P. 1
Phân tích một số bài văn lớp 9

Phân tích một số bài văn lớp 9

|Views: 5,479|Likes:
Được xuất bản bởiMup_cupduoi

More info:

Published by: Mup_cupduoi on Mar 20, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

05/22/2014

pdf

text

original

Sections

  • A.Mở bài
  • I.Tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
  • II.Phân tích bài thơ
  • III.Kết Bài:

Phân tích một số bài văn lớp 9

Chuyện người con gái Nam Xương

Đề 1:

Trong truyện “Người con gái Nam Xương”, nhân vật Trương Sinh vội tin
câu nói ngây thơ của con trẻ đã nghi oan cho Vũ Nương ruồng rẫy và
đánh đuỗi nàng đi. Vũ Nương bị oan ức nên nhảy xuống sông tự vẫn.

Em hãy đọc kĩ lại tác phẩm và tìm xem có những chi tiết nào trong
truyện tác giả muốn hé mở khả năng có thể tránh được thảm kịch đau
thương cho Vũ Nương. Những nguyên nhân nào làm cho thảm kịch đó
vẫn diễn ra dẫn đến cái chết đau thương cũa người phụ nữ đức hạnh?

Em hãy bình luận về nguyên nhân cái chết đó
.

HƯỚNG DẪN

1. Đọc kĩ tác phẩm, nắm vững chi tiết, độc lập suy nghĩ để tìm ra
những chi tiết mà đề yêu cầu. Tài thắt nút và mở nút là ở chỗ ấy. Mỗi
em tìm tòi theo cách của mình miễn là hợp lí.

2. Bình luân về nguyên nhân cái chết của Vũ Nương. Có nguyên nhân
trực tiếp do tính nết cá nhân của Trương Linh và nguyên nhân sâu xa
của chế độ xã hội từ đó tìm ra ý nghĩa tố cáo và nhân đạo của tác
phẩm.

BÀI VIẾT THAM KHẢO

“Truyền kì mạn lục” là một tác phẩm có giá trị của văn học cổ nước ta
thế kỉ XVI, một tập truyện văn thơ đầu tiên bằng chữ Hán ở Việt Nam.
Truyện “Người con gái Nam Xương” là một truyện hay trong tác phẩm.

Truyện kể rằng, Vũ Thị Thiết là một phụ nữ đức hạnh ở Nam Xương,
chồng là Trương Linh, người nhà giàu nhưng không có học, tính lai đa
nghi. Triều đình bắt lính, Trương Linh phải tòng quân trong khi vợ đang
mang thai. Chồng đi xa mới được mười ngày thì nàng sinh con trai đặt

tên là Đản. Năm sau, giặc tan, việc quân kết thúc, Trương Linh trở về
thì con đã biết nói, nhưng đứa trẻ nhất định không nhận Trương Linh
làm bố. Nó nói: “Ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư ? Ông lại biết nói,
chứ không như cha tôi trước kia chỉ thin thít. Trước đây thường có một
ông đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi
nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.”

Tính Trương Linh hay ghen, nghe con nói vậy đinh ninh rằng vợ hư, đã
vu oan cho Vũ Nương, ruồng rẫy và đánh đuổi nàng đi. Vũ Nương bị
oan ức đã nhảy xuống sông tự vẫn.

Đọc kĩ tác phẩm, em thấy truyện không phải không hé mở khả năng có
thể dễ dàng tránh được thảm kịch đau thương đó. Tài kể chuyện của
tác giả là ở chỗ đó, cởi ra rồi lại thắt vào đẩy câu chuyện đi tới, khiến
người đọc hứng thú theo dõi và suy nghĩ, chủ đề của tác phẩm từng
bước nổi lên theo dòng kể của câu chuyện. Lời con trẻ nghe như thật
mà chứa đựng không ít điều vô lí không thể tin ngay được, nếu Trương
Sinh biết suy nghĩ, người cha gì mà lạ vậy: “không biết nói, chỉ nín thin
thít” chẳng bao giờ bế con mình, mà hệt như “cái máy” - “mẹ Đản đi
cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi”. Câu nói đó của đứa trẻ chẳng phải là
một câu đố, giảng giải được thì cái chết của Vũ Nương sẽ không xảy ra.
Nhưng Trương Linh cả ghen, ít học, thiếu suy nghĩ, đã vô tình bỏ dở khả
năng giải quyết tấm thảm kịch, dẫn tới cái chết oan uổng của người vợ
mà chàng không phải không có tình yêu thương. Tất nhiên sự đời có
thế mới thành chuyện, vả lại trên đơì làm gì có sự ghen tuông sáng
suốt.

Bi kịch có thể tránh được khi vợ hỏi chuyện kia ai nói, chỉ cần Trương
Sinh kể lại lời con nói mọi chuyện sẽ rõ ràng. Vũ Nương sẽ chứng minh
cho chồng rõ ở một mình nàng hay đùa với con trỏ vào bóng mình và
nói là cha Đản. Mãi sau này, một đêm phòng không vắng vẻ, ngồi buồn
dưới bóng đèn khuya, chợt người con chỉ vào bóng mình trên vách mà
bảo đó là cha nó, Trương Linh mới tỉnh ngô, thấu hiểu nỗi oan của vợ
thì mọi chuyện đã xong. Vũ Nương không còn nữa trên đời.

Câu chuyện bắt đầu từ một bi kịch gia đình, một chuyện trong nhà,
một vụ ghen tuông. Không ít tác phẩm xưa nay đã viết về cái chuyện
thường tình đầy tai hoạ này. Vũ nương không may lấy phải người chồng
cả ghen, nguyên nhân trực tiếp dẫn nàng đến cái chết bi thảm là “máu
ghen” của người chồng nông nổi. Nhưng sự thực vẫn là sự thực!cái chết
oan uổng quá và người chồng độc đoán quá!

Một phụ nữ đức hạnh, tâm hồn như ngọc sáng mà bị nghi oan bởi một

chuyện không đâu ở một lời con trẻ, một câu nói đùa của mẹ với con
mà phải tìm đến cái chết bi thảm, ai oán trong lòng sông thăm thẳm.
Câu chuyện đau lòng vượt ra ngoài khuôn khổ cuả một gia đình, nó
buộc chúng ta phải suy nghĩ tới số phận mong manh của con người
trong một xã hội mà những oan khuất, bất công, tai hoạ có thể xảy ra
bất cứ lúc nào đối với họ mà những nguyên nhân dẫn đến nhiều khi rất
lạ lùng không thể lường trước được. Đó là xã hội phong kiến ở nước ta,
nhất là ở thời nó đã suy vong. Xã hội đó đã sinh ra những chàng Trương
Sinh, những người đàn ông đặc đầu óc “nam quyền”, chà đạp lên
quyền sống của người phụ nữ. Tính ghen tuông của cá nhân cộng với
tư tưởng “nam quyền” trong xã hội đã làm nên một Trương Sinh độc
đoán đến kỳ cục, khư khư theo ý riêng, nhất thiết không nghe ý kiến
của người khác. Đứa trẻ nói thì tin ngay, còn vợ than khóc giãi bày
thống thiết thì nhất định không tin, họ hàng, làng xóm phân giải công
minh cũng chẳng ăn thua gì. Hậu quả là cái chết thảm thương của Vũ
nương mà nguyên nhân sâu xa là chế độ phong kiến bất công cùng chế
độ “nam quyền” bất bình đẳng của nó đã gây ra bao nhiêu tai hoạ cho
người phụ nữ nói riêng và con người thời đó nói chung.

Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải

Mở bài

“Nếu là con chim, chiếc lá,
Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không trả,
Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.”
(Tố Hữu)

Tố Hữu – nhà thơ cùng quê hương xứ Huế với Thanh Hải – đã viết trong
bài “Một khúc ca xuân” những lời tâm niệm thật chân thành, giản dị và
tha thiết. Đó là “lặng lẽ dâng cho đời”. Còn Thanh Hải khi viết bài thơ
“Mùa xuân nho nhỏ” trước lúc ra đi, không những đã giải bày những
suy ngẫm mà còn mong ước được dâng hiến một mùa xuân nho nhỏ
của mình cho mùa xuân vĩ đại của đất nước Việt Nam.

Sinh ra, lớn lên, hoạt động cách mạng và tham gia công tác văn nghệ
suốt hai thời kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ngay
chính trên quê hương ruột thịt của mình. Ở địa diểm nào, hoàn cảnh
nào ông cũng thể hiện được lẽ sống của mình. Đó là sự giản dị, chân
thành, yêu người và khát vọng dâng hiến sức mạnh cho đời như chính
cuộc sống và tâm hồn ông. Chúng ta có thể coi bài thơ “Mùa xuân nho
nhỏ” là món quà cuối cùng mà Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc

về cõi vĩnh hằng. Chính vì vậy nó bâng khuâng, tha thiết và sâu lắng
hơn tất cả để cuối cùng thể hiện một Thanh Hải yêu người, yêu cuộc
sống, yêu quê hương đất nước và còn là một Thanh Hải sống cho thơ
và sống cho đời.

Thân bài

Giới thiệu chung

Trước lúc vĩnh viễn ra đi ông cũng để lại cho đời những vần thơ thật
nhân hậu, thiết tha và thanh thản, không hề gợn một nét u buồn nào
của một cuộc đời sắp tắt. Khi cuộc đời mình đã bước vào cuối đông,
nhà thơ vẫn nghĩ đến một mùa xuân bất diệt, muôn thuở và nguyện
dâng hiến cho đời.

Phân tích

Hình ảnh của một mùa xuân rất Huế đã được tác giả mở đầu cho bài
thơ:

“Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc.
Ơi con chim chiền chiện
Hót cho mà vang trời,
Từng giọt long lanh rơi,
Tôi đưa tay tôi hứng”.

Một nét đặc trưng nơi xứ Huế là hình ảnh màu tím. Một màu tím thật
gợn nhẹ như màu tím hoa sim mọc giữa con sông xanh biếc hay như
những tà áo dài với màu tím thật nhẹ nhàng của những cô gái Huế.
Cảm xúc về mùa xuân mở ra thật ngỡ ngàng, bất ngờ, không gian như
tươi tắn hơn, trẻ trung hơn, thánh thoát hơn:

“Ơi con chim chiền chiện
Hót cho mà vang trời,
Từng giọt long lanh rơi,
Tôi đưa tay tôi hứng”.

Trong không gian vang vang vui tươi của tiếng chim càng đậm đà chất
Huế hơn nhờ dùng đúng chỗ những ngôn từ đặc trưng xứ Huế. Một từ
“Ơi” đặt ở đầu câu, một từ “chi” đứng sau động từ “hát” đã đưa cách
nói ngọt ngào, thân thương của Huế vào nhạc điệu của thơ. Từ “giọt”

được hiểu theo rất nhiều nghĩa: có thể là “giọt nắng bên thềm”, giọt
mưa xuân, giọt sương sớm hay cả tiếng hót của những chú chim chiền
chiện. Nhưng đối với khung sắc trời xuân thì giọt xuân càng làm tăng
thêm vẻ đẹp và sự quyến rũ của nó. Một từ “hứng” cũng đủ diễn tả sự
trân trọng của nhà thơ đối với vẻ đẹp của trời, của sông, của chim
muông hoa lá; đồng thời cũng thể hiện cảm xúc trọn vẹn của Thanh
Hải trước mùa xuân của thiên nhiên đất trời.

Từ mùa xuân của thiên nhiên đất trời, tác giả đã chuyển cảm nhận về
mùa xuân của cuộc sống, nhân dân và đất nước. Với hình ảnh “người
cầm súng” và “người ra đồng”, biểu tượng của hai nhiệm vụ: chiến đấu
bảo vệ tổ quốc và lao động tăng gia để xây dựng đất nước với những
câu thơ giàu hình ảnh và mang tính gợi cảm:

“Mùa xuân người cầm súng,
Lộc giắt đầy trên lưng.
Mùa xuân người ra đồng,
Lộc trãi dài nương mạ.
Tất cả như hối hả,
Tất cả như xôn xao…”

Hình ảnh mùa xuân của đất trời đọng lại trong lộc non đã theo người
cầm súng và người ra đồng, hay chính họ đã đem mùa xuân đến cho
mọi miền của tổ quốc thân yêu.
Tác giả đã sử dụng biện pháp điệp từ, điệp ngữ như nhấn mạnh và kết
thúc một khổ thơ bằng dấu ba chấm. Phải chăng dấu ba chấm như còn
muốn thể hiện rằng: đất nước sẽ còn đi lên, sẽ phát triển, sẽ đến với
một tầm cao mới mà không có sự dừng chân ngơi nghỉ.
Sức sống của “mùa xuân đất nước” còn được cảm nhận qua nhịp điệu
hối hả, những âm thanh xôn xao của đất nước bốn ngàn năm, trải qua
biết bao vất vả và gian lao để vươn lên phía trước và mãi khi mùa xuân
về lại được tiếp thêm sức sống để bừng dậy, được hình dung qua hình
ảnh so sánh rất đẹp:

“Đất nước bốn ngàn năm
Vất và vào gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước”

Đó chính là lòng tự hào, lạc quan, tin yêu của Thanh Hải đối với đất
nước, dân tộc. Những giọng thơ ấy rất giàu sức suy tưởng và làm say
đắm lòng người.
Từ cảm xúc của thiên nhiên, đất nước, mạch thơ đã chuyển một cách
tự nhiên sang bày tỏ suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa
xuân của đất nước. Mùa xuân của thiên nhiên, đất nước thường gợi lên
ở mỗi con người niềm khát khao và hi vọng; với Thanh Hải cũng thế,

đây chính là thời điểm mà ông nhìn lại cuộc đời và bộc bạch tâm niệm
thiết tha của một nhà cách mạng, một nhà thơ đã gắn bó trọn đời với
đất nước, quê hương với một khát vọng cân thành và tha thiết:

“Ta làm con chim hót,
Ta làm một cành hoa.
Ta nhập vào hoà ca,
Một nốt trầm xao xuyến”

Lời thơ như ngân lên thành lời ca. Nếu như đoạn đầu Thanh Hải xưng
tôi kín đáo và lặng lẽ thì đến đoạn này ông chuyển giọng xưng ta. Vì
sao có sự thay đổi như vậy? Ta ở đây là nhà thơ và cũng chính là tất cả
mọi người. Khát vọng của ông là được làm con chim hót, một cành hoa
để hoà nhập vào “mùa xuân lớn” của đất nước, góp một nốt trầm vào
bản hoà ca bất tận của cuộc đời. Hiến dâng “mùa xuân nho nhỏ” nghĩa
là tất cả những gì tốt đẹp nhất, dù nhỏ bé của mỗi người cho cuộc đời
chung cho đất nước. Điều tâm niệm đó thật chân thành, giản dị và tha
thiết – xin được làm một nốt trầm trong bản hoà ca của cuộc đời nhưng
là “một nốt trầm xao xuyến”.
Điều tâm niệm của tác giả: “lặng lẽ dâng cho đời” chính là khát vọng
chung của mọi người, ở mọi lứa tuổi, chứ đâu phải của riêng ai. Thanh
Hải đã thể hiện hết mình vì lòng tin yêu cuộc sống và khiêm tốn hiến
dâng cho đất nước, cho cuộc đời, bởi vậy, xuất phát từ tiếng lòng thiết
tha, nhỏ nhẹ, chân thành của tác giả nên lời thơ dễ dàng được mọi
người tiếp nhận và chia sẻ cho nhau:

“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”.

Đã gọi là cống hiến cho đời thì dù ở tuổi nào đi chăng nữa cũng phải
luôn biết cố gắng hết tâm trí để phục vụ và hiến dâng cho quê hương,
đất nước mến yêu của chính mình. Già - cống hiến tuổi già, trẻ - cống
hiến sức trẻ để không bao giờ thất vọng trước chính bản thân mình.

Thật cảm động và kính phục biết bao khi đọc những vần thơ như lời
tổng kết của cuộc đời. “Dù là tuổi hai mươi” khi mới tham gia kháng
chiến cho đến khi tóc bạc là thời điểm hiện thời vẫn lặng lẽ dâng hiến
cho đời và bài thơ này là một trong những bài thơ cuối cùng. “Một mùa
xuân nho nhỏ” cuối cùng của Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc
ông bước vào thế giới cực lạc, chuẩn bị ra đi mãi mãi.

Kết thúc bài thơ bằng một âm điệu xứ Huế: điệu Nam ai, Nam Bình

mênh mang tha thiết, là lời ngợi ca đất nước, biểu hiện niềm tin yêu và
gắn bó sâu nặng của tác giả với quê hương, đất nước, một câu chân
tình thắm thiết

“Mùa xuân ta xin hát
Câu Nam ai, Nam Bình
Nước non ngàn dặm tình
Nước non ngàn dặm mình
Nhịp phách tiền đất Huế”

Đánh giá chung
Những lời tâm sự cuối cùng của người sắp mất luôn là những lời thực
sự, luôn chứa chan tình cảm, ước nguyện sâu lắng nhất… và bài thơ
này cũng chính là những điều đúc kết cả cuộc đời của ông. Ông đã giải
bày, tâm tình những điều sâu kín nhất trong lòng, và chính lúc đó
Thanh Hải đã thả hồn vào thơ, cùng chung một nhịp đập với thơ để ông
và thơ luôn được cùng nhau, hiểu nhau và giải bày cho nhau.

Kết bài

Tóm lại bài thơ đã sử dụng thể thơ năm chữ, mang âm hưởng dân ca
nhẹ nhàng tha thiết, giàu hình ảnh, nhạc điệu, cất trúc thơ chặt chẽ,
giọng điệu đã thể hiện đúng tâm trạng, cảm xúc của tác giả. Nét đặc
sắc của bài thơ là ở chỗ nó đề cập đến một vấn đề lớn và quan trọng
“nhân sinh”, vấn đề ý nghĩa cuộc sống của mỗi cá nhân được Thanh
Hải thể hiện một cách chân thành, thiết tha, bằng giọng văn nhỏ nhẹ
như một lời tâm sự, gửi gắm của mình với cuộc đời. Nhà thơ ước
nguyện làm một “mùa xuân” nghĩa là sống đẹp, sống với tất cả sức
sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường; là “một mùa xuân nho
nhỏ” góp vào “mùa xuân lớn” của đất nước của cuộc đời chung và bài
thơ cũng có ý nghĩa hơn khi Thanh Hải nói về “mùa xuân nho nhỏ”
nhưng nói được tình cảm lớn, những xúc động của chính tác giả và của
cả chúng ta./.
Nguồn: ST

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác

Sinh thời, Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến miền Nam, ngày đêm thương nhớ
miền Nam. Với Bác, miền Nam là niềm vui, là hạnh phúc, là nỗi đau
không lúc nào nguôi: “Miền Nam trong trái tim tôi”. Niềm mong mỏi
thiết tha của Bác là miền Nam mau được giải phóng. Miền Nam cũng
ngày đêm thương nhớ Bác, mong ngày giải phóng để được gặp Bác
kính yêu. Nhưng tiếc thay, khi Bắc Nam sum họp một nhà thì Bác
không còn nữa. Lòng thương nhớ, nỗi niềm đau đớn của đồng bào và
chiến sĩ miền Nam dồn nén bao nhiêu năm đã được nhà thơ Viễn
Phương thể hiện trong bài Viếng lăng Bác. Bài thơ không những chỉ thể
hiện dòng cảm xúc trào dâng của nhà thơ mà còn thể hiện hình tượng
lãnh tụ Hồ Chí Minh bằng những hình ảnh vừa quen thuộc, vừa giàu sức

khái quát, vừa lung linh gợi cảm. Bằng cảm xúc chân thực và ngôn ngữ
thơ gợi cảm, Viễn Phương đã nói hộ chúng ta một chân lý: Bác Hồ vĩ đại
sống mãi trong lòng nhân dân ta.

Bài thơ ra đời năm 1976, khi lần đầu tiên sau giải phóng miền Nam,
Viễn phương ra thăm Lăng Bác. Bài thơ rất ngắn gọn, súc tích nhưng có
sức gợi tạo nên sự xúc động cho người đọc. Ngôn ngữ thơ tuôn trào
theo theo dòng cảm xúc chân thành, tha thiết.

Mở đầu bài thơ, Viễn Phương đã bày tỏ ngay tình cảm sâu nặng, ruột
thịt của mình bằng câu thơ giản dị: Con ở miềm Nam ra thăm lăng Bác.

Tình cảm giữa miền Nam và Bác Hồ luôn luôn là tình cảm ruột thịt “Bác
nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà” (Tố Hữu) và tình cảm của miền Nam đối
với Bác cũng là tình cảm nhớ mong da diết “Miền Nam mong Bác nỗi
mong cha” (Tố Hữu). Tự đáy lòng của người con đến thăm cha, Viễn
Phương nói với Bác: Con ở miền Nam…. Câu thơ giản dị nhưng bao
hàm một ý nghĩa lớn. Trong tim Bác và trong tim miền Bắc, Miền Nam
luôn luôn là nỗi đau chia cắt, nỗi nhớ thương, là niềm tự hào, là biểu
tượng anh hùng, bất khuất, dũng cảm, kiên cường, là thành đồng Tổ
Quốc… Giờ đây, nhà thơ mang theo cả niềm tự hào đó của đồng bào
miền Nam để đến với Bác.

Hình ảnh đầu tiên trong lăng làm nhà thơ xúc động là hình ảnh hàng
tre:

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng

Hàng tre bát ngát cuốn hút cảm xúc của nhà thơ. Qua hình ảnh hàng
tre quen thuộc tác giả gửi gắm một ý nghĩa tượng trưng nhằm ca ngợi
Bác, ca ngợi dân tộc. Chắc rằng, cũng như mọi người Việt Nam, trong
tâm khảm nhà thơ, cây tre là hình ảnh giản dị, thân thuộc, đời đời gắn
bó với quê hương làng xóm. Hàng tre xanh xanh trong vườn Bác gợi
cho người đọc nhiều liên tưởng. Hàng tre gợi hình ảnh mọi miền quê
hương đất nước, nhất là hình ảnh miền Nam yêu thương. Tre kiên
cường trong bão táp mưa sa như dân tộc ta vững vàng qua phong ba
bão tố, như Bác Hồ suốt đời sống giản dị nhưng kiên cường tranh đấu vì
độc lập tự do của dân tộc.

Hoà vào dòng người thăm lăng, nhà thơ tiếp tục dòng suy tưởng. Lời
thơ bỗng dạt dào một cảm xúc tự hào, thành kính, thương nhớ Bác:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân

Ai đã từng một lần đi viếng lăng Bác mới hiểu hết hàm ý trong câu thơ
của Viễn Phương. Ngày ngày, mặt trời - chúa tể của thiên nhiên - thán
phục một mặt trời trong lăng rất đỏ. Mặt trời rất đỏ, hình ảnh tượng
trưng cho Bác Hồ - là mặt trời cách mạng, là nguồn ánh sáng rực rỡ
không bao giờ tắt, mãi mãi chiếu rọi con đường đi tới của dân tộc Việt
Nam. Nhiều nhà thơ đã sử dụng hình ảnh mặt trời để thể hiện ánh sáng
của lý tưởng cách mạng, nhưng đối sánh hai hình ảnh mặt trời của Viễn
Phương quả là rất độc đáo. Đây là một sáng tạo nghệ thuật có tác dụng
bộc lộ nội dung rất hiệu quả. Không nhiều lời, chỉ một hình ảnh mặt trời
rất đỏ, nhà thơ đã khái quát được hình ảnh Bác Hồ vĩ đại. Nhà thơ đã
nói hộ chúng rằng: Bác Hồ là mặt trời cách mạng đẹp nhất, rực rỡ nhất,
chói lọi nhất luôn luôn toả sáng trong tâm hồn người Việt Nam.

