P. 1
các sách ngôn sứ

các sách ngôn sứ

|Views: 1,448|Likes:
Được xuất bản bởiTo Toan

More info:

Published by: To Toan on Mar 07, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

03/07/2011

pdf

text

original

1

TIẾT I

CÁC SÁCH NGÔN SỨ TIỀN
CHƯƠNG I. SÁCH GIO-SUÊ (Gs)
I. Nội dung II. Cấu trúc văn chương và lược đồ III. Thể loại văn học và mục tiêu IV. Giá trị lịch sử 1. Khảo cổ học 2. Phê bình văn học và lịch sử V. Giá trị tôn giáo và ý nghĩa thiêng liêng Chúng ta quen phân biệt các sách lịch sử với các sách ngôn sứ, vì nghĩ rằng loại sách trên hướng về quá khứ, loại sách dưới nhìn về tương lai. Đơn giản hóa như vậy là làm sai lệch thực tại. Các sách Ngôn Sứ dành một chỗ quan trọng cho khung cảnh lịch sử thời họ rao giảng ; hơn nữa, sấm ngôn của họ nhiều khi khởi đi từ lịch sử quá khứ hoặc đương thời để phán đoán và giải thích nó. Mặt khác, các sách Gio-suê, sách Thủ Lĩnh, các sách Sa-mu-en và các sách Các Vua mà ta gọi là sách lịch sử, thì Thư Qui Do thái lại xếp vào các Sách Ngôn sứ. Sở dĩ như thế, một phần là do tin tưởng của họ vào các tác giả các sách Ngôn sứ : Josué đối với cuốn sách mang tên ông, Samuel đối với sách Thủ Lĩnh và sách Samuel, Jérémie đối với sách Các Vua. Nhưng sâu xa hơn, người Do thái vốn cảm thấy các sách này có liên hệ họ hàng thực sự với sứ điệp của các Ngôn sứ, mà họ lấy các lời của các ngài để suy niệm chuyên cần sau khi đi lưu đày về. Còn bộ sưu tập đồ sộ những truyền thống quốc gia phác họa lại lịch sử từ cái chết của Mô-sê cho tới
2

Lưu đày, nó cho một giáo huấn hợp với giáo huấn của các ngôn sứ. Hơn nữa, ở nhiều trang, sưu tập cho thấy các ngôn sứ đang họat động giữa dân Chúa. Vì thế, sưu tập này được liên kết với các sưu tập ngôn sứ, dưới cái tên gọi là Nebita (ngôn sứ), chỉ phần thứ hai của Kinh thánh Do thái. Người Do thái phân biệt "các Ngôn sứ tiền" (Gs - V) và "các Ngôn sứ hậu" (Is, Gr, Ed và 12 ngôn sứ nhỏ). B.C. (J.P.Bagot - J. Cl. Dules, Pour lire la Bible : Tiền hay hậu là lấy Lưu đày làm mốc : trước Lđ là tiền, sau Lđ là hậu. Ns tiền : Gs, Tl, S,V ; Ns hậu : Is. Gr, Ed, 12 ns nhỏ). Bốn "ngôn sứ tiền" rõ ràng là có sự nhất quán. Từ việc chiếm lĩnh Đất Hứa (Gs) đến Đất Hứa bị mất và dân đi lưu đày (2 V), các trình thuật và sự kiện đa tạp làm thành một lịch sử trong đó niềm tin thừa nhận có diễn tiến của cả một tấn thảm kịch và ghi lại những vết tích của thảm kịch đó nêu rõ những nguyên nhân gây nên nó. Theo M.Noth, thì giới phê bình trước đây cho rằng đã có việc hiệu đính lại các công trình vốn có trước, do công của những nhà biên tập chịu ảnh hưởng của Đệ Nhị luật được khám phá năm 622, nói như thế chưa đủ. Phải nói rằng có một tác giả sống tại Giuđa sau khi Jérusalem đổ năm 587, đã thai nghén và thực hiện một công trình bằng cách sàng lọc và sắp xếp lại các nguồn liệu dưới ánh sáng của Đnl được chép lại ở đầu công trình đó. Như vậy, Ngũ Kinh của ta chỉ là kết quả của việc tách Đnl ra khỏi công trình lịch sử đó. Luận đề đó cần được điều chỉnh để tính đến tính phức tạp của lịch sử văn học của Gs - V, cũng như của Đnl. Nói chung, đây phải là công trình của nhiều người và phải dựa vào những nguồn tư liệu ngay tại Jérusalem giữa cuộc cải cách của Josias và năm 587, rồi tiếp tục trong Lưu đày. Ảnh hưởng của Đnl là điều chắc chắn. Những cái bất chắc của chúng ta về vấn đề này là do tính đồ sộ của công trình : sự suy tư về lịch sử từ cuộc Chinh phục đến cuộc Lưu đày phải là công việc của nhiều người và nhiều thế hệ, nhất là khi vương triều đã đổ. Người ta sẽ nhận ra những trạng thái
3

của nó trong tổng hợp lớn sau tai họa 587, chính tai họa này đem lại cho công trình một nét bi thảm và sám hối. Chính lúc dường như lịch sử cứu độ bị chặn lại, thì việc tính sổ những lầm lỗi của Israel và các vua là một lời mời gọi trở về và một lời nhắc nhở những điều kiện phải có để những điều Thiên Chúa hứa được thực hiện. Do đối tuợng của mình, tổng hợp này là tổng hợp lịch sử. Nó cung cấp một lợi ích lớn lao cho nhà sử học, nhờ những nguồn tư liệu đa tạp và cựu trào mà nó đưa vào nhưng vẫn tôn trọng giữ gìn. Tuy nhiên, tính ngữ ngôn sứ cho thấy địa vị của nó ở bên trên những tác phẩm lịch sử phàm tục. Nó biểu đạt một suy tư về quá khứ, được nuôi dưỡng bằng giáo huấn của các ngôn sứ, trên đường đi tìm một ánh sáng cho hiện tại. Sâu sắc hơn, nó cho thấy Thiên Chúa, Đấng làm lịch sử, đang hành động. Mặc khải này đem lại cho các biến cố ý nghĩa của chúng, giật chúng khỏi quá khứ và đem lại cho chúng một đường hướng trực chỉ tương lai mà chúng chuẩn bị và mô tả ở một mức độ nhất định./.

I. NỘI DUNG VÀ LƯỢC ĐỒ
Khi đọc, ta cũng dễ nhận ra cách bố cục của cuốn sách và rút ra những nét chính yếu của nó. Một bài nhập đề liên kết nó với Ngũ Kinh và nêu lên mấy chủ đề chính : Thiên Chúa ban xứ sở cho Dân Người. Nhưng ân ban đó đòi sức mạnh và sự bền bĩ trong việc trung thành với luật Chúa, cũng như đòi sự cam kết của toàn dân. Phần I : gợi lại cuộc Chinh phục Đất Hứa (2-11) 1. Cuộc tiến vào Đất Hứa được kể dài dòng (2-7) : . được chuẩn bị bằng việc phái điệp viên vào Jéricho (2). Nhưng người kể chủ ý hơn đến niềm tin của Rahab, kẻ thừa nhận Thiên Chúa đang hành động nơi Dân của Người ; . vượt sông Jordan (3- 5,12). Đây là một biến cố tôn giáo : người ta tự thánh hóa, người ta tiến bước đàng sau
4

Khám Giao ước, dựng một bia kỉ niệm muôn đời tại Gilgal, người ta tự thanh tẩy khỏi nỗi nhục không cắt bì để mừng lễ Vượt Qua long trọng như lần đầu tiên tại Ai Cập ; . chiếm Jéricho (5,13-17) cũng được coi như một hành động phụng vụ cũng như quân sự. Những nghi thức chúc dữ (đi vòng quanh và thét lớn xung phong), Khám và các tư tế, các tường thành sụp đổ : tất cả bày tỏ uy lực Thiên Chúa. Lệnh tru diệt dân thành và hủy diệt thành nêu bật quyền tuyệt đối của Thiên Chúa trong cuộc chính phục đó. Cho nên việc Akan vi phạm lệnh tận diệt chỉ có thể gây hại. 2. Sau thất bại đầu gắn với lỗi của Akan, việc chiếm được thành Ai là một dấu hiệu mới chứng tỏ sự phù trợ của Thiên Chúa khi Dân trung thành (8,1-29). Chiến thuật tài tình, nhưng trình thuật cũng nêu bật việc linh hứng của Thiên Chúa cho Josué. 3. Việc tế lễ và việc đọc sách Luật trên núi Ebal (8,30-35) không ăn gắn với việc kể trước, nếu đây là bản tường trình về cuộc chiến tranh. Trình thuật này làm ta chứng kiến sự tái lập Giao ước trước khi có hòa ước với người Gabaon (ch.9). Bản văn này là mắt xích cuối chót của một dây chuyền bắt đầu ở Đnl 11,29-32, tiếp tục ở Đnl 27,11-13 và đến tận Gs 8,30-35. 4. Các kẻ thù của Israel liên minh với nhau (9,1-2). Bằng mưu mẹo, người Gabaon khuyên được Josué kí một giao ước nhờ đó họ thoát được bị tận diệt (9,3-27). Năm vua miền Nam định bắt họ trả giá vì việc đào ngũ của họ, nhưng Josué đánh cho chúng tơi bời (10,1-27). Đến đây tác giả gợi lại cuộc chinh phục các thành miền Nam (10,28-39) và điểm lại tình hình (10,40-43). 5. Đến lượt các thành phía Bắc liên minh chống lại và bị Israel đánh bại và tận diệt (11,1-14). 6. Để kết luận, nguời ta ghi nhận rằng Josué đã trung thành với lệnh Thiên Chúa do Môsê truyền lại (11,15-23) và nguời ta liệt kê danh sách những vua bại trận (12). Phần II : việc chia Đất Hứa cho các chi tộc (13-21)
5

Ruben, Gad và nửa phần Manassé đã có phần ở bên kia sông Jordan (13,8-23). Phía Tây, một cuộc phân chia đầu tiên ở Gilgal ấn định lãnh thổ của Juda và Caleb (14,6-15), Ephraim và Manassé (16-17). Tại Silo, 7 chi tộc khác nhận phần của mình (18-19). Những thành tị nanỳ và những thành dành cho Lévi (21,1-42) được xướng riêng ra. Kết thúc là lưu ý việc thực hiện những lời đã hứa (21,4345). Đến đây, Josué giải tán các chi tộc bên kia Jordan. Họ dựng một bàn thờ trên bờ sông. Việc này làm các chi tộc khác đâm lo, nhưng rồi nhờ được giải thích, người ta an tâm (22). Quan trọng hơn cho ý nghĩa cuốn sách, là những khuyến cáo cuối cùng của Josué.Ông tóm tắt lại công việỳc ông làm và muốn ngăn ngừa trước nguy cơ lây nhiễm mà Israel sẽ mắc phải giữa các dân (23). Trong một diễn từ tại Sichem, ông nhắc lại công việc Thiên Chúa từ Abraham cho đến khi ban Đất Hứa, nhằm hậu thuẫn cho sự lựa chọn mà dân tuyên cáo trước yêu cầu của ông, giữa Đức Javé và các thần khác (24,1-28). Cuốn sách kết thúc bằng ghi chú việc chôn cất Josué, Giuse và tư tế Eléazar (24,29-33).

II. CẤU TRÚC VĂN HỌC VÀ CÔNG VIỆC BIÊN SOẠN
Trong toàn bộ cuốn sách, người ta dễ thấy những lủng củng trong văn phong hoặc trong lời kể, làm ta nghĩ đến những nguồn tư liệu khác nhau và những giai đoạn biên tập khác nhau. Giọng điệu khuyến cáo của chương I nổi bật ở các trình thuật kế tiếp. Các trình thuật thì quá tải, hoặc mang dấu vết những truyền thống khác nhau mà người biên tập không nỡ bỏ đi (so sánh 4,9 với 1-3.20-24 về những phiến đá dựng lên giữa sông Jordan hay ở Gilgal ; 6,8.9.13 với 5.16.20 về việc dùng tù và ; 6, 10, 20a với 5, 20b về hiệu lệnh Josué ban hay do tù và)....Do đó, nảy ra vấn đề : cuốn sách được biên soạn khởi đi từ những nguồn tư liệu
6

nào và được biên sọan như thế nào. Môn phê bình văn học đã cốờ trả lời : - Từ lâu, người ta đã đem lí thuyết 4 nguồn liệu áp dụng vào đây. Từ Wellhausen, nguời ta nói đến Lục Kinh mà Gs là phần kết cho 5 cuốn trước. - Một hướng mới cho việc nghiên cứu Gs do công của A.Alt và M. Noth, quan tâm cả về phê bình văn học, cả về khảo cổ học và lịch sử các truyền thống. Do hình thưcỤ và nội dung, các của Gs khác nhiều với các truyền thống của Ngũ Kinh. Noth gắn Josué với một tổng thể lịch sử đồ sộ được tiếp nối cho đến tận các sách Các Vua và được biên tập sau biến cố 587, dưới ánh sáng Đnl. Nói chung, giới phê bình nhận giả thuyết Gs được biên tập dưới ánh sáng Đnl. Họ ít nhất trí về tình trạng các tư liệu có trước và về tầm quan trọng của những biến đổi mà các tư liệu đã trải qua. Vì thế, nhiều tác giả không chịu phủ nhận những trình thuật J và P trong các trình thuật của Gs. Dù sao,việc xác định ai là ngưòi biên soạn Gs cũng khó như đối với Ngũ Kinh. Mặt khác, theo Noth, người sưu tập đầu tiên có lẽ đã thực hiện công trình vào thế kỉ X cùng lúc với J. Cuối cùng, dù sao, các truyền thống của Gs 2-11 vẫn giữ nguyên phong vị đặc thù và nội dung cũng như hình thức của chúng quan trọng hơn là việc chúng được viết thành văn năm nào. Như thế, ta thấy những truyền thống này có một thời đầu truyền miệng, rồi một thời kì biên tập từng mảng. Ít ra đầu thời vương quốc đã có một toàn bộ rồi. Chương 24 hiện nay về thực chất có thể gắn vào đó. Việc biên tập cuối cùng chịu ảnh hưởng đậm của quan điểm thần học Đnl, biến đổi sâu sắc các truyền thống sơ khai để áp dụng nó cho mọi chi tộc. Không thể biết khi các nhà biên tập hiệu đính thì tình trạng cuốn sách như thế nào. Họ muốn nhấn mạnh ở những bài học tôn giáo. Javé thực hiện các lời hứa và tỏ lòng trung tín khi Israel giữ lời cam kết. Phần địa lí cũng phải đã hình thành dần dà từ những tư liệu rải rác dọc thời
7

gian. Bản kê các địa danh của Giuđa(15,21-62) có thể lên đến thời kì tái tổ chức Giuđa thời Đavít, Salomon hay Roboam. Danh sách những thành tị nạn (20) và những thành thuộc chi tộc Lévi (21) không thể có trước thế kỉ X, nhưng cũng không phải muộn lắm. Phần địa lí trở thành việc chia đất Hứa giữa 12 chi tộc, có vẻ là một cuộc kiểm kê gia tài Thiên Chúa ban mà Israel đã hoang phí.

III. THỂ LOẠI VĂN HỌC VÀ MỤC ĐÍCH
Vì thế không lạ gì khi thấy Gs có những mảng có tính văn chương rất khác nhau. So sánh trình thuật chiếm Jéricho với những yếu tố địa bạ của các chi tộc được sử dụng ở phần hai, hay lời khuyến cáo của những chương 1 và 23. Tính đa dạng thì làm cuốn sách phong phú. Nhưng cần rút ra một số nét ta bắt gặp suốt cả cuốn sách và không được quên khi phải định giá trị lịch sử và sứ điệp tôn giáo của nó : chính những nét này làm nó thành một thiên sử thi và một lịch sử suy niệm. 1. Những nét sử thi.- Chỉ cần đọc trình thuật chiếm Jéricho, chiếm Ai, trận Gabaon, là cảm thấy tính anh hùng ca của câu truyện. Mọi cái trong trình thuật đều nhằm diễn đạt tầm quạn trọng của các chiến thắng và nhất là gán cái vinh quang của các chiến thắng cho Javé : cường điệu, phóng đại các con số, xóa bỏ những nhân tố thắng lợi do con người, nhấn mạnh ở cái bất thường và lạ kì. Nhưng cũng có những trang nêu bật lề lối sử thi mà không quá thổi phồng các biến cố (8,3 và 12) và chiến thuật loài người (điệp viên vào Jerờicho, 2) và cuộc chiến trước mặt thành, 24,1; cuộc phục kích ở AI,(8); cuộc hành quân đêm để sáng tinh mơ đánh úp (Gabaon 10,9). Mặt khác, một bài thơ cổ kể việc cầu khẩn mặt trời mặt trăng được trích dẫn rồi biến thành trình thuật. Thế là người kể truyện thêm vào chiến công Gabaon một truyện làm người nghe ngạc nhiên : ngày chiến thắng đó dài chưa từng thấy (10,12-14).
8

Một nét khác gần với sử thi : để bày tỏ ý nghĩa biến cố, người viết giản lược đi : phác qua hình ảnh cuộc chinh phục chớp nhoáng toàn xứ, do toàn dân tập họp dưới sự chỉ huy của Josué. Phần đầu sách Thủ lĩnh thì cho thấy đó là một cuộc chinh phục trường kì gian khổ, các chi tộc chiến đấu riêng lẻ, thất bại trước những thành quan trọng, không thể tận diệt kẻ thù. Ở Gs cũng có dấu vết của những truyền thống tương tự. Cuộc chinh phục không trọn vẹn : 13,1-16 ; 17,12.16 ; 16,10). Cho nên phải thấy cung giọng chiến thắng nơi các bản toát lược : 10,28-39 và 40,43. Josué giành lấy cho mình những chiến thắng của những người khác 2. Những nét sử thi trên nhằm phục vụ một ý đồ tôn giáo Dùng lối cường điệu để suy tôn quyền lực Javé, cho nên các chi tiết trận đánh và phương thế là không đáng kể. Cũng vậy, có việc giản lược, là vì một thị kiến tiên tri về lịch sử được nhìn trong toàn bộ. Sở dĩ Josué bao quát lịch sử, là vì tác giả muốn đem lại tính thống nhất cho công trình của Thiên Chúa mà ông chỉ là người đại diện. Nhà biên tập cố làm toát lên những chủ đề suy niệm mà lịch sử này gợi ra, đó là giáo lí về Giao Ước. Javé thực hiện những lời hứa bằng việc ban đấỤt cho Dân làm cơ nghiệp (1,3.6.11 ; 23,5.14 ; 24,13 ; so sánh với Đnl 4,1 ; 6,10 ; 11,9.21). "Ta sẽ ở với ngươi"(1,5.9.19 ; 23.3.10 ; so sánh với Đnl 6,1724 ;11,22-25 ; 31,6.8). Đáp lại phải là cam kết của Josué và những nguời thuồc về ông :"Hãy vững vàng và kiên quyết" (1,6.9.18 ; x. 8,1 ; 10,8.25 ; Đnl 31,6-8.23). Cam kết trung thành giữ luật Chúa (1,6-9 ;8,32-35 ;11,15 ; 23 ; Đnl 5,32 vt ; 31,9-13). Trước hết, phụng sự Thiên Chúa vì Người là Thiên Chúa của chúng ta"(24,18 và cả 14-28 ; 22,5 ; x. Đnl 6,13), cụ thể là : không liên minh với các dân ngoại và các thần minh của họ (23,6-13 ; Đnl 7,1-6). Việc nhấn mạnh ở lệnh thần tru là nhằm nhắc dân gắn bó với Thiên Chúa độc nhất của Israel, vì trung hay bất trung với Giao ước bao quát
9

cả lịch sử những phúc và họa của Dân ưu tuyển (23,12-16 ; Đnl 11,22-32 ; 31,16-22). Như thế, sách Gs nhìn lịch sử dưới một góc độ khác với góc nhìn của những lịch sử hiện đại và lối nhìn đó biện minh cho thể loại văn học được chọn. R.Vaux nói : "Với thánh kí, việc chinh phục Canaan không phải là một biến cố phàm tục nhưng là một biến cố thần học".

IV. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ
Thể loại văn học không được đưa tới kết luận thẳng thừng rằng cuốn sách không có giá trị lịch sử. Những tìm tòi mới đây về địa hình và khảo cổ, trong khi xác định những địa điểm đã được nói đến và phát hiện ra nền văn minh Canaan cũng như thời đầu của văn minh Israel , bắt buộc phải cho nhiều dữ kiện của cuốn sách là có thực.. Mặt khac, những phương pháp phân tích văn học có xu hướng tăng tuổi các truyền thống và tư liệu được sử dụng lên. Sau cùng, một sự hiểu biết tốt hơn về những nền văn học truyền thống làm ta thừa nhận một cách tổng quát phần đóng góp của những kí ức lịch sử được khai thác. Vì thế, có những nhà chú giải tỏ ra tin vào Gs hơn mấy chục năm trước đây (như :Y.Kaufmann, The Biblical Account of the Conquest ofợ Palestine, 1953 ; B.Bright, A.History of Israel,1960 ; R.De Vaux, Histoire ancienne d'Israel, 1971...). 1. Khảo cổ học.- Giá trị lịch sử của một số trình thuật trong Gs được khoa khảo cổ học thử thách, nhưng kết quả rất không giống nhau. Những khai quật ở Tell esSultan, 1907-1909, rồi 1930-1935 cho phép tìm lại được Jéricho của Canaan xưa. Các nhà chuyên môn không hồ nghi việc Jéricho bị hủy diệt là do Josué, chỉ hồ nghi về niên đại (theo M.Garstang, quãng 1400 ; theo P.Vincent, ít lâu sau 1250). Nhưng những cuộc khai quật mới dưới sự hướng dẫn của Miss K.Kenyon giữa 952-1958, lại cho thấy Jericho là thành có phòng ngự kiên cố nhất được biếỤt đến. Tuy nhiên còn nhiều vấn đề bàn cãi.
10

Những cuộc khai quật ở Et-Tell, gần Beitin(Béthel) do bà Marquet-Krause, 1933-1935 cũng gây bối rối, tuy cho biết chắc địa điểm đó là Ai. Tuy nhiên, những cuộc khai quật mới đây do J.A.Calla-way, 2964, 1966,1968,1969, giúp xác định thời kì Đồng - Cũ là giữa 2900-2500 tcn. Trở lại với bản văn Kinh Thánh, có những sự tương tự lạ lùng với trình thuật việc hủy diệt chi tộc Benjamin được kể ở sách Tl 20. Lí do lịch sử của trình thuật Gs 8 sẽ là một vụ tranh giành đất đai giữa người Benjamin và người Ephraim, nhưng trình thuật trận đánh lại là một truyền thuyết nhằm biện minh cho việc Benjamin chiếm Ai. Đó là một giả thuyết.Tuy nhiên, P.Auvray cho rằng căn cứ vào thí dụ về trường hợp Jéricho và Ai, thì giới chủ giải đã quá đòi hỏi ở khảo cổ học. Cho nên việc phê bình các bản văn và truyền thống vẫn cứ là nguồn gốc chính yếu để các sử gia phán đoán. 2.. Phê bình văn học và lịch sử a. Nhiều trình thuật giải thích một sự kiện có thể bàn cãi : 12 phiến đá ở thánh đền Gilgal, Jéricho suy tàn, Ai có tên là "tàn tạ". Cho nên Noth coi các trình thuật ở 2-9 như truyền thuyết về căn nguyên (étiologiques). Nhưng những nét về căn nguyên học không chiếm trọn hết các trình thuật. b. Từ những trang thuộc thể loại sử thi, không thể chờ đợi một sự trung thành chặt chẽ với lịch sử. Những sự lạ Josué làm nhiều khi gây bối rối cho giới chú giải. Một số người loại chúng ra nhân danh thiên kiến duy lí. Một số khác nhận chúng, nhưng cho là ngoại lệ, tuy vẫn là những sự kiện tự nhiên : một vụ sụt lở như năm 1267 có thể đã chặn dòng sông Jordan lại, một trận động đất có thể đã làm Jéricho sụp đổ, chiến thắng Gabaon có thể dễ dàng là nhờ một cơn dông làm bầu trời tối đen, hay một trận mưa thiên thạch tiếp đó là mộtý thời gian sáng ngoại thường kéo dài hoàng hôn đến tận rạng đông hôm sau... Đồng thời, cũng cần lưu ý tới thể loại văn học của bản văn và tới niềm tin được biểu đạt trong đó. Có những
11

nhóm trẻ gặp được sưcỤ mạnh ở niềm tin vào Javé, họ đi tìm đất và đạt được những kết quả vượt khả năng của phương tiện họ vận dụng. Họ cho đó là sự can thiệp của Thiên Chúa. Họ ghi lại bằng những trình thuật theo thể sử thi (anh hùng ca), trong đó cái kì lạ được dùng để phục vụ điều chính yếu là khẳng định hành động của Thiên Chúa. Nhưng không thể coi đó là những truyền thuyết thuần túy. c. Điều được bàn cãi, là vai trò của Josué. Alt chỉ giữ lại và coi như là có từ đầu những đoạn 10,10-14 ; 17,1418 và 24 : Josué nổi tiếng nhờ chiến thắng ở đất Benjamin là chi tộc ông ở ; ông làm trọng tài cho vụ tranh chấp nội bộ nhà Giuse (Ephraim và Manassé), ông can thiệp vào hòa ước Sichem. Noth còn loại Josué ra khỏi đoạn 10,10-14. Chính người sưu tập 2-11 đưa ông vào những truyền thống xa lạ đối với chi tộc ông.Từ chỗ là người hùng địa phương, ông trở thành người hùng của quốc gia, kế vị Môsê. Phải nhận rằng đã có những toán người khác nhau cuối cùng liên hiệp nơi Israel, họ đến đất Canaan bằng những cách thế khác nhau. Điều chắc là những thành phần của Siméon, Lévi và nhóm gốc Juda đã lặng lẽ trót lọt thấm nhập phía Nam, lại có những bộ tộc sau mới vào (Caleb,Qénit). Sự đụng đầu với người Canaan định cư trong miền núi Juda được đánh dấu bởi mấy trận đánh (Horma, Hebron, Débir). Các chi tộc phía Bắc chắc không hề xuống ai cập. Những quan hệ giữa các nhóm cuối cùng phân biệt thành Benjamin, Ephraim, Manassé (3 hậu duệ của Rachel) cũng dễ hiểu. Người ta coi là thuộc về Benjamin những truyền thống ở Gs 2-9, thuộc Ephraim những truyền thống ở Gs 10 (trận Gabaon). Nhưng các bộ lạc đó chỉ nhận tên gọi sau khi nhập cư và những nhóm đã làm nên họ trước kia đã đến từ phía đông Jordan và có những truyền thống chung. Josué thuộc những truyền thống đó, được coi là thủ lĩnh những thành phần đã vượt qua Jordan .Trình thuật về trận tấn công Jéricho tuy mang tính chất phụng vụ và dù có sự thinh lặng của khảo cổ học, nhưng nó lưu giữ kí ức lịch sử và cho thấy làm sao các chiến thuật và việc nội gián đã có thể bù đắp sự
12

thua kém về quân sự. Nhưng việc chiếm Ai có lẽ là một lối văn căn nguyên học, giải thích sự suy tàn căn cứ vào những tranh chấp khi các chi tộc tiến vào Palestine trung phần. Hòa ước với Gabaon thì trái lại, làm nổi rõ tính cách hòa bình. Nhưng Thủ lĩnh 1 không cho phép mở rộng chiến tranh ra tòan bộ miền Nam sau trận Gabaon như là một sự kiện lịch sử. Theo Noth, sự kiện lịch sử nói ỏ Gs 24 có thể là sự xuất hiện "liên bang" của 12 chi tộc và chọn Sichem làm thánh đền trung tâm. Tuy nhên, hệ thống 12 chi tộc là chuyện về sau và thời Thủ Lĩnh chưa có đền thờ trung tâm. Theo de Vaux, Josué và các nhóm đến với ông từ Đông Jordan, khi tới Sichem đã truyền bá niềm tin vào Javé cho những nhóm cùng chung một nguồn bộ tộc đã từng định cư ở phía Bắc và chưa hề xuống Ai cập. Đại hội Sichem tạo đà cho Zabulon và Nepthalie nổi lên chống các chủ nhà Canaan trước khi tạo điều kiện để có được chiến thắng của Baraq và Débora (Tl 4-5). Khi Josué mất, quãng 1200, Israel chia làm 3 miền, bị cắt ra bởi những thành có thế lực của Canaan : Geser và Jérusalem giữa các chi tộc miền núi, Juda và Ephraim, Mégido, Taanak, Beth-Shean giữa các chi tộc miền trung và xứ Galilée.

V. GIÁ TRỊ TÔN GIÁO VÀ Ý NGHĨA THIÊNG LIÊNG
Ta đã thấy ban đầu một chủ ý tôn giáo đã khiến người ta biên tập cuốn sách. Những truyền thống xa xưa được cuốn sách sưu tập lại, chứng tỏ một quan niệm tôn giáo về Đất chiếm : nó thuộc về Thiên Chúa (22,25) và lịch sử việỳc chinh phục đó đầy những sự can thiệp lẫy lừng của Javé. Từ những truyền thống địa phương, đến sưu tập toàn Juda về thời đầu vương quốc, rồi đến lần biên tập cuối cùng, sự phát triển văn học tương ứng với sự phát triển ý thức của Israel về sự thống nhất của mình dưới ánh sáng niềm tin và
13

niềm hi vọng của mình. Hình ảnh "toàn thể Israel" chiếm "trong một trật" toàn xứ Canaan dưới sự chỉ huy duy nhất của Josué, phải suy tôn "Javé,Thiên Chúa của Israel, chiến đấu cho Israel" (10,42-43). Như vậy, chiến công của Josué phải làm thế nào bày tỏ ý định của Thiên Chúa về dân của Người. Ý nghĩa sâu sắc của Gs là ở chỗ đó. 1. "Mọi lời hứa của Javé cho nhà Israel, không lời nào là không được thực hiện" (21,45). Thiên Chúa đã hứa một Đất và một hậu duệ. Cuốn sách ca tụng lòng trung thành của Thiên Chúa. Đất và hậu duệ là kết quả của Lời Hứa và điều đó thể hiện Tình Thương. Thời biên tập sau cùng, Tình Thương biến thành Hi Vọng. Hậu duệ phân đôi thành hai vương quốc, rồi một sụp đổ, một gần biến mất hay đã biến mất. Đất bị kẻ thù xâm nhập rồi đánh chiếm trọn vẹn. Trước những trớ trêu của lịch sử đó, niềm tin dựa vào Lời Hứa chờ một phen thực hiện khác. Dân khát mong Yên nghỉ mà lịch sủ Gs cho thấy hình ảnh (1,13.15 ; 21,44 ; 22,17 ; 23,1 ; Đnl 3,20 ; 12,10 ; 25,19). Địa bạ Israel được giữ như một bảo chứng cho một tương lai mới. Ezéchiel nơi lưu đày đã mô tả việc chia lại Đất sau này giữa các chi tộc (47-48). Sở hữu hay thừa tự Đất : đó là cách biểu đạt niềm hi vọng cứu độ nhờ Cứu Chúa và cánh chung (Ed 36,12 ; 37,25 ; Is 57,13 ; 60, 21 ; 65,9). Tân Ước đáp trả : "Phúc cho kẻ nghèo hèn, vì họ được Đất làm cơ nghiệp" (Mt 5,5 ; xem kiểu nói "thừa hưởng Nước Thiên Chúa" ở Mt 25,34 ; 1 Cr 6,9-10 ; 15, 50 ; Ga 5,21). Thư Do thái mời ta chuẩn bị cho Yên nghỉ của Thiên Chúa mà yên nghỉ ở Canaan chỉ là hình bóng (4,8). (x.TĐTHTK mục Gioduê). 2. Từ Môsê, Giao ước qui định những tương quan giữa Javé và Dân. Sự nghiệp Josué cho thấy Giao Ước đó trở thành hành động : Thiên Chúa ở với Israel khi Israel tuân thủ ý Thiên Chúa. Samarie đổ và Jérusalem phải gánh chịu những tai ương là do bẩt trung với Giao Ước, mà sự phản bội nặng nề nhất chính là việc thờ những thần khác. Người đọc ngày nay cho lệnh thần tru là chướng, nhưng
14

phải hiểu nó theo nghĩa như trên. Đầu hết, đó là một nghi thức của thánh chiến, qua đó các chiến lợi phẩm đều được dâng cho thần minh : người và vật bị giết đi, thành và của cải bị hủy hoặc dành cho phụng tự. Ta gặp thấy một sự kiện tương tự bên ngoài Kinh Thánh, nơi bia Mésha là vua Moab thế kỉ IX. Các ngôn sứ cổ thời dường như không chống lại thói đó, coi đó là một cách để ngăn ngừa đa thần giáo. Đnl lấy đó làm một qui luật, nhưng thời này thì thánh chiến không còn nữa và những thói thờ cúng ngoại lai thì đã lây nhiễm niềm tin của Israel. Việc Gs nhấn mạnh ở héờrem : thần tru, là công việc của nhà biên soạn Đnl. Lòng thù ghét người Canaan thể hiện trong Gs và Đnl chỉ còn là lí thuyết suông. Người biên tập cũng thưà biết rằng thực tế người Israel không tru diệt người ngoại bang (Gs 23,4.12) và họ đã suy sụp chính vì đã lây nhiễm đạo thờ các Baal. Có lẽ ở đây ông muốn phát biểu một hối tiếc. Chắc là ông muốn cho một bài học : người Canaan và các thần tiêu biểu cho tất cả những gì làm dân xa rời Javé. Họ chỉ có tương lai, nếu họ trở về với việc phụng thờ một Thiên Chúa độc nhất. 3. Cho nên hình ảnh hết mọi chi tộc hiệp nhất dưới sự lãnh đạo của Josué có một giá trị tiền tiên tri. Khi cuốn sách được biên tập xong, hình ảnh đó bị các sự kiện phủ nhận một cách ác độc rồi. Ngược lại nó phù hợp với niềm hi vọng của Jérémie (23,1-8 ; 31, 27-28) và Ezéchiel (37,1528). Thiên Chúa vẫn luôn luôn hành động trong Dân Người. Những công việc của Javé đòi mọi người phải tham gia : phải trung với Luật. Đại Hội Sichem là một mô hình. Những bài học đó có được hết ý nghĩa nhờ việc tập hợp Israel mới. Hoàn thành soi sáng khởi đầu. Vai trò Josué cũng nêu bật một lẽ hằng trong hành động của Thiên Chúa. Ơờ mỗi giai đoạn của lịch sử thánh, ý định của Thiên Chúa đều dựa trên một con người như tóm tắt cả Dân. Josué một cách nào nhập thể sự thống nhất Israel . Ông thực hiện lý tưởng đề ra cho Dân Thiên Chúa. Với Josué, Thiên Chúa ban không gian cho Dân bằng cách cứu họ khỏi kẻ thù. Sẽ có những cuộc giải phóng tiếp theo và hi vọng hướng về
15

những cuộc giải phóng khác nữa có tính quyết định hơn, cho đến lúc Thiên Chúa sai Josué khác là Đức Giêsu Con của Người đến.

CHƯƠNG II. SÁCH CÁC THỦ LĨNH (Tl)
I.- Nội dung sách II.- Phân tích văn học III.- Hình thành cuốn sách IV.- Giá trị lịch sử V.- Giá trị tôn giáo.

I. NỘI DUNG SÁCH
Thủ Lĩnh nói đây dịch từ Judices, Juges, nhưng không có nghĩa là quan tòa, thẩm phán ; đây phải dịch là Thủ Lĩnh, để chỉ những người được Javé chỉ định nhằm cứu con cái Israel khỏi một tình trạng đau thương, từ khi Josué qua đời cho đến thiếu thời của Samuel (2,16-19 ; 3, 9-10). Chỉ có bà Débora là sách kể rằng bà giải quyết những vụ tranh chấp (4-5). Cuốn sách giới thiệu những Thủ Lĩnh như những người lần lượt thi thố quyền hành trên toàn Israel (4,4 ; 10,2-3 ; 11,27 ; 12,7-14 ; 15,20 ;16,31). Sách gồm một bài dẫn nhập lịch sử, tóm tắt việc các chi tộc nhập cư Canaan (1-2,5). Họ hành động riêng rẽ, tiến chậm, gặp những thất bại. Phần dẫn nhập muốn giải thích tình hình bị đe dọa thời đó. Một diễn từ của vị thiên sứ giải nghĩa cho biết vì dân bấtỤ tuân (2,1-5). Các trình thuật tập hợp ở 2,6 - 16,31 : bài dẫn nhập thứ hai về giáo lí (2,6 - 3,6) nối các trình thuật với sự kết thúc của Josué (24-28) và gợi cho người đọc những bài học lớn mà các trình thuật minh họa : Israel nếm cảnh bị áp bức là vì họ đã bỏ Thiên Chúa mà đi theo các thần dân ngoại ; cảm động vì tiếng rên xiết của họ, Javé sai các Thủ lĩnh
16

nhằm giải thoát họ ; nhưng Thủ lĩnh chết, họ lại sa ngã thảm hại hơn trước. Sau lời dẫn nhập là tiểu sử một số Thủ lĩnh. Có vị chỉ được nhắc qua : đó là những Thủ lĩnh "nhỏ" : Shamgar (3,31), Tôla và Yair (10,1-5),Ibcân, Elôn và Abdôn (12,815). Trình thuật dài dành cho 6 Thủ lĩnh "lớn", đặc biệt nhằm xác minh giáo huấn ở phần dẫn nhập : Otniel (3,710), Ehud (3,11-30), Débora và Baraq (4-5), Gédéon và Abimélek (6-9), Jephté (10, 6-12) và Samson (13-16). Kết thúc là hai bài phụ lục gợi lại cảnh hỗn độn thời đó : một bài kể cuộc di cư của những người chi tộc Dan lên phía Bắc và gốc tích thánh đền Dan (17-18) ; một bài kể tội ác tầy trời của Gibéa và cuộc chiến các chi tộc chống chi tộc Benjamin vì không chịu trừng phạt tội phạm (19-21).

II. PHÂN TÍCH VĂN HỌC
1. Khung của cuốn sách a. Khung là một thần học về lịch sử, được phát biểu rõ nhất trong bài dẫn nhập (2,6-3,6) và trong bài dẫn nhập về Jephté (10,6-16). Ở mỗi vị Thủ lĩnh, đều có những công thức khuôn sáo : "Con cái Israel làm điều dữ trước Javé", "chúng bỏ Javé mà thờ các Baal và các Astartés" (2,11,13 ; 3,7 ; 10,6). "Vì thế Người phó chúng vào tay kẻ thù" (2,14 ; 3,8 ; 4,2 ; 6,1 ; 10,7). "Bấy giờ con cái Israel kêu lên Javé" (5,9.15 ; 4,3 ; 6,6 ; 10,10) "và Javé cho xuất hiện những Thủ lĩnh" (2,16) hay vị "Cứu tinh" (3,9.15). Cuối trình thuật là kẻ thù bị hạ nhục dưới bàn tay Israel (3,30 ; 4,23 ; 8,28) và "xứ sở được yên hàn trong năm" (3,11.30 ; 5,31 ; 8,28). Đó là cách thế tác phẩm biểu đạt bài học tôn giáo : tội đưa đến hình phạt bị ngoại bang áp bức ; trở lại : Javé sai cứu tinh đến. Giáo huấn này đem lại tính nhất quán cho những trình thuật rất khác nhau về văn phong và não trạng. Hình như lịch sử các Thủ lĩnh không luôn hài hòa hẳn với khung. Khung thì chủ ý đến toàn Israel, còn lịch sử Thủ lĩnh
17

thì thường trình bày một người hùng đặc thù, một bộ tộc, một chi tộc của người hùng đó. Bài ca của bà Débora trình bày việc bị áp bức như một hình phạt, nhưng không phản ánh được ý thức về tội nơi các chi tộc. Khung thì gắn sứ mạng vị cứu tinh với việc sám hối, nhưng Gedéon thì lại chẳng cho gương sáng về một đời sống tôn giáo vô trách cứ (8,27) ; Samson lấy vợ ngoại giáo, thì còn gì là nhà cải lương tôn giáo ! Cho nên người viết khi sưu tập các truyền thống, có thể đã thêm khung giáo lí vào. b. Có những điều lưu ý tương tự về khung lịch sử của cuốn sách.Tính hệ thống và qui ước tỏ ra nơi việc lặp đi lặp lại con số 40 hay bội của nó là 80 hoặc nửa của nó là 20 (4 thời kì yên ổn : 3,11,30 ; 5,31 ; 8,28 ; một thời kì bị áp bức 13,1) hay nửa số : 20 (4,3 ; 16,31). Những dữ kiện không mấy bình thường trong truyện các Thủ lĩnh nhỏ (10,1-5 ; 12,8-15), về Abiméleck, Jephté (9,2 ; 12,7) và đầu phần dẫn vào truyện Gedéon (6,1), Jephté (10,8). Rõ ràng là có những tầng biên tập khác nhau. c. Sau cùng, có 12 Thủ lĩnh, cũng như 12 chi tộc. Điều này cho thấy việc biên tập không đơn giản chút nào. 2. Các trình thuật Truyện các Thủ lĩnh nhỏ được giới hạn ở việc nhắc tên với vài dữ kiện địa lí hay niên đại mà thôi. Trong số các Thủ lĩnh lớn, Otniel được kể riêng : tên gọi là tên một vua Edom và chỉ hai con số là dữ kiện cụ thể nhất. Truyện các Thủ lĩnh khác dài hơn : nhắc đến những truyền thống miệng hay thành văn đã có trước. Về Ehud người Benjamin, là một bài kể bình dân phản ánh tính tàn nhẫn thời trước : táo bạo, mưu mẹo, một tên thuận tay trái ám sát một vua Moab và trở nên như công cụ giải phóng quan phòng (3,11-30). Truyện Débora và Baraq gồm hai tư liệu : một trình thuật bằng văn xuôi (4), một bài thơ (5). Bài thơ thường được giới phê bình coi là một thời với các biến cố và là một trong những bản văn Kinh Thánh thành văn đầu tiên. Caũm kích trước mối nguy các chi tộc phải chịu và rồi chiến thắng được liên minh các vua, Débora ứng khẩu một
18

bài tụng ca ngợi ca Thiên Chúa đã cứu dân. Cũng những sự kiện đó được kể trong một bài văn xuôi mà nguồn gốc độc lập đối với bài thơ. Trình thuật nhấn mạnh ở khía cạnh tôn giáo của biến cố : Débora nữ ngôn sứ làm trung gian giữa Thiên Chúa và vị Thủ lĩnh trận chiến là Baraq. Bà giản lược số lính, ngụ ý nhấn mạnh việc Thiên Chúa hộ trợ dân. Vì Baraq thiếu niềm tin, nên có hai người đàn bà thay thế : Débora và Yael, ở đầu và ở cuối trận đánh.Trình thuật này có thể xuất xứ tù giới ngôn sứ phía Bắc. Truyện Gédéon và Abiméleck (6-9) là một truyện liên tục. Nhưng cấu trúc văn học lại đa tạp. Sau phần dẫn nhập (6,1-10) ở đó chủ đề giáo lí của cuốn sách được nêu ra (x.7-10), là hai lần kể việc gọi Gedéon và cả hai lần đều gắn với việc dựng một bàn thờ (6,11-24 và 25-32). Trình thuật trận chiến chống người Madian dài dòng (6,23 - 8,3) với những tình tiết nêu bật sáng kiến và sự phù trợ của Thiên Chúa (6,36-40 và 7,13-14). Có những chỗ lủng củng : hai lần triệu tập các chi tộc (6,35 và 7,23). Việc đuổi Zébah và Calmunna tận bên kia Jordan (8,4-21) chỉ là hệ quả : ở đây, Gedéon báo thù một tên sát nhân (8,18-19). Việc từ chối làm vua (8,22-23), việc làm một éphod (đai lưng) (8,2427a) và những suy tư thần học kết thúc cuộc đời Gedéon.Tiếp đó là trình thuật vương triều vắn vỏi của Abimélek con của Yẻruba, tức Gedéon, bị anh là Yotam chúc dữ (9). Nhiều nhà phê bình cố phân biệt ở đây hai trình thuật hòa trộn nhau, thậm chí ba nữa. Nhưng Grossmann lại nghĩ giả thiết có hai truyền thống nền tảng (6,6-10 ; 6,11-24 ; 6,2-5 ; 6,33-8,3 ; 8,24-35). Được bổ sung bởi 3 mảng độc lập (6,6-10 ; 6,11-24 ; 6,25-32). Chiến dịch bên kia Jordan và lịch sử Abiméleck lại do một trình thuật khác (8,4-21 ; 9). Lịch sử Jephté (10,6-12,6) cắt ngang danh sách các Thủ lĩnh nhỏ và nêu bật một trong họ (10,1-5 ; 12,7-15). Một dẫn nhập thần học (10,6-16) dài. Bị các anh em đuổi,
19

rồi các bô lão Galaad dụ dỗ, Jephté cầm đầu một chiến dịch chống người Ammon (10,17-11,11). Trình thuật bị ngắt quãng bởi những cuộc thương thuyết trong đó Jephté đòi quyền lợi người Israel trên lãnh thổ bên kia Jordan (11,1228). Lời khấn của Jephté và việc hiến tế con gái ở cuối trình thuật (11,3-31 và 34-40) giải thích một tục lệ của miền bên kia Jordan : hằng năm các phụ nữ cử hành những nghi thức than vãn. Cuộc cãi vả giữa Jephté với người Ephraim (12,16) là một tình tiết về những quan hệ gay go giữa Israel bên kia Jordan với nhà Giuse. Samson được giới thiệu như Thủ lĩnh của Israel vì những công đức đóng khung trình thuật những cuộc phiêu lưu của ông (13,1 ; 15,20 ; 16,31). Xuất thân từ một miền ở đó chi tộc Dan có những quan hệ với người Philitin, ông bị lôi cuốn cưới một người Philitin trong một loạt những chiến công (14-15,8). Tiếp theo là một tình tiết ở tại đất kề cận Juda : một chiến thắng trên Philitin nhờ thần trí Javé và một cái hàm lừa (15,9-19). Một đêm tại nhà một gái điếm đất Gazar kết thúc bằng việc vác cả cổng thành mà đi (16,1-3). Nhưng Samson yếu đuối trước phụ nữ Philitin là Đalila : người hùng đánh mất sưc mạnh cùng với bộ tóc dài của mình, nhưng ông chỉ chết khi làm cho hàng ngàn người Philitin chết theo (16,4-51). Sưu tập những chiến công hùng-hài (héroi-comique) đó có tính tôn giáo đậm nhờ trình thụât việc Samson sinh ra làm dẫn nhập : một truyền thống cổ xưa về gốc tích đền thánh Coréa được triển khai thành trình thuật ơn gọi (13,2-24) cho phép giải thích tục để tóc râu của Samson. Nazir là người không hề cạo râu cắt tóc, lấy đó làm dấu hiến thân cho Thiên Chúa.

III. HÌNH THÀNH CUỐN SÁCH
Những tư liệu đa tạp như vậy làm ta dễ mà đoán chúng có được tính nhất quán bên trong cuốn sách hiện nay như thế nào. Đầu hết, phải có một thời kì truyền miệng :
20

người ta truyền miệng cho nhau những truyện anh hùng chi tộc này chi tộc nọ. Việc biên tập gồm nhiều giai đọan. Trong một thời gian dài trước đây, người ta thừa nhận nó có cùng một lược đồ như Ngũ kinh : một công trình sưu tập Giavit, rồi một sưu tập Elôhit, hai cái nhập một trước khi khám phá Đnl năm 622 ; một tác giả Đnl làm lại công việc đó, ghi dấu ấn mình vào. Sau lưu đày, có người sửa chữa chút ít.

IV. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ
Từ cuốn Tl, người ta chỉ có thể chờ đợi một lịch sử mảnh đoạn. Trước thời quân chủ, người Israel chưa có thống nhất vững vàng. Mỗi nhóm có lịch sử riêng. Khi tập họp lại, người ta muốn thực hiện một tổng hợp tôn giáo hơn là một tổng hợp lịch sử.Ta thấy một chuỗi những quan điểm phiến diện, được sắp xếp lại để có một giáo huấn thần học. Mặt khác, các kí ức được lưu truyền nhờ những trình thuật đủ loại lấy ở kho tàng văn học bình dân, thích lối gia thoại, tình tiết bi hài (ám sát vua Moab), thích cái ngoại lệ, thậm chí cả cái trào lộng (những cuộc phiêu lưu của Samson), ý đồ lịch sủ có thêm ý đồ khác, là ca ngợi phụ nữ (4), giải thích một nghi lễ (con gái Jephté), giáo dục (ơn gọi Sámon, Gédéon). Sau hết, cuốn sách không lo thỏa mãn những đòi hỏi của quan điểm của chúng ta về lịch sử, đó là niên đại. Nhiều số liệu do những nguồn khác nhau. Phần nhiều do tự người biên tập, nên thiếu chính xác.Vì thế, ta năng gặp con số 40,80 và nửa của 40 là 20. Cộng các số liệu của cuốn sách : 410 thời Tl, thêm vào một số liệu nơi khác nữa, thành con số 599 năm cho thời kì từ Môsê đến đền thờ Salomon bị phá. Cũng thời kì này, sách Các Vua chỉ tính 480 năm (1 V 6,1), nhưng cũng chỉ là con số tượng trưng thôi : Đền thờ Jérusalem là trung tâm đời sống Israel, nên việc xây cất nó phải nằm giữa lịch sử Israel và chia hai phần đều nhau : 12 thế hệ cho mỗi bên, từ Xuất Ai Cập cho đến Lưu đày.
21

Tuy nhiên, sách Tl có nhiều điểm xác thực : mưu mẹo của Ehud, lai lịch Jephté, về Débora có một truyện thơ và một trình thuật văn xuôi độc lập đối với nhau, khác nhau mà đồng qui tại một điểm. Đó là một cơ sở vững chắc cho các nhà sử học ; kể lại thất bại của vương quyền Abimélek chứng tỏ vô tư và không nại đến cái huyền bí. Hành động của Quan phòng là ở nơi sự ăn gắn giữa các sự kiện. Sách Tl cho hình ảnh về một thời đấu tranh và biến động. Người Israel còn chưa thống nhất về chính trị, còn bị người Canaan đe dọa, các lân bang uy hiếp. Trước hiểm họa, mỗi chi tộc tự vệ lấy. Một vị cứu tinh nổi lên, sử dụng một vài quyền, nhưng sứ mạng và địa bàn hoạt động có giới hạn. Rồi nhiều nhóm liên minh (4-5 ; 7,23) chứng tỏ đã có ý thức quốc gia : Benjamin bị xúc phạm vì không được mời (8,1-3 ; 12,1-6) ; Débora khiển trách nặng lời nhiều chi tộc vì không hưởng ứng (5,15-17). Nhưng điều đáng chủ ý : Débora không nghĩ đến việc xướng tên hai chi tộc phía Nam là Juda và Siméon : dấu cô lập, mầm mống li khai về sau.

V. GIÁ TRỊ TÔN GIÁO
Những kí ức của Tl đáng được lưu giữ trong lịch sử thánh. Chủ ý tôn giáo đã xuất hiện trong từng trình thuật riêng rẽ. Nếu các trình thuật mô tả niềm tự hào của một bộ tộc, một chi tộc, thì cũng dựa trên sự tin chắc Thiên Chúa dùng một con người để hành động, Thiên Chúa muốn phục hưng Dân Người. Thiên Chúa không ngừng can thiệp sau khi Dân vào Canaan. Điều mà Thiên Chúa đòi, đó là Dân phải trung thành : giữ Giao Uớc (2,17 ; 3,4), không chạy theo thần ngoại (2,11.13.19 ; 3,7 ; 6,7.10 ; 10,6.10.13) vì như thế sẽ là đĩ điếm (2,17 ; 8,27.33). Vì bất trung, Dân rơi vào tay kẻ thù. Một chân lí vĩnh hằng được khẳng định : không trung thành thì chẳng có giao ước với Thiên Chúa ; tội là chướng ngại vật. Truyện cho thấy sự mỏng manh của Israel, cũng cho thấy lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa. Người chỉ mong
22

thống hối là lại ban ơn. Bài học cho Israel là bài học cho mọi dân mọi thời. Truyện Gédéon, Jephté, Samson có ít bi quan : sau ơn gọi, sau chiến thắng là xuống dốc, tội lỗi. YỤ tưởng về các Thủ lĩnh cai trị cả Israel có sau khi thiết lập nền quân chủ. Thời kì họ được nhìn dưới ánh sáng của cái mới được đưa vào lịch sử Israel do lời hứa với Đavit. Sách nói đến giải phóng, đó là tiếp cận với ơn cứu độ.

CHƯƠNG III. CÁC SÁCH SAMUEL (Sm)
I. Nhan đề, bản văn, nội dung II. Phân tích văn học III. Hình thành cuốn sách IV. Cuốn sách và lịch sử V. Giá trị tôn giáo.

I. NHAN ĐỀ, BẢN VĂN, NỘI DUNG
Thoạt đầu, các sách Samuel chỉ là một công trình duy nhất. Khi dịch sang tiếng Hi lạp, nó được chép trên hai cuộn dài gần bằng nhau. Thế là từ đó, có hai cuốn, kể cả trong Kinh Thánh Hibri thế kỉ 15. Mặt khác, trong bản Hi lạp, chúng được kết liền với sách Các Vua, mà sách Các Vua cũng được chia thành hai cuộn. Bản Phổ thông La tinh giữ nguyên lối trình bày đó, bằng cách cuối cùng nhận cái nhan đề là Các Sách Các Vua : hai sách Samuel tiếng Hibri được đánh số là 1 và 2 Vua. Ngày nay, một số tác phẩm vẫn theo lối gọi đó. Tên sách phản ánh dư luận muộn màng cho
23

rằng phần lớn do Samuel biên tập. Những truyện sau cái chết của ông là do Gad và ngôn sứ Nathan. Ý kiến này dựa vào 1 Sbn 29,29-30 ("Các sự việc đời vua Đavit từ đầu chí cuối tất cả đã được chép trong Kí sự của Samuel thầy chiêm, Kí sự của Nathan tiên tri, Kí sự của Gad thầy chiêm"). Nhưng ý kiến đó được giải thích sai. Cho nên phải loại bỏ. Nhan đề cuốn sách không tương ứng với nội dung : Samuel chỉ đóng vai quan trọng ở 15 chương đầu. Mới đây, hang số 4 Qumrân cho nhiều mảnh tiếng Hibri của sách Samuel (có thể có từ thế kỉ 3 hay 2 tcn, vậy là đồng thời với bản Bảy Mươi). Theo những nhân vật chính, ta có thể chia sách thành một số bộ phận lớn : 1. Samuel (1 - 6) Lời khấn của bà mẹ, Samuel sinh ra, thiếu thời tại đền thánh Silo cho thấy Samuel là người được hiến dâng cho Thiên Chúa. Rồi thành người tâm phúc và người thông ngôn của Thiên Chúa bên cạnh tư tế Héli, để báo hình phạt các con ông (1-4,1). Họ bị giết tại trận chống Philitin, Khám Giáo Uớc bị cướp, Héli chết khi nghe tin con tử trận. Nhưng Khám gieo tai họa cho người cướp nó, nên được trả về (4,17,1). 2. Samuel và Saul (7-15) Là người giải phóng lãnh thổ, Samuel được mô tả như một Thủ lĩnh (7,2-17). Dân đòi một vua, ông từ chối (8). Nhưng một hoàn cảnh tình cờ làm ông gặp chàng thiếu niên Saul. Với lệnh trên, ông xức dầu cho tại Gilgal cách bí mật. Toàn dân họp tại Micpa, Saul đuợc tôn làm vua (10,1725). Sau một chiến thắng đối với người Ammon, Saul được phong vua tại Gilgal (11), Samuel nhắc dân phải phụng sự Javé (12). Chiến tranh chống Philitin và Amalec. Nhưng vì không tuân lệnh Thiên Chúa và ngôn sứ, Saul bị loại (1315). Lịch sử từ đây hướng về một nhân vật khác : Đavid. 3. David và Saul (1 Sm 16 - 2 Sm 1) David được Samuel phong vua cách bí mật (16,113), vào giúp việc cho Saul. Tình cờ ra trận địa, đang lúc
24

quân lính mất nhuệ khí trước lời thách thức của tên khổng lồ Goliad, David thắng, được Jonathan hoàng tử của Saul yêu và dân mến ; nhưng vua phát ghen, mưu tính hãm hại, phải chạy trốn. Bị Saul săn đuổi, David lang thang ở miền Nam. Thoát mọi cạm bẫy, tha chết cho Saul. Trở thành tướng cướp, thế lực gia tăng, cả Saul cũng chúc phúc cho (22-26). David trốn tại đất nước kẻ thù truyền kiếp là Philitin. Nhưng chàng làm cho họ có cảm tưởng là chàng phục vụ họ tận tình, lại cố làm cho người Juda có thiện cảm (27). May phúc, chàng được khỏi phải góp tay với Philitin trong cuộc chiến chống Israel, rồi một chiến dịch thắng lợi chống người Amalec giúp chàng kéo được nhiều bạn bè trong dân Juda, chuẩn bị giờ khắc chính họ đưa chàng lên ngôi vua (28-30). Trong thời gian này, Philitin đè bẹp Israel, Saul và Jonathan tử trận. David khóc thương thảm thiết (31- 2 Sm 1). 4. David vua (2 Sm 2- 30) Tại Hebron, người Juda phong David làm vua Juda, trong khi đó con của Saul là Isbaal được phong vua của Israel. Cuộc chiến giữa hai phe chóng trở thành không ngang sức. Abner là tướng bên Isbaal chạy sang bên David. Cuối cùng, các chi tộc tôn David làm vua. Những sự kiêèỳn đáng nhớ : chiếm Jẻrusalem, chiến tranh chống Philitin, dời Khám Giao Ước về kinh đô mới, lời sấm Nathan làm an tâm với việc kế vị, những chiến thắng, việc tổ chức trong nước... Đến đây khởi đầu một chuỗi liên tiếp những truyện kể những biến cố trong nội bộ hoàng gia. Những tội ác gây nên những khủng hoảng đe dọa vương quyền. Qua những bi kịch giữa các con với vua cha, vấn đề kế vị được đặt ra. Meribbaal người cuối cùng sống sót của nhà Saul được tiếp đón tại triều đình (9). Việc Salomon sinh ra gắn với mối tình tội phạm của vua cha với bà vợ một sĩ quan và với lịch sử một trận đánh chống người Ammon, tạo cơ hội cho nhà vua thanh toán người chồng gây cản trở (10-12). Nhưng người con cả là Amnon được nhà vua yêu, mà vì y hãm hiếp Tamar là em cùng cha khác mẹ, y bị Absalom cùng mẹ với
25

Tamar thù ghét, cho người giết đi trong một bữa tiệc (13). Sau 3 năm đi đày, tên tội phạm được trở lại Jẻsusalem. Hai năm sau, y lại được vào triều (14). Tham vọng và hung bạo, y lợi dụng những bất mãn của dân, tổ chức vụ nổi loạn, buộc Đavid phải bỏ chạy tháo lấy thân. Absalom chiếm hậu cung và cử hành lễ kế ngôi (15-16). May nhờ có tình báo ở trong thành, vua chạy sang bên kia sông Jordan, từ đó tổ chức cuộc phản công đánh bại Absalom. Joab giết y, dù David đã lệnh không được giết y. Joab can thiệp cách nghiêm khắc, vua mới thôi khóc lóc thảm thiết (17-19,9a). Vua trở về thủ đô. Các chi tộc phía Bắc ghen với chi tội Juda, bị Shesba lôi cuốn vào một vụ dấy loạn, nhưng sớm bị đè bẹp (19,9b-20). 5. Phần Phụ lục (21-24) Cuối sách là 6 mảng khác nhau. Hai mảng tường thuật tương tự nhau, ban đầu phải là hai bài kể kế tiếp nhau. Một trình thuật kể việc tàn sát những hậu duệ của Saul. nhân một vụ đói 2 năm, bị gán cho là tại Saul bất trung với hòa ước Gabaon (21,1-14). Một trình thuật về việc dựng một bàn thờ trên chỗ Đêận Thờ tương lai, sau một trận dịch 3 ngày do bởi David tổ chức cuộc điều tra dân số lấn quyền Thiên Chúa (24). Hai bản danh sách liệt kê một chuỗi những chiến công chống Philitin (21,15-22) và của những dũng sĩ của vua. Xen giữa là một bài thơ được cho là của David : một thánh vịnh tạ ơn (22-Tv 18) và một lời sấm cho David là ngôn sứ của triều đại (23,1-7).

II. PHÂN TÍCH VĂN HỌC
Tính đa tạp của các truyền thống làm cuốn sách hấp dẫn, nhưng lại làm cho việc phân tích ra khó : nhất quán là nói về cuốn sách, nhưng tư liệu gồm nhiều loại và việc biên tập phức tạp. Theo 1 Sm 7,13, "người Philitin đã không hề trở lại đất Israel trong khi Samuel còn sống", vậy mà họ đã vào cư ngụ ngay giữa lòng xú sở (9-6 và 13-14). Theo 1 Sm 15,35, "Samuel đã không gặp lại Saul cho đến khi vua
26

chết". Vậy mà họ lại gặp lại nhau ở 19,22-34. Chuyển mạch lắm chỗ đột ngột. Có những sự kiện dường như lặp lại với những dị biệt quan trọng : việc Saul lên ngôi, việc giới thiệu David với Saul, việc David chạy trốn... Phải đến triều đại David (2 Sm 2) các truyền thống mới nhất quán, tuy vẫn còn những mảng khác nhau. 1. Samuel, Saul và do lai vương quyền (1 Sm 125) Nhũng mối liên hệ trong những trình thuầt về thời niên thiếu Samuel (1-4vt) và truyện Khám nằm trong tay người Philitin (4,16-7,1) làm ta khó phân biệt. Sự quan tâm đến Khám, đến Đền thánh Silo và chức tư tế Héli cũng như các con ông, được kể tiếp ở 1-4. Nhưng ở 4-7,1 không thấy bóng Samuel. Truyện Khám sẽ kể tiếp ở 2 Sm 6 với văn phong có nhữn dị biệt, do các giới tư tế Jérusalem. Việc giải thích sự suy sụp của nhà Héli do lỗi các con ông, phải là mới. Việc một người vô danh của Thiên Chúa mang lời cảnh cáo đến cho Héli (2,27-36) cho thấy đây là một tầng truyền thống mới hơn và rõ ràng lưu tâm dến việc chuyển giao chức vụ tư tế từ tay Abiathan hậu duệ Héli sang tay Sadoq và dòng dõi ông tại đền thờ Jérusalem. Truyện thắng Philitin được cho là nhờ lời Sanuel cầu bàu, nhưng không phù hợp với phần kế tiếp của cuốn sách (7,13-14 bị 9,16 ; 10,5 ; 13-14 phản bác) chứng tỏ tầm quan trọng của Samuel trong truyền thống. Trình thuật khởi đầu vương quyền (8-12) một thời được cho là do hai chuỗi truyện hòa trộn nhau. Từ Viên Hậu Sơn về sau, người ta tách rời một trình thuật phù hợp với việc thiết lập vương quyền (9,10,16+11) cho là gần với Giavit của Ngũ Kinh và một trình thuật "chống quân chủ" (8+10,17-25+12) biên soạn theo Đnl hay Elohit. Những điểm đặc thù của chương 11 làm một số người nghĩ là có ba nguồn. Truyện Saul đi tìm chiên, gặp nhà minh kiến trong một thành vô danh, có cái hay và những đặc tính của truyện dân gian (9,16 ; 10,1) : thủ lĩnh quân đội Javé trong thánh
27

chiến : việc Samuel xưcỤ dầu cho Saul chỉ có ý nói Thiên Chúa chọn một người giải phóng dân và ban Thần trí của Người cho. Theo 10,17-27, chính truớc mặt toàn dân tụ họp và trước sự hiện diện của Samuel, Saul đã trúng thăm làm vua và được tấn phong. Trình thuật hiện thời nhắc lại luật về nhà vua ở Đnl 17,14-20, thừa nhận đồng thời giới hạn quyền vua, phục hồi một truyền thống theo đó việc Thiên Chúa chọn vua bằng cách bắt thăm chứng tỏ vua không phải là độc chủ tuyệt đối và Javé vẫn cai trị dân. Trình thuật tấn phong vua Saul sau chiến thắng Ammon (11) xuất xứ từ Gilgal : việc xức dầu chứng tỏ Thần trí Thiên Chúa được ban để giải phóng dân theo lối các Thủ lĩnh, hai truyền thống có gốc khác nhau, nên không hòa trộn. Diễn từ của Samuel với "toàn thể Israel" ở chương 12 đánh dấu sự cáo chung một thời kì, thời kì Thủ lĩnh. Triều đại Saul (13-15) được gợi lại bằng hai trình thuật chiến dịch thắng lợi. Nhưng triều đại Saul thất bại : cả đầu cả cuối truyện, Samuel loan báo việc truất phế Saul, cả hai lần vì lỗi tôn giáo : Saul không vâng lời ngôn sứ dành quyền tế lễ trước khi ra trận (13,7b-15a). Vua vi phạm lệnh thần tru : tha chết cho vua Amalec vaự những chiên cừu tốt (15). Hai bài thuật hình như không biết nhau. Bài l được cố ý đưa vào đầu chiến dịch chống Philitin ở đó Saul không tỏ ra là một người đã bị truất phế và việc vua ẩn tại Gilgal (13,4b7b) không phù hợp với thực tế và địa hình địa lí. Saul vẫn tỏ ra là một vua đạo đức, vua hỏi ý Javé, vua thành công trong công việc, vua ra lệnh giữ chay để cầu mau chiến thắng trọn vẹn, vua lo giữ những lễ tục để bảo toàn quân đội. Truyện Saul kết thúc với việc vua nói chuyện với Samuel đã chết (28). Và lời tiên tri sẽ thực hiện trong trận Gelboé ở đó Saul và 3 con trai tử trận (31). 2. Đavit lên ngôi và thành công (1 Sm 16 - 2 Sm 8) 1 Sm 16,1-1 là nhập đề cho lịch sử Đavit, kể việc Samuel bí mật xức dầu. Việc phong vương chính thức mãi lâu sau mới thực hiện (2 Sm 2,4 ; 5,3). Mặt khác, anh là
28

Éliab mà cũng không biết gì việc đó (17,28). Cho nên, đây là một suy tư muộn, xen vào các trình thuật sẵn có nhằm nhấn mạnh : vương quyền Đavit. Đường đi lên của Đavit khởi đầu với việc ông vào triều Saul, được kể lại 2 cách khác nhau. Theo 16,14-23, Đavit vào phục vụ vua với tư cách là một nhạc công có tài và một dũng sĩ đánh giặc. Theo 17-18,5 thì ông vào vì tình cờ, và các anh của Đavit vốn đã phục vụ ở đó. Trình thuật trận thắng Goliat cũng có nhiều bản một bản viết rằng Saul và Đavit trao đổi trước khi vào đấu (17,31,39) ; một bản khác cho thấy Saul chưa biết tên Đavit khi thấy cậu chạy tới giáp mặt tên Goliat (17,55.58). Bản Bảy Mươi chỉ mô tả dâv là một người hát rong và giữ ngựa cho nhà vua (17,12-31 và 17,55-18,5). Lòng ghen của Saul khi thấy bị đe dọa bởi những thành công của Đavit, gây nên một chuỗi tình tiết với những hậu quả lặp đi lặp lại do những truyền thống khác nhau : mưu sát, thành công và được quần chúng hâm mộ. Được hứa gả công chúa cho. Người dịch ra tiếng Hy Lạp xem ra đã cảm thấy được điều đó, đừng kể lúc đó ông có trong tay một bản văn khác :ông đã bỏ đi 18,10-11,17-19 và 30 vì lặp. Tiếp đó còn nhiều chỗ lặp nữa : hai lần Yonathan can thiệp cứu Đavit : 19,1-7 ; 20,1b-10,18-39. Hai lần Đavit lưu lạc, bị kẻ mình che chở phản nộp (23,1-13 và 19-28). Hai lần Đavit tha chết cho Saul khi vua rơi vào tay ông (24 và 26). Lặp nhiều quá, khiến người ta nghĩ rằng có hai chuỗi trình thuật khác nhau được hòa trộn lại. Đường thăng tiến của Đavit dẫn đến hai lần phong vương, làm vua Giuđa, rồi làm vua Israel, nhưng trình thuật thì nhất quán đẹp đẽ (2-5,4). Chiếm Giêrusalem 5,6-13, chiến thắng Philitin (5,17-25) hoàn tất sự thành công của Đavit, được đánh dấu bởi việc dời khám về thủ đô và lời tiên tri của Nathan (6-7). Trình thuật c.6 gắn với 1 S 4-6, nêu bật lòng đạo đức của Đavit, cho thấy đằng sau những nguyên nhân loài người đưa đến thành công, là sự lựa chọn của Thiên Chúa. Lời sấm của Nathan phát biểu một lời hứa quan trọng của
29

Thiên Chúa. Bản văn hiện nay bắt nguồn từ tư liệu gần với biến cố. Lời hứa ban đầu bảo đảm ngôi vua Israel nơi hậu duệ Đavit. "Nhà" được hiểu cả hai nghĩa : Đavit không xây nhà (Đền thờ) cho Javé, nhưng Javé sẽ xây cho Đavit một nhà (hậu duệ) (7,5-7.11b.16). Lời sấm này chứa mầm của cả niềm hy vọng cứu độ. Trong khi được lưu truyền, lời sấm được áp dụng cho người kế vị Đavit. 3. Việc kế vị (2 S 9-20) 1 V 1-2 tiếp tục trình thuật đó, kể những tình tiết cuối cùng sắp xếp cho việc kế vị : phe Salomon thắng, nhờ khai thác sự vội vàng của Adonias. Giới phê bình nói chung nhận là trang sử này là công trình của một nhân vật rất sành, viết truyện ngay sau khi sự việc xảy ra. Về văn học, đây là một kiệt tác về tựỳ sự. Tác giả cho diễu qua trước mắt ta một loạt bức tranh được quan sát tinh tế và tả lại với mộýt sự thực hấp dẫn. Các sự kiện móc nối với nhau một cách tự nhiên. Nhân vật có nhiều, tương phản nhau, có bề thế. Người kể có một nghệ thuật kể tỉ mỉ làm nổi bật một tâm trạng, không cần bình luận. Truyện Đavit sau khi con chết (12,20), Absalom tham vọng, dụ dỗ (15,1-2). Gioab là sự pha trộn kì lạ giữa lòng tận tụy với Đavit, với vẻ lạnh lùng không chút thương xót, quảng đại và gắn bó với nhiệm sở. Chân dung Đavit đạt hơn cả. Tốt bụng, nhưng không tính toán, nhục dục, nhưng biết hối cải, sẵn sàng thanh toán một con người, nhưng cũng sẵn sàng tha thứ ; một người cha yêu con, nhưng yếu đuối : một con người. Thêm vào đó, một tình cảm tôn giáo mẫu mực : nhận ra Thiên Chúa trong các biến cố đời mình, biết chấp nhận thất bại, đi trước tư duy thời đại : Khám Giao Ước sẽ chả giúp gì cho vua, nếu Chúa không dủ thương vua (15,25). Tác giả quan tâm tới các cá nhân. Dưới ngòi bút của ông, các biến cố được giải thích bằng các tính tình con người. Ông không phê phán ai : chỉ các hành vi đã đủ. Ông không hề lên lớp : bài học vọt lên từ sự gắn bó của các sự kiện : truyện tội phạm và những hệ quả tai hại của nó, tự nó nói lên. Ông không cần đến cái
30

lạ kỳ, để nêu bật ý quan phòng. Thiên Chúa ở khắp nơi đối với ai biết nhìn. Tác giả là ai ? Chỉ biết ông viết khi Salomon còn sống.

III. HÌNH THÀNH CUỐN SÁCH
Việc biên tập gồm nhiều giai đoạn. Một số trong giới phê bình căn cứ những chỗ trùng lặp, chia ra hai loạt bài kể liên tục và hệ thống đã thừa nhận đối với Ngũ Kinh giúp người ta nhìn nhận lúc đầu có hai tư liệu nối tiếp truyền thống Giavit và truyền thống Êlohit. Nhưng càng tiến lên trong lịch sử Đavit thì những dị biệt càng giảm. Từ khi Saul chết, dần dà hầu như chỉ còn truyền thống Giavit. Giá trị lịch sử của nó là số một, vì dựa trên kí ức của một chứng nhân trực tiếp, được viết lại y nguyên, từ 2 Sm 9. Nhưng những nhà chú giải khác còn nhận hai trào lưu tự sự cơ bản, nhưng không cho là chúng tiếp tục J và E. Một số khác lại có cho là có thể có hai trào lưu song song. Phái khác nữa : ngay từ đầu đã có những tập văn học. Rost chủ trì : hai nguồn được dùng kế tiếp : một là lịch sử việc kế vị Đavit, một là lịch sử những bách hại và chiến thắng của Đavit. Weiser : nhiều sưu tập truyền thống, đặc thù, một sử gia tập họp chúng lại sắp xếp theo niên đại. Một môn đồ của các ngôn sứ bổ sung, rồi một người khác hiệu đính, sau cùng, một ít điều được thêm vào. Tóm lại, giới phê bình nhận ít ra có hai lần biên tập về những tranh chấp giữa Đavit và Saul, nhưng không phải để gắn chúng với những truyền thống khác nhau về Samuel, hay để đặt một trong hai nối tiếp với lịch sử hoàng gia Đavit. Nói chung, người ta nhận trước khi có việc hiệu đính Đệ Nhị luật thì đã là một cuốn sách.

IV. CUỐN SÁCH VÀ LỊCH SỬ
31

Muốn định gía trị lịch sử cuốn sách, phải xét thể loại văn học và tuổi các truyền thống. Càng xưa, càng gần sự kiện, càng có giá trị. Các nguồn đó đôi lúc không những cho ta biết về các biến cố, mà cả về ấn tượng chúng để lại trong ký ức quần chúng và suy tư tôn giáo mà chúng gợi lên. Lịch sử phàm tục không thể thêm gì lắm vào những dữ kiện của cuốn sách. Ai Cập và Assyri lúc này còn ngủ. Sự kiện đó giúp Đavit thành công, nhưng lại làm ta thiếu đi những yếu tố vềỳ đồng đại (synchrorisme) cho phép thiết lập một niên đại chính xác. Chỉ có thể có những niên đại phỏng chừng : khoảng 1030 : Saul lên ngôi ; giữa 1010 970 : vương triều Đavit. Khảo cổ học giúp một ít. Nó nêu bật nền văn minh Philitin, sự gắn bó của họ với Urète, Chypre, việc họ nhập cư ở đồng bằng giữa Gaza và Eqron thế kỷ XII. Những cuộc khai quật Tell el - Foul, 6 Km về phía Bắc Giêrusalem, đã đưa ra ánh sáng những tàn tích của chiến lũy Israel xưa nhất, có thể là của Saul. Vài bức thành phòng ngự lên tận thời Đavit chống Philitin. Chính cuốn sách là nguồn sử liệu tốt nhất. Lịch sử việc kế vị Đavit là hàng đầu. Những trình thuật khi hào hùng, khi bi thảm hoặc hài hước làm nổi bật rất sớm việc vua được lòng dân. Nhân vật Samuel thì khó mà xác định. Vì nhiều trình thuật khác nhau về ông, người ta nhận ra dấu ấn của ông trong kí ức của dân gian. Người ta thích đặt đối lập các chân dung của ông : Nazir, thủ lĩnh có uy tín, thẩm phán, với chân dung ông được cho là chân thực vì ít có xu nịnh, với tư cách là "người được thiên nhãn" (le voyant) ít được biết tiếng ở một làng nhỏ (1 S 9). Ngày nay, có khuynh hướng gắn ông với dòng Thủ Lĩnh. Hồi này, vì thiếu nhất quán về chính sách, nên là cơ hội cho mối đe dọa Philitin nghiêm trọng hơn. Truyện Khám là một chứng có giá trị : họ tiến sâu vào miền núi Benjamin và Ephraim. Bia ở Gibéa (10,6) cho thấy họý chiếm cứ miền đất Israel vốn đã cư ngụ vững vàng. Mối nguy làm bừng tỉnh tinh thần quốc gia : các chi tộc liên kết
32

lại dưới một quyền chỉ huy duy nhất. Đó là gốc của nền quân chủ. Tuy nhiên, vẫn luôn luôn có khuynh hướng chống đối nền quân chủ. Về vương quyền Saul, ý kiến đánh giá khác nhau. Trận thắng người Ammon giới thiệu một nhà giải phóng mới kiểu các Thủ Lĩnh. Việc tôn vua nhân cuộc họp ở Gilgal (11,15) có thể thuộc một bối cảnh lịch sử khác. Việc chỉ định và tung hô bởi đại hội các chi tộc (10,17-24) dường như đánh dấu tuyệt đỉnh sự thăng tiến của Saul và biểu thị một trật cả sáng kiến của Thiên Chúa cả ý thức quốc gia đang manh nha. Vương quyền xuất phát do sự liên minh các chi tộc. Một giao ước giữa dân với nhà vua được nhận làợ thủ lĩnh duy nhất và thẩm phán tối cao. Chưa có cơ cấu trung ương và thủ đô chính danh. Vua lúc đầu là một dũng tướng, chung quanh có các dũng sĩ (1 Sm 14, 52). Cái căn bản quốc gia đó và sự kiện có một quân đội thường trực là những nhân tố đặc trưng cho một chế độ chính trị mới. Chưa có vấn đề cha truyền con nối. Vẻ thiêng thánh của vương quyền Saul, hiển hiện nơi vai trò của Samuel hồi đầu, rồi qua cuộc tranh chấp làm vị ngôn sứ và nhà vua đối lập nhau. Saul đã được xức dầu. Việc xức dầu làm vua thành một nhân vật thiêng thánh, nhưng là một tôi tớ của Thiên Chúa quốc gia, Người có thể truất phế vua : vua phải vâng theo một lệnh mà vị ngôn sứ là người thông ngôn. Saul sùng đạo một cách chân thành (1 S 14 ; 31 vtt ; 37 vtt), nhưng vua lại đi tìm thỏa hiệp giữa lợi ích chính trị với bổn phận nhà vua phải tôn trọng luật tôn giáo khi dùng quyền. Do đó mà xảy ra những bi kịch cuộc đời và thất bại. Saul cũng ý thức điều đó nên đâm bi quan, mất tự tín và ra điên khùng. Vua hướng hận thù tới cậu thiếu niên Đavit mà vua nhận làm người cận thân, làm phò mã. Trận Gelboé, quãng 1010, Phlitin thắng. Ishabal con của Saul lên ngôi không chút vinh quang ở bên kia Giodan, trong khi đó, tại Hébron, Đavit trở thành vua Giuđa. Bảy năm rưỡi sau, thanh thế Đavit rõ ràng. Quốc gia thống nhất. Đavit là vua của Giuđa và cả Israel. Nhưng
33

sự thống nhất vẫn chưa trọn vẹn. "Nhà vua cai trị 33 năm trên toàn cõi Israel và Giuđa" (2 S 5,5). Những hành vi chính trị lớn của triều đại ít được cuốn sách quan tâm. Công tác thứ nhất là chiến thắng Philitin, đẩy họ về đất họ, sau này không hề dám có mộng xâm lăng. Chiếm Giêrusalem là nhổ cái chốt ngăn giữa Giuđa và Israel ; hòa ước với người Gabaon (21) nhằm thống nhất nội bộ. Những cuộc chiến tranh bên ngoài : chinh phục Ammon, Aram, Moab, Edom.

V. GIÁ TRỊ TÔN GIÁO
Giá trị tôn giáo cuốn sách hiển hiện ở những mức độ khác nhau. Từ những tư liệu lịch sử, toát lên một tình hình luân lý và tôn giáo của Israel vào đầu thời vương quốc : những tục lệ sơ khai của một tôn giáo còn cổ lổ, như thói nguyền rủa, việc xem bói, cầu đồng ; ý tưởng thô sơ về sự tội, nhiều khi lẫn lộn với việc vô tình lỗi điều cấm ; khái niệm sơ lược về sự chế tài của Thiên Chúa, có thể tự động bùng nổ đánh xuống cả một nhóm... Có những nhân vật có ý thức tôn giáo ngoại lệ, như Đavit (hào hiệp cả với kẻ thù, ý thức về sự tội và thống hối, sự vâng phục Thiên Chúa). Thời này, cũng bắt đầu có những qui chế hay sự kiện tôn giáo sẽ có một ảnh hưởng lớn trên tôn giáo Kinh Thánh : tác vụ ngôn sứ, chức tư tế Giêrusalem, vương quyền. Trong chủ ý của những người kể, nguồn gốc vương quyền chiếm vị trí hàng đầu và các truyền thống, các ký ức lịch sử được sắp xếp bên trong một cái nhìn tôn giáo. Nhà vua là một nhân vật thánh thiêng, được Thiên Chúa chọn và là công cụ thực hiện ý định của Người nơi dân. Nhưng quyền vua không thể vượt ngoài đòi hỏi của Thiên Chúa, Thiên Chúa là Vua duy nhất của Israel ! Mà vị ngôn sứ là người đại diện Thiên Chúa. Vị ngôn sứ ở đây là Samuel, người tâm phúc của Thiên Chúa và người không mệt mỏi thi hành ý muốn Người, dù là trong tuổi thiếu niên ngây thơ và yên hàn, dù là trong vai người minh kiến
34

(voyant : thiên nhãn), hay trong những lần can thiệp gan góc ngay giữa trận tuyến với Saul. Như Môsê, ông trở thành người cầu bầu được Thiên Chúa nghe lời. Suốt trong dòng lịch sử thánh, niềm tin vẫn luôn luôn có giá trị hơn mọi nghĩa vụ khác (Abraham tin... Saul không tin...). Truyện Saul được coi là tương phản với truyện Đavit. Sách Sử Biên Niên chỉ còn giữ lại kí ức về cái chêtỵ của vua (1 Sbn 10) và tên tuổi vua không được nhắc đến trong Tv 78 và Giảng Viên 46,13 vtt. Đavit nên bật lí tưởng người làm vua theo lệnh Thiên Chúa : ký ức về ông là một ông vua hoàn toàn tận tụy với Thiên Chúa và vâng nghe các ngôn sứ, dù là khi họ khiển trách vua. Nơi vua, thực hiện một lần nữa Giao Ước, dưới hình thái một vương quốc của Thiên Chúa tên trần gian. Giữa cuốn sách, lời sấm của Nathan mở ra một viễn cảnh tương lai về chế độ mới : Javé liên minh dứt khoát với triều đại Đavit, mà con cháu được Người nhận làm con nhằm thi hành quyền vua của Người trên dân. Như vậy là lịch sử Đavit có được một giá trị tiên tri. Ngay giữa những giờ đau thương, các ngôn sứ phác vẽ ngay trên các tai họa, hình ảnh lý tưởng về một hậu duệ của Đavit (Is 9,1-6 ; 11,1-9 ; 16,5 ; Gr 23,5-6), một Đavit mới (Gr 30,9 ; Ed 34,23-24 ; 37,24-25), Đấng được xức dầu của Chúa, Đấng Messia. Khi Lưu Đày về, có một thời, người ta dự đoán rằng việc tái thiết Đền thờ sẽ kết thúc bằng việc phục hưng nhà Đavit và những hy vọng cứu độ trôi nổi chung quanh Zorobabel (Dcr 6,12-13). Thất bại, nhưng người ta vẫn không ngừng suy tư về những lời đã hứa với Đavit (Tv 89 ; 132 ; Is 55,3-4 ; Gr 33,14-26 ; Dcr 9,9-10 ; 12,7 ; 13,1). Sách Sử Biên Niên đặt Đavit ngay giữa quan điểm của mình : đó sẽ là ông vua lý tưởng của chế độ thần quyền theo quan niệm tư tế, người ca tụng và tái tổ chứỤc việc phụng tự. Sách Giảng Viên khi ca tụng Samuel và Đavit, cũng kết thúc bằng một ghi chú về niềm hi vọng (47,11).
35

Phải đợi Chúa Kitô đến, thì những giá trị sâu sắc của những lời hứa với Đavit mới rõ ràng hoàn toàn. Chúa Kitô loan báo Nước Thiên Chúa và chính Người khai trương nó cách nhiệm mầu. Người dè dặt không xưng mình là con cháu Đavit, nhưng lại để người ta tung hô mình là "Con vua Đavit" (Mc 10,47-48 ; Mt 15,22 ; 21,9.15). Qua việc sống lại và việc được tôn vinh bên cạnh Thiên Chúa, Người tỏ rõ đặc tính cứu thế của mình. Từ đây, các môn đệ sẽ không còn ngần ngại nữa khi chào Người là Đấng Messia, và nhấn mạnh dòng dõi Đavit của Người (Mt 1,1 ; Lc 2,4) và lới hứa với Đavit đã thực hiện nơi Người (Cv 2,30 ; Dt 1,5). Cuối cùng, chính vì ý nghĩa của nó trong lịch sử cứu độ mà truyện Đavit được giữ lại trong Kinh Thánh. Đavit được nhớ đến vì ông được hướng tới việc thực hiện Nước Thiên Chúa, nơi Đức Giêsu Kitô.

CHƯƠNG IV. CÁC SÁCH CÁC VUA (V)
I- Nội dung sách II- Tính nhất quán văn học và giáo lý của cuốn sách. III- Những nguồn và những tư liệu được dùng. IV- Hình thành cuốn sách. V- Cuốn sách và lịch sử. VI- Giá trị tôn giáo.

I. NỘI DUNG SÁCH
Các Sách Các Vua kể lịch sử các vua Giuđa và Israel, từ Đavit băng hà cho đến cuộc lưu đày Babylon. Việc chia làm hai sách là dụng ý người làm sách : từ Bản Bảy Mươi, V và S được chia làm bốn cuộn gọi là các sách các vương triều. Bản phổ thông Latinh lưu truyền tới chúng ta lối phân chia đó, dưới cái nhan đề các sách các vua. Cho
36

nên 1và 2V bản Hipri tương ứng với 3 và 4V của bản Hylạp và Latinh. Chính tác phẩm được chia làm ba phần : 1. Lịch sử Salomon ( 1 V 1-11) Những thủ đoạn giúp Salomon lên kế vị Đavit (12). Ba cái vinh quang làm nổi bật triều dại của vua (2-10) : 1- Sự khôn ngoan Thiên Chúa ban, theo lời vua xin, tỏ rõ nơi việc xử vụ hai người đàn bà tranh nhau đứa con sống, việc tổ chức vương quốc, những châm ngôn nhiều loại và có giá trị, cũng như những dụ ngôn của vua (3-5,14). 2- Sự giàu có nổi rõ qua những công trình xây cất, nhất là Đền thờ (5,15-9,25). 3- Sự sang trọng của vua thu hút sụ khâm phục của nữ hoang Saba ; có được như thế, nhờ buôn bán với nước ngoài (9,26-10). Nhưng đây là những bóng tối của triều đại : những kẻ thù bên ngoài và cuộc nổi loạn của Jéroboam, là hình phạt việc vua chiều theo các vợ mà liên hệ vớiỤ các thần ngoại (11). 2. Hai vương quốc (1V 12 - 2V 17) Salomon băng hà, mười chi tộc phía Bắc tổ chức thành vương quốc riêng với Jéroboam, còn con của Salomon là Roboam chỉ giữ lại được Giuđa. Li khai chính trị, kéo theo li khai tôn giáo, bị các ngôn sứ lên án (1214,20). Sự tồn tại hai vương quốc song song được gợi lên do một loạt những sự tích dành riêng cho mỗi vua và được sắp xếp theo thứ tự thời gian. Chương 17, nói nhiều đến Elie và những trận chiến chống Aram của vua Achab. Từ 2V 2, Elisée nổi lên hàng đầu ,với những việc lạ lùng ông làm với những lần ông can thiệp vào các biến cố, vai trò ông lúc khởi đầu vụỳ phiến loạn Jéhu, kéo theo cuộc chính biến của Athalie, sự thất bại của bà và việc Joas lên ngôi (11-12). Trước cái chết của Elisée, là truyện Joachas và Joas (13). Đến đây, toát lược nhanh về các triều đại Giuđa và Israel (14-16), cho đến khi Samarie bị người Assyrie chiếm. Sự kiện này dẫn tới một vài suy niệm về những bất trung về luân lý và tôn giáo mà nó là hình phạt (17). 3. Vương quốc Juđa cho đến lưu đày (18-25)
37

Truyện dừng lại lâu ở triều đại Ézéchia, vì lòng trung thành tôn giáo của vua và những liên hệ của vua với ngôn sứ Isaie (18-20). Đối lậỳp lại với sự bất tín ngày càng tăng dưới thời Manassé và Amon (21), là cuộc cải cách Josias thực hiện dựa trên sách luật tìm được trong Đền thờ (22-23,30). Nhưng giờ sụp đổ của vương quốc đã điểm : những tai ương của Joachaz và Joiaqim,việc Nabuchodonosor chiếm Jérusalem và đợt đi đày thứ nhất thời Joiaqim, vụ nổi loạn của Sédécias, việc cướp phá đô thành và đợt di đày thứ hai (23, 31-25,21). Viên tổng trấn do người Babylon đặt lên tại Juda bị án sát (25,22-26). Tiếp đó là một ghi chú vắn đem ta tới nhiều năm về sau, để nhắc đến sự đặc xá Joiaqim, tù nhân tại Babylon (25,27-30).

II. TÍNH NHẤT QUÁN VỀ VĂN HỌC VÀ GIÁO LÝ CỦA CUỐN SÁCH
Chỉ cần rảo qua cuốn sách là thấy được nét nổi bật đặc thù của nó. Trên cái nền những tiểu sử tóm tắt độc điệu của các Vua, nổi lên những trình thuật dài dòng hơn, lí thú hơn, như lịch sử Salomon, Elie, Elisée. Tuy tính cách văn học đa tạp làm cho cuốn sách có phong đô của một sưu tập. Nhưng một kết cấu chặt chẽ áp đặt cho toàn bộ do những công thức giống nhau được lặp lại và những chủ đề giáo lí rất xác định trong bài dẫn nhập cũng như trong phần kết thúc mỗi triều đại, cũng như qua những suy niệm gợi lên bởi các biến cố. Kết cấu đó cho thấy cuốn sách có tính nhất quán chặt chẽ. Các tiểu sử các vua được đúc trong một khuôn như nhau, nhất là từ Roboam mà đi. Nhân vật được giới thiệu thế này : "Roboam con của Salomon trở thành Vua Juđa, ông được 41 tuổi khi lên ngôi và trị vì tại Jérusalem 17 năm...tên mẹ vua là Naama, người Ammon.Vua làm điều xấu trước mặt Javé" (14,21-22). Và đây là kết luận : "kỳ dư các việc của Roboam, tất cả những điều ông làm, há lại đã không chép trong sách kí sự của các vua Juđa sao ?...
38

Roboam đã nằm xuống với tổ tiên và được tống táng với cha ông trong thành Đavit. Abiyam, con ông, đã lên làm vua kế vị ông" (1V 14,29-31). Những công thức đó được lặp lại cho mỗi vua, dường như có mẫu cất sẵn. Phần kết thường nói đến cuốn sách phải tra cứu để biết rõ chi tiết hơn về cái chết việc tống táng...Nếu vua sau không phải con của vua quá cố, thì không nêu tên. Mặt khác, lời dẫn nhập không những nêu tên vị vua, nhiều khi cả tên vua cha, thời gian trị nước và một phán đoán về hạnh kiểm vua, mà còn nói đồng thời vua nào cai trị ở nước láng giềng. Cũng có một vài ngoại trừ, do những điều kiện đặc thù về việc lên ngôi và cái chết của một vua : Joram và Ochozias, bị Jéhu ám sát, hay là những vua bị kẻ thù truất phế. (Như Osée của Israel, Joachaz, Joiaqim, Sdécias). Chỉ có Jéhu tự giới thiệu đủ để khỏi dẫn nhập như thường lệ ; và truyện Athalie cũng chả cần dẫn nhập hay kết luận (2 V 11). Chủ ý của tác phẩm biểu lộ rõ hơn nơi những phán đoán về mỗi Vua. "Ông làm điều xấu trước mặt Javé" câu kết án chung đó luôn luôn được minh định bởi lời khiển trách là gắn bó với tội của Jéroboam, tức là tội thờ Javé dưới hình con bò ở những thánh đền Béthel và Dan. Lại thêm tội Achab, là tội thờ Baal vì chịu ảnh hưởng của Jézabel (1 V 16, 31-32 ; 22, 53-54). Đó là về các Vua phía Bắc. Về các vua Giêrusalem, cũng có những vua "làm điều xấu trước mặt Javé" : đây là việc thờ ở những cao đàn, hay những thánh đền tỉnh lẻ, được kể như bắt chước dân ngoại (1 V 14, 23) hay là theo thói tôn giáo của nhà Achab (2 V 8,18 ; 8,27) hay là thờ những thần ngoại (2 V 21,2 vtt, 2223). Về nhiều vua, sách nói : "Ông làm điều ngay thẳng trước mặt Javé", nhưng thêm : "Có điều là các cao đàn vẫn không mất, dân vẫn tiếp tục dâng lễ vật và hương ở những cao đàn" (1 V 15, 11-14 ; 22,43-44 ; 2V 12,3-4 ; 14, 3-4 ; 15,3-4.34-35). Chỉ có hai vua Ézéchias và Josias đáng được lời ca tụng tốt nhất : "Ông làm điều ngay thẳng trước mặt Javé, và trong mọi sự, ông bắt chước cách ăn ở của Đavit tổ tiên ông". Như thế mọi lời phàn nàn đều qui về việc thờ các
39

thần ngoại, việc thờ Javé dưới dạng đáng ngờ thông dụng tại Béthel và Dan, hoặc chỉ nguyên việc thờ trên các cao đàn, tức là những đền thánh Javit khác với Đền thờ Giêrusalem. Rõ ràng là các vua được định giá căn cứ qui tắc của Đnl : "Một Thiên Chúa duy nhất, một Đền thờ duy nhất. Chính Đnl ban hành luật một Đền thờ duy nhất, truyền phá hủy mọi nơi thờ phượng khác, thiết lập độc quyền về Đền thờ và chức tư tế Giêrusalem" (12). Việc tập trung phượng tự tại Giêrusalem chưa thực hiện trước thời Josias. Salomon có lẽ để được biện minh, là vì hồi đó chưa có Đền thờ. Nhưng tất cả các vua khác, cả những vua tốt nhất, đều có vết nhơ. Khi đọc sách tìm được trong Đền thờ, Josias kêu lên : "Cơn giận Javé đã nổi lên đối với chúng ta thật là lớn lao, bởi vì cha ông chúng ta đã không vâng nghe những lời của sách này mà làm mọi điều phải làm" (2 V 22,13). Đnl còn vạch ra rằng Samarie bị phá hủy, thì không chỉ vì tội Jéroboam ngăn dân đến Đền thờ Giêrusalem, mà còn vì tội đem những thần ngoại kết hợp với Javé và dựng những Đền thờ khắp nước. Salomon bị phạt cũng vì đó. Sách Các Vua lấy việc đánh giá các vua dưới ánh sáng Đnl làm điều chính yếu, đến nỗi phớt đi hầu như tất thảy những điều ở sử đời nói đến. Những triều đại quan trọng như triều đại Omri và Jéroboam, cũng chỉ giản lược. Đâu có lợi ích tôn giáo, mới kể dài dòng : lịch sử Salomon, người xây Đền thờ ; chuyện chia hai vương quốc từ đó các chi tộc phía Bắc lìa khỏi Đền thờ ; chuyện Elie và Elisée là chuyện đấu tranh chống tội Achab và việc thờ Baal ; việc chấm dứt thói thờ phượng đó ở Giuđa bằng cái chết của Athalie, việc bảo trì Đền thờ bởi Josias, những đổi mới đưa vào Đền thờ bởi Achaz ; những biện pháp của Ezéchias chống các cao đàn và quan hệ vua với ngôn sứ Isaie ; việc khám phá luật và cuộc cải cách do Josias. Cuốn sách luôn bắt ta chú ý tới Đền thờ và những ngôn sứ đấu tranh chống lại ngoại giáo thuyết. Đnl vốn đã có đối tượng đó. Tuy nhiên, ảnh hưởng Đnl không đủ cho ta thấy tính nhất quán giáo lý. Vai trò nhà vua không giống vai trò
40

trong Đnl. Nhà vua chịu trách nhiệm về sinh hoạt phượng tự của Israel. Vua phải trông coi việc giữ luật Môisê. Và tội nhà vua phải phạt bằng sự sụp đổ của hai vương quốc và dân bị lưu đày. Hơn là một lịch sử, cuốn sách là một lời giải thích lịch sử dưới ánh sáng giáo huấn Đnl. Ý đồ cuốn sacỤh là chứng tỏ rằng, trong thời kỳ vương quyền, một loạt những bất trung đối với việc thờ Thiên Chúa chân thật và những đặc quyền của Đền thờ Người, đã đưa đến cảnh hai vương quốc mất, mặc cho bao cố gắng của các ngôn sứ và một số vua. Không phải Thiên Chúa bất trung, mà dân bất trung.

III. NHỮNG NGUỒN VÀ TƯ LIỆU ĐƯỢC SỬ DỤNG
Tính nhất quán của cuốn sách không che giấu được việc có nhiều nguồn tư liệu khác nhau. Bản dịch Hy lạp cho rằng bài thơ vắn của Salomon 1V 8, 12-13 là mượn ở "Sách Ca vãn". Các công thức kết thúc kể ra ba tác phẩm có thể các tác giả đã sử dụng : "Sách những hành vi của Salomon", "Sách biên niên sử các vua Israel", "Sách biên niên sử của các vua Giuđa". Đây không phải là những biên niên sử chính thức của triều đình, được bảo tồn trong các kho lưu trữ, người dân thường không thể tiếp cận. Đây là những công trình tư nhân, do những người có thể tra cứu các kho lưu trữ nhà vua. Sau những hành vi bên ngoài của mỗi triều đại, có người ghi chép lại thành từng tập. Người hay những người biên tập sách các vua phải là đã lấy ở đó những chỉ dẫn và những sự kiện chính xác về tiểu sử mỗi vua. Nhưng, căn cứ những đặc thù về văn phong và tinh thần, người ta cũng nhận ra suốt trong tác phẩm những tập hợp văn học đã có trước. Vì thế, ta phân tích theo thứ tự cuốn sách, đồng thời xem xét giá trị lịch sử và tôn giáo. 1. Lịch sử kế vị Đavit (tiếp theo, 1V 1-2) Hai chương đầu kể tiếp chuyện hoàng gia Đavit, do một người đồng thời với Salomon viết và được lặp lại ít
41

ra từ 2Sm 9. Những đoạn này được tách ra để làm dẫn nhập cho lịch sử Salomon. Di chúc của Đavit đã được nhuận sắc chút ít (1V 2,3-4) chúng ta đã biết những tính chất văn học và lịch sử của trình thuật này rồi. Nếu những lời cuối cùng của Đavit và việc Salomon thi hành những lời ấy có làm ta thấy chướng, thì chúng ta đừng quên rằng các ông thuộc thời đại của các ông. Họ chia sẻ những tư tưởng thời mình là phải báo thù cho máu đã đổ và ngăn chặn những lời chúc dữ khỏi thành sự thực bằng cách làm chúng quặt lại trên chính người đã phun ra chúng. Lòng đại độ của Đavit lúc sinh thời đối với kẻ thù của vua, chỉ xem ra là một trường hợp ngoại lệ hơn thôi. 2. Lịch sử Salomon (1V 3-11) Tác giả chú ý giải thích việc Salomon đã tế tự trên các cao đàn (3, 2-3), kể rõ việc xây đền thờ (8,14-16) và hình phạt vì những lỗi của Salomon (11,1-13 ; 32-38). Kết thúc, tác giả bảo xem sách "những hành vi của Salomon" để biết nhiều điều hơn. Chắc là tác giả đã nhờ nhiều lắm ở sách này : sao chép ở đó nhiều tư liệu chính thức. Đó là những tư liệu rất quí cho ta biết chính sách của Salomon, nhưng cũng cho thấy mần mống chia rẽ thành hai vương quốc là do Giuđa được hưởng ân huệ hơn. Các nguồn tư liệu cuốn sách dùng rất có giá trị. Việc biên tập chắc là không lâu sau khi Salomon mất. Nó chứa những dữ kiện chính xác, rất lý thú về lịch sử, về những đồn lũy xây cất nhằm bảo vệ xứ sở, về đội thương thuyền, về những đoàn xe ngựa vận tải, về của hồi môn mà công chúa của Pharaô mang về, cung điện tại Giêrusalem và những Đền thờ cho các cung phi thờ thần. De Vaux nhận xét đúng về triều đại Salomon : "Đây là thời tĩnh, sau thời sôi động trước đó, khi thiết lập nền quân chủ. Từ đây, người ta gìn giữ, người ta tổ chức, nhất là người ta khai thác." Không phải chinh phục, nhưng phải bảo vệ. Aicập sau một cuộc xuất chinh miền duyên hải đành giao ước hơn là chiến tranh, đánh dấu bằng một vụ hôn nhân. Khảo cổ học đã minh họa bản văn về điểm đó : Người ta khám phá ra những đồn lũy thờ Salomon tại Megiddo,
42

Haìor và Gézer, những "thành kho chứa". Người ta khám phá ra Eìyon-Géber, ở cực Bắc của vịnh Aquaba : 1 thành phố kỹ nghệ và hải cảng, những lò nung lò luyện đồng và sắt. Của cải tràn trề, nhưng bị nuốt chửng bởi những chi tiêu của một triều đình xa hoa và một kế hoạch xây dựng đồ sộ. Truyện vụ nổi loạn của Jéroboam thật có ý nghĩa về mặt đó. Các ngôn sứ trong khi chỉ cho thấy sự chia cắt sau đó là hệ quả của những lỗi lầm của nhà vua, đã giải thích ý nghĩa tôn giáo của một sự kiện mà ngay nhà sử học phàm tục cũng nhận ra. Jéroboam là người Bắc và là cai lao dịch ; vậy mà các chi tộc phía Bắc rồi ra tách lìa khỏi nhà vua ở Giêrusalem vì vua đặt ách quá nặng trên vai họ. Vụ nổi loạn của Jéroboam cuối cùng đưa Israel tới thảm họa, nhưng đó là hình phạt những lạm dụng của Salmon : người Israel bất mãn vì những gánh nặng mà người Giuđa được miễn. 3. Lịch sử li khai (1 V 12-14) Lịch sử này hẳn là nhờ nhiều ở các biên niên sử của các vua Israel (14,19). Vì thế, theo 12,1-20, các lỗi lầm đều ở phía Roboam. Trình thuật cho thấy rõ tính chất nhị nguyên của nền quân chủ : con của Salomon thì dễ được Juđa chấp nhận, nhưng ông còn phải được các chi tộc phía Bắc thừa nhận nữa, mà các chi tộc này thì không dễ tán thành lối cha truyền con nối như Juđa. Họ đòi giảm nhẹ gánh nặng. Thế là sự thiếu kinh nghiệm chính trị và tính ngoan cố của Roboam làm nên nông nổi : không được như ý các chi tộc phía Bắc chọn Jéroboam làm vua. Tác giả cuốn sách lưu ý hơn tới li khai tôn giáo theo sau đó(12,26-33). Trình thuật về chuyện này cho thấy 1 quan điểm Juđa. Thật ra, các chi tộc Bắc vốn không gắn bó gì với Giêrusalem và Đền thờ ở đó, từ lâu họ vốn tôn kính các Đền thờ ở Béthel và Dan và việc dùng những hình tượng phượng tự có thể được một truyền thống nào đó cho phép. Nhưng khi biểu trưng Javé dưới hình một con bê, là con vật thánh thiêng của Baal ở Canaan, thì tức là Jéroboam đã khuyến khích sự du nhập thói thờ cúng ngoại giáo.
43

Hai trình thuật lên án những điều mới lạ đó, có thể là xuất xứ từ một sưu tập truyền thống ngôn sứ nào đó : một người của Thiên Chúa chúc dữ bàn thờ Béthel (12,3313,33) và lời sấm của Ahiyya chống Jéroboam (14,1-8). Bằng việc chọn tư liệu và giải thích tư liệu, Sách Các Vua tố cáo quyết định nguy hại của Jéroboam : là tách lìa khỏi nhà Đavit và khỏi Đền thờ Giêrusalem và việc đó chỉ có thể đưa Israel tớỤi chỗ diệt vong. Đó là "tội của Jéroboam" mà các vua kế tiếp làm vững chắc thêm. Không hề lưu ý đến sự nghiệp chính trị của một con người mà vương quốc của ông đứng vững được 200 năm. 4. Hệ Elie Những truyện về Elie được đóng khung bởi những truyện dành cho 2 vua Achab (16,29-30 ; 22,29-40) và Ochozias (22,52-54 và 2V 1,17-18). Tác giả bảo xem biên niên sử các vua Israel để biết rõ hơn, nhưng những điều ông kể không lấy từ nguồn đó. Người ta phân biệt hai nhóm có thể cùng gốc : những truyện về Elie, kẻ thù mạnh mẽ của Achab và Ochozias và truyện các cuộc chiến tranh chống Aram được kể là do Achab (20 ; 22,1-38), chú ý nhiều hơn đến Achab mà không nhắc đến Elie. Văn phong rất đặc sắc : tài quan sát, tâm lí tinh vi, tính khách quan của tác giả. Mưu mẹo rồi sự tự hào của Achab trước những nhục nhã mà Benhadad định bắt vua chịu, sự mê tín của người Aram sợ thần núi, nên tìm cách đánh ở đồng bằng, rồi họ tin tưởng vào lòng thương xót của các vua Israel : tất cả được viết thật lí thú (20). Chương 22 là một bi kịch nhiều cảnh ăn gắn chặt chẽ : việc hỏi ý những ngôn sứ nịnh vua ; Michée can thiệp, đầu thì mỉa mai, sau thì đe dọa ; thất bại của Achab. Những trình thuật đó không thể được viết lâu sau biến cố. Đúng là lịch sử sinh động. Khó mà nhận thấy một tinh thần truyền thống bình dân nào ở 20,35-43. Cho nên giá trị lịch sử rất lớn. Tác giả nghĩ như ngôn sứ Michée rằng Javé đã quyết định sự thất bại của Achab ; nhưng ông vẫn trình bày vua như một người chín chắn, một dũng tướng bảo vệ nền độc lập quốc gia, tôn trọng Javé và ngôn sứ Người. Có những
44

ngôn sứ sống quanh vua và hậu thuẫn vua về chính trị. Chi tiết đó cần ghi nhớ để hoàn thành bức tranh lộn xộn về tôn giáo thời Elie. Chỉ có một mình ngôn sứ Michée có gan tách mình khỏi những người được linh hứng khác. Về Elie, nhiều mảng được thêm vào sau trình thuật lớn 17-19,21. Suốt cơn đại hạn ba năm, Elie được nuôi sống cách lạ ở khe Kerit bên kia Giodan, rồi tại Sidon, đất Sarepta, nơi nhà một bà góa mà ông làm phép lạ cho bột và dầu không cạn, và cho con bà chết rồi sống lại. Sau đó, ông đến trình diện Achab là người từng cho đi tìm ông khắp các miền, ông tổ chức cuộc thử thách long trọng trên núi Carmel, có mục đích định rõ ai là Thiên Chúa, Javé hay Baal. Một mình ông đương đầu với 450 ngôn sứ của Baal. Lửa trời cho thấy ông đúng. Đại hạn hết. Nhưng việc Elie giết các ngôn sứ của Baal chọc tức Jézabel. Ông phải chạy trốn tận hoang mạc Bersabée. Thất vọng, nhưng được sức mạnh trên ggiúp, ông tới Horeb, trực tiếp Thiên Chúa sống đã từng hiện ra với Môisê, và cho ông nhận ra Người trong một làn gió nhẹ. Lệnh cho ông phải xức dầu Hazael làm vua Damas, Jéhu làm vua Israel và Elisée làm ngôn sứ thay ông. Ba nhân vật này sẽ thi hành án phạt Israel nhưng Javé đã giữ lại cho mình bảy ngàn người đã không quì gối trước Baal (19,1-18). Từ Horeb về, ông kéo Elisée theo. Xem cấu trúc của toàn bộ câu chuyện, cho thấy đã có những yếu tố sẵn trước. Những tư liệu về lai lịch Elie chỉ là tản mạn không đầy đủ. Về Elisée cũng vậy. Hình thái hiện có của các trình thuật được biết ở vương quốc Bắc, quãng năm 800, hồi đó ký ức về hai nhân vật của thần linh đó còn sống động. Không đặt vấn đề xác định tiểu sử, chỉ cần thức tỉnh niềm tin Israel và kéo dài sự làm lay chuyển các lương tâm như vị ngôn sứ đã làm. Tinh thần một Môisê đã nổi dậy nơi vị ngôn sứ này. Vinh quang của ông là kể mình như một người tôi tớ trước mặt Javé (17,1 ; 18,15). 5. Hệ Elisée Câu chuyện Elie biến mất, thực tế mở đầu chuyện Elisée. Nó cho thấy ông là người độc nhất thân thiết với
45

Elie và chứng kiến cuộc Elie được đem đi cách lạ lùng, và vì thế ông đúng là người thừa kế tinh thần của Elie (2V 2, 118). Những sự lạ Elisée làm được kể lại nhằm chứng tỏ "người của Thiên Chúa", và bày tỏ quyền năng Thiên Chúa có thể cứu dân. Nhưng những câu chuyện vắn tắt này cũng minh họa tính nhân hậu của một con người. Trong hai trình thuật dài hơn, Elisée xuất hiện đồng hành với Gehasi, một môn đệ. Đây là chuyện người đàn bà Shunamite, đứa con không hy vọng có mà có, cái chết nhanh chóng của nó : Gehasi bất lực. Còn Elisée làm em sống lại. Gehasi lại xuất hiện trong chuyện Naaman (5). Hình ảnh Elisée càng nổi. Một loạt trình thật khác cho thấy Elisée can thiệp vào chính trường. Chương 6,8-23, người kể ít chú ý đến cuộc chiến với người Aram, chỉ nhằm làm bật nổi những cái kỳ lạ vị ngôn sứ làm. Những trình thuật khác có nhiều thông tin có giá trị lịch sử. Trong cuộc chiến liên minh với Giuđa và Edom chống Moab (3,4-27), ông đi theo quân đội để thỉnh ý Javé. Vua Moab là Mésha dựng bia ghi lại việc chống nhà Omri. Ở 6,24-7,19, Elisée bênh vực chính nghĩa Israel trong cuộc người Aram bao vây Samarie. Theo 8,715, Elisée can thiệp mãi tận Damas nhằm ủng hộ việc lên nắm quyền của Hazael, mà ông cho là công cụ Thiên Chúa dùng chống nhà Achab. Theo 9,1-13, ông xức dầu Jéhu làm vua Israel, chấm dứt triều đại Omri và việc thờ Baal tại Samarie. Một trình thuật cuối cùng là về những vua kế tiếp nhau tại Israel và Giuda giữa cuộc nổi loạn của Jéhu và cái chết của Elisée (13,14-21). Tuy ốm, ông vẫn can thiệp vào chính sự đương thời, Joas, vua Israel cậy dựa vào ông hơn vào xa mã quân binh. Như thế các trình thuật về Elisée tỏ ra ít thuần nhất. Tuy làm thành một sưu tập, nhưng thể loại và nguồn gốc các trình thuật khác nhau không cho phép nó có được một tính nhất quán chặt chẽ. Chắc hệ trình thuật về Elisée này hình thành ở vương quốc phía Bắc, do đó trước 721. Cái lý thú của loạt trình thuật này là ở tính đa tạp của nó. Dù phát xuất từ truyền thống bình dân, từ một nhà
46

sử học tích cực ghi lại sự nghiệp nhà ngôn sứ hay từ một nhà biên niên sử thông thạo, thì mỗi chứng từ đều tỏ lộ một khía cạnh nào đó của chân dung ông, đôi lúc lạ kỳ, và của ảnh hưởng của ông sau khi ông đã chết. Elisée dây mình vào chính sự nhiều hơn Elie. Tuy đối lập với Achab, ông vẫn bênh vực chính nghĩa Israel. Hoạt động của ông chằm duy trì quan hệ giữa Israel với Javé. Một điều lý thú khác về lịch sử và tôn giáo : các truyền thống về Elisée phản ánh sinh hoạt của những nhóm "ngôn sứ" đã từng gặp thấy chung quanh Samuel. Ta thấy họ không phải đang lúc họ hội họp, sinh hoạt tập thể , nhưng là trong cuộc sống thường nhật của họ, họ thực hành một kiểu sống tập đoàn nào đó, tuy cơ cấu chưa có gì chặt chẽ, họ ăn chung với nhau và sống khó nghèo. Sinh hoạt tôn giáo của họ không thấy nói đến, nhưng họ phải đã làm thành một trung tâm niềm tin Javit đơn giản nhưng bền bỉ. Nơi tập kết của họ là sông Giodan ; con sông này cho mãi tới phái Esséniens, Gioan Tẩy giả và các thánh tu rừng, không ngừng thu hút những người của Thiên Chúa. 6. Những tiểu dẫn về Joas (2 V 12) và Achaz (16) Được phong phú nhờ những tường thuật về việc Joas sửa sang đền thờ và những thay đổi mà Achaz thực hiện nơi bàn thờ. 7. Trong triều đại Ezéchias (18-20) Có thêm vào một mảng văn học dành cho ngôn sứ Isaie. Ba trình thuật kể lại quan hệ giữa nhà vua và vị ngôn sứ hồi có cuộc xâm lược của Sennachérib (18,13-19), trong một lúc nhà vua bị bệnh (20,1-11) và khi có một phái đoàn nhà vua gởi tới Babylone (20,12-19). Mảng này gặp thấy trong sách Isaie 36 - 39, có đôi chút dị biệt. Sách Isaie mượn của sách các vua, còn sách các vua thì lấy ở những nguồn tư liệu khác nhau. Một vài câu (18,13-16), nhắc qua việc vua Assyrie tấn công, và Ezéchias nộp một số tiền để thoát nạn. Bản văn này phù hợp với biên niên sử Assyrie. Tiếp đó, ta thấy hai trình thuật lẫn lộn nhau kể lại cũng một loạt sự kiện : Một phái đoàn Assyrie đến bức
47

Giêrusalem đầu hàng, một lời nguyện của Ezéchias ở đền thờ, một lời sấm của Isaie làm vua vững dạ và việc Sennachérib bỏ đi (18,17-19, 9a+36-37 và 19,9b-25).

IV. HÌNH THÀNH CUỐN SÁCH
Như vậy là ta thấy trước khi có sách Các Vua, đã có những nguồn tư liệu. Có những nhà phê bình nhận là có hai, hoặc ba trào lưu tự sự lớn của Ngũ Kinh trong đó. Giả thuyết đó không vững. Chắc là có nhiều nguồn tư liệu đã được sưu tập trong "các hành vi của Salomon", hoặc "biên niên sử các vua Israel" và Giuđa, Cuốn sách sự nghiệp của Salomon và biên niên sử các vua Israel và Giuđa. Cuốn sách hiện thời kết thúc bằng việc vua Babylone mới lên ngôi, năm 562, là Evil-Mérodac phóng thích vua Joiakin. Vậy sách không có trước niên đại ấy, hoặc khi Joiakin chết ít lâu sau đó. Một số đoạn cho phép giả thiết thời điểm là việc tàn phá Giêrusalem và cuộc phát lưu năm 587. Nhưng có những chỉ dẫn ủng hộ ý kiến cho là sách được biên tập trước năm 587. Một số khác lại cho rằng cuốn sách hiện nay phát hành sau năm 587, thậm chí sau năm 562, từ một tác phẩm được biên tập giữa 622 (lúc khám phá Đnl) và 587 Jepsen phân biệt ba lần phát hành, tất cả đều sau năm 587 và thực hiện ngay tại Palestine : lần thứ nhất là công lao các tư tế Giêrusalem, phê phán các vua và lịch sử căn cứ thái độ đối với việc phượng tự Javé và đối với Đền thờ ; lần hai, khoảng năm 550 nhấn mạnh vai trò các ngôn sứ chứng tỏ hành động Thiên Chúa ; lần ba quãng năm 500, có nhuận sắc chút ít. Thật ra việc biên tập cuốn sách không thể tách khỏi công trình lịch sử đồ sộ theo tinh thần Đnl, mà công trình này phải do nhiều người, bắt đầu từ năm 587 và tiếp tục về sau.

V. CUỐN SÁCH VÀ LỊCH SỬ
48

Chúng ta đã nhận thấy rằng tác giả đã hy sinh những chi tiết lịch sử "đời" có lợi cho mình, để chú tâm vào Đền thờ và các ngôn sứ. Sau đây, chúng ta sẽ thấy những tư liệu lịch sử có giá trị đó lại được khảo cổ học và các bản văn các dân ngoại mà hai vương quốc từng tiếp xúc bổ sung cho. 1. Những tư liệu văn khắc song song Trước đây, chúng ta đã nhắc tới bia Mésha (C. U. Dẫn nhập : khung cảnh lịch sử của Kinh Thánh, giáo trình, trang 23, số 1). Cuộc xuất chinh của pharaon Sheshonq I sang Paletine, vào năm thứ 5 đời vua Roboam (1V 14, 25 28) cũng được chứng thực bởi một bản liệt kê cách thành chiếm được, được khắc trên tường Đền thờ Amon ở Kalnak. Ngoài sự kiện ngoại thường đó, Ạicâp đã mâtỵ thế lực xưa kia, nên không có cơ hội can thiệp vào Paletine nữa. Trong một thời gian dài, những vụ tranh chấp đã đặt Israel đối lập với vương quốc Damas, mới khai sinh thời Salomon và đã nhanh chóng trở thành mạnh nhất vùng Syrie. Nhưng các văn khắc Aram vốn họa hiếm cũng không cho biết gì lắm về đề tài này. Damas, Israel và các quốc gia SyriPaletine đều phải sụp đổ dưới thế lực của đế quốc mới là Assyrie, từ thế kỷ IX mà đi. Đế quốc này rồi ra sẽ bị thay thế bởi đế quốc Babylone vào cuối thế kỷ VII. Các sách vở Assyrie, rồi Babylone làm thành một nguồn tư liệu có giá trị nhất cho toàn thiên sử này. Chúng ta thấy những danh sách các nhân vật quan trọng, mà tên tuổi được dùng để chỉ năm tháng, những danh sách các vua Babylone, một danh sách cùng thời ghi trên hai cột các vua Babylone và Assyrie. Có những biên niên sử viết thời Tân-Babylone, tóm lược những sự kiện lớn lịch sử Lưỡng hà, với những niên đại đôi lúc tương đối, chẳng hạn : một biên niên sử từ 745 đến 668, một từ 680 đến 625, một từ 616 đến 609, cuối cùng một từ 626 đến 593 nhắc đến cuộc vây hãm Giêrusalem lần một bởi Nabuchodo- nosor. Các vua thường cho khắc trình thuật những sự nghiệp hiển hách của họ, và nếu là những chiến dịch vùng Syri-Paletine thì có thể có những tư liệu song
49

song đối chiếu với các dữ liệu Kinh Thánh. Như thế những tư liệu song song này bổ sung cho những dữ kiện Kinh Thánh và minh định niên đại của thời vương quốc. 2. Vấn đề niên đại Thoạt nhìn, cái khung niên đại của các vua xem ra rõ ràng. Chẳng hạn : "năm thứ 18 đời vua Jéroboam, Abiyyam trở thành vua của Juđa ; ông trị vì 3 năm tại Giêrusalem" (1V 15,1-2). Nhưng thực ra hai loạt niên đại đó không phù hợp nhau (mỗi loạt thuộc một vương quốc). Cộng các con số từng bên lại thì hầu như bằng nhau, tư khiợ chia thành hai nước cho đến Samarie đổ là 260 năm theo những niên đại tuyệt đối, 258 năm theo các biên niên sử đồng đại (syncoronismes) ; nhưng trong chi tiết người ta gặp thấy những dị biệt rõ ràng chẳng hạn Amasias đã trị nước 29 năm, nhưng sử đồng đại thì nói 40 năm. Nhiều nhà phê bình cho rằng các sử đồng đại là muộn và nhân tạo, nhưng nếu có những sử đồng đại về các vua Babylone và Assyrie lên đến tận thế kỷ 12, tại sao không có như vậy ở Israel ? Mặt khác, các dữ kiện tuyệt đối cũng có những điều bất ngờ : đem cộng các dự kiện đó trong cùng một thời kỳ ở Israel và ở Juđa thì kết quả lại khác nhau. Chẳng hạn, từ cái chết đồng thời của Jéram, và Ochozias do Jéhu, cho đến Samarie đổ, người ta tính được 143 năm và 7 tháng ở Israel, còn ở Juđa là 165 năm. Hơn nữa, những con số đó không hợp với những dữỳ kiện của các văn khắc Assyrie, ở đây tính cũng thời kì đó là 121/122 năm. Giải thích những dị biệt đó không dễ : nhiều nguyên nhân đã gây nên tình trạng bối rối của nhà biên tập Kinh Thánh. Có thể là lịch dùng ở Bắc và ở Nam không như nhau, lại cũng trong một vương quốc mà thời này khác thời khác lại khác : tính năm bắt đầu từ năm mới thao sau việc lên ngôi (hệ Assyrie) hay từ năm mới của đi trước việc lên ngôi (Ai cập), năm chót của một đời vua và năm đầu của vua kế tiếp có tính thành một năm không ? Rồi năm mới là mùa xuân (hệ Babylone và lịch tư tế) hay mùa thu (ở Israel trong một số thời kỳ). Mặt khác, chúng ta biết có một thời gian hai vua cùng cai trị (co50

régence) : Osias bị bệnh cùi, trao quyền trị nước cho con là Jotham (2V 15,5). Có thể có những ca tương tự nữa. Sau hết, phải tính đến những thiếu chính xác về tư liệu, những hiệu đính về sau... Để thiết lập một niên đại, nhà sử học chỉ có cách là trứơc hết em các bản văn Assyrie, Babylone và minh định năm tháng của một số sự kiện chung cho cả Lưỡng hà lẫn Paletine. Có thể coi những niên đại sau đây là chắc chắn. Sai số một năm là cùng : -853 : tại Qarqar, trên sông Oronte, Salmanasar III thắng một trận trên nhiều vua Syrie-Palestine, trong đó có Achab vua của Israel. -841 : cũng vua đó nhận một triều cống của Jéhu, có lẽ lúc vua này mới lên ngôi. -738 : Ménahem triều cống cho Téglath PhalasarIII. -737 : Ménahem còn tại ngôi. -722 : chiếm Samarie. Thời Sargon II, năm 720, phát lưu 27290 người thay vào đó những người xứ y chinh phục được, đười quyền một tổng trấn Assyrie. -701 : chiến dịch của Sénnakérib tại Phénicie, Philistie và Juđa -610 : vua cuối cùng Assyrie bỏ Harran mặc cho người Babylone. Chính vì để cứu viện vua, mà Pharao Néchao II tiến quan lên phía bắc và đánh Josias tại Mégiddo, vì vua này định chặn bước y. -605 : Nabuchodonosor đánh Néchao II tại Karkemis- và trở thành vua của Babylone. Đó là năm thứ IV đời vua Joiaqim. -15-16/3.597 : Nabuchodonosor chiếm Giêrusalem lần I. Đây là niên đại Joseph cung cấp. -968 : Salomon khởi công xây Đền thờ Giêrusalem. Từ những niên đại đó, suy ra những niên đại có vẻ đúng, theo đó : - 932-931 : Salomon chết và nước chia đôi.
51

- Sau cùng, biên niên sử các vua cuối cùng của Giuđa xem ra chắc chắn và cho phép định việc phá hủy Giêrusalem và cuộc phát lưu lần hai vào năm 587/586. 3. Khung cảnh lịch sử tổng quát (tục sử) Không những quý giá đối với niên đại, mà các bản văn Assyrie-Babylone còn bổ túc thông tin của ta về thời quân chủ : hoặc vì chúng cung cấp cái mới, hoặc dựng lại lịch sử chung Phương Đông, là yếu tố thường giúp giải thích các biến cố Kinh Thánh. Chỉ xin nêu một ít thí dụ. Về Omri (885-874), sách Các Vua chỉ ghi lại việc lập thủ đô mới là Samarie. Nhưng sự nghiệp của vua này quan trọng đến nỗi các văn khắc Assyrie nói đến "con của Omri", có nghĩa là thật sự là vua của Israel, dường như cho Omri là người thiết lập vương quốc. - Kinh Thánh chú ý tới Achab (874-853) vì những quan hệ của vua đối với các ngôn sứ và việc vua ủng hộ sự thờ Baal. Thế nhưng một bản văn khắc của Salmanasar III cho thấy uy lực ông đem lại cho vương quốc : vua tỏ ra là ông vua chủ yếu trong những vua liên minh chống Assyrie đang đe dọa Aram-Paletine : vua đã có thể tạo nên một cuộc đình chiến giữa những tranh chấp của vua và người Aram, và đem lục lượng mình liên kết với lực lượng của vua Damas và vua Hamat, vua có thể điều tới trận Qarqar hai ngàn chiến xa và mười ngàn binh sĩ. Như thế những lỗi lầm về tôn giáo mà Kinh Thánh ghi lại đi đôi với một chính sách tài tình và một thành tựu rực rỡ xét mặt loài người. - Tháp bia đen của Salmanasar III có khắc hình vua này đang nhận triều cống của Jéhu, hoặc sứ thần của vua, đang sấp mình trước mặt y (841) : đó là dấu cho thấy rằng Jéhu để được ngồi ngai vua Israel, phải từ bỏ chính sách đối ngoại của nhà Omri. - Những văn khắc của Adad-Nirari III (809-782) chứng thực việc tái diễn những cuộc chiến chống người Assyrie ở phía tây và nhắc đến một sự đầu hàng của Damas. Sự kiện đó, rồi một sự lu mờ nhất thời của Assyrie, giải thích việc Jéroboam II chiếm lại những đất người Aram đã sát nhập (2 V 14, 25) và việc phục hưng nền văn minh vật chất mà Amos và Osée sẽ vạch
52

trần những hậu quả tai hại về luân lý và tôn giáo. Việc phục hưng này cũng có lợi cho vương quốc Juđa, vì họ lấy lại được thịnh vượng và địa vị dưới triều đại lâu dài của Ozias (781-740). 4. Những cuộc khai quật khảo cổ Cũng phải nói tới phần đóng góp của các cuộc khai quật khoa khảo cổ học. Đất đai Paletine đã cung cấp ít nhiều bản văn ghi khắc : những vỏ sò (ostraca) ở Samarie (đầu thế kỷ VIII), nhân chứng cho nên fhành chính tập trung của vương quốc Bắc ; văn khắc Ezéchia, ghi lại việc đào đường hầm nối suối Gihoa với giếng Siloé (trước 701) ; nhất là những vỏ sò Lakish và Arad, những bức thư mà đa số nhà học giả cho là phản ánh những tháng chót của thành và vương quốc Juđa, trước chiến thắng của người Babylone năm 587. Những cuộc khai quật Samarie, Mégiddo, Lakish, Tell Beit Mirsim, Tell en-Na-sbéh, Tell el-Far'ah, cho một hình ảnh rõ ràng về nghệ thuật xây đồn lũy, và ngay cả một khu dân cư trong một thành phố thời Jéroboam II (Far'ah) hoặc cuối nền quân chủ (Beit-Mirsim). Tại Samarie, người ta đã gặp thấy những mảnh ngà voi khảm khắc, vốn được dùng để trang hoàng các tủ gường bằng gỗ và hiện đang nói về những người giàu sang mà Amos đả kích. Sau cùng, phế tích nhiều thành ở Juđa, đầu thế kỷ VI, chứng thực qui mô rộng lớn của cuộc xâm lược của người Canđe.

VI. GIÁ TRỊ TÔN GIÁO
Đây là một lịch sử tôn giáo, gợi lại tấn bi kịch tinh thần của Israel thời quân chủ. Cái lý thú chính của cuốn sách là ở đó. Sách được soạn theo tinh thần Đnl. Tuy quan điểm này không phải là quan điểm của mặc khải hoàn tất, nhưng việc tổng kết sách các vua thực hiện cũng cho thấy một lối nhìn xác thực về tinh thần và chuẩn bị cho ít nhiều thành đạt lớn hơn về thần học của dân ưu tuyển. 1. Cuộc kiểm điểm các vua
53

Được tiến hành chặt chẽ như sự sụp đổ cuối cùng của vương quốc làm chứng. Những giá trị được dẫn ra để phê phán, là lòng trung với giao ước, niềm tin vào Thiên Chúa độc nhất của Israel. Bi kịch là ở chỗ nền quân chủ bị thất bại thảm hại hơn là chính trị. Vương quốc Thiên Chúa khó mà tự tổ chức thành vương trần gian đó là cái làm nên bi kịch. Ngay từ Saul, điều đó đã được cảm thấy. Nhưng cần cho nến trải kinh nghiện thực tế, để người ta có thể ý thức được nước Thiên Chúa phải có những thuộc tính như thể nào. Cuốn sách không phi bác ý tưởng về một vương quốc vừa chính trị vừa tôn giáo. Nó tưởng điều đó có thể, và giới thiệu một vài vua tốt làm thí dụ : Đavit, Ezechias, Josias. Việc phê phán không chút thương xót các vua không ngụ ý lên án vương quyền nhưng chứng tỏ mẫu mực cao đẹp : một vua hoàn toàn tận tụy phụng sự Thiên Chúa và chịu trách nhiệm về lòng chung của dân tộc đối với luật Môisê. Mặc dù thất bại lời hứa với Đavit vẫn y nguyên. Và việc cuốn sách chú ý vào việc phóng thích Joiakin ở phần cuối chứng tỏ rằng sợi dây hy vọng chưa dứt. Phải có người thất vọng khác nữa, sau lưu đày, thì chân dung Đấng Méssia mới được thanh tẩy và rút cuộc bộc lộ các đường nét quyết định nơi Đức Giêsu Kitô. 2. Lời phán xét vương quyền bởi lịch sử thực thi lời các ngôn sứ. Vô danh hay hữu danh, các ngôn sứ xuất hiện suốt chiều dọc cuốn sách : nếu hành động Thiên Chúa lẫn lộn hành động con người, thì con người vẫn được cảnh cáo và đặt trước trách nhiệm của nó. Hình phạt có thể thi hành ngay sau đó (2V 1,6-17) ; có thể hoãn lại để phạt cả triều đại (1V 21,29 và 2V 9-10). Vương quốc Bắc tồn tại 200 năm dưới lời đe dọa nêu ra từ đầu (1V 14,15-16 và 2V 17,20-23). Sở dĩ trì hoãn, là nhờ có hối cải, có thực thi những điều đẹp lòng Thiên Chúa (1V 21,29 ; 2V 10,30 và 15,12). Việc đó cũng cho thấy ơn kiên nhẫn của Thiên Chúa, Đấng nhớ lại giao ước (2V 13,23 ; 14,26). Vương quốc Nam tồn tại lâu hơn, nhờ triều đại Đavit và Đền thờ (1V 11,12-13.32.36 ; 15,4-5 ; 2V 8,19). Chính tội của
54

Manassé với việc làm uế tạp Đền thờ quyết định sự sụp đổ của Giuđa và thành thánh (2V 21,10-15 ; 23,26-27 ; 24,2). Lời Thiên Chúa điều khiển lịch sử, nhưng loài người được mời gọi cùng làm việc đó với Người. Javé phán qua các ngôn sứ, trong các biến cố, nhưng lịch sử trong sách Các Vua thì bị xét xử bởi lời Thiên Chúa ghi trong Luật Môisê là Đnl. Cùng thời, Jérémie loan báo một giao ước mới được đóng ấn trong lòng chứ không được ghi trên bia đá nữa. Không thể biêtỵ chắc tác giả Các Vua có chờ mong điều đó không. Nhưng việc cuốn sách nhấn mạnh ở nội dung luân lý và tôn giáo của giao ước, có giá trị như một lời gọi trở lại triệt để. Bằng việc đặt các ngôn sứ đối lập với các vua và đối lập với nền an ninh giả tạo xây trên những lời Thiên Chúa hứa, cuốn sách góp phần thanh lọc ý tưởng dân ưu tuyển, tách nó khỏi dân tộc dân tộc xét như là dân tộc để áp dụng cho cộng đoàn tín hữu. Cuốn sách để ý tới những hội ngôn sứ, mà người ta cho là nó đánh dấu một khúc quanh quan trọng trong lịch sử tôn giáo : một xã hội tôn giáo tinh thần nổi lên và tách biệt khỏi xã hội quốc gia. Chung quanh Elie, Thiên Chúa đã dành cho mình bảy ngàn người đã không quì gối trước Baal (1V 19,18). Một ngày kia, Hội Thánh sẽ được nhận ra trong đó (Rm 11,4). 3. Cuốn sách còn chuẩn bị Hội Thánh theo cách thế của mình, khi đưa ra lý tưởng về một dân trung thành với Thiên Chúa độc nhất, được phụng sự trong một Đền thờ độc nhất, sách trình bày việc xây cất Đền thờ như tột đỉnh của lịch sử từ ra khỏi Ai cập (1V 6,1). Theo tác giả thì độc quyền của Đền thờ là phương thế tốt nhất duy trì niềm tin thuần túy theo Môisê. Chắc là ông nói đúng : kinh nghiệm cho thấy việc phụng tự ở các Thánh Đền tỉnh lẻ dễ lây nhiễm các thói tục thờ cúng Canaan. Hơn nữa, vào giờ mà sự thống nhất chính trị đã nứt rạn, sắp tan biến hoàn toàn, thì việc tập trung phụng tự tại Giêrusalem thực hiện sự tái tập họp Israel chung quanh niềng tin tôn giáo của nó. Một Thiên Chúa độc nhất, một Đền thờ độc nhất, một dân độc nhất được Thiên Chúa hiện diện ở giữa (hoặc Danh Người ở
55

giữa, 8,10). Đền thờ là nơi Thiên Chúa hiện diện đặc biệt nhưng không loại trừ các nơi khác, Đền thờ đó không thể để con người sử dụng tùy ý. Không hợp với ý Thiên Chúa, nó chỉ có thể bị phá hủy. Sau lưu đày được xây lại. Sách Các Vua một cách nào chuẩn bị cho cộng đoàn Do thái sau lưu đày, cộng đoàn tinh thần hơn là cộng đoàn bộ tộc, gồm những người liên kết với nhau bằng niềm tin và lòng gắn bó với Sion. Nhưng để dấu hiệu Đền thờ hoàn toàn rõ ràng, thì Đền thờ thứ hai cũng đến lượt phải bị phá hủy, khi mà Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa đến ở giữa chúng ta (Ga 1,15). Trong khi chờ đợi, cuộc cải cách theo Đnl là cần thiết, phải có một ngôi nhà bằng đá độc nhất như dân mà nó làm vẻ vang, ngôi nhà đó phải có để rồi một ngày nào, lời sau đây được công bố : "Ta nói thật với các ngươi, đây có Đấng trọng hơn Đền thờ" (Mt 12,6).

TIẾT II

CÁC SÁCH NGÔN SỨ HẬU
CHƯƠNG I : CÁC NGÔN SỨ
I - Những dữ kiện lịch sử II - Vấn đề tâm lý. III - Những dữ kiện văn học. IV - Quan trọng của việc làm ngôn sứ.

I. NHỮNG DỮ KIỆN LỊCH SỬ
1. Việc làm ngôn sứ ở miền Cận Đông cổ Khi nói đến các ngôn sứ, chúng ta nghĩ ngay đến các ngôn sứ của Israel, mà sự nghiệp và lời giảng dạy ta biết được qua Cựu Ước. Nhưng những cuộc tìm tòi hiện đại về
56

tâm lý và lịch sử các tôn giáo đã chứng tỏ rằng có những "ngôn sứ" ở các phần khác nhau của thế giới tôn giáo, xưa cũng như nay. Vậy, đâu là những đặc trưng của lớp người này ? Tại phần lớn thế giới xưa cũng như gần đây, luôn luôn đã có một ưu tư về tôn giáo đưa đến cơ chế ngôn sứ. Các ngôn sứ Kinh Thánh, cũng xuất phát từ ưu tư đó, đứng trước cũng những câu hỏi đó, cho nên trước tiên họ cư xử như các vị tiền bối hay đồng thời với họ, mà đem lại cũng những lời giải đáp tương tự và phát biểu chúng cũng bằng một cách thế như họ trước khi Mặc khải Thiên Chúa trong Kinh Thánh đưa việc làm ngôn sứ tới những chân trời mới. Vì thế, việc tìm hiểu phép ngôn sứ (Tiên tri) quốc tế không thể không bổ ích cho việc hiểu biết phép ngôn sứ của Kinh Thánh. Lại cần thiết nữa. A. Tại Ai cập Tìm hiểu các bản văn Ai cập theo thể loại và não trạng gần với các lời sấm của các ngôn sứ sk, người ta niêu lên vấn đề mối quan hệ giữa các ngôn sứ với các tôn giáo Ai cập. H. Gressmann nghiên cứu tám bản văn được coi là "ngôn sứ" hoặc "cứu thế" thì thấy ở Ai Cập có những lời sấm tương ứng với những lời sấm của các ngôn sứ Israel và có thể nói là họ lấy đó làm mẫu. "Phải, đúng là ôn dịch tràn lan khắp nước, máu chảy nơi nơi. Phải, đúng là cả nước quoay như chiếc đĩa nơi bàn thợ gốm, tên kẻ cướp có của cải tràn đầy... Phải, đúng là nụ cười đã mất, không ai cười đượcnữa. Buồn sầu khắp nước, pha lẫn tiếng rên rĩ... Phải, đúng là lớn cũng như nhỏ đều nói : tôi muốn chết cho rồi ; bọn trẻ nói : Ôi ! giá mà không có tôi ! ... ...tất cả đi đến diệt vong, Châu Thổ khóc than... Nhưng đẹp biết bao, khi tàu bè xuôi ngược sông biển...
57

Đẹp biết bao, khi bàn tay con người xây cất những Kim Tự Tháp, đào hồ trồng cây kính các thần... Thật là đẹp biết bao, khi người người say sưa, lòng hân hoan khi chè chén... Khi miệng hát vang vang và những bậc vị vọng trong thành đứng nhìn cư dân hớn hở ..." Gressmann cho đây là một bản văn tiên tri chính cống. Đoạn văn trên đây trích trong tác phẩm của một hiền nhân gửi lên vị pharaon đã già. B. Ở Lưỡng hà địa Nơi đây đã có một nền văn minh, trong đó khoa bói toán dường như đóng một vai trò chủ chốt. Ở Sumer, trong những hoàn cảnh trọng đại, nhà "minh kiến" (voyant : người thiên nhãn) xem ruột loài vật mà phán đoán tình hình. Những người khác thì giải thích các mộng mơ, còn trong khi đó, các tư tế (sãi) sau một đêm nghỉ tại Đền thờ, được thông tri những điều quí giá. Truyện Balaam trong sách Dân số, là một điển hình về thày bói Lưỡng hà (Ds 22 - 24) Ezéchiel và Isaie 2 nhắc đến một vài kỹ thuật bói toán thịnh hành ở Lưỡng hà : Cầm các mũi tên rung lên rồi thả cho phóng đi một cách tình cờ, vị trí của một trong các mũi tên đó sẽ có ý nghĩa ... xem sao, xem trăng... (Is 47,12-14). Như thế, thuật bói toán đã rất thịnh hành ở Lưỡng hà địa. C. Tại Canaan Người Hipri càng tiến vào Canaan, càng tiếp xúc với những cơ chế tôn giáo địa phương, nhất là "thuật ngôn sứ" nhiều vẻ. Như bia Zakir, để lại việc khi bảy vua liên minh tấn công, nhà vua đã hỏi thầy bói cho biết ý thần BaalShamin. Thày bói nói : "Đừng sợ, Ta đã đặt ngươi làm làm vua và ta sẽ ở với ngươi và giải thoát ngươi khỏi mọi vua đã bao vây ngươi..." Có hạng minh kiến, lại có hạng xuất thần, lên đồng nữa. Tuy nhiên, cuối cùng thì ta cũng không biết được gì nhiều về thuật ngôn sứ cổ xưa nơi các nước đó. Ngay cả Kinh Thánh cũng cho biết ít (xem cảnh Carmel
58

1V,18). Chuyện này chứng tỏ cùng một thời ở Palestine đã có cả những ngôn sứ của Javé cả những ngôn sứ của Baal (1V 18,13 và 40). Bia Zakir, cùng với Elisée cho ta biết các vua hồi đó thỉnh ý các thần qua các ngôn sứ. 2. Việc làm ngôn sứ trong Kinh Thánh. Từ nguyên và danh xưng. Trước tiên, người ta nghĩ đến những người "minh kiến" (voyant) : truyện những con lừa của Saul cho thấy người ta mong gì ở nhà minh kiến : được hỏi về một cái gì thịnh hay suy trong đời sống hàng ngày, họ giúp người ta vượt qua, vì họ có ơn thấy điều ẩn giấu. Gad (2V 24, 11) được coi là "nhà minh kiến" , "nhà minh kiến của đức vua" "nhà minh kiến của Đavit". Thời các ngôn sứ cổ điển, nhà minh kiến Ro'eh, trở thành một hozeh, có lẽ thấy rõ hơn. Nhưng thời này một từ được dùng lại như xưa, là nâb . Dù sao, gốc của từ không chắc chắn gì. Kinh Thánh khi thì dùng từ minh kiến, khi thì dùng từ "người minh kiến", khi lại dùng từ "ngôn sứ". Phải chăng đã có sự thay đổi trên thực tế ? Quan hệ giữa hai hạng người thế nào ? Bản Bảy mươi dịch từ "nabi" là propheta, prophète, mà người Aicập thời các Ptolémées hiểu là "người phục vụ thần : Có chức năng tư tế. Về tiếp đầu ngữ pro không hiểu theo nghĩa thời gian (trước về thời gian), mà hiểu theo nghĩa là "đại diện", "người thay thế". Như thế, prophète là phát ngôn nhân cho một ai đó. Có người lại cho là pro hiểu nghĩa nơi chỗ : người nói trước một đám đông. Hiện nay, ta dùng từ tiếng Hán Việt : ngôn sứ. Nguồn gốc việc làm ngôn sứ trong Kinh Thánh. Nguồn gốc mờ ám : Người ta không biết gì về những biểu hiện đầu tiên của ơn đó nơi Israel. Chiờ đoán thôi. Không lạ gì khi thấy các người hùng của Israel cũng biết thuật ngôn sứ của các người ở Lưỡng hà địa, vì gốc xa xưa của họ là ở miền đó. Rồi thời gian ở Ai cập, tiếp xúc với nền văn hóa Ai cập... nhưng ảnh hưởng nhất vẫn là những "ngôn sứ Canaan" láng giềng của họ ở Palestine. Các cộng đoàn ngôn sứ.
59

Thế kỷ 11, ở Palestine xuất hiện một loại tu hội Hipri. Hồi đó, người ta trải qua một thời kỳ khủng hoảng (các chi tộc tranh chấp, hiểm họa phitlitin) : các nabis đứng đầu các cuộc kháng chiến chống lại cái có thể làm tan rã quốc gia (1S 9,10). Họ sống thành băng (bandes) bên cạnh Đền thờ Javé, với các tổ chức sơ sài (một thủ lĩnh : 1S 19,20). Hiện tượng : một sự kích động ky ợlạ và không thể kiềm chế, rồi biểu lộ ra ngoài như một người xuất thần, dáng đi nhảy nhót nhanh và từng đợt, kèm theo những bài hát mạnh mẽ, hoặc những tiếng hô nhiệt liệt. Các nabis đi đến chỗ cởi truồng (1S 19,24). Một điệu nhạc xập xình chuẩn bị trước, và người ta cho là có "thần" của Javé ngự xuống. Hiện tượng này có tính lây lan (1S 10,5 vtt). Các nabis là Javit, là những quán quân của phong trào chống người Canaan, họ đại diện cho một lực lượng duy trì và truyền bá niềm tin vào Javé, nên người ta coi những biểu hiện của họ và có giá. Qui chế đó khác phức tạp, nên không ngôn sứ cổ điển nào dựa vào họ, hơn nữa, Amos còn kiên quyết lánh xa những nhóm như vậy (7,14), đồng thời cấm họ đứng ra làm chứng (2.12). Những nhân vật ngôn sứ như Nathan (2S 7,12 ; 1V 1.2) và Gad (1V 22,5 ; 28, 24) khó mà đồng hóa với thuật ngôn sứ xuất thần này. Nhưng có một nhân cách thật phức tạp : Samuel. Từ Samuel đến Amos Trong khi Samuel lịch sử phải đã là một người trông coi Đền thờ điều hành việc tế tự, nhưng cũng được nhân dân thỉnh ý, nên gọi là Thủ Lĩnh, thì truyền thống Kinh Thánh chủ yếu coi ông là một ngôn sứ. Đúng là nhân vật này cũng đã là một người minh kiến, có một liên hệ chặt chẽ với các cộng đoàn nabis (19, 20-24), ông cũng bênh vực niềm tin thuần Javit như họ. Vì thế ông có quyền được kể như một trong những vị ngôn sứ vĩ đại nhất. Thời Salomon, hình thành một phong trào ngôn sứ đối lập : Ahiyya ở Silo (1V 1,29-39). Ở miền Bắc sự chống đối càng triệt để hơn. Nhưng ở cả hai vương quốc, dường như cùng chung một nguồn cảm hứng. Các ngôn sứ muốn
60

duy trì những giá trị cựu trào của những thời tiền quân chủ : bình đẳng và công lý mà nền văn minh vương quyền đang đe dọa, nền hòa bình mà sự chia rẽ hủy diệt, sự đơn giản chặt chẽ của nghi lễ, sự thống nhất tôn giáo. Ahiyya lên án nhà Jéroboam vì những sáng kiến của vua về tế tự (1V 14,119) ; Séméias ngăn Roboam (931-913) chiếm lại miền Bắc (1V 12,21-24) : như thế là ông xác nhận có sự chia rẽ và khuyên hai vương quốc có những quan hệ anh em. Thời Jéroboam , một ngôn sứ vô danh nguyền rủa bàn thờ Béthel (1V 13,11-32)... Việc lên ngôi của nhà Omri (885-841) rất quan trọng trong lịch sử phong trào ngôn sứ. Đây là đêm trước của thời kì vàng son của nó. Nhiều sự can thiệp có tầm cỡ tôn giáo và quốc gia (1V 20,13 vtt 28.35 vtt) ; Michée ben Yimla đáng chú ý vì sự can thiệp chống chủ nghĩa theo thời của ông (1V 22). Người ta cũng ghi nhận có sự triển nở của những đoàn "con cái của các ngôn sứ", ở Béthel, Jéricho và Gilgal. Đó là những người can trường bênh vực niềm tin Javé chống lại đạo thờ Baal do chính trị du nhập. Elie người bênh vực Javé, phối hợp chính nghĩa của ông với chính nghĩa của họ (1V 18-21 ; 2V 1) ; Elisée hòa nhập với họ và sử dụng họ. Nhưng hai ông, không ông nào từ những nhóm đó mà ra : Elie từ bên kia sông Giodan mà đến và chính ông đi tìm Elisée (1V 19,19-21). Đến hết triều đại nhà Omri (2V 10), thì đã gần 1 thế kỷ trôi qua kể từ các ngôn sứ đầu tiên. Chúng ta có thể nói là chân dung họ đã được vẽ xong. Một vài điều lưu ý nữa sẽ hoàn thành việc xác định chỗ đứng của họ trong lịch sử Israel. 3. Ngôn sứ và ngôn sứ Trào lưu ngôn sứ, tuy là một hiện tượng thường xuyên, nhưng không phải lúc nào cũng có cùng những đặc trưng của nó. Con số thì không thay đổi : có những ngôn sứ xung quanh nhà vua (1V 22)giúp nhà vua ra các quyết định ; ở các thánh đền, có những ngôn sứ tung hô nhà vua ngày lên ngôi, tuyên bố những sấm ngôn liên hệ đến nhà vua (Tv 2...; St 49,8-12...) ; có số giảng dạy dân (Gr 28). Họ
61

làm thành một giai tầng rõ ràng (Gr 18,18) mà thái độ thì không nhất mực : người ta không tin họ (Gr 29,26), quấy rầy họ, truy kích họ (Am 2,12), giết hại họ (1V 18,13), vì đôi lúc họ đã kích rất mạnh (1V 20,35-42) ; nhưng họ cũng có thể theo thời (1V 22), làm cho người ta mỉa mai họ là "những ngôn sứ hòa bình", vì phần thưởng mà nói cho vua những lời hứa thành đạt, hạnh phúc, hòa bình, nhưng toàn là giả tạo (1V 22,1-28 ; Mi 3,5 ; Gr 6,13 vtt ; 14,14 vtt ; 28,9 ; 29,11 ; Ed 13,10-12.16). Tuy nhiên , không thể căn cứ vào những phê phán mỉa mai, nghiêm khắc mà xét đoán họ. Tất nhiên, những nhận xét đó cho thấy những điểm yếu của trào lưu ngôn sứ này, nhưng chỉ phiến diện thôi. Thực ra Israel không dứt khoát coi họ là như "những ngôn sứ giả". Phần các ngôn sứ chính thức, họ cũng không phải luôn luôn sống lẻ loi. Elie có cả một đoàn "những con cái của ngôn sứ" (2 V 1) ; đoàn của Elisée lại đông ; Isaie cũng có những môn đồ (8,16) ; Jérémie có một thư ký (36,4). Mặt khác, có sự gần gũi về học thuyết, chứng tỏ người sau tham khảo người trước, các ông có quan hệ giao tiếp với nhau. Thật có tính liên tục trong phong trào ngôn sứ. Jérémie và Ezéchiel nói rằng cái đặc trưng cho ngôn sứ giả là họ rao giảng tự mình, lấy trong hiểu biết của mình mà giảng, còn ngôn sứ thật thì giảng theo ơn linh hứng. Cuối cùng, các ngôn sứ là những ai ? Là những người "phá đám" của Israel (trouble-fête), những nhà hứơng dẫn thiêng liêng cho đạo thờ Thiên Chúa, những cột trụ cho giao ước, những chứng nhân cho tương lai. Là những con người của Lời (dabar), những con người của Thần khí (ruah Os 9,7), họ dò xét các biến cố thời họ, khám phá ra trong dòng lịch sử đầy biến động và tai ương đó những dấu vết của Thiên Chúa tự mặc khải trong đó. Như thế, họ trở thành những người tâm phúc của Thiên Chúa, những sứ giả của Người, khước từ mọi cái gì tương đối hóa tính tuyệt đối của Lời Người, mọi cách thế của loài người những phương sách quân sự, ngoại giao... làm giảm gía tính siêu việt của những
62

sự can thiệp của Thiên Chúa và tính chuyên nhất của tiếng Người mời gọi.

II. VẤN ĐỀ TÂM LÍ
1. Các ngôn sứ lớn có phải là những nhà xuất thần nhập định ? Thời gian trước đây, một lí thuyết được tán đồng hơn cả của G.Holscher, cho rằng đầợu hết là các nhà minh kiến, rồi các nabis thay thế, cuối cùng là các ngôn sứ. Các nhà minh kiến gốc ở Israel, các nabis được coi là gốc ở Tiểu Á và Syrie. Từ các nabis nhiệt thành và có xuất thần (nhập định) xuất hiện các ngôn sứ. Như thế là vấn đề âm thầm chuyển từ bình diện lịch sử sang bình diện tâm lí. Nhưng phải nhận rằng từ xuất thần (extase) có cái nghĩa rất là nước đôi (ambigu). Vấn đề xét xem các ngôn sứ lớn có phải là những nhà xuất thần không, đã được bàn cãi từ thời xa xưa. Philon cho là có ; Josèphe cho rằng không. Phái Montanit chủ trì rằng các ngôn sứ hoàn toàn thụ động ; một số Giáo phụ so sánh ngôn sứ với cây đàn mà ngón tay Thiên Chúa chạm vào, cây sáo mà Thánh Linh thổi nốt nào tùy ý Người . Một số nhà viết sử tôn giáo gần đây cho là những biểu hiện linh hứng tiên tri đi kèm những hiện tượng xuất thần mà các dân tộc cổ thời đều biết đến. Đây là những nét đặc trưng : sự lay động mạnh (Ed 6,11 ; 21,19) ; ngất lả với việc câm không nói (Ed 13,15.25 ; 24,27) ; tê liệt (Ed 3,2526) ; hay ở yên một chỗ (Ed 9,8 ; 11,13) ; mất cảm giác ở các vết thương (Dcr 13,6 ) ; lu mờ nhân cách : nói như mình là Thiên Chúa ; những hành vi xuất thần (Ed 4,1-3) ; những câu nói kích động, vắn gọn ; nói những điều lạ thường (Is 6,6-7) ảo giác mắt, ảo giác tai (Ed 3,16), xúc giác (Is 6,67) ; ảo tưởng thật sự, tức là nhận thức lệch thật sự : tự kỷ ám thị (1 V 3,15). Tóm lại : lí thuyết về xuất thần giao động giữa nhiều lối trình bày : một lối bệnh lí học, một lối Tân 63

Platon, giải thích xuất thần : xóa cái tôi, cái tôi bị hấp thu trong Thiên Chúa ; một lối cho là : tâm trí tập chú vào một đối tượng độc nhất, nên mất ý thức bình thường và mất cảm giác. Về các ngôn sứ lớn thì không thể giải thích theo lối hai : Javé không thể thấu đạt. Mặt khác ngôn sứ không cố hòa mình vào Thiên Chúa, mà cứ vẫn hòa mình vào các việc chính trị xã hội trần thế. Xuất thần không phải là điều căn bản. Lods cho rằợng tâm trạng ngôn sứ gần với cảm hứng nơi nhà thơ hay nhà nghệ sĩ. 2. Ý thức ngôn sứ * Chứng từ tự phát của ý thức ngôn sứ. Jérémie đã thử phân tích nơi một người Sêmit : đã có yếu tố nhân loại, yếu hèn, sợ sệt, chồng thêm yếu tố thần linh, có tinh thần tự chủ và uy quyền. Mặc khải Thiên Chúa được trình bày như một sức đẩy không thể cưỡng lại (Gr 20,7.9 ; Am 3,3-8), kèm theGrGr 26,12 vtt). Một ý thức như thế phải là nhờ có hiệp thông với Thiên Chúa. * Tâm lý của công thức : "Đó là lời Javé phán". Nhưng xuất thần chỉ là ngoại lệ. Chủ yếu là thị kiến thấm sâu trong cách tư duy của ngôn sứ và trở thành trung tâm xuất phát của một cái nhìn về Thiên Chúa và về thế giới. Tinh thần xưa vốn coi những ý tưởng tự phát, hoàn chỉnh như ơn huệ từ bên ngoài ban cho, vì thế : "Đó là lời Javé phán". * Hai tiêu chuẩn của ngôn sứ thật. Công thức đó chung cho ngôn sứ thật và ngôn sứ giả. Đọc Gr 28, thì thấy rõ. Cho nên Jérémie nài đến hai tiêu chuẩn khả dĩ xác thực hóa sứ mệnh ngôn sứ : một là việc thực thi những điều đã nói trước (28,15-17), hai là sự phù hợp với giáo lý truyền thống.

III. NHỮNG SỰ KIỆN VĂN HỌC
1. Những thể loại ngôn sứ : Các ngôn sứ tố cáo dân kêu gọi thống hối, khuyên sống công chính, tin tưởng, đe
64

dọa phán xét, hứa ban phúc lành. Tương ứng là những thể loại văn học : Dụ ngôn, thị kiến, trình thuật, đối thoại, sấm ngôn, ca vãn, kinh nguyện, thư, thánh thi ... * Trình thuật (tự sự): chuyện danh nhân (Os 1), tự thuật (Os 3) ; giai thoại (2 V 19-22) ; Trình thuật ơn gọi Géđéon-Môsê-Jérémie ; ơn gọi Isaie - Ezéchiel. * Sấm ngôn : những lời long trọng công bố nhân danh Javé (Gr 19,11 ; 28,16). * Những loại thấp hơn : Ca vịnh, tự thú (ngôn sứ bộc lộ), dụ ngôn (Ed 15)... 2. Văn chương ngôn sứ. Có sức gây ấn tượng mạnh (Gr 36). Thể loại chuyện danh nhân, tự chuyện.

IV. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC LÀM NGÔN SỨ
1. Mặt tôn giáo * Vị trí các ngôn sứ trong mặc khải. Các ngôn sứ ở ngay trung tâm Cựu Ước. Kế thừa một truyền thống, họ giúp duy trì và phát huy truyền thống đó giữa thế kỷ 9 và 4, để rồi chuyển tới đạo Do thái, sau khi đã làm giàu nó. Họ sống những dữ kiện đã cố định thời Môsê : là độc thần về mặt luân lý. Họ sống truyền thống đó trước. * Đóng góp thần học. Thật là bao la phần đóng góp của ngôn sứ về thần học. Nhờ họ, người ta hiểu hơn tính duy nhất, thiêng liêng, siêu việt, toàn năng, công chính, thiện hảo, gần gũi của Thiên Chúa ; vạch rõ tính sâu nhiệm của sự tội và ân sủng, bản chất sự tội, việc chế tài ; nêu bật sự tiến bộ của chủ nghĩa nhân vị, gợi lên và trông chờ việc cứu độ tập thể, bằng cách đó họ viết tiền sử của Giáo Hội. Sau những sai lầm và bất lực của thời đại, họ đã mò mẫn bước đi hướng tới Đức Kitô là tận cùng của lịch sử. Họ không đến như những nhà cách mạng chực lật đổ trật tự đã thiết lập ; họ là những nhà luân ly,Ụ nhưng luôn đứng phía người nghèo.
65

Họ tố cáo sự tội. Nếu có bôi đen quá đáng người đương thời là vì theo cách của mọi nhà giảng thuyết, họ nhìn con người chỉ thấy cái làm hủy hoại mối quan hệ Thiên Chúa - con người. Đen tối nhất là nơi Jérémie (13, 22) và Ezéchiel. Nhưng chính từ đó, hai ngôn sứ đã đi tới khám phá giữa ơn Chúa và sự phục hưng luân lý của con người, những mối quan hệ và các tiền nhân của họ không thấy : Javé (theo Gr 24,7 ; 32,39) sẽ ban cho người Israel một con tim mới. Người ta thấy cuối cùng chủ nghĩa lạc quan của các ngôn sứ có cơ sở siêu nhiên. Họ tin ở sự toàn thắng của công lý và luân lý ở đời này, vì đó là ý định của Thiên Chúa và vì Thiên Chúa có quyền làm cho thành đạt và Người đã khởi sự lý tưởng đó nơi họ. * Ngôn sứ với việc phụng tự. Các ngôn sứ làm cho luân lý thấm vào phụng tự. Mikha 6,8, muốn thuyết phục : phụng tự không là yếu tố của đạo thật. Nhưng các ngôn sứ cũng không lên án lối nệ nghi thức. 2. Mặt xã hội Các ngôn sứ sở dĩ phản đối những lề thói cư xử xã hội của người đương thời là vì tôn giáo : họ muốn xây dựng một xã hội loài người xứng là dân của Thiên Chúa. Họ là những người mạnh mẽ bênh vực những quyền cơ bản của con người : tiền công, sở hữu, thiết lập một cộng đoàn nhân bản, đề cao lý tưởng bình đẳng và anh em. Nếu gọi họ là nhà cách mạng, thì phải nói họ cách mạng bằng tác động nơi nội tâm con người. Hướng về tương lai, họ trông chờ chính Thiên Chúa sẽ thực hiện xã hội đó. Vì đó mà lạc quan. Họ trông cậy nơi Thiên Chúa để phục hồi nơi xã hội mai sau bầu khí thật nhân bản, trong đó các con cái Thiên Chúa có thể sống (Dcr 8 ; Is 11,6-9 ; 19,23-25). 3. Ngôn sứ với chính trị Vì chú ý tới mọi vấn đề liên hệ tới niềm tin của Israel và mối quan hệ với Thiên Chúa, nên không thể không có một cái nhìn soi mói trên lãnh vực chính trị. Phản ứng, giáo huấn làm kinh ngạc. Thái độ của các ngôn sứ trước vấn
66

đề chính trị thật khó hiểu. Còn có người cho rằng có những vị sách động chính trị, có những vị làm mật vu, mật ước với nước ngoài : Elisée với Damas, Amos với Giuđa ; Isaie với Assyrie, Jérémie với Babylone. 4. Các ngôn sứ với Đức Kitô Các ngôn sứ chuẩn bị cho Đức Kitô. Đời sống, giáo huấn, sứ điệp của họ cung cấp cho nhận thức của Israel những dữ kiện nhờ đó một nhóm nhỏ người Do thái đã có thể nhận ra nơi Đức Giêsu, Đấng nhân loại đợi trông. Cho nên, không thể hiểu Đức Kitô, nếu tách Người khỏi đoàn ngũ đông đảo các chứng nhân và tiền hô đó. Măèt khác, chính Đức Kitô cũng cho một lối xử sự, thái độ, cử chỉ gợi lên sự tiếp nối các ngôn sứ. Về sau, các người chép Phúc âm làm rõ thêm. Cũng như các ngôn sứ, Đức Kitô trung thành với cái chính yếu của truyền thống, nhưng không lợi dụng những cái thứ yếu làm lu mờ ý nghĩa của nó. Vì chứng từ cơ bản là một, nên những thủ thuật sư phạm rất gần nhau. Các sách Tin mừng vang vọng lời nói rất mạnh mẽ của các ngôn sứ (Mt 23) ; cả những cử chỉ khiêu khích và gợi ý (Lc 4,17-21). Số phận đau thương bi thảm của các ngôn sứ, cũng đã đóng một vai khi Đức Kitô nói đến số phận của Người (Lc 13,33). Nhất là cảnh huy hoàng Tabor, Môsê và Elié đứng bên Đức Kitô : đó là bản tóm lược đoàn lũ ngôn sứ Cựu Ước. Đức Kitô đúng là ngôn sứ tuyệt vời (Cv 3,22-26 ; 7, 37; Ga 6,14). Chính sứ điệp của Người là Tin mừng giúp nhân loại cuối cùng hiểu được ý nghĩa lịch sử của mình.

CHƯƠNG II. CÁC NGÔN SỨ Ở THẾ KỶ VIII
Ta tìm hiểu các ngôn sứ kế tiếp nhau theo bốn nhóm : nhóm thế kỷ 8, nhóm thế kỷ 7 và 6 ; nhóm lưu đày
67

và nhóm thời Ba tư. Phương pháp lịch sử này làm nổi bật sự phát triển mà các ngôn sứ cùng với các tư tế và hiền nhân là những nhân chứng và những tay thợ.

I. AMOS (Am)
1. Môi trường lịch sử Môi trường của Amos là vương quốc Bắc thời Jéroboam II (784-744). Ai cập đang ngủ mê, Assur thì xa xôi, nên Israel có thể lấn Damas. Nhưng nền an ninh này mỏng manh, vì trước khi kết thúc thời rao giảng của Amos, tình hình đi lên của Assur bỗng làm xao động. TéglatPhalassar III (Assyrie) có mặt ở bờ Địa Trung Hải. Tuy nhiên, trước khi những thời kỳ biến động đó tới, ở vương quốc Bắc, nhờợ có triều đại từng cai trị suốt một thế kỷ nay, người ta được thấy một bước tiến lạ lùng của văn minh. Amos rất khó chịu vì sự xa hoa lãng phí trong việc xây dựng Samarie : đá đẽo, ngà voi, những đi văng sang trọng để tiếp khách, những biệt thự mùa hè, biệt thự mùa đông (3,12-15), những tiệc tùng thịnh soạn có bày hoa thơm, có nhạc (6,4-6) ; cả những cảnh hối lộ quan án ngay nơi cổng thành (2,6 ; 5,7. 10-12), chủ nợ biến con nợ thành nô lệ (2,6), những bọn buôn thành kẻ "ăn người nghèo" (8, 4 - 6). Như vậy, ông được Thiên Chúa chọn để đả kích tệ nạn của những tầng lớp bất công và cho một phán đoán luân lí về cách ăn ở của mọi người. Vào Đền thờ, ông thấy lạc lỏng : Béthel, từ đời Jéroboam I vẫn cứ là đền thánh của nhà vua, ở đó Javé được trình bày là một con bò ; Dan, rồi Gilgal. Phụng tự cực kỳ lộng lẫy, lễ nghi thì nhiều quá (8,5). Sang trọng đi đôi với vô luân (2,7). Đạo thờ Baal đã hủy hoại đạo thờ của Israel. 2. Con người Amos sinh ở làng Téqoa, miền Juđa, làm nghề chăn chiên, được sai đi chọc trái sung. Amos không thể không quen biết các nhà hiền triết, đại diện nền nhân bản hồi đó (2V 14,2), thông thạo các
68

nước lân cận. Ông quen sống miền hoang mạc, nên ghét thành thị và những tiện nghi, cũng như những bất công nhan nhãn ở đó. Việc gọi ông được kể ở loạt các thị kiến (1, 8). Đoạn 3, 38 vang vọng cách thế ông đáp lại ơn gọi "Hai người đó cùng đi đường và làm quen với nhau. Đó là Javé bày tỏ ý định mình cho tôi tớ Người, là vị ngôn sứ ; con sư tử đang gầm thét kia không là ai ngoài Javé, mà cái bẫy chim như lưới chụp lấy nhà ngôn sứ, cũng chính là Người". Thánh đền Béthel là nơi độc nhất ở đó hành động của vị ngôn sứ được kể rộng rãi. Nhưng chắc ông còn giảng nơi các nữa trong xứ (1,10), nhất là ở Samarie (3, 9 11 ; 4,1-3 ; 6,1-7), rồi Gilgal nữa (4,4). Theo 1,1 thì ông khởi sự làm ngôn sứ trước Hôxê, nhưng ông kết thúc việc rao giảng, khi Hôxê cũng như Isaie bắt đầu hoạt động. Hoạt động của ông hẳn đã diễn tiến vào thời mà chưa ai nghĩ đến hoặc muốn nghĩ đến hiểm họa Assyrie, hoặc giai đoạn 2 triều đại Jéroboam II giữa 760 và 774 chấm dứt sau khi Téglat Phalazar lên ngôi sau cuộc chinh phục Gat ở Philistie (735). Nhiệm vụ của Amos chắc là những cuộc can thiệp vắn tắt, rải rác trong một thời kỳ dài lâu từ sau 765 đến sau 725. Văn phong cụ thể, ý vị, trực tiếp. Hình tượng mượn ở đời sống mục tử. Một loạt câu hỏi hay bản liệt kê chuẩn bị cho một việc quyết liệt. Nghệ thuật chấỤt vấn cử tọa. Tất cả : một nhà thuyết giáo bình dân biết thu hút quần chúng và nói chuyện với họ. 3. Tác phẩm Những yếu tố ban đầu : - những tư liệu hùng biện ; phần nhiều là những bài vắn và căng thẳng (1, 2; 3,2 ; 5,16 ...; 7,9...) - những mảng tự chuyện : một loạt năm thị kiến (7,1-9 ; 8,1-3 ; 9,1-4) ; - một bài tiểu sử (7, 10 - 17). Cũng có những bài thơ dài. Thích nhịp điệu công thức, chơi chữ, láy đi láy lại ... là những cái thuộc văn chương hùng biện ; Dựa vào các tư liệu đó, mà biên tập.

69

Sách không theo một thứ tự thời gian, chỉ giữ được cung giọng nhất quán : những lời đe dọa và những lời chúc dữ. Nhưng cũng đã ló dạng những viễn cảnh hạnh phúc. 4. Sứ điệp Amos rao giảng trước hết chống não trạng tự nhiên chủ nghĩa thời đó ; như Eliê trước ông, Amos qui về Javé mọi thuộc tính mà người đương thời muốn gán cho Baal : quyền lực trên hoàn vũ, phong nhiêu (4,4-12). Nhưng Thiên Chúa của Amos còn là Đấng hơn Baal, Thiên Chúa này "biết" (3, 2) Israel với thái độ ưu ái, âu yếm của từ đó. Những can thiệp của Thiên Chúa trong lịch sử là dấu chứng thái độ đó : xưa, xuất Ai cập và chiếm Đất ; rày : những đổ vỡ hoàn vũ, tiếng Thiên Chúa "gầm thét từ Sion" (1,2) và tiếp tục làm chỗi dậy (2,11), chọn lấy (17,15) những ngôn sứ. Người nhằm Israel giữa các dân. Đúng là nhiệm vụ Amos ở tại loan báo cuộc gặp gỡ sắp tới, phũ phàng giữa Thiên Chúa và dân Người (4,12). Đặc điểm cuộc "vượt qua" này (5,17) bất ngờ, sẽ là một "ngày tối tăm" và "không ánh sáng" (5,18-29), một dịp tàn sát (6,8-11) đánh cả Israel, nếu không nói là còn hơn thế nữa, ít ra như các dân xung quanh, không ai thoát. Những điều tố cáo Israel thì muôn vẻ. Nhưng ngoài tính lập lờ trong việc phụng tự (5,26 ; 8,14), còn có sự giả hình (5,4), coi thường công bình (5,7. 24 ; 6,12). Tình nghĩa anh em do các khế ước thiết lập đã bị bỏ quên (1,9). Những câu cuối (9,11-15) cho thấy ngày của Javé, ngày Thiên Chúa phán xét, sẽ không chấm tận lịch sử Israel. Amos có sứ mệnh kêu gọi vương quốc Bắc trở về với Javé, sau này với Giuđa, nhà Đavit đang lao đao do lỗi của những tay võ biền ở Samarie đã làm tường thành Giêrusalem nứt rạn (9,11) ; nhưng đã hứa sẽ phục hưng. Chính Amos ngoan cường kêu gọi Israel hướng tới sự phục hưng đó của Thiên Chúa, tức là ơn cứu độ.

II. HÔSÊ (Hs)
70

1. Tác phẩm. Nhìn qua thì sách Hôsê có vẻ lộn xộn, nhưng thật ra nó cũng được sắp xếp theo một trật tự có thể nhận ra. Có hai sách nhỏ. A. 1 - 3 : Đời sống vợ chồng của Hôsê và những quan hệ Thiên Chúa - Israel. 1 là một trình thuật tiểu sử do một môn đồ mà ra ; 3 là tự truyện ; 2 là một suy tư về quan hệ Thiên Chúa - Israel. Theo Good (The composition of Hoses), các chương này được sắp xếp theo một lối đối ngẫu chéo, theo một thứ tự đã được ngiên cứu và phải tuân giữ. Hai trình thuật : 1,2-9 và 3,1-5 được tách ra bởi 3 sấm ngôn : 2,1-3 ; 4-17 ; 18-25. Trình thuật 1 giới thiệu người vợ và tên các con ; sấm ngôn 1 loan báo một kết cục may mắn và chú giải tên các con ; sấm ngôn 2 trình bày một sự thất trung, hình phạt và sự phục hồi danh dự cho người vợ ; sấm ngôn 3 mô tả một kết cục may mắn, lại nhắc tên các con ; rồi trình thuật 2 lấy lại sấm ngôn 2 : thất trung, hình phạt, phục hồi danh dự người vợ và sấm ngôn 1 : kết cục may mắn. B. 4 - 14 : những sấm ngôn làm thành các chương này không nhất thiết phải có sau 1-3 ; thật vậy 4,1-5,7 có thể phản ánh thời kỳ yên tĩnh của Jéroboam II ; nếu vậy, những câu này sẽ đồng thời với 2,4-15, trừ khi chúng có trước những câu đó. Như thế, người ta đoán được là Hôsê đã rao giảng trước khi cưới vợ và cái biến cố cưới vợ chắc đã đem lại cho sự điệp của ông một giá trị đặc thù, thì cũng không phải ở tận ngọn nguồn của sứ mệnh ngôn sứ của ông. Phần sấm ngôn kế tiếp này có thể chia hai phần : * 4,1 - 9,9 : giải thích tình huống hiện tại ; 4,1 - 5,7 nhắc đến sự kế thúc triều đại Jéroboam II. Phần tiếp gợi lại tình hình chính trị đang suy thoái / chiến tranh syro-ephraim : 5,8 - 6,6, vô chính phủ nội bộ : 7,3 - 7 ; 8,4 ; 10, 3. 15, làm chư hầu Assyrie thời Menahem : 5,13 ; 7,11 ; 8, 9 ; 10,6 ; 12,2 kêu gọi tới Ai cập thời vua Osée : 7,11 ; 9,6 ; 12,2. * 9,10 - 14,9 đưa tới một suy niệm về nguồn lịch sử Israel : nhìn lại quá khứ đó người ta muốn tìm ra những
71

lỗi lầm đương thời : Giacop, hay một hình tượng có thể đem lại giá trị cho những thực tại của hiện tại : Môsê (12,13 vtt). 2. Con người Ngoài hôn lễ bí nhiệm, ta không biết gì nhiều về con người Hôsê. Nhưng lối so sánh ông rất năng dùng cho thấy một trí tưởng tượng mãnh liệt, lại là những hình ảnh đầy âu yếm tế nhị (11,1-4) có sức mạnh (9,10-17), nên người ta có thể định nghĩa Hôsê là một "tâm hồn tinh tế và thâm thúy, nhiệt tình, vừa âu yếm vừa mãnh liệt, một bản chất kiểu các con của Zébédée". (E. Osty) . Người ta nghĩ ông gốc ở vương quốc Bắc, vì ông biết những thành ở đó và giải thích lịch sử ở đó, còn Giêrusalem thì ông không hề nhắc đến. Ông bắt đầu giảng cuối triều đại Jéroboam II (782-753). Câu ông hay nói đến : "sự hiểu biết Thiên Chúa" giúp nhận ra ông có quan hẹ với các tư tế. Hôn nhân của Hôsê. Chứng từ của Hôsê không chỉ bằng lời nói, mà bằng cả đời sống : một sứ điệp đã sống, do nó có cái thân thiết nhất nơi ông : mối tình gắn bó của ông với một người vợ, hôn nhân của ông. Tấn kịch phu thê mà nhân vật chính là Hôsê được kểỵ thành hai trình thuật. Trình thuật 1 cho biết Hôsê lấy vợ theo lệnh Chúa, là một người "đàn bà đĩ điếm", sinh 3 trai, mà ngôn sứ đặt tên biểu tượng (c.1). Trình thuật 2 kể rằng Hôsê yêu một người đàn bà, tuy người này đã có những lần ngoại tình, ông bắt nàng qua một thử thách, làm cho người bất trung từ đây sống trung tín (c.3). Có nhiều cách giải thích hai cuộc hôn nhân đó. Cách giải thích được ưa chuộng hơn, là thế này : người đàn bà mà Hôsê cưới làm vợ, Gomer, phạm một tội ngoại tình tái phạm. Tuy được vị ngôn sứ chọn, (c.1) mặc cho những tiền sử của nàng, nàng vẫn tiếp tục hư hốt như trước hôn nhân. c.3 nói rằng Hôsê không vì thế mà không tiếp tục yêu nàng để rồi cuối cùng đưa nàng tới cuộc sống tốt. Các nhà giải thích nhận rằng "người đàn bà đĩ điếm" nói ở c.1,2 gắn
72

với việc bội giáo của dân (4,12 ; 5,4) khi họ tham gia những lễ tế ca tụng sự sinh sản. Có người lại cho là Gomer đã hiến sự tinh khiết mình cho nữ thần sinh sản, theo một lễ tục được biết trong phần lớn miền Đông Địa Trung Hải. Chính lúc đó, vị ngôn sứ cưới nàng làm vợ. Nàng trung thành một thời gian, được 3 con, rồi có quan hệ ngoại tình chứ không liên quan gì tới lễ tục trước (c.3). Người khác lại cho là Gomer trước và sau hôn nhân đã làm đĩ, trongkhi ít nhiều có làm nô lệ tế thần hay gái điếm thiêng thánh (413 vtt). Một số còn nói rằng các con được gọi là "con của điếm" vì không phải của Hôsê. Đằng sau những cái bất chắc đó ; tính biểu tượng chung của câu chuyện đã rõ. Hôn nhân với một người gái điếm gợi lại những liên hệ giữa Thiên Chúa với một dân thờ Baal ; những tên gọi xấu được đặt cho các người con gợi đến hình phạt Israel phải chịu. Việc nhốt Gomer tượng trưng cho việc thanh tẩy của một cuộc lưu đày ; tình yêu của ngôn sứ đối vợ chỉ lòng lân tuất Thiên Chúa kiên trì đối với dân Người và báo trước những quan hệ tốt. 3. Sứ điệp Sứ diệp của Hôsê phát sinh từ 3 kinh nghiệm : khôn ngoan của một xã hội ngày càng thu mình trong lối sống không phù hợp niềm tin Javit - Khôn ngoan do sự tiếp xúc với giới Lêvit, đề xuất một cách hiểu tình hình Israel đối diện với Thiên Chúa ; - Khôn ngoan đời sống vợ chồng giúp các ngôn sứ lĩnh hội rõ và rao giảng tốt hơn một khía cạnh cho tới đó chưa biết, trong thái độ Thiên Chúa đối với dân Người. - Kinh nghiệm xã hội - chính trị : Hôsê tố cáo các thói tục chính trị, lên án sự độc ác truyền kiếp của nhà Jéhu, những vụ chính biến, ám sát ; những thủ đoạn khi đặt người kế vị, khác xa nguyên tắc Javé chỉ định vua (qua đoàn sủng) ; chỉ trích sự vô ý thức, hay thay đổi và sự điên rồ của một chính sách tìm liên kết với các dân nước ngoài rất tai hại. Ông không chỉ trích vương quyền, nhưng chỉ trích tình trạng bè phái vương quốc Bắc ; ông chỉ thấy giải pháp cứu
73

vãn tình hình ở việc toàn dân tộc tập hợp quanh triều đại Đavit (3,6) ; ông lên án cái gu duy vật đối với sự phồn thịnh đến quên lãng Thiên Chúa. - Sự hiểu biết Thiên Chúa. Môi trường Lêvit ảnh hưởng đến Hôsê nhiều nhất. Ở đây ông đã học được sự hiểu biết Thiên Chúa : các giới răn Thiên Chúa đã ban hàhh xưa và nay dân phải giữ. Ngoài ra sự hiểu biết Thiên Chúa còn bao gồm sự nhìn nhận những việc Thiên Chúa đã làm trong lịch sử : xuất Ai cập, chọn và gìn giữ luôn, nhìn nhận những ân huệ hiện tại. Thông đạt sự hiểu biết đó là nhiệm vụ các tư tế (4,4-10). Thông đạt tốt, sẽ giúp Israel hiểu những liên hệ Thiên Chúa muốn thiết lập với họ. Javé khước từ mọi sự lây nhiễm các thần Canaan. - Kinh nghiệm phu thê. Từ sự hiểu biết Thiên Chúa, phát sinh tình thân nghĩa. Nhưng thay vì đáp trả, con cái Israel đã bị lèo lái bởi một "tinh thần đĩ điếm" (4,12 ; 5,4) : Israel đã bỏ Javé, đổi Javé lấy một thần khác (4,7), để thờ các Baal, để giữ lễ bái có những xen đĩ điếm. Nhưng sở dĩ nói vậy, là vì cái mà cái chính vị ngôn sứ đã cảm biết. Người vợ ông yêu đã bỏ ông đã làm đĩ. Nhưng Hôsê không thôi yêu nàng, dù ông có đủ lý lẽ để báo thù. Kinh nghiệm chủ yếu : nó giúp hiểu ý nghĩa sự tội của con người, thái độ kiên nhẫn của Thiên Chúa yêu thương, không vì bất trung mà ngã lòng, trái lại, ban cho dân ngoại tình món quà lạ lùng, là một tình bạn âu yếm, trung thành, kiên định mãi (2,21).

III. MIKHA (Mk)
1. Thời đại và con người
74

2 V 17-20 gợi lên một thời kì Mikha sống : thật bi đát. Bá quyền Assyrie bành trướng đến độý chiếm Samari (722), bao vây Giêrusalem do Sennachérib (701), đất đai bị cắt xén và thiết lập một quyền bá chủ dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng (2V 21). Mikha sinh ở Moréchèt (1,1 ; Gr 26,17), gần Philisthie mà người Assyrie chiếm (1,10-15) ; ông chạy nạn đến Giêrusalem. Là người nông dân miền Tây nam, ông cảm nghiệm cách mạnh mẽ gương mùợ của bất công xã hội của tầng lớp quý tộc thủ đô, nhân cách cương nghị (3,8), giống Amos. Ông công bố những sấm ngôn rất giống với sấm ngôn của Isaie cùng tuyên sấm đồng thời. Nhưng người dân quê này đưa ra những suy tư phải làm chạnh lòng người đồng thời quý phái của ông (số phận Sion 3). Ông lớn tiếng chỉ trích tư tế và ngôn sứ, mà ông không có giao thiệp gì : ông chê trách tính gian dối của họ ; nhất là ông lên án lối thần bí giả hiệu từng gợi hứng cho họ (3,11-12); sau này người ta sẽ nhớ mãi sấm ngôn của ông chống Đền thờ (Gr 26,18). 2. Tác phẩm Cấu trúc của cuốn sách có tính ước lệ : 1-3 (trừ 2,12 vtt) : đe dọa ; 4,1-5,8 : lời hứa ; 5,9-7,6 : đe dọa ; 7,721 : lời hứa. Nhưng tính xác thực của những yếu tố không chắc. Toàn bộ các lời đe dọa được gán cho Mikha : 1-3 (trừ 2,12 vtt) và 5,8-7,6 : 5,9-13 thì gần với Isaie 2,6-8 ; 5,14 có thể là được thêm vào ; 6,7 nhắc đến việc hiến dâng các con đầu lòng, thì phải có trước 721. Các lời hứa càng bị bàn cãi nhiều hơn : 7,7-20 là phụng vụ gồm bốn mảng, được coi như sau lưu đày,và chắc không thể là của Mikha. Tuy nhiên, H.Cazel- -les khám phá ra trong bản văn những yếu tố địa lí và lịch sử biện hộ cho tính xác thực của cuốn sách. Cho nên, vấn đề chưa ngã ngũ. 3. Sứ điệp Mikha tóm tắt sứ điệp mình trong mấy tiếng : 3,8 ; bi thảm, nhưng chủ đề làm cho sứ điệp có sức mạnh, bởi lẽ Mikha ý thức về sự chống đối mà lời các ngôn sứ gặp phải
75

(2,6 vtt) nên ông biết rằng thỏa hiệp sẽ đưa nhà giảng thuyết tới chỗ mất đoàn sủng và bị nhục nhã (9,5-7). Mikha loan báo các thủ đô Samarie và Giêrusalem phải xét xử, mà dấu báo trước là những cuộc xâm nhập của Assyrie đã phá hoại thành phố quê hương ông. Lí do phán xét là tội thờ ngẫu tượng, nhất là bất công xã hội (1,2-7 ; 2,1-11), mà các thành phần nhà Omri là mẫu (6,16). Lí do còn là tính hai mặt mà người ta cắt nghĩa các truyền thống xa xưa của niềm tin (2,6 vtt ; 3,11). Trái với Amos, Mikha không tương đối hóa các giáo điều truyền thống. Chúc lành cho Jacob (2,7). Việc Javé ngự tại Sion (3,1), cả xuất Aicập nữa (1,15). Chính dân chúng đã tương đối hóa những việc đó bằng cách sùng mộ một cách giả tạo thôi. Người Israel đã phá vỡ quan hệ Thiên Chúa - Israel, thì họ kéo tới hình phạt. Tuy nhiên, sứ điệp Mikha đầy hy vọng, nếu không phải cho toàn dân, ít ra cho số sót (4,7 ; 5.2.6.7), họ sẽ nhớ lại những việc lớn lao Javé làm (6,5), sẽ hiểu biết những đòi hỏi của Người : công bình, khiêm tốn... Sau hết, Mikha tin vào việc các lời hứa với Đavit sẽ thực hiện : chắc chắn từ dòng dõi vinh quang, sẽ sinh ra một vua biết thống nhất vương quốc và cai trị theo cách thế của Thiên Chúa (5,1-4).

IV. ISAIE (Is)
1. Con người và cách thế Thường một cuốn sách của vị ngôn sứ Kinh Thánh nói ít về tác giả. Sách Isaie không vượt ngoài thông lệ đó. Nhưng dù chỉ cho ít ánh sáng mờ mờ, cuốn sách cũng làm chứng chính xác một đặc trưng của Isaie. Điều nổi bật nhất nơi con người của Amos, đó là một sự dè dặt nào đó, một sự kín đáo gây ngạc nhiên. Isaie là một người quí tộc, một nhà trí thức có hạng, một nhà thần học, nhân chứng đáng để ý nhất cho một trào lưu suy tư thần học : Thiên Chúa Thánh, tỏa lan trong khắp Kinh Thánh. Ông còn làm người ta ngạc
76

nhiên vì ông rất ít nói về tất cả những gì ông thấy nhờ chiêm ngắm (1,2). Ông khác hẳn với Ezéchiel bồng bột. Vì là quí tộc, ông có những quan hệ với các giới cầm quyền : ông chất vấn mạnh mẽ một nhân vật có địa vị cao (22,15-23) ; ông ngỏ lời với nhà vua ; đang khi Amos không làm, còn Jérémie (7,4-12). Ông có thiện cảm với tầng lớp rất thân của mình, nhưng ông biết những yếu đuối của nó và ông phải có lý do nào đó để dành cho những người nghèo việc vào trong cộng đoàn được cứu. Nhất là, vì là người cư dân Giêrusalem, ông yêu mến thành, ông rao giảng tại Giêrusalem từ năm Osias chết, dười thời các vua Jotham (740-736), Achas (736-716) và Ézéchias (716-587). Trong thời kỳ này, Damas (732) rồi Samarie (721) đổ. Mối nguy Assyrie xâm lược Giêrusalem đang rõ dần, đưa đến chiến dịch của Senanchérib (701) không chiếm được thành nhưng bắt triều cống nặng. 2. Tác phẩm Trong cuốn sách Isaie theo thư qui (1-66) giới phê bình hiện đại từ thế kỷ XVIII trở đi nghĩ là có nhiều mảng phải xuất từ những thời kỳ khác nhau, mà nhà xuất bản nhập làm một. Ý tưởng về một Isaie II (40-66) được viết cuối lưu đày, trở thành ý kiến cổ điển vào thế kỷ XIX. Từ Duhm (1892), người ta nói đến một Isaie III (56-66) được viết sau lưu đày về. Ngày nay những ý kiến đó đã thành một điều xác thực. Tuy nhiên, dù nhận có những dị biệt căn bản, giới phê bình vẫn ngày càng thấy chú ý tới những điểm giống nhau, nếu không phải là những liên hệ đích thực nối kết các phần từ đây người ta phân biệt đó. Đọc nhanh một lượt cuốn sách, người ta thấy ngay nó gồm những mảng văn khá đồng chất, nhưng rõ ràng khác biệt nhau, do được biên tập ở những thời kỳ khác biệt nhau. Người ta sắp xếp phỏng chừng thế này : - 1 - 12 : Những sấm ngôn về Giuđa và Giêrusalem (của Isaie) - 13 - 23 : Những sấm ngôn về các quốc gia (của Isaie)
77

- 24 - 27 : Những sấm ngôn gọi là "đại khải huyền của Isaie" (Sau lưu đày) - 28 - 33 : Sưu tập những tai ương (của Isaie) - 34 - 35 : Những sấm ngôn gọi là "Tiểu khải huyền của Isaie" (Sau lưu đày) - 36 - 39 : Phụ thêm lịch sử (do nhà viết sử về sau) - 40 - 55 : Isaie II (hết lưu đày) - 56 - 66 : Isaie III (lưu đày về). Chương này ta chỉ nghiên cứu theo lịch sử thực, nên chỉ xét đến những phần thật sự của Isaie : 1-23 ; 28-33. Is 1 - 23 ; 28 - 33 Có những dữ kiện đưa đến kết luận là các bản văn của Isaie trải qua một lịch sử xao động : Trước hết là việc có hai đề mục : 1,1 và 2,1. Sự lặp lại đó cho người ta giả thiết lúc đầu có hai tác phẩm khác biệt, mà các câu đó khởi đầu. Rồi, giữa toàn bộ 2-12, có một tập hợp ăn gắn (6,1 - 9,6) dường như được xen vào giữa một loạt bản văn... Điều xem ra hiển nhiên, là 6,1 - 9,6 làm thành một toàn bộ, dù gồm những thể văn khác nhau. Nhưng trước và sau cái mà người ta gọi là "sách về Emmanuel", người ta gặp thấy những sấm ngôn đầu hết phải đã thống nhất hóa. Một tập nhỏ gồm ít ra 5,8 - 25+9, 710,7 và có lẽ cả 2,1.6-4, 1+5,1-7, bị lạc lõng do việc xen "sách Emmanuel" vào : 6,1-9,6. Lý do vì các môn đồ thích triển khai về Emmanuel ngay giữa lời giảng của ngôn sứ. Các bản văn Isaie kết thúc bằng phụ chú lịch sử : 36 - 39. 3. Thừa tác vụ và sứ điệp Thị kiến mở đầu : 6 Biến cố này xảy ra năm 740 ; nhưng việc biên tập đòi một kinh nghiệm nào đó trong sứ mệnh ngôn sứ, thì mới hơn. Muốn hiểu chương đó, trước hết phải giải thích hình ảnh ngôn sứ đã dùng để thể hiện ông kinh nghiệm ông có trong Đền thờ. Các vật dụng toàn là những vật dụng chứa trong Đền thờ, được dùng làm nền cho hình ảnh : ngai cao, các Séraphins, khói, than đỏ, bản thờ... Đó là những yếu tố truyền thống của đạo độc thần ; người ta cũng gặp thấy nơi
78

giai đoạn II của việc giải thích chương này lược đồợ văn học của một trình thuật ơn gọi. Thị kiến này còn hơn là một trình thuật ơn gợi, đây là bài tổng hợp dày hình ảnh hết mọi chủ đề thần học mà ngôn sứ sắp triển khai. Thiên Chúa thánh. Khái niệm thánh khó mà lĩnh hội trên văn bản, nó chỉ một thực tại được tách biệt, được đặt riêng ra (Ed 44,23), vì cái sức mà nó có và là cái làm nó đáng sợ (Ds 4,15.20). Nhưng đôi lúc sức khủng khiếp đó trở thành có thể đạt thấy : nơi mà Môisê đứng là thánh, đáng sợ ; nhưng là nơi của Thiên Chúa ; Đấng tách biệt, Đấng vô hình giữa bụi gai, thông đạt tên mình (Xh 3). Vì thế, sự thánh thiện Thiên Chúa, đồng nghĩa với tính siêu việt, sự cách biệt, nhưng đồng thời cũng đồng nghĩa với gần gũi. Thực tế, sự thánh thiện của Javé đã ăn sâu trong cách ứng xử của dân, đến độ nó trở thành nguyên lý đảm bảo sự can thiệp của Thiên Chúa chống những người tội lỗi (Am 2,7 ; 4,2), hoặc cử chỉ lân tuất của Người (Os 11,9). Isaie ý thức hơn ai hết về sự siêu việt được diễn đạt bằng tính từ ba lần lặp lại mà các Séraphins công bố, mặc dầu dưới cánh. Ông biết việc gặp gỡ giữa người có tội với Đấng ba lần thánh là kinh khủng thế nào, và do đó, cần có một sự thanh tẩy bằng lửa và phán xét. Nhưng ông cũng biết rằng Đấng Thánh hiệp thông với loài người. Ông xác tín điều đó, đến độ ông là người đầu tiên nói đến : "Đấng Thánh của Israel" (5,19,24,...) ; Đến Thiên Chúa rất cao, kinh khủng, làm khiếp vía, nhưng tự hạ thành gần gũi, "Thiên Chúa ở cùng chúng ta" đã đi vào quan hệ với dân Người, Người, "Đấng Thánh của Israel". Với toàn dân ? Không. Với Số Sót. Những sứ điệp đầu tiên : giữa 740 và 735. Những bài giảng đầu tiên của Isaie được bảo tồn trong mấy đoạn : 2,6-22 ; 3,1-15 ; 3,16-4,1 ; 5,1-7 ; 824+10,1-4 ; 9,7-20+5,25-30. 5,1-27 là bài thơ có tiếng, bài ca vườn nho, một trong những bằng chứng của nghệ thuật điêu luyện của Isaie.
79

Các câu 2,6-22 là một chuỗi những đoạn của Isaie, được nối kết bởi một điệp khúc. Những câu này cho thấy một Isaie đã biết băn khoăn khi thấy Giacop quá mong chờ sự giúp đỡ của loài người : các thày bói, ma thuật làm hủy hoại niềm tin, vàng, bạc, ngựa, xe. Là vì những cái đó bày tỏ ý muốn dùng uy lực của con người, cuối cùng đẩy họ tới "thờ những sản phẩm tay họ làm ra". Nhưng, nhờ thấm nhuần lời dạy của các hiền nhân ông xác tín rằng lý tưởng ông đề xuất sẽ có ngày trở thành thực tại. Đó sẽ là ngày của Javé : Con người bấy giờ rũ sạch mọi trợ lực giả tạo, sẽ thấy mình đơn độc trước Javé oai hùng. Nhưng kìa mối đe dọa Assyri đang lên ở chân trời (9,7-10,4+5,25-30) ; cần làm cho Giuđa suy niệm bài học mà Samarie đã trải qua. Thời chiến tranh Syrie Ephraim : giữa 735 và 732. Giữa thời đầu của vương triều Achaz và việc Damas sụp đổ, Isaie can thiệp vào nhằm làm thay đổi đường hướng chính trị của vương quốc. Nhưng vô ích. Nhà ngôn sứ thấy mình trơ chọi với mấy môn đồ (8,16). Vào thời này, ông tuyên sấm liên quan đến Emmanuel : 7,8.9, 1-6. 7,1-9,6 là một sứ điệp kêu gọi hy vọng. Các vua liên minh Damas và Samarie có ý bức Achaz của Giêrusalem liên minh với họ chống Assyrie. Achaz từ chối, họ xâm chiếm Giuđa nhằm lật đổ vua đặt người khác lên thay theo ý họ. Hoảng hốt, Achaz làm một cử chỉ có ý nghĩa : hiến tế con trai cho các thần tượng (2V 16,3), bằng cách đó chứng tỏ rằng vua chỉ trông vào các thần để vương quốc thoát nạn... Isaie can thiệp, để tuyên bố những sấm ngôn mà giới chú giải cho là "đoạn sách có lẽ gay go nhất của tất cả Cựu Ước". Thật ra vấn đề chú giải các câu đó sẽ không phức tạp, nếu người ta chịu tìm nơi chúng chỉ sứ điệp mà nhà ngôn sứ đề xuất... Mục đích đầu tiên của Isaie không nhằm mô tả người kế vị mà ông quyết là gần đến lắm rồi, cũng không để giới thiệu mẹ Người ; ý của ngôn sứ trước hết là tuyên ngôn rằng trong thời buổi khẩn thiết cực kỳ này, Thiên Chúa, một lần nữa "đang ở với" dân của Người :
80

Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Sự hiện diện mà truyền thống Do thái giáo kể là một tín điều đó (Mk 3,11), đòi dân phải gắn bó tin tưởng. Achaz không biết nghe lời ngôn sứ. Nhưng Thiên Chúa không vì thế mà bỏ dân Người. Thiên Chúa "ở cùng chúng ta". Người sẽ tỏ sự hiện diện của Người ra để mô tả việc tỏ bày tỏ đó, Isaie công bố những lời, qua đó, người ta hé thấy rằng nhà ngôn sứ loan báo một sự can thiệp của Thiên Chúa, vừa là một việc xét xử đối với những ai không tin ở Javé và không hưởng ứng lời ngôn sứ, vừa là một cử chỉ cứu đối với số ít những người khác. Isaie cho một dấu hiệu của sự can thiệp đó : triều đại đang lâm nguy, triều đại sẽ được cứu. Đằng sau những lời công bố đó là lời hứa Nathan chuyển giao cho dòng Đavit (2Sm 7). Làm thế nào ? Chính lúc này hiện lên hình ảnh người con và bà mẹ người con đó. Đã hẳn, sự gợi ý đó dựa vào một tư liệu lấy ở hệ ý thức vương hoàng thời đó và ở các thơ ca diễn tả nó. Người con và bà mẹ của người con đó được mô tả bằng những từ ngữ gần với những từ ngữ Mica đã dùng và rõ ràng có mùi vị huyền thoại (5,1 vtt) : Lương thực dành cho người con là sữa và mật là những món ăn gọi lại sự ngọt ngào của một thời vàng son. Như thế là Thiên Chúa sắp đem đến vị vua lạ lùng mà các nước Phương Đông Cổ mong đợi... Về bà mẹ, Isaie chỉ mô tả theo cách thế của những thơ ca phụng vụ, nhưng cũng cho thấy một sự chú ý đặc biệt tới bà mẹ đó. Dù sao, những lời của Isaie sẽ là liều thuốc kích thích mạnh cho niềm hy vọng của Israel, buộc họ thừa nhận rằng không vua nào trong các vua của họ thực hiện được toàn bộ các lời hứa và hy vọng của họ, làm họ chờ một vua cuối cùng ứng nghiệm mọi lời ngôn sứ. Chung quanh việc chiếm Samarie (722). Có lẽ Isaie bắt đầu nói khi Samarie bị đe dọa, hoặc đã bị bao vây : 28,1-4 ; 28,7-22, có thể cùng thời, hoặc muộn hơn, vì Isaie trình bày ở đây những ý tưởng mà sau này ông năng lấy lại. Đây còn là việc lên án những "nơi ẩn" loài người mà các chính khách lần này phải tìm nơi các tư tế
81

và ngôn sứ. Tuy nhiên, giữa một chương đầy giọng đe dọa sáng chói một lời sấm, vì một "viên đá quí" gọi là đá góc tường sẽ là nhân chứng tại Sion cho một sự cứu rỗi mà những người tin sẽ được hưởng. Âm mưu chống Assyrie thời Ézéchias (723-703) Người ta có lẽ mà đoán rằng Isaie đã góp phần vào công cuộc cải cách tôn giáo phát động bởi Ézéchias. Qua các lời sấm của ông, người ta biết được những biến cố xâm chiếm sân khấu chính trị quốc tế ảnh hưởng tới thái độ nhà vua và làm tổn hại đến công cuộc cải cách của vua. Đó là việc chiếm Gaza và Ashdod (Is 20), phái bộ Babylon và đề nghị của họ âm mưu chống Assyrie (Is 39), những đề nghị của Ai cập nhằm xúi giục các quốc gia ở Paletine (Is 18). Khi Sargon chết, nổi loạn khắp nơi. Isaie có ý ngăn Giuđa khỏi rơi vào cạm bẫy của việc liên minh với các nước ngoài, đã cất tiếng tố cáo các chính khách của vương quốc. Chỉ Javé là Đấng không ngoan độc nhất, có thể vạch ra những kế hoạch hữu hiệu và bảo đảm (19,1-15). Chiến dịch của Sennachérib (701). Mặc cho Isaie, nhà vua tán thành đề nghị của Ai cập. Thế là Assyrie phản công. Phải phòng ngự Giêrusalem và chuẩn bị bao vây (22,9-11). Sau khi càn khắp miền, Sennachérib vây Giêrusalem, nhưng rồi bỏ, không vào. Theo 2V 18,14-16, song song với lịch sử Assyrie, Ézéchias nhận nộp thuế nặng. Tài liệu Assyrie không nói, nhưng các tác giả Kinh Thánh coi việc bỏ đi như vậy là một thất bại của Sennachérib và là kết quả của sự can thiệp của Javé. Các lời sấm của Isaie thời này cho cố gắng của ông suy nghĩ để hiếu được lịch sử thời mình, nhằm tìm cho ra ý định của Thiên Chúa phản ánh nơi cái gì. Ông rút ra một thầợn học về lịch sử : chiến tranh là hình phạt tội lỗi, nhưng tội không hủy bỏ lời hứa gìn giữ, gằn liền với việc chọn Giêrusalem và triều đại (37,35) ; người ngoại giáo nhận hình phạt, nhưng không biết vai trò mình, họ gán thành công cho mình, vì thế họ cũng đáng phạt như Israel.
82

Trong những sấm ngôn của ông thời kỳ này, vị ngôn sứ hoàn thành một suy tư đã khởi sự từ lâu ; lúc này chỉ trơ trọi với mấy môn đồ, ông hiểu rằng rồi chỉ còn lại một Số Sót gồm một ít tín đồ biết nghe lời ông (7,9 ; 8,1223) Số Sót gồm những người nghèo đến ẩn ở tại Sion (14,28-32 ; 29,15-20). Sau cùng niềm tin vào Đấng Cứu Thế của ông giúp ông khẳng định rằng Số Sót sẽ quây quần bên Đấng mà Thiên Chúa đặt viên đá quý ở Giêrusalem ; là vua, là Đấng được xức dầu, là Đấng cứu thế (28,16 vtt)./.

CHƯƠNG III. CÁC NGÔN SỨ THẾ KỶ VII VÀ ĐẦU THẾ KỶ VI
Thế kỷ VIII là tuổi vàng của Assyrie. Trong nửa đầu thế kỉ VII, bá quyền Assyrie đứng vững trong vùng lưỡi liềm phì nhiêu, dưới các triều vua Sennachérib, Assarhoddon và Assurbanipal, trải rộng tận Thèbes, Thượng Ai cập, năm 664. Nhưng vài chục năm sau khi Assurbanipal chết (632), người khổng lồ sắp đổ xuống. Những cuộc tập kích của Người Scythes tàn phá Syrie (630), Babylone lấy lại độc lập (626) ; cuối cùng người Babylone hợp với người Medes tàn phá Ninive (605). Giuđa cũng đi theo một đường cong lịch sử đó. Thời Manssé (687-642) và Amon (642-640), là một thời chư hầu chặt chẽ mà hậu quả là một thứ tôn giáo hỗ lốn (2V 21,10 vtt). Lúc này là lúc mà Jérémie sinh ra. Người ta có thể nói thời này như thời Samuel thơ ấu, là "hiếm khi Javé phán dạy". Nhưng rồi với con người của Anatot, lời lại vang lên...cho đến ngày bi thảm, Jérémie thấy mình bị đem sang Ai cập, để lại Giêrusalem mất hết - cho đến bao giờ ? -"Những dấu hiệu và ngôn sứ" (Tv 74,9).

I. SOPHONIE (Xp)
83

1. Con Người và thời đại Tên Sophonie có nghĩa là "người được Javé che chở". Rao giảng thời vua Josias (1,1), giữa 640-630. Bấy giờ ảnh hưởng Assyrie trổi vượt và đe dọa lòng trung thành của vương quốc, của triều đại và triều đình. Việc thờ cúng sao trời của Assur thịnh hành, việc thờ thần Milkom của người Ammon những tàn dư của các dân vốn ở Canaan, các mốt ngoại lai, tệ ngôn sứ giả (3.4), bạo lực và bất công đủ thứ (3,1-3). Sophonie cho thấy tình hình cần thiết một cuộc cải cách (2,3 ; 3,12-13). Chính lòng mong đợi đổi mới đó định hướng cho tư tưởng chính trị của ngôn sứ. 2. Cuốn sách Sách gồm 4 phần : * Những lời đe dọa Giuđa và Giêrusalem (1,22,3). Trong bài mô tả này của Javé, Sophonie lấy lại chủ đề mà Amos đã trình bày (5,18) cũng như Isaie (2,7 vtt). * Chống các quốc gia (2,4-15) : Không chắc xác thực. Những lời sấm này lấy lại những chủ đề quen thuộc. Có nhắc đến "Số Sót" (c.9). * Bản buộc tội Giêrusalem và các nước (3,1-8). * Những lời hứa (3,9-20). Một Thánh vịnh đi trước, phục hồi không nhất thiết loan báo việc lưu đày Babylon trở về. Các câu 9.10 chuyển từ chủ đề các nước trở về đến cuộc trở về của các người bị phân tán... 3. Sứ điệp Cũng như sách tất cả các ngôn sứ, sách này trước hết là một suy tư về tội của Israel. Ngôn sứ cho rằng nguyên nhân là lòng kiêu căng, mà ông cho thấy trước hậu quả ông không tránh khỏi : Một kẻ thù kinh khủng sẽ đến. Ít ra Sophonie nói lên việc ông tin chắc lịch sử sắp tới sẽ là cơ hội Israel bị phạt nặng nề. Như thế, Sophonie lấy lại chủ đề Ngày của Javé mà Amos đã bắt đầu, đem lại cho chủ đề đó một chiều kích rộng lớn hơn và những sắc thái bi đát hơn : giờ đây cả thế giới phải chịu cái tai ương mà trong đó Israel sẽ sụp đổ.
84

Nhưng tính bi đát của sứ điệp không ngăn cản việc rao giảng ơn cứu độ. Nơi Sophonie cũng vang động lời rao giảng về Số Sót : có người sẽ thoát khỏi tai ương, đó là những "Người nghèo của địa cầu" (2,3). Hẳn là với Sophonie, Israel khám phá ra rằng tình trạng khốn khổ của họ trước những biến cố cuộc sống bày giãi ra đó, đã đưa họ tới chỗ nhận ra cách đúng đắn hơn tình trạng cơ bản của họ trước mặt Thiên Chúa. Sau đó, Sophonie mô tả Số Sót dưới hình tượng con gái Sion (3,14-18). Nếu từ ngữ đó còn chỉ số người miền Bắc đã chạy xuống tị nạn ở Giuđa, thì Sophonie nói với những người lưu đày nghèo khó này đâu là những lý do có thể làm họ vui mừng. Trước hết, đó là việc Assyrie sắp tới bị tiêu diệt, nước mà các anh em phía Bắc của họ đã bị phát lưu đến (2V 17,6) và triều đại sắp kết thúc của Assurbanipal đang làm suy yếu ; - rồi đến việc Đền thờ sắp xây lại và Đấng ngự trong đó : "Javé ở giữa" họ, còn gì vui bằng! Một cộng đoàn nhỏ bé nghèo nàn của vật chất, nhất là thanh thoát khỏi mọi sự giàu có giả tạo bên trong, một cộng đoàn biết Thiên Chúa hiện diện nơi mình, và con mắt được niềm tin soi sáng đến độ cái gì đối với họ cũng là dấu hiệu chiến thắng của Thiên Chúa. Đó là hình ảnh mà Sophonie mô tả về Israel mà ông hy vọng. Hình ảnh đó đúng là hình ảnh mà Giáo Hội biết rằng nó phải thực hiện. Đến nỗi một tiếng của Sophonie đã đủ để ca lên buổi rạng đông của Tân Ước : "Vui lên, hỡi thiếu nữ Sion !" (3,14)..."Vui lên, hỡi Maria !" (Lc 1,28).

II. NAKHUM (Nk)
1. Con người Con người của ngôn sứ này chúng ta ít biết hơn là cuốn sách của ông. Hình như ông là người Giuđa vì ông thích nói đến Giuđa và ông loan báo sự cứu độ cho Giuđa
85

(2,1). Chỉ cần coi ông như một ngôn sứ mà sứ vụ có liên hệ nào đó với những công việc diễn tiến ở Đền thờ. 2. Cuốn sách Cuốn sách mở đầu bằng một Thánh Vịnh (1,2-8). Tiếp theo là một loạt bản văn pha trộn những lời về ơn cứu độ cho Giuđa (1,12.13 ; 2,1-3) với lời đe dọa Ninivê (1,911). Tiếp ngay đó là những bài ca về việc Ninivê sụp đổ (2,4-3,19) giọng điệu mạnh mẽ nhất trong Kinh Thánh. 1,9-2,3 chắc được viết ít lâu trước Ninivê đổ. Có một số đoạn dường như cho thấy Ninivê đã sụp đổ (2,1 ; 3,8.19) là do lối văn tả trước và do việc dùng thì hiện tại lịch sử. Javé được nhìn nhận là chủ lịch sử (2,14) mà những khoảng khắc bi đát nhất (1,12) được hướng về sự cứu độ của "vườn nho của Thiên Chúa và nguyên nhân hình phạt : tội của những người nghịch đạo. 3. Sứ điệp Sứ điệp của sách Nahum do cơ cấu của nó. Thứ tự : Thánh Vịnh - Suy Tư Tiên Tri - Bài Học Lịch Sử. Cuốn sách cho thấy Israel trong phụng tự dùng các bài ca ngợi ca chủ quyền của Javé trên toàn vũ trụ. Bằng cách đó Israel củng cố niềm tin của mình trong uy quyền, thiện tính và cả "lòng say mê" của Thiên Chúa (1,2) trong việc người điều hành lịch sử. Lịch sử Israel là chủ yếu, cảợ lịch sử các dân mà họ đương đầu. Thiên Chúa không thể không giáng phạt những kẻ vô đạo và cứu độ người công chính. Công chính là Israel ; vô đạo là Người Assyrie sắp bị phạt. Chỉ còn việc gợi lên bằng lối văn đầy hình ảnh việc tàn phá Ninivê. Như thế, cũng là một cách ca ngợi Thiên Chúa, Đấng tỏ mình trong lịch sử, khám phá ra qua sự gợi ý của phụng tự và lời rao giảng tiên tri ý nghĩa của hiện tại người ta đang sống, cũng như nội dung của tương lai người ta đang bước tới.

III. KHABACUC (Kb)
86

1. Người Can-đê vào cuộc Họ hàng với người Aram, người Can-đê thấm nhập vào Babylone thế kỷ VIII. Với Nabopolaasar (625-605), họ đi theo hướng chiến tranh chống Assyrie bằng cách liên minh với người Medes. Thắng Assyrie và Ai cập, Nabuchodonosor toan mở rộng quyền bá chủ trên toàn cõi Syrie và Palestine. Vì thế, lịch sử Giuđa là lịch sử việc ông này càng thắt chặt gọng kìm của ông : năm 597, bao vây Giêrusalem lần I ; năm 587/586, thành thánh đổ và quốc gia tan. Habaquq hoạt động trong bối cảnh đó. 2. Con người Chúng ta không biết gì về con người Habaquq. Bản Bảy Mươi, sách Đn 14,33 nói ông là một Lêvit. Trong sách ông có một Thánh Vịnh cho phép giả thiết ông có liên hệ với bộ phận phụ trách đền thờ. 3. Cuốn sách và sứ điệp Các phần cuốn sách : * Đối thoại giữa Thiên Chúa và ngôn sứ : 1,2-4 là một bài ca thán đầu tiên về sự thống trị của bất công ở Giuđa ; 1,5-11 có một lời đáp đầu tiên của Thiên Chúa : không thể có chuyện Javé xúi giục bọn Canđê. Mà kìa quân đội và hành động man rợ của chúng đã gần kề rồi ; 1,12-17 một bài ca thán thứ hai ; một lời đáp thứ hai của Thiên Chúa (2,1-4) báo trước sự hủy diệt bọn chuyên chế và quả quyết với dân công chính rằng sự trung thành của họ sẽ là điều kiện để họ trường tồn. * Những lời nguyền rủa kẻ áp bức : 2,5-19. * Bài thơ chương 3 ca ngợi sự can thiệp của Thiên Chúa làm trọn lời tiên tri của Người. Sứ điệp. Người ta có thể ngần ngại về chủ đích phụng tự của cuốn sách. Nhưng phần đóng góp cơ bản của nó rõ ràng là giống với phần đóng góp của Nahum. Habaquq mời gọi suy tư trước về lịch sử Giuđa đang sống ; kéo dài suy tư đó bằng một thánh vịnh, trong đó, dân chúng nhớ lại những
87

việc lớn lao Thiên Chúa đã làm trong lịch sử đã qua, họ tìm được trong đó niềm xác tín rằng Thiên Chúa rồi ra sẽ thắng một trận quyết định trên những kẻ thù hôm nay.

IV. GIÊRÊMIA (Jérémie, Gr)
Để giới thiệu những đặc trưng chứng từ của ông, chỉ cần nói rằng Giêrêmia đã làm ngôn sứ suốt bốn chục năm, từng dẫn đưa Israel từ những thời đạo đức và phấn chấn của cuộc cải cách Josias đến tận những giờ khắc bi thảm, lúc mà cùng với tường thành Giêrusalem bị đốt cháy, những ảo tưởng về một dân gắn bó với những mộng tưởng của mình hơn là với chỉ một mình Đấng có thể thực sự cứu vớt họ. Kinh nghiệm của Giêrêmia là kinh nghiệm của loài người quan sát nghĩ rằng con người, với muôn vàn ánh sáng mà đạo mình cung cấp cho, có khả năng tự cứu, nhưng rồi thực tế nhận ra rằng một sự cứu rỗi như thế thật là không thể. Trước kia ông những tưởng tội của Israel có thể chữa được, ông không lấy Giao Ước với Thiên Chúa làm căn bản cần thiết ; dần dà, ông khám phá ra rằng không còn hy vọng Israel trở lại nữa. Tội đã đóng chặt vào nhân loại, đến không thể thực hiện cứu rỗi nào ngoài một hành vi quyết liệt của một mình Javé. Mối quan hệ bạn bè giữa Israel và Thiên Chúa đã bị tổn thương đến không chữa được nữa, chỉ còn biết ước mong cử chỉ hữu hiệu sẽ phục hồi dân trong một Giao Ước, lần này không thẻ xé bỏ, và dứt khoát. 1. Cuốn sách Những sự kiện văn học nền tảng Sách Giêrêmia đến với chúng ta trong trạng thái hỗn độn đến độ phải thừa nhận là ngoài ảnh hưởng của Giêrêmia, cuốn sách còn chịu nhiều ảnh hưởng khác của những tác giả, nhà chú giải. Vấn đề bản văn : Ít ra, có hai lần xuất bản, chứng tỏ tác phẩm đã được biến đổi bởi những môn đồ gần hay xa ngôn sứ.
88

Những dữ kiện văn học : Nhìn qua bản Massorétique sách Giêrêmia, ta thấy bốn phần chính : 1-25, tuyên sấm chống dân Giuđa ; 26-45, những trình thuật liên quan đến Giêrêmia ; 46-51 sấm chống các nước ; 52 phụ thêm lịch sử. Nhưng thực tế không đơn giản như vậy. Hãy chỉ lấy một thí dụ : phần một chứa những trình thuật rồi cũng có trong phần hai ; còn các trình thuật ở phần hai lại bị ngắt quãng bởi những lời sấm lẽ ra nằm ở phần một. Nhìn kỹ hơn, thì thấy trong chính bản văn có những cái quá tải. Rõ ràng nhất ở các chương 30-31,22, trong đó những lời hứa phục hồi ban đầu ngỏ với vương quốc Bắc lúc đó một mình bị phát lưu, lại chất thêm lời về Giuđa để rồi, đến lượt họ, những người lưu đày phía Nam đọc thấy trong những lời của vị ngôn sứ sự loan báo việc giải phóng chính họ. Những dữ kiện lịch sử Những chỉ dẫn lịch sử trong phần kể truyện thì nhiều, cho phép định rõ giới hạn của thời kỳ Giêrêmia rao giảng và theo dõi dòng biến cố những năm cuối đời ông. Nhưng những chỉ dẫn này đáng ngờ, vì không rõ ràng chính xác. Tuy nhiên, có một chỉ dẫn lịch sử quan trọng, soi sáng lịch sử của cuốn sách, đó là chỗ nhắc đến Baruch. Baruch là một ký lục nhà nghề, một nhà quí tộc (15,19) bị tư tưởng Giêrêmia chinh phục, trung thành với ông qua những thử thách. Một hôm, ông được đọc cho nghe những lời sấm mà Giêrêmia đã "tuyên chống Giêrusalem, Giuđa và mọi dân" từ thời Josias đến Joiakim. Ông ghi lên trên một cuộn được nhà vua đọc 3 lần trong một ngày rồi đốt đi. Ông lại ghi trên một cuộc khác, rồi thêm những lời khác vào. (chương 36). Hình thành cuốn sách Như thế, tác phẩm gồm một hạt nhân quan trọng là các bản văn Giêrêmia, được triển khai và bổ túc đôi lúc thật dài dòng và được xếp đặt theo những nguyên tắc khác nhau. a. Cuộn 605-604`
89

Những lời sấm thời Josias : 1,4-6,30 và thời Joiakim. Nói chung, là 7-20, cũng như 25 và 26-49. b. Những bổ sung cho cuộn đó Theo 36,32, có "nhiều lời cùng loại" được thêm vào cuộn nền tảng đó : những lời sấm ngăm đe viết sau 605604 : 10,17-22 ; 12,7-14 ; 13,12-19 ; 15,5-9 ; 16,16-18 ; 18,1-12 ; 46,13-26 ; 49,34-39 ; - những trình thuật cũng ngăm đe : 24,27.35 ; - hai tập nhỏ chống các vua : 21,1123,8 và chống các ngôn sứ : 23,9-40 ; - những tự thuật : 11,18-12,6 ; 15,10-12 ; 17,12-18 ; 18,18-23 ; 20,7-18. c. Tiểu sử Giêrêmia Có thể do Baruch viết, do ý muốn ghi lại những kí ức về thầy, nhất là những năm đau thương : 19,2-20 ; 6 ; 26 ; 36 ; 45,28-29 ; 51,19-64 ; 34,8-22 ; 37,44. d. Ấn bản thời lưu đày Vì thường xuyên có những trao đổi giữa Giêrusalem và những người đi lưu đày, nên chắc là các bản chép, đầy đủ hay từng phần, đã bắt đầu qua lại giữa Babylon và Palestin, cả Ai Cập nữa, nơi đây Baruch cùng đi với Giêrêmia. Chắc là tại Babylon, trong một cộng đoàn quan tâm đến tương lai, người ta đã làm cái công việc quyết định đưa đến cuốn sách hiện nay. Các phần của cuốn sách - Phần I, từ 1 - 20, theo thứ tự thời gian ; kéo thêm 25,1-13 là kết luận đầu tiên của nó. Giữa 20 và 25, các đoạn 21,1-10 và 24 bó lại thành một khối những tập nhỏ chống các vua và các ngôn sứ (21,11-23,8 và 23,9-40). - Phần II, gồm những lời sấm chống các nước : bắt đầu ở 25,13-38, kéo dài đến 46-49, thêm vào đó là lời sấm chống Babylon (50-51), và một mảng tiểu sử 51,59-64. - Phần III, tập hợp những bản văn các lời hứa cứu độ 26-35. - Phần IV, những yếu tố tiểu sử : từ 36-45 - Phần phụ thêm mô tả tai họa 587-586, rồi gợi lên việc giải phóng đầy khích lệ của Joiakin : 52. 2. Vị ngôn sứ, sứ mệnh, sứ điệp
90

Được tách riêng từ lọt lòng Giêrêmia sinh năm 645, ở Anatoth, 6 Km về phía Bắc Giêrusalem. Gốc nông thôn, có cái gu của một thiên nhiên dung dị, thường nhật ; gần gũi con người : chim chóc, cái đèn, cối xay, người đạp nho. Quan điểm cánh chung của ông nói lên điều đó : trừ 4,23 vtt, ông không trông đợi một đảo lộn vũ trụ nào ; ông chỉ cần thấy một bầu trời không chim, cái đèn trong gia đình đã tắt, không nghe tiếng cối xay nữa, tiếng các tân hôn im bặt, thế là ông mô tả sự can thiệp của Thiên Chúa, hoặc để khám phá ra rằng nó đã khởi đầu. Tính tình đa cảm, tế nhị, nội tâm, khác xa Êdêkien bồng bột ; gần Isaie hơn. Với ông, một cái nhìn mới về con người. Thực ra, việc người chung quanh chú ý đến những lời sấm của ông, cũng như những biến cố ông trải qua, những thăng trầm ông nếm, hoặc việc ông chú ý đến âm vang kép dài của những biến cố đó nơi ông, tất cả giả thiết một cách thế mới hình thành dần dà để hiểu nhà ngôn sứ và hiểu cũng như định nghĩa con người. Giêrêmia rao giảng dưới 5 đời vua kế tiếp. Hai vua đi nhanh quá đến nỗi không được nhắc đến, 1,2 vtt ; trái lại triều đại 3 vua khác : Josias, Joiakim, Sédécias định rõ những thời kỳ khác nhau trong cuộc đời và tác phẩm của vị ngôn sứ. Thời Josias (626-609) Muốn hiểu bầu khí thời Josias, cần nhớ rằng sau triều đại Ézéchias nổi bật bởi một cố gắng phục hưng tinh thần, tiếp đó là những vua vô đạo Manassé và Amon. Cho nên, khi người ta thấy Josias đầy ắp những tâm tư khác, thì lòng những tín đồ Javé phấn khởi lạ lùng. Thêm vào đó, nhà vua còn ghi được một chién công lấy lại miền Bắc : phải chăng kỷ nguyên vinh quang và hồng phúc của Đavit, Salomon tái hiện ? (2 V 22,23-25) 626 : Giêrêmia được gọi (chương 1), không gắn với một đền thánh nào. Kinh nghiệm của Giêrêmia là kinh
91

nghiệm của Lời ; còn thị kiến thì ít, dường như chỉ là "cơ hội, để mở đầu câu truyện" (18,24). Giêrêmia được gọi là vị ngôn sứ của các dân (5,10), vì ông phải định rõ ý nghĩa của một lịch sử, tuy tập trung vào Israel, nhưng nhằm cả thế giới. 626-620 : bài giảng đầu tiên : 2-6. Chủ đề được khai triển cũng như ở Isaie và Hôsê : quan hệ phu - phụ giữa Javé và Israel ; thời gian hạnh phúc trong hoang địa, thời "yêu đương" ; Israel ngoại tình, những giao ước với dân ngoại và việc thờ phụng ở các cao đàn, báo trước hình phạt. 622. Cuộc cải cách thứ luật : 11,1-14. Chính lúc này Giêrêmia rời Anatoth đến Giêrusalem, nơi đây ông chưa được biết. Giêrêmia không phi bác việc phụng tự, nhưng ông thấy những phương thế chính trị, phụng tự mà cuộc cải cách vận dụng không đủ. Ông ngày càng thấy chỉ sự can thiệp quyết liệt của Javé có thể thanh lọc cõi lòng hư đốn của Israel. Sau 622 : trong lúc Jiosias trải rộng quyền bính trên vương quốc cũ phía Bắc (2 V 23,19.) và xem ra sự thống nhất vương quốc đã gần kề, thì Giêrêmia cũng phát biểu niềm hy vọng, nỗi vui mừng, lòng tri ân của ông ở chương 30,1-31, 22. Đầu tiên ngỏ với vương quốc Bắc, các sấm ngôn này được chú giải trong lưu đày để gợi lên sự kết thúc gần tới của tai ương Giuđa phải chịu. Tất thảy những chủ đề mà các vị giảng thuyết thời lưu đày sẽ giảng, thì Giêrêmia đều đã giảng : sự giải phóng khỏi lưu đày : việc rời bỏ các nước xa xôi sau khi các kẻ áp bức tan rã, việc trở về trên đất được phục hồi, lại có dân cư, lại sung túc, thành lập một vương quốc thống nhất, được cai trị một bản địa (Autêtônê) được Javé chấp nhận. 609 : Josias chết. Gương mù gây nên bởi cái chết bất đắc kỳ tử của vị vua này, niềm hy vọng của mọi tín đồ Giavit và bị giết bởi một cách thảm thương bởi một Pharaô Ai cập, vẫn in rõ đằng sau những cố gắng vất vả để cắt nghĩa của tác giả sách Sử Biên Niên ( 2 Sb 35,20-24).
92

Gr 22,10 vtt nhắc vắn tắt thời vắn vỏi của Joachaz, con của Josias. Thời Joaqim (609-597). Giêrêmia phê phán nghiêm khắc vị vua do người Ai cập đặt lên này (22,13-19). Là nhà độc tài phương Đông thực thụ, bất công và xa xỉ, chắc rồi cũng dung túng việc thờ tự dân ngoại. Giêrêmia tuyên sấm chống Đền thờ, báo trước Đền thờ sẽ bị hủy diệt sắp tới. Tiếp đó, những lời chống triều Đavit (21,11-22,30), cuối cùng ông thất vọng về triều đại đó. Rõ hơn bao giờ hết ông thấy rằng, mọi cái gì làm nên lý do để an toàn : vương quyền, giàu có, tín ngưỡng, truyền thống, việc phụng tự khôn ngoan và luật pháp, các ngôn sứ... tất cả sẽ bị tước khỏi đời sống Israel. Còn lại, chỉ có sự hiểu biết Javé (9,22 vtt). ` Những bài trình thuật của Giêrêmia. Chính trong những năm này, Giêrêmia biên tập cái người ta gọi là những lời "tự thuật" (confessions) : 11,1912, 5 ; 15,10-21 ; 17,14-18 ; 18,18-23 ; 20,7-18). Với nhiều loại văn khác nhau, thích nhất là văn Thánh Vịnh cầu khẩn, Giêrêmia đã có thể nói lên tấn bi kịch tôn giáo mà lương tâm ông là sân khấu tàng ẩn. Tấn bi kịch mà ông đã cảm nghiệm mình là nạn nhân, là diễn viên bị đả thương đó, có liên hệ chặt chẽ với sứ điệp của ông : ông khám phá thấy sự đối lập giữa những khuynh hướng sâu xa của bản tính ông với cách ứng xử mà ông bị áp đặt ở thời kỳ bi đát ông đang sống, nhất là bởi sứ mệnh giao cho. Giữa lòng tấn bi kịch đó, giữa cái đêm tối tăm đó, vẫn lóe lên một tia sáng khiêm tốn và thuần khiết, là tia sáng của một niềm tin giản lược vào cái chủ yếu : sự xác tín có một Đấng hiện diện. Chính đó là niềm hy vọng cứu độ. 605 : Trận chiến các Karkêmish (46,2-12). Thời khắc quyết định : Ai Cập thất bại, làm người ta lo sợ Babylon. Kẻ thù từ phía Bắc tới, bây giờ đã rõ, nó xâm chiếm các đồng bằng Palestin, sẵn sàng thi hành cách phán xét của Thiên Chúa, nếu không có hối cải, lưu đày.
93

598 : Thắng quân Ai Cập, Nabuchodonosor vây Giêrusalem. Vua Joaqim mới chết, con là Jioaqin lên thay. Giêrêmia mô tả chân dung một cách mỉa mai độc ác. Vua khôn khéo lụy phục Nabuchodonosor, bị đem đi lưu đày với 10 ngàn người. Cậu vua được đặt lên thay. Thời Sédésias (597-587). Xa các cố vấỤn, Sédésias bị thu hút bới tinh thần quốc gia thiếu kiên nhẫn. Một liên minh chống Babylon dựa vào Ai Cập được thành lập. Giêrêmia phản đối chính sách khờ dại đó : Ai Cập sẽ chẳng bao giờ là một sức viện trợ, lại trái với ý Thiên Chúa . 593 : chống các ngôn sứ giả : 27 ; 28. Thư cho các người bị lưu đày, 26,29 ? Phải tin rằng mình sẽ phải ở lại lâu trong thành kẻ thắng trận, phải xây cất, sinh sản, gắn bó với sự phồn vinh của xứ đó. Trung tâm của quốc gia không còn là Giêrusalem. Trung tâm bây giờ ở nơi lưu đày, nới đó tương lai đang được chuẩn bị, 24 ; vì Babylon một ngày kia sẽ bị phá hủy (51.59-61), dân sẽ ra đi. Từ đây những lời sấm loan báo những cộng đoàn tương lại vang lên trong lời giảng của ngôn sứ. 598 : Đối lại với những bức tranh với các chủ chăn xấu, Giêrêmia nêu lên sự hiểu biết và sự công chính của mầm Đavit mà ông hy vọng, 23,1-8. 587 : bao vây thành. Những chương về cuộc vây thành sôi nổi nhất trong Kinh Thánh. Sự sụp dổ của thành là chắc vì Javé chiến đấu chống nó ; vua và các cư dân sẽ nộp cho kẻ chiến thắng. Hai con đường cho dân lựa chọn : phối hợp với dân Canđê thì sống ; tiếp túc bao vây là chết (21,110). Một lời sấm thứ hai (34,1-7) loan báo việc nhà vua bị bắt, ông hứa với vua sẽ được chết bình an trên đất Babylon. Vụ phóng thích các nô lệ : thành bị bao vây, Sédésias yêu cầu phóng thích nô lệ người Hipri để có thêm quân lính chiến đấu. Khi quân Babylon thất thế vì tình hình có quân Ai Cập vận động, người ta lại gom các nô lệ lại trong thân phận họ. Giêrêmia phản đối 34,8-22. Người Canđê chưa tái bao vây thành, vì đang tìm hiểu tương lai may mắn đang
94

chờ đón Dân Thiên Chúa. Giêrêmia muốn về làng quê mình tậu một thửa ruộng. việc ông ra đi bị theo dõi. Ông bị nghi, rồi bị cáo là phản bội, bị bỏ tù thời gian lâu (37,10-16). Thành lại bị vây. Sédésias thỉnh ý Thiên Chúa. Giêrêmia thừa dịp chỉ trích những hung bạo người ta lam cho ông. Được phóng thích nữa vời, bị giam lỏng trong dân, được cho ăn (37,17-21). Nhưng lời ông vang lên luôn mãi, bị tố là chủ bại, bị ném xuống giếng, vua cứu lên.Lại thử khuyên vua có thái độ tin tưởng tuyệt đối vào sứ mệnh của ông và nguồn gốc thần linh của lời ông rao giảng (38,14-28). Mô tả tương lai Phần nhiều những lời tiên báo may mắn của ông được giảng trong những năm bi đát này. Ông ca lên việc phục hồi Palestin với Giêrusalem làm trung tâm tôn giáo và vua là một thành viên của triều đại Đavit . Giao ước cũ sẽ được thay bởi giao ước mới. Trong tương lai Javé sẽ hành động thẳng nơi tâm hồn con người (31,33), Người sẽ ban cho nó một con tim (24,7) ; luật không khắc trên bàn đá nữa, nhưng trên tâm hồn, mà không cần phải dạy (31,3234). Tất thảy sẽ hiểu biết Javé (31,34). Tuy vẫn cứ là quốc gia, nhưng tôn giáo sẽ là tôn giáo cá nhân. Kết thúc đời Giêrêmia. Nabuchodonosor đặt làm thái thứ trong những bạn bè của Giêrêmia (39,14 ; 26,14). Ông này theo chính sách của chủ mới....?. Nhưng tháng 10, Gôdôliat bị ám sát bởi một người hoàng tộc bị truất phế. Kẻ này là một người cuồng tín, một người ghen tương, lại do người Amon xúi dục. Nhiều người Do Thái ngã lòng trước những biến cố đó. Vì không thể dẹp được kẻ sát nhân và sợ bị cáo là đồng lõa họ trốn sang Ai Cập, kéo theo vị ngôn sứ, chắc là ông chết không lâu sau đó. Chương 44 cho thấy ông tuyên những sấm ngôn cuối cùng tại đó. 3. Ảnh hưởng của Giêrêmia Nhân vật Giêrêmia ghi đậm dấu ấn trong toàn bộ suy tư Kinh Thánh. Vài chục năm sau ông chết, một tác giả vô danh suy nghĩ về những điều kiện của việc cứu Israel về
95

điển hình nhân vật có khả năng thực hiện việc đó hơn cả, đã lấy lại chân dung vị tư tế ở Anatoth này mà phác thảo nên hình ảnh người tôi tớ. Một số người dựa vào hình ảnh "Giêrêmia hay một ngôn sứ nào khác" (Mt 16,14) Để gắn liền ký ức về ông với sự mông chờ ơn cứu độ. Trước con mắt truyền thống, Giêrêmia mãi mãi là điển hình của con người dấn sâu vào cuộc đối thoại với Thiên Chúa. Nếu ông có một cách riêng của ông để tiếp cận với Thiên Chúa mà không phải dùng đến phụng tự... thì cũng không vì thế mà ông không có được cái ý thức về Lời, về cái tuyệt đối mà Lời chỉ, về sự dấn thân mà nó đòi, là cái nó chỉ gặp trong những ngôn sứ lớn và sau này nơi những tông đồ vĩ đại. Thiên Chúa của Giêrêmia rất gần gũi : "ở với ông, đàm đạo với ông, dù là trong trường hợp chiếc bình vỡ hay thúng quả vả. Nhưng Thiên Chúa đồng thời cũng là Đấng có những yêu sách làm tách biệt một con người đã bị bất điên bát đảo, một người bị thu hút không thể cưỡng lại. Nếu sách của ông toàn là vang lên những loan báo làm ngã lòng, thì nó cũng làm nhú lên hy vọng. Vì ông biết và ông nhắc đi nhắc lại : sự bần cùng hóa triệt để của dân sẽ giúp họ khám phá ra kho tàng độc nhất có giá : sự liên minh với Thiên Chúa của họ.

CHƯƠNG IV. CÁC NGÔN SỨ THỜI LƯU ĐÀY
Tai họa năm 586 đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong lịch sử dân ưu tuyển. Thay vì mơ một vương quốc trần gian dưới sức ép của các biến cố người ta mơ một cộng đoàn mà thang giá trị không còn là trật tự chính trị nữa, mà trật tự tôn giáo : "Dân của các thánh của Đấng tối cao". Việc đó không dễ một ngày mà làm được, cũng không thể không ngoảnh lại đàng sau : cho nên các ngôn sứ vẫn tiếp tục vai trò của các ngài nhằm hướng chủ nghĩa Do Thái tới định mệnh của nó.
96

Phải nói cuộc lưu đày có tầm quan trọng trong việc phát triển văn học và giáo thuyết của Kinh Thánh trong lúc ở Palestin tiếp nối một cuộc sống giảm thiểu, thì hạt nhân đích thực của quốc gia là tại Babylon. Một phần các người đi lưu thích nghi với cuộc sống trên đất người đó, số khác, những người lý tưởng chủ nghĩa, sẽ cung cấp cho việc trở về. Ngỏ lời với công chúng nhạy bén với ảo tưởng, dễ ngã lòng và cũng rất dễ hy vọng đó, là hai ngôn sứ, một ở đầu, một ở cuối cuộc lưu đày.

I. EZÉCHIEL (Ed)
1. Vấn đề Êdêkien Ba phần tư thế kỷ vừa qua đã thay đổi sâu sắc những vấn để xung quanh cuốn sách của Êdêkien. Đầu thế kỷ, người ta theo các nhà phê bình mà coi vị ngôn sứ như một nhân vật của lưu đày và quả quyết rằng "không sách nào của Cựu Ước có được những đắc điểm quyết định về tác giả duy nhất và về tính nguyên tuyền như sách Êdêkien", thì hiện nay một số tác giả đã đoạn tuyệt với truyền thông chú giải đó. Người ta phi bác niên đại vốn đã công nhận, người ta kể khung cảnh Babylon là hư cấu. Trái lại, có người cho chỉ 1/6 của cuốn sách là xác thực, tức là các bài thơ thôi, còn phần văn xuôi là do một tác giả về sau... Nhiều ý kiến khác nữa... Dần dà vấn đề địa điểm nhà ngôn sứ hoạt động được nêu lên : Giêrusalem hay Babylon... Cuối cùng một số đông học giả cho rằng cuốn sách có tính nhất quán hơn sách Isaie và sách Jérémie, nhưng không phải toàn bộ do nhà ngốn sứ xuất bản. Về môi trường, họ cho là toàn bộ ở Babylon, trong thời kỳ liền trước và liền sau Giêrusalem đổ. Nhưng rồi P. Auvray lại đặt lại vấn đề : việc rao giảng của Êdêkien dễ hiểu hơn, nếu vị ngôn sứ giảng ở Giêrusalem. Tìm hiểu tiểu sử ông, cũng đưa đến két luận đó. Nói tóm lại, vấn để đang được bàn cãi... Hình thành và lược đồ cuốn sách.
97

Ngày nay không ai nhận tính nhất quán của cuốn sách nữa, vì có nhiều nhóm nhân tạo (chương 21), những đoạn bị dời chỗ rõ ràng, những chỗ lặp, những phần triển khai phụ, những đoạn nói thêm sau...Căn cứ đó, có thể nói cuốn sách hình thành qua những chặng như sau : - Chặng những mảng rời. Ngôn sứ đối thoại với thính giả. Nhưng ông cũng là nhà văn. Cho nên ông đã ghi lại thành văn những kinh nghiệm xuất thần của ông, những hành động tượng trưng, những lời của Javé. Mảng sau này quan trọng nhất : những lời đe dọa, than vãn, khuyên can, lời hứa, giáo huấn... Nhưng rõ ràng là ông cũng là người có tài hiệu đính chính những bài viết của mình. Chặng sưu tập : Các sưu tập được tập họp theo nguồn gốc hoặc theo nội dung. Chặng thành sách : Tập họp các tập nhỏ theo một thứ tự thời gian hay luận lý. 2. Nhân cách của Êdêkien Một con người phức tạp. Người ta đôi lúc đã nêu lên câu hỏi : không biết những kinh nghiệm thị kiến của ông từng dội lại trên con người ông, có cho phép đoán ông là người bị bệnh tâm thần không : ông ngồi bệt xuống đất, khó đứng, ngây trong suốt bảy ngày giữa những người thân, tự nhốt mình trong nhà và câm, nằm dài trên đất, tay múa máy... Nhưng đúng ra đó là vì khó nói năng, không biết diễn giải thế nào tình trạng hỗn độn của mình về việc gặp gỡ Thiên Chúa... 3. Thừa tác vụ và sứ điệp Niên đại Bị đem đi khỏi Palestin bởi những trận càn đầu tiên của Nabucođonodor (598), Êdêkien thi hành sứ vụ ngôn sứ mà việc tàn phá Giêrusalem chia làm hai mảng. Trước, ông say sưa rao giảng rằng thành tội lỗi, phải chịu phạt xứng tội ; sau, ông chủ ý nhắc lại lời hứa giải thoát. 4. Ảnh hưởng Việc rao giảng của Êdêkien làm thành một khoảng khắc quan trọng trong lịch sử dân Chúa. Tuy chịu ảnh
98

hưởng những trào lưu trước đó, trào lưu ngôn sứ và tư tế, lại chịu ảnh hưởng cả tư duy Babylon về tôn giáo, nhưng Êdêkien là một người độc đáo. Trong lưu đày, giáo huấn của ông sớm được đọc nhiều, giảng và suy ngắm. Sách Khải Huyền, cuối bộ Kinh Thánh qui chiếu về sách này đến năm chục lần, đến nỗi Khải Huyền có phong độ một sách chú thích Kitô Giáo về Êdêkien.

II. ISAIE 40 – 55 (Is II)
1. Vấn đề Isaie II Tính độc đáo của Isaie II. Từ cuối thế kỷ XVIII, giới phê bình ngày càng tách Is 1 - 39 nói chung lên đến vị ngôn sứ củ thế kỷ VIII và Is 40 - 55 ra. Như thế, các chương 40 - 55 được gắn vào một ngôn sứ vô danh của thời Lưu Đày, gọi là Isaie II, ấn thượng chung là từ chương 56 trở đi, khung cảnh là sau Lưu Đày, đến độ người ta đã nói đến một Isaie III. Để tách Is 40 vtt khỏi công trình của Isaie, người ta gợi lên nhiều lí do khác loại nhưng cùng nói lên một ý. a. Lý do lịch sử : chủ điểm của Is 40 - 55 là kết thúc Lưu Đày, giữa những chiến thắng của Cyrus trên Lydie (546) và việc Babylon sụp đổ (539) lời loan báo những việc trước bảo đảm sự ứng nghiệm việc sau. Rõ ràng là việc Babylon sụp đổ không thể gây hứng thú cho công chúng thế kỷ VIII. b. Lý do giáo lý : nội dung rõ ràng là về độc thần giáo. Đành rằng, độc thần giáo ở Israel không phải chỉ là có từ Isaie II, nhưng việc phát biểu tín ngưỡng đó, cũng như việc khai thác thần học nó ở đây có một cách thế mới. Mặt khác, giáo thuyết cứu độ, về nhân vật sẽ là trung gian của cứu độ, khác hẳn giáo thuyết cảu Isaie... c. Lý do văn chương : sứ điệp của Isaie được phát biểu trong những sấm ngôn vắn và cấp thiết, theo một lối văn hàm súc và vang động. Isaie II thì rườm rà, phong phú, long trọng, đôi lúc gần với diễn từ Khôn Ngoan, đôi lúc lại
99

có cấu trúc Thánh Vịnh. Đúng là lối văn tâm tình, dùng để thông cho những tâm hồn băn khoăn ngã lòng (40,7 ; 49,14 ; 54,18), một sứ điệp chất đầy hy vọng và vui mừng, làm cho cuốn sách trở thành hấp dẫn nhất, dễ đọc nhất, bình dân nhất trong tủ sách ngôn sứ. d. Kết luận Nguồn gốc cuốn sách : dù vậy, không thể phủ nhận là giữa hai triệt Isaie I và II có những chỗ giống nhau và những bất biến (chẳng hạn việc gọi tên Đấng Thánh của Israel, giáo lý về khiêm nhường). Vì thế, người ta có thể nói đến một trường phái Isaie, như thế, mới giải thích được tại sao trong những chương 1 - 39, có những tư liệu của Isaie II và Isaie III (13.14 ; 34.35). Như thế, là đồ đệ xa xăm của vị đại ngôn sứ, tác giả Isaie II đã sống giữa những người Lưu Đày Babylon ; các sấm ngôn của ông nói lên một ý nghĩa của thời kỳ đau thương dân đang sống đó ; chúng báo trước sự chấm tận Lưu Đày, cho Israel cơ hội suy tư một lần nữa về ơn cứu độ Thiên Chúa ban, những điều kiện để thực hiện những phương thế Thiên Chúa muốn. 2. Việc biên tập Bố cục chung : giữa một dẫn nhập (40,1-11) và kết luận (55,10-13) tuyên dương Lời Javé sáng tạo lịch sử, người ta phân biệt hai phần rõ : 40 - 48, tập chú vào Israel Lưu Đày tại Babylon và 49 - 55, tập chú vào việc phục hồi Sion. Phần đầu có chứa những trình thuật về Cyrus (44,24 48,12), được xác định vào thời những chiến thắng đầu của ông ; phần hai không nói về Cyrus hay Babel nữa, phải là gần 539 hơn. Bên trong các bài thơ gọi là bài ca về Người Tôi Tớ đáng chú ý cách riêng. Tư liệu : cuốn sách gồm chừng 5 chục đơn vị nhỏ thuộc những loại hình văn học khác nhau : sấm ngôn về cứu độ, hay về tai ương ; khuyên nhủ, sứ điệp, tranh luận, hài hước, trình thuật, thị kiến hay dị thính. 3. Sứ điệp - Babylon sụp đổ : nhà ngôn sứ xuất hiện gần kề thời gian mà Cyrus tấn công Lydie, Crésius vừa liên minh
100

với Babylon và Ai Cập. Ông chiếm Sardes và bắt Crésius làm tù binh. Cả phương Đông đang vang dội cái tin vui mới gây kinh ngạc đó, thì Cyrus đã đến tận Babylon. - Cyrus cứu chúa (45,1) : tác giả chủ ý công bố nguồn gốc thần linh của những biến cố lạ lùng đó. Hoàng đế Ba Tư là người thực thi kế đồ Thiên Chúa, ông muốn chứng minh điều đó, nên không ngần ngại gọi Cyrus là Cứu Chúa. - Xuất hành mới : nếu những can thiệp của Thiên Chúa trong lịch sử cho đến nay pải trả giá bằng những đau thương khủng khiếp, thì từ nay, việc Javé đến sẽ chỉ đem lại những hạu quả may mắn. Ngôn sứ nhận mình có sứ mệnh loan báo cho Giêrusalem tin mừng cứu độ : sụp đổ của Babylon sẽ đưa đến giải phóng các người Lưu Đày. Isaie II mô tả việc trở về như một Xuất Hành mới : qua hoang mạc Syrie là đường vắn nhất, Israel sẽ tái chiếm Giêrusalem. Đi đầu đoàn người chậm chạp và oai hùng này là Javé. Người sẽ ngự vào Giêrusalem như vua. Chiến công này hào hùng đến độ các dân nước trở lại và hòa nhập với dân ưu tuyển. - Giêrusalem mới : về lại đất mình, đô thành mình, một dân đông đúc sẽ sống lâu dài trong hòa bình. Các dân sẽ phục vụ dân được giải phóng ; Javé sẽ được nhận biết ; sẽ ngự trị ; vinh quang Người sẽ tỏ hiện cho các dân bị khất phục. - Thừa tác viên của Lời : sự có mặt của ngôn sứ, riêng nó đã bảo đảm cho chân lý của một sự can thiệp gần của Thiên Chúa trong lịch sử. Ngôn sứ là sứ giả loan báo điều mà Javé muốn nói vào con tim Giêrusalem, ngôn sứ có sự thật "Lời Thiên Chúa còn mãi" (40,8), không trở lại khi chưa hoàn thành nhiệm vụ (55,11). Tác giả Isaie II trình bày Thiên Chúa có hệ thống hơn : Thiên Chúa độc nhất, sáng tạo, cứu chúa. Có những nét đặc biệt mới, đặc trưng cho giáo huấn của ngôn sứ về Thiên Chúa : ý tưởng lọc lõi về độc thần, được phát biểu trong những công thức khong sách nào rã ràng chính xác như thế (40,18.25 ; 43,11 ; 45,5.6.18.22 ; 46,5.9) cuối cùng trở thành những bản tuyên tín thật sự (44,6 ; 54,5). Giáo lý về tạo thành cũng thế
101

(45,11). Rồi mối liên hệ rất chặt chẽ giữa hoạt động của Đấng tạo thành với hoạt động của Đấng Cứu... Vị Trung Gian cứu độ : Người Tôi Tớ Vấn đề Người Tôi Tớ Khi được giới thiệu việc cứu độ sắp tới, ngôn sứ giải thích cho biết việc cứu độ đó sẽ thực hiện nhờ trung gian nào. Theo tư tưởng đương thời, chủ đề cứu độ ấn định sứ mệnh riêng của vua ; vậy mà với Isaie (40-55), những đặc trưng của chức phận vua được chuyển sang quốc gia một cách nào "được cộng hòa hóa" : từ đây, toàn dân tham gia các "ân huệ của Đavit" (55,3). Chúng ta đứng trước một sự tái giải thích sâu sắc hệ ý thức vương quyền. Vua tỏ ra không còn là người được ký thác đặc biệt những ân huệ Thiên Chúa và không còn là trung gian độc nhất cứu độ. Bên cạnh vua, còn có toàn dân làm nhiệm vụ trung gian đó. Danh hiệu Người Tôi Tớ cũng đã được truyền thống biết đến. Ngoại giáo cổ thời dùng để chỉ các vua, vì họ coi vua là "những tôi tớ" của thần : Nabucođonodor là tôi tớ của Shamash, Cyrus tôi tớ của Mardpuk. Các bản văn Kinh Thánh dùng như một tước vua : Đavit nhiều lần được gọi là Tôi Tớ của Thiên Chúa (2 Sm 7). Về sau, trong văn chương cũng dùng từ đó để chỉ những người khác : Môsê (Xh 4,10), các ngôn sứ (Am 3,7). Với Êdêkien, từ Tôi Tớ chỉ Israel : 28,25 ; 37,25. Isaie trong toàn bộ tác phẩm của ông, cũng dùng như thế (Is 40 - 55) nhưng với ý nghĩa phong phú hơn. Vấn đề văn chương (4 bài ca về ntt) Người ta thừa nhận các bài ca về Người Tôi Tớ này có những giới hạn sau đây : - Sấm ngôn tôn phong long trọng : 42,1-7 + (?) 8.9. - Trình thuật ơn gọi : 49,1-6 + (?) 7.9. - Tuyên xưng theo kiểu Giêrêmia : 50,4-9 + (?) 10.11. - Ai ca tập thể các vua trần gian, trước và sau đó có một lời sấm của Javé 52,13-53,12.
102

Người Tôi Tớ trong các bài ca này là một nhân vật huyền bí, được Javé sủng ái, ban thần trí cho, nhằm đóng một vai trò quốc gia và quốc tế : một đàng phải đem Giacop về và làm công cụ giao ước cuối cùng (42,6) ; đàng khác, phải là ánh sáng các dân (49,6). Nhiều nhà phê bình nhận rằng các Bài Ca là một toàn bộ văn học độc lập đối với văn mạch. Danh hiệu Tôi Tớ không chỉ cùng một nhân vật trong các Bài Ca và trong phần còn lại. Trong toàn bộ cuốn sách, Người Tôi Tớ điếc và mù (42,19-20), có tội (42,24.25 ; 43,22-28) cần được úy lạo (41,9.10) mong được các dân phục vụ (51,22 vtt) ; trái lại, trong các (4) Bài Ca, Người Tôi Tớ nghe và thấy (49,6 ; 50,4.5) ; là công chính (53,9.11), có một niềm tin can đảm (42,4) dường như có sứ mệnh phục hưng (49.5.6) và phục vụ các dân. Nhưng phải nhận các Bài Ca với toàn bộ có những liên hệ chặt chẽ ngày càng đông (người thừa nhận). Căn cước và ý nghĩa Người Tôi Tớ Nhưng thuyết lý của Isaie về Người Tôi Tớ thuộc về một toàn bộ suy tư về "ơn cứu độ" cộng đoàn Israel, đâu là những đặc trưng của sự cứu độ mà Thiên Chúa chuẩn bị : toàn dân sẽ được hưởng, và các nước nữa (49,5 vtt), các khối đông (53,11). Nhất là ơn cứu độ sẽ thực hiện nhờ trung gian độc đáo (đau thương) của Người Tôi Tớ. Người Tôi Tớ này có chiều kích tập thể : 43,8-13, là cộng đoàn kẻ lưu đày, mù, điếc, nhưng được chọn, chứng nhân, những tôi tớ Javé trước các dân nước (49,3) : từ "Người Tôi Tớ" còn có một nghĩa ít rộng hơn, chỉ nhóm trong đó Thiên Chúa sẽ tôn vinh. Người Tôi Tớ là một nhân vật cá biệt (49,5) : ý cá nhân nổi bật . Ai ? Người Tôi Tớ là một nhân vật vương hoàng, có những giá trị mới được bày tỏ bởi truyền thống ngôn sứ. Người Tôi Tớ qui chiếu về một nhân vật đương thời : không phải quá khứ, như Môsê, Giêrêmia ; hay đồng thời với ngôn sứ. Người ta nghĩ đến nhân vật tương lai : Đấng Cứu Thế. Đàng khác, lịch sử ông vua đau thương bị lưu đày ở Babylon, bỗng chốc được giải thoát và được ngồi bàn cùng nhà vua, đã gây ấn tượng sâu sắc nơi những người
103

lưu đày. Sách Giêrêmia nhắc đến chuyện đó (Gr 51,31-34) và giáo thuyết về vua của Êdêkien chắc không độc lập đối với số phận dành cho người mà người ta còn gọi là "vua Gioakin" (Ed 1,2). Như thế, vị ngôn sứ gắn bó với cuộc khổ nạn của ông vua bi thảm đó, là biểu tượng cho Israel bị lưu đày ; ông đề cao giá trị cứu độ của việc đó và mời gọi người đọc hiểu việc làm trung gian để thực hiện cứu độ họ, cũng như tính hữu hiệu phổ quát của tai họa họ chịu. Như thế, rút các yếu tố trong quá khứ, suy tư của tác giả nhằm vào hiện tại mà ông giải thích ý nghĩa, đường hướng, nó mở ra cho tương lai. Thực ra, các sứ ngôn của Israel II sẽ chỉ thực hiện vào lúc Người Tôi Tớ cứu độ là Đức Giêsu Kitô, liên kết với một dân mới là Giáo Hội, trởờ thành vị trung gian cứu độ.

CHƯƠNG V. TRÀO LƯU NGÔN SỨ THỜI BA TƯ (538 - 332)
Năm 538, Cyrus cho người lưu đày Babylon về (Er 1,1-4). Từng đoàn người kế tiếp nhau, lên đường trở về và định cư tại Giêrusalem, tuy không phải là không có khó khăn do phía cư dân bản địa và người Samarie muốn bảo đảm vị trí mình trong cộng đoàn mới. Đền Thờ mãi đến 515 mới tái thiết. Thời này, không thiếu vắng tiếng nói ngôn sứ ngỏ với dân. Thời này nếu không có những nhân vật tầm vóc lớn như Isaie, Giêrêmia, Êdêkien, Isaie II, nhưng vai trò các ngôn sứ (thời này) cũng rất quan trọng. Họ sẽ tiếp tục làm cho quan niệm về Thiên Chúa tiến bộ : tính siêu việt nhờ có đông trung gian (Dcr 1-6), tính tinh thần (Is 66,1-2), vương quyền phổ quát (Dcr 12-14). Họ sẽ đeo đuổi cố gắng tinh luyện ý thức luân lí (Is II, Malakhi) ; họ sẽ dựa vào phụng tự như nơi hẹn gặp Thiên Chúa (Khacgai, Dacaria 16), Malakhi) ; họ sẽ làm giáo thuyết thưởng - phạt tiến bộ :
104

hé thấy sự sống lại (Is 26,19), phục hồi công lí toàn vẹn trong một đời sau (Ml 3,13-21) ; họ sẽ thêm ít nhiều tu chỉnh quan trọng cho chân dung Messia tương lai bằng cách tách nó khỏi thời sự chính trị và quan niệm gắn liền với hệ ý thức vương quyền xưa (Dcr 9,9-10 ; 12,10). Trong những công trình nhiều khi có tính cách sách vở, trong đó đầy dẫy những vay mượn của tác giả trước và đã tỏ ra chạy đến những thủ thuật khải huyền thư (Is 24-27 ; Dcr 9-14), các ngôn sứ vẫn cứ là nguồn mạch sung mãn cho Mạc Khải, hướng dẫn dân trên những nẻo đường thực hiện.

I. KHAGGAI (Aggée, Kg)
1. Bối cảnh lịch sử Nhóm Do thái đầu tiên từ lưu đày Babylon, năm 538, trước hết lo tái lập phụng tự tại Giêrusalem : dựng lại bàn toàn thiêu (Er 3,1-6) khi chưa xây lại Đền Thờ được. Gặp trở ngại do lòng thù địch của người bản địa, giáo lí đáng hồ nghi. Mười tám năm công trình nhà thờ bị bỏ dở. Công việc được thực hiện lại sau những biến cố lớn về chính trị dịp Darius lên ngôi, kế vị Cambyse, năm 522. Phải chẳng những biến cố đó đối với cộng đoàn nhỏ Giêrusalem không phải là dấu báo sự can thiệp của Thiên Chúa (2,2122). Khacgai lên tiếng ngày lễ trăng non tháng thứ sáu, tức 27.8 .520, và làm việc cho đến tháng 12 năm ấy, cả thảy bốn tháng. Hoạt động thành công (1,14), được Dacaria nối tiếp (Dcr 5,1-2). Không biết gì về con người ông. Tên gọi hình như là biệt danh, Khacgai : "lễ của ta" 2. Cuốn Sách Viết bằng văn xuôi, trừ sấm ngôn 2,20-23. Công trình của một đồ đệ của nhà ngôn sứ, tóm tắt lời giảng của thầy... 5 sấm ngôn làm thành một chuuyển động kép đi lên : I- Khiển trách dân : 1,1-5- Nhắc lại khổ cực phần xác : 1, 6-11- Trở lại trong ân sủng : 1,12-14- Lời hứa cứu
105

độ : 2, 2-9 II- Khiển trách dân : 2,10-14- Nhắc lại khổ cực phần xác : 2,15-17 - Trở lại trong ân sủng : 2,1819- Lời hứa cứu độ : 2,20-23 Nội dung của 5 lời sấm a. 1,1-14 : phê bình các nhà lãnh đạo và dân, vì họ lấy lẽ vu vơ để biện minh cho việc lãng quên Đền Thờ và chạy theo lợi lộc riêng. b. 1,15a + 2,15-19 : lại khuyên, lời hứa thịnh đạt c. 1,15b + 2,1-9 : sấm về huy hoàng tương lại của đền thờ. d. 2,10-14 : thỉnh ý các tư tế và cái thanh tịnh và cái dơ lây lan thế nào ?. e. 2,20-23 : lời sấm về Zorobabel, người mà theo ngôn sứ là kẻ mang những niềm hy vọng cứu độ. 3. Sứ điệp Cộng đoàn nhỏ bé đi lưu về thật nghèo nàn, gặp khó khăn phía cư dân bản địa, dễ ngã lòng. Khacgai giải thích cho họ những dấu chỉ của thời đại : nghèo là do thiếu lòng sốt sáng tôn giáo, nhất là không chịu xây dựng lại Đền Thờ. Tình hình các nước lung lay là dấu Thiên Chúa can thiệp trong lịch sử. Vắn, nhưng Khacgai đã góp phần phục hưng cộng đoàn thanh lọc phụng tự và tái sinh hy vọng.

II. ZACHARIE 1 – 8 (Dcr)
1. Bối cảnh lịch sử Tình hình đời sống vật chất và luân lý, xem lại những điều đã nói về ngôn sứ Khacgai. Dacaria kéo dài sứ vụ Khacgai, tháng 10 - 12 năm 520 đến 11 năm 518 (Dcr 1,1 ; 7,1). Nếu sự lộn xộn đi theo việc Darius lên ngôi tạo thuận lợi cho việc một hay nhiều nhóm hồi hương (Dcr 6,911), thì sự yên tĩnh được lập lại trong đế quốc để lại âm vang trong Dcr 1,11. Darius cũng xử khoan dung với người Do Thái.
106

2. Con người Dacaria là tư tế. Quãng năm 500, ông đứng đầu hàng tư tế Iddo (Nkm 12,16). Thế mới hiểu tại sao ông quan tâm đến đền thờ, trung tâm phụng tự quốc gia, quan tâm đến sự thánh thiện của xứ sở, người ta thỉnh ý ông với tư cách tư tế về việc giữ chay... Ông cũng có ý thức giữ vị trí trong hàng ngũ ngôn sứ, có quan hệ với Amốt, Giêrêmia, Isaie, Khabacuc. 3. Cuốn sách Dẫn nhập 1 - 6 Phần dẫn nhập là do công lao biên tập của một nhóm trong giới Lêvit, cũng là những người biên tập sách Sử Biên Niên. Trên nền của một tư liệu liên quan đến Dacaria, họ tóm tắt lời giảng về luân lý của ông, nhắc lại những điều kiện để thực hiện những hy vọng được phát biểu trong các thị kiến của ngôn sứ. Sách nhỏ các thị kiến 1,7 - 6,8 Công trình của Dacaria, trong nội dung sơ khởi có 7 thị kiến. Sau người ta xen vào những mảng khác, làm lộn xộn. - 1,7-17, thị kiến 1 : các kị sĩ. Sau lời dẫn nhập biên tập ở câu 7, với lối văn hình tượng khải huyền (ngựa, màu sắc, thiên thần giải thích), nêu chủ đề cho toàn sách : sự cứu rỗi liệu có thể và gần tới không ? Câu trả lời yên ủi trao cho ngôn sứ một sứ mệnh : loan báo tin vui là sự yên tĩnh gây lo âu sắp chấm dứt, các nước sắp bị gom lại, Giêrusalem gặp lại hạnh phúc trong giao ước tái lập. - 2,1-9, thị kiến 2 và 3 : những thợ rèn và người đo đạc, những điều kiện cần để phục hưng : thanh toán kẻ thù ngoài và mở rộng thành để nhận dân mới. - 2,10-17, những lời sấm xen giữa : kêu gọi những người lưu đày. Một lời kêu gọi khẩn phải rời Babylon ; một lời hứa cứu độ. - 3,1-7 + 9ab, thị kiến 4 : chức tư tế mới.

107

Giới tư tế được thanh tẩy nhận trách nhiệm chuyên biệt đời sống phụng tự, được vào khu dành tiêng cho Thiên Chúa và gìn giữ "viên đá" tượng trưng đền thờ. - 3,8.9c.10a, lời sấm xen giữa : lời hứa với Giosuê. Lời sấm này cũng diễn đạt việc tăng tiến hàng tư tế, bảo đảm việc Đấng Messia tương lai đến. 4,1-6a + 10c -14, thị kiến 5 : cây đèn nến và các cây ôliu. 4,6b - 10ab, lời sấm xen giữa : hứa với Zorobabel : chỉ liên hệ đến vua, người được hứa có Thần Linh giúp để đưa việc tái thiết tới thắng lợi. 5,1-4 ; 5,11, thị kiến 6 và 7 cái trục bay và cái đấu. Loan báo việc than tẩy xứ sở, điều kiện để Đấng Cứu đến. 6,1-8 + 15, thị kiến 8 : các cỗ xe. Chấm dứt thị kiến : các sứ giả sẽ đi bốn phương tập họp người lưu đày tại Giêrusalem để xây xong đền thờ và cộng đoàn cứu thế. 6,9-14, phần kết : lời hứa cho Giosuê, Zorobabel và đền thờ.

III. ISAIE 24 – 27 (Đại khải huyền)
1. Cơ cấu Tất thảy các tác giả nhất trí phân biệt hai chuỗi yếu tố : những bài thơ cánh chung luận và những bài ca trữ tình. Nhưng lại không nhất trí về việc cắt thành từng mảng trong các chuỗi. Những bài thơ cánh chung luận tình 24,1-6 : phán xét sắp ập xuống trên toàn cõi đất, vì Giao Ước đã bị vi phạm 24,7-16 : ca chiến thắng sau sự sụp đổ của thành lớn có hệ đến toàn thế giới. 24,16b-23 : phán xét toàn thể vũ trụ, thực hiện vương quyền Javé 25,1-5 : sự sụp đổ của thành là một kỳ tích
108

Những bài ca trữ

của Javé, người ngoại cũng cảm thấy và bảo đảm cứu độ những người nghèo. 25,6-10a : những kẻ trong các dân sẽ được cứu, được mời cùng dân ưu tuyển dự tiệc lớn trên núi Sion.25,10b-12 : lời sấm trên Moab, được xen vào sau. 26,1-19 : Giêrusalem, nơi trú của người nghèo, nghịch với thành kẻ thù bị hủy. 26,20-27,1 : Javé bảo đảm sự an toàn cho dân trong khi chờ chiến thắng trên các lực thù địch Leviathan và Tannin 27,2-13 : kẻ thù, thành lớn, một khi đã bị hủy, thì dân là vườn nho Chúa sẽ được thanh tẩy, tập họp trên núi thánh. 2. Tính nhất quán Trừ sấm trên Moab và Thánh Vịnh ở 26,7-10, có thể coi toàn bộ là nhất quán. Khung là các bài ca trữ tình. Các bài thơ cánh chung đáp lại, hai bên triển khai một chủ đề song song, hướng tới số phận các nước : phán xét trái đất, rồi tương quan với Giao Ước Noê, cuối cùng là chiến thắng những địch thù hoàn vũ. Cấu trúc quân bình và uyển chuyển đó phải là do một tác giả duy nhất. 3. Niên đại Nhiều chỉ dẫn ủng hộ một niên đại khá xưa, là đầu thế kỷ V, tương quan với việc phá hủy Babylon do Xerxès I, năm 845.

IV. ISAIE 56 – 66 (Is III)
1. Những dữ kiện của vấn đề Năm 1892, B. Duhm là người đầu tiên tách cuốn sách ra khỏi Isaie II, gán chương 56 - 66 cho một đồ đệ xa của Isaie giữa thế kỷ V : Isaie III. Ít người phản đối cả phía Tin Lành, cả phía Công Giáo. Thật ra, từ chương 56, chân trời nói chung là thuộc Palestin, dân được chất vấn là dân đi lưu đày về ; không còn mô tả việc trở về gần nữa ; đền thờ coi như đã tái thiết ; khó khăn không còn do ngoài (Babylon), mà do nội bộ ; đối
109

tượng đề cập Isaie II và Isaie III khác nhau, văn phong và từ vựng cũng được dùng với nghĩa mới. 2. Tính nhất quán của Isaie 56 - 66 Sau nhiều công trình nghiên cứu, phân tích thể văn, từ vựng, đa số nhất trí rằng Is 56 - 66 là một sưu tập nhiều mảng của những tác giả khác nhau. 3. Niên đại Niên đại mỗi mảng hay nhóm mảng căn cứ nội dung và tính cách thể loại văn học. Do đó, nếu cốt yếu của Is 56 - 66 được đặt vào thời Lưu Đày về, giữa 538 - 510, thì có phần sách phải lên trước nữa, giữa thời Lưu Đày, quãng 560, có phần lại xuống sau hơn, thế kỷ IV và thậm chí thế kỷ III. 4. Cấu trúc và nội dung Tính đa tạp và phong phú dễ nhận thấy. Khó nhận ra một sơ đồ. Có thể trung tâm là 60 -62, đỉnh là 61,1-11. Có 9 mảng chia gần đều hai bên : - 60 - 62 ; 57,14-21 ; 65,16b-25 ; 66,6-16. Sự thuần nhất về văn học và giáo lý cho phép gán phần này cho vị ngôn sứ, đồ đệ của Isaie II, gọi là Isaie III. Nội dung là loan báo cứu độ cho cộng đoàn đã ngã lòng vì lời hứa của Isaie II không thực hiện : vẫn hoang tàn, thiếu thốn. Tác giả tô màu tương lại mạnh hơn Isaie II : không còn viễn cảnh Xuất Hành mới, vì dân đã về ; ít quan tâm đến phụng tự ; cánh chung luận dè dặt, chừng mực, giới thiệu ơn gọi mình, nhấn ở vai trò thần khí : - 59,1-20 và 63,7 - 64,11 : những lời hứa - 56,9 - 57,13 : chỉ trích lãnh đạo yếu - 65,1-16a : chống tệ thờ thần tượng và sự độc ác - 58,1-12 : xác định giá trị việc giữ chay - 66,1-12 : nhắc lại tính siêu việt của Thiên Chúa. - 63,1-6; 60,12;66,5 và 15-16 : những đoạn vắn về chiến thắng của Javé trên các nước bằng giáng phạt họ. - 56,1-6 ; 58,13-14 ; 66,18-21 : cương lĩnh đại đồng : mở cộng đoàn cho người hoạn nhân và ngoại giáo.
110

- 66,22-24 : số phận người công chính ; việc phụng tự đời đời ; số phận người dữ ; hỏa ngục. 5. Giáo lý Vì của nhiều tác giả, nên không có tính nhất quán về sứ điệp. Đại khái : a. Lấy lại sứ điệp Isaie II, duy trì sự sống trong thời thất vọng này : - Các nước chịu ảnh hưởng của đạo thờ Javé, nhưng phải tập trung vào Giêrusalem và trước tiên để phục vụ dân và làm giàu thánh điện. - Giêrusalem - Đền Thờ - Tư Tế : làm thành một trung tâm liên kết dân đã được phục hồi. Là thành thánh với nhiều tên có ý nghĩa thiêng liêng. - Nhìn thẳng phía trước và hy bọng vào cứu độ hoàn toàn làm lu mờ thủ lĩnh trần gian và những lo toan lễ bái. b. Những triệt khác xen vào giữa - Nêu bật và nội hiện (intérioriser) ý thức về tội : lìa bỏ Thiên Chúa, cắt đứt Giao Ước, nguyên nhân tại họa. - Thanh tẩy niềm tin bằng một trận đấu cuối cùng với đạo thờ ngẫu tượng ; một trận chống nệ hình thức trong phụng tự và thực hành ; mãnh mẽ khẳng định siêu việt tính Thiên Chúa. - Cởi mở cho người ngoại và hoạn nhân, nhưng đòi : trở lại toàn diện với những đòi hỏi của Giao Ước và những chỉ thị của Luật. Không diễn đạt cứu độ cá nhân. Như thế, giáo lý phong phú Is 56 - 66 cho thấy một sự "bừng tỉnh sứ ngôn" của thời phục hưng mà dân rất cần.

V. OVAĐIA (Abdias,Ov)
Chỉ 21 câu. Phần lớn, 1-14 gồm một hay nhiều lời sấm chống Edom, và ý nghĩa được giải thích ở câu 15b. Các câu 15b-18 : nhìn về Giuđa hồi cư tại Sion ; còn 19 - 21
111

thấy trước sự bành trướng của dân ưu tuyển và vương quyền Javé trên tất cả. Một số tác giả cho là Abdias có nhất quán về văn chương ; số khác cho là gồm 8 lời sấm biệt lập ; nhưng tất cả nhất trí chia hai phần : Phần 1 : 1 -14 + 15a : tấn công Eđom ` Phần 2 : 15b + 16 -21 : đưa "ngày của Javé" vào cho mọi dân.

VI. JOEL (Gioen, Ge)
1. Phân tích cuốn sách : hai phần không đồng đều. a. Nạn châu chấu tràn ngập 1 - 2 : sau đó, hậu quả bi đát, ngôn sứ mời toàn dân cử hành thống hối trong chay nguyện ; - tả tai họa ; - mời họp qua lời các tư tế ; - lời cầu than. Từ chương 2, thị kiến mở rộng : châu chấu trở thành một đạo quân chiến đấu thời cánh chung. Khủng khiếp gia tăng, thúc giục trở lại, giữ chay. Thiên Chúa đáp bằng lời sấm tha thứ ; - tạ ơn, hứa phục hồi. b. Tả "ngày của Javé" (3 - 4) : Thánh Linh sẽ được phú xuống mọi tầng lớp xã hội Israel ; tiếp theo là những dấu hiệu khủng khiếp hoàn vũ ; - tha thứ cho những người công chính tập họp tại cánh đồng Giosaphat. Trước đó, một trận chiến lớn bảo đảm cứu độ toàn diện cho những người được chọn. 2. Nhất quán Đa số tác giả cho là có nhát quán, tuy giữa 2 phần có khác biệt về phong độ và nội dung. Việc tả một vụ châu chấu xâm chiếm thực - không tượng trưng như Thánh Jérôme và một số nghĩ - được lấy làm điểm xuất phát để giới thiệu "ngày của Javé". 3. Niên đại Ý kiến khác nhau. Dần dà, một sự nhất trí quanh một niên đại trung bình : chừng 400. Stephenson, nhà thiên văn học, đề xuất : 357, là năm có một nhật thực toàn phần che tối Palestin. Niên đại này đáng tin, vì : cộng đoàn sống
112

tập trung sau tường lũy, có các kì lão và tư tế lãnh đạo, không thấy nói vua (nếu bản văn trước Lưu Đày thì phải nói tới), cũng không nói đến vương quốc Bắc hay là Samarie ; phụng tự chính qui đã được tổ chức ; Israel không đối đầu những dân lớn truyền thống nữa ; phân tích văn học củng cố quan điểm đó : từ vựng sau lưu đày nhiều. Văn khải huyền của cuốn sách gần với Đệ Nhị Luật - Dacaria hơn Dcr 1 - 8 hay Is 24 - 27. 4. Sứ điệp xoay quanh việc trình bày ngày của Javé. Tình hình hiện tại của dân, bất động, gây an tâm, tiếp tục việc thắt chặt chính trị và pháp luật do EỤt-ra, chưa dứt khoát. Thiên Chúa sắp tái tác động lịch sử và làm chổi dậy cứu độ cuối cùng. Tai họa châu chấu là dấu. Trở lại nội tâm thì được tha và được phú ban Thánh Linh, tạo một tình hình mới.

VII. ISAIE 34 -35 (Tiểu Khải Huyền)
Hai chương này rõ ràng tách biệt khỏi các lời sấm trước của Isaie của Isaie bởi tính cách văn chương và nội dung. Riêng chương 34 làm cho sách được gọi là "Tiểu Khải Huyền" vì phong thái khải huyền : các yếu tố không ăn khớp nhau (c. 4), những trận chiến đẫm máu (6 - 8), việc xứ sở mất khả năng sinh sản (10 - 11). Những thú vật quỉ dữ ; phán xét các nước rùng rợn. Cuối chương đã loan báo ơn cứu độ Israel, rồi triển khai rộng ơ chương 35 : sa mạc sẽ nở hoa, một xuất hành mới cho một dân được thanh tẩy... Về niên đại, có nhiều ý kiến : sau Lưu Đày, vì lệ thuộc Is 13 ; có người cho : 500 - 600 ; nhưng người khác lại đoán là trước Lưu Đày.

113

VIII. JONA (Giona, Gn)
Không phải là sứ ngôn chính danh, chỉ là một bài thuật về Giô-na kêu gọi Ninivê trở lại theo lệnh Chúa, nên gọi ông là ngôn sứ. Giô-na được rao giảng thống hối cho Ninivê, một thành ngoại giáo, ông trốn mặt Thiên Chúa, đi theo hướng Tây, đến Taris, xứ sở của vàng và giàu có. Ẩn ở đáy tàu, ngủ. Bão nổi lên, bí mật bị lộ, bảo ném mình xuống biển. Cá nuốt, ca bài giải phóng, 3 ngày sau, được nó nhả lên bờ. Thi hành lệnh. Cả thành trở lại, Thiên Chúa thôi phạt. Giô-na giận, được một bài học về thương xót. Về thể loại văn học : một midrash, kể truyện có phong độ lịch sử, chứa một bài học tôn giáo. Nền lịch sử là ở nơi tên Giô-na, con của Amitta, 2 V 14,25, quê ở Gát Hépher, ủng hộ những quan điểm quốc gia của GiêRoboam II ; Ninivê có dáng vẻ lịch sử. Lịch sử Assyri cũng như Babylon không hề nói đến sứ mệnh của ngôn sứ như thế và một cuộc trở lại giật gân như vậy. Về niên đại : thời gian biên tập chỉ suy từ những tính cách văn chương và thần học. Văn phong, từ vựng cho phép nghĩ là sau lưu đày. Đa số : thế kỷ V. Về sứ điệp : Gio-na nghĩa là chim câu, thích quanh quẩn ở nhà và ngây ngô, là tính cách của Giôna. Biết Thiên Chúa ở khắp mọi nơi mà chạy trốn Ngài. Biết Thiên Chúa thương xót mà không muốn ai được thương xót. Trên tàu, không cầu khi người ngoại tế lễ Javé của Israel. "Vui hể hã" và "giận đến chết mất" vì một cây thầu dầu : đúng là chân dung Israel truyền thống. Mặt khác, tác giả đả kích chủ nghĩa đặc thù của dân từ chối cứu độ cho những người ngoại giáo, thành Ninivê to lớn, đã từng lâu năm là thù địch với họ và với Javé. Đây là phản ứng của một nhân vật hết sức cởi mở, chắc là vào thời cải tổ do Esdras-Néhemie, trong đó cộng đoàn khép kín lại trên bản thân mình, mà quên rằng mình là nhân chứng của Javé trước thế giới. Sách Giona, theo lốt Isaie II, đi trước hay đi kèm lí tưởng phát biểu bởi Is 60-62 ; Kg 2,7 ; Dcr 8,23 ; Ml 1,11 chuẩn bị cho "Israel của Thiên Chúa" đến : Rm 9,6-8, 29-30 ; Ga 6,16.
114

Sứ điệp về bản chất thật sứ ngôn sâu sắc, trong một lối trình bày midrash và khôn ngoan luận.

IX. MALACHIE (Ml)
Đa số tác giả cho cuốn sách này là khuyết danh, cái tên Malachie là một danh từ chung được chuyển vị của 3,1 : Malachie, sứ giả của tôi. Cũng có tác giả cho đây là tên riêng. Truyền thống Do Thái cho ông cũng là Esdras, điều đó giải thích cho biết tại sao có đồng nhất quan điểm về lí tưởng tôn giáo và gần gũi về thời gian. 1. Chương trình và nội dung cuốn sách Không có lược đồ chính quy, chỉ có một chuỗi kế tiếp những bài tranh luận gồm một bài ngỏ của ngôn sứ, một bài đáp của thính giả và một bài đáp về phía ngôn sứ. Đây là thủ pháp văn chương gã gập thấy ở Amốt, Êdêkien, Is 6, diễn từ và kết luận : -Dẫn nhập : 1,1-5 : lòng yêu nhưng không của Thiên Chúa đối với Israel lại được khẳng định, ngược lại với lòng "ghét" đối với Esau - Edom. - Cảnh giác các tư tế : 1,6 - 2,9 : những bất hợp luật nghiêm trọng về phụng tự, cho thấy một tôn giáo xuống cấp, làm cho phụng tự không thể được chấp nhận. Một hình phạt chờ đón hàng tư tế, trong khi Thiên Chúa hứa phục hồi việc phụng tự : mới, thiêng liêng, bao quát cả nhân loại, "lễ dân thanh sạch" : 1,11. - hôn nhân bị uế tạp : 2, 10-16 : sự trung thực hoàn toàn bị vắng bóng, ngôn sứ chỉ trích sự gian dối với Thiên Chúa : hôn nhân với người ngoại giáo, rồi li hôn dễ dàng quá. - Loan báo ngày của Javé : 2,17 - 3,5 : trước vấn nạn những người phủ nhận sự công chính, Thiên Chúa đã đáp lại bằng loan báo "ngày" của Người và việc "sứ giả" của Người đến. Người sẽ thanh tẩy dân và sẽ chấp nhận việc phụng tự của họ.
115

- Những lợi tức phụng tự : 3,6 -12 : việc góp phần mười cho đền thờ sẽ làm người ta khỏi phải chúc dữ. Vấn đề thưởng phạt : 3,13 -21 : Từ vựng và cách đặt vấn đề cho thấy một lối suy tư có sau suy tư ở 2,17 liên quan tới thưởng phạt. - Phụ thêm : 3,22-24 : Giữ luật Môsê ; câu 23-24 nhân cách hóa "Sứ Giả" ở 3,1, cho đóng vai Elie : tái lập trật tự trong xã hội để chuẩn bị cho Messie đến. 2. Thời kỳ của sách Những sao nhãng về phụng tự phía hàng giáo sĩ cho thấy sách ở vào thời khá xa thời sốt sắng trở lại của Khacgai và Dacaria. Những bất công xã hội và lạm dụng hôn nhân là của thời Nơkhemia. Giọng đả kích cứng cỏi cho thấy lần can thiệp thứ nhất của Nơkhemia (445) chưa đến. Những gần gũi về văn chương với Đệ Nhị Luật cho phép nghĩ về thời kí trước công bố cuối cùng của Luật Tư Tế do Esdras. Mà bởi thời gian có sứ mệnh của Esdras bị bàn cãi, ta chỉ có thể duy trì là Malachie vào khoảng 460. 3. Sứ điệp Malachie mạnh mẽ nhắc lại lí tưởng ngôn sứ truyền thống : Việc chọn dân ; tính siêu việt của sự thánh thiện Thiên Chúa, những yêu sách của sự công bình xã hội ; hơn các ngôn sứ khác, ông nhấn mạnh sự trung thành trong phụng tự phục vụ sự thánh thiện Thiên Chúa ; nhấn mạnh vai trò giáo thuyết của hàng tư tế hơn là vai trò tế lễ. Gián tiếp bênh vực Luật bằng cách đấu tranh chống những hôn nhân lai tạp. Lấy lại giáo huấn của Sáng Thế 2, chuẩn bị cho giáo huấn của Tân Ước về hôn nhân đơn hôn và vĩnh hôn.

X. ZACHARIE 9-14 (Dcr II)
Từ 1948, giới chú giải Công giáo đã lựa chọn tách Dcr 1-8 khỏi Za 9-14. Hai phần có những tính cách hoàn toàn khác. Tên các nhân vật, tình hình lúc phục hưng, tái
116

thiết đền thờ, quản trị cộng đoàn, quan hệ giữa vua và tư tế không gặp ở 9-14 nữa. Văn chương cũng khác. 1. Nội dung Dcr 9-14 - 9,1-8 : thanh tẩy các dân lân cận : Lời Thiên Chúa, hoạt động và hữu hiệu, bắt đầu tác động trên Damas và các tỉnh lân cận. Đây là một cuộc xét xử phá và xây, giúp họ có thể được nhận vào cộng đoàn. . - 9, 9-10 : Messie khiêm tốn và nghèo hèn, trải rộng sự thống trị trên toàn thế giới. - 9,11-17 : Giải thoát các tù nhân sau một chiến thắng. - 10, 1-2 : một mình Thiên Chúa thực hiện cứu độ, các thần tượng không thể. - 10,3 -11,3 : tập họp chung sau một Xuất Hành mới. - 11,4 -17 + 13,7-9 : mục tử bị loại bỏ (bất xứng). - 12,1 - 13,6 : giải thoát, trở lại và thanh tẩy nhờ tác động của Đấng bị giết. - 13,2-6 : thanh tẩy xứ sở thực hiện nhờ thanh toán những tàn tích của ngẫu tượng và nguỵ ngôn sứ. - 14 : thiết lập vĩnh viễn vương quyền Javé 2. Niên đại cuốn sách .-Việc liệt kê các thành Philitinh, việc nhắc đến Assyri, việc giới thiệu Đấng Messie -Vua, đã làm người ta trước đây cho Dcr 9-14 là thuộc thế kỷ VIII. Có những tác giả lại cho là nửa đầu thế kỷ V. Trái lại, cho đến năm 1940, một số đông cho là thời kì Macabê. Nhưng thể loại văn chương, bối cảnh chung chống lại ý đó. Chỉ còn thời kỳ Hy Lạp, những năm 332-300 : 9,1-8 hợp với thời kỳ đầu cuộc chinh phục của Alexandre ; 9,11-12, những người bị bắt, có thể là bị Ptôlêmê I đưa đi năm 311... 3. Sứ điệp Chủ đề cứu độ chiếm toàn bộ Dcr II. Sau một thời im tiếng tiếp theo những năm phục hưng, sự mong chờ cứu độ được khơi lại vào thời kỳ Alexandre : Javé là anh hùng bách thắng, sẽ toàn thắng bằng phục hồi một vương quốc phổ quát và vĩnh cửu.
117

Mặt khác tình hình cụ thể của cộng đoàn nghèo nàn, bị chia rẽ, bị khai thác bởi những thủ lĩnh xấu, bị tàn phá bởi Ai cập năm 311, tất thảy những cái đó làm nảy sinh một hy vọng mới, hy vọng về một Cứu Chúa nghèo, một Mục tử thanh liêm nhưng bị loại bỏ (11,4-17), nhất là một lễ vật vô tội hiến mạng chuộc và thanh tẩy tất cả. Hy vọng này cho những viễn cảnh ít rộng rãi hơn, tập trung hơn vào đời sống bên trong của dân. Nó nói lên sự mong chờ của "những người nghèo của Javé" mà các thánh ký Tin Mừng sau này sẽ thích lấy nơi Dcr II để minh định chân dung Đấng Cứu Thế./.

118

Mục lục TIẾT I. CÁC SÁCH NGÔN SỨ TIỀN
Chương I. Sách Gio-suê Chương II. Sách Các Thủ lĩnh Chương III. Các Sách Sa-mu-en Chương IV. Các Sách Các Vua

TIẾT II. CÁC SÁCH NGÔN SỨ HẬU
Chương I. Các ngôn sứ Chương II. Các ngôn sứ thế kỉ VIII Chương III. Các ngôn sứ thế kỉ VII và đầu thế kỉ VI Chương IV. Các ngôn sứ thời lưu đày Chương V. Trào lưu ngôn sứ thời Ba Tư

119

120

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->