P. 1
Cac chi tieu danh gia suc manh tai chinh cua Doanh nghiep

Cac chi tieu danh gia suc manh tai chinh cua Doanh nghiep

|Views: 990|Likes:
Được xuất bản bởiphuonglien88

More info:

Published by: phuonglien88 on Mar 02, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

08/02/2013

pdf

text

original

Cac chi tieu danh gia suc manh tai chinh cua Doanh nghiep

1.
• • •

Nhom chi tieu ve kha nang sinh loi : Doanh lợi doanh thu (ROS) = Lợi nhuận ròng / Doanh thu thuần Doanh thu tổng tài sản (ROA) = Lợi nhuận ròng / Tổng tài sản bình quân Doanh lợi vốn chủ sở hữu(ROE) = lợi nhuận ròng / VCSH bình quân

Các hệ số sinh lời

1.1 Hệ số tổng lợi nhuận: Hệ số tổng lợi nhuận = (Doanh số - Trị giá hàng đã bán theo giá mua)/(Doanh số bán) - Hệ số này cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào (vật tư, lao động) trong một quy trình sản xuất của doanh nghiệp. - Trong thực tế khi muốn xem các chi phí này có cao quá hay không là đem so sánh hệ số tổng số lợi nhuận của một công ty với hệ số của các công ty cùng ngành, nếu hệ số tổng lợi nhuận của các công ty đối thủ cạnh tranh cao hơn, thì công ty cần có giải pháp tốt hơn trong việc kiểm soát các chi phí đầu vào. 1.2 Hệ số lợi nhuận ròng Hệ số lợi nhuận ròng = (Lợi nhuận sau thuế)/(Doanh thu thuần) - Hệ số lợi nhuận ròng phản ánh khoản thu nhập ròng (thu nhập sau thuế) của một công ty so với doanh thu của nó. Hệ số này càng cao thì càng tốt vì nó phản ánh hiệu quả hoạt động của công ty. - Trên thực tế mức lợi nhuận ròng giữa các ngành là khác nhau, còn trong bản thân một ngành thì công ty nào quản lý và sử dụng yếu tố đầu vào tốt hơn thì sẽ có hệ số lợi nhuận cao hơn. Đây là một trong các biện pháp quan trọng đo lường khả năng tạo lợi nhuận của công ty năm nay so với các năm khác. 1.3Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) ROA = (Lợi nhuận sau thuế)/ (Tổng tài sản)

Như vậy công ty A hiệu quả hơn trong việc biến đầu tư thành lợi nhuận. Tài sản của một công ty thì được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu.Hệ số này càng cao thì cổ phiếu càng có sức hấp dẫn hơn vì hệ số này cho thấy khả năng sinh lợi từ chính nguồn tài sản hoạt động của công ty. • Hệ số thu nhập trên tài sản (Return On Assets .ROA ) Đây là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với tài sản của nó. Nếu một công ty không kiếm được nhiều hơn số tiền mà nó bỏ ra để chi cho các hoạt . tuy nhiên nếu công ty B cũng thu được khoản thu nhập tương tự trên tổng tài sản là 10 triệu $.. Tuy nhiên chỉ có rất ít các nhà quản lý có khả năng kiếm những món lợi lớn mà chỉ cần đầu tư khoản tiền nhỏ. ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời. tốt hơn hết là nên so sánh ROA của mỗi công ty qua các năm và so giữa các công ty tương đồng nhau. Công thức tính như sau: Trong đó Net income : Thu nhap rong Total assets : tổng tài sản Chú ý : một số nhà đầu tư có cộng cả chi phí lãi vay vào thu nhập ròng trong công thức tính toán trên vì họ thích sử dụng doanh thu hoạt động trước lãi vay. ROA của B sẽ là 10%. Đó là lý do tại sao khi sử dụng ROA để so sánh các công ty. .ROA là hệ số tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư. Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. tổng tài sản là 5 triệu$. công việc khó khăn nhất của người quản lý là phân bổ vốn và các nguồn lực một cách khôn ngoan. Các nhà đầu tư cũng nên chú ý tới tỉ lệ lãi suất mà công ty phải trả cho các khoản vay nợ. ROA được tính bằng cách chia thu nhập hàng năm cho tổng tài sản. ROA sẽ cung cấp cho bạn các thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản). Và do đó. ROA cho biết cứ một đồng tài sản thì công ty tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận và ROA đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản của công ty. thể hiện bằng con số phần trăm. ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất lớn và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh. khi đó ROA là 20%. Ví dụ nếu công ty A có thu nhập ròng là 1 triệu $. Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty. Bất kì ai cũng có thể kiếm lời bằng cách quăng cả núi tiền ra để giải quyết rắc rối nào đó. ROA càng cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn.

có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn. đó hiển nhiên không phải là một dấu hiệu tốt. từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào. Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE. • . Chỉ số này là thước đo chính xác nhất để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy được tạo ra bao nhiêu đồng lời. Ngược lại. Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường. Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông.Return on Equity) Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông (hay trên giá trị tài sản ròng hữu hình). ROE= Lợi nhuận ròng / Vốn cổ phần Trị giá ROE được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng theo niên độ kế toán sau khi đã trả cổ tức cho cổ phần ưu đãi nhưng trước khi trả cổ tức cho cổ phần thường. nếu ROA mà tốt hơn chi phí vay thì có nghĩa là công ty đang bỏ túi một món hời. thì lợi nhuận tạo ra cũng chỉ để trả lãi vay ngân hàng. vậy nếu công ty có khoản vay ngân hàng tương đương hoặc cao hơn vốn cổ đông.động đầu tư. 1. vì hệ số này cho thấy khả năng sinh lời và tỷ suất lợi nhuận của công ty.4 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn tự có (ROE) ROE = ( Lợi nhuận sau thuế)/Vốn chủ sở hữu . mở rộng quy mô. chia cho toàn bộ vốn chủ sở hữu (hay vốn cổ phần) vào lúc đầu niên độ kế toán. hơn nữa tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tài chính của công ty. Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn. các nhà đầu tư có thể đánh giá ở các góc độ cụ thể như sau: • ROE nhỏ hơn hoặc bằng lãi vay ngân hàng. ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thì chúng ta phải đánh giá xem công ty đã vay ngân hàng và khai thác hết lợi thế cạnh tranh trên thị trường chưa để có thể đánh giá công ty này có thể tăng tỷ lệ ROE trong tương lai hay không. ROE càng cao thì khả năng cạnh tranh của công ty càng mạnh và cổ phiếu của công ty càng hấp dẫn. Khi tính toán được tỷ lệ này.ROE cho biết một đồng vốn tự có tạo được bao nhiêu đồng lợi nhuận.

Nếu số vòng quay thấp thì hiệu quả sử dụng vốn kém do vốn bị chiếm dụng nhiều. Số vòng quay hàng tồn kho – Inventory turnover ratio: Số vòng quay hàng tồn kho là một tiêu chuẩn đánh giá công ty sử dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào.2. a. Nhưng nếu số vòng quay các khoản phải thu cao quá thì sẽ giảm sức cạnh tranh dẫn đến giảm doanh thu. b. ngoài việc so sánh giữa các năm.v. • • • • • • Nhom chi tieu ve hieu suat Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán / hàng tồn kho bình quân Số ngày một vòng quay hàng tồn kho = 360 ngày / Số vòng quay hàng tồn kho Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần / Các khoản phải thu bình quân Kỳ thu tiền trung bình = 360 ngày / Vòng quay các khoản phải thu Vòng quay vốn lưu động = Doanh thu thuần / TSLĐ bình quân Vòng quay tổng tài sản = Doanh thu thuần / Tổng tài sản bình quân Hệ số hiệu quả hoạt động Tỷ số hoạt động – Activity Ratios Các tỷ số hoạt động đo lường hoạt động kinh doanh của một công ty. so sánh với các công ty cùng ngành. Vòng quay hàng tồn kho =Doanh thu thuần / Hàng tồn kho . khoản trả trước cho người bán. Số vòng quay các khoản phải thu được sử dụng để xem xét cẩn thận việc thanh toán các khoản phải thu v. Khi phân tích tỷ số này. Số vòng quay các khoản phải thu – Accounts receivable turnover ratio: Các khoản phải thu là những hoá đơn bán hàng chưa thu tiền về do công ty thực hiện chính sách bán chịu và các khoản tạm ứng chưa thanh toán. Vòng quay các khoản phải thu =Doanh thu/ Các khoản phải thu Số vòng quay các khoản phải thu hoặc kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách bán chịu của công ty. lúc đó các khoản phải thu quay được một vòng. Khi khách hàng thanh toán tất cả các hoá đơn của họ.. các nhà quản trị phải biết là những tài sản chưa dùng hoặc không dùng không tạo ra thu nhập vì thế công ty cần phải biết cách sử dụng chúng có hiệu quả hoặc loại bỏ chúng đi. công ty cần xem xét kỹ lưỡng từng khoản phải thu để phát hiện những khoản nợ đã quá hạn trả và có biện pháp xử lý.. Để nâng cao tỷ số hoạt động. Tỷ số hoạt động đôi khi còn gọi là tỷ số hiệu quả hoặc tỷ số luân chuyển.

tại công ty VDEC trong năm 2005 một đồng tài sản đã tạo ra được 1. Nhom chi tieu ve kha nang tai chinh Tỷ số đòn bẩy tài chính – Financial leverage ratios Tỷ số đòn bẩy đánh tài chính giá mức độ mà một công ty tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình bằng vốn vay.Tính toán trên cho thấy rằng trong năm 2005 hàng tồn kho của công ty VDEC luân chuyển 4. công ty luôn phải thực hiện một chuỗi thanh toán cố định. Trong thời kỳ khó khăn. Số vòng luân chuyển hàng tồn kho cao hay thấp tùy thuộc vào đặc điểm ngành kinh doanh.09 vòng có nghĩa là khoảng 88 ngày một vòng. Nếu công ty VDEC là nhà máy sản xuất rượu vang với số vòng luân chuyển hàng tồn kho 4. Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản =Doanh thu thuần/ Toàn bộ tài sản Điều này có nghĩa là. c. Qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định ở công ty. Nếu chỉ số này cao cho thấy công ty đang hoạt động gần hết công suất và rất khó để mở rộng hoạt động nếu không đầu tư thêm vốn. Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần – Sales-to-equity ratio: Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần là chỉ tiêu rất hữu ích trong việc phân tích khía cạnh tài chính của công ty mà sẽ được đề cập kỹ hơn ở phần sau.377 đồng doanh thu. Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần đo lường mối quan hệ giữa doanh thu và vốn cổ phần. Khi một công ty vay tiền. các . d. Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần =Doanh thu thuần/ Vốn cổ phần 3. nếu công ty VDEC kinh doanh rau quả tươi với hàng hoá khoảng 88 ngày quay vòng một lần thì có lẽ là hàng hoá chưa kịp bán đã bị hư hỏng. Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản – Sales-to-total assets ratio: Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản đo lường một đồng tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định =Doanh thu thuần/ Tài sản cố định Tỷ số trên cho thấy tại công ty VDEC một đồng tài sản cố định đã tạo ra được 3. nợ vay được xem như là tạo ra đòn bẩy.09 vòng/năm cho thấy công ty đã sản xuất sản phẩm quá nhanh đến nỗi rượu chưa thích hợp để uống. Ngược lại. Muốn đánh giá việc sử dụng tài sản cố định có hiệu quả không phải so sánh với các công ty khác cùng ngành hoặc so sánh với các thời kỳ trước. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định – Sales-to-Fixed assets ratio: Tỷ số này nói lên một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu.55 đồng doanh thu. Vì các cổ đông chỉ nhận được những gì còn lại sau khi chi trả cho chủ nợ. e.

Tỷ số nợ trên tài sản – Debt ratio: Tỷ số này cho thấy bao nhiêu phần trăm tài sản của công ty được tài trợ bằng vốn vay. Các tỷ số đòn bẩy thông thường là: a. Có thể vì một vài lý do nào đó việc các kế toán viên bỏ qua tài sản cố định vô hình lại tốt cho công ty như khi người cho vay yêu cầu người đi vay không được phép dùng tỷ số nợ theo sổ sách để tăng các hạn mức vay. Điều đó có nghĩa là công ty càng vay nhiều thì lãi suất càng cao. Có phải như thế hay không? Có lẽ là không.03% tài sản của công ty VDEC được tài trợ bởi vốn vay.công ty có đòn bẩy tài chính cao có khả năng không trả được nợ. Đối với công ty. Những tài sản này thường không sẵn sàng để bán và nếu công ty rơi vào tình cảnh khó khăn về tài chính thì tất cả giá trị này sẽ biến mất. người ta đánh giá được độ rủi ro này (β) và tính vào lãi suất cho vay. Giá thị trường của công ty cuối cùng xác định các chủ nợ có thu hồi được tiền của họ không? Vì thế.v. b. tỷ số đòn bẩy tài chính sẽ giúp nhà quản trị tài chính lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý nhất cho công ty mình. Qua tỷ số đòn bẩy tài chính nhà đầu tư thấy được rủi ro về tài chính của công ty từ đó dẫn đến quyết định đầu tư của mình. quảng cáo. Điều này cho thấy 58. Lưu ý rằng tỷ số này sử dụng giá sổ sách chứ không phải giá thị trường. Tỷ số nợ trên vốn cổ phần – Debt–to–equity ratio: Tỷ số nợ trên vốn cổ phần =Tổng nợ/ Vốn cổ phần Tỷ số nợ trên vốn cổ phần của công ty VDEC năm 2005: 138 383 . nợ dài hạn do đi vay hay phát hành trái phiếu dài hạn. Tỷ số nợ =Tổng nợ/ Tổng tài sản Tổng nợ: bao gồm toàn bộ khoản nợ ngắn hạn và dài hạn tại thời điểm lập báo cáo tài chính gồm: các khoản phải trả vay ngắn hạn. Ở các nước phát triển. Giá thị trường bao gồm giá trị tài sản cố định vô hình thể hiện trong chi phí nghiên cứu và phát triển. v. Vì thế khi công ty muốn vay tiền. rủi ro về mặt tài chính càng lớn). Tổng tài sản: toàn bộ tài sản của công ty tại thời điểm lập báo cáo. Lý do chính để các kế toán viên làm như thế – như đã đề cập ở phần đầu chương này– là bởi vì giá thị trường không có sẵn. các nhà phân tích phải xem mệnh giá của các khoản nợ như một phần của tổng giá thị trường của nợ và vốn cổ phần. ngân hàng sẽ đánh giá xem công ty có vay quá nhiều hay không? Ngân hàng cũng xét xem công ty có duy trì nợ vay của mình trong hạn mức cho phép không? Các nhà cung cấp tín dụng căn cứ vào tỷ số đòn bẩy tài chính để ấn định mức lãi suất cho vay đối với công ty (vì công ty càng có nhiều nợ vay.

Vì vậy để thấy được mức độ tài trợ bằng vốn vay một cách thường xuyên (qua đó thấy được rủi ro về mặt tài chính mà công ty phải chịu). Tỷ số nợ dài hạn trên vốn cổ phần =Nợ dài hạn/ Vốn cổ phần % 34. bao gồm tiền lãi trả cho các khoản vay ngắn và dài hạn kể cả lãi do phát hành trái phiếu.367 Vì tỷ số nợ dài hạn trên vốn cổ phần có giá trị nhỏ hơn tỷ số nợ trên vốn cổ phần điều này có nghĩa là phần lớn nợ của công ty VDEC là nợ ngắn hạn. Điều này dường như công ty đã sử dụng một lượng vốn vay đáng kể. hầu hết các khoản vốn vay này lại là tín dụng thương mại phi lãi suất và những khoản phải trả ngắn hạn. Tổng tài sản trên vốn cổ phần = Toàn bộ tài sản/ Vốn cổ phần 238.28% 2.Tính toán trên cho thấy rằng trong năm 2005 các nhà cho vay đã tài trợ nhiều hơn vốn cổ phần 38. Điều này cũng cho thấy tình hình vay nợ của công ty.383 lần so với vốn cổ phần. c. Lãi vay từ những khoản nợ dài hạn như vậy sẽ làm gia tăng những rủi ro về tài chính nếu lợi nhuận của công ty làm ra không đủ trả lãi vay. .3828 Tỷ số này cho thấy trong năm 2005 công ty đã có được tổng tài sản gấp 2. Phần mẫu số là lãi vay. các chủ nợ có thể đi đến kiện tụng và tuyên bố phá sản. phần tử số phản ánh số tiền mà công ty có thể được sử dụng để trả lãi vay trong năm. Khả năng thanh toán lãi vay – Times interest earned ratio: Lãi vay hàng năm là chi phí tài chính cố định và chúng ta muốn biết công ty sẵn sàng trả lãi đến mức nào. Nếu công ty quá yếu về mặt này.3%. Mặc dù vậy những người cho vay dài hạn đã cung cấp cho công ty VDEC 64. có thể đem lại khoản lợi nhuận bao nhiêu và đủ bù đắp lãi vay hay không. Tuy nhiên. Tỷ số này dùng để đo mức độ mà lợi nhuận phát sinh do sử dụng vốn để đảm bảo trả lãi vay hàng năm như thế nào. Ở đây phải lấy tổng số lợi nhuận trước thuế và lãi vay vì lãi vay được tính vào chi phí trước khi tính thuế thu nhập.01% ngân quỹ so với cổ đông. Cụ thể hơn chúng ta muốn biết rằng liệu số vốn đi vay có thể sử dụng tốt đến mức nào. ta dùng tỷ số nợ dài hạn trên vốn cổ phần). Khả năng thanh toán lãi vay =Lãi trước thuế và lãi vay/ Lãi vay Trong công thức trên. Tỷ số tổng tài sản trên vốn cổ phần – Equity multiplier ratio: Một tỷ số khác cũng được sử dụng đến để tính toán mức độ đi vay (rủi ro về tài chính) mà công ty đang gánh chịu đó là tỷ số tổng tài sản trên vốn cổ phần. d.

b. Nếu tỷ số thanh toán hiện hành giảm cho thấy khả năng thanh toán giảm và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra. Tỷ số này đo lường khả năng trả nợ của công ty.97 đồng tài sản ngắn hạn đảm bảo cho một đồng nợ đến hạn trả. Tỷ số thanh toán hiện hành Rc =Tài sản ngắn hạn/ Nợ ngắn hạn Tài sản ngắn hạn bao gồm các khoản vốn bằng tiền.4. các khoản phải thu. kém phẩm chất. nợ phải đòi. Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải trả trong năm bao gồm: vay ngắn hạn. nếu tỷ số thanh toán hiện hành quá cao sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động vì công ty đã đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn hay nói cách khác việc quản lý tài sản ngắn hạn không hiệu quả (ví dụ: có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi. hàng tồn kho ứ đọng). Nếu tỷ số thanh toán hiện hành cao điều đó có nghĩa là công ty luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ. đầu tư tài chính ngắn hạn. Một công ty nếu dự trữ nhiều hàng tồn kho thì sẽ có tỷ số thanh toán hiện hành cao. Nhom chi tieu ve kha nang thanh khoan Tỷ số thanh toán – Liquidity Ratios Tỷ số thanh toán hiện hành – Current ratio: Một trong những thước đo khả năng thanh toán của một công ty được sử dụng rộng rãi nhất là khả năng thanh toán hiện hành. hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác. Tỷ số Rc cho thấy công ty có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Tỷ số thanh toán nhanh – Quick ratio: Tỷ số thanh toán nhanh được tính toán dựa trên những tài sản ngắn hạn có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền. Rc = 1. nhất là hàng tồn kho ứ đọng. Tuy nhiên. “tài sản có tính thanh khoản“ bao gồm tất cả tài sản ngắn hạn trừ hàng tồn kho. Vì thế. a.97 cho thấy năm 2005 công ty VDEC có 1. tỷ số thanh toán hiện hành không phản ánh chính xác khả năng thanh toán của công ty. trong nhiều trường hợp. Tỷ số thanh toán hiện hành Rq =Tài sản ngắn hạn – hàng tồn kho/ Nợ ngắn hạn . Tỷ số này được chấp nhận hay không tùy thuộc vào sự so sánh với tỷ số thanh toán của các công ty cạnh tranh hoặc so sánh với các năm trước để thấy sự tiến bộ hoặc giảm sút. đôi khi chúng được gọi là “Tài sản có tính thanh khoản“. vay dài hạn đến hạn trả và các khoản phải trả khác. mà ta đã biết hàng tồn kho là tài sản khó hoán chuyển thành tiền.

d. Nhom chi tieu ve chung khoan Tỷ số giá trị thị trường – Market–value ratio Các nhà đầu tư cổ phần đặc biệt quan tâm đến vài giá trị mà có ảnh hưởng mạnh đến giá thị trường của cổ phần như: a. 5. quyết định giá trị của cổ phần bởi vì nó đo lường sức thu nhập chứa đựng trong một cổ phần hay nói cách khác nó thể hiện thu nhập mà nhà đầu tư có được do mua cổ phần. b. không đáng giá thì công ty VDEC sẽ lâm vào khó khăn tài chính gọi là “không có khả năng chi trả”.181 lần so với thu nhập hiện hành của nó.181 lần Điều này có nghĩa là giá cổ phần của công ty VDEC được bán gấp 5. c. Tỷ suất cổ tức – Dividend yield Tỷ suất cổ tức =Cổ tức mỗi cổ phần/ Giá trị thị trường mỗi cổ phần . Tỷ số thanh toán nhanh 0.Thu nhập mỗi cổ phần – Earning per share (EPS): Thu nhập mỗi cổ phần là một yếu tố quan trọng nhất. Tỷ số giá thị trường trên thu nhập – Price-earning ratio (P/E) Tỷ số giá thị trường trên thu nhập =Giá trị thị trường mỗi cổ phần/ Thu nhập mỗi cổ phần Đây cũng là chỉ tiêu mà nhà đầu tư rất quan tâm vì nó thể hiện giá cổ phần đắt hay rẻ so với thu nhập. Tỷ lệ chi trả cổ tức – Payout ratio: Tỷ lệ chi trả cổ tức =Cổ tức mỗi cổ phần/ Thu nhập mỗi cổ phần Trong đó:Thu nhập mỗi cổ phần =Tổng cổ tức/ Số lượng cổ phần thường Chỉ tiêu tỷ lệ chi trả cổ tức nói lên công ty chi trả phần lớn thu nhập cho cổ đông hay giữ lại để tái đầu tư. Tỷ số giá thị trường trên thu nhập của VDEC = 5. “Không có khả năng chi trả” xảy ra khi một công ty không đủ tiền để trả các khoản nợ khi chúng đến hạn. Thu nhập mỗi cổ phần =Thu nhập ròng của cổ đông thường/ Số lượng cổ phần thường Thu nhập ròng của cổ đông thường được tính bằng cách lấy lãi ròng trừ đi tiền lãi của cổ phần ưu đãi.89 cho biết rằng nếu hàng tồn kho của công ty VDEC ứ đọng.Điều này cho thấy rằng năm 2005 công ty VDEC có 89% tài sản có tính thanh khoản cho mỗi đồng nợ đến hạn. Đây là một nhân tố quyết định đến giá trị thị trường của cổ phần.

Như ta đã biết. Họ mong đợi một tăng trưởng nhanh trong cổ tức và hưởng được sự chênh lệch lớn của giá cổ phần.Điều này có nghĩa là cổ tức của công ty VDEC chiếm 10. . thu nhập của nhà đầu tư gồm hai phần: cổ tức và chênh lệch giá do chuyển nhượng cổ phần.75% so với giá thị trường của cổ phần. Nếu tỷ suất cổ tức của một cổ phần thấp điều đó chưa hẳn là xấu bởi vì nhà đầu tư có thể chấp nhận tỷ lệ chi trả cổ tức thấp để dành phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư./.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->