Phân tích một số bài văn lớp 9

Phân tích một số bài văn lớp 9

Chuyện người con gái Nam Xương Đề 1: Trong truyện “Người con gái Nam Xương”, nhân vật Trương Sinh vội tin câu nói ngây thơ của con trẻ đã nghi oan cho Vũ Nương ruồng rẫy và đánh đuỗi nàng đi. Vũ Nương bị oan ức nên nhảy xuống sông tự vẫn. Em hãy đọc kĩ lại tác phẩm và tìm xem có những chi tiết nào trong truyện tác giả muốn hé mở khả năng có thể tránh được thảm kịch đau thương cho Vũ Nương. Những nguyên nhân nào làm cho thảm kịch đó vẫn diễn ra dẫn đến cái chết đau thương cũa người phụ nữ đức hạnh? Em hãy bình luận về nguyên nhân cái chết đó . HƯỚNG DẪN 1. Đọc kĩ tác phẩm, nắm vững chi tiết, độc lập suy nghĩ để tìm ra những chi tiết mà đề yêu cầu. Tài thắt nút và mở nút là ở chỗ ấy. Mỗi em tìm tòi theo cách của mình miễn là hợp lí. 2. Bình luân về nguyên nhân cái chết của Vũ Nương. Có nguyên nhân trực tiếp do tính nết cá nhân của Trương Linh và nguyên nhân sâu xa của chế độ xã hội từ đó tìm ra ý nghĩa tố cáo và nhân đạo của tác phẩm. BÀI VIẾT THAM KHẢO “Truyền kì mạn lục” là một tác phẩm có giá trị của văn học cổ nước ta thế kỉ XVI, một tập truyện văn thơ đầu tiên bằng chữ Hán ở Việt Nam. Truyện “Người con gái Nam Xương” là một truyện hay trong tác phẩm. Truyện kể rằng, Vũ Thị Thiết là một phụ nữ đức hạnh ở Nam Xương, chồng là Trương Linh, người nhà giàu nhưng không có học, tính lai đa nghi. Triều đình bắt lính, Trương Linh phải tòng quân trong khi vợ đang mang thai. Chồng đi xa mới được mười ngày thì nàng sinh con trai đặt

tên là Đản. Năm sau, giặc tan, việc quân kết thúc, Trương Linh trở về thì con đã biết nói, nhưng đứa trẻ nhất định không nhận Trương Linh làm bố. Nó nói: “Ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư ? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ thin thít. Trước đây thường có một ông đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.” Tính Trương Linh hay ghen, nghe con nói vậy đinh ninh rằng vợ hư, đã vu oan cho Vũ Nương, ruồng rẫy và đánh đuổi nàng đi. Vũ Nương bị oan ức đã nhảy xuống sông tự vẫn. Đọc kĩ tác phẩm, em thấy truyện không phải không hé mở khả năng có thể dễ dàng tránh được thảm kịch đau thương đó. Tài kể chuyện của tác giả là ở chỗ đó, cởi ra rồi lại thắt vào đẩy câu chuyện đi tới, khiến người đọc hứng thú theo dõi và suy nghĩ, chủ đề của tác phẩm từng bước nổi lên theo dòng kể của câu chuyện. Lời con trẻ nghe như thật mà chứa đựng không ít điều vô lí không thể tin ngay được, nếu Trương Sinh biết suy nghĩ, người cha gì mà lạ vậy: “không biết nói, chỉ nín thin thít” chẳng bao giờ bế con mình, mà hệt như “cái máy” - “mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi”. Câu nói đó của đứa trẻ chẳng phải là một câu đố, giảng giải được thì cái chết của Vũ Nương sẽ không xảy ra. Nhưng Trương Linh cả ghen, ít học, thiếu suy nghĩ, đã vô tình bỏ dở khả năng giải quyết tấm thảm kịch, dẫn tới cái chết oan uổng của người vợ mà chàng không phải không có tình yêu thương. Tất nhiên sự đời có thế mới thành chuyện, vả lại trên đơì làm gì có sự ghen tuông sáng suốt. Bi kịch có thể tránh được khi vợ hỏi chuyện kia ai nói, chỉ cần Trương Sinh kể lại lời con nói mọi chuyện sẽ rõ ràng. Vũ Nương sẽ chứng minh cho chồng rõ ở một mình nàng hay đùa với con trỏ vào bóng mình và nói là cha Đản. Mãi sau này, một đêm phòng không vắng vẻ, ngồi buồn dưới bóng đèn khuya, chợt người con chỉ vào bóng mình trên vách mà bảo đó là cha nó, Trương Linh mới tỉnh ngô, thấu hiểu nỗi oan của vợ thì mọi chuyện đã xong. Vũ Nương không còn nữa trên đời. Câu chuyện bắt đầu từ một bi kịch gia đình, một chuyện trong nhà, một vụ ghen tuông. Không ít tác phẩm xưa nay đã viết về cái chuyện thường tình đầy tai hoạ này. Vũ nương không may lấy phải người chồng cả ghen, nguyên nhân trực tiếp dẫn nàng đến cái chết bi thảm là “máu ghen” của người chồng nông nổi. Nhưng sự thực vẫn là sự thực!cái chết oan uổng quá và người chồng độc đoán quá! Một phụ nữ đức hạnh, tâm hồn như ngọc sáng mà bị nghi oan bởi một

chuyện không đâu ở một lời con trẻ, một câu nói đùa của mẹ với con mà phải tìm đến cái chết bi thảm, ai oán trong lòng sông thăm thẳm. Câu chuyện đau lòng vượt ra ngoài khuôn khổ cuả một gia đình, nó buộc chúng ta phải suy nghĩ tới số phận mong manh của con người trong một xã hội mà những oan khuất, bất công, tai hoạ có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối với họ mà những nguyên nhân dẫn đến nhiều khi rất lạ lùng không thể lường trước được. Đó là xã hội phong kiến ở nước ta, nhất là ở thời nó đã suy vong. Xã hội đó đã sinh ra những chàng Trương Sinh, những người đàn ông đặc đầu óc “nam quyền”, chà đạp lên quyền sống của người phụ nữ. Tính ghen tuông của cá nhân cộng với tư tưởng “nam quyền” trong xã hội đã làm nên một Trương Sinh độc đoán đến kỳ cục, khư khư theo ý riêng, nhất thiết không nghe ý kiến của người khác. Đứa trẻ nói thì tin ngay, còn vợ than khóc giãi bày thống thiết thì nhất định không tin, họ hàng, làng xóm phân giải công minh cũng chẳng ăn thua gì. Hậu quả là cái chết thảm thương của Vũ nương mà nguyên nhân sâu xa là chế độ phong kiến bất công cùng chế độ “nam quyền” bất bình đẳng của nó đã gây ra bao nhiêu tai hoạ cho người phụ nữ nói riêng và con người thời đó nói chung.

Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải Mở bài “Nếu là con chim, chiếc lá, Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh Lẽ nào vay mà không trả, Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.” (Tố Hữu) Tố Hữu – nhà thơ cùng quê hương xứ Huế với Thanh Hải – đã viết trong bài “Một khúc ca xuân” những lời tâm niệm thật chân thành, giản dị và tha thiết. Đó là “lặng lẽ dâng cho đời”. Còn Thanh Hải khi viết bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” trước lúc ra đi, không những đã giải bày những suy ngẫm mà còn mong ước được dâng hiến một mùa xuân nho nhỏ của mình cho mùa xuân vĩ đại của đất nước Việt Nam. Sinh ra, lớn lên, hoạt động cách mạng và tham gia công tác văn nghệ suốt hai thời kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ngay chính trên quê hương ruột thịt của mình. Ở địa diểm nào, hoàn cảnh nào ông cũng thể hiện được lẽ sống của mình. Đó là sự giản dị, chân thành, yêu người và khát vọng dâng hiến sức mạnh cho đời như chính cuộc sống và tâm hồn ông. Chúng ta có thể coi bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là món quà cuối cùng mà Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc

Ơi con chim chiền chiện Hót cho mà vang trời. Một nét đặc trưng nơi xứ Huế là hình ảnh màu tím. thiết tha và thanh thản.về cõi vĩnh hằng. Một từ “Ơi” đặt ở đầu câu. Một màu tím thật gợn nhẹ như màu tím hoa sim mọc giữa con sông xanh biếc hay như những tà áo dài với màu tím thật nhẹ nhàng của những cô gái Huế. không gian như tươi tắn hơn. Khi cuộc đời mình đã bước vào cuối đông. bất ngờ. Cảm xúc về mùa xuân mở ra thật ngỡ ngàng. Từng giọt long lanh rơi. muôn thuở và nguyện dâng hiến cho đời. Trong không gian vang vang vui tươi của tiếng chim càng đậm đà chất Huế hơn nhờ dùng đúng chỗ những ngôn từ đặc trưng xứ Huế. Phân tích Hình ảnh của một mùa xuân rất Huế đã được tác giả mở đầu cho bài thơ: “Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc. Từng giọt long lanh rơi. tha thiết và sâu lắng hơn tất cả để cuối cùng thể hiện một Thanh Hải yêu người. yêu quê hương đất nước và còn là một Thanh Hải sống cho thơ và sống cho đời. Tôi đưa tay tôi hứng”. yêu cuộc sống. không hề gợn một nét u buồn nào của một cuộc đời sắp tắt. trẻ trung hơn. Chính vì vậy nó bâng khuâng. Thân bài Giới thiệu chung Trước lúc vĩnh viễn ra đi ông cũng để lại cho đời những vần thơ thật nhân hậu. thân thương của Huế vào nhạc điệu của thơ. Tôi đưa tay tôi hứng”. một từ “chi” đứng sau động từ “hát” đã đưa cách nói ngọt ngào. thánh thoát hơn: “Ơi con chim chiền chiện Hót cho mà vang trời. Từ “giọt” . nhà thơ vẫn nghĩ đến một mùa xuân bất diệt.

với Thanh Hải cũng thế. Nhưng đối với khung sắc trời xuân thì giọt xuân càng làm tăng thêm vẻ đẹp và sự quyến rũ của nó. giọt sương sớm hay cả tiếng hót của những chú chim chiền chiện. . Từ mùa xuân của thiên nhiên đất trời. Một từ “hứng” cũng đủ diễn tả sự trân trọng của nhà thơ đối với vẻ đẹp của trời. Tác giả đã sử dụng biện pháp điệp từ. lạc quan. mạch thơ đã chuyển một cách tự nhiên sang bày tỏ suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa xuân của đất nước. tin yêu của Thanh Hải đối với đất nước. đất nước thường gợi lên ở mỗi con người niềm khát khao và hi vọng. dân tộc. Tất cả như xôn xao…” Hình ảnh mùa xuân của đất trời đọng lại trong lộc non đã theo người cầm súng và người ra đồng. hay chính họ đã đem mùa xuân đến cho mọi miền của tổ quốc thân yêu. Tất cả như hối hả. Những giọng thơ ấy rất giàu sức suy tưởng và làm say đắm lòng người. sẽ đến với một tầm cao mới mà không có sự dừng chân ngơi nghỉ. Lộc trãi dài nương mạ. Từ cảm xúc của thiên nhiên. tác giả đã chuyển cảm nhận về mùa xuân của cuộc sống. nhân dân và đất nước. của sông. điệp ngữ như nhấn mạnh và kết thúc một khổ thơ bằng dấu ba chấm. của chim muông hoa lá. trải qua biết bao vất vả và gian lao để vươn lên phía trước và mãi khi mùa xuân về lại được tiếp thêm sức sống để bừng dậy. Mùa xuân người ra đồng.được hiểu theo rất nhiều nghĩa: có thể là “giọt nắng bên thềm”. biểu tượng của hai nhiệm vụ: chiến đấu bảo vệ tổ quốc và lao động tăng gia để xây dựng đất nước với những câu thơ giàu hình ảnh và mang tính gợi cảm: “Mùa xuân người cầm súng. đồng thời cũng thể hiện cảm xúc trọn vẹn của Thanh Hải trước mùa xuân của thiên nhiên đất trời. Mùa xuân của thiên nhiên. Lộc giắt đầy trên lưng. Phải chăng dấu ba chấm như còn muốn thể hiện rằng: đất nước sẽ còn đi lên. đất nước. Với hình ảnh “người cầm súng” và “người ra đồng”. được hình dung qua hình ảnh so sánh rất đẹp: “Đất nước bốn ngàn năm Vất và vào gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước” Đó chính là lòng tự hào. giọt mưa xuân. những âm thanh xôn xao của đất nước bốn ngàn năm. Sức sống của “mùa xuân đất nước” còn được cảm nhận qua nhịp điệu hối hả. sẽ phát triển.

“Dù là tuổi hai mươi” khi mới tham gia kháng chiến cho đến khi tóc bạc là thời điểm hiện thời vẫn lặng lẽ dâng hiến cho đời và bài thơ này là một trong những bài thơ cuối cùng.đây chính là thời điểm mà ông nhìn lại cuộc đời và bộc bạch tâm niệm thiết tha của một nhà cách mạng. một cành hoa để hoà nhập vào “mùa xuân lớn” của đất nước. Ta nhập vào hoà ca. Khát vọng của ông là được làm con chim hót. ở mọi lứa tuổi. “Một mùa xuân nho nhỏ” cuối cùng của Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc ông bước vào thế giới cực lạc. Nếu như đoạn đầu Thanh Hải xưng tôi kín đáo và lặng lẽ thì đến đoạn này ông chuyển giọng xưng ta. nhỏ nhẹ. một nhà thơ đã gắn bó trọn đời với đất nước. Vì sao có sự thay đổi như vậy? Ta ở đây là nhà thơ và cũng chính là tất cả mọi người. góp một nốt trầm vào bản hoà ca bất tận của cuộc đời. cho cuộc đời. Điều tâm niệm đó thật chân thành. Điều tâm niệm của tác giả: “lặng lẽ dâng cho đời” chính là khát vọng chung của mọi người. quê hương với một khát vọng cân thành và tha thiết: “Ta làm con chim hót. dù nhỏ bé của mỗi người cho cuộc đời chung cho đất nước. Nam Bình . Thanh Hải đã thể hiện hết mình vì lòng tin yêu cuộc sống và khiêm tốn hiến dâng cho đất nước. Một nốt trầm xao xuyến” Lời thơ như ngân lên thành lời ca. chân thành của tác giả nên lời thơ dễ dàng được mọi người tiếp nhận và chia sẻ cho nhau: “Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc”. chứ đâu phải của riêng ai. xuất phát từ tiếng lòng thiết tha. Ta làm một cành hoa. Thật cảm động và kính phục biết bao khi đọc những vần thơ như lời tổng kết của cuộc đời.cống hiến sức trẻ để không bao giờ thất vọng trước chính bản thân mình. Hiến dâng “mùa xuân nho nhỏ” nghĩa là tất cả những gì tốt đẹp nhất. Già . chuẩn bị ra đi mãi mãi. Đã gọi là cống hiến cho đời thì dù ở tuổi nào đi chăng nữa cũng phải luôn biết cố gắng hết tâm trí để phục vụ và hiến dâng cho quê hương. giản dị và tha thiết – xin được làm một nốt trầm trong bản hoà ca của cuộc đời nhưng là “một nốt trầm xao xuyến”. trẻ . Kết thúc bài thơ bằng một âm điệu xứ Huế: điệu Nam ai.cống hiến tuổi già. bởi vậy. đất nước mến yêu của chính mình.

một câu chân tình thắm thiết “Mùa xuân ta xin hát Câu Nam ai. Kết bài Tóm lại bài thơ đã sử dụng thể thơ năm chữ. là lời ngợi ca đất nước./. là nỗi đau không lúc nào nguôi: “Miền Nam trong trái tim tôi”. giàu hình ảnh. thiết tha. miền Nam là niềm vui. gửi gắm của mình với cuộc đời. là “một mùa xuân nho nhỏ” góp vào “mùa xuân lớn” của đất nước của cuộc đời chung và bài thơ cũng có ý nghĩa hơn khi Thanh Hải nói về “mùa xuân nho nhỏ” nhưng nói được tình cảm lớn. ước nguyện sâu lắng nhất… và bài thơ này cũng chính là những điều đúc kết cả cuộc đời của ông. cùng chung một nhịp đập với thơ để ông và thơ luôn được cùng nhau.mênh mang tha thiết. Miền Nam cũng ngày đêm thương nhớ Bác. Nguồn: ST Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác Sinh thời. Bài thơ không những chỉ thể hiện dòng cảm xúc trào dâng của nhà thơ mà còn thể hiện hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh bằng những hình ảnh vừa quen thuộc. hiểu nhau và giải bày cho nhau. Nhưng tiếc thay. Lòng thương nhớ. Niềm mong mỏi thiết tha của Bác là miền Nam mau được giải phóng. nhạc điệu. là hạnh phúc. Nhà thơ ước nguyện làm một “mùa xuân” nghĩa là sống đẹp. sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường. ngày đêm thương nhớ miền Nam. cảm xúc của tác giả. Nam Bình Nước non ngàn dặm tình Nước non ngàn dặm mình Nhịp phách tiền đất Huế” Đánh giá chung Những lời tâm sự cuối cùng của người sắp mất luôn là những lời thực sự. những xúc động của chính tác giả và của cả chúng ta. biểu hiện niềm tin yêu và gắn bó sâu nặng của tác giả với quê hương. cất trúc thơ chặt chẽ. mong ngày giải phóng để được gặp Bác kính yêu. tâm tình những điều sâu kín nhất trong lòng. Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến miền Nam. và chính lúc đó Thanh Hải đã thả hồn vào thơ. mang âm hưởng dân ca nhẹ nhàng tha thiết. khi Bắc Nam sum họp một nhà thì Bác không còn nữa. Với Bác. luôn chứa chan tình cảm. đất nước. giọng điệu đã thể hiện đúng tâm trạng. vừa giàu sức . nỗi niềm đau đớn của đồng bào và chiến sĩ miền Nam dồn nén bao nhiêu năm đã được nhà thơ Viễn Phương thể hiện trong bài Viếng lăng Bác. bằng giọng văn nhỏ nhẹ như một lời tâm sự. vấn đề ý nghĩa cuộc sống của mỗi cá nhân được Thanh Hải thể hiện một cách chân thành. Nét đặc sắc của bài thơ là ở chỗ nó đề cập đến một vấn đề lớn và quan trọng “nhân sinh”. Ông đã giải bày.

dũng cảm. nhà thơ mang theo cả niềm tự hào đó của đồng bào miền Nam để đến với Bác. Hàng tre xanh xanh trong vườn Bác gợi cho người đọc nhiều liên tưởng. Viễn phương ra thăm Lăng Bác. súc tích nhưng có sức gợi tạo nên sự xúc động cho người đọc. là thành đồng Tổ Quốc… Giờ đây. Ngôn ngữ thơ tuôn trào theo theo dòng cảm xúc chân thành. khi lần đầu tiên sau giải phóng miền Nam. nhất là hình ảnh miền Nam yêu thương. Chắc rằng. Hàng tre gợi hình ảnh mọi miền quê hương đất nước. kiên cường. Câu thơ giản dị nhưng bao hàm một ý nghĩa lớn. Tự đáy lòng của người con đến thăm cha. đời đời gắn bó với quê hương làng xóm. trong tâm khảm nhà thơ. thân thuộc. là biểu tượng anh hùng. Mở đầu bài thơ. cũng như mọi người Việt Nam. ruột thịt của mình bằng câu thơ giản dị: Con ở miềm Nam ra thăm lăng Bác. Viễn Phương đã bày tỏ ngay tình cảm sâu nặng.khái quát. Miền Nam luôn luôn là nỗi đau chia cắt. ca ngợi dân tộc. . bất khuất. tha thiết. Bài thơ ra đời năm 1976. Hình ảnh đầu tiên trong lăng làm nhà thơ xúc động là hình ảnh hàng tre: Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng Hàng tre bát ngát cuốn hút cảm xúc của nhà thơ. Trong tim Bác và trong tim miền Bắc. là niềm tự hào. Tình cảm giữa miền Nam và Bác Hồ luôn luôn là tình cảm ruột thịt “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà” (Tố Hữu) và tình cảm của miền Nam đối với Bác cũng là tình cảm nhớ mong da diết “Miền Nam mong Bác nỗi mong cha” (Tố Hữu). Viễn Phương nói với Bác: Con ở miền Nam…. Bài thơ rất ngắn gọn. như Bác Hồ suốt đời sống giản dị nhưng kiên cường tranh đấu vì độc lập tự do của dân tộc. vừa lung linh gợi cảm. Qua hình ảnh hàng tre quen thuộc tác giả gửi gắm một ý nghĩa tượng trưng nhằm ca ngợi Bác. Tre kiên cường trong bão táp mưa sa như dân tộc ta vững vàng qua phong ba bão tố. Viễn Phương đã nói hộ chúng ta một chân lý: Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong lòng nhân dân ta. Bằng cảm xúc chân thực và ngôn ngữ thơ gợi cảm. nỗi nhớ thương. cây tre là hình ảnh giản dị.

nhà thơ tiếp tục dòng suy tưởng. nhà thơ sững sờ. Cùng với mặt trời ngày ngày đi qua trên lăng là dòng người đi trong thương nhớ.thán phục một mặt trời trong lăng rất đỏ. trong sáng và thanh khiết. nhà thơ thật sâu sắc và tinh tế khi tôn quí nhân dân. Mỗi người dân là một bông hoa và dòng người đi trong thương nhớ chính là tràng hoa dâng lên Bác. nhưng đối sánh hai hình ảnh mặt trời của Viễn Phương quả là rất độc đáo. Ngày ngày… ngày ngày ….là mặt trời cách mạng. bao trùm một một không khí thương nhớ Bác không nguôi. hình ảnh tượng trưng cho Bác Hồ . Không nhiều lời. thương nhớ Bác: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân Ai đã từng một lần đi viếng lăng Bác mới hiểu hết hàm ý trong câu thơ của Viễn Phương. Nhà thơ đã nói hộ chúng rằng: Bác Hồ là mặt trời cách mạng đẹp nhất. yêu trăng nồng nàn của Bác. mãi mãi chiếu rọi con đường đi tới của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt xúc động là khi vào trong lăng. Từ ánh điện mờ ở trong lăng. mặt trời . Lời thơ bỗng dạt dào một cảm xúc tự hào. Đây là một sáng tạo nghệ thuật có tác dụng bộc lộ nội dung rất hiệu quả. . Vẫn biết trời xanh là mãi mãi .Hoà vào dòng người thăm lăng. Hình ảnh đó đã đưa người đọc vào một thế giới huyền diệu. đau đớn: Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền. Mặt trời rất đỏ. chỉ một hình ảnh mặt trời rất đỏ. thời gian không ngừng trôi và lòng người Việt Nam không bao giờ nguôi tình cảm nhớ thương.chúa tể của thiên nhiên . Ngày ngày. thấy Bác nằm nghỉ. Nhịp thơ chầm chậm như bước chân của dòng người lặng lẽ đi trong suy tưởng. yêu quí. Nhiều nhà thơ đã sử dụng hình ảnh mặt trời để thể hiện ánh sáng của lý tưởng cách mạng. thành kính. càng gợi ta nghĩ đến tình yêu thiên nhiên. nghẹn ngào. rực rỡ nhất. nhà thơ liên tưởng đến một hình ảnh rất đẹp: vầng trăng sáng dịu hiền. kính trọng đối với Bác. Mà sao nghe nhói ở trong tim Bác nằm đó như đang trong giấc ngủ bình yên sau bảy mươi chín mùa xuân không hề nghỉ. thành kính kết tràng hoa tình yêu dâng bảy mươi chín mùa xuân của Người. “Người ta là hoa của đất”. chói lọi nhất luôn luôn toả sáng trong tâm hồn người Việt Nam. là nguồn ánh sáng rực rỡ không bao giờ tắt. nhà thơ đã khái quát được hình ảnh Bác Hồ vĩ đại.

“trăng vào cửa sổ đòi thơ”. giữa bão táp mưa sa. nhịp điệu thiết tha. Nhà thơ chia tay Bác trong tiếng khóc nấc nở nghẹn ngào. “trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa…” Giờ đây. tràng hoa. trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”. một con người suốt đời hy sinh. nó trào lên dữ dội khi nhà thơ chia tay với Bác: Mai về miền Nam. trong giấc ngủ bình yên. Làm sao ngăn được dòng nước mắt thương nhớ Bác-một con người vừa vĩ đại. vừa gần gũi thân thiết với chúng ta. Nhà thơ đã có nhiều dụng ý khi sử dụng các hình ảnh rất đẹp. Những hình ảnh đó tượng trưng cho cái vĩ đại. Cả khi trong ngục: “Người ngắm trăng soi qua cửa sổ. “trăng ngân đầy thuyền”. làn hương quanh nơi Bác nghỉ cho trọn niềm trung hiếu với Người. . góp tiếng hót. Bác nằm đó. cùng với hình ảnh cây tre trung hiếu một lần nữa truyền đến người đọc sự xúc động nghẹn ngào. bảy mươi chín mùa xuân. nhân dân. nhưng tác giả đã thành công khi sử dụng hàng loạt hình ảnh ẩn dụ mang tính tượng trưng sâu sắc. thanh cao. trời xanh. vầng trăng. Thương Bác. vì nỗi thiếu vắng Bác. Bài thơ ngắn. Bác vẫn thấy “trung thu trăng sáng như gương”. thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Muốn làm bông hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. trời xanh là mãi mãi đã gợi cho người đọc thấy trọn vẹn hình tượng Bác Hồ gần gũi. Và hơn thế nữa. giữa vầng trăng sáng dịu hiền. đất nước. một tình cảm yêu quý mãnh liệt. Các hình ảnh hàng tre xanh xanh. như vầng trăng sáng dịu hiền. cao quý. chỉ ước muốn biến thành con chim. Bác như vầng mặt trời rực rỡ. như bầu trời xanh. Nhưng con tim nhà thơ đau đớn vô cùng khi đứng trước Người. Ở Bác toả ra ánh sáng của trí tuệ thiên tài và lấp lánh ánh sáng của một tâm hồn cao đẹp. Vẫn biết rằng Bác như trời xanh. thương đến trào nước mắt. tất cả các hình ảnh ấy đều gợi cho ta thấy sự bất tử của Bác Hồ. Cả những khi bận rộn việc nước việc quân.Vầng trăng kia đã bao lần sáng lên trong thơ Người. bông hoa. “rằm xuân lồng lộng trăng soi”. lớn lao của Bác Hồ. cống hiến cho dân tộc nay vĩnh viễn nằm lại trong lăng? Nhà thơ lưu lưyến không muốn rời xa Bác. thanh khiết. vầng trăng sáng dịu hiền. nó còn gợi đến hình ảnh quê hương. vĩ đại biết bao. Ngoài ra. chỉ một chữ nhói cũng đủ nói lên nỗi quặn đau. mãi mãi sống trong sự nghiệp của chúng ta. đến các hình ảnh mặt trời rất đỏ. cây tre. thương nhớ không gì bù đắp được vì mất Bác. Còn hình ảnh hàng tre xanh xanh lại tượng trưng cho cái bình dị. Và nỗi đau không còn kìm ném được nữa. Mà sao nghe nhói ở trong tim. gần gũi của Người. Đoạn thơ dạt dào tình cảm. trọn vẹn như tình cảm của người con đối với người cha ruột thịt. rất lớn lao của vũ trụ: mặt trời.

yêu quý của chúng ta. trong một lần nào đó. lòng kính phục vô hạn của nhà thơ Viễn Phương và của nhân dân ta đối với Bác Hồ mà bài thơ còn diễn tả thành công hình tượng Bác Hồ vĩ đại bằng những hình ảnh đẹp. nhịp điệu tha thiết. rồi những khi bị địch bắt đi lao động. bài Chúc thọ dưới mồ. Viễn Phương mới thực sự có một bài thơ hay về Bác. Có những chữ bằng máu. nhà thơ Viễn Phương hoạt động ở Nam Bộ. Âm hưởng của bài thơ ngân vang mãi trong lòng người đọc. kể rằng: “Lúc tôi 25 tuổi. họ lại đọc cho bạn tù ở khám khác nghe. Trong chuồng cọp. có những ghi bằng than. Tôi nghĩ rằng đó cũng là hạnh phúc lớn của nhà thơ: Góp phần mình vào công cuộc giải phóng đất nước. Viễn Phương sáng tác thầm trong đầu và đọc cho các đồng chí cùng khám nghe. Có những dòng được khắc trên vôi bằng cái xương cá mắm. Trên vách chuồng cọp. chỗ này ghi một đoạn. không có giấy bút. địa ngục trần gian của nhà tù ấy. nghẹn ngào trước sự ra đi của Bác. trong sự nghiệp của chúng ta. và đã sáng tác nhiều bài thơ về Bác Hồ. tôi được đọc một bài viết của anh Lê Quang Vịnh trên báo Sài Gòn Giải phóng. mọi người đều thuộc. làm xúc động hàng triệu trái tim Việt Nam từ 1976 đến nay. chỗ khác ghi một khúc ráp lại rất vần với nhau. Dưới đây là cuộc trò chuyện giữa ông và phóng viên VNQĐ PV: Thưa nhà thơ Viễn Phương. Kỳ diệu thay. Viếng lăng Bác không những là tiếng khóc đau đớn. cảm xúc nồng nàn chân thực. Viễn Phương chỉ đọc một vài lần. Mãi mãi là vị cha già thân thiết. Hôm nay mười chín tháng năm: Lòng con sáng tựa đêm rằm trung thu Con đang chúc thọ dưới mồ Con đang dựng một rừng cờ trong tim Đêm nay mộng hóa thành chim Bay qua lưới sắt con tìm đến cha Sau này mới biết là thơ Viễn Phương. là lòng thương nhớ không nguôi. Lê Văn Duyệt."..Người sống mãi trong lòng nhân dân ta. . tôi bị bắt buộc phải nằm dưới hầm suốt ngày. Tôi đọc được bài thơ dài. Phải đến bài thơ Viếng Lăng Bác. bị bọn Mỹ – Diệm kết án tử hình rồi chuyển thành trung thân khổ sai và đày ra Côn Đảo. Bài thơ được phổ nhạc càng trở nên truyền cảm sâu xa. tôi thấy chi chít những chữ ghi bằng nhiều cách khác nhau. Có bài tác giả viết khi bị địch giam cầm ở các trại giam Phú Lợi. Trong hai cuộc kháng chiến.. cứ vậy thơ Viễn Phương được lan truyền trong nhà tù.

sâu sắc cũng là bao quát trong thơ Bác. trong sáng. mọi người đều muốn ra thăm miền Bắc. Tuy lời thơ còn mộc mạc nhưng là tấm lòng thành kính của tôi đối với Người. được đến viếng Bác. thanh thản. tôi được nối vào dòng người vào lăng Bác. ai cũng muốn dừng thật lâu. cổ các chiến sĩ trong nhà tù. Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Mặt trời của vũ trụ đối với mặt trời trong lăng. dân chủ và giàu mạnh như di chúc của Bác. Người ghét sự cầu kỳ. hàng ngày dâng lên Bác rất nhiều nhưng tôi nghĩ đến: . ra thăm miền Bắc. Nhưng rồi. anh mới có Viếng Lăng Bác. Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ. được các đồng chí trong tù thuộc. Đến bên Bác. các nhà thơ sống ở Nam Bộ đều có những tác phẩm viết về Bác. những hàng tre xanh sẫm. Bác của chúng ta vốn giản dị. thống nhất. truyền cho nhau. Trong nhà tù của giặc. những gốc đào hoa đỏ rực… Tất cả đều thiêng liêng. thơ. nhân dân miền Nam mong muốn đất nước giải phóng để đón Bác vào thăm. Tôi nghĩ. Hoa tươi là nét đẹp của thiên nhiên. họa. Đó cũng là hàm chứa sự vĩnh cửu của sự nghiệp Bác Hồ tạo dựng và nhân dân ta. Sương toả mênh mông. Lời thơ thật giản dị. Đảng ta đã thực hiện: xây dựng một đất nước Việt Nam hoà bình. làm dáng. Chúng tôi đi từ hướng chùa Một Cột. vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc ta là nguồn cảm hứng vô tận của người sáng tạo văn. nhac. Tôi không cầm nổi nước mắt. Anh sáng dịu dàng toả xuống như giữa một đêm trăng thanh miền thôn dã. đầy đủ độ chín và ngôn từ. Ra khỏi làng. Hà Nội lây phây trong gió rét. hiền từ như đang ngủ. Khi miền Nam giải phóng. Năm 1976. ước mơ ấy không được toại nguyện. Tôi viết như là ý nghĩ của mình.Nhà thơ Viễn Phương: Hồ Chí Minh. Anh có thể cho biết bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nào? Nhà thơ Viễn Phương: Khi Bác còn sống. tôi đi như người mộng du và tứ thơ bật ra: Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát. Giản dị. đó cũng là tâm tư của nhân dân và chiến sỹ ở Nam Bộ với Bác. Tôi đã viết bài thơ Chúc thọ dưới mồ. viếng lăng Bác. Sáng hôm ấy mưa phùn. độc lập. Bác là nguồn động viên. PV: Phải đến khi đất nước thống nhất. Bác nằm đó. tôi ra Hà Nội. giản dị. Và. tôi luôn luôn nghĩ về Bác.

Ngay từ tiêu đề. nhạy cảm khi mùa thu tới. nhất là những ngòi bút thơ: hễ động bút là mùa thu cứ chực đổ ùa ra trên mặt giấy. Và dâng cho Bảy mươi chín màu xuân. Chỉ đến khi bắt đầu cầm bút ngồi trước mặt giấy. Đó không phải là chính thu. tôi muốn nói lên tình cảm của nhân dân. là hoa tươi của cuộc sống. Mùa thu dường như luôn luôn nấp sẵn trong ngòi bút của chúng ta.Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng Bảy mươi chín mùa xuân Dòng người vây quanh Bác trở thành hoa. Đây mùa thu tới (Xuân Diệu)… Nhưng nó vẫn có cái hay. cái độc đáo riêng của một hồn thơ sâu lắng. Chùm thơ thu (Nguyễn Khuyến). Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Nói về đề tài mùa thu. khi nắng trời đã nhuộm đỏ . Đoạn kết. Toàn bài Viếng Lăng Bác mang một không khí trang nghiêm. không phải cuối thu. thành kính. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Sang thu của Hữu Thỉnh xuất hiện khi trước nó đã có rất nhiều bài thơ nổi tiếng đông tây kim cổ: Thu hứng (Đỗ Phủ). Tưởng như với đề tài thơ mộng muôn thuở này có thể dễ dàng chắp bút. một tác giả đã nhận định: “Đề tài "Mùa Thu" bao giờ cũng có vẻ là dễ viết. tôi mới thấy đề tài này thật là khó” Tại sao lại có nghịch lí trong kinh nghiệm của người sáng tác như vậy? Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. chiến sỹ miền Nam hứa với Bác: Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này (sưu tầm) Sang thu (Hữu Thỉnh) Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. khi bầu trời xanh ngắt lơ lửng những tầng cao. tác giả đã tự xác định một thời điểm miêu tả: thời điểm giao mùa.

Song trên hết.. Làn sương giăng phủ ngõ thôn chẳng được đặc tả ở mức độ (mù mịt) hay màu sắc (trắng mờ). Có gió.lá bàng. Đặc biệt ở góc độ miêu tả tạo vật. Thành công nổi bật nhất của bài cũng là ở một hệ thống những động từ miêu tả rất giàu cảm giác: “phả”. cường độ… Hàng cây như đã quá quen với nắng lửa mưa giông. hệ thống động từ toàn bài còn đặc sắc ở chỗ. cánh chim. Truyền thống thơ thường kiến trúc ngôi nhà thu bằng những chất liệu quen thuộc như cúc. “se”. hơn là gợi một cảm giác. hay khi cái rét mùa đông đã lẩn vào trong gió…Sang thu nghĩa là mới chớm thu thôi. liễu. tất cả các dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn nhưng đã giảm dần mức độ. Không hề có một từ định tính để miêu tả thế giới thu. cái tứ kết buộc hệ thống hình ảnh trong bài cũng chỉ gói gọn trong chút “chớm” mỏng manh đó. Sang thu. mùi hương vừa đặc trưng cho mùa vừa đặc trưng cho làng thôn ngõ xóm. Dòng nước thu vốn trong trẻo và sâu hút làm người ta khó mà thấy rõ được sự chuyển động nó nên cảm giác sông lững lờ trôi cũng rất hiện thực. Se gợi một động thái. ngô đồng hay màu trời. Nhưng hương ổi “thơm” như thế nào thì thi sĩ hoàn toàn không miêu tả. những cánh chim vội vã tìm về phương ấm áp… Song thời điểm chớm thu không phải chỉ hiển hiện ở những dấu hiệu mơ hồ trong trạng thái biến chuyển của cảnh vật. sương như người khách ngập ngừng nơi đầu ngõ. gió se lại bởi chút lạnh xa xăm. Dòng sông. Có hương ổi. nhưng gió se chứ không phải là gió lạnh. duyên dáng nối hai mùa là một liên tưởng thực sự độc đáo. Tinh tế và sống động sao một buổi sáng chớm thu. mà ở cả chút ngỡ ngàng bâng khuâng của lòng người: “Bỗng nhận ra hương ổi”. được gọi một . “Hình như thu đã về”… Tiếp tục thể hiện những dấu hiệu mùa thu rõ rệt hơn nhưng ý nghĩa của khổ cuối không chỉ dừng lại ở đó: Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi Con người cảm thấy biết bao biểu hiện khác biệt của thời tiết khi mùa thu tới: mưa và sấm thưa dần. sắc nước… Hữu Thỉnh hầu như khơi gợi cảm giác về mùa trong trạng thái mơ hồ của tạo vật.. không còn dữ dội nữa. nó không chỉ miêu tả chính xác trạng thái của tạo vật mà còn thổi vào tạo vật những cảm giác rất người. Đám mây như tấm khoăn voan của người thiếu nữ. “chùng chình” “dềnh dàng” “bắt đầu vội vã” “vắt nửa mình”… “Chùng chình” trước hết gợi tả chính xác những làn sương như ngưng lại và nhẹ nhàng tỏa lan ngõ xóm. hay đám mây cũng không tô điểm cho phong cảnh thu bằng những gam màu đặc trưng của nó.