Cùng với mặt trời ngày ngày đi qua trên lăng là dòng người đi trong
thương nhớ. Nhịp thơ chầm chậm như bước chân của dòng người lặng
lẽ đi trong suy tưởng, bao trùm một một không khí thương nhớ Bác
không nguôi, thành kính kết tràng hoa tình yêu dâng bảy mươi chín
mùa xuân của Người. “Người ta là hoa của đất”, nhà thơ thật sâu sắc
và tinh tế khi tôn quí nhân dân. Mỗi người dân là một bông hoa và
dòng người đi trong thương nhớ chính là tràng hoa dâng lên Bác.

Ngày ngày… ngày ngày …, thời gian không ngừng trôi và lòng người
Việt Nam không bao giờ nguôi tình cảm nhớ thương, yêu quí, kính
trọng đối với Bác.

Đặc biệt xúc động là khi vào trong lăng, thấy Bác nằm nghỉ, nhà thơ
sững sờ, nghẹn ngào, đau đớn:

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền,
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi ,
Mà sao nghe nhói ở trong tim

Bác nằm đó như đang trong giấc ngủ bình yên sau bảy mươi chín mùa
xuân không hề nghỉ. Từ ánh điện mờ ở trong lăng, nhà thơ liên tưởng
đến một hình ảnh rất đẹp: vầng trăng sáng dịu hiền. Hình ảnh đó đã
đưa người đọc vào một thế giới huyền diệu, trong sáng và thanh khiết;
càng gợi ta nghĩ đến tình yêu thiên nhiên, yêu trăng nồng nàn của Bác.

Vầng trăng kia đã bao lần sáng lên trong thơ Người. Cả khi trong ngục:
“Người ngắm trăng soi qua cửa sổ, trăng nhòm khe cửa ngắm nhà
thơ”. Cả những khi bận rộn việc nước việc quân, Bác vẫn thấy “trung
thu trăng sáng như gương”, “rằm xuân lồng lộng trăng soi”, “trăng
ngân đầy thuyền”, “trăng vào cửa sổ đòi thơ”, “trăng lồng cổ thụ bóng
lồng hoa…” Giờ đây, Bác nằm đó, trong giấc ngủ bình yên, giữa vầng
trăng sáng dịu hiền. Vẫn biết rằng Bác như trời xanh, mãi mãi sống
trong sự nghiệp của chúng ta. Nhưng con tim nhà thơ đau đớn vô cùng
khi đứng trước Người. Mà sao nghe nhói ở trong tim, chỉ một chữ nhói
cũng đủ nói lên nỗi quặn đau, thương nhớ không gì bù đắp được vì mất
Bác, vì nỗi thiếu vắng Bác.

Và nỗi đau không còn kìm ném được nữa, nó trào lên dữ dội khi nhà thơ
chia tay với Bác:

Mai về miền Nam, thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng
Muốn làm bông hoa toả hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

Thương Bác, thương đến trào nước mắt, một tình cảm yêu quý mãnh
liệt, trọn vẹn như tình cảm của người con đối với người cha ruột thịt.
Nhà thơ chia tay Bác trong tiếng khóc nấc nở nghẹn ngào. Làm sao
ngăn được dòng nước mắt thương nhớ Bác-một con người vừa vĩ đại,
thanh cao, vừa gần gũi thân thiết với chúng ta, một con người suốt đời
hy sinh, cống hiến cho dân tộc nay vĩnh viễn nằm lại trong lăng? Nhà
thơ lưu lưyến không muốn rời xa Bác, chỉ ước muốn biến thành con
chim, bông hoa, cây tre, góp tiếng hót, làn hương quanh nơi Bác nghỉ
cho trọn niềm trung hiếu với Người. Đoạn thơ dạt dào tình cảm, nhịp
điệu thiết tha, cùng với hình ảnh cây tre trung hiếu một lần nữa truyền
đến người đọc sự xúc động nghẹn ngào.

Bài thơ ngắn, nhưng tác giả đã thành công khi sử dụng hàng loạt hình
ảnh ẩn dụ mang tính tượng trưng sâu sắc. Các hình ảnh hàng tre xanh
xanh, giữa bão táp mưa sa, đến các hình ảnh mặt trời rất đỏ, tràng
hoa, bảy mươi chín mùa xuân, vầng trăng sáng dịu hiền, trời xanh là
mãi mãi đã gợi cho người đọc thấy trọn vẹn hình tượng Bác Hồ gần gũi,
cao quý, thanh khiết, vĩ đại biết bao. Ngoài ra, nó còn gợi đến hình ảnh
quê hương, đất nước, nhân dân. Nhà thơ đã có nhiều dụng ý khi sử
dụng các hình ảnh rất đẹp, rất lớn lao của vũ trụ: mặt trời, vầng trăng,
trời xanh. Những hình ảnh đó tượng trưng cho cái vĩ đại, lớn lao của
Bác Hồ. Bác như vầng mặt trời rực rỡ, như vầng trăng sáng dịu hiền,
như bầu trời xanh. Ở Bác toả ra ánh sáng của trí tuệ thiên tài và lấp
lánh ánh sáng của một tâm hồn cao đẹp. Còn hình ảnh hàng tre xanh
xanh lại tượng trưng cho cái bình dị, gần gũi của Người. Và hơn thế
nữa, tất cả các hình ảnh ấy đều gợi cho ta thấy sự bất tử của Bác Hồ.

Người sống mãi trong lòng nhân dân ta, trong sự nghiệp của chúng ta.
Mãi mãi là vị cha già thân thiết, yêu quý của chúng ta.

Viếng lăng Bác không những là tiếng khóc đau đớn, nghẹn ngào trước
sự ra đi của Bác, là lòng thương nhớ không nguôi, lòng kính phục vô
hạn của nhà thơ Viễn Phương và của nhân dân ta đối với Bác Hồ mà bài
thơ còn diễn tả thành công hình tượng Bác Hồ vĩ đại bằng những hình
ảnh đẹp, nhịp điệu tha thiết, cảm xúc nồng nàn chân thực. Âm hưởng
của bài thơ ngân vang mãi trong lòng người đọc. Bài thơ được phổ nhạc
càng trở nên truyền cảm sâu xa, làm xúc động hàng triệu trái tim Việt
Nam từ 1976 đến nay.
Trong hai cuộc kháng chiến, nhà thơ Viễn Phương hoạt động ở Nam Bộ,
và đã sáng tác nhiều bài thơ về Bác Hồ. Có bài tác giả viết khi bị địch
giam cầm ở các trại giam Phú Lợi, Lê Văn Duyệt, không có giấy bút,
Viễn Phương sáng tác thầm trong đầu và đọc cho các đồng chí cùng
khám nghe. Kỳ diệu thay, Viễn Phương chỉ đọc một vài lần, mọi người
đều thuộc, rồi những khi bị địch bắt đi lao động, họ lại đọc cho bạn tù ở
khám khác nghe, cứ vậy thơ Viễn Phương được lan truyền trong nhà tù.
Phải đến bài thơ Viếng Lăng Bác, Viễn Phương mới thực sự có một bài
thơ hay về Bác. Dưới đây là cuộc trò chuyện giữa ông và phóng viên
VNQĐ

PV: Thưa nhà thơ Viễn Phương, trong một lần nào đó, tôi được đọc một
bài viết của anh Lê Quang Vịnh trên báo Sài Gòn Giải phóng, kể rằng:
“Lúc tôi 25 tuổi, bị bọn Mỹ – Diệm kết án tử hình rồi chuyển thành
trung thân khổ sai và đày ra Côn Đảo. Trong chuồng cọp, địa ngục trần
gian của nhà tù ấy, tôi bị bắt buộc phải nằm dưới hầm suốt ngày...".
Trên vách chuồng cọp, tôi thấy chi chít những chữ ghi bằng nhiều cách
khác nhau. Có những dòng được khắc trên vôi bằng cái xương cá mắm.
Có những chữ bằng máu, có những ghi bằng than. Tôi đọc được bài thơ
dài, chỗ này ghi một đoạn, chỗ khác ghi một khúc ráp lại rất vần với
nhau.

Hôm nay mười chín tháng năm:

Lòng con sáng tựa đêm rằm trung thu
Con đang chúc thọ dưới mồ
Con đang dựng một rừng cờ trong tim
Đêm nay mộng hóa thành chim
Bay qua lưới sắt con tìm đến cha

Sau này mới biết là thơ Viễn Phương, bài Chúc thọ dưới mồ. Tôi nghĩ
rằng đó cũng là hạnh phúc lớn của nhà thơ: Góp phần mình vào công
cuộc giải phóng đất nước.

Nhà thơ Viễn Phương: Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc ta là
nguồn cảm hứng vô tận của người sáng tạo văn, thơ, nhac, họa. Trong
kháng chiến chống Pháp và Mỹ, các nhà thơ sống ở Nam Bộ đều có
những tác phẩm viết về Bác. Trong nhà tù của giặc, tôi luôn luôn nghĩ
về Bác. Bác là nguồn động viên, cổ các chiến sĩ trong nhà tù. Tôi đã
viết bài thơ Chúc thọ dưới mồ, được các đồng chí trong tù thuộc, truyền
cho nhau. Tuy lời thơ còn mộc mạc nhưng là tấm lòng thành kính của
tôi đối với Người.

PV: Phải đến khi đất nước thống nhất, ra thăm miền Bắc, anh mới có
Viếng Lăng Bác, đầy đủ độ chín và ngôn từ. Anh có thể cho biết bài thơ
ra đời trong hoàn cảnh nào?

Nhà thơ Viễn Phương: Khi Bác còn sống, nhân dân miền Nam mong
muốn đất nước giải phóng để đón Bác vào thăm. Nhưng rồi, ước mơ ấy
không được toại nguyện. Khi miền Nam giải phóng, mọi người đều
muốn ra thăm miền Bắc, viếng lăng Bác. Năm 1976, tôi ra Hà Nội, được
đến viếng Bác.
Sáng hôm ấy mưa phùn, Hà Nội lây phây trong gió rét, tôi được nối vào
dòng người vào lăng Bác. Chúng tôi đi từ hướng chùa Một Cột. Sương
toả mênh mông, những hàng tre xanh sẫm, những gốc đào hoa đỏ
rực… Tất cả đều thiêng liêng. Đến bên Bác, ai cũng muốn dừng thật
lâu. Bác nằm đó, thanh thản, giản dị, hiền từ như đang ngủ. Anh sáng
dịu dàng toả xuống như giữa một đêm trăng thanh miền thôn dã. Tôi
không cầm nổi nước mắt.
Ra khỏi làng, tôi đi như người mộng du và tứ thơ bật ra:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát.

Lời thơ thật giản dị. Tôi nghĩ, Bác của chúng ta vốn giản dị, Người ghét
sự cầu kỳ, làm dáng. Giản dị, trong sáng, sâu sắc cũng là bao quát
trong thơ Bác. Tôi viết như là ý nghĩ của mình. Và, đó cũng là tâm tư
của nhân dân và chiến sỹ ở Nam Bộ với Bác.

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Mặt trời của vũ trụ đối với mặt trời trong lăng. Đó cũng là hàm chứa sự
vĩnh cửu của sự nghiệp Bác Hồ tạo dựng và nhân dân ta, Đảng ta đã
thực hiện: xây dựng một đất nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc
lập, dân chủ và giàu mạnh như di chúc của Bác.

Hoa tươi là nét đẹp của thiên nhiên, hàng ngày dâng lên Bác rất nhiều
nhưng tôi nghĩ đến:

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng Bảy mươi chín mùa xuân

Dòng người vây quanh Bác trở thành hoa. Và dâng cho Bảy mươi chín
màu xuân, là hoa tươi của cuộc sống.

Toàn bài Viếng Lăng Bác mang một không khí trang nghiêm, thành
kính. Đoạn kết, tôi muốn nói lên tình cảm của nhân dân, chiến sỹ miền
Nam hứa với Bác:

Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng
Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này

(sưu tầm)

Sang thu (Hữu Thỉnh)

Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi
bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. Mà hút
theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của
văn chương…

Nói về đề tài mùa thu, một tác giả đã nhận định: “Đề tài "Mùa Thu" bao
giờ cũng có vẻ là dễ viết. Mùa thu dường như luôn luôn nấp sẵn trong
ngòi bút của chúng ta, nhất là những ngòi bút thơ: hễ động bút là mùa
thu cứ chực đổ ùa ra trên mặt giấy. Tưởng như với đề tài thơ mộng
muôn thuở này có thể dễ dàng chắp bút. Chỉ đến khi bắt đầu cầm bút
ngồi trước mặt giấy, tôi mới thấy đề tài này thật là khó” Tại sao lại có
nghịch lí trong kinh nghiệm của người sáng tác như vậy? Có lẽ vì nàng
thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo
những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. Mà hút theo
những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn
chương…

Sang thu của Hữu Thỉnh xuất hiện khi trước nó đã có rất nhiều bài thơ
nổi tiếng đông tây kim cổ: Thu hứng (Đỗ Phủ), Chùm thơ thu (Nguyễn
Khuyến), Đây mùa thu tới (Xuân Diệu)… Nhưng nó vẫn có cái hay, cái
độc đáo riêng của một hồn thơ sâu lắng, nhạy cảm khi mùa thu tới.

Ngay từ tiêu đề, tác giả đã tự xác định một thời điểm miêu tả: thời
điểm giao mùa. Đó không phải là chính thu, khi bầu trời xanh ngắt lơ
lửng những tầng cao, không phải cuối thu, khi nắng trời đã nhuộm đỏ

lá bàng, hay khi cái rét mùa đông đã lẩn vào trong gió…Sang thu nghĩa
là mới chớm thu thôi, cái tứ kết buộc hệ thống hình ảnh trong bài cũng
chỉ gói gọn trong chút “chớm” mỏng manh đó.

Đặc biệt ở góc độ miêu tả tạo vật. Không hề có một từ định tính để
miêu tả thế giới thu. Có hương ổi, mùi hương vừa đặc trưng cho mùa
vừa đặc trưng cho làng thôn ngõ xóm. Nhưng hương ổi “thơm” như thế
nào thì thi sĩ hoàn toàn không miêu tả. Có gió, nhưng gió se chứ không
phải là gió lạnh. Se gợi một động thái, hơn là gợi một cảm giác. Làn
sương giăng phủ ngõ thôn chẳng được đặc tả ở mức độ (mù mịt) hay
màu sắc (trắng mờ)... Dòng sông, cánh chim, hay đám mây cũng
không tô điểm cho phong cảnh thu bằng những gam màu đặc trưng
của nó. Truyền thống thơ thường kiến trúc ngôi nhà thu bằng những
chất liệu quen thuộc như cúc, liễu, ngô đồng hay màu trời, sắc nước…
Hữu Thỉnh hầu như khơi gợi cảm giác về mùa trong trạng thái mơ hồ
của tạo vật. Thành công nổi bật nhất của bài cũng là ở một hệ thống
những động từ miêu tả rất giàu cảm giác: “phả”, “se”, “chùng chình”
“dềnh dàng” “bắt đầu vội vã” “vắt nửa mình”… “Chùng chình” trước
hết gợi tả chính xác những làn sương như ngưng lại và nhẹ nhàng tỏa
lan ngõ xóm. Dòng nước thu vốn trong trẻo và sâu hút làm người ta
khó mà thấy rõ được sự chuyển động nó nên cảm giác sông lững lờ trôi
cũng rất hiện thực. Đám mây như tấm khoăn voan của người thiếu nữ,
duyên dáng nối hai mùa là một liên tưởng thực sự độc đáo. Song trên
hết, hệ thống động từ toàn bài còn đặc sắc ở chỗ, nó không chỉ miêu tả
chính xác trạng thái của tạo vật mà còn thổi vào tạo vật những cảm
giác rất người. Tinh tế và sống động sao một buổi sáng chớm thu,
sương như người khách ngập ngừng nơi đầu ngõ, gió se lại bởi chút
lạnh xa xăm, những cánh chim vội vã tìm về phương ấm áp…

Song thời điểm chớm thu không phải chỉ hiển hiện ở những dấu hiệu
mơ hồ trong trạng thái biến chuyển của cảnh vật, mà ở cả chút ngỡ
ngàng bâng khuâng của lòng người: “Bỗng nhận ra hương ổi”; “Hình
như thu đã về”…

Tiếp tục thể hiện những dấu hiệu mùa thu rõ rệt hơn nhưng ý nghĩa
của khổ cuối không chỉ dừng lại ở đó:

Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi

Con người cảm thấy biết bao biểu hiện khác biệt của thời tiết khi mùa
thu tới: mưa và sấm thưa dần, không còn dữ dội nữa. Sang thu, tất cả
các dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn nhưng đã giảm dần mức độ, cường
độ… Hàng cây như đã quá quen với nắng lửa mưa giông, được gọi một

cách hình ảnh là “hàng cây đứng tuổi”. Chính các từ “bất ngờ”, “đứng
tuổi” khiến ý nghĩa của câu thơ không dừng lại ở nét nghĩa tả thực mà
có chiều sâu hơn. Nắng, mưa, sấm chớp… hay là những vang động của
cuộc đời? Trong tương quan ấy, hàng cây tượng trưng cho con người
từng trải mà bao dâu bể biến đổi không còn đáng ngạc nhiên. Cảnh
như sâu lắng hơn bởi liên tưởng suy tư về mùa thu đời người.

Không hiểu sao, khi đọc bài thơ này, tôi chợt thấy nhớ rất nhiều những
năm tháng đã qua của mình. Miền kí ức tuổi thơ được đánh thức bởi
mùi hương ổi, bởi ngõ xóm thân quen ấy. Và có lẽ cũng nhờ giọng điệu
êm nhẹ dễ cuốn người đọc vào dòng cảm xúc, suy nghĩ tự nhiên của
tác giả. Nét độc đáo nhất của bài là những hình ảnh chính xác và giàu
sức gợi tạo nên một bức tranh thu giản dị mà sống động. Đây xứng
đáng là một bài thơ thu hay trong thế giới thi ca!

( Sưu tầm đó)

Người ta nói mùa thu là mùa của thi nhận,của tình yêu,của
những bài thơ dịu dàng.Hương thu thấm đẫm ngọt nào trong
vạn vật như đc in dấu lung linh ,huyền ảo qua mỗi vần thơ ở
bài Sang Thu của nhà thơ HỮU THỈNH
"Bỗng nhận ra...
..đã về "
Ngọn jó se ở đây ta có thể hiểu là ngọn gió heo may se se lạnh
ban phát cái hương vị còn sót lại của làng quê.Hình ảnh giọt
sương thu gợi ta và gợi cảm :"giọt sương chùng chình" gợi tả 1
ngõ nhỏ yên ắng,1 không gian sương khói lãng đãng lúc thu
về.Giợt sương thu là hình ảnh mang tâm trạng ngập ngừng ,bịn
rịn,bâng khuâng đang đợi chờ 1 nguời nào đó.
Cảm xúc của nhà thơ :"Bỗng","hình như" là 2 tâm trạng của
nhà thơ:bất ngờ và bối rối,bâng khuâng.Có phải nhà thơ đang
thầm hỏi lòng :thu về từ bao giờ?theo gió hay theo huơng?Thu
đến mà ko báo trước để lòng người xao xuyến bâng khuâng
Khi cả đất trời vào thu
"Sông đựoc lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu "
Nhà thơ đã thổi hồn vào cảnh vật để cho dòng sông đc dịp mà
thanh thản,mà trầm ngâm suy nghĩ.Tuơng phản với hình ảnh
dòng sông à lũ chim :"chim bắt đầu vội vã".Ta cảm nhận lũ
chim như hình dung đc cái lạnh của thu đã về và cuộc hành
trình về phương Nam của chúng bắt đầu với những tiếng gọi
nhau ,những âm thanh,những tiếng đập cánh vội vã,gấp gáp
hơn.Nhà thơ Xuân Diệu khi cảm nhận về mùa thu cũng nói tới
cánh chim : "Chim nghe trời rộng giang thêm cánh"

Đặc sắc nhất là 2 câu thơ :
"Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu"
Trong đám mây của mùa thu vẫn còn vương chút nắng hạ nên
từ "vắt" đc nhà thơ dùng thật sống động,gợi hình,tạo
dáng.Đám mây như 1 dãi lụa mềm tạo thành chiếc cầu nối cho
nhịp thời gian .Liên tưởng của nhà thơ làm bầu trời xanh kia
trờ nên kì diệu .Chút nắng còn sót lại của mùa hạ vàng ,thu êm
đềm vừa chợt đến đám mây vừa ngỡ ngàng như bước qua bờ
bên kia .cám giác như vừa là thực ,vừa là ảo,vừa rõ ràng mà
lung linh.
Nếu như ở khổ 1 là cảm nhận về sự kì diệu của mùa thu ,khổ 2
là những biến đổi của cảnh vật thì khổ 3 là tình thu chan
chứa.Trời đã bớt đi những cơn mưa ,chỉ còn lại những giọt nắng
và vì vậy sự suy nẫm triết lí của nhà thơ đc thể hiện thật đúng
lúc."Vẫn còn bao nhiêu nắng...cây đứng tuổi"
Có thể nhận ra biện pháp tu từ nhân hoá làm câu thơ mang
chiều sâu triết lí .Hàng cây đứng tuổi hay đó chính là những
nguời đã từng trải qua nhiều khó khăn gian nan của cuộc đời.
Các hình ảnh nắg,mưa ,sấm chớp ..tượng trưng cho những bến
đổi,vang động bất thường trong cuộc sống.Thế nhưng tất cả
lắng xuống ,đi vào chừng mực rồi ổn định .Chỉ còn kết lại bài
thơ hình ảnh hàng cây đứng tuổi gợi bao suy nghĩ sâu xa .Hàng
cây đứng tuổi vững vàng trước sấm sét ,phải chăng cũng là sự
điềm tĩnh bình thản của con người khi đã đi qua bao mưa
nắng ,thử thách của cuộc đời .Con nguời đứng tuổi ko còn sôi
nổi như 1 thời trẻ dại mà tâm trạng của họ trờ nên chín chắn
,đằm thắm hơn.hình như ko mong đợi mà thu vẫn về.Bốn mùa
luân chuyển như đời nguời vội vã,lo toan.Lúc ngoảnh lại mới
thấy mái tóc pha sương và mình đã ko còn trẻ.Đời người đã
sang thu từ khi nào.
Thiên nhiên sang thu,con nguời cũng sang thu.Cảnh thu,tình
thu vào nhau thắm thiết.Con người lưu luyến chưa muốn chia
tay với mùa hạ,còn khi bước sang thu,họ trờ nên nghiêm
trang,chững chạc mang vẻ đẹp sâu lắng kín đáo nhưng kiêu
hãnh tự hào.
Bài thơ là bức tranh mùa thu đẹp để ta yêu mến,tự hào về cảnh
sắc quê hương đất trời.Những suy ngẫm trong thơ cho ta ý
thức sâu hơn về trách nhiệm của con người cuộc đời.
^__^
[IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS
%7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image001.gif[/IMG]

Khoảnh khắc giao mùa có lẽ là khoảnh khắc đẹp đẽ nhất của tự
nhiên ,nó gieo vào lòng người những rung động nhẹ nhàng
khiến ta như giao hoà, đồng điệu .Khi chúng ta chưa hết ngỡ
ngàng bởi một Xuân Diệu “tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì ” thì đã

gặp một Hữu Thỉnh tinh tế ,sâu sắc đến vô cùng qua một
thoáng “Sang Thu” .
Bài thơ là những cảm nhận ,những rung động man mác, bâng
khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kỳ diệu của
thiên nhiên trong buổi giao mùa .Không phải là sắc “mơ phai”
hay hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác” mà là hương ổi thân
quen nơi vườn mẹ đã đánh thức những giác quan tinh tế nhất
của nhà thơ :
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se,
Câu thơ có hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê
nhỏ .Tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra mùa thu là “hương
ổi”. Mùi hương quê nhà mộc mạc “phả” trong gió thoảng bay
trong không gian .Cảm giác bất chợt đến với nhà thơ : “bỗng
nhận ra” -một sự bất ngờ mà như đã chờ đợi sẵn từ lâu lắm
.Câu thơ không chỉ tả mà còn gợi liên tưởng đến màu vàng ươm
, hương thơm lựng , vị giòn, ngọt, chua chua nơi đầu lưỡi của
trái ổi vườn quê .Và không chỉ có thế ,cả sương thu như cũng
chứa đầy tâm trạng,thong thả, chùng chình giăng mắc trên
khắp nẻo đường thôn :
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về .
Sương thu đã được nhân hoá ,hai chữ “chùng chình” diễn tả rất
thơ bước đi chầm chậm của mùa thu . Nếu ở câu thơ đầu tiên
nhà thơ “bỗng nhận ra” thu về khá bất ngờ và đột ngột thì sau
khi cảm nhận sương thu ,gió thu, thi sỹ vẫn ngỡ ngàng thốt lên
lời thầm thì như tự hỏi :Hình như thu đã về!? Tâm hồn thi sỹ
nắm bắt những biến chuyển nhẹ nhàng, mong manh của tạo
vật trong phút giao mùa cũng êm đềm, bâng khuâng như bước
đi nhỏ nhẹ của mùa thu .
Không gian nghệ thuật của bức tranh thu được mở rộng hơn
,cái bỡ ngỡ ban đầu vụt tan biến đi nhường chỗ cho những rung
cảm mãnh liệt trước không gian thu vời vợi :
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Sông nước đầy nên mới “dềnh dàng” nhẹ trôi như cố tình chậm
lại ,những đàn chim vội vã bay về phương nam …Không gian
thu thư thái , hữu tình và chứa chan thi vị , đặc biệt là hình ảnh
:
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu .
Câu thơ giúp ta hình dung về đám mây mỏng nhẹ ,trắng xốp
,kéo dài như tấm khăn voan duyên dáng của người thiếu nữ
thảnh thơi , nhẹ nhàng “ vắt nửa mình sang thu”.Câu thơ có
tính tạo hình không gian những lại có ý nghĩa diễn tả sự vận
động của thời gian : thu bắt đầu sang , hạ chưa qua hết , mùa

thu vừa chớm , rất nhẹ , rất dịu , rất êm , mơ hồ như cả đất trời
đang rùng mình thay áo mới …
Khổ thơ thứ ba diễn tả rất rõ sự biến chuyển của không gian và
cũng là một thoáng suy tư của nhà thơ trước cảnh vật, đất
trời :
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi .
Vẫn là nắng, mưa, sấm, chớp của mùa hạ vương lại đâu đây ,
song chỉ là “vẫn còn” , “đã vơi dần”, “ cũng bớt bất ngờ” bởi
mùa thu đã đến .Ý thơ còn gợi liên tưởng đến con người khi đã
lớn tuổi và từng trải thì những giông gió, thăng trầm của cuộc
đời ít làm con người ta bất ngờ, bị động .Những suy tư đó của
tác giả có lẽ đã góp phần làm cho “Sang thu” trở nên giàu ý
nghĩa .
Hình ảnh thơ đẹp , ngôn từ tinh tế , giọng thơ êm đềm và
những rung động man mác ,bâng khuâng của tác giả trong
buổi giao mùa đã tạo nên một dấu ấn không dễ phai mờ trong
lòng bao độc giả . Có lẽ vì vậy mà sau khi đọc “Sang thu” của
Hữu Thỉnh ta càng thấy yêu hơn mùa thu thiết tha, nồng hậu
của quê nhà .
^__^

Phân tích bài thơ Sang Thu

Mùa thu là một đề tài muôn thuở của các thi nhân Việt Nam. Nếu như
Nguyễn Khuyến có chùm thơ thu với ba bài : « Thu vịnh », « Thu điếu
», « Thu ẩm » ; Xuân Diệu có « Đây mùa thu tới » ; Lưu Trọng Lư có «
Tiếng thu », tất cả đều là những bài thơ rất nổi tiếng, thì Hữu Thỉnh
cũng có một chớm « Thu sang » rất nhẹ nhàng êm dịu. Trong đó có hai
khổ thơ rất hay ghi lại cảm xúc của nhà thơ trước cảnh sang thu ở một
miền quê nhỏ :

Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.

Sông được nước dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu

Mùa thu của Hữu Thỉnh được mở ra không phải với sắc vàng tươi của

hoa cúc, cũng không phải với vị thơm ngon của cốm làng Vòng, mà là
với hương ổi thơm giòn ngọt phả vào trong gió thu. Dường như cái
hương thơm dịu ấy chỉ thoang thoảng quanh quất đâu đây. Nó không
mang cái mùi thơm hăng hắc như hoa sữa, cũng không quá nhẹ để
người ta dễ lãng quên. Hương thơm ấy nhẹ nhàng thoảng qua theo gió,
đề người ta chợt xốn xang trong lòng. Làn gió se se lạnh của mùa thu
cũng rất khác với cái gió tê tái của mùa đông. Nó chỉ khiến ta hơi co
người lại một chút và để rồi thảnh thơi đón nhận cả một lưồng khí thu
mát rượt trong lòng. Có lẽ, sẽ chẳng ở đâu có cái gió se lạnh ấy ngoài
mùa thu của đất Bắc – cái gió se mà từ lâu vẫn được coi là hồn thu Bắc
Bộ. Một hương thơm thu một làn heo may thu đã làm nên cái mở độc
đáo cho bài thơ, thậm chí dường như còn độc đáo đến bất ngờ cho cả
nhà thơ : “Bỗng nhận ra hương ổi”. Thu đến chẳng hề báo trước! Thu
sang từ bao giờ Hữu Thỉnh cũng không biết nữa! Ông chỉ nhận ra một
sự bất ngờ mà như đã đợi từ lâu lắm. Thu sang mang theo hơi thửo của
mình và mang theo cả cái vẻ thu mơ màng mờ ảo:

“Sương chùng chình qua ngõ”

Sương thu cũng có cái nét đặc biệt riêng của nó. Nó không tan nhanh
như sương mùa hạ, cũng chẳng dầy đặc như sương mùa đông. Sương
thu là những làn khói mong manh bay vờn nhẹ trên những nãi nhà,
ngoài vườn. Sương thu không vô cảm, nó cũng mang hồn người . Sương
đang đợi ai, sương đang chờ ai mà sao lưu luyến thế? Từ láy “chùng
chình” tạo cho ta cảm giác “dùng dằng nửa ở nửa về”. Đến sương lúc
này cũng là sương thu mà Hữu Thỉnh vẫn còn ngẩn ngơ mãi:

“Hình như thu đã về”

Ông thờ ơ quá chăng hay bởi lòng ông đang bối rỗi? Thu về tự bao giờ?
Từ hương ổi hay từ làn gió heo may? Thu làm lòng người xao xuyến quá
chừng để đến nỗi không biết thu đến thực hay mơ!

Sau một thoáng bỡ ngỡ, nhà thơ như chợt bừng tỉnh- thu đã về thật rồi!
Khép lại những hoài nghi, Hữ Thỉnh chẳng còn nghĩ gì ngoài cảm xúc
đang dâng trào:

“Sông được nước dềnh dàng,
Chim bắt đầu vội vã”.

Nhịp thơ nhanh và gấp cũng như hơi thở của mùa thu đã bắt đầu đập
mạnh. Sông vào mùa này chẳng có mưa to gió lớn nên nước cứ “dềnh
dàng”. Con sông tràn trề nước mà hình như cứ không chịu chảy, cứ cố
nán lại để đợi chờ ai. Sông chờ nước mùa thu chăng? Một hình ảnh thơ
thật thi vị và lãng mạn. Nhưng đàn chim thì không thể dềnh dàng được
nữa, chúng phải vội vã bay về phương Nam tránh rét. Tất cả đều đang

chuyển mình, đang thay đổi. Thậm chí ngay cả đám mây mùa hạ cũng
thấy sốt ruột, phải “Vắt nửa mình sang thu”. Phải chăng đám mây kia
có hai nửa thì một nửa nằm bên mùa hạ, nửa kia thuộc về mùa thu.
Không biết ở đây là mùa thu lưu luyến mùa thạ hay nhà thơ đang mong
chờ mùa hạ mà vẫn lưu luyến mùa thu đây? Điêu này thì Hữu Thỉnh
thật khác với các nhà thơ khác. Cũng viết về mùa thu, Nguyễn Khuyến
viết: “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” – có nghĩa là thu của Nguyễn
Khuyến đã thực là thu, nó không còn vương vấn chút gì của mùa hè rực
lửa. Còn Hữu Thỉnh, ông viết mùa thu nhưng lại là vào lúc giao mùa.
Chắc hản phải yêu mùa thu lắm Hữu Thỉnh mới vẽ ra được một bức
tranh thu nồng đượm hơi ấm đất trời, nồng đượm hơi ấm quê nhà như
thế.

Trong làng thơ dân tộc, đã và sẽ có nhiều bài thơ thu hay. Nhưng có lẽ
sẽ chẳng ai biết mà lại quên được một chớm “Thu sang” của Hữu Thỉnh
- một mùa thu nhẹ nhàng, nữ tính, trông qua như một cô thôn nữ mộc
mạc mà sao lại đằm thắm khó quên đến thế!
(sưu tầm)

Thuyết minh về chiếc nón lá của người Việt

Chiếc nón lá là người bạn thủy chung, gần gũi của người phụ nữ Việt
Nam . Chiếc nón đã được chạm khắc trên những cổ vật như trống đồng
Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào 2500-3000 năm về trước.

Theo sự phát triển của lịch sử qua các thời đại, nón cũng có nhiều biến
đổi về kiểu dáng và chất liệu. Lúc đầu khi chưa có dụng cụ để khâu
thắt, nón được tết đan. Còn loại nón khâu như ngày nay xuất hiện phải
nhờ đến sự ra đời của chiếc kim, tức là vào thời kỳ người ta chế luyện
được sắt (khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên).

Nguyên liệu làm nón không phức tạp. Ở nơi nào cũng vậy, muốn làm
được một chiếc nón phải dùng lá của một loại cọ nhỏ mọc hoang để
lợp, dùng một loại sợi rất dai lấy từ bẹ cây móc (ngày nay người ta
thường dùng sợi chỉ nilon) để khâu và tre làm vành. Tàu lá nón khi đem
về vẫn còn xanh nhăn nheo, được đem là bằng cách dùng một miếng
sắt đốt nóng, đặt lá lên dùng nắm giẻ vuốt cho phẳng. Lửa phải vừa độ,
nếu nóng quá thì bị giòn, vàng cháy, nguội quá lá chỉ phẳng lúc đầu,
sau lại nhăn như cũ. Người ta đốt diêm sinh hơ cho lá trắng ra, đồng
thời tránh cho lá khỏi mốc.

Tre chọn ống dài vuốt nhọn, gác lên dàn bếp hong khói chống mối mọt,
dùng làm vòng nón. Nón Chuông (làng nón nổi tiếng Việt Nam ở làng
Chuông, huyện Thanh Oai - Hà Nội) có 16 lớp vòng. Con số 16 là kết

quả của sự nghiên cứu, lựa chọn qua nhiều năm, cho đến nay đã trở
thành một nguyên tắc không thay đổi. Nhưng vẻ đẹp của chiếc nón chủ
yếu nhờ vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ tạo nên. Những mũi
kim khâu được ước lượng mà đều như đo. Những sợi móc dùng để khâu
thường có độ dài, ngắn khác nhau. Muốn khâu cho liên tục thì gần hết
sợi nọ phải nối tiếp sợi kia. Và cái tài của người thợ làng Chuông là các
múi nối sợi móc được dấu kín, khiến khi nhìn vào chiếc nón chỉ thấy
tăm tắp những mũi khâu mịn màng.

Các cô gái Việt Nam chăm chút chiếc nón như một vật trang sức, đôi
khi là vật để trao đổi tâm tư tình cảm của riêng mình. Người ta gắn lên
đỉnh của lòng nón một mảnh gương tròn nho nhỏ để các cô gái làm
duyên kín đáo. Công phu nhất là vừa vẽ chìm dưới lớp lá nón những
hoa văn vui mắt, hay những hình ảnh bụi tre, đồng lúa, những câu thơ
trữ tình, phải soi lên nắng mới thấy được gọi là nón bài thơ.

Trong nghệ thuật, tiết mục múa nón của các cô gái với chiếc áo dài
duyên dáng thể hiện tính dịu dàng, mềm mại và kín đáo của người phụ
nữ Việt Nam .

Cùng với áo dài, áo cánh, váy lĩnh, yếm đào, thắt lưng bao... chiếc nón
được coi là một thứ phục trang truyền thống của phụ nữ Việt Nam .
Nón có nhiều loại, nón chóp nhọn đầu, nón thúng rộng vành, nón ba
tầm như nón thúng nhưng mảnh mai hơn... tất cả đều để che chắn cho
những con người sống trên một dải đất nắng lắm mưa nhiều. Ngoài
chức năng che nắng, che mưa, chiếc nón còn hướng tới mục đích làm
đẹp cho con người và phù hợp với cảm quan thẩm mỹ của người Việt:
đẹp một cách tế nhị, kín đáo.

Dưới vành nón, đôi mắt, nụ cười, má lúm đồng tiền, những sợi tóc mai,
cái gáy trắng ngần của cô gái dường như được tôn thêm nét duyên
dáng, kín đáo mà không kém phần quyến rũ... Người ta đội nón làm
đồng, đi chợ, chơi hội.

Con người Việt Nam có tình cảm sâu sắc và gắn bó với chiếc nón lá
giản dị dù gặp nó ở bất cứ đâu trên trái đất này.

(Sưu tầm)

CHIẾC LƯỢC NGÀ
( Trích )
I.Tác giả, tác phẩm

1.Tác giả

Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932 quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh An
Giang. Trong thời kì kháng chiến chống Pháp, ông tham gia bộ đội,

hoạt động ở chiến trrường Nam Bộ. Từ sau năm 1954 ông tập kết ra
Bắc, công tác tại phòng văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam và bắt đầu
viết văn. Từ năm 1958 ông công tác tại Hội nhà văn Việt Nam, làm biên
tập cho tuần báo Văn nghệ của Hội nhà văn. Trong thời kì kháng chiến
chống Mĩ, ông tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác.

Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng có nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu
thuyết, kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người
Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hoà bình. Lối viết
của Nguyễn Quang Sáng giản dị, mộc mạc, nhưng sâu sắc đậm đà chất
Nam Bộ.

2.Tác phẩm
Truyện ngắn Chiếc lược ngà được viết năm 1966, khi tác giả đang hoạt
động ở chiến trường Nam Bộ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ và
được đưa vào tập truyện cùng tên.

II.Truyện ngắn Chiếc lược ngà

1.Tóm tắt truyện
Anh Sáu xa nhà đi kháng chiến. Mãi khi con gái lên tám tuổi anh mới có
dịp về thăm nhà. Bé Thu không nhận ra cha vì cái sẹo trên mặt làm ba
em không giống với người trong bức ảnh chụp với má mà em được biết.
Em đối xử với ba như người xa lạ. Đến lúc thu nhận ra cha, tình cha con
thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc anh Sáu phải ra đi. Ở khu
căn cứ, người cha dồn hết tình cảm yêu quí, nhớ thương đứa con vào
việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để tặng cô con gái bé bỏng.
Trong một trận càn, anh hi sinh. Trước lúc nhắm mắt, anh còn kịp trao
cây lược cho người bạn với lời nhắn gửi không nói lên lời.

2.Tình huống truyện
Truyện đã thể hiện tình cha con sâu sắc của hai cha con anh Sáu trong
hai tình huống:

- Cuộc gặp gỡ của hai cha con anh Sáu sau tám năm xa cách, nhưng
thật trớ trêu là bé Thu không nhận ra cha, đến lúc em nhận ra và biểu
lộ tình cảm thắm thiết thì anh Sáu lại phải ra đi. Đây là tình huống cơ
bản của truyện

- Ở khu căn cứ, anh Sáu dồn hết tình cảm yêu thương và mong nhớ
đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà để tặng con gái bé
bỏng. Nhưng ông đã hi sinh khi chưa thể gửi món quà ấy cho con gái.

- Nếu tình huống thứ nhất bộc lộ tình cảm mãnh liệt của bé Thu với
cha, thì tình huống thứ hai lại biểu lộ tình cảm sâu sắc của người cha
đối với con.

3.Phân tích diễn biến tâm lí và tình cảm của bé Thu trong lần đầu gặp
cha cuối cùng, khi ông Sáu được về phép

a.Thái độ và hành động của Thu trước khi nhận ra ông Sáu là cha

- Gặp lại con sau nhiều năm xa cách với bao nỗi nhớ thương nên ông
Sáu không kìm được nỗi vui mừng trong phút đầu nhìn thấy đứa con.
Nhưng thật trớ trêu, đáp lại sự vồ vập của người cha, bé Thu lại tỏ ra
ngờ vực lảng tránh, và ông Sáu càng muốn gần con thì đứacon lại càng
tỏ ra lạnh nhạt, xa cách. Tâm lí và thái độ ấy của bé Thu được biểu
hiện qua hàng loạt chi tiết mà người kể chuyện quan sát và thuật lại
rất sinh động: hốt hoảng, mặt tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên khi
mới gặp ông Sáu; chỉ gọi trống không với ông Sáu mà không chịu gọi
cha; nhất định không chịu nhờ ông chắt nước nồi cơm to đang sôi; hất
cái trứng cá mà ông đã gắp cho ra khỏi bát; cuối cùng khi bị ông Sáu
tức giận đánh một cái thì bỏ về nhà bà ngoại, khi xuống xuồng còn cố ý
khua dây cột xuồng rổn rảng thật to.

- Sự ương ngạnh của bé Thu hoàn toàn không đáng trách. Trong hoàn
cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh, nó còn quá bé nhỏ để có thể
hiểu được những tình thế khắc nghiệt, éo le của đời sống và người lớn
cũng không ai kịp chuẩn bị cho nó những khả năng bất thường, nên nó
không tin ông Sáu là ba nó chỉ vì trên mặt ông có thêm vết sẹo, khác
với hình ba mà nó được biết. Phản ứng tâm lí của em là hoàn toàn tự
nhiên, nó còn chứng tỏ em có cá tính mạnh mẽ, tình cảm của em sâu
sắc, chân thật, em chỉ yêu ba khi tin chắc đó đúng là ba. Trong cái
cứng đầu của em có ẩn chứa cả sự kiêu hãnh trẻ thơ về một tình yêu
dành cho người cha khác-người trong tấm hình chụp chung với má em.

b.Thái độ và hành động của Thu khi nhận ra người cha

- Trong buổi sáng cuối cùng, trước phút ông Sáu phải lên đường, thái
độ và hành động của bé Thu đã đột ngột thay đổi hoàn toàn. Lần đầu
tiên Thu cất tiếng gọi ba và tiếng kêu của nó như xé, rồi “ nó vừa kêu
vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai
tay ôm chặt lấy cổ ba nó”, “ Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn
cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa”, “ hai tay nó
siết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, và đôi
vai nhỏ bé của nó run run”

- Trong đêm bỏ về nhà bà ngoại, Thu đã được bà giải thích về vết thẹo
làm thay đổi khuôn mặt ba nó. Sự nghi ngờ bấy lâu được giải tỏa và ở
Thu nảy sinh một trạng thái như là sự ân hận nuối tiếc: “ Nghe bà kể
nó nằm im, lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”
. Vì thế
trong giờ phút chia tay với cha, tình yêu và nỗi mong nhớ với người cha
xa cách đã bị dồn nén bấy lâu, nay nay bùng ra thật mạnh mẽ và hối

hả, cuống quýt có xen lẫn cả sự hối hận.

Chứng kiến những biểu hiện tình cảm ấy trong cảnh ngộ cha con ông
Sáu phải chia tay, có người không cầm được nước mắt và người kể
chuyện thì cảm thấy như có bàn tay ai nắm lấy trái tim mình.

c.Một số nét tính cách của Thu biểu hiện qua tâm lí và hành động

- Đó là tình cảm thật sâu sắc, mạnh mẽ, nhưng cũng thật dứt khoát
rạch ròi. Ở Thu còn có nét cá tính là cứng cỏi tưởng như ương ngạnh,
nhưng Thu vẫn là một đứa trẻ với tất cả nét hồn nhiên, ngây thơ của
con trẻ.

- Qua những diễn biến tâm lí của bé Thu được miêu tả trong truyện, ta
thấy tác giả tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ và diễn tả rất sinh động với
tấm lòng yêu mến và trân trọng những tình cảm trẻ thơ.

4.Phân tích tình cảm cha con sâu nặng ở anh Sáu

- Tình cảm của ông Sáu với con đã được thể hiện phần nào trong
chuyến về phép thăm nhà, nhưng được biểu hiện tập trung và sâu sắc
ở phần sau của truyện, khi ông Sáu ở trong rừng tại khu căn cứ.

- Nỗi day dứt ám ảnh ông suốt nhiều ngày sau khi ông chia tay với gia
đình là việc ông đã đánh con khi nóng giận. Rồi lời dặn của con: “ Ba
về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba” đã thúc đẩy ông nghĩ đến
việc làm một chiếc lược ngà dành cho con.

- Khi kiếm được một khúc ngà, ông đã vô cùng vui mừng, sung sướng,
rồi ông dành hết tâm trí, công sức vào việc làm một cây lược: “ Những
lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như
người thợ bạc”, “ Trên sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà
anh đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: “ Yêu nhớ tặng Thu con của
ba”
. Chiếc lược ngà đã thành một vật quí giá, thiêng liêng với ông Sáu.
Nó làm dịu đi nỗi ân hận và chứa đựng bao nhiêu tình cảm yêu mến,
nhớ thương mog đợi của người cha đối với đứa con xa cách. Nhưng rồi
một tình cảnh đau thương lại đến với ông Sáu: Ông đã hi sinh khi chưa
kịp trao vào tay đứa con gái chiếc lược ngà.

- Câu chuyện về chiếc lược ngà không chỉ nói lên tình cha con thắm
thiết, sâu nặng của cha con ông Sáu, mà còn gợi cho người đọc nghĩ
đến và thấm thía những đau thương, mất mát, éo le mà chiến tranh đã
gây ra cho bao nhiêu con người, bao nhiêu gia đình.

5.Nghệ thuật trần thuật của truyện

- Tác giả đã xây dựng được một cốt truyện khá chặt chẽ, có những yếu
tố bất ngờ nhưng hợp lí: bé Thu không nhận cha khi ông Sáu về thăm
nhà, rồi lại biểu lộ những tình cảm thật nồng nhiệt, đầy xúc động với
người cha trước lúc chia tay. Sự bất ngờ càng gây được hứng thú cho
người đọc khi ở phần sau của truyện tác giả còn tạo thêm một bất ngờ
nữa, đó là cuộc gặp gỡ tình cờ của nhân vật người kể chuyện với bé
Thu, bấy giờ đã thành một cô giao liên dũng cảm, trong một lần ông
cùng đoàn cán bộ theo đường dây giao liên, vượt qua một quãng nguy
hiểm ở Đồng Tháp Mười.

- Lựa chọn nhân vật kể chuyện thích hợp. Người kể chuyện trong vai
một người bạn thân thiết của ông Sáu, không chỉ là người chứng kiến
khách quan và kể lại mà còn bày tỏ sự đồng cảm, chia sẻ với các nhân
vật. Đồng thời qua những ý nghĩ cảm xúc của nhân vật kể chuyện, các
chi tiết và sự việc và nhân vật khác trong truyện bộc lộ rõ hơn, ý nghĩa
tư tưởng của truyện thêm sức thuyết phục.

*Những điểm cần lưu ý
1.Truyện Chiếc lược ngà được Nguyễn Quang Sáng viết năm 1966, tại
chiến trường Nam Bộ trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ đang
diễn ra ác liệt. Điều đáng chú ý là truyện ngắn này viết trong hoàn
cảnh chiến tranh cá liệt nhưng lại tập trung nói về tình người-cụ thể ở
đây là tình cha con trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh và tình đồng
chí của những người cán bộ cách mạng. Tình cha con được miêu tả
cảm động ở cả hai phía: người cha cán bộ cách mạng và đứa con gái
nhỏ. Đó không chỉ là tình cảm muôn thủa, có tính nhân bản bền vững,
mà còn được được thể hiện trong hoàn cảnh ngặt nghèo và éo le của
chiến tranh và trong cuộc sống nhiều gian khổ, hi sinh của người cán
bộ cách mạng. Vì thế, tình cảm ấy càng đáng trân trọng và đồng thời
nó cũng cho thấy những nỗi đau mà chiến tranh gây ra cho cuộc sống
bình thường của mọi người.

2.Truyện Chiếc lược ngà khá tiêu biểu cho cho những đặc điểm trong
nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng. Là một nhà văn Nam
Bộ, rất am hiểu và gắn bó với mảnh đất ấy, Nguyễn Quang Sáng hầu
như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong chiến tranh và
sau hòa bình. Truyện của ông thường có cốt truyện hấp dẫn, xoay
quanh những tình huống khá bất ngờ nhưng tự nhiên, hợp lí. Nghệ
thuật kể chuyện, dẫn truyện của tác giả thường thoải mái, tự nhiên với
giọng thân mật dân dã. Ngôn ngữ trong truyện của ông gần với khẩu
ngữ và đậm màu sắc Nam Bộ.

Cảm nghĩ về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược
ngà’’

Cảm nghĩ về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược
ngà’’

1. Mở bài:

- Giới thiệu được tác giả, tác phẩm và nhân vật bé Thu với tài năng
miêu tả tâm lý nhân vật.

- Cảm nhận chung về nhân vật bé Thu.

2. Thân bài:

Phân tích diễn biến tâm lý của nhân vật bé Thu - nhân vật chính của
đoạn trích “Chiếc lược ngà’’ một cô bé hồn nhiên ngây thơ, có cá tính
bướng bỉnh nhưng yêu thương ba sâu sắc.

- Khái quát được cảnh ngộ của gia đình bé Thu, đất nước có chiến
tranh, cha đi công tác khi Thu chưa đầy một tuổi, lớn lên em chưa một
lần gặp ba được ba chăm sóc yêu thương, tình yêu Thu dành cho ba chỉ
gửi trong tấm ảnh ba chụp chung cùng má.

- Diễn biến tâm lý của bé Thu trước khi nhận anh Sáu là cha:

+ Yêu thương ba nhưng khi gặp anh Sáu, trước những hành động vội
vã thái độ xúc động, nôn nóng của cha…Thu ngạc nhiên lạ lùng, sợ hãi
và bỏ chạy….những hành động chứa đựng sự lảng tránh đó lại hoàn
toàn phù hợp với tâm lí trẻ thơ bởi trong suy nghĩ của Thu anh Sáu là
người đàn ông lạ lại có vết thẹo trên mặt giần giật dễ sợ.

+ Trong hai ngày sau đó Thu hoàn toàn lạnh lùng trước những cử chỉ
đầy yêu thương của cha, nó cự tuyệt tiếng ba một cách quyết liệt trong
những cảnh huống mời ba vào ăn cơm, xử lí nồi cơm sôi, và thái độ hất
tung cái trứng cá trong bữa cơm…Từ cự tuyệt nó đã phản ứng mạnh
mẽ….nó căm ghét cao độ người đàn ông măt thẹo kia, nó tức giận, và
khi bị đánh nó đã bỏ đi một cách bất cần…. đó là phản ứng tâm lí hoàn
toàn tự nhiên của một đứa trẻ có cá tính mạnh mẽ… Hành động tưởng
như vô lễ đáng trách của Thu lại hoàn toàn không đáng trách mà còn
đáng thương, bởi em còn quá nhỏ chưa hiểu được những tình thế khắc
nghiệt éo le của đời sống. Đằng sau những hành động ấy ẩn chứa cả
tình yêu thương ba,sự kiêu hãnh của trẻ thơ về một tình yêu nguyên
vẹn trong sáng mà Thu dành cho ba.

- Diễn biến tâm lý của Thu khi nhận ba:

+ Sự thay đổi thái độ đến khó hiểu của Thu, không ương bướng mà
buồn rầu nghĩ ngợi sâu xa, ánh mắt cử chỉ hành động của bé Thu như
thể hiện sự ân hận, sự nuối tiếc, muốn nhận ba nhưng e ngại vì đã làm
ba giận.

+ Tình yêu thương ba được bộc lộ hối hả ào ạt mãnh liệt khi anh Sáu
nói “Thôi ba đi nghe con”. Tình yêu ấy kết đọng trong âm vang tiếng
Ba trong những hành động vội vã: Chạy nhanh như con sóc, nhảy thót
lên, hôn ba nó cùng khắp, trong lời ước nguyện mua cây lược, tiếng
khóc nức nở…Đó là cuộc hội ngộ chia tay đầy xúc động, thiêng liêng đã
tác động sâu sắc đến bác Ba, mọi người …

+ Sự lý giải nguyên nhân việc hiểu lầm của bé Thu đựợc tác giả thể
hiện thật khéo léo đó là do vết thẹo trên mặt người ba khi hiểu ra sự
thực Thu “nằm im lăn lộn thở dài như người lớn”. Vết thẹo không chỉ
gây ra nỗi đau về thể xác mà còn hằn nên nỗi đau về tinh thần gây ra
sự xa cách hiểu lầm giữa cha con bé Thu. Nhưng chiến tranh dù có tàn
khốc bao nhiêu thì tình cảm cha con anh Sáu càng trở lên thiêng liêng
sâu lặng.

- Khẳng định lại vấn đề: Ngòi bút miêu tả tâm lý khắc hoạ tính cách
nhân vật tinh tế thể hiện được ở bé Thu một cô bé hồn nhiên ngây thơ,
mạnh mẽ cứng cỏi yêu ghét rạch ròi. Trong sự đối lập của hành động
thái độ trước và sau khi nhân ba lại là sự nhất quán về tính cách về
tình yêu thương ba sâu sắc.

- Những năm tháng sống gắn bó với mảnh đất Nam Bộ, trái tim nhạy
cảm, nhân hậu, am hiểu tâm lý của trẻ thơ đã giúp tác giả xây dựng
thành công nhân vật bé Thu.

- Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh, trân trọng
tình cảm gia đình trong cuộc sống hôm nay.

3. Kết bài:

Khẳng định thành công, đồng thời bộc lộ ấn tượng sâu đậm nhất về
nhân vật cũng như toàn bộ tác phẩm.

(Sưu tầm)

Nhân vật anh thanh niên trong "Lặng lẽ Sa Pa"

Trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”, tác giả Nguyễn Thành Long đã gửi
gắm chủ đề của câu chuyện vào một lời nhận xét ngắn gọn “trong cái
lặng im... đất nước”.Hãy phân tích để làm rõ vẻ đẹp của con người lao
động và ý nghĩa cao quý của những công việc thầm lặng.

Dàn ý chi tiết

I. Mở bài:

- Trong văn học Việt Nam có những cây bút văn xuôi chỉ chuyên về
truyện ngắn và ký – Nguyễn Thành Long là một trong số đó. Ông được
khẳng định như một cây bút truyện ngắn và ký đáng chú ý trong những
năm 60 – 70 với cả gần chục sách đã in. “Lặng lẽ Sa Pa” là kết quả của
chuyến “thâm nhập thực tế” ở Lào Cai của tác giả trong mùa hè năm
ấy.

- Trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”, tác giả Nguyễn Thành Long đã gửi
gắm chủ đề của câu chuyện “trong cái lặng im... đất nước”. Điều ấy sẽ
được thấy rõ qua nhân vật: anh thanh niên; ông...

II. Thân bài:

- Đọc truyện, người đọc thấy vẻ đẹp của Sa Pa hiện lên thật độc đáo,
đầy chất thơ, nhưng truyện còn giới thiệu với chúng ta về vẻ đẹp của
con người Sa Pa. Đó là những con người miệt mài làm việc, nghiên cứu
khoa học, trong lặng lẽ mà rất khẩn trương vì lợi ích của đất nước, vì
cuộc sống của con người.

1. Đó là anh thanh niên:

- Nhân vật chính trong truyện làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa
cầu. Sống một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2600m, quanh năm suốt
tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa. Công việc của anh là: đo gió, đo
mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dựa vào công việc báo
trước thời tiết hàng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu.

- Vượt lên hoàn cảnh sống, những vất vả của công việc, anh có những
suy nghĩ rất đẹp:

+ Đối với công việc, anh yêu nó tới mức trong khi mọi người còn ái ngại
cho cuộc sống ở độ cao 2600m của anh thì anh lại ước ao được làm
việc ở độ cao trên 3000m. Vì anh cho như vậy mới gọi là lý tưởng.

+ Anh có những suy nghĩ thật đúng và sâu sắc về công việc đối với
cuộc sống con người: “khi ta làm việc, ta với công việc là một, sao lại
gọi là một mình được” và anh hiểu rằng công việc của anh còn gắn với
công việc của bao anh em đồng chí dưới kia. “Công việc của cháu gian
khổ thật đấy chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất”.

+ Quan niệm của anh về hạnh phúc thật là đơn giản nhưng cũng thật
đẹp. Khi biết một lần do phát hiện kịp thời một đám mây khô mà anh
đã góp phần vào chiến thắng của không quân ta bắn rơi được máy bay
Mỹ trên cầu Hàm Rồng, anh thấy mình “thật hạnh phúc”.

+ Cuộc sống của anh không cô đơn buồn tủi như người khác nghĩ. Bởi
anh còn biết tạo niềm vui trong công việc, đó là đọc sách. Vì sách
chính là người bạn để anh “trò chuyện”. Nhờ có sách mà anh chống
trọi được với sự vắng lặng quanh năm. Nhờ có sách mà anh tiếp tục
học hành, mở mang kiến thức.

- Từ những suy nghĩ đẹp về công việc, hạnh phúc và cuộc sống, ở anh
còn có những hành động thật đẹp đẽ biết bao:

+ Mặc dù chỉ có một mình, không người giám sát, anh đã vượt qua
những gian khổ của hoàn cảnh, làm việc một cách nghiêm túc, tự giác
với tinh thần trách nhiệm cao. Nửa đêm, đúng giờ “ốp”, dù mưa tuyết
giá lạnh thế nào anh cũng trở dậy ra ngoài trời làm việc. Ngày nào
cũng vậy, anh làm việc một cách đều đặn, chính xác đủ 4 lần trong
một ngày vào lúc 4 giờ, 11 giờ, 7 giờ tối và 1 giờ sáng.

+ Nhưng cái gian khổ nhất là vượt qua được sự cô đơn, vắng vẻ quanh
năm suốt tháng một mình trên đỉnh núi cao, không một bóng người.
Mới đầu, anh “thèm người” tới mức phải lấy cây chắn ngang đường ô tô
để được nghe tiếng người ! Về sau anh nghĩ: “Nếu đó chỉ là nỗi nhớ
phồn hoa đô thị thì thật xoàng” và anh đã vượt qua để sống, làm việc
một mình với cỏ cây thiên nhiên Sa Pa, để trở thành: “con người cô độc
nhất thế gian” mà bất cứ ai đã một lần gặp anh đều mang theo ấn
tượng đẹp đẽ.

- Anh còn có một nếp sống đẹp: Anh tự sắp xếp cuộc sống một mình ở
trạm một cách ngăn nắp: có một vườn rau xanh tốt, một đàn gà đẻ
trứng, một vườn hoa rực rỡ.

- Ở người thanh niên ấy còn có một phong cách sống rất đẹp:

+ Đó là sự cởi mở, chân thành với khách, rất qúy trọng tình cảm của
mọi người, khao khát được gặp gỡ, được trò chuyện. Dẫu phải sống
một mình nhưng anh vẫn luôn quan tâm tới người khác: anh gửi biếu
gói tam thất cho vợ bác lái xe vừa bị ốm, tặng hoa cho cô gái, mời bác
lái xe và ông hoạ sĩ uống trà, tặng cho người đi xa một giỏ trứng gà
tươi.

+ Anh còn là người khiêm tốn, thành thực cảm thấy công việc và
những đóng góp của mình chỉ là nhỏ bé. Khi ông hoạ sĩ muốn vẽ chân
dung anh, anh nhiệt tình giới thiệu với ông những người khác mà anh
cho rằng đáng cảm phục hơn anh.

2) Ta còn bắt gặp ở đất Sa Pa những con người làm việc âm thầm, lặng
lẽ cho đất nước qua lời kể của anh thanh niên:

A) Đó là ông kỹ sư vườn rau: Ngày này qua ngày khác ngồi trong vườn,
chăm chú rình xem cách lấy mật của ong để rồi tự tay thụ phấn cho
hàng vạn cây su hào để hạt giống làm ra tốt hơn, để xu hào trên toàn
miền Bắc ta ăn được to hơn, ngọt hơn trước.

B) Đó là anh cán bộ nghiên cứu sét: Đã “11 năm không một ngày xa cơ
quan” luôn “trong tư thế sẵn sàng, suốt ngày chờ sét” để lập bản đồ
tìm ra tài nguyên trong lòng đất. Những con người ấy làm cho anh
thanh niên thấy “cuộc đời đẹp quá” đâu còn buồn tẻ “cô độc nhất thế
gian”. Đúng như tác giả đã viết: “Trong cái lặng im... cho đất nước”.

3) Nhân vật anh thanh niên, ông kỹ sư vườn rau, anh cán bộ nghiên
cứu sét giúp ta hiểu thêm ý nghĩa của những công việc thầm lặng:

- Sống cống hiến cho dân tộc, cho nhân dân, sống có ý nghĩa sẽ mang
đến cho con người niềm vui và hạnh phúc.

- Cuộc sống lao động giản dị nhưng cao đẹp làm nên vẻ đẹp đích thực
của mỗi con người, có sức thuyết phục lan toả với những người xung
quanh.

III. Kết bài:

Qua phần phân tích trên ta thấy “Lặng lẽ Sa Pa” đang ngân vang trong
lòng ta những rung động nhẹ nhàng mà thú vị về những con người âm
thầm lặng lẽ nhưng thật đáng yêu. Họ đã dệt lên bài ca về tình yêu tổ
quốc, tình yêu đất nước.
Sưu tầm

Phân tích những phẩm chất cao đẹp, đáng quý ở anh thanh
niên.

Hướng dẫn: Phân tích những phẩm chất cao đẹp, đáng quý ở
anh thanh niên
.

Anh thanh niên có những suy nghĩ và quan niệm đúng đắn về công
việc và cuộc sống.

+ Công việc là niềm vui, niềm đam mê cháy bỏng.

+ Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi mang lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi
người.

Anh thanh niên có những hành động cao đẹp.

+ Vượt qua mọi khó khăn thử thách để làm quen với cuộc sống chỉ có
một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2.600 m.

+ Dồn tất cả thời gian công sức, tự nguyện tự giác hoàn thành xuất sắc
công việc vốn hết sức vất vả và đơn điệu.

Anh thanh niên có phong cách sống rất đáng quý, đáng trân trọng.
+ Tổ chức cuộc sống ngăn nắp, khoa học, phong phú cả về vật chất và
tinh thần.

+ Khiêm tốn, cởi mở, chân thành với mọi người.

Đánh giá nhân vật, phát biểu cảm nghĩ.

Nhân vật anh thanh niên tiêu biểu cho những con người lao động mới,
sống có lý tưởng, vô tư, lặng thầm, cống hiến hết mình cho đất nước.
Nhân vật anh thanh niên giúp ta hiểu thêm về thế hệ cha anh đi trước
trong một giai đoạn lịch sử của dân tộc.

Trân trọng, khâm phục những nhân vật đáng quý, đáng mến trong
“Lặng lẽ Sa Pa”, ta nghĩ tới trách nhiệm, hành động của thanh niên
chúng ta trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới.

(Nguồn: Internet)

Phân tích truyện ngắn Làng (Kim Lân)

Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài sinh năm 1921, quê ở Hà Bắc. Là
nhà văn chuyên viết truyện ngắn, ông đã có sáng tác đăng báo từ
trước cách
mạng tháng 8. Là nhà văn am hiểu sâu sắc, gắn bó với nông dân và
nông thôn, Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt nông thôn và cảnh
ngộ của người nông dân. Truyện ngắn “Làng” là một trong những
truyện ngắn hay nhất của Kim Lân được viết trong thời kì đầu của cuộc
khánh chiến chống Pháp (1948). Đây là một tác phẩm độc đáo viết về
lòng yêu nước của ông Hai Tu, lòng yêu nước này xuất phát từ tình yêu
quê hương, yêu làng sâu sắc của ông. Tình cảm và ý nghĩa này đã trở
thành phổ biến ở mỗi người nông dân VN ta trong những ngày đầu
chống Pháp.

Ông Hai yêu cái làng chợ Dầu của ông thật đậm đà, tha thiết , yêu đến
nỗi đi đâu ông cũng khoe về cái làng của ông. Kể về làng chợ Dầu, ông
nói một cách say sưa mà không cần biết người nghe có chú ý hay
không. Ông khoe làng ông có nhà ngói san sát, sầm uất, đường trong
làng lát toàn bằng đá xanh, trời mưa đi từ đầu làng đến cuối xóm bùn

không dính đến gót chân. Tháng 5 ngày 10 phơi rơm và thóc tốt thượng
hạng, không có lấy một hạt thóc đất. Ông còn tự hào về cái sinh phần
của tổng đốc làng ông. Ông tự hào, vinh dự vì làng mình có cái nét độc
đáo, có bề dày lịch sử. Nhưng khi cách mạng thành công, nó đã giúp
ông hiểu dc sự sai lầm của mình. Và từ đó, mỗi khi khoe về làng là ông
khoe về những ngày khởi nghĩa dồn dập, những buổi tập quân sự có cụ
râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập. Ông còn khoe cả những hố ,
những ụ, những hào,... lắm công trình không để đâu hết.

Chính cái tình huống ngặt nghèo khi giặc tràn vào làng, ông buộc phải
xa làng. Xa làng ông mang theo tất cả nỗi niền thương nhớ. Vì vậy, nên
lúc tản cư, ông khổ tâm day dứt khôn nguôi. Quả thật, cuộc đời và số
phận của ông Hai thật sự gắn bó với buồn vui của làng. Tự hào và yêu
nơi “ chôn rau cắt rốn” của mình trở thành một truyền thống và tâm lý
chung của mọi người nông dân thời bấy giờ. Có thể tình yêu nước của
họ bắt nguồn từ cái đơn giản, nhỏ : cây đa, giếng nướ, sân đình… và
nâng cao lên đó chính là : tình yêu đất nước. Tới đây, là chợt nhớ đến
câu nói bất hủ của nhà văn I-li-a Ê-ren-bua : “lòng yêu nhà, yêu làng
xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu TQ “. Những ngày ở làng Thắng,
ông Hai suốt ngày ra trụ sở để nghe ngóng tin tức về làng chợ Dầu và
ông nghe tin cả làng ông Việt gian theo tây. Cổ ông lão “ nghẹn ắng
lại, da mặt tê rân rân” ông lão lặng đi, tưởng như không thể thở được.
Ông cảm thấy đâu đớn và nhục nhã vì cái làng chợ Dầu yêu quý của
mình theo giặc. Ông nguyền rủa bọn theo Tây : “chúng bay ăn miếng
cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để
nhục nhã thế này”. Cũng chình từ lúc ấy, ông không dám đi đâu hết,
suốt ngày ru rú trong nhà và nghe ngóng tin tức. Đến khi mụ chủ nhà
đến báo không cho gia đình ông ở nữa, ông thấy tuyệt đường sinh sống
và ông nảy ra ý định: “hay là quay về làng ?” nhưng rồi ý nghĩ đó lập
tức bị ông lão phản đối ngay vì : “ làng thì yêu thật, nhưng làng theo
Tây thì phải thù.” Có thể nói với ông Hai, làng và nước bay giờ đã trở
thành đối địch. Hai tình cảm này đã dẫn đến cuộc xung đột nội tâm
trong lòng ông. Nhưng trong đó, tình yêu đất nước được ông Hai đặt lên
trên hết.

Phải thực sự am hiểu sâu sắc về con người, nhất là tâm lí của người
dân thì Kim Lân mới diễn tả đúng tâm trang nhân vật như vậy. trong
những ngày này, nỗi niềm và tâm sự của ông được thể hiện trong
những lời trò chuyện của ông với đứa con út. Trò chuyện với con như là
để thanh minh cho làng mình. Ông hỏi con: “con ủng hộ ai?” Thằng bá
giơ tay mạnh bạo và rành rọt: “ Ùng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm”.
Cái lòng của bố con ông là thế đấy “chết thì chết có bao giờ dám đơn
sai”.

Thế rồi, một tin khác lại đính chính rằng làng ông không theo giặc.
Những nỗi lo âu, xấu hổ tan biến. Thay vào đó là nỗi vui mừng, sung

sướng. Ông đi từ đầu làng đến cuối xóm khoe cái tin làng mình không
theo giặc, khoe cả cái việc nhà ông bị đốt cháy một cách sung sướng,
hả hê: “ bác Thứ đâu rồi ! Bác Thứ làm gì đấy ? Tây nó đốt nhà tôi rồi
bác ạ. Đốt nhẵn ! ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính,
ông ấy cho biết… cái tin, cái tin làng chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy
mà. Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả” Qua lời khoe củ ông Hai,
điều làm ta cảm động đó là ông không hề tiếc hay buồn khi ngôi nhà
của ông bị đốt . Niềm vui vì làng không theo giặc đã choáng hết tâm trí
ông. Mọi đau khổ, buồn tủi đã được rũ sạch.

Quả thật, Kim Lân rất thành công trong việc khắc họa hình ảnh của ông
Hai, một trong những người dân bấy giờ, đơn giản, chất phác, tiêu biểu
cho tầng lớp nông dân VN sau cách mạng tháng 8. Họ đã đặt tình yêu
đất nước lên trên tình yêu làng. Kim Lân thật thành công trong nghệ
thuật xây xựng truyện, nhất là nghệ thật sử dụng ngôn ngữ nhân vật
mà ông Hai là điển hình. Lời nói của ông hai đúng là lời nói của những
người nông dân thời bấy giờ, kể cả những từ dung sai: “bác Thứ đâu
rồi… Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả”. Bên cạnh đó Kim Lân
còn thành công trong việc miêu tả tâm lý nhân vật. Diễn biến tâm lý
của ông Hai từ đầu đến cuối truyện thật cảm đông. Yêu làng đến nỗi đi
đâu cũng khoe về làng. Khi biết làng bị tình nghi theo giặc thì ông đau
khổ, tủi nhục, và khi biết làng mình không theo giặc, ông sung sướng,
thậm chí còn khoe cả tin nhà mình bị đố cháy một cách vui sướng, hả
hê. Xây dựng được những chi tiết ấy, miêu tả sự phát triển tâm lý nhân
vật như vậy, Kim Lân đã chứng tỏ được tài nghệ của mình.

Truyện “Làng” là một tác phẩm khá thành công khi viết về lòng yêu
nước, yêu làng của người nông dân VN thời kháng chiến chống Pháp.
Kim Lân đã thể hiện được tài năng của mình qua tác phẩm này. Đọc
tác phẩm giúp ta hình dung được một thời kỳ chống Pháp sôi nổi của
nhân dân, mọi người một lòng theo Bác, theo Đảng khánh chiến đến
cùng, có lẽ vì vẫy mà cuộc chiến của ta đã dành được thắng lợi vẻ
vang.

Dàn ý:

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->