Phân tích một số bài văn lớp 9

Chuyện người con gái Nam Xương Đề 1: Trong truyện “Người con gái Nam Xương”, nhân vật Trương Sinh vội tin câu nói ngây thơ của con trẻ đã nghi oan cho Vũ Nương ruồng rẫy và đánh đuỗi nàng đi. Vũ Nương bị oan ức nên nhảy xuống sông tự vẫn. Em hãy đọc kĩ lại tác phẩm và tìm xem có những chi tiết nào trong truyện tác giả muốn hé mở khả năng có thể tránh được thảm kịch đau thương cho Vũ Nương. Những nguyên nhân nào làm cho thảm kịch đó vẫn diễn ra dẫn đến cái chết đau thương cũa người phụ nữ đức hạnh? Em hãy bình luận về nguyên nhân cái chết đó . HƯỚNG DẪN 1. Đọc kĩ tác phẩm, nắm vững chi tiết, độc lập suy nghĩ để tìm ra những chi tiết mà đề yêu cầu. Tài thắt nút và mở nút là ở chỗ ấy. Mỗi em tìm tòi theo cách của mình miễn là hợp lí. 2. Bình luân về nguyên nhân cái chết của Vũ Nương. Có nguyên nhân trực tiếp do tính nết cá nhân của Trương Linh và nguyên nhân sâu xa của chế độ xã hội từ đó tìm ra ý nghĩa tố cáo và nhân đạo của tác phẩm. BÀI VIẾT THAM KHẢO “Truyền kì mạn lục” là một tác phẩm có giá trị của văn học cổ nước ta thế kỉ XVI, một tập truyện văn thơ đầu tiên bằng chữ Hán ở Việt Nam. Truyện “Người con gái Nam Xương” là một truyện hay trong tác phẩm. Truyện kể rằng, Vũ Thị Thiết là một phụ nữ đức hạnh ở Nam Xương, chồng là Trương Linh, người nhà giàu nhưng không có học, tính lai đa nghi. Triều đình bắt lính, Trương Linh phải tòng quân trong khi vợ đang mang thai. Chồng đi xa mới được mười ngày thì nàng sinh con trai đặt

tên là Đản. Năm sau, giặc tan, việc quân kết thúc, Trương Linh trở về thì con đã biết nói, nhưng đứa trẻ nhất định không nhận Trương Linh làm bố. Nó nói: “Ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư ? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ thin thít. Trước đây thường có một ông đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.” Tính Trương Linh hay ghen, nghe con nói vậy đinh ninh rằng vợ hư, đã vu oan cho Vũ Nương, ruồng rẫy và đánh đuổi nàng đi. Vũ Nương bị oan ức đã nhảy xuống sông tự vẫn. Đọc kĩ tác phẩm, em thấy truyện không phải không hé mở khả năng có thể dễ dàng tránh được thảm kịch đau thương đó. Tài kể chuyện của tác giả là ở chỗ đó, cởi ra rồi lại thắt vào đẩy câu chuyện đi tới, khiến người đọc hứng thú theo dõi và suy nghĩ, chủ đề của tác phẩm từng bước nổi lên theo dòng kể của câu chuyện. Lời con trẻ nghe như thật mà chứa đựng không ít điều vô lí không thể tin ngay được, nếu Trương Sinh biết suy nghĩ, người cha gì mà lạ vậy: “không biết nói, chỉ nín thin thít” chẳng bao giờ bế con mình, mà hệt như “cái máy” - “mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi”. Câu nói đó của đứa trẻ chẳng phải là một câu đố, giảng giải được thì cái chết của Vũ Nương sẽ không xảy ra. Nhưng Trương Linh cả ghen, ít học, thiếu suy nghĩ, đã vô tình bỏ dở khả năng giải quyết tấm thảm kịch, dẫn tới cái chết oan uổng của người vợ mà chàng không phải không có tình yêu thương. Tất nhiên sự đời có thế mới thành chuyện, vả lại trên đơì làm gì có sự ghen tuông sáng suốt. Bi kịch có thể tránh được khi vợ hỏi chuyện kia ai nói, chỉ cần Trương Sinh kể lại lời con nói mọi chuyện sẽ rõ ràng. Vũ Nương sẽ chứng minh cho chồng rõ ở một mình nàng hay đùa với con trỏ vào bóng mình và nói là cha Đản. Mãi sau này, một đêm phòng không vắng vẻ, ngồi buồn dưới bóng đèn khuya, chợt người con chỉ vào bóng mình trên vách mà bảo đó là cha nó, Trương Linh mới tỉnh ngô, thấu hiểu nỗi oan của vợ thì mọi chuyện đã xong. Vũ Nương không còn nữa trên đời. Câu chuyện bắt đầu từ một bi kịch gia đình, một chuyện trong nhà, một vụ ghen tuông. Không ít tác phẩm xưa nay đã viết về cái chuyện thường tình đầy tai hoạ này. Vũ nương không may lấy phải người chồng cả ghen, nguyên nhân trực tiếp dẫn nàng đến cái chết bi thảm là “máu ghen” của người chồng nông nổi. Nhưng sự thực vẫn là sự thực!cái chết oan uổng quá và người chồng độc đoán quá! Một phụ nữ đức hạnh, tâm hồn như ngọc sáng mà bị nghi oan bởi một

chuyện không đâu ở một lời con trẻ, một câu nói đùa của mẹ với con mà phải tìm đến cái chết bi thảm, ai oán trong lòng sông thăm thẳm. Câu chuyện đau lòng vượt ra ngoài khuôn khổ cuả một gia đình, nó buộc chúng ta phải suy nghĩ tới số phận mong manh của con người trong một xã hội mà những oan khuất, bất công, tai hoạ có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối với họ mà những nguyên nhân dẫn đến nhiều khi rất lạ lùng không thể lường trước được. Đó là xã hội phong kiến ở nước ta, nhất là ở thời nó đã suy vong. Xã hội đó đã sinh ra những chàng Trương Sinh, những người đàn ông đặc đầu óc “nam quyền”, chà đạp lên quyền sống của người phụ nữ. Tính ghen tuông của cá nhân cộng với tư tưởng “nam quyền” trong xã hội đã làm nên một Trương Sinh độc đoán đến kỳ cục, khư khư theo ý riêng, nhất thiết không nghe ý kiến của người khác. Đứa trẻ nói thì tin ngay, còn vợ than khóc giãi bày thống thiết thì nhất định không tin, họ hàng, làng xóm phân giải công minh cũng chẳng ăn thua gì. Hậu quả là cái chết thảm thương của Vũ nương mà nguyên nhân sâu xa là chế độ phong kiến bất công cùng chế độ “nam quyền” bất bình đẳng của nó đã gây ra bao nhiêu tai hoạ cho người phụ nữ nói riêng và con người thời đó nói chung.

Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải Mở bài “Nếu là con chim, chiếc lá, Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh Lẽ nào vay mà không trả, Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.” (Tố Hữu) Tố Hữu – nhà thơ cùng quê hương xứ Huế với Thanh Hải – đã viết trong bài “Một khúc ca xuân” những lời tâm niệm thật chân thành, giản dị và tha thiết. Đó là “lặng lẽ dâng cho đời”. Còn Thanh Hải khi viết bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” trước lúc ra đi, không những đã giải bày những suy ngẫm mà còn mong ước được dâng hiến một mùa xuân nho nhỏ của mình cho mùa xuân vĩ đại của đất nước Việt Nam. Sinh ra, lớn lên, hoạt động cách mạng và tham gia công tác văn nghệ suốt hai thời kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ngay chính trên quê hương ruột thịt của mình. Ở địa diểm nào, hoàn cảnh nào ông cũng thể hiện được lẽ sống của mình. Đó là sự giản dị, chân thành, yêu người và khát vọng dâng hiến sức mạnh cho đời như chính cuộc sống và tâm hồn ông. Chúng ta có thể coi bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là món quà cuối cùng mà Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc

bất ngờ. Phân tích Hình ảnh của một mùa xuân rất Huế đã được tác giả mở đầu cho bài thơ: “Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc. Thân bài Giới thiệu chung Trước lúc vĩnh viễn ra đi ông cũng để lại cho đời những vần thơ thật nhân hậu. Một màu tím thật gợn nhẹ như màu tím hoa sim mọc giữa con sông xanh biếc hay như những tà áo dài với màu tím thật nhẹ nhàng của những cô gái Huế. Tôi đưa tay tôi hứng”. Khi cuộc đời mình đã bước vào cuối đông. yêu quê hương đất nước và còn là một Thanh Hải sống cho thơ và sống cho đời. Tôi đưa tay tôi hứng”. thánh thoát hơn: “Ơi con chim chiền chiện Hót cho mà vang trời. không hề gợn một nét u buồn nào của một cuộc đời sắp tắt. nhà thơ vẫn nghĩ đến một mùa xuân bất diệt. Cảm xúc về mùa xuân mở ra thật ngỡ ngàng. không gian như tươi tắn hơn. muôn thuở và nguyện dâng hiến cho đời. thân thương của Huế vào nhạc điệu của thơ. Từng giọt long lanh rơi. Từ “giọt” . yêu cuộc sống. Ơi con chim chiền chiện Hót cho mà vang trời. Chính vì vậy nó bâng khuâng. tha thiết và sâu lắng hơn tất cả để cuối cùng thể hiện một Thanh Hải yêu người. Trong không gian vang vang vui tươi của tiếng chim càng đậm đà chất Huế hơn nhờ dùng đúng chỗ những ngôn từ đặc trưng xứ Huế. thiết tha và thanh thản. trẻ trung hơn. Từng giọt long lanh rơi.về cõi vĩnh hằng. Một nét đặc trưng nơi xứ Huế là hình ảnh màu tím. Một từ “Ơi” đặt ở đầu câu. một từ “chi” đứng sau động từ “hát” đã đưa cách nói ngọt ngào.

Tất cả như xôn xao…” Hình ảnh mùa xuân của đất trời đọng lại trong lộc non đã theo người cầm súng và người ra đồng. giọt mưa xuân. nhân dân và đất nước. giọt sương sớm hay cả tiếng hót của những chú chim chiền chiện. của chim muông hoa lá. Những giọng thơ ấy rất giàu sức suy tưởng và làm say đắm lòng người. điệp ngữ như nhấn mạnh và kết thúc một khổ thơ bằng dấu ba chấm. trải qua biết bao vất vả và gian lao để vươn lên phía trước và mãi khi mùa xuân về lại được tiếp thêm sức sống để bừng dậy. Từ mùa xuân của thiên nhiên đất trời. tác giả đã chuyển cảm nhận về mùa xuân của cuộc sống. những âm thanh xôn xao của đất nước bốn ngàn năm. sẽ đến với một tầm cao mới mà không có sự dừng chân ngơi nghỉ. tin yêu của Thanh Hải đối với đất nước. Với hình ảnh “người cầm súng” và “người ra đồng”. Một từ “hứng” cũng đủ diễn tả sự trân trọng của nhà thơ đối với vẻ đẹp của trời. Từ cảm xúc của thiên nhiên. dân tộc. . Sức sống của “mùa xuân đất nước” còn được cảm nhận qua nhịp điệu hối hả. của sông. hay chính họ đã đem mùa xuân đến cho mọi miền của tổ quốc thân yêu. Lộc giắt đầy trên lưng. đất nước. Nhưng đối với khung sắc trời xuân thì giọt xuân càng làm tăng thêm vẻ đẹp và sự quyến rũ của nó. lạc quan. Mùa xuân của thiên nhiên. mạch thơ đã chuyển một cách tự nhiên sang bày tỏ suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa xuân của đất nước. với Thanh Hải cũng thế. Lộc trãi dài nương mạ. Tác giả đã sử dụng biện pháp điệp từ. đồng thời cũng thể hiện cảm xúc trọn vẹn của Thanh Hải trước mùa xuân của thiên nhiên đất trời. biểu tượng của hai nhiệm vụ: chiến đấu bảo vệ tổ quốc và lao động tăng gia để xây dựng đất nước với những câu thơ giàu hình ảnh và mang tính gợi cảm: “Mùa xuân người cầm súng. Phải chăng dấu ba chấm như còn muốn thể hiện rằng: đất nước sẽ còn đi lên. đất nước thường gợi lên ở mỗi con người niềm khát khao và hi vọng.được hiểu theo rất nhiều nghĩa: có thể là “giọt nắng bên thềm”. Tất cả như hối hả. Mùa xuân người ra đồng. được hình dung qua hình ảnh so sánh rất đẹp: “Đất nước bốn ngàn năm Vất và vào gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước” Đó chính là lòng tự hào. sẽ phát triển.

dù nhỏ bé của mỗi người cho cuộc đời chung cho đất nước. Nếu như đoạn đầu Thanh Hải xưng tôi kín đáo và lặng lẽ thì đến đoạn này ông chuyển giọng xưng ta.cống hiến sức trẻ để không bao giờ thất vọng trước chính bản thân mình. Thật cảm động và kính phục biết bao khi đọc những vần thơ như lời tổng kết của cuộc đời. đất nước mến yêu của chính mình. Đã gọi là cống hiến cho đời thì dù ở tuổi nào đi chăng nữa cũng phải luôn biết cố gắng hết tâm trí để phục vụ và hiến dâng cho quê hương. Nam Bình . xuất phát từ tiếng lòng thiết tha. quê hương với một khát vọng cân thành và tha thiết: “Ta làm con chim hót. “Dù là tuổi hai mươi” khi mới tham gia kháng chiến cho đến khi tóc bạc là thời điểm hiện thời vẫn lặng lẽ dâng hiến cho đời và bài thơ này là một trong những bài thơ cuối cùng. chuẩn bị ra đi mãi mãi. góp một nốt trầm vào bản hoà ca bất tận của cuộc đời. chân thành của tác giả nên lời thơ dễ dàng được mọi người tiếp nhận và chia sẻ cho nhau: “Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc”. một cành hoa để hoà nhập vào “mùa xuân lớn” của đất nước. nhỏ nhẹ. Hiến dâng “mùa xuân nho nhỏ” nghĩa là tất cả những gì tốt đẹp nhất. Kết thúc bài thơ bằng một âm điệu xứ Huế: điệu Nam ai. Thanh Hải đã thể hiện hết mình vì lòng tin yêu cuộc sống và khiêm tốn hiến dâng cho đất nước. Điều tâm niệm của tác giả: “lặng lẽ dâng cho đời” chính là khát vọng chung của mọi người. Vì sao có sự thay đổi như vậy? Ta ở đây là nhà thơ và cũng chính là tất cả mọi người. cho cuộc đời. bởi vậy. “Một mùa xuân nho nhỏ” cuối cùng của Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc ông bước vào thế giới cực lạc. một nhà thơ đã gắn bó trọn đời với đất nước. ở mọi lứa tuổi. Điều tâm niệm đó thật chân thành. Một nốt trầm xao xuyến” Lời thơ như ngân lên thành lời ca. Già . chứ đâu phải của riêng ai. Khát vọng của ông là được làm con chim hót. giản dị và tha thiết – xin được làm một nốt trầm trong bản hoà ca của cuộc đời nhưng là “một nốt trầm xao xuyến”. Ta làm một cành hoa. trẻ .cống hiến tuổi già.đây chính là thời điểm mà ông nhìn lại cuộc đời và bộc bạch tâm niệm thiết tha của một nhà cách mạng. Ta nhập vào hoà ca.

khi Bắc Nam sum họp một nhà thì Bác không còn nữa. nhạc điệu. giàu hình ảnh. Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến miền Nam. đất nước. là hạnh phúc. mang âm hưởng dân ca nhẹ nhàng tha thiết. và chính lúc đó Thanh Hải đã thả hồn vào thơ. cất trúc thơ chặt chẽ. Miền Nam cũng ngày đêm thương nhớ Bác. ngày đêm thương nhớ miền Nam. gửi gắm của mình với cuộc đời. vấn đề ý nghĩa cuộc sống của mỗi cá nhân được Thanh Hải thể hiện một cách chân thành. một câu chân tình thắm thiết “Mùa xuân ta xin hát Câu Nam ai. Niềm mong mỏi thiết tha của Bác là miền Nam mau được giải phóng. giọng điệu đã thể hiện đúng tâm trạng. tâm tình những điều sâu kín nhất trong lòng. hiểu nhau và giải bày cho nhau. là nỗi đau không lúc nào nguôi: “Miền Nam trong trái tim tôi”. Nam Bình Nước non ngàn dặm tình Nước non ngàn dặm mình Nhịp phách tiền đất Huế” Đánh giá chung Những lời tâm sự cuối cùng của người sắp mất luôn là những lời thực sự. bằng giọng văn nhỏ nhẹ như một lời tâm sự. miền Nam là niềm vui. là lời ngợi ca đất nước. thiết tha. biểu hiện niềm tin yêu và gắn bó sâu nặng của tác giả với quê hương./. cùng chung một nhịp đập với thơ để ông và thơ luôn được cùng nhau. Nguồn: ST Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác Sinh thời. những xúc động của chính tác giả và của cả chúng ta. Bài thơ không những chỉ thể hiện dòng cảm xúc trào dâng của nhà thơ mà còn thể hiện hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh bằng những hình ảnh vừa quen thuộc. Nhưng tiếc thay. vừa giàu sức . Với Bác.mênh mang tha thiết. là “một mùa xuân nho nhỏ” góp vào “mùa xuân lớn” của đất nước của cuộc đời chung và bài thơ cũng có ý nghĩa hơn khi Thanh Hải nói về “mùa xuân nho nhỏ” nhưng nói được tình cảm lớn. Kết bài Tóm lại bài thơ đã sử dụng thể thơ năm chữ. ước nguyện sâu lắng nhất… và bài thơ này cũng chính là những điều đúc kết cả cuộc đời của ông. luôn chứa chan tình cảm. nỗi niềm đau đớn của đồng bào và chiến sĩ miền Nam dồn nén bao nhiêu năm đã được nhà thơ Viễn Phương thể hiện trong bài Viếng lăng Bác. Nét đặc sắc của bài thơ là ở chỗ nó đề cập đến một vấn đề lớn và quan trọng “nhân sinh”. sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường. Ông đã giải bày. mong ngày giải phóng để được gặp Bác kính yêu. Nhà thơ ước nguyện làm một “mùa xuân” nghĩa là sống đẹp. cảm xúc của tác giả. Lòng thương nhớ.

là biểu tượng anh hùng. là thành đồng Tổ Quốc… Giờ đây. vừa lung linh gợi cảm. khi lần đầu tiên sau giải phóng miền Nam. nỗi nhớ thương. . dũng cảm. Câu thơ giản dị nhưng bao hàm một ý nghĩa lớn. Viễn Phương nói với Bác: Con ở miền Nam…. Miền Nam luôn luôn là nỗi đau chia cắt. Chắc rằng. Hình ảnh đầu tiên trong lăng làm nhà thơ xúc động là hình ảnh hàng tre: Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng Hàng tre bát ngát cuốn hút cảm xúc của nhà thơ. Ngôn ngữ thơ tuôn trào theo theo dòng cảm xúc chân thành.khái quát. súc tích nhưng có sức gợi tạo nên sự xúc động cho người đọc. là niềm tự hào. Trong tim Bác và trong tim miền Bắc. Tự đáy lòng của người con đến thăm cha. nhất là hình ảnh miền Nam yêu thương. tha thiết. Bài thơ rất ngắn gọn. Tre kiên cường trong bão táp mưa sa như dân tộc ta vững vàng qua phong ba bão tố. nhà thơ mang theo cả niềm tự hào đó của đồng bào miền Nam để đến với Bác. ca ngợi dân tộc. kiên cường. Qua hình ảnh hàng tre quen thuộc tác giả gửi gắm một ý nghĩa tượng trưng nhằm ca ngợi Bác. ruột thịt của mình bằng câu thơ giản dị: Con ở miềm Nam ra thăm lăng Bác. thân thuộc. đời đời gắn bó với quê hương làng xóm. Hàng tre xanh xanh trong vườn Bác gợi cho người đọc nhiều liên tưởng. Viễn Phương đã nói hộ chúng ta một chân lý: Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong lòng nhân dân ta. Bằng cảm xúc chân thực và ngôn ngữ thơ gợi cảm. cây tre là hình ảnh giản dị. trong tâm khảm nhà thơ. bất khuất. Viễn Phương đã bày tỏ ngay tình cảm sâu nặng. Tình cảm giữa miền Nam và Bác Hồ luôn luôn là tình cảm ruột thịt “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà” (Tố Hữu) và tình cảm của miền Nam đối với Bác cũng là tình cảm nhớ mong da diết “Miền Nam mong Bác nỗi mong cha” (Tố Hữu). như Bác Hồ suốt đời sống giản dị nhưng kiên cường tranh đấu vì độc lập tự do của dân tộc. Bài thơ ra đời năm 1976. Hàng tre gợi hình ảnh mọi miền quê hương đất nước. cũng như mọi người Việt Nam. Viễn phương ra thăm Lăng Bác. Mở đầu bài thơ.

nhà thơ thật sâu sắc và tinh tế khi tôn quí nhân dân. Lời thơ bỗng dạt dào một cảm xúc tự hào. càng gợi ta nghĩ đến tình yêu thiên nhiên. Mà sao nghe nhói ở trong tim Bác nằm đó như đang trong giấc ngủ bình yên sau bảy mươi chín mùa xuân không hề nghỉ. yêu quí. nhà thơ sững sờ. nghẹn ngào. mãi mãi chiếu rọi con đường đi tới của dân tộc Việt Nam. Không nhiều lời. thành kính. nhưng đối sánh hai hình ảnh mặt trời của Viễn Phương quả là rất độc đáo. thương nhớ Bác: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân Ai đã từng một lần đi viếng lăng Bác mới hiểu hết hàm ý trong câu thơ của Viễn Phương. Mỗi người dân là một bông hoa và dòng người đi trong thương nhớ chính là tràng hoa dâng lên Bác. đau đớn: Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền. Nhiều nhà thơ đã sử dụng hình ảnh mặt trời để thể hiện ánh sáng của lý tưởng cách mạng. rực rỡ nhất. thành kính kết tràng hoa tình yêu dâng bảy mươi chín mùa xuân của Người. Ngày ngày. Cùng với mặt trời ngày ngày đi qua trên lăng là dòng người đi trong thương nhớ. Từ ánh điện mờ ở trong lăng. “Người ta là hoa của đất”. yêu trăng nồng nàn của Bác. trong sáng và thanh khiết.chúa tể của thiên nhiên . Đặc biệt xúc động là khi vào trong lăng. thấy Bác nằm nghỉ. kính trọng đối với Bác. nhà thơ tiếp tục dòng suy tưởng.là mặt trời cách mạng. nhà thơ liên tưởng đến một hình ảnh rất đẹp: vầng trăng sáng dịu hiền. nhà thơ đã khái quát được hình ảnh Bác Hồ vĩ đại.thán phục một mặt trời trong lăng rất đỏ. Đây là một sáng tạo nghệ thuật có tác dụng bộc lộ nội dung rất hiệu quả. . Nhịp thơ chầm chậm như bước chân của dòng người lặng lẽ đi trong suy tưởng. mặt trời . hình ảnh tượng trưng cho Bác Hồ . Mặt trời rất đỏ. chói lọi nhất luôn luôn toả sáng trong tâm hồn người Việt Nam. Vẫn biết trời xanh là mãi mãi . thời gian không ngừng trôi và lòng người Việt Nam không bao giờ nguôi tình cảm nhớ thương.Hoà vào dòng người thăm lăng. bao trùm một một không khí thương nhớ Bác không nguôi. Nhà thơ đã nói hộ chúng rằng: Bác Hồ là mặt trời cách mạng đẹp nhất. Hình ảnh đó đã đưa người đọc vào một thế giới huyền diệu. Ngày ngày… ngày ngày …. chỉ một hình ảnh mặt trời rất đỏ. là nguồn ánh sáng rực rỡ không bao giờ tắt.

Làm sao ngăn được dòng nước mắt thương nhớ Bác-một con người vừa vĩ đại. Đoạn thơ dạt dào tình cảm. “trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa…” Giờ đây. trời xanh là mãi mãi đã gợi cho người đọc thấy trọn vẹn hình tượng Bác Hồ gần gũi. Mà sao nghe nhói ở trong tim. rất lớn lao của vũ trụ: mặt trời. vầng trăng sáng dịu hiền. giữa vầng trăng sáng dịu hiền. bảy mươi chín mùa xuân. trong giấc ngủ bình yên. như vầng trăng sáng dịu hiền. vĩ đại biết bao. chỉ ước muốn biến thành con chim. một tình cảm yêu quý mãnh liệt. Bác như vầng mặt trời rực rỡ. đến các hình ảnh mặt trời rất đỏ. Và nỗi đau không còn kìm ném được nữa. Bác vẫn thấy “trung thu trăng sáng như gương”. Vẫn biết rằng Bác như trời xanh. như bầu trời xanh. Thương Bác. Các hình ảnh hàng tre xanh xanh. Ở Bác toả ra ánh sáng của trí tuệ thiên tài và lấp lánh ánh sáng của một tâm hồn cao đẹp. làn hương quanh nơi Bác nghỉ cho trọn niềm trung hiếu với Người. chỉ một chữ nhói cũng đủ nói lên nỗi quặn đau. cây tre. Bác nằm đó. góp tiếng hót. Cả những khi bận rộn việc nước việc quân. lớn lao của Bác Hồ. trời xanh. Còn hình ảnh hàng tre xanh xanh lại tượng trưng cho cái bình dị. gần gũi của Người. Những hình ảnh đó tượng trưng cho cái vĩ đại. giữa bão táp mưa sa. thanh khiết. mãi mãi sống trong sự nghiệp của chúng ta. đất nước. thanh cao. nhân dân. Cả khi trong ngục: “Người ngắm trăng soi qua cửa sổ. vừa gần gũi thân thiết với chúng ta. nhịp điệu thiết tha. cùng với hình ảnh cây tre trung hiếu một lần nữa truyền đến người đọc sự xúc động nghẹn ngào. trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.Vầng trăng kia đã bao lần sáng lên trong thơ Người. trọn vẹn như tình cảm của người con đối với người cha ruột thịt. Nhưng con tim nhà thơ đau đớn vô cùng khi đứng trước Người. nó còn gợi đến hình ảnh quê hương. Bài thơ ngắn. cao quý. Nhà thơ chia tay Bác trong tiếng khóc nấc nở nghẹn ngào. vì nỗi thiếu vắng Bác. “rằm xuân lồng lộng trăng soi”. cống hiến cho dân tộc nay vĩnh viễn nằm lại trong lăng? Nhà thơ lưu lưyến không muốn rời xa Bác. . thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Muốn làm bông hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. nó trào lên dữ dội khi nhà thơ chia tay với Bác: Mai về miền Nam. Và hơn thế nữa. vầng trăng. tất cả các hình ảnh ấy đều gợi cho ta thấy sự bất tử của Bác Hồ. Nhà thơ đã có nhiều dụng ý khi sử dụng các hình ảnh rất đẹp. một con người suốt đời hy sinh. thương nhớ không gì bù đắp được vì mất Bác. bông hoa. “trăng ngân đầy thuyền”. “trăng vào cửa sổ đòi thơ”. thương đến trào nước mắt. nhưng tác giả đã thành công khi sử dụng hàng loạt hình ảnh ẩn dụ mang tính tượng trưng sâu sắc. tràng hoa. Ngoài ra.

Lê Văn Duyệt. kể rằng: “Lúc tôi 25 tuổi. Tôi nghĩ rằng đó cũng là hạnh phúc lớn của nhà thơ: Góp phần mình vào công cuộc giải phóng đất nước. nhịp điệu tha thiết. rồi những khi bị địch bắt đi lao động. mọi người đều thuộc. Bài thơ được phổ nhạc càng trở nên truyền cảm sâu xa. Dưới đây là cuộc trò chuyện giữa ông và phóng viên VNQĐ PV: Thưa nhà thơ Viễn Phương. Viếng lăng Bác không những là tiếng khóc đau đớn. Trong chuồng cọp. yêu quý của chúng ta. trong sự nghiệp của chúng ta. chỗ này ghi một đoạn.. Viễn Phương sáng tác thầm trong đầu và đọc cho các đồng chí cùng khám nghe. Trên vách chuồng cọp. không có giấy bút. . lòng kính phục vô hạn của nhà thơ Viễn Phương và của nhân dân ta đối với Bác Hồ mà bài thơ còn diễn tả thành công hình tượng Bác Hồ vĩ đại bằng những hình ảnh đẹp. Hôm nay mười chín tháng năm: Lòng con sáng tựa đêm rằm trung thu Con đang chúc thọ dưới mồ Con đang dựng một rừng cờ trong tim Đêm nay mộng hóa thành chim Bay qua lưới sắt con tìm đến cha Sau này mới biết là thơ Viễn Phương. tôi thấy chi chít những chữ ghi bằng nhiều cách khác nhau. Viễn Phương chỉ đọc một vài lần. Phải đến bài thơ Viếng Lăng Bác. trong một lần nào đó. Viễn Phương mới thực sự có một bài thơ hay về Bác. bị bọn Mỹ – Diệm kết án tử hình rồi chuyển thành trung thân khổ sai và đày ra Côn Đảo. Tôi đọc được bài thơ dài. làm xúc động hàng triệu trái tim Việt Nam từ 1976 đến nay. nhà thơ Viễn Phương hoạt động ở Nam Bộ. nghẹn ngào trước sự ra đi của Bác. cảm xúc nồng nàn chân thực. chỗ khác ghi một khúc ráp lại rất vần với nhau.". có những ghi bằng than.Người sống mãi trong lòng nhân dân ta. tôi bị bắt buộc phải nằm dưới hầm suốt ngày. cứ vậy thơ Viễn Phương được lan truyền trong nhà tù. bài Chúc thọ dưới mồ. Có những chữ bằng máu. họ lại đọc cho bạn tù ở khám khác nghe. Kỳ diệu thay. Âm hưởng của bài thơ ngân vang mãi trong lòng người đọc. địa ngục trần gian của nhà tù ấy. Mãi mãi là vị cha già thân thiết.. Có những dòng được khắc trên vôi bằng cái xương cá mắm. Trong hai cuộc kháng chiến. Có bài tác giả viết khi bị địch giam cầm ở các trại giam Phú Lợi. tôi được đọc một bài viết của anh Lê Quang Vịnh trên báo Sài Gòn Giải phóng. là lòng thương nhớ không nguôi. và đã sáng tác nhiều bài thơ về Bác Hồ.

Và. Chúng tôi đi từ hướng chùa Một Cột. Bác của chúng ta vốn giản dị. Tôi đã viết bài thơ Chúc thọ dưới mồ. hàng ngày dâng lên Bác rất nhiều nhưng tôi nghĩ đến: . PV: Phải đến khi đất nước thống nhất. viếng lăng Bác. những gốc đào hoa đỏ rực… Tất cả đều thiêng liêng. những hàng tre xanh sẫm. Anh sáng dịu dàng toả xuống như giữa một đêm trăng thanh miền thôn dã. Đảng ta đã thực hiện: xây dựng một đất nước Việt Nam hoà bình. tôi đi như người mộng du và tứ thơ bật ra: Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát. thơ. Tuy lời thơ còn mộc mạc nhưng là tấm lòng thành kính của tôi đối với Người. Tôi nghĩ. Giản dị. trong sáng. nhac. ước mơ ấy không được toại nguyện. Hoa tươi là nét đẹp của thiên nhiên. sâu sắc cũng là bao quát trong thơ Bác. hiền từ như đang ngủ. dân chủ và giàu mạnh như di chúc của Bác. thống nhất. ai cũng muốn dừng thật lâu. cổ các chiến sĩ trong nhà tù. Ra khỏi làng. Lời thơ thật giản dị. làm dáng. Anh có thể cho biết bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nào? Nhà thơ Viễn Phương: Khi Bác còn sống. Sương toả mênh mông. Nhưng rồi.Nhà thơ Viễn Phương: Hồ Chí Minh. Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ. mọi người đều muốn ra thăm miền Bắc. thanh thản. Tôi viết như là ý nghĩ của mình. các nhà thơ sống ở Nam Bộ đều có những tác phẩm viết về Bác. được các đồng chí trong tù thuộc. đầy đủ độ chín và ngôn từ. Sáng hôm ấy mưa phùn. Đó cũng là hàm chứa sự vĩnh cửu của sự nghiệp Bác Hồ tạo dựng và nhân dân ta. nhân dân miền Nam mong muốn đất nước giải phóng để đón Bác vào thăm. đó cũng là tâm tư của nhân dân và chiến sỹ ở Nam Bộ với Bác. tôi ra Hà Nội. tôi luôn luôn nghĩ về Bác. Hà Nội lây phây trong gió rét. Tôi không cầm nổi nước mắt. Khi miền Nam giải phóng. vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc ta là nguồn cảm hứng vô tận của người sáng tạo văn. Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Mặt trời của vũ trụ đối với mặt trời trong lăng. Bác nằm đó. họa. được đến viếng Bác. Năm 1976. Trong nhà tù của giặc. anh mới có Viếng Lăng Bác. tôi được nối vào dòng người vào lăng Bác. Đến bên Bác. độc lập. truyền cho nhau. ra thăm miền Bắc. Người ghét sự cầu kỳ. giản dị. Bác là nguồn động viên.

Và dâng cho Bảy mươi chín màu xuân. không phải cuối thu. Đây mùa thu tới (Xuân Diệu)… Nhưng nó vẫn có cái hay. cái độc đáo riêng của một hồn thơ sâu lắng. khi bầu trời xanh ngắt lơ lửng những tầng cao. Mùa thu dường như luôn luôn nấp sẵn trong ngòi bút của chúng ta. Đó không phải là chính thu.Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng Bảy mươi chín mùa xuân Dòng người vây quanh Bác trở thành hoa. Tưởng như với đề tài thơ mộng muôn thuở này có thể dễ dàng chắp bút. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Nói về đề tài mùa thu. Chùm thơ thu (Nguyễn Khuyến). Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Sang thu của Hữu Thỉnh xuất hiện khi trước nó đã có rất nhiều bài thơ nổi tiếng đông tây kim cổ: Thu hứng (Đỗ Phủ). Đoạn kết. Toàn bài Viếng Lăng Bác mang một không khí trang nghiêm. tôi muốn nói lên tình cảm của nhân dân. một tác giả đã nhận định: “Đề tài "Mùa Thu" bao giờ cũng có vẻ là dễ viết. Ngay từ tiêu đề. chiến sỹ miền Nam hứa với Bác: Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này (sưu tầm) Sang thu (Hữu Thỉnh) Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. Chỉ đến khi bắt đầu cầm bút ngồi trước mặt giấy. thành kính. là hoa tươi của cuộc sống. khi nắng trời đã nhuộm đỏ . tác giả đã tự xác định một thời điểm miêu tả: thời điểm giao mùa. nhạy cảm khi mùa thu tới. nhất là những ngòi bút thơ: hễ động bút là mùa thu cứ chực đổ ùa ra trên mặt giấy. tôi mới thấy đề tài này thật là khó” Tại sao lại có nghịch lí trong kinh nghiệm của người sáng tác như vậy? Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu.

Đám mây như tấm khoăn voan của người thiếu nữ. “Hình như thu đã về”… Tiếp tục thể hiện những dấu hiệu mùa thu rõ rệt hơn nhưng ý nghĩa của khổ cuối không chỉ dừng lại ở đó: Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi Con người cảm thấy biết bao biểu hiện khác biệt của thời tiết khi mùa thu tới: mưa và sấm thưa dần. Đặc biệt ở góc độ miêu tả tạo vật. Tinh tế và sống động sao một buổi sáng chớm thu. Có gió. nó không chỉ miêu tả chính xác trạng thái của tạo vật mà còn thổi vào tạo vật những cảm giác rất người. mà ở cả chút ngỡ ngàng bâng khuâng của lòng người: “Bỗng nhận ra hương ổi”. những cánh chim vội vã tìm về phương ấm áp… Song thời điểm chớm thu không phải chỉ hiển hiện ở những dấu hiệu mơ hồ trong trạng thái biến chuyển của cảnh vật. Làn sương giăng phủ ngõ thôn chẳng được đặc tả ở mức độ (mù mịt) hay màu sắc (trắng mờ). Sang thu. gió se lại bởi chút lạnh xa xăm. hệ thống động từ toàn bài còn đặc sắc ở chỗ.. Song trên hết. “chùng chình” “dềnh dàng” “bắt đầu vội vã” “vắt nửa mình”… “Chùng chình” trước hết gợi tả chính xác những làn sương như ngưng lại và nhẹ nhàng tỏa lan ngõ xóm. “se”. sương như người khách ngập ngừng nơi đầu ngõ. không còn dữ dội nữa. hay khi cái rét mùa đông đã lẩn vào trong gió…Sang thu nghĩa là mới chớm thu thôi. cường độ… Hàng cây như đã quá quen với nắng lửa mưa giông. Dòng nước thu vốn trong trẻo và sâu hút làm người ta khó mà thấy rõ được sự chuyển động nó nên cảm giác sông lững lờ trôi cũng rất hiện thực. Se gợi một động thái. hay đám mây cũng không tô điểm cho phong cảnh thu bằng những gam màu đặc trưng của nó. cái tứ kết buộc hệ thống hình ảnh trong bài cũng chỉ gói gọn trong chút “chớm” mỏng manh đó. ngô đồng hay màu trời. Thành công nổi bật nhất của bài cũng là ở một hệ thống những động từ miêu tả rất giàu cảm giác: “phả”. Dòng sông. sắc nước… Hữu Thỉnh hầu như khơi gợi cảm giác về mùa trong trạng thái mơ hồ của tạo vật.. Truyền thống thơ thường kiến trúc ngôi nhà thu bằng những chất liệu quen thuộc như cúc. Không hề có một từ định tính để miêu tả thế giới thu. tất cả các dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn nhưng đã giảm dần mức độ. cánh chim.lá bàng. Nhưng hương ổi “thơm” như thế nào thì thi sĩ hoàn toàn không miêu tả. duyên dáng nối hai mùa là một liên tưởng thực sự độc đáo. được gọi một . mùi hương vừa đặc trưng cho mùa vừa đặc trưng cho làng thôn ngõ xóm. nhưng gió se chứ không phải là gió lạnh. Có hương ổi. hơn là gợi một cảm giác. liễu.

suy nghĩ tự nhiên của tác giả. sấm chớp… hay là những vang động của cuộc đời? Trong tương quan ấy.Hương thu thấm đẫm ngọt nào trong vạn vật như đc in dấu lung linh .những âm thanh.cách hình ảnh là “hàng cây đứng tuổi”.huyền ảo qua mỗi vần thơ ở bài Sang Thu của nhà thơ HỮU THỈNH "Bỗng nhận ra.Tuơng phản với hình ảnh dòng sông à lũ chim :"chim bắt đầu vội vã". Nắng.của tình yêu.mà trầm ngâm suy nghĩ.đã về " Ngọn jó se ở đây ta có thể hiểu là ngọn gió heo may se se lạnh ban phát cái hương vị còn sót lại của làng quê.Nhà thơ Xuân Diệu khi cảm nhận về mùa thu cũng nói tới cánh chim : "Chim nghe trời rộng giang thêm cánh" . . Cảm xúc của nhà thơ :"Bỗng"..bịn rịn.Có phải nhà thơ đang thầm hỏi lòng :thu về từ bao giờ?theo gió hay theo huơng?Thu đến mà ko báo trước để lòng người xao xuyến bâng khuâng Khi cả đất trời vào thu "Sông đựoc lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu " Nhà thơ đã thổi hồn vào cảnh vật để cho dòng sông đc dịp mà thanh thản..Hình ảnh giọt sương thu gợi ta và gợi cảm :"giọt sương chùng chình" gợi tả 1 ngõ nhỏ yên ắng.1 không gian sương khói lãng đãng lúc thu về. Và có lẽ cũng nhờ giọng điệu êm nhẹ dễ cuốn người đọc vào dòng cảm xúc. Không hiểu sao.bâng khuâng đang đợi chờ 1 nguời nào đó. Cảnh như sâu lắng hơn bởi liên tưởng suy tư về mùa thu đời người.gấp gáp hơn.bâng khuâng.những tiếng đập cánh vội vã. mưa. Chính các từ “bất ngờ”. Miền kí ức tuổi thơ được đánh thức bởi mùi hương ổi. Nét độc đáo nhất của bài là những hình ảnh chính xác và giàu sức gợi tạo nên một bức tranh thu giản dị mà sống động. bởi ngõ xóm thân quen ấy. khi đọc bài thơ này.của những bài thơ dịu dàng. Đây xứng đáng là một bài thơ thu hay trong thế giới thi ca! ( Sưu tầm đó) Người ta nói mùa thu là mùa của thi nhận.Ta cảm nhận lũ chim như hình dung đc cái lạnh của thu đã về và cuộc hành trình về phương Nam của chúng bắt đầu với những tiếng gọi nhau .Giợt sương thu là hình ảnh mang tâm trạng ngập ngừng . “đứng tuổi” khiến ý nghĩa của câu thơ không dừng lại ở nét nghĩa tả thực mà có chiều sâu hơn. tôi chợt thấy nhớ rất nhiều những năm tháng đã qua của mình."hình như" là 2 tâm trạng của nhà thơ:bất ngờ và bối rối.. hàng cây tượng trưng cho con người từng trải mà bao dâu bể biến đổi không còn đáng ngạc nhiên.

Những suy ngẫm trong thơ cho ta ý thức sâu hơn về trách nhiệm của con người cuộc đời.thử thách của cuộc đời .còn khi bước sang thu."Vẫn còn bao nhiêu nắng.Con người lưu luyến chưa muốn chia tay với mùa hạ. Nếu như ở khổ 1 là cảm nhận về sự kì diệu của mùa thu .Lúc ngoảnh lại mới thấy mái tóc pha sương và mình đã ko còn trẻ. Bài thơ là bức tranh mùa thu đẹp để ta yêu mến.con nguời cũng sang thu.chững chạc mang vẻ đẹp sâu lắng kín đáo nhưng kiêu hãnh tự hào.hình như ko mong đợi mà thu vẫn về.Con nguời đứng tuổi ko còn sôi nổi như 1 thời trẻ dại mà tâm trạng của họ trờ nên chín chắn .đằm thắm hơn.Đám mây như 1 dãi lụa mềm tạo thành chiếc cầu nối cho nhịp thời gian .phải chăng cũng là sự điềm tĩnh bình thản của con người khi đã đi qua bao mưa nắng . Các hình ảnh nắg.tạo dáng.tình thu vào nhau thắm thiết.gợi hình.Trời đã bớt đi những cơn mưa . ^__^[IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image001.sấm chớp .tự hào về cảnh sắc quê hương đất trời.Khi chúng ta chưa hết ngỡ ngàng bởi một Xuân Diệu “tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì ” thì đã ..lo toan.Đời người đã sang thu từ khi nào.họ trờ nên nghiêm trang.Cảnh thu.cám giác như vừa là thực . Thiên nhiên sang thu.vừa rõ ràng mà lung linh.vừa là ảo.Thế nhưng tất cả lắng xuống .Chỉ còn kết lại bài thơ hình ảnh hàng cây đứng tuổi gợi bao suy nghĩ sâu xa .cây đứng tuổi" Có thể nhận ra biện pháp tu từ nhân hoá làm câu thơ mang chiều sâu triết lí .Hàng cây đứng tuổi hay đó chính là những nguời đã từng trải qua nhiều khó khăn gian nan của cuộc đời.Hàng cây đứng tuổi vững vàng trước sấm sét .nó gieo vào lòng người những rung động nhẹ nhàng khiến ta như giao hoà.khổ 2 là những biến đổi của cảnh vật thì khổ 3 là tình thu chan chứa.chỉ còn lại những giọt nắng và vì vậy sự suy nẫm triết lí của nhà thơ đc thể hiện thật đúng lúc.đi vào chừng mực rồi ổn định .Liên tưởng của nhà thơ làm bầu trời xanh kia trờ nên kì diệu .gif[/IMG] Khoảnh khắc giao mùa có lẽ là khoảnh khắc đẹp đẽ nhất của tự nhiên .tượng trưng cho những bến đổi..vang động bất thường trong cuộc sống.Đặc sắc nhất là 2 câu thơ : "Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu" Trong đám mây của mùa thu vẫn còn vương chút nắng hạ nên từ "vắt" đc nhà thơ dùng thật sống động.Bốn mùa luân chuyển như đời nguời vội vã.thu êm đềm vừa chợt đến đám mây vừa ngỡ ngàng như bước qua bờ bên kia . đồng điệu ..mưa .Chút nắng còn sót lại của mùa hạ vàng .

chùng chình giăng mắc trên khắp nẻo đường thôn : Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về . Bài thơ là những cảm nhận . thi sỹ vẫn ngỡ ngàng thốt lên lời thầm thì như tự hỏi :Hình như thu đã về!? Tâm hồn thi sỹ nắm bắt những biến chuyển nhẹ nhàng.sâu sắc đến vô cùng qua một thoáng “Sang Thu” . nhẹ nhàng “ vắt nửa mình sang thu”. Nếu ở câu thơ đầu tiên nhà thơ “bỗng nhận ra” thu về khá bất ngờ và đột ngột thì sau khi cảm nhận sương thu .những đàn chim vội vã bay về phương nam …Không gian thu thư thái .Câu thơ không chỉ tả mà còn gợi liên tưởng đến màu vàng ươm . hương thơm lựng .kéo dài như tấm khăn voan duyên dáng của người thiếu nữ thảnh thơi .gió thu.Cảm giác bất chợt đến với nhà thơ : “bỗng nhận ra” -một sự bất ngờ mà như đã chờ đợi sẵn từ lâu lắm . Câu thơ giúp ta hình dung về đám mây mỏng nhẹ . hữu tình và chứa chan thi vị . hạ chưa qua hết . ngọt. Câu thơ có hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ . Sương thu đã được nhân hoá . Mùi hương quê nhà mộc mạc “phả” trong gió thoảng bay trong không gian . vị giòn.hai chữ “chùng chình” diễn tả rất thơ bước đi chầm chậm của mùa thu . mùa .Không phải là sắc “mơ phai” hay hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác” mà là hương ổi thân quen nơi vườn mẹ đã đánh thức những giác quan tinh tế nhất của nhà thơ : Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se.những rung động man mác.Và không chỉ có thế . chua chua nơi đầu lưỡi của trái ổi vườn quê .gặp một Hữu Thỉnh tinh tế . đặc biệt là hình ảnh : Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu . bâng khuâng như bước đi nhỏ nhẹ của mùa thu .trắng xốp . Không gian nghệ thuật của bức tranh thu được mở rộng hơn .cả sương thu như cũng chứa đầy tâm trạng. bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kỳ diệu của thiên nhiên trong buổi giao mùa .Câu thơ có tính tạo hình không gian những lại có ý nghĩa diễn tả sự vận động của thời gian : thu bắt đầu sang . mong manh của tạo vật trong phút giao mùa cũng êm đềm.cái bỡ ngỡ ban đầu vụt tan biến đi nhường chỗ cho những rung cảm mãnh liệt trước không gian thu vời vợi : Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Sông nước đầy nên mới “dềnh dàng” nhẹ trôi như cố tình chậm lại .thong thả.Tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra mùa thu là “hương ổi”.

Hình ảnh thơ đẹp . chớp của mùa hạ vương lại đâu đây . “đã vơi dần”. thì Hữu Thỉnh cũng có một chớm « Thu sang » rất nhẹ nhàng êm dịu.Ý thơ còn gợi liên tưởng đến con người khi đã lớn tuổi và từng trải thì những giông gió. « Thu ẩm » . ^__^ Phân tích bài thơ Sang Thu Mùa thu là một đề tài muôn thuở của các thi nhân Việt Nam. nồng hậu của quê nhà . rất êm . Lưu Trọng Lư có « Tiếng thu ». sấm.bâng khuâng của tác giả trong buổi giao mùa đã tạo nên một dấu ấn không dễ phai mờ trong lòng bao độc giả . giọng thơ êm đềm và những rung động man mác . tất cả đều là những bài thơ rất nổi tiếng. Sông được nước dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Mùa thu của Hữu Thỉnh được mở ra không phải với sắc vàng tươi của . Vẫn là nắng. mưa. đất trời : Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi . song chỉ là “vẫn còn” . Xuân Diệu có « Đây mùa thu tới » . bị động . rất dịu . thăng trầm của cuộc đời ít làm con người ta bất ngờ.Những suy tư đó của tác giả có lẽ đã góp phần làm cho “Sang thu” trở nên giàu ý nghĩa . mơ hồ như cả đất trời đang rùng mình thay áo mới … Khổ thơ thứ ba diễn tả rất rõ sự biến chuyển của không gian và cũng là một thoáng suy tư của nhà thơ trước cảnh vật. ngôn từ tinh tế . rất nhẹ . Nếu như Nguyễn Khuyến có chùm thơ thu với ba bài : « Thu vịnh ».thu vừa chớm . Có lẽ vì vậy mà sau khi đọc “Sang thu” của Hữu Thỉnh ta càng thấy yêu hơn mùa thu thiết tha. « Thu điếu ». “ cũng bớt bất ngờ” bởi mùa thu đã đến . Trong đó có hai khổ thơ rất hay ghi lại cảm xúc của nhà thơ trước cảnh sang thu ở một miền quê nhỏ : Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về.

Nó chỉ khiến ta hơi co người lại một chút và để rồi thảnh thơi đón nhận cả một lưồng khí thu mát rượt trong lòng. Làn gió se se lạnh của mùa thu cũng rất khác với cái gió tê tái của mùa đông. nhà thơ như chợt bừng tỉnh. Thu sang mang theo hơi thửo của mình và mang theo cả cái vẻ thu mơ màng mờ ảo: “Sương chùng chình qua ngõ” Sương thu cũng có cái nét đặc biệt riêng của nó. cũng chẳng dầy đặc như sương mùa đông. Sương thu là những làn khói mong manh bay vờn nhẹ trên những nãi nhà. Tất cả đều đang . cứ cố nán lại để đợi chờ ai. Con sông tràn trề nước mà hình như cứ không chịu chảy. đề người ta chợt xốn xang trong lòng. Đến sương lúc này cũng là sương thu mà Hữu Thỉnh vẫn còn ngẩn ngơ mãi: “Hình như thu đã về” Ông thờ ơ quá chăng hay bởi lòng ông đang bối rỗi? Thu về tự bao giờ? Từ hương ổi hay từ làn gió heo may? Thu làm lòng người xao xuyến quá chừng để đến nỗi không biết thu đến thực hay mơ! Sau một thoáng bỡ ngỡ. ngoài vườn. nó cũng mang hồn người . mà là với hương ổi thơm giòn ngọt phả vào trong gió thu. cũng không quá nhẹ để người ta dễ lãng quên. Nó không mang cái mùi thơm hăng hắc như hoa sữa. sương đang chờ ai mà sao lưu luyến thế? Từ láy “chùng chình” tạo cho ta cảm giác “dùng dằng nửa ở nửa về”. Sương thu không vô cảm. Thu đến chẳng hề báo trước! Thu sang từ bao giờ Hữu Thỉnh cũng không biết nữa! Ông chỉ nhận ra một sự bất ngờ mà như đã đợi từ lâu lắm. Hương thơm ấy nhẹ nhàng thoảng qua theo gió. Chim bắt đầu vội vã”. thậm chí dường như còn độc đáo đến bất ngờ cho cả nhà thơ : “Bỗng nhận ra hương ổi”.thu đã về thật rồi! Khép lại những hoài nghi. Sông chờ nước mùa thu chăng? Một hình ảnh thơ thật thi vị và lãng mạn. Dường như cái hương thơm dịu ấy chỉ thoang thoảng quanh quất đâu đây. chúng phải vội vã bay về phương Nam tránh rét. Nó không tan nhanh như sương mùa hạ. cũng không phải với vị thơm ngon của cốm làng Vòng. Hữ Thỉnh chẳng còn nghĩ gì ngoài cảm xúc đang dâng trào: “Sông được nước dềnh dàng. Nhịp thơ nhanh và gấp cũng như hơi thở của mùa thu đã bắt đầu đập mạnh. Có lẽ.hoa cúc. Sông vào mùa này chẳng có mưa to gió lớn nên nước cứ “dềnh dàng”. Sương đang đợi ai. sẽ chẳng ở đâu có cái gió se lạnh ấy ngoài mùa thu của đất Bắc – cái gió se mà từ lâu vẫn được coi là hồn thu Bắc Bộ. Nhưng đàn chim thì không thể dềnh dàng được nữa. Một hương thơm thu một làn heo may thu đã làm nên cái mở độc đáo cho bài thơ.

chuyển mình. Tre chọn ống dài vuốt nhọn. nó không còn vương vấn chút gì của mùa hè rực lửa. đã và sẽ có nhiều bài thơ thu hay. phải “Vắt nửa mình sang thu”. Nón Chuông (làng nón nổi tiếng Việt Nam ở làng Chuông. muốn làm được một chiếc nón phải dùng lá của một loại cọ nhỏ mọc hoang để lợp. Con số 16 là kết . đồng thời tránh cho lá khỏi mốc. nón được tết đan. đang thay đổi. Trong làng thơ dân tộc. nữ tính. huyện Thanh Oai .một mùa thu nhẹ nhàng. trông qua như một cô thôn nữ mộc mạc mà sao lại đằm thắm khó quên đến thế! (sưu tầm) Thuyết minh về chiếc nón lá của người Việt Chiếc nón lá là người bạn thủy chung. gần gũi của người phụ nữ Việt Nam .Hà Nội) có 16 lớp vòng. Chắc hản phải yêu mùa thu lắm Hữu Thỉnh mới vẽ ra được một bức tranh thu nồng đượm hơi ấm đất trời. Tàu lá nón khi đem về vẫn còn xanh nhăn nheo. dùng làm vòng nón. dùng một loại sợi rất dai lấy từ bẹ cây móc (ngày nay người ta thường dùng sợi chỉ nilon) để khâu và tre làm vành. sau lại nhăn như cũ. Lúc đầu khi chưa có dụng cụ để khâu thắt. Còn loại nón khâu như ngày nay xuất hiện phải nhờ đến sự ra đời của chiếc kim. Nguyên liệu làm nón không phức tạp. nón cũng có nhiều biến đổi về kiểu dáng và chất liệu. nửa kia thuộc về mùa thu. Theo sự phát triển của lịch sử qua các thời đại. gác lên dàn bếp hong khói chống mối mọt. Nhưng có lẽ sẽ chẳng ai biết mà lại quên được một chớm “Thu sang” của Hữu Thỉnh . Còn Hữu Thỉnh. nồng đượm hơi ấm quê nhà như thế. tức là vào thời kỳ người ta chế luyện được sắt (khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên). được đem là bằng cách dùng một miếng sắt đốt nóng. Thậm chí ngay cả đám mây mùa hạ cũng thấy sốt ruột. trên thạp đồng Đào Thịnh vào 2500-3000 năm về trước. Người ta đốt diêm sinh hơ cho lá trắng ra. nếu nóng quá thì bị giòn. Phải chăng đám mây kia có hai nửa thì một nửa nằm bên mùa hạ. Ở nơi nào cũng vậy. nguội quá lá chỉ phẳng lúc đầu. vàng cháy. Nguyễn Khuyến viết: “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” – có nghĩa là thu của Nguyễn Khuyến đã thực là thu. Cũng viết về mùa thu. Lửa phải vừa độ. ông viết mùa thu nhưng lại là vào lúc giao mùa. Không biết ở đây là mùa thu lưu luyến mùa thạ hay nhà thơ đang mong chờ mùa hạ mà vẫn lưu luyến mùa thu đây? Điêu này thì Hữu Thỉnh thật khác với các nhà thơ khác. Chiếc nón đã được chạm khắc trên những cổ vật như trống đồng Ngọc Lũ. đặt lá lên dùng nắm giẻ vuốt cho phẳng.

Con người Việt Nam có tình cảm sâu sắc và gắn bó với chiếc nón lá giản dị dù gặp nó ở bất cứ đâu trên trái đất này. tỉnh An Giang.. phải soi lên nắng mới thấy được gọi là nón bài thơ. kín đáo mà không kém phần quyến rũ. mềm mại và kín đáo của người phụ nữ Việt Nam . váy lĩnh. áo cánh. ngắn khác nhau. Cùng với áo dài. cho đến nay đã trở thành một nguyên tắc không thay đổi. hay những hình ảnh bụi tre. kín đáo. chơi hội. đôi khi là vật để trao đổi tâm tư tình cảm của riêng mình. tất cả đều để che chắn cho những con người sống trên một dải đất nắng lắm mưa nhiều. khiến khi nhìn vào chiếc nón chỉ thấy tăm tắp những mũi khâu mịn màng. Những mũi kim khâu được ước lượng mà đều như đo. Trong nghệ thuật. đi chợ. đồng lúa. Công phu nhất là vừa vẽ chìm dưới lớp lá nón những hoa văn vui mắt.. Ngoài chức năng che nắng. nón chóp nhọn đầu.. chiếc nón còn hướng tới mục đích làm đẹp cho con người và phù hợp với cảm quan thẩm mỹ của người Việt: đẹp một cách tế nhị. Dưới vành nón. những sợi tóc mai. . những câu thơ trữ tình. Trong thời kì kháng chiến chống Pháp. tác phẩm 1... lựa chọn qua nhiều năm. đôi mắt. yếm đào. Nhưng vẻ đẹp của chiếc nón chủ yếu nhờ vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ tạo nên. Muốn khâu cho liên tục thì gần hết sợi nọ phải nối tiếp sợi kia. Người ta đội nón làm đồng. cái gáy trắng ngần của cô gái dường như được tôn thêm nét duyên dáng. Và cái tài của người thợ làng Chuông là các múi nối sợi móc được dấu kín. tiết mục múa nón của các cô gái với chiếc áo dài duyên dáng thể hiện tính dịu dàng. Nón có nhiều loại. nón ba tầm như nón thúng nhưng mảnh mai hơn. má lúm đồng tiền. nụ cười. Những sợi móc dùng để khâu thường có độ dài.Tác giả Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932 quê ở huyện Chợ Mới. chiếc nón được coi là một thứ phục trang truyền thống của phụ nữ Việt Nam . Các cô gái Việt Nam chăm chút chiếc nón như một vật trang sức. che mưa.. ông tham gia bộ đội. (Sưu tầm) CHIẾC LƯỢC NGÀ ( Trích ) I.quả của sự nghiên cứu. Người ta gắn lên đỉnh của lòng nón một mảnh gương tròn nho nhỏ để các cô gái làm duyên kín đáo.Tác giả. thắt lưng bao. nón thúng rộng vành.

tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc anh Sáu phải ra đi. Trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. thì tình huống thứ hai lại biểu lộ tình cảm sâu sắc của người cha đối với con. II. nhưng sâu sắc đậm đà chất Nam Bộ. khi tác giả đang hoạt động ở chiến trường Nam Bộ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ và được đưa vào tập truyện cùng tên. Trước lúc nhắm mắt. Lối viết của Nguyễn Quang Sáng giản dị.Truyện ngắn Chiếc lược ngà 1. công tác tại phòng văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam và bắt đầu viết văn. .Nếu tình huống thứ nhất bộc lộ tình cảm mãnh liệt của bé Thu với cha. ông tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác. anh hi sinh. .Cuộc gặp gỡ của hai cha con anh Sáu sau tám năm xa cách. Mãi khi con gái lên tám tuổi anh mới có dịp về thăm nhà.Tóm tắt truyện Anh Sáu xa nhà đi kháng chiến. Từ sau năm 1954 ông tập kết ra Bắc. đến lúc em nhận ra và biểu lộ tình cảm thắm thiết thì anh Sáu lại phải ra đi.Tác phẩm Truyện ngắn Chiếc lược ngà được viết năm 1966. tiểu thuyết. kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hoà bình. Đến lúc thu nhận ra cha. người cha dồn hết tình cảm yêu quí. 2. Trong một trận càn. Từ năm 1958 ông công tác tại Hội nhà văn Việt Nam. anh Sáu dồn hết tình cảm yêu thương và mong nhớ đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà để tặng con gái bé bỏng. Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng có nhiều thể loại: truyện ngắn.Ở khu căn cứ. nhưng thật trớ trêu là bé Thu không nhận ra cha. mộc mạc. anh còn kịp trao cây lược cho người bạn với lời nhắn gửi không nói lên lời. Em đối xử với ba như người xa lạ. 2. Nhưng ông đã hi sinh khi chưa thể gửi món quà ấy cho con gái. nhớ thương đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để tặng cô con gái bé bỏng. làm biên tập cho tuần báo Văn nghệ của Hội nhà văn. Đây là tình huống cơ bản của truyện .Tình huống truyện Truyện đã thể hiện tình cha con sâu sắc của hai cha con anh Sáu trong hai tình huống: . Ở khu căn cứ. Bé Thu không nhận ra cha vì cái sẹo trên mặt làm ba em không giống với người trong bức ảnh chụp với má mà em được biết.hoạt động ở chiến trrường Nam Bộ.

éo le của đời sống và người lớn cũng không ai kịp chuẩn bị cho nó những khả năng bất thường. Vì thế trong giờ phút chia tay với cha. bé Thu lại tỏ ra ngờ vực lảng tránh. khác với hình ba mà nó được biết. Tâm lí và thái độ ấy của bé Thu được biểu hiện qua hàng loạt chi tiết mà người kể chuyện quan sát và thuật lại rất sinh động: hốt hoảng. hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa”.Gặp lại con sau nhiều năm xa cách với bao nỗi nhớ thương nên ông Sáu không kìm được nỗi vui mừng trong phút đầu nhìn thấy đứa con. xa cách. khi ông Sáu được về phép a.Thái độ và hành động của Thu trước khi nhận ra ông Sáu là cha . lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”. . tình yêu và nỗi mong nhớ với người cha xa cách đã bị dồn nén bấy lâu.3. mặt tái đi. nay nay bùng ra thật mạnh mẽ và hối . nó còn quá bé nhỏ để có thể hiểu được những tình thế khắc nghiệt. Trong cái cứng đầu của em có ẩn chứa cả sự kiêu hãnh trẻ thơ về một tình yêu dành cho người cha khác-người trong tấm hình chụp chung với má em. Lần đầu tiên Thu cất tiếng gọi ba và tiếng kêu của nó như xé. chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó. cuối cùng khi bị ông Sáu tức giận đánh một cái thì bỏ về nhà bà ngoại. tình cảm của em sâu sắc. khi xuống xuồng còn cố ý khua dây cột xuồng rổn rảng thật to.Trong đêm bỏ về nhà bà ngoại. Thu đã được bà giải thích về vết thẹo làm thay đổi khuôn mặt ba nó. và đôi vai nhỏ bé của nó run run” .Sự ương ngạnh của bé Thu hoàn toàn không đáng trách. Phản ứng tâm lí của em là hoàn toàn tự nhiên. và ông Sáu càng muốn gần con thì đứacon lại càng tỏ ra lạnh nhạt. nó còn chứng tỏ em có cá tính mạnh mẽ. chân thật. nhanh như một con sóc. “ hai tay nó siết chặt lấy cổ. Nó hôn tóc. Trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh. rồi vụt chạy và kêu thét lên khi mới gặp ông Sáu. rồi “ nó vừa kêu vừa chạy xô tới.Trong buổi sáng cuối cùng.Thái độ và hành động của Thu khi nhận ra người cha . đáp lại sự vồ vập của người cha. nên nó không tin ông Sáu là ba nó chỉ vì trên mặt ông có thêm vết sẹo. trước phút ông Sáu phải lên đường. chỉ gọi trống không với ông Sáu mà không chịu gọi cha. nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó”. Sự nghi ngờ bấy lâu được giải tỏa và ở Thu nảy sinh một trạng thái như là sự ân hận nuối tiếc: “ Nghe bà kể nó nằm im. hôn cổ. “ Nó hôn ba nó cùng khắp. b. em chỉ yêu ba khi tin chắc đó đúng là ba. nhất định không chịu nhờ ông chắt nước nồi cơm to đang sôi. Nhưng thật trớ trêu. hất cái trứng cá mà ông đã gắp cho ra khỏi bát. thái độ và hành động của bé Thu đã đột ngột thay đổi hoàn toàn.Phân tích diễn biến tâm lí và tình cảm của bé Thu trong lần đầu gặp cha cuối cùng.

Chiếc lược ngà đã thành một vật quí giá. ngây thơ của con trẻ. . 4. . . Rồi lời dặn của con: “ Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba” đã thúc đẩy ông nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà dành cho con. Chứng kiến những biểu hiện tình cảm ấy trong cảnh ngộ cha con ông Sáu phải chia tay. ông đã vô cùng vui mừng. sâu nặng của cha con ông Sáu. Nó làm dịu đi nỗi ân hận và chứa đựng bao nhiêu tình cảm yêu mến. mạnh mẽ. Nhưng rồi một tình cảnh đau thương lại đến với ông Sáu: Ông đã hi sinh khi chưa kịp trao vào tay đứa con gái chiếc lược ngà.Khi kiếm được một khúc ngà. công sức vào việc làm một cây lược: “ Những lúc rỗi. 5. bao nhiêu gia đình. tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. Ở Thu còn có nét cá tính là cứng cỏi tưởng như ương ngạnh. nhớ thương mog đợi của người cha đối với đứa con xa cách. có người không cầm được nước mắt và người kể chuyện thì cảm thấy như có bàn tay ai nắm lấy trái tim mình. mất mát. tẩn mẩn khắc từng nét: “ Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. nhưng được biểu hiện tập trung và sâu sắc ở phần sau của truyện. rồi ông dành hết tâm trí.Câu chuyện về chiếc lược ngà không chỉ nói lên tình cha con thắm thiết. nhưng Thu vẫn là một đứa trẻ với tất cả nét hồn nhiên. thiêng liêng với ông Sáu. anh cưa từng chiếc răng lược. sung sướng.Qua những diễn biến tâm lí của bé Thu được miêu tả trong truyện. ta thấy tác giả tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ và diễn tả rất sinh động với tấm lòng yêu mến và trân trọng những tình cảm trẻ thơ. éo le mà chiến tranh đã gây ra cho bao nhiêu con người. thận trọng.Phân tích tình cảm cha con sâu nặng ở anh Sáu .hả.Tình cảm của ông Sáu với con đã được thể hiện phần nào trong chuyến về phép thăm nhà. khi ông Sáu ở trong rừng tại khu căn cứ.Một số nét tính cách của Thu biểu hiện qua tâm lí và hành động . nhưng cũng thật dứt khoát rạch ròi. .Nghệ thuật trần thuật của truyện . cuống quýt có xen lẫn cả sự hối hận.Nỗi day dứt ám ảnh ông suốt nhiều ngày sau khi ông chia tay với gia đình là việc ông đã đánh con khi nóng giận. “ Trên sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng. c.Đó là tình cảm thật sâu sắc. mà còn gợi cho người đọc nghĩ đến và thấm thía những đau thương.

Tác giả đã xây dựng được một cốt truyện khá chặt chẽ. rất am hiểu và gắn bó với mảnh đất ấy. Tình cha con được miêu tả cảm động ở cả hai phía: người cha cán bộ cách mạng và đứa con gái nhỏ. . xoay quanh những tình huống khá bất ngờ nhưng tự nhiên. Vì thế. Truyện của ông thường có cốt truyện hấp dẫn.. Điều đáng chú ý là truyện ngắn này viết trong hoàn cảnh chiến tranh cá liệt nhưng lại tập trung nói về tình người-cụ thể ở đây là tình cha con trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh và tình đồng chí của những người cán bộ cách mạng. vượt qua một quãng nguy hiểm ở Đồng Tháp Mười. tình cảm ấy càng đáng trân trọng và đồng thời nó cũng cho thấy những nỗi đau mà chiến tranh gây ra cho cuộc sống bình thường của mọi người. mà còn được được thể hiện trong hoàn cảnh ngặt nghèo và éo le của chiến tranh và trong cuộc sống nhiều gian khổ.Lựa chọn nhân vật kể chuyện thích hợp. hợp lí. Người kể chuyện trong vai một người bạn thân thiết của ông Sáu. Cảm nghĩ về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà’’ Cảm nghĩ về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà’’ . Ngôn ngữ trong truyện của ông gần với khẩu ngữ và đậm màu sắc Nam Bộ. có những yếu tố bất ngờ nhưng hợp lí: bé Thu không nhận cha khi ông Sáu về thăm nhà. ý nghĩa tư tưởng của truyện thêm sức thuyết phục. tại chiến trường Nam Bộ trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt. dẫn truyện của tác giả thường thoải mái. bấy giờ đã thành một cô giao liên dũng cảm. đầy xúc động với người cha trước lúc chia tay. rồi lại biểu lộ những tình cảm thật nồng nhiệt. chia sẻ với các nhân vật. *Những điểm cần lưu ý 1. 2. đó là cuộc gặp gỡ tình cờ của nhân vật người kể chuyện với bé Thu. Nguyễn Quang Sáng hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong chiến tranh và sau hòa bình. Nghệ thuật kể chuyện. không chỉ là người chứng kiến khách quan và kể lại mà còn bày tỏ sự đồng cảm. Đồng thời qua những ý nghĩ cảm xúc của nhân vật kể chuyện. Sự bất ngờ càng gây được hứng thú cho người đọc khi ở phần sau của truyện tác giả còn tạo thêm một bất ngờ nữa. tự nhiên với giọng thân mật dân dã.Truyện Chiếc lược ngà khá tiêu biểu cho cho những đặc điểm trong nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng. hi sinh của người cán bộ cách mạng. Là một nhà văn Nam Bộ. trong một lần ông cùng đoàn cán bộ theo đường dây giao liên. có tính nhân bản bền vững. Đó không chỉ là tình cảm muôn thủa.Truyện Chiếc lược ngà được Nguyễn Quang Sáng viết năm 1966. các chi tiết và sự việc và nhân vật khác trong truyện bộc lộ rõ hơn.

sợ hãi và bỏ chạy….những hành động chứa đựng sự lảng tránh đó lại hoàn toàn phù hợp với tâm lí trẻ thơ bởi trong suy nghĩ của Thu anh Sáu là người đàn ông lạ lại có vết thẹo trên mặt giần giật dễ sợ. . xử lí nồi cơm sôi. . . Thân bài: Phân tích diễn biến tâm lý của nhân vật bé Thu . không ương bướng mà buồn rầu nghĩ ngợi sâu xa. nó cự tuyệt tiếng ba một cách quyết liệt trong những cảnh huống mời ba vào ăn cơm. .Khái quát được cảnh ngộ của gia đình bé Thu. sự nuối tiếc. và thái độ hất tung cái trứng cá trong bữa cơm…Từ cự tuyệt nó đã phản ứng mạnh mẽ….Diễn biến tâm lý của Thu khi nhận ba: + Sự thay đổi thái độ đến khó hiểu của Thu. nôn nóng của cha…Thu ngạc nhiên lạ lùng.nhân vật chính của đoạn trích “Chiếc lược ngà’’ một cô bé hồn nhiên ngây thơ.nó căm ghét cao độ người đàn ông măt thẹo kia.Cảm nhận chung về nhân vật bé Thu. + Trong hai ngày sau đó Thu hoàn toàn lạnh lùng trước những cử chỉ đầy yêu thương của cha. tác phẩm và nhân vật bé Thu với tài năng miêu tả tâm lý nhân vật.1. đất nước có chiến tranh. Đằng sau những hành động ấy ẩn chứa cả tình yêu thương ba.Giới thiệu được tác giả. trước những hành động vội vã thái độ xúc động. có cá tính bướng bỉnh nhưng yêu thương ba sâu sắc. lớn lên em chưa một lần gặp ba được ba chăm sóc yêu thương.sự kiêu hãnh của trẻ thơ về một tình yêu nguyên vẹn trong sáng mà Thu dành cho ba. đó là phản ứng tâm lí hoàn toàn tự nhiên của một đứa trẻ có cá tính mạnh mẽ… Hành động tưởng như vô lễ đáng trách của Thu lại hoàn toàn không đáng trách mà còn đáng thương. muốn nhận ba nhưng e ngại vì đã làm ba giận. nó tức giận. Mở bài: . ánh mắt cử chỉ hành động của bé Thu như thể hiện sự ân hận. cha đi công tác khi Thu chưa đầy một tuổi. và khi bị đánh nó đã bỏ đi một cách bất cần…. 2. .Diễn biến tâm lý của bé Thu trước khi nhận anh Sáu là cha: + Yêu thương ba nhưng khi gặp anh Sáu. tình yêu Thu dành cho ba chỉ gửi trong tấm ảnh ba chụp chung cùng má. bởi em còn quá nhỏ chưa hiểu được những tình thế khắc nghiệt éo le của đời sống.

am hiểu tâm lý của trẻ thơ đã giúp tác giả xây dựng thành công nhân vật bé Thu. Trong sự đối lập của hành động thái độ trước và sau khi nhân ba lại là sự nhất quán về tính cách về tình yêu thương ba sâu sắc. .+ Tình yêu thương ba được bộc lộ hối hả ào ạt mãnh liệt khi anh Sáu nói “Thôi ba đi nghe con”.Những năm tháng sống gắn bó với mảnh đất Nam Bộ. trong lời ước nguyện mua cây lược. Tình yêu ấy kết đọng trong âm vang tiếng Ba trong những hành động vội vã: Chạy nhanh như con sóc.Khẳng định lại vấn đề: Ngòi bút miêu tả tâm lý khắc hoạ tính cách nhân vật tinh tế thể hiện được ở bé Thu một cô bé hồn nhiên ngây thơ.Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh. Vết thẹo không chỉ gây ra nỗi đau về thể xác mà còn hằn nên nỗi đau về tinh thần gây ra sự xa cách hiểu lầm giữa cha con bé Thu. 3. (Sưu tầm) Nhân vật anh thanh niên trong "Lặng lẽ Sa Pa" Trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”. . . đất nước”. đồng thời bộc lộ ấn tượng sâu đậm nhất về nhân vật cũng như toàn bộ tác phẩm. Nhưng chiến tranh dù có tàn khốc bao nhiêu thì tình cảm cha con anh Sáu càng trở lên thiêng liêng sâu lặng. hôn ba nó cùng khắp. Dàn ý chi tiết .. trân trọng tình cảm gia đình trong cuộc sống hôm nay. nhân hậu. thiêng liêng đã tác động sâu sắc đến bác Ba.. mạnh mẽ cứng cỏi yêu ghét rạch ròi. tiếng khóc nức nở…Đó là cuộc hội ngộ chia tay đầy xúc động. nhảy thót lên. tác giả Nguyễn Thành Long đã gửi gắm chủ đề của câu chuyện vào một lời nhận xét ngắn gọn “trong cái lặng im. Kết bài: Khẳng định thành công. mọi người … + Sự lý giải nguyên nhân việc hiểu lầm của bé Thu đựợc tác giả thể hiện thật khéo léo đó là do vết thẹo trên mặt người ba khi hiểu ra sự thực Thu “nằm im lăn lộn thở dài như người lớn”.Hãy phân tích để làm rõ vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa cao quý của những công việc thầm lặng. trái tim nhạy cảm.

nhưng truyện còn giới thiệu với chúng ta về vẻ đẹp của con người Sa Pa. Ông được khẳng định như một cây bút truyện ngắn và ký đáng chú ý trong những năm 60 – 70 với cả gần chục sách đã in. những vất vả của công việc. “Lặng lẽ Sa Pa” là kết quả của chuyến “thâm nhập thực tế” ở Lào Cai của tác giả trong mùa hè năm ấy. Điều ấy sẽ được thấy rõ qua nhân vật: anh thanh niên. quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa. vì cuộc sống của con người. trong lặng lẽ mà rất khẩn trương vì lợi ích của đất nước. . Đó là những con người miệt mài làm việc. phục vụ chiến đấu. ông. tính mây.Đọc truyện. Thân bài: .. “Công việc của cháu gian khổ thật đấy chứ cất nó đi. Mở bài: . cháu buồn đến chết mất”.I. tác giả Nguyễn Thành Long đã gửi gắm chủ đề của câu chuyện “trong cái lặng im. đo nắng. đất nước”. sao lại gọi là một mình được” và anh hiểu rằng công việc của anh còn gắn với công việc của bao anh em đồng chí dưới kia. Sống một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2600m. . anh thấy mình “thật hạnh phúc”. . II. dựa vào công việc báo trước thời tiết hàng ngày. nghiên cứu khoa học.. Công việc của anh là: đo gió. người đọc thấy vẻ đẹp của Sa Pa hiện lên thật độc đáo.. đầy chất thơ.Nhân vật chính trong truyện làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu. đo chấn động mặt đất. ta với công việc là một. phục vụ sản xuất. 1. anh yêu nó tới mức trong khi mọi người còn ái ngại cho cuộc sống ở độ cao 2600m của anh thì anh lại ước ao được làm việc ở độ cao trên 3000m. Vì anh cho như vậy mới gọi là lý tưởng.Trong văn học Việt Nam có những cây bút văn xuôi chỉ chuyên về truyện ngắn và ký – Nguyễn Thành Long là một trong số đó.Vượt lên hoàn cảnh sống. Khi biết một lần do phát hiện kịp thời một đám mây khô mà anh đã góp phần vào chiến thắng của không quân ta bắn rơi được máy bay Mỹ trên cầu Hàm Rồng. anh có những suy nghĩ rất đẹp: + Đối với công việc.Trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”. + Anh có những suy nghĩ thật đúng và sâu sắc về công việc đối với cuộc sống con người: “khi ta làm việc.. Đó là anh thanh niên: . + Quan niệm của anh về hạnh phúc thật là đơn giản nhưng cũng thật đẹp. đo mưa.

Mới đầu. khao khát được gặp gỡ. anh làm việc một cách đều đặn. Khi ông hoạ sĩ muốn vẽ chân dung anh.Ở người thanh niên ấy còn có một phong cách sống rất đẹp: + Đó là sự cởi mở. rất qúy trọng tình cảm của mọi người. tự giác với tinh thần trách nhiệm cao. chân thành với khách. + Nhưng cái gian khổ nhất là vượt qua được sự cô đơn. Vì sách chính là người bạn để anh “trò chuyện”. Nhờ có sách mà anh tiếp tục học hành. không một bóng người. hạnh phúc và cuộc sống. 2) Ta còn bắt gặp ở đất Sa Pa những con người làm việc âm thầm. Nửa đêm. một đàn gà đẻ trứng. mở mang kiến thức. đó là đọc sách. Nhờ có sách mà anh chống trọi được với sự vắng lặng quanh năm.Anh còn có một nếp sống đẹp: Anh tự sắp xếp cuộc sống một mình ở trạm một cách ngăn nắp: có một vườn rau xanh tốt. lặng lẽ cho đất nước qua lời kể của anh thanh niên: . tặng cho người đi xa một giỏ trứng gà tươi. làm việc một cách nghiêm túc. được trò chuyện. anh đã vượt qua những gian khổ của hoàn cảnh. 11 giờ. ở anh còn có những hành động thật đẹp đẽ biết bao: + Mặc dù chỉ có một mình. không người giám sát. tặng hoa cho cô gái. . anh “thèm người” tới mức phải lấy cây chắn ngang đường ô tô để được nghe tiếng người ! Về sau anh nghĩ: “Nếu đó chỉ là nỗi nhớ phồn hoa đô thị thì thật xoàng” và anh đã vượt qua để sống. 7 giờ tối và 1 giờ sáng. Bởi anh còn biết tạo niềm vui trong công việc. vắng vẻ quanh năm suốt tháng một mình trên đỉnh núi cao. anh nhiệt tình giới thiệu với ông những người khác mà anh cho rằng đáng cảm phục hơn anh. đúng giờ “ốp”. mời bác lái xe và ông hoạ sĩ uống trà.Từ những suy nghĩ đẹp về công việc. để trở thành: “con người cô độc nhất thế gian” mà bất cứ ai đã một lần gặp anh đều mang theo ấn tượng đẹp đẽ. Ngày nào cũng vậy. làm việc một mình với cỏ cây thiên nhiên Sa Pa. thành thực cảm thấy công việc và những đóng góp của mình chỉ là nhỏ bé. Dẫu phải sống một mình nhưng anh vẫn luôn quan tâm tới người khác: anh gửi biếu gói tam thất cho vợ bác lái xe vừa bị ốm. một vườn hoa rực rỡ. + Anh còn là người khiêm tốn. chính xác đủ 4 lần trong một ngày vào lúc 4 giờ.+ Cuộc sống của anh không cô đơn buồn tủi như người khác nghĩ. dù mưa tuyết giá lạnh thế nào anh cũng trở dậy ra ngoài trời làm việc. . .

A) Đó là ông kỹ sư vườn rau: Ngày này qua ngày khác ngồi trong vườn. 3) Nhân vật anh thanh niên. niềm đam mê cháy bỏng. ông kỹ sư vườn rau. Anh thanh niên có những suy nghĩ và quan niệm đúng đắn về công việc và cuộc sống. + Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi mang lại niềm vui. B) Đó là anh cán bộ nghiên cứu sét: Đã “11 năm không một ngày xa cơ quan” luôn “trong tư thế sẵn sàng.Cuộc sống lao động giản dị nhưng cao đẹp làm nên vẻ đẹp đích thực của mỗi con người. để xu hào trên toàn miền Bắc ta ăn được to hơn. + Công việc là niềm vui. cho nhân dân. chăm chú rình xem cách lấy mật của ong để rồi tự tay thụ phấn cho hàng vạn cây su hào để hạt giống làm ra tốt hơn. anh cán bộ nghiên cứu sét giúp ta hiểu thêm ý nghĩa của những công việc thầm lặng: . Đúng như tác giả đã viết: “Trong cái lặng im. Hướng dẫn: Phân tích những phẩm chất cao đẹp. Kết bài: Qua phần phân tích trên ta thấy “Lặng lẽ Sa Pa” đang ngân vang trong lòng ta những rung động nhẹ nhàng mà thú vị về những con người âm thầm lặng lẽ nhưng thật đáng yêu. III. cho đất nước”. đáng quý ở anh thanh niên. suốt ngày chờ sét” để lập bản đồ tìm ra tài nguyên trong lòng đất. có sức thuyết phục lan toả với những người xung quanh.. hạnh phúc cho mọi người.. Sưu tầm Phân tích những phẩm chất cao đẹp. Anh thanh niên có những hành động cao đẹp. Những con người ấy làm cho anh thanh niên thấy “cuộc đời đẹp quá” đâu còn buồn tẻ “cô độc nhất thế gian”. tình yêu đất nước. . đáng quý ở anh thanh niên.Sống cống hiến cho dân tộc. Họ đã dệt lên bài ca về tình yêu tổ quốc. . sống có ý nghĩa sẽ mang đến cho con người niềm vui và hạnh phúc. ngọt hơn trước.

sống có lý tưởng. + Khiêm tốn.600 m. + Dồn tất cả thời gian công sức. Ông Hai yêu cái làng chợ Dầu của ông thật đậm đà. chân thành với mọi người. + Tổ chức cuộc sống ngăn nắp. (Nguồn: Internet) Phân tích truyện ngắn Làng (Kim Lân) Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài sinh năm 1921. phát biểu cảm nghĩ. Nhân vật anh thanh niên tiêu biểu cho những con người lao động mới. đáng trân trọng. Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt nông thôn và cảnh ngộ của người nông dân. đường trong làng lát toàn bằng đá xanh. ta nghĩ tới trách nhiệm. yêu làng sâu sắc của ông. Đây là một tác phẩm độc đáo viết về lòng yêu nước của ông Hai Tu. phong phú cả về vật chất và tinh thần. ông đã có sáng tác đăng báo từ trước cách mạng tháng 8. hành động của thanh niên chúng ta trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới. cống hiến hết mình cho đất nước. lòng yêu nước này xuất phát từ tình yêu quê hương. quê ở Hà Bắc. Tình cảm và ý nghĩa này đã trở thành phổ biến ở mỗi người nông dân VN ta trong những ngày đầu chống Pháp. tha thiết . Là nhà văn am hiểu sâu sắc. trời mưa đi từ đầu làng đến cuối xóm bùn . yêu đến nỗi đi đâu ông cũng khoe về cái làng của ông. Trân trọng. khoa học. Truyện ngắn “Làng” là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân được viết trong thời kì đầu của cuộc khánh chiến chống Pháp (1948). tự nguyện tự giác hoàn thành xuất sắc công việc vốn hết sức vất vả và đơn điệu. Ông khoe làng ông có nhà ngói san sát. sầm uất. Kể về làng chợ Dầu. Là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. gắn bó với nông dân và nông thôn. ông nói một cách say sưa mà không cần biết người nghe có chú ý hay không. lặng thầm. khâm phục những nhân vật đáng quý. đáng mến trong “Lặng lẽ Sa Pa”. Đánh giá nhân vật. cởi mở. vô tư. Nhân vật anh thanh niên giúp ta hiểu thêm về thế hệ cha anh đi trước trong một giai đoạn lịch sử của dân tộc. Anh thanh niên có phong cách sống rất đáng quý.+ Vượt qua mọi khó khăn thử thách để làm quen với cuộc sống chỉ có một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2.

ông khổ tâm day dứt khôn nguôi. tình yêu đất nước được ông Hai đặt lên trên hết. Ông còn tự hào về cái sinh phần của tổng đốc làng ông. Hai tình cảm này đã dẫn đến cuộc xung đột nội tâm trong lòng ông. nên lúc tản cư. Tự hào và yêu nơi “ chôn rau cắt rốn” của mình trở thành một truyền thống và tâm lý chung của mọi người nông dân thời bấy giờ.. trong những ngày này. ông buộc phải xa làng. tưởng như không thể thở được.. ông Hai suốt ngày ra trụ sở để nghe ngóng tin tức về làng chợ Dầu và ông nghe tin cả làng ông Việt gian theo tây. là chợt nhớ đến câu nói bất hủ của nhà văn I-li-a Ê-ren-bua : “lòng yêu nhà. có bề dày lịch sử. da mặt tê rân rân” ông lão lặng đi. làng và nước bay giờ đã trở thành đối địch. Những ngày ở làng Thắng. suốt ngày ru rú trong nhà và nghe ngóng tin tức. Ông nguyền rủa bọn theo Tây : “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này”. Đến khi mụ chủ nhà đến báo không cho gia đình ông ở nữa. nó đã giúp ông hiểu dc sự sai lầm của mình. Ông tự hào.” Có thể nói với ông Hai. Ông cảm thấy đâu đớn và nhục nhã vì cái làng chợ Dầu yêu quý của mình theo giặc. yêu làng xóm. Thế rồi. Quả thật. Cổ ông lão “ nghẹn ắng lại. nỗi niềm và tâm sự của ông được thể hiện trong những lời trò chuyện của ông với đứa con út.không dính đến gót chân. cuộc đời và số phận của ông Hai thật sự gắn bó với buồn vui của làng. những ụ. một tin khác lại đính chính rằng làng ông không theo giặc. sung . vinh dự vì làng mình có cái nét độc đáo. Chính cái tình huống ngặt nghèo khi giặc tràn vào làng. Nhưng khi cách mạng thành công.. giếng nướ. Tới đây. Cũng chình từ lúc ấy. Ông hỏi con: “con ủng hộ ai?” Thằng bá giơ tay mạnh bạo và rành rọt: “ Ùng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm”. nhưng làng theo Tây thì phải thù. lắm công trình không để đâu hết. nhất là tâm lí của người dân thì Kim Lân mới diễn tả đúng tâm trang nhân vật như vậy. ông thấy tuyệt đường sinh sống và ông nảy ra ý định: “hay là quay về làng ?” nhưng rồi ý nghĩ đó lập tức bị ông lão phản đối ngay vì : “ làng thì yêu thật. Nhưng trong đó. Xa làng ông mang theo tất cả nỗi niền thương nhớ. yêu miền quê trở nên lòng yêu TQ “. mỗi khi khoe về làng là ông khoe về những ngày khởi nghĩa dồn dập. Những nỗi lo âu. Ông còn khoe cả những hố . Và từ đó. những buổi tập quân sự có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập. nhỏ : cây đa. Cái lòng của bố con ông là thế đấy “chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”. những hào. ông không dám đi đâu hết. xấu hổ tan biến. Thay vào đó là nỗi vui mừng. Phải thực sự am hiểu sâu sắc về con người. không có lấy một hạt thóc đất. Trò chuyện với con như là để thanh minh cho làng mình. Có thể tình yêu nước của họ bắt nguồn từ cái đơn giản. Tháng 5 ngày 10 phơi rơm và thóc tốt thượng hạng. Vì vậy. sân đình… và nâng cao lên đó chính là : tình yêu đất nước.

sướng. Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả” Qua lời khoe củ ông Hai. kể cả những từ dung sai: “bác Thứ đâu rồi… Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả”. tiêu biểu cho tầng lớp nông dân VN sau cách mạng tháng 8. tủi nhục. theo Đảng khánh chiến đến cùng. và khi biết làng mình không theo giặc. ông ấy cho biết… cái tin. Mọi đau khổ. khoe cả cái việc nhà ông bị đốt cháy một cách sung sướng. Đốt nhẵn ! ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính. Khi biết làng bị tình nghi theo giặc thì ông đau khổ. miêu tả sự phát triển tâm lý nhân vật như vậy. thậm chí còn khoe cả tin nhà mình bị đố cháy một cách vui sướng.Mở bài Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. từ lâu đã am hiểu người nông dân. một trong những người dân bấy giờ. Yêu làng đến nỗi đi đâu cũng khoe về làng. Ông gắn bó với thôn quê. mọi người một lòng theo Bác. Kim Lân đã thể hiện được tài năng của mình qua tác phẩm này. Đi kháng chiến. ông sung sướng. yêu làng của người nông dân VN thời kháng chiến chống Pháp. buồn tủi đã được rũ sạch. Kim Lân thật thành công trong nghệ thuật xây xựng truyện. điều làm ta cảm động đó là ông không hề tiếc hay buồn khi ngôi nhà của ông bị đốt . hả hê: “ bác Thứ đâu rồi ! Bác Thứ làm gì đấy ? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Quả thật. nhất là nghệ thật sử dụng ngôn ngữ nhân vật mà ông Hai là điển hình. Lời nói của ông hai đúng là lời nói của những người nông dân thời bấy giờ. Diễn biến tâm lý của ông Hai từ đầu đến cuối truyện thật cảm đông. ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân . chất phác. có lẽ vì vẫy mà cuộc chiến của ta đã dành được thắng lợi vẻ vang. Truyện “Làng” là một tác phẩm khá thành công khi viết về lòng yêu nước. Dàn ý: A. Xây dựng được những chi tiết ấy. Ông đi từ đầu làng đến cuối xóm khoe cái tin làng mình không theo giặc. cái tin làng chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Bên cạnh đó Kim Lân còn thành công trong việc miêu tả tâm lý nhân vật. đơn giản. hả hê. Niềm vui vì làng không theo giặc đã choáng hết tâm trí ông. Kim Lân rất thành công trong việc khắc họa hình ảnh của ông Hai. Kim Lân đã chứng tỏ được tài nghệ của mình. Đọc tác phẩm giúp ta hình dung được một thời kỳ chống Pháp sôi nổi của nhân dân. Họ đã đặt tình yêu đất nước lên trên tình yêu làng.

B. ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm. thông qua một con người cụ thể. trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. ông xấu hổ lảng ra về. khuân đá…”. đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. . náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế.Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến. Sau cách mạng. đắp ụ. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng. 2. rồi ông lo “cái chòi gác. hôm nay dăm khẩu. chỗ này giết một tí. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc. ông nhớ quá cái khong khí “đào đường. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm. ông sững sờ. .Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948. thích bìh luận. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới. tình yêu nước. tinh thần kháng chiến. xẻ hào. một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc. a. .Được cách mạng giải phóng. không tin không được. tình cảm quê hương đất nước. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người. đi theo kháng chiến. tích tiểu thành đại. làm gì mà thằng Tây không bước sớm”.… những đường hầm bí mật. nhân vật ông Hai. chỗ kia giết một tí. in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có. Tình yêu làng.. Nghe họ chì . c.…” đã xong chưa? . . ngày mai dăm khẩu. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông.Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần.Thân bài 1. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước. người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.Ông hay khoe làng. b. cả súng cũng vậy. ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương. Nhưng khi người ta kể rành rọt. chưa tin. Phải xa làng.Khi mới nghe tin xấu đó.

càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng. lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. . bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. d. Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà.Về đến nhà.Ba bốn ngày sau. ông không dám ra ngoài. Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”. với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông. . Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”. nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. ta thấy rõ: Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc).Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá. + Qua đó. Khi cái tin kia được cải chính. . nhìn thấy các con. Tình cảm đó sâu nặng. . Nhưng tình yêu nước. Ông luôn hoảng hốt giật mình. . Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. chân thành.Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông . + Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. hắt hủi”. gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ. lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt. ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu. bố của nó.Tình cảm đối với kháng chiến. đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ.chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi. Ông giận những người ở lại làng.

Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý. yêu nước rất mộc mạc. cháy bỏng khát khao được gặp con. 3. tập I) thể hiện tình cha con thắm thiết. . điều mà ông bấy lâu mong đợi được nghe con gái gọi tiếng “Ba !” không được đền đáp. Nhưng ngay từ giây phút đầu. (sưu tầm)Cảm nhận về tình cha con trong truyện "Chiếc lược ngà" Cảm nhận về tình cha con trong truyện "Chiếc lược ngà" Truyện “Chiếc lược ngà” (Nguyễn Quang Sáng) được viết trong cuộc kháng chiến chống Mĩ nhưng chủ yếu tập trung nói về tình người trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. lạnh lùng.Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật. . Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân. . chân thành mà vô cùng sâu nặng.Kết bài: . Với lòng mong nhớ con. hành vi. ngôn ngữ đối thoại và độc thoại.dân lao động bình thường. Đoạn trích “Chiếc lược ngà” (Sgk Văn 9. cao quý trong những người nông dân lao động bình thường.Qua nhân vật ông Hai. C. người đọc thấm thía tình yêu làng. đối xử với ông như người xa lạ. sâu nặng của ông Sáu và bé Thu. Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động. Đứa trẻ hoàn toàn ngơ ngác. Ông Sáu về thăm nhà sau bao năm ở chiến khu với cái tình của người cha nôn nao. .Miêu tả rất cụ thể.Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông.Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng. gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ. ông càng đón chờ .

tình cảm của con, nó càng cố tình cự nự. Điều đó, khiến ông đau đớn “hai tay buông xuống như bị gãy”. Có những tình huống, tưởng chừng thế nào nó cũng chịu thua, không ương ngạnh được nữa, phải gọi tiếng “Ba”. Nhưng nó vẫn không chịu cất tiếng “Ba” mà ông Sáu chờ đợi. Hành động trẻ con, nói năng cộc lốc, ngang ngạnh của Thu dành cho Ba khiến ông Sáu, bạn ông Sáu và cả người đọc đau lòng và suy nghĩ. Khi có gia đình, hạnh phúc được làm cha, tiếng gọi “Ba” của đứa con gái yêu chưa dành cho ông khiến ông “khổ tâm đến nỗi không khác được, chỉ biết nhìn con vừa khẽ lắc đầu vừa cười”. Phản ứng tâm lí của Thu là hoàn toàn tự nhiên. Thu còn quá bé để có thể hiểu tình thế éo le xảy ra trong chiến tranh. Bản thân người lớn cũng chưa ai chuẩn bị cho Thu ứng phó với bất thường. Điều đó, người đọc cảm được tình cảm chân thật, sâu sắc, mãnh liệt Thu dành cho ba người mà Thu biết trên ảnh, người cha được cô bé ghi sâu trong lòng từ tấm ảnh, không phải người đàn ông xưng là "ba". Đến khi được bà ngoại tháo gỡ thắc mắc trong lòng, về lai lịch vết thẹo, Thu vỡ lẽ đó thực là ba mình. Trăn trở dằn vặt, cùng tình yêu, khát khao bấy lâu mong gặp mặt cha dồn nén, bùng nổ dữ dội, quyết liệt vào giờ phút trước khi người cha lên đường. Tiếng “Ba... a... a... ba !” vỡ ra từ sâu thẳm lòng cô bé. Tiếng kêu mà ba nó chờ đợi bao năm ròng. Tiếng kêu làm nhói tim mọi người. Ông Sáu sung sướng, hạnh phúc nghẹn lời, không cầm được nước mắt. Thu vồ vập, cuống quít, níu giữ cha, níu giữ yêu thương bấy lâu nó mong đợi. “Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”, “hai tay nó xiết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run”. Đối với người cha, đó là tiếng “ba” đầu tiên và cũng là tiếng yêu thương cuối cùng ông được nghe từ con ! Ở chiến khu, ông cố gắng hết sức, thận trọng, tỉ mỉ làm cho con chiếc lược ngà. Ông đặt vào đấy tất cả tình cảm cha con. Chiếc lược trở thành vật thiêng, an ủi ông “gỡ rối phần nào tâm trạng”, nuôi dưỡng tình cha con. Ông thường xuyên “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt”. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ thành một nghệ nhân nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một tác phẩm duy nhất trong đời. Trước khi nhắm mắt xuôi tay, ông Sáu vẫn nhớ chiếc lược, nhờ bạn chuyển lại cho con - cử chỉ chuyển giao đó là một ước nguyện giữ gìn muôn đời tình cảm cha con, ruột thịt. Truyện “Chiếc lược ngà” đã diễn tả một cách cảm động tình cha con thắm thiết, sâu nặng của cha con ông Sáu trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh. Hình ảnh cây lược được gắn vào đó một trái tim thổn thức

tình ruột thịt, khẳng định giá trị nhân bản sâu sắc, cao đẹp thiêng liêng ! (Sưu tầm) Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và "Truyện Kiều" Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và "Truyện Kiều" I.Nguyễn Du 1.Nguyễn Du ( 1765 – 1820 ), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh trưởng trong một gia đình đại quí tộc có truyền thống văn học và nhiều đời làm quan. 2.Nguyễn Du sinh trưởng trong một thời đại có nhiều biến động dữ dội: Xã hội phong kiến Việt Nam bước vào thời kì khủng hoảng sâu sắc, phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra liên tục mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn. Phong trào nông dân Tây Sơn thất bại, chế độ phong kiến triều Nguyễn được thiết lập. 3.Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Du đã sống nhiều năm phiêu bạt trên đất Bắc( 1786 – 1796 ) rồi về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh ( 1796 – 182). Sau khi Nguyễn ánh lên ngôi, Nguyễn Du ra làm quan bất đắc dĩ với triều Nguyễn. Năm 1813 – 1814, ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc, năm 1820 khi chuẩn bị làm chánh sứ sang Trung Quốc lần thứ hai, nhưng chưa kịp đi thì ông bị bệnh và mất tại Huế. 4.Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hoá dân tộc và văn chương Trung Quốc. Cuộc đời từng trải, đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho ông một vốn sống phong phú và niềm cảm thông sâu sắc với những đau khổ của nhân dân. Nguyễn Du là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. 5.Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớn bằng chữ Hán và chữ Nôm. Về chữ Hán Nguyễn Du có ba tập thơ ( Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục ) với tổng số 243 bài. Về chữ Nôm xuất sắc nhất là Đoạn trường tân thanh, thường gọi là Truyện Kiều, ngoài ra còn có Văn chiêu hồn. II.Truyện Kiều 1.Nguồn gốc Truyện Kiều: Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du có dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ( Trung

Quốc ). Nhưng phần sáng tạo của Nguyễn Du là hết sức lớn, mang ý nghĩa quyết định đến sự thành công của tác phẩm. 2.Tóm tắt Truyện Kiều Truyện Kiều bao gồm 3254 câu thơ lục bát và được chia làm 3 phần; -Gặp gỡ và đính ước -Gia biến và lưu lạc -Đoàn tụ 2.Giá trị nội dung và nghệ thuật a.Nội dung: Truyện Kiều có hai giá trị lớn là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo, là tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người, tiếng nói lên án, tố cáo những thế lực xấu xa, tiếng nói khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và những khát vọng chân chính của con người như khát vọng về quyền sống, khát vọng tự do, công lí, khát vọng tình yêu, hạnh phúc… b.Nghệ thuật: Tác phẩm là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngôn ngữ và thể loại. Với Truyện Kiều, ngôn ngữ văn học dân tộc và thể thơ lục bát đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ. Nghệ thuật tự sự đã có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn truyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lí con người. (Sưu tầm) Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. A- Mở bài: - Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Ông gắn bó với thôn quê, từ lâu đã am hiểu người nông dân. Đi kháng chiến, ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân - Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948, trên số đầu tiên của tạp

. . 2. Phải xa làng. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm. .Ông hay khoe làng. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc. ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương. ông sững sờ. ông nhớ quá cái khong khí “đào đường.…” đã xong chưa? . b. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới.Thân bài 1. thích bìh luận.… những đường hầm bí mật. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng. hôm nay dăm khẩu. chỗ này giết một tí. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc. ngày mai dăm khẩu. Tình yêu làng.Khi mới nghe tin xấu đó. náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc. cả súng cũng vậy. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người.Được cách mạng giải phóng. khuân đá…”. thông qua một con người cụ thể. c. chỗ kia giết một tí.Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến. tình cảm quê hương đất nước. Nhưng khi người ta kể rành rọt. . in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có. chưa tin. Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi. . đi theo kháng chiến. a. tích tiểu thành đại. Sau cách mạng. nhân vật ông Hai. người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước. tinh thần kháng chiến. xẻ hào. làm gì mà thằng Tây không bước sớm”.Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần. rồi ông lo “cái chòi gác. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. B. ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm. tình yêu nước.chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. không tin không được. đắp ụ. ông xấu hổ lảng ra về.

lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt. chân thành. bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. • Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc. .Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường. càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng. hắt hủi”. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ.Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá. . nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. . bố của nó. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà. Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”. + Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Tình cảm đó sâu nặng.Tình cảm đối với kháng chiến.Ba bốn ngày sau.Về đến nhà. Ông luôn hoảng hốt giật mình. ông không dám ra ngoài. Khi cái tin kia được cải chính. ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu.. Ông giận những người ở lại làng. d. nhìn thấy các con. + Qua đó. ta thấy rõ: • Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc). lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông. Nhưng tình yêu nước. . . Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”. gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ.

gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ.Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật. . 3. vấn vương trước đất trời trong trẻo đang biến chuyển nhẹ nhàng. Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân.Kết bài: . ngôn ngữ đối thoại và độc thoại. người đọc thấm thía tình yêu làng. Đây mùa thu tới. đó là: Bông~ nhận ra hương ôi? Phả vào trong gió se .Qua nhân vật ông Hai.Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông. Nếu như thu trong thơ Xuân Diệu bắt đầu với "sắc mơ phai" dệt giữa muôn ngàn cây. "Sang thu" bắt đầu bằng những cảm nhận của nhà thơ trước tín hiệu giao mùa. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý. (ST) [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image002.gif[/IMG] Bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh "Sang Thu" mang cảm xúc bâng khuâng. hành vi. cao quý trong những người nông dân lao động bình thường. yêu nước rất mộc mạc.Miêu tả rất cụ thể. chân thành mà vô cùng sâu nặng.. . mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng (Đây mùa thu tới) Thì với Hữu Thỉnh. C. .Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng. Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động.

thì "Sang thu" mới hơn. chào đón thu. Nhẹ thế mà thu-đang-về. Nhưng khác hẳn với sự từ tôn' đáng yêu ấy là những cánh chim thu bắt đầu vôi. chầm chậm. nồng nàn giữa cái nhẹ nhàng. mà đó là dềnh dàng. hòa vào ko gian thu. gắn bó tha thiết với quê hương và yêu quê hương nông` nàn thì Vũ Bằng và Hữu Thỉnh mới có những vần thơ rung động lòng người đến vậy! Khổ thơ t2 tiếp tục trong cái mạch cảm xúc mênh mang ấy của nhà thơ Sông đc lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vôi. Nếu như "Thu điếu" của Nguyễn Khuyến đương thú vị ở các "điệu xanh" thì bỗng buông môt điệu vàng của chiếc lá thu rơi." Phải là 1 con người yêu cuôc sông'. Sự vật sang thu đậm tình cảm cảm xúc. hoài nghi thấp thoáng trong cảm nhận của nhà thơ nhưng lại gợi được sự mong đợi. của Bắc Việt thương mến. để thi nhân bất chợt cất lên tiếng reo khe khẽ: Hình như thu đã về 1 cảm giác mơ hô`. Là làn sương mỏng manh như tơ liễu buông mành. Sương chùng chình qua ngõ Sưong "chùng chình" qua ngõ. Những cảm nhận của nhà thơ về thu bắt đầu rõ nét hơn. là từ tôn'. đủng đỉnh. sinh đông. nhè nhẹ. se se lạnh của cơn gió heo may đương thưở non tơ. ta vẫn cảm nhận được cái vàng ươm thi vị ấy. mát mẻ và đậm chất thu. dềnh dàng. rề rà như đợi chờ hè qua. mới lạ và độc đáo. Trong "th ương nhớ 12" Vũ Băng viết: "Đẹp quá đi.1 cảm nhận sâu lắng nhẹ nhàng đọng trong lòng thi nhân. . ngõ xóm như chào đón thu về. ngỡ ngàng biết bao khi nhà thơ phát hiện ra hương vị thơm đượm. mùa xuân ơi-mùa xuân của Hà Nôi thân yêu. Những cảm nhận tinh tế của nhà thơ cứ thế cuồn cuộn chảy trên trang giấy. lạ hơn. vã bay về phương nam tránh rét. Tưởng chừng ko gian chính là 1 bức mành mỏng manh.. và cả tác phẩm häi họa "Mùa thu vàng" nôi? tiếng của Lêvitan cũng lấp lánh 1 sắc vàng rực rỡ. Ko còn là dòng nc xoáy hay dòng sông mùa hạ vùn vụt lao đầu về phía trước.. giăng mắc nơi đầu thôn.Bất ngờ. "Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư long lanh với sắc thu vàng trầm buồn trong thơ mới. vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu. Sự đôi' lập giữa 2 hình ảnh tạo nên 1 nét thu chân thực. Dòng nước thu êm ả trôi. Bởi Hữu Thỉnh ko chấm lên đó 1 mảng màu vàng nhưng trong cái vị nông` nàn thơm đượm của hương ôi?. cuốn vào khứu giác thi nhân. Cái hương vị ấy của vườn mẹ cứ ngào ngạt phả vào không gian. Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Nhà thơ thấy đám mây ấy. tinh tế hơn. sự vật ấy với những nét cựa quậy chuyển mình sang thu. dịu dàng như chính chất thu mới đang lan tỏa trong ko gian. tràn ra. Sương chậm rãi. thấm đến tâm hồn người đọc mà gieo vào lòng đọc giả và nhà thơ những cảm xúc riêng.

2 dòng kết chính là thể hiện bàn tay tài hoa của tác giả..trong suôt'. 1 sự ngăn cách vô hình.. Chùm thơ thu (Nguyễn Khuyến). những cảm nhận dần đi vào lí trí. cái độc đáo riêng của một hồn thơ sâu lắng. Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuôi? Vẫn còn mưa đấy. Tưởng như với đề tài thơ mộng muôn thuở này có thể dễ dàng chắp bút. nhất là những ngòi bút thơ: hễ động bút là mùa thu cứ chực đổ ùa ra trên mặt giấy. nửa kia dịu mát sắc thu. bình tĩnh. Cảm nhận sắc nét ấy còn là những hình ảnh thực. Đây mùa thu tới (Xuân Diệu)… Nhưng nó vẫn có cái hay. 1 nửa rực nắng mùa hạ. Nắng ấy. những nắng. sấm ấy có lẽ chính là những mưa. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Sang thu của Hữu Thỉnh xuất hiện khi trước nó đã có rất nhiều bài thơ nổi tiếng đông tây kim cổ: Thu hứng (Đỗ Phủ). Những rung cảm tinh tế đến từng chi tiết nhỏ nhất. những giông bão. nhưng lại gợi suy nghĩ về con người. Đó là 1 khúc sang thu vừa thơ mông. vất vả lo toan của của cuộc đời mà nhà thơ đã cảm nhận đc. tôi mới thấy đề tài này thật là khó” Tại sao lại có nghịch lí trong kinh nghiệm của người sáng tác như vậy? Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. mưa ấy. Nhưng tất cả đã giảm về sô' lượng. Chỉ đến khi bắt đầu cầm bút ngồi trước mặt giấy. . Hai dòng thơ vẫn tả cái bước đi êm nhẹ của thiên nhiên. những sấm. Mùa thu dường như luôn luôn nấp sẵn trong ngòi bút của chúng ta. một tác giả đã nhận định: “Đề tài "Mùa Thu" bao giờ cũng có vẻ là dễ viết.. vừa bâng khuâng gợi vẻ triết lí. nắng đấy. Sưu tầm Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. vẫn còn dấu ấn của hạ nắng. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Nói về đề tài mùa thu. sấm vẫn còn ầm ì trên các ngọn cây. Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuôi Phải chăng với những con người từng trải với mưa nắng cuộc đời thì họ đón nhận những thử thách ấy 1 cách vững vàng. chia đám mây làm đôi. nhạy cảm khi mùa thu tới.

sương như người khách ngập ngừng nơi đầu ngõ. khi bầu trời xanh ngắt lơ lửng những tầng cao. sắc nước… Hữu Thỉnh hầu như khơi gợi cảm giác về mùa trong trạng thái mơ hồ của tạo vật. những cánh chim vội vã tìm về phương ấm áp… Song thời điểm chớm thu không phải chỉ hiển hiện ở những dấu hiệu mơ hồ trong trạng thái biến chuyển của cảnh vật. hay khi cái rét mùa đông đã lẩn vào trong gió…Sang thu nghĩa là mới chớm thu thôi. Song trên hết. Có hương ổi. mà ở cả chút ngỡ ngàng bâng khuâng của lòng người: “Bỗng nhận ra hương ổi”. Không hề có một từ định tính để miêu tả thế giới thu. “Hình như thu đã về”… Tiếp tục thể hiện những dấu hiệu mùa thu rõ rệt hơn nhưng ý nghĩa của khổ cuối không chỉ dừng lại ở đó: Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ . hay đám mây cũng không tô điểm cho phong cảnh thu bằng những gam màu đặc trưng của nó. cánh chim.. không phải cuối thu. Đặc biệt ở góc độ miêu tả tạo vật. Đám mây như tấm khoăn voan của người thiếu nữ. “chùng chình” “dềnh dàng” “bắt đầu vội vã” “vắt nửa mình”… “Chùng chình” trước hết gợi tả chính xác những làn sương như ngưng lại và nhẹ nhàng tỏa lan ngõ xóm. Có gió. Se gợi một động thái. Dòng sông. gió se lại bởi chút lạnh xa xăm.Ngay từ tiêu đề. mùi hương vừa đặc trưng cho mùa vừa đặc trưng cho làng thôn ngõ xóm. duyên dáng nối hai mùa là một liên tưởng thực sự độc đáo. nhưng gió se chứ không phải là gió lạnh. nó không chỉ miêu tả chính xác trạng thái của tạo vật mà còn thổi vào tạo vật những cảm giác rất người. Truyền thống thơ thường kiến trúc ngôi nhà thu bằng những chất liệu quen thuộc như cúc. Làn sương giăng phủ ngõ thôn chẳng được đặc tả ở mức độ (mù mịt) hay màu sắc (trắng mờ). liễu. Đó không phải là chính thu. Nhưng hương ổi “thơm” như thế nào thì thi sĩ hoàn toàn không miêu tả. Dòng nước thu vốn trong trẻo và sâu hút làm người ta khó mà thấy rõ được sự chuyển động nó nên cảm giác sông lững lờ trôi cũng rất hiện thực. “se”. khi nắng trời đã nhuộm đỏ lá bàng. Tinh tế và sống động sao một buổi sáng chớm thu. ngô đồng hay màu trời. tác giả đã tự xác định một thời điểm miêu tả: thời điểm giao mùa.. hơn là gợi một cảm giác. hệ thống động từ toàn bài còn đặc sắc ở chỗ. cái tứ kết buộc hệ thống hình ảnh trong bài cũng chỉ gói gọn trong chút “chớm” mỏng manh đó. Thành công nổi bật nhất của bài cũng là ở một hệ thống những động từ miêu tả rất giàu cảm giác: “phả”.

không còn dữ dội nữa. những tín hiệu mơ hồ nhất từ những giao chuyển âm thầm trong vạn vật. mưa. nghĩa là không tái hiện lại một truyền thống. tôi sẽ không nấn ná làm cái việc rút tỉa những thi ảnh và thi tứ tiêu biểu về thời điểm nhạy cảm ấy của thơ ca các thời. bước ngay…Sang thu . Mà cùng Hữu Thỉnh. bởi ngõ xóm thân quen ấy. khi đọc bài thơ này. chắc cũng không xuể. Gọn nhẹ hơn. bao đời nay luôn có sự đua ganh giữa hồn thơ với hồn tạo vật. Cảnh như sâu lắng hơn bởi liên tưởng suy tư về mùa thu đời người. Và có lẽ cũng nhờ giọng điệu êm nhẹ dễ cuốn người đọc vào dòng cảm xúc. Chả thế mà. tất cả các dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn nhưng đã giảm dần mức độ. một tiền đề nữa. sấm chớp… hay là những vang động của cuộc đời? Trong tương quan ấy. suy nghĩ tự nhiên của tác giả. Tuy nhiên. cái thời điểm mà sự nhạy cảm của hồn tạo vật luôn thách thức với sự nhạy cảm của hồn người vẫn là thời khắc giao mùa . Nét độc đáo nhất của bài là những hình ảnh chính xác và giàu sức gợi tạo nên một bức tranh thu giản dị mà sống động. Con người cùng Tạo vật thảy đều nhạy cảm. Không hiểu sao. “đứng tuổi” khiến ý nghĩa của câu thơ không dừng lại ở nét nghĩa tả thực mà có chiều sâu hơn. tôi chợt thấy nhớ rất nhiều những năm tháng đã qua của mình. Chính các từ “bất ngờ”. Cho nên./. Miền kí ức tuổi thơ được đánh thức bởi mùi hương ổi. được gọi một cách hình ảnh là “hàng cây đứng tuổi”. Chỉ cần điểm sơ qua những tín hiệu từng được hồn thơ từ cổ chí kim nắm bắt trong những thi ảnh không thôi. Sưu tầm Sang Thu . Sang thu.chớm thu. cường độ… Hàng cây như đã quá quen với nắng lửa mưa giông. cũng khó đủ giấy mực rồi.Trên hàng cây đứng tuổi Con người cảm thấy biết bao biểu hiện khác biệt của thời tiết khi mùa thu tới: mưa và sấm thưa dần. chỉ điểm qua những thi tứ nổi bật dành cho nhịp chuyển mùa thôi.jpg[/IMG] Mùa thu quả nhiên là mùa nhạy cảm bậc nhất trong năm. Các kênh cảm giác và cả tâm cảm nữa của mỗi hồn thơ dường như đều được huy động tối đa để nắm bắt những làn sóng.Hữu Thỉnh Chu Văn Sơn [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image003. hàng cây tượng trưng cho con người từng trải mà bao dâu bể biến đổi không còn đáng ngạc nhiên. Nắng. Đây xứng đáng là một bài thơ thu hay trong thế giới thi ca.

ngay cả “Sách giáo viên” hướng dẫn người dạy khai thác và soạn giảng chừng như cũng “ bí” trong việc phân định . Hình thái tổ chức của Sang thu đâu dễ nhận diện. chả chịu rành mạch gì cả. thì hình sắc thu sang. hàng cây đứng tuổi… chẳng dáng nét thu về. Khổ hai lại nghiêng về những cảnh sắc trời mây sông nước đang chuyển mình sang thu. Về bố cục. đấy thay đổi tinh vi. mưa đã vơi.Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi Thu. sương chùng chình. thử đi vào cấu trúc của thi phẩm. Đọc kĩ hơn thì thấy rằng: cùng viết về thiên nhiên lúc giao mùa. từ góc nhìn vườn ngõ : Bỗng nhận ra hương ổi /Phả vào trong gió se /Sương chùng chình qua ngõ /Hình như thu đã về. với tầm nhìn rộng xa vào bầu trời mặt đất : Sông được lúc dềnh dàng / Chim bắt đầu vội . Đến nỗi. gió se. sông dềnh dàng. Hay việc chia thành ba khổ thế chỉ hoàn toàn do cảm tính lúc viết của thi sĩ. Nhưng về ý tứ ? Xem chừng ý khổ này cứ “dính” vào khổ kia. đây đổi thay tinh tế. 1. vô tổ chức ? Không hẳn. Thì quanh đi quẩn lại vẫn là thế : hương ổi. Từ cấu trúc … Trước tiên. nhưng mỗi khổ thơ vẫn nghiêng về một ý. nắng vẫn còn. Về cảnh vật. Ý đâu có khác gì nhau. sẽ được những tâm hồn ấy mang tới bao nẻo thu. Kể từ nay. đến cả những miền chưa từng có mùa thu nữa. sấm bớt bất ngờ. khổ một nghiêng về những tín hiệu mách bảo sự hiện diện đây đó của mùa thu. chim vội vã. ai chẳng thấy chính tác giả đã tự chia bài thơ thành ba khổ khúc chiết. hương ổi của thi phẩm sẽ phả vào tâm hồn của nhiều thế hệ học trò. 1977 Tôi mừng cho Hữu Thỉnh và bài thơ. còn ý thơ thì vốn thiếu rành mạch. nó vừa giành được một chỗ xứng đáng trong chương trình Văn và Tiếng Việt của nhà trường.

jpg[/IMG] Thế đấy. Rõ ràng. Sau một thoáng ngỡ ngàng ở khổ một (… Hình như thu đã về). đồng hành với mạch cảnh sắc trên đây. cảnh trong tình. Tình trong cảnh. dù kín hay lộ. Trong khi đó. . thần thái của cảnh thu thường hiện lên qua vẻ tiêu sơ. và kết lại ở khổ ba với vẻ trầm ngâm(… Sấm cũng bớt bất ngờ / trên hàng cây đứng tuổi). Tương ứng với những cung bậc của mạch cảm. có vẻ “dính”. Cùng với cảnh. dù đậm hay nhạt. đa phần các thi sĩ nghiêng về vẻ biến suy một chiều của cảnh. khổ ba : suy ngẫm. từ hẹp đến rộng. khổ ba lại nghiêng về những biến đổi bên trong các hiện tượng thiên nhiên và tạo vật : Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa/Sấm cũng bớt bất ngờ/Trên hàng cây đứng tuổi. Có thể nôm na hoá qua sơ đồ sau : [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image005. thi phẩm là sự đồng hành và hoá thân vào nhau của ba mạch nội dung vừa rõ nét vừa sống động. là đến niềm say sưa ở khổ hai (…Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu). bao giờ cũng là tình. nhưng bề sâu. khổ hai : tri giác. Mạch cảm và mạch nghĩ bao giờ cũng song hành và chuyển hoá sang nhau trong cùng một dòng tâm tư . qua phân tích trên đây cũng đủ thấy rằng : một tiếng thơ dù bình dị hồn nhiên thế nào đi nữa. cả người khờ khạo nhất cũng phải thấy rằng : thơ thiên nhiên không đơn thuần chỉ có cảnh. từ khổ một đến khổ ba. Cho nên. Không chỉ có thế. với các lớp cảnh càng ngày càng đi vào chiều sâu… Một trật tự hợp lí tự nhiên bao giờ cũng là điều sinh tử để một sản phẩm nghệ thuật hiện ra như một sinh thể ! Nhưng. ba khổ thơ đã được liên kết thành một chỉnh thể nhuần nhị nhờ vào một trật tự khá tự nhiên : từ gần đến xa. Vì thế. từ ngoài vào trong. bề ngoài.vã/Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu. từ thấp đến cao. Chúng đan bện với nhau khiến cấu trúc nghệ thuật càng tinh vi phức tạp. … đến điệu tâm hồn Cảm nhận tạo vật lúc sang thu. là các cấp độ của mạch nghĩ. vẫn là một kiến trúc ngôn từ với một cấu trúc thật tinh vi. Cụ thể là mạch cảm nghĩ trước mùa thu. đâu phải là thiếu rành mạch. 2. Sự đan xen các mạch này là một khía cạnh phức tạp không thể thiếu của cấu trúc. Khổ đầu : bất giác. Như vậy. Trái lại là đằng khác ấy chứ ! Rõ ràng. Ví như bài Thu cảm. cấu trúc của thi phẩm này. là tâm tư của thi sĩ. tiếng thơ khá tinh tế của một thi sĩ đương thời : Mướp tàn sen cũng đi tu / Lá tre đã thả một mùa heo may / Con sông không ốm mà gầy / Mắt em chưa tối đã đầy hoàng hôn.

thật thú vị mà cũng thật hiển nhiên là hai nhịp mạnh nhẹ với hệ thống hưng . khi câu ba nối vào câu kết. thì chiều giảm đột ngột thành chiều tăng. giấu cương sau nhu này : Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi ? Nói đến câu kết kia. đúc kết. Chiêm nghiệm điều gì ? Về một lẽ đời trong hai chiều biến đổi trái nhau. Nhờ lối viết nén. mưa “vơi dần” rõ là giảm .Cảm nhận của Hữu Thỉnh khác. nhờ lối cảm ấy. vơi (-đầy). lời thơ súc tích hẳn nhờ các làn nghĩa giao nhập ràng néo . đã ra chiều trầm ngâm với suy ngẫm rồi. là cây đã trưởng thành. không đơn tuyến. tôi ngờ rằng cảm quan quân bình về đời sống đã ngấm ngầm xui thi sĩ tìm đến cái kết điềm tĩnh trước ba động. Lớp từ mang sắc thái đong đếm ở đây mách với ta điều đó.trưởng kia lại đan dệt trong nhau khá nhuần nhuyễn tạo nên cái bản giao hưởng gợi cảm của đất trời thu. song cả hai đều thuộc về thần thái của mùa thu. một trong những nét đặc sắc của bài Sang thu là có hai hệ thống tín hiệu báo mùa có vẻ phản trái nhau. Nó chính là hiện tượng trái chiều mà cùng hướng ta vẫn thường thấy trong mỗi cuộc đổi thay. mà đây đó còn cả thế quân bình. mưa vơi dần… Lúc bất giác nhận ra hương ổi “phả” vào trong gió se. tâm thế thi sĩ không còn ngỡ ngàng bất giác như khổ một. Toàn cảnh thu trong bước chuyển mùa. đã hiện ra không chỉ có biến thiên. ít…) : sương chùng chình. sấm “bớt bất ngờ” càng giảm. Hệ thống các từ còn (-hết). Nhịp mạnh bao gồm những động thái. nhiều…) : hương ổi phả . Chính lúc sông “dềnh dàng” là lúc chim “vội vã”. Cả ba nghiêng về chiều giảm. chiêm nghiệm.vẫn còn bao nhiêu nắng… Nhịp nhẹ thì nghiêng về âm tính (êm. Đừng nghĩ thi sĩ cố ý đặt bày hai mạch tương phản nhằm chơi trò lạ hoá. Để ý một chút. Khi nắng “còn” cũng là khi mưa “vơi”. câu thơ bỗng có “cú pháp dính”. Có thể xem đó là nét phức điệu trong cảm nhận ngoại giới của hồn thơ Hữu Thỉnh. bớt (thêm) bảo rằng thi sĩ đang suy xét. chậm. say sưa tri giác như khổ hai. Ấy là sự từng trải tăng lên. Nó rõ nhất ở khổ ba : Vẫn còn bao nhiêu nắng /Đã vơi dần cơn mưa /Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. thì cũng là lúc bắt gặp sương “chùng chình” qua ngõ. sẽ thấy rằng đến đây. Chẳng phải thế sao ? Chẳng phải bao mạch sống đang cần mẫn chuyển lưu trong lòng tạo vật làm nên cõi sống trường cửu này vốn vẫn tương sinh tương khắc như vậy sao ? Và chẳng phải những vận động trái chiều mà cùng hướng vẫn thường đem đến cho sự sống thế quân bình ngay trong lòng mỗi nhịp biến thiên hay sao ? Cho nên. tiêu . sắc thái dương tính (mạnh.suy. không thể không thêm vài lời về cách lập tứ dẫn tới kết. Và. nhanh.chim vội vã . Nhưng. sông dềnh dàng. Luôn thấy được thế quân bình ngay giữa những biến thiên thì ít bất ngờ chao đảo. Trong thiên nhiên đã vậy. một chiều tăng kín đáo : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. mấy chữ “bớt bất ngờ” như một nút buộc. tức là đã giảm . Tạm đặt tên là nhịp mạnh và nhịp nhẹ. Trong cuộc đời cũng thế. mà lòng đã nặng hơn. Tôi cho rằng. Ba câu trên : nắng “vẫn còn”.

trong cách kiệm lời. nhưng xem chừng. thi ảnh nào cũng tài hoa. hô ứng và tiếp ứng nhau làm hiển thị cái nhịp luân chuyển trong tạo vật vốn mải mê mà vô hình. mà xem ra lại khó thấy : Đường thi. luôn cặp kè. Chẳng thế mà các chi tiết gợi cảm của thi phẩm đã cuốn hút nhiều người yêu thơ. ít ai để ý đến nghệ thuật tổ chức. tâm trí ta bị trôi theo lời thơ bình đạm. Hữu Thỉnh còn tỏ ra tinh hơn nữa trong sự đồng điệu với nhịp chuyển mùa. Người đọc cũng dễ say với những nét tài hoa trong việc sử dụng nhuần nhuyễn yếu tố cổ điển của thi sĩ. cái súc tích Đường thi kết hợp với chất hồn nhiên thơ trẻ cứ loáng thoáng đâu đó trong cách nhìn tạo vật. nào sương chùng chình qua ngõ. Thế mà thi ảnh lại mới. chỉ lúc chợt ngoái lại. cái vế sau mới là chốt hạ. khiến đám mây yêu kiều và đỏng đảnh kia có thể vắt nửa mình qua đó mà khoe sắc phô duyên vậy ! Mà đâu chỉ trong quan sát. ra là phép đối ! Thế là nhuyễn. làm định dạng cái vốn mơ hồ. hình sắc lại gợi. Mấy chữ ấy đi với nhau thành cặp. Mà ấn tượng nhất hẳn phải là cảnh tượng Có đám mây mùa hạ/Vắt nửa mình sang thu. thì mới vỡ lẽ: ồ. Nhờ ngữ pháp ấy mà cái ý cương kia liền được giấu kín nhẹm. rồi thì sông được lúc dềnh dàng… xem ra. Nhịp luân chuyển ấy dường như đã nhập vào mấy chữ tưởng rất không đâu mà lại thần tình này: Sông được lúc dềnh dàng/Chim bắt đầu vội vã . Có lẽ khi đọc các cặp ấy. là lối viết đâu có gì lạ về thi pháp.nhau : sấm bớt gây bất ngờ (sấm đã e cây). thậm chí được nhu hoá. hay cây bớt bị bất ngờ (cây thôi e sấm)? Có lẽ là cả hai. thật mà không thật. có một chất rất dễ nhận : dân gian. Nào những hương ổi phả vào trong gió se. Cứ y như giữa mùa thu và mùa hè vẫn có một lằn ranh làm bằng sợi dây vô hình giăng ra giữa thinh không. Điều này khỏi bàn thêm. Bởi đảo mà cứ như không. Vẫn còn bao nhiêu nắng-Đã vơi dần cơn mưa. Ở Sang Thu. là tinh chứ sao ! . mà hiển lộ nhất là ở phép đối ngẫu được dùng khá nhuyễn : Sông được lúc dềnh dàng-Chim bắt đầu vội vã . * Sang thu là bài thơ tinh tế. đây là lối kết theo kiểu “đảo phách”. ở thi phẩm này. Một cú đảo phách ngoạn mục. Đám mây thực thế mà ảo thế ! Cái cách “vắt nửa mình” kia sao mà thi vị ! Có thật chăng một đám mây vốn của mùa hè đang mải mê lấn sân sang mùa thu ? Có mà không có. Nhưng cái nhịp luân chuyển chung chi phối vạn vật thì bao giờ cũng khẩn trương và mau lẹ. khiến cái vô hình thành hữu hình. Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa”. Những hiện tượng riêng lẻ thì gồm cả hai hệ thống tín hiệu trái chiều. Có thể nói. có chậm có nhanh. anh không chỉ có chiêu này. Sao lại cặp kè ? Thì một trong những chiêu rất Hữu Thỉnh chẳng phải là chế tác thi liệu dân gian bằng thi pháp Đường ư ? Cố nhiên. Làm xác định cái không xác định. Đọc Hữu Thỉnh. Còn có một chất khác.

Sang thu đa nghĩa. Hữu Thỉnh chưa đem đến cái gì mới hơn so với các tiếng thơ thuộc thi đề thu của những người đi trước. Vì nó ở bề nổi của văn bản thơ.Tuy nhiên. Một thi tứ đa tầng khiến hình tượng thơ thành đa nghĩa. những hàm ý kín đáo kia toát lên trước hết từ nghĩa bóng đây đó của các thi ảnh.v… Nhưng nếu chỉ có thế thì ý nghĩa của chúng còn lờ mờ. biến động âm thầm và sâu kín của thiên nhiên. mà còn nói người. đời sống cũng vừa sang thu. phát động một lớp nghĩa khác cho bài thơ. Nhân hoá cây là bề nổi. Nó đâu chỉ nói cây. Bấy giờ. vì ít nhất. Nhưng. cũng chưa phổ được vào đó hơi thở của thời mình. Chữ “đứng tuổi” bật sáng. dễ làm nghèo nghệ thuật. Cảm thụ nghệ thuật. chúng ta thấy từ mạch hình ảnh thiên nhiên rải khắp bài thơ bỗng bừng dậy một lớp nghĩa khác gắn với con người và cuộc đời. tinh thần của thế hệ mình. chưa xa gì hơn một lối nói sinh động về sự vật. đó vẫn là những tinh tế tiểu tiết và dễ viết. chuyển động. Sang thu cũng mới là thơ tạo vật. sông dềnh dàng. ở nhiều lần in cũng ghi rõ như vậy. Ví như hoàn cảnh sáng tác . cuộc sống vừa qua khỏi thời chiến đầy khốc liệt đang chuyển sang thời bình êm ả. căn cứ quan trọng nhất là văn bản. Ai cũng có thể thấy những ẩn ý nào đó thấp thoáng sau lối viết ẩn dụ trong các thi ảnh rải rác ngay từ đầu sương chùng chình. Nhờ đó. có sự chất chồng và giao thoa của ba lớp nghĩa : trời đất sang thu. mà còn vang lên cả từ tương quan giữa văn bản với những thứ bên ngoài vốn thiết thân với nó nữa. Trong thực tế. Nó mới là nét tinh vi thuộc về đại cục. thi phẩm nhỏ đã mang thi tứ lớn. Nhưng. tự dưng chúng ta thấy các . Đồng thời. Lớp nghĩa thứ nhất dễ thấy. chỉ bó hẹp trong văn bản không thôi. Nghĩa là. đời sống sang thu và đời người sang thu. Điều này ngẫu nhiên chăng ? vô nghĩa chăng ? Không hẳn. Tôi muốn nói đến điều khác : ý tưởng bao trùm. chưa đủ tạo hẳn ra một lớp nghĩa khác cho văn bản. nếu chỉ thế thôi. Không. Tất nhiên. thông điệp nghệ thuật của một tác phẩm không chỉ cất lên từ những gì thuộc nội bộ văn bản. Đôi khi quá chú mục vào cái tinh tế trong tiểu tiết có thể quên sự tinh vi trong đại cục. Nó khiến bài thơ như một bức tranh thiên nhiên. Tự dưng. chim vội vã v. giấu người vào cây là bề sâu. Lớp nghĩa kia chỉ thực sự bật hầm khi hình ảnh cuối cùng đột hiện : Sấm cũng bớt bất ngờ / Trên hàng cây đứng tuổi. Hai lớp nghĩa sau mới thật là thứ hương ổi riêng mà Hữu Thỉnh phả vào trong thi đề này. Có lẽ như những thước phim về cảnh vật thiên nhiên thì phải hơn. Ý tưởng Sang thu được gói kín vào thi tứ. phim mới động. khi nhìn trong tương quan khác. Có thể thấy rõ hơn nữa. Nhìn bài thơ trong tương quan với thời điểm ấy. Tác giả cho biết thời điểm viết Sang thu là mùa thu 1977. Sự mẫn cảm của tâm hồn thi sĩ đã được dịp phô diễn qua những thi ảnh giàu mỹ cảm trong việc nắm bắt bao vận động. Đây là lúc trong lòng đời có bao trăn trở xao động. Tranh thì tĩnh.

mọi cú giáng của cuộc đời : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi.Thiết giáp rồi trở thành cán bộ văn hóa. tuyên huấn trong quân đội và bắt đầu sáng tác thơ.Tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm 1. ông đã tham gia . mùa thu đâu chỉ có chuyện tiêu sơ. Mùa thu còn là chuyện trưởng thành. vào binh chủng Tăng . bao tủi sầu yếu đuối. mọi suy cảm trên sẽ thành võ đoán. Không có chữ “đứng tuổi” cứ như lạc hệ thống này. Thì ra. giờ vào thu đã tự cho phép mình được dềnh dàng. đủ vững trãi đối đầu với mọi ba động. Hèn chi. “dềnh dàng” đã khó ưa.Tác giả . Đồng thời. Sự từng trải đã giúp cây trưởng thành. được xả hơi chăng ? Chả phải vô cớ mà thi sĩ đem chữ “được lúc” gắn với cái thói “dềnh dàng” ấy của sông. Một cái kết quá là khôn ngoan. Không có nó. Chẳng phải đó là những nét độc đáo mà Hữu Thỉnh đã đem đến cho một thi đề tưởng đã quá ư quen thuộc hay sao ? Từ thơ tạo vật. Sang thu đã lẳng lặng thành thơ cuộc đời ! (Nguồn: Sưu tầm) Sang thu SANG THU I. quê ở huyện Tam Dương.Nhà thơ Hữu Thỉnh tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Thỉnh. bao cơn mưa thở than nay cũng đã vơi dần. “Dềnh dàng” đâu chỉ nói về nét riêng của dòng chảy đã chậm hơn khi con sông vào thu. Chim bắt đầu vội vã có phải chỉ đơn thuần nói về các loài chim lúc sang thu đang gấp gáp bay đi lánh rét không thôi ? Xem ra. cùng diễn tả nhịp vận động chầm chậm. tỉnh Vĩnh Phúc. Bước sang thu. xu thời nào đó nữa ấy chứ ? Đến khổ thứ ba. lớp nghĩa thời sự vốn khuất mình không thể phát sáng được. Hữu thỉnh nhập ngũ. hàng cây trẻ hồi nào giờ đã đứng tuổi. cái lớp nghĩa thế sự bảng lảng này còn tỏ hơn nữa. Mùa thu đâu chỉ có biến thiên. Mùa thu còn tàng ẩn cả những quân bình tự tại nữa. thơ còn nặng về tạo vật. Dường như nó còn ngầm tỏ thái độ về cái điệu sống của những đối tượng nào đó hồi mùa hạ hăng hái xông pha là thế. Đặc biệt từ khổ hai trở đi.hình ảnh đó đây nhấp nháy lên những nghĩa khác : nghĩa thế sự. nhưng Sương chùng chình qua ngõ thật khác với Sông được lúc dềnh dàng. tuy đã sang thu. nó còn muốn nói tới đối tượng sống tuỳ thời. thì từ khổ thứ hai đã bảng lảng cái bóng đời. Năm 1963. Tôi ngờ rằng đây là khổ thơ mà anh chàng thi sĩ cũng vừa trải qua một mùa hè bỏng rát đang kín đáo nói về thế hệ mình và chính mình ? Vâng. Cũng như thế. sinh năm 1942. ý ngầm của kẻ viết vừa khó phát lộ vừa khó gói ghém. “Chùng chình” còn dễ ưa. Nếu ở khổ đầu. nhưng lòng vẫn còn bao nhiêu nắng.

còn sáng nhưng nhạt dần. những cánh chim bắt đầu vội vã ở cuối buổi hoàng hôn. chuyển động chầm chậm nơi đường thôn ngõ xóm.Dòng sông trôi một cách thanh thản gợi lên vẻ êm dịu của bức tranh thiên nhiên. bằng nhiều giác quan và sự rung động thật tinh tế . 2.Tác phẩm chính: Âm vang chiến hào( in chung ).Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam các khóa III. . bất ngờ. . vấn vương trước đất trời trong trẻo đang chuyển biến nhẹ nhàng. .Những hình ảnh. Với tập thơ Thư mùa đông. phả vào trong gió se . Hữu Thỉnh được bầu làm Tổng thư kí Hội nhà văn Việt Nam. II. Những ngày giao mùa này đã ít đi những cơn mưa rào ào ạt. .Cảm giác giao mùa được diễn tả thú vị qua đám mây mùa hạ “ vắt nửa mình sang thu” .Tâm trạng ngỡ ngàng. . ông đã được Giải thưởng văn học Đông Nam Á. .IV. Từ chiến hào tới thành phố. hiện tượng thể hiện sự biến đổi của đất trời lúc sang thu ở khổ đầu của bài thơ .Lúc này cũng bớt đi những tiếng sấm bất ngờ gắn cùng những cơn mưa rào mà mùa hạ thường có.Biến chuyển trong không gian lúc sang thu được Hữu Thỉnh cảm nhận qua nhiều yếu tố. về mùa thu.Phân tích bài thơ 1. cảm xúc bâng khuâng qua các từ bỗng. Đường tới thành phố ( trường ca – 1978 ).Hoàn cảnh ra đời:Bài thơ Sang thu được Hữu thỉnh sáng tác cuối năm 1977. sau đó được in lại nhiều lần trong các tập thơ.Sương đầu thu giăng mắc nhẹ nhàng. in lần đầu tiên trên báo Văn nghệ. Nhiều vần thơ thu của ông mang cảm xúc bâng khuâng. viết hay về những con người cuộc sống ở nông thôn.Hữu Thỉnh là nhà thơ viết nhiều. hình như 2. Từ năm 2000.Nhà thơ chợt nhận ra tín hiệu của sự chuyển mùa từ ngọn gió se ( nhẹ. V. khô và hơi lạnh ) mang theo hương ổi đang vào độ chín. . Thư mùa đông.Hương ổi lan vào không gian.Nắng cuối hạ còn nồng.

soi sáng tâm hồn họ… Giờ đây. Cũng có thể hiểu: hàng cây không còn bị bất ngờ. anh say sưa ngắm ánh trăng toả ngời trên đỉnh núi. Đêm thanh vắng người lính bên nhau chờ giặc tới. Nhà thơ không phải tả mà chỉ gợi. Sau hơn mười năm làm thơ. Lúc sang thu. Đầu súng trăng treo. chỉ đưa hình ảnh nhưng ta liên tưởng nhiều điều. soi sáng tình cảm họ.3. . vẫn say sưa với ánh trăng. trăng bảo vệ xóm làng. Chút nữa đây không biết ai sống chết. cần hiểu với hai tầng nghĩa. xa cách nhau vời vợi bỗng hoà quyện vào nhau thành một hình tượng gắn liền. Không biết tự bao giờ ánh trăng đã đi vào văn học như một huyền thoại đẹp. súng và trăng vốn tương phản với nhau. Phân tích hình ảnh "Đầu súng trăng treo" trong bài thơ "Đồng Chí" của Chính Hữu. trăng chếch bóng soi sáng rừng hoang bao la rộng lớn. bị giật mình vì tiếng sấm nữa. tâm hồn người nông dân “nước mặn đồng chua” hay “đất cày trên sỏi đá” cằn cỗi ngày nào bỗng chốc trở thành người nghệ sĩ đang ngắm nhìn vẻ đẹp ánh trăng vốn có tự ngàn đời. Chính Hữu cho ra mắt tập “Đầu súng trăng treo”. Và hình ảnh này cũng thật lạ làm sao. ông muốn gửi gắm suy ngẫm của mìh – khi con người đã từng trải thì cũng vững vàng hơn trước những tác động bất thường của ngoại cảnh của cuộc đời. Phân tích hình ảnh "Đầu súng trăng treo" trong bài thơ "Đồng Chí" của Chính Hữu. trăng đã đi vào cuộc chiến đấu.Về hai dòng thơ cuối bài. trăng được Chính Hữu kết tinh thành hình ảnh “đầu súng trăng treo” rất đẹp trong bài thơ Đồng chí của mình. rất thực nhưng không thiếu nét lãng mạn đó. Giữa núi rừng heo hút “rừng hoang sương muối” giữa đêm thanh vắng tĩnh mịch bỗng xuất hiện một ánh trăng treo lơ lửng giữa bầu trời. chút nữa đây cũng có thể là giây phút cuối cùng ta còn ở trên đời này nhưng ta vẫn “mặc kệ”. bớt đi những tiếng sấm bất ngờ. ở truyền thuyết “Chú cuội cung trăng” hay Hằng Nga trộm thuốc trường sinh là những mảng đời sống tinh thần bình dị đậm đà màu sắc dân tộc của nhân dân ta. thơ mộng.đó là một hình ảnh tả thực một bức tranh tả thực và sinh động. Hơn thế nữa. Phải là một người có tâm hồn giàu lãng mạn và một phong thái ung dung bình tĩnh lạc quan thì anh mới có thể nhìn một hình ảnh nên thơ như thế. anh thả hồn theo trăng. Thế mới biết tác giả đắc ý như thế nào về hình ảnh thật đẹp. Chính nhà thơ Hữu Thỉnh đã tâm sự: Với hình ảnh có giá trị tả thực về hiện tượng thiên nhiên này. người chiến sĩ như không còn vướng bận về cảnh chiến đấu sắp diễn ra.

hình ảnh thật đẹp và giàu sức khái quát. là khát vọng và cũng là biểu hiện tuyệt vời chất lãng mạn trong bài thơ cách mạng. Phải. Đầu súng trăng treo. súng tượng trưng cho chiến đấu. từ điểm nhìn xa. Đó là biểu tượng Khát Vọng Hoà Bình. trăng lên trăng lặn sẽ không còn cái bất ngờ màu nhiệm nữa. trăng toả sáng làm ngời ngời lòng người. là đồng chí của anh bộ đội Cụ Hồ. cái bồng bềnh thơ mộng của một đêm trăng “đứng chờ giặc tới”. chỉ có “Đầu súng trăng treo” mới diễn tả hết được cái hay. Súng là hình ảnh người chiến sĩ gan dạ kiên cường.Trăng là hình ảnh người thi sĩ. không quên được nhiệm vụ và trách nhiệm của mình. trăng cũng là bạn. Tố Hữu cũng có một câu thơ kiểu này: “ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” và Phạm Tiến Duật thì “Và vầng trăng vượt lên trên quầng lửa” hay Hoàng Hữu “Chỉ một nửa vầng trăng thôi một nửa. Chỉ có trăng “treo”. trăng như cùng tham gia. cả vầng trăng và súng đều tồn tại trên một mặt phẳng và trong hội hoạ nó mang tính biểu tượng cao. Cái thân của câu thơ “Đầu súng trăng treo” nằm ở từ “treo”. trong sạch hơn. Súng là con người. chẳng thơ mộng chút nào. tắm gội tâm hồn họ thanh cao hơn. nó tượng trưng cho tư thế lạ quan bình tĩnh. Họ chiến đấu cho sự thanh bình. ta thử thay bằng từ mọc thì thật thà quá. Lãng mạn vì con người cần có .trăng là hình ảnh của thanh bình hạnh phúc. Ai bỏ quên ở phía chân trời…”. Ta nên hiểu bài thơ dường như được sáng tác ở thời điểm hiện tại “đêm nay” trong một không gian mà mặt đất là “rừng hoang sương muối” lạnh lẽo và lòng đầy phấp phỏng giặc sẽ tới có nghĩa là cái chết có thể đến từng giây từng phút. Nhưng có lẽ cô kết nhất. chiến đấu cho ánh trăng mãi nghiêng cười trên đỉnh núi. vì nó là hiện tượng tự nhiên: trăng tròn rồi khuyết. không phải ngẫu nhiên mà Chính Hun lấy hình ảnh “Đầu súng trăng treo” làm tựa đề cho tập thơ của mình. mục đích chiến đấu mà người lính ấy đang tham gia. Ta hãy tưởng tượng xem: giữa đêm khuya rừng núi trập trùng bỗng hiện lên hình ảnh người lính đứng đó với súng khoác trên vai. ở đây. cùng chứng kiến cho tình đồng chí đồng đội thiêng liêng của những ngươì linh. lãng mạn của người bảo vệ Tổ quốc. Súng và trưng kết hợp nhau. Lãng mạng nhưng không thoát li. làm sao còn nét lãng mạn? Và hãy thay một lần nữa bằng từ “lên” cũng không phù hợp.ánh trăng như xua tan cái lạnh giá của đêm sương muối. nòng súng chếch lên trời và ánh trăng lơ lửng ngay nòng ngọn súng. hay nhất vẫn là “Đầu súng trăng treo”. Sự kết hợp hài hoà tạo nên nét lãng mạn bay bổng vừa gợi tả cụ thể đã nói lên lí tưởng. Trăng truyền thêm sức mạnh cho họ. Nếu miêu tả hiện thực thì vầng trăng ấy sẽ có hình khối của không gian ba chiều. trăng là đất nước quê hương của bốn nghìn năm văn hiến. Như đã nói ở trên. Thế nhưng người lính ấy vẫn đứng cạnh nhau để tâm hồn họ vút lên nở thành vầng trăng. Nó là biểu tượng.

Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc. trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. B.những phút sống cho riêng mình. Và bạn ơi! Bạn hãy thả cùng tôi những chú chim trắng trên bầu trời. A. Trước cái đẹp mà con người trở nên thờ ơ lãnh đạm thì cuộc sống vô cùng tẻ nhạt. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước. Ông gắn bó với thôn quê. ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân .Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948. từ lâu đã am hiểu người nông dân. Hình ảnh trăng và súng đã có nhiều trong thơ Việt Nam nhưng chưa có sự kết hợp kì diệu nào bằng hình ảnh Đầu súng trăng treo của Chính Hữu. Đi kháng chiến. Nếu như Elsa Trioslet – nữ văn sĩ Pháp có nói “Nhà văn là người cho máu” thì tôi hãnh diện nói với văn sĩ rằng: Chính Hữu đã cho máu để tạo nên câu thơ tuyệt vời để cống hiến cho cuộc kháng chiến của chúng ta. tình cảm quê hương đất nước.Thân bài 1. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới.Internet) Nguồn: Sưu tầm Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. .Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc. tinh thần kháng chiến. Âm hưởng của câu thơ đã đi đúng với xu thế lịch sử của dân tộc. tình yêu nước. hãy hát vang lên ca khúc Hoà Bình vì hình ảnh đầu súng trăng treo mà nhà thơ đã gởi vào đó bao nhiêu khát vọng nay đã thành hiện thực (Nguồn . thông qua một con người cụ thể.Mở bài: . Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế. một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. Sau cách mạng. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. .Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến. Ông giận những người ở lại làng. lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân.…” đã xong chưa? . nhân vật ông Hai. cả súng cũng vậy. ông xấu hổ lảng ra về.Về đến nhà. Tình yêu làng. ông nhớ quá cái khong khí “đào đường. làm gì mà thằng Tây không bước sớm”.2. xẻ hào. chỗ kia giết một tí. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp.… những đường hầm bí mật. . Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”. chỗ này giết một tí. đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. Nhưng khi người ta kể rành rọt.Ba bốn ngày sau. ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng.Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ . Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi. khuân đá…”. ông sững sờ. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc. Phải xa làng. c. không tin không được. càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng. đi theo kháng chiến. . Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà. Ông luôn hoảng hốt giật mình. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm. nhìn thấy các con. rồi ông lo “cái chòi gác. hắt hủi”.Ông hay khoe làng. . tích tiểu thành đại. . ông không dám ra ngoài.Khi mới nghe tin xấu đó. a. nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. ngày mai dăm khẩu.Được cách mạng giải phóng. .Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần. hôm nay dăm khẩu. chưa tin. . đắp ụ. thích bìh luận. ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm. b. in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có.

. + Qua đó. với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông. bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ. + Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. ta thấy rõ: • Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc). gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ. d. ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu. ngôn ngữ đối thoại và độc thoại. Nhưng tình yêu nước. chân thành. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt. Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân. hành vi. vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. • Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc. .Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường. . bố của nó. 3.Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”. Tình cảm đó sâu nặng.Miêu tả rất cụ thể. .quá. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ.Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông. Khi cái tin kia được cải chính. . lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.Tình cảm đối với kháng chiến. .

yêu nước rất mộc mạc. chân thành mà vô cùng sâu nặng. .có chút ngang tàng trẻ trung. cao quý trong những người nông dân lao động bình thường.Mở Bài: _Tình huống truyện (Nhân một chuyến đi.. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý. III.về trách nhiệm của bản thân đối với gia đình.Tính chất gian khổ khốc liệt mà những người lính lái xe Trường Sơn (TS) phải chịu đựng trong những năm tháng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước..) II. DÀN Ý: (dàn ý chi tiết chung ^^) I... Bài Viết Số 03 : Kể lại cuộc gặp gỡ người lính lái xe trong BTVTĐXKK của PTD.có trách nhiệm với Tổ Quốc.đất nước..qua trò chuyện biết anh chính là người lính lái xe trong "BTVTĐXKK" của PTD.Qua nhân vật ông Hai.Những nhân phẩm cao đẹp của người lính(dũng cảm hiên ngang đầy lạc quan.Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động.Kết Bài: _Kết thúc câu chuyện _Suy nghĩ về thế hệ cha anh...Thân Bài: 1.có mục đích.. người đọc thấm thía tình yêu làng.về người lính.Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật..gặp người sĩ quan.Kết bài: . 2..sống có lí tưởng. C.nhân dân BÀI LÀM: ( đây là bài tương đối hoàn chỉnh ^^) .với nhân dân).

Trong những ngày tháng đó anh chính là người lính lái xe làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực.cả nhưng cánh chim sa.Nhưng không phải vì thế mà họ lùi bước.những con đường huyết mạch nối giữa miền Nam và miền Bắc lại là nơi ác liệt nhất.gió sẽ lùa vào rối áo sẽ khô mau thôi.Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm nổ sát bên tai phá hủy con đường.đảm bảo an toàn cho những chuyến hàng rồi họ nghĩ mưa sẽ ngừng.cái chết luôn rình rập bên họ nhưng họ vẫn là những con người lạc quan.bom đạn của kẻ thù đâu có làm họ nãn chí..Khi được học "Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính" tôi cứ luôn suy nghĩ rằng những khó khăn gian khổ ác liệt đó chỉ có nhân vật trong bài thơ mới vượt qua được nhưng đó là những suy nghĩ sai lầm của tôi bởi được gặp.bọn họ cũng chưa cần rửa rồi nhìn nhau cất tiếng cười ha ha.phía ấy là tương lai của đất nước được giải phóng.Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm dội xuống những con đường này nhằm cắt đứt sự tiếp viện của miền Bắc cho miền Nam.cái vắt tay qua ô cửa kính vỡ đã làm cho tình đồng đội của họ thấm thiết hơn rồi những bữa cơm bên bếp Hoàng Cầm với những cái bát.họ vẫn ung dung lái những chiếc xe không kính đó băng băng đi tới trên những chặn đường.vũ khí..vượt qua những chặng đường ác liệt.đạn dược.Những chiếc xe không kính lại tiếp tục băng băng trên những tuyến đường ra trận.tôi mới hiểu rõ hơn về sự gian khổ ác liệt mà những người lính lái xe phải chịu đựng ngày đêm.của nhân dân được hạnh phúc.Rồi những giây phút nghỉ ngơi trên chiếc võng đu đưa.Mưa cứ tuôn cứ xối nhưng họ vẫn chưa cần thay áo và cứ ráng lái thêm vài trăm cây số nữa.Có những người còn..có những người đã hy sinh.gặp mưa thì phải ướt áo thôi.tự do.Bom đạn của giặc Mỹ đã biến cho những chiếc xe của các anh không còn kính nữa.Họ nhìn thấy đất.Trong những giây phút gặp gỡ hiểm hoi đó.Họ vẫn vui tươi.Nghe anh kể.tôi gặp người sĩ quan đang đứng thắp hương cho người đồng đội đã mất.Sự dũng cảm của các cô gái thanh niên xung phong luôn đảm bảo .kể cho nhau nghe sự ác liệt của những cung đường đã đi qua.Tôi và người sĩ quan đó trò chuyện rất vui vẻ và thật tình cờ tôi biết được người sĩ quan này chính là anh lính lái xe trong "Bài Thơ Về Tiểu Ðội Xe Không Kính" của Phạm Tiến Duật năm xưa.những người đồng đội của anh. Người sĩ quan kể với tôi rằng cuộc kháng chiến của dân tộc ta vô cùng ác liệt.tôi mới hiếu rõ hơn về họ.sờn lòng.yêu đời.thấy cả ánh sao đêm.Người sĩ quancòn kể với tôi rằng không có kính cũng thật bất tiện nhưng họ vẫn lái những chiếc xe đó.trên con đường TS này.họ nhìn thẳng về phía trước..nhìn thấy trời.quây quần bên nhau như một đại gia đình của những người lính lái xe TS.Anh sĩ quan lại kể cho tôi nghe trên những cung đường vận chuyển đó anh luôn được gặp những người bạn.bụi ùa vào làm những mái tóc đen xanh trở nên trắng xóa như người già.Ôi! tiếng cười của họ sao thật nhẹ nhõm.tinh nghịch.Nhân một chuyến đi thăm nghĩa trang liệt sĩ.Gian khổ ác liệt.được trò chuyện với người chiến sĩ lái xe năm xưa.đôi đũa dùng chung.

Ông yêu quí và tự hào về làng Chợ Dầu và hay khoe về nó một cách nhiệt tình.giải phóng miền Nam.giọng lạc hẳn đi ”nhằm hy vọng điều vừa nghe không phải là sự thật.đầy lạc quan. Kim Lân đã đặt nhân vật vào tình huống gay gắt để bộc lộ chiều sâu tình cảm của nhân vật. Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong tác phẩm “Làng ”của Kim Lân Kim Lân là nhà văn có vốn sống vô cùng phong phú và sâu sắc về nông thôn Việt Nam.thùng xe rách xước.yêu làng .nắm vững khoa học.da mặt tê rân rân .ông tìm cách lảng về.Ở nơi tản cư ông luôn nhớ về làng.những thiếu thốn này không ngăn cản được những chiếc xe vẫn chạy băng băng về phía trước.Bom đạn Mỹ hạ xuống bất cứ lúc nào.ông Hai quay phắt lại.với nhân vật chính là ông Hai . hào hứng.Các sáng tác của ông đều xoay quanh cảnh ngộ và sinh hoạt của người nông dân.cho những chuyến xe thông suốt.nhiệm vụ của họ đang làm vô vùng nguy hiểm.rồi không có mui xe. Tôi và anh sĩ quan chia tay nhau sau cuộc gặp gỡ và nói chuyện rất vui.vì nhân dân.phía trước ấy là miền Nam ruột thịt.kĩ thuật để xây dựng một đất nước văn minh.nghe nhắc đến tên làng.Đúng là con đường của họ đang đi.thống nhất đất nước.Tôi khâm phục những người lính lái xe bởi tình yêu nước.ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được.Nghĩ đến hình ảnh những chiếc xe băng băng về phía trước tôi lại nghĩ đến những người lính lái xe.yêu nước và gắn bó với kháng chiến .lắp bắp hỏi.Họ thật dũng cảm. đau đớn :“Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại.Những chuyến hàng của họ đã góp phần tạo nên chiến thắng của dân tộc ta:chiến thắng mùa xuân năm 1975.Anh sĩ quan còn nói cho tôi biết những chiếc xe ấy không chỉ mất kính mà còn mất cả đèn.hiện đại.một lão nông hiền lành . Văn bản “Làng” đươc sáng tác vào thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp .đang phấn chấn.theo dõi tin tức kháng chiến và hỏi thăm về Chợ Dầu .Tin bất ngờ ấy vừa lọt vào tai đã khiến ông bàng hoàng. Ông Hai cũng như bao người nông dân quê từ xưa luôn gắn bó với làng quê của mình.Từ phòng thông tin ra.ý chí kiên cường của họ và tôi hiểu rằng thế hệ chúng tôi luôn phải ghi nhớ công ơn của họ.Ông cất tiếng hỏi.náo nức vì những tin vui của kháng chiến thì gặp những người tản cư.hiên ngang.một lúc lâu ông mới rặn è è nuốt một cái gì vướng ở cổ.nào ngờ biết tin dữ:“Cả làng Việt gian theo Tây ”.Đó là tin làng chợ Dầu lập tề theo giặc.Trước lời khẳng định chắc chắn của những người tản cư.Tình yêu làng của ông càng được bộc lộ một cách sâu sắc và cảm động trong hoàn cảnh thử thách .đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt .cần phải phấn đấu trở thành công dân gương mẫu.có chút ngang tàng nhưng họ sống và chiến đấu vì Tổ Quốc.cả ngày lẫn đêm.Tiếng chửi văng vẳng của người đàn bà cho con bú khiến ông tê tái :“cha mẹ tiên sư nhà chúng nó .hy vọng được nghe những tin tốt lành.

.Về đến nhà ông chán chường “nằm vật ra giường”.với nước thật sâu nặng.thiêng liêng.ông nắm chặt hai tay lại mà rít lên: “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này ”..nước mắt “chảy ròng ròng trên hai má”.Ông xúc động.“chỉ ở nhà nghe ngóng binh tình”.Dẫu cả làng Việt gian thì ông vẫn một lòng trung thành với kháng chiến.ông chỉ còn biết tìm niềm an ủi trong lời tâm sự với đứa con trai nhỏ.Những suy nghĩ của ông như những lời nguyện thề son sắt.Ông căm thù những kẻ theo Tây.phản bội làng.đang bàn tán đến cái chuyện làng mình.với Cụ Hồ … May thay.Ông đau xót nghĩ đến cảnh “người ta ghê tởm.Cải chính cái tin làng chợ Dầu chúng tôi Việt gian theo Tây ấy mà .được người ta còn thương.lúc nào cũng nơm nớp tưởng người ta đang để ý. tấm lòng bố con ông là như thế đấy.Đến đâu cũng chỉ mấy câu“Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ ! Đốt sạch !Đốt nhẵn ! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính.vẫn muốn cùng con khắc cốt ghi tâm.đau đớn.Niềm tin.Nỗi ám ảnh.ông thoáng có ý nghĩ quay về làng nhưng rồi lại gạt phắt ngay bởi “về làng tức là bỏ kháng chiến. Tình thế của ông càng trở nên bế tắc.Ông mong “anh em đồng chí biết cho bố con ông.Ông đóng khăn áo chỉnh tề đi với người báo tin và khi trở về “cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi vui rạng rỡ hẳn lên ”.Ông hỏi con những điều đã biết trước câu trả lời:“Thế nhà con ở đâu?”.Ông kiểm điểm lại từng người trong óc.bỏ Cụ Hồ ”.“thế con ủng hộ ai ?”…Lời đứa con vang lên trong ông thiêng liêng mà giản dị:“Nhà ta ở làng Chợ Dầu”.Ông Hai sung sướng như được sống lại.nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông.có bao giờ dám đơn sai. Tình yêu làng lúc này đã lớn rộng thành tình yêu nước bởi dẫu tình yêu.Bởì thế mà ông càng xót xa.là “cam chịu quay trở lại làm nô lệ cho thằng Tây”.day dứt.Ông đau đớn.nhìn đàn con nước mắt ông cứ giàn ra “ chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư?Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?”.Ông Hai đã lựa chọn một cách đau đớn và dứt khoát:“Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù!”. Trong tâm trạng bị dồn nén và bế tắc ấy.Tấm lòng của ông với làng.tuyệt vọng khi bà chủ nhà có ý đuổi gia đình ông với lý do không chứa người của làng Việt gian.người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước”.lật đật đi khoe với mọi người.tin đồn thất thiệt về làng Chợ Dầu được cải chính .Nói với con mà thực ra là đang trút nỗi lòng mình.niềm tin và tự hào về làng Dầu có bị lung lay nhưng niềm tin và Cụ Hồ và cuộc kháng chiến không hề phai nhạt.Trong lúc tưởng tuyệt đường sinh sống ấy.tủi hổ như chính ông là người có lỗi..nỗi ngờ giằng xé trong ông.Ông mua cho con bánh rán đường rồi vội vã. thấy họ đều có tinh thần cả “có đời nào lại cam tâm làm cái điều nhục nhã ấy ”.“ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm !”…Những điều ấy ông đã biết.cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát”..chết thì chết có bao giờ dám đơn sai ”.Suốt mấy ngày liền ông chẳng dám đi đâu.Dù đã xác định thế nhưng ông vẫn không thể dứt bỏ tình cảm của mình đối với quê hương.

sinh động.Mọi sinh hoạt của anh trông cả vào sự chăm sóc của vợ con .anh nhận ra thời gian của mình chẳng còn bao lâu nữa . Căn bệnh liệt gắn chặt Nhĩ vào giưuờng bệnh .ngôn ngữ đối thoại.Nhĩ để ý “thấy Liên mặc áo vá .Chính vào lúc nhận ra vẻ đẹp và sự giàu có của bến quê cũng là lúc Nhĩ hiểu ra một cách đau xót .Ông khoe nhà mình bị đốt sạch. Toàn bộ câu chuyện xoay quanh nhân vật Nhĩ trong những ngày cuối đời .bởi một ngưuời “đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất ” lại chưua từng đặt chân lên “cái bờ bên kia sông Hồng ngay truước cửa sổ nhà mình ”.con sông Hồng màu đỏ nhạt .tự nhiên như cuộc sống cùng với những mâu thuẫn căng thẳng.Nguyễn Minh Châu có nhiều những tìm tòi quan trọng góp phần đổi mới văn học nưu?c nhà . “Bến quê ” là tác phẩm tiêu biểu cho đề tài đó .yêu nước và gắn bó với kháng chiến.Đó là một niềm vui kỳ lạ.” “Ông cứ múa tay lên mà khoe với mọi người”. đồng thời còn thể hiện sự am hiểu và gắn bó sâu sắc của nhà văn với người nông dân và công cuộc kháng chiến của đất nước. Qua nhân vật ông Hai ta hiểu thêm về vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược :Yêu làng.độc thoại và độc thoại nội tâm đa dạng.vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông …Những cảnh sắc vốn quen thuộc gần gũi nhưung duường nhuư rất mới mẻ đối với anh .Có lẽ vì thế mà tác phẩm “Làng ” xứng đáng là một trong những truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại Suy nghĩ về nhân vật Nhĩ trong tác phẩm "BQ" Là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn học kháng chiến chống Mỹ .thể hiện một cách đau xót và cảm động tình yêu làng.anh mới cảm nhận thấm thía về nguười vợ của mình .dồn đẩy.yêu nước.Nhĩ phát hiện ra vẻ đẹp lạ lùng của bãi bồi bên kia sông .Chuỗi nghịch lý bắt đầu chính trong những ngày ấy .ánh nắng sớm .đốt nhẵn như là minh chứng khẳng định làng ông không theo giặc.Bởi lẽ.tinh thần hy sinh vì cách mạng của người dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược .thậm chí còn rất sung sướng. Mất hết cả cơ nghiệp mà ông không hề buồn tiếc.bằng trực giác .trong sự cháy rụi ngôi nhà của riêng ông là sự hồi sinh về danh dự của làng chợ Dầu anh dũng kháng chiến. Sáng hôm ấy .Cảnh vật nơi ấy đẹp nhưu thơ nhưu hoạ :Những bông bằng lăng cuối mùa thưua thớt nhung đậm sắc .Láo!Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả .Bị cột chặt trên giuờng bệnh .Truyện ngắn của ông thưuờng chứa đựng những suy ngẫm trải nghiệm sâu sắc về con ngưuời và cuộc đời . bức bối đã góp phần không nhỏ tạo nên thành công của câu chuyện. Cách miêu tả chân thực..hạnh phúc.

Nhĩ đã tìm thấy được nơi nưưuơng tựa là gia đình trong những ngày này ”.bình dị mà sâu xa của cuộc sống . Với anh.Nhĩ thu hết tàn lực .Sự nhận thức này chỉ đến đưưuợc với ta khi đã từng trải .Anh không trách con vì “nó đã thấy gì hẫp dẫn bên kia sông đâu ”. khi nhận ra vẻ đẹp qua ô cửa sổ .Phải chăng anh đang nôn nóng thúc giục con trai hãy mau hơn kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày ?Và duờng nhưu nó còn có ý nghĩa khái quát hơn :Muốn thức tỉnh mọi ngưuời vưuợt lên những cái vòng vèo hoặc chùng chình trên đưuờng đời để .Nhĩ bừng dậy nỗi khát khao cháy lòng và vô vọng là một lần đuược đặt chân lên bãi bồi bên kia sông .Oái oăm thay . tin cậy sau cả một đời bôn tẩu .Nhĩ nhờ con trai thay mình sang sông .giơ cánh tay gầy guộc “khoát khoát y nhuư đang khẩn thiết ra hiệu cho một ngưuời nào đó ”. Song nghịch lý của câu chuyện không chỉ có thế .Vì thế đó là sự thức tỉnh pha lẫn niềm ân hận xót xa : “Hoạ chăng chỉ có anh đã từng trải .những giá trị dễ bị ta vô tình .đặt chân lên bãi phù sa màu mỡ .kiếm tìm .khi Nhĩ tuưởng tuượng chính mình như một nhà thám hiểm đang chậm rãi đặt từng bưuớc chân lên mặt đất dấp dính phù sa .kể cả nguười vợ suốt một đời yêu thuương và tận tuỵ .Nhĩ -con ngưuời của một thời huy hoàng.Cậu con trai có thể lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày.đã đi một cách miễn cưưuỡng và bị cuốn vào trò chơi phá cờ thế trên hè phố .đứa con không hiểu ưuớc muốn của cha .vô tình với tất cả những gì gần gụi xung quanh .Sự thấu hiểu muộn màng trong những ngày cuối đời dù sao cũng đem lại cho anh sự bình yên.Nhĩ xúc động mạnh .Trưuớc khi ốm anh chỉ biết đến những chân trời xa ngát với những công việc cao sang mà thờ ơ .Giờ đây Nhĩ mới thực sự thấu hiểu và biết ơn vợ sâu sắc bởi “tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tảo tần và chịu đựng hy sinh từ bao đời xưa và cũng chính nhờ điều đó. bây giờ đó thực sư? là miền đất xa lắc vì Nhĩ “lực bất tòng tâm ” ” . ở cuối chuyện .đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết mọi sự giàu có lẫn vẻ đep của bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia cả trong những nét tiêu sơ và cái điều riêng anh khám phá thấy giống nhuư một niềm say mê pha lẫn nỗi ân hận đau đớn ” .chân dung anh khác thưuờng “mặt mũi đỏ rựng . Không thể tự làm điều mình khao khát. “những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve bên vai anh ”.”.Với Nhĩ .Khi con đò sắp chạm vào bờ đất bên này . cho đến khi không còn khả năng đi lại mới phát hiện ra vẻ đẹp của bến quê cũng nhưu sự tảo tần và đức hy sinh của vợ .đó là lúc cuối đời khi phải nằm liệt trên giưuờng bệnh. mà sau nhiều tháng ngày bôn tẩu tìm kiếm.Từ đó Nhĩ nghiệm ra một qui luật khá phổ biến của đời ngưuời “Con nguười ta trên đưuờng đời thật khó tránh đuợc những điều vòng vèo hoặc chùng chình”.đu nguười lên cửa sổ . cuốn nguười ta đi .anh nói với vợ những lời xót xa.Khát khao đó mang ý nghĩa sâu sắc bởi đó chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững .Cũng trong buổi sáng hôm ấy. ân hận : “Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm ”.bỏ qua và quên lãng nhất là lúc còn trẻ khi những khát vọng xa vời vẫy gọi .hai mắt long lanh chứa môt nỗi say mê đầy đau khổ ”.

mong ước lớn nhất của nàng không phải là công danh phú quí mà là khao khát ngày chồng về “mang theo hai chữ bình yên thế là đủ rồi”.Nguyễn Dữ đã đặt những lời ca ngợi đẹp đẽ nhất về Vũ Nương vào miệng của chính mẹ chồng nàng khiến nó trở nên vô cùng ý nghĩa “sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức .giọng văn thầm trầm ẩn chứa những chiêm nghiệm .Phải nói rằng Nguyễn Dữ không có ý định cho Vũ Nương mang đức tính của một phụ nữ yêu nước hay một mỹ nhân nơi gác tía lầu son .dù Trương Sinh con nhà hào phú tính vốn đa nghi.quê hưuơng .ma chay tế lễ chu tất khi mẹ chồng qua đời.suy ngẫm và cách xây dựng nhiều hình ảnh .Những ngày chồng đi xa.suy ngẫm của tác giả đã góp phần không nhỏ tạo nên những ấn t?ương riêng cho tác phẩm .tinh tế . Tác phẩm là tiếng nói đồng cảm.nết na tên là Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương.Trong những ngày đoàn viên ít ỏi.Vũ Nương là người phụ nữ bình dân vốn con kẻ khó có một khát khao bao trùm cả cuộc đời-Đó là thú vui nghi gia nghi thất.dâu thảo.chi tiết mang ý nghĩa biểu tưuợng tác giả đã tạo nên ý nghĩa sâu xa cho tác phẩm.giống dòng tươi tốt con cháu đông đàn.xanh .Nàng mang đầy đủ vẻ đẹp của một người phụ nữ lý tưởng “tính đã thuỳ mỵ nết na lại thêm có tư dung tốt đẹp ”. giữ gìn khuân phép nên gia đình không khi nào phải thất hoà.ngợi ca của tác giả đối với con người đặc biệt là người phụ nữ.chăm sóc thuốc thang tận tình khi mẹ chồng đau yếu. Suy nghĩ về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”của Nguy Trong văn học Việt Nam đã có không ít tác phẩm mang tên gọi truyền kỳ hoặc có tính chất truyền kỳ song được tôn vinh là “ thiên cổ kỳ bút” thì cho đến nay chỉ có một “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ .Khi tiễn chồng đi lính.hứơng tới những giá trị đích thực vốn rất gần gũi bình dị mà bền vững ! Bằng cách tạo dựng chuỗi nghịch lý để nhân vật tự nhận thức.“Chuyện người con gái Nam Xương” được rút trong tập những câu chuyện kỳ lạ đó . đối với vợ thường phòng ngừa quá sức nhưng nàng khéo léo cư xử.thức tỉnh trong ta sự trân trọng vẻ đẹp về những gì bình dị . nàng thực sự là một người mẹ hiền.Nhân vật chính của tác phẩm là Vũ Nương đã để lại trong lòng người đọc niềm cảm thương sâu sắc.trân trọng.Ngòi bút miêu tả thiên nhiên đẹp .Càng đi sâu vào câu chuyện ta càng thấy vẻ đẹp của nàng được tác giả tập trung thể hiện rõ nét. Những dòng cuối cùng của “Bến quê” khép lại nhuưng dưu âm từ những trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và con ngưuười dưuờng nhưu vẫn còn lan toả đâu đây.xứ sở .gần gũi của gia đình .Toàn bộ câu chuyện xoay quanh cuộc đời và số phận bi thảm của người con gái xinh đẹp.

đánh đập và đuổi nàng đi bất chấp sự can ngăn của xóm giềng và lời than rớm máu của người vợ trẻ. chung tình mà bạc mệnh ! Câu chuyện về nàng Vũ Nương khép lại nhưng dư âm về sự bất bình.Trong cái nhìn nâng niu trân trọng của ông.Trong suốt ba năm chồng đi chinh chiến.vun vén cho hạnh phúc.Dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ.Vũ Nương là con người của gia đình.nghe lời con trẻ đinh ninh là vợ hư.thần sông có linh xin ngài chứng giám.điều đâu bay buộc tiếng chịu nhuốc nhơ.nuôi con:“cách biệt ba năm giữ gìn một tiết.dâu thảo. hiếu nghĩa. khắc khoải niềm thương và nỗi ám ảnh dai dẳng về một người thiếu phụ trẻ trung.đức hạnh của nàng là đức hạnh của một người vợ hiền.thiếp nếu đoan trang giữ tiết.một ngày kia chồng nàng đi chinh chiến trở về.Người thiếu phụ tận tuỵ .xuống nước xin làm ngọc Mỵ Nương.tuyệt vọng bởi “bình rơi.Phải chăng đó cũng chính là dụng ý của tác giả:người tốt sẽ được được đền bù xứng đáng.trinh bạch gìn lòng.hiếu nghĩa .mưa tan.Có lẽ vì thế mà em càng yêu mến. Suy nghĩ về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam X .người thiếu phụ đau khổ nguyền rằng:“Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu chồng con rẫy bỏ.xót thương của tác giả đối với người thiếu phụ chung tình mà bạc mệnh! Thương nàng ông sáng tạo ra một thế giới thần tiên êm đềm trong chốn làng mây cung nước để Vũ Nương được sống như một nàng tiên .mắng nhiếc.liễu tàn trước gió ”.Nhưng tai ác thay .xinh đẹp .lời văn thống thiết như cực tả nỗi niềm đồng cảm. vô nhân đạo thì còn mãi. ở hiền ắt sẽ gặp lành? Điều gì đã khiến người phụ nữ đẹp người.tận tuỵ và chung tình đó đáng ra phải được đền bù xứng đáng bằng một gia đình êm ấm. phúc lộc đề huề.Vũ Nương được mọi người yêu mến bằng tính tình.vào đất xin làm cỏ Ngu Mĩ…” Với nàng .cái chết là hành động quyết liệt cuối cùng cần phải có để bảo toàn danh dự .trái tim tan nát.một người yêu mến cuộc sống gia đình và làm mọi việc để giữ gìn.Không có cơ hội để thanh minh. Người phụ nữ dịu dàng .Đến bến Hoàng Giang.trâm gãy.tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng .Nhịp văn dồn dập .ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”.người thiếu phụ trẻ trung xinh đẹp đó một lòng một dạ chờ chồng.mây tạnh.kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.sen rũ trong ao.đẹp nết đó phải tìm đến cái chết bi thảm?Đó chính là do chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã làm cho gia đình phải li tán. căm ghét xã hội phong kiến bất lương.phẩm hạnh của nàng.hiếu nghiã ấy còn là một người vợ thuỷ chung đối với chồng . trân trọng xã hội tốt đẹp mà em đang sống hôm nay. Đó còn là lễ giáo phong kiến hà khắc với tư tưởng nam quyền độc đoán đã biến Trương Sinh thành một bạo chúa gia đình… Để ngàn đời trên bến Hoàng Giang.

một ngày kia chồng nàng đi chinh chiến trở về.hiếu nghĩa .giống dòng tươi tốt con cháu đông đàn.Trong cái nhìn nâng niu trân trọng của ông.Trong suốt ba năm chồng đi chinh chiến.liễu tàn trước .ngợi ca của tác giả đối với con người đặc biệt là người phụ nữ.nuôi con:“cách biệt ba năm giữ gìn một tiết.Nàng mang đầy đủ vẻ đẹp của một người phụ nữ lý tưởng “tính đã thuỳ mỵ nết na lại thêm có tư dung tốt đẹp ”. phúc lộc đề huề.Trong văn học Việt Nam đã có không ít tác phẩm mang tên gọi truyền kỳ hoặc có tính chất truyền kỳ song được tôn vinh là “ thiên cổ kỳ bút” thì cho đến nay chỉ có một “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ .Toàn bộ câu chuyện xoay quanh cuộc đời và số phận bi thảm của người con gái xinh đẹp.Dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ.Khi tiễn chồng đi lính.Nguyễn Dữ đã đặt những lời ca ngợi đẹp đẽ nhất về Vũ Nương vào miệng của chính mẹ chồng nàng khiến nó trở nên vô cùng ý nghĩa “sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức .Phải nói rằng Nguyễn Dữ không có ý định cho Vũ Nương mang đức tính của một phụ nữ yêu nước hay một mỹ nhân nơi gác tía lầu son . nàng thực sự là một người mẹ hiền.tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng .dâu thảo.mưa tan.đánh đập và đuổi nàng đi bất chấp sự can ngăn của xóm giềng và lời than rớm máu của người vợ trẻ.dù Trương Sinh con nhà hào phú tính vốn đa nghi.Vũ Nương là con người của gia đình.trâm gãy.nghe lời con trẻ đinh ninh là vợ hư.tận tuỵ và chung tình đó đáng ra phải được đền bù xứng đáng bằng một gia đình êm ấm. đối với vợ thường phòng ngừa quá sức nhưng nàng khéo léo cư xử.người thiếu phụ trẻ trung xinh đẹp đó một lòng một dạ chờ chồng. Tác phẩm là tiếng nói đồng cảm. Người phụ nữ dịu dàng .phẩm hạnh của nàng.hiếu nghiã ấy còn là một người vợ thuỷ chung đối với chồng .nết na tên là Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương.ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”.Những ngày chồng đi xa.đức hạnh của nàng là đức hạnh của một người vợ hiền.trân trọng.ma chay tế lễ chu tất khi mẹ chồng qua đời.Người thiếu phụ tận tuỵ .xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.sen rũ trong ao.chăm sóc thuốc thang tận tình khi mẹ chồng đau yếu.một người yêu mến cuộc sống gia đình và làm mọi việc để giữ gìn.trái tim tan nát.mong ước lớn nhất của nàng không phải là công danh phú quí mà là khao khát ngày chồng về “mang theo hai chữ bình yên thế là đủ rồi”.Trong những ngày đoàn viên ít ỏi.dâu thảo.Vũ Nương được mọi người yêu mến bằng tính tình.Không có cơ hội để thanh minh.Vũ Nương là người phụ nữ bình dân vốn con kẻ khó có một khát khao bao trùm cả cuộc đời-Đó là thú vui nghi gia nghi thất.mây tạnh.mắng nhiếc.vun vén cho hạnh phúc. giữ gìn khuân phép nên gia đình không khi nào phải thất hoà.Càng đi sâu vào câu chuyện ta càng thấy vẻ đẹp của nàng được tác giả tập trung thể hiện rõ nét.Nhưng tai ác thay .Nhân vật chính của tác phẩm là Vũ Nương đã để lại trong lòng người đọc niềm cảm thương sâu sắc.“Chuyện người con gái Nam Xương” được rút trong tập những câu chuyện kỳ lạ đó .tuyệt vọng bởi “bình rơi.

gió ”.điều đâu bay buộc tiếng chịu nhuốc nhơ.Nhịp văn dồn dập .vào đất xin làm cỏ Ngu Mĩ…” Với nàng . Bởi mẹ chính là người đã chăm sóc. ở hiền ắt sẽ gặp lành? Điều gì đã khiến người phụ nữ đẹp người. Suy nghĩ về tình mẹ qua 2 đoạn thơ . vô nhân đạo thì còn mãi. chung tình mà bạc mệnh ! Câu chuyện về nàng Vũ Nương khép lại nhưng dư âm về sự bất bình. hiếu nghĩa.người thiếu phụ đau khổ nguyền rằng:“Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu chồng con rẫy bỏ.đẹp nết đó phải tìm đến cái chết bi thảm?Đó chính là do chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã làm cho gia đình phải li tán. vất vả. căm ghét xã hội phong kiến bất lương.thiếp nếu đoan trang giữ tiết. vượt qua tất cả những khó khăn.xinh đẹp .lời văn thống thiết như cực tả nỗi niềm đồng cảm.cái chết là hành động quyết liệt cuối cùng cần phải có để bảo toàn danh dự . bồi hồi. nuôi nấng ta khôn lớn từng ngày vượt qua bao gian lao.Đến bến Hoàng Giang..Phải chăng đó cũng chính là dụng ý của tác giả:người tốt sẽ được được đền bù xứng đáng.xót thương của tác giả đối với người thiếu phụ chung tình mà bạc mệnh! Thương nàng ông sáng tạo ra một thế giới thần tiên êm đềm trong chốn làng mây cung nước để Vũ Nương được sống như một nàng tiên . Khi viết về người mẹ Chế Lan Viên đã viết : “Con zù lớn vẫn là con của mẹ Đy hết đời lòng mẹ vẫn theo con” (Con cò – Chế Lan Viên) Nguyễn Duy cũng đã viết : “Ta đy trọn kiếp con người Cũng không đy hết mấy lời mẹ ru” ( Nỗi buồn nhớ mẹ ta xưa – Nguyễn Duy) Em hãy nêu suy nghĩ về tình mẹ. Đó còn là lễ giáo phong kiến hà khắc với tư tưởng nam quyền độc đoán đã biến Trương Sinh thành một bạo chúa gia đình… Để ngàn đời trên bến Hoàng Giang.thần sông có linh xin ngài chứng giám. Vì vậy mà khi viết về mẹ Chế Lan Viên có câu : . Bài làm Mỗi khi nhắc về mẹ. trân trọng xã hội tốt đẹp mà em đang sống hôm nay. chắc hẳn trong lòng mỗi con người chúng ta ko ai là ko khỏi xao xuyến. khắc khoải niềm thương và nỗi ám ảnh dai dẳng về một người thiếu phụ trẻ trung.xuống nước xin làm ngọc Mỵ Nương.Có lẽ vì thế mà em càng yêu mến..trinh bạch gìn lòng. thử thách của cuộc đời.

lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào long mẹ. con là do mẹ sjnh ra. vấn đề đang được xã hội lên án gay gắt. Vậy mà trong xã hội hiện nay. Niềm mong ước. Những con người đó liệu có còn lương tâm hay ko khi họ đối xử như vậy với chính ruột thịt của mình. thay đổi ra sao thỳ con vẫn là con của mẹ. chăm bẵm ta từ khi ta mới chạp chững những bước đầu tiên cho đến khi ta bước những bước đy vững chắc trên con đường đời. Và ko ai biết mẹ con ta ở chốn nào”. che chở. mẹ lận đận sớm hôm để lo cho cuộc sống con đc trọn vẹn. làm những điều mà ko ai có thể ngờ tới. ngọt bùi thỳ “cũng không đy hết đc những lời ru của mẹ”. Mẹ như biển cả ôm lấy những ngọn sóng bé bỏng là con. sợ hãi hay vui mừng chúng cũng chỉ gọi mẹ.Ta-go đã viết “ Con sẽ là sóng và mẹ sẽ là bến bờ kì lạ. “Mẹ ơi” hai từ thiết tha ấy luôn đc chúng thốt lên mỗi khj vui hay buồn. mẹ chính là bến bờ vô tận luôn mở rộng lòng để con sà vào đó. Như R. lời ru của mẹ là những giai điệu êm dịu. luôn có một sợi dây vô hình nối . Mẹ hi sinh tất cả để giành cho con những gì tốt đẹp nhất. Cho zù con có khôn lớn nhường nào. Mẹ theo từng bước chân ta từ khi còn bé cho tới lúc trưởng thành. sẵn sàng hy sinh tất cả cho kon đc h. Mẹ nuôi nấng. Mẹ và con có một sự liên kết mật thiết.“Con zù lớn vẫn là con của mẹ Đy hết đời lòng mẹ vẫn theo con” Hay như Nguyễn Duy đã viết : “Ta đy trọn kiếp con người Cũng không đy hết mấy lời mẹ ru” Tình mẹ cao cả và bao la. trìu mến. Mẹ yêu con hơn cả bản thân mình. một thứ tình cảm đẹp đến mãnh liệt. manh áo…sự vất vả. đối xử tệ bạc với cha mẹ. khó khăn để cho kon khôn lớn nên người. Đâu có khác nào tự lấy dao cứa vào da thịt mình ? Mẹ là thân cò lặn lội qua bao sóng gió. bất hiếu. một số người con ko hiểu đc điều ấy. lăn. tận tụy ấy ko thể kể hết đc bằng lời. niếm trải bao cay đắng. con lăn. bảo vệ cho con. đối với chúng mẹ là tất cả. Tình mẹ thiêng liêng và bất diệt như vậy đó. sự yêu thương của mẹ đều được gửi gắn vào những lời ru thiết tha ấy. Để “Con zù lớn vẫn là con của mẹ” và “Đy hết đời lòng mẹ vẫn theo con”. suốt cuộc đời mẹ sẽ luôn ở bên con. mẹ thức trắng đêm trông nom khi con ốm.p. Con có “đy trọn cả kiếp người” . đẹp đẽ nhất của đời người. Công ơn của mẹ ko j` có thể sánh bằng. mẹ long đong sớm chiều vì công việc để lo cho con đủ miếng cơm. Hãy để ý những đứa trẻ bé bỏng còn phụ thuộc nhiều vào mẹ ta sẽ thấy đy đâu chúng cũng chỉ theo mẹ.

sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân. bay về đồng đăng. dịu dàng.. Làm sao có thể gạt bỏ một thứ tình cảm gắn chặt với cuộc đời ta kể từ khj ta bắt đầu làm quen với cuộc đời. Câu ca dao khá quen thuộc với người Việt Nam. hãy làm sao cho xứng với những j` mẹ đã làm cho ta. cảm ơn mẹ đã sinh ra ta. người con cũng ko thể gạt bỏ đc. Phật tổ có câu: “ Nếu ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc Đừng để vương buồn lên mắt mẹ nghe không !” Những ai còn mẹ.. Con người chúng ta ai cũng đều có rất nhiều thứ tình cảm đẹp như tình bạn. những dòng thơ thật nhẹ nhàng. khi con còn nằm trong vòng tay của mẹ. thiêng liêng và bất diệt sẽ theo ta đến suốt cuộc đời. cho ta đc niếm trải hương vị của cuộc đời. còn đc ở bên mẹ.. Các nhà văn giành hết tình cảm của mình vào các tác phẩm để tặng mẹ . con còn bế trên tay . Tình mẫu tử ấp áp. nhà thơ trữ tình Chế Lan Viênđã sử dụng hình ảnh cánh có trong những câu ca dao để ca ngợi tình mẹ thiêng liêng. Đặc biệt là hình ảnh người mẹ. có hình . thấm đẫm tình thương của mẹ.. êm ái. một thứ tình cảm bất diệt. đẹp đẽ. ở các câu bốn và câu tám chữ. tình đồng đội. còn với mỗi chúng ta thỳ long hiếu thảo luôn là những tác phẩm đẹp đẽ. "con vạc". tình mẹ. cao cả qua bài thơ "Con cò". êm ái. điệp ngữ "con cò" được nhắc đi nhắc lại như là lời ru ngân nga. Bay từ cửa phủ. quý giá và sâu sắc nhất mà chúng ta có thể tạo ra để tặng cho mẹ của mình.chặt con với mẹ từ khj con được sinh ra. cũng có lẽ vì thế mà năm 1962.. đồng chí… nhưng ko có thứ tình cảm nào có thể vượt qua đc sự thiêng liêng và ấm áp của tình mẫu tử. sóng gió của cuộc đời.. Bỏi con người ta có thể gạt bỏ những tình cảm kja bởi một lý do nào đó nhưng đối với tình mẫu tử thỳ cho zù có bất cứ lý do j` đy chăng nữa. hình ảnh con cò cũng được mươn để ví cho hình ảnh những người phụ nữ. Hãy luôn gìn giữ nó bởi nó chính là nguồn động lực lớn nhất giúp ta vượt qua những khó khăn. còn đc mẹ yêu thương che trở thỳ hãy hiếu thảo với mẹ. và sợi dây vô tình ấy chính là tình yêu thương mẹ giành cho con sẽ bên con đến suốt cuộc đời. Hãy cảm ơn vì điều đó. như là lời mẹ muốn kể cho con nghe về hình ảnh con cò bằng chất giọng mượt mà. con nào biết đến "con cò". con nào biết đến "những cành mềm mẹ hát" nhưng mẹ đã mang cánh cò đến với con trong những lời ru ấm êm của mẹ.một trong những bài thơ tiêu biểu và nổi tiếng của ông.. hình ảnh con cò đã được chế lan viên sử dụng làm hình tượng bao trùm lên toàn bài thơ mà đâu đó thấp thoáng có hình ảnh của mẹ. đừng để mẹ phải buồn long.

ân cần của mẹ đối với con. ngàn khe nhưng có bao giờ con hiểu hết lòng của mẹ: . hình ảnh cò lẻ loi một mình kiếm ăn trong đêm tối nhưng phải chăng đó cũng lả hình ảnh của mẹ. Cánh cò trong những lời ru lại mang những suy nghĩ triết lý sâu sắc. Con sẽ không ở bên mẹ nữa nhưng con biết có 1 chân lý cuộc đời không bao giờ thay đổi: dù ở gần con dù ở xa con ……. mẹ nâng niu con trong từng câu hát và cũng là ấp iu nâng giấc con thơ. cò "sợ xáo măng" gợi lên cho ta biết bao hình ảnh. vô tận đến nhường nào. cánh của cò hai đứa đắp chung đôi. ý chí vươn lên. mẹ muốn con hãy ngủ ngon để luôn nhìn thấy cánh cò bay lượn không biết mỏi vì đã có mẹ mãi ở bên vỗ về. con sẽ lớn lên và đi trên con đường của chính mình. ……… trước hiên nhà và trong hơi mát câu văn. nuôi con lớn khôn cả về thể xác lẫn tâm hồn: “Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ” . sẽ là động lực để con đứng dậy và tiếp tục bước đi trên chính đôi chân của mình. cò "sợ gặp cành mềm". che chở: "Sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân". gian khổ. thế nhưng mẹ vẫn luôn muốn hát cho con nghe về tình yêu quê hương.và cánh cò ở đây lại là khát vọng sáng tạo. ngủ yên! ngủ yên! ngủ yên cho cò trắng đến làm quen ……. hình ảnh con cò "ăn đêm". trong lời ru của mẹ không chỉ mang đến cho con những cánh cò mà nó còn mang đến cho con hơi xuân ấm áp. Và mẹ lại vỗ về và chắp cánh cho những ước mơ của con trong câu hát ru ấy và trong cả những suy nghĩ của con. của người phụ nữ một đời vất vả với cuộc sống miêu sinh đầy khó khăn.ảnh của một người một đời tần tảo sớm khuya nuôi con khôn lớn. Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con. nhưng dù con có khôn lớn. con có đi hết trăm núi. mẹ vẫn luôn dõi theo những bước đi của con trên đường đời. mỗi lần con vấp ngã. mẹ luôn muốn con yên tâm chìm vào giấc ngủ. dòng sữa trắng trong ngọt ngào của mẹ đưa con vào giấc ngủ say nồng. đất nước và rồi con sẽ hiểu được tình yêu mà mẹ dành cho con bao la. Mai khôn lớn con theo cò đi học ……. mẹ là người cho con sự sống. Con và cò là bạn và cũng là con của mẹ. ôi! tình mẹ bao la biết mấy. mẹ sẽ luôn ở bên con. sẽ cùng nhau sánh bước trên đường đời tương lai. Một sự nhân hoá ở cánh cò để diễn tả cho sự chăm chút. cò "xa tổ". mẹ luôn mong con được hưởng trọn tình yêu thương của tuổi ấu thơ. cho dù khi con còn tấm bé cho đến lúc trưởng thành..

trong mỗi chúng ta cũng đã không ít lần hiểu lầm mẹ.một hình tượng bất tử. thế nhưng. đến hát quanh nôi. có những cay đắng lẫn ngọt bùi. và hình ảnh cò đã dần đi vào tầm thức của tuổi thơ con. kết tụ sự hi sinh. mẹ luôn là người có tấm lòng bao dung và độ lượng nhất. tất cả. cao đẹp. nó sẽ theo con suốt cuộc đời bởi vì đâu đó trong hình ảnh cánh cò kia đó là hình ảnh của người mẹ con kính yêu thế đấy. hối hận vì những lần đã hiểu lầm mẹ. nhưng chúng ta ai nào có biết tâm trạng mẹ lúc ấy. hình ảnh những con cò thật giản dị nhưng nhờ sự khéo léo của mình. lại một lần nữa ta đã hiểu được sự chịu đựng của mẹ như thế nào. mẹ luôn mong người bị ốm hôm nay không phải là con mà chính là mẹ. tội nghiệp. gian khổ để những lời yêu thương càng thêm sâu sắc. À ơi! một con cò thôi ……. chỉ là một con cò trong lời mẹ hát thôi thế nhưng có biết bao điều vừa gần gũi vừa sâu xa. đã từng nếm trải nhiều lẽ của cuộc đời thì bao giờ con cũng là con của mẹ và mẹ luôn mong muốn che chở. bao dung con như khi con còn thơ bé. một triết lý của cuộc sống nhưng sao vẫn rất nhẹ nhàng. ai đã biết. . mẹ luôn túc trực suốt đêm không chợp mắt. ai nào có biết mẹ đã khóc nhiều như thế. tất cả những gì mẹ mang đến cho con đều là những tình thương sâu thẳm tận đấy lòng của mẹ. thật ra. ai đã hiểu cho tình thương của mẹ. chế lan viên đã mượn hình ảnh ấy ví cho hình tượng của người mẹ. Khi cất lên những lời hát ru.con đi trăm núi ngàn khe chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm. nhưng bất chợt lại cảm thấy hối hận biết bao. tình mẹ thật thiêng liêng. mẹ lại khóc. vì con mà mẹ phải chịu đựng tất cả. Hai tiếng “à ơi” quen thuộc trong những lời ru được cất lên thật mượt mà. mặc dù CLV không nhắc đến những nếm trải của cuộc đời mẹ song những câu thơ của ông cho ta hiểu thêm rằng trong cánh cò kia chất chứa những nỗi nông sâu của cuộc đời mẹ. Cho dù con đã trưởng thành. vậy mà mẹ luôn vì con. mẹ khóc vì thương cho đứa con bé bỏng. ta đã cảm động biết bao. mẹ luôn tha thứ cho những lỗi lầm của con để mong con có thể vững bước trên đường đời. lời ru là một khúc hát yêu thương mà mẹ dành cho con. hình ảnh mẹ luôn đẹp nhất và rực rỡ trong lòng chúng con. người phụ nữ việt nam . vì con mà đã nhiều đêm mẹ khóc thầm không ngủ. là lúc mẹ gửi gắm trong cánh cò cả cuộc đời mẹ. rồi có những ngày con đau ốm. trước tình mẹ bao la vô tận đến thế. không chỉ có thế. m ẹ đã hoá thân thành cánh cò mang nhiều ý nghĩa sâu xa. mẹ luôn muốn nhận những gì đau khổ và vất vả nhất về mình vì con.

Cho đến tận bây giờ. người ta nhớ ngay một giọng văn như trút cả bao xúc động đắng đót vào trong những câu chuyện của ông.sưu tầm TLV số 6 suy nghĩ của em về tình mẫu tử trong "trong lòng mẹ" của Nguyên Hồng Nói đến Nguyên Hồng. Trước khi gặp mẹ: Nói một cách công bằng. Hồi ký “Những ngày thơ ấu” là kỷ niệm xót xa của cậu bé Hồng. một người đàn bà đã bị cái tội là goá chồng. nhắc đến mẹ tôi. bao giờ mẹ cũng là người tốt nhất. Sự tra tấn tinh thần thật ghê gớm. những trang viết ấy lại giúp chúng ta hiểu ra một điều thật tự nhiên giản dị: Mẹ là người chỉ có một trên đời. cô chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi. khi đọc lại những trang viết này. tình mẹ con là mối dây bền chặt không gì chia cắt được. luôn luôn “tươi cười” – khiến hình dung đến loại người “bề ngoài thơn thớt nói cười – mà trong nham hiểm giết người không dao”. nếu chỉ nhìn vào bề ngoài cuộc sống của cậu bé Hồng. Nhưng đời nào lòng thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến…” Nhưng ta cũng nhận ra những vết thương lòng đau nhói mà bé Hồng đã sớm phải gánh chịu. Đáng sợ hơn. Tình cảm của đứa con đã giúp bé vượt qua những thành kiến mà người cô đã gieo rắc vào lòng cậu “Vì tôi biết rõ. Ta chứng kiến và cảm thương cho từng khoảnh khắc đớn đau. có thể nói cậu bé ấy vẫn còn may mắn hơn bao đứa trẻ lang thang vì còn có một mái nhà và những người ruột thịt để nương tựa sau khi cha mất và mẹ bỏ đi. cậu bé Hồng đã phải sống trong cảnh hắt hủi ghẻ lạnh đến cay nghiệt của chính những người trong họ hàng. người đọc vẫn lây lan cảm giác của cậu bé sớm phải chịu thiếu thốn tình cảm. Đoạn trích Trong lòng mẹ là hồi ức đan xen cay đắng và ngọt ngào của chính nhà văn . mang theo cái dư vị đắng chát của tuổi thơ khát khao tình mẹ. Tấm lòng trẻ thơ ấy thật đáng quí. để rồi chợt nhận ra: tình mẫu tử là nguồn sức mạnh thiêng liêng và diệu kỳ. nợ nần cùng túng quá. Đối với bé Hồng. sự tàn nhẫn ấy lại dành cho đứa cháu ruột vô tội của mình. người mẹ cùng túng phải đi tha phương cầu thực. cậu đã trở thành tấm bia hứng chịu thay . chết rục bên bàn đèn thuốc phiện. Nhưng liệu có thể gọi là gia đình không khi chính những người thân – mà đại diện là bà cô ruột lại đóng vai trò người giám hộ cay nghiệt. là nguồn an ủi và chở che giúp cho đứa trẻ có thể vượt lên bao đắng cay tủi nhục và bất hạnh. đẹp nhất. Sức chịu đựng của một cậu bé cũng có chừng mực. Kỳ diệu thay. Cậu bé phải đối mặt với bà cô cay nghiệt. phải bỏ con cái đi tha phương cầu thực. Những diễn biến tâm trạng của bé Hồng trong câu chuyện đã được thuật lại bằng tất cả nỗi niềm đau thắt vì những ký ức hãi hùng kinh khiếp của tuổi thơ.cậu bé sinh ra trong một gia đình bất hạnh: người cha nghiện ngập rồi chết mòn.

để người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm. bất chấp những thành kiến ác độc: “Chỉ vì tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi. Càng thương cho cậu bé Hồng. tràn trề cảm giác hạnh phúc:“Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ. Hồi ký “Những ngày thơ ấu” là kỷ niệm xót xa của cậu bé Hồng. khoé mắt tôi đã cay cay” Dù đã kìm nén hết mức nhưng những lời độc ác kia vẫn đạt được mục đích khi đã lấy được những giọt nước mắt tủi nhục của một đứa trẻ không đủ sức tự vệ . với trò tra tấn gặm nhấm dần niềm tin con trẻ. xoa đầu tôi hỏi thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở”.cho mẹ những ghẻ lạnh. Cho đến tận bây giờ. Linh cảm và tình yêu dành cho mẹ đã không đánh lừa cậu. liệu rằng cậu bé ấy có khi nào oán trách mẹ mình đã nhẫn tâm bỏ con không? Có lẽ không bao giờ. mang theo cái dư vị đắng chát của tuổi thơ khát khao tình mẹ. Thật đẹp khi chúng ta đọc những câu văn. Từ nhận thức non nớt. có lẽ mỗi một người trong chúng ta cũng sẽ cảm nhận được tình me giống như cậu bé Hồng: “Mẹ tôi vừa kéo tay tôi. khi đọc lại những trang viết này. Ta xúc động biết bao nhiêu trước khoảnh khắc hồi hộp lo lắng của cậu bé khi sợ mình nhận nhầm mẹ. khi những uất ức nén nhịn có dịp bùng phát. bởi lẽ niềm khao khát được gặp lại mẹ lúc nào cũng thường trực trong lòng cậu bé. áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ. an ủi. để đền đáp lại là cảm giác của đứa con trong lòng mẹ .cảm giác được chở che. là nguồn an ủi và . mới thấy mẹ có một êm dịu vô cùng”. bảo bọc. Mỗi khi đứng trước mẹ. Không khóc sao được. để cậu bé được thoả lòng mong nhớ và khát khao bé nhỏ của mình. Mẹ đã trở về cùng đứa con thân yêu. được thương yêu. Dường như khoảnh khắc cười dài trong tiếng khóc kia chứa chất sự phẫn nộ và khinh bỉ không cần giấu giếm Trong thâm tâm. Liệu ta có hoà chung giọt nước mắt này chăng: “Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đìa ở cằm và cổ”. là sự diệu kỳ giúp cậu bé vượt lên nỗi cay đắng của những ngày xa mẹ. để rồi chợt nhận ra: tình mẫu tử là nguồn sức mạnh thiêng liêng và diệu kỳ. Có lẽ không cần phải bình luận thêm nhiều __________________ suy nghĩ của em về tình mẫu tử trong "trong lòng mẹ" của Nguyên Hồng Nói đến Nguyên Hồng. và gãi rôm ở sống lưng cho. thành kiến của người đời: “Tôi lại im lặng cúi đầu xuống đất: lòng tôi thắt lại. cậu bé ấy cũng đã kiên quyết bảo vệ mẹ mình. ta lại càng căm uất sự ghẻ lạnh của người đời trước những số phận bất hạnh. Ta chợt ghê sợ trước loại người như bà cô – họ vẫn lẩn quất đâu đó quanh ta. khi cậu bé có được cảm giác an toàn và được chở che trong vòng tay mẹ. Hình ảnh mẹ qua những trang viết của nhà văn thật tươi tắn sinh động. người ta nhớ ngay một giọng văn như trút cả bao xúc động đắng đót vào trong những câu chuyện của ông. để sinh nở một cách giấu giếm… Tôi cười dài trong tiếng khóc”. người đọc vẫn lây lan cảm giác của cậu bé sớm phải chịu thiếu thốn tình cảm.

một người đàn bà đã bị cái tội là goá chồng. cậu bé ấy cũng đã kiên quyết bảo vệ mẹ mình. người mẹ cùng túng phải đi tha phương cầu thực. Liệu ta có hoà chung giọt nước mắt này chăng: “Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đìa ở cằm và cổ”. Ta chợt ghê sợ trước loại người như bà cô – họ vẫn lẩn quất đâu đó quanh ta. Đối với bé Hồng. có thể nói cậu bé ấy vẫn còn may mắn hơn bao đứa trẻ lang thang vì còn có một mái nhà và những người ruột thịt để nương tựa sau khi cha mất và mẹ bỏ đi. thành kiến của người đời: “Tôi lại im lặng cúi đầu xuống đất: lòng tôi thắt lại. phải bỏ con cái đi tha phương cầu thực. Ta chứng kiến và cảm thương cho từng khoảnh khắc đớn đau. Đoạn trích Trong lòng mẹ là hồi ức đan xen cay đắng và ngọt ngào của chính nhà văn . bất chấp những thành kiến ác độc: “Chỉ vì tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những . Những diễn biến tâm trạng của bé Hồng trong câu chuyện đã được thuật lại bằng tất cả nỗi niềm đau thắt vì những ký ức hãi hùng kinh khiếp của tuổi thơ. Cậu bé phải đối mặt với bà cô cay nghiệt. với trò tra tấn gặm nhấm dần niềm tin con trẻ.cậu bé sinh ra trong một gia đình bất hạnh: người cha nghiện ngập rồi chết mòn. bao giờ mẹ cũng là người tốt nhất. Từ nhận thức non nớt. nếu chỉ nhìn vào bề ngoài cuộc sống của cậu bé Hồng. ta lại càng căm uất sự ghẻ lạnh của người đời trước những số phận bất hạnh. nhắc đến mẹ tôi. Tấm lòng trẻ thơ ấy thật đáng quí. đẹp nhất. Nhưng liệu có thể gọi là gia đình không khi chính những người thân – mà đại diện là bà cô ruột lại đóng vai trò người giám hộ cay nghiệt. chết rục bên bàn đèn thuốc phiện. nợ nần cùng túng quá. Nhưng đời nào lòng thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến…” Nhưng ta cũng nhận ra những vết thương lòng đau nhói mà bé Hồng đã sớm phải gánh chịu. Sức chịu đựng của một cậu bé cũng có chừng mực. Đáng sợ hơn. sự tàn nhẫn ấy lại dành cho đứa cháu ruột vô tội của mình. cậu bé Hồng đã phải sống trong cảnh hắt hủi ghẻ lạnh đến cay nghiệt của chính những người trong họ hàng. cậu đã trở thành tấm bia hứng chịu thay cho mẹ những ghẻ lạnh. Trước khi gặp mẹ: Nói một cách công bằng. Kỳ diệu thay. cô chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi. luôn luôn “tươi cười” – khiến hình dung đến loại người “bề ngoài thơn thớt nói cười – mà trong nham hiểm giết người không dao”. Tình cảm của đứa con đã giúp bé vượt qua những thành kiến mà người cô đã gieo rắc vào lòng cậu “Vì tôi biết rõ. Càng thương cho cậu bé Hồng. Sự tra tấn tinh thần thật ghê gớm. những trang viết ấy lại giúp chúng ta hiểu ra một điều thật tự nhiên giản dị: Mẹ là người chỉ có một trên đời. khoé mắt tôi đã cay cay” Dù đã kìm nén hết mức nhưng những lời độc ác kia vẫn đạt được mục đích khi đã lấy được những giọt nước mắt tủi nhục của một đứa trẻ không đủ sức tự vệ .chở che giúp cho đứa trẻ có thể vượt lên bao đắng cay tủi nhục và bất hạnh. tình mẹ con là mối dây bền chặt không gì chia cắt được.

và gãi rôm ở sống lưng cho. Ta xúc động biết bao nhiêu trước khoảnh khắc hồi hộp lo lắng của cậu bé khi sợ mình nhận nhầm mẹ. tràn trề cảm giác hạnh phúc:“Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ. Hình ảnh mẹ qua những trang viết của nhà văn thật tươi tắn sinh động. để sinh nở một cách giấu giếm… Tôi cười dài trong tiếng khóc”. liệu rằng cậu bé ấy có khi nào oán trách mẹ mình đã nhẫn tâm bỏ con không? Có lẽ không bao giờ. mới thấy mẹ có một êm dịu vô cùng”. Có lẽ không cần phải bình luận thêm nhiều "Tri thức là sức mạnh" .thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi. áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ. khi cậu bé có được cảm giác an toàn và được chở che trong vòng tay mẹ. Linh cảm và tình yêu dành cho mẹ đã không đánh lừa cậu. Mỗi khi đứng trước mẹ. để người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm. Thật đẹp khi chúng ta đọc những câu văn. Dường như khoảnh khắc cười dài trong tiếng khóc kia chứa chất sự phẫn nộ và khinh bỉ không cần giấu giếm Trong thâm tâm. khi những uất ức nén nhịn có dịp bùng phát. Mẹ đã trở về cùng đứa con thân yêu. an ủi. xoa đầu tôi hỏi thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở”. là sự diệu kỳ giúp cậu bé vượt lên nỗi cay đắng của những ngày xa mẹ. được thương yêu.cảm giác được chở che. để đền đáp lại là cảm giác của đứa con trong lòng mẹ . Không khóc sao được. có lẽ mỗi một người trong chúng ta cũng sẽ cảm nhận được tình me giống như cậu bé Hồng: “Mẹ tôi vừa kéo tay tôi. bởi lẽ niềm khao khát được gặp lại mẹ lúc nào cũng thường trực trong lòng cậu bé. bảo bọc. để cậu bé được thoả lòng mong nhớ và khát khao bé nhỏ của mình.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful