Phân tích một số bài văn lớp 9

Chuyện người con gái Nam Xương Đề 1: Trong truyện “Người con gái Nam Xương”, nhân vật Trương Sinh vội tin câu nói ngây thơ của con trẻ đã nghi oan cho Vũ Nương ruồng rẫy và đánh đuỗi nàng đi. Vũ Nương bị oan ức nên nhảy xuống sông tự vẫn. Em hãy đọc kĩ lại tác phẩm và tìm xem có những chi tiết nào trong truyện tác giả muốn hé mở khả năng có thể tránh được thảm kịch đau thương cho Vũ Nương. Những nguyên nhân nào làm cho thảm kịch đó vẫn diễn ra dẫn đến cái chết đau thương cũa người phụ nữ đức hạnh? Em hãy bình luận về nguyên nhân cái chết đó . HƯỚNG DẪN 1. Đọc kĩ tác phẩm, nắm vững chi tiết, độc lập suy nghĩ để tìm ra những chi tiết mà đề yêu cầu. Tài thắt nút và mở nút là ở chỗ ấy. Mỗi em tìm tòi theo cách của mình miễn là hợp lí. 2. Bình luân về nguyên nhân cái chết của Vũ Nương. Có nguyên nhân trực tiếp do tính nết cá nhân của Trương Linh và nguyên nhân sâu xa của chế độ xã hội từ đó tìm ra ý nghĩa tố cáo và nhân đạo của tác phẩm. BÀI VIẾT THAM KHẢO “Truyền kì mạn lục” là một tác phẩm có giá trị của văn học cổ nước ta thế kỉ XVI, một tập truyện văn thơ đầu tiên bằng chữ Hán ở Việt Nam. Truyện “Người con gái Nam Xương” là một truyện hay trong tác phẩm. Truyện kể rằng, Vũ Thị Thiết là một phụ nữ đức hạnh ở Nam Xương, chồng là Trương Linh, người nhà giàu nhưng không có học, tính lai đa nghi. Triều đình bắt lính, Trương Linh phải tòng quân trong khi vợ đang mang thai. Chồng đi xa mới được mười ngày thì nàng sinh con trai đặt

tên là Đản. Năm sau, giặc tan, việc quân kết thúc, Trương Linh trở về thì con đã biết nói, nhưng đứa trẻ nhất định không nhận Trương Linh làm bố. Nó nói: “Ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư ? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ thin thít. Trước đây thường có một ông đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.” Tính Trương Linh hay ghen, nghe con nói vậy đinh ninh rằng vợ hư, đã vu oan cho Vũ Nương, ruồng rẫy và đánh đuổi nàng đi. Vũ Nương bị oan ức đã nhảy xuống sông tự vẫn. Đọc kĩ tác phẩm, em thấy truyện không phải không hé mở khả năng có thể dễ dàng tránh được thảm kịch đau thương đó. Tài kể chuyện của tác giả là ở chỗ đó, cởi ra rồi lại thắt vào đẩy câu chuyện đi tới, khiến người đọc hứng thú theo dõi và suy nghĩ, chủ đề của tác phẩm từng bước nổi lên theo dòng kể của câu chuyện. Lời con trẻ nghe như thật mà chứa đựng không ít điều vô lí không thể tin ngay được, nếu Trương Sinh biết suy nghĩ, người cha gì mà lạ vậy: “không biết nói, chỉ nín thin thít” chẳng bao giờ bế con mình, mà hệt như “cái máy” - “mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi”. Câu nói đó của đứa trẻ chẳng phải là một câu đố, giảng giải được thì cái chết của Vũ Nương sẽ không xảy ra. Nhưng Trương Linh cả ghen, ít học, thiếu suy nghĩ, đã vô tình bỏ dở khả năng giải quyết tấm thảm kịch, dẫn tới cái chết oan uổng của người vợ mà chàng không phải không có tình yêu thương. Tất nhiên sự đời có thế mới thành chuyện, vả lại trên đơì làm gì có sự ghen tuông sáng suốt. Bi kịch có thể tránh được khi vợ hỏi chuyện kia ai nói, chỉ cần Trương Sinh kể lại lời con nói mọi chuyện sẽ rõ ràng. Vũ Nương sẽ chứng minh cho chồng rõ ở một mình nàng hay đùa với con trỏ vào bóng mình và nói là cha Đản. Mãi sau này, một đêm phòng không vắng vẻ, ngồi buồn dưới bóng đèn khuya, chợt người con chỉ vào bóng mình trên vách mà bảo đó là cha nó, Trương Linh mới tỉnh ngô, thấu hiểu nỗi oan của vợ thì mọi chuyện đã xong. Vũ Nương không còn nữa trên đời. Câu chuyện bắt đầu từ một bi kịch gia đình, một chuyện trong nhà, một vụ ghen tuông. Không ít tác phẩm xưa nay đã viết về cái chuyện thường tình đầy tai hoạ này. Vũ nương không may lấy phải người chồng cả ghen, nguyên nhân trực tiếp dẫn nàng đến cái chết bi thảm là “máu ghen” của người chồng nông nổi. Nhưng sự thực vẫn là sự thực!cái chết oan uổng quá và người chồng độc đoán quá! Một phụ nữ đức hạnh, tâm hồn như ngọc sáng mà bị nghi oan bởi một

chuyện không đâu ở một lời con trẻ, một câu nói đùa của mẹ với con mà phải tìm đến cái chết bi thảm, ai oán trong lòng sông thăm thẳm. Câu chuyện đau lòng vượt ra ngoài khuôn khổ cuả một gia đình, nó buộc chúng ta phải suy nghĩ tới số phận mong manh của con người trong một xã hội mà những oan khuất, bất công, tai hoạ có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối với họ mà những nguyên nhân dẫn đến nhiều khi rất lạ lùng không thể lường trước được. Đó là xã hội phong kiến ở nước ta, nhất là ở thời nó đã suy vong. Xã hội đó đã sinh ra những chàng Trương Sinh, những người đàn ông đặc đầu óc “nam quyền”, chà đạp lên quyền sống của người phụ nữ. Tính ghen tuông của cá nhân cộng với tư tưởng “nam quyền” trong xã hội đã làm nên một Trương Sinh độc đoán đến kỳ cục, khư khư theo ý riêng, nhất thiết không nghe ý kiến của người khác. Đứa trẻ nói thì tin ngay, còn vợ than khóc giãi bày thống thiết thì nhất định không tin, họ hàng, làng xóm phân giải công minh cũng chẳng ăn thua gì. Hậu quả là cái chết thảm thương của Vũ nương mà nguyên nhân sâu xa là chế độ phong kiến bất công cùng chế độ “nam quyền” bất bình đẳng của nó đã gây ra bao nhiêu tai hoạ cho người phụ nữ nói riêng và con người thời đó nói chung.

Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải Mở bài “Nếu là con chim, chiếc lá, Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh Lẽ nào vay mà không trả, Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.” (Tố Hữu) Tố Hữu – nhà thơ cùng quê hương xứ Huế với Thanh Hải – đã viết trong bài “Một khúc ca xuân” những lời tâm niệm thật chân thành, giản dị và tha thiết. Đó là “lặng lẽ dâng cho đời”. Còn Thanh Hải khi viết bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” trước lúc ra đi, không những đã giải bày những suy ngẫm mà còn mong ước được dâng hiến một mùa xuân nho nhỏ của mình cho mùa xuân vĩ đại của đất nước Việt Nam. Sinh ra, lớn lên, hoạt động cách mạng và tham gia công tác văn nghệ suốt hai thời kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ngay chính trên quê hương ruột thịt của mình. Ở địa diểm nào, hoàn cảnh nào ông cũng thể hiện được lẽ sống của mình. Đó là sự giản dị, chân thành, yêu người và khát vọng dâng hiến sức mạnh cho đời như chính cuộc sống và tâm hồn ông. Chúng ta có thể coi bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là món quà cuối cùng mà Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc

Thân bài Giới thiệu chung Trước lúc vĩnh viễn ra đi ông cũng để lại cho đời những vần thơ thật nhân hậu. Từng giọt long lanh rơi. Từng giọt long lanh rơi. Trong không gian vang vang vui tươi của tiếng chim càng đậm đà chất Huế hơn nhờ dùng đúng chỗ những ngôn từ đặc trưng xứ Huế. tha thiết và sâu lắng hơn tất cả để cuối cùng thể hiện một Thanh Hải yêu người. thân thương của Huế vào nhạc điệu của thơ. Tôi đưa tay tôi hứng”. Phân tích Hình ảnh của một mùa xuân rất Huế đã được tác giả mở đầu cho bài thơ: “Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc. Cảm xúc về mùa xuân mở ra thật ngỡ ngàng. thánh thoát hơn: “Ơi con chim chiền chiện Hót cho mà vang trời. Ơi con chim chiền chiện Hót cho mà vang trời. không hề gợn một nét u buồn nào của một cuộc đời sắp tắt. Tôi đưa tay tôi hứng”. nhà thơ vẫn nghĩ đến một mùa xuân bất diệt. không gian như tươi tắn hơn. trẻ trung hơn.về cõi vĩnh hằng. muôn thuở và nguyện dâng hiến cho đời. Một từ “Ơi” đặt ở đầu câu. Một màu tím thật gợn nhẹ như màu tím hoa sim mọc giữa con sông xanh biếc hay như những tà áo dài với màu tím thật nhẹ nhàng của những cô gái Huế. Một nét đặc trưng nơi xứ Huế là hình ảnh màu tím. Khi cuộc đời mình đã bước vào cuối đông. thiết tha và thanh thản. Chính vì vậy nó bâng khuâng. bất ngờ. yêu quê hương đất nước và còn là một Thanh Hải sống cho thơ và sống cho đời. một từ “chi” đứng sau động từ “hát” đã đưa cách nói ngọt ngào. yêu cuộc sống. Từ “giọt” .

biểu tượng của hai nhiệm vụ: chiến đấu bảo vệ tổ quốc và lao động tăng gia để xây dựng đất nước với những câu thơ giàu hình ảnh và mang tính gợi cảm: “Mùa xuân người cầm súng. Tất cả như xôn xao…” Hình ảnh mùa xuân của đất trời đọng lại trong lộc non đã theo người cầm súng và người ra đồng. Tất cả như hối hả. Sức sống của “mùa xuân đất nước” còn được cảm nhận qua nhịp điệu hối hả. lạc quan. Mùa xuân của thiên nhiên. của sông. hay chính họ đã đem mùa xuân đến cho mọi miền của tổ quốc thân yêu. được hình dung qua hình ảnh so sánh rất đẹp: “Đất nước bốn ngàn năm Vất và vào gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước” Đó chính là lòng tự hào. Nhưng đối với khung sắc trời xuân thì giọt xuân càng làm tăng thêm vẻ đẹp và sự quyến rũ của nó. đồng thời cũng thể hiện cảm xúc trọn vẹn của Thanh Hải trước mùa xuân của thiên nhiên đất trời. đất nước thường gợi lên ở mỗi con người niềm khát khao và hi vọng. nhân dân và đất nước. giọt mưa xuân. đất nước. . tác giả đã chuyển cảm nhận về mùa xuân của cuộc sống. Một từ “hứng” cũng đủ diễn tả sự trân trọng của nhà thơ đối với vẻ đẹp của trời. với Thanh Hải cũng thế. sẽ đến với một tầm cao mới mà không có sự dừng chân ngơi nghỉ. Lộc trãi dài nương mạ. Từ cảm xúc của thiên nhiên. Tác giả đã sử dụng biện pháp điệp từ. sẽ phát triển. Phải chăng dấu ba chấm như còn muốn thể hiện rằng: đất nước sẽ còn đi lên. Lộc giắt đầy trên lưng. những âm thanh xôn xao của đất nước bốn ngàn năm. Với hình ảnh “người cầm súng” và “người ra đồng”. Những giọng thơ ấy rất giàu sức suy tưởng và làm say đắm lòng người. trải qua biết bao vất vả và gian lao để vươn lên phía trước và mãi khi mùa xuân về lại được tiếp thêm sức sống để bừng dậy. giọt sương sớm hay cả tiếng hót của những chú chim chiền chiện.được hiểu theo rất nhiều nghĩa: có thể là “giọt nắng bên thềm”. dân tộc. Từ mùa xuân của thiên nhiên đất trời. mạch thơ đã chuyển một cách tự nhiên sang bày tỏ suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa xuân của đất nước. của chim muông hoa lá. tin yêu của Thanh Hải đối với đất nước. điệp ngữ như nhấn mạnh và kết thúc một khổ thơ bằng dấu ba chấm. Mùa xuân người ra đồng.

Thanh Hải đã thể hiện hết mình vì lòng tin yêu cuộc sống và khiêm tốn hiến dâng cho đất nước. bởi vậy. nhỏ nhẹ. Hiến dâng “mùa xuân nho nhỏ” nghĩa là tất cả những gì tốt đẹp nhất. ở mọi lứa tuổi. Một nốt trầm xao xuyến” Lời thơ như ngân lên thành lời ca. xuất phát từ tiếng lòng thiết tha. “Dù là tuổi hai mươi” khi mới tham gia kháng chiến cho đến khi tóc bạc là thời điểm hiện thời vẫn lặng lẽ dâng hiến cho đời và bài thơ này là một trong những bài thơ cuối cùng. chuẩn bị ra đi mãi mãi. Điều tâm niệm của tác giả: “lặng lẽ dâng cho đời” chính là khát vọng chung của mọi người. đất nước mến yêu của chính mình. chứ đâu phải của riêng ai. Khát vọng của ông là được làm con chim hót. trẻ . Nam Bình . Ta làm một cành hoa. Nếu như đoạn đầu Thanh Hải xưng tôi kín đáo và lặng lẽ thì đến đoạn này ông chuyển giọng xưng ta. cho cuộc đời. Vì sao có sự thay đổi như vậy? Ta ở đây là nhà thơ và cũng chính là tất cả mọi người. Đã gọi là cống hiến cho đời thì dù ở tuổi nào đi chăng nữa cũng phải luôn biết cố gắng hết tâm trí để phục vụ và hiến dâng cho quê hương. Thật cảm động và kính phục biết bao khi đọc những vần thơ như lời tổng kết của cuộc đời. Già . Điều tâm niệm đó thật chân thành. chân thành của tác giả nên lời thơ dễ dàng được mọi người tiếp nhận và chia sẻ cho nhau: “Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc”. “Một mùa xuân nho nhỏ” cuối cùng của Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc ông bước vào thế giới cực lạc.cống hiến sức trẻ để không bao giờ thất vọng trước chính bản thân mình. giản dị và tha thiết – xin được làm một nốt trầm trong bản hoà ca của cuộc đời nhưng là “một nốt trầm xao xuyến”. dù nhỏ bé của mỗi người cho cuộc đời chung cho đất nước. một nhà thơ đã gắn bó trọn đời với đất nước. quê hương với một khát vọng cân thành và tha thiết: “Ta làm con chim hót. Ta nhập vào hoà ca.cống hiến tuổi già.đây chính là thời điểm mà ông nhìn lại cuộc đời và bộc bạch tâm niệm thiết tha của một nhà cách mạng. Kết thúc bài thơ bằng một âm điệu xứ Huế: điệu Nam ai. góp một nốt trầm vào bản hoà ca bất tận của cuộc đời. một cành hoa để hoà nhập vào “mùa xuân lớn” của đất nước.

miền Nam là niềm vui. Miền Nam cũng ngày đêm thương nhớ Bác. ngày đêm thương nhớ miền Nam. mang âm hưởng dân ca nhẹ nhàng tha thiết. thiết tha. Nam Bình Nước non ngàn dặm tình Nước non ngàn dặm mình Nhịp phách tiền đất Huế” Đánh giá chung Những lời tâm sự cuối cùng của người sắp mất luôn là những lời thực sự. khi Bắc Nam sum họp một nhà thì Bác không còn nữa. ước nguyện sâu lắng nhất… và bài thơ này cũng chính là những điều đúc kết cả cuộc đời của ông. Bài thơ không những chỉ thể hiện dòng cảm xúc trào dâng của nhà thơ mà còn thể hiện hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh bằng những hình ảnh vừa quen thuộc. Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến miền Nam./. cảm xúc của tác giả. Nhà thơ ước nguyện làm một “mùa xuân” nghĩa là sống đẹp. những xúc động của chính tác giả và của cả chúng ta. Với Bác. giàu hình ảnh. là hạnh phúc. vừa giàu sức . là “một mùa xuân nho nhỏ” góp vào “mùa xuân lớn” của đất nước của cuộc đời chung và bài thơ cũng có ý nghĩa hơn khi Thanh Hải nói về “mùa xuân nho nhỏ” nhưng nói được tình cảm lớn. vấn đề ý nghĩa cuộc sống của mỗi cá nhân được Thanh Hải thể hiện một cách chân thành. Nhưng tiếc thay. Niềm mong mỏi thiết tha của Bác là miền Nam mau được giải phóng. Ông đã giải bày. Nguồn: ST Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác Sinh thời. và chính lúc đó Thanh Hải đã thả hồn vào thơ. sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường. Kết bài Tóm lại bài thơ đã sử dụng thể thơ năm chữ. bằng giọng văn nhỏ nhẹ như một lời tâm sự. nỗi niềm đau đớn của đồng bào và chiến sĩ miền Nam dồn nén bao nhiêu năm đã được nhà thơ Viễn Phương thể hiện trong bài Viếng lăng Bác. là nỗi đau không lúc nào nguôi: “Miền Nam trong trái tim tôi”. gửi gắm của mình với cuộc đời. đất nước. hiểu nhau và giải bày cho nhau. biểu hiện niềm tin yêu và gắn bó sâu nặng của tác giả với quê hương. một câu chân tình thắm thiết “Mùa xuân ta xin hát Câu Nam ai. luôn chứa chan tình cảm. là lời ngợi ca đất nước. Nét đặc sắc của bài thơ là ở chỗ nó đề cập đến một vấn đề lớn và quan trọng “nhân sinh”. Lòng thương nhớ. nhạc điệu. mong ngày giải phóng để được gặp Bác kính yêu. cất trúc thơ chặt chẽ. cùng chung một nhịp đập với thơ để ông và thơ luôn được cùng nhau. tâm tình những điều sâu kín nhất trong lòng.mênh mang tha thiết. giọng điệu đã thể hiện đúng tâm trạng.

Tự đáy lòng của người con đến thăm cha. như Bác Hồ suốt đời sống giản dị nhưng kiên cường tranh đấu vì độc lập tự do của dân tộc. cũng như mọi người Việt Nam. Bài thơ rất ngắn gọn. là niềm tự hào. Tre kiên cường trong bão táp mưa sa như dân tộc ta vững vàng qua phong ba bão tố. Mở đầu bài thơ. nhất là hình ảnh miền Nam yêu thương. Viễn Phương đã nói hộ chúng ta một chân lý: Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong lòng nhân dân ta.khái quát. Bài thơ ra đời năm 1976. Tình cảm giữa miền Nam và Bác Hồ luôn luôn là tình cảm ruột thịt “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà” (Tố Hữu) và tình cảm của miền Nam đối với Bác cũng là tình cảm nhớ mong da diết “Miền Nam mong Bác nỗi mong cha” (Tố Hữu). ca ngợi dân tộc. nỗi nhớ thương. Trong tim Bác và trong tim miền Bắc. Viễn phương ra thăm Lăng Bác. Chắc rằng. kiên cường. Hình ảnh đầu tiên trong lăng làm nhà thơ xúc động là hình ảnh hàng tre: Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng Hàng tre bát ngát cuốn hút cảm xúc của nhà thơ. . Viễn Phương nói với Bác: Con ở miền Nam…. là biểu tượng anh hùng. Bằng cảm xúc chân thực và ngôn ngữ thơ gợi cảm. Viễn Phương đã bày tỏ ngay tình cảm sâu nặng. vừa lung linh gợi cảm. Ngôn ngữ thơ tuôn trào theo theo dòng cảm xúc chân thành. khi lần đầu tiên sau giải phóng miền Nam. thân thuộc. nhà thơ mang theo cả niềm tự hào đó của đồng bào miền Nam để đến với Bác. trong tâm khảm nhà thơ. Miền Nam luôn luôn là nỗi đau chia cắt. tha thiết. dũng cảm. cây tre là hình ảnh giản dị. đời đời gắn bó với quê hương làng xóm. ruột thịt của mình bằng câu thơ giản dị: Con ở miềm Nam ra thăm lăng Bác. bất khuất. Câu thơ giản dị nhưng bao hàm một ý nghĩa lớn. súc tích nhưng có sức gợi tạo nên sự xúc động cho người đọc. Qua hình ảnh hàng tre quen thuộc tác giả gửi gắm một ý nghĩa tượng trưng nhằm ca ngợi Bác. là thành đồng Tổ Quốc… Giờ đây. Hàng tre gợi hình ảnh mọi miền quê hương đất nước. Hàng tre xanh xanh trong vườn Bác gợi cho người đọc nhiều liên tưởng.

chỉ một hình ảnh mặt trời rất đỏ. Nhà thơ đã nói hộ chúng rằng: Bác Hồ là mặt trời cách mạng đẹp nhất. nhà thơ đã khái quát được hình ảnh Bác Hồ vĩ đại. Nhịp thơ chầm chậm như bước chân của dòng người lặng lẽ đi trong suy tưởng. “Người ta là hoa của đất”. thời gian không ngừng trôi và lòng người Việt Nam không bao giờ nguôi tình cảm nhớ thương. nhà thơ thật sâu sắc và tinh tế khi tôn quí nhân dân. Hình ảnh đó đã đưa người đọc vào một thế giới huyền diệu. yêu trăng nồng nàn của Bác. chói lọi nhất luôn luôn toả sáng trong tâm hồn người Việt Nam. thấy Bác nằm nghỉ. kính trọng đối với Bác. Mỗi người dân là một bông hoa và dòng người đi trong thương nhớ chính là tràng hoa dâng lên Bác. thành kính kết tràng hoa tình yêu dâng bảy mươi chín mùa xuân của Người. nhà thơ sững sờ. Không nhiều lời. . là nguồn ánh sáng rực rỡ không bao giờ tắt. càng gợi ta nghĩ đến tình yêu thiên nhiên. Từ ánh điện mờ ở trong lăng. Cùng với mặt trời ngày ngày đi qua trên lăng là dòng người đi trong thương nhớ. hình ảnh tượng trưng cho Bác Hồ . thành kính. nhà thơ liên tưởng đến một hình ảnh rất đẹp: vầng trăng sáng dịu hiền.chúa tể của thiên nhiên . yêu quí. Đặc biệt xúc động là khi vào trong lăng. mãi mãi chiếu rọi con đường đi tới của dân tộc Việt Nam. rực rỡ nhất. nghẹn ngào. Lời thơ bỗng dạt dào một cảm xúc tự hào. trong sáng và thanh khiết.là mặt trời cách mạng. đau đớn: Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền. mặt trời .thán phục một mặt trời trong lăng rất đỏ. Nhiều nhà thơ đã sử dụng hình ảnh mặt trời để thể hiện ánh sáng của lý tưởng cách mạng. thương nhớ Bác: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân Ai đã từng một lần đi viếng lăng Bác mới hiểu hết hàm ý trong câu thơ của Viễn Phương. Ngày ngày… ngày ngày …. Vẫn biết trời xanh là mãi mãi . nhà thơ tiếp tục dòng suy tưởng.Hoà vào dòng người thăm lăng. Mặt trời rất đỏ. bao trùm một một không khí thương nhớ Bác không nguôi. nhưng đối sánh hai hình ảnh mặt trời của Viễn Phương quả là rất độc đáo. Ngày ngày. Đây là một sáng tạo nghệ thuật có tác dụng bộc lộ nội dung rất hiệu quả. Mà sao nghe nhói ở trong tim Bác nằm đó như đang trong giấc ngủ bình yên sau bảy mươi chín mùa xuân không hề nghỉ.

Nhưng con tim nhà thơ đau đớn vô cùng khi đứng trước Người. một tình cảm yêu quý mãnh liệt. Những hình ảnh đó tượng trưng cho cái vĩ đại. chỉ ước muốn biến thành con chim. đất nước. Ngoài ra. bông hoa. cây tre. Bác nằm đó. . Và hơn thế nữa. rất lớn lao của vũ trụ: mặt trời. trong giấc ngủ bình yên. gần gũi của Người. nhịp điệu thiết tha. trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”. Bác như vầng mặt trời rực rỡ. trời xanh. Cả những khi bận rộn việc nước việc quân. thương nhớ không gì bù đắp được vì mất Bác. cao quý. Đoạn thơ dạt dào tình cảm. thanh khiết. như bầu trời xanh. thanh cao. như vầng trăng sáng dịu hiền. Còn hình ảnh hàng tre xanh xanh lại tượng trưng cho cái bình dị. trọn vẹn như tình cảm của người con đối với người cha ruột thịt. đến các hình ảnh mặt trời rất đỏ. lớn lao của Bác Hồ. Nhà thơ chia tay Bác trong tiếng khóc nấc nở nghẹn ngào. mãi mãi sống trong sự nghiệp của chúng ta. tràng hoa. cùng với hình ảnh cây tre trung hiếu một lần nữa truyền đến người đọc sự xúc động nghẹn ngào. vầng trăng. Nhà thơ đã có nhiều dụng ý khi sử dụng các hình ảnh rất đẹp. cống hiến cho dân tộc nay vĩnh viễn nằm lại trong lăng? Nhà thơ lưu lưyến không muốn rời xa Bác. Mà sao nghe nhói ở trong tim. nhân dân.Vầng trăng kia đã bao lần sáng lên trong thơ Người. trời xanh là mãi mãi đã gợi cho người đọc thấy trọn vẹn hình tượng Bác Hồ gần gũi. Ở Bác toả ra ánh sáng của trí tuệ thiên tài và lấp lánh ánh sáng của một tâm hồn cao đẹp. nó còn gợi đến hình ảnh quê hương. làn hương quanh nơi Bác nghỉ cho trọn niềm trung hiếu với Người. bảy mươi chín mùa xuân. vừa gần gũi thân thiết với chúng ta. Làm sao ngăn được dòng nước mắt thương nhớ Bác-một con người vừa vĩ đại. “trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa…” Giờ đây. Các hình ảnh hàng tre xanh xanh. chỉ một chữ nhói cũng đủ nói lên nỗi quặn đau. “trăng ngân đầy thuyền”. Bài thơ ngắn. giữa vầng trăng sáng dịu hiền. nó trào lên dữ dội khi nhà thơ chia tay với Bác: Mai về miền Nam. “rằm xuân lồng lộng trăng soi”. giữa bão táp mưa sa. Và nỗi đau không còn kìm ném được nữa. một con người suốt đời hy sinh. Bác vẫn thấy “trung thu trăng sáng như gương”. góp tiếng hót. vầng trăng sáng dịu hiền. tất cả các hình ảnh ấy đều gợi cho ta thấy sự bất tử của Bác Hồ. Cả khi trong ngục: “Người ngắm trăng soi qua cửa sổ. nhưng tác giả đã thành công khi sử dụng hàng loạt hình ảnh ẩn dụ mang tính tượng trưng sâu sắc. vì nỗi thiếu vắng Bác. Vẫn biết rằng Bác như trời xanh. “trăng vào cửa sổ đòi thơ”. thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Muốn làm bông hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. thương đến trào nước mắt. Thương Bác. vĩ đại biết bao.

Kỳ diệu thay. chỗ khác ghi một khúc ráp lại rất vần với nhau.. Tôi nghĩ rằng đó cũng là hạnh phúc lớn của nhà thơ: Góp phần mình vào công cuộc giải phóng đất nước. Bài thơ được phổ nhạc càng trở nên truyền cảm sâu xa.. Trong chuồng cọp. Phải đến bài thơ Viếng Lăng Bác. tôi thấy chi chít những chữ ghi bằng nhiều cách khác nhau. Lê Văn Duyệt. Mãi mãi là vị cha già thân thiết. Trong hai cuộc kháng chiến. bài Chúc thọ dưới mồ. Tôi đọc được bài thơ dài. cứ vậy thơ Viễn Phương được lan truyền trong nhà tù. lòng kính phục vô hạn của nhà thơ Viễn Phương và của nhân dân ta đối với Bác Hồ mà bài thơ còn diễn tả thành công hình tượng Bác Hồ vĩ đại bằng những hình ảnh đẹp. Dưới đây là cuộc trò chuyện giữa ông và phóng viên VNQĐ PV: Thưa nhà thơ Viễn Phương. Hôm nay mười chín tháng năm: Lòng con sáng tựa đêm rằm trung thu Con đang chúc thọ dưới mồ Con đang dựng một rừng cờ trong tim Đêm nay mộng hóa thành chim Bay qua lưới sắt con tìm đến cha Sau này mới biết là thơ Viễn Phương. nhịp điệu tha thiết. mọi người đều thuộc. họ lại đọc cho bạn tù ở khám khác nghe. Viễn Phương sáng tác thầm trong đầu và đọc cho các đồng chí cùng khám nghe.Người sống mãi trong lòng nhân dân ta. làm xúc động hàng triệu trái tim Việt Nam từ 1976 đến nay. yêu quý của chúng ta. nghẹn ngào trước sự ra đi của Bác. tôi bị bắt buộc phải nằm dưới hầm suốt ngày. chỗ này ghi một đoạn. kể rằng: “Lúc tôi 25 tuổi. là lòng thương nhớ không nguôi. trong một lần nào đó. Viễn Phương chỉ đọc một vài lần. . Trên vách chuồng cọp. Có những dòng được khắc trên vôi bằng cái xương cá mắm. Âm hưởng của bài thơ ngân vang mãi trong lòng người đọc. nhà thơ Viễn Phương hoạt động ở Nam Bộ. cảm xúc nồng nàn chân thực. rồi những khi bị địch bắt đi lao động. Viếng lăng Bác không những là tiếng khóc đau đớn. Có những chữ bằng máu. tôi được đọc một bài viết của anh Lê Quang Vịnh trên báo Sài Gòn Giải phóng.". và đã sáng tác nhiều bài thơ về Bác Hồ. không có giấy bút. bị bọn Mỹ – Diệm kết án tử hình rồi chuyển thành trung thân khổ sai và đày ra Côn Đảo. trong sự nghiệp của chúng ta. có những ghi bằng than. địa ngục trần gian của nhà tù ấy. Có bài tác giả viết khi bị địch giam cầm ở các trại giam Phú Lợi. Viễn Phương mới thực sự có một bài thơ hay về Bác.

hàng ngày dâng lên Bác rất nhiều nhưng tôi nghĩ đến: . Anh sáng dịu dàng toả xuống như giữa một đêm trăng thanh miền thôn dã. Đảng ta đã thực hiện: xây dựng một đất nước Việt Nam hoà bình. Bác là nguồn động viên. được các đồng chí trong tù thuộc. Sáng hôm ấy mưa phùn. đó cũng là tâm tư của nhân dân và chiến sỹ ở Nam Bộ với Bác. dân chủ và giàu mạnh như di chúc của Bác. Giản dị. Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ. giản dị. Anh có thể cho biết bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nào? Nhà thơ Viễn Phương: Khi Bác còn sống. Ra khỏi làng. đầy đủ độ chín và ngôn từ. vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc ta là nguồn cảm hứng vô tận của người sáng tạo văn. tôi đi như người mộng du và tứ thơ bật ra: Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát. nhac. Tôi không cầm nổi nước mắt. ai cũng muốn dừng thật lâu. các nhà thơ sống ở Nam Bộ đều có những tác phẩm viết về Bác. Lời thơ thật giản dị. Người ghét sự cầu kỳ. Khi miền Nam giải phóng. sâu sắc cũng là bao quát trong thơ Bác. ước mơ ấy không được toại nguyện. Chúng tôi đi từ hướng chùa Một Cột. thơ. tôi luôn luôn nghĩ về Bác. trong sáng. hiền từ như đang ngủ. Nhưng rồi. Năm 1976. ra thăm miền Bắc. Tôi đã viết bài thơ Chúc thọ dưới mồ. Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Mặt trời của vũ trụ đối với mặt trời trong lăng. nhân dân miền Nam mong muốn đất nước giải phóng để đón Bác vào thăm. mọi người đều muốn ra thăm miền Bắc. Tôi viết như là ý nghĩ của mình. cổ các chiến sĩ trong nhà tù. Bác nằm đó. Tôi nghĩ. Và. truyền cho nhau.Nhà thơ Viễn Phương: Hồ Chí Minh. thống nhất. thanh thản. Đó cũng là hàm chứa sự vĩnh cửu của sự nghiệp Bác Hồ tạo dựng và nhân dân ta. độc lập. Trong nhà tù của giặc. PV: Phải đến khi đất nước thống nhất. Đến bên Bác. Hoa tươi là nét đẹp của thiên nhiên. họa. anh mới có Viếng Lăng Bác. tôi được nối vào dòng người vào lăng Bác. Hà Nội lây phây trong gió rét. viếng lăng Bác. Tuy lời thơ còn mộc mạc nhưng là tấm lòng thành kính của tôi đối với Người. Sương toả mênh mông. những gốc đào hoa đỏ rực… Tất cả đều thiêng liêng. Bác của chúng ta vốn giản dị. những hàng tre xanh sẫm. làm dáng. được đến viếng Bác. tôi ra Hà Nội.

tác giả đã tự xác định một thời điểm miêu tả: thời điểm giao mùa. là hoa tươi của cuộc sống. khi bầu trời xanh ngắt lơ lửng những tầng cao. khi nắng trời đã nhuộm đỏ . Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Sang thu của Hữu Thỉnh xuất hiện khi trước nó đã có rất nhiều bài thơ nổi tiếng đông tây kim cổ: Thu hứng (Đỗ Phủ). không phải cuối thu. Tưởng như với đề tài thơ mộng muôn thuở này có thể dễ dàng chắp bút. Chỉ đến khi bắt đầu cầm bút ngồi trước mặt giấy. Và dâng cho Bảy mươi chín màu xuân. nhất là những ngòi bút thơ: hễ động bút là mùa thu cứ chực đổ ùa ra trên mặt giấy. chiến sỹ miền Nam hứa với Bác: Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này (sưu tầm) Sang thu (Hữu Thỉnh) Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. Đoạn kết. Ngay từ tiêu đề. tôi muốn nói lên tình cảm của nhân dân. cái độc đáo riêng của một hồn thơ sâu lắng. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Nói về đề tài mùa thu. Chùm thơ thu (Nguyễn Khuyến). Toàn bài Viếng Lăng Bác mang một không khí trang nghiêm. nhạy cảm khi mùa thu tới. một tác giả đã nhận định: “Đề tài "Mùa Thu" bao giờ cũng có vẻ là dễ viết. Mùa thu dường như luôn luôn nấp sẵn trong ngòi bút của chúng ta. thành kính. Đây mùa thu tới (Xuân Diệu)… Nhưng nó vẫn có cái hay. tôi mới thấy đề tài này thật là khó” Tại sao lại có nghịch lí trong kinh nghiệm của người sáng tác như vậy? Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu.Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng Bảy mươi chín mùa xuân Dòng người vây quanh Bác trở thành hoa. Đó không phải là chính thu.

những cánh chim vội vã tìm về phương ấm áp… Song thời điểm chớm thu không phải chỉ hiển hiện ở những dấu hiệu mơ hồ trong trạng thái biến chuyển của cảnh vật. ngô đồng hay màu trời. “chùng chình” “dềnh dàng” “bắt đầu vội vã” “vắt nửa mình”… “Chùng chình” trước hết gợi tả chính xác những làn sương như ngưng lại và nhẹ nhàng tỏa lan ngõ xóm. Đặc biệt ở góc độ miêu tả tạo vật. Có gió. liễu. mùi hương vừa đặc trưng cho mùa vừa đặc trưng cho làng thôn ngõ xóm. Có hương ổi. hơn là gợi một cảm giác. Dòng nước thu vốn trong trẻo và sâu hút làm người ta khó mà thấy rõ được sự chuyển động nó nên cảm giác sông lững lờ trôi cũng rất hiện thực. sắc nước… Hữu Thỉnh hầu như khơi gợi cảm giác về mùa trong trạng thái mơ hồ của tạo vật. Song trên hết. Truyền thống thơ thường kiến trúc ngôi nhà thu bằng những chất liệu quen thuộc như cúc. nó không chỉ miêu tả chính xác trạng thái của tạo vật mà còn thổi vào tạo vật những cảm giác rất người. cánh chim. Không hề có một từ định tính để miêu tả thế giới thu. cường độ… Hàng cây như đã quá quen với nắng lửa mưa giông. Se gợi một động thái. hay đám mây cũng không tô điểm cho phong cảnh thu bằng những gam màu đặc trưng của nó. “se”. Sang thu. duyên dáng nối hai mùa là một liên tưởng thực sự độc đáo. mà ở cả chút ngỡ ngàng bâng khuâng của lòng người: “Bỗng nhận ra hương ổi”. Thành công nổi bật nhất của bài cũng là ở một hệ thống những động từ miêu tả rất giàu cảm giác: “phả”.lá bàng. Đám mây như tấm khoăn voan của người thiếu nữ. không còn dữ dội nữa. “Hình như thu đã về”… Tiếp tục thể hiện những dấu hiệu mùa thu rõ rệt hơn nhưng ý nghĩa của khổ cuối không chỉ dừng lại ở đó: Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi Con người cảm thấy biết bao biểu hiện khác biệt của thời tiết khi mùa thu tới: mưa và sấm thưa dần. Dòng sông. hệ thống động từ toàn bài còn đặc sắc ở chỗ. Nhưng hương ổi “thơm” như thế nào thì thi sĩ hoàn toàn không miêu tả. hay khi cái rét mùa đông đã lẩn vào trong gió…Sang thu nghĩa là mới chớm thu thôi. sương như người khách ngập ngừng nơi đầu ngõ. được gọi một . Làn sương giăng phủ ngõ thôn chẳng được đặc tả ở mức độ (mù mịt) hay màu sắc (trắng mờ). nhưng gió se chứ không phải là gió lạnh... gió se lại bởi chút lạnh xa xăm. Tinh tế và sống động sao một buổi sáng chớm thu. cái tứ kết buộc hệ thống hình ảnh trong bài cũng chỉ gói gọn trong chút “chớm” mỏng manh đó. tất cả các dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn nhưng đã giảm dần mức độ.

hàng cây tượng trưng cho con người từng trải mà bao dâu bể biến đổi không còn đáng ngạc nhiên. Không hiểu sao. Cảnh như sâu lắng hơn bởi liên tưởng suy tư về mùa thu đời người.bâng khuâng đang đợi chờ 1 nguời nào đó.Hình ảnh giọt sương thu gợi ta và gợi cảm :"giọt sương chùng chình" gợi tả 1 ngõ nhỏ yên ắng.bịn rịn. Chính các từ “bất ngờ”.những tiếng đập cánh vội vã.Có phải nhà thơ đang thầm hỏi lòng :thu về từ bao giờ?theo gió hay theo huơng?Thu đến mà ko báo trước để lòng người xao xuyến bâng khuâng Khi cả đất trời vào thu "Sông đựoc lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu " Nhà thơ đã thổi hồn vào cảnh vật để cho dòng sông đc dịp mà thanh thản.Nhà thơ Xuân Diệu khi cảm nhận về mùa thu cũng nói tới cánh chim : "Chim nghe trời rộng giang thêm cánh" .Hương thu thấm đẫm ngọt nào trong vạn vật như đc in dấu lung linh . bởi ngõ xóm thân quen ấy.Giợt sương thu là hình ảnh mang tâm trạng ngập ngừng . “đứng tuổi” khiến ý nghĩa của câu thơ không dừng lại ở nét nghĩa tả thực mà có chiều sâu hơn. .. tôi chợt thấy nhớ rất nhiều những năm tháng đã qua của mình. Miền kí ức tuổi thơ được đánh thức bởi mùi hương ổi. Nắng.huyền ảo qua mỗi vần thơ ở bài Sang Thu của nhà thơ HỮU THỈNH "Bỗng nhận ra. suy nghĩ tự nhiên của tác giả.đã về " Ngọn jó se ở đây ta có thể hiểu là ngọn gió heo may se se lạnh ban phát cái hương vị còn sót lại của làng quê. khi đọc bài thơ này.Tuơng phản với hình ảnh dòng sông à lũ chim :"chim bắt đầu vội vã". Đây xứng đáng là một bài thơ thu hay trong thế giới thi ca! ( Sưu tầm đó) Người ta nói mùa thu là mùa của thi nhận.của những bài thơ dịu dàng.1 không gian sương khói lãng đãng lúc thu về. Và có lẽ cũng nhờ giọng điệu êm nhẹ dễ cuốn người đọc vào dòng cảm xúc.Ta cảm nhận lũ chim như hình dung đc cái lạnh của thu đã về và cuộc hành trình về phương Nam của chúng bắt đầu với những tiếng gọi nhau . mưa. sấm chớp… hay là những vang động của cuộc đời? Trong tương quan ấy..mà trầm ngâm suy nghĩ.những âm thanh.bâng khuâng. Cảm xúc của nhà thơ :"Bỗng".gấp gáp hơn.. Nét độc đáo nhất của bài là những hình ảnh chính xác và giàu sức gợi tạo nên một bức tranh thu giản dị mà sống động.của tình yêu."hình như" là 2 tâm trạng của nhà thơ:bất ngờ và bối rối.cách hình ảnh là “hàng cây đứng tuổi”.

hình như ko mong đợi mà thu vẫn về.Khi chúng ta chưa hết ngỡ ngàng bởi một Xuân Diệu “tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì ” thì đã ..gợi hình..mưa .Thế nhưng tất cả lắng xuống .đằm thắm hơn. Thiên nhiên sang thu.vang động bất thường trong cuộc sống.cây đứng tuổi" Có thể nhận ra biện pháp tu từ nhân hoá làm câu thơ mang chiều sâu triết lí .phải chăng cũng là sự điềm tĩnh bình thản của con người khi đã đi qua bao mưa nắng .tự hào về cảnh sắc quê hương đất trời.Chỉ còn kết lại bài thơ hình ảnh hàng cây đứng tuổi gợi bao suy nghĩ sâu xa .Trời đã bớt đi những cơn mưa .nó gieo vào lòng người những rung động nhẹ nhàng khiến ta như giao hoà.Đám mây như 1 dãi lụa mềm tạo thành chiếc cầu nối cho nhịp thời gian .Hàng cây đứng tuổi vững vàng trước sấm sét .vừa rõ ràng mà lung linh. ^__^[IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image001.chỉ còn lại những giọt nắng và vì vậy sự suy nẫm triết lí của nhà thơ đc thể hiện thật đúng lúc."Vẫn còn bao nhiêu nắng.còn khi bước sang thu. Nếu như ở khổ 1 là cảm nhận về sự kì diệu của mùa thu .Hàng cây đứng tuổi hay đó chính là những nguời đã từng trải qua nhiều khó khăn gian nan của cuộc đời. đồng điệu .Lúc ngoảnh lại mới thấy mái tóc pha sương và mình đã ko còn trẻ.con nguời cũng sang thu.Bốn mùa luân chuyển như đời nguời vội vã. Bài thơ là bức tranh mùa thu đẹp để ta yêu mến. Các hình ảnh nắg.Liên tưởng của nhà thơ làm bầu trời xanh kia trờ nên kì diệu .Cảnh thu.Con người lưu luyến chưa muốn chia tay với mùa hạ.họ trờ nên nghiêm trang.chững chạc mang vẻ đẹp sâu lắng kín đáo nhưng kiêu hãnh tự hào.vừa là ảo.đi vào chừng mực rồi ổn định .Đời người đã sang thu từ khi nào.lo toan.tạo dáng.Chút nắng còn sót lại của mùa hạ vàng .cám giác như vừa là thực .Đặc sắc nhất là 2 câu thơ : "Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu" Trong đám mây của mùa thu vẫn còn vương chút nắng hạ nên từ "vắt" đc nhà thơ dùng thật sống động.tượng trưng cho những bến đổi.Con nguời đứng tuổi ko còn sôi nổi như 1 thời trẻ dại mà tâm trạng của họ trờ nên chín chắn .thu êm đềm vừa chợt đến đám mây vừa ngỡ ngàng như bước qua bờ bên kia .tình thu vào nhau thắm thiết.Những suy ngẫm trong thơ cho ta ý thức sâu hơn về trách nhiệm của con người cuộc đời.sấm chớp .thử thách của cuộc đời ..gif[/IMG] Khoảnh khắc giao mùa có lẽ là khoảnh khắc đẹp đẽ nhất của tự nhiên .khổ 2 là những biến đổi của cảnh vật thì khổ 3 là tình thu chan chứa.

mùa .Và không chỉ có thế . thi sỹ vẫn ngỡ ngàng thốt lên lời thầm thì như tự hỏi :Hình như thu đã về!? Tâm hồn thi sỹ nắm bắt những biến chuyển nhẹ nhàng.cái bỡ ngỡ ban đầu vụt tan biến đi nhường chỗ cho những rung cảm mãnh liệt trước không gian thu vời vợi : Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Sông nước đầy nên mới “dềnh dàng” nhẹ trôi như cố tình chậm lại . ngọt. mong manh của tạo vật trong phút giao mùa cũng êm đềm. Câu thơ có hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ . chùng chình giăng mắc trên khắp nẻo đường thôn : Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về .những rung động man mác.sâu sắc đến vô cùng qua một thoáng “Sang Thu” . Nếu ở câu thơ đầu tiên nhà thơ “bỗng nhận ra” thu về khá bất ngờ và đột ngột thì sau khi cảm nhận sương thu . Không gian nghệ thuật của bức tranh thu được mở rộng hơn .Không phải là sắc “mơ phai” hay hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác” mà là hương ổi thân quen nơi vườn mẹ đã đánh thức những giác quan tinh tế nhất của nhà thơ : Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se.Câu thơ có tính tạo hình không gian những lại có ý nghĩa diễn tả sự vận động của thời gian : thu bắt đầu sang . Bài thơ là những cảm nhận . Câu thơ giúp ta hình dung về đám mây mỏng nhẹ .hai chữ “chùng chình” diễn tả rất thơ bước đi chầm chậm của mùa thu . vị giòn. đặc biệt là hình ảnh : Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu . hương thơm lựng .những đàn chim vội vã bay về phương nam …Không gian thu thư thái . Sương thu đã được nhân hoá .thong thả.Cảm giác bất chợt đến với nhà thơ : “bỗng nhận ra” -một sự bất ngờ mà như đã chờ đợi sẵn từ lâu lắm .Tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra mùa thu là “hương ổi”. hữu tình và chứa chan thi vị .trắng xốp . bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kỳ diệu của thiên nhiên trong buổi giao mùa .gặp một Hữu Thỉnh tinh tế . Mùi hương quê nhà mộc mạc “phả” trong gió thoảng bay trong không gian .kéo dài như tấm khăn voan duyên dáng của người thiếu nữ thảnh thơi .gió thu.cả sương thu như cũng chứa đầy tâm trạng. bâng khuâng như bước đi nhỏ nhẹ của mùa thu . hạ chưa qua hết .Câu thơ không chỉ tả mà còn gợi liên tưởng đến màu vàng ươm . chua chua nơi đầu lưỡi của trái ổi vườn quê . nhẹ nhàng “ vắt nửa mình sang thu”.

Trong đó có hai khổ thơ rất hay ghi lại cảm xúc của nhà thơ trước cảnh sang thu ở một miền quê nhỏ : Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về. nồng hậu của quê nhà . đất trời : Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi . ^__^ Phân tích bài thơ Sang Thu Mùa thu là một đề tài muôn thuở của các thi nhân Việt Nam. Vẫn là nắng. chớp của mùa hạ vương lại đâu đây . “đã vơi dần”. thăng trầm của cuộc đời ít làm con người ta bất ngờ. rất êm . mơ hồ như cả đất trời đang rùng mình thay áo mới … Khổ thơ thứ ba diễn tả rất rõ sự biến chuyển của không gian và cũng là một thoáng suy tư của nhà thơ trước cảnh vật. thì Hữu Thỉnh cũng có một chớm « Thu sang » rất nhẹ nhàng êm dịu. bị động . tất cả đều là những bài thơ rất nổi tiếng. sấm. « Thu điếu ». Xuân Diệu có « Đây mùa thu tới » . rất nhẹ . song chỉ là “vẫn còn” . Sông được nước dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Mùa thu của Hữu Thỉnh được mở ra không phải với sắc vàng tươi của .thu vừa chớm . rất dịu .bâng khuâng của tác giả trong buổi giao mùa đã tạo nên một dấu ấn không dễ phai mờ trong lòng bao độc giả .Những suy tư đó của tác giả có lẽ đã góp phần làm cho “Sang thu” trở nên giàu ý nghĩa . mưa. giọng thơ êm đềm và những rung động man mác . Có lẽ vì vậy mà sau khi đọc “Sang thu” của Hữu Thỉnh ta càng thấy yêu hơn mùa thu thiết tha.Ý thơ còn gợi liên tưởng đến con người khi đã lớn tuổi và từng trải thì những giông gió. Hình ảnh thơ đẹp . Lưu Trọng Lư có « Tiếng thu ». ngôn từ tinh tế . “ cũng bớt bất ngờ” bởi mùa thu đã đến . « Thu ẩm » . Nếu như Nguyễn Khuyến có chùm thơ thu với ba bài : « Thu vịnh ».

Con sông tràn trề nước mà hình như cứ không chịu chảy. Đến sương lúc này cũng là sương thu mà Hữu Thỉnh vẫn còn ngẩn ngơ mãi: “Hình như thu đã về” Ông thờ ơ quá chăng hay bởi lòng ông đang bối rỗi? Thu về tự bao giờ? Từ hương ổi hay từ làn gió heo may? Thu làm lòng người xao xuyến quá chừng để đến nỗi không biết thu đến thực hay mơ! Sau một thoáng bỡ ngỡ.hoa cúc. Nó không mang cái mùi thơm hăng hắc như hoa sữa. Thu sang mang theo hơi thửo của mình và mang theo cả cái vẻ thu mơ màng mờ ảo: “Sương chùng chình qua ngõ” Sương thu cũng có cái nét đặc biệt riêng của nó. Nhịp thơ nhanh và gấp cũng như hơi thở của mùa thu đã bắt đầu đập mạnh. Nó chỉ khiến ta hơi co người lại một chút và để rồi thảnh thơi đón nhận cả một lưồng khí thu mát rượt trong lòng. Sương đang đợi ai. Sương thu là những làn khói mong manh bay vờn nhẹ trên những nãi nhà. mà là với hương ổi thơm giòn ngọt phả vào trong gió thu. nó cũng mang hồn người . cứ cố nán lại để đợi chờ ai. sương đang chờ ai mà sao lưu luyến thế? Từ láy “chùng chình” tạo cho ta cảm giác “dùng dằng nửa ở nửa về”. sẽ chẳng ở đâu có cái gió se lạnh ấy ngoài mùa thu của đất Bắc – cái gió se mà từ lâu vẫn được coi là hồn thu Bắc Bộ. Hữ Thỉnh chẳng còn nghĩ gì ngoài cảm xúc đang dâng trào: “Sông được nước dềnh dàng. đề người ta chợt xốn xang trong lòng. Sông vào mùa này chẳng có mưa to gió lớn nên nước cứ “dềnh dàng”. Sương thu không vô cảm. cũng không phải với vị thơm ngon của cốm làng Vòng. nhà thơ như chợt bừng tỉnh. Một hương thơm thu một làn heo may thu đã làm nên cái mở độc đáo cho bài thơ. Sông chờ nước mùa thu chăng? Một hình ảnh thơ thật thi vị và lãng mạn. Có lẽ. Hương thơm ấy nhẹ nhàng thoảng qua theo gió.thu đã về thật rồi! Khép lại những hoài nghi. cũng không quá nhẹ để người ta dễ lãng quên. Thu đến chẳng hề báo trước! Thu sang từ bao giờ Hữu Thỉnh cũng không biết nữa! Ông chỉ nhận ra một sự bất ngờ mà như đã đợi từ lâu lắm. ngoài vườn. Dường như cái hương thơm dịu ấy chỉ thoang thoảng quanh quất đâu đây. chúng phải vội vã bay về phương Nam tránh rét. Nó không tan nhanh như sương mùa hạ. Nhưng đàn chim thì không thể dềnh dàng được nữa. thậm chí dường như còn độc đáo đến bất ngờ cho cả nhà thơ : “Bỗng nhận ra hương ổi”. Chim bắt đầu vội vã”. Tất cả đều đang . Làn gió se se lạnh của mùa thu cũng rất khác với cái gió tê tái của mùa đông. cũng chẳng dầy đặc như sương mùa đông.

Tàu lá nón khi đem về vẫn còn xanh nhăn nheo. Nguyễn Khuyến viết: “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” – có nghĩa là thu của Nguyễn Khuyến đã thực là thu. Lửa phải vừa độ. Nguyên liệu làm nón không phức tạp.một mùa thu nhẹ nhàng. gác lên dàn bếp hong khói chống mối mọt. đồng thời tránh cho lá khỏi mốc. nó không còn vương vấn chút gì của mùa hè rực lửa. dùng làm vòng nón. gần gũi của người phụ nữ Việt Nam . vàng cháy. nón được tết đan. Chiếc nón đã được chạm khắc trên những cổ vật như trống đồng Ngọc Lũ. Còn Hữu Thỉnh. Con số 16 là kết . nguội quá lá chỉ phẳng lúc đầu. phải “Vắt nửa mình sang thu”.Hà Nội) có 16 lớp vòng. nếu nóng quá thì bị giòn. đã và sẽ có nhiều bài thơ thu hay. nữ tính. trên thạp đồng Đào Thịnh vào 2500-3000 năm về trước. Cũng viết về mùa thu. Người ta đốt diêm sinh hơ cho lá trắng ra. muốn làm được một chiếc nón phải dùng lá của một loại cọ nhỏ mọc hoang để lợp. Thậm chí ngay cả đám mây mùa hạ cũng thấy sốt ruột. Không biết ở đây là mùa thu lưu luyến mùa thạ hay nhà thơ đang mong chờ mùa hạ mà vẫn lưu luyến mùa thu đây? Điêu này thì Hữu Thỉnh thật khác với các nhà thơ khác. Phải chăng đám mây kia có hai nửa thì một nửa nằm bên mùa hạ. Còn loại nón khâu như ngày nay xuất hiện phải nhờ đến sự ra đời của chiếc kim. đặt lá lên dùng nắm giẻ vuốt cho phẳng. Lúc đầu khi chưa có dụng cụ để khâu thắt. dùng một loại sợi rất dai lấy từ bẹ cây móc (ngày nay người ta thường dùng sợi chỉ nilon) để khâu và tre làm vành. trông qua như một cô thôn nữ mộc mạc mà sao lại đằm thắm khó quên đến thế! (sưu tầm) Thuyết minh về chiếc nón lá của người Việt Chiếc nón lá là người bạn thủy chung. tức là vào thời kỳ người ta chế luyện được sắt (khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên). Trong làng thơ dân tộc. được đem là bằng cách dùng một miếng sắt đốt nóng. sau lại nhăn như cũ. ông viết mùa thu nhưng lại là vào lúc giao mùa. nón cũng có nhiều biến đổi về kiểu dáng và chất liệu. huyện Thanh Oai . Nhưng có lẽ sẽ chẳng ai biết mà lại quên được một chớm “Thu sang” của Hữu Thỉnh . Ở nơi nào cũng vậy. Nón Chuông (làng nón nổi tiếng Việt Nam ở làng Chuông. Theo sự phát triển của lịch sử qua các thời đại. nửa kia thuộc về mùa thu. đang thay đổi. nồng đượm hơi ấm quê nhà như thế.chuyển mình. Chắc hản phải yêu mùa thu lắm Hữu Thỉnh mới vẽ ra được một bức tranh thu nồng đượm hơi ấm đất trời. Tre chọn ống dài vuốt nhọn.

cho đến nay đã trở thành một nguyên tắc không thay đổi. Con người Việt Nam có tình cảm sâu sắc và gắn bó với chiếc nón lá giản dị dù gặp nó ở bất cứ đâu trên trái đất này. tỉnh An Giang. (Sưu tầm) CHIẾC LƯỢC NGÀ ( Trích ) I... nón ba tầm như nón thúng nhưng mảnh mai hơn. Công phu nhất là vừa vẽ chìm dưới lớp lá nón những hoa văn vui mắt. chiếc nón còn hướng tới mục đích làm đẹp cho con người và phù hợp với cảm quan thẩm mỹ của người Việt: đẹp một cách tế nhị. cái gáy trắng ngần của cô gái dường như được tôn thêm nét duyên dáng.Tác giả Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932 quê ở huyện Chợ Mới.quả của sự nghiên cứu. tất cả đều để che chắn cho những con người sống trên một dải đất nắng lắm mưa nhiều. kín đáo. khiến khi nhìn vào chiếc nón chỉ thấy tăm tắp những mũi khâu mịn màng. Trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Người ta gắn lên đỉnh của lòng nón một mảnh gương tròn nho nhỏ để các cô gái làm duyên kín đáo. Dưới vành nón. mềm mại và kín đáo của người phụ nữ Việt Nam . váy lĩnh. đồng lúa. chiếc nón được coi là một thứ phục trang truyền thống của phụ nữ Việt Nam .. nón thúng rộng vành. nụ cười. đôi mắt. những sợi tóc mai. nón chóp nhọn đầu. má lúm đồng tiền. Cùng với áo dài. ông tham gia bộ đội. yếm đào. lựa chọn qua nhiều năm. Người ta đội nón làm đồng. Những sợi móc dùng để khâu thường có độ dài.Tác giả. hay những hình ảnh bụi tre. ngắn khác nhau. Những mũi kim khâu được ước lượng mà đều như đo. thắt lưng bao... che mưa. áo cánh. phải soi lên nắng mới thấy được gọi là nón bài thơ. Nhưng vẻ đẹp của chiếc nón chủ yếu nhờ vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ tạo nên. Muốn khâu cho liên tục thì gần hết sợi nọ phải nối tiếp sợi kia. tác phẩm 1. . Nón có nhiều loại. Ngoài chức năng che nắng. những câu thơ trữ tình. Và cái tài của người thợ làng Chuông là các múi nối sợi móc được dấu kín. Các cô gái Việt Nam chăm chút chiếc nón như một vật trang sức. đi chợ. Trong nghệ thuật. kín đáo mà không kém phần quyến rũ. chơi hội. tiết mục múa nón của các cô gái với chiếc áo dài duyên dáng thể hiện tính dịu dàng. đôi khi là vật để trao đổi tâm tư tình cảm của riêng mình..

Từ năm 1958 ông công tác tại Hội nhà văn Việt Nam. tiểu thuyết.Ở khu căn cứ.Nếu tình huống thứ nhất bộc lộ tình cảm mãnh liệt của bé Thu với cha. mộc mạc. đến lúc em nhận ra và biểu lộ tình cảm thắm thiết thì anh Sáu lại phải ra đi. tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc anh Sáu phải ra đi.hoạt động ở chiến trrường Nam Bộ.Tác phẩm Truyện ngắn Chiếc lược ngà được viết năm 1966. Nhưng ông đã hi sinh khi chưa thể gửi món quà ấy cho con gái. anh Sáu dồn hết tình cảm yêu thương và mong nhớ đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà để tặng con gái bé bỏng. anh hi sinh. anh còn kịp trao cây lược cho người bạn với lời nhắn gửi không nói lên lời. Trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Đây là tình huống cơ bản của truyện . nhưng thật trớ trêu là bé Thu không nhận ra cha. Em đối xử với ba như người xa lạ. . người cha dồn hết tình cảm yêu quí. Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng có nhiều thể loại: truyện ngắn. Bé Thu không nhận ra cha vì cái sẹo trên mặt làm ba em không giống với người trong bức ảnh chụp với má mà em được biết. Từ sau năm 1954 ông tập kết ra Bắc. nhưng sâu sắc đậm đà chất Nam Bộ. II. . Trước lúc nhắm mắt. Lối viết của Nguyễn Quang Sáng giản dị.Truyện ngắn Chiếc lược ngà 1.Tình huống truyện Truyện đã thể hiện tình cha con sâu sắc của hai cha con anh Sáu trong hai tình huống: . Mãi khi con gái lên tám tuổi anh mới có dịp về thăm nhà. ông tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác. Trong một trận càn. 2. công tác tại phòng văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam và bắt đầu viết văn. 2. kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hoà bình. khi tác giả đang hoạt động ở chiến trường Nam Bộ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ và được đưa vào tập truyện cùng tên.Cuộc gặp gỡ của hai cha con anh Sáu sau tám năm xa cách. làm biên tập cho tuần báo Văn nghệ của Hội nhà văn. thì tình huống thứ hai lại biểu lộ tình cảm sâu sắc của người cha đối với con. nhớ thương đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để tặng cô con gái bé bỏng. Đến lúc thu nhận ra cha. Ở khu căn cứ.Tóm tắt truyện Anh Sáu xa nhà đi kháng chiến.

nên nó không tin ông Sáu là ba nó chỉ vì trên mặt ông có thêm vết sẹo. hất cái trứng cá mà ông đã gắp cho ra khỏi bát. hôn cổ. Trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh. xa cách. Sự nghi ngờ bấy lâu được giải tỏa và ở Thu nảy sinh một trạng thái như là sự ân hận nuối tiếc: “ Nghe bà kể nó nằm im. rồi vụt chạy và kêu thét lên khi mới gặp ông Sáu. lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”. éo le của đời sống và người lớn cũng không ai kịp chuẩn bị cho nó những khả năng bất thường. chỉ gọi trống không với ông Sáu mà không chịu gọi cha. “ hai tay nó siết chặt lấy cổ. Nhưng thật trớ trêu.Thái độ và hành động của Thu trước khi nhận ra ông Sáu là cha . . tình yêu và nỗi mong nhớ với người cha xa cách đã bị dồn nén bấy lâu.Gặp lại con sau nhiều năm xa cách với bao nỗi nhớ thương nên ông Sáu không kìm được nỗi vui mừng trong phút đầu nhìn thấy đứa con. đáp lại sự vồ vập của người cha. Lần đầu tiên Thu cất tiếng gọi ba và tiếng kêu của nó như xé.Sự ương ngạnh của bé Thu hoàn toàn không đáng trách. và đôi vai nhỏ bé của nó run run” . Nó hôn tóc. chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó. Trong cái cứng đầu của em có ẩn chứa cả sự kiêu hãnh trẻ thơ về một tình yêu dành cho người cha khác-người trong tấm hình chụp chung với má em. nhanh như một con sóc. nó còn quá bé nhỏ để có thể hiểu được những tình thế khắc nghiệt. chân thật. nay nay bùng ra thật mạnh mẽ và hối . hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa”. trước phút ông Sáu phải lên đường. “ Nó hôn ba nó cùng khắp.Trong buổi sáng cuối cùng.3. khác với hình ba mà nó được biết.Trong đêm bỏ về nhà bà ngoại. nó còn chứng tỏ em có cá tính mạnh mẽ. thái độ và hành động của bé Thu đã đột ngột thay đổi hoàn toàn. nhất định không chịu nhờ ông chắt nước nồi cơm to đang sôi. Vì thế trong giờ phút chia tay với cha. rồi “ nó vừa kêu vừa chạy xô tới. mặt tái đi.Phân tích diễn biến tâm lí và tình cảm của bé Thu trong lần đầu gặp cha cuối cùng. khi ông Sáu được về phép a. cuối cùng khi bị ông Sáu tức giận đánh một cái thì bỏ về nhà bà ngoại. nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó”. bé Thu lại tỏ ra ngờ vực lảng tránh. và ông Sáu càng muốn gần con thì đứacon lại càng tỏ ra lạnh nhạt. Phản ứng tâm lí của em là hoàn toàn tự nhiên. khi xuống xuồng còn cố ý khua dây cột xuồng rổn rảng thật to. Tâm lí và thái độ ấy của bé Thu được biểu hiện qua hàng loạt chi tiết mà người kể chuyện quan sát và thuật lại rất sinh động: hốt hoảng. tình cảm của em sâu sắc. Thu đã được bà giải thích về vết thẹo làm thay đổi khuôn mặt ba nó. em chỉ yêu ba khi tin chắc đó đúng là ba.Thái độ và hành động của Thu khi nhận ra người cha . b.

éo le mà chiến tranh đã gây ra cho bao nhiêu con người. Rồi lời dặn của con: “ Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba” đã thúc đẩy ông nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà dành cho con.Đó là tình cảm thật sâu sắc. nhớ thương mog đợi của người cha đối với đứa con xa cách.Câu chuyện về chiếc lược ngà không chỉ nói lên tình cha con thắm thiết. nhưng được biểu hiện tập trung và sâu sắc ở phần sau của truyện. c. ông đã vô cùng vui mừng.Tình cảm của ông Sáu với con đã được thể hiện phần nào trong chuyến về phép thăm nhà. thiêng liêng với ông Sáu.Qua những diễn biến tâm lí của bé Thu được miêu tả trong truyện. khi ông Sáu ở trong rừng tại khu căn cứ. Nhưng rồi một tình cảnh đau thương lại đến với ông Sáu: Ông đã hi sinh khi chưa kịp trao vào tay đứa con gái chiếc lược ngà. Chiếc lược ngà đã thành một vật quí giá. cuống quýt có xen lẫn cả sự hối hận. anh cưa từng chiếc răng lược.hả. sâu nặng của cha con ông Sáu. . ta thấy tác giả tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ và diễn tả rất sinh động với tấm lòng yêu mến và trân trọng những tình cảm trẻ thơ. rồi ông dành hết tâm trí. Chứng kiến những biểu hiện tình cảm ấy trong cảnh ngộ cha con ông Sáu phải chia tay. . Ở Thu còn có nét cá tính là cứng cỏi tưởng như ương ngạnh.Nỗi day dứt ám ảnh ông suốt nhiều ngày sau khi ông chia tay với gia đình là việc ông đã đánh con khi nóng giận. tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. mà còn gợi cho người đọc nghĩ đến và thấm thía những đau thương. Nó làm dịu đi nỗi ân hận và chứa đựng bao nhiêu tình cảm yêu mến.Một số nét tính cách của Thu biểu hiện qua tâm lí và hành động .Khi kiếm được một khúc ngà. công sức vào việc làm một cây lược: “ Những lúc rỗi. sung sướng. có người không cầm được nước mắt và người kể chuyện thì cảm thấy như có bàn tay ai nắm lấy trái tim mình. nhưng Thu vẫn là một đứa trẻ với tất cả nét hồn nhiên. “ Trên sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng. 5. thận trọng. nhưng cũng thật dứt khoát rạch ròi. mất mát. tẩn mẩn khắc từng nét: “ Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. bao nhiêu gia đình. .Nghệ thuật trần thuật của truyện . .Phân tích tình cảm cha con sâu nặng ở anh Sáu . ngây thơ của con trẻ. 4. mạnh mẽ.

chia sẻ với các nhân vật. tự nhiên với giọng thân mật dân dã. ý nghĩa tư tưởng của truyện thêm sức thuyết phục. mà còn được được thể hiện trong hoàn cảnh ngặt nghèo và éo le của chiến tranh và trong cuộc sống nhiều gian khổ. rất am hiểu và gắn bó với mảnh đất ấy. các chi tiết và sự việc và nhân vật khác trong truyện bộc lộ rõ hơn. Người kể chuyện trong vai một người bạn thân thiết của ông Sáu.Lựa chọn nhân vật kể chuyện thích hợp. có những yếu tố bất ngờ nhưng hợp lí: bé Thu không nhận cha khi ông Sáu về thăm nhà.Truyện Chiếc lược ngà được Nguyễn Quang Sáng viết năm 1966. Điều đáng chú ý là truyện ngắn này viết trong hoàn cảnh chiến tranh cá liệt nhưng lại tập trung nói về tình người-cụ thể ở đây là tình cha con trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh và tình đồng chí của những người cán bộ cách mạng. Đó không chỉ là tình cảm muôn thủa. Là một nhà văn Nam Bộ. tình cảm ấy càng đáng trân trọng và đồng thời nó cũng cho thấy những nỗi đau mà chiến tranh gây ra cho cuộc sống bình thường của mọi người. Sự bất ngờ càng gây được hứng thú cho người đọc khi ở phần sau của truyện tác giả còn tạo thêm một bất ngờ nữa. rồi lại biểu lộ những tình cảm thật nồng nhiệt. xoay quanh những tình huống khá bất ngờ nhưng tự nhiên. trong một lần ông cùng đoàn cán bộ theo đường dây giao liên. bấy giờ đã thành một cô giao liên dũng cảm. Vì thế. dẫn truyện của tác giả thường thoải mái. vượt qua một quãng nguy hiểm ở Đồng Tháp Mười. *Những điểm cần lưu ý 1. Cảm nghĩ về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà’’ Cảm nghĩ về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà’’ . hợp lí.Tác giả đã xây dựng được một cốt truyện khá chặt chẽ. đó là cuộc gặp gỡ tình cờ của nhân vật người kể chuyện với bé Thu. tại chiến trường Nam Bộ trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt. Nghệ thuật kể chuyện. đầy xúc động với người cha trước lúc chia tay. không chỉ là người chứng kiến khách quan và kể lại mà còn bày tỏ sự đồng cảm. . 2. Tình cha con được miêu tả cảm động ở cả hai phía: người cha cán bộ cách mạng và đứa con gái nhỏ.Truyện Chiếc lược ngà khá tiêu biểu cho cho những đặc điểm trong nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng.. hi sinh của người cán bộ cách mạng. có tính nhân bản bền vững. Ngôn ngữ trong truyện của ông gần với khẩu ngữ và đậm màu sắc Nam Bộ. Nguyễn Quang Sáng hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong chiến tranh và sau hòa bình. Đồng thời qua những ý nghĩ cảm xúc của nhân vật kể chuyện. Truyện của ông thường có cốt truyện hấp dẫn.

Giới thiệu được tác giả.những hành động chứa đựng sự lảng tránh đó lại hoàn toàn phù hợp với tâm lí trẻ thơ bởi trong suy nghĩ của Thu anh Sáu là người đàn ông lạ lại có vết thẹo trên mặt giần giật dễ sợ. bởi em còn quá nhỏ chưa hiểu được những tình thế khắc nghiệt éo le của đời sống. .sự kiêu hãnh của trẻ thơ về một tình yêu nguyên vẹn trong sáng mà Thu dành cho ba. và khi bị đánh nó đã bỏ đi một cách bất cần….nhân vật chính của đoạn trích “Chiếc lược ngà’’ một cô bé hồn nhiên ngây thơ. Đằng sau những hành động ấy ẩn chứa cả tình yêu thương ba.1. .Diễn biến tâm lý của bé Thu trước khi nhận anh Sáu là cha: + Yêu thương ba nhưng khi gặp anh Sáu.nó căm ghét cao độ người đàn ông măt thẹo kia. .Cảm nhận chung về nhân vật bé Thu. không ương bướng mà buồn rầu nghĩ ngợi sâu xa. có cá tính bướng bỉnh nhưng yêu thương ba sâu sắc. cha đi công tác khi Thu chưa đầy một tuổi. sự nuối tiếc. đó là phản ứng tâm lí hoàn toàn tự nhiên của một đứa trẻ có cá tính mạnh mẽ… Hành động tưởng như vô lễ đáng trách của Thu lại hoàn toàn không đáng trách mà còn đáng thương. + Trong hai ngày sau đó Thu hoàn toàn lạnh lùng trước những cử chỉ đầy yêu thương của cha. đất nước có chiến tranh. .Diễn biến tâm lý của Thu khi nhận ba: + Sự thay đổi thái độ đến khó hiểu của Thu. nó cự tuyệt tiếng ba một cách quyết liệt trong những cảnh huống mời ba vào ăn cơm. 2. sợ hãi và bỏ chạy…. Thân bài: Phân tích diễn biến tâm lý của nhân vật bé Thu . và thái độ hất tung cái trứng cá trong bữa cơm…Từ cự tuyệt nó đã phản ứng mạnh mẽ…. trước những hành động vội vã thái độ xúc động. ánh mắt cử chỉ hành động của bé Thu như thể hiện sự ân hận. nó tức giận. xử lí nồi cơm sôi. Mở bài: . lớn lên em chưa một lần gặp ba được ba chăm sóc yêu thương. nôn nóng của cha…Thu ngạc nhiên lạ lùng. . muốn nhận ba nhưng e ngại vì đã làm ba giận. tình yêu Thu dành cho ba chỉ gửi trong tấm ảnh ba chụp chung cùng má. tác phẩm và nhân vật bé Thu với tài năng miêu tả tâm lý nhân vật.Khái quát được cảnh ngộ của gia đình bé Thu.

trái tim nhạy cảm. đất nước”. nhân hậu. am hiểu tâm lý của trẻ thơ đã giúp tác giả xây dựng thành công nhân vật bé Thu. trong lời ước nguyện mua cây lược.. nhảy thót lên. hôn ba nó cùng khắp. .Những năm tháng sống gắn bó với mảnh đất Nam Bộ. Kết bài: Khẳng định thành công. đồng thời bộc lộ ấn tượng sâu đậm nhất về nhân vật cũng như toàn bộ tác phẩm. . Vết thẹo không chỉ gây ra nỗi đau về thể xác mà còn hằn nên nỗi đau về tinh thần gây ra sự xa cách hiểu lầm giữa cha con bé Thu. tiếng khóc nức nở…Đó là cuộc hội ngộ chia tay đầy xúc động. ..+ Tình yêu thương ba được bộc lộ hối hả ào ạt mãnh liệt khi anh Sáu nói “Thôi ba đi nghe con”. (Sưu tầm) Nhân vật anh thanh niên trong "Lặng lẽ Sa Pa" Trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”.Khẳng định lại vấn đề: Ngòi bút miêu tả tâm lý khắc hoạ tính cách nhân vật tinh tế thể hiện được ở bé Thu một cô bé hồn nhiên ngây thơ. trân trọng tình cảm gia đình trong cuộc sống hôm nay. tác giả Nguyễn Thành Long đã gửi gắm chủ đề của câu chuyện vào một lời nhận xét ngắn gọn “trong cái lặng im. mọi người … + Sự lý giải nguyên nhân việc hiểu lầm của bé Thu đựợc tác giả thể hiện thật khéo léo đó là do vết thẹo trên mặt người ba khi hiểu ra sự thực Thu “nằm im lăn lộn thở dài như người lớn”. mạnh mẽ cứng cỏi yêu ghét rạch ròi. Trong sự đối lập của hành động thái độ trước và sau khi nhân ba lại là sự nhất quán về tính cách về tình yêu thương ba sâu sắc.Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh. 3. Tình yêu ấy kết đọng trong âm vang tiếng Ba trong những hành động vội vã: Chạy nhanh như con sóc. Dàn ý chi tiết . Nhưng chiến tranh dù có tàn khốc bao nhiêu thì tình cảm cha con anh Sáu càng trở lên thiêng liêng sâu lặng. thiêng liêng đã tác động sâu sắc đến bác Ba.Hãy phân tích để làm rõ vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa cao quý của những công việc thầm lặng.

đất nước”. Ông được khẳng định như một cây bút truyện ngắn và ký đáng chú ý trong những năm 60 – 70 với cả gần chục sách đã in. anh thấy mình “thật hạnh phúc”. Sống một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2600m. Điều ấy sẽ được thấy rõ qua nhân vật: anh thanh niên. người đọc thấy vẻ đẹp của Sa Pa hiện lên thật độc đáo.. đầy chất thơ.Trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”. nhưng truyện còn giới thiệu với chúng ta về vẻ đẹp của con người Sa Pa. + Anh có những suy nghĩ thật đúng và sâu sắc về công việc đối với cuộc sống con người: “khi ta làm việc. cháu buồn đến chết mất”. trong lặng lẽ mà rất khẩn trương vì lợi ích của đất nước. đo chấn động mặt đất. Vì anh cho như vậy mới gọi là lý tưởng. . đo mưa.Đọc truyện. anh yêu nó tới mức trong khi mọi người còn ái ngại cho cuộc sống ở độ cao 2600m của anh thì anh lại ước ao được làm việc ở độ cao trên 3000m. tác giả Nguyễn Thành Long đã gửi gắm chủ đề của câu chuyện “trong cái lặng im. Đó là anh thanh niên: . tính mây. nghiên cứu khoa học. Mở bài: .I.. . phục vụ sản xuất. sao lại gọi là một mình được” và anh hiểu rằng công việc của anh còn gắn với công việc của bao anh em đồng chí dưới kia. II. Công việc của anh là: đo gió. ... quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa. đo nắng. Khi biết một lần do phát hiện kịp thời một đám mây khô mà anh đã góp phần vào chiến thắng của không quân ta bắn rơi được máy bay Mỹ trên cầu Hàm Rồng. ta với công việc là một. “Công việc của cháu gian khổ thật đấy chứ cất nó đi. dựa vào công việc báo trước thời tiết hàng ngày. phục vụ chiến đấu. 1. Đó là những con người miệt mài làm việc. vì cuộc sống của con người. anh có những suy nghĩ rất đẹp: + Đối với công việc. những vất vả của công việc. Thân bài: .Nhân vật chính trong truyện làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu. ông. + Quan niệm của anh về hạnh phúc thật là đơn giản nhưng cũng thật đẹp.Vượt lên hoàn cảnh sống.Trong văn học Việt Nam có những cây bút văn xuôi chỉ chuyên về truyện ngắn và ký – Nguyễn Thành Long là một trong số đó. “Lặng lẽ Sa Pa” là kết quả của chuyến “thâm nhập thực tế” ở Lào Cai của tác giả trong mùa hè năm ấy.

Vì sách chính là người bạn để anh “trò chuyện”. . mời bác lái xe và ông hoạ sĩ uống trà. anh nhiệt tình giới thiệu với ông những người khác mà anh cho rằng đáng cảm phục hơn anh. 2) Ta còn bắt gặp ở đất Sa Pa những con người làm việc âm thầm. Dẫu phải sống một mình nhưng anh vẫn luôn quan tâm tới người khác: anh gửi biếu gói tam thất cho vợ bác lái xe vừa bị ốm. anh “thèm người” tới mức phải lấy cây chắn ngang đường ô tô để được nghe tiếng người ! Về sau anh nghĩ: “Nếu đó chỉ là nỗi nhớ phồn hoa đô thị thì thật xoàng” và anh đã vượt qua để sống.Ở người thanh niên ấy còn có một phong cách sống rất đẹp: + Đó là sự cởi mở. Ngày nào cũng vậy. được trò chuyện. không một bóng người. tặng hoa cho cô gái. không người giám sát. chính xác đủ 4 lần trong một ngày vào lúc 4 giờ. anh đã vượt qua những gian khổ của hoàn cảnh. một vườn hoa rực rỡ. Mới đầu. thành thực cảm thấy công việc và những đóng góp của mình chỉ là nhỏ bé. 11 giờ. Bởi anh còn biết tạo niềm vui trong công việc. + Nhưng cái gian khổ nhất là vượt qua được sự cô đơn. Nhờ có sách mà anh chống trọi được với sự vắng lặng quanh năm. làm việc một cách nghiêm túc. vắng vẻ quanh năm suốt tháng một mình trên đỉnh núi cao. anh làm việc một cách đều đặn.Anh còn có một nếp sống đẹp: Anh tự sắp xếp cuộc sống một mình ở trạm một cách ngăn nắp: có một vườn rau xanh tốt. một đàn gà đẻ trứng. để trở thành: “con người cô độc nhất thế gian” mà bất cứ ai đã một lần gặp anh đều mang theo ấn tượng đẹp đẽ.+ Cuộc sống của anh không cô đơn buồn tủi như người khác nghĩ. dù mưa tuyết giá lạnh thế nào anh cũng trở dậy ra ngoài trời làm việc. khao khát được gặp gỡ. lặng lẽ cho đất nước qua lời kể của anh thanh niên: . mở mang kiến thức. ở anh còn có những hành động thật đẹp đẽ biết bao: + Mặc dù chỉ có một mình. Nửa đêm. + Anh còn là người khiêm tốn. . đúng giờ “ốp”. rất qúy trọng tình cảm của mọi người. đó là đọc sách. hạnh phúc và cuộc sống. Khi ông hoạ sĩ muốn vẽ chân dung anh. . tặng cho người đi xa một giỏ trứng gà tươi. làm việc một mình với cỏ cây thiên nhiên Sa Pa. Nhờ có sách mà anh tiếp tục học hành.Từ những suy nghĩ đẹp về công việc. 7 giờ tối và 1 giờ sáng. tự giác với tinh thần trách nhiệm cao. chân thành với khách.

. sống có ý nghĩa sẽ mang đến cho con người niềm vui và hạnh phúc. . ông kỹ sư vườn rau. Sưu tầm Phân tích những phẩm chất cao đẹp.Sống cống hiến cho dân tộc. anh cán bộ nghiên cứu sét giúp ta hiểu thêm ý nghĩa của những công việc thầm lặng: . để xu hào trên toàn miền Bắc ta ăn được to hơn. + Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi mang lại niềm vui. đáng quý ở anh thanh niên. + Công việc là niềm vui. III. Đúng như tác giả đã viết: “Trong cái lặng im.. Họ đã dệt lên bài ca về tình yêu tổ quốc. tình yêu đất nước. niềm đam mê cháy bỏng. chăm chú rình xem cách lấy mật của ong để rồi tự tay thụ phấn cho hàng vạn cây su hào để hạt giống làm ra tốt hơn.A) Đó là ông kỹ sư vườn rau: Ngày này qua ngày khác ngồi trong vườn. Những con người ấy làm cho anh thanh niên thấy “cuộc đời đẹp quá” đâu còn buồn tẻ “cô độc nhất thế gian”. ngọt hơn trước. Anh thanh niên có những hành động cao đẹp. Hướng dẫn: Phân tích những phẩm chất cao đẹp. 3) Nhân vật anh thanh niên. có sức thuyết phục lan toả với những người xung quanh. suốt ngày chờ sét” để lập bản đồ tìm ra tài nguyên trong lòng đất. cho đất nước”. cho nhân dân. Kết bài: Qua phần phân tích trên ta thấy “Lặng lẽ Sa Pa” đang ngân vang trong lòng ta những rung động nhẹ nhàng mà thú vị về những con người âm thầm lặng lẽ nhưng thật đáng yêu. hạnh phúc cho mọi người. đáng quý ở anh thanh niên. . B) Đó là anh cán bộ nghiên cứu sét: Đã “11 năm không một ngày xa cơ quan” luôn “trong tư thế sẵn sàng.Cuộc sống lao động giản dị nhưng cao đẹp làm nên vẻ đẹp đích thực của mỗi con người. Anh thanh niên có những suy nghĩ và quan niệm đúng đắn về công việc và cuộc sống.

Anh thanh niên có phong cách sống rất đáng quý. Ông khoe làng ông có nhà ngói san sát. sầm uất. tự nguyện tự giác hoàn thành xuất sắc công việc vốn hết sức vất vả và đơn điệu. Nhân vật anh thanh niên giúp ta hiểu thêm về thế hệ cha anh đi trước trong một giai đoạn lịch sử của dân tộc. Đánh giá nhân vật. + Khiêm tốn. vô tư. chân thành với mọi người. Là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. phát biểu cảm nghĩ. yêu làng sâu sắc của ông. Đây là một tác phẩm độc đáo viết về lòng yêu nước của ông Hai Tu. đáng trân trọng. khâm phục những nhân vật đáng quý. sống có lý tưởng. cống hiến hết mình cho đất nước. Tình cảm và ý nghĩa này đã trở thành phổ biến ở mỗi người nông dân VN ta trong những ngày đầu chống Pháp. Kể về làng chợ Dầu. yêu đến nỗi đi đâu ông cũng khoe về cái làng của ông.600 m. lặng thầm. cởi mở. đáng mến trong “Lặng lẽ Sa Pa”. Truyện ngắn “Làng” là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân được viết trong thời kì đầu của cuộc khánh chiến chống Pháp (1948). Là nhà văn am hiểu sâu sắc. quê ở Hà Bắc. ta nghĩ tới trách nhiệm. khoa học. Nhân vật anh thanh niên tiêu biểu cho những con người lao động mới. lòng yêu nước này xuất phát từ tình yêu quê hương. Ông Hai yêu cái làng chợ Dầu của ông thật đậm đà. hành động của thanh niên chúng ta trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới. ông đã có sáng tác đăng báo từ trước cách mạng tháng 8. tha thiết .+ Vượt qua mọi khó khăn thử thách để làm quen với cuộc sống chỉ có một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2. + Dồn tất cả thời gian công sức. + Tổ chức cuộc sống ngăn nắp. phong phú cả về vật chất và tinh thần. gắn bó với nông dân và nông thôn. (Nguồn: Internet) Phân tích truyện ngắn Làng (Kim Lân) Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài sinh năm 1921. Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt nông thôn và cảnh ngộ của người nông dân. đường trong làng lát toàn bằng đá xanh. trời mưa đi từ đầu làng đến cuối xóm bùn . Trân trọng. ông nói một cách say sưa mà không cần biết người nghe có chú ý hay không.

Quả thật.không dính đến gót chân. Nhưng trong đó. ông khổ tâm day dứt khôn nguôi. ông buộc phải xa làng. tình yêu đất nước được ông Hai đặt lên trên hết. vinh dự vì làng mình có cái nét độc đáo. trong những ngày này. cuộc đời và số phận của ông Hai thật sự gắn bó với buồn vui của làng. Ông còn tự hào về cái sinh phần của tổng đốc làng ông.. Thay vào đó là nỗi vui mừng. yêu làng xóm. Tới đây. sân đình… và nâng cao lên đó chính là : tình yêu đất nước. Cũng chình từ lúc ấy. có bề dày lịch sử. Chính cái tình huống ngặt nghèo khi giặc tràn vào làng. nhưng làng theo Tây thì phải thù.. nên lúc tản cư. Ông còn khoe cả những hố . tưởng như không thể thở được. Đến khi mụ chủ nhà đến báo không cho gia đình ông ở nữa. yêu miền quê trở nên lòng yêu TQ “. những hào.. nhỏ : cây đa. sung . Xa làng ông mang theo tất cả nỗi niền thương nhớ. xấu hổ tan biến. da mặt tê rân rân” ông lão lặng đi. một tin khác lại đính chính rằng làng ông không theo giặc. suốt ngày ru rú trong nhà và nghe ngóng tin tức. nó đã giúp ông hiểu dc sự sai lầm của mình. Nhưng khi cách mạng thành công. Và từ đó.” Có thể nói với ông Hai. Ông nguyền rủa bọn theo Tây : “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này”. nỗi niềm và tâm sự của ông được thể hiện trong những lời trò chuyện của ông với đứa con út. Vì vậy. Phải thực sự am hiểu sâu sắc về con người. là chợt nhớ đến câu nói bất hủ của nhà văn I-li-a Ê-ren-bua : “lòng yêu nhà. Có thể tình yêu nước của họ bắt nguồn từ cái đơn giản. nhất là tâm lí của người dân thì Kim Lân mới diễn tả đúng tâm trang nhân vật như vậy. lắm công trình không để đâu hết. những ụ. những buổi tập quân sự có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập. Ông hỏi con: “con ủng hộ ai?” Thằng bá giơ tay mạnh bạo và rành rọt: “ Ùng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm”. Hai tình cảm này đã dẫn đến cuộc xung đột nội tâm trong lòng ông. Tự hào và yêu nơi “ chôn rau cắt rốn” của mình trở thành một truyền thống và tâm lý chung của mọi người nông dân thời bấy giờ. làng và nước bay giờ đã trở thành đối địch. Tháng 5 ngày 10 phơi rơm và thóc tốt thượng hạng. Những nỗi lo âu. Trò chuyện với con như là để thanh minh cho làng mình. ông thấy tuyệt đường sinh sống và ông nảy ra ý định: “hay là quay về làng ?” nhưng rồi ý nghĩ đó lập tức bị ông lão phản đối ngay vì : “ làng thì yêu thật. Ông tự hào. ông Hai suốt ngày ra trụ sở để nghe ngóng tin tức về làng chợ Dầu và ông nghe tin cả làng ông Việt gian theo tây. giếng nướ. Ông cảm thấy đâu đớn và nhục nhã vì cái làng chợ Dầu yêu quý của mình theo giặc. ông không dám đi đâu hết. Những ngày ở làng Thắng. Thế rồi. mỗi khi khoe về làng là ông khoe về những ngày khởi nghĩa dồn dập. Cái lòng của bố con ông là thế đấy “chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”. Cổ ông lão “ nghẹn ắng lại. không có lấy một hạt thóc đất.

buồn tủi đã được rũ sạch. Họ đã đặt tình yêu đất nước lên trên tình yêu làng. Kim Lân đã chứng tỏ được tài nghệ của mình. Lời nói của ông hai đúng là lời nói của những người nông dân thời bấy giờ.Mở bài Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. khoe cả cái việc nhà ông bị đốt cháy một cách sung sướng. chất phác.sướng. Kim Lân đã thể hiện được tài năng của mình qua tác phẩm này. Đọc tác phẩm giúp ta hình dung được một thời kỳ chống Pháp sôi nổi của nhân dân. và khi biết làng mình không theo giặc. theo Đảng khánh chiến đến cùng. ông sung sướng. Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả” Qua lời khoe củ ông Hai. Ông đi từ đầu làng đến cuối xóm khoe cái tin làng mình không theo giặc. Kim Lân thật thành công trong nghệ thuật xây xựng truyện. hả hê. Đốt nhẵn ! ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính. Ông gắn bó với thôn quê. hả hê: “ bác Thứ đâu rồi ! Bác Thứ làm gì đấy ? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. thậm chí còn khoe cả tin nhà mình bị đố cháy một cách vui sướng. Khi biết làng bị tình nghi theo giặc thì ông đau khổ. mọi người một lòng theo Bác. Niềm vui vì làng không theo giặc đã choáng hết tâm trí ông. miêu tả sự phát triển tâm lý nhân vật như vậy. một trong những người dân bấy giờ. từ lâu đã am hiểu người nông dân. tủi nhục. Diễn biến tâm lý của ông Hai từ đầu đến cuối truyện thật cảm đông. yêu làng của người nông dân VN thời kháng chiến chống Pháp. nhất là nghệ thật sử dụng ngôn ngữ nhân vật mà ông Hai là điển hình. Quả thật. đơn giản. tiêu biểu cho tầng lớp nông dân VN sau cách mạng tháng 8. điều làm ta cảm động đó là ông không hề tiếc hay buồn khi ngôi nhà của ông bị đốt . Xây dựng được những chi tiết ấy. cái tin làng chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Đi kháng chiến. Yêu làng đến nỗi đi đâu cũng khoe về làng. ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân . kể cả những từ dung sai: “bác Thứ đâu rồi… Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả”. ông ấy cho biết… cái tin. Kim Lân rất thành công trong việc khắc họa hình ảnh của ông Hai. Bên cạnh đó Kim Lân còn thành công trong việc miêu tả tâm lý nhân vật. Dàn ý: A. Mọi đau khổ. có lẽ vì vẫy mà cuộc chiến của ta đã dành được thắng lợi vẻ vang. Truyện “Làng” là một tác phẩm khá thành công khi viết về lòng yêu nước.

Phải xa làng. chỗ kia giết một tí. đắp ụ. náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế. .Ông hay khoe làng.Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948.Khi mới nghe tin xấu đó. ngày mai dăm khẩu. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc. ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm. tình cảm quê hương đất nước.Được cách mạng giải phóng. đi theo kháng chiến. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người. trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. thích bìh luận. . nhân vật ông Hai. tích tiểu thành đại. cả súng cũng vậy. c. ông nhớ quá cái khong khí “đào đường. 2. Sau cách mạng. xẻ hào.Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới. . hôm nay dăm khẩu.Thân bài 1. .… những đường hầm bí mật. người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.…” đã xong chưa? . a.. Nghe họ chì . Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc.Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến. Nhưng khi người ta kể rành rọt. ông sững sờ. B. chỗ này giết một tí. tinh thần kháng chiến. một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương. chưa tin. b. không tin không được. thông qua một con người cụ thể. ông xấu hổ lảng ra về. tình yêu nước. Tình yêu làng. khuân đá…”. rồi ông lo “cái chòi gác. làm gì mà thằng Tây không bước sớm”. in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm.

Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt. . Ông giận những người ở lại làng.Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông . lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”. + Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông.Ba bốn ngày sau. nhìn thấy các con. Tình cảm đó sâu nặng.Tình cảm đối với kháng chiến. ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu. Ông luôn hoảng hốt giật mình. . càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng. đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ.Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá. . lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân. . chân thành. bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ. ông không dám ra ngoài. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. + Qua đó. Nhưng tình yêu nước. nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”. d. gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ. .Về đến nhà. ta thấy rõ: Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc). Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc. Khi cái tin kia được cải chính. hắt hủi”. vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà. với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông. bố của nó.chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi.

Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông.Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng. .dân lao động bình thường. gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ. Nhưng ngay từ giây phút đầu. hành vi. (sưu tầm)Cảm nhận về tình cha con trong truyện "Chiếc lược ngà" Cảm nhận về tình cha con trong truyện "Chiếc lược ngà" Truyện “Chiếc lược ngà” (Nguyễn Quang Sáng) được viết trong cuộc kháng chiến chống Mĩ nhưng chủ yếu tập trung nói về tình người trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. ông càng đón chờ . Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động. Với lòng mong nhớ con. Đoạn trích “Chiếc lược ngà” (Sgk Văn 9. đối xử với ông như người xa lạ. . . Đứa trẻ hoàn toàn ngơ ngác. C. cháy bỏng khát khao được gặp con. yêu nước rất mộc mạc. sâu nặng của ông Sáu và bé Thu.Miêu tả rất cụ thể. Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý. lạnh lùng.Kết bài: . ngôn ngữ đối thoại và độc thoại. Ông Sáu về thăm nhà sau bao năm ở chiến khu với cái tình của người cha nôn nao. chân thành mà vô cùng sâu nặng.Qua nhân vật ông Hai. tập I) thể hiện tình cha con thắm thiết. . 3. người đọc thấm thía tình yêu làng. điều mà ông bấy lâu mong đợi được nghe con gái gọi tiếng “Ba !” không được đền đáp.Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật. cao quý trong những người nông dân lao động bình thường.

tình cảm của con, nó càng cố tình cự nự. Điều đó, khiến ông đau đớn “hai tay buông xuống như bị gãy”. Có những tình huống, tưởng chừng thế nào nó cũng chịu thua, không ương ngạnh được nữa, phải gọi tiếng “Ba”. Nhưng nó vẫn không chịu cất tiếng “Ba” mà ông Sáu chờ đợi. Hành động trẻ con, nói năng cộc lốc, ngang ngạnh của Thu dành cho Ba khiến ông Sáu, bạn ông Sáu và cả người đọc đau lòng và suy nghĩ. Khi có gia đình, hạnh phúc được làm cha, tiếng gọi “Ba” của đứa con gái yêu chưa dành cho ông khiến ông “khổ tâm đến nỗi không khác được, chỉ biết nhìn con vừa khẽ lắc đầu vừa cười”. Phản ứng tâm lí của Thu là hoàn toàn tự nhiên. Thu còn quá bé để có thể hiểu tình thế éo le xảy ra trong chiến tranh. Bản thân người lớn cũng chưa ai chuẩn bị cho Thu ứng phó với bất thường. Điều đó, người đọc cảm được tình cảm chân thật, sâu sắc, mãnh liệt Thu dành cho ba người mà Thu biết trên ảnh, người cha được cô bé ghi sâu trong lòng từ tấm ảnh, không phải người đàn ông xưng là "ba". Đến khi được bà ngoại tháo gỡ thắc mắc trong lòng, về lai lịch vết thẹo, Thu vỡ lẽ đó thực là ba mình. Trăn trở dằn vặt, cùng tình yêu, khát khao bấy lâu mong gặp mặt cha dồn nén, bùng nổ dữ dội, quyết liệt vào giờ phút trước khi người cha lên đường. Tiếng “Ba... a... a... ba !” vỡ ra từ sâu thẳm lòng cô bé. Tiếng kêu mà ba nó chờ đợi bao năm ròng. Tiếng kêu làm nhói tim mọi người. Ông Sáu sung sướng, hạnh phúc nghẹn lời, không cầm được nước mắt. Thu vồ vập, cuống quít, níu giữ cha, níu giữ yêu thương bấy lâu nó mong đợi. “Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”, “hai tay nó xiết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run”. Đối với người cha, đó là tiếng “ba” đầu tiên và cũng là tiếng yêu thương cuối cùng ông được nghe từ con ! Ở chiến khu, ông cố gắng hết sức, thận trọng, tỉ mỉ làm cho con chiếc lược ngà. Ông đặt vào đấy tất cả tình cảm cha con. Chiếc lược trở thành vật thiêng, an ủi ông “gỡ rối phần nào tâm trạng”, nuôi dưỡng tình cha con. Ông thường xuyên “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt”. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ thành một nghệ nhân nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một tác phẩm duy nhất trong đời. Trước khi nhắm mắt xuôi tay, ông Sáu vẫn nhớ chiếc lược, nhờ bạn chuyển lại cho con - cử chỉ chuyển giao đó là một ước nguyện giữ gìn muôn đời tình cảm cha con, ruột thịt. Truyện “Chiếc lược ngà” đã diễn tả một cách cảm động tình cha con thắm thiết, sâu nặng của cha con ông Sáu trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh. Hình ảnh cây lược được gắn vào đó một trái tim thổn thức

tình ruột thịt, khẳng định giá trị nhân bản sâu sắc, cao đẹp thiêng liêng ! (Sưu tầm) Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và "Truyện Kiều" Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và "Truyện Kiều" I.Nguyễn Du 1.Nguyễn Du ( 1765 – 1820 ), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh trưởng trong một gia đình đại quí tộc có truyền thống văn học và nhiều đời làm quan. 2.Nguyễn Du sinh trưởng trong một thời đại có nhiều biến động dữ dội: Xã hội phong kiến Việt Nam bước vào thời kì khủng hoảng sâu sắc, phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra liên tục mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn. Phong trào nông dân Tây Sơn thất bại, chế độ phong kiến triều Nguyễn được thiết lập. 3.Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Du đã sống nhiều năm phiêu bạt trên đất Bắc( 1786 – 1796 ) rồi về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh ( 1796 – 182). Sau khi Nguyễn ánh lên ngôi, Nguyễn Du ra làm quan bất đắc dĩ với triều Nguyễn. Năm 1813 – 1814, ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc, năm 1820 khi chuẩn bị làm chánh sứ sang Trung Quốc lần thứ hai, nhưng chưa kịp đi thì ông bị bệnh và mất tại Huế. 4.Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hoá dân tộc và văn chương Trung Quốc. Cuộc đời từng trải, đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho ông một vốn sống phong phú và niềm cảm thông sâu sắc với những đau khổ của nhân dân. Nguyễn Du là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. 5.Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớn bằng chữ Hán và chữ Nôm. Về chữ Hán Nguyễn Du có ba tập thơ ( Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục ) với tổng số 243 bài. Về chữ Nôm xuất sắc nhất là Đoạn trường tân thanh, thường gọi là Truyện Kiều, ngoài ra còn có Văn chiêu hồn. II.Truyện Kiều 1.Nguồn gốc Truyện Kiều: Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du có dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ( Trung

Quốc ). Nhưng phần sáng tạo của Nguyễn Du là hết sức lớn, mang ý nghĩa quyết định đến sự thành công của tác phẩm. 2.Tóm tắt Truyện Kiều Truyện Kiều bao gồm 3254 câu thơ lục bát và được chia làm 3 phần; -Gặp gỡ và đính ước -Gia biến và lưu lạc -Đoàn tụ 2.Giá trị nội dung và nghệ thuật a.Nội dung: Truyện Kiều có hai giá trị lớn là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo, là tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người, tiếng nói lên án, tố cáo những thế lực xấu xa, tiếng nói khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và những khát vọng chân chính của con người như khát vọng về quyền sống, khát vọng tự do, công lí, khát vọng tình yêu, hạnh phúc… b.Nghệ thuật: Tác phẩm là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngôn ngữ và thể loại. Với Truyện Kiều, ngôn ngữ văn học dân tộc và thể thơ lục bát đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ. Nghệ thuật tự sự đã có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn truyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lí con người. (Sưu tầm) Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. A- Mở bài: - Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Ông gắn bó với thôn quê, từ lâu đã am hiểu người nông dân. Đi kháng chiến, ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân - Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948, trên số đầu tiên của tạp

in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có. náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế. chỗ kia giết một tí. ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương. tích tiểu thành đại. c. Nhưng khi người ta kể rành rọt. rồi ông lo “cái chòi gác.Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần. làm gì mà thằng Tây không bước sớm”. không tin không được. tình cảm quê hương đất nước. Phải xa làng. Tình yêu làng. .Ông hay khoe làng. 2.Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến. . Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm. a. ngày mai dăm khẩu.… những đường hầm bí mật. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc. đi theo kháng chiến. một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. tinh thần kháng chiến. đắp ụ. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người. cả súng cũng vậy. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới. tình yêu nước.…” đã xong chưa? . chưa tin. b. . Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc.Thân bài 1. người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.Được cách mạng giải phóng. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng. ông nhớ quá cái khong khí “đào đường. .Khi mới nghe tin xấu đó. đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm. ông xấu hổ lảng ra về. khuân đá…”. Sau cách mạng. nhân vật ông Hai. B. hôm nay dăm khẩu. . chỗ này giết một tí. thích bìh luận. thông qua một con người cụ thể. ông sững sờ.chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc. xẻ hào.

. lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân. ông không dám ra ngoài. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. d. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà. . Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”.Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá. Tình cảm đó sâu nặng. . đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng. chân thành.. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt. . Ông giận những người ở lại làng. Nhưng tình yêu nước. ta thấy rõ: • Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc). Ông luôn hoảng hốt giật mình. bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. nhìn thấy các con. hắt hủi”. nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế.Tình cảm đối với kháng chiến.Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường. Khi cái tin kia được cải chính. bố của nó.Ba bốn ngày sau. + Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. + Qua đó.Về đến nhà. • Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc. ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu. . với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ. vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp.

yêu nước rất mộc mạc. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý.Qua nhân vật ông Hai. .Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật.Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng.Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông. chân thành mà vô cùng sâu nặng.. hành vi. . Nếu như thu trong thơ Xuân Diệu bắt đầu với "sắc mơ phai" dệt giữa muôn ngàn cây. .Kết bài: . đó là: Bông~ nhận ra hương ôi? Phả vào trong gió se . mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng (Đây mùa thu tới) Thì với Hữu Thỉnh. gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ.Miêu tả rất cụ thể. ngôn ngữ đối thoại và độc thoại. (ST) [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image002. 3.gif[/IMG] Bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh "Sang Thu" mang cảm xúc bâng khuâng. người đọc thấm thía tình yêu làng. cao quý trong những người nông dân lao động bình thường. "Sang thu" bắt đầu bằng những cảm nhận của nhà thơ trước tín hiệu giao mùa. C. Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân. Đây mùa thu tới. vấn vương trước đất trời trong trẻo đang biến chuyển nhẹ nhàng. Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động.

Tưởng chừng ko gian chính là 1 bức mành mỏng manh. Sự đôi' lập giữa 2 hình ảnh tạo nên 1 nét thu chân thực. giăng mắc nơi đầu thôn. mới lạ và độc đáo. đủng đỉnh.. dềnh dàng.. rề rà như đợi chờ hè qua. se se lạnh của cơn gió heo may đương thưở non tơ. Nếu như "Thu điếu" của Nguyễn Khuyến đương thú vị ở các "điệu xanh" thì bỗng buông môt điệu vàng của chiếc lá thu rơi. dịu dàng như chính chất thu mới đang lan tỏa trong ko gian. "Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư long lanh với sắc thu vàng trầm buồn trong thơ mới. Là làn sương mỏng manh như tơ liễu buông mành. ngỡ ngàng biết bao khi nhà thơ phát hiện ra hương vị thơm đượm. lạ hơn. Bởi Hữu Thỉnh ko chấm lên đó 1 mảng màu vàng nhưng trong cái vị nông` nàn thơm đượm của hương ôi?. chầm chậm. của Bắc Việt thương mến. Trong "th ương nhớ 12" Vũ Băng viết: "Đẹp quá đi. thì "Sang thu" mới hơn. tinh tế hơn. Sương chùng chình qua ngõ Sưong "chùng chình" qua ngõ. là từ tôn'. thấm đến tâm hồn người đọc mà gieo vào lòng đọc giả và nhà thơ những cảm xúc riêng. sự vật ấy với những nét cựa quậy chuyển mình sang thu. và cả tác phẩm häi họa "Mùa thu vàng" nôi? tiếng của Lêvitan cũng lấp lánh 1 sắc vàng rực rỡ. Những cảm nhận tinh tế của nhà thơ cứ thế cuồn cuộn chảy trên trang giấy. Sự vật sang thu đậm tình cảm cảm xúc. mát mẻ và đậm chất thu." Phải là 1 con người yêu cuôc sông'.1 cảm nhận sâu lắng nhẹ nhàng đọng trong lòng thi nhân. . vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu. Nhẹ thế mà thu-đang-về. để thi nhân bất chợt cất lên tiếng reo khe khẽ: Hình như thu đã về 1 cảm giác mơ hô`. Những cảm nhận của nhà thơ về thu bắt đầu rõ nét hơn. Nhưng khác hẳn với sự từ tôn' đáng yêu ấy là những cánh chim thu bắt đầu vôi. sinh đông. Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Nhà thơ thấy đám mây ấy. Ko còn là dòng nc xoáy hay dòng sông mùa hạ vùn vụt lao đầu về phía trước. mà đó là dềnh dàng. vã bay về phương nam tránh rét. ngõ xóm như chào đón thu về. hoài nghi thấp thoáng trong cảm nhận của nhà thơ nhưng lại gợi được sự mong đợi. Dòng nước thu êm ả trôi. chào đón thu. gắn bó tha thiết với quê hương và yêu quê hương nông` nàn thì Vũ Bằng và Hữu Thỉnh mới có những vần thơ rung động lòng người đến vậy! Khổ thơ t2 tiếp tục trong cái mạch cảm xúc mênh mang ấy của nhà thơ Sông đc lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vôi. hòa vào ko gian thu. mùa xuân ơi-mùa xuân của Hà Nôi thân yêu. tràn ra. nồng nàn giữa cái nhẹ nhàng. cuốn vào khứu giác thi nhân.Bất ngờ. Sương chậm rãi. nhè nhẹ. Cái hương vị ấy của vườn mẹ cứ ngào ngạt phả vào không gian. ta vẫn cảm nhận được cái vàng ươm thi vị ấy.

Nhưng tất cả đã giảm về sô' lượng. Chỉ đến khi bắt đầu cầm bút ngồi trước mặt giấy. mưa ấy. 2 dòng kết chính là thể hiện bàn tay tài hoa của tác giả. vẫn còn dấu ấn của hạ nắng. Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuôi? Vẫn còn mưa đấy. những giông bão. Những rung cảm tinh tế đến từng chi tiết nhỏ nhất. cái độc đáo riêng của một hồn thơ sâu lắng. nắng đấy. 1 nửa rực nắng mùa hạ. nhất là những ngòi bút thơ: hễ động bút là mùa thu cứ chực đổ ùa ra trên mặt giấy.. nửa kia dịu mát sắc thu. tôi mới thấy đề tài này thật là khó” Tại sao lại có nghịch lí trong kinh nghiệm của người sáng tác như vậy? Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. Đó là 1 khúc sang thu vừa thơ mông. Nắng ấy. Tưởng như với đề tài thơ mộng muôn thuở này có thể dễ dàng chắp bút. sấm vẫn còn ầm ì trên các ngọn cây. những nắng. bình tĩnh. vừa bâng khuâng gợi vẻ triết lí. nhưng lại gợi suy nghĩ về con người. 1 sự ngăn cách vô hình. Sưu tầm Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Nói về đề tài mùa thu. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Sang thu của Hữu Thỉnh xuất hiện khi trước nó đã có rất nhiều bài thơ nổi tiếng đông tây kim cổ: Thu hứng (Đỗ Phủ). chia đám mây làm đôi.. . Đây mùa thu tới (Xuân Diệu)… Nhưng nó vẫn có cái hay.trong suôt'. những cảm nhận dần đi vào lí trí. những sấm. nhạy cảm khi mùa thu tới. Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuôi Phải chăng với những con người từng trải với mưa nắng cuộc đời thì họ đón nhận những thử thách ấy 1 cách vững vàng. sấm ấy có lẽ chính là những mưa. Mùa thu dường như luôn luôn nấp sẵn trong ngòi bút của chúng ta. Hai dòng thơ vẫn tả cái bước đi êm nhẹ của thiên nhiên. một tác giả đã nhận định: “Đề tài "Mùa Thu" bao giờ cũng có vẻ là dễ viết.. Chùm thơ thu (Nguyễn Khuyến). Cảm nhận sắc nét ấy còn là những hình ảnh thực. vất vả lo toan của của cuộc đời mà nhà thơ đã cảm nhận đc.

nó không chỉ miêu tả chính xác trạng thái của tạo vật mà còn thổi vào tạo vật những cảm giác rất người. Thành công nổi bật nhất của bài cũng là ở một hệ thống những động từ miêu tả rất giàu cảm giác: “phả”. Có gió. Dòng nước thu vốn trong trẻo và sâu hút làm người ta khó mà thấy rõ được sự chuyển động nó nên cảm giác sông lững lờ trôi cũng rất hiện thực. “se”. ngô đồng hay màu trời. “Hình như thu đã về”… Tiếp tục thể hiện những dấu hiệu mùa thu rõ rệt hơn nhưng ý nghĩa của khổ cuối không chỉ dừng lại ở đó: Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ . tác giả đã tự xác định một thời điểm miêu tả: thời điểm giao mùa. hệ thống động từ toàn bài còn đặc sắc ở chỗ. liễu. mà ở cả chút ngỡ ngàng bâng khuâng của lòng người: “Bỗng nhận ra hương ổi”. không phải cuối thu. Đó không phải là chính thu. sương như người khách ngập ngừng nơi đầu ngõ. duyên dáng nối hai mùa là một liên tưởng thực sự độc đáo. những cánh chim vội vã tìm về phương ấm áp… Song thời điểm chớm thu không phải chỉ hiển hiện ở những dấu hiệu mơ hồ trong trạng thái biến chuyển của cảnh vật.. nhưng gió se chứ không phải là gió lạnh. gió se lại bởi chút lạnh xa xăm. Đám mây như tấm khoăn voan của người thiếu nữ. sắc nước… Hữu Thỉnh hầu như khơi gợi cảm giác về mùa trong trạng thái mơ hồ của tạo vật. Làn sương giăng phủ ngõ thôn chẳng được đặc tả ở mức độ (mù mịt) hay màu sắc (trắng mờ). Dòng sông. mùi hương vừa đặc trưng cho mùa vừa đặc trưng cho làng thôn ngõ xóm. cánh chim. khi bầu trời xanh ngắt lơ lửng những tầng cao. Song trên hết. Tinh tế và sống động sao một buổi sáng chớm thu. Nhưng hương ổi “thơm” như thế nào thì thi sĩ hoàn toàn không miêu tả.Ngay từ tiêu đề. Đặc biệt ở góc độ miêu tả tạo vật. Không hề có một từ định tính để miêu tả thế giới thu. hay đám mây cũng không tô điểm cho phong cảnh thu bằng những gam màu đặc trưng của nó. hay khi cái rét mùa đông đã lẩn vào trong gió…Sang thu nghĩa là mới chớm thu thôi. Có hương ổi. Truyền thống thơ thường kiến trúc ngôi nhà thu bằng những chất liệu quen thuộc như cúc. hơn là gợi một cảm giác. “chùng chình” “dềnh dàng” “bắt đầu vội vã” “vắt nửa mình”… “Chùng chình” trước hết gợi tả chính xác những làn sương như ngưng lại và nhẹ nhàng tỏa lan ngõ xóm.. Se gợi một động thái. cái tứ kết buộc hệ thống hình ảnh trong bài cũng chỉ gói gọn trong chút “chớm” mỏng manh đó. khi nắng trời đã nhuộm đỏ lá bàng.

Gọn nhẹ hơn. tôi sẽ không nấn ná làm cái việc rút tỉa những thi ảnh và thi tứ tiêu biểu về thời điểm nhạy cảm ấy của thơ ca các thời. suy nghĩ tự nhiên của tác giả. khi đọc bài thơ này. Tuy nhiên.jpg[/IMG] Mùa thu quả nhiên là mùa nhạy cảm bậc nhất trong năm. cũng khó đủ giấy mực rồi. cái thời điểm mà sự nhạy cảm của hồn tạo vật luôn thách thức với sự nhạy cảm của hồn người vẫn là thời khắc giao mùa . bởi ngõ xóm thân quen ấy. những tín hiệu mơ hồ nhất từ những giao chuyển âm thầm trong vạn vật. chỉ điểm qua những thi tứ nổi bật dành cho nhịp chuyển mùa thôi. không còn dữ dội nữa. một tiền đề nữa. Chỉ cần điểm sơ qua những tín hiệu từng được hồn thơ từ cổ chí kim nắm bắt trong những thi ảnh không thôi. mưa. bao đời nay luôn có sự đua ganh giữa hồn thơ với hồn tạo vật. hàng cây tượng trưng cho con người từng trải mà bao dâu bể biến đổi không còn đáng ngạc nhiên. “đứng tuổi” khiến ý nghĩa của câu thơ không dừng lại ở nét nghĩa tả thực mà có chiều sâu hơn. Mà cùng Hữu Thỉnh. bước ngay…Sang thu . Nắng. Con người cùng Tạo vật thảy đều nhạy cảm. Cho nên. Đây xứng đáng là một bài thơ thu hay trong thế giới thi ca. Nét độc đáo nhất của bài là những hình ảnh chính xác và giàu sức gợi tạo nên một bức tranh thu giản dị mà sống động. nghĩa là không tái hiện lại một truyền thống. được gọi một cách hình ảnh là “hàng cây đứng tuổi”. Sưu tầm Sang Thu . Các kênh cảm giác và cả tâm cảm nữa của mỗi hồn thơ dường như đều được huy động tối đa để nắm bắt những làn sóng. Và có lẽ cũng nhờ giọng điệu êm nhẹ dễ cuốn người đọc vào dòng cảm xúc.Hữu Thỉnh Chu Văn Sơn [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image003. sấm chớp… hay là những vang động của cuộc đời? Trong tương quan ấy. tất cả các dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn nhưng đã giảm dần mức độ. Chả thế mà. Chính các từ “bất ngờ”. Không hiểu sao.Trên hàng cây đứng tuổi Con người cảm thấy biết bao biểu hiện khác biệt của thời tiết khi mùa thu tới: mưa và sấm thưa dần. chắc cũng không xuể. Miền kí ức tuổi thơ được đánh thức bởi mùi hương ổi. Sang thu.chớm thu. tôi chợt thấy nhớ rất nhiều những năm tháng đã qua của mình. cường độ… Hàng cây như đã quá quen với nắng lửa mưa giông./. Cảnh như sâu lắng hơn bởi liên tưởng suy tư về mùa thu đời người.

gió se. nó vừa giành được một chỗ xứng đáng trong chương trình Văn và Tiếng Việt của nhà trường. thì hình sắc thu sang. Khổ hai lại nghiêng về những cảnh sắc trời mây sông nước đang chuyển mình sang thu. chim vội vã. nắng vẫn còn. Đến nỗi. sông dềnh dàng. khổ một nghiêng về những tín hiệu mách bảo sự hiện diện đây đó của mùa thu.Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi Thu. chả chịu rành mạch gì cả. sương chùng chình. đây đổi thay tinh tế. còn ý thơ thì vốn thiếu rành mạch. 1977 Tôi mừng cho Hữu Thỉnh và bài thơ. Nhưng về ý tứ ? Xem chừng ý khổ này cứ “dính” vào khổ kia. với tầm nhìn rộng xa vào bầu trời mặt đất : Sông được lúc dềnh dàng / Chim bắt đầu vội . 1. sấm bớt bất ngờ. Về cảnh vật. thử đi vào cấu trúc của thi phẩm. vô tổ chức ? Không hẳn. Về bố cục. mưa đã vơi. từ góc nhìn vườn ngõ : Bỗng nhận ra hương ổi /Phả vào trong gió se /Sương chùng chình qua ngõ /Hình như thu đã về. sẽ được những tâm hồn ấy mang tới bao nẻo thu. Thì quanh đi quẩn lại vẫn là thế : hương ổi. nhưng mỗi khổ thơ vẫn nghiêng về một ý. hàng cây đứng tuổi… chẳng dáng nét thu về. ngay cả “Sách giáo viên” hướng dẫn người dạy khai thác và soạn giảng chừng như cũng “ bí” trong việc phân định . đấy thay đổi tinh vi. Đọc kĩ hơn thì thấy rằng: cùng viết về thiên nhiên lúc giao mùa. Hay việc chia thành ba khổ thế chỉ hoàn toàn do cảm tính lúc viết của thi sĩ. đến cả những miền chưa từng có mùa thu nữa. ai chẳng thấy chính tác giả đã tự chia bài thơ thành ba khổ khúc chiết. Hình thái tổ chức của Sang thu đâu dễ nhận diện. Từ cấu trúc … Trước tiên. Ý đâu có khác gì nhau. hương ổi của thi phẩm sẽ phả vào tâm hồn của nhiều thế hệ học trò. Kể từ nay.

khổ hai : tri giác. thi phẩm là sự đồng hành và hoá thân vào nhau của ba mạch nội dung vừa rõ nét vừa sống động. Vì thế. dù kín hay lộ. đồng hành với mạch cảnh sắc trên đây. từ khổ một đến khổ ba. thần thái của cảnh thu thường hiện lên qua vẻ tiêu sơ. là đến niềm say sưa ở khổ hai (…Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu). đa phần các thi sĩ nghiêng về vẻ biến suy một chiều của cảnh. cấu trúc của thi phẩm này. là tâm tư của thi sĩ. Khổ đầu : bất giác. Tình trong cảnh. là các cấp độ của mạch nghĩ. Cụ thể là mạch cảm nghĩ trước mùa thu. tiếng thơ khá tinh tế của một thi sĩ đương thời : Mướp tàn sen cũng đi tu / Lá tre đã thả một mùa heo may / Con sông không ốm mà gầy / Mắt em chưa tối đã đầy hoàng hôn. 2. ba khổ thơ đã được liên kết thành một chỉnh thể nhuần nhị nhờ vào một trật tự khá tự nhiên : từ gần đến xa. Rõ ràng. Cùng với cảnh. khổ ba lại nghiêng về những biến đổi bên trong các hiện tượng thiên nhiên và tạo vật : Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa/Sấm cũng bớt bất ngờ/Trên hàng cây đứng tuổi.vã/Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu. cả người khờ khạo nhất cũng phải thấy rằng : thơ thiên nhiên không đơn thuần chỉ có cảnh. Cho nên. dù đậm hay nhạt. … đến điệu tâm hồn Cảm nhận tạo vật lúc sang thu. Sau một thoáng ngỡ ngàng ở khổ một (… Hình như thu đã về). Mạch cảm và mạch nghĩ bao giờ cũng song hành và chuyển hoá sang nhau trong cùng một dòng tâm tư . nhưng bề sâu. Có thể nôm na hoá qua sơ đồ sau : [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image005. từ hẹp đến rộng. đâu phải là thiếu rành mạch. qua phân tích trên đây cũng đủ thấy rằng : một tiếng thơ dù bình dị hồn nhiên thế nào đi nữa. và kết lại ở khổ ba với vẻ trầm ngâm(… Sấm cũng bớt bất ngờ / trên hàng cây đứng tuổi). Không chỉ có thế. Chúng đan bện với nhau khiến cấu trúc nghệ thuật càng tinh vi phức tạp.jpg[/IMG] Thế đấy. bao giờ cũng là tình. từ thấp đến cao. Sự đan xen các mạch này là một khía cạnh phức tạp không thể thiếu của cấu trúc. Tương ứng với những cung bậc của mạch cảm. Trái lại là đằng khác ấy chứ ! Rõ ràng. Trong khi đó. bề ngoài. có vẻ “dính”. Ví như bài Thu cảm. với các lớp cảnh càng ngày càng đi vào chiều sâu… Một trật tự hợp lí tự nhiên bao giờ cũng là điều sinh tử để một sản phẩm nghệ thuật hiện ra như một sinh thể ! Nhưng. Như vậy. . từ ngoài vào trong. khổ ba : suy ngẫm. vẫn là một kiến trúc ngôn từ với một cấu trúc thật tinh vi. cảnh trong tình.

một trong những nét đặc sắc của bài Sang thu là có hai hệ thống tín hiệu báo mùa có vẻ phản trái nhau. không thể không thêm vài lời về cách lập tứ dẫn tới kết. Lớp từ mang sắc thái đong đếm ở đây mách với ta điều đó. tâm thế thi sĩ không còn ngỡ ngàng bất giác như khổ một. nhiều…) : hương ổi phả . ít…) : sương chùng chình. Ba câu trên : nắng “vẫn còn”. một chiều tăng kín đáo : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. thì chiều giảm đột ngột thành chiều tăng. Chiêm nghiệm điều gì ? Về một lẽ đời trong hai chiều biến đổi trái nhau. sắc thái dương tính (mạnh. Chẳng phải thế sao ? Chẳng phải bao mạch sống đang cần mẫn chuyển lưu trong lòng tạo vật làm nên cõi sống trường cửu này vốn vẫn tương sinh tương khắc như vậy sao ? Và chẳng phải những vận động trái chiều mà cùng hướng vẫn thường đem đến cho sự sống thế quân bình ngay trong lòng mỗi nhịp biến thiên hay sao ? Cho nên. Trong cuộc đời cũng thế. Cả ba nghiêng về chiều giảm. mà lòng đã nặng hơn. Và. bớt (thêm) bảo rằng thi sĩ đang suy xét. Đừng nghĩ thi sĩ cố ý đặt bày hai mạch tương phản nhằm chơi trò lạ hoá. là cây đã trưởng thành. Có thể xem đó là nét phức điệu trong cảm nhận ngoại giới của hồn thơ Hữu Thỉnh. lời thơ súc tích hẳn nhờ các làn nghĩa giao nhập ràng néo . Khi nắng “còn” cũng là khi mưa “vơi”.chim vội vã . mấy chữ “bớt bất ngờ” như một nút buộc. chiêm nghiệm. khi câu ba nối vào câu kết. say sưa tri giác như khổ hai. sấm “bớt bất ngờ” càng giảm. mưa vơi dần… Lúc bất giác nhận ra hương ổi “phả” vào trong gió se. nhờ lối cảm ấy.trưởng kia lại đan dệt trong nhau khá nhuần nhuyễn tạo nên cái bản giao hưởng gợi cảm của đất trời thu. song cả hai đều thuộc về thần thái của mùa thu. Chính lúc sông “dềnh dàng” là lúc chim “vội vã”. Hệ thống các từ còn (-hết). Tạm đặt tên là nhịp mạnh và nhịp nhẹ. mà đây đó còn cả thế quân bình. Nhờ lối viết nén. chậm. vơi (-đầy). Nó chính là hiện tượng trái chiều mà cùng hướng ta vẫn thường thấy trong mỗi cuộc đổi thay. Toàn cảnh thu trong bước chuyển mùa. thì cũng là lúc bắt gặp sương “chùng chình” qua ngõ. nhanh. Nhưng. giấu cương sau nhu này : Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi ? Nói đến câu kết kia. câu thơ bỗng có “cú pháp dính”.suy. đúc kết. không đơn tuyến.vẫn còn bao nhiêu nắng… Nhịp nhẹ thì nghiêng về âm tính (êm. Nhịp mạnh bao gồm những động thái. sẽ thấy rằng đến đây. mưa “vơi dần” rõ là giảm . Nó rõ nhất ở khổ ba : Vẫn còn bao nhiêu nắng /Đã vơi dần cơn mưa /Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. tức là đã giảm . tôi ngờ rằng cảm quan quân bình về đời sống đã ngấm ngầm xui thi sĩ tìm đến cái kết điềm tĩnh trước ba động. thật thú vị mà cũng thật hiển nhiên là hai nhịp mạnh nhẹ với hệ thống hưng . Trong thiên nhiên đã vậy. Luôn thấy được thế quân bình ngay giữa những biến thiên thì ít bất ngờ chao đảo.Cảm nhận của Hữu Thỉnh khác. đã ra chiều trầm ngâm với suy ngẫm rồi. Để ý một chút. Ấy là sự từng trải tăng lên. tiêu . đã hiện ra không chỉ có biến thiên. Tôi cho rằng. sông dềnh dàng.

rồi thì sông được lúc dềnh dàng… xem ra. thậm chí được nhu hoá. Người đọc cũng dễ say với những nét tài hoa trong việc sử dụng nhuần nhuyễn yếu tố cổ điển của thi sĩ. hô ứng và tiếp ứng nhau làm hiển thị cái nhịp luân chuyển trong tạo vật vốn mải mê mà vô hình. là lối viết đâu có gì lạ về thi pháp. hay cây bớt bị bất ngờ (cây thôi e sấm)? Có lẽ là cả hai. ở thi phẩm này. mà hiển lộ nhất là ở phép đối ngẫu được dùng khá nhuyễn : Sông được lúc dềnh dàng-Chim bắt đầu vội vã . đây là lối kết theo kiểu “đảo phách”. Còn có một chất khác. thật mà không thật. chỉ lúc chợt ngoái lại. Ở Sang Thu. hình sắc lại gợi. nào sương chùng chình qua ngõ. khiến đám mây yêu kiều và đỏng đảnh kia có thể vắt nửa mình qua đó mà khoe sắc phô duyên vậy ! Mà đâu chỉ trong quan sát. ít ai để ý đến nghệ thuật tổ chức. Mà ấn tượng nhất hẳn phải là cảnh tượng Có đám mây mùa hạ/Vắt nửa mình sang thu. Một cú đảo phách ngoạn mục. làm định dạng cái vốn mơ hồ. luôn cặp kè. Chẳng thế mà các chi tiết gợi cảm của thi phẩm đã cuốn hút nhiều người yêu thơ. Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa”. * Sang thu là bài thơ tinh tế. cái súc tích Đường thi kết hợp với chất hồn nhiên thơ trẻ cứ loáng thoáng đâu đó trong cách nhìn tạo vật. là tinh chứ sao ! . tâm trí ta bị trôi theo lời thơ bình đạm. Nào những hương ổi phả vào trong gió se. trong cách kiệm lời. mà xem ra lại khó thấy : Đường thi. Vẫn còn bao nhiêu nắng-Đã vơi dần cơn mưa. Đám mây thực thế mà ảo thế ! Cái cách “vắt nửa mình” kia sao mà thi vị ! Có thật chăng một đám mây vốn của mùa hè đang mải mê lấn sân sang mùa thu ? Có mà không có. Có lẽ khi đọc các cặp ấy. có một chất rất dễ nhận : dân gian. khiến cái vô hình thành hữu hình. Làm xác định cái không xác định. Nhờ ngữ pháp ấy mà cái ý cương kia liền được giấu kín nhẹm. Nhịp luân chuyển ấy dường như đã nhập vào mấy chữ tưởng rất không đâu mà lại thần tình này: Sông được lúc dềnh dàng/Chim bắt đầu vội vã . Hữu Thỉnh còn tỏ ra tinh hơn nữa trong sự đồng điệu với nhịp chuyển mùa. có chậm có nhanh. Bởi đảo mà cứ như không. Cứ y như giữa mùa thu và mùa hè vẫn có một lằn ranh làm bằng sợi dây vô hình giăng ra giữa thinh không. Đọc Hữu Thỉnh. Mấy chữ ấy đi với nhau thành cặp. thì mới vỡ lẽ: ồ. Thế mà thi ảnh lại mới. Điều này khỏi bàn thêm. thi ảnh nào cũng tài hoa.nhau : sấm bớt gây bất ngờ (sấm đã e cây). Những hiện tượng riêng lẻ thì gồm cả hai hệ thống tín hiệu trái chiều. Sao lại cặp kè ? Thì một trong những chiêu rất Hữu Thỉnh chẳng phải là chế tác thi liệu dân gian bằng thi pháp Đường ư ? Cố nhiên. nhưng xem chừng. anh không chỉ có chiêu này. Nhưng cái nhịp luân chuyển chung chi phối vạn vật thì bao giờ cũng khẩn trương và mau lẹ. cái vế sau mới là chốt hạ. ra là phép đối ! Thế là nhuyễn. Có thể nói.

Nhưng. thi phẩm nhỏ đã mang thi tứ lớn. chưa đủ tạo hẳn ra một lớp nghĩa khác cho văn bản. Nhân hoá cây là bề nổi. Sự mẫn cảm của tâm hồn thi sĩ đã được dịp phô diễn qua những thi ảnh giàu mỹ cảm trong việc nắm bắt bao vận động. thông điệp nghệ thuật của một tác phẩm không chỉ cất lên từ những gì thuộc nội bộ văn bản. Nó mới là nét tinh vi thuộc về đại cục. Vì nó ở bề nổi của văn bản thơ. Lớp nghĩa thứ nhất dễ thấy. đời sống sang thu và đời người sang thu. Sang thu đa nghĩa. đó vẫn là những tinh tế tiểu tiết và dễ viết. chỉ bó hẹp trong văn bản không thôi. Tất nhiên. Có thể thấy rõ hơn nữa. Có lẽ như những thước phim về cảnh vật thiên nhiên thì phải hơn. Cảm thụ nghệ thuật. mà còn vang lên cả từ tương quan giữa văn bản với những thứ bên ngoài vốn thiết thân với nó nữa. Chữ “đứng tuổi” bật sáng. mà còn nói người. những hàm ý kín đáo kia toát lên trước hết từ nghĩa bóng đây đó của các thi ảnh. Hai lớp nghĩa sau mới thật là thứ hương ổi riêng mà Hữu Thỉnh phả vào trong thi đề này. chuyển động. vì ít nhất. nếu chỉ thế thôi. căn cứ quan trọng nhất là văn bản.Tuy nhiên. biến động âm thầm và sâu kín của thiên nhiên. ở nhiều lần in cũng ghi rõ như vậy. Sang thu cũng mới là thơ tạo vật. Tranh thì tĩnh. sông dềnh dàng. Một thi tứ đa tầng khiến hình tượng thơ thành đa nghĩa. Đồng thời. chúng ta thấy từ mạch hình ảnh thiên nhiên rải khắp bài thơ bỗng bừng dậy một lớp nghĩa khác gắn với con người và cuộc đời. tinh thần của thế hệ mình. Tôi muốn nói đến điều khác : ý tưởng bao trùm. Nó khiến bài thơ như một bức tranh thiên nhiên. Bấy giờ. Nhìn bài thơ trong tương quan với thời điểm ấy. Nghĩa là. Nhưng. Không. Tự dưng. Nhờ đó. dễ làm nghèo nghệ thuật. cuộc sống vừa qua khỏi thời chiến đầy khốc liệt đang chuyển sang thời bình êm ả. Đây là lúc trong lòng đời có bao trăn trở xao động. Trong thực tế.v… Nhưng nếu chỉ có thế thì ý nghĩa của chúng còn lờ mờ. Tác giả cho biết thời điểm viết Sang thu là mùa thu 1977. tự dưng chúng ta thấy các . Ví như hoàn cảnh sáng tác . Ý tưởng Sang thu được gói kín vào thi tứ. đời sống cũng vừa sang thu. Hữu Thỉnh chưa đem đến cái gì mới hơn so với các tiếng thơ thuộc thi đề thu của những người đi trước. Điều này ngẫu nhiên chăng ? vô nghĩa chăng ? Không hẳn. Lớp nghĩa kia chỉ thực sự bật hầm khi hình ảnh cuối cùng đột hiện : Sấm cũng bớt bất ngờ / Trên hàng cây đứng tuổi. phim mới động. chim vội vã v. chưa xa gì hơn một lối nói sinh động về sự vật. Nó đâu chỉ nói cây. Đôi khi quá chú mục vào cái tinh tế trong tiểu tiết có thể quên sự tinh vi trong đại cục. có sự chất chồng và giao thoa của ba lớp nghĩa : trời đất sang thu. Ai cũng có thể thấy những ẩn ý nào đó thấp thoáng sau lối viết ẩn dụ trong các thi ảnh rải rác ngay từ đầu sương chùng chình. cũng chưa phổ được vào đó hơi thở của thời mình. phát động một lớp nghĩa khác cho bài thơ. giấu người vào cây là bề sâu. khi nhìn trong tương quan khác.

giờ vào thu đã tự cho phép mình được dềnh dàng. lớp nghĩa thời sự vốn khuất mình không thể phát sáng được.hình ảnh đó đây nhấp nháy lên những nghĩa khác : nghĩa thế sự. tỉnh Vĩnh Phúc. Sự từng trải đã giúp cây trưởng thành. Một cái kết quá là khôn ngoan. Hèn chi. Nếu ở khổ đầu. nhưng lòng vẫn còn bao nhiêu nắng. vào binh chủng Tăng . Mùa thu còn tàng ẩn cả những quân bình tự tại nữa. “dềnh dàng” đã khó ưa. Không có nó.Nhà thơ Hữu Thỉnh tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Thỉnh. mọi suy cảm trên sẽ thành võ đoán. tuyên huấn trong quân đội và bắt đầu sáng tác thơ. tuy đã sang thu. Thì ra. quê ở huyện Tam Dương. cùng diễn tả nhịp vận động chầm chậm. mọi cú giáng của cuộc đời : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. được xả hơi chăng ? Chả phải vô cớ mà thi sĩ đem chữ “được lúc” gắn với cái thói “dềnh dàng” ấy của sông. “Chùng chình” còn dễ ưa. Đồng thời.Tác giả . Đặc biệt từ khổ hai trở đi. cái lớp nghĩa thế sự bảng lảng này còn tỏ hơn nữa. thơ còn nặng về tạo vật. Chim bắt đầu vội vã có phải chỉ đơn thuần nói về các loài chim lúc sang thu đang gấp gáp bay đi lánh rét không thôi ? Xem ra. “Dềnh dàng” đâu chỉ nói về nét riêng của dòng chảy đã chậm hơn khi con sông vào thu. xu thời nào đó nữa ấy chứ ? Đến khổ thứ ba. ông đã tham gia . Mùa thu đâu chỉ có biến thiên. Mùa thu còn là chuyện trưởng thành. nó còn muốn nói tới đối tượng sống tuỳ thời. bao tủi sầu yếu đuối. Cũng như thế. Hữu thỉnh nhập ngũ.Tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm 1. thì từ khổ thứ hai đã bảng lảng cái bóng đời. Chẳng phải đó là những nét độc đáo mà Hữu Thỉnh đã đem đến cho một thi đề tưởng đã quá ư quen thuộc hay sao ? Từ thơ tạo vật. mùa thu đâu chỉ có chuyện tiêu sơ. ý ngầm của kẻ viết vừa khó phát lộ vừa khó gói ghém. sinh năm 1942. đủ vững trãi đối đầu với mọi ba động. hàng cây trẻ hồi nào giờ đã đứng tuổi. Năm 1963. Sang thu đã lẳng lặng thành thơ cuộc đời ! (Nguồn: Sưu tầm) Sang thu SANG THU I.Thiết giáp rồi trở thành cán bộ văn hóa. nhưng Sương chùng chình qua ngõ thật khác với Sông được lúc dềnh dàng. Bước sang thu. bao cơn mưa thở than nay cũng đã vơi dần. Không có chữ “đứng tuổi” cứ như lạc hệ thống này. Dường như nó còn ngầm tỏ thái độ về cái điệu sống của những đối tượng nào đó hồi mùa hạ hăng hái xông pha là thế. Tôi ngờ rằng đây là khổ thơ mà anh chàng thi sĩ cũng vừa trải qua một mùa hè bỏng rát đang kín đáo nói về thế hệ mình và chính mình ? Vâng.

Nhiều vần thơ thu của ông mang cảm xúc bâng khuâng.Nhà thơ chợt nhận ra tín hiệu của sự chuyển mùa từ ngọn gió se ( nhẹ.Tâm trạng ngỡ ngàng. . Đường tới thành phố ( trường ca – 1978 ). . . về mùa thu. hình như 2. Những ngày giao mùa này đã ít đi những cơn mưa rào ào ạt.Hoàn cảnh ra đời:Bài thơ Sang thu được Hữu thỉnh sáng tác cuối năm 1977.Hữu Thỉnh là nhà thơ viết nhiều.Những hình ảnh. ông đã được Giải thưởng văn học Đông Nam Á. in lần đầu tiên trên báo Văn nghệ. 2. những cánh chim bắt đầu vội vã ở cuối buổi hoàng hôn.Phân tích bài thơ 1. . II. bằng nhiều giác quan và sự rung động thật tinh tế .Cảm giác giao mùa được diễn tả thú vị qua đám mây mùa hạ “ vắt nửa mình sang thu” . bất ngờ. phả vào trong gió se .Nắng cuối hạ còn nồng.Tác phẩm chính: Âm vang chiến hào( in chung ). Thư mùa đông. Từ chiến hào tới thành phố.Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam các khóa III.Lúc này cũng bớt đi những tiếng sấm bất ngờ gắn cùng những cơn mưa rào mà mùa hạ thường có. cảm xúc bâng khuâng qua các từ bỗng. . sau đó được in lại nhiều lần trong các tập thơ.IV. Từ năm 2000.Hương ổi lan vào không gian.Sương đầu thu giăng mắc nhẹ nhàng. khô và hơi lạnh ) mang theo hương ổi đang vào độ chín.Dòng sông trôi một cách thanh thản gợi lên vẻ êm dịu của bức tranh thiên nhiên. V. còn sáng nhưng nhạt dần. chuyển động chầm chậm nơi đường thôn ngõ xóm. . viết hay về những con người cuộc sống ở nông thôn. . vấn vương trước đất trời trong trẻo đang chuyển biến nhẹ nhàng. hiện tượng thể hiện sự biến đổi của đất trời lúc sang thu ở khổ đầu của bài thơ .Biến chuyển trong không gian lúc sang thu được Hữu Thỉnh cảm nhận qua nhiều yếu tố. Hữu Thỉnh được bầu làm Tổng thư kí Hội nhà văn Việt Nam. Với tập thơ Thư mùa đông.

Phân tích hình ảnh "Đầu súng trăng treo" trong bài thơ "Đồng Chí" của Chính Hữu. . Cũng có thể hiểu: hàng cây không còn bị bất ngờ. anh say sưa ngắm ánh trăng toả ngời trên đỉnh núi. xa cách nhau vời vợi bỗng hoà quyện vào nhau thành một hình tượng gắn liền. Đầu súng trăng treo. bị giật mình vì tiếng sấm nữa. bớt đi những tiếng sấm bất ngờ.đó là một hình ảnh tả thực một bức tranh tả thực và sinh động. Nhà thơ không phải tả mà chỉ gợi. Sau hơn mười năm làm thơ. người chiến sĩ như không còn vướng bận về cảnh chiến đấu sắp diễn ra. anh thả hồn theo trăng. Giữa núi rừng heo hút “rừng hoang sương muối” giữa đêm thanh vắng tĩnh mịch bỗng xuất hiện một ánh trăng treo lơ lửng giữa bầu trời. chút nữa đây cũng có thể là giây phút cuối cùng ta còn ở trên đời này nhưng ta vẫn “mặc kệ”. Không biết tự bao giờ ánh trăng đã đi vào văn học như một huyền thoại đẹp. Phân tích hình ảnh "Đầu súng trăng treo" trong bài thơ "Đồng Chí" của Chính Hữu. thơ mộng. trăng bảo vệ xóm làng. rất thực nhưng không thiếu nét lãng mạn đó. ở truyền thuyết “Chú cuội cung trăng” hay Hằng Nga trộm thuốc trường sinh là những mảng đời sống tinh thần bình dị đậm đà màu sắc dân tộc của nhân dân ta. trăng chếch bóng soi sáng rừng hoang bao la rộng lớn. trăng được Chính Hữu kết tinh thành hình ảnh “đầu súng trăng treo” rất đẹp trong bài thơ Đồng chí của mình. tâm hồn người nông dân “nước mặn đồng chua” hay “đất cày trên sỏi đá” cằn cỗi ngày nào bỗng chốc trở thành người nghệ sĩ đang ngắm nhìn vẻ đẹp ánh trăng vốn có tự ngàn đời.Về hai dòng thơ cuối bài. trăng đã đi vào cuộc chiến đấu. Chút nữa đây không biết ai sống chết. soi sáng tình cảm họ. Lúc sang thu. soi sáng tâm hồn họ… Giờ đây. Chính nhà thơ Hữu Thỉnh đã tâm sự: Với hình ảnh có giá trị tả thực về hiện tượng thiên nhiên này. chỉ đưa hình ảnh nhưng ta liên tưởng nhiều điều. vẫn say sưa với ánh trăng. Thế mới biết tác giả đắc ý như thế nào về hình ảnh thật đẹp. Chính Hữu cho ra mắt tập “Đầu súng trăng treo”. ông muốn gửi gắm suy ngẫm của mìh – khi con người đã từng trải thì cũng vững vàng hơn trước những tác động bất thường của ngoại cảnh của cuộc đời. Đêm thanh vắng người lính bên nhau chờ giặc tới. cần hiểu với hai tầng nghĩa. súng và trăng vốn tương phản với nhau. Hơn thế nữa. Và hình ảnh này cũng thật lạ làm sao.3. Phải là một người có tâm hồn giàu lãng mạn và một phong thái ung dung bình tĩnh lạc quan thì anh mới có thể nhìn một hình ảnh nên thơ như thế.

trăng là đất nước quê hương của bốn nghìn năm văn hiến. Lãng mạng nhưng không thoát li.ánh trăng như xua tan cái lạnh giá của đêm sương muối. mục đích chiến đấu mà người lính ấy đang tham gia. là khát vọng và cũng là biểu hiện tuyệt vời chất lãng mạn trong bài thơ cách mạng. cái bồng bềnh thơ mộng của một đêm trăng “đứng chờ giặc tới”.Trăng là hình ảnh người thi sĩ. Họ chiến đấu cho sự thanh bình. chẳng thơ mộng chút nào. Súng và trưng kết hợp nhau. Cái thân của câu thơ “Đầu súng trăng treo” nằm ở từ “treo”. Nhưng có lẽ cô kết nhất. ta thử thay bằng từ mọc thì thật thà quá. Ta hãy tưởng tượng xem: giữa đêm khuya rừng núi trập trùng bỗng hiện lên hình ảnh người lính đứng đó với súng khoác trên vai. Thế nhưng người lính ấy vẫn đứng cạnh nhau để tâm hồn họ vút lên nở thành vầng trăng. Tố Hữu cũng có một câu thơ kiểu này: “ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” và Phạm Tiến Duật thì “Và vầng trăng vượt lên trên quầng lửa” hay Hoàng Hữu “Chỉ một nửa vầng trăng thôi một nửa. Đầu súng trăng treo. Sự kết hợp hài hoà tạo nên nét lãng mạn bay bổng vừa gợi tả cụ thể đã nói lên lí tưởng. trăng như cùng tham gia. Lãng mạn vì con người cần có . súng tượng trưng cho chiến đấu. Phải. ở đây. trăng cũng là bạn. chiến đấu cho ánh trăng mãi nghiêng cười trên đỉnh núi. Nó là biểu tượng. hay nhất vẫn là “Đầu súng trăng treo”. trăng toả sáng làm ngời ngời lòng người. vì nó là hiện tượng tự nhiên: trăng tròn rồi khuyết. là đồng chí của anh bộ đội Cụ Hồ. từ điểm nhìn xa. chỉ có “Đầu súng trăng treo” mới diễn tả hết được cái hay. trong sạch hơn. Trăng truyền thêm sức mạnh cho họ.trăng là hình ảnh của thanh bình hạnh phúc. Như đã nói ở trên. cùng chứng kiến cho tình đồng chí đồng đội thiêng liêng của những ngươì linh. không phải ngẫu nhiên mà Chính Hun lấy hình ảnh “Đầu súng trăng treo” làm tựa đề cho tập thơ của mình. Chỉ có trăng “treo”. lãng mạn của người bảo vệ Tổ quốc. Ai bỏ quên ở phía chân trời…”.hình ảnh thật đẹp và giàu sức khái quát. Súng là hình ảnh người chiến sĩ gan dạ kiên cường. Đó là biểu tượng Khát Vọng Hoà Bình. trăng lên trăng lặn sẽ không còn cái bất ngờ màu nhiệm nữa. Súng là con người. không quên được nhiệm vụ và trách nhiệm của mình. Ta nên hiểu bài thơ dường như được sáng tác ở thời điểm hiện tại “đêm nay” trong một không gian mà mặt đất là “rừng hoang sương muối” lạnh lẽo và lòng đầy phấp phỏng giặc sẽ tới có nghĩa là cái chết có thể đến từng giây từng phút. cả vầng trăng và súng đều tồn tại trên một mặt phẳng và trong hội hoạ nó mang tính biểu tượng cao. nòng súng chếch lên trời và ánh trăng lơ lửng ngay nòng ngọn súng. nó tượng trưng cho tư thế lạ quan bình tĩnh. tắm gội tâm hồn họ thanh cao hơn. Nếu miêu tả hiện thực thì vầng trăng ấy sẽ có hình khối của không gian ba chiều. làm sao còn nét lãng mạn? Và hãy thay một lần nữa bằng từ “lên” cũng không phù hợp.

Mở bài: . tình cảm quê hương đất nước.Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948.những phút sống cho riêng mình.Internet) Nguồn: Sưu tầm Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp.Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Hình ảnh trăng và súng đã có nhiều trong thơ Việt Nam nhưng chưa có sự kết hợp kì diệu nào bằng hình ảnh Đầu súng trăng treo của Chính Hữu. B. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc. từ lâu đã am hiểu người nông dân. tình yêu nước. Trước cái đẹp mà con người trở nên thờ ơ lãnh đạm thì cuộc sống vô cùng tẻ nhạt.Thân bài 1. Âm hưởng của câu thơ đã đi đúng với xu thế lịch sử của dân tộc. . Nếu như Elsa Trioslet – nữ văn sĩ Pháp có nói “Nhà văn là người cho máu” thì tôi hãnh diện nói với văn sĩ rằng: Chính Hữu đã cho máu để tạo nên câu thơ tuyệt vời để cống hiến cho cuộc kháng chiến của chúng ta. thông qua một con người cụ thể. ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân . Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước. Và bạn ơi! Bạn hãy thả cùng tôi những chú chim trắng trên bầu trời. tinh thần kháng chiến. Đi kháng chiến. Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. hãy hát vang lên ca khúc Hoà Bình vì hình ảnh đầu súng trăng treo mà nhà thơ đã gởi vào đó bao nhiêu khát vọng nay đã thành hiện thực (Nguồn . Ông gắn bó với thôn quê. trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới. A. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc.

Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người. ông nhớ quá cái khong khí “đào đường. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm. chỗ kia giết một tí. b. . càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng.2. ông không dám ra ngoài. nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. thích bìh luận.Được cách mạng giải phóng. chỗ này giết một tí. ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương.Khi mới nghe tin xấu đó. nhân vật ông Hai. cả súng cũng vậy. ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm. khuân đá…”. đắp ụ. .Ông hay khoe làng. náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế. đi theo kháng chiến.…” đã xong chưa? . c. Ông luôn hoảng hốt giật mình.Về đến nhà. không tin không được. . a. nhìn thấy các con. ông sững sờ. một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. ngày mai dăm khẩu. hôm nay dăm khẩu. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc.Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ . chưa tin. Ông giận những người ở lại làng. đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng. Sau cách mạng. Nhưng khi người ta kể rành rọt. Phải xa làng. in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có. xẻ hào. Tình yêu làng. .Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến. rồi ông lo “cái chòi gác. . Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. làm gì mà thằng Tây không bước sớm”. . tích tiểu thành đại. lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà. . hắt hủi”.Ba bốn ngày sau.… những đường hầm bí mật. ông xấu hổ lảng ra về.

ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu. hành vi. Khi cái tin kia được cải chính. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ. ngôn ngữ đối thoại và độc thoại. ta thấy rõ: • Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc). 3. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt. bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. . + Qua đó. vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân. lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. bố của nó. chân thành.Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông.Tình cảm đối với kháng chiến. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”. • Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc.Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường. .quá. gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ. với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông. d. Nhưng tình yêu nước.Miêu tả rất cụ thể. gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ. Tình cảm đó sâu nặng. . . . + Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. .

..với nhân dân). III.. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý.Những nhân phẩm cao đẹp của người lính(dũng cảm hiên ngang đầy lạc quan.Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động.Kết Bài: _Kết thúc câu chuyện _Suy nghĩ về thế hệ cha anh. người đọc thấm thía tình yêu làng. 2...nhân dân BÀI LÀM: ( đây là bài tương đối hoàn chỉnh ^^) .Tính chất gian khổ khốc liệt mà những người lính lái xe Trường Sơn (TS) phải chịu đựng trong những năm tháng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.qua trò chuyện biết anh chính là người lính lái xe trong "BTVTĐXKK" của PTD.) II. Bài Viết Số 03 : Kể lại cuộc gặp gỡ người lính lái xe trong BTVTĐXKK của PTD.Qua nhân vật ông Hai.về người lính.. chân thành mà vô cùng sâu nặng.có chút ngang tàng trẻ trung...về trách nhiệm của bản thân đối với gia đình.có mục đích.Thân Bài: 1.đất nước... cao quý trong những người nông dân lao động bình thường. . C.Mở Bài: _Tình huống truyện (Nhân một chuyến đi.Kết bài: .gặp người sĩ quan.sống có lí tưởng. yêu nước rất mộc mạc.Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật.có trách nhiệm với Tổ Quốc. DÀN Ý: (dàn ý chi tiết chung ^^) I.

tôi gặp người sĩ quan đang đứng thắp hương cho người đồng đội đã mất.tôi mới hiếu rõ hơn về họ.Nghe anh kể..đảm bảo an toàn cho những chuyến hàng rồi họ nghĩ mưa sẽ ngừng.cả nhưng cánh chim sa.họ vẫn ung dung lái những chiếc xe không kính đó băng băng đi tới trên những chặn đường.tinh nghịch.trên con đường TS này.những con đường huyết mạch nối giữa miền Nam và miền Bắc lại là nơi ác liệt nhất.bom đạn của kẻ thù đâu có làm họ nãn chí.tôi mới hiểu rõ hơn về sự gian khổ ác liệt mà những người lính lái xe phải chịu đựng ngày đêm.họ nhìn thẳng về phía trước.cái vắt tay qua ô cửa kính vỡ đã làm cho tình đồng đội của họ thấm thiết hơn rồi những bữa cơm bên bếp Hoàng Cầm với những cái bát.vượt qua những chặng đường ác liệt.tự do.Gian khổ ác liệt.Họ vẫn vui tươi.Khi được học "Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính" tôi cứ luôn suy nghĩ rằng những khó khăn gian khổ ác liệt đó chỉ có nhân vật trong bài thơ mới vượt qua được nhưng đó là những suy nghĩ sai lầm của tôi bởi được gặp. Người sĩ quan kể với tôi rằng cuộc kháng chiến của dân tộc ta vô cùng ác liệt.gió sẽ lùa vào rối áo sẽ khô mau thôi.đôi đũa dùng chung.Trong những giây phút gặp gỡ hiểm hoi đó.Tôi và người sĩ quan đó trò chuyện rất vui vẻ và thật tình cờ tôi biết được người sĩ quan này chính là anh lính lái xe trong "Bài Thơ Về Tiểu Ðội Xe Không Kính" của Phạm Tiến Duật năm xưa.Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm dội xuống những con đường này nhằm cắt đứt sự tiếp viện của miền Bắc cho miền Nam.Những chiếc xe không kính lại tiếp tục băng băng trên những tuyến đường ra trận.vũ khí.Họ nhìn thấy đất.gặp mưa thì phải ướt áo thôi.yêu đời.Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm nổ sát bên tai phá hủy con đường..Mưa cứ tuôn cứ xối nhưng họ vẫn chưa cần thay áo và cứ ráng lái thêm vài trăm cây số nữa.thấy cả ánh sao đêm.nhìn thấy trời.có những người đã hy sinh.của nhân dân được hạnh phúc.Sự dũng cảm của các cô gái thanh niên xung phong luôn đảm bảo .phía ấy là tương lai của đất nước được giải phóng.Nhân một chuyến đi thăm nghĩa trang liệt sĩ.Ôi! tiếng cười của họ sao thật nhẹ nhõm.bọn họ cũng chưa cần rửa rồi nhìn nhau cất tiếng cười ha ha.cái chết luôn rình rập bên họ nhưng họ vẫn là những con người lạc quan.bụi ùa vào làm những mái tóc đen xanh trở nên trắng xóa như người già..Nhưng không phải vì thế mà họ lùi bước.quây quần bên nhau như một đại gia đình của những người lính lái xe TS.Người sĩ quancòn kể với tôi rằng không có kính cũng thật bất tiện nhưng họ vẫn lái những chiếc xe đó.được trò chuyện với người chiến sĩ lái xe năm xưa.những người đồng đội của anh.đạn dược.kể cho nhau nghe sự ác liệt của những cung đường đã đi qua.Bom đạn của giặc Mỹ đã biến cho những chiếc xe của các anh không còn kính nữa.Có những người còn.Trong những ngày tháng đó anh chính là người lính lái xe làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực.Rồi những giây phút nghỉ ngơi trên chiếc võng đu đưa.Anh sĩ quan lại kể cho tôi nghe trên những cung đường vận chuyển đó anh luôn được gặp những người bạn.sờn lòng..

nghe nhắc đến tên làng.Anh sĩ quan còn nói cho tôi biết những chiếc xe ấy không chỉ mất kính mà còn mất cả đèn. Ông Hai cũng như bao người nông dân quê từ xưa luôn gắn bó với làng quê của mình.ông tìm cách lảng về.lắp bắp hỏi.ông Hai quay phắt lại.Trước lời khẳng định chắc chắn của những người tản cư.có chút ngang tàng nhưng họ sống và chiến đấu vì Tổ Quốc.theo dõi tin tức kháng chiến và hỏi thăm về Chợ Dầu .nào ngờ biết tin dữ:“Cả làng Việt gian theo Tây ”.một lúc lâu ông mới rặn è è nuốt một cái gì vướng ở cổ.đầy lạc quan. đau đớn :“Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại.thống nhất đất nước.Những chuyến hàng của họ đã góp phần tạo nên chiến thắng của dân tộc ta:chiến thắng mùa xuân năm 1975.Ông yêu quí và tự hào về làng Chợ Dầu và hay khoe về nó một cách nhiệt tình.Nghĩ đến hình ảnh những chiếc xe băng băng về phía trước tôi lại nghĩ đến những người lính lái xe.cả ngày lẫn đêm.giọng lạc hẳn đi ”nhằm hy vọng điều vừa nghe không phải là sự thật.náo nức vì những tin vui của kháng chiến thì gặp những người tản cư.hiện đại.Các sáng tác của ông đều xoay quanh cảnh ngộ và sinh hoạt của người nông dân. hào hứng.kĩ thuật để xây dựng một đất nước văn minh.Tôi khâm phục những người lính lái xe bởi tình yêu nước.một lão nông hiền lành . Kim Lân đã đặt nhân vật vào tình huống gay gắt để bộc lộ chiều sâu tình cảm của nhân vật.ý chí kiên cường của họ và tôi hiểu rằng thế hệ chúng tôi luôn phải ghi nhớ công ơn của họ.Đúng là con đường của họ đang đi. Văn bản “Làng” đươc sáng tác vào thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp .nắm vững khoa học.da mặt tê rân rân .Từ phòng thông tin ra.Đó là tin làng chợ Dầu lập tề theo giặc.Ở nơi tản cư ông luôn nhớ về làng.cho những chuyến xe thông suốt.ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được. Tôi và anh sĩ quan chia tay nhau sau cuộc gặp gỡ và nói chuyện rất vui.thùng xe rách xước.đang phấn chấn.Tin bất ngờ ấy vừa lọt vào tai đã khiến ông bàng hoàng.rồi không có mui xe.phía trước ấy là miền Nam ruột thịt.vì nhân dân.Tiếng chửi văng vẳng của người đàn bà cho con bú khiến ông tê tái :“cha mẹ tiên sư nhà chúng nó .Bom đạn Mỹ hạ xuống bất cứ lúc nào.Họ thật dũng cảm.Ông cất tiếng hỏi.những thiếu thốn này không ngăn cản được những chiếc xe vẫn chạy băng băng về phía trước.hy vọng được nghe những tin tốt lành. Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong tác phẩm “Làng ”của Kim Lân Kim Lân là nhà văn có vốn sống vô cùng phong phú và sâu sắc về nông thôn Việt Nam.cần phải phấn đấu trở thành công dân gương mẫu.hiên ngang.yêu nước và gắn bó với kháng chiến .yêu làng .giải phóng miền Nam.đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt .với nhân vật chính là ông Hai .Tình yêu làng của ông càng được bộc lộ một cách sâu sắc và cảm động trong hoàn cảnh thử thách .nhiệm vụ của họ đang làm vô vùng nguy hiểm.

nỗi ngờ giằng xé trong ông.tủi hổ như chính ông là người có lỗi.đang bàn tán đến cái chuyện làng mình.có bao giờ dám đơn sai.Ông đóng khăn áo chỉnh tề đi với người báo tin và khi trở về “cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi vui rạng rỡ hẳn lên ”..Ông Hai đã lựa chọn một cách đau đớn và dứt khoát:“Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù!”..lúc nào cũng nơm nớp tưởng người ta đang để ý.ông thoáng có ý nghĩ quay về làng nhưng rồi lại gạt phắt ngay bởi “về làng tức là bỏ kháng chiến.Ông xúc động.Niềm tin.tuyệt vọng khi bà chủ nhà có ý đuổi gia đình ông với lý do không chứa người của làng Việt gian.Ông mong “anh em đồng chí biết cho bố con ông.“ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm !”…Những điều ấy ông đã biết. Trong tâm trạng bị dồn nén và bế tắc ấy.Dù đã xác định thế nhưng ông vẫn không thể dứt bỏ tình cảm của mình đối với quê hương.thiêng liêng.vẫn muốn cùng con khắc cốt ghi tâm. thấy họ đều có tinh thần cả “có đời nào lại cam tâm làm cái điều nhục nhã ấy ”.được người ta còn thương.Ông Hai sung sướng như được sống lại.Ông căm thù những kẻ theo Tây.với nước thật sâu nặng. tấm lòng bố con ông là như thế đấy.Suốt mấy ngày liền ông chẳng dám đi đâu.“thế con ủng hộ ai ?”…Lời đứa con vang lên trong ông thiêng liêng mà giản dị:“Nhà ta ở làng Chợ Dầu”.lật đật đi khoe với mọi người.ông chỉ còn biết tìm niềm an ủi trong lời tâm sự với đứa con trai nhỏ.Trong lúc tưởng tuyệt đường sinh sống ấy.Tấm lòng của ông với làng.Ông mua cho con bánh rán đường rồi vội vã.Dẫu cả làng Việt gian thì ông vẫn một lòng trung thành với kháng chiến.Ông hỏi con những điều đã biết trước câu trả lời:“Thế nhà con ở đâu?”.Ông đau đớn..đau đớn.tin đồn thất thiệt về làng Chợ Dầu được cải chính . Tình yêu làng lúc này đã lớn rộng thành tình yêu nước bởi dẫu tình yêu.niềm tin và tự hào về làng Dầu có bị lung lay nhưng niềm tin và Cụ Hồ và cuộc kháng chiến không hề phai nhạt.Cải chính cái tin làng chợ Dầu chúng tôi Việt gian theo Tây ấy mà .nhìn đàn con nước mắt ông cứ giàn ra “ chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư?Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?”.với Cụ Hồ … May thay.Đến đâu cũng chỉ mấy câu“Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ ! Đốt sạch !Đốt nhẵn ! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính.Ông đau xót nghĩ đến cảnh “người ta ghê tởm.Nỗi ám ảnh.day dứt.“chỉ ở nhà nghe ngóng binh tình”. Tình thế của ông càng trở nên bế tắc.nước mắt “chảy ròng ròng trên hai má”.chết thì chết có bao giờ dám đơn sai ”.Về đến nhà ông chán chường “nằm vật ra giường”.phản bội làng.Ông kiểm điểm lại từng người trong óc.ông nắm chặt hai tay lại mà rít lên: “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này ”.Những suy nghĩ của ông như những lời nguyện thề son sắt.là “cam chịu quay trở lại làm nô lệ cho thằng Tây”.cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát”.bỏ Cụ Hồ ”..Bởì thế mà ông càng xót xa.người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước”.Nói với con mà thực ra là đang trút nỗi lòng mình.nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông.

Đó là một niềm vui kỳ lạ.tinh thần hy sinh vì cách mạng của người dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược .Bị cột chặt trên giuờng bệnh .Có lẽ vì thế mà tác phẩm “Làng ” xứng đáng là một trong những truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại Suy nghĩ về nhân vật Nhĩ trong tác phẩm "BQ" Là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn học kháng chiến chống Mỹ . Qua nhân vật ông Hai ta hiểu thêm về vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược :Yêu làng.Cảnh vật nơi ấy đẹp nhưu thơ nhưu hoạ :Những bông bằng lăng cuối mùa thưua thớt nhung đậm sắc .Mọi sinh hoạt của anh trông cả vào sự chăm sóc của vợ con .tự nhiên như cuộc sống cùng với những mâu thuẫn căng thẳng. bức bối đã góp phần không nhỏ tạo nên thành công của câu chuyện.yêu nước và gắn bó với kháng chiến.bằng trực giác .Bởi lẽ. Căn bệnh liệt gắn chặt Nhĩ vào giưuờng bệnh .Nhĩ phát hiện ra vẻ đẹp lạ lùng của bãi bồi bên kia sông ..vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông …Những cảnh sắc vốn quen thuộc gần gũi nhưung duường nhuư rất mới mẻ đối với anh .Láo!Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả .Nguyễn Minh Châu có nhiều những tìm tòi quan trọng góp phần đổi mới văn học nưu?c nhà .Chính vào lúc nhận ra vẻ đẹp và sự giàu có của bến quê cũng là lúc Nhĩ hiểu ra một cách đau xót . Sáng hôm ấy .sinh động. Cách miêu tả chân thực.anh mới cảm nhận thấm thía về nguười vợ của mình . Mất hết cả cơ nghiệp mà ông không hề buồn tiếc.hạnh phúc. đồng thời còn thể hiện sự am hiểu và gắn bó sâu sắc của nhà văn với người nông dân và công cuộc kháng chiến của đất nước.thậm chí còn rất sung sướng. Toàn bộ câu chuyện xoay quanh nhân vật Nhĩ trong những ngày cuối đời .Ông khoe nhà mình bị đốt sạch.đốt nhẵn như là minh chứng khẳng định làng ông không theo giặc.Truyện ngắn của ông thưuờng chứa đựng những suy ngẫm trải nghiệm sâu sắc về con ngưuời và cuộc đời .Chuỗi nghịch lý bắt đầu chính trong những ngày ấy .dồn đẩy.ánh nắng sớm .độc thoại và độc thoại nội tâm đa dạng.anh nhận ra thời gian của mình chẳng còn bao lâu nữa . “Bến quê ” là tác phẩm tiêu biểu cho đề tài đó .Nhĩ để ý “thấy Liên mặc áo vá .” “Ông cứ múa tay lên mà khoe với mọi người”.trong sự cháy rụi ngôi nhà của riêng ông là sự hồi sinh về danh dự của làng chợ Dầu anh dũng kháng chiến.bởi một ngưuời “đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất ” lại chưua từng đặt chân lên “cái bờ bên kia sông Hồng ngay truước cửa sổ nhà mình ”.yêu nước.con sông Hồng màu đỏ nhạt .ngôn ngữ đối thoại.thể hiện một cách đau xót và cảm động tình yêu làng.

Không thể tự làm điều mình khao khát.Nhĩ thu hết tàn lực .chân dung anh khác thưuờng “mặt mũi đỏ rựng . ân hận : “Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm ”.Nhĩ bừng dậy nỗi khát khao cháy lòng và vô vọng là một lần đuược đặt chân lên bãi bồi bên kia sông . ở cuối chuyện .đã đi một cách miễn cưưuỡng và bị cuốn vào trò chơi phá cờ thế trên hè phố .những giá trị dễ bị ta vô tình .bình dị mà sâu xa của cuộc sống .Anh không trách con vì “nó đã thấy gì hẫp dẫn bên kia sông đâu ”.Trưuớc khi ốm anh chỉ biết đến những chân trời xa ngát với những công việc cao sang mà thờ ơ .anh nói với vợ những lời xót xa.Với Nhĩ .Nhĩ xúc động mạnh .đặt chân lên bãi phù sa màu mỡ .Từ đó Nhĩ nghiệm ra một qui luật khá phổ biến của đời ngưuời “Con nguười ta trên đưuờng đời thật khó tránh đuợc những điều vòng vèo hoặc chùng chình”. “những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve bên vai anh ”.đó là lúc cuối đời khi phải nằm liệt trên giưuờng bệnh.Nhĩ nhờ con trai thay mình sang sông . bây giờ đó thực sư? là miền đất xa lắc vì Nhĩ “lực bất tòng tâm ” ” .kể cả nguười vợ suốt một đời yêu thuương và tận tuỵ .Nhĩ -con ngưuời của một thời huy hoàng.Oái oăm thay . khi nhận ra vẻ đẹp qua ô cửa sổ .vô tình với tất cả những gì gần gụi xung quanh . Với anh.Cậu con trai có thể lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày.bỏ qua và quên lãng nhất là lúc còn trẻ khi những khát vọng xa vời vẫy gọi .Khát khao đó mang ý nghĩa sâu sắc bởi đó chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững .khi Nhĩ tuưởng tuượng chính mình như một nhà thám hiểm đang chậm rãi đặt từng bưuớc chân lên mặt đất dấp dính phù sa .Sự nhận thức này chỉ đến đưưuợc với ta khi đã từng trải .kiếm tìm .đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết mọi sự giàu có lẫn vẻ đep của bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia cả trong những nét tiêu sơ và cái điều riêng anh khám phá thấy giống nhuư một niềm say mê pha lẫn nỗi ân hận đau đớn ” .Sự thấu hiểu muộn màng trong những ngày cuối đời dù sao cũng đem lại cho anh sự bình yên. Song nghịch lý của câu chuyện không chỉ có thế . tin cậy sau cả một đời bôn tẩu .Phải chăng anh đang nôn nóng thúc giục con trai hãy mau hơn kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày ?Và duờng nhưu nó còn có ý nghĩa khái quát hơn :Muốn thức tỉnh mọi ngưuời vưuợt lên những cái vòng vèo hoặc chùng chình trên đưuờng đời để .đứa con không hiểu ưuớc muốn của cha . cho đến khi không còn khả năng đi lại mới phát hiện ra vẻ đẹp của bến quê cũng nhưu sự tảo tần và đức hy sinh của vợ .Cũng trong buổi sáng hôm ấy.Giờ đây Nhĩ mới thực sự thấu hiểu và biết ơn vợ sâu sắc bởi “tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tảo tần và chịu đựng hy sinh từ bao đời xưa và cũng chính nhờ điều đó.hai mắt long lanh chứa môt nỗi say mê đầy đau khổ ”.Khi con đò sắp chạm vào bờ đất bên này . Nhĩ đã tìm thấy được nơi nưưuơng tựa là gia đình trong những ngày này ”.”.đu nguười lên cửa sổ . cuốn nguười ta đi . mà sau nhiều tháng ngày bôn tẩu tìm kiếm.Vì thế đó là sự thức tỉnh pha lẫn niềm ân hận xót xa : “Hoạ chăng chỉ có anh đã từng trải .giơ cánh tay gầy guộc “khoát khoát y nhuư đang khẩn thiết ra hiệu cho một ngưuời nào đó ”.

tinh tế .Phải nói rằng Nguyễn Dữ không có ý định cho Vũ Nương mang đức tính của một phụ nữ yêu nước hay một mỹ nhân nơi gác tía lầu son .ngợi ca của tác giả đối với con người đặc biệt là người phụ nữ.Nguyễn Dữ đã đặt những lời ca ngợi đẹp đẽ nhất về Vũ Nương vào miệng của chính mẹ chồng nàng khiến nó trở nên vô cùng ý nghĩa “sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức .Trong những ngày đoàn viên ít ỏi.nết na tên là Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương.“Chuyện người con gái Nam Xương” được rút trong tập những câu chuyện kỳ lạ đó .ma chay tế lễ chu tất khi mẹ chồng qua đời.xanh .giọng văn thầm trầm ẩn chứa những chiêm nghiệm .quê hưuơng .dâu thảo.chi tiết mang ý nghĩa biểu tưuợng tác giả đã tạo nên ý nghĩa sâu xa cho tác phẩm.giống dòng tươi tốt con cháu đông đàn.Vũ Nương là người phụ nữ bình dân vốn con kẻ khó có một khát khao bao trùm cả cuộc đời-Đó là thú vui nghi gia nghi thất.Ngòi bút miêu tả thiên nhiên đẹp .chăm sóc thuốc thang tận tình khi mẹ chồng đau yếu.xứ sở . Những dòng cuối cùng của “Bến quê” khép lại nhuưng dưu âm từ những trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và con ngưuười dưuờng nhưu vẫn còn lan toả đâu đây.Càng đi sâu vào câu chuyện ta càng thấy vẻ đẹp của nàng được tác giả tập trung thể hiện rõ nét. Tác phẩm là tiếng nói đồng cảm. nàng thực sự là một người mẹ hiền.Khi tiễn chồng đi lính.Những ngày chồng đi xa.Nàng mang đầy đủ vẻ đẹp của một người phụ nữ lý tưởng “tính đã thuỳ mỵ nết na lại thêm có tư dung tốt đẹp ”.Nhân vật chính của tác phẩm là Vũ Nương đã để lại trong lòng người đọc niềm cảm thương sâu sắc.suy ngẫm và cách xây dựng nhiều hình ảnh . đối với vợ thường phòng ngừa quá sức nhưng nàng khéo léo cư xử. giữ gìn khuân phép nên gia đình không khi nào phải thất hoà.dù Trương Sinh con nhà hào phú tính vốn đa nghi.trân trọng. Suy nghĩ về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”của Nguy Trong văn học Việt Nam đã có không ít tác phẩm mang tên gọi truyền kỳ hoặc có tính chất truyền kỳ song được tôn vinh là “ thiên cổ kỳ bút” thì cho đến nay chỉ có một “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ .suy ngẫm của tác giả đã góp phần không nhỏ tạo nên những ấn t?ương riêng cho tác phẩm .gần gũi của gia đình .mong ước lớn nhất của nàng không phải là công danh phú quí mà là khao khát ngày chồng về “mang theo hai chữ bình yên thế là đủ rồi”.thức tỉnh trong ta sự trân trọng vẻ đẹp về những gì bình dị .hứơng tới những giá trị đích thực vốn rất gần gũi bình dị mà bền vững ! Bằng cách tạo dựng chuỗi nghịch lý để nhân vật tự nhận thức.Toàn bộ câu chuyện xoay quanh cuộc đời và số phận bi thảm của người con gái xinh đẹp.

dâu thảo.vun vén cho hạnh phúc.trái tim tan nát.tuyệt vọng bởi “bình rơi.hiếu nghiã ấy còn là một người vợ thuỷ chung đối với chồng .lời văn thống thiết như cực tả nỗi niềm đồng cảm.Có lẽ vì thế mà em càng yêu mến.điều đâu bay buộc tiếng chịu nhuốc nhơ.vào đất xin làm cỏ Ngu Mĩ…” Với nàng . Đó còn là lễ giáo phong kiến hà khắc với tư tưởng nam quyền độc đoán đã biến Trương Sinh thành một bạo chúa gia đình… Để ngàn đời trên bến Hoàng Giang.trinh bạch gìn lòng.xinh đẹp .một ngày kia chồng nàng đi chinh chiến trở về.thần sông có linh xin ngài chứng giám.một người yêu mến cuộc sống gia đình và làm mọi việc để giữ gìn.Phải chăng đó cũng chính là dụng ý của tác giả:người tốt sẽ được được đền bù xứng đáng. chung tình mà bạc mệnh ! Câu chuyện về nàng Vũ Nương khép lại nhưng dư âm về sự bất bình.phẩm hạnh của nàng.đức hạnh của nàng là đức hạnh của một người vợ hiền.liễu tàn trước gió ”.trâm gãy.Người thiếu phụ tận tuỵ .sen rũ trong ao. vô nhân đạo thì còn mãi.người thiếu phụ đau khổ nguyền rằng:“Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu chồng con rẫy bỏ. hiếu nghĩa.nuôi con:“cách biệt ba năm giữ gìn một tiết.đẹp nết đó phải tìm đến cái chết bi thảm?Đó chính là do chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã làm cho gia đình phải li tán.Nhịp văn dồn dập .kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.Vũ Nương được mọi người yêu mến bằng tính tình. Người phụ nữ dịu dàng .Không có cơ hội để thanh minh.ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”. khắc khoải niềm thương và nỗi ám ảnh dai dẳng về một người thiếu phụ trẻ trung.Đến bến Hoàng Giang.xuống nước xin làm ngọc Mỵ Nương.Trong cái nhìn nâng niu trân trọng của ông.thiếp nếu đoan trang giữ tiết.xót thương của tác giả đối với người thiếu phụ chung tình mà bạc mệnh! Thương nàng ông sáng tạo ra một thế giới thần tiên êm đềm trong chốn làng mây cung nước để Vũ Nương được sống như một nàng tiên .đánh đập và đuổi nàng đi bất chấp sự can ngăn của xóm giềng và lời than rớm máu của người vợ trẻ.Dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ.người thiếu phụ trẻ trung xinh đẹp đó một lòng một dạ chờ chồng. Suy nghĩ về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam X . căm ghét xã hội phong kiến bất lương. phúc lộc đề huề.hiếu nghĩa .Vũ Nương là con người của gia đình.Nhưng tai ác thay .tận tuỵ và chung tình đó đáng ra phải được đền bù xứng đáng bằng một gia đình êm ấm. trân trọng xã hội tốt đẹp mà em đang sống hôm nay.nghe lời con trẻ đinh ninh là vợ hư.Trong suốt ba năm chồng đi chinh chiến.mây tạnh.cái chết là hành động quyết liệt cuối cùng cần phải có để bảo toàn danh dự .mắng nhiếc.tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng .mưa tan. ở hiền ắt sẽ gặp lành? Điều gì đã khiến người phụ nữ đẹp người.

phúc lộc đề huề.trâm gãy.Vũ Nương được mọi người yêu mến bằng tính tình.sen rũ trong ao.dù Trương Sinh con nhà hào phú tính vốn đa nghi.mưa tan.giống dòng tươi tốt con cháu đông đàn.phẩm hạnh của nàng.Khi tiễn chồng đi lính.Càng đi sâu vào câu chuyện ta càng thấy vẻ đẹp của nàng được tác giả tập trung thể hiện rõ nét.đánh đập và đuổi nàng đi bất chấp sự can ngăn của xóm giềng và lời than rớm máu của người vợ trẻ.Vũ Nương là người phụ nữ bình dân vốn con kẻ khó có một khát khao bao trùm cả cuộc đời-Đó là thú vui nghi gia nghi thất.trái tim tan nát.“Chuyện người con gái Nam Xương” được rút trong tập những câu chuyện kỳ lạ đó .nết na tên là Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương.Phải nói rằng Nguyễn Dữ không có ý định cho Vũ Nương mang đức tính của một phụ nữ yêu nước hay một mỹ nhân nơi gác tía lầu son .dâu thảo.Vũ Nương là con người của gia đình.trân trọng.Toàn bộ câu chuyện xoay quanh cuộc đời và số phận bi thảm của người con gái xinh đẹp.mây tạnh.chăm sóc thuốc thang tận tình khi mẹ chồng đau yếu.hiếu nghiã ấy còn là một người vợ thuỷ chung đối với chồng . Tác phẩm là tiếng nói đồng cảm.Trong văn học Việt Nam đã có không ít tác phẩm mang tên gọi truyền kỳ hoặc có tính chất truyền kỳ song được tôn vinh là “ thiên cổ kỳ bút” thì cho đến nay chỉ có một “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ . Người phụ nữ dịu dàng .nghe lời con trẻ đinh ninh là vợ hư.Nhưng tai ác thay .Nàng mang đầy đủ vẻ đẹp của một người phụ nữ lý tưởng “tính đã thuỳ mỵ nết na lại thêm có tư dung tốt đẹp ”.hiếu nghĩa .Nhân vật chính của tác phẩm là Vũ Nương đã để lại trong lòng người đọc niềm cảm thương sâu sắc. giữ gìn khuân phép nên gia đình không khi nào phải thất hoà.đức hạnh của nàng là đức hạnh của một người vợ hiền.Trong những ngày đoàn viên ít ỏi.Không có cơ hội để thanh minh.dâu thảo.ma chay tế lễ chu tất khi mẹ chồng qua đời.một người yêu mến cuộc sống gia đình và làm mọi việc để giữ gìn.vun vén cho hạnh phúc.người thiếu phụ trẻ trung xinh đẹp đó một lòng một dạ chờ chồng.liễu tàn trước .mong ước lớn nhất của nàng không phải là công danh phú quí mà là khao khát ngày chồng về “mang theo hai chữ bình yên thế là đủ rồi”.Người thiếu phụ tận tuỵ .Trong suốt ba năm chồng đi chinh chiến. đối với vợ thường phòng ngừa quá sức nhưng nàng khéo léo cư xử.tuyệt vọng bởi “bình rơi.nuôi con:“cách biệt ba năm giữ gìn một tiết.Trong cái nhìn nâng niu trân trọng của ông.tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng .một ngày kia chồng nàng đi chinh chiến trở về.xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.Nguyễn Dữ đã đặt những lời ca ngợi đẹp đẽ nhất về Vũ Nương vào miệng của chính mẹ chồng nàng khiến nó trở nên vô cùng ý nghĩa “sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức .tận tuỵ và chung tình đó đáng ra phải được đền bù xứng đáng bằng một gia đình êm ấm.ngợi ca của tác giả đối với con người đặc biệt là người phụ nữ.ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”. nàng thực sự là một người mẹ hiền.Những ngày chồng đi xa.Dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ.mắng nhiếc.

Có lẽ vì thế mà em càng yêu mến.Đến bến Hoàng Giang. Đó còn là lễ giáo phong kiến hà khắc với tư tưởng nam quyền độc đoán đã biến Trương Sinh thành một bạo chúa gia đình… Để ngàn đời trên bến Hoàng Giang. bồi hồi. Suy nghĩ về tình mẹ qua 2 đoạn thơ . căm ghét xã hội phong kiến bất lương.điều đâu bay buộc tiếng chịu nhuốc nhơ.Nhịp văn dồn dập .cái chết là hành động quyết liệt cuối cùng cần phải có để bảo toàn danh dự .đẹp nết đó phải tìm đến cái chết bi thảm?Đó chính là do chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã làm cho gia đình phải li tán..xinh đẹp . Khi viết về người mẹ Chế Lan Viên đã viết : “Con zù lớn vẫn là con của mẹ Đy hết đời lòng mẹ vẫn theo con” (Con cò – Chế Lan Viên) Nguyễn Duy cũng đã viết : “Ta đy trọn kiếp con người Cũng không đy hết mấy lời mẹ ru” ( Nỗi buồn nhớ mẹ ta xưa – Nguyễn Duy) Em hãy nêu suy nghĩ về tình mẹ. Bài làm Mỗi khi nhắc về mẹ.lời văn thống thiết như cực tả nỗi niềm đồng cảm. Vì vậy mà khi viết về mẹ Chế Lan Viên có câu : .thiếp nếu đoan trang giữ tiết.gió ”. vượt qua tất cả những khó khăn. chung tình mà bạc mệnh ! Câu chuyện về nàng Vũ Nương khép lại nhưng dư âm về sự bất bình.vào đất xin làm cỏ Ngu Mĩ…” Với nàng . vất vả.. vô nhân đạo thì còn mãi. hiếu nghĩa. chắc hẳn trong lòng mỗi con người chúng ta ko ai là ko khỏi xao xuyến.người thiếu phụ đau khổ nguyền rằng:“Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu chồng con rẫy bỏ. Bởi mẹ chính là người đã chăm sóc.thần sông có linh xin ngài chứng giám. khắc khoải niềm thương và nỗi ám ảnh dai dẳng về một người thiếu phụ trẻ trung. nuôi nấng ta khôn lớn từng ngày vượt qua bao gian lao.xuống nước xin làm ngọc Mỵ Nương. ở hiền ắt sẽ gặp lành? Điều gì đã khiến người phụ nữ đẹp người. thử thách của cuộc đời.xót thương của tác giả đối với người thiếu phụ chung tình mà bạc mệnh! Thương nàng ông sáng tạo ra một thế giới thần tiên êm đềm trong chốn làng mây cung nước để Vũ Nương được sống như một nàng tiên .trinh bạch gìn lòng. trân trọng xã hội tốt đẹp mà em đang sống hôm nay.Phải chăng đó cũng chính là dụng ý của tác giả:người tốt sẽ được được đền bù xứng đáng.

luôn có một sợi dây vô hình nối . Để “Con zù lớn vẫn là con của mẹ” và “Đy hết đời lòng mẹ vẫn theo con”. manh áo…sự vất vả. chăm bẵm ta từ khi ta mới chạp chững những bước đầu tiên cho đến khi ta bước những bước đy vững chắc trên con đường đời. mẹ lận đận sớm hôm để lo cho cuộc sống con đc trọn vẹn. đẹp đẽ nhất của đời người. Mẹ như biển cả ôm lấy những ngọn sóng bé bỏng là con. con lăn. đối với chúng mẹ là tất cả. Như R. lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào long mẹ. lời ru của mẹ là những giai điệu êm dịu. sự yêu thương của mẹ đều được gửi gắn vào những lời ru thiết tha ấy.Ta-go đã viết “ Con sẽ là sóng và mẹ sẽ là bến bờ kì lạ. một thứ tình cảm đẹp đến mãnh liệt. trìu mến. bất hiếu. ngọt bùi thỳ “cũng không đy hết đc những lời ru của mẹ”. suốt cuộc đời mẹ sẽ luôn ở bên con. mẹ thức trắng đêm trông nom khi con ốm. mẹ chính là bến bờ vô tận luôn mở rộng lòng để con sà vào đó. Mẹ hi sinh tất cả để giành cho con những gì tốt đẹp nhất. Và ko ai biết mẹ con ta ở chốn nào”. bảo vệ cho con. Niềm mong ước. “Mẹ ơi” hai từ thiết tha ấy luôn đc chúng thốt lên mỗi khj vui hay buồn. Mẹ theo từng bước chân ta từ khi còn bé cho tới lúc trưởng thành. Mẹ yêu con hơn cả bản thân mình. đối xử tệ bạc với cha mẹ. che chở. lăn.“Con zù lớn vẫn là con của mẹ Đy hết đời lòng mẹ vẫn theo con” Hay như Nguyễn Duy đã viết : “Ta đy trọn kiếp con người Cũng không đy hết mấy lời mẹ ru” Tình mẹ cao cả và bao la. sẵn sàng hy sinh tất cả cho kon đc h. thay đổi ra sao thỳ con vẫn là con của mẹ. khó khăn để cho kon khôn lớn nên người. Mẹ và con có một sự liên kết mật thiết. Những con người đó liệu có còn lương tâm hay ko khi họ đối xử như vậy với chính ruột thịt của mình. Mẹ nuôi nấng. Công ơn của mẹ ko j` có thể sánh bằng. vấn đề đang được xã hội lên án gay gắt. Con có “đy trọn cả kiếp người” . tận tụy ấy ko thể kể hết đc bằng lời. Vậy mà trong xã hội hiện nay. niếm trải bao cay đắng. Cho zù con có khôn lớn nhường nào. mẹ long đong sớm chiều vì công việc để lo cho con đủ miếng cơm. con là do mẹ sjnh ra. Đâu có khác nào tự lấy dao cứa vào da thịt mình ? Mẹ là thân cò lặn lội qua bao sóng gió. làm những điều mà ko ai có thể ngờ tới. một số người con ko hiểu đc điều ấy. sợ hãi hay vui mừng chúng cũng chỉ gọi mẹ. Tình mẹ thiêng liêng và bất diệt như vậy đó.p. Hãy để ý những đứa trẻ bé bỏng còn phụ thuộc nhiều vào mẹ ta sẽ thấy đy đâu chúng cũng chỉ theo mẹ.

Làm sao có thể gạt bỏ một thứ tình cảm gắn chặt với cuộc đời ta kể từ khj ta bắt đầu làm quen với cuộc đời. êm ái. Con người chúng ta ai cũng đều có rất nhiều thứ tình cảm đẹp như tình bạn. Hãy luôn gìn giữ nó bởi nó chính là nguồn động lực lớn nhất giúp ta vượt qua những khó khăn. một thứ tình cảm bất diệt. hãy làm sao cho xứng với những j` mẹ đã làm cho ta. Đặc biệt là hình ảnh người mẹ. nhà thơ trữ tình Chế Lan Viênđã sử dụng hình ảnh cánh có trong những câu ca dao để ca ngợi tình mẹ thiêng liêng. còn với mỗi chúng ta thỳ long hiếu thảo luôn là những tác phẩm đẹp đẽ. Các nhà văn giành hết tình cảm của mình vào các tác phẩm để tặng mẹ . thiêng liêng và bất diệt sẽ theo ta đến suốt cuộc đời.. và sợi dây vô tình ấy chính là tình yêu thương mẹ giành cho con sẽ bên con đến suốt cuộc đời. Phật tổ có câu: “ Nếu ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc Đừng để vương buồn lên mắt mẹ nghe không !” Những ai còn mẹ. êm ái.. hình ảnh con cò đã được chế lan viên sử dụng làm hình tượng bao trùm lên toàn bài thơ mà đâu đó thấp thoáng có hình ảnh của mẹ.. Tình mẫu tử ấp áp. khi con còn nằm trong vòng tay của mẹ.. con nào biết đến "những cành mềm mẹ hát" nhưng mẹ đã mang cánh cò đến với con trong những lời ru ấm êm của mẹ. sóng gió của cuộc đời. Câu ca dao khá quen thuộc với người Việt Nam. Bỏi con người ta có thể gạt bỏ những tình cảm kja bởi một lý do nào đó nhưng đối với tình mẫu tử thỳ cho zù có bất cứ lý do j` đy chăng nữa. những dòng thơ thật nhẹ nhàng. Bay từ cửa phủ. cao cả qua bài thơ "Con cò". đồng chí… nhưng ko có thứ tình cảm nào có thể vượt qua đc sự thiêng liêng và ấm áp của tình mẫu tử. cảm ơn mẹ đã sinh ra ta. tình đồng đội. ở các câu bốn và câu tám chữ. đẹp đẽ. thấm đẫm tình thương của mẹ. như là lời mẹ muốn kể cho con nghe về hình ảnh con cò bằng chất giọng mượt mà..chặt con với mẹ từ khj con được sinh ra. "con vạc". quý giá và sâu sắc nhất mà chúng ta có thể tạo ra để tặng cho mẹ của mình. người con cũng ko thể gạt bỏ đc. cũng có lẽ vì thế mà năm 1962. Hãy cảm ơn vì điều đó. điệp ngữ "con cò" được nhắc đi nhắc lại như là lời ru ngân nga. bay về đồng đăng.. sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân. còn đc ở bên mẹ. hình ảnh con cò cũng được mươn để ví cho hình ảnh những người phụ nữ. tình mẹ. con còn bế trên tay . cho ta đc niếm trải hương vị của cuộc đời.một trong những bài thơ tiêu biểu và nổi tiếng của ông. con nào biết đến "con cò". đừng để mẹ phải buồn long. có hình . còn đc mẹ yêu thương che trở thỳ hãy hiếu thảo với mẹ.. dịu dàng.

cò "sợ xáo măng" gợi lên cho ta biết bao hình ảnh. sẽ cùng nhau sánh bước trên đường đời tương lai. mẹ sẽ luôn ở bên con. Mai khôn lớn con theo cò đi học ……. gian khổ.và cánh cò ở đây lại là khát vọng sáng tạo. ngàn khe nhưng có bao giờ con hiểu hết lòng của mẹ: . trong lời ru của mẹ không chỉ mang đến cho con những cánh cò mà nó còn mang đến cho con hơi xuân ấm áp. Con sẽ không ở bên mẹ nữa nhưng con biết có 1 chân lý cuộc đời không bao giờ thay đổi: dù ở gần con dù ở xa con ……. thế nhưng mẹ vẫn luôn muốn hát cho con nghe về tình yêu quê hương. ngủ yên! ngủ yên! ngủ yên cho cò trắng đến làm quen ……. cò "sợ gặp cành mềm". ân cần của mẹ đối với con. Con và cò là bạn và cũng là con của mẹ. mẹ muốn con hãy ngủ ngon để luôn nhìn thấy cánh cò bay lượn không biết mỏi vì đã có mẹ mãi ở bên vỗ về. cò "xa tổ". đất nước và rồi con sẽ hiểu được tình yêu mà mẹ dành cho con bao la. hình ảnh con cò "ăn đêm". Cánh cò trong những lời ru lại mang những suy nghĩ triết lý sâu sắc. cánh của cò hai đứa đắp chung đôi. của người phụ nữ một đời vất vả với cuộc sống miêu sinh đầy khó khăn. Và mẹ lại vỗ về và chắp cánh cho những ước mơ của con trong câu hát ru ấy và trong cả những suy nghĩ của con. Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con. mẹ luôn mong con được hưởng trọn tình yêu thương của tuổi ấu thơ. mẹ luôn muốn con yên tâm chìm vào giấc ngủ. ôi! tình mẹ bao la biết mấy. sẽ là động lực để con đứng dậy và tiếp tục bước đi trên chính đôi chân của mình. mẹ nâng niu con trong từng câu hát và cũng là ấp iu nâng giấc con thơ. mẹ là người cho con sự sống. con sẽ lớn lên và đi trên con đường của chính mình. mẹ vẫn luôn dõi theo những bước đi của con trên đường đời. mỗi lần con vấp ngã. ý chí vươn lên. dòng sữa trắng trong ngọt ngào của mẹ đưa con vào giấc ngủ say nồng. che chở: "Sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân". nuôi con lớn khôn cả về thể xác lẫn tâm hồn: “Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ” . con có đi hết trăm núi. Một sự nhân hoá ở cánh cò để diễn tả cho sự chăm chút.ảnh của một người một đời tần tảo sớm khuya nuôi con khôn lớn.. vô tận đến nhường nào. ……… trước hiên nhà và trong hơi mát câu văn. nhưng dù con có khôn lớn. cho dù khi con còn tấm bé cho đến lúc trưởng thành. hình ảnh cò lẻ loi một mình kiếm ăn trong đêm tối nhưng phải chăng đó cũng lả hình ảnh của mẹ.

một triết lý của cuộc sống nhưng sao vẫn rất nhẹ nhàng. tình mẹ thật thiêng liêng. kết tụ sự hi sinh. đã từng nếm trải nhiều lẽ của cuộc đời thì bao giờ con cũng là con của mẹ và mẹ luôn mong muốn che chở. tất cả những gì mẹ mang đến cho con đều là những tình thương sâu thẳm tận đấy lòng của mẹ. nhưng chúng ta ai nào có biết tâm trạng mẹ lúc ấy. ta đã cảm động biết bao. mặc dù CLV không nhắc đến những nếm trải của cuộc đời mẹ song những câu thơ của ông cho ta hiểu thêm rằng trong cánh cò kia chất chứa những nỗi nông sâu của cuộc đời mẹ. trước tình mẹ bao la vô tận đến thế. và hình ảnh cò đã dần đi vào tầm thức của tuổi thơ con. rồi có những ngày con đau ốm. nó sẽ theo con suốt cuộc đời bởi vì đâu đó trong hình ảnh cánh cò kia đó là hình ảnh của người mẹ con kính yêu thế đấy. lời ru là một khúc hát yêu thương mà mẹ dành cho con. thật ra. hình ảnh mẹ luôn đẹp nhất và rực rỡ trong lòng chúng con. tất cả. . người phụ nữ việt nam . hình ảnh những con cò thật giản dị nhưng nhờ sự khéo léo của mình. trong mỗi chúng ta cũng đã không ít lần hiểu lầm mẹ. thế nhưng. lại một lần nữa ta đã hiểu được sự chịu đựng của mẹ như thế nào. chỉ là một con cò trong lời mẹ hát thôi thế nhưng có biết bao điều vừa gần gũi vừa sâu xa. Khi cất lên những lời hát ru. ai đã biết. đến hát quanh nôi. Hai tiếng “à ơi” quen thuộc trong những lời ru được cất lên thật mượt mà. tội nghiệp. mẹ luôn tha thứ cho những lỗi lầm của con để mong con có thể vững bước trên đường đời. chế lan viên đã mượn hình ảnh ấy ví cho hình tượng của người mẹ. bao dung con như khi con còn thơ bé. nhưng bất chợt lại cảm thấy hối hận biết bao. Cho dù con đã trưởng thành. mẹ luôn muốn nhận những gì đau khổ và vất vả nhất về mình vì con.một hình tượng bất tử. vì con mà mẹ phải chịu đựng tất cả. m ẹ đã hoá thân thành cánh cò mang nhiều ý nghĩa sâu xa. không chỉ có thế. ai nào có biết mẹ đã khóc nhiều như thế. mẹ lại khóc. À ơi! một con cò thôi ……. vậy mà mẹ luôn vì con. mẹ luôn túc trực suốt đêm không chợp mắt. vì con mà đã nhiều đêm mẹ khóc thầm không ngủ. ai đã hiểu cho tình thương của mẹ. cao đẹp. mẹ khóc vì thương cho đứa con bé bỏng. có những cay đắng lẫn ngọt bùi. gian khổ để những lời yêu thương càng thêm sâu sắc. mẹ luôn mong người bị ốm hôm nay không phải là con mà chính là mẹ. hối hận vì những lần đã hiểu lầm mẹ. là lúc mẹ gửi gắm trong cánh cò cả cuộc đời mẹ.con đi trăm núi ngàn khe chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm. mẹ luôn là người có tấm lòng bao dung và độ lượng nhất.

sưu tầm TLV số 6 suy nghĩ của em về tình mẫu tử trong "trong lòng mẹ" của Nguyên Hồng Nói đến Nguyên Hồng. Sự tra tấn tinh thần thật ghê gớm. Cậu bé phải đối mặt với bà cô cay nghiệt. Trước khi gặp mẹ: Nói một cách công bằng. một người đàn bà đã bị cái tội là goá chồng. người mẹ cùng túng phải đi tha phương cầu thực. Đối với bé Hồng. có thể nói cậu bé ấy vẫn còn may mắn hơn bao đứa trẻ lang thang vì còn có một mái nhà và những người ruột thịt để nương tựa sau khi cha mất và mẹ bỏ đi. chết rục bên bàn đèn thuốc phiện. cậu bé Hồng đã phải sống trong cảnh hắt hủi ghẻ lạnh đến cay nghiệt của chính những người trong họ hàng. khi đọc lại những trang viết này. cậu đã trở thành tấm bia hứng chịu thay . đẹp nhất. Đoạn trích Trong lòng mẹ là hồi ức đan xen cay đắng và ngọt ngào của chính nhà văn . Tình cảm của đứa con đã giúp bé vượt qua những thành kiến mà người cô đã gieo rắc vào lòng cậu “Vì tôi biết rõ. người đọc vẫn lây lan cảm giác của cậu bé sớm phải chịu thiếu thốn tình cảm. nếu chỉ nhìn vào bề ngoài cuộc sống của cậu bé Hồng. bao giờ mẹ cũng là người tốt nhất. Những diễn biến tâm trạng của bé Hồng trong câu chuyện đã được thuật lại bằng tất cả nỗi niềm đau thắt vì những ký ức hãi hùng kinh khiếp của tuổi thơ. Tấm lòng trẻ thơ ấy thật đáng quí. nhắc đến mẹ tôi. sự tàn nhẫn ấy lại dành cho đứa cháu ruột vô tội của mình.cậu bé sinh ra trong một gia đình bất hạnh: người cha nghiện ngập rồi chết mòn. luôn luôn “tươi cười” – khiến hình dung đến loại người “bề ngoài thơn thớt nói cười – mà trong nham hiểm giết người không dao”. Sức chịu đựng của một cậu bé cũng có chừng mực. mang theo cái dư vị đắng chát của tuổi thơ khát khao tình mẹ. cô chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi. Kỳ diệu thay. Nhưng đời nào lòng thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến…” Nhưng ta cũng nhận ra những vết thương lòng đau nhói mà bé Hồng đã sớm phải gánh chịu. nợ nần cùng túng quá. người ta nhớ ngay một giọng văn như trút cả bao xúc động đắng đót vào trong những câu chuyện của ông. Nhưng liệu có thể gọi là gia đình không khi chính những người thân – mà đại diện là bà cô ruột lại đóng vai trò người giám hộ cay nghiệt. Hồi ký “Những ngày thơ ấu” là kỷ niệm xót xa của cậu bé Hồng. tình mẹ con là mối dây bền chặt không gì chia cắt được. phải bỏ con cái đi tha phương cầu thực. những trang viết ấy lại giúp chúng ta hiểu ra một điều thật tự nhiên giản dị: Mẹ là người chỉ có một trên đời. Đáng sợ hơn. Ta chứng kiến và cảm thương cho từng khoảnh khắc đớn đau. Cho đến tận bây giờ. là nguồn an ủi và chở che giúp cho đứa trẻ có thể vượt lên bao đắng cay tủi nhục và bất hạnh. để rồi chợt nhận ra: tình mẫu tử là nguồn sức mạnh thiêng liêng và diệu kỳ.

Linh cảm và tình yêu dành cho mẹ đã không đánh lừa cậu. Ta chợt ghê sợ trước loại người như bà cô – họ vẫn lẩn quất đâu đó quanh ta. tràn trề cảm giác hạnh phúc:“Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ. Hình ảnh mẹ qua những trang viết của nhà văn thật tươi tắn sinh động. để đền đáp lại là cảm giác của đứa con trong lòng mẹ . khi cậu bé có được cảm giác an toàn và được chở che trong vòng tay mẹ. là nguồn an ủi và . người đọc vẫn lây lan cảm giác của cậu bé sớm phải chịu thiếu thốn tình cảm. người ta nhớ ngay một giọng văn như trút cả bao xúc động đắng đót vào trong những câu chuyện của ông. để sinh nở một cách giấu giếm… Tôi cười dài trong tiếng khóc”. Có lẽ không cần phải bình luận thêm nhiều __________________ suy nghĩ của em về tình mẫu tử trong "trong lòng mẹ" của Nguyên Hồng Nói đến Nguyên Hồng. áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ. Liệu ta có hoà chung giọt nước mắt này chăng: “Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đìa ở cằm và cổ”. khi đọc lại những trang viết này. Cho đến tận bây giờ. Ta xúc động biết bao nhiêu trước khoảnh khắc hồi hộp lo lắng của cậu bé khi sợ mình nhận nhầm mẹ. Hồi ký “Những ngày thơ ấu” là kỷ niệm xót xa của cậu bé Hồng. khi những uất ức nén nhịn có dịp bùng phát. liệu rằng cậu bé ấy có khi nào oán trách mẹ mình đã nhẫn tâm bỏ con không? Có lẽ không bao giờ. bảo bọc. có lẽ mỗi một người trong chúng ta cũng sẽ cảm nhận được tình me giống như cậu bé Hồng: “Mẹ tôi vừa kéo tay tôi. với trò tra tấn gặm nhấm dần niềm tin con trẻ. mang theo cái dư vị đắng chát của tuổi thơ khát khao tình mẹ. Không khóc sao được. Càng thương cho cậu bé Hồng. bất chấp những thành kiến ác độc: “Chỉ vì tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi. cậu bé ấy cũng đã kiên quyết bảo vệ mẹ mình. xoa đầu tôi hỏi thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở”. để rồi chợt nhận ra: tình mẫu tử là nguồn sức mạnh thiêng liêng và diệu kỳ. Từ nhận thức non nớt. thành kiến của người đời: “Tôi lại im lặng cúi đầu xuống đất: lòng tôi thắt lại. an ủi. để người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm. khoé mắt tôi đã cay cay” Dù đã kìm nén hết mức nhưng những lời độc ác kia vẫn đạt được mục đích khi đã lấy được những giọt nước mắt tủi nhục của một đứa trẻ không đủ sức tự vệ . được thương yêu. bởi lẽ niềm khao khát được gặp lại mẹ lúc nào cũng thường trực trong lòng cậu bé. và gãi rôm ở sống lưng cho. Thật đẹp khi chúng ta đọc những câu văn. Mỗi khi đứng trước mẹ. Mẹ đã trở về cùng đứa con thân yêu. ta lại càng căm uất sự ghẻ lạnh của người đời trước những số phận bất hạnh. để cậu bé được thoả lòng mong nhớ và khát khao bé nhỏ của mình. mới thấy mẹ có một êm dịu vô cùng”. là sự diệu kỳ giúp cậu bé vượt lên nỗi cay đắng của những ngày xa mẹ.cho mẹ những ghẻ lạnh. Dường như khoảnh khắc cười dài trong tiếng khóc kia chứa chất sự phẫn nộ và khinh bỉ không cần giấu giếm Trong thâm tâm.cảm giác được chở che.

thành kiến của người đời: “Tôi lại im lặng cúi đầu xuống đất: lòng tôi thắt lại. Kỳ diệu thay. người mẹ cùng túng phải đi tha phương cầu thực. Càng thương cho cậu bé Hồng. với trò tra tấn gặm nhấm dần niềm tin con trẻ. một người đàn bà đã bị cái tội là goá chồng. Cậu bé phải đối mặt với bà cô cay nghiệt. tình mẹ con là mối dây bền chặt không gì chia cắt được. nhắc đến mẹ tôi. Sức chịu đựng của một cậu bé cũng có chừng mực. cậu đã trở thành tấm bia hứng chịu thay cho mẹ những ghẻ lạnh. những trang viết ấy lại giúp chúng ta hiểu ra một điều thật tự nhiên giản dị: Mẹ là người chỉ có một trên đời. Đối với bé Hồng. cô chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi. phải bỏ con cái đi tha phương cầu thực.chở che giúp cho đứa trẻ có thể vượt lên bao đắng cay tủi nhục và bất hạnh. bao giờ mẹ cũng là người tốt nhất. có thể nói cậu bé ấy vẫn còn may mắn hơn bao đứa trẻ lang thang vì còn có một mái nhà và những người ruột thịt để nương tựa sau khi cha mất và mẹ bỏ đi. Từ nhận thức non nớt. Ta chứng kiến và cảm thương cho từng khoảnh khắc đớn đau. nợ nần cùng túng quá. bất chấp những thành kiến ác độc: “Chỉ vì tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những . Nhưng liệu có thể gọi là gia đình không khi chính những người thân – mà đại diện là bà cô ruột lại đóng vai trò người giám hộ cay nghiệt. Trước khi gặp mẹ: Nói một cách công bằng. Tình cảm của đứa con đã giúp bé vượt qua những thành kiến mà người cô đã gieo rắc vào lòng cậu “Vì tôi biết rõ. khoé mắt tôi đã cay cay” Dù đã kìm nén hết mức nhưng những lời độc ác kia vẫn đạt được mục đích khi đã lấy được những giọt nước mắt tủi nhục của một đứa trẻ không đủ sức tự vệ . luôn luôn “tươi cười” – khiến hình dung đến loại người “bề ngoài thơn thớt nói cười – mà trong nham hiểm giết người không dao”. Liệu ta có hoà chung giọt nước mắt này chăng: “Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đìa ở cằm và cổ”. Tấm lòng trẻ thơ ấy thật đáng quí. cậu bé ấy cũng đã kiên quyết bảo vệ mẹ mình. ta lại càng căm uất sự ghẻ lạnh của người đời trước những số phận bất hạnh. Ta chợt ghê sợ trước loại người như bà cô – họ vẫn lẩn quất đâu đó quanh ta. Sự tra tấn tinh thần thật ghê gớm. Đoạn trích Trong lòng mẹ là hồi ức đan xen cay đắng và ngọt ngào của chính nhà văn . Những diễn biến tâm trạng của bé Hồng trong câu chuyện đã được thuật lại bằng tất cả nỗi niềm đau thắt vì những ký ức hãi hùng kinh khiếp của tuổi thơ. sự tàn nhẫn ấy lại dành cho đứa cháu ruột vô tội của mình. nếu chỉ nhìn vào bề ngoài cuộc sống của cậu bé Hồng.cậu bé sinh ra trong một gia đình bất hạnh: người cha nghiện ngập rồi chết mòn. Đáng sợ hơn. cậu bé Hồng đã phải sống trong cảnh hắt hủi ghẻ lạnh đến cay nghiệt của chính những người trong họ hàng. đẹp nhất. Nhưng đời nào lòng thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến…” Nhưng ta cũng nhận ra những vết thương lòng đau nhói mà bé Hồng đã sớm phải gánh chịu. chết rục bên bàn đèn thuốc phiện.

Hình ảnh mẹ qua những trang viết của nhà văn thật tươi tắn sinh động.cảm giác được chở che. áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ. Mẹ đã trở về cùng đứa con thân yêu.thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi. Có lẽ không cần phải bình luận thêm nhiều "Tri thức là sức mạnh" . Không khóc sao được. để sinh nở một cách giấu giếm… Tôi cười dài trong tiếng khóc”. bảo bọc. và gãi rôm ở sống lưng cho. tràn trề cảm giác hạnh phúc:“Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ. liệu rằng cậu bé ấy có khi nào oán trách mẹ mình đã nhẫn tâm bỏ con không? Có lẽ không bao giờ. Linh cảm và tình yêu dành cho mẹ đã không đánh lừa cậu. xoa đầu tôi hỏi thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở”. Mỗi khi đứng trước mẹ. để người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm. có lẽ mỗi một người trong chúng ta cũng sẽ cảm nhận được tình me giống như cậu bé Hồng: “Mẹ tôi vừa kéo tay tôi. Thật đẹp khi chúng ta đọc những câu văn. để cậu bé được thoả lòng mong nhớ và khát khao bé nhỏ của mình. được thương yêu. để đền đáp lại là cảm giác của đứa con trong lòng mẹ . an ủi. khi cậu bé có được cảm giác an toàn và được chở che trong vòng tay mẹ. bởi lẽ niềm khao khát được gặp lại mẹ lúc nào cũng thường trực trong lòng cậu bé. là sự diệu kỳ giúp cậu bé vượt lên nỗi cay đắng của những ngày xa mẹ. mới thấy mẹ có một êm dịu vô cùng”. khi những uất ức nén nhịn có dịp bùng phát. Ta xúc động biết bao nhiêu trước khoảnh khắc hồi hộp lo lắng của cậu bé khi sợ mình nhận nhầm mẹ. Dường như khoảnh khắc cười dài trong tiếng khóc kia chứa chất sự phẫn nộ và khinh bỉ không cần giấu giếm Trong thâm tâm.