khi đọc bài thơ này.cách hình ảnh là “hàng cây đứng tuổi”.gấp gáp hơn.Ta cảm nhận lũ chim như hình dung đc cái lạnh của thu đã về và cuộc hành trình về phương Nam của chúng bắt đầu với những tiếng gọi nhau .huyền ảo qua mỗi vần thơ ở bài Sang Thu của nhà thơ HỮU THỈNH "Bỗng nhận ra.. Và có lẽ cũng nhờ giọng điệu êm nhẹ dễ cuốn người đọc vào dòng cảm xúc."hình như" là 2 tâm trạng của nhà thơ:bất ngờ và bối rối. mưa. sấm chớp… hay là những vang động của cuộc đời? Trong tương quan ấy.những tiếng đập cánh vội vã. Cảnh như sâu lắng hơn bởi liên tưởng suy tư về mùa thu đời người.. Không hiểu sao.Nhà thơ Xuân Diệu khi cảm nhận về mùa thu cũng nói tới cánh chim : "Chim nghe trời rộng giang thêm cánh" . tôi chợt thấy nhớ rất nhiều những năm tháng đã qua của mình.Hình ảnh giọt sương thu gợi ta và gợi cảm :"giọt sương chùng chình" gợi tả 1 ngõ nhỏ yên ắng.mà trầm ngâm suy nghĩ.Hương thu thấm đẫm ngọt nào trong vạn vật như đc in dấu lung linh . Miền kí ức tuổi thơ được đánh thức bởi mùi hương ổi.bâng khuâng.đã về " Ngọn jó se ở đây ta có thể hiểu là ngọn gió heo may se se lạnh ban phát cái hương vị còn sót lại của làng quê.của tình yêu.Giợt sương thu là hình ảnh mang tâm trạng ngập ngừng . hàng cây tượng trưng cho con người từng trải mà bao dâu bể biến đổi không còn đáng ngạc nhiên.bâng khuâng đang đợi chờ 1 nguời nào đó.của những bài thơ dịu dàng. Đây xứng đáng là một bài thơ thu hay trong thế giới thi ca! ( Sưu tầm đó) Người ta nói mùa thu là mùa của thi nhận. bởi ngõ xóm thân quen ấy. Nét độc đáo nhất của bài là những hình ảnh chính xác và giàu sức gợi tạo nên một bức tranh thu giản dị mà sống động..bịn rịn.Có phải nhà thơ đang thầm hỏi lòng :thu về từ bao giờ?theo gió hay theo huơng?Thu đến mà ko báo trước để lòng người xao xuyến bâng khuâng Khi cả đất trời vào thu "Sông đựoc lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu " Nhà thơ đã thổi hồn vào cảnh vật để cho dòng sông đc dịp mà thanh thản. “đứng tuổi” khiến ý nghĩa của câu thơ không dừng lại ở nét nghĩa tả thực mà có chiều sâu hơn.Tuơng phản với hình ảnh dòng sông à lũ chim :"chim bắt đầu vội vã". Chính các từ “bất ngờ”. Nắng. . Cảm xúc của nhà thơ :"Bỗng". suy nghĩ tự nhiên của tác giả.1 không gian sương khói lãng đãng lúc thu về.những âm thanh.

Thiên nhiên sang thu.đi vào chừng mực rồi ổn định .Đời người đã sang thu từ khi nào.còn khi bước sang thu.Hàng cây đứng tuổi hay đó chính là những nguời đã từng trải qua nhiều khó khăn gian nan của cuộc đời. Bài thơ là bức tranh mùa thu đẹp để ta yêu mến.gif[/IMG] Khoảnh khắc giao mùa có lẽ là khoảnh khắc đẹp đẽ nhất của tự nhiên .Khi chúng ta chưa hết ngỡ ngàng bởi một Xuân Diệu “tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì ” thì đã .nó gieo vào lòng người những rung động nhẹ nhàng khiến ta như giao hoà."Vẫn còn bao nhiêu nắng.Con người lưu luyến chưa muốn chia tay với mùa hạ.thu êm đềm vừa chợt đến đám mây vừa ngỡ ngàng như bước qua bờ bên kia .đằm thắm hơn.tình thu vào nhau thắm thiết.Hàng cây đứng tuổi vững vàng trước sấm sét .Thế nhưng tất cả lắng xuống .sấm chớp .Những suy ngẫm trong thơ cho ta ý thức sâu hơn về trách nhiệm của con người cuộc đời.mưa .chỉ còn lại những giọt nắng và vì vậy sự suy nẫm triết lí của nhà thơ đc thể hiện thật đúng lúc.tạo dáng.họ trờ nên nghiêm trang.Đám mây như 1 dãi lụa mềm tạo thành chiếc cầu nối cho nhịp thời gian .vừa rõ ràng mà lung linh.Con nguời đứng tuổi ko còn sôi nổi như 1 thời trẻ dại mà tâm trạng của họ trờ nên chín chắn .Lúc ngoảnh lại mới thấy mái tóc pha sương và mình đã ko còn trẻ.Bốn mùa luân chuyển như đời nguời vội vã.Chỉ còn kết lại bài thơ hình ảnh hàng cây đứng tuổi gợi bao suy nghĩ sâu xa . Các hình ảnh nắg. đồng điệu .vang động bất thường trong cuộc sống. Nếu như ở khổ 1 là cảm nhận về sự kì diệu của mùa thu .tượng trưng cho những bến đổi.vừa là ảo.con nguời cũng sang thu.cám giác như vừa là thực .Chút nắng còn sót lại của mùa hạ vàng .phải chăng cũng là sự điềm tĩnh bình thản của con người khi đã đi qua bao mưa nắng .lo toan.chững chạc mang vẻ đẹp sâu lắng kín đáo nhưng kiêu hãnh tự hào..gợi hình.thử thách của cuộc đời .hình như ko mong đợi mà thu vẫn về..tự hào về cảnh sắc quê hương đất trời.. ^__^[IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image001.Đặc sắc nhất là 2 câu thơ : "Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu" Trong đám mây của mùa thu vẫn còn vương chút nắng hạ nên từ "vắt" đc nhà thơ dùng thật sống động.cây đứng tuổi" Có thể nhận ra biện pháp tu từ nhân hoá làm câu thơ mang chiều sâu triết lí .khổ 2 là những biến đổi của cảnh vật thì khổ 3 là tình thu chan chứa.Cảnh thu.Trời đã bớt đi những cơn mưa .Liên tưởng của nhà thơ làm bầu trời xanh kia trờ nên kì diệu .

bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kỳ diệu của thiên nhiên trong buổi giao mùa . Mùi hương quê nhà mộc mạc “phả” trong gió thoảng bay trong không gian .sâu sắc đến vô cùng qua một thoáng “Sang Thu” . chua chua nơi đầu lưỡi của trái ổi vườn quê .Cảm giác bất chợt đến với nhà thơ : “bỗng nhận ra” -một sự bất ngờ mà như đã chờ đợi sẵn từ lâu lắm .gặp một Hữu Thỉnh tinh tế . Sương thu đã được nhân hoá . vị giòn. Câu thơ giúp ta hình dung về đám mây mỏng nhẹ .Tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra mùa thu là “hương ổi”. bâng khuâng như bước đi nhỏ nhẹ của mùa thu .Không phải là sắc “mơ phai” hay hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác” mà là hương ổi thân quen nơi vườn mẹ đã đánh thức những giác quan tinh tế nhất của nhà thơ : Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se. mong manh của tạo vật trong phút giao mùa cũng êm đềm.thong thả.kéo dài như tấm khăn voan duyên dáng của người thiếu nữ thảnh thơi .gió thu. đặc biệt là hình ảnh : Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu . thi sỹ vẫn ngỡ ngàng thốt lên lời thầm thì như tự hỏi :Hình như thu đã về!? Tâm hồn thi sỹ nắm bắt những biến chuyển nhẹ nhàng. chùng chình giăng mắc trên khắp nẻo đường thôn : Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về .trắng xốp .Và không chỉ có thế . hương thơm lựng .cả sương thu như cũng chứa đầy tâm trạng. nhẹ nhàng “ vắt nửa mình sang thu”. mùa . hữu tình và chứa chan thi vị . Nếu ở câu thơ đầu tiên nhà thơ “bỗng nhận ra” thu về khá bất ngờ và đột ngột thì sau khi cảm nhận sương thu . Câu thơ có hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ .những rung động man mác. Bài thơ là những cảm nhận .những đàn chim vội vã bay về phương nam …Không gian thu thư thái . hạ chưa qua hết .Câu thơ có tính tạo hình không gian những lại có ý nghĩa diễn tả sự vận động của thời gian : thu bắt đầu sang .hai chữ “chùng chình” diễn tả rất thơ bước đi chầm chậm của mùa thu .Câu thơ không chỉ tả mà còn gợi liên tưởng đến màu vàng ươm . Không gian nghệ thuật của bức tranh thu được mở rộng hơn . ngọt.cái bỡ ngỡ ban đầu vụt tan biến đi nhường chỗ cho những rung cảm mãnh liệt trước không gian thu vời vợi : Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Sông nước đầy nên mới “dềnh dàng” nhẹ trôi như cố tình chậm lại .

mơ hồ như cả đất trời đang rùng mình thay áo mới … Khổ thơ thứ ba diễn tả rất rõ sự biến chuyển của không gian và cũng là một thoáng suy tư của nhà thơ trước cảnh vật. Xuân Diệu có « Đây mùa thu tới » . rất êm . nồng hậu của quê nhà . Hình ảnh thơ đẹp . giọng thơ êm đềm và những rung động man mác .Ý thơ còn gợi liên tưởng đến con người khi đã lớn tuổi và từng trải thì những giông gió. « Thu điếu ». ngôn từ tinh tế . rất dịu . chớp của mùa hạ vương lại đâu đây . thì Hữu Thỉnh cũng có một chớm « Thu sang » rất nhẹ nhàng êm dịu. bị động .bâng khuâng của tác giả trong buổi giao mùa đã tạo nên một dấu ấn không dễ phai mờ trong lòng bao độc giả . Nếu như Nguyễn Khuyến có chùm thơ thu với ba bài : « Thu vịnh ». đất trời : Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi . thăng trầm của cuộc đời ít làm con người ta bất ngờ. “ cũng bớt bất ngờ” bởi mùa thu đã đến .Những suy tư đó của tác giả có lẽ đã góp phần làm cho “Sang thu” trở nên giàu ý nghĩa . Trong đó có hai khổ thơ rất hay ghi lại cảm xúc của nhà thơ trước cảnh sang thu ở một miền quê nhỏ : Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về. Vẫn là nắng. Lưu Trọng Lư có « Tiếng thu ». ^__^ Phân tích bài thơ Sang Thu Mùa thu là một đề tài muôn thuở của các thi nhân Việt Nam. Sông được nước dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Mùa thu của Hữu Thỉnh được mở ra không phải với sắc vàng tươi của . tất cả đều là những bài thơ rất nổi tiếng. Có lẽ vì vậy mà sau khi đọc “Sang thu” của Hữu Thỉnh ta càng thấy yêu hơn mùa thu thiết tha.thu vừa chớm . sấm. rất nhẹ . mưa. « Thu ẩm » . “đã vơi dần”. song chỉ là “vẫn còn” .

nó cũng mang hồn người . đề người ta chợt xốn xang trong lòng. Tất cả đều đang . Đến sương lúc này cũng là sương thu mà Hữu Thỉnh vẫn còn ngẩn ngơ mãi: “Hình như thu đã về” Ông thờ ơ quá chăng hay bởi lòng ông đang bối rỗi? Thu về tự bao giờ? Từ hương ổi hay từ làn gió heo may? Thu làm lòng người xao xuyến quá chừng để đến nỗi không biết thu đến thực hay mơ! Sau một thoáng bỡ ngỡ. Thu sang mang theo hơi thửo của mình và mang theo cả cái vẻ thu mơ màng mờ ảo: “Sương chùng chình qua ngõ” Sương thu cũng có cái nét đặc biệt riêng của nó. Nhịp thơ nhanh và gấp cũng như hơi thở của mùa thu đã bắt đầu đập mạnh. mà là với hương ổi thơm giòn ngọt phả vào trong gió thu.hoa cúc. Sông chờ nước mùa thu chăng? Một hình ảnh thơ thật thi vị và lãng mạn. Thu đến chẳng hề báo trước! Thu sang từ bao giờ Hữu Thỉnh cũng không biết nữa! Ông chỉ nhận ra một sự bất ngờ mà như đã đợi từ lâu lắm. sương đang chờ ai mà sao lưu luyến thế? Từ láy “chùng chình” tạo cho ta cảm giác “dùng dằng nửa ở nửa về”. ngoài vườn. Nó không tan nhanh như sương mùa hạ. Hương thơm ấy nhẹ nhàng thoảng qua theo gió. Sương thu là những làn khói mong manh bay vờn nhẹ trên những nãi nhà. chúng phải vội vã bay về phương Nam tránh rét. cũng không phải với vị thơm ngon của cốm làng Vòng. Con sông tràn trề nước mà hình như cứ không chịu chảy. Hữ Thỉnh chẳng còn nghĩ gì ngoài cảm xúc đang dâng trào: “Sông được nước dềnh dàng. Có lẽ. sẽ chẳng ở đâu có cái gió se lạnh ấy ngoài mùa thu của đất Bắc – cái gió se mà từ lâu vẫn được coi là hồn thu Bắc Bộ. Một hương thơm thu một làn heo may thu đã làm nên cái mở độc đáo cho bài thơ. cũng chẳng dầy đặc như sương mùa đông. Nó chỉ khiến ta hơi co người lại một chút và để rồi thảnh thơi đón nhận cả một lưồng khí thu mát rượt trong lòng. Nó không mang cái mùi thơm hăng hắc như hoa sữa. nhà thơ như chợt bừng tỉnh. Sương đang đợi ai. Chim bắt đầu vội vã”. Sương thu không vô cảm.thu đã về thật rồi! Khép lại những hoài nghi. Nhưng đàn chim thì không thể dềnh dàng được nữa. thậm chí dường như còn độc đáo đến bất ngờ cho cả nhà thơ : “Bỗng nhận ra hương ổi”. Dường như cái hương thơm dịu ấy chỉ thoang thoảng quanh quất đâu đây. Sông vào mùa này chẳng có mưa to gió lớn nên nước cứ “dềnh dàng”. cứ cố nán lại để đợi chờ ai. cũng không quá nhẹ để người ta dễ lãng quên. Làn gió se se lạnh của mùa thu cũng rất khác với cái gió tê tái của mùa đông.

dùng làm vòng nón. đặt lá lên dùng nắm giẻ vuốt cho phẳng. Còn Hữu Thỉnh. Người ta đốt diêm sinh hơ cho lá trắng ra. đang thay đổi. Nhưng có lẽ sẽ chẳng ai biết mà lại quên được một chớm “Thu sang” của Hữu Thỉnh . huyện Thanh Oai . phải “Vắt nửa mình sang thu”. Tàu lá nón khi đem về vẫn còn xanh nhăn nheo. Còn loại nón khâu như ngày nay xuất hiện phải nhờ đến sự ra đời của chiếc kim.một mùa thu nhẹ nhàng.Hà Nội) có 16 lớp vòng. nón cũng có nhiều biến đổi về kiểu dáng và chất liệu. trên thạp đồng Đào Thịnh vào 2500-3000 năm về trước. gần gũi của người phụ nữ Việt Nam . Ở nơi nào cũng vậy. nếu nóng quá thì bị giòn. sau lại nhăn như cũ. Con số 16 là kết . nó không còn vương vấn chút gì của mùa hè rực lửa. Phải chăng đám mây kia có hai nửa thì một nửa nằm bên mùa hạ. Không biết ở đây là mùa thu lưu luyến mùa thạ hay nhà thơ đang mong chờ mùa hạ mà vẫn lưu luyến mùa thu đây? Điêu này thì Hữu Thỉnh thật khác với các nhà thơ khác. vàng cháy. Chiếc nón đã được chạm khắc trên những cổ vật như trống đồng Ngọc Lũ. Theo sự phát triển của lịch sử qua các thời đại. dùng một loại sợi rất dai lấy từ bẹ cây móc (ngày nay người ta thường dùng sợi chỉ nilon) để khâu và tre làm vành. Cũng viết về mùa thu. nón được tết đan. đồng thời tránh cho lá khỏi mốc. Nguyễn Khuyến viết: “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” – có nghĩa là thu của Nguyễn Khuyến đã thực là thu. nồng đượm hơi ấm quê nhà như thế. tức là vào thời kỳ người ta chế luyện được sắt (khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên). Thậm chí ngay cả đám mây mùa hạ cũng thấy sốt ruột. Trong làng thơ dân tộc. Tre chọn ống dài vuốt nhọn. nguội quá lá chỉ phẳng lúc đầu. trông qua như một cô thôn nữ mộc mạc mà sao lại đằm thắm khó quên đến thế! (sưu tầm) Thuyết minh về chiếc nón lá của người Việt Chiếc nón lá là người bạn thủy chung. nữ tính. đã và sẽ có nhiều bài thơ thu hay. Chắc hản phải yêu mùa thu lắm Hữu Thỉnh mới vẽ ra được một bức tranh thu nồng đượm hơi ấm đất trời. Nón Chuông (làng nón nổi tiếng Việt Nam ở làng Chuông. ông viết mùa thu nhưng lại là vào lúc giao mùa. Lửa phải vừa độ. gác lên dàn bếp hong khói chống mối mọt. Nguyên liệu làm nón không phức tạp. được đem là bằng cách dùng một miếng sắt đốt nóng. muốn làm được một chiếc nón phải dùng lá của một loại cọ nhỏ mọc hoang để lợp.chuyển mình. Lúc đầu khi chưa có dụng cụ để khâu thắt. nửa kia thuộc về mùa thu.

đồng lúa. Những sợi móc dùng để khâu thường có độ dài. nụ cười.. thắt lưng bao. tất cả đều để che chắn cho những con người sống trên một dải đất nắng lắm mưa nhiều. Nón có nhiều loại. ngắn khác nhau. hay những hình ảnh bụi tre. váy lĩnh. khiến khi nhìn vào chiếc nón chỉ thấy tăm tắp những mũi khâu mịn màng. Trong nghệ thuật. Con người Việt Nam có tình cảm sâu sắc và gắn bó với chiếc nón lá giản dị dù gặp nó ở bất cứ đâu trên trái đất này. má lúm đồng tiền. mềm mại và kín đáo của người phụ nữ Việt Nam . Ngoài chức năng che nắng.Tác giả. che mưa. đôi khi là vật để trao đổi tâm tư tình cảm của riêng mình. Cùng với áo dài. áo cánh. lựa chọn qua nhiều năm. Người ta gắn lên đỉnh của lòng nón một mảnh gương tròn nho nhỏ để các cô gái làm duyên kín đáo. tiết mục múa nón của các cô gái với chiếc áo dài duyên dáng thể hiện tính dịu dàng. Nhưng vẻ đẹp của chiếc nón chủ yếu nhờ vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ tạo nên. chơi hội. nón chóp nhọn đầu. những sợi tóc mai. chiếc nón còn hướng tới mục đích làm đẹp cho con người và phù hợp với cảm quan thẩm mỹ của người Việt: đẹp một cách tế nhị. phải soi lên nắng mới thấy được gọi là nón bài thơ.. cho đến nay đã trở thành một nguyên tắc không thay đổi.. cái gáy trắng ngần của cô gái dường như được tôn thêm nét duyên dáng.. Và cái tài của người thợ làng Chuông là các múi nối sợi móc được dấu kín.quả của sự nghiên cứu. . yếm đào. kín đáo. đi chợ. (Sưu tầm) CHIẾC LƯỢC NGÀ ( Trích ) I. Người ta đội nón làm đồng. Những mũi kim khâu được ước lượng mà đều như đo. Các cô gái Việt Nam chăm chút chiếc nón như một vật trang sức. nón thúng rộng vành. những câu thơ trữ tình.. tác phẩm 1. chiếc nón được coi là một thứ phục trang truyền thống của phụ nữ Việt Nam . Muốn khâu cho liên tục thì gần hết sợi nọ phải nối tiếp sợi kia. Trong thời kì kháng chiến chống Pháp. nón ba tầm như nón thúng nhưng mảnh mai hơn. đôi mắt.Tác giả Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932 quê ở huyện Chợ Mới. Công phu nhất là vừa vẽ chìm dưới lớp lá nón những hoa văn vui mắt. tỉnh An Giang. ông tham gia bộ đội. Dưới vành nón.. kín đáo mà không kém phần quyến rũ.

Từ năm 1958 ông công tác tại Hội nhà văn Việt Nam. Nhưng ông đã hi sinh khi chưa thể gửi món quà ấy cho con gái. Đây là tình huống cơ bản của truyện . làm biên tập cho tuần báo Văn nghệ của Hội nhà văn. Bé Thu không nhận ra cha vì cái sẹo trên mặt làm ba em không giống với người trong bức ảnh chụp với má mà em được biết. anh hi sinh. Đến lúc thu nhận ra cha. tiểu thuyết. ông tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác. Từ sau năm 1954 ông tập kết ra Bắc. Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng có nhiều thể loại: truyện ngắn. Trước lúc nhắm mắt.Cuộc gặp gỡ của hai cha con anh Sáu sau tám năm xa cách. anh còn kịp trao cây lược cho người bạn với lời nhắn gửi không nói lên lời. II. Trong một trận càn. thì tình huống thứ hai lại biểu lộ tình cảm sâu sắc của người cha đối với con.hoạt động ở chiến trrường Nam Bộ. anh Sáu dồn hết tình cảm yêu thương và mong nhớ đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà để tặng con gái bé bỏng.Truyện ngắn Chiếc lược ngà 1. Mãi khi con gái lên tám tuổi anh mới có dịp về thăm nhà.Ở khu căn cứ. 2. khi tác giả đang hoạt động ở chiến trường Nam Bộ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ và được đưa vào tập truyện cùng tên.Tóm tắt truyện Anh Sáu xa nhà đi kháng chiến. kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hoà bình.Nếu tình huống thứ nhất bộc lộ tình cảm mãnh liệt của bé Thu với cha. Lối viết của Nguyễn Quang Sáng giản dị. công tác tại phòng văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam và bắt đầu viết văn. Trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. mộc mạc. nhưng sâu sắc đậm đà chất Nam Bộ. . người cha dồn hết tình cảm yêu quí. Em đối xử với ba như người xa lạ.Tình huống truyện Truyện đã thể hiện tình cha con sâu sắc của hai cha con anh Sáu trong hai tình huống: . .Tác phẩm Truyện ngắn Chiếc lược ngà được viết năm 1966. nhớ thương đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để tặng cô con gái bé bỏng. đến lúc em nhận ra và biểu lộ tình cảm thắm thiết thì anh Sáu lại phải ra đi. tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc anh Sáu phải ra đi. 2. nhưng thật trớ trêu là bé Thu không nhận ra cha. Ở khu căn cứ.

nên nó không tin ông Sáu là ba nó chỉ vì trên mặt ông có thêm vết sẹo.Gặp lại con sau nhiều năm xa cách với bao nỗi nhớ thương nên ông Sáu không kìm được nỗi vui mừng trong phút đầu nhìn thấy đứa con. khi ông Sáu được về phép a. hôn cổ.Thái độ và hành động của Thu khi nhận ra người cha . éo le của đời sống và người lớn cũng không ai kịp chuẩn bị cho nó những khả năng bất thường.Sự ương ngạnh của bé Thu hoàn toàn không đáng trách. “ Nó hôn ba nó cùng khắp. Trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh. Phản ứng tâm lí của em là hoàn toàn tự nhiên. Tâm lí và thái độ ấy của bé Thu được biểu hiện qua hàng loạt chi tiết mà người kể chuyện quan sát và thuật lại rất sinh động: hốt hoảng. nhất định không chịu nhờ ông chắt nước nồi cơm to đang sôi. hất cái trứng cá mà ông đã gắp cho ra khỏi bát. xa cách. khác với hình ba mà nó được biết. tình yêu và nỗi mong nhớ với người cha xa cách đã bị dồn nén bấy lâu. Trong cái cứng đầu của em có ẩn chứa cả sự kiêu hãnh trẻ thơ về một tình yêu dành cho người cha khác-người trong tấm hình chụp chung với má em. nó còn quá bé nhỏ để có thể hiểu được những tình thế khắc nghiệt. và đôi vai nhỏ bé của nó run run” . rồi “ nó vừa kêu vừa chạy xô tới. hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa”. nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó”. Vì thế trong giờ phút chia tay với cha. và ông Sáu càng muốn gần con thì đứacon lại càng tỏ ra lạnh nhạt. mặt tái đi. thái độ và hành động của bé Thu đã đột ngột thay đổi hoàn toàn.Thái độ và hành động của Thu trước khi nhận ra ông Sáu là cha . nhanh như một con sóc. chân thật. Thu đã được bà giải thích về vết thẹo làm thay đổi khuôn mặt ba nó. rồi vụt chạy và kêu thét lên khi mới gặp ông Sáu. tình cảm của em sâu sắc. chỉ gọi trống không với ông Sáu mà không chịu gọi cha. đáp lại sự vồ vập của người cha. Nhưng thật trớ trêu. Sự nghi ngờ bấy lâu được giải tỏa và ở Thu nảy sinh một trạng thái như là sự ân hận nuối tiếc: “ Nghe bà kể nó nằm im. “ hai tay nó siết chặt lấy cổ.Trong đêm bỏ về nhà bà ngoại. em chỉ yêu ba khi tin chắc đó đúng là ba. chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó. Nó hôn tóc. khi xuống xuồng còn cố ý khua dây cột xuồng rổn rảng thật to.Phân tích diễn biến tâm lí và tình cảm của bé Thu trong lần đầu gặp cha cuối cùng.Trong buổi sáng cuối cùng. nó còn chứng tỏ em có cá tính mạnh mẽ. b. trước phút ông Sáu phải lên đường. lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”. bé Thu lại tỏ ra ngờ vực lảng tránh. cuối cùng khi bị ông Sáu tức giận đánh một cái thì bỏ về nhà bà ngoại. nay nay bùng ra thật mạnh mẽ và hối .3. . Lần đầu tiên Thu cất tiếng gọi ba và tiếng kêu của nó như xé.

sung sướng.Tình cảm của ông Sáu với con đã được thể hiện phần nào trong chuyến về phép thăm nhà. c.hả. Chứng kiến những biểu hiện tình cảm ấy trong cảnh ngộ cha con ông Sáu phải chia tay. thận trọng. ông đã vô cùng vui mừng.Câu chuyện về chiếc lược ngà không chỉ nói lên tình cha con thắm thiết. éo le mà chiến tranh đã gây ra cho bao nhiêu con người. . rồi ông dành hết tâm trí.Nghệ thuật trần thuật của truyện . sâu nặng của cha con ông Sáu. anh cưa từng chiếc răng lược.Nỗi day dứt ám ảnh ông suốt nhiều ngày sau khi ông chia tay với gia đình là việc ông đã đánh con khi nóng giận. Nhưng rồi một tình cảnh đau thương lại đến với ông Sáu: Ông đã hi sinh khi chưa kịp trao vào tay đứa con gái chiếc lược ngà. Ở Thu còn có nét cá tính là cứng cỏi tưởng như ương ngạnh. có người không cầm được nước mắt và người kể chuyện thì cảm thấy như có bàn tay ai nắm lấy trái tim mình.Khi kiếm được một khúc ngà.Qua những diễn biến tâm lí của bé Thu được miêu tả trong truyện. . “ Trên sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng. nhưng cũng thật dứt khoát rạch ròi. nhớ thương mog đợi của người cha đối với đứa con xa cách.Một số nét tính cách của Thu biểu hiện qua tâm lí và hành động .Phân tích tình cảm cha con sâu nặng ở anh Sáu . Chiếc lược ngà đã thành một vật quí giá. . cuống quýt có xen lẫn cả sự hối hận. tẩn mẩn khắc từng nét: “ Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. nhưng Thu vẫn là một đứa trẻ với tất cả nét hồn nhiên. công sức vào việc làm một cây lược: “ Những lúc rỗi.Đó là tình cảm thật sâu sắc. thiêng liêng với ông Sáu. tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. 4. khi ông Sáu ở trong rừng tại khu căn cứ. ta thấy tác giả tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ và diễn tả rất sinh động với tấm lòng yêu mến và trân trọng những tình cảm trẻ thơ. nhưng được biểu hiện tập trung và sâu sắc ở phần sau của truyện. mất mát. Nó làm dịu đi nỗi ân hận và chứa đựng bao nhiêu tình cảm yêu mến. bao nhiêu gia đình. Rồi lời dặn của con: “ Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba” đã thúc đẩy ông nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà dành cho con. ngây thơ của con trẻ. mà còn gợi cho người đọc nghĩ đến và thấm thía những đau thương. 5. . mạnh mẽ.

Lựa chọn nhân vật kể chuyện thích hợp. Cảm nghĩ về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà’’ Cảm nghĩ về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà’’ .Truyện Chiếc lược ngà khá tiêu biểu cho cho những đặc điểm trong nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng. đó là cuộc gặp gỡ tình cờ của nhân vật người kể chuyện với bé Thu. bấy giờ đã thành một cô giao liên dũng cảm. Nguyễn Quang Sáng hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong chiến tranh và sau hòa bình. Nghệ thuật kể chuyện. các chi tiết và sự việc và nhân vật khác trong truyện bộc lộ rõ hơn. Truyện của ông thường có cốt truyện hấp dẫn. tự nhiên với giọng thân mật dân dã.Tác giả đã xây dựng được một cốt truyện khá chặt chẽ. Điều đáng chú ý là truyện ngắn này viết trong hoàn cảnh chiến tranh cá liệt nhưng lại tập trung nói về tình người-cụ thể ở đây là tình cha con trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh và tình đồng chí của những người cán bộ cách mạng. Đồng thời qua những ý nghĩ cảm xúc của nhân vật kể chuyện. có tính nhân bản bền vững. Vì thế. có những yếu tố bất ngờ nhưng hợp lí: bé Thu không nhận cha khi ông Sáu về thăm nhà. đầy xúc động với người cha trước lúc chia tay. *Những điểm cần lưu ý 1. hợp lí. ý nghĩa tư tưởng của truyện thêm sức thuyết phục. xoay quanh những tình huống khá bất ngờ nhưng tự nhiên. rồi lại biểu lộ những tình cảm thật nồng nhiệt. hi sinh của người cán bộ cách mạng. Đó không chỉ là tình cảm muôn thủa. Tình cha con được miêu tả cảm động ở cả hai phía: người cha cán bộ cách mạng và đứa con gái nhỏ.Truyện Chiếc lược ngà được Nguyễn Quang Sáng viết năm 1966. tình cảm ấy càng đáng trân trọng và đồng thời nó cũng cho thấy những nỗi đau mà chiến tranh gây ra cho cuộc sống bình thường của mọi người. vượt qua một quãng nguy hiểm ở Đồng Tháp Mười. Người kể chuyện trong vai một người bạn thân thiết của ông Sáu. mà còn được được thể hiện trong hoàn cảnh ngặt nghèo và éo le của chiến tranh và trong cuộc sống nhiều gian khổ. 2. dẫn truyện của tác giả thường thoải mái. trong một lần ông cùng đoàn cán bộ theo đường dây giao liên. không chỉ là người chứng kiến khách quan và kể lại mà còn bày tỏ sự đồng cảm. chia sẻ với các nhân vật. . rất am hiểu và gắn bó với mảnh đất ấy.. Ngôn ngữ trong truyện của ông gần với khẩu ngữ và đậm màu sắc Nam Bộ. Là một nhà văn Nam Bộ. tại chiến trường Nam Bộ trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt. Sự bất ngờ càng gây được hứng thú cho người đọc khi ở phần sau của truyện tác giả còn tạo thêm một bất ngờ nữa.

Cảm nhận chung về nhân vật bé Thu.1. + Trong hai ngày sau đó Thu hoàn toàn lạnh lùng trước những cử chỉ đầy yêu thương của cha. nó cự tuyệt tiếng ba một cách quyết liệt trong những cảnh huống mời ba vào ăn cơm. cha đi công tác khi Thu chưa đầy một tuổi.Giới thiệu được tác giả. tác phẩm và nhân vật bé Thu với tài năng miêu tả tâm lý nhân vật. có cá tính bướng bỉnh nhưng yêu thương ba sâu sắc. Thân bài: Phân tích diễn biến tâm lý của nhân vật bé Thu . bởi em còn quá nhỏ chưa hiểu được những tình thế khắc nghiệt éo le của đời sống.sự kiêu hãnh của trẻ thơ về một tình yêu nguyên vẹn trong sáng mà Thu dành cho ba. lớn lên em chưa một lần gặp ba được ba chăm sóc yêu thương. tình yêu Thu dành cho ba chỉ gửi trong tấm ảnh ba chụp chung cùng má. Đằng sau những hành động ấy ẩn chứa cả tình yêu thương ba. ánh mắt cử chỉ hành động của bé Thu như thể hiện sự ân hận. 2.Diễn biến tâm lý của bé Thu trước khi nhận anh Sáu là cha: + Yêu thương ba nhưng khi gặp anh Sáu.nhân vật chính của đoạn trích “Chiếc lược ngà’’ một cô bé hồn nhiên ngây thơ. đất nước có chiến tranh. xử lí nồi cơm sôi. đó là phản ứng tâm lí hoàn toàn tự nhiên của một đứa trẻ có cá tính mạnh mẽ… Hành động tưởng như vô lễ đáng trách của Thu lại hoàn toàn không đáng trách mà còn đáng thương. và khi bị đánh nó đã bỏ đi một cách bất cần…. và thái độ hất tung cái trứng cá trong bữa cơm…Từ cự tuyệt nó đã phản ứng mạnh mẽ….Diễn biến tâm lý của Thu khi nhận ba: + Sự thay đổi thái độ đến khó hiểu của Thu. . Mở bài: . sợ hãi và bỏ chạy…. sự nuối tiếc. . nó tức giận. không ương bướng mà buồn rầu nghĩ ngợi sâu xa.những hành động chứa đựng sự lảng tránh đó lại hoàn toàn phù hợp với tâm lí trẻ thơ bởi trong suy nghĩ của Thu anh Sáu là người đàn ông lạ lại có vết thẹo trên mặt giần giật dễ sợ. . trước những hành động vội vã thái độ xúc động. muốn nhận ba nhưng e ngại vì đã làm ba giận.nó căm ghét cao độ người đàn ông măt thẹo kia. . .Khái quát được cảnh ngộ của gia đình bé Thu. nôn nóng của cha…Thu ngạc nhiên lạ lùng.

đồng thời bộc lộ ấn tượng sâu đậm nhất về nhân vật cũng như toàn bộ tác phẩm. thiêng liêng đã tác động sâu sắc đến bác Ba. . trân trọng tình cảm gia đình trong cuộc sống hôm nay. Tình yêu ấy kết đọng trong âm vang tiếng Ba trong những hành động vội vã: Chạy nhanh như con sóc. Vết thẹo không chỉ gây ra nỗi đau về thể xác mà còn hằn nên nỗi đau về tinh thần gây ra sự xa cách hiểu lầm giữa cha con bé Thu.+ Tình yêu thương ba được bộc lộ hối hả ào ạt mãnh liệt khi anh Sáu nói “Thôi ba đi nghe con”. hôn ba nó cùng khắp.Những năm tháng sống gắn bó với mảnh đất Nam Bộ. . Kết bài: Khẳng định thành công. nhảy thót lên.. Nhưng chiến tranh dù có tàn khốc bao nhiêu thì tình cảm cha con anh Sáu càng trở lên thiêng liêng sâu lặng.Khẳng định lại vấn đề: Ngòi bút miêu tả tâm lý khắc hoạ tính cách nhân vật tinh tế thể hiện được ở bé Thu một cô bé hồn nhiên ngây thơ. (Sưu tầm) Nhân vật anh thanh niên trong "Lặng lẽ Sa Pa" Trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”.. mọi người … + Sự lý giải nguyên nhân việc hiểu lầm của bé Thu đựợc tác giả thể hiện thật khéo léo đó là do vết thẹo trên mặt người ba khi hiểu ra sự thực Thu “nằm im lăn lộn thở dài như người lớn”. . mạnh mẽ cứng cỏi yêu ghét rạch ròi. Dàn ý chi tiết . đất nước”.Hãy phân tích để làm rõ vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa cao quý của những công việc thầm lặng.Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh. tác giả Nguyễn Thành Long đã gửi gắm chủ đề của câu chuyện vào một lời nhận xét ngắn gọn “trong cái lặng im. Trong sự đối lập của hành động thái độ trước và sau khi nhân ba lại là sự nhất quán về tính cách về tình yêu thương ba sâu sắc. trong lời ước nguyện mua cây lược. 3. nhân hậu. tiếng khóc nức nở…Đó là cuộc hội ngộ chia tay đầy xúc động. trái tim nhạy cảm. am hiểu tâm lý của trẻ thơ đã giúp tác giả xây dựng thành công nhân vật bé Thu.

vì cuộc sống của con người. 1. anh yêu nó tới mức trong khi mọi người còn ái ngại cho cuộc sống ở độ cao 2600m của anh thì anh lại ước ao được làm việc ở độ cao trên 3000m. ta với công việc là một. nghiên cứu khoa học. phục vụ chiến đấu. + Quan niệm của anh về hạnh phúc thật là đơn giản nhưng cũng thật đẹp. tác giả Nguyễn Thành Long đã gửi gắm chủ đề của câu chuyện “trong cái lặng im. nhưng truyện còn giới thiệu với chúng ta về vẻ đẹp của con người Sa Pa. anh thấy mình “thật hạnh phúc”. Điều ấy sẽ được thấy rõ qua nhân vật: anh thanh niên. những vất vả của công việc. Khi biết một lần do phát hiện kịp thời một đám mây khô mà anh đã góp phần vào chiến thắng của không quân ta bắn rơi được máy bay Mỹ trên cầu Hàm Rồng. dựa vào công việc báo trước thời tiết hàng ngày. . sao lại gọi là một mình được” và anh hiểu rằng công việc của anh còn gắn với công việc của bao anh em đồng chí dưới kia.Trong văn học Việt Nam có những cây bút văn xuôi chỉ chuyên về truyện ngắn và ký – Nguyễn Thành Long là một trong số đó. Ông được khẳng định như một cây bút truyện ngắn và ký đáng chú ý trong những năm 60 – 70 với cả gần chục sách đã in.Trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”. Vì anh cho như vậy mới gọi là lý tưởng. Thân bài: .I... Mở bài: . + Anh có những suy nghĩ thật đúng và sâu sắc về công việc đối với cuộc sống con người: “khi ta làm việc...Vượt lên hoàn cảnh sống. đo chấn động mặt đất. Đó là những con người miệt mài làm việc. đầy chất thơ. “Lặng lẽ Sa Pa” là kết quả của chuyến “thâm nhập thực tế” ở Lào Cai của tác giả trong mùa hè năm ấy. đo mưa. người đọc thấy vẻ đẹp của Sa Pa hiện lên thật độc đáo. quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa. . trong lặng lẽ mà rất khẩn trương vì lợi ích của đất nước. Công việc của anh là: đo gió. ông. tính mây. Đó là anh thanh niên: . anh có những suy nghĩ rất đẹp: + Đối với công việc. phục vụ sản xuất. “Công việc của cháu gian khổ thật đấy chứ cất nó đi.Đọc truyện. đất nước”. đo nắng. . II. cháu buồn đến chết mất”. Sống một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2600m.Nhân vật chính trong truyện làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu.

đúng giờ “ốp”. Ngày nào cũng vậy.+ Cuộc sống của anh không cô đơn buồn tủi như người khác nghĩ. Nhờ có sách mà anh chống trọi được với sự vắng lặng quanh năm. Bởi anh còn biết tạo niềm vui trong công việc. mở mang kiến thức. đó là đọc sách. chính xác đủ 4 lần trong một ngày vào lúc 4 giờ. dù mưa tuyết giá lạnh thế nào anh cũng trở dậy ra ngoài trời làm việc. khao khát được gặp gỡ. 2) Ta còn bắt gặp ở đất Sa Pa những con người làm việc âm thầm. vắng vẻ quanh năm suốt tháng một mình trên đỉnh núi cao. không một bóng người. Mới đầu. + Anh còn là người khiêm tốn. Dẫu phải sống một mình nhưng anh vẫn luôn quan tâm tới người khác: anh gửi biếu gói tam thất cho vợ bác lái xe vừa bị ốm. 7 giờ tối và 1 giờ sáng. lặng lẽ cho đất nước qua lời kể của anh thanh niên: . được trò chuyện. anh làm việc một cách đều đặn. ở anh còn có những hành động thật đẹp đẽ biết bao: + Mặc dù chỉ có một mình. chân thành với khách. làm việc một cách nghiêm túc.Từ những suy nghĩ đẹp về công việc. anh “thèm người” tới mức phải lấy cây chắn ngang đường ô tô để được nghe tiếng người ! Về sau anh nghĩ: “Nếu đó chỉ là nