P. 1
Khủng hoảng kinh tế

Khủng hoảng kinh tế

|Views: 832|Likes:
Được xuất bản bởiNguyễn Đức Thiện

More info:

Published by: Nguyễn Đức Thiện on Mar 10, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

05/18/2013

pdf

text

original

Khủng hoảng kinh tế Mỹ và ảnh hưởng ở Việt Nam

Vũ Quang Việt
http://www.youtube.com/watch?v=V8EXqhSo_RQ&feature=related Khủng hoảng kinh tế, là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn cả suy thoái trong chu kỳ kinh tế. Một định nghĩa khác với cách hiểu ngày nay là trong học thuyết Kinh tế chính trị của Mác-Lênin. Từ ngữ chỉ này khoảng thời gian biến chuyển rất nhanh sang giai đoạn suy thoái kinh tế. Bài viết này chủ yếu về khái niệm Khủng hoảng kinh tế của Karl Marx vốn vẫn được dùng thịnh hành trong Kinh tế chính trị Marx. Khủng hoảng kinh tế đề cập đến quá trình tái sản xuất đang bị suy sụp tạm thời. Thời gian khủng hoảng làm những xung đột giữa các giai tầng trong xã hội thêm căng thẳng, đồng thời nó tái khởi động một quá trình tích tụ tư bản mới. Nhiều nhà quan sát sự áp dụng của học thuyết Marx cho rằng tự bản thân Karl Marx không đưa ra kết luận cuối cùng về bản chất của khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản. Thực vậy, những nghiên cứu của ông gợi ý nhiều lý luận khác nhau mà tất cả chúng đều gây tranh cãi. Một đặc điểm chủ yếu của những lý luận này là khủng hoảng không phải ngẫu nhiên và không tự

nhiên mà nó bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa tư bản với vai trò là một hình thái xã hội. Marx viết, “cản trở của nền sản xuất tư bản chính là tư bản”. Những lý luận này bao gồm:

Xu hướng suy giảm tỷ suất lợi nhuận. Tích tụ tư bản gắn liền xu hướng chung của mức độ tập trung tư bản. Điều này tự nó làm giảm tỷ suất lợi nhuận rồi kìm hãm chủ nghĩa tư bản và có thể đưa đến khủng hoảng. Tiêu thụ dưới mức. Nếu giai cấp tư sản thắng thế trong cuộc đấu tranh giai cấp với mục đích cắt giảm tiền lương và bóc lột thêm lao động, nhờ đó tăng tỷ suất giá trị thặng dư, khi đó nền kinh tế tư bản đối mặt với vấn đề thường xuyên là nhu cầu tiêu dùng không tương xứng với quy mô sản xuất và tổng cầu không tương xứng với tổng cung. Sức ép lợi nhuận từ lao động. Tích tụ tư bản có thể đẩy nhu cầu thuê mướn tăng lên và làm tăng tiền lương. Nếu tiền lương tăng cao sẽ ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận và khi đạt đến một mức độ nhất định sẽ gây ra suy thoái kinh tế.

Về mặt lý luận, ít nhất những quan điểm trên không mâu thuẫn với nhau và có thể đóng vai trò là những nội dung trong một học thuyết tổng hợp về khủng hoảng kinh tế.

Tình hình khủng hoảng ở Mỹ
Đối với những người theo dõi kinh tế Mỹ, những yếu kém của nền kinh tế này đã bộc lộ rõ từ trước năm 2000 nhưng đến nay mới bùng nổ. Thiếu hụt cán cân thanh toán nước ngoài đã tới trên 400 tỷ từ 2000, trên 4% GDP và tiếp tục tăng mức thiếu hụt, đạt 811 tỷ năm 2006 bằng 6% GDP. Năm 2007, đồng đô la mất giá, có làm giảm mức thiếu hụt xuống 734 tỷ nhưng cũng ở mức rất cao. Các nước khác nếu thiếu hụt ở mức 3% GDP thì đã phải lo lắng bằng mọi cách nhằm điều chỉnh để giảm mức thiếu hụt này. Nền kinh tế Mỹ trong hơn 10 năm, có lợi thế là được sự tin tưởng của cả thế giới, nên tiền đổ vào để cho dân chúng đầu tư và tiêu sài. Để dành của dân chúng vào năm 2006 chỉ có 34 tỷ, gần như 0% GDP, và tỷ lệ để dành thấp này chỉ khoảng 1-2% đã kéo dài từ cả chục năm nay. Đầu tư của Mỹ bằng 19% GDP, chủ yếu dựa vào lợi nhuận công ty, nhưng đến 30% số tiền đầu tư là do vay mượn nước ngoài. Tình hình tài chính của Mỹ chẳng khác gì một nước đang phát triển không kiểm soát nổi hầu bao mình. Các nước ở châu Mỹ Latin và ở châu Á sau cuộc khủng hoảng tài chính những năm 90 đã cố gắng làm sạch sẽ tài chính, tăng cường để dành, và trở thành nguồn tài chính tài trợ tiêu dùng của Mỹ. Mỹ đang mất vốn vì giá xuống thì đầu tư của các nền kinh tế của những nước này cũng sẽ không thể không bị cụt vốn theo. Nói thế không có nghĩa là mọi người có tiền trên thế giới đầu tư vào Mỹ sẽ lo sợ, ồ ạt rút khỏi Mỹ vì thực sự họ cũng sẽ khó kiếm chỗ thay thế an toàn và tạo ra lợi nhuận, nhưng việc rút ra một phần cũng tạo ảnh hưởng không nhỏ.

Tiền đổ vào làm thị trường chứng khoán và tài sản lên giá quá mức giá trị của nó. Điều này thì ai cũng biết, nhưng rất nhiều người vẫn không tin là giá có thể xuống. Đặc biệt là các nhà kinh doanh tiền tệ, họ phải thổi phồng vì càng lên giá, càng say sưa với thị trường thì giao dịch càng tăng, vay mượn càng nhiều và phí dịch vụ càng lớn. Giá cổ phiếu Mỹ đã qua thời kỳ điều chỉnh, đặc biệt là giá các công ty công nghệ thông tin được thổi phồng, chỉ số Nasdaq lên trên 5000 năm 2000 và hiện nay chỉ còn trên 2000, bằng ½ trước đây. Chỉ số Dow Jones ít bị ảnh hưởng của việc thổi phồng, cũng giảm từ cao điểm gần 12000 năm 2000, xuống tới mức 7540 và sau đó phục hồi để sau 7 năm mới trở lại thời năm 2000. Bong bóng thị trường chứng khoán đã tự nó giải quyết bằng cách xuống giá, và để nhằm giữ nền kinh tế khỏi tuột dốc, Cục dự trữ Liên bang (Fed) đã giữ lãi suất ở mức rất thấp và lại kéo dài thời gian quá lâu, đầu tư vào nhà cửa tiếp tục tăng, giá nhà cửa trở thành bong bóng. Trong 5 năm qua giá nhà khắp nơi tăng, thấp nhất ở các bang hẻo lánh nhiều đất cũng tăng ít nhất 17%, và ở nơi có nhiều đầu cơ tăng hơn gấp đôi. Nếu kể từ năm 1980, giá nhà ở những bang như New York, California, Massachussets tăng 5, 6 lần, trong khi lương danh nghĩa ở những vùng trên chỉ tăng gần 3 lần. Kể từ năm 1997 đến nay những nơi này tăng giá 3 lần. Nước Mỹ đang gặp phải 3 vấn đề lớn về tài chính. Thứ nhất sự phát triển không kiểm soát của thị trường cho vay địa ốc dưới chuẩn, có nghĩa là không cần đặt cọc, không cần đủ thu nhập để chi trả mà vẫn được vay. Thứ hai cho vay tiêu dùng qua thẻ tín dụng quá mức mà tuần qua City Group là nạn nhân đầu tiên về thẻ tín dụng, lỗ 18 tỷ, mà chỉ một phần nhỏ là nợ dưới chuẩn vì tháng 9 vừa qua họ chỉ có 2,7 tỷ nằm trong khoản dù hiện nay giá trị còn lại chỉ còn 5%. Thứ ba, khủng hoảng tín dụng đã lan rộng đế cả khu vực đầu tư địa ốc văn phòng, chứ không chỉ tập trung vào khu nhà ở. Các công trình xây dựng có thể trở thành dở dang vì không kiếm được tiền cho xây dựng tiếp tục. Giá nhà nói chung trong thời gian vừa qua đã xuống 7%, nhưng nhiều nhà kinh tế cho rằng giá nhà sẽ tiếp tục xuống vào năm 2008 và có thể tiếp tục vào năm 2009, và có thể tới mức 30%. Tất nhiên những bang lên giá nhiều sẽ xuống giá nhiều, bang lên giá ít sẽ xuống giá ít. Chưa biết được rõ nền kinh tế sẽ suy thoái mạnh yếu như thế nào, nhưng suy thoái là điều khó tránh.

Phân tích nguyên nhân
Chưa bao giờ trong lịch sử nước Mỹ mà giá nhà tăng trong thời gian dài và đến mức cao như vậy. Trong thời gian dài, giá nhà tăng mạnh cũng vì các thủ thuật tài chính của toàn bộ khu vực tài chính nhằm khuyếch tán ảo tưởng giá nhà lên không có chỗ ngừng, vượt cả khả năng chi trả của rất nhiều người đầu tư vào địa ốc. Nhưng nếu giá cứ lên thì có gì phải lo, đó là tâm lý đại chúng cho đến thời gian vừa qua. Thủ thuật tài chính này là sự ra đời của CDO và phát tán rộng rãi trong thị trường địa ốc. Vậy CDO là gì? CDO (collaterized debt obligation) có thể dịch tạm là trái phiếu hay nghĩa vụ nợ có thế chấp. Thế chấp có' thể là trái phiếu (bonds) hay các khoản nợ cho vay mua nhà (mortgage). Trường hợp sau

nói chung là địa ốc. Các chứng khoán này thường có thời gian chuộc lại từ 5 đến 30 năm. nhưng rồi sau đó bị bắt tù về tội về tội gian lận trong buôn bán trái phiếu vì dùng thông tin nội gián. Đây là cách làm rất thông thường. security) đem bán đại trà cho người đầu tư nhỏ. Người Mỹ luôn luôn tìm tòi cách làm mới để sinh lợi. dùng chúng làm thế chấp. ngân hàng phải thu hút tiền ký gửi ít nhất 100 tỷ. Ông ta mua những trái phiếu công ty dưới chuẩn. dễ khủng hoảng hơn trước. Người ta mua chứng khoán vì lãi suất cao hơn. Ngân hàng thương mại nhảy vào vùng cấm trước đây vì luật Mỹ thay đổi cho phép đa dạng hoá họat động tài chính. được mệnh danh là rác (junk bonds). thí dụ ở đây là 100 tỷ. lãi suất sẽ thấp mãi. và sau đó ít lâu tăng lên theo lãi suất thị trường. Tiền làm nhanh. còn chủ yếu việc làm này là của công ty tài chính thường được gọi là ngân hàng đầu tư (chỉ làm chuyện đóng gói. một ông trùm tài chính. chia ra nhiều giấy nợ nhỏ tức là chứng khoán (cổ phiếu cũng là một loại chứng khoán. Để có số tiền này. tạo ra các chứng khoán mới. phí tính vào việc tổ chức đóng gói nợ tức là tính vào người đầu tư nhỏ. rồi dùng chúng làm thế chấp. được coi là khám phá thần kỳ. Đây là thị . thấp hơn A). Tất nhiên nếu cho vay nhiều người. có thể dễ dàng bán ra và tin là nó có độ rủi ro thấp. họ cần đa dạng hoá người vay và đa dạng hoá vùng hoạt động của người vay. bằng cách khuyến khích vay với lãi suất lúc đầu thật thấp. nhưng hầu hết là không. đóng thành gói. Cách làm khá đơn giản. Các nhà đầu tư địa ốc đã mở rộng thị trường bất kể quyền lợi của người tiêu dùng.được gọi là CMO (collaterized mortgage obligation hay security) có thể tạm dịch là trái phiếu hay chứng khoán thế chấp bằng nợ cho vay mua nhà. Nói chung.1 ngàn tỷ (theo Research Quarterly của Hội buôn trái phiếu). Ngân hàng thương mại (cho vay tiền) chỉ mới bắt tay vào hoạt động này trong vài năm gần đây. Một vài hoạt động kinh tế có thể có rủi ro cao nhưng hầu hết các hoạt động kinh tế khác thì không. không chỉ để mua nhà mà để tài trợ nhiều hoạt động kinh tế khác nhau. trở nên giàu sụ vì chuyện này. Những người đi vay này tưởng rằng giá nhà sẽ lên mãi mãi. Tất nhiên họ tính phí. gây vốn cho vay cả những người thu nhập thấp ít khả năng trả nợ. nên họ đâm đầu thi nhau mua nhà. Làm như vậy ngân hàng thu lại 100 tỷ và biến người mua chứng khoán thành người cho vay. Ngân hàng thu hút tiền gửi ngắn hoặc trung hạn và cho vay dài hạn. Thí dụ ngân hàng A cho nhiều người vay mua địa ốc với tổng số tiền là 100 tỷ. CMO có thể lành mạnh nếu chúng không phát triển ồ ạt vào khu vực dân cư ít khả năng trả nợ chỉ vì mục đích làm tiền.9 ngàn tỷ tính tới tháng 5 năm 2006 trong đó CMO liên quan tới địa ốc chiếm tới 6. thì độ rủi ro giảm. ngân hàng hoặc công ty dịch vụ tài chính nào đó sẽ làm việc thu tiền trả nợ của người vay gồm cả khoản vay gốc và lãi đem chia đều cho các chứng khoán. Cũng vì thế mà thị trường tài chính thế giới trở nên bấp bênh. Do đó để giảm rủi ro. buôn bán chứng khoán). Ngân hàng ăn phí nhiều chặng (phí tính trên người đi vay mua nhà. rủi ro tưởng ít vì các công ty đánh giá chúng cao ở mức cao AAA (cần biết là họ đánh giá Việt Nam ở mức BB. Ngân hàng đẩy toàn bộ rủi ro sang cho người đầu tư chứng khoán. Hàng loạt ngân hàng lớn của Mỹ đang lỗ to vì theo chân sang kiến của Michael Miken Hiện nay số tiền đầu tư vào trái phiếu ở Mỹ lên tới 25. Khách hàng có người gặp khó khăn. là ngân hàng có thể tập hợp nhiều giấy nợ đó lại thành một gói. Một cách làm khác. Ngân hàng có thể chịu rủi ro nếu như người ký gửi rút tiền ra mà ngân hàng không có để trả. Cách làm này được coi là một sáng kiến diệu kỳ của Michael Milken. và phí tính vào việc thu nợ từ người đi vay và chia lại số thu này cho người đầu tư chứng khoán.

City Group. công ty Morgan-Stanley mất 3. 8 ngân hàng lớn và công ty tài chính lớn của Mỹ như Merrill Lynch. công ty tài chính.trường được gọi là thị trường dưới chuẩn. như bảo hiểm tiền để dành. dù không nhiều. nhằm vượt qua những chuẩn mực kiểm soát nhất định. không còn mang giá trị gì nữa vì chúng chỉ có giá khi có tiền chi trả của người đi vay. Các ngân hàng. cuộc khủng hoảng tài chính lớn này đã tạo ra một số chuẩn kiểm soát nhất định nhằm bảo vệ người ký quĩ tiền. phát hành trái phiếu (hay chứng khoán) vốn để cho vay dưới chuẩn với lãi cắt cổ những người không có khả năng chi trả. Ngân hàng thay vì hoạt động môi giới giữa người ký gửi tiền và người đi vay thì họ cũng xông vào đầu tư. Do đó việc cứu nguy nền kinh tế cũng không dễ dàng vì không ai nắm rõ ai mượn ai. tạo luật để lãi suất cho vay không vượt một lãi suất thị trường ở một mức nhất định. Khi lãi suất tăng. Trước đây. Bank of America đã phát hành 286 tỷ CMO dưới chuẩn. . không những ở Mỹ mà ở khắp thế giới đang mất vốn lớn và có thể đi đến phá sản. Lần này khác hẳn. Đến nay tổng số tiền các công ty tài chính và ngân hàng tuyên bố lỗ đã lên đến 100 tỷ đô la. nền kinh tế đang phải đối phó với các công cụ tài chính mới được đẻ ra nhằm tăng cường lợi nhuận cho ngân hàng và các công ty tài chính mà không bị đặt dưới sự kiểm soát nào cả như đã nói ở trên. Tháng 10 và 11 vừa qua. Nhưng hiện nay với những cái gọi là “sáng tạo tài chính”. Morgan Chase. Golden Sachs. quĩ tín dụng. kinh tế suy thoái vì nhà nước phải tiêu dùng cho chiến tranh quá nhiều. tập đoàn City Group khai mất 8. nhà đầu tư nước ngoài cũng tin tưởng mù quáng vào tương lai của thị trường nhà cửa. mà lại tài trợ bằng in tiền nên gây lạm phát. Mặc dù vẫn chấp nhận thị trường tự do. mua giữ các CMO rác này.7 tỷ vốn và nhiều ngân hàng như Bank of America và nhiều quĩ tài chính khác mất vốn lên hàng tỷ. Chỉ trong vòng 6 tháng đầu năm 2007. tiền mượn mua nhà mất khả năng chi trả. Không những dân chúng mua. mà các ngân hàng.4 tỷ vốn. đặc biệt là người nghèo. với lãi suất cắt cổ. các CMO trở thành rác thật. Và việc phải đến đã đến. công ty tài chính. Suy thoái và giải pháp Có lẽ chưa có một cuộc suy thoái nào chủ yếu gây ra vì một thị trường tài chính vượt ra ngoài sự điều hành của thể chế kinh tế được thiết lập sau đại khủng hoảng kinh tế năm 1930. thí dụ ngân hàng liên kết hoặc mở ra các quĩ tài chính “độc lập”. hoặc giá dầu tăng quá mức mà chính sách tiền tệ không được sử dụng nhằm ngăn cản lạm phát. Nhiều tên tuổi khác sẽ tiếp tục khai mất vốn vì đây chỉ là khởi đầu của khủng hoảng. nhiều hoạt động nằm ngoài ngân hàng. hoặc nền kinh tế phát triển quá nóng do đó cần có sự điều chỉnh của thị trường. trên 30% là bình thường để khuyến khích tiêu xài. Cũng vậy các công ty tín dụng hoạt động với ngân hàng cho vay qua thẻ tín dụng.

. Thay vì áp dụng các biện pháp nhằm giảm bong bóng trên thị trường nhà đất (như đánh thuế nhà đất. nhiều ứng cử viên tổng thống. nhằm tăng tiêu dùng. và do đó nằm ngoài tầm kiểm soát và hiểu biết của các cơ quan điều hành thị trường tài chính như Cục Dự trữ Liên bang. giảm bớt khả năng suy thoái. đưa đến giảm xuất khẩu của nhiều nước. Có hai thị trường ở ta mà ai cũng thấy là bong bóng: đó là thị trường nhà đất và thị trường chứng khoán. Và chưa chắc nó đã liều thuốc đúng. Số tiền này chỉ là liều thuốc bổ cho người bị sốt rét. Cụt vốn khắp nơi không thể không ảnh hưởng đến đầu tư vào Việt Nam. Các sàn chứng khoán của các nước đã giảm 2 đến 7%. Tổng thống Bush. vỗ về dân chúng. hiện nay đã lên trên 4% năm. giảm lãi suất sẽ giảm sức hút tiền vào Mỹ. là chi đầu tư của nhà nước. Đây thực ra chỉ là hành động mị dân. nhiều nghị sĩ gần như đồng thanh phải nhanh chóng bỏ ra khoảng 150 tỷ đô la để giảm thuế. Bài học lớn hơn Việt Nam cần rút ra là mối đe đoạ về một cuộc khủng hoảng tương tự về tài chính đang tiềm ẩn mà Việt Nam dường như chưa thấy mối nguy cơ. Vấn đề là Mỹ đang tiêu xài nhiều hơn cái họ có. đồng thời đẩy mạnh thêm lạm phát. Mà hai thứ trên thì cần thời gian mới có tác dụng. Cái có kết quả là giảm lãi suất. nhưng không ai rõ nó tiếp tục vỡ bùng thêm ở chỗ nào. nhất là thị trường Mỹ vào năm 2007 đã chiếm tới 24% trị giá hàng xuất khẩu của Việt Nam. Nhiều nền kinh tế đều có đầu tư vào Mỹ. Các giải pháp ngắn hạn và cả suy thoái cũng không thể giải quyết được vấn đề dài hạn này. các “sáng tạo tài chính” không nằm trong tầm phải minh bạch trong báo cáo tài chính. vì bản thân của vấn đề là mới và vì như đã nói.Làm thế nào để giải quyết? Có thể nói đây là cuộc khủng hoảng dường như ngày càng trầm trọng hơn. do đó mất giá ở Mỹ sẽ đẩy mạnh mất giá trên toàn cầu. Lý thuyết kinh tế của hai nhà kinh tế lớn là Milton Fridman (bảo thủ) và Franco Modigliani đã chứng minh rằng (và được nhiều lần kiểm nghiệm) là tiêu dùng là phương trình của thu nhập được coi là vĩnh viễn (permanent income). Việt Nam cũng khó tránh khỏi vấn đề này. đánh thuế lãi bán địa ốc như thu nhập) và để thị trường chứng khoán tự nó giải quyết nó. Mỹ đang cần tiền từ các nước. đồng thời sẽ có phương án cho phép các ngân hàng cho vay đầu tư chứng khoán tùy theo năng lực của mình để đẩy giá chứng khoán lên. Do đó chi tiêu như trên sẽ không có kết quả. Cộng thêm là mối đe doạ lạm phát mạnh đang đè nặng. nếu khủng hoảng ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất vì giảm tiêu dùng như đang hình thành ở Mỹ thì hàng nhập khẩu vào Mỹ sẽ giảm. Ngoài ra. cuộc khủng hoảng Mỹ đã lan ra thị trường thế giới. Khuynh hướng của người tiêu thụ là không tiêu nhiều thu nhập nhất thời. khó lòng hiểu được quyết định của nhà nước vừa qua như tin loan trên KinhtếSaigononline (2/1/08): Ngân hàng Nhà nước đã quyết đinh sẽ mua vào ngoại tệ từ ngày 15-1 để nhằm bơm tiền đồng vào thị trường chứng khoán. Khủng hoảng Mỹ và kinh tế Việt Nam Ít nhất là ngày 21 tháng giêng.

. nó sẽ làm suy yếu hệ thống ngân hàng vì đồng tiền của dân không còn được bảo đảm: sự suy sụp của chứng khoán sẽ kéo theo sự suy sụp của ngân hàng do mất khả năng thanh toán. làm khốn khổ thêm đời sống của nhân dân và làm suy yếu toàn bộ nền kinh tế. Hành động trên có hai tác động xấu. ▪ THÙY TRANG 10:01 (GMT+7) . Những lập luận cho nhận định trên được các giáo sư. câu trả lời được Giáo sư David Dapice. Nếu thế tại sao không dẹp luôn tiền đồng và dùng tiền đô như một vài nước đang làm và qua đó dẹp luôn khả năng nhà nước có chính sách tiền tệ và tài chính độc lập. Việt Nam và 4 dấu hiệu khủng hoảng tài chính E-mail Ý kiến (0) Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: Hệ thống tài chính của Việt Nam vẫn chịu sự chi phối bởi các ngân hàng thương mại không được kiểm soát một cách hiệu quả với lượng nợ xấu khá lớn.Cho phép ngân hàng cho vay mua chứng khoán theo năng lực và đẩy tiền mua ngoại tệ với hy vọng bơm tiền thêm vào bong bóng. nhiều dấu hiệu yếu kém từng là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng 1997 đang xuất hiện ở Việt Nam. chuyên gia của Đại học Harvard danh tiếng nói tới trong bài viết “Lựa chọn thành công” đã được chúng tôi đề cập gần đây. Thứ hai nó sẽ đẩy mạnh thêm lạm phát. nhiều dấu hiệu yếu kém từng là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng 1997 đang xuất hiện ở Việt Nam Liệu Việt Nam có đang đứng trước một cuộc khủng hoảng tài chính? Xét về mặt ngắn hạn. Chuyên gia kinh tế trưởng Chương trình “Việt Nam cùng các cộng sự” đưa ra là “Không”. 21/2/2008 Nhiều chuyên gia cho rằng.Thứ Năm. Đây là một công trình nghiên cứu có chất lượng không chỉ bao trùm các vấn đề mang tính chiến lược phát triển lâu dài mà còn đề cập nhiều ý tưởng về các biện pháp cho những vấn đề nóng hổi mang tính thời sự hiện nay. điều này cũng khá quái gở vì thứ nhất tiền không lẽ được đút túi quần (dù là tiền gì) và thứ hai tại sao lại cổ võ dùng đồng ngoại. Thứ nhất. nhiều chuyên gia cho rằng. khi trong thời gian qua nó đang từ từ trở về giá trị đúng của nó? Không lẽ bộ máy nhà nước được dùng để cứu nguy đại gia? Có người cho rằng thay vì bơm tiền đồng thì cho phép nước ngoài dùng tiền ngoại để mua. Và tại sao lại phải cứu thị trường chứng khoán. Tuy nhiên.

vay ngoại tệ không phòng vệ. Đề cập đến những dấu hiệu chủ yếu đang xuất hiện ở Việt Nam cũng từng là nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997. Và “giao dịch nội gián đã trở thành hiện tượng phổ biến trên thị trường chứng khoán. các giám đốc và những người “chủ” doanh nghiệp vẫn tiếp tục lợi dụng kẽ hở của thị trường để trục lợi cho mình”.4 (có nghĩa là Việt Nam hiện cần 4. Theo các chuyên gia. và chỉ có 2 triệu chứng là không có. đặc biệt ở châu Á đang có tính thanh khoản rất cao. vay nợ chéo trong tập đoàn. thì các chuyên gia thống kê được có 8 triệu chứng Việt Nam bị “dính”. tạo nên bong bóng tài sản. đầu tư quá mức (gần 40% GDP) và hệ số ICOR 4. kiểm soát bất cẩn đối với ngân hàng. Đồng thời.Lịch sử có lặp lại? Nhóm chuyên gia nhìn nhận Việt Nam đã có nhiều thay đổi qua 20 năm với thành tích tăng trưởng cao và rất nhiều người dân Việt Nam đã thoát nghèo. Thứ tư. thì cũng có không ít những góp ý được nêu ra. Theo nhóm chuyên gia. Tuy nhiên. Việt Nam cũng đang tích luỹ một lượng lớn nợ ngoại tệ không được phòng vệ. thâm hụt thương mại tăng nhanh và tỷ giá dao động bất thường là những dấu hiệu của những rủi ro ngầm ẩn. Giáo sư Đại học Harvard đưa ra 4 dấu hiệu chính. Việt Nam ngày càng nhận được sự nể trọng và có ảnh hưởng ngày càng lớn trong cộng đồng quốc tế”. Việt Nam cần hành động một cách quả quyết nhằm ngăn chặn những nguy cơ làm suy giảm tốc độ tăng trưởng. bên cạnh những thành quả đó. một lượng tiền lớn có nguồn gốc tham nhũng. . gồm: nợ nước ngoài ngắn hạn và tự do hóa tài khoản vốn. Thứ hai. Một trong những nơi có thể xảy ra là hoạt động của hệ thống tài chính. Các chuyên gia nhận xét: “Trong khi khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tạo ra hơn 90% việc làm trong khu vực công nghiệp và gần 70% sản lượng công nghiệp thì phần lớn tín dụng và đầu tư của Nhà nước lại được dành cho khu vực kinh tế quốc doanh”. đầu tư công kém hiệu quả. Bên cạnh yếu tố lạm phát thì vấn đề trung tâm được các chuyên gia đề cập đến chính là hiệu quả đầu tư. trong số 10 triệu chứng dẫn đến khủng hoảng 1997. hệ số ICOR cao. Sứ mệnh khó khăn Trong khi các chuyên gia đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam trong việc xây dựng một hệ thống tài chính hiện đại vào một thời điểm tương đối thuận lợi khi thị trường vốn quốc tế. gồm: thâm hụt tài khoản vãng lai.4 đơn vị đầu tư để tạo ra một đơn vị tăng trưởng) là rất cao so với các nước khác trong khu vực ở những giai đoạn phát triển tương đương như Việt Nam bây giờ (hệ số ICOR trung bình của các nước trong khu vực là khoảng 3). Theo các chuyên gia. bong bóng tài sản. rửa tiền. và đầu tư nước ngoài đang đổ vào thị trường bất động sản và chứng khoán. Họ nói: “Với tư cách một quốc gia. và lượng vốn đầu tư nước ngoài vẫn đang tiếp tục đổ vào giúp cân đối lại phần nào cán cân tài khoản vãng lai. tất cả những rủi ro trên chưa dẫn tới một cuộc khủng hoảng tài chính là nhờ Việt Nam vẫn chưa tự do hóa tài khoản vốn. nợ xấu cao. Đầu tiên. Thứ ba. chênh lệch lãi suất của trái phiếu quốc tế đầu tiên của Việt Nam được phát hành cuối năm 2005 (được kỳ vọng sẽ là cơ sở để các tập đoàn nhà nước vay vốn trên thị trường quốc tế) luôn thấp hơn mức EMBI trung bình (chỉ số EMBI của JP Morgan đo lường khoảng chênh lệch giữa lãi suất trái phiếu của Chính phủ Mỹ và của các nền kinh tế mới nổi). trong đó nạn nhân là các nhà đầu tư nhỏ lẻ. dư nợ nước ngoài ngắn hạn của Việt Nam còn ở mức kiểm soát được. mặc dù thị trường chứng khoán đã phát triển rất nhanh trong thời gian qua nhưng hệ thống tài chính của Việt Nam vẫn chịu sự chi phối bởi các ngân hàng thương mại không được kiểm soát một cách hiệu quả với lượng nợ xấu khá lớn.

và đây thực sự là một cơ hội cho Việt Nam nếu việc tài trợ bằng vốn vay nước ngoài được thực hiện một cách cẩn trọng. giám sát hệ thống ngân hàng.Điều này có nghĩa là các nước đang phát triển như Việt Nam có thể vay vốn từ thị trường quốc tế với mức lãi suất thấp. Các chuyên gia cũng nhận xét cải cách khu vực ngân hàng ở Việt Nam đã có nhiều tiến bộ. các doanh nghiệp Nhà nước đang sử dụng vốn một cách kém hiệu quả. các chuyên gia cũng lưu ý rằng ngay cả trong giai đoạn thị trường thuận lợi thì Nhà nước vẫn phải thận trọng trong việc giữ nợ ở mức kiểm soát được để tránh những cú sốc chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai.và điều hành chính sách tiền tệ. nhân sự. các chuyên gia khẳng định sẽ có một nguy cơ là Chính phủ và các công ty trong nước trở nên phụ thuộc quá nhiều vào các khoản vay nước ngoài. có thẩm quyền và khả năng điều tiết. Tuy nhiên. Song để phát triển bền vững thì Việt Nam cần có một ngân hàng trung ương thực thụ. và mục tiêu. Theo phân tích của nhóm chuyên gia. Nếu tình trạng này tiếp diễn và các doanh nghiệp này lại được phép tiếp cận với thị trường vốn quốc tế thì một rủi ro thực tế là Việt Nam sẽ phải trả một cái giá khá đắt cho những khoản vay không mang lại mấy giá trị. Bên cạnh đó. . bao gồm độc lập về mặt tài chính. công cụ. Điều này chỉ có thể trở thành hiện thực khi ngân hàng trung ương phải được độc lập trên các phương diện cơ bản.

vừa tăng cường vai trò của các tập đoàn quốc . Kế hoạch năm 2008 đặt mục tiêu tăng GDP ở mức 8. trở nên mê hoặc với các kế hoạch vĩ đại bất chấp thực tế. đặc biệt khi mà Mỹ lúc đó vẫn có khả năng ngăn chận chuyện này. và như thế chặn đường phát triển kinh tế của Việt Nam nhằm mục đích đòi hỏi các nhân nhượng về chính trị. tr. bằng cách vừa tập trung kêu gọi nước ngoài đầu tư trực tiếp và đầu tư tài chính gián tiếp. dù là đối với Pháp hay với Mỹ. chính quyền của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tin rằng việc nhanh chóng bắt kịp các nước trong khu vực đã nằm trong tầm tay.Tháng 11/2009 Khủng hoảng kinh tế Việt Nam 2008: sự sai lầm về chính sách và vai trò của tập đoàn kinh tế quốc doanh* Vũ Quang Việt *Đây là bản viết lại bài “Vietnam’s Economic Crisis: Policy Follies and the Role of State-Owned Conglomerates” trong Southeast Asian Affairs 2009.5-9%. Và như tất cả các cuộc thắng lợi lớn trong quá khứ. 389-417 Nhập đề Năm 2007 đã để lại một dấu ấn quan trọng trong lịch sử kinh tế khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) vào ngày 11 tháng 1 năm 2007 sau khi gói đề nghị của Việt Nam được Đại Hội đồng của WTO chấp nhận vào ngày 7 tháng 11 năm 2006. Lần này. Việc gia nhập WTO do đó được các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam coi là một thắng lợi lớn.thời đại mới TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN Số 17 . Đối với giới lãnh đạo chính trị và dân chúng Việt Nam. trở thành thành viên WTO là cuộc vượt rào cản cuối cùng để Việt Nam hoàn toàn có thể hòa nhập với cộng đồng thế giới. họ như được uống liều thuốc thánh.

Tuy nhiên.Kinh tế Việt Nam có bị khủng hoảng? Tốc độ tăng trưởng cao nhưng lạm phát phi mã. Chỉ tính trong vòng một năm trở lại đây. Ulrike Maenner. gia tăng các hoạt động đầu cơ đang khiến kinh tế VN để lộ nhiều “khoảng trống”. đà sụt giảm của VN-Index đã khiến chứng khoán VN đánh mất không dưới một nửa thành quả phấn đấu trong suốt 7 năm ròng. sự tăng trưởng quá nóng của thị trường đã kéo theo hệ luỵ tất yếu là tình trạng đổ nhào và tốc độ rớt giá vô cùng khủng khiếp của tất cả chứng khoán niêm yết. Hệ luỵ đằng sau những con số “vượt quá mong đợi” Năm 2007. khả năng thu thập.70% thị giá so với đỉnh xác lập cách đây đúng tròn một năm . VN-Index tính đến hết phiên giao dịch sáng 2/4 chỉ còn giữ được mức 525. sản xuất đội lên 20 . Trong khi. doanh nghiệp trong nước kêu than. Chỉ riêng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ba tháng đầu năm 2008 của VN đã là 9.. một phần vốn lớn trong tổng số 20.11 điểm. trong khi cả năm . xử lý và dự báo thông tin liên quan đến biến động giá cả hàng hoá.. Mấu chốt để kinh tế VN đứng vững Nếu nhìn một cách thẳng thắn. thị trường tài chính tiền tệ thế giới cũng là thách thức không nhỏ đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách VN. lạm phát đẩy chi phí tiêu dùng.sức hút của nền kinh tế VN cũng đang trải qua quá nhiều “bĩ cực”. không ít nhà đầu tư đã tỏ ra lo ngại về những mỹ từ sớm được mặc định cho VN .“ngôi sao đang lên”.1%GDP (cuối năm 2005) lên trên 40% (cuối năm 2007). khó có thể phủ nhận những dấu hiệu bất ổn đang chớm xuất hiện trong kinh tế vĩ mô của VN theo như nhận định của TS. Sau giai đoạn thăng hoa với quy mô vốn hoá tăng từ 1. câu trả lời cho những ai đang quan ngại về nguy cơ một cuộc khủng hoảng kinh tế có thể đổ bộ đến VN đã được các chuyên gia kinh tế CIEM khẳng định là “không”. Tuy nhiên các chuyên gia của Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đều đồng thuận quan điểm: Khủng hoảng kinh tế khó có thể chạm tới VN.2%. bất động sản vốn đầy may rủi và bất an. Giám đốc kỹ thuật của Chương trình cải cách kinh tế vĩ mô GTZ VN. FDI vào VN chỉ có thể gói gọn trong hai chữ “bùng nổ” và vượt quá mong đợi.67 điểm lập ngày 12/3/2007. người dân phàn nàn.3 tỷ USD cam kết vào VN lại không tập trung cho sản xuất mà chủ yếu rót vào hoạt động đầu cơ chứng khoán. Liệu một cuộc khủng hoảng tài chính của năm 1997 có một lần nữa tái hiện? Tuy nhiên. “con rồng đang thức tỉnh ở Đông Á”… Những “khoảng trống” khó có thể hàn lấp một sớm một chiều dần lộ diện làm dấy lên không ít trăn trở cho tương lai phát triển của kinh tế VN. Năng lực quản trị rủi ro còn non kém của đa số doanh nghiệp trong nước… Chưa kể. Khi thị trường chứng khoán rơi vào chuỗi ngày “tăm tối”. phân tích.30%. Chính sách tiền tệ và điều hành tỷ giá đang bộc lộ sự thiếu nhất quán trong mục tiêu kiềm chế lạm phát và bình ổn tỷ giá. thị trường chứng khoán . Hầu hết cổ phiếu đều giảm từ 50% đến 60 . Từ đỉnh 1170.

kinh tế VN sẽ không rơi vào khủng hoảng .mấu chốt là do VN vẫn chưa tự do hoá tài sản vốn và Chính phủ VN đang nỗ lực điều hành. FDI và vốn đầu tư gián tiếp vẫn duy trì được thặng dư.kiềm chế lạm phát đang là một phương trình không dễ tìm ra đáp số đối với các nhà quản trị.5 – 9%.2007 con số này ở mức 12. KINH TẾ VIỆT NAM TRƯỚC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU Posted on 14/06/2009 by Civillawinfor TS. Tháng 5 năm 2008 Quốc hội đã điều chỉnh tỷ lệ tăng trưởng GDP xuống 7%. Đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế Tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta chậm lại. Nếu không kiềm chế được lạm phát. Đối với hệ thống tài chính – ngân hàng Mặc dù hiện tại hệ thống tài chính ngân hàng của Việt Nam chưa chịu tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ vì hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu của hội nhập. Nhìn một cách tích cực.5 đến 6. thâm hụt thương mại khá nặng nề của VN âu cũng là điều tương đối dễ hiểu với một nước đang phát triển nhanh chóng cần nhập lượng lớn máy móc. ổn định thị trường tài chính tiền tệ. nhưng đến tháng 10 năm 2008 tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế là 6.6% đã khiến người dân hoảng sợ. tăng trưởng GDP dự kiến từ 8. thiết bị tăng cường năng lực sản xuất cho nền kinh tế. Trong khi.52%. Tuy nhiên. bình ổn thị trường . nhưng trước mắt sẽ có những hạn chế trên một số lĩnh vực như: . Bài toán hoá giải mối quan hệ: tăng trưởng kinh tế . thị trường chứng khoán. dự kiến năm 2008 tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ từ 6. NGUYỄN VĂN TẠO – Trường BDCB Tài chính – Bộ Tài chính I. cán cân thanh toán quốc tế nhờ lượng kiều hối. 2. điều hành kinh tế của VN.7%. Kế hoạch đầu năm 2008. nỗ lực “chìa vai” gánh vác. vẫn có những cơ sở chắc chắc để các chuyên gia của CIEM khẳng định .cũng là cảnh báo cấp thiết được các chuyên gia của CIEM đưa ra. Đặc biệt. Đánh giá tác động của khủng hoảng tài chính tòan cầu đến Việt Nam 1. nợ nước ngoài của VN vẫn đang trong “tầm kiểm soát”. luồng vốn lớn sẽ đổ vào các hoạt động đầu cơ thay vì tập trung hợp lý cho hoạt động sản xuất tạo giá trị gia tăng đich thực cho nền kinh tế . của Chính phủ VN hiện nay đang là cơ sở cho niềm tin lớn của nhà đầu tư vào sự ổn định và phát triển của kinh tế VN.

Dấu hiệu của suy giảm kinh tế đã bắt đầu xuất hiện. nhiều mặt hàng thế mạnh của Việt Nam sẽ giảm giá và chắc chắn sẽ tác động trực tiếp đến kim ngạch xuất khẩu. năm 2008 Việt Nam có . Khủng hoảng tài chính đã tác động đến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường Mỹ do cầu tiêu dùng tại thị trường Mỹ đang trên đà giảm mạnh.. ảnh hưởng đến nợ vay ngắn hạn của Việt Nam tại các ngân hàng và doanh nghiệp. theo đó nhập khẩu đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sẽ có xu hướng giảm. phần vốn vay thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư. các ngân hàng gặp khó khăn sẽ làm cho nhiều hợp đồng vay vốn không được ký kết hoặc không thể giải ngân được. .Trong ngắn hạn. có thể nhận thấy hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài là từ châu Á (13% từ Nhật Bản và 67% từ các nước châu Á khác).Mức độ liên thông giữa hệ thống ngân hàng Việt Nam với thị trường tài chính bên ngoài và với ngân hàng Mỹ sẽ gặp khó khăn. tài chính quốc tế sẽ giảm. 3. Trong đó: Dệt may giữ được kim ngạch ở mức 780 triệu USD. nợ xấu tăng lên. với tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính. Do vậy. giày dép tăng nhẹ lên 400 triệu USD so với 396 triệu USD của tháng 10/2008. các nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán do khó khăn về tài chính. kim ngạch xuất khẩu tháng 11 đã tiếp tục giảm và xuống dưới ngưỡng 5 tỷ USD/tháng. Tuy nhiên. thậm chí một số ngân hàng nhỏ có thể thua lỗ. bằng 16. đặc biệt là EU và Nhật Bản – đây là hai thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. 4. Thêm vào đó. nên khi các tổ chức tài chính. trong đó các nhà đầu tư đến từ châu Âu và Mỹ chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn khoảng 5% trong số vốn đăng ký. Tuy nhiên. Khủng hoảng tài chính sẽ dẫn đến suy thoái kinh tế.2% vốn đăng ký và tăng 44% so với cùng kỳ năm 2007.Khả năng giao dịch ngân hàng.8 tỷ USD giảm so với mức 5. Do tác động của khủng hoảng. Khủng hoảng tài chính Mỹ sẽ tác động tiêu cực tới nhiều nền kinh tế khác trên thế giới. xuất khẩu của Việt nam đã bắt đầu có biểu hiện giảm sút. Thực tế những tháng gần đây. Tháng 11 năm 2008 kim ngạch xuất khẩu cả nước chỉ còn 4. theo dự báo (tháng 11 năm 2008) Việt Nam vẫn thực hiện khoảng 10 tỷ USD vốn giải ngân. Đối với hoạt động xuất khẩu Hiện nay. Việc suy giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường Mỹ sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chung của ViệtNam trong năm 2008 và cả năm 2009 (nếu nền kinh tế Mỹ chưa có dấu hiệu phục hồi). Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam chiếm khoảng 20-21% kim ngạch xuất khẩu. hầu hết các dự án đầu tư nói chung và FDI nói riêng. lợi nhuận của nhiều ngân hàng có thể giảm. Đây là tháng thứ ba kim ngạch xuất khẩu suy giảm. . Qua xem xét luồng vốn FDI trong 11 tháng đầu năm nay. mức độ ảnh hưởng còn tuỳ thuộc vào tính chất của từng mặt hàng. Một số mặt hàng khác cũng suy giảm trong đó đặc biệt là dầu thô giảm mạnh do giá dầu đã giảm 60% so với mức tháng 7/2008. chi phí vốn trở nên đắt đỏ hơn và thị trường xuất khẩu có khả năng bị thu hẹp nên dòng vốn chảy vào ViệtNam có khả năng giảm sút. gần 60 tỷ USD. Đối với vốn đầu tư của nước ngoài kể cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Với tình hình khủng hoảng như hiện nay. nên hệ thống ngân hàng tài chính Việt Nam có nguy cơ bị ảnh hưởng trong một vài năm.044 tỷ USD của tháng 10. người dân tại các thị trường này cũng phải cắt giảm chi tiêu. do tác động trực tiếp của khủng hoảng tài chính.

. Đây là một khó khăn của doanh nghiệp kinh doanh BĐS trong điều kiện khủng hoảng tài chính hiện nay. TTCK lập tức bị tác động xấu vì những lo ngại của các nhà đầu tư trong nước. tuyên truyền đầy đủ để củng cố niềm tin cho các nhà đầu tư. giá BĐS đã giảm đến 40%. . Hoạt động của thị trường chứng khoán (TTCK) sẽ gặp khó khăn.Khủng hoảng tài chính ngày càng ảnh hưởng rộng trên thị trường tài chính thế giới. Mặc dù vậy nếu khủng hoảng vẫn còn kéo dài. vì vậy cần có những giải pháp. TTCK Việt Nam là một nơi có ưu thế đầu tư khi tình hình kinh tế vĩ mô ViệtNam đang có chiều hướng tốt dần… . hạn chế những lo ngại thái quá làm ảnh hưởng xấu đến TTCK. cầu ảo tăng cao.Do tác động của khủng hoảng tài chính. Cuối năm 2007 tình trạng đầu cơ BĐS đã đẩy giá BĐS ở Việt Nam lên quá cao so với giá trị thực. Đối với thị trường bất động sản (BĐS) Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh BĐS của Việt Nam tiềm lực tài chính khá hạn hẹp mà phần lớn phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài chủ yếu là vốn vay của các ngân hàng và tổ chức tín dụng. tiêu dùng giảm lượng kiều hối có khả năng sụt giảm. theo đó các nhà đầu tư và các quỹ đầu tư nước ngoài sẽ gặp khó khăn hơn trong việc huy động vốn. 6.cơ sở để tin tưởng việc triển khai thực hiện các dự án đăng ký trong năm 2008 sẽ không gặp nhiều khó khăn và trong năm 2009 hy vọng sẽ tăng lên hoặc có thể giữ ở mức như năm 2008. cho đến nay lượng kiều hối vẫn tăng ổn định. Thị trường đã lên cơn sốt ảo. thị trường BĐS đóng băng. đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu. không bán được sản phẩm lại phải chịu lãi suất cao do chính sách thắt chặt tiền tệ làm lãi suất ngân hàng tăng cao. Yếu tố tâm lý là khá quan trọng.Khủng hoảng tài chính tác động mạnh mẽ đến tâm lý của các nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam. Đến nay thị trường cũng chưa có dấu hiệu phục . các doanh nghiệp kinh doanh BĐS rơi vào khó khăn. lạm phát tăng cao buộc người dân phải giảm chi tiêu. lượng kiều hối sút giảm là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên. thu nhập giảm. 5. theo đó giá cổ phiếu có thể sụt giảm. hoặc họ sẽ có xu hướng thận trọng hơn trong quyết định đầu tư khi các thị trường lớn của họ đang gặp khó khăn và việc họ cơ cấu lại chứng khoán Việt Nam là điều có thể xảy ra. các doanh nghiệp đang niêm yết trên thị trường chứng khoán sẽ không tránh khỏi tác động xấu. Bước sang năm 2008 nền kinh tế Việt Nam gặp khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế. đặc biệt là thông tin. Tình hình chung do khủng hoảng tài chính với việc làm khó khăn.Có thể có khả năng các nhà đầu tư ngoại rút vốn khỏi thị trường Việt Nam để ứng cứu cho công ty mẹ tại các thị trường lớn. bất lợi cho các nhà đầu tư . dự kiến năm nay đạt khoảng 8 tỷ USD tăng 60% so với năm 2007. nhưng khả năng này rất ít vì lượng vốn đầu tư của mỗi nhà đầu tư ở thị trường Việt Nam là không nhiều và hiện Việt Nam vẫn là địa điểm đầu tư an toàn có độ tin cậy cao.

5% tổng số dư nợ của các Ngân hàng và tổ chức tín dụng.hồi. Rất may cho Việt Nam là đã phải chống từ đầu năm. thắt chặt chi tiêu công. Trong thời gian qua nhiều doanh nghiệp đã cắt giảm kế hoạch sản xuất kinh doanh. ổn định kinh tế vĩ mô. Sự chao đảo của thị trường thế giới khiến giá nguyên liệu giảm dẫn đến làm giảm gánh nặng trợ cấp giá nguyên liệu của ngân sách nhà nước. vì vậy việc thực hiện các giải pháp này trong thời gian tới phải có những đối sách phù hợp.Tiếp tục thực hiện 08 nhóm giải pháp để kiềm chế lạm phát. các chuyên gia nhận định CPI năm 2008 không thể vượt quá 24% và năm 2009 sẽ chỉ ở mức 10 -12%. bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững. Giải pháp ứng phó của Việt Nam Trước những tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu. thanh khoản của thị trường được đảm bảo. Các ngân hàng thương mại cũng được hỗ trợ bằng nhiều biện pháp của Ngân hàng nhà nước. đặc biệt là lượng khách du lịch sẽ giảm so với năm 2007. Cụ thể: . tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam mặc dầu đã được cải thiện nhưng nói chung vẫn còn nhiều khó khăn. Để góp phần tháo gỡ khó khăn hiện nay cho doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. tăng dự trữ ngoại tệ.71%. Hiện nay khủng hoảng nợ dưới chuẩn ở Mỹ mà gốc rễ là từ khủng hoảng địa ốc tuy không làm ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường BĐS ở Việt Nam nhưng nó sẽ ảnh hưởng gián tiếp qua các tác động đến thị trường tài chính tiền tệ. tăng cường ngân sách nhà nước. 08 nhóm giải pháp nói trên được Chính phủ đưa ra từ tháng 4 năm 2008 đến nay tình hình đã khác nhiều. nợ xấu tăng lên làm cho cơ cấu vốn của ngân hàng thương mại rơi vào tình thế bất lợi. Tuy nhiên. Một số hoạt động dịch vụ sẽ bị thu hẹp. thu hẹp cán cân thương mại. lạm phát giảm. đặc biệt là lãi vay ngân hàng. Trận bão vào quý I năm 2008 đã khiến Việt Nam kịp thời áp dụng các biện pháp hợp lý để phòng vệ. Các biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô đã phát huy tác dụng. Đối với thị trường hàng hoá và dịch vụ Sức cầu giảm cả trong sản xuất và tiêu dung. Mặc dù vậy việc tác động gián tiếp đến thị trường BĐS Việt Nam như đã nói ở trên là có thể. phòng ngừa những hậu quả khôn lường của “Cơn bão tài chính”. Trong tình hình kinh tế thế giới đang suy thoái. Tuy nhiên. đẩy mạnh sản xuất kinh doanh và đẩy mạnh xuất khẩu… cần phải được quan tâm chỉ đạo quyết liệt. tiềm ẩn nguy cơ của khủng hoảng tài chính là rất lớn. 7. thị trường chứng khoán và các yếu tố tâm lý của người dân. vì vậy việc tiếp tục thực hiện các biện pháp để ổn định kinh tế vĩ mô. Theo chúng tôi cần tập trung vào một số giải pháp sau đây: * Đối với chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá: + Năm 2009 cần áp dụng chính sách tiền tệ nới lỏng có kiểm soát. Đến tháng 11 năm 2008 CPI tăng 20. thu hẹp quy mô do chi phí sản xuất tăng. kích thích đầu tư. cơn bão tài chính toàn cầu chưa có hồi kết. tính thanh khoản giữa các ngân hàng được tăng cường. Giá BĐS giảm sẽ kéo theo tài sản ngân hàng cũng giảm theo. II. Tuy nhiên theo báo cáo của Ngân hàng nhà nước Việt Nam thì cho vay BĐS chiếm khoảng 9. các ngân . ngay từ quý I năm 2008 Chính phủ Việt Nam đưa ra một loạt giải pháp để ngăn chặn.

Cùng với đó. hỗ trợ nông nghiệp. ngân hàng. thuế. chính sách tài khoá cũng được xem xét miễn giảm thuế cho doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu. giảm lãi suất cho vay. giảm thuế. Việt Namđang có lợi thế này và vì vậy cần tận dụng tốt cơ hội này. * Đảm bảo an sinh xã hội: Thực hiện bằng nhiều biện pháp: Bảo hiểm thất nghiệp. Dòng vốn trên thế giới sẽ tập trung vào những nơi có môi trường chính trị và kinh doanh ổn định. . * Khuyến khích đầu tư và xuất khẩu: Cần tìm mọi cách để hỗ trợ xuất khẩu bao gồm: vốn. lãi suất. Bây giờ là thời điểm để thực hiện việc kích cầu đầu tư. miễn thuế… Điều này sẽ giải quyết được bài toán tồn đọng vốn tại ngân hàng và giảm áp lực về chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu và thị trường nội địa sẽ được kích cầu. + Nâng cao khả năng tài chính cho các ngân hàng để giữ chân luồng vốn nước ngoài. .Thường xuyên nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh. hiện nay là 3%. của tư nhân. . doanh nghiệp tư nhân… để có những giải pháp xử lý phù hợp. phòng khi nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt rút vốn bằng bán trái phiếu. của các thành phần kinh tế khác trong và ngoài nước. trường hợp cần thiết nới lên 5%. Cùng với kích cầu đầu tư cần phải tính ngay đến giải pháp kích cầu tiêu dùng bằng biện pháp hạ thấp lãi suất cho vay của ngân hàng.Tận dụng cơ hội để thu hút vốn đầu tư. kích thích đầu tư vào các dự án có hiệu quả không những bằng nguồn vốn ngân sách. Chọn thời điểm để nới rộng biên độ tỷ giá. trái phiếu Chính phủ mà bằng cả sự tham gia của doanh nghiệp. doanh nghiệp (kể cả khoản LC trả chậm) và danh mục đầu tư gián tiếp nước ngoài. chăn nuôi. gây sức ép lên vấn đề tỷ giá và dự trữ ngoại tệ. + Quản lý chặt chẽ thị trường giao dịch ngoại tệ tự do để tránh hiện tượng đầu cơ dẫn đến xu hướng nhà đầu tư trong nước rút tiền chuyển thành ngoại tệ. tình hình tài chính của các doanh nghiệp Nhà nước. thủ tục mở rộng thị trường. giãn nợ. + Chính phủ cần nghiên cứu xem xét về cấp hạn ngạch cho việc mua trái phiếu của nhà đầu tư nước ngoài để đảm bảo tỷ lệ kiểm soát. DNNVV. + Thường xuyên rà soát đánh giá lại các khoản vay nợ ngắn hạn nước ngoài của Chính phủ. công ty cổ phần. công ty niêm yết. trồng trọt.hàng có thể hỗ trợ doanh nghiệp như khoanh nợ. đặc biệt đối với đầu tư vào hạ tầng. bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa xuất khẩu và hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng dễ bị tổn thương qua cơn bão tài chính. + Tiếp tục thắt chặt chi tiêu công nhất là những dự án kém hiệu quả và chưa cần thiết.

. . Kết quả Hội thảo trực tuyến “Khủng hoảng tài chính phố Wall: Những biện pháp ứng phó đối với các nền kinh tế châu Á” do Trường BDCB tài chính phối hợp với Trung tâm Tài chính và Phát triển châu Á – Thái Bình Dương thuộc Bộ Tài chính Trung Quốc và Trung tâm Thông tin và Phát triển Việt Nam (VDIC) thuộc Ngân hàng Thế giới tổ chức ngày 27/11/2008.Nâng cao năng lực công tác dự báo. đảm bảo theo dõi kịp thời diễn biến khủng hoảng tài chính ở Mỹ và toàn cầu để đánh giá đúng và đưa ra những giải pháp phù hợp. Tuy nhiên. Thông tấn xã Việt Nam. 3. rà soát lại các chính sách chưa phù hợp nhằm đưa ra các chính sách phù hợp hơn như: chính sách về xuất khẩu. tài khoá… Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang ở giai đoạn tồi tệ nhất. Báo cáo nhanh. Báo cáo tại Kỳ họp Quốc hội tháng 11 năm 2008.Chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế bằng nhiều giải pháp như kích cầu đầu tư. 4. Châu Mỹ La tinh) . thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa… . 2. .Khủng hoảng tài chính tuy có những tác động nhất định đến nền kinh tế Việt Nam trong ngắn hạn. Thông tin tổng hợp tháng 11/2008. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nhật Bản và EU đang có biểu hiện suy thoái.Tăng cường công tác kiểm tra. Vì vậy việc đánh giá hết tác động của khủng hoảng là cực kỳ khó khăn. tỷ giá.Đổi mới cơ cấu mặt hàng xuất khẩu và thị trường xuất khẩu: Tập trung vào xuất khẩu những mặt hàng Việt Nam có lợi thế. Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế xã hội (Bộ Kế hoạch và Đầu tư). . nền kinh tế Mỹ. Châu Phi. công nghệ hiện đại mà các nước phát triển phải bán đi do kinh tế của họ khó khăn. Hơn lúc nào hết các nước nói chung và Việt Nam nói riêng phải hết sức bình tĩnh chung tay góp sức để có những giải pháp hiệu quả nhằm từng bước khắc phục những hậu quả của khủng hoảng. tình trạng sụt giá .Chọn lọc nhập khẩu: Đây cũng là cơ hội để Việt Nam tranh thủ nhập khẩu các mặt hàng. Chuyển việc xuất khẩu các mặt hàng của Việt Nam sang các thị trường khác có lợi thế (Đông Nam Á. tiền tệ. Trường BDCB tài chính (2008). Chính phủ (2008). đây cũng là cơ hội để Việt Nam có thể thay đổi chính sách. giám sát đặc biệt là giám sát hoạt động của các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính tín dụng. tình trạng đói tín dụng. SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 220 – THÁNG 2 NĂM 2009 Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 là một cuộc khủng hoảng bao gồm sự đổ vỡ hàng loạt hệ thống ngân hàng. kích cầu tiêu dùng.

Chuyên gia tài chính độc lập.chứng khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới. . đặc biệt trong các lĩnh vực xuất nhập khẩu và hoạt động tài chính… Đồng thời.Ông Đào Nguyên Cát.Ông Cao Sỹ Kiêm.Ông Bùi Kiến Thành. Giáo sư kinh tế. . những đề xuất về giải pháp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng đối với kinh tế trong nước cũng là một nội dung quan trọng.giao lưu trực tuyến diễn ra trên VnEconomy về ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính. 16/10/2008 Nội dung chính của tọa đàm .hiện đang lan rộng trên toàn cầu . nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương). có mặt tại các "đầu cầu" trực tuyến tại Hà Nội. .Ông Trương Đình Tuyển. Bắt đầu từ 14 giờ và kết thúc khi đã gần 18 giờ ngày 16/10. Mỹ và Australia: . thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ Quốc gia. Tổng biên tập Thời báo Kinh tế Việt Nam.Ông Vũ Thành Tự Anh. Giám đốc phụ trách nghiên cứu Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright. ▪ VNECONOMY 13:48 (GMT+7) .Ông Huỳnh Thế Du. Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright. Tp. có nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ.HCM. cuộc tọa đàm giao lưu trực tuyến tập trung nhận định về tác động của cuộc khủng hoảng tài chính . hiện đang có mặt tại Mỹ. vượt quá thời gian dự kiến. .Thứ Năm.Ảnh Reuters. Khách mời của chúng tôi là các chuyên gia đầu ngành.đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và một số lĩnh vực cụ thể. nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. . các nhà nghiên cứu độc lập đang hoạt động trong và ngoài nước. thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ Quốc gia. .giao lưu trực tuyến diễn ra trên VnEconomy về ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Nội dung chính của tọa đàm . Ảnh hưởng khủng hoảng tài chính đến Việt Nam: Được và mất E-mail Ý kiến (15) Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: Khủng hoảng tài chính toàn cầu vẫn đang diễn biến phức tạp .

. . rút lại tín dụng.giao lưu trực tuyến này: Nhiều bạn đọc: Đến thời điểm này cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ và ảnh hưởng của nó vẫn đang diễn biến phức tạp. Chuyên gia tài chính độc lập. thường được dùng làm lãi suất cơ sở để cho các xí nghiệp và ngân hàng Việt Nam vay). Chính phủ Mỹ đã đưa ra các gói giải pháp để mua những tài sản nhiễm độc đó. và mất khả năng thanh toán.vn/20081006102144637P0C6/kinh-te-viet-nam-co-vuot-qua-con-bao-tai-chinhmy. khó đòi. trong đó 3 đến 4 ngàn tỷ USD là dưới chuẩn. xét ở phương diện vĩ mô? Ông Bùi Kiến Thành: Nguồn gốc của cuộc khủng hoảng. Nhiều ngân hàng vì mất khả năng thanh khoản đã co lại. tổng số chứng khoán phái sinh này hiện nay trên toàn thế giới chưa thể ước lượng được. Những người không có khả năng trả nợ cũng được cho vay. tổng số khoảng 12 ngàn tỷ USD. Singapore Inter Bank Offer rate. Ông Đào Nguyên Cát Ông Trương Ông Cao Sỹ Đình Tuyển Kiêm Ông Bùi Kiến Thành Ông Vũ Thành Tự Anh Ông Huỳnh Thế Du Ông Mạc Quang Huy Sau đây. Các chuyên gia nhận định thế nào về tác động của nó đối với Việt Nam.. hiện đang có mặt tại Australia. Nhưng khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng cho vay giữa các ngân hàng (Libor và Sibor. công ty bảo hiểm. Những hợp đồng đó được chuyên gia tài chính Phố Wall gom lại và phát hành chứng khoán phái sinh. ảnh hưởng trực tiếp thì cũng có giới hạn vì Việt Nam chưa tham gia nhiều vào thị trường tài chính thế giới và không tham gia mua bán chứng khoán phái sinh này. vì vậy tác động của nó trên toàn thế giới cũng chưa thể đo lường hết được. tức London Inter Bank offer rate. tôi đã phác họa qua trong một bài báo gần đây trên VnEconomy (http://vneconomy. đi đến gục ngã hoặc phá sản. Điều này không chỉ có ở Mỹ mà các thị trường tài chính nhiều nước châu âu cũng bắt chước Mỹ phát hành các trái phiếu phái sinh tương tự.htm). thị trường không có người mua. Về phía Việt Nam. chúng tôi xin giới thiệu những nội dung chính của cuộc tọa đàm .. nên các ngân hàng. nay đổi hướng một phần 250 tỷ USD (trong gói 700 tỷ USD) mua cổ phần của các ngân hàng. các tổ chức tài chính nắm hàng ngàn tỷ USD chứng khoán đó không bán được. Khi các chứng khoán này mất giá thảm hại. điều này đã khiến các doanh nghiệp khó tiếp cận thị trường vốn và bị ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất kinh doanh. Bắt đầu từ khủng hoảng các hợp đồng cho vay bất động sản thế chấp. được bảo đảm bởi những hợp đồng cho vay thế chấp này để bán ra trên khắp các thị trường quốc tế.Ông Mạc Quang Huy. mất khả năng thanh khoản.

các cơ quan của Nhà nước. Điều này sẽ làm cho thâm hụt ngoại thương của Việt nam sẽ gia tăng. Đối với nền kinh tế. Nhà đầu tư nước ngoài bán ra nhiều hơn mua vào sẽ làm giảm giá chứng khoán của Việt Nam. Điều này sẽ dẫn đến hệ luỵ là cầu đối với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ giảm. Điều này tác động đến dự trữ ngoại hối và giá cả trên thị trường chứng khoán.Ngoài ra đầu tư trực tiếp (FDI) của Việt Nam cũng bị ảnh hưởng vì FDI vào Việt Nam phần lớn là vốn vay chứ không phải vốn tự có. do chi phí vốn trở nên đắt đỏ hơn và thị trường xuất khẩu có khả năng bị thu hẹp nên dòng vốn đầu tư chảy vào Việt Nam có khả năng sẽ giảm sút. với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang diễn ra sẽ không có nhiều tác động trực tiếp đến hệ thống tài chính Việt Nam. có khả năng nhà đầu tư nước ngoài phải thu hồi nguồn vốn và bán chứng khoán. Với tình hình hiện tại. thâm hụt thương mại gia tăng. Trong thời gian tới. công xuất thừa ra sẽ như thế nào? Thị trường lao động bị ảnh hưởng sẽ nảy sinh các vấn đề về xã hội. Vấn đề thứ nhất. có lẽ loại này không nhiều lắm. kinh tế Mỹ nói riêng. khả năng xuất khẩu bị giảm mạnh là rất cao trong khi nhập khẩu nếu có giảm cũng sẽ giảm ít hơn so với xuất khẩu. Các xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất. Gián tiếp. vốn đầu tư gián tiếp. do hệ thống tài chính Việt Nam dường như chưa hội nhập chung với hệ thống tài chính toàn cầu. nhất là trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đã rất mở với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã vượt quá 160% GDP. trong khi hai thứ dường như không liên quan nhiều với nhau. do vậy lượng tiền Việt Nam đầu tư ra bên ngoài dường như không đáng kể và dòng vốn gián tiếp đổ vào Việt Nam chưa nhiều nên hệ thống tài chính của Việt nam sẽ không chịu nhiều tác động từ cuộc khủng hoảng này so với các nước có mức độ hội nhập tài chính sâu rộng. Thời gian tới. Nhìn vào số liệu qua khứ sẽ thấy dòng vốn từ bên ngoài gồm: vốn đầu tư trực tiếp. tốc độ tăng trưởng giảm sút. Thứ nhất. Như vậy. Đối với thị trường chứng khoán. . sụt giảm đầu tư do sự giảm sút của dòng vốn từ bên ngoài chảy vào. Những tác động chính từ cuộc khủng hoảng hiện tại đối với hệ thống tài chính Việt Nam chủ yếu là yếu tố tâm lý.. trong khi cung đối với các mặt hàng nhập khẩu sẽ tăng do các nhà sản xuất bị giảm thị trường ở các nước phát triển sẽ tìm cách mở rộng các thị trường khác. nên nếu các nhà đầu tư không dàn xếp được khoản vay sẽ khó giải ngân được. nhưng nền kinh tế có khả năng sẽ bị ảnh hưởng lớn. vay nợ và kiều hối chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư của Việt Nam. hiệp hội cần ngồi lại với nhau để làm một nghiên cứu và đưa ra dự báo ảnh hưởng đến mức nào. Cũng có thể một số mặt hàng của Việt Nam thuộc loại hàng khiếm dụng có nghĩa là khi thu nhập giảm xuống thì cầu sẽ gia tăng. Ông Huỳnh Thế Du: Theo tôi. Chúng ta xuất khẩu đến 60% GDP vì vậy chắc chắn sẽ ảnh hưởng. lĩnh vực nào ảnh ưởng nhiều nhất để có biện pháp xử lý. vì vậy ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam.. chúng ta chỉ mới mở cửa tài khoản vốn vào mà hầu như chưa mở cửa dòng ra. kinh tế toàn cầu nói chung sẽ rơi vào tình trạng suy thoái. Tuy nhiên. Thấy Dow Jones sụp thì VN-Index cũng xuống theo. tôi nghĩ sẽ có ba khả năng có thể xảy ra. Thứ hai. thì hoạt động nhập khẩu của các nước sẽ co lại.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu sụt từ 5% năm 2007 xuống 3.Thêm vào đó.9% năm 2008 và 3% năm 2009. Chúng ta cần nhìn nhận sự khó khăn ở góc độ toàn cầu thay vì các quốc gia đầu tư vào Việt . hay chí ít là thu nhập bị giảm sút cộng với dòng kiều hối chảy vào sụt giảm sẽ kéo theo sụt giảm trong tiêu dùng của các hộ gia đình. phần nợ vay thường chiếm một tỷ phần rất lớn trong tổng vốn đầu tư nên khi mà các tổ chức tài chính đang gặp khó khăn sẽ làm cho nhiều hợp đồng vay vốn sẽ không được ký kết hoặc không thể giải ngân. Do sự hội nhập ngày càng sâu và rộng của nền kinh tế Việt Nam vào thế giới nên Việt Nam chịu những tác động nhất định. Chi phí huy động vốn toàn cầu ngày càng tăng do biên độ tín dụng gia tăng. tuy không trực tiếp. Khi sản xuất bị thu hẹp. con đường phía trước vẫn sẽ còn nhiều khó khăn. Đồng thời các dòng vốn đổ vào (FDI. Ảnh hưởng lớn nhất đối với Việt Nam trước hết là về xuất khẩu sang các thị trường như Mỹ và châu Âu (chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu). EU và Nhật Bản). Ông Vũ Thành Tự Anh: Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ không chỉ gây chấn động hệ thống tài chính Mỹ mà cơn “địa chấn tài chính” này đang lan rộng và đe dọa sự ổn định của nhiều quốc gia khác. Ông Mạc Quang Huy: Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ là tác động mang tính hai chiều. hầu hết các dự án đầu tư nói chung. (iii) Tác động tới khu vực ngân hàng có vẻ như khó nhận thấy hơn. Khủng hoảng kinh tế hiện đang lan sang châu Á. thu nhập của người lao động sẽ giảm sút. Mặt khác. Thứ ba. Như vậy với khả năng giảm chi tiêu. Trong một thế giới toàn cầu hóa như ngày nay. các tác động cụ thể của cuộc khủng hoảng này có thể bao gồm: (i) Nhu cầu đối với sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam sẽ bị thu hẹp (hơn 50% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam là sang thị trường Mỹ. Tác động thứ hai là đầu tư trực tiếp. đầu tư và xuất khẩu trong khi nhập khẩu tăng hoặc giảm chậm hơn sẽ tác động làm cho GDP sụt giảm và đương nhiên nhiều người có khả năng sẽ mất việc làm. do phần còn lại của thế giới gặp khó khăn. Theo tôi. Suy thoái kinh tế sẽ kéo theo nhu cầu tiêu thụ sụt giảm trên phạm vi toàn cầu. song chủ yếu là tác động tiêu cực tới nền kinh tế toàn cầu cũng như của Việt Nam. tiêu dùng giảm sút. dự án FDI nói riêng. v) Đối với khu vực doanh nghiệp. (iv) Thâm hụt tài khoản vãng có thể bị nới rộng. điều đáng lo ngại là tình trạng cạn kiệt tín dụng trên thế giới lại xảy ra đúng vào lúc tín dụng dành cho khu vực doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam đang khan hiếm và lãi suất vay vẫn đang được duy trì ở mức tương đối cao. sớm hay muộn thì cuộc khủng hoảng này sẽ tạo ra những “sang chấn” đáng kể đổi với nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam. FPI. Điều này có nghĩa là đối với các doanh nghiệp dân doanh của Việt Nam. Vì mức độ và trình độ liên kết của các ngân hàng thương mại Việt Nam đối với hệ thống tài chính quốc tế còn rất hạn chế nên chúng sẽ ít chịu tác động trực tiếp. hay chí ít thu nhập cũng rơi vào tình trạng bấp bênh. (ii) Nguồn tín dụng đang dần trở nên cạn kiệt của thế giới sẽ làm cho hoạt động đầu tư trực tiếp và gián tiếp suy giảm trên phạm vi toàn cầu. cuộc sống khó khăn hơn nên lượng kiều hối chuyển về có khả năng sẽ giảm và hoạt động xuất khẩu bị giảm sút. và Việt Nam không phải là một ngoại lệ. kiều hối) lại ít đi sẽ làm cán cân thanh toán trở nên xấu đi. một số người có khả năng mất việc làm.

đặc biệt thời kỳ kinh tế Việt Nam đã mở cửa. do bản thân các công ty mẹ là các tập đoàn đa quốc gia với hoạt động toàn cầu. Tuy nhiên. Tôi nghĩ có lẽ đây sẽ là một thử thách đáng kể. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường chứng khoán và quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước lớn trong các năm tới. có giải pháp nào tốt hơn không để giải quyết mâu thuẫn về lợi ích này. Việc huy động vốn thông qua thị trường vốn khó khăn trong khi thị trường tín dụng thắt chặt sẽ chặn dòng vốn và đẩy chi phí tài chính của các doanh nghiệp lên cao. Huy động vốn gián tiếp vào thị trường cổ phiếu Việt Nam trong thời gian tới sẽ rất khó khăn do các nhà đầu tư sẽ hướng tới các kênh đầu tư an toàn (flight to quality).com): Thưa ông Trương Đình Tuyển. dòng vốn này có thể tạo áp lực tỷ giá cho VND. do giá xăng dầu trên thế giới giảm mạnh. khủng hoảng tài chính khiến nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm trong đó có xăng dầu sụt giảm và cũng có lợi cho người tiêu dùng (cá nhân và doanh nghiệp). Tác động thứ tư là việc phát hành chứng khoán huy động vốn trên thị trường quốc tế cũng sẽ khó khăn và chi phí tăng cao. Một khía cạnh khác của đầu tư gián tiếp là các giao dịch chênh lệch lãi suất (carry trade) nhằm hưởng chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền trong khi tỷ giá ổn định. ta tiếp nhận vốn FDI và các luồng vốn gián tiếp do các quỹ đầu tư Mỹ đổ vào thị trường chứng khoán Việt Nam. Ông Cao Sỹ Kiêm: Để xem xét ảnh hưởng của khủng hoảng ở Mỹ tới Việt Nam. Tác động thứ năm là về kiều hối với doanh số 8-10 tỷ USD/năm là một nguồn thu rất quan trọng của Việt Nam. Các giao dịch này thường mang tính đầu cơ ngắn hạn cao. Tien Hue (tienhuetran@yahoo. Tất cả các mối quan hệ này đều ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế Việt Nam. Với lãi suất toàn cầu sụt giảm và chính sách tỷ giá neo VND vào USD của Việt Nam trong khi lãi suất VND vẫn ở mức cao. Do một phần lớn nguồn kiều hối từ Mỹ nên chắc chắn nguồn này cũng giảm sút nhất định. Ở mối quan hệ thứ hai. Theo ông. Mối quan hệ này bao gồm quan hệ về tất cả các lĩnh vực khi hội nhập có liên quan tới Mỹ. có thể dòng vốn này sẽ chảy vào trong một số giai đoạn nhất định nhằm khai thác cơ hội chênh lệch. hiện nay ở Việt Nam người tiêu dùng được hưởng mức giảm giá xăng dầu hết sức hạn chế. trong đó hai lĩnh vực chính là xuất nhập khẩu và quan hệ về vốn. cần xem xét mối quan hệ giữa kinh tế Việt Nam với thế giới. mặc dù xác suất không cao do tính thanh khoản và quy mô của thị trường. đặc biệt là với Mỹ. Các tác động trên kết hợp với khó khăn hiện tại trong nước sẽ tạo nên một tác động kép và làm cho tình hình thêm phức tạp. Hơn nữa do nhu cầu tiêu thụ sụt giảm nên việc giải ngân FDI sẽ chậm lại đáng kể. Trong những trường hợp thoái vốn. máy móc. Trong đó. nhất là giúp doanh nghiệp hạ chi phí đầu vào để tồn tại và tăng sức cạnh tranh? Ông Trương Đình Tuyển: .Nam. Việc bán tháo chứng khoán khỏi thị trường Việt Nam là có thể. ở mối quan hệ thứ nhất. có quan hệ đan xen với Mỹ và cả thế giới. Việt Nam chủ yếu xuất hàng nông sản sang Mỹ và nhập từ Mỹ các loại thiết bị. Chính phủ Việt Nam hiện có kế hoạch phát hành 1 tỷ USD và Vinashin có kế hoạch huy động 400 triệu USD trên thị trường quốc tế vào 2009. Tác động thứ ba là đầu tư gián tiếp.

000 đồng/lít tiền lãi để hình thành quỹ bù lỗ. Nghĩa là người tiêu dùng vẫn còn mua với gia thấp hơn giá thành thục tế (lưu ý là tôi nói giá bình quan gia quyền trong một thời gian đủ dài cho đến nay). hầu hết các nước đều đánh thuế nhập khẩu xăng dầu. các lần điều chỉnh dù có đợt khá cao nhưng vẫn không đủ mức nghĩa là các doanh nghiệp nhập khảu vẫn bị lỗ lớn. Theo như tôi được biết thì Kiểm toán Nhà nước cũng đã kiểm toán Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam. Với Việt Nam những mặt hàng này không nhiều. nhà nước đã phải giảm thuế tất cả các mặt hàng xăng dầu xuống 0% trong một thời gian dài. họ cũng rất muốn thoát nhanh khỏi tình thế này. Cơ chế đó là cho phép doanh nghiệp trích ra 1. Đây là ba lý do mà giá trong nước không giảm tương ứng với mức giảm của giá thế giới.Đúng là đang có thực tế là khi giá thế giới tăng. Nếu càng giảm giá thì số lỗ do hàng tồn kho này càng lớn. không tương xứng với mức giảm giá thế giới. Nhưng khi nào tăng và tăng bao nhiêu doanh nghiệp không biết được nên cũng không thể chủ động giảm giá. Thứ ba. Nếu chúng ta tính bình quân gia quyền giá nhập khẩu cong với các khoản phải nộp và chi phí kinh doanh rồi so với bình quân gia quyền gia bán trong nước trong cùng thời gian đủ dài cho đến thời điểm này thì bình quân gia quyền giá bán trong nước vẫn thấp hơn giá ngập khẩu cọng với các khoản phải nộp và chi phí kinh doanh. Tình hình này gây thắc mắc trong người tiêu dùng và theo tôi biết. Theo tôi tình hình này do những nguyên nhân sau đây: Thứ nhất. mặc dầu có nhiều đợt điều chỉnh giá nhưng vẫn rất chậm so với sự thay đổi trên thị trường thế giới. xác định rõ thời gian bán hết lượng tồn kho là bao nhiêu (cũng là thời gian quá độ). các đầu mối nhập khẩu cũng phải chịu sức ép rất lớn. Mặt khác. Vũ Thế Tuân (tuanvuthe9@gmail. khi nguồn thu từ dầu thô xuất khẩu bị giảm do giá giảm. có đợt lên tới 4500 đồng/lít nhưng khi giá thế giới giảm thì mức giảm giá trong nước lại ít. coi thuế nhập khẩu là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước. Thứ hai. Thời gian này kéo dài đến đâu phụ thuộc vào lượng tồn kho và thời gian giải phóng số tồn kho này nhưng chắc chắn nhiều hơn 20 ngày. Trong khi nhà nước tuyên bố không bù lỗ mặt hàng xăng nhưng lại bắt doanh nghiệp bán theo giá bị lỗ thì phải có cơ chế để doanh nghiệp bù lại khoản lỗ đó. trong đó có lượng tồn kho dự trữ lưu thông bắt buộc theo quy chế kinh doanh xăng dầu bằng 20 ngày cung ứng bình quân của mỗi đầu mối. hiện tại doanh nghiệp vẫn đang bán hàng tồn kho nhập vào thời điểm giá thế giới tăng cao.com): Xin được hỏi ngành xuất khẩu nào của nước ta sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất và dự báo xuất khẩu của ta trong năm 2009 như thế nào? Ông Trương Đình Tuyển: Mặt hàng nào giá trị cao sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn. Do giá thế giới tăng cao. sau đó là hàng điện tử .( quy định này là cần thiết nếu không. nay nhà nước cũng tính toán đưa thuế vào để bảo đảm các nhu cầu chi. sẽ có nguy cơ đứt nguồn vì mất cân đối cung cầu trên thị trường thế giới rất khó nhập khẩu). Tôi gọi đây là thời kỳ quá độ. Vấn đề đặt ra là phải công khai thông tin về chi phí kinh doanh và giá thành. Và Bộ Tài chính là cơ quan có đủ tư cách để làm việc này. có thể là đồ trang trí nội thất. thì giá trong nước tăng lên.

Về mức nhập siêu. sẽ làm suy giảm sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam. theo các chuyên gia sẽ ảnh hưởng thế nào tới tỷ giá USD/VND. Điều này nhìn chung cũng đúng cho các ngoại tệ của các nước chịu tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính Mỹ. và đó cũng là một nguyên nhân quan trọng làm kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới có thể bị giảm sút. tất nhiên là với các mức độ khác nhau. Nguyễn (thenghiep_va@yahoo. như Bộ Công Thương đã báo cáo Chính phủ. ảnh hưởng của khủng hoảng không lớn thì có thể hạn chế được sự suy giảm xuất khẩu. đến lượt mình. đầu tư công và đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước vẫn phải được kiểm soát . các doanh nghiệp cần phấn đấu hạ giá thành. lại thường dùng hàng ngày ảnh hưởng ít hơn. Việc tăng tỷ giá thực này. hiện chúng ta đang chứng kiến sự giảm giá dầu mỏ. Các doanh nghiệp cần tận dụng cơ hội này.com): Xin các chuyên gia nhận định ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính đến tình hình nhập siêu của Việt Nam 6 tháng đầu năm 2009 như thế nào? Ông Trương Đình Tuyển: Do khủng hoảng tài chinh đang lan rộng ra trên quy mô toàn cầu. Năm 2009 chúng ta sẽ có hiệp định đối tác kinh tế toàn diện với Nhật mà hai nước vừa kết thúc đàm phán. các sản phẩm hoá dầu. Việc tăng tỷ giá thực này. các thiết bị công nghệ cũng sẽ bị giảm mạnh… Mặt khác năm 2009 chúng ta vẫn tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát. Điều này nhìn chung cũng đúng cho các ngoại tệ của các nước chịu tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính Mỹ. dù có được điều chỉnh vẫn ở mức cao. Tình hình này sẽ tác động tiêu cực đến kinh tế nước ta. sẽ làm suy giảm sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam. cũng như tỷ giá giữa VND với một số ngoại tệ mạnh khác? Ông Vũ Thành Tự Anh: Xu thế chung là đồng Đô la Mỹ sẽ yếu đi. Tuy có nhiều khó khăn. suy thoái kinh tế cũng làm cho giá nhiều loại nguyên liệu giảm mạnh. tôi nghĩ không ảnh hưởng nhiều. đến lượt nó. phôi thép và thép xây dựng. tăng cường công tác xúc tiến thương mại.com): Với các biện pháp bơm tiền ra để cứu hệ thống tài chính của Mỹ và châu Âu trong những ngày gần đây. Một trong các lĩnh vực bị ảnh hưởng là hoạt động xuất khẩu.nhưng nếu chúng ta mở rộng xuất khẩu sang các thị trường khác mà ở đó thu nhập dân cư khá cao. và đó cũng là một nguyên nhân quan trọng làm kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới có thể bị giảm sút. Ngoài ra cần mạnh dạn xuất khẩu sang các thị trường mới như các nước Đông Âu và Liên Xô cũ. Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng lại tuỳ thuộc vào tính chất của từng mặt hàng. mặt hàng ít tiền. Vì xuất khẩu giảm thì nhập khẩu cũng giảm do chúng ta đã phải nhập khẩu 70-80% nguyên liệu để làm hàng xuất khẩu. lãi suất ngân hàng. mặt hàng có giá trị lớn ảnh hưởng nhiều hơn. tất nhiên là với các mức độ khác nhau. và nếu Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì chính sách tỷ giá như hiện nay. nhưng tôi nghĩ năm nay chúng ta vẫn có thể tăng tổng kim ngạch xuất khẩu lên khoảng 18%. Đây là cơ hội mới cho hàng xuất khẩu Việt nam vì được hưởng thuế suất ưu đãi theo hiệp định. Nguyen The Anh (theanhcamel@gmail. kinh tế thế giới đang phải đối đầu với nguy cơ suy thoái. đồng thời lạm phát giá vẫn duy trì ở mức 25-27% như hiện nay thì tỷ giá thực của VND so với USD sẽ tăng.

Và nếu có thì chúng ta phải làm gì để nắm bắt những cơ hội trên? Ông Cao Sỹ Kiêm: Tôi nghĩ. cơ hội trong tăng xuất khẩu. chúng tôi chủ yếu chỉ sử dụng các nguồn dữ liệu chính thức. Về câu hỏi thứ hai của bạn về cách điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Và tất nhiên. Tôi muốn biết khi thực hiện báo cáo này. được công bố rộng rãi. theo nghĩa tăng mạnh hoạt động xuất khẩu các mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế so sánh. chúng tôi sẽ trình bày cẩn thận cách chúng tôi thu thập.com): Việt Nam có thể có hay không những cơ hội tốt để phát triển kinh tế do cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ mang lại bên cạnh những tác động tiêu cực của nó. Trên thực tế. Việt Nam cũng phải tiếp tục theo dõi sát tình hình trong và ngoài nước để xử lý linh hoạt và ứng xử hợp lý. Hai. cả bên trong và bên ngoài. Khi sử dụng số liệu thống kê. đặc biệt là các vấn đề kinh tế vĩ mô và có tính cơ cấu. Thứ nhất. tôi được biết các ông là những chuyên gia tham gia các báo cáo về tình hình kinh tế Việt Nam dưới danh nghĩa Trường Đại học Harvard thực hiện theo đơn đặt hàng của Chính phủ Việt Nam. Dòng vốn trên thế giới sẽ tập trung vào những nơi có môi trường chính trị và kinh doanh ổn định. chúng tôi có cơ sở để cho rằng số liệu chính thức do các cơ quan nhà nước công bố chưa chính xác. chúng tôi luôn có một số nguyên tắc nhất định. chúng tôi luôn tìm cách đối chiếu các nguồn dữ liệu khác nhau để từ đó có thể sử dụng các nguồn dữ liệu có sự nhất quán nội tại cao. công nghệ hiện mà các nước phát triển phải bán đi do kinh tế đi xuống. các số liệu mà cơ quan chức năng cung cấp cho các ông có thực sự đủ độ tin cậy? Ông đánh giá thế nào về điều hành chính sách tiền tệ hiện nay của Ngân hàng Nhà nước? Ông Vũ Thành Tự Anh: Đúng là Chương trình Việt Nam (tại trường Harvard Kennedy) và Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (trường Fulbright) gần đây có đưa ra một số báo cáo về nền kinh tế Việt Nam. chỉ trừ một số trường hợp hy hữu khi số liệu thống kê chính thức không tồn tại (chẳng hạn như về giá bất động sản ở khu vực Nam Sài Gòn trong 2 năm trở lại đây) thì chúng tôi mới tự tiến hành điều tra. Một số bạn đọc: Thưa ông Huỳnh Thế Du và ông Vũ Thành Tự Anh. Trong những nghiên cứu này. Ba. Trong những trường hợp này. Do đó. chúng tôi sử dụng nhiều nguồn dữ liệu khác nhau. xử lý dữ liệu và đưa ra sự khác biệt trong ước tính của mình so với số liệu chính thức. Tranh thủ nhập khẩu các mặt hàng. qua cuộc khủng hoảng này chúng ta có thể có những cơ hội sau: Một. chọn lọc nhập khẩu. Lê Đức Thắng (thang_leduc68@yahoo.chặt chẽ. Việt Nam đang có những lợi thế trong hai nhân tố này. cơ hội trong thu hút vốn đầu tư. trong đa số trường hợp. Theo tôi. chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước vẫn đi sau thị trường. và trên thực . Tất nhiên. Thứ hai. trong một số trường hợp. tôi tin rằng tỷ lệ nhập siêu năm 2009 sẽ được kiềm chế ở tỷ lệ so với kim ngạch xuất khẩu thấp hơn năm 2008.

Huyền Nhung (dohuyennhung76@yahoo. các tác động tới Việt Nam mang tính gián tiếp chứ không dẫn đến đổ vỡ mang tính hệ thống. Đồng ý là trong thời gian qua dòng ngoại tệ đổ vào nhiều cộng với việc chính sách tiền tệ thắt chặt làm cho tiền đồng có xu hướng tăng giá. có một điểm tôi vẫn đang cảm thấy băn khoăn mà như anh Tự Anh đã nêu là vấn đề tỷ giá. Việt Nam cần ưu tiên nguồn lực để giải quyết các vấn đề của riêng Việt Nam. Điều này tác động rất lớn đến hoạt động xuất khẩu. và do vậy có thể không nhất quán. Đây là bài toán khó. nhưng nếu không giải nó thì hoạt động ngoại thương nói riêng. Tuy nhiên. hoạt động mà khả năng sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong thời gian tới. Do vậy. Một ví dụ khá điển hình là việc yêu cầu 41 tổ chức tín dụng mua 20.tế. Với việc các quốc gia bảo lãnh hệ thống ngân hàng thì chúng ta cũng không lo các khoản tiền gửi liên ngân hàng tại thị trường quốc tế. theo các chuyên gia. Các doanh nghiệp Việt Nam chưa đầu tư nhiều ra quốc tế.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc và áp đặt lãi suất trần (tức là đi ngược lại tiến trình tự do hóa lãi suất). và chính sách) thì rất khó có thể điều hành chính sách tiền tệ một cách chuyên nghiệp và hiệu quả. những lĩnh vực nào cần lưu ý. nguồn dự trữ ngoại tệ của Việt Nam được gửi tại các ngân hàng an toàn. Ngân hàng Nhà nước nên tìm cách giải bài toán tỷ giá để giảm khó khăn cho các đơn vị xuất khẩu. tuy nhiên trong điều kiện Ngân hàng Nhà nước không được độc lập (về mặt tài chính. việc điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam không chỉ được giao cho Ngân hàng Nhà nước mà Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính. nhân sự. Tôi vẫn giữ ý kiến trước đây của mình rằng mặc dù Ngân hàng Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước những quyết định chính sách của mình cũng như hệ quả của chúng đối với nền kinh tế. Tuy nhiên tác động của khủng hoảng quốc tế trong khi tình hình trong nước còn khó khăn thì chúng ta cũng phải hết sức thận trọng. nhưng xét về mức độ lạm phát khác nhau giữa tiền đồng và đồng đô-la thì với tỷ giá như hiện nay. đó là vấn đề lạm phát và nguy cơ bùng phát nợ xấu ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế. tiền đồng đã tăng giá rất mạnh. theo tôi. tiền tệ Quốc gia cũng đóng vai trò hết sức quan trọng. trong bối cảnh hiện tại.com): Xét cụ thể về tác động của cuộc khủng hoảng này. Ông Huỳnh Thế Du: Về phần dữ liệu. Cũng cần nói thêm rằng. Tôi xin trao đổi trước câu hỏi về chính sách tiền tệ. chúng ta có thể “mất” ở những khả năng nào? Ông Mạc Quang Huy: Như tôi đã phân tích ở trên. Theo quan điểm cá nhân tôi. Theo xác nhận của Ngân hàng Nhà nước. anh Tự Anh đã đề cập. Một số bạn đọc: Theo các chuyên gia đánh giá thì cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang ở giai đoạn nào của tiến . khả năng cạnh tranh cũng như kinh tế Việt Nam nói chung sẽ ở vào vị thế rất bất lợi. Nếu so với thời điểm đầu năm hay trước đó thì dường như Ngân hàng Nhà nước đã có sự linh hoạt và uyển chuyển hơn trong việc điều hoà dòng chảy của tiền đồng và đã có những can thiệp cần thiết trên thị trường ngoại hối. chịu nhiều sức ép của thị trường.

có những phương thuốc được cho là mạnh nhưng lại không có tác dụng. điều này sẽ làm giá trị các chứng khoán hình thành từ chứng khoán hóa bất động sản cũng tăng theo. Ngoc Anh: Xin hỏi ông Cao Sĩ Kiêm. Sau khi xảy ra sụt giảm mạnh thị trường bất động sản tại Mỹ dẫn đến sự sụt giảm chứng khoán. rút về như vậy có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động . nhưng đến thứ Ba thì thị trường chựng lại và đến hôm nay khi mà các số liệu kinh tế Mỹ được công bố lộ ra nguy cơ suy thoái đã làm cho chỉ số chứng khoán Hoa Kỳ nói riêng. và đang đi tiếp quãng đường còn lại. Từng là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Đó là cái giá phải trả cho bất kỳ cuộc khủng hoảng nào. lòng tin của thị trường cũng như những số liệu. Tôi tin rằng chúng ta đang trải qua những thời khắc nguy kịch nhất và chúng ta sẽ phải đi tiếp quãng đường còn lại. Ví dụ cách thức giải cứu các ngân hàng do chính phủ Anh khởi xướng đã có tác động mạnh vào ngày thứ Hai. Nói chung tình hình hiện tại đang ở trong giai đoạn thử thách. Thị trường nhà đất phục hồi sẽ kích thích nhu cầu đầu tư. Vừa rồi qua báo chí tôi có biết được rằng hiện đã có một số ngân hàng Việt Nam rút tiền gửi tại các ngân hàng nước ngoài về. Do thị trường chứng khoán luôn đi trước nền kinh tế khoảng 6 tháng. Trong giai đoạn tới có thể là chính sách nới lỏng tiền tệ nhằm kích thích nền kinh tế phục hồi. Nếu đoán đúng bệnh và kê đúng đơn thuốc thì khả năng sẽ dứt bệnh. Trong thời gian tới sẽ như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào các chính sách tiếp theo của các nước. Do đó tôi cho rằng chu kỳ phục hồi diễn ra cũng có những điểm nhạy cảm. Sau khi thị trường tài chính điều chỉnh giảm về vùng đáy thì sẽ là tác động suy thoái kinh tế. Do nguồn vốn cạn kiệt. rất khó nói là nó đã đến đỉnh điểm hay chưa. tôi tin rằng cuộc khủng hoảng đã đi được một nửa quãng đường cần thiết. Trên thực tế. chi phí huy động vốn cao và sức cầu suy giảm toàn cầu nên sẽ mất nhiều năm để nền kinh tế khôi phục. chúng ta vừa chứng kiến giai đoạn căng thẳng nhất của cuộc khủng hoảng khi các nhà đầu tư bị thua lỗ lớn. những con số sẽ được đưa ra. ông có thể giải thích kỹ thêm về tiền gửi này ở dạng nào. nợ xấu và tác động ngược lại thị trường tài chính tại từng thời điểm trong chu kỳ phục hồi. thị trường tín dụng gần như đóng băng tạo ra sự đổ vỡ nhiều định chế tài chính trên phạm vi toàn cầu. chứng khoán toàn cầu xuống dốc.trình khủng hoảng? Ông Huỳnh Thế Du: Đây là một câu hỏi rất khó trả lời vì nó giống như một cơ thể đang bị bệnh hiểm nghèo chưa có tiền lệ nên các thầy thuốc vừa chuẩn đoán vừa kê đơn. Theo quan điểm cá nhân. nếu không thì sẽ trầm trọng hơn. cũng có phương thuốc thoạt đầu có vẻ tác dụng nhưng sau một vài ngày đã lờn. Hiện tại các tài sản này được coi là tài sản xấu (distressed assets). Suy thoái kinh tế có thể dẫn đến thất nghiệp. Khi giá nhà đất và chứng khoán đến giảm đến một mức nào đó thì sẽ có sức cầu đón mua. Ông Mạc Quang Huy: Cám ơn bạn nhưng đây thực sự là một câu hỏi khó. nên sự phục hồi của nền kinh tế sẽ dẫn đến sự phục hồi của thị trường chứng khoán. biên độ tín dụng tăng cao. Các chính phủ hiện đang làm hết sức mình để tạo niềm tin đối với thị trường và giữ hệ thống tài chính khỏi sụp đổ.

Thứ hai. các thị trường đang lên mà trong đó có Việt Nam sẽ giảm do khẩu vị về rủi ro của các nhà đầu tư đã giảm đi rất nhiều và họ có xu hướng đầu tư vào những loại tài sản có tính an toàn cao hơn thay vì phiêu lưu mạo hiểm như trước đây. Việt Nam hưởng lợi gì và thiệt hại gì từ việc này? Các ngân hàng 100% vốn nưóc ngoài với lợi thế có lượng USD lãi suất thấp sẽ tác động thế nào tới thị trường tài chính Việt Nam? Áp lực lên tỷ giá VND/USD bị ảnh hưởng ra sao? Ông Huỳnh Thế Du: Thực ra không phải đến giờ này mà trong một thời gian qua khe hở giữa lãi suất tiền đồng so với ngoại tệ trong nước. Thứ nhất. Nhiều bạn đọc: Nhìn lại sự ứng phó của Chính phủ Mỹ và những quốc gia lớn trên thế giới. Việc một số ngân hàng rút tiền gửi ở nước ngoài về để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh trong nước cũng như chuyển sang các ngân hàng khác ở các khu vực khác an toàn hơn cũng là bình thường. chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm nào cho Việt Nam? Ông Bùi Kiến Thành: . Nếu điều này xảy ra cộng với chính sách tỷ giá gần như cố định hiện này vẫn được duy trì thì sức ép đối với đồng tiền trong nước sẽ gia tăng. ngay cả đối với các nhà đầu tư trong nước. theo dự báo dòng vốn chảy vào các nước đang phát triển. Do vậy. Việc rút và chuyển tiền này không ảnh hưởng gì tới hoạt động của các ngân hàng ở Việt Nam. các nhà đầu tư lo ngại những rủi ro có thể xảy ra đối với nền kinh tế. tôi cảm thấy lo ngại sự giảm sút của dòng vốn chảy vào nhiều hơn. Hơn thế nữa. Thực ra tâm lý này xảy ra đối với hầu hết các nước chứ không riêng gì Việt Nam. việc này đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng này được an toàn và hiệu quả hơn. ở vấn đề này.com): Do chênh lệch lãi suất tiền gửi USD trên thế giới và Việt Nam. nhưng tôi cho rằng dòng vốn chảy vào Việt Nam để hưởng chênh lệch lãi suất không nhiều. gửi tiền ở các ngân hàng nước ngoài hay rút tiền gửi đó về nước là nghiệp vụ bình thường trong kinh doanh của các ngân hàng. nên có thể sẽ có làn sóng người nước ngoài vay tiền từ Mỹ đem sang Việt Nam gửi tiết kiệm để hưởng chênh lệch lãi suất khoảng 4%/năm.ngân hàng? Ông Cao Sỹ Kiêm: Việc chuyển đổi cơ cấu các đồng tiền ở nước ngoài. cho dù tỷ giá giữa VND và USD đã được giữ ổn định trong nhiều năm nhưng dường như cũng chưa đủ thuyết phục để những người có ngoại tệ chuyển sang tiền đồng vì họ lo ngại khả năng đồng tiền bị mất giá. lãi suất ở Mỹ chỉ vài ba phần trăm trong khi lãi suất USD ở Việt Nam gấp vài ba lần nhưng các nhà đầu tư bên ngoài cũng không đổ nhiều tiền vào Việt Nam vì kinh nghiệm của họ cho thấy khi có vấn đề gì xảy ra các nước đang phát triển thường áp dụng những biện pháp hành chính mạnh làm họ không được rút tiền ra nên họ lo ngại. ngoại tệ trong nước so với ngoại tệ nước ngoài đã xảy ra. Vũ Khánh Bình (khoabui1973@yahoo. Điều này không xảy ra là do cũng giống như các nước đang phát triển hay thị trường mới nổi khác. Với những gì đang xảy ra. ngay cả ở những thời điểm kinh tế Việt Nam rất ổn định.

tránh "ngủ gục" trên "tay lái" của mình. các định chế tài chính Phố Wall phát hành ra các trái phiếu phái sinh nhưng lại không kiểm tra và đánh giá các hợp đồng cho vay thế chấp dùng làm tài sản bảo đảm có đủ tiêu chuẩn chất lượng hay không. kịp thời và thống nhất trên cơ sở minh bạch thông tin.Trong một thời gian dài. Cơ quan giám định đã không làm hết chức năng của mình để tìm hiểu thực sự các sản phẩm làm tài sản thế chấp cho các trái phiếu phát hành. Việt Nam vẫn cần thực hiện triệt để các giải pháp đưa ra như việc minh bạch hóa các kết quả cắt giảm dự án công. nhưng điều này thì rất nguy hại cho nền kinh tế Mỹ và toàn cầu. Tại đầu nguồn. trong khi đó các nhà đầu tư dựa trên hệ số tín nhiệm của sản phẩm này để quyết định đầu tư. cần có các hành động quyết đoán. Như chúng ta thấy khi Hạ nghị viện Mỹ từ chối phê chuẩn gói cứu trợ 700 tỷ USD đã tạo ra làn sóng bán tháo cổ phiếu. Chính phủ Mỹ đang rất lo ngại về việc mất thanh khoản của thị trường tài chính và sự co hẹp của thị trường tín dụng là một yếu tố đưa đến suy trầm và suy thoái kinh tế Mỹ. . Việt Nam cần xem lại chính sách tiền tệ. nhỏ. Việc phê chuẩn sau đó cũng như việc cắt giảm lãi suất toàn cầu đã không ngăn chặn được làn sóng bán tháo. song Việt Nam đã giải quyết khủng hoảng một cách sắc nét. được thế giới đánh giá cao. các giải pháp chống khủng hoảng ngày nay đòi hỏi sự thống nhất giữa các quốc gia. Việt Nam nên rút kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng này để thận trọng hơn trong các họat động tài chính. Bài học quan trọng nhất là các cơ quan quản lý nhà nước phải giám định chặt chẽ hoạt động của các định chế tài chính. Mặc dù lúc đầu dường như khá lúng túng. Để ngăn chặn khủng hoảng niềm tin. Ông Mạc Quang Huy: Những gì diễn ra trong thời gian qua cho thấy bài học về khủng hoảng niềm tin. Chỉ đến đầu tuần qua khi các chính phủ nhiều nước đứng ra cam kết đảm bảo thanh toán hệ thống ngân hàng và cam kết bơm nguồn vốn lớn vào thị trường thì niềm tin mới quay trở lại. Sự nỗ lực của các quốc gia trên phạm vi toàn cầu trong đợt khủng hoảng vừa qua là một ví dụ minh chứng. triệt để. Thứ hai. các cơ quan giám sát tài chính của Mỹ đã không quan tâm đến việc giám sát các công ty tài chính của Phố Wall. Các hợp đồng cho vay này đã hỗ trợ cho thị trường bất động sản Mỹ phát triển rất mạnh trong suốt 10 năm. Nhóm giải pháp toàn diện chống lạm phát được đưa ra cùng các thông tin minh bạch như dự trữ ngoại hối đã giúp khôi phục niềm tin. Hơn nữa do sự hội nhập của nền kinh tế toàn cầu. đặc biệt là cho vay kinh doanh bất động sản ở Việt Nam. Vì vậy. Ví dụ như đánh giá hệ số tín nhiệm (Credit Rating) các sản phẩm phái sinh này là có vấn đề. và sự sống còn của các xí nghiệp lớn. Tuy nhiên. thắt chặt tín dụng đang được triển khai và ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế Việt Nam. các tổ chức tài chính cho vay thế chấp bất động sản đã bất chấp người vay không có khả năng thanh toán mà vẫn tạo điều kiện cho vay. Việt Nam cũng đã học được các bài học trên từ cuộc khủng hoảng trong nước diễn ra hồi tháng 6.

Thiết nghĩ ở cấp quốc gia. Như tôi được biết. và chỉ còn 3% trong năm 2009. Thị trường luôn có những thất bại của nó. mục tiêu tăng trưởng GDP trong năm 2009 của chính phủ dao động giữa hai mức 6.com): Kính gởi ông Vũ Thành Tự Anh. ông có những ý kiến đóng góp gì nhằm tháo gỡ những khó khăn đó cho các nhà hoạch định chiến lược của Chính phủ Việt Nam? Ông Vũ Thành Tự Anh: Theo báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới công bố ngày 8/10/2008 của IMF. trong tình huống này.1%. Với những bất ổn vĩ mô trong nước (lạm phát. trong đó tầng lớp công nhân lao động như anh nói sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp. mà tác động tổng hợp có thể sẽ là tốc độ tăng trưởng chậm lại và thất nghiệp gia tăng. tôi cho rằng trong giai đoạn này. Điều này chắc chắn sẽ tác động tới mọi tầng lớp dân cư của Việt Nam. tốc độ tăng trưởng GDP của thế giới sẽ giảm từ 5% trong năm 2007 xuống còn 3. vì khi đám cháy xảy ra việc cần làm duy nhất là dập tắt lửa trước đã. thâm hụt ngân sách v. những dự báo này dựa trên một giả định là quỹ đạo chính sách của Việt Nam vẫn giữ nguyên . tôi cho rằng ngay cả tốc độ tăng trưởng 6. The Economists dự báo rằng tốc độ tăng trưởng của Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2020 là khoảng 5. tôi cho rằng Chính phủ cần kiên trì với những định hướng chính sách lớn trong năm 2008. Ông Huỳnh Thế Du: Theo tôi. điều quan trọng là cần xác định ưu tiên thật đúng đắn.5% cũng là một mục tiêu không dễ gì đạt được. suy thoái kinh tế toàn cầu như hiện nay sẽ tác động đến Việt Nam. Tất nhiên. nhập siêu.v. Từ phương diện chính sách của nhà nước. Letoan (le_toan11011@yahoo.3% và và dự báo cho năm 2009 là 4. Từ những điều phân tích ở trên. thì những diễn biến mới đây trong nền kinh tế toàn cầu sẽ đặt ra những thách thức mới cho nền kinh tế Việt Nam. Việt Nam cũng cần xây dựng các chiến lược xử lý khủng hoảng trên cơ sở phân tích tình huống nhằm chuẩn bị tốt hơn cho tương lai. Nhiều người cho rằng. nếu để nó hoàn toàn tự do sẽ gây ra những tác động tiêu cực. Trong câu chuyện này.5% và 7%. trong thời gian tới các quy định hay luật lệ chế tài hoạt động của các tổ chức tài chính ở Hoa Kỳ cũng như nhiều nước khác sẽ chặt chẽ là hà khắc hơn. Sự suy giảm chung của nền kinh tế thế giới chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam. Trong hoàn cảnh này. Vậy ở góc độ của một nhà kinh tế. bài học lớn nhất có thể rút ra là tại sao nước Mỹ nói riêng và các nước phát triển nói chung lại để cuộc khủng hoảng tồi tệ như vậy lại có thể xảy ra. Vấn đề ở đây là cần theo dõi chặt chẽ sự vận hành khó lường hay sự biến ảo của thị trường để có những uốn nắn hợp lý. theo tôi. đối với Việt Nam nói riêng các nước nói chung.9% trong năm 2008.1%.) chưa được giải quyết triệt để. Chúng ta phải chấp nhận tăng trưởng chậm lại trong một vài năm để bình ổn vĩ mô và đảm bảo cho tăng trưởng dài hạn. mà cụ thể là tiếp tục đặt ưu tiên cao nhất cho nhiệm vụ chống lạm phát và bình ổn kinh tế vĩ mô. bài học từ việc cứu thị trường khỏi sụp đổ là không nhiều. nhưng nếu can thiệp vào nó một cách thô bạo thì hậu quả cũng không kém phần nghiêm trọng. Báo cáo về Triển vọng Thế giới của Deutsche Bank (3/10/2008) cho rằng tốc độ tăng trưởng GDP củaViệt Namtrong năm 2008 là 6. Tất nhiên. đây không phải là nhận định của cá nhân tôi. Tương tự như vậy.

trong khi các thị trường khác chỉ khoảng 10 lần hoặc thấp hơn. Để tránh sự đổ vỡ thì điều quan trọng nhất vẫn là một chiến lược kinh doanh bền vững cùng với một hệ thống quản trị rủi ro tiên tiến. Còn nếu như Chính phủ thực sự quyết tâm trong việc sửa chữa những vấn đề cơ bản. để trên cơ sở đó bình ổn kinh tế vĩ mô thì tôi tin tưởng rằng với tiềm năng của mình. Việt Nam hoàn toàn có thể tăng trưởng như mức của các con rồng. Nếu so với thời điểm đầu năm hay trước đó thì dường như Ngân hàng Nhà nước đã có sự linh hoạt và uyển chuyển hơn trong việc điều hoà dòng chảy của tiền đồng và đã có những can thiệp cần thiết trên thị trường ngoại hối. Trong một bài báo trước đây: “Phố Wall: Đánh đổi tự do để tồn tại?” trên VnEconomy (http://vneconomy. tôi cho rằng không có lý do gì để thị trường chứng khoán chúng ta hồi phục mạnh trong 12 tháng tới (mặc dù tôi nhận định sẽ đi theo hướng phục hồi cùng với những biến chuyển tích cực vĩ mô của nền kinh tế). thâm hụt cán cân thương mại và đã đạt được những thành tựu ban đầu. Việt Nam hiện cho phép phát triển mô hình ngân hàng tổng hợp song duy . tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đến Việt Nam mang tính gián tiếp và tâm lý là chủ yếu. Xin nói thêm một chút về vấn đề tỷ giá mà tôi đã nhắc đến ở trên. con hổ trong khu vực trong một thời gian dài.vn/20080926022117524P0C7/pho-wall-danh-doi-tu-do-de-ton-tai. liệu thị trường chứng khoán Việt Nam sắp tới sẽ ra sao? Ông Mạc Quang Huy: Tôi cho rằng thị trường chứng khoán Việt Nam chịu hai tác động cùng lúc đó là tình hình khó khăn trong nước và ảnh hưởng từ thị trường quốc tế. tập trung vào nội dung điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Riêng về khó khăn trong nước chúng ta vừa trải qua cuộc chiến chống lạm phát. Vậy nếu thị trường chứng khoán thế giới suy yếu kéo dài.com): Ông Mạc Quang Huy có nói. Đinh Ngọc Thủy (bachdang_360@yahoo. có tính cơ cấu của nền kinh tế.như hiện nay. Nếu thị trường chứng khoán quốc tế suy yếu kéo dài thì sẽ làm cho quá trình hồi phục của chứng khoán Việt Nam chậm hơn do ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư gián tiếp và ảnh hưởng yếu tố tâm lý. Tuy nhiên khả năng suy thoái kinh tế vẫn còn đó dẫn đến việc tăng trưởng của các doanh nghiệp trong 2009 sẽ rất khó khăn. Ngoài ra nguy cơ nợ xấu do thắt chặt tiền tệ có thể xảy ra sau 3-6 tháng nữa. Ha Le: Là người hoạt động nhiều năm trong một ngân hàng đầu tư và chứng kiến sự đổ vỡ của nó. Do đó chỉ tính đến các yếu tố riêng của Việt Nam. theo ông Huy. tôi đã có dịp phân tích về mô hình ngân hàng đầu tư độc lập cũng như ngân hàng tổng hợp (universal bank) và xu hướng phát triển trên thế giới. Trong khi đó khi chứng khoán toàn cầu sụt giảm mạnh trong thời gian qua làm cho giá chứng khoán Việt Nam trở nên đắt tương đối so với các thị trường khác. những vấn đề nào cần chú ý khi Việt Nam đang có những tổ chức đi theo mô hình này? Ông Mạc Quang Huy: Các công ty chứng khoán và quản lý quỹ của Việt Nam vẫn là một dạng sơ khai của mô hình ngân hàng đầu tư trên thế giới. Hơn nữa chứng khoán toàn cầu suy yếu kéo dài cũng có nghĩa là nền kinh tế toàn cầu suy thoái mạnh hơn dự kiến. Điều này sẽ ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam như đã phân tích trên và như vậy tăng trưởng của các doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng.htm). Cụ thể HSBC dự báo P/E của Việt Nam khoảng 15 lần.

Việt Nam chưa có nghiệp vụ chứng khoán hóa là công cụ truyền dẫn phát tán rủi ro tín dụng từ thị trường tín dụng sang thị trường vốn cũng như việc phát tán rủi ro ra phạm vi quốc tế. Với việc thị trường bất động sản sụt giảm mạnh và đóng băng như hiện nay thì đây là các tín hiệu đáng lo ngại cho thị trường tín dụng. Thứ nhất là tăng trưởng tín dụng nóng. Thứ 2. lãi suất trên thị trường rất thấp (khoảng 12-13%). Ngoài ra. chỉ khác nhau ở cách thức thể hiện. sau đó 6 tháng điều chỉnh lên mức rất cao (21%) do chính sách thắt chặt tiền tệ.Hai: Trong nước. Điều quan trọng tiếp theo là bản thân các ngân hàng thương mại cần tự ý thức chấp hành rủi ro và xây dựng các rào cản nội bộ (chinese wall) nhằm ngăn chặn tương tác ảnh hưởng giữa hoạt động ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư. tại Việt Nam đã có hiện tượng này chưa? Ông Mạc Quang Huy: Bản chất của rủi ro tín dụng ở các thị trường đều giống nhau. áp dụng các chuẩn mực kế toán tiên tiến. Chính 3 điểm khác biệt này giúp hạn chế mức độ nghiêm trọng và tầm ảnh hưởng của rủi ro tín dụng tại Việt Nam. Việt Nam còn bị tác động của lạm phát dẫn đến thu nhập của người vay vốn giảm sút. tại thời điểm bùng nổ tín dụng. công ăn việc làm không ổn định. một số doanh nghiệp cũng đang lên kế hoạch niêm yết và phát hành chứng khoán tại một số thị trường lớn trên thế giới. Nhiều bạn đọc: Điểm xuất phát của cuộc khủng hoảng hiện nay có từ hoạt động cho vay dưới chuẩn tại Mỹ. Thứ 3. Việt Nam cần theo dõi chặt chẽ tình hình nợ xấu trong 6 tháng tới. Việt Nam hiện nay cũng tiềm ẩn rủi ro tín dụng rất lớn song hoàn cảnh của Việt Nam có nhiều điểm khác so với Mỹ. Do tính chất rủi ro cao của hoạt động ngân hàng đầu tư nên Uỷ ban Chứng khoán cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống kiểm soát đối với công ty chứng khoán như các quy định an toàn vốn. Ví dụ ngân hàng thương mại có thể chấp nhận cho vay các khoản vay dưới chuẩn cho các doanh nghiệp trong tình trạng khó khăn hay chuẩn bị phá sản chỉ vì ngân hàng đầu tư đang nắm giữ chứng khoán nhằm cứu giá. Theo ông Huy. đặc biệt là giai đoạn cuối năm 2008 và quý 1/2009.trì sự ngăn cách tương đối giữa hoạt động ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư. Mâu thuẫn lợi ích giữa hai mảng nghiệp vụ này có thể dẫn đến việc lạm dụng quyền lực. Thứ 2. Trước hết Việt Nam chưa có cho vay dưới chuẩn (cho vay nhóm đối tượng có thu nhập thấp. Cụ thể. đặc biệt là bùng nổ tín dụng bất động sản và tín dụng tiêu dùng cuối năm 2007. T. đầu 2008. Ngân hàng Nhà nước đã có quy định ngân hàng mẹ không được cho vay công ty chứng khoán trực thuộc. Tuy nhiên thị trường tín dụng Việt Nam có những diễn biến tương đồng với khủng hoảng tín dụng tại Mỹ. Đây là một định hướng đúng đắn trong thời điểm hiện tại nhằm ngăn chặn truyền dẫn rủi ro từ thị trường vốn sang thị trường tiền tệ và do đó rủi ro hệ thống. Thưa ông Mạc Quang Huy. trong bối cảnh ảnh hưởng của cuộc khủng . tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo (loan-to-value) tại Việt Nam không quá cao (70%) tuy nhiên định giá tại Việt Nam lại chưa minh bạch. có mức độ rủi ro tín dụng cao).

hoảng. Đối với các dòng vốn ra. do đó thị trường cổ phiếu sẽ không được ưa chuộng. Đáng lưu ý ngoài mục đích hỗ trợ thân nhân và đầu tư vào kinh doanh trong nền kinh tế thực (real economy). tâm lý chung của các nhà đầu tư là hướng đến những thị trường ít rủi ro. dòng kiều hối về Việt Nam tăng mạnh. vì Việt Nam chưa tự do hóa tài khoản vốn hoàn toàn nên việc rút vốn ra của các nhà đầu tư nước ngoài hay việc đầu tư ra nước ngoài của cá nhân và tổ chức Việt Nam không hoàn toàn dễ dàng. Điều này cũng có nghĩa là dòng kiều hối trong năm tới có thể cũng sẽ suy giảm. Dòng kiều hối từ trước đến nay vẫn là một dòng ngoại tệ tương đối ổn định. Nhiều khả năng là chúng ta sẽ chứng kiến sự suy giảm của dòng đầu tư trực tiếp và gián tiếp. Mặc dù có những dấu hiệu cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài muốn rút vốn khỏi Việt Nam. Do đó. Trong một vài năm trở lại đây. Đối với dòng vốn vào. Một số bạn đọc: Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đang và sẽ dẫn đến sự xáo trộn nhất định của các dòng vốn. và Việt Nam không phải là một ngoại lệ. ngay cả trong thời kỳ kinh tế toàn cầu có khó khăn. Thêm vào đó. Xin cảm ơn ông. Việt Nam đang bị coi là một điểm đầu tư có mức độ rủi ro cao. mà có lẽ chủ yếu là do các nguyên nhân nội tại trong nền kinh tế Việt Nam. xong tôi cho rằng mức độ và tốc độ dòng vốn chảy ra khỏi Việt Nam là không quá lớn. dòng vốn đầu tư gián tiếp cũng sẽ có nguy cơ giảm sút vì trong điều kiện đầy rủi ro như hiện nay. Trong thời kỳ khủng hoảng. với tình trạng lạm phát và bất ổn vĩ mô như hiện nay. Nguyễn Lương Ngọc (ngoc21071976@yahoo. và do vậy sẽ càng trở nên bất lợi trong điều kiện khan hiếm tín dụng. thì một phần không nhỏ của dòng kiều hối này có mục đích đầu tư chứng khoán và bất động sản – là những lĩnh vực hiện nay không còn nóng như trước. các nhà đầu tư thường tìm đến các kênh đầu tư an toàn (flight to quality). Cũng phải nói thêm là sự suy giảm này không nhất thiết do sự khủng hoảng tài chính thế giới gây ra. trong khi đó thì mức độ rủi ro của Việt Nam trong năm qua lại tăng lên do lạm phát cao và bất ổn vĩ mô. Ông Mạc Quang Huy: . đâu là những thuận lợi và khó khăn nếu doanh nghiệp triển khai? Ông Mạc Quang Huy: Những gì diễn ra trên thị trường thế giới cho thấy đây là thời điểm rất bất lợi để niêm yết hay huy động vốn. Tương tự như vậy. Các ông nhận định thế nào về khả năng có sự xáo trộn đó ở Việt Nam? Ông Vũ Thành Tự Anh: Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đối chắc chắn có những tác động quan trọng đối với sự lưu chuyển các dòng vốn ở Việt Nam. đồng thời liên tục bán ra trái phiếu chính phủ trong những ngày gần đây cũng cho thấy khả năng rút vốn khỏi Việt Nam là hoàn toàn hiện thực. Thị trường này cần một khoảng thời gian đủ dài để có thể hồi phục cùng với các chuyển biến kinh tế vĩ mô. nguồn tín dụng đang dần trở nên cạn kiệt của thế giới sẽ làm cho hoạt động đầu tư trực tiếp và gián tiếp suy giảm trên phạm vi toàn cầu. Việc các nhà đầu tư nước ngoài không mặn mà lắm với thị trường chứng khoán.com): Xin chào ông Mạc Quang Huy! Xin ông cho biết người dân Ausatralia đón nhận cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay như thế nào. các doanh nghiệp cần chủ động thay đổi các kế hoạch niêm yết hay phát hành trên thị trường quốc tế đến khi bức tranh toàn cầu sáng sủa hơn.

dầu. anh đánh giá thế nào về sự ảnh hưởng biến động tỷ giá của các nước trong khu vực emerging markets ở châu Á và tính cạnh tranh xuất khẩu của Việt nam so với các nước trong khu vực khi đồng tiền Việt Nam vẫn neo vào đồng Đô la? Ông Mạc Quang Huy: . Chính điều đó làm cho nền kinh tế Úc tăng trưởng tốt và đồng AUD tăng mạnh lên đến đỉnh gần bằng USD vào tháng 8 qua. Tuy nhiên khi cuộc khủng hoảng diễn ra với lo ngại nhu cầu tiêu thụ toàn cầu sụt giảm làm cho giá dầu và hàng hóa cơ bản giảm nhanh chóng. đầu tư). Giá bất động sản hiện cũng đang trong chu kỳ giảm. Điều này.com): Xin hỏi ông Huỳnh Thế Du. ở vị trí thuộc những nước có độ mở ngoại thương lớn nhất thế giới (theo chỉ tiêu tổng kim ngạch xuất nhập khẩu so với GDP. Đặc điểm của nền kinh tế Úc là phụ thuộc vào ngành tài nguyên khoáng sản (than đá. vậy theo ông có đúng không? Ông Huỳnh Thế Du: Như tôi đã phân tích ở những câu hỏi trước. Tôi cho rằng nước Úc đang lâm vào suy thoài và cũng sẽ phải mất vài năm để khôi phục nền kinh tế. Một nguyên nhân nữa làm AUD giảm mạnh có sự đóng góp của các giao dịch đầu cơ chênh lệch lãi suất (carry trade).Cám ơn bạn đã quan tâm đến nước Úc. Vừa qua giới truyền thông cho rằng Việt Nam vẫn ở xa tâm bão khủng hoảng thế giới. vv) và ngành dịch vụ tài chính (ngân hàng.com. Cuộc khủng hoảng tài chính ở khu vực năm 1997-1998 đã làm cho Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn sau đó rồi.Tran@ipa. Úc đã được hưởng lợi lớn từ xuất khẩu. vàng. Khi nền kinh tế suy thoái dẫn đến AUD giảm giá thì các dòng tiền này quay ngược ra rất nhanh chóng. Trong vài năm vừa qua khi nền kinh tế toàn cầu bùng nổ và giá hàng hóa cơ bản tăng cao (commodities). nếu xét về một khía cạnh nào đó thì chúng ta may mắn. hệ thống tài chính của Việt Nam chưa hội nhập nhiều hay nói cách khác là chưa nằm trong mắt xích của hệ thống tài chính toàn cầu nên nếu chỉ xét riêng về lĩnh vực tài chính thì Việt Nam không phải nằm xa mà là nằm ngoài tâm bão. Úc là một quốc gia cũng đang gánh chịu những hậu quả nhất định từ cuộc khủng hoảng này. Nếu xét về góc độ hoạt động ngoại thương. Mặc dù hệ thống tài chính Úc không bị đe dọa trực tiếp song Chính phủ Úc cũng đã có những hành động mạnh và kịp thời như cắt giảm lãi suất cơ bản 100 bps (1%) xuống 6% và cam kết bơm hàng tỷ đô vào hệ thống tài chính cũng như cam kết bảo đảm thanh toán cho các ngân hàng. Loan (loan. Do tỷ lệ dân Úc đầu tư chứng khoán cao nên nhiều người dân bị thua lỗ nặng. huống chi là cơn bão hiện tại. Úc thu hút lượng tiền thông minh lớn từ Nhật và một số quốc gia khác để đầu tư vào AUD với lãi suất cao. con số này là hơn 160%) thì sắp tới Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng lớn do kinh tế Mỹ nói riêng và kinh tế toàn cầu suy thoái. bảo hiểm. nhưng may mắn dựa trên mức độ phát triển và hội nhập thấp thì cũng không hay lắm.bluechipp@gmail. đặc biệt là Mỹ.vn): Chào anh Huy. Giá chứng khoán trên thị trường ASX cũng giảm mạnh khoảng 35% trong 4 tháng gần đây. Nguyễn Thị Nga (hn. Đồng AUD đã mất giá 30% trong 2 tháng gần đây so với USD. khiến AUD giảm sâu hơn. quặng.

hội nhập kinh tế thế giới có mặt thuận. chúng ta cũng chứng kiến đồng KRW của Hàn Quốc và AUD giảm mạnh so với USD (30%) vì nhiều lý do khác nhau. đặc biệt đối với một nước mà kim ngạch xuất khẩu chiếm hơn 60% GDP như nước ta. đặc biệt là những yếu tố có tính ổn định kém của kinh tế toàn cầu như dòng vốn đầu tư. Vì sản xuất ra phải có nơi tiêu thụ. lãi suất nóng. chúng ta đã nhận thức khá rõ những cơ hội và những thách thức đặt ra cho nước ta khi tham gia tổ chức này. thúc đẩy tăng trưởng và tạo công ăn việc làm. đặc biệt khi Chính phủ Mỹ sẽ phát hành 700 tỷ USD giải cứu hệ thống tài chính. từ việc hội nhập. thị trường tài chính. gia nhập WTO. nhất là đầu tư nước ngoài kèm theo chuyển giao vốn. Phạm Thành Bảo (tb_index@yahoo. lạm phát tăng cao dần.. sau khi Việt Nam trở thành thành viên WTO ngày 11/1/2007. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói giảm nghèo.com): Cháu có một câu hỏi gửi bác Trương Đình Tuyển: Thưa bác.Cám ơn câu hỏi của bạn. Đây là 2 yếu tố cơ bản hấp dẫn các nhà đầu tư. khả năng phản ứng chính sách không tốt. Tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá. người dân cũng như sinh viên tụi cháu hết sức phấn khởi. Về thách thức: Phân hoá giàu nghèo sẽ "doãng" ra nhanh hơn. tăng thâm hụt ngân sách. Để hạn chế tác động tiêu cực này chúng ta phải có chính sách phát triển đúng đắn. thậm chí khủng hoảng. Trước khi nộp đơn gia nhập WTO. Thị trường xuất khẩu được mở rộng. thị trường dầu mỏ. nhập siêu tăng mạnh. Những gì diễn ra ở nước ta sau 2 năm gia nhập WTO. Nếu khả năng dự báo và phân tích kinh tế yếu kém. Do đó với chính sách neo tỷ giá hiện nay của Việt Nam thì tỷ giá thực của VND sẽ tăng lên so với USD. Trong giai đoạn qua. chúng ta sẽ tạo đựơc môi trường đầu tư và kinh doanh thông thoáng cùng với thị trường xuất khẩu được mở rộng do là thành viên của WTO. Về yêu cầu này chúng ta đã làm tốt được một số việc nhưng vẫn còn nhiều việc chưa làm tốt và còn phải làm nhiều hơn nữa. điều này sẽ ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam. một bộ phận dân cư dễ bị tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường. Trong thực tế Chính phủ Mỹ có thể còn phải bơm thêm nhiều vốn vào trong nền kinh tế. Về cơ hội: Đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài sẽ tăng lên nhờ phải cải cách hệ thống luật pháp cho phù hợp với cam kết. công nghệ sản xuất. Tôi cũng đồng ý với anh Vũ Thành Tự Anh về xu hướng mất giá của USD. nhất là năm 2008 khẳng định sự đúng đắn trong .. Đầu tư. Ở đây tôi chỉ nêu những cơ hội và những thách thức có liên quan đến câu hỏi của cháu. liệu có phải chính do gia nhập WTO mà chúng ta phải chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới? Cháu cám ơn bác và chúc bác sức khoẻ ạ! Ông Trương Đình Tuyển: Chào cháu. phải quan tâm đến hệ thống các chính sách an sinh xã hội nhằm hỗ trợ những đối tượng gặp khó khăn. cơ chế ngăn ngừa rủi ro không bảo đảm sẽ dễ dẫn đến rối loạn thị trường. Có 5 cơ hội lớn và 5 thách thức lớn. cũng có mặt nghịch. công nghệ quản lý tạo điều kiện cho chúng ta chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Toàn cầu hoá. những biến động trên thị trường thế giới tác động rất nhanh rất mạnh đến thị trường trong nước. trình độ cán bộ bất cập. Vậy theo bác. Hầu hết các quốc gia mới nổi cũng chịu hoàn cảnh tương tự như Việt Nam. thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển. Nhưng các nước này có thể sẽ hưởng lợi từ xuất khẩu. Nhưng thực sự kể từ đó kinh tế Việt Nam phát triển chậm lại. Đây là yếu tố quan trọng để phát triển sản xuất.

Lê Thị Hồng Phương (lephuong275@yahoo. Vậy Việt Nam có nên hành động như vậy trong giai đoạn lạm phát cao như thời gian qua? Ông Cao Sỹ Kiêm: Trong những tháng cuối năm 2008 và cả năm 2009. Vậy Việt Nam có nên hành động như vậy trong giai đoạn lạm phát cao như thời gian qua? Ông Cao Sỹ Kiêm: Việc ngân hàng trung ương các nước đua nhau hạ lãi suất là để cứu nền kinh tế tránh khỏi suy thoái. 6 tháng đầu năm 2009 xuất khẩu tăng đến 39%. Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng nguyên nhân của lạm phát và tăng trưởng chậm lại chủ yếu vẫn là do các nhân tố bên trong. Khôi: .com. Việc ngân hàng trung ương các nước đua nhau hạ lãi suất là để cứu nền kinh tế tránh khỏi suy thoái. nhất là các ngân hàng thương mại. Đây là việc làm vừa phục vụ cho nhu cầu chống lạm phát. giúp các ngân hàng thương mại có điều kiện giảm lãi suất cho vay. giúp các ngân hàng thương mại có điều kiện giảm lãi suất cho vay. Việt Nam cũng đang hành động tương tự khi mà các ngân hàng. Lê Thị Hồng Phương (lephuong275@yahoo. ước cả năm nay vốn FDI đăng ký đạt 60 tỷ USD . Xuất khẩu tăng nhanh. Việt Nam cũng đang hành động tương tự khi mà các ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước đã có các biện pháp như nâng lãi suất dự trữ bắt buộc từ 1.mức cao nhất từ trước đến nay.nhận định của Trung ương Đảng.com.vn): Giai đoạn hiện nay các ngân hàng đua nhau cắt giam lãi suất nhằm ngăn chạn cơn bão khủng hoảng. đang tích cực giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ và giảm bớt khó khăn cho các doanh nghiệp. Đây là việc làm vừa phục vụ cho mục tiêu chống lạm phát. vừa khai thác tốt khả năng để tăng trưởng hợp lý. đầu tư nước ngoài tăng cao. Nhưng mặt khác. đang tích cực giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ và giảm bớt khó khăn cho các doanh nghiệp. đó là sự yếu kém của bản thân nền kinh tế của cơ cấu kinh tế và đầu tư kém hiệu quả đã tồn tại từ nhiều năm. Ngân hàng Nhà nước đã có các biện pháp như nâng lãi suất dự trữ bắt buộc từ 1. Cơ hội cũng rất lớn và thách thức cũng không nhỏ cơ hội và thách thức không còn ở dạng nguy cơ mà là hiện hữu. chính sách tiền tệ của Việt Nam vẫn phải tiếp tục được thắt chặt. vừa khai thác tốt khả năng để tăng trưởng hợp lý. chậm được khắc phục và một phần do những hạn chế yếu kém trong quản lý và điều hành . Nhưng trong điều hành lại có những biện pháp linh hoạt để khai thác những thời cơ thuận lợi để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế phù hợp.vn): Giai đoạn hiện nay các ngân hàng đua nhau cắt giam lãi suất nhằm ngăn chạn cơn bão khủng hoảng.2% lên 5% và thanh toán các trái phiếu cho các ngân hàng thương mại để cải thiện khả năng thanh khoản cũng như giảm bớt chi phí cho ngân hàng thương mại. nền kinh tế chúng ta cũng phải chịu tác động của lạm phát và khủng hoảng tài chính toàn cầu gây cho chúng ta những khó khăn và phức tạp trong quản lý và điều hành kinh tế. WTO không phải là nguyên nhân của tình hình này.2% lên 5% và thanh toán các trái phiếu cho các ngân hàng thương mại để cải thiện khả năng thanh khoản cũng như giảm bớt chi phí cho ngân hàng thương mại. nhất là các ngân hàng thương mại. do chính sách tài khoá và tiền tệ bị nới lỏng nhiều năm.

năm 2009 sẽ khó làm được gì nhiều. Cả hệ thống đang trong thời kỳ phải cơ cấu. Với tình hình này. FED cho phép một số ngân hàng sáp nhập hoặc chuyển đổi từ ngân hàng đầu tư thành ngân hàng thương mại.. không đồng thời làm cùng nghiệp vụ huy động vốn và nhận tài khoản. thậm chí sợ rằng chưa ra khỏi. Nhưng chắc chắn. nếu khủng hoảng tài chính lan rộng và kéo dài thì Việt Nam cần phải đối phó như thế nào? Ông Cao Sỹ Kiêm: Khủng hoảng tài chính và suy yếu kinh tế đã lan rộng từ Mỹ ra khắp thế giới. chúng ta đặt ưu tiên xuất khẩu (đến 60% GDP) và ta bị lệ thuộc vào nó. đồng thời ứng phó hiệu quả với tác động của kinh tế thế giới tới kinh tế trong nước.Thưa ông Cao Sỹ Kiêm. Trở lại lịch sử nước Mỹ. Mỹ cũng đang trong kỳ bầu cử và từ 20/1/2009 sẽ có chính phủ mới. chúng ta cần theo dõi sát sao tình hình diễn biến thế giới cũng như trong nước để có những giải pháp linh hoạt. Trước mắt. sắp xếp lại nên việc nước Mỹ trở lại đà tăng trưởng kinh tế. Đây là cách đối phó khủng hoảng có hiệu quả nhất. Cuộc khủng hoảng này kéo dài bao lâu còn phụ thuộc vào khả năng ứng cứu của các quốc gia cũng như sự đồng tâm và thống nhất xử lý của cộng đồng thế giới. từ trước đến giờ. hiệu quả và thích hợp cho mọi tình huống. Cách đối phó tốt nhất của Việt Nam là thực hiện thành công các giải pháp chống lạm phát đã có trong những tháng còn lại của năm 2008 và cả năm 2009 để nhanh chóng trở lại với tốc độ lạm phát một con số vào năm 2010. Hệ thống đó đã bị tan vỡ. hanoimoi: Xin hỏi nền kinh tế thế giới đã bước vào giai đoạn suy thoái. Các ngân hàng đầu tư của Mỹ có khả năng huy động vốn rất lớn.. Như vậy. thì cần phải có thời gian. . chúng ta mới có thể phát huy được những tiềm năng và sự chủ động trong nước. Tất nhiên. chứ không còn là “nếu” nữa. từ 1930. trong năm 2009 nước Mỹ sẽ phải cơ cấu lại toàn bộ nền tài chính. và từng là một thị trường tài chính hàng đầu thế giới. Chính phủ này sẽ cần thời gian để tổ chức lại cơ cấu nhân sự. họ sẽ không thể để khủng hoảng kéo dài.. có thể mất 6 tháng. Nay thị trường xuất khẩu co lại thì chúng ta phải nghĩ đến việc phát triển thị trường nội địa. Trong thời kỳ kinh tế suy thoái như thế này. nền kinh tế Việt Nam bị tác động gì và sẽ phát huy được phần nào của nền kinh tế chúng ta? Về phía Việt Nam. trong một tuần có thể dàn xếp các khoản vay đến vài chục tỷ USD. Mỹ tách ra ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại riêng. vì vậy khủng hoảng có thể kéo dài đến 2010. điều này ảnh hưởng như thế nào đến kinh tế của một nước đang phát triển ở trình độ thấp như Việt Nam trong vòng 1-2 năm tới ? Ông Bùi Kiến Thành: Khủng hoảng tài chính Mỹ dẫn tới cuộc suy thoái kéo dài và không biết sẽ đi đến đâu.

nhưng đây là những biện pháp phải có để chặn khủng hoảng và suy yếu của nền kinh tế. về nhân lực. những chương trình này cần phải có thời gian để phát huy tác dụng. đặc biệt là cần quan tâm đến người Việt Nam ở nước ngoài. năm 2009. cũng như khả năng phấn đấu thực hiện mục tiêu của các doanh nghiệp. công nghệ. việc này có đồng nghĩa là suy thoái kinh tế đã đến không. Mức tăng chắc chắn là sẽ hơn con số hiện nay. các biện pháp này cũng sẽ ảnh hưởng tới lạm phát. Chắc chắn. với tình trạng đó. Cung Thị Mai Loan: Các diễn giả nhận định như thế nào về tình hình nợ xấu trong các ngân hàng Việt Nam hiện nay. Việt Nam cần phải quan tâm đặc biệt đến vấn đề đào tạo và quản lý nhân sự. Nếu những giải pháp này cùng với các giải pháp khác được thực thi có hiệu quả thì trong vòng một vài năm tới. FED cùng một số ngân hàng trung ương khác tuyên bố bơm tiền không hạn chế vào hệ thống tài chính theo các ông điều này tạo ra những hệ lụy nguy hiểm nào cho kinh tế toàn cầu. về trí tuệ. Từ lĩnh vực quản lý nhà nước đến lĩnh vực doanh nghiệp. Nếu Việt Nam không kịp thời có những điều chỉnh để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển thì phải đối mặt với những khó khăn gì? 300 ngàn doanh nghiệp phần nào tồn tại sẽ bị ảnh hưởng. Tran Trong Kien: Tôi có một câu hỏi nữa: Việc ECB. nhiều người dự đoán tỉ lệ nợ xấu sẽ tăng mạnh vào giai đoạn cuối năm 2008 đến hết quý 1/2009 là khoảng 10%. liệu điều này có xảy ra không? Ông Cao Sỹ Kiêm: Tình hình nợ xấu trong ngân hàng có nhiều khả năng sẽ tăng. đứng số 10 trên thế giới về dân số. trình độ nghề nghiệp. các ông đánh giá thế nào về kinh tế thế giới 2009. năng lực quản trị kinh doanh.Quốc gia trên 80 triệu dân. Phải phát huy nội lực và tiềm năng thị trường từ thành thị đến nông thôn.. rất nhiều doanh nghiệp nhỏ đang trong giai đoạn khó khăn và nhiều doanh nghiệp phá sản. Hiện nay. Tuy nhiên. kinh tế thế giới vẫn sẽ phải đối mặt với khó khăn.. Phải nghiên cứu ưu thế dân số của ta là về cái gì. yếu tố nhân sự là yếu tố quyết định cho việc thành bại. Nếu kinh tế thế giới suy thoái thì sẽ mất bao lâu thời gian để phục hồi và tăng trưởng Ông Cao Sỹ Kiêm: Việc bơm tiền của các ngân hàng trung ương cũng như việc hạ lãi suất là những biện pháp chặn suy thoái và những diễn biến xấu đi của khủng hoảng tài chính.. Do đó. các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang gặp nhiều khó khăn cả về vốn. Nếu những giải pháp tháo gỡ của Chính phủ đồng bộ và có kết quả cùng với sự tự tháo gỡ điều chỉnh của từng doanh nghiệp cũng như sự hỗ trợ tích cực của cộng đồng thì khả năng dừng sản xuất hoặc phá sản của một số doanh nghiệp sẽ được hạn . việc tỷ lệ này có tăng tới mức 10% hay không còn phụ thuộc khả năng kiềm chế lạm phát và xử lý linh hoạt trong đầu tư tín dụng của các ngân hàng. thì phải làm sao khai thác được ưu thế về dân số. Tất nhiên. Ngoài vấn đề tài chính ra. Những khó khăn này đang được Chính phủ từng bước tháo gỡ. Thời điểm tăng sẽ là những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009. kinh tế thế giới sẽ phục hồi.

Có như vậy ngành ngân hàng của ta mới phát triển được. thì vẫn có khả năng phá sản. thưa ông Kiêm? Ông Cao Sỹ Kiêm: Việc hệ thống ngân hàng của Việt Nam chưa hội nhập sâu với thế giới không thể hoàn toàn được coi là may mắn. Chương trình của Mỹ và các nước khác để hỗ trợ chống suy thoái phải cần tới vài ba năm để phát huy tác dụng.vn): Kính thưa ông Huỳnh Thế Du. trước hết là các ngân hàng Mỹ. Tất nhiên. Nguyen Van Anh: Có thể nói việc hệ thống ngân hàng Việt Nam chưa tham gia hội nhập sâu với thế giới là một may mắn không. Đặc biệt.com): Khủng hoảng tài chính thế giới có ảnh hưởng như thế nào đến hệ thống ngân hàng Việt Nam. Bên cạnh đó là việc tập trung quá nhiều vào cho vay bất động sản và khả năng kiểm soát. những doanh nghiệp mà có khó khăn tồn tại lâu dài và nó không phải chủ yếu do tác động của lạm phát gây nên. đội ngũ nhân lực. Việt Nam không thể không bị tác động. Vì muốn hay không chúng ta phải vẫn hội nhập để có sự cạnh tranh. nhưng ảnh hưởng này chỉ giới hạn ở mức độ hạn chế của quan hệ giữa các ngân hàng Việt Nam với các ngân hàng nước ngoài. chi phí hoạt động tăng. trong tình hình khủng hoảng hiện nay. Và chúng ta cũng phải chấp nhận theo quy luật của kinh tế thị trường. Nhưng đâu là những cơ hội cho Việt Nam? Ông Huỳnh Thế Du: Tác động tiêu cực là điều khó tránh khỏi. Nhung (tcnh7@yahoo. Ngoài ra. Nhưng dù sao. dòng vốn chảy vào Việt Nam sẽ có sự thay đổi. Về khó khăn. cọ xát.chế và tình hình của các doanh nghiệp này sẽ được phục hồi dần. chúng ta cũng rút ra được những bài học về nguyên nhân của cuộc khủng hoảng này. còn có một số khó khăn mới như khả năng huy động hạn chế. có phát triển và có phá sản. nhưng cuộc khủng hoảng này cũng đem đến những điều tích cực cho Việt Nam ở những điểm sau: . nhất là khối lượng tín dụng tung ra quá dễ dãi và lãi suất thấp “dưới chuẩn”. khó khăn vốn có của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn là vấn đề công nghệ. Sau đó. hệ thống tài chính thế giới sẽ hồi phục. bài học cho các ngân hàng tại Việt Việt Nam. khả năng quản trị kinh doanh còn khoảng cách so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặng Văn Dũng (dangvdung@vnn. Đặc biệt là về điều hành chính sách tiền tệ. Bao lâu nữa thì thị trường tài chính sẽ hồi phục và kỷ nguyên mới của thị trường tài chính và nền kinh tế toàn cầu sẽ như thế nào? Ông Cao Sỹ Kiêm: Khủng hoảng tài chính và sự suy yếu của kinh tế thế giới đã có ảnh hưởng tới Việt Nam. quản lý cũng như tính hiệu quả của các khoản tín dụng này. trong thời gian tới. lợi nhuận sẽ giảm.

đây là cơ hội tốt để củng cố lại hệ thống tài chính trong nước vốn đang có rất nhiều vấn đề và trục trặc. lãi của người đi vay và thanh toán gốc. ngân hàng thương mại chỉ là vai trò giám sát và hỗ trợ hoạt động cho SPV. Có lẽ đây là điểm có lợi nhất cho Việt Nam ở cuộc khủng hoảng này. Do đó trong thực tế ngân hàng thương mại thường thực hiện công việc giải ngân tín dụng cho người mua nhà sau đó bán danh mục tín dụng sang ngân hàng đầu tư. . Vai trò của ngân hàng đầu tư.com): Em vẫn chưa hiểu khoản MBS là do ngân hàng thương mại hay là ngân hàng đầu tư phát hành? Ông Mạc Quang Huy: Cám ơn bạn Chiến. những đối tác chính của mình đang gặp khó khăn.Thứ nhất. Sau khi thu hồi hết khoản vay và thanh toán cho trái chủ thì SPV tự giải thể. Bạn có thể tham khảo hơn về quy trình phát hành MBS theo một bài viết trước đây trên VnEconomy: "Khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ: Từ A đến Z" (http://vneconomy. Nguyễn Văn Chiến (nguyenchien. Thậm chí ngân hàng đầu tư còn sẵn sàng ứng vốn trước cho ngân hàng thương mại để giải ngân tín dụng. cấu trúc tài chính quốc tế có sẽ thay đổi. lãi trái phiếu cho các trái chủ nắm giữ MBS theo thứ tự ưu tiên định sẵn. SPV gần như không có vốn. Đây chính là cơ hội cho nhiều nước. đối ứng với nguồn vốn chính là MBS phát hành. ngâ n hàng muốn chứng khoán hóa sẽ thành lập một công ty có mục đích đặc biệt (Special Purpose Vehicle SPV) để phát hành trái phiếu MBS ra thị trường. Nói chính xác hơn. thực lòng mà nói việc tìm kiếm những cơ hội sẽ rất khó khăn khi mà những người xung quanh.404@gmail. phân bổ vốn một cách hiệu quả thì nền kinh tế sẽ tăng trưởng lành mạnh và phát triển bền vững. Danh mục tín dụng được bán cho công ty SPV này và như vậy SPV có tài sản là danh mục tín dụng.htm). vai trò của những ông lớn hiện tại có khả năng sẽ giảm sút. Các gói trái phiếu được đảm bảo bởi tín dụng bất động sản (MBS) có thể do cả ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư phát hành. Nhưng cần phải lưu ý là có lẽ trật tự tài chính quốc tế sẽ không có sự thay đổi nhiều và những nước như Trung Quốc chẳng hạn sẽ có vai trò lớn hơn là điều khó có thể xảy ra. Lý do ngân hàng đầu tư tham gia nhiều hơn vào nghiệp vụ chứng khoán hóa hơn ngân hàng thương mại vì họ là thực thể trên thị trường vốn do đó có thuận lợi để phân phối MBS ra các khách hàng và quỹ đầu cơ (hedge funds). Trong tình huống này. Ngân hàng đầu tư sẽ phân loại đóng gói và hình thành SPV để phát hành MBS. giờ đây chúng ta có thể biết những gì có thể xảy ra để tránh trên con đường phía trước. Khi có một hệ thống tài chính đúng nghĩa. thường là vốn tượng trưng 1 USD. Hàng tháng công ty SPV nhận tiền thanh toán gốc. Như vậy cả ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư đều có những phần việc của mình trong chuỗi giá trị chứng khoán hóa.vn/62186P0C6/khung-hoang-noduoi-chuan-tai-my-tu-a-den-z. Thứ hai. Đây có lẽ là cơ hội tốt nhất để chúng ta có thể làm được điều này. qua cuộc khủng hoảng này. Trong khi đó ngân hàng thương mại lại là chủ thể trên thị trường tín dụng nên họ sẵn có các danh mục tín dụng. kết nối thị trường tín dụng và thị trường vốn một cách hoàn hảo. Thứ ba. những nước khác có thể sẽ có vai trò nhiều hơn.

riêng ở khu vực tôi đang ở. theo quan sát của tôi. Không chừng sẽ có người đoạt giải Nobel kinh tế nhờ giải thích tại sao cuộc khủng hoảng hiện tại lại xảy ra (sau khi nó đã xảy ra rồi) cũng nên. Khi thôi chức họ lại trở thành một giáo sư bình thường. Chắc chắn. trong tình huống này họ không làm như vậy vì như thế sẽ làm cho tình trạng lạm phát gia tăng rất khủng khiếp và ảnh hưởng đến tín nhiệm quốc gia (làm như vậy chẳng ai còn dám mua trái phiếu Chính phủ Hoa Kỳ nữa). Dang Long: Hiện ông Du đang công tác tại Mỹ. Những buổi thảo luận như vậy thường rất cởi mở và đa chiều. Merton. trường Đại học Princeton cũng tổ chức một buổi thảo luận tương tự mà trong đó có Giáo sư Paul Krugman. Vào những ngày thị trường căng thẳng. Cũng thời gian này. người đoạt giải Nobel kinh tế về mô hình quyền chọn năm 1997. mọi chuyện vẫn bình thường. trường đại học nơi tôi học đã tổ chức một buổi thảo luận giữa những người am hiểu. Một giáo sư đại học có thể đường hoàng trở thành thống đốc ngân hàng trung ương hay bộ trưởng tài chính. cho dù tình hình có vẻ như đang rất khó khăn. đó chỉ là những đánh giá phân tích ban đầu. Họ tính toán từng đồng lấy nguồn ở đâu và trong thời gian tới sẽ thâm hụt ngân sách bao nhiêu chứ họ không in tiền như Zimbawe đã làm. đó là in tiền. người đoạt giải Nobel kinh tế năm nay tham dự. Tuy nhiên. ông có thể cho biết tâm lý và ứng xử chung trong đời sống của những người xung quanh trong bối cảnh khủng hoảng tài chính không? Ông Huỳnh Thế Du: Ở những nơi khác tôi chỉ có điều kiện tìm hiểu qua các phương tiện thông tin đại chúng nên không cảm nhận được rõ tâm lý như thế nào. nhưng sau đó đi vào các bài giảng như không có điều gì đang xảy ra. Mỗi khi lên lớp các giáo sư cũng có những bình luận đánh giá ở một số khía cạnh. Chính phủ phải vất vả lắm mới thuyết phục được Quốc hội thông qua. ai vào việc đó. do ngân hàng trung ương của các nước này có tính độc lập rất cao nên họ có thể can thiệp bằng cách tung tiền ra trong những thời điểm thị trường thiếu thanh khoản sau đó sẽ thu về vào những thời điểm cần thiết. nhưng dường như không có tâm lý hoảng loạn xảy ra mà hầu hết mọi người dường như vẫn tin vào một nước Mỹ mạnh. uy tín của ông Tổng thống hiện tại xuống thấp chưa từng có trong lịch sử.Le Thanh: Xin ông Huỳnh Thế Du cho biết Mỹ và Nhật lấy tiền đâu để có thể "bơm tiền không giới hạn cứu các ngân hàng" của họ? Ông Huỳnh Thế Du: Có một kênh không giới hạn. nhiều người cảm thấy bi quan hơn so với trước đây. Thực ra. Về thái độ của công chúng. Có lẽ đây là một trong những điều đặc biệt của hệ thống giáo dục đại học của Hoa Kỳ. cho dù chỉ số chứng khoán đang trồi sụt thất thường. trong đó có cả Giáo sư Robert C. trong thời gian tới sẽ có vô số nghiên cứu về sự kiện này. Tuy nhiên. Ở đây với mỗi kế hoạch người ta đều tính toán cẩn thận. Có lẽ đây là một trong những yếu tố hết sức quan trọng tạo nên sự ổn định của xã hội Hoa Kỳ và cũng có . học thuật gắn liền chứ không tách rời cuộc sống. Ví dụ như gói ngân sách 700 tỷ Đô la ở Mỹ. thị trường đang chao đảo.

Phan Duy Tuấn (duytuanp@yahoo. Với cơ cấu dân số trẻ. trao đổi chúng trên thị trường tài chính toàn cầu.thể ngược lại. trong tương lai chúng ta có nên khuyến khích phát triển loại hình sản phẩm tài chính nói trên để đáp ứng yêu cầu của xã hội hay không? Xin chân thành cám ơn. thì nhu cầu tài chính nhà ở của Việt Nam rất lớn và tiềm năng. Để chứng khoán hóa phát triển và phát huy hiệu quả tại thị trường Việt Nam. lộ trình ra sao. Tuy nhiên. Việc phát triển thị trường chứng khoán hóa sẽ giảm gánh nặng cho thị trường tín dụng truyền thống trong khi chúng ta chưa có một thị trường tài chính nhà ở (housing finance) theo đúng nghĩa của nó. • Thị trường bất động sản ở Việt Nam chưa minh bạch. • Hệ thống dữ liệu lịch sử về tín dụng bất động sản ở Việt Nam (tỷ lệ nợ xấu. kéo theo các khoản nợ xấu gia tăng. Nguyễn Vĩnh Bình (vinhbinh_nguyen@yahoo. Những yếu tố trên sẽ làm cho việc định giá và cơ cấu các gói trái phiếu hình thành từ chứng khoán hóa trở nên vô cùng khó khăn.MBS) và mua bán. phong cách sống ngày càng độc lập. và cơ chế giám sát thế nào là điều cần bàn. khủng tài chính toàn cầu hiện nay bắt nguồn từ các khoản cho vay thế chấp bất động sản thứ cấp (Subprime Mortgage Loans) của các tổ chức tài chính Mỹ. xin được chuyển đến các chuyên gia câu hỏi sau: Có thể nói. do sự ổn định diễn ra trong một thời gian quá dài tạo ra niềm tin trong dân chúng. trong đó mấu chốt của vấn đề là việc chứng khoán hóa các khoản cho vay này để tạo ra sản phẩm mới là các chứng khoán bất động sản (Mortgage Backed Securities . Nếu nhà đầu tư thực sự hiểu họ mua rủi ro gì trong sản phẩm tài chính và được cảnh báo trước thì sẽ tránh được phát triển quá nóng và những hậu quả của nó.vn): Xin các chuyên gia có thể đưa ra những so sánh một cách khái quát những điểm giống và khác nhau giữa khủng hoảng ở Mỹ và ở châu Âu trong thời gian vừa qua. tốc độ đô thị hóa cao.com. • Việt Nam chưa có các tổ chức định mức tín nhiệm (credit rating agencies). Việt Nam có một số khó khăn để thực hiện thành công thị trường tài chính nhà ở và chứng khoán hóa: • Hệ thống dữ liệu lịch sử tài chính cá nhân của Việt Nam rất nghèo nàn. nhất là tình trạng nhà ở còn thiếu thốn như ở Việt Nam ta. Thật may đối với Việt Nam khi chúng ta chưa có loại sản phẩm tài chính kiểu này nên không chịu tác động dây chuyền khi có sự đổ vỡ của thị trường bất động sản.com): Kính chào các chuyên gia kinh tế. khả năng thu hồi) chưa đủ dài và tin cậy. Khi một vấn đề gì đó xảy ra thì mọi người vẫn bình tĩnh. thiết nghĩ chúng ta còn quá nhiều việc phải làm mà quan trọng nhất là quá trình giáo dục nhận thức của thị trường cũng như xây dựng khung pháp lý giám sát. Đến khi thị trường bất động sản xuống dốc. theo thiển nghĩ. Ông Mạc Quang Huy: Câu hỏi của bạn rất thú vị. Và những động thái từ phía Chính phủ Mỹ . Vấn đề quan trọng là phát triển thế nào. Theo tôi. các tổ chức tài chính sẽ lâm vào tình trạng phá sản như chúng ta đã chứng kiến trong những ngày vừa qua. và khi tỉ lệ nợ xấu vượt quá giới hạn chịu đựng. Vậy theo ý kiến các chuyên gia. Như đã trả lời trong câu hỏi trước. MBS cũng là một phương thức rất tốt để tái huy động vốn phục vụ nhu cầu của thị trường. điều mà nhiều người Mỹ quan tâm nhất hiện nay không phải là cuộc khủng hoảng hiện tại mà là bầu cử Tổng thống vào tháng 11 này. Thị trường vốn sẽ kết nối người thừa vốn và người thiếu vốn đến với nhau một cách trực tiếp và hiệu quả. tôi đồng tình với quan điểm là chúng ta nên phát triển nghiệp vụ chứng khoán hóa tại Việt Nam.

giá nhà đất và chứng khoán sụt giảm dẫn đến khủng hoảng tín dụng. tránh tăng trưởng quá nóng và chạy theo lợi nhuận trước mắt. Một sự khác biệt nữa là châu Âu trong thời gian vừa qua còn chịu áp lực mạnh từ cuộc chiến chống lạm phát do giá dầu và lương thực thế giới tăng cao. áp dụng các chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh. Đúng là chứng khoán hóa đã trở thành một công cụ truyền dẫn rủi ro từ thị trường tín dụng ngân hàng sang thị trường vốn. cẩn trọng hợp lý. Để phát triển bền vững. Vậy hệ thống tài chính Việt Nam có nên phát triển các tổ chức tài chính dạng ngân hàng đầu tư và hướng tới thực hiện chứng khoán hóa để chia sẻ rủi ro trên thị trường hay không? Ông Mạc Quang Huy: Tôi cho rằng bài học lớn nhất từ cuộc khủng hoảng này đối với các ngân hàng Việt Nam có lẽ là việc kìm chế lòng tham. CDO). hệ thống quản trị rủi ro. Mỹ đươc coi là trung tâm của cuộc khủng hoảng lần này và chịu nhiều tổn thất nhất. ngân hàng không còn là người phải chịu rủi ro chính đối với các món nợ xấu (điều này khác với ở Việt Nam). giá nhà đất leo thang và các khoản tín dụng rủi ro cao. các ngân hàng cần xây dựng chiến lược xử lý khủng hoảng và các kế hoạch duy trì kinh doanh (business continuity planning). Chính vì vậy. Bradford & Bingley đều rơi vào tình trạng khó khăn và phải được can thiệp. quản trị doanh nghiệp. Tại Anh Quốc. Đối với các quốc gia châu Âu khác. Bạn là người rất am hiểu về nghiệp vụ chứng khoán hóa. khủng hoảng mang tính chất gián tiếp hơn. chủ yếu do sự liên thông chặt chẽ giữa các thị trường tài chính lớn. chứng khoán hóa là một công cụ rât hiện đại giúp chia sẽ rủi ro trên thị trường. Đồng thời do xu hướng toàn cầu hóa nên chứng khoán hóa còn phát tán rủi ro ra phạm vi toàn cầu. đó là nguyên nhân khủng hoảng bắt nguồn từ sự phát triển tín dụng quá nóng.com): Cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp dưới tiêu chuẩn Mỹ có thể mang lại các bài học gì cho các ngân hàng Việt Nam (đặc biệt trong lĩnh vực cho vay bất động sản)? Được biết. các ngân hàng cần có một chiến lược kinh doanh dài hạn. Ngoài ra. Khi không thể huy động vốn trên thị trường và cũng không thể bán tài sản thì ngân hàng này bị tê liệt. Khi rủi ro phát sinh. Ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư chỉ đóng vai trò trung gian kết . hàng loạt ngân hàng cho vay thế chấp như Northern Rock. Việc phát tán rủi ro tín dụng được chuyển giao cho các nhà đầu tư trên thị trường vốn (bao gồm cả các nhà đầu tư có tổ chức và cá nhân) nắm giữ trực tiếp các gói trái phiếu được đảm bảo bởi các danh mục tín dụng (MBS. dẫn đến nhu cầu giả tạo. với sự hỗ trợ của nghiệp vụ chứng khoán hóa. Do sự phát tán rủi ro tín dụng thông qua các gói chứng khoán có gốc bất động sản của Mỹ và Anh Quốc nên các ngân hàng và quỹ đầu tư của châu Âu cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Ngân hàng Fortis của Bỉ bị quốc hữu hóa không phải do cho vay dưới chuẩn mà do bị thương nặng sau khi bỏ ra số tiền quá lớn cùng mua ABN AMRO Bank. Điểm khác giữa khủng hoảng của Mỹ và châu Âu chủ yếu là quy mô và sức tàn phá. các ngân hàng trung ương châu Âu đã không thể cắt giảm lãi suất mạnh mẽ như Mỹ đã làm trong năm qua. Chỉ đến khi cuộc khủng hoảng lên tới đỉnh điểm và lan rộng ra toàn cầu thì thực sự châu Âu mới vào cuộc. Phản ứng domino xảy ra khi thị trường tín dụng liên ngân hàng bị khủng hoảng và làn sóng bán tháo chứng khoán toàn cầu.cũng như các quốc gia châu Âu có gì khác nhau? Ông Mạc Quang Huy: Tôi nghĩ cuộc khủng hoảng ở Mỹ và châu Âu mà cụ thể là Anh Quốc có những điểm tương đồng nhất định. Lan Anh (phamhoanglananh@gmail. giám sát độc lập có vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện các rủi ro tiềm ẩn. Cuối cùng. MBO.

com): Xin hỏi bác Cao Sỹ Kiêm. đặc biệt là về tâm lý. nhất là trong điều kiện thông tin của chúng ta chưa hoàn chỉnh và có chỗ thiếu minh bạch. Áp dụng các chế tài phạt nặng đối với các tổ chức tài chính trung gian không cung cấp đầy đủ thông tin trung thực và không giải thích rõ về rủi ro của sản phẩm đến nhà đầu tư.com): Tôi là một nhà đầu tư chứng khoán. chứng khoán hóa không có tội. Tính ổn định của thị trường cũng chưa cao. Cảm ơn bác! Ông Cao Sỹ Kiêm: Rõ ràng là thị trường chứng khoán của chúng ta đang có những diễn biến theo nhịp độ của nền kinh tế cũng những tác động từ bên ngoài.nối người thiếu vốn trên thị trường tín dụng và người thừa vốn trên thị trường vốn. Những vấn đề này. Vũ Hưng (hungvu17@gmail. vì trước khi . Như trên tôi đã nói. giảm gắng nặng cho thị trường tín dụng truyền thống. việc cấp phép thành lập ngân hàng mới có nên tiếp tục dừng lại không? Ông Cao Sỹ Kiêm: Việc dừng cấp phép ngân hàng mới không có liên quan gì tới khủng hoảng tài chính của Mỹ. vấn đề phải được theo sát để có quyết định linh hoạt. kịp thời. trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng mới. Sau đây là một số giải pháp nhằm hạn chế lạm dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa. Chính sự thiếu hiểu biết này cùng với mức lãi suất hấp dẫn đã kích hoạt lòng tham của tất cả các chủ thể tham gia thị trường. Thực tế chứng khoán hóa có lịch sử phát triển từ năm 1977 và được sử dụng rất an toàn và hữu hiệu. • Tăng cường tính minh bạch thông tin của các sản phẩm tài chính. và tăng cường hệ thống giám sát và cảnh báo rủi ro tài chính. Trong cuộc khủng hoảng này. Rõ ràng là vấn đề tâm lý đang tác động rất mạnh. bác có thể cho tôi lời khuyên trước bối cảnh thị trường chứng khoán hiện nay không. • Tăng cường giám sát hoạt động định mức tín nhiệm đối với các gói trái phiếu hình thành từ chứng khoán hóa. ngăn ngừa khủng hoảng: • Tăng cường giáo dục nhận thức thị trường để nhà đầu tư thực sự hiểu bản chất và rủi ro tiềm ẩn trong từng sản phẩm tài chính. vấn đề là lòng tham của thị trường đã lạm dụng nghiệp vụ này để gây nên hậu quả khôn lường trong khi hệ thống giám sát chưa đủ mạnh. Hơn nữa do tính chất phức tạp của sản phẩm mà nhà đầu tư không hiểu hết bản chất chính họ là người cho vay tín dụng dưới chuẩn (ngân hàng phát hành chỉ đóng vai trò trung gian). Xin được hỏi bác Cao Sỹ Kiêm. Câu hỏi đặt ra là Việt Nam có nên thực hiện nghiệp vụ chứng khoán hóa để chia sẻ rủi ro hay không? Theo quan điểm cá nhân tôi thì rất nên bởi chứng khoán hóa là một công cụ tài chính rất thông minh và nó giúp tăng cường hiệu quả hoạt động của thị trường vốn. Nhadautu (hotstock@@yahoo. • Tăng cường các quy định an toàn chất lượng tài sản với một số loại nhà đầu tư có tổ chức. rất chú ý những nguồn tin không chính thống hoặc có ý đồ lợi dụng để kiếm lợi hoặc đồn thổi để có sự phân biệt khi ra quyết định. các cơ quan chỉ đạo quản lý đang tìm mọi biện pháp để hỗ trợ cho thị trường khôi phục và phát triển.

việc chưa giảm giá xăng dầu đã được các cơ quan chức năng "đồng thuận". Vì lượng tồn kho này phải được xử lý với giá mua vào rất cao nên chưa áp dụng được việc điều chỉnh giá xăng dầu trong nước. theo tôi là hợp lý. dù giá thị trường thế giới đã xuống thấp. Ha Nguyen: Thưa ông Bùi Kiến Thành: ông nghĩ như thế nào khi giá dầu thế giới hiện nay đã giảm rất thấp nhưng giá xăng tại Việt Nam vẫn chưa giảm. nhưng vì sao chỉ số chứng khoán Việt Nam hiện tại lên xuống luôn dựa vào chỉ số Dow Jones của Mỹ. Mặc dù nhiều chính phủ đã đưa ra các biện pháp giải cứu. hiện nay do 11 công ty làm đầu mối nhập khẩu và phân phối.xảy ra khủng hoảng. Lê Thị Thanh Huyền: Đối với giới đầu tư tài chính Việt Nam trong lĩnh vực bất động sản thì cuộc khủng hoảng chịu tác động như thế nào? Theo một số nhận định thì khi giá hàng hóa giảm. suy thoái của doanh nghiệp Mỹ. nhưng điều này không chỉ có ở Việt Nam. Cách đây vài ngày. Theo tôi. Về việc chứng khoán Việt Nam lên xuống theo Dow Jones (DJ). giá nhà sẽ giảm. Chỉ số đi xuống cũng là điều hợp lý. Nếu những đơn vị nào đủ các điều kiện mới này. Chân thành cám ơn ông Ông Bùi Kiến Thành: Về thị trường xăng dầu Việt Nam. sát với tình hình hiện nay hơn. một viên chức nhà nước lý giải trên phương tiện thông tin đại chúng rằng các cơ quan kinh doanh xăng dầu dự đoán giá dầu có thể lên 200 USD/thùng nên một số doanh nghiệp đã nhập khẩu tồn kho một lượng rất lớn với giá trên 100 USD/thùng. Thị trường chứng khoán toàn Á châu cũng giảm trong sáng nay. Xin ông cho biết nhận định về ý kiến trên? Các ngân hàng thương mại sẽ đối phó với việc này như thế nào? . Bên cạnh đó còn có yếu tố tâm lý. như vậy sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam. Theo chủ trương của Chính phủ. do doanh nghiệp lập luận vì phải bù lỗ? Hiện nay theo nhiều chuyên gia kinh tế thì Việt Nam không chịu ảnh hưởng nhiều bởi khủng hoảng tài chính thế giới. tỷ lệ nợ xấu sẽ gia tăng. Lý giải như thế có thể cho chúng ta nhận định rằng. Hôm nay DJ Mỹ xuống 7. DJ xuống mạnh thì kinh tế Mỹ đi vào thời kỳ suy thoái trầm trọng. việc cập nhật với sự lên xuống của giá dầu thế giới là chưa được thực hiện. nhưng giới đầu tư chưa thực sự an tâm. Khi kinh tế vĩ mô Việt Nam bị ảnh hưởng thì sẽ ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. có thể vẫn sẽ được cấp phép hoạt động. DJ thể hiện sức khỏe của nền kinh tế Mỹ và khả năng suy giảm.8% thì Topix đã xuống đến 10%. các cơ quan quản lý nhà nước cần phải thanh tra về giá thành nhập khẩu của các doanh nghiệp và điều phối việc giảm giá cho phù hợp. Chưa thể nói là thị trường xăng dầu đã hoạt động theo cơ chế thị trường. chúng ta sẽ dừng lại để xây dựng những tiêu chí an toàn hơn. Vì vậy. chúng ta đã nhận thấy việc thành lập mới ngân hàng trong mấy năm gần đây quá dồn dập và có thể gây ra những bất lợi và rủi ro đối với nền kinh tế. Việc định giá còn tuân thủ nhiều yếu tố chưa được rõ ràng.

Giá bất động sản xuống thì nợ cho vay bất động sản trở thành khó đòi. Sự cố này đã dẫn tới sự phá sản của nhiều ngân hàng. Cung nhiều nhưng cầu thì giá giảm mạnh. Đối với những khoản cho vay với lãi suất 21% trở lên rất dễ biến thành nợ khó đòi. tổng số cho vay bất động sản kể cả cho vay thế chấp khoảng trên 600 ngàn tỷ đồng. Các ngân hàng thương mại phải xem khả năng giảm nợ cho vay bất động sản đến mức đảm bảo an toàn. Trong suy thoái.Huyền: Xin ông cho biết chính sách tiền tệ hiện nay có thể giúp giảm nhẹ ảnh hưởng của khủng hoảng như thế nào? Ông Bùi Kiến Thành: Đối với chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay. số cho vay bất động sản của các ngân hàng rất lớn. chính sách tiền tệ hiện nay đã vô tình gây thêm áp lực cho nền kinh tế Việt Nam.Ông Bùi Kiến Thành: Trong năm vừa qua. vì có tiền mà không cho vay được. Với lãi suất cơ bản 14%. Hiện tượng này đã được các hiệp hội doanh nghiệp và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cảnh báo. vì nếu bán hàng loạt thì sẽ đưa giá bất động sản "tuột dốc". tuy rằng kiềm chế lạm phát là một ưu tiên. cho vay 19-21% thì rõ ràng các doanh nghiệp không thể hoạt động được. Với lãi suất cơ bản 14% thì các ngân hàng phải huy động vốn với lãi suất rất cao. nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn. và nền kinh tế Nhật đến nay chưa hồi phục hoàn toàn. không có người mua. bong bóng bất động sản sẽ bị "xì". Nhưng cần phải thận trọng "giải hàng". Điều này ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng tài sản của các ngân hàng. Theo tôi. Ngân hàng siết nợ thì có thể sở hữu bất động sản nhưng giá trị tài sản thì đi xuống. Ngân hàng lúc này bị kẹp giữa hai vấn đề: không cho vay được và nợ khó đòi có khả năng phát sinh nhiều. Ngân hàng nhà nước báo cáo dư nợ cho vay trực tiếp là 115 ngàn tỷ. Giá bất động sản hiện nay là giá ảo. cần phải nhanh chóng thu hồi các khoản vay có thể thu hồi được. Nhiều ngân hàng lãnh trách nhiệm trả lãi suất 17-19% cho khách hàng trong một thời gian dài. Nếu là chủ sở hữu bất động sản thì phải xem đến khả năng bán bất động sản để thu hồi vốn. Việc này gây khó khăn cho ngân hàng. Các xí nghiệp không chịu nổi lãi suất 21% hoặc cao hơn nữa thì phải thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh. Như vậy giá nhà sẽ phải xuống. Ngân hàng đã cam kết trả lãi suất cao cho người gửi mà không cho vay được thì tình hình kinh doanh của ngân hàng rất nguy hiểm. . Ngân hàng cần rút kinh nghiệm vỡ bong bóng của thị trường bất động sản Nhật trong những năm 1990. Doanh nghiệp không vay được thì bị đổ vỡ hàng loạt. nhưng cũng phải quan tâm đến việc phát triển bền vững của nền kinh tế. có thể nói. Kết quả là nền kinh tế bị chậm lại. T. do mua đi bán lại chứ không phải giá thật của hàng hóa. Một số không vay để tránh đổ vỡ.

Thường trực Chính phủ đã có nhiều cuộc họp bàn về vấn đề quan trọng này. góc độ khác nhau xung quanh cuộc khủng hoảng tài chính này. giải quyết những ách tắc để tăng mức vốn thực hiên của các dự án đầu tư trong đó có đầu tư nước ngoài. nhân dân ta sẽ có nhiều sáng kiến mới. Và tôi tin rằng trong khó khăn doanh nghiệp ta. phải chủ động hạn chế tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đến nền kinh tế nước ta. Do tình hình diễn biến rất nhanh.com): Tôi muốn hỏi đến thời điểm hiện nay. cập nhật thông tin và đưa ra những đánh giá về tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu đến thị trường trong nước. Thủ tướng chính phủ giao cho uỷ ban giám sát tài chính Quốc gia họp hàng tuần với các chuyên gia kinh tế để cập nhật đánh giá diễn biến của khủng hoảng và đề xuất giải pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ. các câu hỏi đề cập đến nhiều khía cạnh. Thủ tướng. thậm chí là cả ODA trong hai năm tới hay chưa? Nếu có thì phương hướng giải quyết như thế nào? Tại sao cho đến tuần trước. giảm chi phí trung gian. Tòa soạn Thời báo Kinh tế Việt Nam cùng các chuyên gia tham dự giao lưu trực tuyến hy vọng đã đáp ứng được phần nào những quan tâm của độc giả. Chính phủ đã có một đánh giá chi tiết nào về tác động cụ thể của khủng hoảng tài chính đến xuất khẩu. Giáo sư Đào Nguyên Cát: Trong 4 ngày qua. Các doanh nghiệp phải triệt để tiết kiệm trong sản xuất là lưu thông. điều đó là tất yếu vì chúng ta đã hội nhập. các phó thủ tướng và các bộ trưởng kinh tế đã nhiều lần nghe ý kiến của các chuyên gia trong và ngoài nước phân tích về cuộc khủng hoảng tài chính và tác động của noa đến nền kinh tế Việt nam. Hiện đã vượt quá xa thời gian chúng ta dự kiến dành cho cuộc trực tuyến này. nếu thống kê đã có tới hàng trăm cuộc hội thảo với nội dung đại loại như “Gia nhập WTO: Cơ hội và thách thức”. trong vòng hai năm trước. Thứ ba là phát huy nội lực coi đây là yếu tố quyết định trên cơ sở khuyến khích mạnh khu vực tư nhân phát triển đầu tư và kinh doanh. ảnh hưởng từ các cuộc khủng hoảng đến Việt Nam là có. Sau gần 4 tiếng đồng hồ làm việc tích cực. nhưng ảnh hưởng ở cấp độ nào mới quan trọng? Tôi nhớ rằng. đi đôi với khai thác tốt hơn thị trường nội địa. Kể từ thời điểm Việt Nam chính thức gia nhập WTO thì hiện tại đang chính là thời điểm các doanh nghiệp của chúng ta nhìn nhận rõ nét nhất. hạ giá thành để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nhằm duy trì ở mức cao nhất thị phần xuất khẩu. Đến thời điểm này các cân đối vĩ mô tốt hơn hồi giữa năm. FDI. Chúng tôi rất tiếc đã không đủ thời gian trả lời tất cả các câu hỏi của quý bạn đọc. Nhiệm vụ đầu tiên là phải bảo đảm an toàn hệ thống không để cuộc khủng hoảng tác động đến hệ thống tài chính ngân hàng của chúng ta. Những tư tưởng chỉ đạo trên đây được thể hiện rõ trong báo cáo của Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng trình Quốc hội trong phiên khai mạc sáng nay. Thứ hai phải đa dạng hoá thị trường xuất khẩu. chúng tôi đã nhận được hàng nghìn câu hỏi từ độc giả. Và theo tôi được biết cho đến nay hệ thống tài chính ngân hàng của chúng ta vẫn giữ được độ an toàn. Đó cũng là truyền thống và bản lĩnh của nhân dân ta. trải nghiệm thách .Dai Duong (Libra9999fls@yahoo. rất mong bạn đọc thông cảm! Như các chuyên gia đã phân tích. Trong quản lý điều hành thì cùng với tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát. vẫn có một quan chức khẳng định khủng hoảng sẽ không có ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam khi mà Mỹ là một thị trường xuất khẩu lớn của chúng ta? Ông Trương Đình Tuyển: Tôi có thể khẳng định Chính phủ theo dõi rất chặt.

mà giải pháp tốt lại là con đường mới mở ra dẫn chúng ta đến với những cơ hội mới. những biện pháp thắt chặt nâng cao năng lực cạnh tranh ngay tại từng doanh nghiệp và quan trọng hơn là những biện pháp xử lý của nhà nước. anh Mạc Quang Huy (bút danh Mạc San trên VnEconomy). ví dụ ở đây là những thị trường xuất khẩu mới. Với ý kiến phân tích của các chuyên gia. đặc biệt là đồng chí Trương Đình Tuyển. tôi trân trọng cảm ơn sự tham gia của các chuyên gia. thời gian giao lưu trực tuyến đúng vào lúc nửa đêm theo giờ Mỹ. những nhà nghiên cứu kinh tế trẻ Vũ Thành Tự Anh. Thay mặt Tòa soạn Thời báo Kinh tế Việt Nam. những phương pháp làm ăn mới. rất bận. Trước những khó khăn đòi hỏi phải có những giải pháp. trong đó hai lĩnh vực chính là xuất khẩu và quan hệ .thức là gì và cơ hội ở đâu. cần xem xét mối quan hệ giữa kinh tế Việt Nam với thế giới. Huỳnh Thế Du. biên tập viên.HCM. những công nghệ mới. Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động đến Việt Nam Để xem xét ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu tới Việt Nam. anh Du đang hoàn thiện công trình nghiên cứu của mình tại Mỹ. anh Huy ở Úc. Mỗi người một công việc khác nhau. anh Tự Anh ở tại Tp. tôi tin tưởng rằng chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát được tình hình và vượt qua khó khăn này. nhưng các chuyên gia đều nhiệt tình dành cho độc giả VnEconomy những chia sẻ cởi mở. Cao Sỹ Kiêm và ông Bùi Kiến Thành đã dành trên thời gian bên cạnh các phóng viên.Mối quan hệ này bao gồm quan hệ về tất cả các lĩnh vực kể từ khi VN hội nhập WTO.

vẫn phải tiếp tục được thắt chặt. đứng số 10 trên thế giới về dân số. giúp các ngân hàng thương mại có điều kiện giảm lãi suất cho vay. Về tiền tệ. Nay thị trường xuất khẩu co lại thì chúng ta nghĩ đến việc phát triển thị trường nội địa. Quóc gia trên 80 triệu dân. công suất thừa ra sẽ như thế nào? Thị trường lao động bị ảnh hưởng sẽ nảy sinh các vấn đề xã hội … tiêu dùng giảm sút. Phải nghiên cứu ưu thế dân số của ta là về cái gì. thì phải làm sao khai thác được ưu thế về dân số. Từ trước đến giờ. Nguyễn Văn Thế TP Hành Chính APAVE Hồ Chí Minh Sự suy giảm chung của nền kinh tế thế giới chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam. Trong hoàn cảnh này. mà tác động tổng hợp có thể sẽ là tốc độ tăng trưởng chậm lại và thất nghiệp gia tăng.về vốn.2% lên 5% và thanh toán các trái phiếu cho ngân hàng thương mại để cải thiện khả năng thanh khoản cũng như giảm bớt chi phí cho ngân hàng thương mại. về nhân lực. Nhưng trong điều hành lại có những biện pháp linh hoạt để khai thác những thời cơ thuận lợi để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế phù hợp như tích cực giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ và giảm bớt khó khăn cho các doanh nghiệp. Đây là việc làm vừa phục vụ cho mục tiêu chống lạm phát. … cần quan tâm đến người Việt Nam ở nước ngoài. Điều này chắc chắn sẽ tác động tới mọi tầng lớp dân cư Việt Nam.chúng ta đặt ưu tiên xuất khẩu (đến 60% GDP) và ta bị lệ thuộc vào nó. Chính phủ cần đặt ưu tiên cao nhất chống lạm phát và bình ổn kinh tế vĩ mô. vừa khai thác tốt khả năng để tăng trưởng hợp lý. Các xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất. Chúng ta phải chấp nhận tăng trưởng chậm lại trong một vài năm để bình ổn vĩ mô và đảm bảo cho tăng trưởng dài hạn. trong đó tầng lớp công nhân lao động sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp. về trí tuệ. một số người có khả năng mất việc làm. hay chí ít là thu nhập bị giảm sút cộng với dòng kiều hối chảy vào sự sụt giảm sẽ kéo theo sự sụt giảm trong tiêu dùng của các hộ gia đình. Ngân hàng Nhà nước đã có các biện pháp nâng lãi suất dự trữ bắt buộc từ 1. Phải phát huy nội lực và . Khi sản xuất bị thu hẹp.

Thứ hai. quản lý cũng như tính hiệu quả của các khoản tín dụng này. giảm chi phí trung gian.hcmuaf. Nhiệm vụ đầu tiên là phải bảo đảm an toàn hệ thống không để cuộc khủng hoảng tác động đến hệ thống tài chính ngân hàng của chúng ta. giải quyết những ách tắc để tăng mức vốn thực hiện của các dự án đầu tư trong đó có đầu tư nước ngoài. phải chủ động hạn chế tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đến nền kính tế nước ta.tiềm năng thị trường từ thành thị đến nông thôn. Bên cạnh đó là việc tập trung quá nhiều vào cho vay bất động sản và khả năng kiểm soát. nhất là khối lượng tín dụng tung ra quá dễ dãi và lãi xuất thấp “dưới chuẩn”. Đặc biệt là về điều hành chính sách tiền tệ. Thứ ba. giờ đây chúng ta có thể biết những gì có thể xảy ra để tránh trên con đường phía trước. hạ giá thành để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nhằm duy trì ở mức cao nhất có thể thị phần xuất khẩu.edu. chúng ta rút ra được những bài học về nguyên nhân của cuộc khủng hoảng này. Nhưng dù sao.vn/data/file/Ngai-Macro%20Meeting%20Report. yếu tố nhân sự là yếu tố quyết định cho việc thành bại. Đây có lẽ là cơ hội tốt nhất để chúng ta có thể làm được điều này. Từ lĩnh vực quản lý nhà nước đến lĩnh vực doanh nghiệp. tái đào tạo và quản lý nhân sự. cần phải quan tâm đặc biệt đến vấn đề đào tạo.doc. Trong quản lý điều hành thì cùng với tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát. phải đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. G o o g l e tự động tạo ra những phiên bản html của các tài liệu khi chúng tôi crawl web. nhưng cuộc khủng hoảng này cũng đem đến những điều tích cực cho Việt Nam ở những điểm sau: Thứ nhất. Tác động tiêu cực là điều khó tránh khỏi. Các doanh nghiệp phải triệt để tiết kiệm trong sản xuất là lưu thông. . đi đôi với khai thác tốt hơn thị trường nội địa. Ngoài vấn đề tài chính ra. đây là cơ hội tốt để củng cố lại hệ thống tài chính trong nước vốn đang có rất nhiều vấn để trục trặc. Ðây là phiên bản html của tệp http://eco. là phát huy nội lực coi đây là yếu tố quyết định trên cơ sở khuyến khích mạnh khu vực tư nhân phát triển đầu tư kinh doanh. Thứ tư. Nếu không kịp thời có những điều chỉnh để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển thì phải đối mặt với những khó khăn gì? 300 ngàn doanh nghiệp phần nào tồn tại sẽ bị ảnh hưởng.

Trưởng Khoa Khoa Kinh Tế. kim ngạnh xuất nhập khẩu tăng cao trong hai thập niên qua. sẽ cạnh tranh với hàng hóa Việt Nam và như vậu cầu hàng hóa Việt Nam sẽ giảm đi và như vậy tổng cầu hàng hóa Việt Nam tiếp tục giảm. Khủng hoảng thế giới cũng sẽ tác động đến nhập khẩu của Việt Nam. cụ thể Việt nam đã gia nhập AFTA và WTO. Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới sẽ không tránh khỏi sự ảnh hưởng đó. do đó khủng hoảng kinh tế thế giới sẽ tác động đến xuất và nhập khẩu của Việt Nam và như vậy ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế Việt Nam. thị trường hàng hóa và dịch vụ và thị trường tài chính. Suy giảm kinh tế thế giới sẽ làm cho đầu tư nước ngoài giảm đi và như vậy đầu tư ở Việt Nam sẽ giảm. đây là vấn đề được cần quan tâm hàng đầu đối với những nhà hoạch định chính sách. điều này sẽ có hai tác động. do Vụ Kinh Tế.. (1) nguyên vật liệu nhập khẩu cho sản xuất sẽ có lợi cho nền kinh tế Việt Nam. Văn Phòng Trung Ương Đảng và Trường Đại Học Mở TPHCM tổ chức. Sự ảnh hưởng này thể hiện qua đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài vào Việt Nam. . nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào kinh tế thế giới.KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI: ẢNH HƯỞNG VÀ CHÍNH SÁCH VĨ MÔ CỦA VIỆT NAM TS Nguyễn Văn Ngãi. Đối với thị trường hàng hóa và dịch vụ. Đại Học Nông Lâm TPHCM Bài tham luận tại Tạo Đàm: Khủng hỏang tài chính thế giới . ví dụ hàng hóa của Trung Quốc. (2) nhưng hàng hóa tiêu dùng có khả năng tràn vào Việt Nam với giá rẽ. Khi đầu tư giảm sẽ có hai tác động. Bài viết này thảo luận một số ảnh hưởng chính của khủng hoảng kinh tế thế giới đến nền kinh tế Việt Nam và thảo luận một số chính sách vĩ mô cần thiết. Những chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam để giảm thiểu tác động của thế giới đối với nền kinh tế Việt Nam là cấp bách. giảm cung và giảm GDP. nếu tổng cầu của các quốc gia trên giới giảm thì khả năng giá cả hàng hóa thế giới giảm. hơn nữa Việt Nam là một nước có nền “kinh tế nhỏ”. ngày26 tháng 12 năm 2008. Việc hội nhập kinh tế thế giới ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam thông qua hai thị trường chính. 1. Thị trường tài chính Việt Nam bị ảnh hưởng khá lớn bởi thị trường thế giới. Nếu thu nhập thế giới giảm. xuất khẩu của Việt Nam sẽ giảm và như vậy sẽ ảnh hưởng đến tổng cầu hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam và tiếp tục ảnh hưởng đến tổng cung và sau cùng làm ảnh hưởng đến GDP và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. tại Thành Phố Hồ Chí Minh Thế giới đang đối đầu với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. đặc biệt trong vài năm gần đây. Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới đến nền kinh tế Việt Nam Trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế.

Chính sách của Việt Nam đối với khủng hoảng kinh tế thế giới Việc suy thoái kinh tế thế giới sẽ giảm tổng cầu hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam. nếu giảm lãi suất bằng cách ép buộc cho các ngân hàng thong mại sẽ xãy ra tình trạng mất cân bằng của thị trường tiền tệ. Như vậy phải tính toán lượng tăng cung tiền thích hợp để đảm bảo cho lãi suất giảm như mong đợi. C). cầu hàng hóa và dịch vụ cho đầu tư sẽ giảm. nên ưu tiên kích xuất khẩu (X) và kích đầu tư (I). kiểm soát nghiêm ngặt hàng hóa rẽ nhập lậu từ Trung Quốc để cầu hàng hóa trong nước không bị giảm. G) và xuất khẩu ròng (net export. NX=X-M). . Tồng cầu hàng hóa và dịch vụ bao gồm các thành phần như: tiêu dùng cá nhân và các hộ gia đình (consumption. các thủ tục xuất khẩu đơn giản hóa để giảm thiểu chi phí cho nhà xuất khẩu). vì thu nhập thế giới giảm ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu nên cần sử dụng các biện pháp khác tăng lợi thế cạnh cạnh của những người xuất khẩu (ví dụ. còn kích tiêu dùng (C) và chi tiêu chính phủ (G) thì hết sức thận trọng. chính sách kinh tế vĩ mô (tiền tệ. Như vậy cần phải kích cầu bao nhiêu để có đảm bảo cho lạm phát không tăng trở lại quá cao. Để kích cầu hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp cho đầu tư. cầu hàng hóa và dịch vụ cho đầu tư (investment. nền kinh tế thế giới. Tóm lại. Trong ngắn hạn. chính sách vĩ mô cần được ưu tiên trong việc giảm thiểu tác động này. Tuy nhiên. GDP của Việt Nam sẽ bị giảm và mức giá chung cũng giảm theo trong ngắn hạn. Kích xuất khẩu sẽ làm tăng tổng cầu hàng hóa và dịch vụ nước ngoài. chính sách gì đối với Việt Nam để giảm thiểu tác động này. chính sách tiền tệ mỡ rộng là cần thiết nhằm giảm lãi suất và như vậy kích thích đầu tư. kích cầu và kích cung. Hơn nữa. Chính sách có thể chia làm hai nhóm. Trong các thành phần trên của tổng cầu. Trong dài hạn. tỉ giá hối đoái) và kỳ vọng của công chúng của một quốc gia. tiêu dùng của chính phủ (government purchase. giảm đầu rư sẽ giảm trữ lượng vốn và sẽ giảm tổng cung hàng hóa và dịch vụ.ngắn hạn và dài hạn. như vậy tổng cầu sẽ giảm. tỉ giả hối đoái linh hoạt hơn. kích cầu sẽ tăng GDP nhưng cái giá phải trả là lạm phát sẽ quay trở lại với tỷ lệ cao hơn. Giảm lãi suất phải đi đối với tăng cung tiền. Khi kinh tế thế giới làm suy giảm tổng cầu. và phần nào tổng cung do giảm đầu tư. I). Theo mô hình tổng cung tổng cầu (AS-AD). thì chính phủ có thể tác động đến hai nhóm yếu tố còn lại để tăng tổng cầu trở lại. Việt Nam cũng không thoát khỏi tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. tài khóa. các ngân hàng sẽ tiếp tục đối đầu với sự khó khăn đó. kích cầu bằng công cụ gì và thành phần nào của tổng cầu cũng cần nghiên cứu thận trọng. Như vậy. 2. Kích cầu Tồng cầu hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia phụ thuộc vào ba nhóm yếu tố. Các nước trên thế giới hiện nay tập trung vào chính sách kích cầu. đến nền kinh tế Việt Nam.

cụ thể là các kiểm soát thông tin đại chúng. Thứ hai. Đối với nhóm chính sách xã hội thì cần chính sách xã hội để giải quyết. Hơn nữa. nhiều người giành được lợi nhuận khi tìm được những ưu đãi đó (rent seeking). nhưng điều quan trọng hơn là phải tìm những giải pháp để kích cung. nếu cần nhà nước có thể hỗ trợ cho doanh nghiệp qua chính sách thuế.Để kích tiêu dùng.. việc áp dụng chính sách thu nhập mới trong thời điểm này sẽ làm phân tán nguồn lực kinh tế cho việc đối đầu với chính sách thuế của công chúng. công nghệ (T). nhưng không gây lạm phát. chính sách thuế thu nhập mới sẽ áp dụng vào đầu năm 2009 là không thích hợp. Tổng cung hàng hóa và dịch vụ tăng lên nhờ vào ba yếu tố. nên cố gắng thông tin những yếu tố thể hiện sự lạc quan của nền kinh tế Việt Nam trong tương lai. Nhóm yếu tố thứ ba ảnh hưởng đến tổng cầu là kỳ vọng của công chúng. Kích cung Kích cung là một giải pháp sẽ góp phần tăng GDP. nhưng ngành vật liệu xây dựng có phải là một ngành quan trọng cần kích cầu hay không cần phải xem xét kỹ hơn. Mọi người tập trung vào chính sách thuế mới. kích cung sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế cả trong ngắn hạn và dài hạn. như vậy chắc chắn chi phí nhà ở sẽ tăng lên. một chính sách tài khóa quan trọng liên quan là giảm thuế thu nhập. tác giả bài viết này không ủng hộ chính này vì các lý do sau. như vậy mới có thể góp phần kích cầu được. Các chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp trong phạm vi cho phép là hết . đây là ưu điểm của kích cung so với kích cầu. việc “giãn” áp dụng chính sách thuế thu nhập mới là rất cần thiết. Hiện nay nhà ở không thiếu. Về vấn đề nhà ở cho người có thu nhập thấp bao gồm hai nhóm. Do đó. doanh nghiệp tăng lương và sẽ tính toán lại kinh doanh của mình. Việc kích cung cần tập trung vào các ngành thâm dụng lao động sẽ tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập. Việt Nam cũng cần thiết kích cầu như trình bày ở phần trên. ưu đãi sẽ tạo ra một sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các nhà đầu tư. tiềm lực kinh tế cần ưu tiên cho việc kích cung. việc thuê nhà ở của họ là bình thường. khai thuế như thế nào. có thể sẽ làm giàu cho các đại gia. tức là tăng thu nhập khả dụng. nhưng người có thu nhập thấp không có khả năng mua. Do đó. Trong khi thế giới đang tập trung kích cầu. vốn (K) và lao động (L). nhóm chính sách xã hội và nhóm người lao động có thu nhập thấp. Hơn nữa. ưu đãi cho các nhà đầu tư bất động sản sẽ xãy ra kích cầu vật liệu xây dựng. Đối với kỳ vọng của công chúng như vậy. việc giải quyết nhà ở cho những người có thu nhập thấp phải coi là một mục tiêu khác. kỳ vọng này sẽ làm cho tổng cầu giảm. mà không tập trung cao độ vào tìm giải pháp để giảm thiểu tác hại của khủng hoảng kinh tế thế giới. vv. Đối với nhóm người lao động có thu nhập thấp thì cần để cho cơ chế thị trường vận hành. Điều quan trọng là cần phải nâng cao chất lượng nhà thuê của họ. điều này gây áp lực tăng lương. để kích cầu cần thực hiện một số giải pháp để thay đổi kỳ vọng của công chúng. Về kích cầu bất động sản bằng một lượng ngân sách khá lớn. không phải kích cầu trong giai đoạn này. họ sẽ cố gắng cắt giảm tiêu dùng và tăng tiết kiệm để đảm bảo cuộc sống ổn định trong tương lai. Thứ nhất. Khi công chúng kỳ vọng vào một nền kinh tế thế giới khó khăn và như vậy Việt nam cũng không tránh khỏi. Thứ ba.

với thời hạn hợp đồng từ 10 năm đến 30 năm. ưu tiên tiềm lực kinh tế của đất nước để kích cung là một chiến lược cho Việt Nam trong năn 2009. trong khi đó kích cung sẽ không bị tác dụng phụ đó. Kết luận Để đảm bảo cho việc nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng và lạm phát vẫn được kiểm soát trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới. Đó là việc bình thường. nhưng nhóm giải pháp kích cầu sẽ có tác dụng phụ là lạm phát có khả năng quay trở lại. Nhưng trong 10 năm trở lại đây thị . tùy tiện khi cho khách hàng vay tiền để mua bất động sản qua các hợp đồng cho vay không đạt tiêu chuẩn. kích cầu và kích cung. Chính phủ Việt Nam cần thực hiện cấp bách đồng thời hai nhóm chính sách. chính phủ có thể tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận và áp dụng nhanh công nghiệp mới. Việc giảm và hoãn thuế cho các doanh nghiệp là một giải pháp được ủng hộ. 6/10/2008 Khủng hoảng tài chính tác động trực tiếp đến Việt Nam không lớn. Như vậy.sức cần thiết trong lúc này. 3. vv. ▪ BÙI KIẾN THÀNH 11:08 (GMT+7) . nhưng gián tiếp thì khá mạnh Khủng hoảng tài chính Mỹ bắt nguồn từ việc các ngân hàng nước này quá dễ dãi. Nguyên nhân cuộc khủng hoảng Có thể nói một cách đơn giản là từ lâu nay đa số người Mỹ vay tiền từ các ngân hàng để mua nhà. Kinh tế Việt Nam có vượt qua cơn bão tài chính Mỹ? E-mail Ý kiến (15) Bản để in Cỡ chữ Chia sẻ: Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ sẽ lan rộng ra trên khắp các thị trường tài chính phát triển Ảnh: Reuters.Thứ Hai. Cả hai chính sách đều có thể làm cho nền kinh tế Việt Nam đạt được mức tăng trưởng nhất định.

Các nước khác cũng bắt chước Hoa Kỳ và bán ra loại trái phiếu phái sinh MBS này trong thị trường tài chính của họ. Rồi đây. và toàn thế giới khoảng 54. các hợp đồng CDS sẽ tàn phá các ngân hàng và các định chế tài chính khác đến mức khủng khiếp chưa thể lường hết được. Hypo (Đức-Bỉ). Các loại trái phiếu này được mệnh danh là “Mortgage backed securities – MBS”. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ sẽ lan rộng ra trên khắp các thị trường tài chính phát triển vì những lí do đã nói trên. theo đó bên mua CDS được bên bán bảo đảm sẽ hoàn trả đầy đủ số nợ cho vay nếu bên vay không trả được nợ. tiếng Mỹ gọi là “Credit Default Swap – CDS”. Và nó được các ngân hàng. Washington Mutual.v. các nhà đầu tư nắm giữ những trái phiếu này không những bị lỗ nặng và mất cả khả năng thanh toán.000 tỷ USD là nợ xấu. các ngân hàng và các tổ chức cho vay ào ạt tiếp thị tạo ra những hợp đồng cho vay không đạt tiêu chuẩn và khuyến khích cả những người không đủ khả năng tài chính cũng đi vay tiền để mua nhà. Các hợp đồng này do các tổ chức tài chính và các công ty bảo hiểm quốc tế bán ra. một phần là do đầu tư vào MBS và phần lớn là do các hợp đồng CDS này.000 tỷ USD giá trị bất động sản tại Mỹ thì có tới hơn 12. quỹ hưu trí trên toàn thế giới mua mà không biết rằng các hợp đồng cho vay bất động sản dùng để bảo đảm là không đủ tiêu chuẩn. Hậu quả là một số lớn hợp đồng cho vay bất động sản dùng để bảo đảm cho các trái phiếu MBS là nợ khó đòi. Dexia (Pháp-Bỉ-Luxembourg). quỹ đầu tư. Ngoài ra các tổ chức cho vay còn “sáng chế” ra những hợp đồng bắt đầu với lãi suất rất thấp trong những năm đầu và sau đó điều chỉnh lại theo lãi suất thị trường. các trái phiếu MBS mất giá trên thị trường thứ cấp.600 tỷ USD (theo ước tính của Hiệp hội “International Swap and Derivatives Association”). trong đó khoảng 4. Bradford & Bringley (Anh quốc). (Mỹ). Cơn chấn động tài chính ở Hoa Kỳ chắc chắn sẽ khiến nhiều thị trường tài chính. Trong vài năm trở lại đây thị trường bất động sản liên tiếp hạ nhiệt. HBOS. Meryll Lynch. Hậu quả là một số lớn hợp đồng cho vay không đòi được nợ. thậm chí không còn mua bán được trên thị trường. và kể cả bán được thì giá trị của bất động sản cũng đã giảm thấp tới mức không đủ để thanh toán các khoản còn vay nợ. để phát hành trái phiếu ra thị trường tài chính quốc tế. khiến cho các ngân hàng. Glitner (Iceland) hoặc bị lung lay hoặc bị ngã gục. Fannie Mae. Fortis. Indy Mac. Bear Stern. Các tập đoàn sản xuất kinh doanh sẽ gặp khó khăn tiếp cận nguồn vốn vay ngắn hạn và dài hạn. và thị trường tài chính thế giới bị đóng băng. Tập đoàn tài chính và bảo hiểm hàng đầu thế giới AIG bị đổ vỡ. Freddie Mac. Lehman Brothers. nếu thị trường tài chính Mỹ không được giải cứu kịp thời. tác động sẽ khác nhau vì nó phụ thuộc vào mối quan hệ kinh tế . người đi vay đã không có khả năng trả được nợ lại cũng rất khó bán bất động sản để trả nợ. từng lĩnh vực. Vì vậy trên toàn thế giới tổng số nợ bất động sản khó đòi và tổng số MBS bị “nhiễm độc” chưa thể tính hết được.000 tỷ USD là tiền đi vay. Theo ước tính của nhiều chuyên gia trong 22. Bên Mỹ tổng số CDS ước tính khoảng 35 nghìn tỷ USD. Goldman Sachs v. Vachovia. Hàng loạt các ngân hàng lớn nhỏ sẽ bị sụp đổ.trường nhà đất phát triển mạnh. một sản phẩm tài chính phái sinh được bảo đảm bằng những hợp đồng cho vay bất động sản có thế chấp. nhiều ngân hàng trên khắp thế giới bị rung động theo. sẽ bị sáp nhập hoặc quốc hữu hóa. Nguy hại hơn nữa là các tổ chức tài chính phố Wall đã gom góp các hợp đồng cho vay bất động sản này lại làm tài sản bảo đảm. bởi hàng loạt ngân hàng lớn trên thế giới đã đầu tư mua loại trái phiếu MBS này. Tín dụng toàn cầu sẽ bị co rút lại. Morgan Stanley. Northern Rock. công ty bảo hiểm. New Century Financial. Trầm trọng hơn nữa là những “hợp đồng bảo lãnh nợ khó đòi”. Đối với từng khu vực. Các tổ chức giám định hệ số tín nhiệm (Credit rating agencies) đánh giá cao loại sản phẩm phái sinh này.

Có rất nhiều ngân hàng từ châu Á sang châu Âu đều đã cho Lehman Brothers và các ngân hàng Mỹ trên bờ phá sản vay những số tiền rất lớn. da giày. vì chưa có định chế tài chính nào của Việt Nam đầu tư vào trái phiếu MBS và các hợp đồng cho vay cầm cố như Mỹ. Nhưng tác động gián tiếp lại khá mạnh. vì kinh tế Mỹ là nền kinh tế lớn chiếm 30% tổng sản lượng. bảo hiểm đi vào kết cục giống như vậy bởi nguy cơ thiếu thanh khoản. Dự đoán trong một vài tháng tới. Việt Nam có tránh được cơn bão khủng hoảng tài chính? Tác động trực tiếp đối với nền kinh tế Việt Nam thì không lớn. trong khi giá các nguyên liệu thô trên thị trường thế giới đang giảm. hiện nay 60% GDP của chúng ta là để phục vụ cho xuất khẩu.. Mặc dù số nợ này không lớn. sự đổ vỡ sẽ lần lượt như kiểu quân bài domino có thể xẩy ra. Với Việt Nam cũng vậy. xuất nhập khẩu. và như thế có thể ảnh hưởng tình hình tài chính của một số ngân hàng và doanh nghiệp. Nói là không tác động lớn và không trực tiếp thôi. mà Mỹ là thị trường nhập khẩu quan trọng các mặt hàng dệt may. công nghệ. thuỷ sản của Việt Nam. Khủng hoảng tài chính của Mỹ có thể làm cho xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ giảm mạnh vì hai lý do (1) Là hàng xuất khẩu của Việt Nam một phần lớn vẫn là các loại hàng thô. Điều này chúng ta thấy không ít ngân hàng lớn tại Anh và Đức đang gánh chịu tác động trực tiếp từ cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng này. Trong điều kiện hiện nay. đầu tư kỹ thuật. chưa nói tới một nền kinh tế lớn như Mỹ.. nhiều ngân hàng trên khắp thế giới bị rung động theo.thực tế trong lĩnh vực vay trả nợ. nhưng người ta buộc phải tái cấu trúc kỳ hạn và lãi suất. tivi. chưa thể biết được cú gục ngã của Lehman Brothers và một số định chế tài chính khác của Mỹ sẽ còn kéo thêm bao nhiêu ngân hàng. kể cả khi không có khủng hoảng ở Mỹ. chu chuyển vốn thị trường thế giới. Không riêng gì Việt Nam mà nhiều quốc gia ở châu Á còn phải chịu những tác động sâu xa hơn từ việc thị trường xuất khẩu lớn nhất bị suy thoái. ví dụ lãi suất cho vay liên ngân hàng quốc tế . tổ chức tài chính. Ngoài ra. một khi mà người tiêu dùng Mỹ thắt chặt hầu bao thì nhiều nền kinh tế dựa chủ yếu vào nguồn lợi từ xuất khẩu chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn.LIBOR và SIBOR . . tất cả các quốc gia đều đã hội nhập nên “nhất cử. tủ lạnh.đang tăng. Còn nước nào mà quan hệ kinh tế chưa chặt chẽ lắm với Mỹ thì tác động cũng chỉ ở mức độ nào đó thôi. nhu cầu về hàng xuất khẩu của Việt Nam giảm đi. những nước nào hoặc những khu vực nào phụ thuộc hoàn toàn vào Mỹ sẽ chịu ảnh hưởng lớn và bị tác động trực tiếp. thì các nền kinh tế dựa chủ yếu vào nguồn lợi từ xuất khẩu chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn. nhất động” của một nền kinh tế nào đó cũng có ảnh hưởng nhất định đối với thế giới. Nó có thể làm cấu trúc tài sản của các ngân hàng rơi vào thế bất lợi. chỉ khoảng hai tỷ USD. có nhiều ngân hàng quốc tế đã bị “nhiễm độc” với trái phiếu MBS và các hợp đồng CDS. Mỹ là một nền kinh tế 70% tiêu dùng. và (2) là sự eo hẹp của thị trường tài chính dẫn đến eo hẹp thị trường nhập khẩu hàng hóa. không còn vung tiền chi tiêu mua sắm ôtô. Cơn chấn động tài chính ở Hoa Kỳ chắc chắn sẽ khiến nhiều thị trường tài chính. thực phẩm. nhưng khủng hoảng tài chính ở Mỹ hiện nay cũng có những tác động nhất định đến thị trường tài chính . Trước mắt có những vấn đề.tiền tệ Việt Nam. Một khi mà người tiêu dùng Mỹ thắt chặt hầu bao. Nó có thể ảnh hưởng tới nợ ngắn hạn của Việt Nam tại các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp. Trong lĩnh vực thương mại. hoặc bán USD mua tiền Việt gửi vào. Khủng hoảng ở Mỹ có thể làm cho người dân dự đoán USD sẽ xuống giá và họ có thể rút USD khỏi ngân hàng.

Do vậy.500 tỷ VND. cổ phiếu của Việt Nam đến mức nào. Để nhìn nhận một cách đầy đủ hơn về cuộc khủng hoảng này và những nguy cơ tiềm ẩn đối với nền kinh tế VN. chiếm 9. chỉ khoảng 20% tổng vốn.Giá bất động sản ở Việt Nam cũng có thể xuống thấp hơn nữa. Vốn cam kết thì lớn.1. Lo ngại là phần lớn nhà đầu tư nước ngoài sẽ rút vốn về khi nguồn vốn của họ bị co lại. một lượng không nhỏ USD sẽ ra khỏi Việt Nam. nhưng nếu họ rút ồ ạt thì sẽ ảnh hưởng ngay đến thị trường chứng khoán Việt Nam. Những ngân hàng nhỏ với vốn điều lệ dưới mức tối thiểu quy định 1. NĐT lo lắng. nhưng sự đổ bể của hệ thống tài chính Việt Nam khó có khả năng xẩy ra. Dù vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam không nhiều. cũng cần phải cảnh báo với thị trường và các nhà đầu tư trong nước để tránh hoảng loạn trên thị trường. Ngày 21. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này đến VN là không tránh khỏi vì nó sẽ tác động trực tiếp đến vốn đầu tư nước ngoài vào VN và xuất khẩu của VN vào Mỹ. Nhưng lợi nhuận của nhiều ngân hàng có thể giảm. Nếu các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu bán ra thì các cơ quan chức năng của chúng ta nên nghiên cứu vấn đề này. ảnh hưởng ra sao đến dự trữ ngoại hối. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước thì dư nợ cho vay bất động sản tính đến cuối tháng 9/2008 là 115. Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần phải họp bàn xem các tổ chức nào sẽ có khả năng rút vốn ở thị trường Việt Nam và cần dự báo các tổ chức đó bán cổ phần.15% tổng dư nợ toàn hệ thống. Mà bất động sản xuống thì tài sản ngân hàng cũng xuống theo và nợ xấu có thể tăng lên. chỉ số CK Mỹ sụt giảm mạnh. Đấy là những tác động ngắn hạn. Khu vực ngân hàng của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn. thậm chí vốn đã cam kết sẽ thực hiện trễ hơn bởi khoảng 80% vốn đầu tư vào Việt Nam là đi vay. chúng tôi xin giới thiệu 2 bài viết của TS Vũ Quang Việt từ New York (Mỹ). Bao nhiêu là nợ đã quá hạn hoặc khó đòi thì không có báo cáo. thậm chí một số có thể lỗ. . nhưng không phải quá lớn. nhưng vốn thực hiện có thể thấp. Kết quả tài chính của nhiều ngân hàng thương mại có thể không được như mong muốn vào cuối năm nay. thời gian tới Ủy ban Chứng khoán. Khi đó. Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có thể chững lại. Thị trường chứng khoán Việt Nam chưa gia nhập vào hệ thống thị trường chứng khoán thế giới nên ảnh hưởng tương đối nhỏ. Đến cuối năm nợ xấu có thể tăng lên và lúc bấy giờ Chính phủ có thể buộc phải có giải pháp để xử lý các khoản nợ xấu. Khi không đi vay được thì nhà đầu tư sẽ khó giải ngân vào Việt Nam. cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ đã chính thức lan ra thị trường thế giới. tình hình giải ngân những tháng cuối năm sẽ gặp khó khăn.000 tỷ đồng có thể sẽ phải sáp nhập với các ngân hàng lớn.

Bài 1: Sau "bong bóng" là khủng hoảng Đối với những người theo dõi kinh tế Mỹ, những yếu kém kinh tế Mỹ đã bộc lộ rõ từ trước năm 2000 nhưng đến nay mới bùng nổ. Lo ngại NĐT rút vốn... Thiếu hụt cán cân thanh toán nước ngoài đã tới trên 400 tỉ USD từ năm 2000 (chiếm trên 4% GDP) và tiếp tục tăng mức thiếu hụt, đạt 811 tỉ USD vào năm 2006 (bằng 6% GDP). Năm 2007, USD mất giá, có làm giảm mức thiếu hụt xuống 734 tỉ USD nhưng cũng ở mức rất cao bởi ở các nước khác, nếu thiếu hụt ở mức 3% GDP thì đã phải lo lắng bằng mọi cách nhằm điều chỉnh để giảm mức thiếu hụt này. Nền kinh tế Mỹ trong hơn 10 năm, có lợi thế là được sự tin tưởng của cả thế giới, nên tiền đổ vào để cho dân chúng đầu tư và tiêu xài. Để dành của dân chúng vào năm 2006 chỉ có 34 tỉ USD, gần như 0% GDP, và tỉ lệ để dành thấp này chỉ khoảng 1-2% đã kéo dài từ cả chục năm nay. Đầu tư của Mỹ bằng 19% GDP, chủ yếu dựa vào lợi nhuận công ty, nhưng đến 30% số tiền đầu tư là do vay mượn nước ngoài. Tình hình tài chính của Mỹ chẳng khác gì một nước đang phát triển không kiểm soát nổi hầu bao mình. Các nước ở Châu Mỹ Latin và ở Châu Á sau cuộc khủng hoảng tài chính những năm 90 đã cố gắng làm sạch sẽ tài chính, tăng cường để dành, và trở thành nguồn tài chính tài trợ tiêu dùng của Mỹ. Mỹ đang mất vốn vì giá xuống thì đầu tư của các nền kinh tế của những nước này cũng sẽ không thể không bị cụt vốn theo. Việc rút vốn ra khỏi Mỹ, dù chỉ một phần cũng tạo ảnh hưởng không nhỏ. TTCK sụt giảm, nhà-đất tiếp tục xuống giá Tiền đổ vào Mỹ đã làm TTCK và tài sản lên giá quá mức giá trị của nó. Điều này thì ai cũng biết, nhưng rất nhiều người vẫn không tin là giá có thể xuống. Đặc biệt là các nhà kinh doanh tiền tệ, họ phải thổi phồng vì càng lên giá, càng say sưa với thị trường thì giao dịch càng tăng, vay mượn càng nhiều và phí dịch vụ càng lớn. Giá CP Mỹ đã qua thời kỳ điều chỉnh, đặc biệt là giá các Cty công nghệ thông tin được thổi phồng, chỉ số Nasdaq lên trên 5.000 điểm năm 2.000 và hiện nay chỉ còn trên 2.000 điểm, bằng trước đây. Chỉ số Dow Jones ít bị ảnh hưởng hơn cũng giảm từ cao điểm gần 12.000 điểm năm 2000, xuống tới mức 7.540 điểm và sau đó phục hồi để sau 7 năm mới trở lại thời năm 2000.

Bong bóng TTCK đã tự nó giải quyết bằng cách xuống giá, và để nhằm giữ nền kinh tế khỏi tuột dốc, Cục Dự trữ Liên bang (Fed) đã giữ lãi suất ở mức rất thấp và lại kéo dài thời gian quá lâu, đầu tư vào nhà cửa tiếp tục tăng, giá nhà cửa trở thành bong bóng. Trong 5 năm qua, giá nhà khắp nơi tăng, thấp nhất ở các bang hẻo lánh nhiều đất cũng tăng ít nhất 17%, và ở nơi có nhiều đầu cơ giá tăng hơn gấp đôi. Nếu kể từ năm 1980, giá nhà ở những bang như New York, California, Massachussets tăng 5 - 6 lần, trong khi lương danh nghĩa ở những vùng trên chỉ tăng gần 3 lần. Nhưng trong thời gian vừa qua, giá nhà đã giảm 7%, nhưng nhiều nhà kinh tế cho rằng giá nhà sẽ tiếp tục xuống vào năm 2008 và có thể tiếp tục vào năm 2009, và có thể giảm tới mức 30%. Chưa biết được rõ nền kinh tế sẽ suy thoái mạnh yếu như thế nào, nhưng suy thoái là điều khó tránh. Suy thoái và giải pháp Có lẽ chưa có một cuộc suy thoái nào chủ yếu gây ra vì một thị trường tài chính vượt ra ngoài sự điều hành của thể chế kinh tế được thiết lập sau đại khủng hoảng kinh tế năm 1930. Mặc dù vẫn chấp nhận thị trường tự do, cuộc khủng hoảng tài chính lớn này đã tạo ra một số chuẩn kiểm soát nhất định nhằm bảo vệ người ký quỹ tiền, như bảo hiểm tiền để dành, tạo luật để lãi suất cho vay không vượt lãi suất thị trường ở một mức nhất định. Nhưng hiện nay với những cái gọi là "sáng tạo tài chính", nhiều hoạt động nằm ngoài NH, nhằm vượt qua những chuẩn mực kiểm soát nhất định, thí dụ NH liên kết hoặc mở ra các quỹ tài chính độc lập, phát hành trái phiếu (hay CK) vốn để cho vay dưới chuẩn với lãi cắt cổ những người không có khả năng chi trả. Cũng vậy, các Cty tín dụng hoạt động với NH cho vay qua thẻ tín dụng, đặc biệt là người nghèo, với lãi suất cắt cổ, trên 30%, là bình thường để khuyến khích tiêu xài. Nền kinh tế đang phải đối phó với các công cụ tài chính mới được đẻ ra nhằm tăng cường lợi nhuận cho NH và các Cty tài chính mà không bị đặt dưới sự kiểm soát nào cả. Do đó, việc cứu nguy nền kinh tế cũng không dễ dàng vì không ai nắm rõ ai mượn ai. Đến nay tổng số tiền các Cty tài chính và NH tuyên bố lỗ đã lên đến 100 tỉ USD. Tổng thống Bush, nhiều ứng cử viên tổng thống, nhiều nghị sĩ gần như đồng thanh phải nhanh chóng bỏ ra khoảng 150 tỉ USD để giảm thuế, nhằm tăng tiêu dùng, giảm bớt khả năng suy thoái. Số tiền này thực ra là muối bỏ biển, và dù có lớn hơn cũng là liều thuốc bổ cho người bị sốt rét. Lý thuyết kinh tế của hai nhà kinh tế lớn là Milton Fridman (bảo thủ) và Franco Modigliani đã chứng minh (và được nhiều lần kiểm nghiệm) rằng tiêu dùng là phương trình của thu nhập được coi là vĩnh viễn (permanent income).

Khuynh hướng của người tiêu thụ là không tiêu nhiều thu nhập nhất thời. Do đó chi tiêu như trên sẽ không có kết quả. Cái có kết quả là giảm lãi suất, là chi đầu tư của nhà nước. Mà hai thứ trên thì cần thời gian mới có tác dụng. Nước Mỹ đang gặp phải 3 vấn đề lớn về tài chính Thứ nhất sự phát triển không kiểm soát của thị trường cho vay địa ốc dưới chuẩn, có nghĩa là không cần đặt cọc, không cần đủ thu nhập để chi trả mà vẫn được vay. Thứ hai cho vay tiêu dùng qua thẻ tín dụng quá mức mà tuần qua City Group là nạn nhân đầu tiên, lỗ 18 tỉ USD. Thứ ba, khủng hoảng tín dụng đã lan rộng đến cả khu vực đầu tư địa ốc văn phòng, chứ không chỉ tập trung vào khu nhà ở.

Kinh tế Việt Nam đã qua nguy hiểm, vẫn còn nguy cơ?
Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: http://vietnamnet.vn/kinhte/2008/08/800029/ Áo phông nam TIMBERLAND chỉ 120k, Áo phông nữ TIMBERLAND giá 110k - 120.000 VNĐ LINH KIỆN MÁY TÍNH RẺ NHẤT TP.HCM -CTY TNHH TÂN MỸ HUỆ (http://www.vatgia.com/ta ... Bán sim số đẹp giá rẻ : 0942.444.777 09.19.15.15.15 0933.985.985 0919.66.5888 ... LAM BIEN QUANG CAO gia re - 150.000 VNĐ Linh kiệnmáy photocopy Linhkiện máy photocopy RICOH Linhkiện máy ... - 32 USD Chuyên cung cấp tất cả các loại linh kiện dành cho pc và laptop Công ty TNHH Giảng dạy ngoại ngữ và dịch thuật công chứng Duy Tân THI CÔNG ỐP TẤM HỢP KIM ALUMAX CHO CÁC CÔNG TRÌNH LỚN TRÊN TOÀN QUỐC ... - 320.000 VNĐ CAMRY 2.5 ,Camry 2.0E.SANTAFE SLX,MLX 2010.Góp 5 Năm-- du ... - 9.900 USD Đăng rao vặt miễn phí cho hàng triệu người xem
- Nhiều ý kiến cho rằng tình hình lạm phát không mấy thuận lợi cho chính sách tiền tệ. Dù thanh toán quốc tế vẫn được duy trì ổn định nhưng Chính phủ cũng cần phải duy trì lãi suất cao để bảo đảm nguồn vốn trong nước. VietNamNet xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo một nhận định về tình hình tài chính của Việt Nam, dưới góc nhìn của tập đoàn tài chính quốc tế Standard Chartered Bank. Bản nhận định của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế toàn cầu (CEIC) thuộc Ngân hàng Standard Chartered đã tập trung vào ba điểm chính: Thâm hụt thương mại dần được thu hẹp và chỉ số FDI tăng đã giúp giảm mối lo về một cuộc khủng hoảng tiền tệ; Số liệu cho thấy chính sách thắt chặt tiền tệ không mấy tác động đối với nền kinh tế; Ngân hàng Nhà nước cần thắt chặt chính sách tiền tệ hơn nữa để bảo đảm nguồn vốn. Trong khi phỏng đoán về một cuộc khủng hoảng tiền tệ do sự thâm hụt trong cán cân thanh toán hoành hành trong tháng 4 và 5 vừa qua, tâm lý thị trường vẫn tiếp tục thận trọng nhưng đang dần được cải thiện. Mặc dù nhiều người cho rằng thị trường tiền tệ khó có thể trải qua một sự suy giảm mạnh nhưng nghiên cứu của CEIC vẫn cho rằng tốc

Về cán cân nhập khẩu. Biểu đồ 1: Thâm hụt thương mại dần thu hẹp Nguồn: CEIC Điều đáng chú ý là hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng mạnh trong năm nay.200 (mặc dù việc thiếu tính thanh khoản trên thị trường sẽ làm giảm sự tín nhiệm vì đó như là một loại thước đo niềm tin).000 tới mức hiện tại 19. bất chấp sự bất ổn của nền kinh tế toàn cầu.độ tăng trưởng chậm dần sẽ tạo ra áp lực cho ngành ngân hàng và tạo môi trường không mấy thuận lợi cho tăng trưởng về trung hạn. Standard Chartered bank vẫn giữ quan điểm là lãi suất cần được đẩy lên hơn nữa để tránh ảnh hưởng quá mức tới lãi suất thực. so với con số trung bình từ tháng 1 đến tháng 5 là 2. giày dép tăng 18%. Xuất khẩu hàng dệt may trong 7 tháng đầu năm tăng 19. Thâm hụt thương mại được cải thiện rõ rệt trong hai tháng 6 và 7. và đây là lần đầu tiền kể từ tháng 11 năm 2006.1% lần lượt so với cùng kỳ năm trước.7% so với cùng kỳ năm trước. tăng 53. Thâm hụt thương mại trong 7 tháng đầu năm là 15 tỉ đô la. Dù thanh toán quốc tế vẫn được duy trì ổn định nhưng Chính phủ cũng cần phải duy trì lãi suất cao để bảo đảm nguồn vốn trong nước. đây chính là kết quả của việc thâm hụt thương mại được thu hẹp và sự tăng trưởng đột ngột của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cam kết. ít hơn 1 tỉ đô la Mỹ mỗi tháng. thì cũng phải nói rằng sự mở rộng các mặt hàng xuất khẩu sản xuất cũng rất ấn tượng.2 tỉ đô la mỗi tháng. Tâm lý quay vòng Thị trường Việt Nam vẫn giữ được tâm lý bình tĩnh trong những tuần vừa qua sau đợt suy giảm tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng đô la Mỹ hoán đổi kỳ hạn không giao vốn gốc cũng như việc tăng lãi suất dần trở lại của tiền gửi ngoại tệ trên thị trường thu nhập cố định. Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đã mang lại nhiều lợi ích.7% và 46. Nhiều ý kiến cho rằng tình hình lạm phát không mấy thuận lợi cho chính sách tiền tệ. Trong khi việc giá cả hàng hóa tăng cao đóng góp không nhỏ cho tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu. Standard Chartered bank cho rằng. Kim ngạch xuất khẩu trong hai tháng 6 và 7 đạt hơn 6. kim ngạch xuất khẩu vượt quá kim ngạch nhập khẩu. thuế nhập khẩu ôtô tăng cao là nguyên nhân dẫn đến số lượng nhập khẩu ôtô bị suy . Tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng đô la kỳ hạn 12 tháng hoán đổi kỳ hạn không giao vốn gốc ngay lập tức giảm từ đỉnh điểm 25. máy tính và thiết bị điện tử tăng 30%.7 tỉ đô la (Biểu đồ 1).

Nhưng ảnh hưởng lớn nhất lại là từ nhập khẩu thép. tỷ lệ đầu tư trực tiếp nước ngoài trên tổng sản phẩm quốc nội của Trung Quốc là thấp hơn 5% năm 2007. Tuy nhiên những sự so sánh này chỉ ra rằng một phần khá lớn trong dòng vốn không được đầu tư ngay lập tức mà trong một khoảng thời gian. con số FDI cam kết mạnh mẽ cũng cho thấy niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào triển vọng của đất nước. Việt Nam đã nhập khẩu 1 tỉ đô la thép thành phẩm trong tháng 3 năm 2008. Xem xét các số liệu đầu tư này cho thấy. Trong hai tháng 6 và 7. trong khi đó Malaysia (3. Standard Chartered cho rằng 15-20% là có thể xảy ra. như là một trung tâm sản xuất cũng như trung tâm nguồn lực trong khu vực. Đầu tiên. có thể nhằm mục đích dự trữ. Chính phủ đã phê duyệt tổng số 30 tỉ đô la các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đây là những dự án có quy mô lớn bởi vì không thấy sự gia tăng tương ứng về số lượng những dự án đăng ký. .2 tỉ đô la. Dựa trên những kinh nghiệm trước đây.giảm. Nhưng giá cả hàng hóa toàn cầu và nhu cầu về hàng hóa Việt Nam vẫn là rất lớn. Tất nhiên. Điều này được nhận thấy từ đầu năm đến nay ngay cả khi thị trường có nhiều biến động. Nếu tình hình này tiếp tục duy trì trong những tháng còn lại của năm. Số liệu của nguồn vốn FDI cho thấy trong tháng 6 Đài Loan dẫn đầu với 8 tỉ đô la và Nhật Bản là 6.5 tỷ đô la) và Thái Lan (3. Điều này có nghĩa là số vốn giải ngân trên thực tế chỉ là một phần nhỏ so với con số cam kết. quy mô xác thực của FDI cam kết rất đáng chú ý.8 tỷ đô la) lại dẫn đầu về dự án FDI trong tháng 7. Biểu đồ 2: Dòng vốn FDI gia tăng hàng tháng Nguồn: CEIC Điều đáng ngạc nhiên là thị trường đang chứng kiến sự gia tăng về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cam kết đang chảy vào trong bối cảnh thâm hụt cán cân thanh toán. FDI cam kết trong 7 tháng đầu năm đạt 44 tỉ đô la. Một số dự án đầu tư lớn này liên quan đến các nguồn tài nguyên hoặc thị trường hàng hóa. trong khi cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong năm nay tương đương với hơn 45% tổng sản phẩm quốc nội trên danh nghĩa. Tuy vậy cũng phải hết sức thận trọng về những con số FDI này. con số 20 tỉ đô la mà Chính phủ dự đoán về thâm hụt thương mại có thể sẽ xảy ra. và giá trị nhập khẩu đã giảm nhanh chóng xuống còn 430 triệu đô la trong hai tháng 6 và 7. Chỉ riêng mặt hàng này đã làm giảm tổng thâm hụt thương mại 600 triệu đô la mỗi tháng.

mức thấp nhất kể từ quý I năm 2000 đã báo động tới các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam về nguy cơ tốc độ tăng trưởng sẽ đột ngột bị dừng lại. Điều này cho thấy việc lãi suất tăng cao trong tháng 4 và tháng 5 đã không tác động mạnh đến nền kinh tế. Nhìn chung.2% so với cùng kỳ năm trước). Sự suy yếu của thị trường tài chính cũng dẫn đến sự tăng trưởng chậm của dịch vụ tài chính. Hơn nữa.6%) và dịch vụ (+7%) vẫn tăng trưởng đều đặn và bền vững. Chính sách tiền tệ thắt chặt không tác động mạnh đến tăng trưởng Tăng trưởng 5.8% trong quý II năm 2008. ngành chế tạo (+12. xây dựng (-0. mặc dù sự suy giảm trong quý II tác động đến tăng trưởng GDP là đáng lo ngại nhưng Standard . Như trong báo cáo của Ngân hàng Standard Chartered đưa ra trong tháng trước (Việt Nam – quá sớm để đề cập đến việc cắt giảm lãi suất. Cuối cùng. Nguồn: CEIC Trong doanh thu bán lẻ (Biểu đồ 3). một nguồn lực hiêu quả khác để kích thích các hoạt động kinh tế cũng cho thấy nền kinh tế vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng mạnh trong nửa đầu năm 2008 (Biểu đồ 4). sự suy yếu của quý II năm 2008 bắt nguồn từ 3 lĩnh vực. Do vậy gia tăng dự trữ ngoại hối vẫn có thể nằm trong biên độ kiểm soát. Cước phí vận chuyển được đo bằng tấn kilomet. tăng trưởng doanh thu bán lẻ trên thực tế là không ổn định tuy nhiên vẫn được duy trì để đạt ở mức một con số vào tháng 6 và tháng 7 theo tính toán của Standard Chartered. nguồn kiều hối dao động trong khoảng 8 tỉ đô la và viện trợ phát triển chính thức (ODA) có lẽ sẽ vừa đủ để bù lại cho sự thâm hụt này.7%). những số liệu khác tiếp tục cho thấy chỉ một phần của nền kinh tế đang tỏ ra có dấu hiệu suy thoái trong khi đó phần còn lại vẫn tăng trưởng mạnh trong nửa đầu năm 2008. Điều này dẫn đến suy đoán cho rằng Ngân hàng Nhà nước sẽ có thể cân nhắc tới việc nới lỏng chính sách tiền tệ ngay khi lạm phát lắng xuống. Tuy nhiên thâm hụt thương mại trong năm nay sẽ vẫn ở mức trên 20 tỉ đô la. Trong bối cảnh lạm phát cao. Ảnh hưởng tiêu cực từ thị trường chứng khoán và bất động sản cũng chưa được phản ánh trong số liệu về doanh thu bán lẻ. đã tăng trưởng 67% trong 7 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước. đạt tới hơn 30% của 5 tháng trong 7 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên. dòng vốn FDI dự đoán khoảng 10 tỉ đô la. công bố ngày 22 tháng 7 năm 2008) cho rằng lạm phát sẽ tăng tới hơn 30% so với cùng kỳ năm trước trong những tháng tới và sẽ dừng lại ở mức trên 20% cho tới quý I năm 2009 đặc biệt là sau đợt tăng giá xăng dầu vào ngày 21 tháng 7 vừa qua. phản ánh sự bùng nổ thương mại.Nhận định về tình hình tài chính VN. Standard Chartered cho rằng Việt Nam đã tránh được một cuộc khủng hoảng có nguy cơ xảy ra trong thanh toán quốc tế. chủ yếu là tăng mạnh ở lĩnh vực vận chuyển hàng hải. Nhìn vào các lĩnh vực. tăng trưởng trên danh nghĩa vẫn duy trì ở mức cao trong những tháng gần đây. khối lượng hàng hóa vận chuyển. khai thác mỏ và than đá (quý II năm 2008 giảm 12.5%) hoạt động kinh doanh và cho thuê bất động sản (4.

2009 12:14 Thời gian trôi rất nhanh. tỷ giá hối đoái: Q3-08 Q4-08 GDP Lạm phát Lãi suất cơ bản USD/VND • 6. từ Tokyo đến Berlin. Đối với tỉ giá hối đoái. các nền kinh tế khác chìm sâu vào suy thoái. Điều này sẽ tiếp tục là thách thức trong thời điểm khủng hoảng hiện nay khi mà lãi suất thực vẫn âm khá lớn.30 8.10 14. thị trường cổ phiếu toàn cầu . Dự đoán của CEIC về tăng trưởng GDP. Sự kiện này đã nhanh chóng lây lan tác động mạnh mẽ tới toàn cầu.300 17.10 12. lạm phát. thâm hụt thương mại. cơn bão tài chính đã tàn phá thế giới gần một năm qua.70 25. Chỉ trong một năm ngắn ngủi. Ngân hàng đầu tư lớn thứ tư của Mỹ với lịch sử 158 năm Lehman Brothers tuyên bố nộp đơn bảo hộ phá sản.00 17.500 17. vẫn khiến các nhà quản lý nghiêng về giảm giá dần đồng nội tệ để bù đắp cho nhu cầu nội địa bị suy yếu do chính sách thắt chặt tiền tệ. một đế chế tài chính lớn đã sụp đổ. Standard Chartered khẳng định nên tiếp tục tăng lãi suất từ bây giờ cho đến cuối năm. nền kinh tế toàn cầu xuất hiện dấu hiệu phục hồi. phố Wall lại một lần nữa gặp biến cố do chịu tác động nặng nề từ cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp thứ cấp.50 11. Cuộc khủng hoảng này so với Đại khủng hoảng của những năm 30 cũng không kém phần nghiêm trọng và là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trầm trọng nhất sau Đại chiến thế giới II.000 16.50 8.00 2009 6. Nó đã thay đổi toàn thế giới.Chartered cho rằng điều đó chủ yếu do những hoạt động liên quan đến bất động sản. mặc dù đang dần được cải thiện.00 8.00 10.00 6. lãi suất cao vẫn là cần thiết để thu hút và duy trì nguồn vốn.09. Ảnh minh họa Ngày 15/9/2008.100 17. với sự cân bằng trong thanh toán quốc tế.00 18. nhưng kinh tế thế giới thời đại hậu khủng hoảng sẽ đi theo chiều hướng nào vẫn còn dày đặc sương mù. các chỉ số kinh tế khác cho thấy tác động của lãi suất cao vẫn chưa được phản ánh đầy đủ.50 18.000 17.25 2008 6. Khủng hoảng kinh tế đã thay đổi thế giới như thế nào? Thu Hà | 14. đánh dấu sự tan vỡ bong bóng nhà đất Mỹ và khiến cho cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp thứ cấp diễn biến thành cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.00 16.500 PV.00 Q1-09 Q2-09 Q3-09 2007 6. Trong khi đó. chính phủ các nước trên thế giới bắt tay kích thích kinh tế. từ New York đến London.00 5. Sáng sớm hôm đó.00 15. Do vậy. Trong khi các nhà quản lý có thể không sẵn sàng tăng lãi suất một lần nữa.40 31.000 17. Mặc dù cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đã lộ ra những tia sáng.40 14.50 16.00 6. Cùng ngày hôm đó.50 29.00 24.017 17.

Chính quyền Obama ngày càng đưa ra tín hiệu với giới báo chí rằng. Cuộc khủng hoảng lần này còn gióng lên một hồi chuông cảnh báo về “cách sống của Mỹ” và tuyên cáo mô hình tăng trưởng mới đã xuất hiện. Ngày 15/11/2008. chủ trương dựa vào “bàn tay vô hình” của thị trường để điều chỉnh các hoạt động kinh tế. tổng giá trị của gói kích cầu mà các nước thành viên G20 đã cam kết lên tới 11900 tỷ USD. Đối mặt với cuộc khủng hoảng đang hoành hành.đồng loạt rớt điểm. nhiều lần dấy lên làn sóng hạ lãi suất và bơm vốn. kích thích kinh tế với quy mô lớn. Mỹ tung ra kế hoạch giảm thuế. Mỹ nợ nần chồng chất. được xem như là chuẩn mực cho rất nhiều quốc gia phát triển trong nhiều năm qua. trong cuộc khủng hoảng. hệ thống tín dụng với đồng USD làm chủ lực đều là những nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng tài chính lần này. Đây là thời kỳ “vốn cạn khô”lập kỷ kục dài nhất từ cuối thập niên 70 tới nay. chính phủ các nước trên thế giới lần lượt tung ra hàng loạt các biện pháp ứng cứu. Cơn bão tài chính này không chỉ nuốt gọn nhiều doanh nghiệp mà còn làm lung lay lý thuyết thị trường tự do. giám sát quản lý tài chính Mỹ bất lực. đa số các chỉ số chính đều trượt hơn 3%. Số liệu thống kê của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF cho thấy. Làn sóng rớt giá của thị trường đã khiến cho thị trường New York mất đi chức năng bơm vốn. Hệ thống các nền kinh tế chủ yếu thế giới đã tăng cường phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài chính. Cuộc khủng hoảng tài chính bùng phát từ tháng 9/2008 kéo dài cho tới cuối năm nay. chính phủ Mỹ đã buôc phải tăng cường sự can thiệp vào nền kinh tế. Mỹ vẫn theo đuổi lý luận kinh tế thị trường tự do. chưa có một công ty nào bơm vốn vào thị trường. đã thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của các một số nước. tiếp quản hai Tập đoàn bất động sản lớn nhất của Mỹ là Fannie Mae và Freddie Mac. đấu giá khoản vay ngắn hạn. lãnh đạo nhóm G20 đề tề tựu tại Washington đã mở màn cho cuộc chống khủng hoảng tài chính của toàn cầu. nhưng đơn độc chống là rất khó khăn. Vai trò can thiệp của chính phủ khá yếu ớt. đã phản ánh sức mạnh quốc tế trong nhiều năm qua đang không ngừng nghiêng sang các nước đang phát triển. Mỹ liên tục giảm lãi suất. cần phải chuyển từ phục thuộc hoạt động tài chính sang phát triển công nghiệp. Về chính sách của chính phủ. Bộ trưởng Tài chính Mỹ T. cơ quan đánh giá tín dụng không còn nhiệm vụ. liên tiếp đưa ra các gói kích cầu khổng lồ. biểu hiện trước hết ở sự đa dạng hóa . khủng hoảng mang tính toàn cầu cần có sự đối phó liên thủ của thế giới. cho đến tháng 6 năm nay. Trong cuộc khủng hoảng lần này G20 trỗi dậy nhanh chóng. Cố vấn kinh tế của Nhà trắng Larry Summers cho biết. Mỹ sẽ không tiếp tục là một nước tiêu dùng và nhập khẩu cuối cùng của thế giới. xây đắp lại trật tự kinh tế quốc tế. Geithner và các quan chức chính phủ cấp cao khác đều cho rằng. Mỹ cần phải chuyển dịch kinh tế theo mô hình tiêu dùng sang mô hình xuất khẩu. Về chính sách tiền tệ. cần làm cân bằng lại sự phát triển kinh tế Mỹ. Cuộc khủng hoảng tài chính lần này có lẽ là cuộc khủng hoảng tín nhiệm nghiêm trọng nhất mà nền kinh tế thị trường tự do chưa từng trải qua. Tuy nhiên.

Khủng hoảng kinh tế là quy trình thông thường. khủng hoảng tiến triển phụ thuộc sự vận động bên trong của hệ thống kinh tế. Còn chủ nghĩa Marx khẳng định rằng khủng hoảng tài chính là thuộc tính cần thiết của chủ nghĩa tư bản. thất nghiệp tăng lên. tiềnhàng hóa không cho vay được nữa và sự sản xuất rút ngắn lại vì không cần thiết. đã trở nên rất quen thuộc. Những thời kỳ phát triển mạnh mẽ và suy sụp chuyền từ tay nọ sang tay kia. Và gần như tất cả các lý thuyết đều nói là không thể tránh khỏi khủng hoảng kinh tế. ngân hàng sụp đổ. có thời kỳ phát triển và đổ vỡ. Trường phái tự do chủ nghĩa khẳng định rằng kinh tế có tính chất chu trình. Mỗi trường hợp là một câu chuyện khác nhau. vì mục tiêu chính trong hệ thống của chủ nghĩa tư bản đã khởi sự là phải thu lợi nhuận. hệ thống thanh toán thất bại. tỷ lệ thất nghiệp tăng lên. Bắt đầu quá trình sa thải nhân viên-công nhân với quy mô lớn. Các nhà bác học đã cố gắng tìm hiểu lý do của những khủng hoảng từ lâu. Nhìn lại lịch sử . Chu kỳ như thế này của hệ thống kinh tế chủ nghĩa tư bản là định lý. Mô tả dưới dạng sơ đồ thì nó thể hiện câu chuyện như sau: mức độ sản xuất hàng hóa tăng lên và vượt nhu cầu tương ứng khả năng thanh toán thực tế. Luật chu kỳ Bất kỳ khủng hoảng nào cũng chỉ xuất hiện khi bị mất cân đối giữa những phần cấu thành sự thống nhất. dẫn tới chuyện phải cho vay tiền để mua hàng hóa với mục tiêu tăng cầu. xu thế tất yếu của sự phát triển dân chủ hóa. Khủng hoảng tài chính đã xây đắp lại trật tự kinh tế quốc tế. nhưng chưa có kết quả.. Câu chuyện về doanh nghiệp đóng cửa. mức độ sung túc trong cuộc sống và sinh hoạt sụt giảm. Đó là quá trình thông thường. Theo quan điểm lịch sử thì khủng hoảng kinh tế hiện nay chẳng phải là một hiện tượng siêu nhiên nào cả. Nợ nần dần dần tích lũy. phá giá tiền tệ.. Quan trọng là phải rút ra được những kết luận đúng từ lịch sử và không phí thời gian vô ích.quan hệ quốc tế. tăng cường tích tụ nhiều hàng hóa không bán được trên thị trường. thì có bấy nhiêu loại khủng hoảng kinh tế. bởi vì nhu cầu tiêu dùng và đầu tư có dạng sóng. Nó là một phần của hệ thống kinh tế và sẽ chỉ biến mất khi chúng ta xóa bỏ luật lệ kinh tế theo kiểu mẫu thị trường và kế hoạch. . Có bao nhiêu lý thuyết về kinh tế. Trong phạm trù kinh tế thì khủng hoảng xuất hiện khi thăng bằng giữa cầu và cung của hàng hóa hoặc dịch vụ bị mất.

ở những nước phát triển có tới hơn 30 triệu người chính thức thất nghiệp. Thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới hoàn toàn là khủng hoảng kinh tế. năm 1492). Nhưng điều chính là tất cả những khủng hoảng đó đều được khắc phục. .Toàn bộ hệ thống ngân hàng những nước đó bị thiệt hại nghiêm trọng. Sự đầu cơ quá mạnh vào các kim loại qúy hiếm đã làm cạn kiệt các ngân hàng nước Anh và dẫn đến phá sản thị trường vốn. những người giữ cổ phiếu bị mất hơn 15 tỷ đô-la. Khủng hoảng kinh tế đã diễn ra vào thời Trung cổ (Florence.Giáo sư đại học Oxford. năm 1720). Liên tiếp. khủng hoảng bùng lên ở châu Âu. Những công ty đường xe lửa bị phá sản hoàn toàn dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng quốc gia nhiều nước. Sau khi cuộc diễu hành giành độc lập đã lan đến Mỹ Latin. Và cứ mỗi lần một quốc gia nào đó thoát khỏi cuộc khủng hoảng thì nó lại trở nên hùng mạnh hơn trước khi rơi vào khủng hoảng. Trong quá trình hình thành chủ nghĩa tư bản. thời đại Phục hưng (Venice. rồi đến sự sập đổ của hệ thống ngân hàng toàn châu Âu. Vào năm 1857. Khủng hoảng đã lan ra phần lớn lãnh thổ Tây Âu và Mỹ Latin. năm 1342). còn đến cuối năm. giá chứng khoán sụt xuống 40 tỷ đô-la – số tiền khổng lồ vào thời điểm đó. dẫn đến xuất khẩu và các món nợ quốc gia của những nước cộng hòa mới này tăng lên. Nhà nước Mỹ và phần lớn những nước châu Âu đã bán tống bán tháo ngân phiếu nhiều quốc gia khác để cung cấp cho những hoạt động quân sự của nước mình. Cùng lúc đó. Khủng hoảng trong thị trường chứng khoán năm 1836-1837 đã bao phủ Anh. tần số và sự ảnh hưởng của chúng tăng lên. ở thị trường chứng khoán New York. Nhưng cho đến giữa thế kỷ 19. một trong những khủng hoảng có quy mô lớn nhất thế kỷ 19 bùng nổ. thời kỳ Cận đại (Pháp. Khủng hoảng đã xuất hiện và kéo dài đến cuối cuộc chiến tranh. những hiện tượng đó mang tính chất địa phương là chủ yếu. Số vàng và bạc kiếm được ở Mỹ đã chuyển về cho nước Anh. nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng của Mỹ đã sụp đổ nhanh chóng. Nhà nước đã không thể thanh toán được các khoản nợ sau khi vay ngân hàng. Vào năm 1933. Nguyên nhân khủng hoảng tiền tệ năm 1861 ở Mỹ là cuộc nội chiến hai miền Nam Bắc. Ngày “Thứ năm đen tối” vào tháng 10/2009. Khủng hoảng vào năm 1825 được coi là thảm họa tài chính toàn thế giới đầu tiên. nhà lịch sử học Phillip Kay cho rằng khủng hoảng tài chính đầu tiên trong lịch sử đã nổ ra vào thời kỳ đế chế La Mã năm 88 trước Công Nguyên. Đức và Hà Lan. Vào năm 1914 khủng hoảng tài chính tiếp theo bùng lên. Thời kỳ Đình Trệ năm 1920-1922 và giai đoạn Đại suy thoái năm 1929-1933 đã tác động đến đời sống mọi giới con người. châu Âu đã nhập thêm vốn-tư bản cho lục địa đó. giá chứng khoán giảm đi 60-70%. Đến cuối tháng.

nhưng bản chất của nó không thay đổi. Kinh tế Mỹ vào năm 1973-1974 bị thu hẹp lại và giống như trong thời kỳ Đại suy thoái. khủng hoảng nổ ra ở Mexico. Đình đốn là hiện tượng không dễ chịu. David Riccardo ở thế kỷ 19 và nhà kinh tế học Liudvic phon Mizes vào thế kỷ 20. Tình hình còn trầm trọng thêm vì khủng hoảng dầu mỏ kèm theo. giá chứng khoán giảm đi 56%. còn những người đầu tư quay lưng lại với kinh tế Nga. Kinh tế châu Âu tràn ngập trong bóng đen. trong những lý luận của mình đều bênh vực ý kiến rằng khủng hoảng đã tác động có lợi cho toàn bộ hệ thống kinh tế.chuyên viên tài chính George Soros nhận định về kết quả khủng hoảng năm 1987. Có nhiều ví dụ tác động có lợi của khủng hoảng. Một năm sau Nga đã phải tuyên bố lạm phát và chấp nhận buông xuôi.Khủng hoảng năm 1957-1958 lan tràn ra Mỹ. Họ khẳng định rằng khủng hoảng là một quá trình.. Thị giá đồng Rúp sụt giảm. Tiếp theo thị trường Canada và Úc bị sụt giảm.6%. Canada và những nước Tây Âu. Vào năm 1994-1995. Tại Anh. Ví dụ: “vào năm 1987 nó tỏ rõ sức mạnh của nước Nhật và khiến thực lực kinh tế và tài chính của Nhật biến chuyển rõ rệt” . bởi vì còn rất nhiều ví dụ khác ít quan trọng hơn. Cần phải nói rằng nhân loại sống với khủng hoảng nhiều hơn là thiếu nó. Dự đoán cho tương lai Có rất nhiều cách gọi tên một cuộc khủng hoảng tài chính – sự đình trệ. Khủng hoảng là hội chứng nói rằng thế giới không thể thực hiện kinh doanh như trước nữa. chỉ số quỹ Dow Jones Industrial sụt đi 22. kinh tế trong tương lai tránh được sai lầm từ sự phồn vinh tạm thời cùng với lạm phát lần trước. và tạo động năng để hồi phục tình trạng kinh tế vững chắc. nhưng vẫn tác động mạnh đến số phận nhiều nước. Các chuyên gia kết luận rằng khủng hoảng ở châu Á làm GDP thế giới giảm 2 ngàn tỷ đô-la. Ngày 19/10/1987 được ghi nhớ ở lịch sử Mỹ là “Thứ hai đen tối”. . nhờ quá trình đó kinh tế thị trường được cứu thoát khỏi tình trạng cùng cực.người Scotland. Chúng ta chỉ nêu tên những thời điểm chủ yếu trong lịch sử kinh tế. vì món nợ nhà nước quá lớn. Sản xuất công nghiệp thế giới giảm đi 4%. ít ra là trong một thế kỷ rưỡi gần đây. Nhà triết học thế kỷ 18 David Yum . Cần phải cấp thiết khởi động lại toàn bộ hệ thống. sự giảm sút hoặc quá trình giảm tốc độ. Trong vòng một ngày.đại diện trường phái cổ điển. giá một thùng dầu tăng từ 3 lên thành 12 đô-la. còn sở giao dịch Hong Kong nghỉ việc trong vòng một tuần. nhà kinh tế học có tiếng nước Anh .. nhưng là sự phản ứng cần thiết. Nó là một “căn bệnh” như thế. hai năm sau thị trường quỹ của châu Á sụp đổ.

Sự giảm sút đã tạo thuận lợi trong việc loại bỏ bộ phận yếu kém trong dây xích kinh tế thế giới và có thể là phần lớn nền kinh tế các nước phát triển. Khủng hoảng hiện nay khác với trước bởi vì thành phần văn hóa-xã hội đã không như trước. Khách quan mà nói. và khi kinh tế thoát khỏi khủng hoảng. khủng hoảng không thể hoạch định trước. đã vạch trần những vết thương kinh tế thế giới được che giấu từ lâu. Một nước nào đó trải qua càng nhiều chấn động kinh tế. phải đặt những nhân tố chính trị và xã hội lên trên để tạo điều kiện làm đoàn kết xã hội như một khối thống nhất. khủng hoảng có thể làm chứng cứ về việc kinh tế những nước công nghiệp phát triển chuyển đổi khoa học kỹ thuật và kinh tế-xã hội lên cấp độ mới. càng khỏe mạnh hơn trước. Trước đây luôn luôn thế. khủng hoảng ở Nga đã có vai trò tích cực trong việc phát triển kinh tế nước này. vì lý do khủng hoảng xuất hiện đòi hỏi nhà nước phải lập lại kỷ luật ngân sách-tài chính vốn đã bị tăng lên đột ngột sau những năm khủng hoảng. Hơn nữa. S. Và cuối cùng. Cũng có khả năng khủng hoảng có thể hủy diệt kinh tế. cho dù nó có tác động tiêu cực cho phúc lợi nhân dân. khủng hoảng kinh tế vẫn sẽ tiếp tục. Chúng là cấu thành khăng khít của hệ thống chủ nghĩa tư bản thế giới. Khủng hoảng xuất hiện khi hệ thống tài chính và kinh tế tích lũy quá nhiều thành phần xơ cứng. . Chúng ta cũng cần phải xem xét lại triết lý về cách đối xử với đồng tiền. càng nhiều điểm yếu được loại bỏ. không hiệu quả và không hợp lý. “krisis” dịch từ tiếng Hy Lạp cổ là “chỗ ngoặt”. Điều chủ yếu là rút ra được những kết luận đúng từ lịch sử và không phí thời gian vô ích. Trong trường hợp này không cần thiết phải nói về sự tử-vong-kinh-tế. Nhưng trong trường hợp hiện nay. Không được phép sống theo cách "không hợp với túi tiền". Kinh tế của Mỹ giảm bớt việc thế chấp. Milov. và khủng hoảng hiện nay sẽ không phải là ngoại lệ.Theo ý kiến của nhà kinh tế học người Nga V. vì thế cần phải hiểu rõ cái gì có thể sẽ chờ đợi chúng ta sau chỗ ngoặt đó. nhưng đó chỉ là lý do mà theo quy luật đô-minô. Sau này. cho dù đó không phải là ngoại lệ.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->