại. Thứ hai, lãi suất trần
và sàn do Ngân hàng thương mại đặt ra ( hợp đồng tài chính). Nếu Ngân hàng đang áp
dụng lãi suất thả nổi mà nhà quản lý cho rằng lãi suất có xu hướng tăng ngân hàng có thể
bán hợp đồng trần lãi suất tiền gửi, tức là lãi suất tiền gửi cao nhất mà ngân hàng có thể
18
trả; nếu lãi suất có xu hướng giảm, ngân hàng bán hợp đồng sàn lãi suất cho vay tức là lãi
suất cho vay thấp nhất mà khách hàng có thể trả. Hợp đồng lãi suất này nhằm hạn chế rủi
ro lãi suất đối với ngân hàng thương mại.

1.1.5. Lãi suất thông thường và lãi suất ưu đãi: Lãi suất thông thường được áp dụng
cho đa số khách hàng của ngân hàng, đảm bảo cho ngân hàng trang trải ch phí và có thu
nhập ròng cần thiết. Lãi suất ưu đãi có thể do Nhà nước quy định đối với khách hàng,
ngành, vùng đặc biệt như ngành cần khuyến khích, các vùng có nhiều khó khăn… Khi có
chính sách ưu đãi lãi suất, Nhà nước có thể có chính sách cấp bù lãi suất cho tổ chức tín
dụng. Lãi suất ưu đãi cho ngân hàng thương mại quy đinh, áp dụng cho những khách
hàng lớn, có uy tín. Lãi suất này thấp hơn lãi suất thông thường song vẫn đảm bảo thu
nhập ròng cho ngân hàng do khách hàng không có rủi ro hoặc mức vay rất lớn…

1.1.6.Lãi suất nội tệ, ngoại tệ: Lãi suất áp dụng cho nội tệ và ngoại tệ do các loại
tiền khác nhau thường có cung cầu và mức độ rủi ro khác nhau. Tại nhiều nước, trong đó
có Việt nam, ngoại tệ mạnh (đô la Mỹ) được sử dụng trong thanh toán trong nước và
quốc tế. Do tâm lý của người tiết kiệm và do tính ổn định của ngoại tệ so với nội tệ, số
tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ có xu hướng gia tăng trong khi người vay lại e ngại vay
ngoại tệ. Vì vậy, nhiều ngân hàng áp dụng phân biệt lãi suất cho nội và ngoại tệ theo
hướng lãi suất của ngoại tệ thấp hơn nội tệ.

1.1.7. Lãi suất cơ sở ( Lãi suất cơ bản)

Lãi suất của ngân hàng thương mại bao gồm hai phần: Phần cứng và phần mềm,
hoặc phần cố định và biến đổi, hoặc phần chung và phần riêng. Khi Ngân hàng cho vay
với lãi suất bằng (=) LIBORE + 2% thì LIBORE là phần biến đổi, 2% là phần cố định.
Nếu ngân hàng áp dụng cho vay bằng ngoại tệ với lãi suất băng (=) LIBORE + phần bù
rủi ro thì LIBORE là phần chung (áp dụng cho mọi khách hàng vay ngoại tệ), còn phần
bù rủi ro là phần riêng ( khác nhau đối với các khách hàng khác nhau). Nếu ngân hàng
cho vay với lãi suất bằng (=) Lãi suất hoà vốn 6% + phần bù rủi ro + thu nhập dự tính thì
lãi suất hoà vốn là phần cứng….
19
Trong chính sách đặt giá hiện nay các ngân hàng hay sử dụng lãi suất cơ bản làm
phần chung, phần cứng trong công thức lãi suất.

Lãi suất cơ sở ( lãi suất cơ bản) là lãi suất tài trợ áp dụng cho khách hàng tốt nhất
( rủi ro bằng không). Ngân hàng có thể sử dụng nhiều loại lãi suất tham chiếu ( ví dụ lãi
xuất của ngân hàng lớn, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất tái chiết khấu của
ngân hàng Trung ương…) làm lãi suất cơ sở, hoặc xây dựng lãi xuất cho vay với khách
hàng tốt nhất theo phương pháp tổng hợp chi phí rủi ro bằng không. Lựa chọn lãi suất nào
làm lãi suất cơ sở là tuỳ thuộc vào mối liên hệ của ngân hàng với thị trường tài chính
trong khu vực và sự phát triển của thị trường tài chính khu vực đó. Trước những năm 70s,
các ngân hàng lớn sử dụng lãi suất gốc ( lãi suất huy động đối với các nguồn tiền chính
của ngân hàng) làm lãi suất cơ sở. Sau những năm 70s với sự phát triển cao của thị
trường tài chính, độ nhạy cảm lãi suất lớn, các ngân hàng ở trung tâm tiền tệ thường có
xu hướng rời bỏ lãi suất gốc và sử dụng lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng
làm lãi suất cơ sở. Sự vận dụng này bắt đầu bởi cạnh tranh về giá từ phía mở rộng thị
trường giấy nợ và từ các ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên, lãi suất gốc vẫn là cơ sở của
việc đặt giá cho phần lớn các khoản cho vay nhỏ.

1.2. Phí

Bên cạnh lãi suất, phí ( hay còn gọi là lệ phí) thường được tính theo tỷ lệ phần trăm
trên quy mô sản phẩm. Ví dụ, phí bảo lãnh là 0,3% trên số tiền bảo lãnh. Nếu ngân hàng
cam kết bảo lãnh số tiền 100 triệu, thì phí ngân hàng thu là:

100 triệu x 0,3% = 0,3 triệu

Phí cũng có thể được tính bằng số tuyệt đối trong những trường hợp như số phí tối
đa, đô phí tối thiểu, phí thuê két, phí tư vấn…. Phí thường được áp dụng cho một số loại
hình dịch vụ của ngân hàng như thanh toán, mua bán hộ, bảo lãnh…

Trong hoạt động tài trợ ( cho vay, bảo lãnh…) ngân hàng thường sử dụng phí để bù
đắp một phần chi phí của ngân hàng.

20
2. Định giá các sản phẩm của ngân hàng

2.1. Tầm quan trọng của việc định giá các sản phẩm

- Khuyến khích tiết kiệm

Khi gửi tiền vào ngân hàng, khách hàng được hưởng một lãi suất tỷ lệ thuận với thời
gian và quy mô của tiền gửi. Bên cạnh mục tiêu an toàn, khách hàng ngày càng quan tâm
đến lãi suất: Họ so sánh lợi ích của tiêu dùng và tiết kiệm. Nếu lãi suất của ngân hàng hấp
dẫn hơn, khách hàng có xu hướng gia tăng tiết kiệm.

- Khuyến khích đầu tư

Nhiều doanh nghiệp và cá nhân mở rộng quá trình kinh doanh bằng cách vay ngân
hàng. Lãi trả ngân hàng là một phần chi phí của doanh. Vì vậy, nếu lãi suất tài trợ của
ngân hàng thấp hơn tỷ lệ sinh lời dự kiến, các khoản đầu tư có xu hướng được mở rộng.

- Tăng sức cạnh tranh

Giá sản phẩm của ngân hàng là một bộ phận cấu thành chất lượng sản phẩm. Do
hàm lượng bí quyết công nghệ trong sản phẩm của ngân hàng không cao, độ thoả mãn
của sản phẩm của ngân hàng đối với khách hàng được quyết định chủ yếu bởi chất lượng
phục vụ và giá. Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, cũng như quá trình tự do hoá thị
trường tài chính của nhiều quốc gia, độ nhạy cảm đối với các sản phẩm của ngân hàng
ngày càng gia tăng. Đó là điều kiện để các ngân hàng đẩy mạnh cạnh tranh thông qua giá
( và phi giá). Định giá sản phẩm đúng, kịp thời và đa dạng sẽ thúc đẩy tính cạnh tranh của
ngân hàng trên thị trường, cho phép ngân hàng thu hút được nhiều khách hàng, tăng
doanh lợi.

- Tăng thu nhập cho ngân hàng

Thu nhập của ngân hàng phụ thuộc vào quy mô hoạt động, lãi suất và phí. Định giá
thấp có thể tăng tính cạnh tranh, mở rộng quy mô. Tuy nhiên, giá thấp có thể sẽ hạn chế

21
thu nhập của ngân hàng nếu việc gia tăng quy mô không bù đắp được việc giảm giá. Do
vậy, ngân hàng cần tính toán giá các sản phẩm để đạt được mục tiêu tối đa hoá thu nhập.

- Bù đắp tổn thất

Tổn thất là không tránh khỏi trong hoạt động mang đầy tính rủi ro của ngân hàng.
Những tổn thất đến mức độ nào đó có thể dẫn đến sự phá sản. Để hạn chế ảnh hưởng xấu
của tổn thất đến hoạt động của ngân hàng, quỹ dự phòng ( cho rủi ro) được thiết lập và
tính vào chi phí của ngân hàng. Bên cạnh đó, thu nhập giữ lại ( sau khi nộp các khoản
thuê và chia các cổ tức) làm tăng vốn của chủ, tức là tăng sức mạnh của ngân hàng, tạo
khả năng chống đỡ rủi ro ngoài dự tính. Do vậy, việc định giá nhằm bù đắp chi phí có ý
nghĩa quan trọng đối với bù đắp rủi ro.

2.2. Phương pháp định giá.

2.2.1. Phương pháp tổng hợp chi phí và thu nhập

Phương pháp tổng hợp chi phí và thu nhập còn được gọi là mô hình đặt giá rộng.
Nội dung chính của phương pháp này là định giá cho các sản phẩm trên cơ sở tổng hợp
chi phí và mức thu nhập sau thuế cần thiết. Phương pháp này có thể áp dụng đối với cả
sản phẩm tiền gửi, tài trợ và thanh toán và có thể được tính cho từng loại sản phẩm….
Chi phí và thu nhập được tính toán dựa trên các yếu tố thị trường và khả năng chấp nhận
của thị trường. Trong tình trạng cạnh tranh kém, giá sản phẩm sẽ mang tính áp đặt.

Phương pháp định giá rộng áp dụng cho những khách hàng không muốn ràng buộc
chặt chẽ toàn bộ nhu cầu của họ về dịch vụ của ngân hàng vào một ngân hàng, tức là
không cần thiết phải tạo ra mối quan hệ phân biệt đặc biệt. Đặt giá rộng là phù hợp với họ
trong môi trường cạnh tranh với những người cho vay khác. Đặt giá rộng cũng thích hợp
với những khách hàng ít sử dụng hoặc sử dụng không đa dạng cá dịch vụ ngân hàng.

2.2.2. Phương pháp định giá cá biệt.

Phương pháp định giá cá biệt hay còn gọi là mô hình đặt giá hẹp. Nội dung chính
của phương pháp này là định giá trên cơ sở tính toán thu nhập và chi phí riêng đối với
22
loại khách hàng, hoặc từng mục tiêu cần phân biệt, trên cơ sở mối quan hệ tổng thể của
khách hàng đó với ngân hàng, nhằm tạo ra các mức giá (lãi suất và phí) riêng cho những
khách hàng cụ thể hoặc trong những giai đoạn, những thị trường cụ thể.

Phương pháp này khác phục nhược điểm của phương pháp chi phí và thu nhập.
Phương pháp định giá chi phí và thu nhập đã không tính đến riêng biệt của mỗi khách
hàng khi sử dụng sản phẩm của khách hàng, tính riêng biệt của thị trường hoặc mục tiêu
chiến lược của từng giai đoạn.

Tuy nhiên, việc mở rộng thành phần sử dụng giá cá biệt sẽ tạo cho ngân hàng những
khó khăn nhất định. Thứ nhất, công tác thống kê phải rất chi tiết và chính xác, phải có hệ
thống biểu mẫu, sổ sách, tài khoản để theo dõi, làm tăng chi phí của ngân hàng. Thứ hai,
định giá cá biệt một mặt sẽ có tác dụng cuốn hút các khách hàng lớn, an toàn ( hướng giá
tốt) song mặt khác lại hạn chế lôi cuốn các loại khách hàng khác ( phải chấp nhận giá
không tốt so với giá của các ngân hàng khác). Do vậy, chính sách phân biệt giá của ngân
hàng phải tính đến mục tiêu tăng trưởng khách hàng và tăng thu nhập.

2.2.2.1. Định giá sản phẩm trên mối quan hệ tổng thế với khách hàng

Ngân hàng thường định giá cá biệt – lãi suất và phí sử dụng vốn thấp hơn hoặc lãi
suất tiền gửi cao hơn cho các khách hàng lớn, các khách hàng an toàn hoặc truyền thống.
Những khách hàng này có thể có quy mô tiền gửi hoặc quy mô vay lớn vì vậy có chi phí
trên một đơn vị tiền gửi ( vay) thấp. Những khách hàng truyền thống sẽ giảm chi phí
phân tích tín dụng hoặc giảm rủi ro.

Ví dụ; Nếu người vay có quy mô vay lớn thì tỷ lệ chi phí phân tích tín dụng tính
trên quy mô sẽ giảm hơn người vay nhỏ, nếu cho vay tiêu dùng thế chấp bằng trái phiếu
Chính phủ hoặc sổ tiết kiệm thị độ an toàn sẽ cao hơn thế chấp bằng bất động sản…. Việc
định giá cá biệt là cách thức buộc người sử dụng sản phẩm của ngân hàng phải trả giá
đúng với chất lượng của sản phẩm đó. Với các khách hàng này, định giá cá biệt sẽ ưu

23
tiên, từ đó sẽ khuyến khích khách hàng sử dụng nhiều dịch vụ, gắn bó với ngân hàng hơn
và trong dài hạn họ sẽ tạo ra thu nhập lớn hơn cho ngân hàng.

2.2.2.2. Định giá sản phẩm nhằm mục tiêu trọng điểm

Mỗi ngân hàng đều xây dựng mục tiêu trọng điểm trong chiến lược hoạt động. Mục
tiêu t rọng điểm có thể gắn với lợi thế và duy trì lợi thế so sánh của ngân hàng, hoặc tạo
ra lợi thế so sánh. Định giá nhằm mục tiêu trọng điểm là xác định giá mang lại lợi thế so
sánh cho khách hàng qua đó ngân hàng mong muốn thu hút các cá nhân và doanh nghiệp
gửi tiền hoặc vay tiền và sử dụng các dịch vụ khác.

Ví dụ: Để tạo thị trường cho vay mới ( mà hiện đang có ít ngân hàng tham dự), ngân
hàng Á châu mở rộng hoạt động môi giới mua bán địa ốc. Ngân hàng cung cấp các thông
tin miễn phí về các căn nhà đang cần mua, bán. Sau đó nhu cầu vay để mua nhà sẽ được
ngân hàng đáp ứng. Mục tiêu trọng điểm của Ngân hàng Ngoại thương Việt nam là phục
vụ xuất, nhập khẩu, do đó phí dịch vụ hoặc giá mua bán ngoại tệ thường ở mức thấp so
với nhiều ngân hàng khác.

2.2.2.3. Định giá sản phẩm nhằm mục tiêu xâm nhập thị trường

Mở rộng thị trường là mục tiêu phát triển của ngân hàng. Khi xâm nhập thị trường
mới, ngân hàng thường phải đối đầu với nhiều khó khăn, đặc biệt là sự quen thuộc của
khách hàng với các tổ chức tài chính sẵn có. Một trong các biện pháp là đặt giá huy động
cao hơn, hoặc đặt giá tín dụng và các dịch vụ khác thấp hơn các ngân hàng khác. Ngân
hàng hy vọng rằng sự gia tăng nhanh chóng tiền gửi và những khoản tín dụng sẽ bù đắp
một phần sự giảm sút trong lợi nhuận cận b iên. Với chiến lược này, ngân hàng muốn tối
đa hoá thị phần trong một thị trường đang tăng trưởng nhanh chóng.

Định giá thâm nhập thị trường phải xác định được độ nhạy cảm của quy mô các sản
phẩm đối với giá. Nếu thị trường đó có nhiều hình thức cạnh tranh phi giá, đặt giá hấp
dẫn hơn cho khách có thể sẽ không mang lại hiệu quả mong muốn cho ngân hàng.

24
Trong giai đoạn xâm nhập thị trường, ngân hàng phải chấp nhận lỗ hoặc lợi nhuận
thấp. Việc cắt đứt quan hệ với ngân hàng sẵn có có thể gây ra những thiệt hại cho khách
nên khách hàng có xu hướng duy trì quan hệ với ngân hàng họ đã lựa chọn. Khách hàng
gửi tiền, đặc biệt là tiền tiết kiệm thường ít nhạy cảm với lãi suất. Nếu ngân hàng có thể
đưa ra lãi suất cao hơn mức bình quân thị trường trong một thời gian đủ dài để tạo ra mối
quan hệ của khách hàng vẫn gửi tiền tiết kiệm. Ngược lại, các doanh nghiệp lại ưu tiên
chọn các ngân hàng có khả năng cho vay tốt. họ cũng quan tam đến chất lượng cán bộ
ngân hàng và chất lượng dịch vụ tư vấn mà ngân hàng cung cấp. Do vậy, đặt giá cho vay
thấp phải kèm theo các điều kiện cho vay mềm hơn, hoặc chi phí dịch vụ hỗ trợ thấp hơn.

3. Định giá tài sản sinh lời.

Tài sản sinh lời mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Tuy nhiên, có một số tài
sản như tiền gửi tại các ngân hàng khác, chứng khoản Chính phủ hoặc trái phiếu công
ty…. Lãi suất được quyết định từ phía đối tác. Các tài sản sinh lời chủ yếu khác đều do
ngân hàng định giá.

Khả năng thu nhập của ngân hàng phụ thuộc vào việc đặt giá như thế nào cho các
khoản tài trợ và dịch vụ có liên quan so với chi phí trả lãi cho các nguồn và các chi phí
khác. Thu lãi từ hoạt động tín dụng là một nguồn thu nhập quan trọng nhất đóng vai trò
quan trọng trong việc duy trì khả năng sinh lời của ngân hàng. Hơn nữa tín dụng còn là
hoạt động cơ bản của ngân hàng, là mối liên hệ lớn nhất của ngân hàng và khách hàng
nên đặt giá cho các khoản tín dụng trở thành điểm trong tâm của quản lý doanh thu và chi
phí.

Những ngân hàng lớn có khả năng định giá sản phẩm hơn các ngân hàng nhỏ. Trong
môi trường cạnh tranh cao, ngân hàng nhỏ thường phải theo giá của ngân hàng lớn, buộc
phải tiết kiệm chi phí để có lợi nhuận mong muốn.

3.1. Định giá theo phương pháp tổng hợp chi phí và thu nhập

25
Ngân hàng xác định lãi suất tín dụng sao cho thu đủ bù đắp chi phí và có lợi nhuận
dự kiến.
Thu lãi tín Chi phí trả Chi Chi Thu lãi ( Các Lợi nhuận
dụng ( tài sản lãi cho phí phí dự ngoài tín khoản dự định
sinh lời = nguồn huy + quản + phòng - dụng ) + thuế +
động lý tổn và thu phải
thất khác nộp

Lãi suất tín dụng Thu lãi tín dụng ( tài sản sinh lãi
=
( Tài sản sinh lãi) Dư nợ bình quân

Trước hết, ngân hàng tổng hợp chi phí liên quan đến sản phẩm bao gồm các chi phí
như lãi, phí, lương phải trả, chi phí quản lý như tiền nhà, điện, nước, khấu hao, các chi
phí về giấy tờ…. Các chi phí này được tính theo tỷ lệ phần trăm trên quy mô sản phẩm
hoặc trên thu nhập mà sản phẩm mang lại.

Thứ hai, ngân hàng tổng hợp tổn thát ròng có thể xảy ra đối với các sản phẩm như
mất trộm, tiền giả, khách hàng không trả được nợ…. Các tổn thất này thường dựa trên
thống kê kinh nghiệm ( kỳ trước) và phán đoán xu hướng sắp tới. Các tổn thất dự đoán
này cũng được tính theo tỷ lệ % trên quy mô của sản phẩm.

Thứ ba, ngân hàng tính toán các loại thuế phải nộp dựa trên các loại thuế suất quy
định.

Thứ tư, ngân hàng phân loại các sản phẩm có thể mang lại thu nhập cho ngân hàng
như các sản phẩm mang lại thu nhập lãi, phí, chênh lệch giá… Các chi phí trên sẽ được
phân bổ trực tiếp và gián tiếp cho các sản phẩm sinh lời.

Thứ năm, ngân hàng dự tính thu nhập sau thuế đảm bảo lợi ích kỳ vọng của chủ sở
hữu.

Trên cơ sở chi phí tổng hợp, ngân hàng sẽ cân nhắc định giá phù hợp với yêu cầu
của thị trường (đảm bảo tính cạnh tranh của ngân hàng) và có thu nhập dự tính. Thu lãi

26
tín dụng được chia cho dư nợ để tính lãi suất tín dụng. Nếu giá bán của sản phẩm không
được thị trường chấp nhận, ngân hàng buộc phải giảm chi phí hoặc thu nhập dự tính.

3.1.1. Sử dụng chi phí bình quân.

Ngân hàng sử dụng lãi suất bình quân kỳ trước của các yếu tố trong công thức ở
mục 3.1. để định giá sản phẩm. Như vậy, lãi suất cho vay được xác định dựa trên lãi suất
bình quân nguồn huy động, rủi ro, chi phí quản lý….. trong kỳ trước có tính đến sự thay
đổi trong kỳ này.

Lãi suất bình quân có thể tính cho một nguồn trong khoảng thời gian, hoặc tính
chung cho một nhóm nguồn cung tài trợ cho một loại cho vay ( có cùng lãi suất cho vay).
Ví dụ, ngân hàng sử dụng nguồn huy động 3,6,12 tháng với các lãi suất khác nhau để cho
vay ngắn hạn ( một mức lãi suất). Ngân hàng có thể sử dụng lãi suất bình quân của các
nguồn để tính chi phí trả lãi chung khi đặt giá cho khoản cho vay.

Ví dụ: Một ngân hàng có về quy mô và lãi suất huy động sau:

Tỷ đồng, %

Nguồn vốn Dư Lãi Tài sản Dư Lãi

bình suất Bình suất


quân bình quân bình
quân quân

1. Tiền gửi thanh toán 100 1 1. Tiền mặt và tiền 50

2. Tiền gửi tiết kiệm 400 1,5 gửi 150 1

3. Tiền gửi tiết kiệm 200 2 2. Chứng khoán 250


trung 2,5 3. Cho vay ngắn

4. Tiền gửi tiết kiệm 100 4. Cho vay trung và 300


dài dài đối với doanh
100 1,5 100
27
5.Vay ngắn 0 nghiệp 100

6. Nguồn khác 100 5. Liên doanh

7. Vốn và quỹ 6. Cho vay tiêu 50


dùng

7. Tài sản cố định


và tài sản khác

Lãi từ hoạt động liên doanh: 1; thu khác: 1,5

Chi phí quản lý: 2; chi quỹ dự phòng tổn thất: 1

Thuế suất thu nhập 25%

Lãi suất huy động là lãi suất bình quân của kỳ trước được sử dụng để tính lãi suất
đầu vào của các khoản cho vay kỳ này.

3.1.1.1. Định giá chung cho các tài sản sinh lời theo lãi suất bình quân ( tổng hợp
chi phí thu nhập)

Giả sử lãi suất bình quân nguồn được xác định dựa trên lãi suất thị trường, phản ánh
chi phí cho từng nhóm nguồn. Ngân hàng có thể xác định chi phí trả lãi bình quân chung
cho tổng nguồn hoặc cho từng nhóm nguồn có chung tiêu thức sử dụng. Theo công thức
tại 3.1. các bộ phận hợp thành thu lãi từ hoạt động tín dụng được tính dựa trên số liệu kỳ
quá khứ.

Tổng chi phí trả lãi.

100 x1% + 400 x 1,5% + 200 x 2% + 100 x 2,5% + 100 x 1,5% = 15

Vậy lãi suất bình quân của tổng nguồn

15x100
= 1,5%
1000

Nhóm tài sản không sinh lãi: Tiền mặt, tiền gửi và tài sản cố định.

28
Tổng giá trị tài sản không sinh lãi = 100

Tài sản có lãi suất xác định trước: Chứng khoán, lãi chứng khoán

150 x 1% = 1,5

Nhóm tài sản ngân hàng phải đặt giá: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn
đối với doanh nghiệp, cho vay tiêu cùng. Tổng dư nợ = 650.

Lãi suất bình quân của các khoản cho vay để thu lãi bù đắp chi phí trả lãi.

(15 − 1,5) x100


= 2,09%
650

Lãi suất cho vay để bù đắp toàn bộ chi phí ( hoà vốn)

(15 + 3 − 1,5 − 1 − 1,5) x100


= 2,153%
650

Nếu ngân hàng muốn có tỷ lệ sinh lời trên vốn sở hữu đạt 3%, lãi suất cho vay bình
quân phải là:

15+3-1,5-1-1,5 + (Vốn sở hữu x3%)


x 100
( 1 - Thuế suất)
= 2,77%
650

3.1.1.2. Định giá cho một tài sản sinh lời theo lãi suất bình quân

Tính lãi suất cho một hoặc nhóm tài sản sinh lời, ngân hàng có thể tính lãi suất chi
trả của từng nhóm nguồn dùng để tài trợ cho tài sản đó, chi phí dự phòng tổn thất, phân
bổ các khoản chi phí và thu khác cho tài sản đó

Chi phí trả lãi Chi phí


Thu nhập dự
Lãi suất của nhóm khác phân
= + Thuế tính đối với
tài sản A nguồn tài trợ bổ cho tài
tài sản A
cho tài sản A sản A

29
Theo ví dụ 3.1.1. Ngân hàng có thể định giá cho các khoản cho vay ngắn hạn, trung
và dài hạn cho các doanh nghiệp và cho vay tiêu dùng. Nếu ngân hàng cho rằng, các
nguồn ngắn hạn, trước hết dùng để tài trợ cho các tài sản ngắn hạn, thì chi phí nguồn bình
quân cho các tái sản ngắn hạn chính là chi phí trả lãi ngắn hạn. Tuy nhiên, phần lớn
nguồn ngắn hạn phải chịu dự trữ bắt buộc, nên ngân hàng có thể phân bổ dự trữ bắt buộc
cho các khoản cho vay khác nhau.

Theo ví dụ đã cho ở mục 3.1.1. các nguồn ngắn hạn gồm tiền gửi thanh toán, tiết
kiệm và vay ngắn hạn = 600

Lãi phải trả cho nguồn ngắn hạn:

100 x 1% + 400 x 1,5% + 100 x 1,5% = 8,5

Lãi suất bình quân nguồn ngắn hạn:

8,5 x100
= 1,417%
600

Do ngân hàng duy trì dự trữ (50) không sinh lời nên lãi suất nguồn ngắn hạn cần bù
đắp là:

Lãi phải trả cho các nguồn ngắn hạn x100 8,5 x 100
= = 1,54545%
Nguồn ngắn hạn - Dự trữ 550

Đây chính là lãi suất sinh lời đảm bảo bù đắp chi phí trả lãi trong trường hợp có dự
trữ ( giả sử dự trữ không sinh lời).

Trong những trường hợp ngân hàng nắm giữ chứng khoán thanh khoản ( sinh lời
thấp), lãi suất của các khoản cho vay ngắn hạn phải tính phần bù cho chứng khoán ngắn
hạn (để hạn chế rủi ro thanh khoản)

Do đó lãi suất cho vay ngắn hạn bù đắp chi phí đầu vào là

30
Lãi phải trả Lãi thu được

nguồn ngắn từ chứng (8,5 – 7x10


x 100
hạn khoán ngắn 1,5)x100 0
=
hạn
1,75%
Nguồn ngắn hạn - Dự trữ - Chứng khoán ngắn 600-50-150 400
hạn

Theo ví dụ 3.1.1.

Chi phí quản lý: 2 ; thu nhập khác ( ngoài lãi) : 2,5

Vậy chênh lệch thu chi khác là 2 -2 ,5 = 0,5

Tỷ lệ phân bổ chênh lệch thu chi khác cho các khoản cho vay

− 0,5 x100
= −0,077%
650

Phần bù rủi ro tính trực tiếp cho các khoản vay, bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro lãi
suất, rủi ro khác. Dự tính trong 1 đơn vị chi cho quỹ dự phòng tổn thất tín dụng, tín dụng
ngắn hạn chiếm 0,4. Vậy, phần bù rủi ro đối với khoản cho vay ngắn hạn:

0,4 x100
= 0,16%
250

Thuế và thu nhập sau thuế của ngân hàng


3
=4
(1 − 0,25 )

Phân bổ thuế và thu nhập sau thuế cho khoản sau ngắn hạn
4 x100
= 0,61%
650

Lãi suất cho vay ngắn hạn:

1,75% - 0,77% + 0,16% + 0,61% = 2,443%

31
Với phương pháp tính bình quân như trên, ngân hàng xác định lãi suất cho vay ngắn
hạn đảm bảo bù đắp chi phí có lợi nhuận.

Đối với các khoản cho vay trung và dài hạn, lãi suất nguồn vốn tài trợ chính là suất
hỗn hợp giữa lãi suất trung, dài hạn với lãi suất ngắn hạn. Ngân hàng có thể không phân
bổ chi phí nguồn ( dành cho các khoản mục dự trữ) cho các khoản tín dụng trung và dài
hạn, song chi phí quản lý trực tiếp gắn với việc thẩm định dự án, theo dõi dự án, chi quỹ
dự phòng rủi ro gắn liền với tín dụng trung và dài hạn đều cao hơn ngắn hạn. Đó là các
yếu tố làm lãi suất tín dụng trung và dài hạn cao hơn ngắn hạn.

3.1.2. Sử dụng lãi suất biên để xác định lãi suất nguồn huy động

Sử dụng lãi suất trung bình trong định giá có thể dẫn đến sai sót trong điều kiện lãi
suất có xu hướng tăng ( hoặc giảm) nhanh. Nếu lãi suất huy động đang có xu hướng tăng
mà lãi suất cho vay dự tính lại dựa trên lãi suất bình quân thì có thể lãi suất cho vay
không đủ bù đắp lãi suất huy động. Sự gia tăng liên tục của lãi suất huy động sẽ làm cho
chi phí trung bình kỳ trước không phản ánh trung thực chi phí thực tế sắp tới. Nếu đem so
sánh lãi suất một khoản tín dụng và đầu tư dự tính với lãi suất huy động trung bình kỳ
trước có thể được coi là sinh lợi, song nếu so với lãi suất biên thì lại không sinh lợi. Do
vậy, định giá cho vay và đầu tư trong trường hợp cụ thể cần dựa trên lãi suất biên

Chi phí cận biên – chi phí tăng thêm cho một đồng vốn mới - được sử dụng trong
việc định giá các khoản tiền gửi và các nguồn vốn khác của ngân hàng sẽ huy động thêm.
Lãi suất biên phản ánh sự thay đổi và xu hướng thay đổi trong lãi suất huy động. Lãi suất
huy đọng biên là cơ sở tính lãi suất cho vay biên cũng như ra các quyết định về quy mô,
cấu trúc nguồn huy độg.

Tỷ lệ chi phí cận biên Mức thay đổi chi phí dự tính
=
Quy mô nguồn huy động tăng

Giả sử lãi suất tiết kiệm bình quân kỳ trước là 1,5% với quy mô là 400. Ngân hàng
dự tính kỳ tới lãi suất tăng lên 1,7% và quy mô huy động tăng lên 420, trong đó 350 vẫn
32
đang duy trì với lãi suất cũ và 70 đã chuyển sang lãi suất mới. Vậy, chi phí dự tính tăng
thêm.

( 70 x1,7% + 350 x1.5% - 400 x 1,5%) = 0,44

0,44x100
Lãi suất biên: = 2,2%
20

Nếu 20 tăng thêm cho vay với lãi suát 1,7% ( giả sử bỏ qua các yếu tố khác) thì ngân
hàng hoà vốn trên quan điểm lãi suất trung bình đối với phần huy động gia tăng. Tuy
nhiên, ngân hàng sẽ bị lỗ nếu đặt giá như vậy do một phần huy động cũ (50) vói lãi suất
cho vay cũ đã chuyển sang lãi suất mới (1,7%). Lỗ ( chi phí huy động lớn hơn cho vay)
là:

(70 – 20 ) x 1,7% = 0,85

Như vậy, nếu kỳ hạn định giá huy động và cho vay không bằng nhau ( thường kỳ
hạn định lại giá của huy động ngắn hơn cho vay) thì việc cho vay dựa trên lãi suất huy
động bình quân sẽ không đảm bảo yêu cầu sinh lời.

Đặt giá trên cơ sở lãi suất biên yêu cầu ngân hàng tính lãi suất tài trợ trên cơ sở lãi
suất biên của nguồn tài trợ. Theo ví dụ đã cho ( mục 3.1) lãi suất cho vay ngắn hạn
2,3155% đối với số dư bình quân 250 để đạt thu nhập ròng mong muốn. Khi ngân hàng
huy động thêm 20 tiết kiệm ngắn với lãi suất 1,7%, lãi suất biên là 2,2% (

0,44 x100
2,2% = )
20
Từ đó, lãi suất đầu vào của khoản cho vay ngắn hạn:

0,44 x100
= 2,373% ( Giả sử dự trữ tăng thêm 1,46 khi huy động thêm 20, tức là chỉ
18,54
có thể cho vay thêm 20 – 1,46 = 18,54)

Nếu cộng thêm các phần khác ( chi phí ròng, rủi ro…) như tính ở phần trên, lãi suất
cho vay ngắn hạn tăng thêm
33
2,373% + 0,16% - 0,077% + 0,61% = 2,466%

Lãi suất cho vay rất cao so với cách tính chi phí trung bình ( 2,466%). Để thích ứng
với lãi suất biên khi huy động, ngân hàng thường tăng lãi suất huy động để cho vay với
kỳ hạn dài hơn ( huy động ngắn để cho vay trung và dài hạn), hoặc cho vay với lãi suất
thả nổi.

3.2. Định giá tài sản sinh lời theo lãi suất cơ bản.

Theo phương pháp này, lãi suất sinh lời bao gồm 2 phần chính: Lãi suất cơ bản và
phần bù rủi ro. Trong đó, lãi suất cơ bản là phần chung cho mọi khách hàng, mọi loại
hình tín dụng, phần bù rủi ro áp dụng riêng cho từng loại khách hàng hoặc từng loại hình
tín dụng.

Lãi suất cho vay = Lãi suất cơ bản + Phần bù rủi ro

Ví dụ: Lãi suất cơ bản là 6 %, nếu khách hàng A vay ngắn hạn, phần bù rủi ro là 1%
nếu vay trung hạn, phần bù rủi ro là 1,5%

Lãi suất cho vay ngắn hạn: 6% + 1% = 7%

Lãi suất cho vay trung hạn: 6% + 1,5% = 7,5%

Lãi suất cơ bản thường nhạy cảm với các nhân tố trên thị trường tiền tệ - là phần
thường thay đổi. Giả sử trong 6% lãi suất cơ bản thì lãi suất huy động là 4%. Nếu lãi suất
hụy động tăng lên 5% thì lãi suất cơ bản là 7%

Có nhiều phương pháp xác định lãi suất cơ bản. Lãi suất cơ bản được xác định dựa
trên tổng chi phí và thu nhập, áp dụng cho khách hàng vay tốt nhất ( rủi ro bằng không)

Lãi suất Lãi suất Chi phi Thu nhập


+ + Thuế +
cơ bản huy động Ròng khác dự tính

Lãi suất cơ bản dựa trên lãi suất thị trường liên ngân hàng, là lãi suất các ngân hàng
cho nhau vay. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng nổi tiếng như LIBORE, SIBORE

34
thường trở thành lãi suất cơ bản của nhiều ngân hàng thương mại. Lãi suất này thường
xuyên thay đổi. Do đó, nếu ngân hàng áp dụng cho vay với lãi suất thả nổi thường chọn
lãi suất trên thị trường liên ngân hàng hình thành lãi suất cơ bản.

Lãi suất Lãi suất trên thị trường


= + Thuế Thu nhập dự tính
Cơ bản liên ngân hàng

Những ngân hàng nhỏ chọn lãi suất cho vay của các ngân hàng lớn làm lãi suất cơ
bản. Từ đó, một tỷ lệ phần trăm được cộng thêm để bù đắp chi phí của ngân hàng nhỏ.

4. Định giá nguồn huy động

Định giá nguồn huy động là một mắt xích trong quy trình định giá của ngân hàng,
bao gồm xác định lãi suất huy động và các chi phí khác có liên quan tới huy động, trong
đó lãi suất là phần quan trọng ảnh hưởng đến quy mô và hiệu quả huy động. Một số chi
phí khác có liên quan trực tiếp tới huy động như chi phí thuê quầy tiết kiệm, lương của
cán bộ phòng nguồn vốn, sổ sách… Một số chi phí khác được tính chung vào chi phí
quản lý và rất khó phân bổ cho hoạt động huy động vốn.

Xác định lãi suất huy động là công việc phức tạp, quyết định tới chất lượng của
nguồn huy động, từ đó tới chất lượng của tài sản, đòi hỏi tính nhạy bén của nhà quản lý
ngân hàng. Ngân hàng cần phải phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới quy mô nguồn huy
động để xác định lãi suất và các chi phí huy động khác.

4.1. Theo nguyên lý chung, các ngân hàng huy động với lãi suất thị trường, phản
ánh quan hệ cung cầu trên thị trường tiền tệ.

Với mỗi mức giá cụ thể, ngân hàng có phương pháp riêng để tính toán

Lãi suất Tỷ lệ thu nhập kỳ vọng


= Tỷ lệ lạm phát bình quân +
Huy động của người gửi tiền

Tỷ lệ thu nhập kỳ vọng của ngưởi gửi tiền phụ thuộc vào rủi ro của mỗi ngân hàng,
tỷ lệ sinh lợi của các họat động đầu tư khác và những tiện ích mà người gửi hy vọng nhận
35
được từ ngân hàng. Những loại tiền gửi mà tiện ích thu được từ ngân hàng càng cao thì
lãi suất ngân hàng trả cho nguồn tiền càng thấp

4.2. Trong quá trình phát triển của thị trường tài chính, nguồn cung ứng tiền từ
ngân hàng Trung ương, từ các tổ chức tài chính khác ngày càng có ý nghĩa hơn đối
với các ngân hàng thương mại.

Với môi trường này, ngân hàng thương mại xác định lãi suất huy động dựa trên lãi
suất gốc. Những lãi suất gốc quan trọng là lãi suất tái chiết khấu của ngân hàng Trung
ương ( Ngân hàng Nhà nước), lãi suất trên thị trường liên ngân hàng hoặc lãi suất trái
phiếu ngắn hạn của Chính phủ. Những ngân hàng lớn, ở các trung tâm tài chính, thường
lấy các lãi suất này làm điểm xuất phát khi xác định lãi suất huy động.

Lãi suất Lãi suất gốc (lãi suất tái

nguồn (nhóm = chiết khấu hoặc lãi suất Tỷ lệ thu nhập kỳ vọng
+
nguồn) liên ngân hàng, lãi suất của người gửi tiền
trái phiếu Chính phủ)

Ngân hàng sử dụng lãi suất gốc để xác địn lãi suất trả cho các nguồn tiền gửi ngắn
hạn. Từ lãi suất gốc, ngân hàng đa dạng các tỷ lệ lãi suất khác nhau theo nguyên tắc.

- Lãi suất bình quân thực dương, tương quan về an toàn và sinh lợi với các hoạt động
đầu tư khác như mua vàng, bất động sản, chứng khoán.

- Lãi suất tiền gửi nhỏ hơn lãi suất cho vay với cùng kỳ hạn

- Lãi suất tỷ lệ thuận với kỳ hạn

- Lãi suất tỷ lệ thuận với quy mô

- Lãi suất tỷ lệ nghịch với tính thanh khoản

- Lãi suất tỷ lệ thuận với khả năng sử dụng của tiền gửi

- Lãi suất tỷ lệ nghịch với độ an toàn của ngân hàng và các tiện ích mà ngân hàng
cung cấp.
36
4.3. Trong điều kiện cạnh tranh để tìm kiếm nguồn tiền, nhiều ngân hàng nỗ lực
tiết kiệm chi phí khác ( như chi phí quản lý) và chấp nhận tỷ lệ thu nhập ròng thấp để
gia tăng lãi suất huy động.

Ngân hàng có thể xác định lãi suất huy động tối đa trong mối tương quan với lãi suất
sinh lời của các tài sản.

Lãi suất Tỷ lệ sinh lời dự tính Tỷ lệ chi phí Tỷ lệ thuế thu nhập
nguồn từ tài sản được tài trợ khác ròng phân và thu nhập ròng

( nhóm bằng nguồn bổ cho nguồn tính trên nguồn

nguồn) ( nhóm nguồn) ( nhóm nguồn) (nhóm nguồn)

Ví dụ: Một ngân hàng có các số liệu sau: ( số dư - tỷ đồng) lãi suất - %)

Nguồn vốn Dư Lãi Tài sản Dư Lãi

bình suất Bình suất


quân bình quân bình quân
quân

37
1. Tiền gửi thanh toán 100 1. Tiền mặt và 50 0

2. Tiền gửi tiết kiệm tiền gửi 150 1


ngắn hạn 400 2. Chứng khoán 250 2
3. Tiền gửi tiết kiệm 200 3. Cho vay ngắn
trung 4. Cho vay trung 300 2,5
4. Tiền gửi tiết kiệm và dài đối với
100 50
dài hạn doanh nghiệp
100 150 3
5.Vay ngắn hạn 5. Liên doanh
0
6. Nguồn khác 6. Cho vay tiêu
100 dùng 50 0
7. Vốn và quỹ
7. Tài sản khác

Lãi liên doanh ước tính đạt: 1

Nguồn ( nhóm nguồn) ngân hàng phải đặt giá: Tiền gửi thanh toán, tiết kiệm ngắn,
vay ngắn, tiết kiệm trung và tiết kiệm dài hạn

Nếu chi phí quản lý: 2, chi quỹ dự phòng rủi ro: 1

Thu khác: 1,5

Thuế suất thu nhập: 25%

Yêu cầu: Đặt giá cho các khoản tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn

Tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn 400 có thể được dùng tài trợ cho các tài sản sau:

Chứng khoán: 100

Cho vay ngắn: 250

Cho vay trung: 50

(Giả sử tiền gửi thanh toán tài trợ cho ngân quỹ và chứng khoán ngắn hạn)

38
Lãi suất sinh lời bình quân tính cho nguồn tiền gửi ngắn hạn là:

(100x1% + 250x2,5% + 50x3%)x100


= 2,1875%
400

Chi phí ròng phân bổ cho các khoản cho vay liên doanh là:

1,5 x100
= 0,2%
750

Thu nhập ròng và thuế 4x10


thu nhập phân bổ cho Thu nhập trước thuế 0
các khoản cho vay và = = = 0,53333%

liên doanh 750


Dư nợ và liên doanh

( Giả sử rằng chứng khoán không phải chịu phân bổ chi phí, thuế và thu nhập ròng
dự tính)

Lãi suất có thể áp dụng cho tiết kiệm ngắn hạn là:

2,1875% - 0,2% - 0,53333% = 1,4542%

Từ lãi suất bình quân, ngân hàng có thể phân biệt thành các lãi suất ngắn hạn khác
nhau như lãi suất tiết kiệm 12 tháng, 6 tháng, 3 tháng….

Ngân hàng có thể điều chỉnh lãi suất cho phù hợp với môi trường cạnh tranh và
chiến lược huy động vốn, trong mối tương quan với các lãi suất khác trong ngân hàng

4.4. Một số ngân hàng nhỏ đặt giá trên cơ sở lãi suất của ngân hàng lớn ( Ngân
hàng trung gian)

Tuỳ trường hợp cụ thể mà lãi suất này sẽ cộng thêm phần bù rủi ro của ngân hàng
nhỏ. Trong điềukiện thị trường xa cách, người gửi khó tiếp cận với các ngân hàng lớn,
ngân hàng nhỏ đặt lãi suất huy động tương quan với lãi suất sinh lời.

5. Định giá cá biệt

39
Nguyên tắc định giá:

- Xác định các đối tượng cần định cá biệt, xác định mục tiêu định giá cá biệt

+ Giá cá biệt phải phản ánh chất lượng sản phẩm cá biệt của ngân hàng

+ Giá thâm nhập thị trường cần phải nghiên cứu và định giá thấp hơn giá của các đối
thủ cạnh tranh

+Giá cá biệt phải đảm bảo tăng thu nhập cho ngân hàng

Nội dung:

Ngân hàng sử dụng phương pháp chi phí và thu nhập áp dụng cho một khách hàng
cần định giá cá biệt

Ví dụ: Một khách hàng có số dư tiền gửi thanh toán trung bình năm là 100.000 có
nhu cầu vay 480.000 trong 12 tháng. Đây là khách hàng có tiền gửi thanh toán lớn. Ngân
hàng có thể sử dụng một phần tiền gửi này để thiết lập dự trữ bắt buộc hoặc nắm giữ
chứng khoán thanh khoản. Vì vậy, ngân hàng có thể cung cấp một số dịch vụ ưu đãi, như
giảm chi phí thanh toán, giảm mức ký quỹ hoặc giảm lãi suất cho vay.

Giả sử lãi suất trả tiền gửi thanh toán trung bình là 1%/ năm, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là
5%, tỷ lệ dự trữ thanh toán là 15%

Vậy số tiền lãi một năm ngân hàng phải trả cho khách.

100.000 x 1% = 1.000

Dự trữ bắt buộc và dự trữ thanh toán

100.000 x 20% = 20.000

Số tiền gửi thanh toán của khách hàng mà ngân hàng có thể sử dụng bình quân:
100.000 – 20.000 = 80.000

Số tiền mà ngân hàng cần huy động thêm để cho khách hàng này vay: 480.000
-80.000 = 400.000

40
Nếu lãi suất cho vay chung đối với mọi khách hàng là 6%/năm, lãi suất huy động
tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn là 4,4%, lãi suất bình quân nguồn huy động là 4%, thì lãi suất
mà ngân hàng sẽ thu được nếu như không có phân biệt giá: 480.000 x 6% = 28.800

Chênh lệch lãi suất: 6% - 4% = 2%

Do khách hàng này có tiền gửi thanh toán lớn nên lãi suất bình quân nguồn có thể
tính lại như sau: ( bỏ qua một số yếu tố khác)

[ (400.000x4,4%) + (80.000x1%)] x100 = 184 = 3,83%


480.000 48
Lãi suất cho vay có thể áp dụng đối với khách hàng này là:

3,38% + 2% = 5,38%

6. Định giá các dịch vụ khác của ngân hàng

Ngoài huy động, cho vay, đầu tư và cho thuê, ngân hàng còn cung cấp nhiều dịch vụ
khác như thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, chứng khoán, bảo lãnh, uỷ thác….
Các dịch vụ này tạo thu nhập đáng kể cho ngân hàng, đồng thời cũng làm gia tăng chi
phí. Xác định giá dịch vụ khác hợp lý sẽ có tác dụng mở rộng thị trường cho ngân hàng

Nguyên tắc định giá:

- Xác định các loại dịch vụ miễn phí và chịu phí, các đối tượng miễn phí.

- Phân bổ các chi phí liên quan tới dịch vụ chịu phí bao gồm chi phí trực tiếp và chi
phí gián tiếp.

- Các dịch vụ có liên quan chặt chẽ với nhau có thể san sẻ chi phí cho nhau, các -
dịch vụ mới có thể san bớt chi phí sang các dịch vụ đã được sử dụng rộng rãi, thu nhập
cao.

- Định giá dịch vụ theo quy mô: Quy mô sử dụng càng cao, phí suất có thể càng thấp

- Định giá dịch vụ có so sánh với giá tương quan của các tổ chức khác có cung cấp
dịch vụ cùng loại.
41
- Giá dịch vụ phải bù đắp được chi phí cho các dịch vụ và đạt thu nhập ròng dự tính (
có so sánh với thu nhập từ các hoạt động khác)

Giá dịch vụ = chi phí cho dịch vụ + Thuế và thu nhập ròng dự tính

Một số ngân hàng chuyển trọng tâm từ cạnh tranh về lãi suất danh nghĩa sang cạnh
tranh phi lãi, như cung cấp dịch vụ miễn giảm phí ( miễn phí cam kết, phí mở tài khoản
và duy trì tài khoản, phí tư vấn, giảm phí uỷ thác…) hoặc giảm chi phí của khách hàng
khi tiếp cận với các dịch vụ của ngân hàng như thiết lập các hệ thống chi nhánh, ứng
dụng công nghệ mới. Tuy nhiên, khi cạnh tranh lãi suất diễn ra gay gắt, các ngân hàng
phải thu hẹp phạm vi miễn giảm phí. Đồng thời,mỗi dịch vụ phi lãi thường được định giá
sao cho khoản thu đủ bù đắp tất cả hoặc phần lớn chi phí cho việc cung cấp dịch vụ đó
đồng thời tạo thêm thu nhập cho ngân hàng.

Ví dụ: Phí thanh toán bao gồm phí chuyển tiền, đếm tiền, mở tài khoản, mua và
thanh toán bằng thẻ, phí sử dụng máy rút tiền tự động…. Các khoản phí này gắn liền với
tiền gửi thanh toán. Định giá cho các dịch vụ này có thể được tính tổng thể cho toàn bộ
tiền gửi thanh toán.

Thứ nhất: Ngân hàng tính các chi phí trực tiếp phát sinh từ việc cung cấp các dịch vụ
thanh toán. Nếu chuyển tiền thì đó là tiền điện, bưu điện, mạng thanh toán điện tử, nếu
thanh toán bằng thẻ thì đó là ch phí phát hành thẻ, tiền điện, tiền công của nhân viên
ngân hàng làm công tác thanh toán, khấu hao máy móc, tổn thất trong quá trình thanh
toán…

Thứ hai, Ngân hàng phân bổ các chi phí khác có liên quan cho dịch vụ thanh toán,
như chi phí quản lý ngân hàng, khấu hao nhà cửa, chi phí đào tạo, chi phí quảng cáo….
Tỷ lệ phân bổ tuỳ thuộc vào chính sách phí của ngân hàng. Nếu tỷ trọng cho vay và đầu
tư lớn, lãi suất sinh lời cao, có thể ngân hàng sẽ chuyển toàn bộ hoặc phần lớn chi
phíchung cho các khoản cho vay và đầu tư. Hoặc nếu ngân hàng đang có chính sách phát

42
triển loại dịch vụ mới, ngân hàng cũng có thể đặt giá thấp bằng cách chuyển một phần chi
phí sang các dich vụ khác.

Thứ ba, ngân hàng có thể ước tính thu nhập ròng cho các dịch vụ. Một số trường
hợp, ngân hàng đặt mục tiêu phí dịch vụ chỉ cần bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí có
liên quan.

Đối với thuê – mua, ngân hàng xác định tiền thuê thu hàng kỳ dựa trên hao mòn của
tài sản cho thuê ( hao mòn vô hình và hữu hình), lãi suất dự tính và khả năng bán ( giá
bán) của tài sản đó khi hết hạn…. Lãi suất để cấu thành tiền thuê cũng được xác định như
trong cho vay.

7. Xác định nhân tố phi lãi suất

Người vay quan tâm không chỉ lãi suất của các khoản vay, phí dịch vụ, mà còn quan
tâm tới nhiều yếu tố khác có thể tạo thành chi phí của khoản vay. Chi phí này có thể được
tạo thành từ yêu cầu của ngân hàng như lãi suất, phí, chi phí công chứng, chi phí bảo
quản và giám sát tài sản, chi phí đi lại…. Nhưng chi phí này hình thành phí suất tín dụng
đối với khách hàng. Vì vậy, ngân hàng phải quan tâm tới tất cả các khoản phí tạo thành
phí suất tín dụng.

7.1. Các nhân tố trực tiếp

Hai nhân tố tác động trực tiếp tới lãi suất cho vay là số dư bù và phí cam kết.

7.1.1. Số dư bù

Ngân hàng yêu cầu người vay duy trì số tiền gửi tối thiểu trên tài khoản tiền gửi
thanh toán trong quá trình vay. Số dư bù được xác định trung bình trên các khoản cho
vay, nhằm giảm rủi ro ngân hàng từ phía khách hàng. Hơn nữa, nó cho phép ngân hàng
thanh toán các chi phí ngầm ( khi khoản vay của khách là đáng chú ý đối với ngân hàng,
ngân hàng có thể gia tăng chi phí ngầm đối với khoản vay này). Chi phí của số dư bù đối
với người vay có thể phản ánh trực tiếp trong chi phí của khoản vay. Nếu người vay cần
80 triệu song phải duy trì số dư bù 20%, tức 16 triệu, thì số tiền người vay thực sự sử
43
dụng được của ngân hàng là 64 triệu. Nếu lãi suất của ngân hàng là 10%, thì lãi suất thực
( lãi suất hiệu dụng) mà người vay phải trả là:

(80trieux10%)
= 12,5%
64trieu

Số dư bù bị phê phán là kém hiệu quả dù chúng làm gia tăng lãi suất hiệu dụng. Số
dư bù phải đối lại các khoản dự trữ, vì vậy, ngân hàng không thể sử dụng toàn bộ số dư
bù để cho vay.

7.1.2. Phí cam kết

Đáp ứng yêu cầu vay ( thường là trung và dài hạn) của khách hàng trong tương lai,
ngân hàng thường ký hợp đồng tín dụng, cam kết cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng
trong khoảng thời gian xác định. Để có được cam kết đó của ngân hàng, trong nhiều
trường hợp, khách hàng phải trả phí cam kết.. Phí cam kết, được tính bằng tỷ lệ phần trăm
trên hạn mức cam kết còn lại mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng. Về thực chất, phí
này là giá để gọi ( tìm) nguồn trong tương lai, liên quan tới chi phí của ngân hàng để duy
trì tính thanh khoản nhằm đáp ứng nhu cầu cho vay ( ví dụ nắm chứng khoán của Chính
phủ, duy trì tiền gửi…..). Nếu khách hàng sử dụng vốn vay, khách hàng phải trả lãi. Nếu
khách hàng chưa sử dụng hết cam kết, khách hàng phải trả phí cam kết. Do vậy, phí cam
kết làm gia tăng ch phí vay vốn của khách hàng.

7.2. Các nhân tố gián tiếp

Quan trọng nhất là quy định về kỳ hạn trả nợ, phương pháp tính lãi, các yêu cầu về
tài sản đảm bảo ( chi phí thuê kho bãi, nhân viên để quản lý tài sản đảm bảo, chi phí đánh
giá tài sản đảm bảo…) chi phí để xây dựng dự án, thẩm định dự án. Việc xác định kỳ hạn
trả có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của khách hàng, gây khó khăn về ngân quỹ
cho khách hàng. Thời gian và chi phí bằng tiền để công chứng tài sản thế chấp và các
giấy tờ có liên quan có thể làm mất đi cơ hội kinh doanh của khách hàng và làm tăng phí
tổn tín dụng. Chi phí để thẩm định, tái thẩm định dự án theo yêu cầu của ngân hàng cũng

44
làm tăng chi phí của khách hàng… Các yếu tố này được đặt ra làm giảm rủi ro của ngân
hàng và tăng chi phí hiệu dụng của khách hàng trong đó xác định cấu trúc của lãi, phí và
các chi phí khác mà khách hàng phải trả cho ngân hàng và cho các chủ thể khác.

Định giá là hoạt động phức tạp, liên quan đến hầu hết các dịch vụ của ngân hàng
thương mại. Định giá cần phản ánh lợi ích tương quan giữa ngân hàng và khách hàng
nhằm góp phần tạo tăng trưởng bền vững cho cả hai bên. Định giá cần mang tính đa
dạng, thể hiện sự khác biệt trong tiện ích mà ngân hàng cung cấp cho các khách hàng
khác nhau. Trong môi trường cạnh tranh và hợp tác, định giá của các ngân hàng thương
mại ngày càng linh hoạt, trở thành nội dung quan trọng trong chiến lược hoạt động của
ngân hàng.

45

You might also like