Phân tích một số bài văn lớp 9

Chuyện người con gái Nam Xương Đề 1: Trong truyện “Người con gái Nam Xương”, nhân vật Trương Sinh vội tin câu nói ngây thơ của con trẻ đã nghi oan cho Vũ Nương ruồng rẫy và đánh đuỗi nàng đi. Vũ Nương bị oan ức nên nhảy xuống sông tự vẫn. Em hãy đọc kĩ lại tác phẩm và tìm xem có những chi tiết nào trong truyện tác giả muốn hé mở khả năng có thể tránh được thảm kịch đau thương cho Vũ Nương. Những nguyên nhân nào làm cho thảm kịch đó vẫn diễn ra dẫn đến cái chết đau thương cũa người phụ nữ đức hạnh? Em hãy bình luận về nguyên nhân cái chết đó . HƯỚNG DẪN 1. Đọc kĩ tác phẩm, nắm vững chi tiết, độc lập suy nghĩ để tìm ra những chi tiết mà đề yêu cầu. Tài thắt nút và mở nút là ở chỗ ấy. Mỗi em tìm tòi theo cách của mình miễn là hợp lí. 2. Bình luân về nguyên nhân cái chết của Vũ Nương. Có nguyên nhân trực tiếp do tính nết cá nhân của Trương Linh và nguyên nhân sâu xa của chế độ xã hội từ đó tìm ra ý nghĩa tố cáo và nhân đạo của tác phẩm. BÀI VIẾT THAM KHẢO “Truyền kì mạn lục” là một tác phẩm có giá trị của văn học cổ nước ta thế kỉ XVI, một tập truyện văn thơ đầu tiên bằng chữ Hán ở Việt Nam. Truyện “Người con gái Nam Xương” là một truyện hay trong tác phẩm. Truyện kể rằng, Vũ Thị Thiết là một phụ nữ đức hạnh ở Nam Xương, chồng là Trương Linh, người nhà giàu nhưng không có học, tính lai đa nghi. Triều đình bắt lính, Trương Linh phải tòng quân trong khi vợ đang mang thai. Chồng đi xa mới được mười ngày thì nàng sinh con trai đặt

tên là Đản. Năm sau, giặc tan, việc quân kết thúc, Trương Linh trở về thì con đã biết nói, nhưng đứa trẻ nhất định không nhận Trương Linh làm bố. Nó nói: “Ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư ? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ thin thít. Trước đây thường có một ông đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.” Tính Trương Linh hay ghen, nghe con nói vậy đinh ninh rằng vợ hư, đã vu oan cho Vũ Nương, ruồng rẫy và đánh đuổi nàng đi. Vũ Nương bị oan ức đã nhảy xuống sông tự vẫn. Đọc kĩ tác phẩm, em thấy truyện không phải không hé mở khả năng có thể dễ dàng tránh được thảm kịch đau thương đó. Tài kể chuyện của tác giả là ở chỗ đó, cởi ra rồi lại thắt vào đẩy câu chuyện đi tới, khiến người đọc hứng thú theo dõi và suy nghĩ, chủ đề của tác phẩm từng bước nổi lên theo dòng kể của câu chuyện. Lời con trẻ nghe như thật mà chứa đựng không ít điều vô lí không thể tin ngay được, nếu Trương Sinh biết suy nghĩ, người cha gì mà lạ vậy: “không biết nói, chỉ nín thin thít” chẳng bao giờ bế con mình, mà hệt như “cái máy” - “mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi”. Câu nói đó của đứa trẻ chẳng phải là một câu đố, giảng giải được thì cái chết của Vũ Nương sẽ không xảy ra. Nhưng Trương Linh cả ghen, ít học, thiếu suy nghĩ, đã vô tình bỏ dở khả năng giải quyết tấm thảm kịch, dẫn tới cái chết oan uổng của người vợ mà chàng không phải không có tình yêu thương. Tất nhiên sự đời có thế mới thành chuyện, vả lại trên đơì làm gì có sự ghen tuông sáng suốt. Bi kịch có thể tránh được khi vợ hỏi chuyện kia ai nói, chỉ cần Trương Sinh kể lại lời con nói mọi chuyện sẽ rõ ràng. Vũ Nương sẽ chứng minh cho chồng rõ ở một mình nàng hay đùa với con trỏ vào bóng mình và nói là cha Đản. Mãi sau này, một đêm phòng không vắng vẻ, ngồi buồn dưới bóng đèn khuya, chợt người con chỉ vào bóng mình trên vách mà bảo đó là cha nó, Trương Linh mới tỉnh ngô, thấu hiểu nỗi oan của vợ thì mọi chuyện đã xong. Vũ Nương không còn nữa trên đời. Câu chuyện bắt đầu từ một bi kịch gia đình, một chuyện trong nhà, một vụ ghen tuông. Không ít tác phẩm xưa nay đã viết về cái chuyện thường tình đầy tai hoạ này. Vũ nương không may lấy phải người chồng cả ghen, nguyên nhân trực tiếp dẫn nàng đến cái chết bi thảm là “máu ghen” của người chồng nông nổi. Nhưng sự thực vẫn là sự thực!cái chết oan uổng quá và người chồng độc đoán quá! Một phụ nữ đức hạnh, tâm hồn như ngọc sáng mà bị nghi oan bởi một

chuyện không đâu ở một lời con trẻ, một câu nói đùa của mẹ với con mà phải tìm đến cái chết bi thảm, ai oán trong lòng sông thăm thẳm. Câu chuyện đau lòng vượt ra ngoài khuôn khổ cuả một gia đình, nó buộc chúng ta phải suy nghĩ tới số phận mong manh của con người trong một xã hội mà những oan khuất, bất công, tai hoạ có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối với họ mà những nguyên nhân dẫn đến nhiều khi rất lạ lùng không thể lường trước được. Đó là xã hội phong kiến ở nước ta, nhất là ở thời nó đã suy vong. Xã hội đó đã sinh ra những chàng Trương Sinh, những người đàn ông đặc đầu óc “nam quyền”, chà đạp lên quyền sống của người phụ nữ. Tính ghen tuông của cá nhân cộng với tư tưởng “nam quyền” trong xã hội đã làm nên một Trương Sinh độc đoán đến kỳ cục, khư khư theo ý riêng, nhất thiết không nghe ý kiến của người khác. Đứa trẻ nói thì tin ngay, còn vợ than khóc giãi bày thống thiết thì nhất định không tin, họ hàng, làng xóm phân giải công minh cũng chẳng ăn thua gì. Hậu quả là cái chết thảm thương của Vũ nương mà nguyên nhân sâu xa là chế độ phong kiến bất công cùng chế độ “nam quyền” bất bình đẳng của nó đã gây ra bao nhiêu tai hoạ cho người phụ nữ nói riêng và con người thời đó nói chung.

Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải Mở bài “Nếu là con chim, chiếc lá, Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh Lẽ nào vay mà không trả, Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.” (Tố Hữu) Tố Hữu – nhà thơ cùng quê hương xứ Huế với Thanh Hải – đã viết trong bài “Một khúc ca xuân” những lời tâm niệm thật chân thành, giản dị và tha thiết. Đó là “lặng lẽ dâng cho đời”. Còn Thanh Hải khi viết bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” trước lúc ra đi, không những đã giải bày những suy ngẫm mà còn mong ước được dâng hiến một mùa xuân nho nhỏ của mình cho mùa xuân vĩ đại của đất nước Việt Nam. Sinh ra, lớn lên, hoạt động cách mạng và tham gia công tác văn nghệ suốt hai thời kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ngay chính trên quê hương ruột thịt của mình. Ở địa diểm nào, hoàn cảnh nào ông cũng thể hiện được lẽ sống của mình. Đó là sự giản dị, chân thành, yêu người và khát vọng dâng hiến sức mạnh cho đời như chính cuộc sống và tâm hồn ông. Chúng ta có thể coi bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là món quà cuối cùng mà Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc

Một từ “Ơi” đặt ở đầu câu. Một nét đặc trưng nơi xứ Huế là hình ảnh màu tím. Từng giọt long lanh rơi. Tôi đưa tay tôi hứng”. Cảm xúc về mùa xuân mở ra thật ngỡ ngàng. Từ “giọt” . Tôi đưa tay tôi hứng”. Một màu tím thật gợn nhẹ như màu tím hoa sim mọc giữa con sông xanh biếc hay như những tà áo dài với màu tím thật nhẹ nhàng của những cô gái Huế. trẻ trung hơn. nhà thơ vẫn nghĩ đến một mùa xuân bất diệt. thánh thoát hơn: “Ơi con chim chiền chiện Hót cho mà vang trời. Chính vì vậy nó bâng khuâng. yêu quê hương đất nước và còn là một Thanh Hải sống cho thơ và sống cho đời. không gian như tươi tắn hơn. thân thương của Huế vào nhạc điệu của thơ. thiết tha và thanh thản. Ơi con chim chiền chiện Hót cho mà vang trời. không hề gợn một nét u buồn nào của một cuộc đời sắp tắt. yêu cuộc sống. Phân tích Hình ảnh của một mùa xuân rất Huế đã được tác giả mở đầu cho bài thơ: “Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc.về cõi vĩnh hằng. bất ngờ. một từ “chi” đứng sau động từ “hát” đã đưa cách nói ngọt ngào. tha thiết và sâu lắng hơn tất cả để cuối cùng thể hiện một Thanh Hải yêu người. muôn thuở và nguyện dâng hiến cho đời. Thân bài Giới thiệu chung Trước lúc vĩnh viễn ra đi ông cũng để lại cho đời những vần thơ thật nhân hậu. Khi cuộc đời mình đã bước vào cuối đông. Từng giọt long lanh rơi. Trong không gian vang vang vui tươi của tiếng chim càng đậm đà chất Huế hơn nhờ dùng đúng chỗ những ngôn từ đặc trưng xứ Huế.

Mùa xuân người ra đồng. dân tộc.được hiểu theo rất nhiều nghĩa: có thể là “giọt nắng bên thềm”. trải qua biết bao vất vả và gian lao để vươn lên phía trước và mãi khi mùa xuân về lại được tiếp thêm sức sống để bừng dậy. mạch thơ đã chuyển một cách tự nhiên sang bày tỏ suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa xuân của đất nước. Lộc giắt đầy trên lưng. Với hình ảnh “người cầm súng” và “người ra đồng”. đất nước thường gợi lên ở mỗi con người niềm khát khao và hi vọng. giọt mưa xuân. sẽ đến với một tầm cao mới mà không có sự dừng chân ngơi nghỉ. đất nước. Tất cả như hối hả. hay chính họ đã đem mùa xuân đến cho mọi miền của tổ quốc thân yêu. tin yêu của Thanh Hải đối với đất nước. Lộc trãi dài nương mạ. điệp ngữ như nhấn mạnh và kết thúc một khổ thơ bằng dấu ba chấm. giọt sương sớm hay cả tiếng hót của những chú chim chiền chiện. Từ cảm xúc của thiên nhiên. Một từ “hứng” cũng đủ diễn tả sự trân trọng của nhà thơ đối với vẻ đẹp của trời. Từ mùa xuân của thiên nhiên đất trời. nhân dân và đất nước. với Thanh Hải cũng thế. Sức sống của “mùa xuân đất nước” còn được cảm nhận qua nhịp điệu hối hả. đồng thời cũng thể hiện cảm xúc trọn vẹn của Thanh Hải trước mùa xuân của thiên nhiên đất trời. của sông. Mùa xuân của thiên nhiên. được hình dung qua hình ảnh so sánh rất đẹp: “Đất nước bốn ngàn năm Vất và vào gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước” Đó chính là lòng tự hào. biểu tượng của hai nhiệm vụ: chiến đấu bảo vệ tổ quốc và lao động tăng gia để xây dựng đất nước với những câu thơ giàu hình ảnh và mang tính gợi cảm: “Mùa xuân người cầm súng. Tác giả đã sử dụng biện pháp điệp từ. lạc quan. của chim muông hoa lá. sẽ phát triển. Tất cả như xôn xao…” Hình ảnh mùa xuân của đất trời đọng lại trong lộc non đã theo người cầm súng và người ra đồng. Những giọng thơ ấy rất giàu sức suy tưởng và làm say đắm lòng người. Nhưng đối với khung sắc trời xuân thì giọt xuân càng làm tăng thêm vẻ đẹp và sự quyến rũ của nó. Phải chăng dấu ba chấm như còn muốn thể hiện rằng: đất nước sẽ còn đi lên. tác giả đã chuyển cảm nhận về mùa xuân của cuộc sống. . những âm thanh xôn xao của đất nước bốn ngàn năm.

Vì sao có sự thay đổi như vậy? Ta ở đây là nhà thơ và cũng chính là tất cả mọi người. Thanh Hải đã thể hiện hết mình vì lòng tin yêu cuộc sống và khiêm tốn hiến dâng cho đất nước. “Một mùa xuân nho nhỏ” cuối cùng của Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc ông bước vào thế giới cực lạc. Một nốt trầm xao xuyến” Lời thơ như ngân lên thành lời ca. nhỏ nhẹ. Già . ở mọi lứa tuổi. Khát vọng của ông là được làm con chim hót. Ta nhập vào hoà ca. “Dù là tuổi hai mươi” khi mới tham gia kháng chiến cho đến khi tóc bạc là thời điểm hiện thời vẫn lặng lẽ dâng hiến cho đời và bài thơ này là một trong những bài thơ cuối cùng. chứ đâu phải của riêng ai. trẻ . chân thành của tác giả nên lời thơ dễ dàng được mọi người tiếp nhận và chia sẻ cho nhau: “Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc”. giản dị và tha thiết – xin được làm một nốt trầm trong bản hoà ca của cuộc đời nhưng là “một nốt trầm xao xuyến”.cống hiến sức trẻ để không bao giờ thất vọng trước chính bản thân mình.đây chính là thời điểm mà ông nhìn lại cuộc đời và bộc bạch tâm niệm thiết tha của một nhà cách mạng. Hiến dâng “mùa xuân nho nhỏ” nghĩa là tất cả những gì tốt đẹp nhất. Nam Bình . Nếu như đoạn đầu Thanh Hải xưng tôi kín đáo và lặng lẽ thì đến đoạn này ông chuyển giọng xưng ta. Thật cảm động và kính phục biết bao khi đọc những vần thơ như lời tổng kết của cuộc đời. Điều tâm niệm đó thật chân thành. bởi vậy. quê hương với một khát vọng cân thành và tha thiết: “Ta làm con chim hót. góp một nốt trầm vào bản hoà ca bất tận của cuộc đời. dù nhỏ bé của mỗi người cho cuộc đời chung cho đất nước. chuẩn bị ra đi mãi mãi. cho cuộc đời. một cành hoa để hoà nhập vào “mùa xuân lớn” của đất nước. một nhà thơ đã gắn bó trọn đời với đất nước.cống hiến tuổi già. xuất phát từ tiếng lòng thiết tha. Đã gọi là cống hiến cho đời thì dù ở tuổi nào đi chăng nữa cũng phải luôn biết cố gắng hết tâm trí để phục vụ và hiến dâng cho quê hương. đất nước mến yêu của chính mình. Kết thúc bài thơ bằng một âm điệu xứ Huế: điệu Nam ai. Ta làm một cành hoa. Điều tâm niệm của tác giả: “lặng lẽ dâng cho đời” chính là khát vọng chung của mọi người.

ước nguyện sâu lắng nhất… và bài thơ này cũng chính là những điều đúc kết cả cuộc đời của ông. Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến miền Nam. là nỗi đau không lúc nào nguôi: “Miền Nam trong trái tim tôi”. giàu hình ảnh. Ông đã giải bày. nhạc điệu. thiết tha. Lòng thương nhớ. là “một mùa xuân nho nhỏ” góp vào “mùa xuân lớn” của đất nước của cuộc đời chung và bài thơ cũng có ý nghĩa hơn khi Thanh Hải nói về “mùa xuân nho nhỏ” nhưng nói được tình cảm lớn. miền Nam là niềm vui. sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường.mênh mang tha thiết./. một câu chân tình thắm thiết “Mùa xuân ta xin hát Câu Nam ai. Kết bài Tóm lại bài thơ đã sử dụng thể thơ năm chữ. Nét đặc sắc của bài thơ là ở chỗ nó đề cập đến một vấn đề lớn và quan trọng “nhân sinh”. ngày đêm thương nhớ miền Nam. những xúc động của chính tác giả và của cả chúng ta. cùng chung một nhịp đập với thơ để ông và thơ luôn được cùng nhau. khi Bắc Nam sum họp một nhà thì Bác không còn nữa. Nhưng tiếc thay. đất nước. nỗi niềm đau đớn của đồng bào và chiến sĩ miền Nam dồn nén bao nhiêu năm đã được nhà thơ Viễn Phương thể hiện trong bài Viếng lăng Bác. hiểu nhau và giải bày cho nhau. vừa giàu sức . Nhà thơ ước nguyện làm một “mùa xuân” nghĩa là sống đẹp. giọng điệu đã thể hiện đúng tâm trạng. Nguồn: ST Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác Sinh thời. Nam Bình Nước non ngàn dặm tình Nước non ngàn dặm mình Nhịp phách tiền đất Huế” Đánh giá chung Những lời tâm sự cuối cùng của người sắp mất luôn là những lời thực sự. Với Bác. là lời ngợi ca đất nước. Bài thơ không những chỉ thể hiện dòng cảm xúc trào dâng của nhà thơ mà còn thể hiện hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh bằng những hình ảnh vừa quen thuộc. là hạnh phúc. Niềm mong mỏi thiết tha của Bác là miền Nam mau được giải phóng. Miền Nam cũng ngày đêm thương nhớ Bác. cảm xúc của tác giả. cất trúc thơ chặt chẽ. bằng giọng văn nhỏ nhẹ như một lời tâm sự. và chính lúc đó Thanh Hải đã thả hồn vào thơ. tâm tình những điều sâu kín nhất trong lòng. mang âm hưởng dân ca nhẹ nhàng tha thiết. vấn đề ý nghĩa cuộc sống của mỗi cá nhân được Thanh Hải thể hiện một cách chân thành. gửi gắm của mình với cuộc đời. mong ngày giải phóng để được gặp Bác kính yêu. biểu hiện niềm tin yêu và gắn bó sâu nặng của tác giả với quê hương. luôn chứa chan tình cảm.

Viễn Phương đã nói hộ chúng ta một chân lý: Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong lòng nhân dân ta. kiên cường. trong tâm khảm nhà thơ. đời đời gắn bó với quê hương làng xóm. Bài thơ ra đời năm 1976. Hình ảnh đầu tiên trong lăng làm nhà thơ xúc động là hình ảnh hàng tre: Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng Hàng tre bát ngát cuốn hút cảm xúc của nhà thơ. là niềm tự hào. như Bác Hồ suốt đời sống giản dị nhưng kiên cường tranh đấu vì độc lập tự do của dân tộc. cũng như mọi người Việt Nam. dũng cảm. Ngôn ngữ thơ tuôn trào theo theo dòng cảm xúc chân thành. Tình cảm giữa miền Nam và Bác Hồ luôn luôn là tình cảm ruột thịt “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà” (Tố Hữu) và tình cảm của miền Nam đối với Bác cũng là tình cảm nhớ mong da diết “Miền Nam mong Bác nỗi mong cha” (Tố Hữu). thân thuộc. Bằng cảm xúc chân thực và ngôn ngữ thơ gợi cảm. tha thiết. là biểu tượng anh hùng. ruột thịt của mình bằng câu thơ giản dị: Con ở miềm Nam ra thăm lăng Bác. súc tích nhưng có sức gợi tạo nên sự xúc động cho người đọc.khái quát. cây tre là hình ảnh giản dị. Qua hình ảnh hàng tre quen thuộc tác giả gửi gắm một ý nghĩa tượng trưng nhằm ca ngợi Bác. Viễn phương ra thăm Lăng Bác. Tre kiên cường trong bão táp mưa sa như dân tộc ta vững vàng qua phong ba bão tố. khi lần đầu tiên sau giải phóng miền Nam. Chắc rằng. nỗi nhớ thương. Miền Nam luôn luôn là nỗi đau chia cắt. Hàng tre xanh xanh trong vườn Bác gợi cho người đọc nhiều liên tưởng. vừa lung linh gợi cảm. bất khuất. Mở đầu bài thơ. nhà thơ mang theo cả niềm tự hào đó của đồng bào miền Nam để đến với Bác. . Hàng tre gợi hình ảnh mọi miền quê hương đất nước. là thành đồng Tổ Quốc… Giờ đây. nhất là hình ảnh miền Nam yêu thương. Trong tim Bác và trong tim miền Bắc. ca ngợi dân tộc. Viễn Phương nói với Bác: Con ở miền Nam…. Viễn Phương đã bày tỏ ngay tình cảm sâu nặng. Câu thơ giản dị nhưng bao hàm một ý nghĩa lớn. Bài thơ rất ngắn gọn. Tự đáy lòng của người con đến thăm cha.

bao trùm một một không khí thương nhớ Bác không nguôi. Mặt trời rất đỏ. nghẹn ngào. Lời thơ bỗng dạt dào một cảm xúc tự hào. nhà thơ thật sâu sắc và tinh tế khi tôn quí nhân dân. Ngày ngày… ngày ngày …. thấy Bác nằm nghỉ. Không nhiều lời. rực rỡ nhất. nhà thơ tiếp tục dòng suy tưởng. Nhà thơ đã nói hộ chúng rằng: Bác Hồ là mặt trời cách mạng đẹp nhất. nhưng đối sánh hai hình ảnh mặt trời của Viễn Phương quả là rất độc đáo. Đây là một sáng tạo nghệ thuật có tác dụng bộc lộ nội dung rất hiệu quả.chúa tể của thiên nhiên . đau đớn: Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền. Vẫn biết trời xanh là mãi mãi . nhà thơ liên tưởng đến một hình ảnh rất đẹp: vầng trăng sáng dịu hiền.là mặt trời cách mạng. nhà thơ đã khái quát được hình ảnh Bác Hồ vĩ đại. nhà thơ sững sờ. hình ảnh tượng trưng cho Bác Hồ . Hình ảnh đó đã đưa người đọc vào một thế giới huyền diệu. kính trọng đối với Bác. Mà sao nghe nhói ở trong tim Bác nằm đó như đang trong giấc ngủ bình yên sau bảy mươi chín mùa xuân không hề nghỉ. yêu quí. Cùng với mặt trời ngày ngày đi qua trên lăng là dòng người đi trong thương nhớ. thời gian không ngừng trôi và lòng người Việt Nam không bao giờ nguôi tình cảm nhớ thương. Nhịp thơ chầm chậm như bước chân của dòng người lặng lẽ đi trong suy tưởng. thành kính. Từ ánh điện mờ ở trong lăng. thành kính kết tràng hoa tình yêu dâng bảy mươi chín mùa xuân của Người. mãi mãi chiếu rọi con đường đi tới của dân tộc Việt Nam. . càng gợi ta nghĩ đến tình yêu thiên nhiên. mặt trời . Mỗi người dân là một bông hoa và dòng người đi trong thương nhớ chính là tràng hoa dâng lên Bác. Ngày ngày. Nhiều nhà thơ đã sử dụng hình ảnh mặt trời để thể hiện ánh sáng của lý tưởng cách mạng.thán phục một mặt trời trong lăng rất đỏ. là nguồn ánh sáng rực rỡ không bao giờ tắt.Hoà vào dòng người thăm lăng. “Người ta là hoa của đất”. chói lọi nhất luôn luôn toả sáng trong tâm hồn người Việt Nam. trong sáng và thanh khiết. thương nhớ Bác: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân Ai đã từng một lần đi viếng lăng Bác mới hiểu hết hàm ý trong câu thơ của Viễn Phương. yêu trăng nồng nàn của Bác. chỉ một hình ảnh mặt trời rất đỏ. Đặc biệt xúc động là khi vào trong lăng.

Những hình ảnh đó tượng trưng cho cái vĩ đại. một con người suốt đời hy sinh. thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Muốn làm bông hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. Nhà thơ chia tay Bác trong tiếng khóc nấc nở nghẹn ngào. Nhà thơ đã có nhiều dụng ý khi sử dụng các hình ảnh rất đẹp. thương đến trào nước mắt. “rằm xuân lồng lộng trăng soi”. trời xanh là mãi mãi đã gợi cho người đọc thấy trọn vẹn hình tượng Bác Hồ gần gũi. thanh cao. vừa gần gũi thân thiết với chúng ta.Vầng trăng kia đã bao lần sáng lên trong thơ Người. mãi mãi sống trong sự nghiệp của chúng ta. thanh khiết. Và hơn thế nữa. Vẫn biết rằng Bác như trời xanh. Làm sao ngăn được dòng nước mắt thương nhớ Bác-một con người vừa vĩ đại. bông hoa. cao quý. đến các hình ảnh mặt trời rất đỏ. “trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa…” Giờ đây. chỉ ước muốn biến thành con chim. nhân dân. trời xanh. vì nỗi thiếu vắng Bác. cây tre. gần gũi của Người. Bác như vầng mặt trời rực rỡ. Bác nằm đó. Bác vẫn thấy “trung thu trăng sáng như gương”. nhịp điệu thiết tha. “trăng vào cửa sổ đòi thơ”. nó trào lên dữ dội khi nhà thơ chia tay với Bác: Mai về miền Nam. giữa vầng trăng sáng dịu hiền. trong giấc ngủ bình yên. giữa bão táp mưa sa. nhưng tác giả đã thành công khi sử dụng hàng loạt hình ảnh ẩn dụ mang tính tượng trưng sâu sắc. Ở Bác toả ra ánh sáng của trí tuệ thiên tài và lấp lánh ánh sáng của một tâm hồn cao đẹp. Bài thơ ngắn. một tình cảm yêu quý mãnh liệt. vầng trăng sáng dịu hiền. như vầng trăng sáng dịu hiền. chỉ một chữ nhói cũng đủ nói lên nỗi quặn đau. . Ngoài ra. tất cả các hình ảnh ấy đều gợi cho ta thấy sự bất tử của Bác Hồ. rất lớn lao của vũ trụ: mặt trời. “trăng ngân đầy thuyền”. Đoạn thơ dạt dào tình cảm. Cả khi trong ngục: “Người ngắm trăng soi qua cửa sổ. góp tiếng hót. vầng trăng. cùng với hình ảnh cây tre trung hiếu một lần nữa truyền đến người đọc sự xúc động nghẹn ngào. Nhưng con tim nhà thơ đau đớn vô cùng khi đứng trước Người. trọn vẹn như tình cảm của người con đối với người cha ruột thịt. Các hình ảnh hàng tre xanh xanh. lớn lao của Bác Hồ. làn hương quanh nơi Bác nghỉ cho trọn niềm trung hiếu với Người. thương nhớ không gì bù đắp được vì mất Bác. Cả những khi bận rộn việc nước việc quân. như bầu trời xanh. đất nước. Thương Bác. cống hiến cho dân tộc nay vĩnh viễn nằm lại trong lăng? Nhà thơ lưu lưyến không muốn rời xa Bác. Mà sao nghe nhói ở trong tim. bảy mươi chín mùa xuân. vĩ đại biết bao. Còn hình ảnh hàng tre xanh xanh lại tượng trưng cho cái bình dị. nó còn gợi đến hình ảnh quê hương. Và nỗi đau không còn kìm ném được nữa. trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”. tràng hoa.

địa ngục trần gian của nhà tù ấy. bài Chúc thọ dưới mồ. Trong hai cuộc kháng chiến. cảm xúc nồng nàn chân thực. Âm hưởng của bài thơ ngân vang mãi trong lòng người đọc. không có giấy bút.. làm xúc động hàng triệu trái tim Việt Nam từ 1976 đến nay. Viễn Phương chỉ đọc một vài lần. chỗ này ghi một đoạn. Mãi mãi là vị cha già thân thiết. Dưới đây là cuộc trò chuyện giữa ông và phóng viên VNQĐ PV: Thưa nhà thơ Viễn Phương. nhịp điệu tha thiết. rồi những khi bị địch bắt đi lao động. Lê Văn Duyệt. Hôm nay mười chín tháng năm: Lòng con sáng tựa đêm rằm trung thu Con đang chúc thọ dưới mồ Con đang dựng một rừng cờ trong tim Đêm nay mộng hóa thành chim Bay qua lưới sắt con tìm đến cha Sau này mới biết là thơ Viễn Phương. tôi thấy chi chít những chữ ghi bằng nhiều cách khác nhau. .. Tôi đọc được bài thơ dài. Có những chữ bằng máu. Trên vách chuồng cọp.Người sống mãi trong lòng nhân dân ta. mọi người đều thuộc. cứ vậy thơ Viễn Phương được lan truyền trong nhà tù. Bài thơ được phổ nhạc càng trở nên truyền cảm sâu xa. có những ghi bằng than. trong một lần nào đó. Trong chuồng cọp. lòng kính phục vô hạn của nhà thơ Viễn Phương và của nhân dân ta đối với Bác Hồ mà bài thơ còn diễn tả thành công hình tượng Bác Hồ vĩ đại bằng những hình ảnh đẹp. Viễn Phương sáng tác thầm trong đầu và đọc cho các đồng chí cùng khám nghe. Phải đến bài thơ Viếng Lăng Bác. Kỳ diệu thay. tôi bị bắt buộc phải nằm dưới hầm suốt ngày. chỗ khác ghi một khúc ráp lại rất vần với nhau. tôi được đọc một bài viết của anh Lê Quang Vịnh trên báo Sài Gòn Giải phóng. yêu quý của chúng ta. Viếng lăng Bác không những là tiếng khóc đau đớn. họ lại đọc cho bạn tù ở khám khác nghe. kể rằng: “Lúc tôi 25 tuổi.". và đã sáng tác nhiều bài thơ về Bác Hồ. trong sự nghiệp của chúng ta. Tôi nghĩ rằng đó cũng là hạnh phúc lớn của nhà thơ: Góp phần mình vào công cuộc giải phóng đất nước. bị bọn Mỹ – Diệm kết án tử hình rồi chuyển thành trung thân khổ sai và đày ra Côn Đảo. nghẹn ngào trước sự ra đi của Bác. nhà thơ Viễn Phương hoạt động ở Nam Bộ. Có bài tác giả viết khi bị địch giam cầm ở các trại giam Phú Lợi. Có những dòng được khắc trên vôi bằng cái xương cá mắm. là lòng thương nhớ không nguôi. Viễn Phương mới thực sự có một bài thơ hay về Bác.

ước mơ ấy không được toại nguyện. Tôi nghĩ. Đảng ta đã thực hiện: xây dựng một đất nước Việt Nam hoà bình. Ra khỏi làng. Và. hàng ngày dâng lên Bác rất nhiều nhưng tôi nghĩ đến: . họa. Tuy lời thơ còn mộc mạc nhưng là tấm lòng thành kính của tôi đối với Người. Anh sáng dịu dàng toả xuống như giữa một đêm trăng thanh miền thôn dã. Bác của chúng ta vốn giản dị. Bác nằm đó. Sương toả mênh mông. được các đồng chí trong tù thuộc. tôi ra Hà Nội. Chúng tôi đi từ hướng chùa Một Cột. Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Mặt trời của vũ trụ đối với mặt trời trong lăng. những gốc đào hoa đỏ rực… Tất cả đều thiêng liêng. Đó cũng là hàm chứa sự vĩnh cửu của sự nghiệp Bác Hồ tạo dựng và nhân dân ta.Nhà thơ Viễn Phương: Hồ Chí Minh. nhân dân miền Nam mong muốn đất nước giải phóng để đón Bác vào thăm. tôi được nối vào dòng người vào lăng Bác. Hà Nội lây phây trong gió rét. các nhà thơ sống ở Nam Bộ đều có những tác phẩm viết về Bác. giản dị. Trong nhà tù của giặc. mọi người đều muốn ra thăm miền Bắc. cổ các chiến sĩ trong nhà tù. làm dáng. Hoa tươi là nét đẹp của thiên nhiên. ra thăm miền Bắc. viếng lăng Bác. sâu sắc cũng là bao quát trong thơ Bác. Sáng hôm ấy mưa phùn. thơ. tôi đi như người mộng du và tứ thơ bật ra: Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát. ai cũng muốn dừng thật lâu. Tôi đã viết bài thơ Chúc thọ dưới mồ. Năm 1976. trong sáng. đầy đủ độ chín và ngôn từ. Bác là nguồn động viên. độc lập. những hàng tre xanh sẫm. hiền từ như đang ngủ. đó cũng là tâm tư của nhân dân và chiến sỹ ở Nam Bộ với Bác. Anh có thể cho biết bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nào? Nhà thơ Viễn Phương: Khi Bác còn sống. Khi miền Nam giải phóng. tôi luôn luôn nghĩ về Bác. thống nhất. Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Lời thơ thật giản dị. Người ghét sự cầu kỳ. truyền cho nhau. Giản dị. nhac. Nhưng rồi. thanh thản. dân chủ và giàu mạnh như di chúc của Bác. PV: Phải đến khi đất nước thống nhất. anh mới có Viếng Lăng Bác. vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc ta là nguồn cảm hứng vô tận của người sáng tạo văn. Tôi không cầm nổi nước mắt. Tôi viết như là ý nghĩ của mình. Đến bên Bác. được đến viếng Bác.

Toàn bài Viếng Lăng Bác mang một không khí trang nghiêm. khi bầu trời xanh ngắt lơ lửng những tầng cao. Đây mùa thu tới (Xuân Diệu)… Nhưng nó vẫn có cái hay. nhạy cảm khi mùa thu tới.Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng Bảy mươi chín mùa xuân Dòng người vây quanh Bác trở thành hoa. Tưởng như với đề tài thơ mộng muôn thuở này có thể dễ dàng chắp bút. tôi mới thấy đề tài này thật là khó” Tại sao lại có nghịch lí trong kinh nghiệm của người sáng tác như vậy? Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. Và dâng cho Bảy mươi chín màu xuân. Đoạn kết. không phải cuối thu. cái độc đáo riêng của một hồn thơ sâu lắng. Mùa thu dường như luôn luôn nấp sẵn trong ngòi bút của chúng ta. thành kính. chiến sỹ miền Nam hứa với Bác: Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này (sưu tầm) Sang thu (Hữu Thỉnh) Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. Đó không phải là chính thu. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Nói về đề tài mùa thu. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Sang thu của Hữu Thỉnh xuất hiện khi trước nó đã có rất nhiều bài thơ nổi tiếng đông tây kim cổ: Thu hứng (Đỗ Phủ). khi nắng trời đã nhuộm đỏ . tác giả đã tự xác định một thời điểm miêu tả: thời điểm giao mùa. Chỉ đến khi bắt đầu cầm bút ngồi trước mặt giấy. tôi muốn nói lên tình cảm của nhân dân. nhất là những ngòi bút thơ: hễ động bút là mùa thu cứ chực đổ ùa ra trên mặt giấy. một tác giả đã nhận định: “Đề tài "Mùa Thu" bao giờ cũng có vẻ là dễ viết. là hoa tươi của cuộc sống. Chùm thơ thu (Nguyễn Khuyến). Ngay từ tiêu đề.

Có gió. hay khi cái rét mùa đông đã lẩn vào trong gió…Sang thu nghĩa là mới chớm thu thôi. được gọi một . cường độ… Hàng cây như đã quá quen với nắng lửa mưa giông.. “se”. Đặc biệt ở góc độ miêu tả tạo vật. Song trên hết. duyên dáng nối hai mùa là một liên tưởng thực sự độc đáo. cánh chim. Nhưng hương ổi “thơm” như thế nào thì thi sĩ hoàn toàn không miêu tả. những cánh chim vội vã tìm về phương ấm áp… Song thời điểm chớm thu không phải chỉ hiển hiện ở những dấu hiệu mơ hồ trong trạng thái biến chuyển của cảnh vật. tất cả các dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn nhưng đã giảm dần mức độ.lá bàng. Tinh tế và sống động sao một buổi sáng chớm thu. liễu. nhưng gió se chứ không phải là gió lạnh. Đám mây như tấm khoăn voan của người thiếu nữ. Thành công nổi bật nhất của bài cũng là ở một hệ thống những động từ miêu tả rất giàu cảm giác: “phả”. Có hương ổi. Dòng sông. Se gợi một động thái. Làn sương giăng phủ ngõ thôn chẳng được đặc tả ở mức độ (mù mịt) hay màu sắc (trắng mờ). mùi hương vừa đặc trưng cho mùa vừa đặc trưng cho làng thôn ngõ xóm. sắc nước… Hữu Thỉnh hầu như khơi gợi cảm giác về mùa trong trạng thái mơ hồ của tạo vật. “chùng chình” “dềnh dàng” “bắt đầu vội vã” “vắt nửa mình”… “Chùng chình” trước hết gợi tả chính xác những làn sương như ngưng lại và nhẹ nhàng tỏa lan ngõ xóm. ngô đồng hay màu trời. không còn dữ dội nữa. mà ở cả chút ngỡ ngàng bâng khuâng của lòng người: “Bỗng nhận ra hương ổi”. “Hình như thu đã về”… Tiếp tục thể hiện những dấu hiệu mùa thu rõ rệt hơn nhưng ý nghĩa của khổ cuối không chỉ dừng lại ở đó: Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi Con người cảm thấy biết bao biểu hiện khác biệt của thời tiết khi mùa thu tới: mưa và sấm thưa dần. hệ thống động từ toàn bài còn đặc sắc ở chỗ. Không hề có một từ định tính để miêu tả thế giới thu. Sang thu. cái tứ kết buộc hệ thống hình ảnh trong bài cũng chỉ gói gọn trong chút “chớm” mỏng manh đó. hơn là gợi một cảm giác.. Dòng nước thu vốn trong trẻo và sâu hút làm người ta khó mà thấy rõ được sự chuyển động nó nên cảm giác sông lững lờ trôi cũng rất hiện thực. nó không chỉ miêu tả chính xác trạng thái của tạo vật mà còn thổi vào tạo vật những cảm giác rất người. gió se lại bởi chút lạnh xa xăm. hay đám mây cũng không tô điểm cho phong cảnh thu bằng những gam màu đặc trưng của nó. sương như người khách ngập ngừng nơi đầu ngõ. Truyền thống thơ thường kiến trúc ngôi nhà thu bằng những chất liệu quen thuộc như cúc.

bịn rịn..Tuơng phản với hình ảnh dòng sông à lũ chim :"chim bắt đầu vội vã"."hình như" là 2 tâm trạng của nhà thơ:bất ngờ và bối rối. Cảnh như sâu lắng hơn bởi liên tưởng suy tư về mùa thu đời người. Miền kí ức tuổi thơ được đánh thức bởi mùi hương ổi.bâng khuâng đang đợi chờ 1 nguời nào đó. Cảm xúc của nhà thơ :"Bỗng".những tiếng đập cánh vội vã. Đây xứng đáng là một bài thơ thu hay trong thế giới thi ca! ( Sưu tầm đó) Người ta nói mùa thu là mùa của thi nhận. sấm chớp… hay là những vang động của cuộc đời? Trong tương quan ấy.cách hình ảnh là “hàng cây đứng tuổi”. suy nghĩ tự nhiên của tác giả. .đã về " Ngọn jó se ở đây ta có thể hiểu là ngọn gió heo may se se lạnh ban phát cái hương vị còn sót lại của làng quê.Có phải nhà thơ đang thầm hỏi lòng :thu về từ bao giờ?theo gió hay theo huơng?Thu đến mà ko báo trước để lòng người xao xuyến bâng khuâng Khi cả đất trời vào thu "Sông đựoc lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu " Nhà thơ đã thổi hồn vào cảnh vật để cho dòng sông đc dịp mà thanh thản. bởi ngõ xóm thân quen ấy.bâng khuâng.mà trầm ngâm suy nghĩ. Chính các từ “bất ngờ”.Ta cảm nhận lũ chim như hình dung đc cái lạnh của thu đã về và cuộc hành trình về phương Nam của chúng bắt đầu với những tiếng gọi nhau .Nhà thơ Xuân Diệu khi cảm nhận về mùa thu cũng nói tới cánh chim : "Chim nghe trời rộng giang thêm cánh" .của những bài thơ dịu dàng. Nắng. Không hiểu sao. mưa.. tôi chợt thấy nhớ rất nhiều những năm tháng đã qua của mình. Và có lẽ cũng nhờ giọng điệu êm nhẹ dễ cuốn người đọc vào dòng cảm xúc. “đứng tuổi” khiến ý nghĩa của câu thơ không dừng lại ở nét nghĩa tả thực mà có chiều sâu hơn.những âm thanh.của tình yêu.. hàng cây tượng trưng cho con người từng trải mà bao dâu bể biến đổi không còn đáng ngạc nhiên. Nét độc đáo nhất của bài là những hình ảnh chính xác và giàu sức gợi tạo nên một bức tranh thu giản dị mà sống động. khi đọc bài thơ này.gấp gáp hơn.Giợt sương thu là hình ảnh mang tâm trạng ngập ngừng .Hình ảnh giọt sương thu gợi ta và gợi cảm :"giọt sương chùng chình" gợi tả 1 ngõ nhỏ yên ắng.1 không gian sương khói lãng đãng lúc thu về.huyền ảo qua mỗi vần thơ ở bài Sang Thu của nhà thơ HỮU THỈNH "Bỗng nhận ra.Hương thu thấm đẫm ngọt nào trong vạn vật như đc in dấu lung linh .

chỉ còn lại những giọt nắng và vì vậy sự suy nẫm triết lí của nhà thơ đc thể hiện thật đúng lúc.Đám mây như 1 dãi lụa mềm tạo thành chiếc cầu nối cho nhịp thời gian .Chút nắng còn sót lại của mùa hạ vàng .khổ 2 là những biến đổi của cảnh vật thì khổ 3 là tình thu chan chứa.Những suy ngẫm trong thơ cho ta ý thức sâu hơn về trách nhiệm của con người cuộc đời.Bốn mùa luân chuyển như đời nguời vội vã.Trời đã bớt đi những cơn mưa .tạo dáng.sấm chớp .gợi hình.phải chăng cũng là sự điềm tĩnh bình thản của con người khi đã đi qua bao mưa nắng . Bài thơ là bức tranh mùa thu đẹp để ta yêu mến.Thế nhưng tất cả lắng xuống .Con người lưu luyến chưa muốn chia tay với mùa hạ.tình thu vào nhau thắm thiết.vừa rõ ràng mà lung linh.thu êm đềm vừa chợt đến đám mây vừa ngỡ ngàng như bước qua bờ bên kia .đằm thắm hơn.hình như ko mong đợi mà thu vẫn về. ^__^[IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image001.họ trờ nên nghiêm trang.gif[/IMG] Khoảnh khắc giao mùa có lẽ là khoảnh khắc đẹp đẽ nhất của tự nhiên ."Vẫn còn bao nhiêu nắng. Nếu như ở khổ 1 là cảm nhận về sự kì diệu của mùa thu .chững chạc mang vẻ đẹp sâu lắng kín đáo nhưng kiêu hãnh tự hào. Các hình ảnh nắg.thử thách của cuộc đời .vang động bất thường trong cuộc sống.cám giác như vừa là thực .Chỉ còn kết lại bài thơ hình ảnh hàng cây đứng tuổi gợi bao suy nghĩ sâu xa .lo toan.vừa là ảo.Cảnh thu.tượng trưng cho những bến đổi... đồng điệu .Liên tưởng của nhà thơ làm bầu trời xanh kia trờ nên kì diệu .còn khi bước sang thu.đi vào chừng mực rồi ổn định .cây đứng tuổi" Có thể nhận ra biện pháp tu từ nhân hoá làm câu thơ mang chiều sâu triết lí .nó gieo vào lòng người những rung động nhẹ nhàng khiến ta như giao hoà.Khi chúng ta chưa hết ngỡ ngàng bởi một Xuân Diệu “tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì ” thì đã .Đặc sắc nhất là 2 câu thơ : "Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu" Trong đám mây của mùa thu vẫn còn vương chút nắng hạ nên từ "vắt" đc nhà thơ dùng thật sống động.Hàng cây đứng tuổi vững vàng trước sấm sét .Đời người đã sang thu từ khi nào.mưa ..Hàng cây đứng tuổi hay đó chính là những nguời đã từng trải qua nhiều khó khăn gian nan của cuộc đời.con nguời cũng sang thu.Lúc ngoảnh lại mới thấy mái tóc pha sương và mình đã ko còn trẻ.tự hào về cảnh sắc quê hương đất trời.Con nguời đứng tuổi ko còn sôi nổi như 1 thời trẻ dại mà tâm trạng của họ trờ nên chín chắn . Thiên nhiên sang thu.

gió thu.kéo dài như tấm khăn voan duyên dáng của người thiếu nữ thảnh thơi .cái bỡ ngỡ ban đầu vụt tan biến đi nhường chỗ cho những rung cảm mãnh liệt trước không gian thu vời vợi : Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Sông nước đầy nên mới “dềnh dàng” nhẹ trôi như cố tình chậm lại .Và không chỉ có thế .Không phải là sắc “mơ phai” hay hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác” mà là hương ổi thân quen nơi vườn mẹ đã đánh thức những giác quan tinh tế nhất của nhà thơ : Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se. Nếu ở câu thơ đầu tiên nhà thơ “bỗng nhận ra” thu về khá bất ngờ và đột ngột thì sau khi cảm nhận sương thu . hạ chưa qua hết .gặp một Hữu Thỉnh tinh tế . mong manh của tạo vật trong phút giao mùa cũng êm đềm. Câu thơ có hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ . hữu tình và chứa chan thi vị . bâng khuâng như bước đi nhỏ nhẹ của mùa thu .Tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra mùa thu là “hương ổi”. Mùi hương quê nhà mộc mạc “phả” trong gió thoảng bay trong không gian . chùng chình giăng mắc trên khắp nẻo đường thôn : Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về .trắng xốp .cả sương thu như cũng chứa đầy tâm trạng. vị giòn. bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kỳ diệu của thiên nhiên trong buổi giao mùa . Câu thơ giúp ta hình dung về đám mây mỏng nhẹ . Không gian nghệ thuật của bức tranh thu được mở rộng hơn .hai chữ “chùng chình” diễn tả rất thơ bước đi chầm chậm của mùa thu . hương thơm lựng .những đàn chim vội vã bay về phương nam …Không gian thu thư thái . Sương thu đã được nhân hoá .Câu thơ không chỉ tả mà còn gợi liên tưởng đến màu vàng ươm . ngọt.Cảm giác bất chợt đến với nhà thơ : “bỗng nhận ra” -một sự bất ngờ mà như đã chờ đợi sẵn từ lâu lắm .Câu thơ có tính tạo hình không gian những lại có ý nghĩa diễn tả sự vận động của thời gian : thu bắt đầu sang .thong thả.sâu sắc đến vô cùng qua một thoáng “Sang Thu” . đặc biệt là hình ảnh : Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu .những rung động man mác. Bài thơ là những cảm nhận . thi sỹ vẫn ngỡ ngàng thốt lên lời thầm thì như tự hỏi :Hình như thu đã về!? Tâm hồn thi sỹ nắm bắt những biến chuyển nhẹ nhàng. nhẹ nhàng “ vắt nửa mình sang thu”. chua chua nơi đầu lưỡi của trái ổi vườn quê . mùa .

đất trời : Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi . ^__^ Phân tích bài thơ Sang Thu Mùa thu là một đề tài muôn thuở của các thi nhân Việt Nam. tất cả đều là những bài thơ rất nổi tiếng.thu vừa chớm . chớp của mùa hạ vương lại đâu đây . rất êm . Xuân Diệu có « Đây mùa thu tới » . thì Hữu Thỉnh cũng có một chớm « Thu sang » rất nhẹ nhàng êm dịu. song chỉ là “vẫn còn” .Ý thơ còn gợi liên tưởng đến con người khi đã lớn tuổi và từng trải thì những giông gió. Trong đó có hai khổ thơ rất hay ghi lại cảm xúc của nhà thơ trước cảnh sang thu ở một miền quê nhỏ : Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về.bâng khuâng của tác giả trong buổi giao mùa đã tạo nên một dấu ấn không dễ phai mờ trong lòng bao độc giả . « Thu điếu ». rất dịu . Lưu Trọng Lư có « Tiếng thu ». Vẫn là nắng.Những suy tư đó của tác giả có lẽ đã góp phần làm cho “Sang thu” trở nên giàu ý nghĩa . bị động . « Thu ẩm » . thăng trầm của cuộc đời ít làm con người ta bất ngờ. Nếu như Nguyễn Khuyến có chùm thơ thu với ba bài : « Thu vịnh ». Hình ảnh thơ đẹp . rất nhẹ . nồng hậu của quê nhà . sấm. mơ hồ như cả đất trời đang rùng mình thay áo mới … Khổ thơ thứ ba diễn tả rất rõ sự biến chuyển của không gian và cũng là một thoáng suy tư của nhà thơ trước cảnh vật. ngôn từ tinh tế . “ cũng bớt bất ngờ” bởi mùa thu đã đến . giọng thơ êm đềm và những rung động man mác . Có lẽ vì vậy mà sau khi đọc “Sang thu” của Hữu Thỉnh ta càng thấy yêu hơn mùa thu thiết tha. Sông được nước dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Mùa thu của Hữu Thỉnh được mở ra không phải với sắc vàng tươi của . “đã vơi dần”. mưa.

Nhịp thơ nhanh và gấp cũng như hơi thở của mùa thu đã bắt đầu đập mạnh. Nó không tan nhanh như sương mùa hạ. Dường như cái hương thơm dịu ấy chỉ thoang thoảng quanh quất đâu đây. Tất cả đều đang . Đến sương lúc này cũng là sương thu mà Hữu Thỉnh vẫn còn ngẩn ngơ mãi: “Hình như thu đã về” Ông thờ ơ quá chăng hay bởi lòng ông đang bối rỗi? Thu về tự bao giờ? Từ hương ổi hay từ làn gió heo may? Thu làm lòng người xao xuyến quá chừng để đến nỗi không biết thu đến thực hay mơ! Sau một thoáng bỡ ngỡ. sương đang chờ ai mà sao lưu luyến thế? Từ láy “chùng chình” tạo cho ta cảm giác “dùng dằng nửa ở nửa về”. Con sông tràn trề nước mà hình như cứ không chịu chảy. cũng không phải với vị thơm ngon của cốm làng Vòng. Nó chỉ khiến ta hơi co người lại một chút và để rồi thảnh thơi đón nhận cả một lưồng khí thu mát rượt trong lòng. Sương đang đợi ai. Hữ Thỉnh chẳng còn nghĩ gì ngoài cảm xúc đang dâng trào: “Sông được nước dềnh dàng. cứ cố nán lại để đợi chờ ai. Có lẽ. thậm chí dường như còn độc đáo đến bất ngờ cho cả nhà thơ : “Bỗng nhận ra hương ổi”. cũng không quá nhẹ để người ta dễ lãng quên. nó cũng mang hồn người . Sương thu là những làn khói mong manh bay vờn nhẹ trên những nãi nhà. sẽ chẳng ở đâu có cái gió se lạnh ấy ngoài mùa thu của đất Bắc – cái gió se mà từ lâu vẫn được coi là hồn thu Bắc Bộ. Nó không mang cái mùi thơm hăng hắc như hoa sữa. Sông vào mùa này chẳng có mưa to gió lớn nên nước cứ “dềnh dàng”. Thu sang mang theo hơi thửo của mình và mang theo cả cái vẻ thu mơ màng mờ ảo: “Sương chùng chình qua ngõ” Sương thu cũng có cái nét đặc biệt riêng của nó. Thu đến chẳng hề báo trước! Thu sang từ bao giờ Hữu Thỉnh cũng không biết nữa! Ông chỉ nhận ra một sự bất ngờ mà như đã đợi từ lâu lắm.hoa cúc. mà là với hương ổi thơm giòn ngọt phả vào trong gió thu. chúng phải vội vã bay về phương Nam tránh rét. nhà thơ như chợt bừng tỉnh. Hương thơm ấy nhẹ nhàng thoảng qua theo gió.thu đã về thật rồi! Khép lại những hoài nghi. Chim bắt đầu vội vã”. Làn gió se se lạnh của mùa thu cũng rất khác với cái gió tê tái của mùa đông. cũng chẳng dầy đặc như sương mùa đông. đề người ta chợt xốn xang trong lòng. Một hương thơm thu một làn heo may thu đã làm nên cái mở độc đáo cho bài thơ. Sông chờ nước mùa thu chăng? Một hình ảnh thơ thật thi vị và lãng mạn. ngoài vườn. Sương thu không vô cảm. Nhưng đàn chim thì không thể dềnh dàng được nữa.

Không biết ở đây là mùa thu lưu luyến mùa thạ hay nhà thơ đang mong chờ mùa hạ mà vẫn lưu luyến mùa thu đây? Điêu này thì Hữu Thỉnh thật khác với các nhà thơ khác. nó không còn vương vấn chút gì của mùa hè rực lửa. vàng cháy. Cũng viết về mùa thu. Nguyễn Khuyến viết: “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” – có nghĩa là thu của Nguyễn Khuyến đã thực là thu. nguội quá lá chỉ phẳng lúc đầu. muốn làm được một chiếc nón phải dùng lá của một loại cọ nhỏ mọc hoang để lợp. Nhưng có lẽ sẽ chẳng ai biết mà lại quên được một chớm “Thu sang” của Hữu Thỉnh . dùng một loại sợi rất dai lấy từ bẹ cây móc (ngày nay người ta thường dùng sợi chỉ nilon) để khâu và tre làm vành. Theo sự phát triển của lịch sử qua các thời đại. Tàu lá nón khi đem về vẫn còn xanh nhăn nheo. Còn Hữu Thỉnh. Chiếc nón đã được chạm khắc trên những cổ vật như trống đồng Ngọc Lũ. phải “Vắt nửa mình sang thu”. gác lên dàn bếp hong khói chống mối mọt. đặt lá lên dùng nắm giẻ vuốt cho phẳng. được đem là bằng cách dùng một miếng sắt đốt nóng. Còn loại nón khâu như ngày nay xuất hiện phải nhờ đến sự ra đời của chiếc kim. Chắc hản phải yêu mùa thu lắm Hữu Thỉnh mới vẽ ra được một bức tranh thu nồng đượm hơi ấm đất trời. trên thạp đồng Đào Thịnh vào 2500-3000 năm về trước. sau lại nhăn như cũ. Trong làng thơ dân tộc. ông viết mùa thu nhưng lại là vào lúc giao mùa. Nguyên liệu làm nón không phức tạp. Phải chăng đám mây kia có hai nửa thì một nửa nằm bên mùa hạ.một mùa thu nhẹ nhàng. trông qua như một cô thôn nữ mộc mạc mà sao lại đằm thắm khó quên đến thế! (sưu tầm) Thuyết minh về chiếc nón lá của người Việt Chiếc nón lá là người bạn thủy chung. gần gũi của người phụ nữ Việt Nam . Tre chọn ống dài vuốt nhọn. tức là vào thời kỳ người ta chế luyện được sắt (khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên). đang thay đổi.chuyển mình. Con số 16 là kết . nón được tết đan. Ở nơi nào cũng vậy. nữ tính. nếu nóng quá thì bị giòn. huyện Thanh Oai . dùng làm vòng nón. Người ta đốt diêm sinh hơ cho lá trắng ra. nón cũng có nhiều biến đổi về kiểu dáng và chất liệu. đã và sẽ có nhiều bài thơ thu hay. nửa kia thuộc về mùa thu. đồng thời tránh cho lá khỏi mốc.Hà Nội) có 16 lớp vòng. nồng đượm hơi ấm quê nhà như thế. Lửa phải vừa độ. Nón Chuông (làng nón nổi tiếng Việt Nam ở làng Chuông. Lúc đầu khi chưa có dụng cụ để khâu thắt. Thậm chí ngay cả đám mây mùa hạ cũng thấy sốt ruột.

chơi hội. tất cả đều để che chắn cho những con người sống trên một dải đất nắng lắm mưa nhiều. . đôi khi là vật để trao đổi tâm tư tình cảm của riêng mình.Tác giả. Những mũi kim khâu được ước lượng mà đều như đo. Nhưng vẻ đẹp của chiếc nón chủ yếu nhờ vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ tạo nên. khiến khi nhìn vào chiếc nón chỉ thấy tăm tắp những mũi khâu mịn màng. má lúm đồng tiền. váy lĩnh. tỉnh An Giang. Các cô gái Việt Nam chăm chút chiếc nón như một vật trang sức. Ngoài chức năng che nắng. Cùng với áo dài. Nón có nhiều loại. ngắn khác nhau. (Sưu tầm) CHIẾC LƯỢC NGÀ ( Trích ) I. cho đến nay đã trở thành một nguyên tắc không thay đổi. thắt lưng bao. ông tham gia bộ đội. chiếc nón được coi là một thứ phục trang truyền thống của phụ nữ Việt Nam . yếm đào.. đi chợ. nụ cười.quả của sự nghiên cứu. Công phu nhất là vừa vẽ chìm dưới lớp lá nón những hoa văn vui mắt.. Con người Việt Nam có tình cảm sâu sắc và gắn bó với chiếc nón lá giản dị dù gặp nó ở bất cứ đâu trên trái đất này. những câu thơ trữ tình. che mưa. Dưới vành nón. lựa chọn qua nhiều năm. phải soi lên nắng mới thấy được gọi là nón bài thơ. nón ba tầm như nón thúng nhưng mảnh mai hơn. tác phẩm 1. những sợi tóc mai. Trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Và cái tài của người thợ làng Chuông là các múi nối sợi móc được dấu kín. Muốn khâu cho liên tục thì gần hết sợi nọ phải nối tiếp sợi kia. kín đáo. áo cánh. nón chóp nhọn đầu. tiết mục múa nón của các cô gái với chiếc áo dài duyên dáng thể hiện tính dịu dàng. Những sợi móc dùng để khâu thường có độ dài. hay những hình ảnh bụi tre. Trong nghệ thuật.Tác giả Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932 quê ở huyện Chợ Mới.. kín đáo mà không kém phần quyến rũ. Người ta gắn lên đỉnh của lòng nón một mảnh gương tròn nho nhỏ để các cô gái làm duyên kín đáo. Người ta đội nón làm đồng. nón thúng rộng vành. mềm mại và kín đáo của người phụ nữ Việt Nam . chiếc nón còn hướng tới mục đích làm đẹp cho con người và phù hợp với cảm quan thẩm mỹ của người Việt: đẹp một cách tế nhị. đôi mắt.. đồng lúa. cái gáy trắng ngần của cô gái dường như được tôn thêm nét duyên dáng...

.Nếu tình huống thứ nhất bộc lộ tình cảm mãnh liệt của bé Thu với cha. Đây là tình huống cơ bản của truyện . Nhưng ông đã hi sinh khi chưa thể gửi món quà ấy cho con gái.Tóm tắt truyện Anh Sáu xa nhà đi kháng chiến. người cha dồn hết tình cảm yêu quí. anh hi sinh. 2. đến lúc em nhận ra và biểu lộ tình cảm thắm thiết thì anh Sáu lại phải ra đi.Tình huống truyện Truyện đã thể hiện tình cha con sâu sắc của hai cha con anh Sáu trong hai tình huống: . Đến lúc thu nhận ra cha.Truyện ngắn Chiếc lược ngà 1. Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng có nhiều thể loại: truyện ngắn. . ông tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác. làm biên tập cho tuần báo Văn nghệ của Hội nhà văn.Cuộc gặp gỡ của hai cha con anh Sáu sau tám năm xa cách. Mãi khi con gái lên tám tuổi anh mới có dịp về thăm nhà. Từ năm 1958 ông công tác tại Hội nhà văn Việt Nam. II. tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc anh Sáu phải ra đi. công tác tại phòng văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam và bắt đầu viết văn.Tác phẩm Truyện ngắn Chiếc lược ngà được viết năm 1966. Bé Thu không nhận ra cha vì cái sẹo trên mặt làm ba em không giống với người trong bức ảnh chụp với má mà em được biết. nhưng thật trớ trêu là bé Thu không nhận ra cha. khi tác giả đang hoạt động ở chiến trường Nam Bộ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ và được đưa vào tập truyện cùng tên. anh Sáu dồn hết tình cảm yêu thương và mong nhớ đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà để tặng con gái bé bỏng.Ở khu căn cứ. Ở khu căn cứ. anh còn kịp trao cây lược cho người bạn với lời nhắn gửi không nói lên lời. Lối viết của Nguyễn Quang Sáng giản dị. 2. Từ sau năm 1954 ông tập kết ra Bắc. Trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Trước lúc nhắm mắt. tiểu thuyết.hoạt động ở chiến trrường Nam Bộ. Em đối xử với ba như người xa lạ. nhưng sâu sắc đậm đà chất Nam Bộ. mộc mạc. nhớ thương đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để tặng cô con gái bé bỏng. thì tình huống thứ hai lại biểu lộ tình cảm sâu sắc của người cha đối với con. Trong một trận càn. kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hoà bình.

cuối cùng khi bị ông Sáu tức giận đánh một cái thì bỏ về nhà bà ngoại. hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa”. đáp lại sự vồ vập của người cha. tình cảm của em sâu sắc. “ hai tay nó siết chặt lấy cổ. chỉ gọi trống không với ông Sáu mà không chịu gọi cha. bé Thu lại tỏ ra ngờ vực lảng tránh. chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó. Tâm lí và thái độ ấy của bé Thu được biểu hiện qua hàng loạt chi tiết mà người kể chuyện quan sát và thuật lại rất sinh động: hốt hoảng. nay nay bùng ra thật mạnh mẽ và hối .Gặp lại con sau nhiều năm xa cách với bao nỗi nhớ thương nên ông Sáu không kìm được nỗi vui mừng trong phút đầu nhìn thấy đứa con. mặt tái đi. Nhưng thật trớ trêu. nó còn quá bé nhỏ để có thể hiểu được những tình thế khắc nghiệt. . nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó”. nhất định không chịu nhờ ông chắt nước nồi cơm to đang sôi. “ Nó hôn ba nó cùng khắp. em chỉ yêu ba khi tin chắc đó đúng là ba. tình yêu và nỗi mong nhớ với người cha xa cách đã bị dồn nén bấy lâu. Trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh. chân thật. éo le của đời sống và người lớn cũng không ai kịp chuẩn bị cho nó những khả năng bất thường. Thu đã được bà giải thích về vết thẹo làm thay đổi khuôn mặt ba nó. Lần đầu tiên Thu cất tiếng gọi ba và tiếng kêu của nó như xé. Phản ứng tâm lí của em là hoàn toàn tự nhiên. và ông Sáu càng muốn gần con thì đứacon lại càng tỏ ra lạnh nhạt. lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”.Sự ương ngạnh của bé Thu hoàn toàn không đáng trách. hôn cổ.Trong buổi sáng cuối cùng. rồi “ nó vừa kêu vừa chạy xô tới.Phân tích diễn biến tâm lí và tình cảm của bé Thu trong lần đầu gặp cha cuối cùng.Thái độ và hành động của Thu khi nhận ra người cha .3. và đôi vai nhỏ bé của nó run run” . xa cách.Trong đêm bỏ về nhà bà ngoại. khi xuống xuồng còn cố ý khua dây cột xuồng rổn rảng thật to. Sự nghi ngờ bấy lâu được giải tỏa và ở Thu nảy sinh một trạng thái như là sự ân hận nuối tiếc: “ Nghe bà kể nó nằm im. hất cái trứng cá mà ông đã gắp cho ra khỏi bát. khác với hình ba mà nó được biết.Thái độ và hành động của Thu trước khi nhận ra ông Sáu là cha . nên nó không tin ông Sáu là ba nó chỉ vì trên mặt ông có thêm vết sẹo. Nó hôn tóc. trước phút ông Sáu phải lên đường. Trong cái cứng đầu của em có ẩn chứa cả sự kiêu hãnh trẻ thơ về một tình yêu dành cho người cha khác-người trong tấm hình chụp chung với má em. nó còn chứng tỏ em có cá tính mạnh mẽ. rồi vụt chạy và kêu thét lên khi mới gặp ông Sáu. nhanh như một con sóc. khi ông Sáu được về phép a. Vì thế trong giờ phút chia tay với cha. thái độ và hành động của bé Thu đã đột ngột thay đổi hoàn toàn. b.

rồi ông dành hết tâm trí.Khi kiếm được một khúc ngà. mạnh mẽ. ta thấy tác giả tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ và diễn tả rất sinh động với tấm lòng yêu mến và trân trọng những tình cảm trẻ thơ.Câu chuyện về chiếc lược ngà không chỉ nói lên tình cha con thắm thiết. tẩn mẩn khắc từng nét: “ Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. . khi ông Sáu ở trong rừng tại khu căn cứ.Nghệ thuật trần thuật của truyện . sung sướng. nhưng được biểu hiện tập trung và sâu sắc ở phần sau của truyện. tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”.Phân tích tình cảm cha con sâu nặng ở anh Sáu .Tình cảm của ông Sáu với con đã được thể hiện phần nào trong chuyến về phép thăm nhà. . Nhưng rồi một tình cảnh đau thương lại đến với ông Sáu: Ông đã hi sinh khi chưa kịp trao vào tay đứa con gái chiếc lược ngà.Đó là tình cảm thật sâu sắc. có người không cầm được nước mắt và người kể chuyện thì cảm thấy như có bàn tay ai nắm lấy trái tim mình. mà còn gợi cho người đọc nghĩ đến và thấm thía những đau thương.hả. Ở Thu còn có nét cá tính là cứng cỏi tưởng như ương ngạnh. “ Trên sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng.Một số nét tính cách của Thu biểu hiện qua tâm lí và hành động . nhớ thương mog đợi của người cha đối với đứa con xa cách. Nó làm dịu đi nỗi ân hận và chứa đựng bao nhiêu tình cảm yêu mến. công sức vào việc làm một cây lược: “ Những lúc rỗi. 5. c. bao nhiêu gia đình. anh cưa từng chiếc răng lược. mất mát. thận trọng.Nỗi day dứt ám ảnh ông suốt nhiều ngày sau khi ông chia tay với gia đình là việc ông đã đánh con khi nóng giận. Chứng kiến những biểu hiện tình cảm ấy trong cảnh ngộ cha con ông Sáu phải chia tay. éo le mà chiến tranh đã gây ra cho bao nhiêu con người. sâu nặng của cha con ông Sáu. ngây thơ của con trẻ. nhưng Thu vẫn là một đứa trẻ với tất cả nét hồn nhiên. . 4. ông đã vô cùng vui mừng. Rồi lời dặn của con: “ Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba” đã thúc đẩy ông nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà dành cho con. Chiếc lược ngà đã thành một vật quí giá.Qua những diễn biến tâm lí của bé Thu được miêu tả trong truyện. thiêng liêng với ông Sáu. cuống quýt có xen lẫn cả sự hối hận. . nhưng cũng thật dứt khoát rạch ròi.

không chỉ là người chứng kiến khách quan và kể lại mà còn bày tỏ sự đồng cảm. Tình cha con được miêu tả cảm động ở cả hai phía: người cha cán bộ cách mạng và đứa con gái nhỏ.Truyện Chiếc lược ngà khá tiêu biểu cho cho những đặc điểm trong nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng. . Đó không chỉ là tình cảm muôn thủa. dẫn truyện của tác giả thường thoải mái.Tác giả đã xây dựng được một cốt truyện khá chặt chẽ. Cảm nghĩ về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà’’ Cảm nghĩ về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà’’ . Vì thế. Sự bất ngờ càng gây được hứng thú cho người đọc khi ở phần sau của truyện tác giả còn tạo thêm một bất ngờ nữa. Đồng thời qua những ý nghĩ cảm xúc của nhân vật kể chuyện. Là một nhà văn Nam Bộ. vượt qua một quãng nguy hiểm ở Đồng Tháp Mười. Ngôn ngữ trong truyện của ông gần với khẩu ngữ và đậm màu sắc Nam Bộ. có những yếu tố bất ngờ nhưng hợp lí: bé Thu không nhận cha khi ông Sáu về thăm nhà. *Những điểm cần lưu ý 1.. các chi tiết và sự việc và nhân vật khác trong truyện bộc lộ rõ hơn.Truyện Chiếc lược ngà được Nguyễn Quang Sáng viết năm 1966. xoay quanh những tình huống khá bất ngờ nhưng tự nhiên. chia sẻ với các nhân vật. có tính nhân bản bền vững. Người kể chuyện trong vai một người bạn thân thiết của ông Sáu. Điều đáng chú ý là truyện ngắn này viết trong hoàn cảnh chiến tranh cá liệt nhưng lại tập trung nói về tình người-cụ thể ở đây là tình cha con trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh và tình đồng chí của những người cán bộ cách mạng. 2. hợp lí. ý nghĩa tư tưởng của truyện thêm sức thuyết phục. hi sinh của người cán bộ cách mạng. mà còn được được thể hiện trong hoàn cảnh ngặt nghèo và éo le của chiến tranh và trong cuộc sống nhiều gian khổ. Nghệ thuật kể chuyện. rồi lại biểu lộ những tình cảm thật nồng nhiệt. tại chiến trường Nam Bộ trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt. Nguyễn Quang Sáng hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong chiến tranh và sau hòa bình. tự nhiên với giọng thân mật dân dã. rất am hiểu và gắn bó với mảnh đất ấy. trong một lần ông cùng đoàn cán bộ theo đường dây giao liên. bấy giờ đã thành một cô giao liên dũng cảm. Truyện của ông thường có cốt truyện hấp dẫn. đầy xúc động với người cha trước lúc chia tay. tình cảm ấy càng đáng trân trọng và đồng thời nó cũng cho thấy những nỗi đau mà chiến tranh gây ra cho cuộc sống bình thường của mọi người. đó là cuộc gặp gỡ tình cờ của nhân vật người kể chuyện với bé Thu.Lựa chọn nhân vật kể chuyện thích hợp.

2.Diễn biến tâm lý của Thu khi nhận ba: + Sự thay đổi thái độ đến khó hiểu của Thu. trước những hành động vội vã thái độ xúc động.Diễn biến tâm lý của bé Thu trước khi nhận anh Sáu là cha: + Yêu thương ba nhưng khi gặp anh Sáu. . đất nước có chiến tranh. .1. ánh mắt cử chỉ hành động của bé Thu như thể hiện sự ân hận. và thái độ hất tung cái trứng cá trong bữa cơm…Từ cự tuyệt nó đã phản ứng mạnh mẽ…. sự nuối tiếc. bởi em còn quá nhỏ chưa hiểu được những tình thế khắc nghiệt éo le của đời sống. . Mở bài: . cha đi công tác khi Thu chưa đầy một tuổi.những hành động chứa đựng sự lảng tránh đó lại hoàn toàn phù hợp với tâm lí trẻ thơ bởi trong suy nghĩ của Thu anh Sáu là người đàn ông lạ lại có vết thẹo trên mặt giần giật dễ sợ. . Đằng sau những hành động ấy ẩn chứa cả tình yêu thương ba. tác phẩm và nhân vật bé Thu với tài năng miêu tả tâm lý nhân vật. đó là phản ứng tâm lí hoàn toàn tự nhiên của một đứa trẻ có cá tính mạnh mẽ… Hành động tưởng như vô lễ đáng trách của Thu lại hoàn toàn không đáng trách mà còn đáng thương. không ương bướng mà buồn rầu nghĩ ngợi sâu xa. có cá tính bướng bỉnh nhưng yêu thương ba sâu sắc.Khái quát được cảnh ngộ của gia đình bé Thu. muốn nhận ba nhưng e ngại vì đã làm ba giận. sợ hãi và bỏ chạy…. nôn nóng của cha…Thu ngạc nhiên lạ lùng. lớn lên em chưa một lần gặp ba được ba chăm sóc yêu thương.Giới thiệu được tác giả. xử lí nồi cơm sôi. Thân bài: Phân tích diễn biến tâm lý của nhân vật bé Thu .nhân vật chính của đoạn trích “Chiếc lược ngà’’ một cô bé hồn nhiên ngây thơ.Cảm nhận chung về nhân vật bé Thu.nó căm ghét cao độ người đàn ông măt thẹo kia. nó tức giận. . và khi bị đánh nó đã bỏ đi một cách bất cần….sự kiêu hãnh của trẻ thơ về một tình yêu nguyên vẹn trong sáng mà Thu dành cho ba. tình yêu Thu dành cho ba chỉ gửi trong tấm ảnh ba chụp chung cùng má. + Trong hai ngày sau đó Thu hoàn toàn lạnh lùng trước những cử chỉ đầy yêu thương của cha. nó cự tuyệt tiếng ba một cách quyết liệt trong những cảnh huống mời ba vào ăn cơm.

3. đồng thời bộc lộ ấn tượng sâu đậm nhất về nhân vật cũng như toàn bộ tác phẩm. hôn ba nó cùng khắp. trân trọng tình cảm gia đình trong cuộc sống hôm nay.+ Tình yêu thương ba được bộc lộ hối hả ào ạt mãnh liệt khi anh Sáu nói “Thôi ba đi nghe con”. . trong lời ước nguyện mua cây lược. am hiểu tâm lý của trẻ thơ đã giúp tác giả xây dựng thành công nhân vật bé Thu. tác giả Nguyễn Thành Long đã gửi gắm chủ đề của câu chuyện vào một lời nhận xét ngắn gọn “trong cái lặng im. mọi người … + Sự lý giải nguyên nhân việc hiểu lầm của bé Thu đựợc tác giả thể hiện thật khéo léo đó là do vết thẹo trên mặt người ba khi hiểu ra sự thực Thu “nằm im lăn lộn thở dài như người lớn”.Những năm tháng sống gắn bó với mảnh đất Nam Bộ. thiêng liêng đã tác động sâu sắc đến bác Ba. trái tim nhạy cảm. tiếng khóc nức nở…Đó là cuộc hội ngộ chia tay đầy xúc động. đất nước”.Hãy phân tích để làm rõ vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa cao quý của những công việc thầm lặng. mạnh mẽ cứng cỏi yêu ghét rạch ròi. . Dàn ý chi tiết .. .. nhảy thót lên. nhân hậu. Nhưng chiến tranh dù có tàn khốc bao nhiêu thì tình cảm cha con anh Sáu càng trở lên thiêng liêng sâu lặng. Trong sự đối lập của hành động thái độ trước và sau khi nhân ba lại là sự nhất quán về tính cách về tình yêu thương ba sâu sắc.Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh. Tình yêu ấy kết đọng trong âm vang tiếng Ba trong những hành động vội vã: Chạy nhanh như con sóc. (Sưu tầm) Nhân vật anh thanh niên trong "Lặng lẽ Sa Pa" Trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”. Kết bài: Khẳng định thành công.Khẳng định lại vấn đề: Ngòi bút miêu tả tâm lý khắc hoạ tính cách nhân vật tinh tế thể hiện được ở bé Thu một cô bé hồn nhiên ngây thơ. Vết thẹo không chỉ gây ra nỗi đau về thể xác mà còn hằn nên nỗi đau về tinh thần gây ra sự xa cách hiểu lầm giữa cha con bé Thu.

Vì anh cho như vậy mới gọi là lý tưởng.Trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”.I. II. cháu buồn đến chết mất”. phục vụ sản xuất. Sống một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2600m. anh có những suy nghĩ rất đẹp: + Đối với công việc. đầy chất thơ. đo mưa. . + Anh có những suy nghĩ thật đúng và sâu sắc về công việc đối với cuộc sống con người: “khi ta làm việc. người đọc thấy vẻ đẹp của Sa Pa hiện lên thật độc đáo. + Quan niệm của anh về hạnh phúc thật là đơn giản nhưng cũng thật đẹp. sao lại gọi là một mình được” và anh hiểu rằng công việc của anh còn gắn với công việc của bao anh em đồng chí dưới kia. 1. “Lặng lẽ Sa Pa” là kết quả của chuyến “thâm nhập thực tế” ở Lào Cai của tác giả trong mùa hè năm ấy. ông. Công việc của anh là: đo gió. Ông được khẳng định như một cây bút truyện ngắn và ký đáng chú ý trong những năm 60 – 70 với cả gần chục sách đã in. Khi biết một lần do phát hiện kịp thời một đám mây khô mà anh đã góp phần vào chiến thắng của không quân ta bắn rơi được máy bay Mỹ trên cầu Hàm Rồng.. quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa. Điều ấy sẽ được thấy rõ qua nhân vật: anh thanh niên.Vượt lên hoàn cảnh sống. “Công việc của cháu gian khổ thật đấy chứ cất nó đi. nhưng truyện còn giới thiệu với chúng ta về vẻ đẹp của con người Sa Pa. Thân bài: . Đó là anh thanh niên: .. anh yêu nó tới mức trong khi mọi người còn ái ngại cho cuộc sống ở độ cao 2600m của anh thì anh lại ước ao được làm việc ở độ cao trên 3000m.. nghiên cứu khoa học. trong lặng lẽ mà rất khẩn trương vì lợi ích của đất nước. ta với công việc là một. Đó là những con người miệt mài làm việc. tính mây.Đọc truyện. anh thấy mình “thật hạnh phúc”. tác giả Nguyễn Thành Long đã gửi gắm chủ đề của câu chuyện “trong cái lặng im.Nhân vật chính trong truyện làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu. đất nước”. vì cuộc sống của con người. . Mở bài: . dựa vào công việc báo trước thời tiết hàng ngày. những vất vả của công việc. phục vụ chiến đấu. đo nắng.. .Trong văn học Việt Nam có những cây bút văn xuôi chỉ chuyên về truyện ngắn và ký – Nguyễn Thành Long là một trong số đó. đo chấn động mặt đất.

được trò chuyện. làm việc một mình với cỏ cây thiên nhiên Sa Pa. một đàn gà đẻ trứng. chân thành với khách. . Nhờ có sách mà anh chống trọi được với sự vắng lặng quanh năm. . không một bóng người. hạnh phúc và cuộc sống. anh đã vượt qua những gian khổ của hoàn cảnh.Từ những suy nghĩ đẹp về công việc. anh nhiệt tình giới thiệu với ông những người khác mà anh cho rằng đáng cảm phục hơn anh.+ Cuộc sống của anh không cô đơn buồn tủi như người khác nghĩ. Dẫu phải sống một mình nhưng anh vẫn luôn quan tâm tới người khác: anh gửi biếu gói tam thất cho vợ bác lái xe vừa bị ốm. anh “thèm người” tới mức phải lấy cây chắn ngang đường ô tô để được nghe tiếng người ! Về sau anh nghĩ: “Nếu đó chỉ là nỗi nhớ phồn hoa đô thị thì thật xoàng” và anh đã vượt qua để sống. tặng cho người đi xa một giỏ trứng gà tươi. Bởi anh còn biết tạo niềm vui trong công việc. mở mang kiến thức. để trở thành: “con người cô độc nhất thế gian” mà bất cứ ai đã một lần gặp anh đều mang theo ấn tượng đẹp đẽ. Nhờ có sách mà anh tiếp tục học hành. thành thực cảm thấy công việc và những đóng góp của mình chỉ là nhỏ bé. vắng vẻ quanh năm suốt tháng một mình trên đỉnh núi cao.Ở người thanh niên ấy còn có một phong cách sống rất đẹp: + Đó là sự cởi mở. 7 giờ tối và 1 giờ sáng. một vườn hoa rực rỡ. tặng hoa cho cô gái. Khi ông hoạ sĩ muốn vẽ chân dung anh. khao khát được gặp gỡ.Anh còn có một nếp sống đẹp: Anh tự sắp xếp cuộc sống một mình ở trạm một cách ngăn nắp: có một vườn rau xanh tốt. Vì sách chính là người bạn để anh “trò chuyện”. làm việc một cách nghiêm túc. rất qúy trọng tình cảm của mọi người. Nửa đêm. đó là đọc sách. tự giác với tinh thần trách nhiệm cao. . + Anh còn là người khiêm tốn. 2) Ta còn bắt gặp ở đất Sa Pa những con người làm việc âm thầm. ở anh còn có những hành động thật đẹp đẽ biết bao: + Mặc dù chỉ có một mình. Ngày nào cũng vậy. + Nhưng cái gian khổ nhất là vượt qua được sự cô đơn. đúng giờ “ốp”. dù mưa tuyết giá lạnh thế nào anh cũng trở dậy ra ngoài trời làm việc. lặng lẽ cho đất nước qua lời kể của anh thanh niên: . chính xác đủ 4 lần trong một ngày vào lúc 4 giờ. không người giám sát. Mới đầu. anh làm việc một cách đều đặn. mời bác lái xe và ông hoạ sĩ uống trà. 11 giờ.

đáng quý ở anh thanh niên.Sống cống hiến cho dân tộc. . Kết bài: Qua phần phân tích trên ta thấy “Lặng lẽ Sa Pa” đang ngân vang trong lòng ta những rung động nhẹ nhàng mà thú vị về những con người âm thầm lặng lẽ nhưng thật đáng yêu. cho đất nước”. sống có ý nghĩa sẽ mang đến cho con người niềm vui và hạnh phúc.A) Đó là ông kỹ sư vườn rau: Ngày này qua ngày khác ngồi trong vườn. 3) Nhân vật anh thanh niên.Cuộc sống lao động giản dị nhưng cao đẹp làm nên vẻ đẹp đích thực của mỗi con người. niềm đam mê cháy bỏng. III. Đúng như tác giả đã viết: “Trong cái lặng im. Anh thanh niên có những suy nghĩ và quan niệm đúng đắn về công việc và cuộc sống. có sức thuyết phục lan toả với những người xung quanh. cho nhân dân. tình yêu đất nước. ngọt hơn trước. suốt ngày chờ sét” để lập bản đồ tìm ra tài nguyên trong lòng đất. Anh thanh niên có những hành động cao đẹp. Những con người ấy làm cho anh thanh niên thấy “cuộc đời đẹp quá” đâu còn buồn tẻ “cô độc nhất thế gian”. + Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi mang lại niềm vui. chăm chú rình xem cách lấy mật của ong để rồi tự tay thụ phấn cho hàng vạn cây su hào để hạt giống làm ra tốt hơn. B) Đó là anh cán bộ nghiên cứu sét: Đã “11 năm không một ngày xa cơ quan” luôn “trong tư thế sẵn sàng.. . Sưu tầm Phân tích những phẩm chất cao đẹp. hạnh phúc cho mọi người.. Hướng dẫn: Phân tích những phẩm chất cao đẹp. + Công việc là niềm vui. anh cán bộ nghiên cứu sét giúp ta hiểu thêm ý nghĩa của những công việc thầm lặng: . đáng quý ở anh thanh niên. để xu hào trên toàn miền Bắc ta ăn được to hơn. Họ đã dệt lên bài ca về tình yêu tổ quốc. ông kỹ sư vườn rau.

Nhân vật anh thanh niên tiêu biểu cho những con người lao động mới. Đây là một tác phẩm độc đáo viết về lòng yêu nước của ông Hai Tu. tự nguyện tự giác hoàn thành xuất sắc công việc vốn hết sức vất vả và đơn điệu. đáng trân trọng. cống hiến hết mình cho đất nước. yêu đến nỗi đi đâu ông cũng khoe về cái làng của ông. lặng thầm. trời mưa đi từ đầu làng đến cuối xóm bùn . tha thiết . cởi mở. Kể về làng chợ Dầu. sống có lý tưởng. Ông Hai yêu cái làng chợ Dầu của ông thật đậm đà. Đánh giá nhân vật. khoa học. gắn bó với nông dân và nông thôn. Là nhà văn am hiểu sâu sắc. Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt nông thôn và cảnh ngộ của người nông dân. Là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. chân thành với mọi người. Truyện ngắn “Làng” là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân được viết trong thời kì đầu của cuộc khánh chiến chống Pháp (1948). + Khiêm tốn.600 m. Anh thanh niên có phong cách sống rất đáng quý. đáng mến trong “Lặng lẽ Sa Pa”. quê ở Hà Bắc. vô tư. Ông khoe làng ông có nhà ngói san sát. đường trong làng lát toàn bằng đá xanh. Tình cảm và ý nghĩa này đã trở thành phổ biến ở mỗi người nông dân VN ta trong những ngày đầu chống Pháp. yêu làng sâu sắc của ông. + Tổ chức cuộc sống ngăn nắp. ta nghĩ tới trách nhiệm. khâm phục những nhân vật đáng quý. Nhân vật anh thanh niên giúp ta hiểu thêm về thế hệ cha anh đi trước trong một giai đoạn lịch sử của dân tộc. hành động của thanh niên chúng ta trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới. ông nói một cách say sưa mà không cần biết người nghe có chú ý hay không. phong phú cả về vật chất và tinh thần. phát biểu cảm nghĩ. + Dồn tất cả thời gian công sức. Trân trọng. lòng yêu nước này xuất phát từ tình yêu quê hương. sầm uất. ông đã có sáng tác đăng báo từ trước cách mạng tháng 8. (Nguồn: Internet) Phân tích truyện ngắn Làng (Kim Lân) Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài sinh năm 1921.+ Vượt qua mọi khó khăn thử thách để làm quen với cuộc sống chỉ có một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2.

Và từ đó. nhất là tâm lí của người dân thì Kim Lân mới diễn tả đúng tâm trang nhân vật như vậy. ông Hai suốt ngày ra trụ sở để nghe ngóng tin tức về làng chợ Dầu và ông nghe tin cả làng ông Việt gian theo tây. nhỏ : cây đa. Đến khi mụ chủ nhà đến báo không cho gia đình ông ở nữa. sung . Quả thật. Tháng 5 ngày 10 phơi rơm và thóc tốt thượng hạng. Cổ ông lão “ nghẹn ắng lại. Những ngày ở làng Thắng. Thay vào đó là nỗi vui mừng. mỗi khi khoe về làng là ông khoe về những ngày khởi nghĩa dồn dập.” Có thể nói với ông Hai.không dính đến gót chân. giếng nướ. Những nỗi lo âu. Chính cái tình huống ngặt nghèo khi giặc tràn vào làng. Ông còn khoe cả những hố . làng và nước bay giờ đã trở thành đối địch. nỗi niềm và tâm sự của ông được thể hiện trong những lời trò chuyện của ông với đứa con út. Vì vậy. nó đã giúp ông hiểu dc sự sai lầm của mình. nên lúc tản cư.. Phải thực sự am hiểu sâu sắc về con người. tưởng như không thể thở được.. Tự hào và yêu nơi “ chôn rau cắt rốn” của mình trở thành một truyền thống và tâm lý chung của mọi người nông dân thời bấy giờ. Trò chuyện với con như là để thanh minh cho làng mình. ông khổ tâm day dứt khôn nguôi. lắm công trình không để đâu hết. Tới đây. một tin khác lại đính chính rằng làng ông không theo giặc. Có thể tình yêu nước của họ bắt nguồn từ cái đơn giản. suốt ngày ru rú trong nhà và nghe ngóng tin tức. xấu hổ tan biến. da mặt tê rân rân” ông lão lặng đi. những hào. cuộc đời và số phận của ông Hai thật sự gắn bó với buồn vui của làng.. Ông cảm thấy đâu đớn và nhục nhã vì cái làng chợ Dầu yêu quý của mình theo giặc. có bề dày lịch sử. Hai tình cảm này đã dẫn đến cuộc xung đột nội tâm trong lòng ông. Ông tự hào. tình yêu đất nước được ông Hai đặt lên trên hết. Xa làng ông mang theo tất cả nỗi niền thương nhớ. những ụ. ông thấy tuyệt đường sinh sống và ông nảy ra ý định: “hay là quay về làng ?” nhưng rồi ý nghĩ đó lập tức bị ông lão phản đối ngay vì : “ làng thì yêu thật. là chợt nhớ đến câu nói bất hủ của nhà văn I-li-a Ê-ren-bua : “lòng yêu nhà. yêu làng xóm. Nhưng trong đó. vinh dự vì làng mình có cái nét độc đáo. trong những ngày này. nhưng làng theo Tây thì phải thù. Ông nguyền rủa bọn theo Tây : “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này”. không có lấy một hạt thóc đất. Ông còn tự hào về cái sinh phần của tổng đốc làng ông. Nhưng khi cách mạng thành công. những buổi tập quân sự có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập. Ông hỏi con: “con ủng hộ ai?” Thằng bá giơ tay mạnh bạo và rành rọt: “ Ùng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm”. Thế rồi. ông không dám đi đâu hết. yêu miền quê trở nên lòng yêu TQ “. sân đình… và nâng cao lên đó chính là : tình yêu đất nước. ông buộc phải xa làng. Cái lòng của bố con ông là thế đấy “chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”. Cũng chình từ lúc ấy.

Diễn biến tâm lý của ông Hai từ đầu đến cuối truyện thật cảm đông. ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân . yêu làng của người nông dân VN thời kháng chiến chống Pháp. hả hê. Niềm vui vì làng không theo giặc đã choáng hết tâm trí ông. theo Đảng khánh chiến đến cùng. miêu tả sự phát triển tâm lý nhân vật như vậy. Kim Lân rất thành công trong việc khắc họa hình ảnh của ông Hai. Khi biết làng bị tình nghi theo giặc thì ông đau khổ. Kim Lân đã chứng tỏ được tài nghệ của mình. hả hê: “ bác Thứ đâu rồi ! Bác Thứ làm gì đấy ? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. thậm chí còn khoe cả tin nhà mình bị đố cháy một cách vui sướng. cái tin làng chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Họ đã đặt tình yêu đất nước lên trên tình yêu làng. chất phác. Đốt nhẵn ! ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính. điều làm ta cảm động đó là ông không hề tiếc hay buồn khi ngôi nhà của ông bị đốt . ông ấy cho biết… cái tin. Đọc tác phẩm giúp ta hình dung được một thời kỳ chống Pháp sôi nổi của nhân dân. có lẽ vì vẫy mà cuộc chiến của ta đã dành được thắng lợi vẻ vang. kể cả những từ dung sai: “bác Thứ đâu rồi… Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả”. Kim Lân thật thành công trong nghệ thuật xây xựng truyện. tiêu biểu cho tầng lớp nông dân VN sau cách mạng tháng 8. từ lâu đã am hiểu người nông dân. Truyện “Làng” là một tác phẩm khá thành công khi viết về lòng yêu nước. ông sung sướng. một trong những người dân bấy giờ. Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả” Qua lời khoe củ ông Hai. đơn giản. Ông đi từ đầu làng đến cuối xóm khoe cái tin làng mình không theo giặc.sướng. Đi kháng chiến. Xây dựng được những chi tiết ấy. Ông gắn bó với thôn quê. Mọi đau khổ. tủi nhục. Bên cạnh đó Kim Lân còn thành công trong việc miêu tả tâm lý nhân vật. buồn tủi đã được rũ sạch. Lời nói của ông hai đúng là lời nói của những người nông dân thời bấy giờ. Yêu làng đến nỗi đi đâu cũng khoe về làng. Dàn ý: A. khoe cả cái việc nhà ông bị đốt cháy một cách sung sướng. Quả thật. nhất là nghệ thật sử dụng ngôn ngữ nhân vật mà ông Hai là điển hình. mọi người một lòng theo Bác. và khi biết làng mình không theo giặc.Mở bài Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Kim Lân đã thể hiện được tài năng của mình qua tác phẩm này.

náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế.Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc. không tin không được. tích tiểu thành đại. c.Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948. rồi ông lo “cái chòi gác. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm. đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. B.… những đường hầm bí mật. cả súng cũng vậy.Thân bài 1. xẻ hào. in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới. thích bìh luận. . tình yêu nước. . Phải xa làng. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người. ông nhớ quá cái khong khí “đào đường. . chỗ kia giết một tí. chưa tin.Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần.Được cách mạng giải phóng. khuân đá…”. một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước. . ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương. trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. đắp ụ. ông xấu hổ lảng ra về. ngày mai dăm khẩu. đi theo kháng chiến.Khi mới nghe tin xấu đó.…” đã xong chưa? .Ông hay khoe làng. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc. 2. làm gì mà thằng Tây không bước sớm”. thông qua một con người cụ thể. a. tình cảm quê hương đất nước. ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm. hôm nay dăm khẩu. người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng. Sau cách mạng. chỗ này giết một tí.. b. ông sững sờ. Tình yêu làng. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. nhân vật ông Hai. Nhưng khi người ta kể rành rọt. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc. Nghe họ chì . tinh thần kháng chiến.

d. gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ. ta thấy rõ: Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc). Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”. Ông luôn hoảng hốt giật mình. lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông.Ba bốn ngày sau. + Qua đó. nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. Nhưng tình yêu nước. vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. Ông giận những người ở lại làng. bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt.Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông . Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc. nhìn thấy các con. .Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá. chân thành. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà. . ông không dám ra ngoài. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. bố của nó. Tình cảm đó sâu nặng.Tình cảm đối với kháng chiến. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. + Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông.chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi. càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng. hắt hủi”. . .Về đến nhà. . Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ. Khi cái tin kia được cải chính. ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu. đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”.

lạnh lùng.dân lao động bình thường. . đối xử với ông như người xa lạ. (sưu tầm)Cảm nhận về tình cha con trong truyện "Chiếc lược ngà" Cảm nhận về tình cha con trong truyện "Chiếc lược ngà" Truyện “Chiếc lược ngà” (Nguyễn Quang Sáng) được viết trong cuộc kháng chiến chống Mĩ nhưng chủ yếu tập trung nói về tình người trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý.Qua nhân vật ông Hai. Đứa trẻ hoàn toàn ngơ ngác.Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông. Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân. ngôn ngữ đối thoại và độc thoại. người đọc thấm thía tình yêu làng. ông càng đón chờ . yêu nước rất mộc mạc. cháy bỏng khát khao được gặp con. C. cao quý trong những người nông dân lao động bình thường. Ông Sáu về thăm nhà sau bao năm ở chiến khu với cái tình của người cha nôn nao. điều mà ông bấy lâu mong đợi được nghe con gái gọi tiếng “Ba !” không được đền đáp. . Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động. . . chân thành mà vô cùng sâu nặng. 3. sâu nặng của ông Sáu và bé Thu.Miêu tả rất cụ thể. Đoạn trích “Chiếc lược ngà” (Sgk Văn 9. tập I) thể hiện tình cha con thắm thiết. Nhưng ngay từ giây phút đầu. hành vi. Với lòng mong nhớ con.Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật.Kết bài: . gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ.

tình cảm của con, nó càng cố tình cự nự. Điều đó, khiến ông đau đớn “hai tay buông xuống như bị gãy”. Có những tình huống, tưởng chừng thế nào nó cũng chịu thua, không ương ngạnh được nữa, phải gọi tiếng “Ba”. Nhưng nó vẫn không chịu cất tiếng “Ba” mà ông Sáu chờ đợi. Hành động trẻ con, nói năng cộc lốc, ngang ngạnh của Thu dành cho Ba khiến ông Sáu, bạn ông Sáu và cả người đọc đau lòng và suy nghĩ. Khi có gia đình, hạnh phúc được làm cha, tiếng gọi “Ba” của đứa con gái yêu chưa dành cho ông khiến ông “khổ tâm đến nỗi không khác được, chỉ biết nhìn con vừa khẽ lắc đầu vừa cười”. Phản ứng tâm lí của Thu là hoàn toàn tự nhiên. Thu còn quá bé để có thể hiểu tình thế éo le xảy ra trong chiến tranh. Bản thân người lớn cũng chưa ai chuẩn bị cho Thu ứng phó với bất thường. Điều đó, người đọc cảm được tình cảm chân thật, sâu sắc, mãnh liệt Thu dành cho ba người mà Thu biết trên ảnh, người cha được cô bé ghi sâu trong lòng từ tấm ảnh, không phải người đàn ông xưng là "ba". Đến khi được bà ngoại tháo gỡ thắc mắc trong lòng, về lai lịch vết thẹo, Thu vỡ lẽ đó thực là ba mình. Trăn trở dằn vặt, cùng tình yêu, khát khao bấy lâu mong gặp mặt cha dồn nén, bùng nổ dữ dội, quyết liệt vào giờ phút trước khi người cha lên đường. Tiếng “Ba... a... a... ba !” vỡ ra từ sâu thẳm lòng cô bé. Tiếng kêu mà ba nó chờ đợi bao năm ròng. Tiếng kêu làm nhói tim mọi người. Ông Sáu sung sướng, hạnh phúc nghẹn lời, không cầm được nước mắt. Thu vồ vập, cuống quít, níu giữ cha, níu giữ yêu thương bấy lâu nó mong đợi. “Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”, “hai tay nó xiết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run”. Đối với người cha, đó là tiếng “ba” đầu tiên và cũng là tiếng yêu thương cuối cùng ông được nghe từ con ! Ở chiến khu, ông cố gắng hết sức, thận trọng, tỉ mỉ làm cho con chiếc lược ngà. Ông đặt vào đấy tất cả tình cảm cha con. Chiếc lược trở thành vật thiêng, an ủi ông “gỡ rối phần nào tâm trạng”, nuôi dưỡng tình cha con. Ông thường xuyên “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt”. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ thành một nghệ nhân nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một tác phẩm duy nhất trong đời. Trước khi nhắm mắt xuôi tay, ông Sáu vẫn nhớ chiếc lược, nhờ bạn chuyển lại cho con - cử chỉ chuyển giao đó là một ước nguyện giữ gìn muôn đời tình cảm cha con, ruột thịt. Truyện “Chiếc lược ngà” đã diễn tả một cách cảm động tình cha con thắm thiết, sâu nặng của cha con ông Sáu trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh. Hình ảnh cây lược được gắn vào đó một trái tim thổn thức

tình ruột thịt, khẳng định giá trị nhân bản sâu sắc, cao đẹp thiêng liêng ! (Sưu tầm) Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và "Truyện Kiều" Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và "Truyện Kiều" I.Nguyễn Du 1.Nguyễn Du ( 1765 – 1820 ), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh trưởng trong một gia đình đại quí tộc có truyền thống văn học và nhiều đời làm quan. 2.Nguyễn Du sinh trưởng trong một thời đại có nhiều biến động dữ dội: Xã hội phong kiến Việt Nam bước vào thời kì khủng hoảng sâu sắc, phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra liên tục mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn. Phong trào nông dân Tây Sơn thất bại, chế độ phong kiến triều Nguyễn được thiết lập. 3.Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Du đã sống nhiều năm phiêu bạt trên đất Bắc( 1786 – 1796 ) rồi về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh ( 1796 – 182). Sau khi Nguyễn ánh lên ngôi, Nguyễn Du ra làm quan bất đắc dĩ với triều Nguyễn. Năm 1813 – 1814, ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc, năm 1820 khi chuẩn bị làm chánh sứ sang Trung Quốc lần thứ hai, nhưng chưa kịp đi thì ông bị bệnh và mất tại Huế. 4.Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hoá dân tộc và văn chương Trung Quốc. Cuộc đời từng trải, đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho ông một vốn sống phong phú và niềm cảm thông sâu sắc với những đau khổ của nhân dân. Nguyễn Du là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. 5.Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớn bằng chữ Hán và chữ Nôm. Về chữ Hán Nguyễn Du có ba tập thơ ( Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục ) với tổng số 243 bài. Về chữ Nôm xuất sắc nhất là Đoạn trường tân thanh, thường gọi là Truyện Kiều, ngoài ra còn có Văn chiêu hồn. II.Truyện Kiều 1.Nguồn gốc Truyện Kiều: Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du có dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ( Trung

Quốc ). Nhưng phần sáng tạo của Nguyễn Du là hết sức lớn, mang ý nghĩa quyết định đến sự thành công của tác phẩm. 2.Tóm tắt Truyện Kiều Truyện Kiều bao gồm 3254 câu thơ lục bát và được chia làm 3 phần; -Gặp gỡ và đính ước -Gia biến và lưu lạc -Đoàn tụ 2.Giá trị nội dung và nghệ thuật a.Nội dung: Truyện Kiều có hai giá trị lớn là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo, là tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người, tiếng nói lên án, tố cáo những thế lực xấu xa, tiếng nói khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và những khát vọng chân chính của con người như khát vọng về quyền sống, khát vọng tự do, công lí, khát vọng tình yêu, hạnh phúc… b.Nghệ thuật: Tác phẩm là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngôn ngữ và thể loại. Với Truyện Kiều, ngôn ngữ văn học dân tộc và thể thơ lục bát đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ. Nghệ thuật tự sự đã có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn truyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lí con người. (Sưu tầm) Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. A- Mở bài: - Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Ông gắn bó với thôn quê, từ lâu đã am hiểu người nông dân. Đi kháng chiến, ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân - Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948, trên số đầu tiên của tạp

một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm. b. tình yêu nước. ngày mai dăm khẩu. chỗ kia giết một tí. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người. .…” đã xong chưa? . . . xẻ hào. không tin không được. ông nhớ quá cái khong khí “đào đường. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc.chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương. Sau cách mạng. người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. khuân đá…”. B. ông xấu hổ lảng ra về. Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi. nhân vật ông Hai. tinh thần kháng chiến. đi theo kháng chiến. thông qua một con người cụ thể. đắp ụ.… những đường hầm bí mật. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước. c. chỗ này giết một tí. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. thích bìh luận.Thân bài 1. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm. Nhưng khi người ta kể rành rọt. hôm nay dăm khẩu. náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế. rồi ông lo “cái chòi gác. Tình yêu làng.Ông hay khoe làng. 2. Phải xa làng.Khi mới nghe tin xấu đó.Được cách mạng giải phóng. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc.Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến. a. làm gì mà thằng Tây không bước sớm”. tích tiểu thành đại.Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần. chưa tin. . . in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có. ông sững sờ. cả súng cũng vậy. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng. tình cảm quê hương đất nước.

Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà. bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai.Tình cảm đối với kháng chiến. . . ta thấy rõ: • Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc). d. Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”. . với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông. • Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”. + Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng.Về đến nhà. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ. lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân. nhìn thấy các con. chân thành. nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế.Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá. Nhưng tình yêu nước. vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. + Qua đó. .. gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ. Ông luôn hoảng hốt giật mình. hắt hủi”. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu.Ba bốn ngày sau. bố của nó. Khi cái tin kia được cải chính. Ông giận những người ở lại làng. Tình cảm đó sâu nặng. lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt. . ông không dám ra ngoài.

đó là: Bông~ nhận ra hương ôi? Phả vào trong gió se . C.Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật. cao quý trong những người nông dân lao động bình thường. ngôn ngữ đối thoại và độc thoại.Qua nhân vật ông Hai. yêu nước rất mộc mạc. Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động. 3. . Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân.. "Sang thu" bắt đầu bằng những cảm nhận của nhà thơ trước tín hiệu giao mùa. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý. (ST) [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image002. mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng (Đây mùa thu tới) Thì với Hữu Thỉnh.gif[/IMG] Bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh "Sang Thu" mang cảm xúc bâng khuâng. vấn vương trước đất trời trong trẻo đang biến chuyển nhẹ nhàng. người đọc thấm thía tình yêu làng.Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng.Kết bài: . . hành vi.Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông. Nếu như thu trong thơ Xuân Diệu bắt đầu với "sắc mơ phai" dệt giữa muôn ngàn cây. chân thành mà vô cùng sâu nặng. Đây mùa thu tới.Miêu tả rất cụ thể. gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ. .

nồng nàn giữa cái nhẹ nhàng. Dòng nước thu êm ả trôi. se se lạnh của cơn gió heo may đương thưở non tơ. rề rà như đợi chờ hè qua. Những cảm nhận của nhà thơ về thu bắt đầu rõ nét hơn. Nếu như "Thu điếu" của Nguyễn Khuyến đương thú vị ở các "điệu xanh" thì bỗng buông môt điệu vàng của chiếc lá thu rơi. của Bắc Việt thương mến. tinh tế hơn. là từ tôn'.. Sương chậm rãi. ngỡ ngàng biết bao khi nhà thơ phát hiện ra hương vị thơm đượm. Nhẹ thế mà thu-đang-về. ta vẫn cảm nhận được cái vàng ươm thi vị ấy. mùa xuân ơi-mùa xuân của Hà Nôi thân yêu. lạ hơn. thấm đến tâm hồn người đọc mà gieo vào lòng đọc giả và nhà thơ những cảm xúc riêng. sự vật ấy với những nét cựa quậy chuyển mình sang thu. chầm chậm. Trong "th ương nhớ 12" Vũ Băng viết: "Đẹp quá đi." Phải là 1 con người yêu cuôc sông'. hòa vào ko gian thu. cuốn vào khứu giác thi nhân. Sự vật sang thu đậm tình cảm cảm xúc. Nhưng khác hẳn với sự từ tôn' đáng yêu ấy là những cánh chim thu bắt đầu vôi. ngõ xóm như chào đón thu về. chào đón thu.Bất ngờ. Tưởng chừng ko gian chính là 1 bức mành mỏng manh. nhè nhẹ. Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Nhà thơ thấy đám mây ấy. Bởi Hữu Thỉnh ko chấm lên đó 1 mảng màu vàng nhưng trong cái vị nông` nàn thơm đượm của hương ôi?. Là làn sương mỏng manh như tơ liễu buông mành. tràn ra. "Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư long lanh với sắc thu vàng trầm buồn trong thơ mới. để thi nhân bất chợt cất lên tiếng reo khe khẽ: Hình như thu đã về 1 cảm giác mơ hô`. .1 cảm nhận sâu lắng nhẹ nhàng đọng trong lòng thi nhân. Ko còn là dòng nc xoáy hay dòng sông mùa hạ vùn vụt lao đầu về phía trước.. Cái hương vị ấy của vườn mẹ cứ ngào ngạt phả vào không gian. và cả tác phẩm häi họa "Mùa thu vàng" nôi? tiếng của Lêvitan cũng lấp lánh 1 sắc vàng rực rỡ. Những cảm nhận tinh tế của nhà thơ cứ thế cuồn cuộn chảy trên trang giấy. vã bay về phương nam tránh rét. sinh đông. dịu dàng như chính chất thu mới đang lan tỏa trong ko gian. Sự đôi' lập giữa 2 hình ảnh tạo nên 1 nét thu chân thực. mới lạ và độc đáo. dềnh dàng. đủng đỉnh. thì "Sang thu" mới hơn. giăng mắc nơi đầu thôn. Sương chùng chình qua ngõ Sưong "chùng chình" qua ngõ. mát mẻ và đậm chất thu. vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu. gắn bó tha thiết với quê hương và yêu quê hương nông` nàn thì Vũ Bằng và Hữu Thỉnh mới có những vần thơ rung động lòng người đến vậy! Khổ thơ t2 tiếp tục trong cái mạch cảm xúc mênh mang ấy của nhà thơ Sông đc lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vôi. mà đó là dềnh dàng. hoài nghi thấp thoáng trong cảm nhận của nhà thơ nhưng lại gợi được sự mong đợi.

nhạy cảm khi mùa thu tới. Đó là 1 khúc sang thu vừa thơ mông. nhất là những ngòi bút thơ: hễ động bút là mùa thu cứ chực đổ ùa ra trên mặt giấy. Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuôi? Vẫn còn mưa đấy. Cảm nhận sắc nét ấy còn là những hình ảnh thực. Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuôi Phải chăng với những con người từng trải với mưa nắng cuộc đời thì họ đón nhận những thử thách ấy 1 cách vững vàng. Tưởng như với đề tài thơ mộng muôn thuở này có thể dễ dàng chắp bút. những sấm. Chỉ đến khi bắt đầu cầm bút ngồi trước mặt giấy. Mùa thu dường như luôn luôn nấp sẵn trong ngòi bút của chúng ta. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Nói về đề tài mùa thu. những cảm nhận dần đi vào lí trí. vừa bâng khuâng gợi vẻ triết lí. nhưng lại gợi suy nghĩ về con người. vất vả lo toan của của cuộc đời mà nhà thơ đã cảm nhận đc. Nhưng tất cả đã giảm về sô' lượng. những giông bão. .. những nắng. sấm ấy có lẽ chính là những mưa. mưa ấy. nắng đấy. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Sang thu của Hữu Thỉnh xuất hiện khi trước nó đã có rất nhiều bài thơ nổi tiếng đông tây kim cổ: Thu hứng (Đỗ Phủ). sấm vẫn còn ầm ì trên các ngọn cây. 1 nửa rực nắng mùa hạ. Đây mùa thu tới (Xuân Diệu)… Nhưng nó vẫn có cái hay. cái độc đáo riêng của một hồn thơ sâu lắng. tôi mới thấy đề tài này thật là khó” Tại sao lại có nghịch lí trong kinh nghiệm của người sáng tác như vậy? Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. nửa kia dịu mát sắc thu. 1 sự ngăn cách vô hình. Chùm thơ thu (Nguyễn Khuyến). bình tĩnh. vẫn còn dấu ấn của hạ nắng.trong suôt'. Sưu tầm Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu.. 2 dòng kết chính là thể hiện bàn tay tài hoa của tác giả. Những rung cảm tinh tế đến từng chi tiết nhỏ nhất.. Nắng ấy. một tác giả đã nhận định: “Đề tài "Mùa Thu" bao giờ cũng có vẻ là dễ viết. Hai dòng thơ vẫn tả cái bước đi êm nhẹ của thiên nhiên. chia đám mây làm đôi.

Không hề có một từ định tính để miêu tả thế giới thu. sương như người khách ngập ngừng nơi đầu ngõ. hệ thống động từ toàn bài còn đặc sắc ở chỗ. duyên dáng nối hai mùa là một liên tưởng thực sự độc đáo. những cánh chim vội vã tìm về phương ấm áp… Song thời điểm chớm thu không phải chỉ hiển hiện ở những dấu hiệu mơ hồ trong trạng thái biến chuyển của cảnh vật. Đó không phải là chính thu. nhưng gió se chứ không phải là gió lạnh. liễu.. Se gợi một động thái.. khi bầu trời xanh ngắt lơ lửng những tầng cao. mà ở cả chút ngỡ ngàng bâng khuâng của lòng người: “Bỗng nhận ra hương ổi”. Thành công nổi bật nhất của bài cũng là ở một hệ thống những động từ miêu tả rất giàu cảm giác: “phả”.Ngay từ tiêu đề. Dòng nước thu vốn trong trẻo và sâu hút làm người ta khó mà thấy rõ được sự chuyển động nó nên cảm giác sông lững lờ trôi cũng rất hiện thực. hay đám mây cũng không tô điểm cho phong cảnh thu bằng những gam màu đặc trưng của nó. cái tứ kết buộc hệ thống hình ảnh trong bài cũng chỉ gói gọn trong chút “chớm” mỏng manh đó. Đám mây như tấm khoăn voan của người thiếu nữ. hay khi cái rét mùa đông đã lẩn vào trong gió…Sang thu nghĩa là mới chớm thu thôi. Truyền thống thơ thường kiến trúc ngôi nhà thu bằng những chất liệu quen thuộc như cúc. Song trên hết. Tinh tế và sống động sao một buổi sáng chớm thu. “se”. khi nắng trời đã nhuộm đỏ lá bàng. “Hình như thu đã về”… Tiếp tục thể hiện những dấu hiệu mùa thu rõ rệt hơn nhưng ý nghĩa của khổ cuối không chỉ dừng lại ở đó: Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ . tác giả đã tự xác định một thời điểm miêu tả: thời điểm giao mùa. cánh chim. “chùng chình” “dềnh dàng” “bắt đầu vội vã” “vắt nửa mình”… “Chùng chình” trước hết gợi tả chính xác những làn sương như ngưng lại và nhẹ nhàng tỏa lan ngõ xóm. Nhưng hương ổi “thơm” như thế nào thì thi sĩ hoàn toàn không miêu tả. Dòng sông. Có gió. gió se lại bởi chút lạnh xa xăm. Đặc biệt ở góc độ miêu tả tạo vật. không phải cuối thu. mùi hương vừa đặc trưng cho mùa vừa đặc trưng cho làng thôn ngõ xóm. nó không chỉ miêu tả chính xác trạng thái của tạo vật mà còn thổi vào tạo vật những cảm giác rất người. Có hương ổi. ngô đồng hay màu trời. hơn là gợi một cảm giác. sắc nước… Hữu Thỉnh hầu như khơi gợi cảm giác về mùa trong trạng thái mơ hồ của tạo vật. Làn sương giăng phủ ngõ thôn chẳng được đặc tả ở mức độ (mù mịt) hay màu sắc (trắng mờ).

cường độ… Hàng cây như đã quá quen với nắng lửa mưa giông. không còn dữ dội nữa. “đứng tuổi” khiến ý nghĩa của câu thơ không dừng lại ở nét nghĩa tả thực mà có chiều sâu hơn. sấm chớp… hay là những vang động của cuộc đời? Trong tương quan ấy.jpg[/IMG] Mùa thu quả nhiên là mùa nhạy cảm bậc nhất trong năm. khi đọc bài thơ này. bao đời nay luôn có sự đua ganh giữa hồn thơ với hồn tạo vật. chắc cũng không xuể. Mà cùng Hữu Thỉnh. Miền kí ức tuổi thơ được đánh thức bởi mùi hương ổi.chớm thu. được gọi một cách hình ảnh là “hàng cây đứng tuổi”. Chỉ cần điểm sơ qua những tín hiệu từng được hồn thơ từ cổ chí kim nắm bắt trong những thi ảnh không thôi. bởi ngõ xóm thân quen ấy. Nắng. Con người cùng Tạo vật thảy đều nhạy cảm. những tín hiệu mơ hồ nhất từ những giao chuyển âm thầm trong vạn vật. Không hiểu sao. một tiền đề nữa.Hữu Thỉnh Chu Văn Sơn [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image003. nghĩa là không tái hiện lại một truyền thống. Sưu tầm Sang Thu . Và có lẽ cũng nhờ giọng điệu êm nhẹ dễ cuốn người đọc vào dòng cảm xúc. hàng cây tượng trưng cho con người từng trải mà bao dâu bể biến đổi không còn đáng ngạc nhiên. cái thời điểm mà sự nhạy cảm của hồn tạo vật luôn thách thức với sự nhạy cảm của hồn người vẫn là thời khắc giao mùa . Các kênh cảm giác và cả tâm cảm nữa của mỗi hồn thơ dường như đều được huy động tối đa để nắm bắt những làn sóng. chỉ điểm qua những thi tứ nổi bật dành cho nhịp chuyển mùa thôi. Chả thế mà. Đây xứng đáng là một bài thơ thu hay trong thế giới thi ca. Cảnh như sâu lắng hơn bởi liên tưởng suy tư về mùa thu đời người. suy nghĩ tự nhiên của tác giả. mưa. tôi sẽ không nấn ná làm cái việc rút tỉa những thi ảnh và thi tứ tiêu biểu về thời điểm nhạy cảm ấy của thơ ca các thời. cũng khó đủ giấy mực rồi. Tuy nhiên.Trên hàng cây đứng tuổi Con người cảm thấy biết bao biểu hiện khác biệt của thời tiết khi mùa thu tới: mưa và sấm thưa dần. Chính các từ “bất ngờ”. Cho nên. Sang thu. bước ngay…Sang thu . Gọn nhẹ hơn. tất cả các dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn nhưng đã giảm dần mức độ. Nét độc đáo nhất của bài là những hình ảnh chính xác và giàu sức gợi tạo nên một bức tranh thu giản dị mà sống động./. tôi chợt thấy nhớ rất nhiều những năm tháng đã qua của mình.

đến cả những miền chưa từng có mùa thu nữa. đấy thay đổi tinh vi. ai chẳng thấy chính tác giả đã tự chia bài thơ thành ba khổ khúc chiết. nó vừa giành được một chỗ xứng đáng trong chương trình Văn và Tiếng Việt của nhà trường. sương chùng chình. ngay cả “Sách giáo viên” hướng dẫn người dạy khai thác và soạn giảng chừng như cũng “ bí” trong việc phân định . hương ổi của thi phẩm sẽ phả vào tâm hồn của nhiều thế hệ học trò. nắng vẫn còn.Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi Thu. Từ cấu trúc … Trước tiên. mưa đã vơi. khổ một nghiêng về những tín hiệu mách bảo sự hiện diện đây đó của mùa thu. sẽ được những tâm hồn ấy mang tới bao nẻo thu. Khổ hai lại nghiêng về những cảnh sắc trời mây sông nước đang chuyển mình sang thu. Thì quanh đi quẩn lại vẫn là thế : hương ổi. Đọc kĩ hơn thì thấy rằng: cùng viết về thiên nhiên lúc giao mùa. hàng cây đứng tuổi… chẳng dáng nét thu về. vô tổ chức ? Không hẳn. Đến nỗi. sông dềnh dàng. Về bố cục. từ góc nhìn vườn ngõ : Bỗng nhận ra hương ổi /Phả vào trong gió se /Sương chùng chình qua ngõ /Hình như thu đã về. Nhưng về ý tứ ? Xem chừng ý khổ này cứ “dính” vào khổ kia. còn ý thơ thì vốn thiếu rành mạch. Hay việc chia thành ba khổ thế chỉ hoàn toàn do cảm tính lúc viết của thi sĩ. sấm bớt bất ngờ. Ý đâu có khác gì nhau. chim vội vã. đây đổi thay tinh tế. chả chịu rành mạch gì cả. 1977 Tôi mừng cho Hữu Thỉnh và bài thơ. Kể từ nay. nhưng mỗi khổ thơ vẫn nghiêng về một ý. gió se. Về cảnh vật. Hình thái tổ chức của Sang thu đâu dễ nhận diện. thử đi vào cấu trúc của thi phẩm. thì hình sắc thu sang. 1. với tầm nhìn rộng xa vào bầu trời mặt đất : Sông được lúc dềnh dàng / Chim bắt đầu vội .

dù đậm hay nhạt. là các cấp độ của mạch nghĩ. từ thấp đến cao. ba khổ thơ đã được liên kết thành một chỉnh thể nhuần nhị nhờ vào một trật tự khá tự nhiên : từ gần đến xa. từ hẹp đến rộng. có vẻ “dính”. từ khổ một đến khổ ba. cảnh trong tình. bao giờ cũng là tình. cả người khờ khạo nhất cũng phải thấy rằng : thơ thiên nhiên không đơn thuần chỉ có cảnh. vẫn là một kiến trúc ngôn từ với một cấu trúc thật tinh vi. Cho nên. nhưng bề sâu. tiếng thơ khá tinh tế của một thi sĩ đương thời : Mướp tàn sen cũng đi tu / Lá tre đã thả một mùa heo may / Con sông không ốm mà gầy / Mắt em chưa tối đã đầy hoàng hôn. . đâu phải là thiếu rành mạch. Như vậy.vã/Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu. Sau một thoáng ngỡ ngàng ở khổ một (… Hình như thu đã về). từ ngoài vào trong. 2. … đến điệu tâm hồn Cảm nhận tạo vật lúc sang thu. Có thể nôm na hoá qua sơ đồ sau : [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image005. Ví như bài Thu cảm. đa phần các thi sĩ nghiêng về vẻ biến suy một chiều của cảnh. dù kín hay lộ. thần thái của cảnh thu thường hiện lên qua vẻ tiêu sơ.jpg[/IMG] Thế đấy. qua phân tích trên đây cũng đủ thấy rằng : một tiếng thơ dù bình dị hồn nhiên thế nào đi nữa. khổ hai : tri giác. Tình trong cảnh. Trái lại là đằng khác ấy chứ ! Rõ ràng. Chúng đan bện với nhau khiến cấu trúc nghệ thuật càng tinh vi phức tạp. và kết lại ở khổ ba với vẻ trầm ngâm(… Sấm cũng bớt bất ngờ / trên hàng cây đứng tuổi). thi phẩm là sự đồng hành và hoá thân vào nhau của ba mạch nội dung vừa rõ nét vừa sống động. khổ ba lại nghiêng về những biến đổi bên trong các hiện tượng thiên nhiên và tạo vật : Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa/Sấm cũng bớt bất ngờ/Trên hàng cây đứng tuổi. Vì thế. đồng hành với mạch cảnh sắc trên đây. Sự đan xen các mạch này là một khía cạnh phức tạp không thể thiếu của cấu trúc. Mạch cảm và mạch nghĩ bao giờ cũng song hành và chuyển hoá sang nhau trong cùng một dòng tâm tư . bề ngoài. khổ ba : suy ngẫm. Cùng với cảnh. Trong khi đó. cấu trúc của thi phẩm này. Không chỉ có thế. là đến niềm say sưa ở khổ hai (…Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu). Cụ thể là mạch cảm nghĩ trước mùa thu. với các lớp cảnh càng ngày càng đi vào chiều sâu… Một trật tự hợp lí tự nhiên bao giờ cũng là điều sinh tử để một sản phẩm nghệ thuật hiện ra như một sinh thể ! Nhưng. Rõ ràng. Tương ứng với những cung bậc của mạch cảm. là tâm tư của thi sĩ. Khổ đầu : bất giác.

Và. đã hiện ra không chỉ có biến thiên. Nó rõ nhất ở khổ ba : Vẫn còn bao nhiêu nắng /Đã vơi dần cơn mưa /Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. Nhờ lối viết nén.trưởng kia lại đan dệt trong nhau khá nhuần nhuyễn tạo nên cái bản giao hưởng gợi cảm của đất trời thu. say sưa tri giác như khổ hai. tức là đã giảm . song cả hai đều thuộc về thần thái của mùa thu. là cây đã trưởng thành. Hệ thống các từ còn (-hết). Đừng nghĩ thi sĩ cố ý đặt bày hai mạch tương phản nhằm chơi trò lạ hoá. lời thơ súc tích hẳn nhờ các làn nghĩa giao nhập ràng néo . Lớp từ mang sắc thái đong đếm ở đây mách với ta điều đó. mấy chữ “bớt bất ngờ” như một nút buộc. Khi nắng “còn” cũng là khi mưa “vơi”. không thể không thêm vài lời về cách lập tứ dẫn tới kết. chậm. giấu cương sau nhu này : Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi ? Nói đến câu kết kia.chim vội vã . bớt (thêm) bảo rằng thi sĩ đang suy xét. câu thơ bỗng có “cú pháp dính”. nhiều…) : hương ổi phả . tôi ngờ rằng cảm quan quân bình về đời sống đã ngấm ngầm xui thi sĩ tìm đến cái kết điềm tĩnh trước ba động. Toàn cảnh thu trong bước chuyển mùa. sắc thái dương tính (mạnh. Nó chính là hiện tượng trái chiều mà cùng hướng ta vẫn thường thấy trong mỗi cuộc đổi thay. không đơn tuyến. một trong những nét đặc sắc của bài Sang thu là có hai hệ thống tín hiệu báo mùa có vẻ phản trái nhau. sông dềnh dàng.suy. Tạm đặt tên là nhịp mạnh và nhịp nhẹ. thì chiều giảm đột ngột thành chiều tăng. tâm thế thi sĩ không còn ngỡ ngàng bất giác như khổ một. chiêm nghiệm. Trong thiên nhiên đã vậy. thật thú vị mà cũng thật hiển nhiên là hai nhịp mạnh nhẹ với hệ thống hưng . nhờ lối cảm ấy. Ấy là sự từng trải tăng lên. khi câu ba nối vào câu kết. Ba câu trên : nắng “vẫn còn”. mà lòng đã nặng hơn.vẫn còn bao nhiêu nắng… Nhịp nhẹ thì nghiêng về âm tính (êm. Chiêm nghiệm điều gì ? Về một lẽ đời trong hai chiều biến đổi trái nhau. vơi (-đầy). đã ra chiều trầm ngâm với suy ngẫm rồi. Nhưng. Cả ba nghiêng về chiều giảm. nhanh. mà đây đó còn cả thế quân bình. tiêu . sấm “bớt bất ngờ” càng giảm. mưa “vơi dần” rõ là giảm . Nhịp mạnh bao gồm những động thái. Trong cuộc đời cũng thế. thì cũng là lúc bắt gặp sương “chùng chình” qua ngõ. Có thể xem đó là nét phức điệu trong cảm nhận ngoại giới của hồn thơ Hữu Thỉnh. ít…) : sương chùng chình. Chẳng phải thế sao ? Chẳng phải bao mạch sống đang cần mẫn chuyển lưu trong lòng tạo vật làm nên cõi sống trường cửu này vốn vẫn tương sinh tương khắc như vậy sao ? Và chẳng phải những vận động trái chiều mà cùng hướng vẫn thường đem đến cho sự sống thế quân bình ngay trong lòng mỗi nhịp biến thiên hay sao ? Cho nên. Chính lúc sông “dềnh dàng” là lúc chim “vội vã”.Cảm nhận của Hữu Thỉnh khác. đúc kết. Tôi cho rằng. mưa vơi dần… Lúc bất giác nhận ra hương ổi “phả” vào trong gió se. sẽ thấy rằng đến đây. một chiều tăng kín đáo : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. Để ý một chút. Luôn thấy được thế quân bình ngay giữa những biến thiên thì ít bất ngờ chao đảo.

rồi thì sông được lúc dềnh dàng… xem ra. là lối viết đâu có gì lạ về thi pháp. Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa”. hay cây bớt bị bất ngờ (cây thôi e sấm)? Có lẽ là cả hai. Mà ấn tượng nhất hẳn phải là cảnh tượng Có đám mây mùa hạ/Vắt nửa mình sang thu. Nhưng cái nhịp luân chuyển chung chi phối vạn vật thì bao giờ cũng khẩn trương và mau lẹ. nhưng xem chừng. đây là lối kết theo kiểu “đảo phách”. Điều này khỏi bàn thêm. Người đọc cũng dễ say với những nét tài hoa trong việc sử dụng nhuần nhuyễn yếu tố cổ điển của thi sĩ. Thế mà thi ảnh lại mới. có một chất rất dễ nhận : dân gian. hô ứng và tiếp ứng nhau làm hiển thị cái nhịp luân chuyển trong tạo vật vốn mải mê mà vô hình. Vẫn còn bao nhiêu nắng-Đã vơi dần cơn mưa. Nào những hương ổi phả vào trong gió se. mà xem ra lại khó thấy : Đường thi.nhau : sấm bớt gây bất ngờ (sấm đã e cây). ra là phép đối ! Thế là nhuyễn. thì mới vỡ lẽ: ồ. cái vế sau mới là chốt hạ. mà hiển lộ nhất là ở phép đối ngẫu được dùng khá nhuyễn : Sông được lúc dềnh dàng-Chim bắt đầu vội vã . thậm chí được nhu hoá. hình sắc lại gợi. Đám mây thực thế mà ảo thế ! Cái cách “vắt nửa mình” kia sao mà thi vị ! Có thật chăng một đám mây vốn của mùa hè đang mải mê lấn sân sang mùa thu ? Có mà không có. Có lẽ khi đọc các cặp ấy. Một cú đảo phách ngoạn mục. Sao lại cặp kè ? Thì một trong những chiêu rất Hữu Thỉnh chẳng phải là chế tác thi liệu dân gian bằng thi pháp Đường ư ? Cố nhiên. làm định dạng cái vốn mơ hồ. Chẳng thế mà các chi tiết gợi cảm của thi phẩm đã cuốn hút nhiều người yêu thơ. luôn cặp kè. trong cách kiệm lời. Có thể nói. là tinh chứ sao ! . Ở Sang Thu. Bởi đảo mà cứ như không. Còn có một chất khác. ở thi phẩm này. Làm xác định cái không xác định. anh không chỉ có chiêu này. Hữu Thỉnh còn tỏ ra tinh hơn nữa trong sự đồng điệu với nhịp chuyển mùa. Nhờ ngữ pháp ấy mà cái ý cương kia liền được giấu kín nhẹm. ít ai để ý đến nghệ thuật tổ chức. Mấy chữ ấy đi với nhau thành cặp. thật mà không thật. Những hiện tượng riêng lẻ thì gồm cả hai hệ thống tín hiệu trái chiều. thi ảnh nào cũng tài hoa. chỉ lúc chợt ngoái lại. Cứ y như giữa mùa thu và mùa hè vẫn có một lằn ranh làm bằng sợi dây vô hình giăng ra giữa thinh không. tâm trí ta bị trôi theo lời thơ bình đạm. nào sương chùng chình qua ngõ. khiến đám mây yêu kiều và đỏng đảnh kia có thể vắt nửa mình qua đó mà khoe sắc phô duyên vậy ! Mà đâu chỉ trong quan sát. Đọc Hữu Thỉnh. cái súc tích Đường thi kết hợp với chất hồn nhiên thơ trẻ cứ loáng thoáng đâu đó trong cách nhìn tạo vật. Nhịp luân chuyển ấy dường như đã nhập vào mấy chữ tưởng rất không đâu mà lại thần tình này: Sông được lúc dềnh dàng/Chim bắt đầu vội vã . có chậm có nhanh. * Sang thu là bài thơ tinh tế. khiến cái vô hình thành hữu hình.

giấu người vào cây là bề sâu. phát động một lớp nghĩa khác cho bài thơ. đó vẫn là những tinh tế tiểu tiết và dễ viết. Trong thực tế. Hữu Thỉnh chưa đem đến cái gì mới hơn so với các tiếng thơ thuộc thi đề thu của những người đi trước. mà còn vang lên cả từ tương quan giữa văn bản với những thứ bên ngoài vốn thiết thân với nó nữa. Có lẽ như những thước phim về cảnh vật thiên nhiên thì phải hơn. cuộc sống vừa qua khỏi thời chiến đầy khốc liệt đang chuyển sang thời bình êm ả. Ví như hoàn cảnh sáng tác . tự dưng chúng ta thấy các . Đôi khi quá chú mục vào cái tinh tế trong tiểu tiết có thể quên sự tinh vi trong đại cục. ở nhiều lần in cũng ghi rõ như vậy. Tác giả cho biết thời điểm viết Sang thu là mùa thu 1977. Nhờ đó. những hàm ý kín đáo kia toát lên trước hết từ nghĩa bóng đây đó của các thi ảnh. Nó đâu chỉ nói cây.v… Nhưng nếu chỉ có thế thì ý nghĩa của chúng còn lờ mờ. Sang thu cũng mới là thơ tạo vật. chim vội vã v. đời sống sang thu và đời người sang thu. Tôi muốn nói đến điều khác : ý tưởng bao trùm. vì ít nhất. có sự chất chồng và giao thoa của ba lớp nghĩa : trời đất sang thu. Lớp nghĩa kia chỉ thực sự bật hầm khi hình ảnh cuối cùng đột hiện : Sấm cũng bớt bất ngờ / Trên hàng cây đứng tuổi. chưa đủ tạo hẳn ra một lớp nghĩa khác cho văn bản. thi phẩm nhỏ đã mang thi tứ lớn. cũng chưa phổ được vào đó hơi thở của thời mình. chúng ta thấy từ mạch hình ảnh thiên nhiên rải khắp bài thơ bỗng bừng dậy một lớp nghĩa khác gắn với con người và cuộc đời. Cảm thụ nghệ thuật. Nhưng. Ai cũng có thể thấy những ẩn ý nào đó thấp thoáng sau lối viết ẩn dụ trong các thi ảnh rải rác ngay từ đầu sương chùng chình. Tranh thì tĩnh. Sự mẫn cảm của tâm hồn thi sĩ đã được dịp phô diễn qua những thi ảnh giàu mỹ cảm trong việc nắm bắt bao vận động. nếu chỉ thế thôi. chưa xa gì hơn một lối nói sinh động về sự vật. Tất nhiên. Một thi tứ đa tầng khiến hình tượng thơ thành đa nghĩa.Tuy nhiên. Đây là lúc trong lòng đời có bao trăn trở xao động. Nhìn bài thơ trong tương quan với thời điểm ấy. Nghĩa là. Lớp nghĩa thứ nhất dễ thấy. tinh thần của thế hệ mình. Điều này ngẫu nhiên chăng ? vô nghĩa chăng ? Không hẳn. Ý tưởng Sang thu được gói kín vào thi tứ. Không. thông điệp nghệ thuật của một tác phẩm không chỉ cất lên từ những gì thuộc nội bộ văn bản. căn cứ quan trọng nhất là văn bản. chuyển động. Tự dưng. khi nhìn trong tương quan khác. sông dềnh dàng. Sang thu đa nghĩa. Chữ “đứng tuổi” bật sáng. Vì nó ở bề nổi của văn bản thơ. biến động âm thầm và sâu kín của thiên nhiên. chỉ bó hẹp trong văn bản không thôi. Hai lớp nghĩa sau mới thật là thứ hương ổi riêng mà Hữu Thỉnh phả vào trong thi đề này. phim mới động. Bấy giờ. Nhưng. Nó khiến bài thơ như một bức tranh thiên nhiên. Có thể thấy rõ hơn nữa. đời sống cũng vừa sang thu. Nó mới là nét tinh vi thuộc về đại cục. Đồng thời. dễ làm nghèo nghệ thuật. mà còn nói người. Nhân hoá cây là bề nổi.

Nếu ở khổ đầu. Năm 1963. bao tủi sầu yếu đuối. Sự từng trải đã giúp cây trưởng thành. Mùa thu còn là chuyện trưởng thành. cái lớp nghĩa thế sự bảng lảng này còn tỏ hơn nữa.Nhà thơ Hữu Thỉnh tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Thỉnh. được xả hơi chăng ? Chả phải vô cớ mà thi sĩ đem chữ “được lúc” gắn với cái thói “dềnh dàng” ấy của sông. mùa thu đâu chỉ có chuyện tiêu sơ. nhưng lòng vẫn còn bao nhiêu nắng. Hữu thỉnh nhập ngũ. Cũng như thế. ý ngầm của kẻ viết vừa khó phát lộ vừa khó gói ghém. thì từ khổ thứ hai đã bảng lảng cái bóng đời.Tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm 1. Không có chữ “đứng tuổi” cứ như lạc hệ thống này. tuy đã sang thu. Bước sang thu. lớp nghĩa thời sự vốn khuất mình không thể phát sáng được.Thiết giáp rồi trở thành cán bộ văn hóa. “Dềnh dàng” đâu chỉ nói về nét riêng của dòng chảy đã chậm hơn khi con sông vào thu. “Chùng chình” còn dễ ưa. thơ còn nặng về tạo vật. cùng diễn tả nhịp vận động chầm chậm. “dềnh dàng” đã khó ưa. hàng cây trẻ hồi nào giờ đã đứng tuổi. ông đã tham gia . Sang thu đã lẳng lặng thành thơ cuộc đời ! (Nguồn: Sưu tầm) Sang thu SANG THU I. tỉnh Vĩnh Phúc. Không có nó. mọi cú giáng của cuộc đời : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. Một cái kết quá là khôn ngoan. Chim bắt đầu vội vã có phải chỉ đơn thuần nói về các loài chim lúc sang thu đang gấp gáp bay đi lánh rét không thôi ? Xem ra. mọi suy cảm trên sẽ thành võ đoán. giờ vào thu đã tự cho phép mình được dềnh dàng. tuyên huấn trong quân đội và bắt đầu sáng tác thơ. Chẳng phải đó là những nét độc đáo mà Hữu Thỉnh đã đem đến cho một thi đề tưởng đã quá ư quen thuộc hay sao ? Từ thơ tạo vật.hình ảnh đó đây nhấp nháy lên những nghĩa khác : nghĩa thế sự. Thì ra. đủ vững trãi đối đầu với mọi ba động. Dường như nó còn ngầm tỏ thái độ về cái điệu sống của những đối tượng nào đó hồi mùa hạ hăng hái xông pha là thế. Hèn chi. sinh năm 1942. Đặc biệt từ khổ hai trở đi.Tác giả . Tôi ngờ rằng đây là khổ thơ mà anh chàng thi sĩ cũng vừa trải qua một mùa hè bỏng rát đang kín đáo nói về thế hệ mình và chính mình ? Vâng. vào binh chủng Tăng . nhưng Sương chùng chình qua ngõ thật khác với Sông được lúc dềnh dàng. nó còn muốn nói tới đối tượng sống tuỳ thời. Đồng thời. Mùa thu đâu chỉ có biến thiên. Mùa thu còn tàng ẩn cả những quân bình tự tại nữa. xu thời nào đó nữa ấy chứ ? Đến khổ thứ ba. bao cơn mưa thở than nay cũng đã vơi dần. quê ở huyện Tam Dương.

. .Nắng cuối hạ còn nồng.Hữu Thỉnh là nhà thơ viết nhiều. Từ chiến hào tới thành phố. . ông đã được Giải thưởng văn học Đông Nam Á. . Những ngày giao mùa này đã ít đi những cơn mưa rào ào ạt. hiện tượng thể hiện sự biến đổi của đất trời lúc sang thu ở khổ đầu của bài thơ . những cánh chim bắt đầu vội vã ở cuối buổi hoàng hôn. V.Dòng sông trôi một cách thanh thản gợi lên vẻ êm dịu của bức tranh thiên nhiên. 2.Phân tích bài thơ 1.Cảm giác giao mùa được diễn tả thú vị qua đám mây mùa hạ “ vắt nửa mình sang thu” .Tâm trạng ngỡ ngàng. Thư mùa đông.Tác phẩm chính: Âm vang chiến hào( in chung ). phả vào trong gió se .Nhà thơ chợt nhận ra tín hiệu của sự chuyển mùa từ ngọn gió se ( nhẹ. khô và hơi lạnh ) mang theo hương ổi đang vào độ chín. .Sương đầu thu giăng mắc nhẹ nhàng.Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam các khóa III. vấn vương trước đất trời trong trẻo đang chuyển biến nhẹ nhàng. Nhiều vần thơ thu của ông mang cảm xúc bâng khuâng.IV. chuyển động chầm chậm nơi đường thôn ngõ xóm. II.Biến chuyển trong không gian lúc sang thu được Hữu Thỉnh cảm nhận qua nhiều yếu tố. .Hoàn cảnh ra đời:Bài thơ Sang thu được Hữu thỉnh sáng tác cuối năm 1977. Với tập thơ Thư mùa đông. còn sáng nhưng nhạt dần. hình như 2. Từ năm 2000. Đường tới thành phố ( trường ca – 1978 ). bằng nhiều giác quan và sự rung động thật tinh tế . . sau đó được in lại nhiều lần trong các tập thơ.Hương ổi lan vào không gian. bất ngờ. viết hay về những con người cuộc sống ở nông thôn. cảm xúc bâng khuâng qua các từ bỗng. về mùa thu. Hữu Thỉnh được bầu làm Tổng thư kí Hội nhà văn Việt Nam.Lúc này cũng bớt đi những tiếng sấm bất ngờ gắn cùng những cơn mưa rào mà mùa hạ thường có.Những hình ảnh. in lần đầu tiên trên báo Văn nghệ.

Và hình ảnh này cũng thật lạ làm sao. . Phân tích hình ảnh "Đầu súng trăng treo" trong bài thơ "Đồng Chí" của Chính Hữu. anh thả hồn theo trăng.Về hai dòng thơ cuối bài. xa cách nhau vời vợi bỗng hoà quyện vào nhau thành một hình tượng gắn liền. Hơn thế nữa. Sau hơn mười năm làm thơ. thơ mộng.3. Chính nhà thơ Hữu Thỉnh đã tâm sự: Với hình ảnh có giá trị tả thực về hiện tượng thiên nhiên này. trăng được Chính Hữu kết tinh thành hình ảnh “đầu súng trăng treo” rất đẹp trong bài thơ Đồng chí của mình. súng và trăng vốn tương phản với nhau. ông muốn gửi gắm suy ngẫm của mìh – khi con người đã từng trải thì cũng vững vàng hơn trước những tác động bất thường của ngoại cảnh của cuộc đời. Cũng có thể hiểu: hàng cây không còn bị bất ngờ. Lúc sang thu. ở truyền thuyết “Chú cuội cung trăng” hay Hằng Nga trộm thuốc trường sinh là những mảng đời sống tinh thần bình dị đậm đà màu sắc dân tộc của nhân dân ta. người chiến sĩ như không còn vướng bận về cảnh chiến đấu sắp diễn ra. soi sáng tình cảm họ. anh say sưa ngắm ánh trăng toả ngời trên đỉnh núi. trăng đã đi vào cuộc chiến đấu. Chính Hữu cho ra mắt tập “Đầu súng trăng treo”. Phải là một người có tâm hồn giàu lãng mạn và một phong thái ung dung bình tĩnh lạc quan thì anh mới có thể nhìn một hình ảnh nên thơ như thế. Giữa núi rừng heo hút “rừng hoang sương muối” giữa đêm thanh vắng tĩnh mịch bỗng xuất hiện một ánh trăng treo lơ lửng giữa bầu trời. soi sáng tâm hồn họ… Giờ đây. cần hiểu với hai tầng nghĩa.đó là một hình ảnh tả thực một bức tranh tả thực và sinh động. Không biết tự bao giờ ánh trăng đã đi vào văn học như một huyền thoại đẹp. bớt đi những tiếng sấm bất ngờ. vẫn say sưa với ánh trăng. Phân tích hình ảnh "Đầu súng trăng treo" trong bài thơ "Đồng Chí" của Chính Hữu. Đầu súng trăng treo. tâm hồn người nông dân “nước mặn đồng chua” hay “đất cày trên sỏi đá” cằn cỗi ngày nào bỗng chốc trở thành người nghệ sĩ đang ngắm nhìn vẻ đẹp ánh trăng vốn có tự ngàn đời. Thế mới biết tác giả đắc ý như thế nào về hình ảnh thật đẹp. bị giật mình vì tiếng sấm nữa. Nhà thơ không phải tả mà chỉ gợi. chỉ đưa hình ảnh nhưng ta liên tưởng nhiều điều. chút nữa đây cũng có thể là giây phút cuối cùng ta còn ở trên đời này nhưng ta vẫn “mặc kệ”. Đêm thanh vắng người lính bên nhau chờ giặc tới. trăng bảo vệ xóm làng. rất thực nhưng không thiếu nét lãng mạn đó. trăng chếch bóng soi sáng rừng hoang bao la rộng lớn. Chút nữa đây không biết ai sống chết.

Ta hãy tưởng tượng xem: giữa đêm khuya rừng núi trập trùng bỗng hiện lên hình ảnh người lính đứng đó với súng khoác trên vai. Súng là hình ảnh người chiến sĩ gan dạ kiên cường. Súng và trưng kết hợp nhau. cái bồng bềnh thơ mộng của một đêm trăng “đứng chờ giặc tới”. trăng cũng là bạn. không phải ngẫu nhiên mà Chính Hun lấy hình ảnh “Đầu súng trăng treo” làm tựa đề cho tập thơ của mình. trăng lên trăng lặn sẽ không còn cái bất ngờ màu nhiệm nữa. ta thử thay bằng từ mọc thì thật thà quá. Sự kết hợp hài hoà tạo nên nét lãng mạn bay bổng vừa gợi tả cụ thể đã nói lên lí tưởng. Nhưng có lẽ cô kết nhất. trong sạch hơn. vì nó là hiện tượng tự nhiên: trăng tròn rồi khuyết. tắm gội tâm hồn họ thanh cao hơn. cả vầng trăng và súng đều tồn tại trên một mặt phẳng và trong hội hoạ nó mang tính biểu tượng cao. Nếu miêu tả hiện thực thì vầng trăng ấy sẽ có hình khối của không gian ba chiều. là đồng chí của anh bộ đội Cụ Hồ. Thế nhưng người lính ấy vẫn đứng cạnh nhau để tâm hồn họ vút lên nở thành vầng trăng.ánh trăng như xua tan cái lạnh giá của đêm sương muối. không quên được nhiệm vụ và trách nhiệm của mình. Đó là biểu tượng Khát Vọng Hoà Bình. chỉ có “Đầu súng trăng treo” mới diễn tả hết được cái hay. Tố Hữu cũng có một câu thơ kiểu này: “ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” và Phạm Tiến Duật thì “Và vầng trăng vượt lên trên quầng lửa” hay Hoàng Hữu “Chỉ một nửa vầng trăng thôi một nửa. từ điểm nhìn xa. Trăng truyền thêm sức mạnh cho họ. lãng mạn của người bảo vệ Tổ quốc. chiến đấu cho ánh trăng mãi nghiêng cười trên đỉnh núi. súng tượng trưng cho chiến đấu. chẳng thơ mộng chút nào.trăng là hình ảnh của thanh bình hạnh phúc. Phải. Súng là con người. ở đây. Cái thân của câu thơ “Đầu súng trăng treo” nằm ở từ “treo”. cùng chứng kiến cho tình đồng chí đồng đội thiêng liêng của những ngươì linh. trăng là đất nước quê hương của bốn nghìn năm văn hiến. trăng toả sáng làm ngời ngời lòng người.Trăng là hình ảnh người thi sĩ. Họ chiến đấu cho sự thanh bình. Ta nên hiểu bài thơ dường như được sáng tác ở thời điểm hiện tại “đêm nay” trong một không gian mà mặt đất là “rừng hoang sương muối” lạnh lẽo và lòng đầy phấp phỏng giặc sẽ tới có nghĩa là cái chết có thể đến từng giây từng phút. Chỉ có trăng “treo”. Ai bỏ quên ở phía chân trời…”. nó tượng trưng cho tư thế lạ quan bình tĩnh. hay nhất vẫn là “Đầu súng trăng treo”.hình ảnh thật đẹp và giàu sức khái quát. là khát vọng và cũng là biểu hiện tuyệt vời chất lãng mạn trong bài thơ cách mạng. Đầu súng trăng treo. nòng súng chếch lên trời và ánh trăng lơ lửng ngay nòng ngọn súng. Như đã nói ở trên. Nó là biểu tượng. trăng như cùng tham gia. mục đích chiến đấu mà người lính ấy đang tham gia. Lãng mạng nhưng không thoát li. làm sao còn nét lãng mạn? Và hãy thay một lần nữa bằng từ “lên” cũng không phù hợp. Lãng mạn vì con người cần có .

Và bạn ơi! Bạn hãy thả cùng tôi những chú chim trắng trên bầu trời. B. tình cảm quê hương đất nước. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc. Đi kháng chiến. Hình ảnh trăng và súng đã có nhiều trong thơ Việt Nam nhưng chưa có sự kết hợp kì diệu nào bằng hình ảnh Đầu súng trăng treo của Chính Hữu.Mở bài: . A. hãy hát vang lên ca khúc Hoà Bình vì hình ảnh đầu súng trăng treo mà nhà thơ đã gởi vào đó bao nhiêu khát vọng nay đã thành hiện thực (Nguồn .những phút sống cho riêng mình. Nếu như Elsa Trioslet – nữ văn sĩ Pháp có nói “Nhà văn là người cho máu” thì tôi hãnh diện nói với văn sĩ rằng: Chính Hữu đã cho máu để tạo nên câu thơ tuyệt vời để cống hiến cho cuộc kháng chiến của chúng ta. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới. Trước cái đẹp mà con người trở nên thờ ơ lãnh đạm thì cuộc sống vô cùng tẻ nhạt. Ông gắn bó với thôn quê.Internet) Nguồn: Sưu tầm Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp.Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước. tinh thần kháng chiến. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc. từ lâu đã am hiểu người nông dân. ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân . . người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. thông qua một con người cụ thể. Âm hưởng của câu thơ đã đi đúng với xu thế lịch sử của dân tộc. tình yêu nước.Thân bài 1. trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc.

Ông giận những người ở lại làng. . . ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng. rồi ông lo “cái chòi gác.Về đến nhà. ông nhớ quá cái khong khí “đào đường. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. Phải xa làng. chưa tin. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà. a. Nhưng khi người ta kể rành rọt. hắt hủi”. không tin không được. . ông không dám ra ngoài. nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế.Khi mới nghe tin xấu đó.…” đã xong chưa? . một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. thích bìh luận.… những đường hầm bí mật. hôm nay dăm khẩu. .Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến. Sau cách mạng. ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương. đi theo kháng chiến. Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”. chỗ kia giết một tí. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. cả súng cũng vậy. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người. đắp ụ. nhân vật ông Hai. lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân. Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi. nhìn thấy các con. b.Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần. Ông luôn hoảng hốt giật mình. in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có. đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. . chỗ này giết một tí. khuân đá…”. Tình yêu làng. ông sững sờ. càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng. tích tiểu thành đại. . xẻ hào. làm gì mà thằng Tây không bước sớm”.Ông hay khoe làng.Được cách mạng giải phóng. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm. náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế.Ba bốn ngày sau. . c.Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ . Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc. ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm.2. ngày mai dăm khẩu. ông xấu hổ lảng ra về.

gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ. bố của nó. Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân.Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ. 3. . + Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. . bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. chân thành. d. Tình cảm đó sâu nặng.Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông.Tình cảm đối với kháng chiến.Miêu tả rất cụ thể. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt. . gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ. hành vi. ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu. Khi cái tin kia được cải chính. • Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc. với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông. . Nhưng tình yêu nước. . ta thấy rõ: • Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc). + Qua đó. lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. ngôn ngữ đối thoại và độc thoại.Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”.quá. vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. .

Bài Viết Số 03 : Kể lại cuộc gặp gỡ người lính lái xe trong BTVTĐXKK của PTD. 2.Tính chất gian khổ khốc liệt mà những người lính lái xe Trường Sơn (TS) phải chịu đựng trong những năm tháng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. yêu nước rất mộc mạc.Những nhân phẩm cao đẹp của người lính(dũng cảm hiên ngang đầy lạc quan.gặp người sĩ quan..Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật... .có mục đích..về trách nhiệm của bản thân đối với gia đình.có chút ngang tàng trẻ trung. C.qua trò chuyện biết anh chính là người lính lái xe trong "BTVTĐXKK" của PTD..với nhân dân). người đọc thấm thía tình yêu làng. DÀN Ý: (dàn ý chi tiết chung ^^) I.. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý.Thân Bài: 1.có trách nhiệm với Tổ Quốc..Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động.Kết bài: . cao quý trong những người nông dân lao động bình thường.nhân dân BÀI LÀM: ( đây là bài tương đối hoàn chỉnh ^^) .. chân thành mà vô cùng sâu nặng. III.đất nước.Kết Bài: _Kết thúc câu chuyện _Suy nghĩ về thế hệ cha anh.về người lính.) II.Qua nhân vật ông Hai.sống có lí tưởng...Mở Bài: _Tình huống truyện (Nhân một chuyến đi.

đôi đũa dùng chung.họ vẫn ung dung lái những chiếc xe không kính đó băng băng đi tới trên những chặn đường.Nghe anh kể.thấy cả ánh sao đêm.đảm bảo an toàn cho những chuyến hàng rồi họ nghĩ mưa sẽ ngừng.tôi gặp người sĩ quan đang đứng thắp hương cho người đồng đội đã mất.Trong những giây phút gặp gỡ hiểm hoi đó.tự do.cả nhưng cánh chim sa.sờn lòng. Người sĩ quan kể với tôi rằng cuộc kháng chiến của dân tộc ta vô cùng ác liệt.Nhưng không phải vì thế mà họ lùi bước.tinh nghịch.Ôi! tiếng cười của họ sao thật nhẹ nhõm..Trong những ngày tháng đó anh chính là người lính lái xe làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực.quây quần bên nhau như một đại gia đình của những người lính lái xe TS..Họ nhìn thấy đất.bụi ùa vào làm những mái tóc đen xanh trở nên trắng xóa như người già.Khi được học "Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính" tôi cứ luôn suy nghĩ rằng những khó khăn gian khổ ác liệt đó chỉ có nhân vật trong bài thơ mới vượt qua được nhưng đó là những suy nghĩ sai lầm của tôi bởi được gặp.cái chết luôn rình rập bên họ nhưng họ vẫn là những con người lạc quan.Gian khổ ác liệt.Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm nổ sát bên tai phá hủy con đường.vũ khí.cái vắt tay qua ô cửa kính vỡ đã làm cho tình đồng đội của họ thấm thiết hơn rồi những bữa cơm bên bếp Hoàng Cầm với những cái bát..tôi mới hiếu rõ hơn về họ.vượt qua những chặng đường ác liệt.gió sẽ lùa vào rối áo sẽ khô mau thôi.nhìn thấy trời.được trò chuyện với người chiến sĩ lái xe năm xưa.kể cho nhau nghe sự ác liệt của những cung đường đã đi qua.trên con đường TS này.Bom đạn của giặc Mỹ đã biến cho những chiếc xe của các anh không còn kính nữa.bọn họ cũng chưa cần rửa rồi nhìn nhau cất tiếng cười ha ha.Có những người còn.có những người đã hy sinh.yêu đời.Những chiếc xe không kính lại tiếp tục băng băng trên những tuyến đường ra trận.phía ấy là tương lai của đất nước được giải phóng.của nhân dân được hạnh phúc.Tôi và người sĩ quan đó trò chuyện rất vui vẻ và thật tình cờ tôi biết được người sĩ quan này chính là anh lính lái xe trong "Bài Thơ Về Tiểu Ðội Xe Không Kính" của Phạm Tiến Duật năm xưa.Nhân một chuyến đi thăm nghĩa trang liệt sĩ.gặp mưa thì phải ướt áo thôi.Họ vẫn vui tươi.bom đạn của kẻ thù đâu có làm họ nãn chí.Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm dội xuống những con đường này nhằm cắt đứt sự tiếp viện của miền Bắc cho miền Nam.Anh sĩ quan lại kể cho tôi nghe trên những cung đường vận chuyển đó anh luôn được gặp những người bạn.tôi mới hiểu rõ hơn về sự gian khổ ác liệt mà những người lính lái xe phải chịu đựng ngày đêm.họ nhìn thẳng về phía trước.Rồi những giây phút nghỉ ngơi trên chiếc võng đu đưa.Người sĩ quancòn kể với tôi rằng không có kính cũng thật bất tiện nhưng họ vẫn lái những chiếc xe đó.đạn dược.những con đường huyết mạch nối giữa miền Nam và miền Bắc lại là nơi ác liệt nhất..Sự dũng cảm của các cô gái thanh niên xung phong luôn đảm bảo .Mưa cứ tuôn cứ xối nhưng họ vẫn chưa cần thay áo và cứ ráng lái thêm vài trăm cây số nữa.những người đồng đội của anh.

ông Hai quay phắt lại.hy vọng được nghe những tin tốt lành.Tin bất ngờ ấy vừa lọt vào tai đã khiến ông bàng hoàng.Trước lời khẳng định chắc chắn của những người tản cư.một lão nông hiền lành .Từ phòng thông tin ra.giải phóng miền Nam.Đúng là con đường của họ đang đi.phía trước ấy là miền Nam ruột thịt.cần phải phấn đấu trở thành công dân gương mẫu.thống nhất đất nước.nắm vững khoa học.Ông cất tiếng hỏi. Ông Hai cũng như bao người nông dân quê từ xưa luôn gắn bó với làng quê của mình.đang phấn chấn.thùng xe rách xước.cả ngày lẫn đêm.hiện đại. đau đớn :“Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại.Các sáng tác của ông đều xoay quanh cảnh ngộ và sinh hoạt của người nông dân.lắp bắp hỏi.ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được. Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong tác phẩm “Làng ”của Kim Lân Kim Lân là nhà văn có vốn sống vô cùng phong phú và sâu sắc về nông thôn Việt Nam.Những chuyến hàng của họ đã góp phần tạo nên chiến thắng của dân tộc ta:chiến thắng mùa xuân năm 1975.Tình yêu làng của ông càng được bộc lộ một cách sâu sắc và cảm động trong hoàn cảnh thử thách .có chút ngang tàng nhưng họ sống và chiến đấu vì Tổ Quốc.Tiếng chửi văng vẳng của người đàn bà cho con bú khiến ông tê tái :“cha mẹ tiên sư nhà chúng nó .một lúc lâu ông mới rặn è è nuốt một cái gì vướng ở cổ.Ở nơi tản cư ông luôn nhớ về làng.ý chí kiên cường của họ và tôi hiểu rằng thế hệ chúng tôi luôn phải ghi nhớ công ơn của họ.nào ngờ biết tin dữ:“Cả làng Việt gian theo Tây ”.hiên ngang.đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt .với nhân vật chính là ông Hai .ông tìm cách lảng về.những thiếu thốn này không ngăn cản được những chiếc xe vẫn chạy băng băng về phía trước.Bom đạn Mỹ hạ xuống bất cứ lúc nào.cho những chuyến xe thông suốt.nghe nhắc đến tên làng.Đó là tin làng chợ Dầu lập tề theo giặc.yêu nước và gắn bó với kháng chiến .nhiệm vụ của họ đang làm vô vùng nguy hiểm.Anh sĩ quan còn nói cho tôi biết những chiếc xe ấy không chỉ mất kính mà còn mất cả đèn.theo dõi tin tức kháng chiến và hỏi thăm về Chợ Dầu .Họ thật dũng cảm.vì nhân dân.da mặt tê rân rân .náo nức vì những tin vui của kháng chiến thì gặp những người tản cư. hào hứng.giọng lạc hẳn đi ”nhằm hy vọng điều vừa nghe không phải là sự thật.kĩ thuật để xây dựng một đất nước văn minh. Kim Lân đã đặt nhân vật vào tình huống gay gắt để bộc lộ chiều sâu tình cảm của nhân vật. Tôi và anh sĩ quan chia tay nhau sau cuộc gặp gỡ và nói chuyện rất vui.đầy lạc quan.Ông yêu quí và tự hào về làng Chợ Dầu và hay khoe về nó một cách nhiệt tình.rồi không có mui xe.yêu làng .Tôi khâm phục những người lính lái xe bởi tình yêu nước.Nghĩ đến hình ảnh những chiếc xe băng băng về phía trước tôi lại nghĩ đến những người lính lái xe. Văn bản “Làng” đươc sáng tác vào thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp .

tuyệt vọng khi bà chủ nhà có ý đuổi gia đình ông với lý do không chứa người của làng Việt gian.Ông đau đớn.lúc nào cũng nơm nớp tưởng người ta đang để ý.Niềm tin.Suốt mấy ngày liền ông chẳng dám đi đâu.day dứt.ông thoáng có ý nghĩ quay về làng nhưng rồi lại gạt phắt ngay bởi “về làng tức là bỏ kháng chiến.Về đến nhà ông chán chường “nằm vật ra giường”.được người ta còn thương.là “cam chịu quay trở lại làm nô lệ cho thằng Tây”..Ông mong “anh em đồng chí biết cho bố con ông.có bao giờ dám đơn sai.với Cụ Hồ … May thay.tủi hổ như chính ông là người có lỗi.bỏ Cụ Hồ ”..tin đồn thất thiệt về làng Chợ Dầu được cải chính .niềm tin và tự hào về làng Dầu có bị lung lay nhưng niềm tin và Cụ Hồ và cuộc kháng chiến không hề phai nhạt.Những suy nghĩ của ông như những lời nguyện thề son sắt.đang bàn tán đến cái chuyện làng mình.phản bội làng.chết thì chết có bao giờ dám đơn sai ”. Tình yêu làng lúc này đã lớn rộng thành tình yêu nước bởi dẫu tình yêu.Ông hỏi con những điều đã biết trước câu trả lời:“Thế nhà con ở đâu?”. tấm lòng bố con ông là như thế đấy.“thế con ủng hộ ai ?”…Lời đứa con vang lên trong ông thiêng liêng mà giản dị:“Nhà ta ở làng Chợ Dầu”..Ông kiểm điểm lại từng người trong óc.ông chỉ còn biết tìm niềm an ủi trong lời tâm sự với đứa con trai nhỏ.Ông đóng khăn áo chỉnh tề đi với người báo tin và khi trở về “cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi vui rạng rỡ hẳn lên ”.Cải chính cái tin làng chợ Dầu chúng tôi Việt gian theo Tây ấy mà .nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông.“chỉ ở nhà nghe ngóng binh tình”. thấy họ đều có tinh thần cả “có đời nào lại cam tâm làm cái điều nhục nhã ấy ”.nỗi ngờ giằng xé trong ông.Ông đau xót nghĩ đến cảnh “người ta ghê tởm.với nước thật sâu nặng.Dẫu cả làng Việt gian thì ông vẫn một lòng trung thành với kháng chiến.đau đớn.Ông căm thù những kẻ theo Tây.Đến đâu cũng chỉ mấy câu“Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ ! Đốt sạch !Đốt nhẵn ! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính.nước mắt “chảy ròng ròng trên hai má”.lật đật đi khoe với mọi người.cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát”.vẫn muốn cùng con khắc cốt ghi tâm.ông nắm chặt hai tay lại mà rít lên: “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này ”.Dù đã xác định thế nhưng ông vẫn không thể dứt bỏ tình cảm của mình đối với quê hương.Ông xúc động.Ông Hai đã lựa chọn một cách đau đớn và dứt khoát:“Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù!”. Trong tâm trạng bị dồn nén và bế tắc ấy.thiêng liêng.người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước”.Nỗi ám ảnh.Ông Hai sung sướng như được sống lại.Bởì thế mà ông càng xót xa..nhìn đàn con nước mắt ông cứ giàn ra “ chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư?Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?”. Tình thế của ông càng trở nên bế tắc.Trong lúc tưởng tuyệt đường sinh sống ấy.“ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm !”…Những điều ấy ông đã biết.Ông mua cho con bánh rán đường rồi vội vã.Tấm lòng của ông với làng.Nói với con mà thực ra là đang trút nỗi lòng mình.

Qua nhân vật ông Hai ta hiểu thêm về vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược :Yêu làng.Chính vào lúc nhận ra vẻ đẹp và sự giàu có của bến quê cũng là lúc Nhĩ hiểu ra một cách đau xót .con sông Hồng màu đỏ nhạt . bức bối đã góp phần không nhỏ tạo nên thành công của câu chuyện.bằng trực giác . đồng thời còn thể hiện sự am hiểu và gắn bó sâu sắc của nhà văn với người nông dân và công cuộc kháng chiến của đất nước.thể hiện một cách đau xót và cảm động tình yêu làng. Mất hết cả cơ nghiệp mà ông không hề buồn tiếc.yêu nước và gắn bó với kháng chiến.Ông khoe nhà mình bị đốt sạch.sinh động.yêu nước.thậm chí còn rất sung sướng.vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông …Những cảnh sắc vốn quen thuộc gần gũi nhưung duường nhuư rất mới mẻ đối với anh .Đó là một niềm vui kỳ lạ.Truyện ngắn của ông thưuờng chứa đựng những suy ngẫm trải nghiệm sâu sắc về con ngưuời và cuộc đời .” “Ông cứ múa tay lên mà khoe với mọi người”.Nhĩ phát hiện ra vẻ đẹp lạ lùng của bãi bồi bên kia sông .Có lẽ vì thế mà tác phẩm “Làng ” xứng đáng là một trong những truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại Suy nghĩ về nhân vật Nhĩ trong tác phẩm "BQ" Là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn học kháng chiến chống Mỹ .đốt nhẵn như là minh chứng khẳng định làng ông không theo giặc.độc thoại và độc thoại nội tâm đa dạng.Nguyễn Minh Châu có nhiều những tìm tòi quan trọng góp phần đổi mới văn học nưu?c nhà .Nhĩ để ý “thấy Liên mặc áo vá .ngôn ngữ đối thoại.bởi một ngưuời “đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất ” lại chưua từng đặt chân lên “cái bờ bên kia sông Hồng ngay truước cửa sổ nhà mình ”.dồn đẩy.tự nhiên như cuộc sống cùng với những mâu thuẫn căng thẳng.hạnh phúc.anh mới cảm nhận thấm thía về nguười vợ của mình .anh nhận ra thời gian của mình chẳng còn bao lâu nữa .tinh thần hy sinh vì cách mạng của người dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược ..Bởi lẽ. Sáng hôm ấy .ánh nắng sớm .Bị cột chặt trên giuờng bệnh . Căn bệnh liệt gắn chặt Nhĩ vào giưuờng bệnh .trong sự cháy rụi ngôi nhà của riêng ông là sự hồi sinh về danh dự của làng chợ Dầu anh dũng kháng chiến.Mọi sinh hoạt của anh trông cả vào sự chăm sóc của vợ con .Cảnh vật nơi ấy đẹp nhưu thơ nhưu hoạ :Những bông bằng lăng cuối mùa thưua thớt nhung đậm sắc . Cách miêu tả chân thực.Chuỗi nghịch lý bắt đầu chính trong những ngày ấy . Toàn bộ câu chuyện xoay quanh nhân vật Nhĩ trong những ngày cuối đời .Láo!Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả . “Bến quê ” là tác phẩm tiêu biểu cho đề tài đó .

Giờ đây Nhĩ mới thực sự thấu hiểu và biết ơn vợ sâu sắc bởi “tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tảo tần và chịu đựng hy sinh từ bao đời xưa và cũng chính nhờ điều đó. ở cuối chuyện .Vì thế đó là sự thức tỉnh pha lẫn niềm ân hận xót xa : “Hoạ chăng chỉ có anh đã từng trải . bây giờ đó thực sư? là miền đất xa lắc vì Nhĩ “lực bất tòng tâm ” ” .Nhĩ -con ngưuời của một thời huy hoàng.hai mắt long lanh chứa môt nỗi say mê đầy đau khổ ”.Sự nhận thức này chỉ đến đưưuợc với ta khi đã từng trải . Nhĩ đã tìm thấy được nơi nưưuơng tựa là gia đình trong những ngày này ”.đã đi một cách miễn cưưuỡng và bị cuốn vào trò chơi phá cờ thế trên hè phố .Khi con đò sắp chạm vào bờ đất bên này . tin cậy sau cả một đời bôn tẩu . Không thể tự làm điều mình khao khát. mà sau nhiều tháng ngày bôn tẩu tìm kiếm.bỏ qua và quên lãng nhất là lúc còn trẻ khi những khát vọng xa vời vẫy gọi .Cũng trong buổi sáng hôm ấy.giơ cánh tay gầy guộc “khoát khoát y nhuư đang khẩn thiết ra hiệu cho một ngưuời nào đó ”.kể cả nguười vợ suốt một đời yêu thuương và tận tuỵ .chân dung anh khác thưuờng “mặt mũi đỏ rựng .khi Nhĩ tuưởng tuượng chính mình như một nhà thám hiểm đang chậm rãi đặt từng bưuớc chân lên mặt đất dấp dính phù sa . Với anh.những giá trị dễ bị ta vô tình .đặt chân lên bãi phù sa màu mỡ . ân hận : “Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm ”. cuốn nguười ta đi .Nhĩ thu hết tàn lực .bình dị mà sâu xa của cuộc sống .Từ đó Nhĩ nghiệm ra một qui luật khá phổ biến của đời ngưuời “Con nguười ta trên đưuờng đời thật khó tránh đuợc những điều vòng vèo hoặc chùng chình”.vô tình với tất cả những gì gần gụi xung quanh .Nhĩ nhờ con trai thay mình sang sông .Oái oăm thay .”.đu nguười lên cửa sổ . “những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve bên vai anh ”. Song nghịch lý của câu chuyện không chỉ có thế .đứa con không hiểu ưuớc muốn của cha .kiếm tìm . khi nhận ra vẻ đẹp qua ô cửa sổ .Nhĩ xúc động mạnh .anh nói với vợ những lời xót xa.Phải chăng anh đang nôn nóng thúc giục con trai hãy mau hơn kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày ?Và duờng nhưu nó còn có ý nghĩa khái quát hơn :Muốn thức tỉnh mọi ngưuời vưuợt lên những cái vòng vèo hoặc chùng chình trên đưuờng đời để .Sự thấu hiểu muộn màng trong những ngày cuối đời dù sao cũng đem lại cho anh sự bình yên.Khát khao đó mang ý nghĩa sâu sắc bởi đó chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững .Trưuớc khi ốm anh chỉ biết đến những chân trời xa ngát với những công việc cao sang mà thờ ơ .Nhĩ bừng dậy nỗi khát khao cháy lòng và vô vọng là một lần đuược đặt chân lên bãi bồi bên kia sông .Cậu con trai có thể lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày.đó là lúc cuối đời khi phải nằm liệt trên giưuờng bệnh.Anh không trách con vì “nó đã thấy gì hẫp dẫn bên kia sông đâu ”.đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết mọi sự giàu có lẫn vẻ đep của bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia cả trong những nét tiêu sơ và cái điều riêng anh khám phá thấy giống nhuư một niềm say mê pha lẫn nỗi ân hận đau đớn ” . cho đến khi không còn khả năng đi lại mới phát hiện ra vẻ đẹp của bến quê cũng nhưu sự tảo tần và đức hy sinh của vợ .Với Nhĩ .

hứơng tới những giá trị đích thực vốn rất gần gũi bình dị mà bền vững ! Bằng cách tạo dựng chuỗi nghịch lý để nhân vật tự nhận thức. đối với vợ thường phòng ngừa quá sức nhưng nàng khéo léo cư xử.suy ngẫm và cách xây dựng nhiều hình ảnh . Tác phẩm là tiếng nói đồng cảm.dù Trương Sinh con nhà hào phú tính vốn đa nghi.nết na tên là Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương.“Chuyện người con gái Nam Xương” được rút trong tập những câu chuyện kỳ lạ đó .Nguyễn Dữ đã đặt những lời ca ngợi đẹp đẽ nhất về Vũ Nương vào miệng của chính mẹ chồng nàng khiến nó trở nên vô cùng ý nghĩa “sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức .Khi tiễn chồng đi lính. Suy nghĩ về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”của Nguy Trong văn học Việt Nam đã có không ít tác phẩm mang tên gọi truyền kỳ hoặc có tính chất truyền kỳ song được tôn vinh là “ thiên cổ kỳ bút” thì cho đến nay chỉ có một “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ .Nhân vật chính của tác phẩm là Vũ Nương đã để lại trong lòng người đọc niềm cảm thương sâu sắc.Trong những ngày đoàn viên ít ỏi.Càng đi sâu vào câu chuyện ta càng thấy vẻ đẹp của nàng được tác giả tập trung thể hiện rõ nét.suy ngẫm của tác giả đã góp phần không nhỏ tạo nên những ấn t?ương riêng cho tác phẩm .gần gũi của gia đình .ma chay tế lễ chu tất khi mẹ chồng qua đời. Những dòng cuối cùng của “Bến quê” khép lại nhuưng dưu âm từ những trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và con ngưuười dưuờng nhưu vẫn còn lan toả đâu đây.Nàng mang đầy đủ vẻ đẹp của một người phụ nữ lý tưởng “tính đã thuỳ mỵ nết na lại thêm có tư dung tốt đẹp ”. giữ gìn khuân phép nên gia đình không khi nào phải thất hoà.dâu thảo.Toàn bộ câu chuyện xoay quanh cuộc đời và số phận bi thảm của người con gái xinh đẹp.quê hưuơng .tinh tế . nàng thực sự là một người mẹ hiền.Phải nói rằng Nguyễn Dữ không có ý định cho Vũ Nương mang đức tính của một phụ nữ yêu nước hay một mỹ nhân nơi gác tía lầu son .Ngòi bút miêu tả thiên nhiên đẹp .mong ước lớn nhất của nàng không phải là công danh phú quí mà là khao khát ngày chồng về “mang theo hai chữ bình yên thế là đủ rồi”.chi tiết mang ý nghĩa biểu tưuợng tác giả đã tạo nên ý nghĩa sâu xa cho tác phẩm.Vũ Nương là người phụ nữ bình dân vốn con kẻ khó có một khát khao bao trùm cả cuộc đời-Đó là thú vui nghi gia nghi thất.Những ngày chồng đi xa.giọng văn thầm trầm ẩn chứa những chiêm nghiệm .xứ sở .thức tỉnh trong ta sự trân trọng vẻ đẹp về những gì bình dị .trân trọng.xanh .chăm sóc thuốc thang tận tình khi mẹ chồng đau yếu.ngợi ca của tác giả đối với con người đặc biệt là người phụ nữ.giống dòng tươi tốt con cháu đông đàn.

ở hiền ắt sẽ gặp lành? Điều gì đã khiến người phụ nữ đẹp người.Người thiếu phụ tận tuỵ . Người phụ nữ dịu dàng .sen rũ trong ao.mây tạnh.dâu thảo.lời văn thống thiết như cực tả nỗi niềm đồng cảm.Vũ Nương được mọi người yêu mến bằng tính tình.Nhịp văn dồn dập .tận tuỵ và chung tình đó đáng ra phải được đền bù xứng đáng bằng một gia đình êm ấm.vun vén cho hạnh phúc.vào đất xin làm cỏ Ngu Mĩ…” Với nàng .xót thương của tác giả đối với người thiếu phụ chung tình mà bạc mệnh! Thương nàng ông sáng tạo ra một thế giới thần tiên êm đềm trong chốn làng mây cung nước để Vũ Nương được sống như một nàng tiên .điều đâu bay buộc tiếng chịu nhuốc nhơ.kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.liễu tàn trước gió ”. chung tình mà bạc mệnh ! Câu chuyện về nàng Vũ Nương khép lại nhưng dư âm về sự bất bình.trái tim tan nát.đánh đập và đuổi nàng đi bất chấp sự can ngăn của xóm giềng và lời than rớm máu của người vợ trẻ.một ngày kia chồng nàng đi chinh chiến trở về.mắng nhiếc.người thiếu phụ đau khổ nguyền rằng:“Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu chồng con rẫy bỏ.đức hạnh của nàng là đức hạnh của một người vợ hiền.đẹp nết đó phải tìm đến cái chết bi thảm?Đó chính là do chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã làm cho gia đình phải li tán.người thiếu phụ trẻ trung xinh đẹp đó một lòng một dạ chờ chồng. vô nhân đạo thì còn mãi.trinh bạch gìn lòng.xinh đẹp .tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng .Nhưng tai ác thay .hiếu nghiã ấy còn là một người vợ thuỷ chung đối với chồng .trâm gãy.tuyệt vọng bởi “bình rơi.nghe lời con trẻ đinh ninh là vợ hư.Có lẽ vì thế mà em càng yêu mến.cái chết là hành động quyết liệt cuối cùng cần phải có để bảo toàn danh dự .nuôi con:“cách biệt ba năm giữ gìn một tiết.thiếp nếu đoan trang giữ tiết.Trong suốt ba năm chồng đi chinh chiến.hiếu nghĩa .phẩm hạnh của nàng.Dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ.Đến bến Hoàng Giang. trân trọng xã hội tốt đẹp mà em đang sống hôm nay.Phải chăng đó cũng chính là dụng ý của tác giả:người tốt sẽ được được đền bù xứng đáng. hiếu nghĩa. căm ghét xã hội phong kiến bất lương. phúc lộc đề huề.Không có cơ hội để thanh minh.một người yêu mến cuộc sống gia đình và làm mọi việc để giữ gìn.thần sông có linh xin ngài chứng giám. khắc khoải niềm thương và nỗi ám ảnh dai dẳng về một người thiếu phụ trẻ trung.mưa tan.ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”.Vũ Nương là con người của gia đình. Đó còn là lễ giáo phong kiến hà khắc với tư tưởng nam quyền độc đoán đã biến Trương Sinh thành một bạo chúa gia đình… Để ngàn đời trên bến Hoàng Giang. Suy nghĩ về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam X .Trong cái nhìn nâng niu trân trọng của ông.xuống nước xin làm ngọc Mỵ Nương.

Trong suốt ba năm chồng đi chinh chiến.Trong những ngày đoàn viên ít ỏi.hiếu nghĩa .Toàn bộ câu chuyện xoay quanh cuộc đời và số phận bi thảm của người con gái xinh đẹp.xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”.trái tim tan nát.dâu thảo.đánh đập và đuổi nàng đi bất chấp sự can ngăn của xóm giềng và lời than rớm máu của người vợ trẻ.hiếu nghiã ấy còn là một người vợ thuỷ chung đối với chồng .Khi tiễn chồng đi lính.phẩm hạnh của nàng.Nhân vật chính của tác phẩm là Vũ Nương đã để lại trong lòng người đọc niềm cảm thương sâu sắc.tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng .ma chay tế lễ chu tất khi mẹ chồng qua đời.một người yêu mến cuộc sống gia đình và làm mọi việc để giữ gìn.Dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ. giữ gìn khuân phép nên gia đình không khi nào phải thất hoà.vun vén cho hạnh phúc. Tác phẩm là tiếng nói đồng cảm.Trong cái nhìn nâng niu trân trọng của ông.Vũ Nương là con người của gia đình.Nhưng tai ác thay .Trong văn học Việt Nam đã có không ít tác phẩm mang tên gọi truyền kỳ hoặc có tính chất truyền kỳ song được tôn vinh là “ thiên cổ kỳ bút” thì cho đến nay chỉ có một “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ .mưa tan.mây tạnh.một ngày kia chồng nàng đi chinh chiến trở về.Người thiếu phụ tận tuỵ .dù Trương Sinh con nhà hào phú tính vốn đa nghi. đối với vợ thường phòng ngừa quá sức nhưng nàng khéo léo cư xử.Vũ Nương được mọi người yêu mến bằng tính tình.dâu thảo.đức hạnh của nàng là đức hạnh của một người vợ hiền. phúc lộc đề huề.sen rũ trong ao.trâm gãy.nết na tên là Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương.Phải nói rằng Nguyễn Dữ không có ý định cho Vũ Nương mang đức tính của một phụ nữ yêu nước hay một mỹ nhân nơi gác tía lầu son .tận tuỵ và chung tình đó đáng ra phải được đền bù xứng đáng bằng một gia đình êm ấm.trân trọng.giống dòng tươi tốt con cháu đông đàn.Không có cơ hội để thanh minh.nuôi con:“cách biệt ba năm giữ gìn một tiết.nghe lời con trẻ đinh ninh là vợ hư.tuyệt vọng bởi “bình rơi.chăm sóc thuốc thang tận tình khi mẹ chồng đau yếu.Những ngày chồng đi xa.mong ước lớn nhất của nàng không phải là công danh phú quí mà là khao khát ngày chồng về “mang theo hai chữ bình yên thế là đủ rồi”.mắng nhiếc. nàng thực sự là một người mẹ hiền.Càng đi sâu vào câu chuyện ta càng thấy vẻ đẹp của nàng được tác giả tập trung thể hiện rõ nét.Nguyễn Dữ đã đặt những lời ca ngợi đẹp đẽ nhất về Vũ Nương vào miệng của chính mẹ chồng nàng khiến nó trở nên vô cùng ý nghĩa “sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức .Nàng mang đầy đủ vẻ đẹp của một người phụ nữ lý tưởng “tính đã thuỳ mỵ nết na lại thêm có tư dung tốt đẹp ”.“Chuyện người con gái Nam Xương” được rút trong tập những câu chuyện kỳ lạ đó .ngợi ca của tác giả đối với con người đặc biệt là người phụ nữ.người thiếu phụ trẻ trung xinh đẹp đó một lòng một dạ chờ chồng.Vũ Nương là người phụ nữ bình dân vốn con kẻ khó có một khát khao bao trùm cả cuộc đời-Đó là thú vui nghi gia nghi thất. Người phụ nữ dịu dàng .liễu tàn trước .

vượt qua tất cả những khó khăn.trinh bạch gìn lòng. Khi viết về người mẹ Chế Lan Viên đã viết : “Con zù lớn vẫn là con của mẹ Đy hết đời lòng mẹ vẫn theo con” (Con cò – Chế Lan Viên) Nguyễn Duy cũng đã viết : “Ta đy trọn kiếp con người Cũng không đy hết mấy lời mẹ ru” ( Nỗi buồn nhớ mẹ ta xưa – Nguyễn Duy) Em hãy nêu suy nghĩ về tình mẹ. căm ghét xã hội phong kiến bất lương. hiếu nghĩa. Đó còn là lễ giáo phong kiến hà khắc với tư tưởng nam quyền độc đoán đã biến Trương Sinh thành một bạo chúa gia đình… Để ngàn đời trên bến Hoàng Giang. bồi hồi.Có lẽ vì thế mà em càng yêu mến. trân trọng xã hội tốt đẹp mà em đang sống hôm nay. Vì vậy mà khi viết về mẹ Chế Lan Viên có câu : . Bài làm Mỗi khi nhắc về mẹ.cái chết là hành động quyết liệt cuối cùng cần phải có để bảo toàn danh dự .thiếp nếu đoan trang giữ tiết. ở hiền ắt sẽ gặp lành? Điều gì đã khiến người phụ nữ đẹp người.Phải chăng đó cũng chính là dụng ý của tác giả:người tốt sẽ được được đền bù xứng đáng.vào đất xin làm cỏ Ngu Mĩ…” Với nàng .người thiếu phụ đau khổ nguyền rằng:“Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu chồng con rẫy bỏ..xuống nước xin làm ngọc Mỵ Nương.xinh đẹp . vất vả.gió ”. thử thách của cuộc đời. chung tình mà bạc mệnh ! Câu chuyện về nàng Vũ Nương khép lại nhưng dư âm về sự bất bình. nuôi nấng ta khôn lớn từng ngày vượt qua bao gian lao. Suy nghĩ về tình mẹ qua 2 đoạn thơ .xót thương của tác giả đối với người thiếu phụ chung tình mà bạc mệnh! Thương nàng ông sáng tạo ra một thế giới thần tiên êm đềm trong chốn làng mây cung nước để Vũ Nương được sống như một nàng tiên .Đến bến Hoàng Giang.Nhịp văn dồn dập . vô nhân đạo thì còn mãi. chắc hẳn trong lòng mỗi con người chúng ta ko ai là ko khỏi xao xuyến. Bởi mẹ chính là người đã chăm sóc. khắc khoải niềm thương và nỗi ám ảnh dai dẳng về một người thiếu phụ trẻ trung.đẹp nết đó phải tìm đến cái chết bi thảm?Đó chính là do chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã làm cho gia đình phải li tán.lời văn thống thiết như cực tả nỗi niềm đồng cảm.điều đâu bay buộc tiếng chịu nhuốc nhơ.thần sông có linh xin ngài chứng giám..

Mẹ như biển cả ôm lấy những ngọn sóng bé bỏng là con. tận tụy ấy ko thể kể hết đc bằng lời. Vậy mà trong xã hội hiện nay. mẹ thức trắng đêm trông nom khi con ốm. luôn có một sợi dây vô hình nối . Hãy để ý những đứa trẻ bé bỏng còn phụ thuộc nhiều vào mẹ ta sẽ thấy đy đâu chúng cũng chỉ theo mẹ. con lăn. Cho zù con có khôn lớn nhường nào. Đâu có khác nào tự lấy dao cứa vào da thịt mình ? Mẹ là thân cò lặn lội qua bao sóng gió. Công ơn của mẹ ko j` có thể sánh bằng. một thứ tình cảm đẹp đến mãnh liệt. Mẹ và con có một sự liên kết mật thiết. Mẹ hi sinh tất cả để giành cho con những gì tốt đẹp nhất.“Con zù lớn vẫn là con của mẹ Đy hết đời lòng mẹ vẫn theo con” Hay như Nguyễn Duy đã viết : “Ta đy trọn kiếp con người Cũng không đy hết mấy lời mẹ ru” Tình mẹ cao cả và bao la. đẹp đẽ nhất của đời người. mẹ lận đận sớm hôm để lo cho cuộc sống con đc trọn vẹn. một số người con ko hiểu đc điều ấy. Như R. thay đổi ra sao thỳ con vẫn là con của mẹ. làm những điều mà ko ai có thể ngờ tới. Mẹ nuôi nấng. sự yêu thương của mẹ đều được gửi gắn vào những lời ru thiết tha ấy.Ta-go đã viết “ Con sẽ là sóng và mẹ sẽ là bến bờ kì lạ. Tình mẹ thiêng liêng và bất diệt như vậy đó. con là do mẹ sjnh ra. “Mẹ ơi” hai từ thiết tha ấy luôn đc chúng thốt lên mỗi khj vui hay buồn. mẹ chính là bến bờ vô tận luôn mở rộng lòng để con sà vào đó. manh áo…sự vất vả. lăn. Và ko ai biết mẹ con ta ở chốn nào”.p. chăm bẵm ta từ khi ta mới chạp chững những bước đầu tiên cho đến khi ta bước những bước đy vững chắc trên con đường đời. Con có “đy trọn cả kiếp người” . bảo vệ cho con. đối xử tệ bạc với cha mẹ. Mẹ yêu con hơn cả bản thân mình. che chở. niếm trải bao cay đắng. đối với chúng mẹ là tất cả. Mẹ theo từng bước chân ta từ khi còn bé cho tới lúc trưởng thành. lời ru của mẹ là những giai điệu êm dịu. trìu mến. Để “Con zù lớn vẫn là con của mẹ” và “Đy hết đời lòng mẹ vẫn theo con”. ngọt bùi thỳ “cũng không đy hết đc những lời ru của mẹ”. Niềm mong ước. vấn đề đang được xã hội lên án gay gắt. khó khăn để cho kon khôn lớn nên người. lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào long mẹ. sẵn sàng hy sinh tất cả cho kon đc h. Những con người đó liệu có còn lương tâm hay ko khi họ đối xử như vậy với chính ruột thịt của mình. mẹ long đong sớm chiều vì công việc để lo cho con đủ miếng cơm. bất hiếu. sợ hãi hay vui mừng chúng cũng chỉ gọi mẹ. suốt cuộc đời mẹ sẽ luôn ở bên con.

nhà thơ trữ tình Chế Lan Viênđã sử dụng hình ảnh cánh có trong những câu ca dao để ca ngợi tình mẹ thiêng liêng. còn đc mẹ yêu thương che trở thỳ hãy hiếu thảo với mẹ. quý giá và sâu sắc nhất mà chúng ta có thể tạo ra để tặng cho mẹ của mình. hãy làm sao cho xứng với những j` mẹ đã làm cho ta.. như là lời mẹ muốn kể cho con nghe về hình ảnh con cò bằng chất giọng mượt mà.. đẹp đẽ.. những dòng thơ thật nhẹ nhàng. dịu dàng.một trong những bài thơ tiêu biểu và nổi tiếng của ông. êm ái. Câu ca dao khá quen thuộc với người Việt Nam. êm ái. con nào biết đến "những cành mềm mẹ hát" nhưng mẹ đã mang cánh cò đến với con trong những lời ru ấm êm của mẹ. và sợi dây vô tình ấy chính là tình yêu thương mẹ giành cho con sẽ bên con đến suốt cuộc đời. sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân. Hãy cảm ơn vì điều đó. "con vạc". người con cũng ko thể gạt bỏ đc. con nào biết đến "con cò". Con người chúng ta ai cũng đều có rất nhiều thứ tình cảm đẹp như tình bạn. Bỏi con người ta có thể gạt bỏ những tình cảm kja bởi một lý do nào đó nhưng đối với tình mẫu tử thỳ cho zù có bất cứ lý do j` đy chăng nữa.. tình đồng đội. bay về đồng đăng. Tình mẫu tử ấp áp. điệp ngữ "con cò" được nhắc đi nhắc lại như là lời ru ngân nga.. một thứ tình cảm bất diệt. cao cả qua bài thơ "Con cò". Đặc biệt là hình ảnh người mẹ..chặt con với mẹ từ khj con được sinh ra. hình ảnh con cò đã được chế lan viên sử dụng làm hình tượng bao trùm lên toàn bài thơ mà đâu đó thấp thoáng có hình ảnh của mẹ.. có hình . đồng chí… nhưng ko có thứ tình cảm nào có thể vượt qua đc sự thiêng liêng và ấm áp của tình mẫu tử. Làm sao có thể gạt bỏ một thứ tình cảm gắn chặt với cuộc đời ta kể từ khj ta bắt đầu làm quen với cuộc đời. còn với mỗi chúng ta thỳ long hiếu thảo luôn là những tác phẩm đẹp đẽ. con còn bế trên tay . ở các câu bốn và câu tám chữ. Bay từ cửa phủ. thiêng liêng và bất diệt sẽ theo ta đến suốt cuộc đời. khi con còn nằm trong vòng tay của mẹ. cảm ơn mẹ đã sinh ra ta. tình mẹ. Phật tổ có câu: “ Nếu ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc Đừng để vương buồn lên mắt mẹ nghe không !” Những ai còn mẹ. còn đc ở bên mẹ. hình ảnh con cò cũng được mươn để ví cho hình ảnh những người phụ nữ. cũng có lẽ vì thế mà năm 1962. Hãy luôn gìn giữ nó bởi nó chính là nguồn động lực lớn nhất giúp ta vượt qua những khó khăn. Các nhà văn giành hết tình cảm của mình vào các tác phẩm để tặng mẹ . thấm đẫm tình thương của mẹ. sóng gió của cuộc đời. cho ta đc niếm trải hương vị của cuộc đời. đừng để mẹ phải buồn long.

cánh của cò hai đứa đắp chung đôi. che chở: "Sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân". hình ảnh con cò "ăn đêm". con có đi hết trăm núi. cò "xa tổ". cò "sợ gặp cành mềm". ân cần của mẹ đối với con. ngàn khe nhưng có bao giờ con hiểu hết lòng của mẹ: . sẽ cùng nhau sánh bước trên đường đời tương lai. Con và cò là bạn và cũng là con của mẹ. ……… trước hiên nhà và trong hơi mát câu văn. ôi! tình mẹ bao la biết mấy. cò "sợ xáo măng" gợi lên cho ta biết bao hình ảnh. của người phụ nữ một đời vất vả với cuộc sống miêu sinh đầy khó khăn. mẹ nâng niu con trong từng câu hát và cũng là ấp iu nâng giấc con thơ. vô tận đến nhường nào. Một sự nhân hoá ở cánh cò để diễn tả cho sự chăm chút. dòng sữa trắng trong ngọt ngào của mẹ đưa con vào giấc ngủ say nồng. mẹ luôn muốn con yên tâm chìm vào giấc ngủ.. gian khổ. nuôi con lớn khôn cả về thể xác lẫn tâm hồn: “Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ” . đất nước và rồi con sẽ hiểu được tình yêu mà mẹ dành cho con bao la. mẹ muốn con hãy ngủ ngon để luôn nhìn thấy cánh cò bay lượn không biết mỏi vì đã có mẹ mãi ở bên vỗ về. Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con. Mai khôn lớn con theo cò đi học ……. mẹ vẫn luôn dõi theo những bước đi của con trên đường đời. mẹ là người cho con sự sống. thế nhưng mẹ vẫn luôn muốn hát cho con nghe về tình yêu quê hương. sẽ là động lực để con đứng dậy và tiếp tục bước đi trên chính đôi chân của mình. mẹ sẽ luôn ở bên con. con sẽ lớn lên và đi trên con đường của chính mình. hình ảnh cò lẻ loi một mình kiếm ăn trong đêm tối nhưng phải chăng đó cũng lả hình ảnh của mẹ. mẹ luôn mong con được hưởng trọn tình yêu thương của tuổi ấu thơ. cho dù khi con còn tấm bé cho đến lúc trưởng thành. Cánh cò trong những lời ru lại mang những suy nghĩ triết lý sâu sắc. ngủ yên! ngủ yên! ngủ yên cho cò trắng đến làm quen ……. nhưng dù con có khôn lớn. Và mẹ lại vỗ về và chắp cánh cho những ước mơ của con trong câu hát ru ấy và trong cả những suy nghĩ của con.ảnh của một người một đời tần tảo sớm khuya nuôi con khôn lớn. mỗi lần con vấp ngã. Con sẽ không ở bên mẹ nữa nhưng con biết có 1 chân lý cuộc đời không bao giờ thay đổi: dù ở gần con dù ở xa con ……. ý chí vươn lên.và cánh cò ở đây lại là khát vọng sáng tạo. trong lời ru của mẹ không chỉ mang đến cho con những cánh cò mà nó còn mang đến cho con hơi xuân ấm áp.

đến hát quanh nôi. chỉ là một con cò trong lời mẹ hát thôi thế nhưng có biết bao điều vừa gần gũi vừa sâu xa. không chỉ có thế.con đi trăm núi ngàn khe chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm. mẹ luôn là người có tấm lòng bao dung và độ lượng nhất. thế nhưng. vì con mà mẹ phải chịu đựng tất cả. nhưng chúng ta ai nào có biết tâm trạng mẹ lúc ấy. mẹ lại khóc. Cho dù con đã trưởng thành. mẹ luôn muốn nhận những gì đau khổ và vất vả nhất về mình vì con. kết tụ sự hi sinh. Khi cất lên những lời hát ru. có những cay đắng lẫn ngọt bùi. mẹ khóc vì thương cho đứa con bé bỏng. chế lan viên đã mượn hình ảnh ấy ví cho hình tượng của người mẹ. mẹ luôn tha thứ cho những lỗi lầm của con để mong con có thể vững bước trên đường đời. ta đã cảm động biết bao. mặc dù CLV không nhắc đến những nếm trải của cuộc đời mẹ song những câu thơ của ông cho ta hiểu thêm rằng trong cánh cò kia chất chứa những nỗi nông sâu của cuộc đời mẹ. và hình ảnh cò đã dần đi vào tầm thức của tuổi thơ con. bao dung con như khi con còn thơ bé. lại một lần nữa ta đã hiểu được sự chịu đựng của mẹ như thế nào. nó sẽ theo con suốt cuộc đời bởi vì đâu đó trong hình ảnh cánh cò kia đó là hình ảnh của người mẹ con kính yêu thế đấy. vì con mà đã nhiều đêm mẹ khóc thầm không ngủ. thật ra. À ơi! một con cò thôi …….một hình tượng bất tử. vậy mà mẹ luôn vì con. ai đã biết. gian khổ để những lời yêu thương càng thêm sâu sắc. cao đẹp. ai nào có biết mẹ đã khóc nhiều như thế. một triết lý của cuộc sống nhưng sao vẫn rất nhẹ nhàng. người phụ nữ việt nam . ai đã hiểu cho tình thương của mẹ. hối hận vì những lần đã hiểu lầm mẹ. Hai tiếng “à ơi” quen thuộc trong những lời ru được cất lên thật mượt mà. lời ru là một khúc hát yêu thương mà mẹ dành cho con. nhưng bất chợt lại cảm thấy hối hận biết bao. trước tình mẹ bao la vô tận đến thế. m ẹ đã hoá thân thành cánh cò mang nhiều ý nghĩa sâu xa. tội nghiệp. . tình mẹ thật thiêng liêng. hình ảnh mẹ luôn đẹp nhất và rực rỡ trong lòng chúng con. mẹ luôn mong người bị ốm hôm nay không phải là con mà chính là mẹ. tất cả những gì mẹ mang đến cho con đều là những tình thương sâu thẳm tận đấy lòng của mẹ. rồi có những ngày con đau ốm. hình ảnh những con cò thật giản dị nhưng nhờ sự khéo léo của mình. mẹ luôn túc trực suốt đêm không chợp mắt. trong mỗi chúng ta cũng đã không ít lần hiểu lầm mẹ. đã từng nếm trải nhiều lẽ của cuộc đời thì bao giờ con cũng là con của mẹ và mẹ luôn mong muốn che chở. tất cả. là lúc mẹ gửi gắm trong cánh cò cả cuộc đời mẹ.

cậu bé sinh ra trong một gia đình bất hạnh: người cha nghiện ngập rồi chết mòn.sưu tầm TLV số 6 suy nghĩ của em về tình mẫu tử trong "trong lòng mẹ" của Nguyên Hồng Nói đến Nguyên Hồng. người ta nhớ ngay một giọng văn như trút cả bao xúc động đắng đót vào trong những câu chuyện của ông. người mẹ cùng túng phải đi tha phương cầu thực. Đoạn trích Trong lòng mẹ là hồi ức đan xen cay đắng và ngọt ngào của chính nhà văn . cô chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi. luôn luôn “tươi cười” – khiến hình dung đến loại người “bề ngoài thơn thớt nói cười – mà trong nham hiểm giết người không dao”. phải bỏ con cái đi tha phương cầu thực. Tình cảm của đứa con đã giúp bé vượt qua những thành kiến mà người cô đã gieo rắc vào lòng cậu “Vì tôi biết rõ. đẹp nhất. chết rục bên bàn đèn thuốc phiện. Nhưng liệu có thể gọi là gia đình không khi chính những người thân – mà đại diện là bà cô ruột lại đóng vai trò người giám hộ cay nghiệt. nếu chỉ nhìn vào bề ngoài cuộc sống của cậu bé Hồng. mang theo cái dư vị đắng chát của tuổi thơ khát khao tình mẹ. tình mẹ con là mối dây bền chặt không gì chia cắt được. Sức chịu đựng của một cậu bé cũng có chừng mực. có thể nói cậu bé ấy vẫn còn may mắn hơn bao đứa trẻ lang thang vì còn có một mái nhà và những người ruột thịt để nương tựa sau khi cha mất và mẹ bỏ đi. Cậu bé phải đối mặt với bà cô cay nghiệt. một người đàn bà đã bị cái tội là goá chồng. là nguồn an ủi và chở che giúp cho đứa trẻ có thể vượt lên bao đắng cay tủi nhục và bất hạnh. Đáng sợ hơn. Tấm lòng trẻ thơ ấy thật đáng quí. Sự tra tấn tinh thần thật ghê gớm. Những diễn biến tâm trạng của bé Hồng trong câu chuyện đã được thuật lại bằng tất cả nỗi niềm đau thắt vì những ký ức hãi hùng kinh khiếp của tuổi thơ. Đối với bé Hồng. Hồi ký “Những ngày thơ ấu” là kỷ niệm xót xa của cậu bé Hồng. bao giờ mẹ cũng là người tốt nhất. người đọc vẫn lây lan cảm giác của cậu bé sớm phải chịu thiếu thốn tình cảm. cậu bé Hồng đã phải sống trong cảnh hắt hủi ghẻ lạnh đến cay nghiệt của chính những người trong họ hàng. Cho đến tận bây giờ. Kỳ diệu thay. để rồi chợt nhận ra: tình mẫu tử là nguồn sức mạnh thiêng liêng và diệu kỳ. khi đọc lại những trang viết này. nợ nần cùng túng quá. Trước khi gặp mẹ: Nói một cách công bằng. Ta chứng kiến và cảm thương cho từng khoảnh khắc đớn đau. những trang viết ấy lại giúp chúng ta hiểu ra một điều thật tự nhiên giản dị: Mẹ là người chỉ có một trên đời. sự tàn nhẫn ấy lại dành cho đứa cháu ruột vô tội của mình. Nhưng đời nào lòng thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến…” Nhưng ta cũng nhận ra những vết thương lòng đau nhói mà bé Hồng đã sớm phải gánh chịu. cậu đã trở thành tấm bia hứng chịu thay . nhắc đến mẹ tôi.

với trò tra tấn gặm nhấm dần niềm tin con trẻ. bởi lẽ niềm khao khát được gặp lại mẹ lúc nào cũng thường trực trong lòng cậu bé. mới thấy mẹ có một êm dịu vô cùng”. khi những uất ức nén nhịn có dịp bùng phát. người đọc vẫn lây lan cảm giác của cậu bé sớm phải chịu thiếu thốn tình cảm. bảo bọc. Càng thương cho cậu bé Hồng. để rồi chợt nhận ra: tình mẫu tử là nguồn sức mạnh thiêng liêng và diệu kỳ. Không khóc sao được. mang theo cái dư vị đắng chát của tuổi thơ khát khao tình mẹ. Cho đến tận bây giờ.cho mẹ những ghẻ lạnh. khi cậu bé có được cảm giác an toàn và được chở che trong vòng tay mẹ. để cậu bé được thoả lòng mong nhớ và khát khao bé nhỏ của mình. để sinh nở một cách giấu giếm… Tôi cười dài trong tiếng khóc”. là sự diệu kỳ giúp cậu bé vượt lên nỗi cay đắng của những ngày xa mẹ. cậu bé ấy cũng đã kiên quyết bảo vệ mẹ mình. tràn trề cảm giác hạnh phúc:“Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ. Ta xúc động biết bao nhiêu trước khoảnh khắc hồi hộp lo lắng của cậu bé khi sợ mình nhận nhầm mẹ. có lẽ mỗi một người trong chúng ta cũng sẽ cảm nhận được tình me giống như cậu bé Hồng: “Mẹ tôi vừa kéo tay tôi. Hình ảnh mẹ qua những trang viết của nhà văn thật tươi tắn sinh động. Ta chợt ghê sợ trước loại người như bà cô – họ vẫn lẩn quất đâu đó quanh ta. ta lại càng căm uất sự ghẻ lạnh của người đời trước những số phận bất hạnh. Linh cảm và tình yêu dành cho mẹ đã không đánh lừa cậu. để đền đáp lại là cảm giác của đứa con trong lòng mẹ . Thật đẹp khi chúng ta đọc những câu văn.cảm giác được chở che. bất chấp những thành kiến ác độc: “Chỉ vì tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi. là nguồn an ủi và . và gãi rôm ở sống lưng cho. an ủi. khi đọc lại những trang viết này. để người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm. xoa đầu tôi hỏi thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở”. khoé mắt tôi đã cay cay” Dù đã kìm nén hết mức nhưng những lời độc ác kia vẫn đạt được mục đích khi đã lấy được những giọt nước mắt tủi nhục của một đứa trẻ không đủ sức tự vệ . Mỗi khi đứng trước mẹ. áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ. Dường như khoảnh khắc cười dài trong tiếng khóc kia chứa chất sự phẫn nộ và khinh bỉ không cần giấu giếm Trong thâm tâm. Từ nhận thức non nớt. Có lẽ không cần phải bình luận thêm nhiều __________________ suy nghĩ của em về tình mẫu tử trong "trong lòng mẹ" của Nguyên Hồng Nói đến Nguyên Hồng. được thương yêu. Liệu ta có hoà chung giọt nước mắt này chăng: “Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đìa ở cằm và cổ”. liệu rằng cậu bé ấy có khi nào oán trách mẹ mình đã nhẫn tâm bỏ con không? Có lẽ không bao giờ. người ta nhớ ngay một giọng văn như trút cả bao xúc động đắng đót vào trong những câu chuyện của ông. thành kiến của người đời: “Tôi lại im lặng cúi đầu xuống đất: lòng tôi thắt lại. Hồi ký “Những ngày thơ ấu” là kỷ niệm xót xa của cậu bé Hồng. Mẹ đã trở về cùng đứa con thân yêu.

Ta chợt ghê sợ trước loại người như bà cô – họ vẫn lẩn quất đâu đó quanh ta. với trò tra tấn gặm nhấm dần niềm tin con trẻ. Cậu bé phải đối mặt với bà cô cay nghiệt. cậu đã trở thành tấm bia hứng chịu thay cho mẹ những ghẻ lạnh. Trước khi gặp mẹ: Nói một cách công bằng. cô chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi. Tấm lòng trẻ thơ ấy thật đáng quí. Đoạn trích Trong lòng mẹ là hồi ức đan xen cay đắng và ngọt ngào của chính nhà văn . những trang viết ấy lại giúp chúng ta hiểu ra một điều thật tự nhiên giản dị: Mẹ là người chỉ có một trên đời. Sức chịu đựng của một cậu bé cũng có chừng mực. Ta chứng kiến và cảm thương cho từng khoảnh khắc đớn đau. Từ nhận thức non nớt. nếu chỉ nhìn vào bề ngoài cuộc sống của cậu bé Hồng. Những diễn biến tâm trạng của bé Hồng trong câu chuyện đã được thuật lại bằng tất cả nỗi niềm đau thắt vì những ký ức hãi hùng kinh khiếp của tuổi thơ. Đối với bé Hồng. Nhưng liệu có thể gọi là gia đình không khi chính những người thân – mà đại diện là bà cô ruột lại đóng vai trò người giám hộ cay nghiệt. cậu bé ấy cũng đã kiên quyết bảo vệ mẹ mình. đẹp nhất. bao giờ mẹ cũng là người tốt nhất. có thể nói cậu bé ấy vẫn còn may mắn hơn bao đứa trẻ lang thang vì còn có một mái nhà và những người ruột thịt để nương tựa sau khi cha mất và mẹ bỏ đi.cậu bé sinh ra trong một gia đình bất hạnh: người cha nghiện ngập rồi chết mòn. Nhưng đời nào lòng thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến…” Nhưng ta cũng nhận ra những vết thương lòng đau nhói mà bé Hồng đã sớm phải gánh chịu. Đáng sợ hơn. Kỳ diệu thay. thành kiến của người đời: “Tôi lại im lặng cúi đầu xuống đất: lòng tôi thắt lại. Liệu ta có hoà chung giọt nước mắt này chăng: “Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đìa ở cằm và cổ”. chết rục bên bàn đèn thuốc phiện. một người đàn bà đã bị cái tội là goá chồng. ta lại càng căm uất sự ghẻ lạnh của người đời trước những số phận bất hạnh. cậu bé Hồng đã phải sống trong cảnh hắt hủi ghẻ lạnh đến cay nghiệt của chính những người trong họ hàng. người mẹ cùng túng phải đi tha phương cầu thực. bất chấp những thành kiến ác độc: “Chỉ vì tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những . tình mẹ con là mối dây bền chặt không gì chia cắt được. Càng thương cho cậu bé Hồng. khoé mắt tôi đã cay cay” Dù đã kìm nén hết mức nhưng những lời độc ác kia vẫn đạt được mục đích khi đã lấy được những giọt nước mắt tủi nhục của một đứa trẻ không đủ sức tự vệ . Tình cảm của đứa con đã giúp bé vượt qua những thành kiến mà người cô đã gieo rắc vào lòng cậu “Vì tôi biết rõ. phải bỏ con cái đi tha phương cầu thực. luôn luôn “tươi cười” – khiến hình dung đến loại người “bề ngoài thơn thớt nói cười – mà trong nham hiểm giết người không dao”. nhắc đến mẹ tôi. nợ nần cùng túng quá.chở che giúp cho đứa trẻ có thể vượt lên bao đắng cay tủi nhục và bất hạnh. sự tàn nhẫn ấy lại dành cho đứa cháu ruột vô tội của mình. Sự tra tấn tinh thần thật ghê gớm.

Không khóc sao được.cảm giác được chở che. Linh cảm và tình yêu dành cho mẹ đã không đánh lừa cậu. liệu rằng cậu bé ấy có khi nào oán trách mẹ mình đã nhẫn tâm bỏ con không? Có lẽ không bao giờ. Ta xúc động biết bao nhiêu trước khoảnh khắc hồi hộp lo lắng của cậu bé khi sợ mình nhận nhầm mẹ. Mỗi khi đứng trước mẹ. Có lẽ không cần phải bình luận thêm nhiều "Tri thức là sức mạnh" . và gãi rôm ở sống lưng cho. khi cậu bé có được cảm giác an toàn và được chở che trong vòng tay mẹ. khi những uất ức nén nhịn có dịp bùng phát. Mẹ đã trở về cùng đứa con thân yêu. Dường như khoảnh khắc cười dài trong tiếng khóc kia chứa chất sự phẫn nộ và khinh bỉ không cần giấu giếm Trong thâm tâm. có lẽ mỗi một người trong chúng ta cũng sẽ cảm nhận được tình me giống như cậu bé Hồng: “Mẹ tôi vừa kéo tay tôi.thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi. để người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm. để sinh nở một cách giấu giếm… Tôi cười dài trong tiếng khóc”. là sự diệu kỳ giúp cậu bé vượt lên nỗi cay đắng của những ngày xa mẹ. bởi lẽ niềm khao khát được gặp lại mẹ lúc nào cũng thường trực trong lòng cậu bé. bảo bọc. an ủi. mới thấy mẹ có một êm dịu vô cùng”. Hình ảnh mẹ qua những trang viết của nhà văn thật tươi tắn sinh động. để cậu bé được thoả lòng mong nhớ và khát khao bé nhỏ của mình. được thương yêu. Thật đẹp khi chúng ta đọc những câu văn. áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ. xoa đầu tôi hỏi thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở”. để đền đáp lại là cảm giác của đứa con trong lòng mẹ . tràn trề cảm giác hạnh phúc:“Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful