Phân tích một số bài văn lớp 9

Chuyện người con gái Nam Xương Đề 1: Trong truyện “Người con gái Nam Xương”, nhân vật Trương Sinh vội tin câu nói ngây thơ của con trẻ đã nghi oan cho Vũ Nương ruồng rẫy và đánh đuỗi nàng đi. Vũ Nương bị oan ức nên nhảy xuống sông tự vẫn. Em hãy đọc kĩ lại tác phẩm và tìm xem có những chi tiết nào trong truyện tác giả muốn hé mở khả năng có thể tránh được thảm kịch đau thương cho Vũ Nương. Những nguyên nhân nào làm cho thảm kịch đó vẫn diễn ra dẫn đến cái chết đau thương cũa người phụ nữ đức hạnh? Em hãy bình luận về nguyên nhân cái chết đó . HƯỚNG DẪN 1. Đọc kĩ tác phẩm, nắm vững chi tiết, độc lập suy nghĩ để tìm ra những chi tiết mà đề yêu cầu. Tài thắt nút và mở nút là ở chỗ ấy. Mỗi em tìm tòi theo cách của mình miễn là hợp lí. 2. Bình luân về nguyên nhân cái chết của Vũ Nương. Có nguyên nhân trực tiếp do tính nết cá nhân của Trương Linh và nguyên nhân sâu xa của chế độ xã hội từ đó tìm ra ý nghĩa tố cáo và nhân đạo của tác phẩm. BÀI VIẾT THAM KHẢO “Truyền kì mạn lục” là một tác phẩm có giá trị của văn học cổ nước ta thế kỉ XVI, một tập truyện văn thơ đầu tiên bằng chữ Hán ở Việt Nam. Truyện “Người con gái Nam Xương” là một truyện hay trong tác phẩm. Truyện kể rằng, Vũ Thị Thiết là một phụ nữ đức hạnh ở Nam Xương, chồng là Trương Linh, người nhà giàu nhưng không có học, tính lai đa nghi. Triều đình bắt lính, Trương Linh phải tòng quân trong khi vợ đang mang thai. Chồng đi xa mới được mười ngày thì nàng sinh con trai đặt

tên là Đản. Năm sau, giặc tan, việc quân kết thúc, Trương Linh trở về thì con đã biết nói, nhưng đứa trẻ nhất định không nhận Trương Linh làm bố. Nó nói: “Ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư ? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ thin thít. Trước đây thường có một ông đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.” Tính Trương Linh hay ghen, nghe con nói vậy đinh ninh rằng vợ hư, đã vu oan cho Vũ Nương, ruồng rẫy và đánh đuổi nàng đi. Vũ Nương bị oan ức đã nhảy xuống sông tự vẫn. Đọc kĩ tác phẩm, em thấy truyện không phải không hé mở khả năng có thể dễ dàng tránh được thảm kịch đau thương đó. Tài kể chuyện của tác giả là ở chỗ đó, cởi ra rồi lại thắt vào đẩy câu chuyện đi tới, khiến người đọc hứng thú theo dõi và suy nghĩ, chủ đề của tác phẩm từng bước nổi lên theo dòng kể của câu chuyện. Lời con trẻ nghe như thật mà chứa đựng không ít điều vô lí không thể tin ngay được, nếu Trương Sinh biết suy nghĩ, người cha gì mà lạ vậy: “không biết nói, chỉ nín thin thít” chẳng bao giờ bế con mình, mà hệt như “cái máy” - “mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi”. Câu nói đó của đứa trẻ chẳng phải là một câu đố, giảng giải được thì cái chết của Vũ Nương sẽ không xảy ra. Nhưng Trương Linh cả ghen, ít học, thiếu suy nghĩ, đã vô tình bỏ dở khả năng giải quyết tấm thảm kịch, dẫn tới cái chết oan uổng của người vợ mà chàng không phải không có tình yêu thương. Tất nhiên sự đời có thế mới thành chuyện, vả lại trên đơì làm gì có sự ghen tuông sáng suốt. Bi kịch có thể tránh được khi vợ hỏi chuyện kia ai nói, chỉ cần Trương Sinh kể lại lời con nói mọi chuyện sẽ rõ ràng. Vũ Nương sẽ chứng minh cho chồng rõ ở một mình nàng hay đùa với con trỏ vào bóng mình và nói là cha Đản. Mãi sau này, một đêm phòng không vắng vẻ, ngồi buồn dưới bóng đèn khuya, chợt người con chỉ vào bóng mình trên vách mà bảo đó là cha nó, Trương Linh mới tỉnh ngô, thấu hiểu nỗi oan của vợ thì mọi chuyện đã xong. Vũ Nương không còn nữa trên đời. Câu chuyện bắt đầu từ một bi kịch gia đình, một chuyện trong nhà, một vụ ghen tuông. Không ít tác phẩm xưa nay đã viết về cái chuyện thường tình đầy tai hoạ này. Vũ nương không may lấy phải người chồng cả ghen, nguyên nhân trực tiếp dẫn nàng đến cái chết bi thảm là “máu ghen” của người chồng nông nổi. Nhưng sự thực vẫn là sự thực!cái chết oan uổng quá và người chồng độc đoán quá! Một phụ nữ đức hạnh, tâm hồn như ngọc sáng mà bị nghi oan bởi một

chuyện không đâu ở một lời con trẻ, một câu nói đùa của mẹ với con mà phải tìm đến cái chết bi thảm, ai oán trong lòng sông thăm thẳm. Câu chuyện đau lòng vượt ra ngoài khuôn khổ cuả một gia đình, nó buộc chúng ta phải suy nghĩ tới số phận mong manh của con người trong một xã hội mà những oan khuất, bất công, tai hoạ có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối với họ mà những nguyên nhân dẫn đến nhiều khi rất lạ lùng không thể lường trước được. Đó là xã hội phong kiến ở nước ta, nhất là ở thời nó đã suy vong. Xã hội đó đã sinh ra những chàng Trương Sinh, những người đàn ông đặc đầu óc “nam quyền”, chà đạp lên quyền sống của người phụ nữ. Tính ghen tuông của cá nhân cộng với tư tưởng “nam quyền” trong xã hội đã làm nên một Trương Sinh độc đoán đến kỳ cục, khư khư theo ý riêng, nhất thiết không nghe ý kiến của người khác. Đứa trẻ nói thì tin ngay, còn vợ than khóc giãi bày thống thiết thì nhất định không tin, họ hàng, làng xóm phân giải công minh cũng chẳng ăn thua gì. Hậu quả là cái chết thảm thương của Vũ nương mà nguyên nhân sâu xa là chế độ phong kiến bất công cùng chế độ “nam quyền” bất bình đẳng của nó đã gây ra bao nhiêu tai hoạ cho người phụ nữ nói riêng và con người thời đó nói chung.

Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải Mở bài “Nếu là con chim, chiếc lá, Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh Lẽ nào vay mà không trả, Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.” (Tố Hữu) Tố Hữu – nhà thơ cùng quê hương xứ Huế với Thanh Hải – đã viết trong bài “Một khúc ca xuân” những lời tâm niệm thật chân thành, giản dị và tha thiết. Đó là “lặng lẽ dâng cho đời”. Còn Thanh Hải khi viết bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” trước lúc ra đi, không những đã giải bày những suy ngẫm mà còn mong ước được dâng hiến một mùa xuân nho nhỏ của mình cho mùa xuân vĩ đại của đất nước Việt Nam. Sinh ra, lớn lên, hoạt động cách mạng và tham gia công tác văn nghệ suốt hai thời kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ngay chính trên quê hương ruột thịt của mình. Ở địa diểm nào, hoàn cảnh nào ông cũng thể hiện được lẽ sống của mình. Đó là sự giản dị, chân thành, yêu người và khát vọng dâng hiến sức mạnh cho đời như chính cuộc sống và tâm hồn ông. Chúng ta có thể coi bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là món quà cuối cùng mà Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc

Tôi đưa tay tôi hứng”. Tôi đưa tay tôi hứng”. Chính vì vậy nó bâng khuâng. yêu cuộc sống. Từ “giọt” . thánh thoát hơn: “Ơi con chim chiền chiện Hót cho mà vang trời. Phân tích Hình ảnh của một mùa xuân rất Huế đã được tác giả mở đầu cho bài thơ: “Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc. thiết tha và thanh thản. Từng giọt long lanh rơi. muôn thuở và nguyện dâng hiến cho đời. Một từ “Ơi” đặt ở đầu câu. Cảm xúc về mùa xuân mở ra thật ngỡ ngàng. Từng giọt long lanh rơi. Một nét đặc trưng nơi xứ Huế là hình ảnh màu tím. bất ngờ. không hề gợn một nét u buồn nào của một cuộc đời sắp tắt. tha thiết và sâu lắng hơn tất cả để cuối cùng thể hiện một Thanh Hải yêu người. Thân bài Giới thiệu chung Trước lúc vĩnh viễn ra đi ông cũng để lại cho đời những vần thơ thật nhân hậu. trẻ trung hơn. không gian như tươi tắn hơn. một từ “chi” đứng sau động từ “hát” đã đưa cách nói ngọt ngào. Ơi con chim chiền chiện Hót cho mà vang trời. thân thương của Huế vào nhạc điệu của thơ. nhà thơ vẫn nghĩ đến một mùa xuân bất diệt. Khi cuộc đời mình đã bước vào cuối đông. Một màu tím thật gợn nhẹ như màu tím hoa sim mọc giữa con sông xanh biếc hay như những tà áo dài với màu tím thật nhẹ nhàng của những cô gái Huế. yêu quê hương đất nước và còn là một Thanh Hải sống cho thơ và sống cho đời.về cõi vĩnh hằng. Trong không gian vang vang vui tươi của tiếng chim càng đậm đà chất Huế hơn nhờ dùng đúng chỗ những ngôn từ đặc trưng xứ Huế.

với Thanh Hải cũng thế. của chim muông hoa lá. giọt mưa xuân. Mùa xuân của thiên nhiên. lạc quan. Mùa xuân người ra đồng. hay chính họ đã đem mùa xuân đến cho mọi miền của tổ quốc thân yêu. Một từ “hứng” cũng đủ diễn tả sự trân trọng của nhà thơ đối với vẻ đẹp của trời. Lộc trãi dài nương mạ. Sức sống của “mùa xuân đất nước” còn được cảm nhận qua nhịp điệu hối hả. Tác giả đã sử dụng biện pháp điệp từ. Từ mùa xuân của thiên nhiên đất trời. Phải chăng dấu ba chấm như còn muốn thể hiện rằng: đất nước sẽ còn đi lên. điệp ngữ như nhấn mạnh và kết thúc một khổ thơ bằng dấu ba chấm. đồng thời cũng thể hiện cảm xúc trọn vẹn của Thanh Hải trước mùa xuân của thiên nhiên đất trời. đất nước. dân tộc. Những giọng thơ ấy rất giàu sức suy tưởng và làm say đắm lòng người.được hiểu theo rất nhiều nghĩa: có thể là “giọt nắng bên thềm”. tác giả đã chuyển cảm nhận về mùa xuân của cuộc sống. Tất cả như hối hả. những âm thanh xôn xao của đất nước bốn ngàn năm. sẽ đến với một tầm cao mới mà không có sự dừng chân ngơi nghỉ. Tất cả như xôn xao…” Hình ảnh mùa xuân của đất trời đọng lại trong lộc non đã theo người cầm súng và người ra đồng. tin yêu của Thanh Hải đối với đất nước. biểu tượng của hai nhiệm vụ: chiến đấu bảo vệ tổ quốc và lao động tăng gia để xây dựng đất nước với những câu thơ giàu hình ảnh và mang tính gợi cảm: “Mùa xuân người cầm súng. trải qua biết bao vất vả và gian lao để vươn lên phía trước và mãi khi mùa xuân về lại được tiếp thêm sức sống để bừng dậy. sẽ phát triển. được hình dung qua hình ảnh so sánh rất đẹp: “Đất nước bốn ngàn năm Vất và vào gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước” Đó chính là lòng tự hào. nhân dân và đất nước. Lộc giắt đầy trên lưng. giọt sương sớm hay cả tiếng hót của những chú chim chiền chiện. . đất nước thường gợi lên ở mỗi con người niềm khát khao và hi vọng. Từ cảm xúc của thiên nhiên. Nhưng đối với khung sắc trời xuân thì giọt xuân càng làm tăng thêm vẻ đẹp và sự quyến rũ của nó. của sông. Với hình ảnh “người cầm súng” và “người ra đồng”. mạch thơ đã chuyển một cách tự nhiên sang bày tỏ suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa xuân của đất nước.

dù nhỏ bé của mỗi người cho cuộc đời chung cho đất nước. nhỏ nhẹ. Khát vọng của ông là được làm con chim hót. Thanh Hải đã thể hiện hết mình vì lòng tin yêu cuộc sống và khiêm tốn hiến dâng cho đất nước. giản dị và tha thiết – xin được làm một nốt trầm trong bản hoà ca của cuộc đời nhưng là “một nốt trầm xao xuyến”. chân thành của tác giả nên lời thơ dễ dàng được mọi người tiếp nhận và chia sẻ cho nhau: “Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc”. Hiến dâng “mùa xuân nho nhỏ” nghĩa là tất cả những gì tốt đẹp nhất. một cành hoa để hoà nhập vào “mùa xuân lớn” của đất nước.cống hiến tuổi già. Điều tâm niệm đó thật chân thành. Một nốt trầm xao xuyến” Lời thơ như ngân lên thành lời ca. Đã gọi là cống hiến cho đời thì dù ở tuổi nào đi chăng nữa cũng phải luôn biết cố gắng hết tâm trí để phục vụ và hiến dâng cho quê hương. đất nước mến yêu của chính mình. quê hương với một khát vọng cân thành và tha thiết: “Ta làm con chim hót. ở mọi lứa tuổi. Thật cảm động và kính phục biết bao khi đọc những vần thơ như lời tổng kết của cuộc đời. “Dù là tuổi hai mươi” khi mới tham gia kháng chiến cho đến khi tóc bạc là thời điểm hiện thời vẫn lặng lẽ dâng hiến cho đời và bài thơ này là một trong những bài thơ cuối cùng. Điều tâm niệm của tác giả: “lặng lẽ dâng cho đời” chính là khát vọng chung của mọi người. chứ đâu phải của riêng ai. một nhà thơ đã gắn bó trọn đời với đất nước. chuẩn bị ra đi mãi mãi. xuất phát từ tiếng lòng thiết tha. “Một mùa xuân nho nhỏ” cuối cùng của Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc ông bước vào thế giới cực lạc. Ta làm một cành hoa.cống hiến sức trẻ để không bao giờ thất vọng trước chính bản thân mình. Vì sao có sự thay đổi như vậy? Ta ở đây là nhà thơ và cũng chính là tất cả mọi người. Nếu như đoạn đầu Thanh Hải xưng tôi kín đáo và lặng lẽ thì đến đoạn này ông chuyển giọng xưng ta. trẻ . Ta nhập vào hoà ca. Nam Bình . Kết thúc bài thơ bằng một âm điệu xứ Huế: điệu Nam ai. góp một nốt trầm vào bản hoà ca bất tận của cuộc đời. Già . bởi vậy. cho cuộc đời.đây chính là thời điểm mà ông nhìn lại cuộc đời và bộc bạch tâm niệm thiết tha của một nhà cách mạng.

nỗi niềm đau đớn của đồng bào và chiến sĩ miền Nam dồn nén bao nhiêu năm đã được nhà thơ Viễn Phương thể hiện trong bài Viếng lăng Bác. là hạnh phúc.mênh mang tha thiết. Kết bài Tóm lại bài thơ đã sử dụng thể thơ năm chữ. Miền Nam cũng ngày đêm thương nhớ Bác. Ông đã giải bày. là lời ngợi ca đất nước. bằng giọng văn nhỏ nhẹ như một lời tâm sự./. Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến miền Nam. khi Bắc Nam sum họp một nhà thì Bác không còn nữa. Nét đặc sắc của bài thơ là ở chỗ nó đề cập đến một vấn đề lớn và quan trọng “nhân sinh”. gửi gắm của mình với cuộc đời. là nỗi đau không lúc nào nguôi: “Miền Nam trong trái tim tôi”. hiểu nhau và giải bày cho nhau. ước nguyện sâu lắng nhất… và bài thơ này cũng chính là những điều đúc kết cả cuộc đời của ông. thiết tha. cất trúc thơ chặt chẽ. nhạc điệu. đất nước. mang âm hưởng dân ca nhẹ nhàng tha thiết. Bài thơ không những chỉ thể hiện dòng cảm xúc trào dâng của nhà thơ mà còn thể hiện hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh bằng những hình ảnh vừa quen thuộc. cảm xúc của tác giả. vừa giàu sức . sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường. Nhưng tiếc thay. vấn đề ý nghĩa cuộc sống của mỗi cá nhân được Thanh Hải thể hiện một cách chân thành. Niềm mong mỏi thiết tha của Bác là miền Nam mau được giải phóng. ngày đêm thương nhớ miền Nam. miền Nam là niềm vui. giàu hình ảnh. Nhà thơ ước nguyện làm một “mùa xuân” nghĩa là sống đẹp. luôn chứa chan tình cảm. và chính lúc đó Thanh Hải đã thả hồn vào thơ. là “một mùa xuân nho nhỏ” góp vào “mùa xuân lớn” của đất nước của cuộc đời chung và bài thơ cũng có ý nghĩa hơn khi Thanh Hải nói về “mùa xuân nho nhỏ” nhưng nói được tình cảm lớn. những xúc động của chính tác giả và của cả chúng ta. một câu chân tình thắm thiết “Mùa xuân ta xin hát Câu Nam ai. cùng chung một nhịp đập với thơ để ông và thơ luôn được cùng nhau. mong ngày giải phóng để được gặp Bác kính yêu. Nam Bình Nước non ngàn dặm tình Nước non ngàn dặm mình Nhịp phách tiền đất Huế” Đánh giá chung Những lời tâm sự cuối cùng của người sắp mất luôn là những lời thực sự. giọng điệu đã thể hiện đúng tâm trạng. Lòng thương nhớ. Với Bác. biểu hiện niềm tin yêu và gắn bó sâu nặng của tác giả với quê hương. Nguồn: ST Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác Sinh thời. tâm tình những điều sâu kín nhất trong lòng.

Hàng tre xanh xanh trong vườn Bác gợi cho người đọc nhiều liên tưởng. Miền Nam luôn luôn là nỗi đau chia cắt. Câu thơ giản dị nhưng bao hàm một ý nghĩa lớn. súc tích nhưng có sức gợi tạo nên sự xúc động cho người đọc. bất khuất. ca ngợi dân tộc. Viễn Phương đã bày tỏ ngay tình cảm sâu nặng. Tự đáy lòng của người con đến thăm cha. khi lần đầu tiên sau giải phóng miền Nam. Bài thơ ra đời năm 1976. Tình cảm giữa miền Nam và Bác Hồ luôn luôn là tình cảm ruột thịt “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà” (Tố Hữu) và tình cảm của miền Nam đối với Bác cũng là tình cảm nhớ mong da diết “Miền Nam mong Bác nỗi mong cha” (Tố Hữu). kiên cường. nhà thơ mang theo cả niềm tự hào đó của đồng bào miền Nam để đến với Bác. Viễn Phương đã nói hộ chúng ta một chân lý: Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong lòng nhân dân ta. thân thuộc. nỗi nhớ thương. cũng như mọi người Việt Nam. Viễn phương ra thăm Lăng Bác. Hình ảnh đầu tiên trong lăng làm nhà thơ xúc động là hình ảnh hàng tre: Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng Hàng tre bát ngát cuốn hút cảm xúc của nhà thơ. Viễn Phương nói với Bác: Con ở miền Nam…. vừa lung linh gợi cảm. Ngôn ngữ thơ tuôn trào theo theo dòng cảm xúc chân thành. Mở đầu bài thơ. Trong tim Bác và trong tim miền Bắc. ruột thịt của mình bằng câu thơ giản dị: Con ở miềm Nam ra thăm lăng Bác. là biểu tượng anh hùng. Qua hình ảnh hàng tre quen thuộc tác giả gửi gắm một ý nghĩa tượng trưng nhằm ca ngợi Bác. cây tre là hình ảnh giản dị. trong tâm khảm nhà thơ.khái quát. tha thiết. là thành đồng Tổ Quốc… Giờ đây. Chắc rằng. nhất là hình ảnh miền Nam yêu thương. là niềm tự hào. . Bằng cảm xúc chân thực và ngôn ngữ thơ gợi cảm. như Bác Hồ suốt đời sống giản dị nhưng kiên cường tranh đấu vì độc lập tự do của dân tộc. Hàng tre gợi hình ảnh mọi miền quê hương đất nước. đời đời gắn bó với quê hương làng xóm. Tre kiên cường trong bão táp mưa sa như dân tộc ta vững vàng qua phong ba bão tố. dũng cảm. Bài thơ rất ngắn gọn.

Cùng với mặt trời ngày ngày đi qua trên lăng là dòng người đi trong thương nhớ. thấy Bác nằm nghỉ.thán phục một mặt trời trong lăng rất đỏ. mặt trời . nhà thơ liên tưởng đến một hình ảnh rất đẹp: vầng trăng sáng dịu hiền. Đặc biệt xúc động là khi vào trong lăng.là mặt trời cách mạng. yêu trăng nồng nàn của Bác. bao trùm một một không khí thương nhớ Bác không nguôi. nghẹn ngào.chúa tể của thiên nhiên . Đây là một sáng tạo nghệ thuật có tác dụng bộc lộ nội dung rất hiệu quả. là nguồn ánh sáng rực rỡ không bao giờ tắt. . thành kính kết tràng hoa tình yêu dâng bảy mươi chín mùa xuân của Người. nhà thơ đã khái quát được hình ảnh Bác Hồ vĩ đại. Lời thơ bỗng dạt dào một cảm xúc tự hào. Vẫn biết trời xanh là mãi mãi . nhà thơ tiếp tục dòng suy tưởng. thời gian không ngừng trôi và lòng người Việt Nam không bao giờ nguôi tình cảm nhớ thương. đau đớn: Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền. thương nhớ Bác: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân Ai đã từng một lần đi viếng lăng Bác mới hiểu hết hàm ý trong câu thơ của Viễn Phương. nhà thơ thật sâu sắc và tinh tế khi tôn quí nhân dân. mãi mãi chiếu rọi con đường đi tới của dân tộc Việt Nam. chói lọi nhất luôn luôn toả sáng trong tâm hồn người Việt Nam. rực rỡ nhất.Hoà vào dòng người thăm lăng. Hình ảnh đó đã đưa người đọc vào một thế giới huyền diệu. nhà thơ sững sờ. thành kính. yêu quí. “Người ta là hoa của đất”. Mặt trời rất đỏ. kính trọng đối với Bác. hình ảnh tượng trưng cho Bác Hồ . Mỗi người dân là một bông hoa và dòng người đi trong thương nhớ chính là tràng hoa dâng lên Bác. Nhịp thơ chầm chậm như bước chân của dòng người lặng lẽ đi trong suy tưởng. trong sáng và thanh khiết. Mà sao nghe nhói ở trong tim Bác nằm đó như đang trong giấc ngủ bình yên sau bảy mươi chín mùa xuân không hề nghỉ. Ngày ngày… ngày ngày …. Nhiều nhà thơ đã sử dụng hình ảnh mặt trời để thể hiện ánh sáng của lý tưởng cách mạng. chỉ một hình ảnh mặt trời rất đỏ. Ngày ngày. càng gợi ta nghĩ đến tình yêu thiên nhiên. Không nhiều lời. Từ ánh điện mờ ở trong lăng. Nhà thơ đã nói hộ chúng rằng: Bác Hồ là mặt trời cách mạng đẹp nhất. nhưng đối sánh hai hình ảnh mặt trời của Viễn Phương quả là rất độc đáo.

lớn lao của Bác Hồ. làn hương quanh nơi Bác nghỉ cho trọn niềm trung hiếu với Người. giữa vầng trăng sáng dịu hiền. “rằm xuân lồng lộng trăng soi”. Cả khi trong ngục: “Người ngắm trăng soi qua cửa sổ. cây tre. “trăng ngân đầy thuyền”. một con người suốt đời hy sinh. Nhà thơ đã có nhiều dụng ý khi sử dụng các hình ảnh rất đẹp. thương đến trào nước mắt. Cả những khi bận rộn việc nước việc quân. như bầu trời xanh. nhịp điệu thiết tha. Đoạn thơ dạt dào tình cảm. vầng trăng sáng dịu hiền. nhưng tác giả đã thành công khi sử dụng hàng loạt hình ảnh ẩn dụ mang tính tượng trưng sâu sắc. thanh cao. . Và hơn thế nữa. bông hoa. Còn hình ảnh hàng tre xanh xanh lại tượng trưng cho cái bình dị. tất cả các hình ảnh ấy đều gợi cho ta thấy sự bất tử của Bác Hồ. thanh khiết. góp tiếng hót. Những hình ảnh đó tượng trưng cho cái vĩ đại. trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”. Bác như vầng mặt trời rực rỡ. Nhà thơ chia tay Bác trong tiếng khóc nấc nở nghẹn ngào. Làm sao ngăn được dòng nước mắt thương nhớ Bác-một con người vừa vĩ đại. Vẫn biết rằng Bác như trời xanh. một tình cảm yêu quý mãnh liệt. trời xanh là mãi mãi đã gợi cho người đọc thấy trọn vẹn hình tượng Bác Hồ gần gũi. đất nước. Các hình ảnh hàng tre xanh xanh. “trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa…” Giờ đây. trời xanh. rất lớn lao của vũ trụ: mặt trời. vầng trăng.Vầng trăng kia đã bao lần sáng lên trong thơ Người. nó còn gợi đến hình ảnh quê hương. chỉ một chữ nhói cũng đủ nói lên nỗi quặn đau. tràng hoa. vừa gần gũi thân thiết với chúng ta. trong giấc ngủ bình yên. Mà sao nghe nhói ở trong tim. bảy mươi chín mùa xuân. mãi mãi sống trong sự nghiệp của chúng ta. Bài thơ ngắn. vĩ đại biết bao. đến các hình ảnh mặt trời rất đỏ. cống hiến cho dân tộc nay vĩnh viễn nằm lại trong lăng? Nhà thơ lưu lưyến không muốn rời xa Bác. vì nỗi thiếu vắng Bác. Ở Bác toả ra ánh sáng của trí tuệ thiên tài và lấp lánh ánh sáng của một tâm hồn cao đẹp. trọn vẹn như tình cảm của người con đối với người cha ruột thịt. thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Muốn làm bông hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. Bác nằm đó. chỉ ước muốn biến thành con chim. cao quý. thương nhớ không gì bù đắp được vì mất Bác. “trăng vào cửa sổ đòi thơ”. Thương Bác. Nhưng con tim nhà thơ đau đớn vô cùng khi đứng trước Người. nó trào lên dữ dội khi nhà thơ chia tay với Bác: Mai về miền Nam. Và nỗi đau không còn kìm ném được nữa. giữa bão táp mưa sa. như vầng trăng sáng dịu hiền. gần gũi của Người. Ngoài ra. Bác vẫn thấy “trung thu trăng sáng như gương”. cùng với hình ảnh cây tre trung hiếu một lần nữa truyền đến người đọc sự xúc động nghẹn ngào. nhân dân.

