P. 1
su nghiep van chuong Nguyen Trai

su nghiep van chuong Nguyen Trai

|Views: 284|Likes:
Được xuất bản bởibluesea199

More info:

Published by: bluesea199 on Mar 04, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

03/04/2011

pdf

text

original

Quê gốc Nguyễn Trãi là làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương nhưng sinh

ra ở Thăng Long trong dinh ông ngoại là quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, về sau dời về sống ở làng Ngọc Ổi, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Ông là con trai của Nguyễn Phi Khanh (trước đây có tên là Nguyễn Ứng Long), vốn là học trò nghèo thi đỗ thái học sinh và bà Trần Thị Thái - con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, dòng dõi quý tộc nhà Trần. Nguyễn Trãi (chữ Hán: 阮廌), hiệu là Ức Trai (抑齋), (1380–19/9/1442), là một nho sĩ Việt Nam. Quê ông ở Chi Ngại, Chí Linh, Hải Dương. Ông là con trai của ông Nguyễn Phi Khanh và bà Trần Thị Thái, là cháu ngoại của Trần Nguyên Đán. Khi cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo nổ ra, ông đã tham gia vào như là quân sư đắc lực của nghĩa quân trong việc bày tính mưu kế cũng như soạn thảo các văn bản trả lời quân Minh. Sau khi khởi nghĩa thành công, ông trở thành một quan đại thần nhà Hậu Lê. Đến năm 1442, toàn thể gia đình ông bị giết (tru di tam tộc) trong vụ án Lệ Chi Viên. Mãi đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông mới xuống chiếu giải oan cho ông. Nguyễn Trãi (chữ Hán: 阮廌), hiệu là Ức Trai (抑齋), (1380–19/9/1442), là một nho sĩ Việt Nam. Quê ông ở Chi Ngại, Chí Linh, Hải Dương. Ông là con trai của ông Nguyễn Phi Khanh và bà Trần Thị Thái, là cháu ngoại của Trần Nguyên Đán. Khi cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo nổ ra, ông đã tham gia vào như là quân sư đắc lực của nghĩa quân trong việc bày tính mưu kế cũng như soạn thảo các văn bản trả lời quân Minh. Sau khi khởi nghĩa thành công, ông trở thành một quan đại thần nhà Hậu Lê. Đến năm 1442, toàn thể gia đình ông bị giết (tru di tam tộc) trong vụ án Lệ Chi Viên. Mãi đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông mới xuống chiếu giải oan cho ông.

Thời thơ ấu
Sau khi thi đỗ, do không được làm quan, Nguyễn Phi Khanh trở về làng Nhị Khê mở trường dạy học, còn Nguyễn Trãi vẫn ở lại tư dinh của ông ngoại cùng với mẹ và các em. Năm 1385, Trần Nguyên Đán về trí sĩ ở Thanh Hư Động, Nguyễn Trãi cùng mẹ và các em cũng theo về đó. Côn Sơn chính là nơi quê tổ của Nguyễn Trãi vì cả dãy núi Côn Sơn thuộc vào địa phận xã Chi Ngại, huyện Phượng Nhãn nay thuộc phường Cộng Hoà, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Có lẽ vì vậy mà ông rất nặng tình với Côn Sơn và thường nhắc đến Côn Sơn trong các sáng tác của mình, sau này cũng về trí sĩ ở Côn Sơn[3] Nhưng chưa được bao lâu thì mẹ ông qua đời. Năm 1390 ông ngoại cũng mất, Nguyễn Trãi cùng em về Nhị Khê ở với cha. Tuy nhiên, trong quyển Nguyễn Trãi, anh hùng dân tộc, Ngô Văn Triện cho biết rằng

Năm Xương Phù thứ 9 (1387) [e], Băng Hồ tướng công được phép trí sĩ, lui về hưu dưỡng ở động Thanh Hư tại Côn Sơn. Bấy giờ Nguyễn Trãi lên sáu tuổi, tướng công vì yêu thương cháu, cũng đem theo về. Nhưng ở Côn Sơn được

Tuy còn ít tuổi nhưng Nguyễn Trãi rất ham học. nhà Hồ kháng chiến thất bại. lập ra triều Hồ. được trao chức Ngự sử đài Chánh chưởng. việc ban hành chính sách cải cách quá dồn dập và chủ yếu để phục vụ chiến tranh. Tuy nhiên. Ở Nhị Khê. chia rẽ sâu sắc giữa lòng dân và chính quyền đã khiến những cải cách này đi vào bế tắc. Làm quan với nhà Hồ Ngày 28 tháng 2 âl năm 1400. Tướng công không làm sao được. Hồ Quý Ly phế truất vua Trần Thiếu Đế. Sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim kể về Nguyễn Trãi. Lịch triều hiến chương loại chí rằng "đứa trẻ sáu tuổi là Ức Trai". nhà Hồ đã cho thi hành cải cách nhằm củng cố và phát triển sức mạnh của nước Đại Ngu sau nhiều năm dài khủng hoảng ở cuối thời Trần. chứ không học Tống Nho vì Hồ Quý Ly đã bài bác Tống Nho là không thiết thực[4]. làm đến chức Hàn Lâm viện học sĩ. Nguyễn Phi Khanh cũng ra làm quan với triều đại mới. Năm 1407. Cũng trong năm đó. Đại Ngu rơi vào ách Minh thuộc. Nguyễn Phi Khanh đã ra công rèn cặp các con theo khuôn khổ Nho giáo mà có lẽ là Nho giáo Khổng Mạnh. Trong số những triều thần nhà Hồ bị bắt về Trung Quốc có Nguyễn Phi Khanh. Hồ Quý Ly cùng nhiều triều thần bị bắt và bị đem về Trung Quốc. Trãi vì nhớ cha mẹ và các em nhỏ bấy giờ hiện về ở Nhị Khê. nhà Hồ mở khoa thi Nho học. có chép lại một giai thoại rằng “ Khi ông Nguyễn Phi Khanh bị nhà Minh bắt về Kim Lăng. lại phải sai người đưa Trãi về ở Nhị Khê với cha mẹ. Minh Thành Tổ phái Trương Phụ đem quân xâm lược Đại Ngu. ngày đêm lo việc phục thù. cộng với sự bất bình. Điều đó được cha ông nói đến trong bài thơ Gia viên lạc (家園樂): 故園亂後有先廬, 六歲兒童頗愛書。 Cố viên loạn hậu hữu tiên lư Lục tuế nhi đồng phả ái thư Dịch nghĩa : Vườn xưa sau loạn còn nhà cũ Sáu tuổi con thơ rất thích sách Phan Huy Chú chú thích trong Văn tịch chí. rửa thẹn cho nước. Thời kì này.một độ. ngày đêm buồn bã chẳng tưởng gì học hành. chứ đi theo khóc lóc mà làm gì ? " Từ đó ông trở lại. ” . ông [Nguyễn Trãi] theo khóc. lật đổ nhà Trần. lên đến cửa Nam Quan không chịu trở lại. khiến tình hình đất nước vẫn hết sức rối ren. Nguyễn Trãi tham dự và đỗ Thái học sinh. Ông Phi Khanh bảo rằng: " Con phải trở về mà lo trả thù cho cha.

Nguyễn Trãi ở luôn Đông Quan hay có đi đâu không ? [9]. anh hùng dân tộc và Trần Huy Liệu trong Nguyễn Trãi. Thượng thư Hoàng Phúc tiếc tài Nguyễn Trãi.. chưa thấy được những tài liệu chính xác. là một người đã sẵn có thanh danh vị vọng[7]. ông tránh loạn ở Côn Sơn.. dựa trên một số bài thơ của ông có nhắc đến các địa danh ở Trung Quốc như Bình Nam[f] dạ bạc (Đêm đỗ thuyền ở Bình Nam). ông về ở ẩn và Phạm Đình Hổ trong Tang thương ngẫu lục viết Nhà Hồ mất. Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí. Nguyễn Trãi đã đi lánh nạn trong một khoảng thời gian khá dài chứ không hề bị quân Minh bắt giữ. Theo Ngô Văn Triện trong Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi quay trở lại tìm đường cứu nước nhưng về đến thành Đông Quan. còn một số người đoán rằng Nguyễn Trãi đã từng sang Trung Quốc ở thời kì này[11]. Nhân vật chí. ông vốn từng giữ chức Ngự sử triều Hồ. Ngô Văn Triện cho rằng Nguyễn Trãi đã sống ở đây cho tới khi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn. định đem Nguyễn Trãi ra giết. Thiều Châu Văn Hiến miếu[i](Thăm miếu thờ ông Văn Hiến ở Thiều Châu). hai vua Hồ bị bắt. Nguyễn Trãi cũng chỉ nói nhiều đến thập niên phiên chuyển (mười năm phiêu dạt) [6] lênh đênh ở nơi chân trời góc biển. đầy đủ về Nguyễn Trãi trong thời kỳ đó. sau khi bái biệt cha. Trương Phụ muốn dụ dỗ ông ra làm quan với người Minh nhưng Nguyễn Trãi từ chối. Nguyễn Lương Bích khẳng định sau cuộc kháng chiến thất bại của Hồ Quý Ly. Cho tới nay. Giang Tây[h]. Nguyễn Lương Bích cho rằng : . Tổng binh Trương Phụ ép Phi Khanh viết thư gọi ông. dựa trên văn thơ của Nguyễn Trãi để lại và một vài ghi chép của Lê Quý Đôn trong Toàn Việt thi lục nói Nhà Hồ mất. Theo Nguyễn Lương Bích trong Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước. Trương Phụ tức giận. không được đi đâu. bèn can Trương Phụ và tha cho Nguyễn Trãi. Trần Huy Liệu dè dặt hơn. mục Nguyễn Trãi lại ghi rằng “ Không bao lâu người Minh xâm. ông bị quân Minh bắt giữ vì xét cho cùng.chỉ có ông thoát được. Ngoài ra. Đồ trung kí hữu (Trên đường gửi bạn).. Sử sách không chép và bản thân Nguyễn Trãi cũng không ghi lại điều gì cụ thể [5]. Ngô Châu[g]. ông cho biết rằng Hiện nay vẫn chưa đủ tài liệu để khẳng định dứt khoát rằng trong khoảng thời gian từ năm 1407 đến năm 1417. nhưng lại giam lỏng Nguyễn Trãi ở thành Đông Quan.. [8].Tuy nhiên. Ông đã từng lánh ở Côn Sơn và sau đó còn chu du ở nhiều nơi khác nữa[10] . ông bất đắc dĩ phải ra hàng ” Mười năm phiêu dạt Cuộc đời Nguyễn Trãi từ sau năm 1407 đến khi vào yết kiến Bình Định Vương ở Lỗi Giang để tham gia khởi nghĩa Lam Sơn vẫn còn là một ẩn số.

Có học giả cho rằng Nguyễn Trãi đã có mặt trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ hội thề Lũng Nhai vào năm 1416[12]. tức là từ năm 1423 trở đi. triết học của ông đã được củng cố và phát triển tốt đẹp trong thời kỳ này. Ra mắt Lê Lợi. Khi ấy. Phạm Vấn kiên quyết muốn đánh nhưng Đinh Liệt chủ trương hoà hoãn để xây dựng lực lượng. có ý muốn giảng hoà. Trên cơ sở của thực tiễn cuộc sống và những kinh nghiệm chiến đấu của các thời đại. Theo Đinh tộc ngọc phả. Ý kiến ấy của Nguyễn Trãi nhanh chóng được chấp thuận [16].“ Những tư tưởng chính trị. ” Đinh tộc ngọc phả cũng ghi chép một câu chuyện về sự ra mắt của Nguyễn Trãi. Đặc biệt. nhưng tên tuổi sự nghiệp của ông ghi lại trong lịch sử của dân tộc. theo bản Đinh tộc ngọc phả của dòng họ Đinh Liệt thì Nguyễn Trãi lấy tên là Trần Văn và Trần Nguyên Hãn lấy tên là Trần Võ. chỉ là từ sau khi nghĩa quân Lam Sơn rút về núi Chí Linh lần thứ ba. Về phía quân Minh cũng lúng túng với việc đánh dẹp quân khởi nghĩa. hiện nay các tài liệu chưa được thống nhất. Ý kiến này có lẽ là chắc chắn hơn cả. Bình Định Vương cùng các tướng lĩnh hội bàn phương lược khởi nghĩa. quân Lam Sơn rút lên núi Chí Linh lần thứ ba. cuối cùng nhân dân và đất đai mươi lăm đạo nước ta sẽ đem về cho ta cả[18]. Đinh Bồ.[15]. Một số tài liệu khẳng định Nguyễn Trãi tham gia nghĩa quân Lam Sơn vào năm 1420[13] hoặc 1421 hay sau đó một chút [14]. khuyên Bình Định Vương nên giảng hoà với quân Minh làm thượng sách. Tuy nhiên. lương thực thiếu thốn. đến Lỗi Giang gia nhập nghĩa quân vào mùa xuân năm 1423. Ngô Thế Vinh có nói Bình Ngô sách hiến mưu chước lớn. quân sự ưu tú cùng nhiều quan điểm đạo đức. Nguyễn Trãi còn trao cho vị thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn bản Bình Ngô sách. Lê Sát. ung dung phân tích phải trái. Ngày 26 tháng 2 âl năm 1423. đồng thời cũng rút ra từ tư tưởng nhân nghĩa của ông. về thời điểm Nguyễn Trãi lên Lỗi Giang[k] yết kiến Bình Định Vương Lê Lợi. trong đó Nguyễn Trãi vạch ra ba kế sách đánh quân Minh[17]. Nguyễn Trãi theo Nguyễn Nhữ Lãm đẩy cửa bước vào. đó là một điều chắc chắn. Nguyễn Trãi đã xây dựng cho mình những quan điểm đúng đắn về khởi nghĩa và chiến tranh chống xâm lược. Trong bài tựa Ức Trai di tập. Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn [sửa] Yết kiến ở Lỗi Giang Nguyễn Trãi đã tham gia và trở thành một trong những yếu nhân của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. không nói đánh việc đánh thành mà lại nói đến việc đánh vào lòng người (tâm công 心 攻). bút kí của Đinh Liệt cũng ghi rằng . Nó phù hợp với nhận xét Nguyễn Lương Bích trong Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước “ Nguyễn Trãi đứng trong hàng ngũ chiến đấu của nghĩa quân Lam Sơn từ những ngày ở Lỗi Giang. quân sĩ mỏi mệt. Lê Thụ.

đồng thời cũng là cuộc tranh chấp quyền lực thời bình giữa các tướng có xuất thân họ hàng hoặc cùng quê với vua Lê .do Lê Sát đứng đầu . sau khi ra khỏi ngục. cuộc thanh trừng công thần của Lê Thái Tổ có động cơ từ việc muốn thiên hạ hết mong nhớ nhà Trần.và các tướng xuất thân vùng khác. nên sai người đi bắt hỏi tội. Sau thắng lợi 1 năm. [sửa] Trù hoạch mưu lược. Vì Nguyên Hãn là anh em họ của Nguyễn Trãi nên ông cũng bị bắt giam vì nghi ngờ có liên quan tới tội mưu phản. một tướng giỏi vốn là dòng dõi nhà Trần định mưu phản. viết thư thảo hịch [sửa] Đại thần nhà Lê [sửa] Bị vạ với người trong họ Năm 1428. Lê Lợi lên ngôi. tiêu biểu là Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo. đầu năm 1429. Lê Lợi nghi ngờ Trần Nguyên Hãn. Sau đó vì không có chứng cứ buộc tội. phong ông tước Quan Phục hầu và cho theo họ Lê của vua. Bị oan khuất. Nguyễn Trãi được Lê Lợi phong cho chức Tuyên phong đại phu Thừa chỉ Hàn Lâm viện[20]. Bao kẻ dèm pha xót người trung [sửa] Vụ án Lệ Chi Viên Xem chi tiết: Vụ án Lệ Chi Viên . Trần Nguyên Hãn nhảy xuống sông tự vẫn. Thực chất.Trần Văn Bình Ngô sách Diệu kế ở tâm công Dùng nghĩa giành nhân Lấy nhân xua cường bạo[19] Sau khi xem Bình Ngô sách. Hơn nữa đó lại còn là cuộc tranh chấp ngôi thái tử giữa con cả của vua là Lê Tư Tề (người từng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn và được Nguyên Hãn ủng hộ) với con thứ Lê Nguyên Long (được Lê Sát ủng hộ). ngày đêm dự bàn việc quân. Tuy nhiên cũng từ đó ông không còn được trọng dụng như trước nữa. vua Lê lại thả ông ra. Chúng báng cô trung tuyệt khả liên. Dịch: Danh hư thực họa nên cười quá. ông làm bài Oan thán bày tỏ nỗi bi phẫn. trong đó có câu: Hư danh thực họa thù kham tiếu.

những người trong họ của các bà vợ Nguyễn Trãi (kể cả vợ lẽ). Chí Linh. sau bà sinh được hoàng tử Tư Thành (tức vua Lê Thánh Tông sau này). Tư đồ Lê Sát làm phụ chính điều hành triều chính. thuộc tỉnh Hải Dương ngày nay. Tuy nhiên. Theo gia phả họ Nguyễn. Hải Dương ngày nay). trong đó có Nguyễn Trãi. . vợ Nguyễn Trãi là bà Nguyễn Thị Lộ theo "hầu" vua. người trong họ bà Nhữ thị vợ thứ của Nguyễn Phi Khanh. Thái Tông còn ít tuổi nhưng không dễ trở thành vua bù nhìn để Sát khống chế mãi. các lương thần được trọng dụng trở lại. Trên đường về kinh Vua đột ngột qua đời tại vườn hoa Lệ Chi Viên nay thuộc Gia Bình. cách chức và giết các quyền thần Lê Sát. Nguyễn Trãi khuyên nhà vua: "Nguyện xin bệ hạ yêu thương và nuôi dưỡng dân chúng để nơi thôn cùng xóm vắng không có tiếng oán hận sầu than". Nguyễn Trãi cáo quan về ở ẩn tại Côn Sơn. Lúc đó ông đã gần 60 tuổi. Những năm đầu. Bắc (cả nước chia làm 5 đạo). tức là Lê Thái Tông. Thái Tổ mất. ngoài những người họ Nguyễn cùng họ với ông. "Tru di tam tộc" là giết người trong họ của người bị tội. con trai Nguyễn Thị Anh được lập làm vua. có nhiều vợ. Nguyễn Trãi tham gia giúp vua mới. Năm 1435. nhà vua anh minh nhanh chóng chấn chỉnh triều đình. Năm 1437. Nguyễn Trãi cùng một người vợ thứ là Nguyễn Thị Lộ tìm cách cứu bà Ngọc Dao đem nuôi giấu. tất cả đều bị xử tử. Bắc Ninh. trái với dự tính của Lê Sát. Cùng lúc đó một bà vợ khác của vua là Ngô Thị Ngọc Dao lại sắp sinh. thái tử Nguyên Long lên nối ngôi. Thời gian phò vua Thái Tông. hoàng hậu Nguyễn Thị Anh sợ đến lượt mẹ con mình bị phế nên tìm cách hại bà Ngọc Dao. ông soạn sách Dư địa chí để vua xem nhằm nâng cao sự hiểu biết. chỉ trong 2 năm sinh liền 4 hoàng tử. Tháng 7 năm 1442. niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của nhà vua đối với non sông đất nước. Lê Ngân. lại đảm nhiệm chức vụ cũ. kiêm thêm chức Hàn lâm viện Thừa chỉ và trông coi việc quân dân hai đạo Đông. lập Nguyễn Thị Anh làm hoàng hậu và cho con của bà này là Lê Bang Cơ chưa đầy 1 tuổi làm thái tử. Vua truất hoàng hậu Dương Thị Bí và ngôi thái tử của con bà là Lê Nghi Dân lên 2 tuổi. Nguyễn Trãi tiếp tục phát huy được tài năng của ông. vua Lê Thái Tông về qua nhà Nguyễn Trãi tại Côn Sơn (Chí Linh. Bị các quyền thần đứng đầu là Lê Sát chèn ép. họ bên vợ và họ bên mẹ của người đó. Tuy nhiên khi triều chính khá yên ổn thì cung đình lại xảy ra tranh chấp. Các bà vợ tranh chấp ngôi thái tử cho con mình nên trong triều xảy ra xung đột. Vua Thái Tông ham sắc. còn có những người họ Trần cùng họ với bà Trần Thị Thái mẹ ông. tức là Lê Nhân Tông. Nhân bàn về soạn lễ nhạc. Nguyễn Trãi bị triều đình do hoàng hậu Nguyễn Thị Anh cầm đầu khép tội giết vua và bị giết cả 3 họ (tru di tam tộc) ngày 16 tháng 8 năm 1442. Thái tử Bang Cơ mới 1 tuổi.Năm 1433.

cấp cho 100 mẫu ruộng gọi là "Miễn hoàn điền" (ruộng không phải trả lại) con cháu đời đời được hưởng.[sửa] Gia quyến lưu tán Theo gia phả họ Nguyễn. Phương Quất . Bà họ Lê: Sinh ra con cháu ở chi Quế Lĩnh. Trong các phả hệ ghi lại số ít thoát nạn là: • • • • Nguyễn Phi Hùng. Nguyễn Anh Vũ đổi sang họ mẹ là Phạm Anh Vũ. tức là Lê Thánh Tông. Nguyễn Bảng. Bà họ Phùng: Sinh ra Thị Trà. Nguyễn Trãi có năm người vợ: • • • • • Bà họ Trần: Sinh ra Nguyễn Khuê. mẹ con vua Nhân Tông bị người con cả Thái Tông là Nghi Dân giết chết để giành lại ngôi vua. Từ Sơn. Hải Dương. Bà Thị Lộ: Không có con. dòng họ Nguyễn Trãi ở Chi Ngại. nay được Nguyễn Xí rước lên ngôi. Bà họ Lê vợ thứ năm của Nguyễn Trãi mang thai chạy về Phương Quất. Bà Phạm Thị Mẫn vợ thứ tư của Nguyễn Trãi có mang ba tháng. Nguyễn Phù con Nguyễn Trãi chạy lên Cao Bằng. Người con út sinh ra sau khi ông qua đời là Nguyễn Anh Vũ được Lê Thánh Tông phong cho chức Đồng Tri Phủ huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa). bà sinh ra Nguyễn Anh Vũ. sau lại về thôn Dự Quần. [sửa] Được minh oan Theo một số nghiên cứu gần đây. Hải Dương. Để tránh sự truy sát của triều đình. Năm 1464. đổi họ sang họ Bế Nguyễn. Hơn 10 năm sau. Nguyễn Ứng. Sau vụ án Lệ Chi Viên. được người học trò cũ của Nguyễn Trãi là Lê Đạt đưa bà chạy trốn vào xứ Bồn Man (phía Tây Thanh Hóa). Người con thứ của Thái Tông là Khắc Xương từ chối ngôi báu nên người con út là Tư Thành được vợ chồng Nguyễn Trãi cứu thoát trước kia. không thuận tiện cho việc tế tổ. Đời sau do khó khăn về kinh tế.huyện Kim Môn. Thanh Hóa. em thứ ba của Nguyễn Trãi chạy về Phù Khê. huyện Kim Môn. Bắc Ninh. Tại đây. ngay đương thời đã có nhiều người biết việc oan khuất của Nguyễn Trãi. phủ Tĩnh Gia. Nhị Khê gần như bị thảm sát hết. Nguyễn Anh Vũ xây dựng mộ chí của Nguyễn Trãi. Bà Phạm Thị Mẫn: Sinh ra Nguyễn Anh Vũ (sau vụ án Lệ Chi Viên). huyện Ngọc Sơn. Tuy nhiên. Nguyễn Phù. thủ phạm gây ra cái chết của vua Thái Tông chính là hoàng hậu Nguyễn Thị Anh và bà đã đổ tội cho Nguyễn Trãi. họ chuyển ngày giỗ tổ sang ngày 21 tháng Giêng (ngày mất của Nguyễn Anh Vũ) . tháng 8 lại gió bão nhiều. Nhưng rồi Nghi Dân nhanh chóng bị lật đổ. Nguyễn Tích. Con cháu ông được tìm lại và bổ dụng. Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi.

nhưng tựu chung từng nhóm đưa ra các thông tin riêng lẻ: 1. 3. Tác giả Đinh Công Vĩ dẫn trong sách Nhìn lại lịch sử 7 cuốn gia phả. truy tặng tước Tán Trù Bá. Các công thần khác của nhà Hậu Lê thường được các vua đời sau truy tặng tước cao hơn. mà chỉ truy tặng tước bá. người đã cùng với vợ là Nguyễn Thị Lộ ra sức che chở cho mẹ con nhà vua lúc gian nan. vua Lê Tương Dực sai làm chế văn truy tặng ông tước Tế Văn hầu. Nguyễn Trãi là dòng dõi Nguyễn Bặc Nguyễn Trãi là tổ tiên chúa Nguyễn Nguyễn Bặc là tổ tiên họ Nguyễn Gia Miêu của Chúa Nguyễn Nguyễn Bặc là tổ tiên Nguyễn Trãi và Nguyễn Trãi cũng là tổ tiên các Chúa Nguyễn. thấp hơn cả tước hầu vốn được Lê Thái Tổ ban phong khi ông còn sống. Lê Thánh Tông ra lệnh sưu tầm di cảo thơ văn Nguyễn Trãi. Nôm của các chi họ Nguyễn. do tưởng tiền duyên. Ông ca ngợi Nguyễn Trãi trong Quỳnh uyển cửu ca. Nhìn chung.Năm 1464. 4. còn ghi duyên cũ" "Truyền tụng văn chương sự nghiệp. Năm 1512. bài thơ Minh lương của ông có câu: Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo (Tâm hồn Ức Trai trong sáng như ánh sao Khuê buổi sớm)[21]. Tác giả Nguyễn Khắc Minh trong bài Tìm hiểu phả hệ dòng họ Nguyễn Trãi nêu ra 14 cuốn gia phả viết bằng Hán. . Dù vậy. tổ tiên của Nguyễn Trãi chính là Định Quốc công Nguyễn Bặc thời nhà Đinh và con cháu ông có một chi trở thành các Chúa Nguyễn. như công và sau nữa lên vương. Năm 1467. vĩnh thùy hậu thế" Dịch là: "Gặp gỡ long hổ phong vân. "Văn chương sự nghiệp chi truyền. Lê Thánh Tông đã chính thức minh oan cho Nguyễn Trãi. thông tin từ các gia phả không thống nhất với nhau. trong đó có câu [22]: "Long hổ phong vân chi hội. ngọc phả về họ Nguyễn bằng chữ Hán và chữ Nôm. 2. các nhà nghiên cứu vẫn băn khoăn chưa rõ vì sao một vị vua được coi là anh minh và quyết đoán như Lê Thánh Tông. theo đó các nguồn tài liệu này cũng không thống nhất. Việc làm này có thể đã góp phần bảo tồn một phần quan trọng các di sản văn hóa mà Nguyễn Trãi đã để lại. để mãi đời sau" [sửa] Dòng dõi Nguyễn Bặc và tổ tiên chúa Nguyễn? Theo một số gia phả họ Nguyễn. ban cho con là Anh Vũ chức huyện quan. một đại công thần sáng lập vương triều Lê. đã minh oan cho Nguyễn Trãi.

năm 1513). Nguyễn Bặc (924-979) Nguyễn Đệ Nguyễn Viễn Nguyễn Phụng (?-1150) . Khi Nguyễn Bặc kéo quân về Côn Sơn dẹp sứ quân của Phạm Phòng Át (Phạm Bạch Hổ). xã Nhị Khê.979) người Hoằng Hóa . [sửa] Tổ họ Nguyễn Gia Miêu Sách Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh và công cuộc khai sáng miền nam nước Việt cuối thế kỉ XVII của Nguyễn Ngọc Hiền chép về tổ tiên của Nguyễn Hữu Cảnh. Vì nhà nghèo.[sửa] Con cháu Nguyễn Bặc Theo tài liệu của tác giả Nguyễn Khắc Minh với 14 cuốn gia phả viết bằng Hán. có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân để lập ra triều Đinh.Đinh Quốc Công Nguyễn Bặc (924 . con cháu Nguyễn Phi Khanh phân tán đi các nơi. Khi năm anh em họ Phí mất. gia phả đều thống nhất ghi: Nguyên quán tổ tiên đời trước của họ ta ở xã Chi Ngại. trong đó cũ nhất là thời: Hồng Thuận Tứ Niên (Lê Tương Dực . Nguyễn Bặc người châu Đại Hoàng (Ninh Bình). Theo đó. nguồn gốc của họ Nguyễn thôn Chi Ngại cũng chỉ là truyền thuyết của dòng họ và điều này không thống nhất với sử sách. người có công mở đất Nam Bộ ghi thế thứ các đời họ Nguyễn từ Nguyễn Bặc như sau: 1. 3. đạo Sơn Nam. xã Cộng Hòa. nhưng bài vị. phủ Lạng Giang. huyện Phượng Nhỡn. truyền thuyết của dòng họ kể rằng: Tổ tiên dòng họ Thái Tể triều Đinh . người dân Chi Ngại tôn họ làm Thành Hoàng. huyện Chí Linh. trấn Kinh Bắc (nay là thôn Chi Ngãi. Đình làng Chi Ngại bị phá hủy trong kháng chiến chống thực dân Pháp. và sứ quân Phạm Phòng Át tự nguyện về hàng phục Đinh Bộ Lĩnh. Tài liệu của tác giả Nguyễn Khắc Minh sau đó chỉ tập trung vào Nguyễn Trãi và người con sống sót của ông sau Vụ án Lệ Chi Viên là Nguyễn Anh Vũ mà không đề cập tới các chúa Nguyễn. Cảnh Hưng nguyên niên (năm 1740). phủ Thường Tín.Thanh Hóa. sau này có 2 nhân vật nổi tiếng là Nguyễn Thiện Thuật và Nguyễn Văn Cừ. ngai thờ và thần tích của năm vị tướng họ Phí vẫn được lưu giữ thờ phụng đến ngày nay (nay bài vị của năm vị Thành Hoàng thờ ở chùa Ngái của thôn Chi Ngại).Thường Tín. Nôm của các chi họ. Theo đó. thời điểm soạn thảo gia phả này cũng khá xa thời Nguyễn Bặc (hơn 530 năm). Bộ Lĩnh không cần sai tướng (Nguyễn Bặc) đi đánh dẹp sứ quân họ Phạm. Từ đó dòng họ Nguyễn sinh ra hai con trai. không phải người Thanh Hóa. 4. ông để lại con cháu của mình cùng năm vị tướng quân họ Phí ở lại Chi Ngại cai quản vùng đất này. Về gốc tích cội nguồn họ Nguyễn ở thôn Chi Ngại. Theo sử sách. hai anh em họ Nguyễn từ Chi Ngại đến Trại Ổi (tức làng Nhị Khê . huyện Thượng Phúc. lập đền thờ cúng. gần đây nhất là cuốn gia phả sao lại năm 1962. tỉnh Hải Dương). Sau dời về làng Hạ. 2. về nguồn gốc của các chi họ. Tuy nhiên. Hà Đông) sinh sống và trở thành tổ tiên của Nguyễn Trãi. Hơn nữa.

(Xem chi tiết: Chúa Nguyễn.công thần khởi nghĩa Lam Sơn . Nguyễn Sử 10. Nguyễn Công Duẩn và Nguyễn Anh Vũ 13. Nguyễn Thế Tứ 7. Nguyễn Biện 9. cát cứ cuối thời nhà Lý. Nguyễn Công Duẩn (hay Chuẩn) .) Tuy nhiên. quê ở Gia Miêu. Thanh Hóa và không phải là con Nguyễn Trãi: 1. Nguyễn Bặc 2. Người con nhỏ là con của một người vợ thứ của Nguyễn Trãi đã có mang cũng trốn thoát khi cả nhà bị hình.ở Hà Tây). Tống Sơn. có 2 người con của Nguyễn Trãi còn sống và được bổ dụng sau này.ở Thanh Hóa) vào họ Nguyễn Nhị Khê (Nguyễn Trãi . Nguyễn Đệ 3. Nguyễn Ứng Long (Nguyễn Phi Khanh 1355-1428) 11. Những người nhà Nguyễn Trãi đã lấy giả mạo là người họ Nguyễn Gia Miêu do phải trốn tránh họa tru di. Theo một số nhà nghiên cứu. Nguyễn Đức Trung (1404-1477) Theo gia phả họ Nguyễn. không có mặt ở nhà khi cả họ bị hình nên thoát nạn. Nguyễn Công Sách 10. Nguyễn Minh Du 8. Nguyễn Nạp Hoa (?-1377) 8. Nguyễn Công Luật (?-1388) 9. Nguyễn Viễn 4. Nguyễn Nộn (?-1229. Một người con cả là Nguyễn Công Duẩn từng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn. Nguyễn Công Duẩn là người tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ ngày đầu (trong khi Nguyễn Trãi sau này mới gia nhập). Nguyễn Nộn 6. đầu thời nhà Trần) 6. [sửa] Nguyễn Công Duẩn Theo một gia phả họ Nguyễn khác. Nguyễn Thế Tứ 7. Tiên nguyên toát yếu phổ của Tôn Thất Hân. gia phả họ Nguyễn khác cũng như các sử sách để kết luận rằng: Nguyễn Trãi không phải ông tổ của các Chúa Nguyễn.5. Căn cứ của tác giả Nguyễn Ngọc Hiên trong sách Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh (1997) và sau đó tác giả Phạm Côn Sơn trong sách Tông phả kỉ yếu tân biên (2006) dẫn lại thông tin từ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh đều từ các nguồn phả hệ không chuẩn xác. Nguyễn Hữu Cảnh. các nhà nghiên cứu đã khảo cứu nhiều nguồn tài liệu. sau sinh được Nguyễn Anh Vũ. một ngành là các Chúa Nguyễn và một ngành là họ Nguyễn Hữu có công giúp các chúa Nguyễn khai phá Nam Bộ. Nguyễn Trãi (1380-1442) 12. Nguyễn Phụng 5. gia phả này chép lẫn gia phả họ Nguyễn Gia Miêu (chúa Nguyễn . Gia phả họ Nguyễn còn ghi: sau này 2 chi của Công Duẩn và Anh Vũ trở thành hai ngành nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam.

do Nguyễn Trãi có công theo Lê Lợi bình Ngô nên lại được đưa vào. xem phần "Gia quyến lưu tán" phía trên) có di chúc truyền khẩu: "Phải đời đời thờ cúng phụ đạo Nguyễn Biện đã có công bảo vệ hậu duệ tổ Ứng Long". Vì lẽ đó. Trong họ của Bế Nguyễn (họ Nguyễn ở Cao Bằng đổi ra họ Bế . đầu thế kỉ 15. từ Nguyễn Bặc mất năm 979 tới Nguyễn Nộn đời thứ 5 mất năm 1229. tức là hơn 60 năm mới có một thế hệ. con cháu Nguyễn Trãi đã lấy tên Nguyễn Biện mà thay thế tên Ứng Long ở trong gia phả. sẽ có nhiều chỗ không hợp lí. do cha con Phi Khanh theo nhà Hồ. sinh con năm 1461). Tuy nhiên. Tác giả Nguyễn Ngọc Hiền trong Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh và sau đó là Phạm Côn Sơn trong Tông phả tân biên kỉ yếu cùng đưa ra phả hệ rất không hợp lí về dòng họ Nguyễn. sau đó từ Nguyễn Công Luật đời thứ 8 tới Nguyễn Trãi (đời thứ 11). Đức Trung (đời thứ 13. do không khảo cứu hết các nguồn gia phả họ Nguyễn (vốn không thống nhất với nhau và có những nguồn tài liệu bị sai lạc) và người sau kế tục sử dụng những thành quả của những tài liệu trước. Sau vụ án Lệ Chi viên. Công Duẩn (đời thứ 12). mà nhà Hồ đã giết hại Nguyễn Công Luật (tổ đời thứ 8) nên bị khai trừ ra khỏi họ. là dòng dõi Nguyễn Bặc trở xuống. Như vậy 7 đời đầu cách nhau 400 năm. dùng lí lịch họ Nguyễn Gia Miêu để che thân phận mình.có 2 hành trạng mâu thuẫn với giả thuyết này: .11. Đối với việc không có Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi trong một số gia phả họ Nguyễn. sinh năm 1404) rồi thị Hằng (đời thứ 14. Các nhà nghiên cứu cho rằng. tác giả Nguyễn Ngọc Hiền lại theo ý kiến của một số chi hậu duệ họ Nguyễn ngày nay cho rằng. Theo nhà sử học Phan Huy Lê: Nguyễn Biện là người Gia Miêu. Theo đó (xem thế thứ 13 đời phần trên). nên đã cùng lầm lẫn rằng Nguyễn Trãi là hậu tổ (Nguyễn Bặc là thủy tổ) họ Nguyễn Gia Miêu. 7 đời sau lại dồn vào chỉ khoảng 65 năm cuối thế kỉ 14.đại thần tham gia lật đổ Lê Nghi Dân năm 1460.tức là con cháu của Nguyễn Phù. Sau đó. [sửa] Nguyễn Đức Trung Có một sự kiện sử sách đã chép lại (các sách Đại Việt thông sử và Khâm định Việt sử Thông giám cương mục) cho thấy: Nguyễn Đức Trung (cha Trường Lạc hoàng hậu Nguyễn Thị Hằng) .người được giả thuyết ban đầu coi là cháu nội Nguyễn Trãi . sau đó từ Nguyễn Nộn mất tới Nguyễn Nạp Hoa đời thứ 7 mất tận năm 1377 (tức là gần 80 năm mới có một thế hệ). Một số nhà nghiên cứu. nhiều ý kiến nghiêng về khả năng họ Nguyễn Nhị Khê "mượn cửa" họ Nguyễn Gia Miêu để lánh nạn hơn. nếu xét chi tiết tới thế thứ của giả thuyết này. Nguyễn Đức Trung . có thể do con cháu Nguyễn Trãi giả mạo.

đã có những thông tin sai lạc cho đời sau về dòng dõi của Nguyễn Trãi. không thể có người cháu nội được cất nhắc lên làm đại thần trong triều bên cạnh các bậc "nguyên lão" như Nguyễn Xí. . người vừa khép tội gia hình Nguyễn Trãi trước đó không lâu. Thánh Tông tìm được Anh Vũ và Thị Hằng rồi lấy luôn bà làm vợ. Ông không phải là cha Nguyễn Công Duẩn. Thực tế ông không có quan hệ họ hàng với Nguyễn Thị Hằng.người phải đổi sang họ mẹ là Phạm Anh Vũ trong thời gian trốn tránh . ngay cả họ hàng của mẹ kế Nguyễn Trãi và họ hàng của các vợ lẽ của ông cũng không được thoát nạn. Có một minh chứng nữa cho việc Nguyễn Trãi không phải là cha hay cụ của hoàng hậu Nguyễn Thị Hằng. chắc chắn Đức Trung không thể là cháu nội Nguyễn Trãi. Các nhà sử học đã nhất trí rằng đây chỉ là giai thoại dân gian. [sửa] Kết luận • Như vậy.• • Nguyễn Đức Trung được cất nhắc làm Điện tiền chỉ huy sứ dưới ngay thời vua Lê Nhân Tông . Tới tận năm 1464 Nguyễn Trãi mới được minh oan nhưng năm 1461 Nguyễn Thị Hằng đã là hoàng hậu của Lê Thánh Tông và đã sinh ra thái tử Lê Tranh.vua thiếu niên có sự nhiếp chính của thái hậu Nguyễn Thị Anh. chọn lọc (nêu trên) đã cho thấy Nguyễn Đức Trung là con Nguyễn Công Duẩn và Công Duẩn không phải là con Nguyễn Trãi. sau trở thành Lê Hiến Tông. Lê Lăng. Các tài liệu gia phả được nghiên cứu. do hậu quả của Vụ án Lệ Chi Viên.mà còn là cha Nguyễn Thị Hằng . Một nhà vừa bị tru di tam tộc.Nguyễn Đức Trung. Vì vậy. Nguyễn Đức Trung sau đó tham gia cùng Nguyễn Xí. [sửa] Trường Lạc hoàng hậu Một số giai thoại cho rằng Nguyễn Trãi không chỉ là cha Nguyễn Anh Vũ . Trong khi đó. Như vậy có tới hai nguồn thông tin sai lạc về quan hệ giữa Nguyễn Trãi và Trường Lạc hoàng hậu: nguồn đầu cho rằng ông là cha hoàng hậu. tận năm 1464 Lê Thánh Tông mới minh oan cho Nguyễn Trãi và sai tìm lại dòng dõi đang phải trốn tránh của ông. Nguyễn Trãi và dòng họ của ông không có quan hệ tới họ Nguyễn ở Gia Miêu. Lê Lăng lật đổ Lê Nghi Dân từ năm 1460.người sau này trở thành hoàng hậu Trường Lạc của Lê Thánh Tông. nguồn thứ hai cho rằng ông là cụ của hoàng hậu. Điều này tương tự như thời gian hành trạng của cha bà . Nguyễn Thị Hằng đã được sử sách ghi nhận là con đại thần Nguyễn Đức Trung. không phải là ông nội của Nguyễn Đức Trung và không phải là tổ tiên của các Chúa Nguyễn. Các tác giả theo giả thuyết "Nguyễn Trãi là ông nội Nguyễn Đức Trung" đã không xem xét tới sự kiện này trong sử sách.

Được biết đến nhiều nhất là Bình Ngô đại cáo được viết sau khi nghĩa quân Lam Sơn giành thắng lợi trong cuộc chiến chống quân Minh kéo dài 10 năm (1418–1427).) [sửa] Các tác phẩm văn thơ Nguyễn Trãi để lại rất nhiều trước tác. Tống. song đã bị thất lạc sau Vụ án Lệ Chi Viên. (Xem bài: Nguyễn Bặc.• Giả thuyết về họ Nguyễn Gia Miêu và họ Nguyễn Chi Ngại (hay Nhị Khê) cùng có tổ là Nguyễn Bặc vẫn còn những nghi vấn: o Truyền thuyết họ Nguyễn ở Chi Ngại quá xa. Đường. Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương. coi là "thiên cổ hùng văn". Trần bao đời xây nền độc lập. Song hào kiệt thời nào cũng có. Tác phẩm này đã thể hiện rõ ý chí độc lập. chưa hoàn toàn có tính xác thực để kết luận Nguyễn Trãi là dòng dõi Nguyễn Bặc. Nước non bờ cõi đã chia. tự cường của dân tộc Việt cũng như việc lấy dân làm gốc với những câu như: Dục Thúy Sơn (Ninh Bình)-Ngọn núi trong bài thơ cùng tên của Nguyễn Trãi Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. . Đinh. Nguyễn Nộn. điển hình là tác phẩm Quốc âm thi tập. Như nước Đại Việt ta từ trước. Vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau. Chính sử sách nhà Nguyễn không xác nhận họ Nguyễn Gia Miêu là con cháu Nguyễn Bặc. o Khoảng cách quá xa của các thế thứ họ Nguyễn khiến về vấn đề "dòng họ Nguyễn Gia Miêu là con cháu Nguyễn Bặc" còn những nghi vấn. cả bằng Hán văn và bằng chữ Nôm. Cùng Hán. Phong tục Bắc Nam cũng khác. Từ Triệu. Ông là một trong những tác giả thơ Nôm lớn của Việt Nam thời phong kiến. Lý. (trích theo bản dịch của Ngô Tất Tố) Bình Ngô đại cáo được người đương thời rất thán phục.

mà chính là không may cho sinh dân đời Lê vậy. từ xưa đến nay chưa ai được như ông. thật đáng thương xót!. từ Đinh. thật là ít lắm [28] . nhưng ông đã nói thẳng: Nhà Lê sở dĩ lấy được thiên hạ đều do sức ông cả và Đỗ Nghi tiếc rằng: Tiếc thay trời chưa muốn bình trị thiên hạ.Ngoài ra ông còn để lại nhiều tác phẩm khác như Quốc âm thi tập. Đỗ Nghi cũng là người triều Lê. nhưng vì tối nghĩa về "chỉ. Tác phẩm Gia huấn ca được người đời truyền tụng và cho là của ông. Dư địa chí. Lê. đời nào sáng lập cơ nghiệp đế vương.. cấp bậc công thần. cho nên cuối cùng ông vẫn chỉ làm chức hành khiển Đông đạo. Lam Sơn thực lục. Tác phẩm Quốc âm thi tập là tác phẩm viết bằng chữ Nôm đánh dấu sự phát triển mới của văn học Việt Nam [sửa] Nhận định [sửa] Thời phong kiến • Nguyễn Mộng Tuân. người Việt Nam ở thế kỷ 19 vẫn rất mực tôn quý ông và khẳng định: Nước Việt ta. Cho tới 400 năm sau khi Nguyễn Trãi chết. tuy dâng lời khuyên răn thường bị đè nén mà không từng chịu khuất. và Lê Thánh Tông đánh giá ông trên tất cả các văn thần võ tướng có danh vọng nhất của thời Lê. Lam Sơn Vĩnh lăng thần đạo bi. nhưng tìm được người toàn tài toàn đức như Ức Trai tiên sinh. Ức Trai thi tập. Ngọc Đường di cảo. tất cũng đều phải có các tướng tá giúp sức. Người thế Kỉ 16... như Hà Nhậm Đại. Trần. cổ vô tiền [23] Nghĩa là:Có tài kinh bang tế thế làm rạng rỡ cho đất nước. Người có công lao đứng đầu về việc giúp rập vua. • • Lê Thánh Tông trong bài Minh lương viết trong Quỳnh uyển cửu ca có câu: Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo (Tâm hồn Úc Trai trong sáng như sao Khuê buổi sớm). nhưng hiện vẫn chưa có chứng cứ lịch sử xác đáng. thì ngàn năm cũng không thể mai một được"[27]. Lý. đã nói về công lao sự nghiệp của ông: Công giúp hồng đồ cao nữa (tựa) núi Danh ghi thanh sử sáng bằng gương [24] • • • • Người thế kỉ 17 còn đánh giá ông cao hơn nữa.. [25] Sang thế kỉ 18 Dương Bá Cung cũng phải thừa nhận công lao của ông trùm khắp trên đời [26] Lê Quý Đôn trong Kiến Văn tiểu lục nhận định về ông: "đứng vào bậc nhất một đời. không được giở hết hoài bão của mình. Phú núi Chí Linh. một nhân vật đỗ tiến sĩ đồng khoa với Nguyễn Trãi đã ca ngợi ông rằng : Kinh bang hoa quốc. việc đó không phải là không may cho ông. Quân trung từ mệnh tập. túc" thành ra cuối cùng không giữ được tốt lành. Cứ xem ông giúp chính trị hai triều vua hết lòng trung thành. chức vị Thượng thư.

Công lao sự nghiệp của ông rất lớn. Về cá nhân Nguyễn Trãi. tài năng phục vụ lợi ích của dân tộc trong phong trào khởi nghĩa Lam Sơn. là khí phách. nếu chỉ xét về mặt văn hóa thì cũng có thể khẳng định rằng Nguyễn Trãi đã cắm một cột mốc quan trọng trên con đường tiến lên của dân tộc Việt Nam. nhà địa lý học. nhà chiến lược thiên tài. Thật là một con người vĩ đại về nhiều mặt trong lịch sử nước ta. cứu dân. đồng thời là một nhà văn lớn. nội trị ngoại giao "mở nền thái bình muôn thủa. nhà ngoại giao kiệt xuất.[31] Năm 1980. mạnh như vũ bão. "văn chương mưu lược gắn liền với sự nghiệp kinh bang tế thế" (Phan Huy Chú). văn là chính trị: chính trị cứu nước. "yếu đánh mạnh ít địch nhiều . sử gia Nguyễn Lương Bích đánh giá một nhân vật vĩ đại về nhiều mặt. thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá: Nguyễn Trãi. võ là quân sự: chiến lược và chiến thuật. là nhà chính trị lỗi lạc. rất hiếm có trong lịch sử. sử gia Nguyễn Lương Bích đánh giá Công lao. Tư tưởng chính trị quân sự ưu tú và tài ngoại giao kiệt xuất của ông đã dẫn đường cho phong trào khởi nghĩa Lam Sơn đi tới thắng lợi. nhà làm luật pháp và âm nhạc xuất sắc.. đặc biệt là lĩnh vực văn học. [29] Về sự nghiệp của Nguyễn Trãi.[sửa] Thời hiện đại • Ở thế kỉ 20. Ông là một anh hùng dân tộc vĩ đại. [30]Thiên tài của Nguyễn Trãi là sản phẩm của phong trào đấu tranh anh dũng của dân tộc trong một cao điểm của lịch sử. Nguyễn Trãi quả thật là anh hùng. trí tuệ. rửa nỗi thẹn nghìn thu". Công lao quý giá nhất và sự nghiệp vĩ đại nhất của Nguyễn Trãi là tấm lòng yêu nước yêu dân tha thiết và sự nghiệp đánh giặc cứu nước vô cùng vẻ vang của ông. sự nghiệp của Nguyễn Trãi rõ ràng là huy hoàng.. văn võ song toàn. sắc như gươm đao: "viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời" (Lê Quý Đôn). nhà thơ lớn. thắng hung tàn bằng đại nghĩa". Thiên tài ấy đã để lại một sự nghiệp lớn về nhiều mặt mà chúng ta còn phải tiếp tục tìm hiểu thêm mới có thể đánh giá đầy đủ và chính xác được. Ông đã đem hết tâm hồn. ông được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa nhân dịp kỉ niệm 600 năm ngày sinh của ông. Dầu sao.[32] • • . văn và võ đều là võ khí. nhà sử học. là tinh hoa của dân tộc. vĩ đại. người anh hùng của dân tộc. Đạo đức phong cách của ông rất cao đẹp.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->