rồi những khi bị địch bắt đi lao động. kể rằng: “Lúc tôi 25 tuổi. cảm xúc nồng nàn chân thực. nhịp điệu tha thiết. bài Chúc thọ dưới mồ. Viễn Phương sáng tác thầm trong đầu và đọc cho các đồng chí cùng khám nghe. nhà thơ Viễn Phương hoạt động ở Nam Bộ. Kỳ diệu thay. tôi được đọc một bài viết của anh Lê Quang Vịnh trên báo Sài Gòn Giải phóng. . Âm hưởng của bài thơ ngân vang mãi trong lòng người đọc. Có bài tác giả viết khi bị địch giam cầm ở các trại giam Phú Lợi. họ lại đọc cho bạn tù ở khám khác nghe. Trong hai cuộc kháng chiến. yêu quý của chúng ta. Tôi đọc được bài thơ dài. lòng kính phục vô hạn của nhà thơ Viễn Phương và của nhân dân ta đối với Bác Hồ mà bài thơ còn diễn tả thành công hình tượng Bác Hồ vĩ đại bằng những hình ảnh đẹp. Lê Văn Duyệt. Viếng lăng Bác không những là tiếng khóc đau đớn.. Viễn Phương chỉ đọc một vài lần. địa ngục trần gian của nhà tù ấy. có những ghi bằng than. Viễn Phương mới thực sự có một bài thơ hay về Bác. tôi thấy chi chít những chữ ghi bằng nhiều cách khác nhau. nghẹn ngào trước sự ra đi của Bác. Tôi nghĩ rằng đó cũng là hạnh phúc lớn của nhà thơ: Góp phần mình vào công cuộc giải phóng đất nước. và đã sáng tác nhiều bài thơ về Bác Hồ. chỗ khác ghi một khúc ráp lại rất vần với nhau. trong sự nghiệp của chúng ta. Có những chữ bằng máu. Có những dòng được khắc trên vôi bằng cái xương cá mắm. Trên vách chuồng cọp. tôi bị bắt buộc phải nằm dưới hầm suốt ngày.Người sống mãi trong lòng nhân dân ta. chỗ này ghi một đoạn. Phải đến bài thơ Viếng Lăng Bác.. Mãi mãi là vị cha già thân thiết. Hôm nay mười chín tháng năm: Lòng con sáng tựa đêm rằm trung thu Con đang chúc thọ dưới mồ Con đang dựng một rừng cờ trong tim Đêm nay mộng hóa thành chim Bay qua lưới sắt con tìm đến cha Sau này mới biết là thơ Viễn Phương.". cứ vậy thơ Viễn Phương được lan truyền trong nhà tù. không có giấy bút. mọi người đều thuộc. Bài thơ được phổ nhạc càng trở nên truyền cảm sâu xa. làm xúc động hàng triệu trái tim Việt Nam từ 1976 đến nay. bị bọn Mỹ – Diệm kết án tử hình rồi chuyển thành trung thân khổ sai và đày ra Côn Đảo. Trong chuồng cọp. Dưới đây là cuộc trò chuyện giữa ông và phóng viên VNQĐ PV: Thưa nhà thơ Viễn Phương. trong một lần nào đó. là lòng thương nhớ không nguôi.

ra thăm miền Bắc. nhac. tôi đi như người mộng du và tứ thơ bật ra: Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát. các nhà thơ sống ở Nam Bộ đều có những tác phẩm viết về Bác. ai cũng muốn dừng thật lâu. trong sáng. viếng lăng Bác. Bác nằm đó. sâu sắc cũng là bao quát trong thơ Bác. Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Mặt trời của vũ trụ đối với mặt trời trong lăng. Tuy lời thơ còn mộc mạc nhưng là tấm lòng thành kính của tôi đối với Người. Người ghét sự cầu kỳ. Nhưng rồi. Chúng tôi đi từ hướng chùa Một Cột. cổ các chiến sĩ trong nhà tù. Khi miền Nam giải phóng. đó cũng là tâm tư của nhân dân và chiến sỹ ở Nam Bộ với Bác. Hoa tươi là nét đẹp của thiên nhiên. Anh sáng dịu dàng toả xuống như giữa một đêm trăng thanh miền thôn dã. Trong nhà tù của giặc. Anh có thể cho biết bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nào? Nhà thơ Viễn Phương: Khi Bác còn sống. Tôi viết như là ý nghĩ của mình. độc lập. Và. giản dị. Giản dị. được các đồng chí trong tù thuộc. anh mới có Viếng Lăng Bác. những gốc đào hoa đỏ rực… Tất cả đều thiêng liêng. làm dáng. Tôi không cầm nổi nước mắt. vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc ta là nguồn cảm hứng vô tận của người sáng tạo văn.Nhà thơ Viễn Phương: Hồ Chí Minh. đầy đủ độ chín và ngôn từ. tôi được nối vào dòng người vào lăng Bác. thanh thản. mọi người đều muốn ra thăm miền Bắc. hàng ngày dâng lên Bác rất nhiều nhưng tôi nghĩ đến: . Đến bên Bác. Tôi đã viết bài thơ Chúc thọ dưới mồ. Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ. ước mơ ấy không được toại nguyện. Đảng ta đã thực hiện: xây dựng một đất nước Việt Nam hoà bình. Bác của chúng ta vốn giản dị. Sương toả mênh mông. Sáng hôm ấy mưa phùn. họa. thống nhất. Năm 1976. Hà Nội lây phây trong gió rét. PV: Phải đến khi đất nước thống nhất. những hàng tre xanh sẫm. Ra khỏi làng. được đến viếng Bác. tôi luôn luôn nghĩ về Bác. thơ. Bác là nguồn động viên. dân chủ và giàu mạnh như di chúc của Bác. truyền cho nhau. hiền từ như đang ngủ. tôi ra Hà Nội. Đó cũng là hàm chứa sự vĩnh cửu của sự nghiệp Bác Hồ tạo dựng và nhân dân ta. nhân dân miền Nam mong muốn đất nước giải phóng để đón Bác vào thăm. Tôi nghĩ. Lời thơ thật giản dị.

Chùm thơ thu (Nguyễn Khuyến). nhạy cảm khi mùa thu tới. Ngay từ tiêu đề. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Nói về đề tài mùa thu. là hoa tươi của cuộc sống. Đoạn kết. một tác giả đã nhận định: “Đề tài "Mùa Thu" bao giờ cũng có vẻ là dễ viết. không phải cuối thu. Toàn bài Viếng Lăng Bác mang một không khí trang nghiêm. Và dâng cho Bảy mươi chín màu xuân. Đó không phải là chính thu. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Sang thu của Hữu Thỉnh xuất hiện khi trước nó đã có rất nhiều bài thơ nổi tiếng đông tây kim cổ: Thu hứng (Đỗ Phủ). Mùa thu dường như luôn luôn nấp sẵn trong ngòi bút của chúng ta. nhất là những ngòi bút thơ: hễ động bút là mùa thu cứ chực đổ ùa ra trên mặt giấy. thành kính. khi nắng trời đã nhuộm đỏ . Đây mùa thu tới (Xuân Diệu)… Nhưng nó vẫn có cái hay.Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng Bảy mươi chín mùa xuân Dòng người vây quanh Bác trở thành hoa. khi bầu trời xanh ngắt lơ lửng những tầng cao. tác giả đã tự xác định một thời điểm miêu tả: thời điểm giao mùa. cái độc đáo riêng của một hồn thơ sâu lắng. Tưởng như với đề tài thơ mộng muôn thuở này có thể dễ dàng chắp bút. tôi muốn nói lên tình cảm của nhân dân. chiến sỹ miền Nam hứa với Bác: Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này (sưu tầm) Sang thu (Hữu Thỉnh) Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. tôi mới thấy đề tài này thật là khó” Tại sao lại có nghịch lí trong kinh nghiệm của người sáng tác như vậy? Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. Chỉ đến khi bắt đầu cầm bút ngồi trước mặt giấy.

Có gió. sắc nước… Hữu Thỉnh hầu như khơi gợi cảm giác về mùa trong trạng thái mơ hồ của tạo vật. hệ thống động từ toàn bài còn đặc sắc ở chỗ. Không hề có một từ định tính để miêu tả thế giới thu... “chùng chình” “dềnh dàng” “bắt đầu vội vã” “vắt nửa mình”… “Chùng chình” trước hết gợi tả chính xác những làn sương như ngưng lại và nhẹ nhàng tỏa lan ngõ xóm. Thành công nổi bật nhất của bài cũng là ở một hệ thống những động từ miêu tả rất giàu cảm giác: “phả”. Có hương ổi. mùi hương vừa đặc trưng cho mùa vừa đặc trưng cho làng thôn ngõ xóm. Làn sương giăng phủ ngõ thôn chẳng được đặc tả ở mức độ (mù mịt) hay màu sắc (trắng mờ). sương như người khách ngập ngừng nơi đầu ngõ. cánh chim. Đặc biệt ở góc độ miêu tả tạo vật. Dòng sông. Đám mây như tấm khoăn voan của người thiếu nữ. hay đám mây cũng không tô điểm cho phong cảnh thu bằng những gam màu đặc trưng của nó. Song trên hết. nhưng gió se chứ không phải là gió lạnh. được gọi một . Se gợi một động thái. những cánh chim vội vã tìm về phương ấm áp… Song thời điểm chớm thu không phải chỉ hiển hiện ở những dấu hiệu mơ hồ trong trạng thái biến chuyển của cảnh vật. nó không chỉ miêu tả chính xác trạng thái của tạo vật mà còn thổi vào tạo vật những cảm giác rất người. “se”. cường độ… Hàng cây như đã quá quen với nắng lửa mưa giông. Dòng nước thu vốn trong trẻo và sâu hút làm người ta khó mà thấy rõ được sự chuyển động nó nên cảm giác sông lững lờ trôi cũng rất hiện thực. hơn là gợi một cảm giác. ngô đồng hay màu trời. hay khi cái rét mùa đông đã lẩn vào trong gió…Sang thu nghĩa là mới chớm thu thôi. Sang thu. không còn dữ dội nữa. Truyền thống thơ thường kiến trúc ngôi nhà thu bằng những chất liệu quen thuộc như cúc.lá bàng. cái tứ kết buộc hệ thống hình ảnh trong bài cũng chỉ gói gọn trong chút “chớm” mỏng manh đó. Tinh tế và sống động sao một buổi sáng chớm thu. “Hình như thu đã về”… Tiếp tục thể hiện những dấu hiệu mùa thu rõ rệt hơn nhưng ý nghĩa của khổ cuối không chỉ dừng lại ở đó: Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi Con người cảm thấy biết bao biểu hiện khác biệt của thời tiết khi mùa thu tới: mưa và sấm thưa dần. mà ở cả chút ngỡ ngàng bâng khuâng của lòng người: “Bỗng nhận ra hương ổi”. gió se lại bởi chút lạnh xa xăm. duyên dáng nối hai mùa là một liên tưởng thực sự độc đáo. Nhưng hương ổi “thơm” như thế nào thì thi sĩ hoàn toàn không miêu tả. tất cả các dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn nhưng đã giảm dần mức độ. liễu.

.Nhà thơ Xuân Diệu khi cảm nhận về mùa thu cũng nói tới cánh chim : "Chim nghe trời rộng giang thêm cánh" .đã về " Ngọn jó se ở đây ta có thể hiểu là ngọn gió heo may se se lạnh ban phát cái hương vị còn sót lại của làng quê... bởi ngõ xóm thân quen ấy. Và có lẽ cũng nhờ giọng điệu êm nhẹ dễ cuốn người đọc vào dòng cảm xúc.Hương thu thấm đẫm ngọt nào trong vạn vật như đc in dấu lung linh . “đứng tuổi” khiến ý nghĩa của câu thơ không dừng lại ở nét nghĩa tả thực mà có chiều sâu hơn. Cảnh như sâu lắng hơn bởi liên tưởng suy tư về mùa thu đời người.cách hình ảnh là “hàng cây đứng tuổi”.Tuơng phản với hình ảnh dòng sông à lũ chim :"chim bắt đầu vội vã". suy nghĩ tự nhiên của tác giả.những tiếng đập cánh vội vã. mưa. tôi chợt thấy nhớ rất nhiều những năm tháng đã qua của mình.Hình ảnh giọt sương thu gợi ta và gợi cảm :"giọt sương chùng chình" gợi tả 1 ngõ nhỏ yên ắng.gấp gáp hơn. Cảm xúc của nhà thơ :"Bỗng".bâng khuâng.Ta cảm nhận lũ chim như hình dung đc cái lạnh của thu đã về và cuộc hành trình về phương Nam của chúng bắt đầu với những tiếng gọi nhau . Đây xứng đáng là một bài thơ thu hay trong thế giới thi ca! ( Sưu tầm đó) Người ta nói mùa thu là mùa của thi nhận.của tình yêu."hình như" là 2 tâm trạng của nhà thơ:bất ngờ và bối rối.bịn rịn. sấm chớp… hay là những vang động của cuộc đời? Trong tương quan ấy. Miền kí ức tuổi thơ được đánh thức bởi mùi hương ổi. Nắng. hàng cây tượng trưng cho con người từng trải mà bao dâu bể biến đổi không còn đáng ngạc nhiên. Chính các từ “bất ngờ”.bâng khuâng đang đợi chờ 1 nguời nào đó.mà trầm ngâm suy nghĩ.huyền ảo qua mỗi vần thơ ở bài Sang Thu của nhà thơ HỮU THỈNH "Bỗng nhận ra. Nét độc đáo nhất của bài là những hình ảnh chính xác và giàu sức gợi tạo nên một bức tranh thu giản dị mà sống động.Có phải nhà thơ đang thầm hỏi lòng :thu về từ bao giờ?theo gió hay theo huơng?Thu đến mà ko báo trước để lòng người xao xuyến bâng khuâng Khi cả đất trời vào thu "Sông đựoc lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu " Nhà thơ đã thổi hồn vào cảnh vật để cho dòng sông đc dịp mà thanh thản.1 không gian sương khói lãng đãng lúc thu về..những âm thanh.của những bài thơ dịu dàng. khi đọc bài thơ này.Giợt sương thu là hình ảnh mang tâm trạng ngập ngừng . Không hiểu sao.

Những suy ngẫm trong thơ cho ta ý thức sâu hơn về trách nhiệm của con người cuộc đời.nó gieo vào lòng người những rung động nhẹ nhàng khiến ta như giao hoà.chỉ còn lại những giọt nắng và vì vậy sự suy nẫm triết lí của nhà thơ đc thể hiện thật đúng lúc..khổ 2 là những biến đổi của cảnh vật thì khổ 3 là tình thu chan chứa.Con người lưu luyến chưa muốn chia tay với mùa hạ.cám giác như vừa là thực .Hàng cây đứng tuổi hay đó chính là những nguời đã từng trải qua nhiều khó khăn gian nan của cuộc đời.gợi hình. đồng điệu . Bài thơ là bức tranh mùa thu đẹp để ta yêu mến. Các hình ảnh nắg.mưa .vừa là ảo.. Thiên nhiên sang thu.còn khi bước sang thu.vang động bất thường trong cuộc sống.Con nguời đứng tuổi ko còn sôi nổi như 1 thời trẻ dại mà tâm trạng của họ trờ nên chín chắn .đằm thắm hơn.Hàng cây đứng tuổi vững vàng trước sấm sét .Thế nhưng tất cả lắng xuống ."Vẫn còn bao nhiêu nắng.tượng trưng cho những bến đổi.Liên tưởng của nhà thơ làm bầu trời xanh kia trờ nên kì diệu .con nguời cũng sang thu.Đời người đã sang thu từ khi nào.Chỉ còn kết lại bài thơ hình ảnh hàng cây đứng tuổi gợi bao suy nghĩ sâu xa .hình như ko mong đợi mà thu vẫn về. Nếu như ở khổ 1 là cảm nhận về sự kì diệu của mùa thu .tình thu vào nhau thắm thiết.Đám mây như 1 dãi lụa mềm tạo thành chiếc cầu nối cho nhịp thời gian .đi vào chừng mực rồi ổn định .chững chạc mang vẻ đẹp sâu lắng kín đáo nhưng kiêu hãnh tự hào.tự hào về cảnh sắc quê hương đất trời.Đặc sắc nhất là 2 câu thơ : "Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu" Trong đám mây của mùa thu vẫn còn vương chút nắng hạ nên từ "vắt" đc nhà thơ dùng thật sống động..Lúc ngoảnh lại mới thấy mái tóc pha sương và mình đã ko còn trẻ.cây đứng tuổi" Có thể nhận ra biện pháp tu từ nhân hoá làm câu thơ mang chiều sâu triết lí .gif[/IMG] Khoảnh khắc giao mùa có lẽ là khoảnh khắc đẹp đẽ nhất của tự nhiên .Cảnh thu.lo toan.thu êm đềm vừa chợt đến đám mây vừa ngỡ ngàng như bước qua bờ bên kia . ^__^[IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image001.thử thách của cuộc đời .Chút nắng còn sót lại của mùa hạ vàng .phải chăng cũng là sự điềm tĩnh bình thản của con người khi đã đi qua bao mưa nắng .sấm chớp .Khi chúng ta chưa hết ngỡ ngàng bởi một Xuân Diệu “tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì ” thì đã .Trời đã bớt đi những cơn mưa .họ trờ nên nghiêm trang.Bốn mùa luân chuyển như đời nguời vội vã.vừa rõ ràng mà lung linh.tạo dáng.

những rung động man mác.Tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra mùa thu là “hương ổi”.thong thả. Câu thơ có hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ . chua chua nơi đầu lưỡi của trái ổi vườn quê .Cảm giác bất chợt đến với nhà thơ : “bỗng nhận ra” -một sự bất ngờ mà như đã chờ đợi sẵn từ lâu lắm . bâng khuâng như bước đi nhỏ nhẹ của mùa thu . thi sỹ vẫn ngỡ ngàng thốt lên lời thầm thì như tự hỏi :Hình như thu đã về!? Tâm hồn thi sỹ nắm bắt những biến chuyển nhẹ nhàng.Câu thơ không chỉ tả mà còn gợi liên tưởng đến màu vàng ươm . hữu tình và chứa chan thi vị .gặp một Hữu Thỉnh tinh tế . chùng chình giăng mắc trên khắp nẻo đường thôn : Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về . nhẹ nhàng “ vắt nửa mình sang thu”. Câu thơ giúp ta hình dung về đám mây mỏng nhẹ . hạ chưa qua hết . Sương thu đã được nhân hoá . ngọt. vị giòn.hai chữ “chùng chình” diễn tả rất thơ bước đi chầm chậm của mùa thu .gió thu. đặc biệt là hình ảnh : Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu .trắng xốp . Không gian nghệ thuật của bức tranh thu được mở rộng hơn .Và không chỉ có thế .những đàn chim vội vã bay về phương nam …Không gian thu thư thái . Mùi hương quê nhà mộc mạc “phả” trong gió thoảng bay trong không gian .Câu thơ có tính tạo hình không gian những lại có ý nghĩa diễn tả sự vận động của thời gian : thu bắt đầu sang . Nếu ở câu thơ đầu tiên nhà thơ “bỗng nhận ra” thu về khá bất ngờ và đột ngột thì sau khi cảm nhận sương thu . mùa . Bài thơ là những cảm nhận .sâu sắc đến vô cùng qua một thoáng “Sang Thu” .Không phải là sắc “mơ phai” hay hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác” mà là hương ổi thân quen nơi vườn mẹ đã đánh thức những giác quan tinh tế nhất của nhà thơ : Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se.cả sương thu như cũng chứa đầy tâm trạng. bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kỳ diệu của thiên nhiên trong buổi giao mùa .cái bỡ ngỡ ban đầu vụt tan biến đi nhường chỗ cho những rung cảm mãnh liệt trước không gian thu vời vợi : Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Sông nước đầy nên mới “dềnh dàng” nhẹ trôi như cố tình chậm lại .kéo dài như tấm khăn voan duyên dáng của người thiếu nữ thảnh thơi . mong manh của tạo vật trong phút giao mùa cũng êm đềm. hương thơm lựng .

« Thu ẩm » . sấm.bâng khuâng của tác giả trong buổi giao mùa đã tạo nên một dấu ấn không dễ phai mờ trong lòng bao độc giả .Những suy tư đó của tác giả có lẽ đã góp phần làm cho “Sang thu” trở nên giàu ý nghĩa . Vẫn là nắng. ^__^ Phân tích bài thơ Sang Thu Mùa thu là một đề tài muôn thuở của các thi nhân Việt Nam. tất cả đều là những bài thơ rất nổi tiếng. thăng trầm của cuộc đời ít làm con người ta bất ngờ. Có lẽ vì vậy mà sau khi đọc “Sang thu” của Hữu Thỉnh ta càng thấy yêu hơn mùa thu thiết tha. « Thu điếu ». rất êm . Lưu Trọng Lư có « Tiếng thu ». “ cũng bớt bất ngờ” bởi mùa thu đã đến . mưa. “đã vơi dần”. bị động . ngôn từ tinh tế . nồng hậu của quê nhà . chớp của mùa hạ vương lại đâu đây . thì Hữu Thỉnh cũng có một chớm « Thu sang » rất nhẹ nhàng êm dịu.thu vừa chớm . Nếu như Nguyễn Khuyến có chùm thơ thu với ba bài : « Thu vịnh ». Hình ảnh thơ đẹp . song chỉ là “vẫn còn” . rất nhẹ . giọng thơ êm đềm và những rung động man mác .Ý thơ còn gợi liên tưởng đến con người khi đã lớn tuổi và từng trải thì những giông gió. Trong đó có hai khổ thơ rất hay ghi lại cảm xúc của nhà thơ trước cảnh sang thu ở một miền quê nhỏ : Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về. Sông được nước dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Mùa thu của Hữu Thỉnh được mở ra không phải với sắc vàng tươi của . rất dịu . Xuân Diệu có « Đây mùa thu tới » . đất trời : Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi . mơ hồ như cả đất trời đang rùng mình thay áo mới … Khổ thơ thứ ba diễn tả rất rõ sự biến chuyển của không gian và cũng là một thoáng suy tư của nhà thơ trước cảnh vật.

Nhưng đàn chim thì không thể dềnh dàng được nữa. cứ cố nán lại để đợi chờ ai. nó cũng mang hồn người . Hương thơm ấy nhẹ nhàng thoảng qua theo gió.hoa cúc. Hữ Thỉnh chẳng còn nghĩ gì ngoài cảm xúc đang dâng trào: “Sông được nước dềnh dàng. Chim bắt đầu vội vã”. mà là với hương ổi thơm giòn ngọt phả vào trong gió thu. Nhịp thơ nhanh và gấp cũng như hơi thở của mùa thu đã bắt đầu đập mạnh. Thu đến chẳng hề báo trước! Thu sang từ bao giờ Hữu Thỉnh cũng không biết nữa! Ông chỉ nhận ra một sự bất ngờ mà như đã đợi từ lâu lắm. ngoài vườn. Sương đang đợi ai. Sông vào mùa này chẳng có mưa to gió lớn nên nước cứ “dềnh dàng”. cũng không phải với vị thơm ngon của cốm làng Vòng. Thu sang mang theo hơi thửo của mình và mang theo cả cái vẻ thu mơ màng mờ ảo: “Sương chùng chình qua ngõ” Sương thu cũng có cái nét đặc biệt riêng của nó. Tất cả đều đang . cũng không quá nhẹ để người ta dễ lãng quên. sương đang chờ ai mà sao lưu luyến thế? Từ láy “chùng chình” tạo cho ta cảm giác “dùng dằng nửa ở nửa về”.thu đã về thật rồi! Khép lại những hoài nghi. Nó không mang cái mùi thơm hăng hắc như hoa sữa. Làn gió se se lạnh của mùa thu cũng rất khác với cái gió tê tái của mùa đông. Nó chỉ khiến ta hơi co người lại một chút và để rồi thảnh thơi đón nhận cả một lưồng khí thu mát rượt trong lòng. Con sông tràn trề nước mà hình như cứ không chịu chảy. Đến sương lúc này cũng là sương thu mà Hữu Thỉnh vẫn còn ngẩn ngơ mãi: “Hình như thu đã về” Ông thờ ơ quá chăng hay bởi lòng ông đang bối rỗi? Thu về tự bao giờ? Từ hương ổi hay từ làn gió heo may? Thu làm lòng người xao xuyến quá chừng để đến nỗi không biết thu đến thực hay mơ! Sau một thoáng bỡ ngỡ. Có lẽ. Sương thu không vô cảm. chúng phải vội vã bay về phương Nam tránh rét. Một hương thơm thu một làn heo may thu đã làm nên cái mở độc đáo cho bài thơ. Sương thu là những làn khói mong manh bay vờn nhẹ trên những nãi nhà. đề người ta chợt xốn xang trong lòng. Sông chờ nước mùa thu chăng? Một hình ảnh thơ thật thi vị và lãng mạn. Nó không tan nhanh như sương mùa hạ. thậm chí dường như còn độc đáo đến bất ngờ cho cả nhà thơ : “Bỗng nhận ra hương ổi”. Dường như cái hương thơm dịu ấy chỉ thoang thoảng quanh quất đâu đây. cũng chẳng dầy đặc như sương mùa đông. sẽ chẳng ở đâu có cái gió se lạnh ấy ngoài mùa thu của đất Bắc – cái gió se mà từ lâu vẫn được coi là hồn thu Bắc Bộ. nhà thơ như chợt bừng tỉnh.

Tre chọn ống dài vuốt nhọn. Chắc hản phải yêu mùa thu lắm Hữu Thỉnh mới vẽ ra được một bức tranh thu nồng đượm hơi ấm đất trời. Lúc đầu khi chưa có dụng cụ để khâu thắt. vàng cháy. được đem là bằng cách dùng một miếng sắt đốt nóng. Còn loại nón khâu như ngày nay xuất hiện phải nhờ đến sự ra đời của chiếc kim. trên thạp đồng Đào Thịnh vào 2500-3000 năm về trước. đã và sẽ có nhiều bài thơ thu hay. Nhưng có lẽ sẽ chẳng ai biết mà lại quên được một chớm “Thu sang” của Hữu Thỉnh . tức là vào thời kỳ người ta chế luyện được sắt (khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên). Phải chăng đám mây kia có hai nửa thì một nửa nằm bên mùa hạ. Tàu lá nón khi đem về vẫn còn xanh nhăn nheo. Nguyên liệu làm nón không phức tạp. phải “Vắt nửa mình sang thu”. dùng làm vòng nón. Theo sự phát triển của lịch sử qua các thời đại. Chiếc nón đã được chạm khắc trên những cổ vật như trống đồng Ngọc Lũ.Hà Nội) có 16 lớp vòng. nón được tết đan. nữ tính. nồng đượm hơi ấm quê nhà như thế. sau lại nhăn như cũ. nửa kia thuộc về mùa thu. Ở nơi nào cũng vậy. đặt lá lên dùng nắm giẻ vuốt cho phẳng. Không biết ở đây là mùa thu lưu luyến mùa thạ hay nhà thơ đang mong chờ mùa hạ mà vẫn lưu luyến mùa thu đây? Điêu này thì Hữu Thỉnh thật khác với các nhà thơ khác. đang thay đổi. muốn làm được một chiếc nón phải dùng lá của một loại cọ nhỏ mọc hoang để lợp. nguội quá lá chỉ phẳng lúc đầu. ông viết mùa thu nhưng lại là vào lúc giao mùa.một mùa thu nhẹ nhàng. huyện Thanh Oai . Còn Hữu Thỉnh. Lửa phải vừa độ. nó không còn vương vấn chút gì của mùa hè rực lửa. Thậm chí ngay cả đám mây mùa hạ cũng thấy sốt ruột. Người ta đốt diêm sinh hơ cho lá trắng ra. Cũng viết về mùa thu. Nón Chuông (làng nón nổi tiếng Việt Nam ở làng Chuông. gần gũi của người phụ nữ Việt Nam . nếu nóng quá thì bị giòn. trông qua như một cô thôn nữ mộc mạc mà sao lại đằm thắm khó quên đến thế! (sưu tầm) Thuyết minh về chiếc nón lá của người Việt Chiếc nón lá là người bạn thủy chung. dùng một loại sợi rất dai lấy từ bẹ cây móc (ngày nay người ta thường dùng sợi chỉ nilon) để khâu và tre làm vành. Trong làng thơ dân tộc.chuyển mình. Nguyễn Khuyến viết: “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” – có nghĩa là thu của Nguyễn Khuyến đã thực là thu. gác lên dàn bếp hong khói chống mối mọt. đồng thời tránh cho lá khỏi mốc. Con số 16 là kết . nón cũng có nhiều biến đổi về kiểu dáng và chất liệu.

Tác giả. (Sưu tầm) CHIẾC LƯỢC NGÀ ( Trích ) I. . những câu thơ trữ tình. Những sợi móc dùng để khâu thường có độ dài. chiếc nón được coi là một thứ phục trang truyền thống của phụ nữ Việt Nam . cái gáy trắng ngần của cô gái dường như được tôn thêm nét duyên dáng. ông tham gia bộ đội. Muốn khâu cho liên tục thì gần hết sợi nọ phải nối tiếp sợi kia. kín đáo mà không kém phần quyến rũ. Và cái tài của người thợ làng Chuông là các múi nối sợi móc được dấu kín. Những mũi kim khâu được ước lượng mà đều như đo. đi chợ. Công phu nhất là vừa vẽ chìm dưới lớp lá nón những hoa văn vui mắt. Người ta gắn lên đỉnh của lòng nón một mảnh gương tròn nho nhỏ để các cô gái làm duyên kín đáo. Các cô gái Việt Nam chăm chút chiếc nón như một vật trang sức... kín đáo. đôi mắt.. lựa chọn qua nhiều năm. Trong nghệ thuật. Con người Việt Nam có tình cảm sâu sắc và gắn bó với chiếc nón lá giản dị dù gặp nó ở bất cứ đâu trên trái đất này.. tiết mục múa nón của các cô gái với chiếc áo dài duyên dáng thể hiện tính dịu dàng. những sợi tóc mai. Dưới vành nón. hay những hình ảnh bụi tre. cho đến nay đã trở thành một nguyên tắc không thay đổi. Nón có nhiều loại. áo cánh. má lúm đồng tiền. tác phẩm 1. thắt lưng bao. Người ta đội nón làm đồng. ngắn khác nhau. khiến khi nhìn vào chiếc nón chỉ thấy tăm tắp những mũi khâu mịn màng. mềm mại và kín đáo của người phụ nữ Việt Nam . Cùng với áo dài.. chiếc nón còn hướng tới mục đích làm đẹp cho con người và phù hợp với cảm quan thẩm mỹ của người Việt: đẹp một cách tế nhị. Nhưng vẻ đẹp của chiếc nón chủ yếu nhờ vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ tạo nên. nón chóp nhọn đầu. phải soi lên nắng mới thấy được gọi là nón bài thơ.quả của sự nghiên cứu. Ngoài chức năng che nắng. nón ba tầm như nón thúng nhưng mảnh mai hơn.. đôi khi là vật để trao đổi tâm tư tình cảm của riêng mình. chơi hội. đồng lúa.Tác giả Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932 quê ở huyện Chợ Mới. váy lĩnh. yếm đào. nón thúng rộng vành. tỉnh An Giang. nụ cười. Trong thời kì kháng chiến chống Pháp. tất cả đều để che chắn cho những con người sống trên một dải đất nắng lắm mưa nhiều. che mưa.

Từ sau năm 1954 ông tập kết ra Bắc. Trước lúc nhắm mắt. kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hoà bình. Trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Từ năm 1958 ông công tác tại Hội nhà văn Việt Nam.Truyện ngắn Chiếc lược ngà 1. tiểu thuyết. Mãi khi con gái lên tám tuổi anh mới có dịp về thăm nhà. khi tác giả đang hoạt động ở chiến trường Nam Bộ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ và được đưa vào tập truyện cùng tên. . nhưng sâu sắc đậm đà chất Nam Bộ. 2.Tình huống truyện Truyện đã thể hiện tình cha con sâu sắc của hai cha con anh Sáu trong hai tình huống: . 2. mộc mạc.Ở khu căn cứ. nhưng thật trớ trêu là bé Thu không nhận ra cha. II. Nhưng ông đã hi sinh khi chưa thể gửi món quà ấy cho con gái. Đây là tình huống cơ bản của truyện . Bé Thu không nhận ra cha vì cái sẹo trên mặt làm ba em không giống với người trong bức ảnh chụp với má mà em được biết. người cha dồn hết tình cảm yêu quí. làm biên tập cho tuần báo Văn nghệ của Hội nhà văn. anh Sáu dồn hết tình cảm yêu thương và mong nhớ đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà để tặng con gái bé bỏng. tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc anh Sáu phải ra đi. Ở khu căn cứ. công tác tại phòng văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam và bắt đầu viết văn.Tóm tắt truyện Anh Sáu xa nhà đi kháng chiến. Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng có nhiều thể loại: truyện ngắn. ông tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác.Tác phẩm Truyện ngắn Chiếc lược ngà được viết năm 1966. Trong một trận càn. thì tình huống thứ hai lại biểu lộ tình cảm sâu sắc của người cha đối với con. nhớ thương đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để tặng cô con gái bé bỏng. đến lúc em nhận ra và biểu lộ tình cảm thắm thiết thì anh Sáu lại phải ra đi.Nếu tình huống thứ nhất bộc lộ tình cảm mãnh liệt của bé Thu với cha. anh hi sinh.hoạt động ở chiến trrường Nam Bộ. Đến lúc thu nhận ra cha. Em đối xử với ba như người xa lạ.Cuộc gặp gỡ của hai cha con anh Sáu sau tám năm xa cách. anh còn kịp trao cây lược cho người bạn với lời nhắn gửi không nói lên lời. Lối viết của Nguyễn Quang Sáng giản dị. .

nhanh như một con sóc. thái độ và hành động của bé Thu đã đột ngột thay đổi hoàn toàn. Trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh.Thái độ và hành động của Thu khi nhận ra người cha . Nó hôn tóc. rồi vụt chạy và kêu thét lên khi mới gặp ông Sáu. lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”. đáp lại sự vồ vập của người cha. nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó”. . Trong cái cứng đầu của em có ẩn chứa cả sự kiêu hãnh trẻ thơ về một tình yêu dành cho người cha khác-người trong tấm hình chụp chung với má em. Phản ứng tâm lí của em là hoàn toàn tự nhiên. khác với hình ba mà nó được biết. Thu đã được bà giải thích về vết thẹo làm thay đổi khuôn mặt ba nó.Thái độ và hành động của Thu trước khi nhận ra ông Sáu là cha .3. nay nay bùng ra thật mạnh mẽ và hối . nên nó không tin ông Sáu là ba nó chỉ vì trên mặt ông có thêm vết sẹo. và đôi vai nhỏ bé của nó run run” . éo le của đời sống và người lớn cũng không ai kịp chuẩn bị cho nó những khả năng bất thường. Lần đầu tiên Thu cất tiếng gọi ba và tiếng kêu của nó như xé. nó còn quá bé nhỏ để có thể hiểu được những tình thế khắc nghiệt.Phân tích diễn biến tâm lí và tình cảm của bé Thu trong lần đầu gặp cha cuối cùng. Tâm lí và thái độ ấy của bé Thu được biểu hiện qua hàng loạt chi tiết mà người kể chuyện quan sát và thuật lại rất sinh động: hốt hoảng. Vì thế trong giờ phút chia tay với cha. “ hai tay nó siết chặt lấy cổ. tình cảm của em sâu sắc. hôn cổ. hất cái trứng cá mà ông đã gắp cho ra khỏi bát. trước phút ông Sáu phải lên đường. “ Nó hôn ba nó cùng khắp. Nhưng thật trớ trêu. cuối cùng khi bị ông Sáu tức giận đánh một cái thì bỏ về nhà bà ngoại. hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa”.Sự ương ngạnh của bé Thu hoàn toàn không đáng trách. Sự nghi ngờ bấy lâu được giải tỏa và ở Thu nảy sinh một trạng thái như là sự ân hận nuối tiếc: “ Nghe bà kể nó nằm im. bé Thu lại tỏ ra ngờ vực lảng tránh. nó còn chứng tỏ em có cá tính mạnh mẽ.Gặp lại con sau nhiều năm xa cách với bao nỗi nhớ thương nên ông Sáu không kìm được nỗi vui mừng trong phút đầu nhìn thấy đứa con. rồi “ nó vừa kêu vừa chạy xô tới. b.Trong đêm bỏ về nhà bà ngoại. em chỉ yêu ba khi tin chắc đó đúng là ba. chỉ gọi trống không với ông Sáu mà không chịu gọi cha. khi ông Sáu được về phép a.Trong buổi sáng cuối cùng. chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó. xa cách. và ông Sáu càng muốn gần con thì đứacon lại càng tỏ ra lạnh nhạt. nhất định không chịu nhờ ông chắt nước nồi cơm to đang sôi. mặt tái đi. khi xuống xuồng còn cố ý khua dây cột xuồng rổn rảng thật to. chân thật. tình yêu và nỗi mong nhớ với người cha xa cách đã bị dồn nén bấy lâu.

Một số nét tính cách của Thu biểu hiện qua tâm lí và hành động . ông đã vô cùng vui mừng.Phân tích tình cảm cha con sâu nặng ở anh Sáu . công sức vào việc làm một cây lược: “ Những lúc rỗi. Ở Thu còn có nét cá tính là cứng cỏi tưởng như ương ngạnh. .Tình cảm của ông Sáu với con đã được thể hiện phần nào trong chuyến về phép thăm nhà. 4. Nhưng rồi một tình cảnh đau thương lại đến với ông Sáu: Ông đã hi sinh khi chưa kịp trao vào tay đứa con gái chiếc lược ngà.Khi kiếm được một khúc ngà. khi ông Sáu ở trong rừng tại khu căn cứ.Nghệ thuật trần thuật của truyện . nhưng được biểu hiện tập trung và sâu sắc ở phần sau của truyện. mà còn gợi cho người đọc nghĩ đến và thấm thía những đau thương.Câu chuyện về chiếc lược ngà không chỉ nói lên tình cha con thắm thiết.Qua những diễn biến tâm lí của bé Thu được miêu tả trong truyện.Nỗi day dứt ám ảnh ông suốt nhiều ngày sau khi ông chia tay với gia đình là việc ông đã đánh con khi nóng giận. anh cưa từng chiếc răng lược.hả. nhưng Thu vẫn là một đứa trẻ với tất cả nét hồn nhiên. mạnh mẽ. nhớ thương mog đợi của người cha đối với đứa con xa cách. cuống quýt có xen lẫn cả sự hối hận. . c. sung sướng. 5. Rồi lời dặn của con: “ Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba” đã thúc đẩy ông nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà dành cho con. éo le mà chiến tranh đã gây ra cho bao nhiêu con người. Nó làm dịu đi nỗi ân hận và chứa đựng bao nhiêu tình cảm yêu mến. tẩn mẩn khắc từng nét: “ Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. . thiêng liêng với ông Sáu. nhưng cũng thật dứt khoát rạch ròi. “ Trên sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng. . sâu nặng của cha con ông Sáu.Đó là tình cảm thật sâu sắc. Chứng kiến những biểu hiện tình cảm ấy trong cảnh ngộ cha con ông Sáu phải chia tay. mất mát. thận trọng. tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. rồi ông dành hết tâm trí. ta thấy tác giả tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ và diễn tả rất sinh động với tấm lòng yêu mến và trân trọng những tình cảm trẻ thơ. có người không cầm được nước mắt và người kể chuyện thì cảm thấy như có bàn tay ai nắm lấy trái tim mình. bao nhiêu gia đình. Chiếc lược ngà đã thành một vật quí giá. ngây thơ của con trẻ.

tự nhiên với giọng thân mật dân dã. Cảm nghĩ về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà’’ Cảm nghĩ về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà’’ . rất am hiểu và gắn bó với mảnh đất ấy. tại chiến trường Nam Bộ trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt. . Nguyễn Quang Sáng hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong chiến tranh và sau hòa bình. 2. vượt qua một quãng nguy hiểm ở Đồng Tháp Mười. rồi lại biểu lộ những tình cảm thật nồng nhiệt.. Sự bất ngờ càng gây được hứng thú cho người đọc khi ở phần sau của truyện tác giả còn tạo thêm một bất ngờ nữa. xoay quanh những tình huống khá bất ngờ nhưng tự nhiên. có những yếu tố bất ngờ nhưng hợp lí: bé Thu không nhận cha khi ông Sáu về thăm nhà. Là một nhà văn Nam Bộ. *Những điểm cần lưu ý 1.Truyện Chiếc lược ngà khá tiêu biểu cho cho những đặc điểm trong nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng. hi sinh của người cán bộ cách mạng. Vì thế. Điều đáng chú ý là truyện ngắn này viết trong hoàn cảnh chiến tranh cá liệt nhưng lại tập trung nói về tình người-cụ thể ở đây là tình cha con trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh và tình đồng chí của những người cán bộ cách mạng. Đồng thời qua những ý nghĩ cảm xúc của nhân vật kể chuyện. Nghệ thuật kể chuyện. chia sẻ với các nhân vật. đầy xúc động với người cha trước lúc chia tay. không chỉ là người chứng kiến khách quan và kể lại mà còn bày tỏ sự đồng cảm. mà còn được được thể hiện trong hoàn cảnh ngặt nghèo và éo le của chiến tranh và trong cuộc sống nhiều gian khổ. hợp lí. Tình cha con được miêu tả cảm động ở cả hai phía: người cha cán bộ cách mạng và đứa con gái nhỏ. trong một lần ông cùng đoàn cán bộ theo đường dây giao liên. bấy giờ đã thành một cô giao liên dũng cảm. đó là cuộc gặp gỡ tình cờ của nhân vật người kể chuyện với bé Thu. có tính nhân bản bền vững. các chi tiết và sự việc và nhân vật khác trong truyện bộc lộ rõ hơn. Người kể chuyện trong vai một người bạn thân thiết của ông Sáu. dẫn truyện của tác giả thường thoải mái. Ngôn ngữ trong truyện của ông gần với khẩu ngữ và đậm màu sắc Nam Bộ. Truyện của ông thường có cốt truyện hấp dẫn.Tác giả đã xây dựng được một cốt truyện khá chặt chẽ. Đó không chỉ là tình cảm muôn thủa. ý nghĩa tư tưởng của truyện thêm sức thuyết phục.Lựa chọn nhân vật kể chuyện thích hợp. tình cảm ấy càng đáng trân trọng và đồng thời nó cũng cho thấy những nỗi đau mà chiến tranh gây ra cho cuộc sống bình thường của mọi người.Truyện Chiếc lược ngà được Nguyễn Quang Sáng viết năm 1966.

sự kiêu hãnh của trẻ thơ về một tình yêu nguyên vẹn trong sáng mà Thu dành cho ba.1. sợ hãi và bỏ chạy….những hành động chứa đựng sự lảng tránh đó lại hoàn toàn phù hợp với tâm lí trẻ thơ bởi trong suy nghĩ của Thu anh Sáu là người đàn ông lạ lại có vết thẹo trên mặt giần giật dễ sợ. Đằng sau những hành động ấy ẩn chứa cả tình yêu thương ba. tình yêu Thu dành cho ba chỉ gửi trong tấm ảnh ba chụp chung cùng má. muốn nhận ba nhưng e ngại vì đã làm ba giận.nhân vật chính của đoạn trích “Chiếc lược ngà’’ một cô bé hồn nhiên ngây thơ. sự nuối tiếc. xử lí nồi cơm sôi. và thái độ hất tung cái trứng cá trong bữa cơm…Từ cự tuyệt nó đã phản ứng mạnh mẽ…. tác phẩm và nhân vật bé Thu với tài năng miêu tả tâm lý nhân vật. đất nước có chiến tranh. . . nó tức giận. có cá tính bướng bỉnh nhưng yêu thương ba sâu sắc. và khi bị đánh nó đã bỏ đi một cách bất cần…. ánh mắt cử chỉ hành động của bé Thu như thể hiện sự ân hận. 2.Diễn biến tâm lý của bé Thu trước khi nhận anh Sáu là cha: + Yêu thương ba nhưng khi gặp anh Sáu. trước những hành động vội vã thái độ xúc động. nó cự tuyệt tiếng ba một cách quyết liệt trong những cảnh huống mời ba vào ăn cơm. Thân bài: Phân tích diễn biến tâm lý của nhân vật bé Thu . + Trong hai ngày sau đó Thu hoàn toàn lạnh lùng trước những cử chỉ đầy yêu thương của cha.Cảm nhận chung về nhân vật bé Thu. cha đi công tác khi Thu chưa đầy một tuổi. nôn nóng của cha…Thu ngạc nhiên lạ lùng. lớn lên em chưa một lần gặp ba được ba chăm sóc yêu thương. đó là phản ứng tâm lí hoàn toàn tự nhiên của một đứa trẻ có cá tính mạnh mẽ… Hành động tưởng như vô lễ đáng trách của Thu lại hoàn toàn không đáng trách mà còn đáng thương.Diễn biến tâm lý của Thu khi nhận ba: + Sự thay đổi thái độ đến khó hiểu của Thu. bởi em còn quá nhỏ chưa hiểu được những tình thế khắc nghiệt éo le của đời sống. . Mở bài: .nó căm ghét cao độ người đàn ông măt thẹo kia.Giới thiệu được tác giả. . không ương bướng mà buồn rầu nghĩ ngợi sâu xa. .Khái quát được cảnh ngộ của gia đình bé Thu.

nhảy thót lên. thiêng liêng đã tác động sâu sắc đến bác Ba. nhân hậu. Kết bài: Khẳng định thành công. tác giả Nguyễn Thành Long đã gửi gắm chủ đề của câu chuyện vào một lời nhận xét ngắn gọn “trong cái lặng im.. Tình yêu ấy kết đọng trong âm vang tiếng Ba trong những hành động vội vã: Chạy nhanh như con sóc. mọi người … + Sự lý giải nguyên nhân việc hiểu lầm của bé Thu đựợc tác giả thể hiện thật khéo léo đó là do vết thẹo trên mặt người ba khi hiểu ra sự thực Thu “nằm im lăn lộn thở dài như người lớn”. đất nước”.Khẳng định lại vấn đề: Ngòi bút miêu tả tâm lý khắc hoạ tính cách nhân vật tinh tế thể hiện được ở bé Thu một cô bé hồn nhiên ngây thơ. . đồng thời bộc lộ ấn tượng sâu đậm nhất về nhân vật cũng như toàn bộ tác phẩm. Dàn ý chi tiết . hôn ba nó cùng khắp. Nhưng chiến tranh dù có tàn khốc bao nhiêu thì tình cảm cha con anh Sáu càng trở lên thiêng liêng sâu lặng.+ Tình yêu thương ba được bộc lộ hối hả ào ạt mãnh liệt khi anh Sáu nói “Thôi ba đi nghe con”. trái tim nhạy cảm. Trong sự đối lập của hành động thái độ trước và sau khi nhân ba lại là sự nhất quán về tính cách về tình yêu thương ba sâu sắc.Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh. am hiểu tâm lý của trẻ thơ đã giúp tác giả xây dựng thành công nhân vật bé Thu. tiếng khóc nức nở…Đó là cuộc hội ngộ chia tay đầy xúc động. . .Những năm tháng sống gắn bó với mảnh đất Nam Bộ. (Sưu tầm) Nhân vật anh thanh niên trong "Lặng lẽ Sa Pa" Trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”. mạnh mẽ cứng cỏi yêu ghét rạch ròi. 3.Hãy phân tích để làm rõ vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa cao quý của những công việc thầm lặng. trong lời ước nguyện mua cây lược.. Vết thẹo không chỉ gây ra nỗi đau về thể xác mà còn hằn nên nỗi đau về tinh thần gây ra sự xa cách hiểu lầm giữa cha con bé Thu. trân trọng tình cảm gia đình trong cuộc sống hôm nay.

. ông. II..Vượt lên hoàn cảnh sống. đất nước”. Điều ấy sẽ được thấy rõ qua nhân vật: anh thanh niên. anh thấy mình “thật hạnh phúc”. phục vụ chiến đấu. + Anh có những suy nghĩ thật đúng và sâu sắc về công việc đối với cuộc sống con người: “khi ta làm việc. sao lại gọi là một mình được” và anh hiểu rằng công việc của anh còn gắn với công việc của bao anh em đồng chí dưới kia. anh có những suy nghĩ rất đẹp: + Đối với công việc. Đó là những con người miệt mài làm việc. dựa vào công việc báo trước thời tiết hàng ngày. quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa. Đó là anh thanh niên: . tính mây. ta với công việc là một. Sống một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2600m. + Quan niệm của anh về hạnh phúc thật là đơn giản nhưng cũng thật đẹp. những vất vả của công việc. .. đầy chất thơ. Mở bài: . đo mưa. phục vụ sản xuất. Khi biết một lần do phát hiện kịp thời một đám mây khô mà anh đã góp phần vào chiến thắng của không quân ta bắn rơi được máy bay Mỹ trên cầu Hàm Rồng. Công việc của anh là: đo gió.I.. “Công việc của cháu gian khổ thật đấy chứ cất nó đi.Trong văn học Việt Nam có những cây bút văn xuôi chỉ chuyên về truyện ngắn và ký – Nguyễn Thành Long là một trong số đó..Nhân vật chính trong truyện làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu. cháu buồn đến chết mất”. anh yêu nó tới mức trong khi mọi người còn ái ngại cho cuộc sống ở độ cao 2600m của anh thì anh lại ước ao được làm việc ở độ cao trên 3000m.Đọc truyện. . 1. Thân bài: . Ông được khẳng định như một cây bút truyện ngắn và ký đáng chú ý trong những năm 60 – 70 với cả gần chục sách đã in.Trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”. đo nắng. tác giả Nguyễn Thành Long đã gửi gắm chủ đề của câu chuyện “trong cái lặng im. nhưng truyện còn giới thiệu với chúng ta về vẻ đẹp của con người Sa Pa. “Lặng lẽ Sa Pa” là kết quả của chuyến “thâm nhập thực tế” ở Lào Cai của tác giả trong mùa hè năm ấy. đo chấn động mặt đất. Vì anh cho như vậy mới gọi là lý tưởng. trong lặng lẽ mà rất khẩn trương vì lợi ích của đất nước. người đọc thấy vẻ đẹp của Sa Pa hiện lên thật độc đáo. nghiên cứu khoa học. vì cuộc sống của con người.

Mới đầu.Anh còn có một nếp sống đẹp: Anh tự sắp xếp cuộc sống một mình ở trạm một cách ngăn nắp: có một vườn rau xanh tốt. Ngày nào cũng vậy. + Anh còn là người khiêm tốn. Nhờ có sách mà anh chống trọi được với sự vắng lặng quanh năm. để trở thành: “con người cô độc nhất thế gian” mà bất cứ ai đã một lần gặp anh đều mang theo ấn tượng đẹp đẽ. 11 giờ. một đàn gà đẻ trứng. anh nhiệt tình giới thiệu với ông những người khác mà anh cho rằng đáng cảm phục hơn anh. không một bóng người. vắng vẻ quanh năm suốt tháng một mình trên đỉnh núi cao. Nửa đêm. 7 giờ tối và 1 giờ sáng. Khi ông hoạ sĩ muốn vẽ chân dung anh. tặng cho người đi xa một giỏ trứng gà tươi. Bởi anh còn biết tạo niềm vui trong công việc. thành thực cảm thấy công việc và những đóng góp của mình chỉ là nhỏ bé. tự giác với tinh thần trách nhiệm cao. mở mang kiến thức. anh “thèm người” tới mức phải lấy cây chắn ngang đường ô tô để được nghe tiếng người ! Về sau anh nghĩ: “Nếu đó chỉ là nỗi nhớ phồn hoa đô thị thì thật xoàng” và anh đã vượt qua để sống. chính xác đủ 4 lần trong một ngày vào lúc 4 giờ. + Nhưng cái gian khổ nhất là vượt qua được sự cô đơn. lặng lẽ cho đất nước qua lời kể của anh thanh niên: .Từ những suy nghĩ đẹp về công việc. rất qúy trọng tình cảm của mọi người. anh đã vượt qua những gian khổ của hoàn cảnh.Ở người thanh niên ấy còn có một phong cách sống rất đẹp: + Đó là sự cởi mở. anh làm việc một cách đều đặn. . làm việc một cách nghiêm túc. Dẫu phải sống một mình nhưng anh vẫn luôn quan tâm tới người khác: anh gửi biếu gói tam thất cho vợ bác lái xe vừa bị ốm. đó là đọc sách. ở anh còn có những hành động thật đẹp đẽ biết bao: + Mặc dù chỉ có một mình. . tặng hoa cho cô gái. mời bác lái xe và ông hoạ sĩ uống trà. một vườn hoa rực rỡ. đúng giờ “ốp”. dù mưa tuyết giá lạnh thế nào anh cũng trở dậy ra ngoài trời làm việc. được trò chuyện. không người giám sát. . hạnh phúc và cuộc sống. làm việc một mình với cỏ cây thiên nhiên Sa Pa. Vì sách chính là người bạn để anh “trò chuyện”.+ Cuộc sống của anh không cô đơn buồn tủi như người khác nghĩ. 2) Ta còn bắt gặp ở đất Sa Pa những con người làm việc âm thầm. Nhờ có sách mà anh tiếp tục học hành. khao khát được gặp gỡ. chân thành với khách.

. III. cho đất nước”. cho nhân dân.A) Đó là ông kỹ sư vườn rau: Ngày này qua ngày khác ngồi trong vườn. Hướng dẫn: Phân tích những phẩm chất cao đẹp. Họ đã dệt lên bài ca về tình yêu tổ quốc. Anh thanh niên có những hành động cao đẹp. để xu hào trên toàn miền Bắc ta ăn được to hơn. ông kỹ sư vườn rau.. 3) Nhân vật anh thanh niên. Đúng như tác giả đã viết: “Trong cái lặng im. Những con người ấy làm cho anh thanh niên thấy “cuộc đời đẹp quá” đâu còn buồn tẻ “cô độc nhất thế gian”. anh cán bộ nghiên cứu sét giúp ta hiểu thêm ý nghĩa của những công việc thầm lặng: .Sống cống hiến cho dân tộc. chăm chú rình xem cách lấy mật của ong để rồi tự tay thụ phấn cho hàng vạn cây su hào để hạt giống làm ra tốt hơn. niềm đam mê cháy bỏng. sống có ý nghĩa sẽ mang đến cho con người niềm vui và hạnh phúc. suốt ngày chờ sét” để lập bản đồ tìm ra tài nguyên trong lòng đất. đáng quý ở anh thanh niên. . Kết bài: Qua phần phân tích trên ta thấy “Lặng lẽ Sa Pa” đang ngân vang trong lòng ta những rung động nhẹ nhàng mà thú vị về những con người âm thầm lặng lẽ nhưng thật đáng yêu.Cuộc sống lao động giản dị nhưng cao đẹp làm nên vẻ đẹp đích thực của mỗi con người. tình yêu đất nước. có sức thuyết phục lan toả với những người xung quanh. đáng quý ở anh thanh niên. . hạnh phúc cho mọi người. + Công việc là niềm vui. ngọt hơn trước. + Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi mang lại niềm vui. Anh thanh niên có những suy nghĩ và quan niệm đúng đắn về công việc và cuộc sống. B) Đó là anh cán bộ nghiên cứu sét: Đã “11 năm không một ngày xa cơ quan” luôn “trong tư thế sẵn sàng. Sưu tầm Phân tích những phẩm chất cao đẹp.

Đánh giá nhân vật. phong phú cả về vật chất và tinh thần. hành động của thanh niên chúng ta trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới. ông đã có sáng tác đăng báo từ trước cách mạng tháng 8. vô tư. ông nói một cách say sưa mà không cần biết người nghe có chú ý hay không. phát biểu cảm nghĩ. Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt nông thôn và cảnh ngộ của người nông dân. yêu đến nỗi đi đâu ông cũng khoe về cái làng của ông. Ông Hai yêu cái làng chợ Dầu của ông thật đậm đà. ta nghĩ tới trách nhiệm. Trân trọng. Nhân vật anh thanh niên giúp ta hiểu thêm về thế hệ cha anh đi trước trong một giai đoạn lịch sử của dân tộc. tha thiết . Ông khoe làng ông có nhà ngói san sát. đáng mến trong “Lặng lẽ Sa Pa”. Kể về làng chợ Dầu.600 m. sống có lý tưởng. + Khiêm tốn. sầm uất. đường trong làng lát toàn bằng đá xanh. khoa học. gắn bó với nông dân và nông thôn. khâm phục những nhân vật đáng quý. Truyện ngắn “Làng” là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân được viết trong thời kì đầu của cuộc khánh chiến chống Pháp (1948). Đây là một tác phẩm độc đáo viết về lòng yêu nước của ông Hai Tu. Là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Tình cảm và ý nghĩa này đã trở thành phổ biến ở mỗi người nông dân VN ta trong những ngày đầu chống Pháp. + Dồn tất cả thời gian công sức. chân thành với mọi người. quê ở Hà Bắc.+ Vượt qua mọi khó khăn thử thách để làm quen với cuộc sống chỉ có một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2. Anh thanh niên có phong cách sống rất đáng quý. Nhân vật anh thanh niên tiêu biểu cho những con người lao động mới. trời mưa đi từ đầu làng đến cuối xóm bùn . (Nguồn: Internet) Phân tích truyện ngắn Làng (Kim Lân) Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài sinh năm 1921. đáng trân trọng. lặng thầm. lòng yêu nước này xuất phát từ tình yêu quê hương. cống hiến hết mình cho đất nước. tự nguyện tự giác hoàn thành xuất sắc công việc vốn hết sức vất vả và đơn điệu. Là nhà văn am hiểu sâu sắc. yêu làng sâu sắc của ông. cởi mở. + Tổ chức cuộc sống ngăn nắp.

làng và nước bay giờ đã trở thành đối địch. Nhưng khi cách mạng thành công. tưởng như không thể thở được. suốt ngày ru rú trong nhà và nghe ngóng tin tức. Ông còn khoe cả những hố . Thay vào đó là nỗi vui mừng. một tin khác lại đính chính rằng làng ông không theo giặc. Nhưng trong đó. nhất là tâm lí của người dân thì Kim Lân mới diễn tả đúng tâm trang nhân vật như vậy. nhỏ : cây đa. vinh dự vì làng mình có cái nét độc đáo. Ông tự hào. những hào. ông Hai suốt ngày ra trụ sở để nghe ngóng tin tức về làng chợ Dầu và ông nghe tin cả làng ông Việt gian theo tây. Tháng 5 ngày 10 phơi rơm và thóc tốt thượng hạng. nó đã giúp ông hiểu dc sự sai lầm của mình. Xa làng ông mang theo tất cả nỗi niền thương nhớ. mỗi khi khoe về làng là ông khoe về những ngày khởi nghĩa dồn dập. không có lấy một hạt thóc đất. Và từ đó. Chính cái tình huống ngặt nghèo khi giặc tràn vào làng. Cái lòng của bố con ông là thế đấy “chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”. Ông hỏi con: “con ủng hộ ai?” Thằng bá giơ tay mạnh bạo và rành rọt: “ Ùng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm”. có bề dày lịch sử. nên lúc tản cư. ông thấy tuyệt đường sinh sống và ông nảy ra ý định: “hay là quay về làng ?” nhưng rồi ý nghĩ đó lập tức bị ông lão phản đối ngay vì : “ làng thì yêu thật.. Trò chuyện với con như là để thanh minh cho làng mình. ông khổ tâm day dứt khôn nguôi. yêu làng xóm. Ông còn tự hào về cái sinh phần của tổng đốc làng ông.không dính đến gót chân. da mặt tê rân rân” ông lão lặng đi. Tới đây. nỗi niềm và tâm sự của ông được thể hiện trong những lời trò chuyện của ông với đứa con út. Những nỗi lo âu. ông không dám đi đâu hết. là chợt nhớ đến câu nói bất hủ của nhà văn I-li-a Ê-ren-bua : “lòng yêu nhà. yêu miền quê trở nên lòng yêu TQ “. Phải thực sự am hiểu sâu sắc về con người. Có thể tình yêu nước của họ bắt nguồn từ cái đơn giản.” Có thể nói với ông Hai. Những ngày ở làng Thắng. giếng nướ. những ụ. Hai tình cảm này đã dẫn đến cuộc xung đột nội tâm trong lòng ông. trong những ngày này. Ông cảm thấy đâu đớn và nhục nhã vì cái làng chợ Dầu yêu quý của mình theo giặc. cuộc đời và số phận của ông Hai thật sự gắn bó với buồn vui của làng.. Cũng chình từ lúc ấy. ông buộc phải xa làng. sung . Cổ ông lão “ nghẹn ắng lại. lắm công trình không để đâu hết. Vì vậy. xấu hổ tan biến. Ông nguyền rủa bọn theo Tây : “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này”. sân đình… và nâng cao lên đó chính là : tình yêu đất nước. Quả thật. tình yêu đất nước được ông Hai đặt lên trên hết. nhưng làng theo Tây thì phải thù. những buổi tập quân sự có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập. Thế rồi. Đến khi mụ chủ nhà đến báo không cho gia đình ông ở nữa.. Tự hào và yêu nơi “ chôn rau cắt rốn” của mình trở thành một truyền thống và tâm lý chung của mọi người nông dân thời bấy giờ.

thậm chí còn khoe cả tin nhà mình bị đố cháy một cách vui sướng. Yêu làng đến nỗi đi đâu cũng khoe về làng. điều làm ta cảm động đó là ông không hề tiếc hay buồn khi ngôi nhà của ông bị đốt . buồn tủi đã được rũ sạch. Kim Lân đã chứng tỏ được tài nghệ của mình. yêu làng của người nông dân VN thời kháng chiến chống Pháp. ông ấy cho biết… cái tin. Quả thật. Đọc tác phẩm giúp ta hình dung được một thời kỳ chống Pháp sôi nổi của nhân dân. Niềm vui vì làng không theo giặc đã choáng hết tâm trí ông. chất phác. Bên cạnh đó Kim Lân còn thành công trong việc miêu tả tâm lý nhân vật. Truyện “Làng” là một tác phẩm khá thành công khi viết về lòng yêu nước. nhất là nghệ thật sử dụng ngôn ngữ nhân vật mà ông Hai là điển hình. khoe cả cái việc nhà ông bị đốt cháy một cách sung sướng. Diễn biến tâm lý của ông Hai từ đầu đến cuối truyện thật cảm đông. tủi nhục.sướng. có lẽ vì vẫy mà cuộc chiến của ta đã dành được thắng lợi vẻ vang. mọi người một lòng theo Bác. tiêu biểu cho tầng lớp nông dân VN sau cách mạng tháng 8. kể cả những từ dung sai: “bác Thứ đâu rồi… Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả”. Kim Lân thật thành công trong nghệ thuật xây xựng truyện. miêu tả sự phát triển tâm lý nhân vật như vậy. Đốt nhẵn ! ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính. Lời nói của ông hai đúng là lời nói của những người nông dân thời bấy giờ. đơn giản. hả hê: “ bác Thứ đâu rồi ! Bác Thứ làm gì đấy ? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ.Mở bài Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả” Qua lời khoe củ ông Hai. ông sung sướng. Kim Lân rất thành công trong việc khắc họa hình ảnh của ông Hai. Ông gắn bó với thôn quê. một trong những người dân bấy giờ. và khi biết làng mình không theo giặc. cái tin làng chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Đi kháng chiến. hả hê. Kim Lân đã thể hiện được tài năng của mình qua tác phẩm này. từ lâu đã am hiểu người nông dân. Mọi đau khổ. Ông đi từ đầu làng đến cuối xóm khoe cái tin làng mình không theo giặc. Dàn ý: A. theo Đảng khánh chiến đến cùng. Xây dựng được những chi tiết ấy. ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân . Khi biết làng bị tình nghi theo giặc thì ông đau khổ. Họ đã đặt tình yêu đất nước lên trên tình yêu làng.

ngày mai dăm khẩu. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc. trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. Nhưng khi người ta kể rành rọt.Ông hay khoe làng. in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có. Tình yêu làng. chưa tin. ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm. khuân đá…”. tình yêu nước. Phải xa làng. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc. làm gì mà thằng Tây không bước sớm”. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm. b. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng. 2. Sau cách mạng. .Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948. ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương. đi theo kháng chiến. chỗ kia giết một tí. đắp ụ. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước. . hôm nay dăm khẩu. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới. tình cảm quê hương đất nước. ông xấu hổ lảng ra về. c.Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến.. cả súng cũng vậy. một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. ông sững sờ. thích bìh luận.Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc. Nghe họ chì . a.…” đã xong chưa? .Được cách mạng giải phóng. chỗ này giết một tí. tích tiểu thành đại. .Khi mới nghe tin xấu đó. không tin không được. nhân vật ông Hai. tinh thần kháng chiến. . ông nhớ quá cái khong khí “đào đường. rồi ông lo “cái chòi gác. thông qua một con người cụ thể. đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế. xẻ hào. người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.… những đường hầm bí mật.Thân bài 1. B. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người.

Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ. nhìn thấy các con. Tình cảm đó sâu nặng. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt. . . bố của nó. lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân. d. càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng.Tình cảm đối với kháng chiến. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà. + Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. . . gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ.Về đến nhà. bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu. hắt hủi”.Ba bốn ngày sau. Nhưng tình yêu nước. . Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc. nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông . + Qua đó. ông không dám ra ngoài. chân thành. Ông giận những người ở lại làng.chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi. ta thấy rõ: Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc). Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”. vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông. Khi cái tin kia được cải chính. Ông luôn hoảng hốt giật mình.Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá. Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”. đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp.

đối xử với ông như người xa lạ. . Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý. Với lòng mong nhớ con. người đọc thấm thía tình yêu làng. yêu nước rất mộc mạc. 3. (sưu tầm)Cảm nhận về tình cha con trong truyện "Chiếc lược ngà" Cảm nhận về tình cha con trong truyện "Chiếc lược ngà" Truyện “Chiếc lược ngà” (Nguyễn Quang Sáng) được viết trong cuộc kháng chiến chống Mĩ nhưng chủ yếu tập trung nói về tình người trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. . tập I) thể hiện tình cha con thắm thiết. gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ.Miêu tả rất cụ thể. cháy bỏng khát khao được gặp con. sâu nặng của ông Sáu và bé Thu. .Qua nhân vật ông Hai. ông càng đón chờ . chân thành mà vô cùng sâu nặng. cao quý trong những người nông dân lao động bình thường. hành vi.Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng. Đứa trẻ hoàn toàn ngơ ngác. ngôn ngữ đối thoại và độc thoại.Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông. lạnh lùng.Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật. . Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân. Ông Sáu về thăm nhà sau bao năm ở chiến khu với cái tình của người cha nôn nao. Nhưng ngay từ giây phút đầu. Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động.dân lao động bình thường. Đoạn trích “Chiếc lược ngà” (Sgk Văn 9. C. điều mà ông bấy lâu mong đợi được nghe con gái gọi tiếng “Ba !” không được đền đáp.Kết bài: .

tình cảm của con, nó càng cố tình cự nự. Điều đó, khiến ông đau đớn “hai tay buông xuống như bị gãy”. Có những tình huống, tưởng chừng thế nào nó cũng chịu thua, không ương ngạnh được nữa, phải gọi tiếng “Ba”. Nhưng nó vẫn không chịu cất tiếng “Ba” mà ông Sáu chờ đợi. Hành động trẻ con, nói năng cộc lốc, ngang ngạnh của Thu dành cho Ba khiến ông Sáu, bạn ông Sáu và cả người đọc đau lòng và suy nghĩ. Khi có gia đình, hạnh phúc được làm cha, tiếng gọi “Ba” của đứa con gái yêu chưa dành cho ông khiến ông “khổ tâm đến nỗi không khác được, chỉ biết nhìn con vừa khẽ lắc đầu vừa cười”. Phản ứng tâm lí của Thu là hoàn toàn tự nhiên. Thu còn quá bé để có thể hiểu tình thế éo le xảy ra trong chiến tranh. Bản thân người lớn cũng chưa ai chuẩn bị cho Thu ứng phó với bất thường. Điều đó, người đọc cảm được tình cảm chân thật, sâu sắc, mãnh liệt Thu dành cho ba người mà Thu biết trên ảnh, người cha được cô bé ghi sâu trong lòng từ tấm ảnh, không phải người đàn ông xưng là "ba". Đến khi được bà ngoại tháo gỡ thắc mắc trong lòng, về lai lịch vết thẹo, Thu vỡ lẽ đó thực là ba mình. Trăn trở dằn vặt, cùng tình yêu, khát khao bấy lâu mong gặp mặt cha dồn nén, bùng nổ dữ dội, quyết liệt vào giờ phút trước khi người cha lên đường. Tiếng “Ba... a... a... ba !” vỡ ra từ sâu thẳm lòng cô bé. Tiếng kêu mà ba nó chờ đợi bao năm ròng. Tiếng kêu làm nhói tim mọi người. Ông Sáu sung sướng, hạnh phúc nghẹn lời, không cầm được nước mắt. Thu vồ vập, cuống quít, níu giữ cha, níu giữ yêu thương bấy lâu nó mong đợi. “Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”, “hai tay nó xiết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run”. Đối với người cha, đó là tiếng “ba” đầu tiên và cũng là tiếng yêu thương cuối cùng ông được nghe từ con ! Ở chiến khu, ông cố gắng hết sức, thận trọng, tỉ mỉ làm cho con chiếc lược ngà. Ông đặt vào đấy tất cả tình cảm cha con. Chiếc lược trở thành vật thiêng, an ủi ông “gỡ rối phần nào tâm trạng”, nuôi dưỡng tình cha con. Ông thường xuyên “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt”. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ thành một nghệ nhân nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một tác phẩm duy nhất trong đời. Trước khi nhắm mắt xuôi tay, ông Sáu vẫn nhớ chiếc lược, nhờ bạn chuyển lại cho con - cử chỉ chuyển giao đó là một ước nguyện giữ gìn muôn đời tình cảm cha con, ruột thịt. Truyện “Chiếc lược ngà” đã diễn tả một cách cảm động tình cha con thắm thiết, sâu nặng của cha con ông Sáu trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh. Hình ảnh cây lược được gắn vào đó một trái tim thổn thức

tình ruột thịt, khẳng định giá trị nhân bản sâu sắc, cao đẹp thiêng liêng ! (Sưu tầm) Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và "Truyện Kiều" Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và "Truyện Kiều" I.Nguyễn Du 1.Nguyễn Du ( 1765 – 1820 ), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh trưởng trong một gia đình đại quí tộc có truyền thống văn học và nhiều đời làm quan. 2.Nguyễn Du sinh trưởng trong một thời đại có nhiều biến động dữ dội: Xã hội phong kiến Việt Nam bước vào thời kì khủng hoảng sâu sắc, phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra liên tục mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn. Phong trào nông dân Tây Sơn thất bại, chế độ phong kiến triều Nguyễn được thiết lập. 3.Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Du đã sống nhiều năm phiêu bạt trên đất Bắc( 1786 – 1796 ) rồi về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh ( 1796 – 182). Sau khi Nguyễn ánh lên ngôi, Nguyễn Du ra làm quan bất đắc dĩ với triều Nguyễn. Năm 1813 – 1814, ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc, năm 1820 khi chuẩn bị làm chánh sứ sang Trung Quốc lần thứ hai, nhưng chưa kịp đi thì ông bị bệnh và mất tại Huế. 4.Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hoá dân tộc và văn chương Trung Quốc. Cuộc đời từng trải, đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho ông một vốn sống phong phú và niềm cảm thông sâu sắc với những đau khổ của nhân dân. Nguyễn Du là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. 5.Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớn bằng chữ Hán và chữ Nôm. Về chữ Hán Nguyễn Du có ba tập thơ ( Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục ) với tổng số 243 bài. Về chữ Nôm xuất sắc nhất là Đoạn trường tân thanh, thường gọi là Truyện Kiều, ngoài ra còn có Văn chiêu hồn. II.Truyện Kiều 1.Nguồn gốc Truyện Kiều: Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du có dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ( Trung

Quốc ). Nhưng phần sáng tạo của Nguyễn Du là hết sức lớn, mang ý nghĩa quyết định đến sự thành công của tác phẩm. 2.Tóm tắt Truyện Kiều Truyện Kiều bao gồm 3254 câu thơ lục bát và được chia làm 3 phần; -Gặp gỡ và đính ước -Gia biến và lưu lạc -Đoàn tụ 2.Giá trị nội dung và nghệ thuật a.Nội dung: Truyện Kiều có hai giá trị lớn là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo, là tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người, tiếng nói lên án, tố cáo những thế lực xấu xa, tiếng nói khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và những khát vọng chân chính của con người như khát vọng về quyền sống, khát vọng tự do, công lí, khát vọng tình yêu, hạnh phúc… b.Nghệ thuật: Tác phẩm là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngôn ngữ và thể loại. Với Truyện Kiều, ngôn ngữ văn học dân tộc và thể thơ lục bát đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ. Nghệ thuật tự sự đã có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn truyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lí con người. (Sưu tầm) Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. A- Mở bài: - Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Ông gắn bó với thôn quê, từ lâu đã am hiểu người nông dân. Đi kháng chiến, ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân - Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948, trên số đầu tiên của tạp

tình yêu nước. tích tiểu thành đại. rồi ông lo “cái chòi gác. Sau cách mạng. cả súng cũng vậy. b. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng. Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi.Ông hay khoe làng. ông nhớ quá cái khong khí “đào đường. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới. . Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm. nhân vật ông Hai.Được cách mạng giải phóng. 2.… những đường hầm bí mật.chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. ngày mai dăm khẩu. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người. B. làm gì mà thằng Tây không bước sớm”.Khi mới nghe tin xấu đó. hôm nay dăm khẩu. một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương. xẻ hào. người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. ông sững sờ. ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm. . chỗ này giết một tí. đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. . đắp ụ. Tình yêu làng. c. không tin không được.Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc. .Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến. a. . thông qua một con người cụ thể. khuân đá…”. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc. chưa tin. thích bìh luận. ông xấu hổ lảng ra về. in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có. náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế.…” đã xong chưa? . Nhưng khi người ta kể rành rọt. chỗ kia giết một tí.Thân bài 1. tinh thần kháng chiến. đi theo kháng chiến. tình cảm quê hương đất nước. Phải xa làng. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước.

Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ. gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ. vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. Khi cái tin kia được cải chính. . lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân. nhìn thấy các con. . . + Qua đó. d. ta thấy rõ: • Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc). ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu.Về đến nhà. chân thành.Ba bốn ngày sau. • Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà. đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. Ông luôn hoảng hốt giật mình. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt. Tình cảm đó sâu nặng.Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường. bố của nó. ông không dám ra ngoài.Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá.Tình cảm đối với kháng chiến. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. . Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”.. bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. + Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông. Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”. lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Nhưng tình yêu nước. hắt hủi”. Ông giận những người ở lại làng. nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. .

đó là: Bông~ nhận ra hương ôi? Phả vào trong gió se . C. ngôn ngữ đối thoại và độc thoại. vấn vương trước đất trời trong trẻo đang biến chuyển nhẹ nhàng. . .Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông. Nếu như thu trong thơ Xuân Diệu bắt đầu với "sắc mơ phai" dệt giữa muôn ngàn cây. gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ. Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân. Đây mùa thu tới. 3. chân thành mà vô cùng sâu nặng. yêu nước rất mộc mạc. người đọc thấm thía tình yêu làng. cao quý trong những người nông dân lao động bình thường.Kết bài: . . mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng (Đây mùa thu tới) Thì với Hữu Thỉnh. "Sang thu" bắt đầu bằng những cảm nhận của nhà thơ trước tín hiệu giao mùa. Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động..gif[/IMG] Bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh "Sang Thu" mang cảm xúc bâng khuâng.Qua nhân vật ông Hai.Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng.Miêu tả rất cụ thể. (ST) [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image002.Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý. hành vi.

tinh tế hơn.1 cảm nhận sâu lắng nhẹ nhàng đọng trong lòng thi nhân. ta vẫn cảm nhận được cái vàng ươm thi vị ấy. Sương chậm rãi. hoài nghi thấp thoáng trong cảm nhận của nhà thơ nhưng lại gợi được sự mong đợi.Bất ngờ. Sự vật sang thu đậm tình cảm cảm xúc. Cái hương vị ấy của vườn mẹ cứ ngào ngạt phả vào không gian. Trong "th ương nhớ 12" Vũ Băng viết: "Đẹp quá đi. Bởi Hữu Thỉnh ko chấm lên đó 1 mảng màu vàng nhưng trong cái vị nông` nàn thơm đượm của hương ôi?. Là làn sương mỏng manh như tơ liễu buông mành. rề rà như đợi chờ hè qua. và cả tác phẩm häi họa "Mùa thu vàng" nôi? tiếng của Lêvitan cũng lấp lánh 1 sắc vàng rực rỡ. Nhưng khác hẳn với sự từ tôn' đáng yêu ấy là những cánh chim thu bắt đầu vôi.. vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu." Phải là 1 con người yêu cuôc sông'. đủng đỉnh. hòa vào ko gian thu. ngõ xóm như chào đón thu về. để thi nhân bất chợt cất lên tiếng reo khe khẽ: Hình như thu đã về 1 cảm giác mơ hô`. mới lạ và độc đáo. nhè nhẹ. . dềnh dàng. "Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư long lanh với sắc thu vàng trầm buồn trong thơ mới. mà đó là dềnh dàng. thấm đến tâm hồn người đọc mà gieo vào lòng đọc giả và nhà thơ những cảm xúc riêng. của Bắc Việt thương mến. mùa xuân ơi-mùa xuân của Hà Nôi thân yêu. cuốn vào khứu giác thi nhân. se se lạnh của cơn gió heo may đương thưở non tơ. dịu dàng như chính chất thu mới đang lan tỏa trong ko gian. là từ tôn'. Những cảm nhận tinh tế của nhà thơ cứ thế cuồn cuộn chảy trên trang giấy. Ko còn là dòng nc xoáy hay dòng sông mùa hạ vùn vụt lao đầu về phía trước. Dòng nước thu êm ả trôi. mát mẻ và đậm chất thu. Sương chùng chình qua ngõ Sưong "chùng chình" qua ngõ. Những cảm nhận của nhà thơ về thu bắt đầu rõ nét hơn. ngỡ ngàng biết bao khi nhà thơ phát hiện ra hương vị thơm đượm. sự vật ấy với những nét cựa quậy chuyển mình sang thu. chầm chậm. Sự đôi' lập giữa 2 hình ảnh tạo nên 1 nét thu chân thực. giăng mắc nơi đầu thôn. lạ hơn. chào đón thu. gắn bó tha thiết với quê hương và yêu quê hương nông` nàn thì Vũ Bằng và Hữu Thỉnh mới có những vần thơ rung động lòng người đến vậy! Khổ thơ t2 tiếp tục trong cái mạch cảm xúc mênh mang ấy của nhà thơ Sông đc lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vôi. thì "Sang thu" mới hơn. vã bay về phương nam tránh rét. Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Nhà thơ thấy đám mây ấy. Nếu như "Thu điếu" của Nguyễn Khuyến đương thú vị ở các "điệu xanh" thì bỗng buông môt điệu vàng của chiếc lá thu rơi. tràn ra. Nhẹ thế mà thu-đang-về. Tưởng chừng ko gian chính là 1 bức mành mỏng manh. sinh đông.. nồng nàn giữa cái nhẹ nhàng.

vừa bâng khuâng gợi vẻ triết lí. Nắng ấy. 2 dòng kết chính là thể hiện bàn tay tài hoa của tác giả. Mùa thu dường như luôn luôn nấp sẵn trong ngòi bút của chúng ta.. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Nói về đề tài mùa thu. 1 nửa rực nắng mùa hạ. chia đám mây làm đôi.trong suôt'. Chỉ đến khi bắt đầu cầm bút ngồi trước mặt giấy. những sấm. những giông bão. vẫn còn dấu ấn của hạ nắng. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Sang thu của Hữu Thỉnh xuất hiện khi trước nó đã có rất nhiều bài thơ nổi tiếng đông tây kim cổ: Thu hứng (Đỗ Phủ). Tưởng như với đề tài thơ mộng muôn thuở này có thể dễ dàng chắp bút. nhạy cảm khi mùa thu tới. Cảm nhận sắc nét ấy còn là những hình ảnh thực. Chùm thơ thu (Nguyễn Khuyến). Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuôi Phải chăng với những con người từng trải với mưa nắng cuộc đời thì họ đón nhận những thử thách ấy 1 cách vững vàng. một tác giả đã nhận định: “Đề tài "Mùa Thu" bao giờ cũng có vẻ là dễ viết. . những cảm nhận dần đi vào lí trí. Hai dòng thơ vẫn tả cái bước đi êm nhẹ của thiên nhiên. Sưu tầm Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. bình tĩnh. 1 sự ngăn cách vô hình. Đó là 1 khúc sang thu vừa thơ mông. cái độc đáo riêng của một hồn thơ sâu lắng. vất vả lo toan của của cuộc đời mà nhà thơ đã cảm nhận đc. nhất là những ngòi bút thơ: hễ động bút là mùa thu cứ chực đổ ùa ra trên mặt giấy. nắng đấy. nhưng lại gợi suy nghĩ về con người. Đây mùa thu tới (Xuân Diệu)… Nhưng nó vẫn có cái hay.. sấm ấy có lẽ chính là những mưa. Nhưng tất cả đã giảm về sô' lượng. sấm vẫn còn ầm ì trên các ngọn cây. Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuôi? Vẫn còn mưa đấy. Những rung cảm tinh tế đến từng chi tiết nhỏ nhất. những nắng. nửa kia dịu mát sắc thu.. mưa ấy. tôi mới thấy đề tài này thật là khó” Tại sao lại có nghịch lí trong kinh nghiệm của người sáng tác như vậy? Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu.

Đám mây như tấm khoăn voan của người thiếu nữ. Song trên hết. “se”. cánh chim. Se gợi một động thái. Nhưng hương ổi “thơm” như thế nào thì thi sĩ hoàn toàn không miêu tả. Tinh tế và sống động sao một buổi sáng chớm thu. nhưng gió se chứ không phải là gió lạnh. sắc nước… Hữu Thỉnh hầu như khơi gợi cảm giác về mùa trong trạng thái mơ hồ của tạo vật.. cái tứ kết buộc hệ thống hình ảnh trong bài cũng chỉ gói gọn trong chút “chớm” mỏng manh đó. duyên dáng nối hai mùa là một liên tưởng thực sự độc đáo. những cánh chim vội vã tìm về phương ấm áp… Song thời điểm chớm thu không phải chỉ hiển hiện ở những dấu hiệu mơ hồ trong trạng thái biến chuyển của cảnh vật. Dòng nước thu vốn trong trẻo và sâu hút làm người ta khó mà thấy rõ được sự chuyển động nó nên cảm giác sông lững lờ trôi cũng rất hiện thực. liễu. hệ thống động từ toàn bài còn đặc sắc ở chỗ.Ngay từ tiêu đề. Có gió. sương như người khách ngập ngừng nơi đầu ngõ. tác giả đã tự xác định một thời điểm miêu tả: thời điểm giao mùa. Có hương ổi. “Hình như thu đã về”… Tiếp tục thể hiện những dấu hiệu mùa thu rõ rệt hơn nhưng ý nghĩa của khổ cuối không chỉ dừng lại ở đó: Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ . hay khi cái rét mùa đông đã lẩn vào trong gió…Sang thu nghĩa là mới chớm thu thôi. Dòng sông. “chùng chình” “dềnh dàng” “bắt đầu vội vã” “vắt nửa mình”… “Chùng chình” trước hết gợi tả chính xác những làn sương như ngưng lại và nhẹ nhàng tỏa lan ngõ xóm. khi bầu trời xanh ngắt lơ lửng những tầng cao. Truyền thống thơ thường kiến trúc ngôi nhà thu bằng những chất liệu quen thuộc như cúc. mùi hương vừa đặc trưng cho mùa vừa đặc trưng cho làng thôn ngõ xóm. gió se lại bởi chút lạnh xa xăm. hơn là gợi một cảm giác. Thành công nổi bật nhất của bài cũng là ở một hệ thống những động từ miêu tả rất giàu cảm giác: “phả”. mà ở cả chút ngỡ ngàng bâng khuâng của lòng người: “Bỗng nhận ra hương ổi”. Đặc biệt ở góc độ miêu tả tạo vật. hay đám mây cũng không tô điểm cho phong cảnh thu bằng những gam màu đặc trưng của nó. Đó không phải là chính thu. nó không chỉ miêu tả chính xác trạng thái của tạo vật mà còn thổi vào tạo vật những cảm giác rất người. Làn sương giăng phủ ngõ thôn chẳng được đặc tả ở mức độ (mù mịt) hay màu sắc (trắng mờ).. khi nắng trời đã nhuộm đỏ lá bàng. Không hề có một từ định tính để miêu tả thế giới thu. ngô đồng hay màu trời. không phải cuối thu.

Con người cùng Tạo vật thảy đều nhạy cảm. bao đời nay luôn có sự đua ganh giữa hồn thơ với hồn tạo vật. mưa. hàng cây tượng trưng cho con người từng trải mà bao dâu bể biến đổi không còn đáng ngạc nhiên. suy nghĩ tự nhiên của tác giả. Cho nên. khi đọc bài thơ này. tất cả các dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn nhưng đã giảm dần mức độ.chớm thu. tôi sẽ không nấn ná làm cái việc rút tỉa những thi ảnh và thi tứ tiêu biểu về thời điểm nhạy cảm ấy của thơ ca các thời. chắc cũng không xuể. những tín hiệu mơ hồ nhất từ những giao chuyển âm thầm trong vạn vật. bởi ngõ xóm thân quen ấy.jpg[/IMG] Mùa thu quả nhiên là mùa nhạy cảm bậc nhất trong năm. bước ngay…Sang thu . Đây xứng đáng là một bài thơ thu hay trong thế giới thi ca.Hữu Thỉnh Chu Văn Sơn [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image003.Trên hàng cây đứng tuổi Con người cảm thấy biết bao biểu hiện khác biệt của thời tiết khi mùa thu tới: mưa và sấm thưa dần. “đứng tuổi” khiến ý nghĩa của câu thơ không dừng lại ở nét nghĩa tả thực mà có chiều sâu hơn. Chính các từ “bất ngờ”./. cái thời điểm mà sự nhạy cảm của hồn tạo vật luôn thách thức với sự nhạy cảm của hồn người vẫn là thời khắc giao mùa . Miền kí ức tuổi thơ được đánh thức bởi mùi hương ổi. tôi chợt thấy nhớ rất nhiều những năm tháng đã qua của mình. Sang thu. Mà cùng Hữu Thỉnh. cũng khó đủ giấy mực rồi. sấm chớp… hay là những vang động của cuộc đời? Trong tương quan ấy. không còn dữ dội nữa. Cảnh như sâu lắng hơn bởi liên tưởng suy tư về mùa thu đời người. Chả thế mà. Nét độc đáo nhất của bài là những hình ảnh chính xác và giàu sức gợi tạo nên một bức tranh thu giản dị mà sống động. Nắng. nghĩa là không tái hiện lại một truyền thống. Sưu tầm Sang Thu . Không hiểu sao. Các kênh cảm giác và cả tâm cảm nữa của mỗi hồn thơ dường như đều được huy động tối đa để nắm bắt những làn sóng. Tuy nhiên. được gọi một cách hình ảnh là “hàng cây đứng tuổi”. Và có lẽ cũng nhờ giọng điệu êm nhẹ dễ cuốn người đọc vào dòng cảm xúc. chỉ điểm qua những thi tứ nổi bật dành cho nhịp chuyển mùa thôi. Chỉ cần điểm sơ qua những tín hiệu từng được hồn thơ từ cổ chí kim nắm bắt trong những thi ảnh không thôi. một tiền đề nữa. cường độ… Hàng cây như đã quá quen với nắng lửa mưa giông. Gọn nhẹ hơn.

vô tổ chức ? Không hẳn. gió se. 1977 Tôi mừng cho Hữu Thỉnh và bài thơ. sông dềnh dàng. nó vừa giành được một chỗ xứng đáng trong chương trình Văn và Tiếng Việt của nhà trường. Nhưng về ý tứ ? Xem chừng ý khổ này cứ “dính” vào khổ kia. Về bố cục. Hay việc chia thành ba khổ thế chỉ hoàn toàn do cảm tính lúc viết của thi sĩ. Kể từ nay. hương ổi của thi phẩm sẽ phả vào tâm hồn của nhiều thế hệ học trò. sương chùng chình. Khổ hai lại nghiêng về những cảnh sắc trời mây sông nước đang chuyển mình sang thu. hàng cây đứng tuổi… chẳng dáng nét thu về. nhưng mỗi khổ thơ vẫn nghiêng về một ý. sẽ được những tâm hồn ấy mang tới bao nẻo thu. Về cảnh vật. Đọc kĩ hơn thì thấy rằng: cùng viết về thiên nhiên lúc giao mùa. Hình thái tổ chức của Sang thu đâu dễ nhận diện. Đến nỗi. ai chẳng thấy chính tác giả đã tự chia bài thơ thành ba khổ khúc chiết. ngay cả “Sách giáo viên” hướng dẫn người dạy khai thác và soạn giảng chừng như cũng “ bí” trong việc phân định . đấy thay đổi tinh vi. nắng vẫn còn. với tầm nhìn rộng xa vào bầu trời mặt đất : Sông được lúc dềnh dàng / Chim bắt đầu vội . khổ một nghiêng về những tín hiệu mách bảo sự hiện diện đây đó của mùa thu. chả chịu rành mạch gì cả. chim vội vã. từ góc nhìn vườn ngõ : Bỗng nhận ra hương ổi /Phả vào trong gió se /Sương chùng chình qua ngõ /Hình như thu đã về. Thì quanh đi quẩn lại vẫn là thế : hương ổi. thử đi vào cấu trúc của thi phẩm. thì hình sắc thu sang. 1. mưa đã vơi. đây đổi thay tinh tế. còn ý thơ thì vốn thiếu rành mạch. Ý đâu có khác gì nhau. Từ cấu trúc … Trước tiên. sấm bớt bất ngờ. đến cả những miền chưa từng có mùa thu nữa.Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi Thu.

2. Vì thế. từ thấp đến cao. tiếng thơ khá tinh tế của một thi sĩ đương thời : Mướp tàn sen cũng đi tu / Lá tre đã thả một mùa heo may / Con sông không ốm mà gầy / Mắt em chưa tối đã đầy hoàng hôn.vã/Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu. Rõ ràng.jpg[/IMG] Thế đấy. Tình trong cảnh. Tương ứng với những cung bậc của mạch cảm. cấu trúc của thi phẩm này. từ ngoài vào trong. khổ hai : tri giác. khổ ba : suy ngẫm. Như vậy. Mạch cảm và mạch nghĩ bao giờ cũng song hành và chuyển hoá sang nhau trong cùng một dòng tâm tư . Cho nên. bề ngoài. Chúng đan bện với nhau khiến cấu trúc nghệ thuật càng tinh vi phức tạp. từ hẹp đến rộng. … đến điệu tâm hồn Cảm nhận tạo vật lúc sang thu. đồng hành với mạch cảnh sắc trên đây. Không chỉ có thế. Sự đan xen các mạch này là một khía cạnh phức tạp không thể thiếu của cấu trúc. Có thể nôm na hoá qua sơ đồ sau : [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image005. và kết lại ở khổ ba với vẻ trầm ngâm(… Sấm cũng bớt bất ngờ / trên hàng cây đứng tuổi). thi phẩm là sự đồng hành và hoá thân vào nhau của ba mạch nội dung vừa rõ nét vừa sống động. nhưng bề sâu. dù đậm hay nhạt. cả người khờ khạo nhất cũng phải thấy rằng : thơ thiên nhiên không đơn thuần chỉ có cảnh. khổ ba lại nghiêng về những biến đổi bên trong các hiện tượng thiên nhiên và tạo vật : Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa/Sấm cũng bớt bất ngờ/Trên hàng cây đứng tuổi. Trái lại là đằng khác ấy chứ ! Rõ ràng. Cụ thể là mạch cảm nghĩ trước mùa thu. Cùng với cảnh. Sau một thoáng ngỡ ngàng ở khổ một (… Hình như thu đã về). thần thái của cảnh thu thường hiện lên qua vẻ tiêu sơ. Khổ đầu : bất giác. cảnh trong tình. . đa phần các thi sĩ nghiêng về vẻ biến suy một chiều của cảnh. bao giờ cũng là tình. ba khổ thơ đã được liên kết thành một chỉnh thể nhuần nhị nhờ vào một trật tự khá tự nhiên : từ gần đến xa. đâu phải là thiếu rành mạch. là đến niềm say sưa ở khổ hai (…Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu). Ví như bài Thu cảm. dù kín hay lộ. vẫn là một kiến trúc ngôn từ với một cấu trúc thật tinh vi. Trong khi đó. với các lớp cảnh càng ngày càng đi vào chiều sâu… Một trật tự hợp lí tự nhiên bao giờ cũng là điều sinh tử để một sản phẩm nghệ thuật hiện ra như một sinh thể ! Nhưng. qua phân tích trên đây cũng đủ thấy rằng : một tiếng thơ dù bình dị hồn nhiên thế nào đi nữa. là các cấp độ của mạch nghĩ. là tâm tư của thi sĩ. có vẻ “dính”. từ khổ một đến khổ ba.

Nó rõ nhất ở khổ ba : Vẫn còn bao nhiêu nắng /Đã vơi dần cơn mưa /Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. Khi nắng “còn” cũng là khi mưa “vơi”. bớt (thêm) bảo rằng thi sĩ đang suy xét. Ba câu trên : nắng “vẫn còn”. mà lòng đã nặng hơn. thì cũng là lúc bắt gặp sương “chùng chình” qua ngõ. Nhịp mạnh bao gồm những động thái. Tôi cho rằng. đã ra chiều trầm ngâm với suy ngẫm rồi. Chiêm nghiệm điều gì ? Về một lẽ đời trong hai chiều biến đổi trái nhau. một trong những nét đặc sắc của bài Sang thu là có hai hệ thống tín hiệu báo mùa có vẻ phản trái nhau. lời thơ súc tích hẳn nhờ các làn nghĩa giao nhập ràng néo . Trong thiên nhiên đã vậy. sắc thái dương tính (mạnh. tâm thế thi sĩ không còn ngỡ ngàng bất giác như khổ một. không đơn tuyến. đúc kết. Nhưng. Nhờ lối viết nén. Nó chính là hiện tượng trái chiều mà cùng hướng ta vẫn thường thấy trong mỗi cuộc đổi thay. Chẳng phải thế sao ? Chẳng phải bao mạch sống đang cần mẫn chuyển lưu trong lòng tạo vật làm nên cõi sống trường cửu này vốn vẫn tương sinh tương khắc như vậy sao ? Và chẳng phải những vận động trái chiều mà cùng hướng vẫn thường đem đến cho sự sống thế quân bình ngay trong lòng mỗi nhịp biến thiên hay sao ? Cho nên. sông dềnh dàng. vơi (-đầy). Luôn thấy được thế quân bình ngay giữa những biến thiên thì ít bất ngờ chao đảo. giấu cương sau nhu này : Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi ? Nói đến câu kết kia. Trong cuộc đời cũng thế. một chiều tăng kín đáo : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. thật thú vị mà cũng thật hiển nhiên là hai nhịp mạnh nhẹ với hệ thống hưng .suy. Lớp từ mang sắc thái đong đếm ở đây mách với ta điều đó. không thể không thêm vài lời về cách lập tứ dẫn tới kết. nhờ lối cảm ấy. Có thể xem đó là nét phức điệu trong cảm nhận ngoại giới của hồn thơ Hữu Thỉnh. khi câu ba nối vào câu kết. thì chiều giảm đột ngột thành chiều tăng. nhanh. song cả hai đều thuộc về thần thái của mùa thu. câu thơ bỗng có “cú pháp dính”.trưởng kia lại đan dệt trong nhau khá nhuần nhuyễn tạo nên cái bản giao hưởng gợi cảm của đất trời thu. chậm. Chính lúc sông “dềnh dàng” là lúc chim “vội vã”. Ấy là sự từng trải tăng lên. là cây đã trưởng thành. Hệ thống các từ còn (-hết). say sưa tri giác như khổ hai.vẫn còn bao nhiêu nắng… Nhịp nhẹ thì nghiêng về âm tính (êm. mưa vơi dần… Lúc bất giác nhận ra hương ổi “phả” vào trong gió se. Để ý một chút. sấm “bớt bất ngờ” càng giảm.Cảm nhận của Hữu Thỉnh khác. mà đây đó còn cả thế quân bình. tức là đã giảm . nhiều…) : hương ổi phả . chiêm nghiệm. mấy chữ “bớt bất ngờ” như một nút buộc. Và. Toàn cảnh thu trong bước chuyển mùa. tiêu . sẽ thấy rằng đến đây. Đừng nghĩ thi sĩ cố ý đặt bày hai mạch tương phản nhằm chơi trò lạ hoá. tôi ngờ rằng cảm quan quân bình về đời sống đã ngấm ngầm xui thi sĩ tìm đến cái kết điềm tĩnh trước ba động. ít…) : sương chùng chình. mưa “vơi dần” rõ là giảm . Tạm đặt tên là nhịp mạnh và nhịp nhẹ.chim vội vã . đã hiện ra không chỉ có biến thiên. Cả ba nghiêng về chiều giảm.

* Sang thu là bài thơ tinh tế. Thế mà thi ảnh lại mới. Sao lại cặp kè ? Thì một trong những chiêu rất Hữu Thỉnh chẳng phải là chế tác thi liệu dân gian bằng thi pháp Đường ư ? Cố nhiên. cái súc tích Đường thi kết hợp với chất hồn nhiên thơ trẻ cứ loáng thoáng đâu đó trong cách nhìn tạo vật. hay cây bớt bị bất ngờ (cây thôi e sấm)? Có lẽ là cả hai. Còn có một chất khác. Một cú đảo phách ngoạn mục. Nhịp luân chuyển ấy dường như đã nhập vào mấy chữ tưởng rất không đâu mà lại thần tình này: Sông được lúc dềnh dàng/Chim bắt đầu vội vã . Làm xác định cái không xác định. Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa”. Đọc Hữu Thỉnh. hình sắc lại gợi. Đám mây thực thế mà ảo thế ! Cái cách “vắt nửa mình” kia sao mà thi vị ! Có thật chăng một đám mây vốn của mùa hè đang mải mê lấn sân sang mùa thu ? Có mà không có. anh không chỉ có chiêu này. có chậm có nhanh. mà xem ra lại khó thấy : Đường thi. ở thi phẩm này. có một chất rất dễ nhận : dân gian. Những hiện tượng riêng lẻ thì gồm cả hai hệ thống tín hiệu trái chiều. thì mới vỡ lẽ: ồ. đây là lối kết theo kiểu “đảo phách”. cái vế sau mới là chốt hạ. ít ai để ý đến nghệ thuật tổ chức. chỉ lúc chợt ngoái lại. Có thể nói. Có lẽ khi đọc các cặp ấy. khiến cái vô hình thành hữu hình. mà hiển lộ nhất là ở phép đối ngẫu được dùng khá nhuyễn : Sông được lúc dềnh dàng-Chim bắt đầu vội vã . Ở Sang Thu. thi ảnh nào cũng tài hoa. Nào những hương ổi phả vào trong gió se. Nhưng cái nhịp luân chuyển chung chi phối vạn vật thì bao giờ cũng khẩn trương và mau lẹ. nào sương chùng chình qua ngõ. Hữu Thỉnh còn tỏ ra tinh hơn nữa trong sự đồng điệu với nhịp chuyển mùa. thật mà không thật. nhưng xem chừng. Mấy chữ ấy đi với nhau thành cặp. hô ứng và tiếp ứng nhau làm hiển thị cái nhịp luân chuyển trong tạo vật vốn mải mê mà vô hình. thậm chí được nhu hoá. Cứ y như giữa mùa thu và mùa hè vẫn có một lằn ranh làm bằng sợi dây vô hình giăng ra giữa thinh không. khiến đám mây yêu kiều và đỏng đảnh kia có thể vắt nửa mình qua đó mà khoe sắc phô duyên vậy ! Mà đâu chỉ trong quan sát. luôn cặp kè. là lối viết đâu có gì lạ về thi pháp. Mà ấn tượng nhất hẳn phải là cảnh tượng Có đám mây mùa hạ/Vắt nửa mình sang thu. là tinh chứ sao ! . Người đọc cũng dễ say với những nét tài hoa trong việc sử dụng nhuần nhuyễn yếu tố cổ điển của thi sĩ. trong cách kiệm lời. Nhờ ngữ pháp ấy mà cái ý cương kia liền được giấu kín nhẹm. rồi thì sông được lúc dềnh dàng… xem ra. ra là phép đối ! Thế là nhuyễn. tâm trí ta bị trôi theo lời thơ bình đạm. Điều này khỏi bàn thêm. Vẫn còn bao nhiêu nắng-Đã vơi dần cơn mưa.nhau : sấm bớt gây bất ngờ (sấm đã e cây). làm định dạng cái vốn mơ hồ. Bởi đảo mà cứ như không. Chẳng thế mà các chi tiết gợi cảm của thi phẩm đã cuốn hút nhiều người yêu thơ.

Đồng thời. Sự mẫn cảm của tâm hồn thi sĩ đã được dịp phô diễn qua những thi ảnh giàu mỹ cảm trong việc nắm bắt bao vận động. Có lẽ như những thước phim về cảnh vật thiên nhiên thì phải hơn.Tuy nhiên. Nhờ đó. Tranh thì tĩnh. cũng chưa phổ được vào đó hơi thở của thời mình. Sang thu đa nghĩa. đó vẫn là những tinh tế tiểu tiết và dễ viết. Ví như hoàn cảnh sáng tác . cuộc sống vừa qua khỏi thời chiến đầy khốc liệt đang chuyển sang thời bình êm ả. Nhân hoá cây là bề nổi. Lớp nghĩa thứ nhất dễ thấy. đời sống sang thu và đời người sang thu. mà còn nói người. chim vội vã v. căn cứ quan trọng nhất là văn bản. Nhưng. Điều này ngẫu nhiên chăng ? vô nghĩa chăng ? Không hẳn. những hàm ý kín đáo kia toát lên trước hết từ nghĩa bóng đây đó của các thi ảnh. Đôi khi quá chú mục vào cái tinh tế trong tiểu tiết có thể quên sự tinh vi trong đại cục. Nghĩa là. chưa đủ tạo hẳn ra một lớp nghĩa khác cho văn bản. thi phẩm nhỏ đã mang thi tứ lớn. Nó mới là nét tinh vi thuộc về đại cục. mà còn vang lên cả từ tương quan giữa văn bản với những thứ bên ngoài vốn thiết thân với nó nữa. Tất nhiên. Sang thu cũng mới là thơ tạo vật. Nhìn bài thơ trong tương quan với thời điểm ấy. Tác giả cho biết thời điểm viết Sang thu là mùa thu 1977. phát động một lớp nghĩa khác cho bài thơ. biến động âm thầm và sâu kín của thiên nhiên. nếu chỉ thế thôi. tinh thần của thế hệ mình. có sự chất chồng và giao thoa của ba lớp nghĩa : trời đất sang thu. Có thể thấy rõ hơn nữa. ở nhiều lần in cũng ghi rõ như vậy. đời sống cũng vừa sang thu. Tôi muốn nói đến điều khác : ý tưởng bao trùm. vì ít nhất. Nó đâu chỉ nói cây. thông điệp nghệ thuật của một tác phẩm không chỉ cất lên từ những gì thuộc nội bộ văn bản. Trong thực tế. chúng ta thấy từ mạch hình ảnh thiên nhiên rải khắp bài thơ bỗng bừng dậy một lớp nghĩa khác gắn với con người và cuộc đời. chưa xa gì hơn một lối nói sinh động về sự vật. Hữu Thỉnh chưa đem đến cái gì mới hơn so với các tiếng thơ thuộc thi đề thu của những người đi trước. Đây là lúc trong lòng đời có bao trăn trở xao động. Chữ “đứng tuổi” bật sáng. tự dưng chúng ta thấy các . sông dềnh dàng.v… Nhưng nếu chỉ có thế thì ý nghĩa của chúng còn lờ mờ. Bấy giờ. Nhưng. Lớp nghĩa kia chỉ thực sự bật hầm khi hình ảnh cuối cùng đột hiện : Sấm cũng bớt bất ngờ / Trên hàng cây đứng tuổi. Nó khiến bài thơ như một bức tranh thiên nhiên. phim mới động. Không. chuyển động. khi nhìn trong tương quan khác. Một thi tứ đa tầng khiến hình tượng thơ thành đa nghĩa. Ý tưởng Sang thu được gói kín vào thi tứ. dễ làm nghèo nghệ thuật. chỉ bó hẹp trong văn bản không thôi. Tự dưng. Ai cũng có thể thấy những ẩn ý nào đó thấp thoáng sau lối viết ẩn dụ trong các thi ảnh rải rác ngay từ đầu sương chùng chình. Hai lớp nghĩa sau mới thật là thứ hương ổi riêng mà Hữu Thỉnh phả vào trong thi đề này. Cảm thụ nghệ thuật. Vì nó ở bề nổi của văn bản thơ. giấu người vào cây là bề sâu.

bao tủi sầu yếu đuối. “Chùng chình” còn dễ ưa. xu thời nào đó nữa ấy chứ ? Đến khổ thứ ba. tỉnh Vĩnh Phúc. nhưng lòng vẫn còn bao nhiêu nắng. lớp nghĩa thời sự vốn khuất mình không thể phát sáng được. Hữu thỉnh nhập ngũ. Không có chữ “đứng tuổi” cứ như lạc hệ thống này. thì từ khổ thứ hai đã bảng lảng cái bóng đời. giờ vào thu đã tự cho phép mình được dềnh dàng. bao cơn mưa thở than nay cũng đã vơi dần. Đặc biệt từ khổ hai trở đi. Một cái kết quá là khôn ngoan. sinh năm 1942. “Dềnh dàng” đâu chỉ nói về nét riêng của dòng chảy đã chậm hơn khi con sông vào thu. Chim bắt đầu vội vã có phải chỉ đơn thuần nói về các loài chim lúc sang thu đang gấp gáp bay đi lánh rét không thôi ? Xem ra. Tôi ngờ rằng đây là khổ thơ mà anh chàng thi sĩ cũng vừa trải qua một mùa hè bỏng rát đang kín đáo nói về thế hệ mình và chính mình ? Vâng. Nếu ở khổ đầu. Sự từng trải đã giúp cây trưởng thành. tuyên huấn trong quân đội và bắt đầu sáng tác thơ. Năm 1963. được xả hơi chăng ? Chả phải vô cớ mà thi sĩ đem chữ “được lúc” gắn với cái thói “dềnh dàng” ấy của sông. Chẳng phải đó là những nét độc đáo mà Hữu Thỉnh đã đem đến cho một thi đề tưởng đã quá ư quen thuộc hay sao ? Từ thơ tạo vật. nó còn muốn nói tới đối tượng sống tuỳ thời. Hèn chi. “dềnh dàng” đã khó ưa. Dường như nó còn ngầm tỏ thái độ về cái điệu sống của những đối tượng nào đó hồi mùa hạ hăng hái xông pha là thế.Tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm 1. tuy đã sang thu. quê ở huyện Tam Dương. mùa thu đâu chỉ có chuyện tiêu sơ. nhưng Sương chùng chình qua ngõ thật khác với Sông được lúc dềnh dàng.Thiết giáp rồi trở thành cán bộ văn hóa. Mùa thu đâu chỉ có biến thiên.hình ảnh đó đây nhấp nháy lên những nghĩa khác : nghĩa thế sự. Mùa thu còn là chuyện trưởng thành. Sang thu đã lẳng lặng thành thơ cuộc đời ! (Nguồn: Sưu tầm) Sang thu SANG THU I. ông đã tham gia . hàng cây trẻ hồi nào giờ đã đứng tuổi. Cũng như thế. thơ còn nặng về tạo vật. vào binh chủng Tăng . mọi suy cảm trên sẽ thành võ đoán. ý ngầm của kẻ viết vừa khó phát lộ vừa khó gói ghém. Thì ra.Nhà thơ Hữu Thỉnh tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Thỉnh. Bước sang thu. Không có nó.Tác giả . Đồng thời. cùng diễn tả nhịp vận động chầm chậm. mọi cú giáng của cuộc đời : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. Mùa thu còn tàng ẩn cả những quân bình tự tại nữa. đủ vững trãi đối đầu với mọi ba động. cái lớp nghĩa thế sự bảng lảng này còn tỏ hơn nữa.

Dòng sông trôi một cách thanh thản gợi lên vẻ êm dịu của bức tranh thiên nhiên. .IV. chuyển động chầm chậm nơi đường thôn ngõ xóm. Đường tới thành phố ( trường ca – 1978 ).Lúc này cũng bớt đi những tiếng sấm bất ngờ gắn cùng những cơn mưa rào mà mùa hạ thường có.Những hình ảnh. . bằng nhiều giác quan và sự rung động thật tinh tế . bất ngờ. còn sáng nhưng nhạt dần. . . II. sau đó được in lại nhiều lần trong các tập thơ. vấn vương trước đất trời trong trẻo đang chuyển biến nhẹ nhàng.Phân tích bài thơ 1.Nhà thơ chợt nhận ra tín hiệu của sự chuyển mùa từ ngọn gió se ( nhẹ. . về mùa thu.Nắng cuối hạ còn nồng. Nhiều vần thơ thu của ông mang cảm xúc bâng khuâng. cảm xúc bâng khuâng qua các từ bỗng. viết hay về những con người cuộc sống ở nông thôn.Biến chuyển trong không gian lúc sang thu được Hữu Thỉnh cảm nhận qua nhiều yếu tố.Tác phẩm chính: Âm vang chiến hào( in chung ). V. khô và hơi lạnh ) mang theo hương ổi đang vào độ chín. phả vào trong gió se .Tâm trạng ngỡ ngàng. hiện tượng thể hiện sự biến đổi của đất trời lúc sang thu ở khổ đầu của bài thơ . Thư mùa đông. hình như 2. những cánh chim bắt đầu vội vã ở cuối buổi hoàng hôn. Những ngày giao mùa này đã ít đi những cơn mưa rào ào ạt. Từ năm 2000. Từ chiến hào tới thành phố.Hữu Thỉnh là nhà thơ viết nhiều.Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam các khóa III.Hoàn cảnh ra đời:Bài thơ Sang thu được Hữu thỉnh sáng tác cuối năm 1977. . ông đã được Giải thưởng văn học Đông Nam Á.Sương đầu thu giăng mắc nhẹ nhàng.Cảm giác giao mùa được diễn tả thú vị qua đám mây mùa hạ “ vắt nửa mình sang thu” .Hương ổi lan vào không gian. 2. in lần đầu tiên trên báo Văn nghệ. Với tập thơ Thư mùa đông. Hữu Thỉnh được bầu làm Tổng thư kí Hội nhà văn Việt Nam. .

trăng chếch bóng soi sáng rừng hoang bao la rộng lớn. Chính Hữu cho ra mắt tập “Đầu súng trăng treo”. Phân tích hình ảnh "Đầu súng trăng treo" trong bài thơ "Đồng Chí" của Chính Hữu. chút nữa đây cũng có thể là giây phút cuối cùng ta còn ở trên đời này nhưng ta vẫn “mặc kệ”. trăng đã đi vào cuộc chiến đấu. Giữa núi rừng heo hút “rừng hoang sương muối” giữa đêm thanh vắng tĩnh mịch bỗng xuất hiện một ánh trăng treo lơ lửng giữa bầu trời. Không biết tự bao giờ ánh trăng đã đi vào văn học như một huyền thoại đẹp. vẫn say sưa với ánh trăng. rất thực nhưng không thiếu nét lãng mạn đó. Nhà thơ không phải tả mà chỉ gợi. Và hình ảnh này cũng thật lạ làm sao. Chút nữa đây không biết ai sống chết. Lúc sang thu. người chiến sĩ như không còn vướng bận về cảnh chiến đấu sắp diễn ra. anh say sưa ngắm ánh trăng toả ngời trên đỉnh núi. tâm hồn người nông dân “nước mặn đồng chua” hay “đất cày trên sỏi đá” cằn cỗi ngày nào bỗng chốc trở thành người nghệ sĩ đang ngắm nhìn vẻ đẹp ánh trăng vốn có tự ngàn đời. Phân tích hình ảnh "Đầu súng trăng treo" trong bài thơ "Đồng Chí" của Chính Hữu. Thế mới biết tác giả đắc ý như thế nào về hình ảnh thật đẹp. soi sáng tình cảm họ. thơ mộng. Phải là một người có tâm hồn giàu lãng mạn và một phong thái ung dung bình tĩnh lạc quan thì anh mới có thể nhìn một hình ảnh nên thơ như thế. . soi sáng tâm hồn họ… Giờ đây. Chính nhà thơ Hữu Thỉnh đã tâm sự: Với hình ảnh có giá trị tả thực về hiện tượng thiên nhiên này.3.Về hai dòng thơ cuối bài. bị giật mình vì tiếng sấm nữa. Đêm thanh vắng người lính bên nhau chờ giặc tới. ông muốn gửi gắm suy ngẫm của mìh – khi con người đã từng trải thì cũng vững vàng hơn trước những tác động bất thường của ngoại cảnh của cuộc đời. Cũng có thể hiểu: hàng cây không còn bị bất ngờ. Hơn thế nữa. chỉ đưa hình ảnh nhưng ta liên tưởng nhiều điều. cần hiểu với hai tầng nghĩa. súng và trăng vốn tương phản với nhau. anh thả hồn theo trăng. trăng bảo vệ xóm làng. trăng được Chính Hữu kết tinh thành hình ảnh “đầu súng trăng treo” rất đẹp trong bài thơ Đồng chí của mình. Sau hơn mười năm làm thơ.đó là một hình ảnh tả thực một bức tranh tả thực và sinh động. ở truyền thuyết “Chú cuội cung trăng” hay Hằng Nga trộm thuốc trường sinh là những mảng đời sống tinh thần bình dị đậm đà màu sắc dân tộc của nhân dân ta. Đầu súng trăng treo. xa cách nhau vời vợi bỗng hoà quyện vào nhau thành một hình tượng gắn liền. bớt đi những tiếng sấm bất ngờ.

Họ chiến đấu cho sự thanh bình. Nó là biểu tượng. Lãng mạng nhưng không thoát li. nó tượng trưng cho tư thế lạ quan bình tĩnh. chẳng thơ mộng chút nào. Đầu súng trăng treo. cả vầng trăng và súng đều tồn tại trên một mặt phẳng và trong hội hoạ nó mang tính biểu tượng cao. trăng là đất nước quê hương của bốn nghìn năm văn hiến. từ điểm nhìn xa. Trăng truyền thêm sức mạnh cho họ. làm sao còn nét lãng mạn? Và hãy thay một lần nữa bằng từ “lên” cũng không phù hợp. ta thử thay bằng từ mọc thì thật thà quá. Ta nên hiểu bài thơ dường như được sáng tác ở thời điểm hiện tại “đêm nay” trong một không gian mà mặt đất là “rừng hoang sương muối” lạnh lẽo và lòng đầy phấp phỏng giặc sẽ tới có nghĩa là cái chết có thể đến từng giây từng phút. là khát vọng và cũng là biểu hiện tuyệt vời chất lãng mạn trong bài thơ cách mạng. Súng là con người. không phải ngẫu nhiên mà Chính Hun lấy hình ảnh “Đầu súng trăng treo” làm tựa đề cho tập thơ của mình. chiến đấu cho ánh trăng mãi nghiêng cười trên đỉnh núi. cái bồng bềnh thơ mộng của một đêm trăng “đứng chờ giặc tới”. là đồng chí của anh bộ đội Cụ Hồ. tắm gội tâm hồn họ thanh cao hơn. Cái thân của câu thơ “Đầu súng trăng treo” nằm ở từ “treo”. cùng chứng kiến cho tình đồng chí đồng đội thiêng liêng của những ngươì linh. trăng cũng là bạn. Súng là hình ảnh người chiến sĩ gan dạ kiên cường. hay nhất vẫn là “Đầu súng trăng treo”. trăng lên trăng lặn sẽ không còn cái bất ngờ màu nhiệm nữa. Ta hãy tưởng tượng xem: giữa đêm khuya rừng núi trập trùng bỗng hiện lên hình ảnh người lính đứng đó với súng khoác trên vai. không quên được nhiệm vụ và trách nhiệm của mình. Nếu miêu tả hiện thực thì vầng trăng ấy sẽ có hình khối của không gian ba chiều. Sự kết hợp hài hoà tạo nên nét lãng mạn bay bổng vừa gợi tả cụ thể đã nói lên lí tưởng. lãng mạn của người bảo vệ Tổ quốc. chỉ có “Đầu súng trăng treo” mới diễn tả hết được cái hay. Chỉ có trăng “treo”. Tố Hữu cũng có một câu thơ kiểu này: “ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” và Phạm Tiến Duật thì “Và vầng trăng vượt lên trên quầng lửa” hay Hoàng Hữu “Chỉ một nửa vầng trăng thôi một nửa. trong sạch hơn. Lãng mạn vì con người cần có . mục đích chiến đấu mà người lính ấy đang tham gia. nòng súng chếch lên trời và ánh trăng lơ lửng ngay nòng ngọn súng.Trăng là hình ảnh người thi sĩ. súng tượng trưng cho chiến đấu. Nhưng có lẽ cô kết nhất. trăng như cùng tham gia. vì nó là hiện tượng tự nhiên: trăng tròn rồi khuyết. Thế nhưng người lính ấy vẫn đứng cạnh nhau để tâm hồn họ vút lên nở thành vầng trăng.ánh trăng như xua tan cái lạnh giá của đêm sương muối.hình ảnh thật đẹp và giàu sức khái quát.trăng là hình ảnh của thanh bình hạnh phúc. Súng và trưng kết hợp nhau. Ai bỏ quên ở phía chân trời…”. Phải. ở đây. Như đã nói ở trên. trăng toả sáng làm ngời ngời lòng người. Đó là biểu tượng Khát Vọng Hoà Bình.

Đi kháng chiến. tình yêu nước. hãy hát vang lên ca khúc Hoà Bình vì hình ảnh đầu súng trăng treo mà nhà thơ đã gởi vào đó bao nhiêu khát vọng nay đã thành hiện thực (Nguồn .Internet) Nguồn: Sưu tầm Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc. người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. tình cảm quê hương đất nước. tinh thần kháng chiến. Và bạn ơi! Bạn hãy thả cùng tôi những chú chim trắng trên bầu trời. Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. . Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới. ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân . B. Trước cái đẹp mà con người trở nên thờ ơ lãnh đạm thì cuộc sống vô cùng tẻ nhạt. Nếu như Elsa Trioslet – nữ văn sĩ Pháp có nói “Nhà văn là người cho máu” thì tôi hãnh diện nói với văn sĩ rằng: Chính Hữu đã cho máu để tạo nên câu thơ tuyệt vời để cống hiến cho cuộc kháng chiến của chúng ta. Ông gắn bó với thôn quê.Thân bài 1.Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948.Mở bài: .Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. thông qua một con người cụ thể. A. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc. từ lâu đã am hiểu người nông dân. Hình ảnh trăng và súng đã có nhiều trong thơ Việt Nam nhưng chưa có sự kết hợp kì diệu nào bằng hình ảnh Đầu súng trăng treo của Chính Hữu.những phút sống cho riêng mình. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước. trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. Âm hưởng của câu thơ đã đi đúng với xu thế lịch sử của dân tộc.

Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến. .Khi mới nghe tin xấu đó. Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”. chưa tin. Nhưng khi người ta kể rành rọt. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà.… những đường hầm bí mật. a. chỗ này giết một tí.Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ . Ông giận những người ở lại làng. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. Phải xa làng. khuân đá…”. nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. b. hôm nay dăm khẩu.Ba bốn ngày sau. Sau cách mạng. càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm. nhân vật ông Hai. ngày mai dăm khẩu. ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm.Về đến nhà. rồi ông lo “cái chòi gác. c. không tin không được. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người. tích tiểu thành đại. đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân. .Được cách mạng giải phóng. . ông xấu hổ lảng ra về. xẻ hào. Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi. đi theo kháng chiến. náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế. nhìn thấy các con. hắt hủi”. . .2. cả súng cũng vậy. . ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương. ông sững sờ.Ông hay khoe làng.…” đã xong chưa? . làm gì mà thằng Tây không bước sớm”. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng. .Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần. in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có. đắp ụ. ông không dám ra ngoài. một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. Tình yêu làng. ông nhớ quá cái khong khí “đào đường. thích bìh luận. Ông luôn hoảng hốt giật mình. chỗ kia giết một tí.

đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ.quá.Miêu tả rất cụ thể. . lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng. gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ. . . Tình cảm đó sâu nặng. ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu. gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ. Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân. + Qua đó. bố của nó. ngôn ngữ đối thoại và độc thoại. Khi cái tin kia được cải chính. + Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông.Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông. ta thấy rõ: • Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc). vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông. chân thành. . Nhưng tình yêu nước. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt.Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường. bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”. d. 3. hành vi. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ. • Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc. . Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. .Tình cảm đối với kháng chiến.

DÀN Ý: (dàn ý chi tiết chung ^^) I. cao quý trong những người nông dân lao động bình thường. chân thành mà vô cùng sâu nặng.sống có lí tưởng. Bài Viết Số 03 : Kể lại cuộc gặp gỡ người lính lái xe trong BTVTĐXKK của PTD. .. người đọc thấm thía tình yêu làng.đất nước. III.Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật.về trách nhiệm của bản thân đối với gia đình.có trách nhiệm với Tổ Quốc..Qua nhân vật ông Hai.) II...gặp người sĩ quan.nhân dân BÀI LÀM: ( đây là bài tương đối hoàn chỉnh ^^) .Thân Bài: 1.Tính chất gian khổ khốc liệt mà những người lính lái xe Trường Sơn (TS) phải chịu đựng trong những năm tháng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.có mục đích.Kết bài: .có chút ngang tàng trẻ trung.Những nhân phẩm cao đẹp của người lính(dũng cảm hiên ngang đầy lạc quan.Kết Bài: _Kết thúc câu chuyện _Suy nghĩ về thế hệ cha anh. C..Mở Bài: _Tình huống truyện (Nhân một chuyến đi.với nhân dân). 2.qua trò chuyện biết anh chính là người lính lái xe trong "BTVTĐXKK" của PTD. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý.. yêu nước rất mộc mạc...về người lính..Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động..

sờn lòng.thấy cả ánh sao đêm..Họ vẫn vui tươi.tôi mới hiểu rõ hơn về sự gian khổ ác liệt mà những người lính lái xe phải chịu đựng ngày đêm.kể cho nhau nghe sự ác liệt của những cung đường đã đi qua.những con đường huyết mạch nối giữa miền Nam và miền Bắc lại là nơi ác liệt nhất.đôi đũa dùng chung.cái chết luôn rình rập bên họ nhưng họ vẫn là những con người lạc quan.bom đạn của kẻ thù đâu có làm họ nãn chí.Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm dội xuống những con đường này nhằm cắt đứt sự tiếp viện của miền Bắc cho miền Nam.họ nhìn thẳng về phía trước.Tôi và người sĩ quan đó trò chuyện rất vui vẻ và thật tình cờ tôi biết được người sĩ quan này chính là anh lính lái xe trong "Bài Thơ Về Tiểu Ðội Xe Không Kính" của Phạm Tiến Duật năm xưa.Sự dũng cảm của các cô gái thanh niên xung phong luôn đảm bảo ..Người sĩ quancòn kể với tôi rằng không có kính cũng thật bất tiện nhưng họ vẫn lái những chiếc xe đó.Nhưng không phải vì thế mà họ lùi bước.tinh nghịch.Rồi những giây phút nghỉ ngơi trên chiếc võng đu đưa.Bom đạn của giặc Mỹ đã biến cho những chiếc xe của các anh không còn kính nữa.Ôi! tiếng cười của họ sao thật nhẹ nhõm.đạn dược.tôi mới hiếu rõ hơn về họ.Mưa cứ tuôn cứ xối nhưng họ vẫn chưa cần thay áo và cứ ráng lái thêm vài trăm cây số nữa.tự do.Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm nổ sát bên tai phá hủy con đường.được trò chuyện với người chiến sĩ lái xe năm xưa.cả nhưng cánh chim sa.Có những người còn. Người sĩ quan kể với tôi rằng cuộc kháng chiến của dân tộc ta vô cùng ác liệt.Họ nhìn thấy đất.những người đồng đội của anh.Anh sĩ quan lại kể cho tôi nghe trên những cung đường vận chuyển đó anh luôn được gặp những người bạn.yêu đời.phía ấy là tương lai của đất nước được giải phóng.quây quần bên nhau như một đại gia đình của những người lính lái xe TS.đảm bảo an toàn cho những chuyến hàng rồi họ nghĩ mưa sẽ ngừng.nhìn thấy trời..họ vẫn ung dung lái những chiếc xe không kính đó băng băng đi tới trên những chặn đường.vượt qua những chặng đường ác liệt.trên con đường TS này.của nhân dân được hạnh phúc.cái vắt tay qua ô cửa kính vỡ đã làm cho tình đồng đội của họ thấm thiết hơn rồi những bữa cơm bên bếp Hoàng Cầm với những cái bát.vũ khí.Những chiếc xe không kính lại tiếp tục băng băng trên những tuyến đường ra trận.bọn họ cũng chưa cần rửa rồi nhìn nhau cất tiếng cười ha ha.Nhân một chuyến đi thăm nghĩa trang liệt sĩ.gặp mưa thì phải ướt áo thôi.Trong những giây phút gặp gỡ hiểm hoi đó.Nghe anh kể.Trong những ngày tháng đó anh chính là người lính lái xe làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực.bụi ùa vào làm những mái tóc đen xanh trở nên trắng xóa như người già.Gian khổ ác liệt.tôi gặp người sĩ quan đang đứng thắp hương cho người đồng đội đã mất.gió sẽ lùa vào rối áo sẽ khô mau thôi..có những người đã hy sinh.Khi được học "Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính" tôi cứ luôn suy nghĩ rằng những khó khăn gian khổ ác liệt đó chỉ có nhân vật trong bài thơ mới vượt qua được nhưng đó là những suy nghĩ sai lầm của tôi bởi được gặp.

Nghĩ đến hình ảnh những chiếc xe băng băng về phía trước tôi lại nghĩ đến những người lính lái xe.hiện đại.đang phấn chấn. hào hứng.ý chí kiên cường của họ và tôi hiểu rằng thế hệ chúng tôi luôn phải ghi nhớ công ơn của họ.nắm vững khoa học.Ông cất tiếng hỏi.Đó là tin làng chợ Dầu lập tề theo giặc.rồi không có mui xe.vì nhân dân.đầy lạc quan.một lúc lâu ông mới rặn è è nuốt một cái gì vướng ở cổ.cần phải phấn đấu trở thành công dân gương mẫu.thống nhất đất nước.cả ngày lẫn đêm.theo dõi tin tức kháng chiến và hỏi thăm về Chợ Dầu .da mặt tê rân rân . Tôi và anh sĩ quan chia tay nhau sau cuộc gặp gỡ và nói chuyện rất vui.giọng lạc hẳn đi ”nhằm hy vọng điều vừa nghe không phải là sự thật.đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt .ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được.lắp bắp hỏi.náo nức vì những tin vui của kháng chiến thì gặp những người tản cư. Ông Hai cũng như bao người nông dân quê từ xưa luôn gắn bó với làng quê của mình.Tôi khâm phục những người lính lái xe bởi tình yêu nước.giải phóng miền Nam.Bom đạn Mỹ hạ xuống bất cứ lúc nào.Ông yêu quí và tự hào về làng Chợ Dầu và hay khoe về nó một cách nhiệt tình.Tiếng chửi văng vẳng của người đàn bà cho con bú khiến ông tê tái :“cha mẹ tiên sư nhà chúng nó . Văn bản “Làng” đươc sáng tác vào thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp .ông tìm cách lảng về.Anh sĩ quan còn nói cho tôi biết những chiếc xe ấy không chỉ mất kính mà còn mất cả đèn.thùng xe rách xước.Họ thật dũng cảm.Tin bất ngờ ấy vừa lọt vào tai đã khiến ông bàng hoàng.kĩ thuật để xây dựng một đất nước văn minh.Trước lời khẳng định chắc chắn của những người tản cư.Các sáng tác của ông đều xoay quanh cảnh ngộ và sinh hoạt của người nông dân.nhiệm vụ của họ đang làm vô vùng nguy hiểm.Ở nơi tản cư ông luôn nhớ về làng.những thiếu thốn này không ngăn cản được những chiếc xe vẫn chạy băng băng về phía trước.yêu làng .Tình yêu làng của ông càng được bộc lộ một cách sâu sắc và cảm động trong hoàn cảnh thử thách .với nhân vật chính là ông Hai .một lão nông hiền lành .có chút ngang tàng nhưng họ sống và chiến đấu vì Tổ Quốc.cho những chuyến xe thông suốt.phía trước ấy là miền Nam ruột thịt.Những chuyến hàng của họ đã góp phần tạo nên chiến thắng của dân tộc ta:chiến thắng mùa xuân năm 1975.Đúng là con đường của họ đang đi.hiên ngang. đau đớn :“Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại. Kim Lân đã đặt nhân vật vào tình huống gay gắt để bộc lộ chiều sâu tình cảm của nhân vật.hy vọng được nghe những tin tốt lành.nào ngờ biết tin dữ:“Cả làng Việt gian theo Tây ”.Từ phòng thông tin ra.yêu nước và gắn bó với kháng chiến . Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong tác phẩm “Làng ”của Kim Lân Kim Lân là nhà văn có vốn sống vô cùng phong phú và sâu sắc về nông thôn Việt Nam.nghe nhắc đến tên làng.ông Hai quay phắt lại.

thiêng liêng.niềm tin và tự hào về làng Dầu có bị lung lay nhưng niềm tin và Cụ Hồ và cuộc kháng chiến không hề phai nhạt.nước mắt “chảy ròng ròng trên hai má”.lúc nào cũng nơm nớp tưởng người ta đang để ý.Niềm tin.Cải chính cái tin làng chợ Dầu chúng tôi Việt gian theo Tây ấy mà .Ông mua cho con bánh rán đường rồi vội vã.Nói với con mà thực ra là đang trút nỗi lòng mình.là “cam chịu quay trở lại làm nô lệ cho thằng Tây”..có bao giờ dám đơn sai.vẫn muốn cùng con khắc cốt ghi tâm.ông nắm chặt hai tay lại mà rít lên: “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này ”.Đến đâu cũng chỉ mấy câu“Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ ! Đốt sạch !Đốt nhẵn ! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính.nỗi ngờ giằng xé trong ông.Ông đau đớn.đang bàn tán đến cái chuyện làng mình.người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước”.“chỉ ở nhà nghe ngóng binh tình”.Trong lúc tưởng tuyệt đường sinh sống ấy.“thế con ủng hộ ai ?”…Lời đứa con vang lên trong ông thiêng liêng mà giản dị:“Nhà ta ở làng Chợ Dầu”.Ông căm thù những kẻ theo Tây.Ông Hai đã lựa chọn một cách đau đớn và dứt khoát:“Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù!”..Dẫu cả làng Việt gian thì ông vẫn một lòng trung thành với kháng chiến.Nỗi ám ảnh.lật đật đi khoe với mọi người.cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát”.Tấm lòng của ông với làng.Suốt mấy ngày liền ông chẳng dám đi đâu. Trong tâm trạng bị dồn nén và bế tắc ấy.đau đớn.tủi hổ như chính ông là người có lỗi.Ông hỏi con những điều đã biết trước câu trả lời:“Thế nhà con ở đâu?”.ông thoáng có ý nghĩ quay về làng nhưng rồi lại gạt phắt ngay bởi “về làng tức là bỏ kháng chiến.Ông kiểm điểm lại từng người trong óc. Tình yêu làng lúc này đã lớn rộng thành tình yêu nước bởi dẫu tình yêu.tin đồn thất thiệt về làng Chợ Dầu được cải chính .chết thì chết có bao giờ dám đơn sai ”.Ông Hai sung sướng như được sống lại.Bởì thế mà ông càng xót xa.Dù đã xác định thế nhưng ông vẫn không thể dứt bỏ tình cảm của mình đối với quê hương.được người ta còn thương.day dứt.với Cụ Hồ … May thay.Ông xúc động.Ông đóng khăn áo chỉnh tề đi với người báo tin và khi trở về “cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi vui rạng rỡ hẳn lên ”.phản bội làng. thấy họ đều có tinh thần cả “có đời nào lại cam tâm làm cái điều nhục nhã ấy ”.Ông đau xót nghĩ đến cảnh “người ta ghê tởm.nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông.bỏ Cụ Hồ ”.“ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm !”…Những điều ấy ông đã biết.Ông mong “anh em đồng chí biết cho bố con ông.tuyệt vọng khi bà chủ nhà có ý đuổi gia đình ông với lý do không chứa người của làng Việt gian.ông chỉ còn biết tìm niềm an ủi trong lời tâm sự với đứa con trai nhỏ.nhìn đàn con nước mắt ông cứ giàn ra “ chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư?Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?”..với nước thật sâu nặng. tấm lòng bố con ông là như thế đấy.Về đến nhà ông chán chường “nằm vật ra giường”. Tình thế của ông càng trở nên bế tắc.Những suy nghĩ của ông như những lời nguyện thề son sắt..

vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông …Những cảnh sắc vốn quen thuộc gần gũi nhưung duường nhuư rất mới mẻ đối với anh .tự nhiên như cuộc sống cùng với những mâu thuẫn căng thẳng.Nhĩ để ý “thấy Liên mặc áo vá .ngôn ngữ đối thoại. Mất hết cả cơ nghiệp mà ông không hề buồn tiếc.Truyện ngắn của ông thưuờng chứa đựng những suy ngẫm trải nghiệm sâu sắc về con ngưuời và cuộc đời .tinh thần hy sinh vì cách mạng của người dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược .Bị cột chặt trên giuờng bệnh .sinh động.hạnh phúc.Đó là một niềm vui kỳ lạ.bằng trực giác .anh mới cảm nhận thấm thía về nguười vợ của mình .thể hiện một cách đau xót và cảm động tình yêu làng. “Bến quê ” là tác phẩm tiêu biểu cho đề tài đó . Qua nhân vật ông Hai ta hiểu thêm về vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược :Yêu làng.Có lẽ vì thế mà tác phẩm “Làng ” xứng đáng là một trong những truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại Suy nghĩ về nhân vật Nhĩ trong tác phẩm "BQ" Là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn học kháng chiến chống Mỹ .” “Ông cứ múa tay lên mà khoe với mọi người”.yêu nước và gắn bó với kháng chiến. Cách miêu tả chân thực.bởi một ngưuời “đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất ” lại chưua từng đặt chân lên “cái bờ bên kia sông Hồng ngay truước cửa sổ nhà mình ”. Toàn bộ câu chuyện xoay quanh nhân vật Nhĩ trong những ngày cuối đời .thậm chí còn rất sung sướng.yêu nước.anh nhận ra thời gian của mình chẳng còn bao lâu nữa .Mọi sinh hoạt của anh trông cả vào sự chăm sóc của vợ con .Bởi lẽ.Láo!Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả .con sông Hồng màu đỏ nhạt .. Căn bệnh liệt gắn chặt Nhĩ vào giưuờng bệnh . bức bối đã góp phần không nhỏ tạo nên thành công của câu chuyện.ánh nắng sớm .Ông khoe nhà mình bị đốt sạch. đồng thời còn thể hiện sự am hiểu và gắn bó sâu sắc của nhà văn với người nông dân và công cuộc kháng chiến của đất nước.đốt nhẵn như là minh chứng khẳng định làng ông không theo giặc.Nhĩ phát hiện ra vẻ đẹp lạ lùng của bãi bồi bên kia sông .độc thoại và độc thoại nội tâm đa dạng.Cảnh vật nơi ấy đẹp nhưu thơ nhưu hoạ :Những bông bằng lăng cuối mùa thưua thớt nhung đậm sắc .Chuỗi nghịch lý bắt đầu chính trong những ngày ấy .Nguyễn Minh Châu có nhiều những tìm tòi quan trọng góp phần đổi mới văn học nưu?c nhà .trong sự cháy rụi ngôi nhà của riêng ông là sự hồi sinh về danh dự của làng chợ Dầu anh dũng kháng chiến. Sáng hôm ấy .Chính vào lúc nhận ra vẻ đẹp và sự giàu có của bến quê cũng là lúc Nhĩ hiểu ra một cách đau xót .dồn đẩy.

Nhĩ đã tìm thấy được nơi nưưuơng tựa là gia đình trong những ngày này ”.bình dị mà sâu xa của cuộc sống .chân dung anh khác thưuờng “mặt mũi đỏ rựng .đó là lúc cuối đời khi phải nằm liệt trên giưuờng bệnh.kiếm tìm .Nhĩ bừng dậy nỗi khát khao cháy lòng và vô vọng là một lần đuược đặt chân lên bãi bồi bên kia sông . “những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve bên vai anh ”.Sự thấu hiểu muộn màng trong những ngày cuối đời dù sao cũng đem lại cho anh sự bình yên. ân hận : “Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm ”.bỏ qua và quên lãng nhất là lúc còn trẻ khi những khát vọng xa vời vẫy gọi .vô tình với tất cả những gì gần gụi xung quanh .Cũng trong buổi sáng hôm ấy.Với Nhĩ .Nhĩ xúc động mạnh .Anh không trách con vì “nó đã thấy gì hẫp dẫn bên kia sông đâu ”.Oái oăm thay . khi nhận ra vẻ đẹp qua ô cửa sổ . cho đến khi không còn khả năng đi lại mới phát hiện ra vẻ đẹp của bến quê cũng nhưu sự tảo tần và đức hy sinh của vợ . Không thể tự làm điều mình khao khát.Từ đó Nhĩ nghiệm ra một qui luật khá phổ biến của đời ngưuời “Con nguười ta trên đưuờng đời thật khó tránh đuợc những điều vòng vèo hoặc chùng chình”.anh nói với vợ những lời xót xa. ở cuối chuyện .đặt chân lên bãi phù sa màu mỡ .Giờ đây Nhĩ mới thực sự thấu hiểu và biết ơn vợ sâu sắc bởi “tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tảo tần và chịu đựng hy sinh từ bao đời xưa và cũng chính nhờ điều đó. mà sau nhiều tháng ngày bôn tẩu tìm kiếm. tin cậy sau cả một đời bôn tẩu .Trưuớc khi ốm anh chỉ biết đến những chân trời xa ngát với những công việc cao sang mà thờ ơ .đu nguười lên cửa sổ .Vì thế đó là sự thức tỉnh pha lẫn niềm ân hận xót xa : “Hoạ chăng chỉ có anh đã từng trải .Khi con đò sắp chạm vào bờ đất bên này .Nhĩ -con ngưuời của một thời huy hoàng.đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết mọi sự giàu có lẫn vẻ đep của bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia cả trong những nét tiêu sơ và cái điều riêng anh khám phá thấy giống nhuư một niềm say mê pha lẫn nỗi ân hận đau đớn ” .kể cả nguười vợ suốt một đời yêu thuương và tận tuỵ .đứa con không hiểu ưuớc muốn của cha .giơ cánh tay gầy guộc “khoát khoát y nhuư đang khẩn thiết ra hiệu cho một ngưuời nào đó ”.Phải chăng anh đang nôn nóng thúc giục con trai hãy mau hơn kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày ?Và duờng nhưu nó còn có ý nghĩa khái quát hơn :Muốn thức tỉnh mọi ngưuời vưuợt lên những cái vòng vèo hoặc chùng chình trên đưuờng đời để .khi Nhĩ tuưởng tuượng chính mình như một nhà thám hiểm đang chậm rãi đặt từng bưuớc chân lên mặt đất dấp dính phù sa . Với anh.những giá trị dễ bị ta vô tình .Nhĩ thu hết tàn lực .đã đi một cách miễn cưưuỡng và bị cuốn vào trò chơi phá cờ thế trên hè phố .Nhĩ nhờ con trai thay mình sang sông .Sự nhận thức này chỉ đến đưưuợc với ta khi đã từng trải .Cậu con trai có thể lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày.”.hai mắt long lanh chứa môt nỗi say mê đầy đau khổ ”. bây giờ đó thực sư? là miền đất xa lắc vì Nhĩ “lực bất tòng tâm ” ” .Khát khao đó mang ý nghĩa sâu sắc bởi đó chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững . Song nghịch lý của câu chuyện không chỉ có thế . cuốn nguười ta đi .

Nàng mang đầy đủ vẻ đẹp của một người phụ nữ lý tưởng “tính đã thuỳ mỵ nết na lại thêm có tư dung tốt đẹp ”.hứơng tới những giá trị đích thực vốn rất gần gũi bình dị mà bền vững ! Bằng cách tạo dựng chuỗi nghịch lý để nhân vật tự nhận thức.Nguyễn Dữ đã đặt những lời ca ngợi đẹp đẽ nhất về Vũ Nương vào miệng của chính mẹ chồng nàng khiến nó trở nên vô cùng ý nghĩa “sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức .xứ sở .xanh . đối với vợ thường phòng ngừa quá sức nhưng nàng khéo léo cư xử.“Chuyện người con gái Nam Xương” được rút trong tập những câu chuyện kỳ lạ đó .tinh tế .suy ngẫm của tác giả đã góp phần không nhỏ tạo nên những ấn t?ương riêng cho tác phẩm .suy ngẫm và cách xây dựng nhiều hình ảnh .chi tiết mang ý nghĩa biểu tưuợng tác giả đã tạo nên ý nghĩa sâu xa cho tác phẩm.Trong những ngày đoàn viên ít ỏi.giọng văn thầm trầm ẩn chứa những chiêm nghiệm . Những dòng cuối cùng của “Bến quê” khép lại nhuưng dưu âm từ những trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và con ngưuười dưuờng nhưu vẫn còn lan toả đâu đây.dâu thảo.Khi tiễn chồng đi lính.trân trọng. nàng thực sự là một người mẹ hiền.Càng đi sâu vào câu chuyện ta càng thấy vẻ đẹp của nàng được tác giả tập trung thể hiện rõ nét.Những ngày chồng đi xa.gần gũi của gia đình .chăm sóc thuốc thang tận tình khi mẹ chồng đau yếu. giữ gìn khuân phép nên gia đình không khi nào phải thất hoà.Phải nói rằng Nguyễn Dữ không có ý định cho Vũ Nương mang đức tính của một phụ nữ yêu nước hay một mỹ nhân nơi gác tía lầu son .dù Trương Sinh con nhà hào phú tính vốn đa nghi.giống dòng tươi tốt con cháu đông đàn.Vũ Nương là người phụ nữ bình dân vốn con kẻ khó có một khát khao bao trùm cả cuộc đời-Đó là thú vui nghi gia nghi thất.Nhân vật chính của tác phẩm là Vũ Nương đã để lại trong lòng người đọc niềm cảm thương sâu sắc.ma chay tế lễ chu tất khi mẹ chồng qua đời.Toàn bộ câu chuyện xoay quanh cuộc đời và số phận bi thảm của người con gái xinh đẹp.thức tỉnh trong ta sự trân trọng vẻ đẹp về những gì bình dị .mong ước lớn nhất của nàng không phải là công danh phú quí mà là khao khát ngày chồng về “mang theo hai chữ bình yên thế là đủ rồi”.Ngòi bút miêu tả thiên nhiên đẹp .nết na tên là Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương. Suy nghĩ về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”của Nguy Trong văn học Việt Nam đã có không ít tác phẩm mang tên gọi truyền kỳ hoặc có tính chất truyền kỳ song được tôn vinh là “ thiên cổ kỳ bút” thì cho đến nay chỉ có một “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ .ngợi ca của tác giả đối với con người đặc biệt là người phụ nữ. Tác phẩm là tiếng nói đồng cảm.quê hưuơng .

lời văn thống thiết như cực tả nỗi niềm đồng cảm.dâu thảo. hiếu nghĩa.Người thiếu phụ tận tuỵ .ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”.Nhưng tai ác thay .điều đâu bay buộc tiếng chịu nhuốc nhơ.đánh đập và đuổi nàng đi bất chấp sự can ngăn của xóm giềng và lời than rớm máu của người vợ trẻ. vô nhân đạo thì còn mãi.tận tuỵ và chung tình đó đáng ra phải được đền bù xứng đáng bằng một gia đình êm ấm. ở hiền ắt sẽ gặp lành? Điều gì đã khiến người phụ nữ đẹp người.tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng .một ngày kia chồng nàng đi chinh chiến trở về.tuyệt vọng bởi “bình rơi.một người yêu mến cuộc sống gia đình và làm mọi việc để giữ gìn.đức hạnh của nàng là đức hạnh của một người vợ hiền.người thiếu phụ trẻ trung xinh đẹp đó một lòng một dạ chờ chồng.Vũ Nương là con người của gia đình.sen rũ trong ao.liễu tàn trước gió ”.thiếp nếu đoan trang giữ tiết.mưa tan. phúc lộc đề huề. Người phụ nữ dịu dàng .xót thương của tác giả đối với người thiếu phụ chung tình mà bạc mệnh! Thương nàng ông sáng tạo ra một thế giới thần tiên êm đềm trong chốn làng mây cung nước để Vũ Nương được sống như một nàng tiên .trâm gãy. Đó còn là lễ giáo phong kiến hà khắc với tư tưởng nam quyền độc đoán đã biến Trương Sinh thành một bạo chúa gia đình… Để ngàn đời trên bến Hoàng Giang. căm ghét xã hội phong kiến bất lương.Không có cơ hội để thanh minh.vào đất xin làm cỏ Ngu Mĩ…” Với nàng .Trong suốt ba năm chồng đi chinh chiến.hiếu nghĩa .Đến bến Hoàng Giang.xinh đẹp .mắng nhiếc.nghe lời con trẻ đinh ninh là vợ hư.trái tim tan nát.Trong cái nhìn nâng niu trân trọng của ông.đẹp nết đó phải tìm đến cái chết bi thảm?Đó chính là do chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã làm cho gia đình phải li tán.hiếu nghiã ấy còn là một người vợ thuỷ chung đối với chồng . Suy nghĩ về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam X .trinh bạch gìn lòng.người thiếu phụ đau khổ nguyền rằng:“Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu chồng con rẫy bỏ. khắc khoải niềm thương và nỗi ám ảnh dai dẳng về một người thiếu phụ trẻ trung.vun vén cho hạnh phúc. trân trọng xã hội tốt đẹp mà em đang sống hôm nay.cái chết là hành động quyết liệt cuối cùng cần phải có để bảo toàn danh dự .mây tạnh.phẩm hạnh của nàng.kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.Dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ.nuôi con:“cách biệt ba năm giữ gìn một tiết.Vũ Nương được mọi người yêu mến bằng tính tình.Nhịp văn dồn dập .thần sông có linh xin ngài chứng giám.Có lẽ vì thế mà em càng yêu mến.Phải chăng đó cũng chính là dụng ý của tác giả:người tốt sẽ được được đền bù xứng đáng. chung tình mà bạc mệnh ! Câu chuyện về nàng Vũ Nương khép lại nhưng dư âm về sự bất bình.xuống nước xin làm ngọc Mỵ Nương.

Càng đi sâu vào câu chuyện ta càng thấy vẻ đẹp của nàng được tác giả tập trung thể hiện rõ nét.Phải nói rằng Nguyễn Dữ không có ý định cho Vũ Nương mang đức tính của một phụ nữ yêu nước hay một mỹ nhân nơi gác tía lầu son .một người yêu mến cuộc sống gia đình và làm mọi việc để giữ gìn.Nguyễn Dữ đã đặt những lời ca ngợi đẹp đẽ nhất về Vũ Nương vào miệng của chính mẹ chồng nàng khiến nó trở nên vô cùng ý nghĩa “sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức .chăm sóc thuốc thang tận tình khi mẹ chồng đau yếu.Những ngày chồng đi xa.phẩm hạnh của nàng.mong ước lớn nhất của nàng không phải là công danh phú quí mà là khao khát ngày chồng về “mang theo hai chữ bình yên thế là đủ rồi”.Người thiếu phụ tận tuỵ .Không có cơ hội để thanh minh.Toàn bộ câu chuyện xoay quanh cuộc đời và số phận bi thảm của người con gái xinh đẹp.Nhưng tai ác thay .Nhân vật chính của tác phẩm là Vũ Nương đã để lại trong lòng người đọc niềm cảm thương sâu sắc. giữ gìn khuân phép nên gia đình không khi nào phải thất hoà.dâu thảo.liễu tàn trước .Vũ Nương là con người của gia đình.dù Trương Sinh con nhà hào phú tính vốn đa nghi.một ngày kia chồng nàng đi chinh chiến trở về.Trong những ngày đoàn viên ít ỏi.nuôi con:“cách biệt ba năm giữ gìn một tiết.ngợi ca của tác giả đối với con người đặc biệt là người phụ nữ. phúc lộc đề huề.Trong văn học Việt Nam đã có không ít tác phẩm mang tên gọi truyền kỳ hoặc có tính chất truyền kỳ song được tôn vinh là “ thiên cổ kỳ bút” thì cho đến nay chỉ có một “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ .ma chay tế lễ chu tất khi mẹ chồng qua đời. nàng thực sự là một người mẹ hiền.hiếu nghiã ấy còn là một người vợ thuỷ chung đối với chồng .đánh đập và đuổi nàng đi bất chấp sự can ngăn của xóm giềng và lời than rớm máu của người vợ trẻ.giống dòng tươi tốt con cháu đông đàn.xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.mây tạnh.người thiếu phụ trẻ trung xinh đẹp đó một lòng một dạ chờ chồng. Người phụ nữ dịu dàng .nghe lời con trẻ đinh ninh là vợ hư.Vũ Nương là người phụ nữ bình dân vốn con kẻ khó có một khát khao bao trùm cả cuộc đời-Đó là thú vui nghi gia nghi thất. đối với vợ thường phòng ngừa quá sức nhưng nàng khéo léo cư xử.Dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ.“Chuyện người con gái Nam Xương” được rút trong tập những câu chuyện kỳ lạ đó .hiếu nghĩa .Trong suốt ba năm chồng đi chinh chiến.Khi tiễn chồng đi lính.trái tim tan nát.nết na tên là Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương.tận tuỵ và chung tình đó đáng ra phải được đền bù xứng đáng bằng một gia đình êm ấm.trân trọng.Nàng mang đầy đủ vẻ đẹp của một người phụ nữ lý tưởng “tính đã thuỳ mỵ nết na lại thêm có tư dung tốt đẹp ”.mưa tan.trâm gãy.tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng .sen rũ trong ao.Trong cái nhìn nâng niu trân trọng của ông.Vũ Nương được mọi người yêu mến bằng tính tình.ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”.mắng nhiếc.đức hạnh của nàng là đức hạnh của một người vợ hiền.vun vén cho hạnh phúc.tuyệt vọng bởi “bình rơi.dâu thảo. Tác phẩm là tiếng nói đồng cảm.

thần sông có linh xin ngài chứng giám.gió ”. nuôi nấng ta khôn lớn từng ngày vượt qua bao gian lao. ở hiền ắt sẽ gặp lành? Điều gì đã khiến người phụ nữ đẹp người.trinh bạch gìn lòng. bồi hồi. thử thách của cuộc đời..vào đất xin làm cỏ Ngu Mĩ…” Với nàng .đẹp nết đó phải tìm đến cái chết bi thảm?Đó chính là do chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã làm cho gia đình phải li tán. Bởi mẹ chính là người đã chăm sóc.người thiếu phụ đau khổ nguyền rằng:“Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu chồng con rẫy bỏ. vô nhân đạo thì còn mãi.điều đâu bay buộc tiếng chịu nhuốc nhơ.xinh đẹp . Suy nghĩ về tình mẹ qua 2 đoạn thơ . Vì vậy mà khi viết về mẹ Chế Lan Viên có câu : .xuống nước xin làm ngọc Mỵ Nương. Khi viết về người mẹ Chế Lan Viên đã viết : “Con zù lớn vẫn là con của mẹ Đy hết đời lòng mẹ vẫn theo con” (Con cò – Chế Lan Viên) Nguyễn Duy cũng đã viết : “Ta đy trọn kiếp con người Cũng không đy hết mấy lời mẹ ru” ( Nỗi buồn nhớ mẹ ta xưa – Nguyễn Duy) Em hãy nêu suy nghĩ về tình mẹ.. căm ghét xã hội phong kiến bất lương. hiếu nghĩa.thiếp nếu đoan trang giữ tiết. vượt qua tất cả những khó khăn. trân trọng xã hội tốt đẹp mà em đang sống hôm nay.Đến bến Hoàng Giang. Bài làm Mỗi khi nhắc về mẹ. vất vả.cái chết là hành động quyết liệt cuối cùng cần phải có để bảo toàn danh dự .Có lẽ vì thế mà em càng yêu mến. chắc hẳn trong lòng mỗi con người chúng ta ko ai là ko khỏi xao xuyến.Nhịp văn dồn dập .xót thương của tác giả đối với người thiếu phụ chung tình mà bạc mệnh! Thương nàng ông sáng tạo ra một thế giới thần tiên êm đềm trong chốn làng mây cung nước để Vũ Nương được sống như một nàng tiên . chung tình mà bạc mệnh ! Câu chuyện về nàng Vũ Nương khép lại nhưng dư âm về sự bất bình.Phải chăng đó cũng chính là dụng ý của tác giả:người tốt sẽ được được đền bù xứng đáng.lời văn thống thiết như cực tả nỗi niềm đồng cảm. Đó còn là lễ giáo phong kiến hà khắc với tư tưởng nam quyền độc đoán đã biến Trương Sinh thành một bạo chúa gia đình… Để ngàn đời trên bến Hoàng Giang. khắc khoải niềm thương và nỗi ám ảnh dai dẳng về một người thiếu phụ trẻ trung.

Và ko ai biết mẹ con ta ở chốn nào”. bất hiếu. manh áo…sự vất vả.Ta-go đã viết “ Con sẽ là sóng và mẹ sẽ là bến bờ kì lạ. Như R. Công ơn của mẹ ko j` có thể sánh bằng. Mẹ theo từng bước chân ta từ khi còn bé cho tới lúc trưởng thành. Hãy để ý những đứa trẻ bé bỏng còn phụ thuộc nhiều vào mẹ ta sẽ thấy đy đâu chúng cũng chỉ theo mẹ. Mẹ và con có một sự liên kết mật thiết.p. chăm bẵm ta từ khi ta mới chạp chững những bước đầu tiên cho đến khi ta bước những bước đy vững chắc trên con đường đời. “Mẹ ơi” hai từ thiết tha ấy luôn đc chúng thốt lên mỗi khj vui hay buồn. con lăn. đối xử tệ bạc với cha mẹ. che chở. làm những điều mà ko ai có thể ngờ tới. Vậy mà trong xã hội hiện nay. luôn có một sợi dây vô hình nối . bảo vệ cho con. mẹ long đong sớm chiều vì công việc để lo cho con đủ miếng cơm. một thứ tình cảm đẹp đến mãnh liệt. sợ hãi hay vui mừng chúng cũng chỉ gọi mẹ. lăn.“Con zù lớn vẫn là con của mẹ Đy hết đời lòng mẹ vẫn theo con” Hay như Nguyễn Duy đã viết : “Ta đy trọn kiếp con người Cũng không đy hết mấy lời mẹ ru” Tình mẹ cao cả và bao la. trìu mến. mẹ lận đận sớm hôm để lo cho cuộc sống con đc trọn vẹn. sẵn sàng hy sinh tất cả cho kon đc h. Tình mẹ thiêng liêng và bất diệt như vậy đó. lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào long mẹ. thay đổi ra sao thỳ con vẫn là con của mẹ. khó khăn để cho kon khôn lớn nên người. lời ru của mẹ là những giai điệu êm dịu. Mẹ như biển cả ôm lấy những ngọn sóng bé bỏng là con. vấn đề đang được xã hội lên án gay gắt. niếm trải bao cay đắng. một số người con ko hiểu đc điều ấy. suốt cuộc đời mẹ sẽ luôn ở bên con. con là do mẹ sjnh ra. Đâu có khác nào tự lấy dao cứa vào da thịt mình ? Mẹ là thân cò lặn lội qua bao sóng gió. mẹ thức trắng đêm trông nom khi con ốm. Mẹ yêu con hơn cả bản thân mình. sự yêu thương của mẹ đều được gửi gắn vào những lời ru thiết tha ấy. Để “Con zù lớn vẫn là con của mẹ” và “Đy hết đời lòng mẹ vẫn theo con”. tận tụy ấy ko thể kể hết đc bằng lời. Mẹ nuôi nấng. đẹp đẽ nhất của đời người. Con có “đy trọn cả kiếp người” . Những con người đó liệu có còn lương tâm hay ko khi họ đối xử như vậy với chính ruột thịt của mình. Niềm mong ước. mẹ chính là bến bờ vô tận luôn mở rộng lòng để con sà vào đó. Cho zù con có khôn lớn nhường nào. đối với chúng mẹ là tất cả. Mẹ hi sinh tất cả để giành cho con những gì tốt đẹp nhất. ngọt bùi thỳ “cũng không đy hết đc những lời ru của mẹ”.

đẹp đẽ.. hình ảnh con cò cũng được mươn để ví cho hình ảnh những người phụ nữ. đồng chí… nhưng ko có thứ tình cảm nào có thể vượt qua đc sự thiêng liêng và ấm áp của tình mẫu tử. Đặc biệt là hình ảnh người mẹ.một trong những bài thơ tiêu biểu và nổi tiếng của ông. Phật tổ có câu: “ Nếu ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc Đừng để vương buồn lên mắt mẹ nghe không !” Những ai còn mẹ. ở các câu bốn và câu tám chữ. cảm ơn mẹ đã sinh ra ta. con nào biết đến "con cò". êm ái.chặt con với mẹ từ khj con được sinh ra. dịu dàng. Câu ca dao khá quen thuộc với người Việt Nam. khi con còn nằm trong vòng tay của mẹ. Các nhà văn giành hết tình cảm của mình vào các tác phẩm để tặng mẹ . sóng gió của cuộc đời.. còn đc ở bên mẹ. những dòng thơ thật nhẹ nhàng. nhà thơ trữ tình Chế Lan Viênđã sử dụng hình ảnh cánh có trong những câu ca dao để ca ngợi tình mẹ thiêng liêng. êm ái. đừng để mẹ phải buồn long. bay về đồng đăng. và sợi dây vô tình ấy chính là tình yêu thương mẹ giành cho con sẽ bên con đến suốt cuộc đời. một thứ tình cảm bất diệt. Con người chúng ta ai cũng đều có rất nhiều thứ tình cảm đẹp như tình bạn. con còn bế trên tay . cũng có lẽ vì thế mà năm 1962. người con cũng ko thể gạt bỏ đc. điệp ngữ "con cò" được nhắc đi nhắc lại như là lời ru ngân nga.. tình mẹ. Làm sao có thể gạt bỏ một thứ tình cảm gắn chặt với cuộc đời ta kể từ khj ta bắt đầu làm quen với cuộc đời. hình ảnh con cò đã được chế lan viên sử dụng làm hình tượng bao trùm lên toàn bài thơ mà đâu đó thấp thoáng có hình ảnh của mẹ. thấm đẫm tình thương của mẹ. "con vạc". thiêng liêng và bất diệt sẽ theo ta đến suốt cuộc đời. Tình mẫu tử ấp áp. quý giá và sâu sắc nhất mà chúng ta có thể tạo ra để tặng cho mẹ của mình. tình đồng đội... Bỏi con người ta có thể gạt bỏ những tình cảm kja bởi một lý do nào đó nhưng đối với tình mẫu tử thỳ cho zù có bất cứ lý do j` đy chăng nữa. con nào biết đến "những cành mềm mẹ hát" nhưng mẹ đã mang cánh cò đến với con trong những lời ru ấm êm của mẹ. Hãy cảm ơn vì điều đó. cho ta đc niếm trải hương vị của cuộc đời. như là lời mẹ muốn kể cho con nghe về hình ảnh con cò bằng chất giọng mượt mà. Hãy luôn gìn giữ nó bởi nó chính là nguồn động lực lớn nhất giúp ta vượt qua những khó khăn. cao cả qua bài thơ "Con cò". sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân. Bay từ cửa phủ. còn với mỗi chúng ta thỳ long hiếu thảo luôn là những tác phẩm đẹp đẽ.. còn đc mẹ yêu thương che trở thỳ hãy hiếu thảo với mẹ. hãy làm sao cho xứng với những j` mẹ đã làm cho ta. có hình ..

mẹ là người cho con sự sống. ôi! tình mẹ bao la biết mấy. mẹ muốn con hãy ngủ ngon để luôn nhìn thấy cánh cò bay lượn không biết mỏi vì đã có mẹ mãi ở bên vỗ về. cò "xa tổ". đất nước và rồi con sẽ hiểu được tình yêu mà mẹ dành cho con bao la. mỗi lần con vấp ngã. trong lời ru của mẹ không chỉ mang đến cho con những cánh cò mà nó còn mang đến cho con hơi xuân ấm áp. mẹ nâng niu con trong từng câu hát và cũng là ấp iu nâng giấc con thơ. cò "sợ xáo măng" gợi lên cho ta biết bao hình ảnh. gian khổ. của người phụ nữ một đời vất vả với cuộc sống miêu sinh đầy khó khăn. cò "sợ gặp cành mềm".và cánh cò ở đây lại là khát vọng sáng tạo. mẹ luôn mong con được hưởng trọn tình yêu thương của tuổi ấu thơ. ân cần của mẹ đối với con. Mai khôn lớn con theo cò đi học ……. dòng sữa trắng trong ngọt ngào của mẹ đưa con vào giấc ngủ say nồng. con sẽ lớn lên và đi trên con đường của chính mình. Cánh cò trong những lời ru lại mang những suy nghĩ triết lý sâu sắc. mẹ sẽ luôn ở bên con. cho dù khi con còn tấm bé cho đến lúc trưởng thành. sẽ là động lực để con đứng dậy và tiếp tục bước đi trên chính đôi chân của mình.ảnh của một người một đời tần tảo sớm khuya nuôi con khôn lớn. Và mẹ lại vỗ về và chắp cánh cho những ước mơ của con trong câu hát ru ấy và trong cả những suy nghĩ của con. ngàn khe nhưng có bao giờ con hiểu hết lòng của mẹ: . Con sẽ không ở bên mẹ nữa nhưng con biết có 1 chân lý cuộc đời không bao giờ thay đổi: dù ở gần con dù ở xa con ……. con có đi hết trăm núi. Một sự nhân hoá ở cánh cò để diễn tả cho sự chăm chút. cánh của cò hai đứa đắp chung đôi. ……… trước hiên nhà và trong hơi mát câu văn. ngủ yên! ngủ yên! ngủ yên cho cò trắng đến làm quen ……. ý chí vươn lên. nuôi con lớn khôn cả về thể xác lẫn tâm hồn: “Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ” . hình ảnh con cò "ăn đêm". Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con. thế nhưng mẹ vẫn luôn muốn hát cho con nghe về tình yêu quê hương.. nhưng dù con có khôn lớn. che chở: "Sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân". sẽ cùng nhau sánh bước trên đường đời tương lai. hình ảnh cò lẻ loi một mình kiếm ăn trong đêm tối nhưng phải chăng đó cũng lả hình ảnh của mẹ. mẹ vẫn luôn dõi theo những bước đi của con trên đường đời. mẹ luôn muốn con yên tâm chìm vào giấc ngủ. vô tận đến nhường nào. Con và cò là bạn và cũng là con của mẹ.

hình ảnh mẹ luôn đẹp nhất và rực rỡ trong lòng chúng con. vì con mà đã nhiều đêm mẹ khóc thầm không ngủ. chế lan viên đã mượn hình ảnh ấy ví cho hình tượng của người mẹ. nó sẽ theo con suốt cuộc đời bởi vì đâu đó trong hình ảnh cánh cò kia đó là hình ảnh của người mẹ con kính yêu thế đấy. ai đã hiểu cho tình thương của mẹ. rồi có những ngày con đau ốm. đã từng nếm trải nhiều lẽ của cuộc đời thì bao giờ con cũng là con của mẹ và mẹ luôn mong muốn che chở. lời ru là một khúc hát yêu thương mà mẹ dành cho con. không chỉ có thế. là lúc mẹ gửi gắm trong cánh cò cả cuộc đời mẹ. mặc dù CLV không nhắc đến những nếm trải của cuộc đời mẹ song những câu thơ của ông cho ta hiểu thêm rằng trong cánh cò kia chất chứa những nỗi nông sâu của cuộc đời mẹ. vậy mà mẹ luôn vì con. Cho dù con đã trưởng thành. vì con mà mẹ phải chịu đựng tất cả. mẹ luôn muốn nhận những gì đau khổ và vất vả nhất về mình vì con. mẹ luôn túc trực suốt đêm không chợp mắt. chỉ là một con cò trong lời mẹ hát thôi thế nhưng có biết bao điều vừa gần gũi vừa sâu xa. trước tình mẹ bao la vô tận đến thế. và hình ảnh cò đã dần đi vào tầm thức của tuổi thơ con. cao đẹp. tất cả những gì mẹ mang đến cho con đều là những tình thương sâu thẳm tận đấy lòng của mẹ. mẹ luôn mong người bị ốm hôm nay không phải là con mà chính là mẹ. mẹ luôn là người có tấm lòng bao dung và độ lượng nhất.con đi trăm núi ngàn khe chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm. trong mỗi chúng ta cũng đã không ít lần hiểu lầm mẹ. tất cả. ai đã biết. tình mẹ thật thiêng liêng. đến hát quanh nôi. hình ảnh những con cò thật giản dị nhưng nhờ sự khéo léo của mình. Hai tiếng “à ơi” quen thuộc trong những lời ru được cất lên thật mượt mà. m ẹ đã hoá thân thành cánh cò mang nhiều ý nghĩa sâu xa. . mẹ luôn tha thứ cho những lỗi lầm của con để mong con có thể vững bước trên đường đời. nhưng chúng ta ai nào có biết tâm trạng mẹ lúc ấy. hối hận vì những lần đã hiểu lầm mẹ. có những cay đắng lẫn ngọt bùi. nhưng bất chợt lại cảm thấy hối hận biết bao. tội nghiệp. kết tụ sự hi sinh. thế nhưng. Khi cất lên những lời hát ru.một hình tượng bất tử. lại một lần nữa ta đã hiểu được sự chịu đựng của mẹ như thế nào. mẹ khóc vì thương cho đứa con bé bỏng. gian khổ để những lời yêu thương càng thêm sâu sắc. mẹ lại khóc. À ơi! một con cò thôi ……. ta đã cảm động biết bao. một triết lý của cuộc sống nhưng sao vẫn rất nhẹ nhàng. bao dung con như khi con còn thơ bé. ai nào có biết mẹ đã khóc nhiều như thế. người phụ nữ việt nam . thật ra.

người đọc vẫn lây lan cảm giác của cậu bé sớm phải chịu thiếu thốn tình cảm. Đáng sợ hơn. phải bỏ con cái đi tha phương cầu thực. đẹp nhất. những trang viết ấy lại giúp chúng ta hiểu ra một điều thật tự nhiên giản dị: Mẹ là người chỉ có một trên đời. nếu chỉ nhìn vào bề ngoài cuộc sống của cậu bé Hồng. bao giờ mẹ cũng là người tốt nhất. người ta nhớ ngay một giọng văn như trút cả bao xúc động đắng đót vào trong những câu chuyện của ông. mang theo cái dư vị đắng chát của tuổi thơ khát khao tình mẹ. Nhưng đời nào lòng thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến…” Nhưng ta cũng nhận ra những vết thương lòng đau nhói mà bé Hồng đã sớm phải gánh chịu. cậu đã trở thành tấm bia hứng chịu thay . Hồi ký “Những ngày thơ ấu” là kỷ niệm xót xa của cậu bé Hồng. sự tàn nhẫn ấy lại dành cho đứa cháu ruột vô tội của mình. cậu bé Hồng đã phải sống trong cảnh hắt hủi ghẻ lạnh đến cay nghiệt của chính những người trong họ hàng. nhắc đến mẹ tôi. Sự tra tấn tinh thần thật ghê gớm. chết rục bên bàn đèn thuốc phiện. cô chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi.cậu bé sinh ra trong một gia đình bất hạnh: người cha nghiện ngập rồi chết mòn.sưu tầm TLV số 6 suy nghĩ của em về tình mẫu tử trong "trong lòng mẹ" của Nguyên Hồng Nói đến Nguyên Hồng. Đoạn trích Trong lòng mẹ là hồi ức đan xen cay đắng và ngọt ngào của chính nhà văn . để rồi chợt nhận ra: tình mẫu tử là nguồn sức mạnh thiêng liêng và diệu kỳ. khi đọc lại những trang viết này. Tình cảm của đứa con đã giúp bé vượt qua những thành kiến mà người cô đã gieo rắc vào lòng cậu “Vì tôi biết rõ. là nguồn an ủi và chở che giúp cho đứa trẻ có thể vượt lên bao đắng cay tủi nhục và bất hạnh. người mẹ cùng túng phải đi tha phương cầu thực. Kỳ diệu thay. tình mẹ con là mối dây bền chặt không gì chia cắt được. Những diễn biến tâm trạng của bé Hồng trong câu chuyện đã được thuật lại bằng tất cả nỗi niềm đau thắt vì những ký ức hãi hùng kinh khiếp của tuổi thơ. luôn luôn “tươi cười” – khiến hình dung đến loại người “bề ngoài thơn thớt nói cười – mà trong nham hiểm giết người không dao”. Đối với bé Hồng. Tấm lòng trẻ thơ ấy thật đáng quí. Sức chịu đựng của một cậu bé cũng có chừng mực. Ta chứng kiến và cảm thương cho từng khoảnh khắc đớn đau. Trước khi gặp mẹ: Nói một cách công bằng. có thể nói cậu bé ấy vẫn còn may mắn hơn bao đứa trẻ lang thang vì còn có một mái nhà và những người ruột thịt để nương tựa sau khi cha mất và mẹ bỏ đi. Cậu bé phải đối mặt với bà cô cay nghiệt. nợ nần cùng túng quá. Nhưng liệu có thể gọi là gia đình không khi chính những người thân – mà đại diện là bà cô ruột lại đóng vai trò người giám hộ cay nghiệt. một người đàn bà đã bị cái tội là goá chồng. Cho đến tận bây giờ.

có lẽ mỗi một người trong chúng ta cũng sẽ cảm nhận được tình me giống như cậu bé Hồng: “Mẹ tôi vừa kéo tay tôi. Ta xúc động biết bao nhiêu trước khoảnh khắc hồi hộp lo lắng của cậu bé khi sợ mình nhận nhầm mẹ. an ủi.cảm giác được chở che. Dường như khoảnh khắc cười dài trong tiếng khóc kia chứa chất sự phẫn nộ và khinh bỉ không cần giấu giếm Trong thâm tâm. ta lại càng căm uất sự ghẻ lạnh của người đời trước những số phận bất hạnh. khoé mắt tôi đã cay cay” Dù đã kìm nén hết mức nhưng những lời độc ác kia vẫn đạt được mục đích khi đã lấy được những giọt nước mắt tủi nhục của một đứa trẻ không đủ sức tự vệ . mới thấy mẹ có một êm dịu vô cùng”. Thật đẹp khi chúng ta đọc những câu văn. là sự diệu kỳ giúp cậu bé vượt lên nỗi cay đắng của những ngày xa mẹ. thành kiến của người đời: “Tôi lại im lặng cúi đầu xuống đất: lòng tôi thắt lại. khi cậu bé có được cảm giác an toàn và được chở che trong vòng tay mẹ. Hồi ký “Những ngày thơ ấu” là kỷ niệm xót xa của cậu bé Hồng. Có lẽ không cần phải bình luận thêm nhiều __________________ suy nghĩ của em về tình mẫu tử trong "trong lòng mẹ" của Nguyên Hồng Nói đến Nguyên Hồng. áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ. Cho đến tận bây giờ.cho mẹ những ghẻ lạnh. người đọc vẫn lây lan cảm giác của cậu bé sớm phải chịu thiếu thốn tình cảm. tràn trề cảm giác hạnh phúc:“Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ. Linh cảm và tình yêu dành cho mẹ đã không đánh lừa cậu. xoa đầu tôi hỏi thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở”. để rồi chợt nhận ra: tình mẫu tử là nguồn sức mạnh thiêng liêng và diệu kỳ. người ta nhớ ngay một giọng văn như trút cả bao xúc động đắng đót vào trong những câu chuyện của ông. là nguồn an ủi và . Không khóc sao được. để cậu bé được thoả lòng mong nhớ và khát khao bé nhỏ của mình. bảo bọc. và gãi rôm ở sống lưng cho. mang theo cái dư vị đắng chát của tuổi thơ khát khao tình mẹ. với trò tra tấn gặm nhấm dần niềm tin con trẻ. bất chấp những thành kiến ác độc: “Chỉ vì tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi. Mẹ đã trở về cùng đứa con thân yêu. bởi lẽ niềm khao khát được gặp lại mẹ lúc nào cũng thường trực trong lòng cậu bé. để người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm. Từ nhận thức non nớt. Liệu ta có hoà chung giọt nước mắt này chăng: “Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đìa ở cằm và cổ”. Ta chợt ghê sợ trước loại người như bà cô – họ vẫn lẩn quất đâu đó quanh ta. Hình ảnh mẹ qua những trang viết của nhà văn thật tươi tắn sinh động. để đền đáp lại là cảm giác của đứa con trong lòng mẹ . Mỗi khi đứng trước mẹ. khi đọc lại những trang viết này. khi những uất ức nén nhịn có dịp bùng phát. được thương yêu. cậu bé ấy cũng đã kiên quyết bảo vệ mẹ mình. để sinh nở một cách giấu giếm… Tôi cười dài trong tiếng khóc”. Càng thương cho cậu bé Hồng. liệu rằng cậu bé ấy có khi nào oán trách mẹ mình đã nhẫn tâm bỏ con không? Có lẽ không bao giờ.

những trang viết ấy lại giúp chúng ta hiểu ra một điều thật tự nhiên giản dị: Mẹ là người chỉ có một trên đời. Liệu ta có hoà chung giọt nước mắt này chăng: “Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đìa ở cằm và cổ”. Sức chịu đựng của một cậu bé cũng có chừng mực. nhắc đến mẹ tôi. Sự tra tấn tinh thần thật ghê gớm. Những diễn biến tâm trạng của bé Hồng trong câu chuyện đã được thuật lại bằng tất cả nỗi niềm đau thắt vì những ký ức hãi hùng kinh khiếp của tuổi thơ. người mẹ cùng túng phải đi tha phương cầu thực. tình mẹ con là mối dây bền chặt không gì chia cắt được. Tình cảm của đứa con đã giúp bé vượt qua những thành kiến mà người cô đã gieo rắc vào lòng cậu “Vì tôi biết rõ. Từ nhận thức non nớt. nợ nần cùng túng quá. thành kiến của người đời: “Tôi lại im lặng cúi đầu xuống đất: lòng tôi thắt lại. sự tàn nhẫn ấy lại dành cho đứa cháu ruột vô tội của mình. cô chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi. chết rục bên bàn đèn thuốc phiện.chở che giúp cho đứa trẻ có thể vượt lên bao đắng cay tủi nhục và bất hạnh. Kỳ diệu thay. Đoạn trích Trong lòng mẹ là hồi ức đan xen cay đắng và ngọt ngào của chính nhà văn . Tấm lòng trẻ thơ ấy thật đáng quí. với trò tra tấn gặm nhấm dần niềm tin con trẻ. khoé mắt tôi đã cay cay” Dù đã kìm nén hết mức nhưng những lời độc ác kia vẫn đạt được mục đích khi đã lấy được những giọt nước mắt tủi nhục của một đứa trẻ không đủ sức tự vệ . ta lại càng căm uất sự ghẻ lạnh của người đời trước những số phận bất hạnh. phải bỏ con cái đi tha phương cầu thực. Cậu bé phải đối mặt với bà cô cay nghiệt. Đáng sợ hơn. cậu đã trở thành tấm bia hứng chịu thay cho mẹ những ghẻ lạnh. cậu bé ấy cũng đã kiên quyết bảo vệ mẹ mình. bao giờ mẹ cũng là người tốt nhất. Đối với bé Hồng. Trước khi gặp mẹ: Nói một cách công bằng. nếu chỉ nhìn vào bề ngoài cuộc sống của cậu bé Hồng. Nhưng liệu có thể gọi là gia đình không khi chính những người thân – mà đại diện là bà cô ruột lại đóng vai trò người giám hộ cay nghiệt. có thể nói cậu bé ấy vẫn còn may mắn hơn bao đứa trẻ lang thang vì còn có một mái nhà và những người ruột thịt để nương tựa sau khi cha mất và mẹ bỏ đi. Ta chứng kiến và cảm thương cho từng khoảnh khắc đớn đau. Ta chợt ghê sợ trước loại người như bà cô – họ vẫn lẩn quất đâu đó quanh ta. Càng thương cho cậu bé Hồng.cậu bé sinh ra trong một gia đình bất hạnh: người cha nghiện ngập rồi chết mòn. Nhưng đời nào lòng thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến…” Nhưng ta cũng nhận ra những vết thương lòng đau nhói mà bé Hồng đã sớm phải gánh chịu. một người đàn bà đã bị cái tội là goá chồng. luôn luôn “tươi cười” – khiến hình dung đến loại người “bề ngoài thơn thớt nói cười – mà trong nham hiểm giết người không dao”. đẹp nhất. bất chấp những thành kiến ác độc: “Chỉ vì tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những . cậu bé Hồng đã phải sống trong cảnh hắt hủi ghẻ lạnh đến cay nghiệt của chính những người trong họ hàng.

khi những uất ức nén nhịn có dịp bùng phát. xoa đầu tôi hỏi thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở”.thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi. mới thấy mẹ có một êm dịu vô cùng”. Không khóc sao được. Thật đẹp khi chúng ta đọc những câu văn. là sự diệu kỳ giúp cậu bé vượt lên nỗi cay đắng của những ngày xa mẹ. Mẹ đã trở về cùng đứa con thân yêu. Linh cảm và tình yêu dành cho mẹ đã không đánh lừa cậu. Có lẽ không cần phải bình luận thêm nhiều "Tri thức là sức mạnh" . để đền đáp lại là cảm giác của đứa con trong lòng mẹ . Mỗi khi đứng trước mẹ. Dường như khoảnh khắc cười dài trong tiếng khóc kia chứa chất sự phẫn nộ và khinh bỉ không cần giấu giếm Trong thâm tâm. bảo bọc. tràn trề cảm giác hạnh phúc:“Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ. để người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm. Hình ảnh mẹ qua những trang viết của nhà văn thật tươi tắn sinh động. để sinh nở một cách giấu giếm… Tôi cười dài trong tiếng khóc”. được thương yêu. liệu rằng cậu bé ấy có khi nào oán trách mẹ mình đã nhẫn tâm bỏ con không? Có lẽ không bao giờ. áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ. an ủi. và gãi rôm ở sống lưng cho. để cậu bé được thoả lòng mong nhớ và khát khao bé nhỏ của mình. Ta xúc động biết bao nhiêu trước khoảnh khắc hồi hộp lo lắng của cậu bé khi sợ mình nhận nhầm mẹ.cảm giác được chở che. bởi lẽ niềm khao khát được gặp lại mẹ lúc nào cũng thường trực trong lòng cậu bé. khi cậu bé có được cảm giác an toàn và được chở che trong vòng tay mẹ. có lẽ mỗi một người trong chúng ta cũng sẽ cảm nhận được tình me giống như cậu bé Hồng: “Mẹ tôi vừa kéo tay tôi.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful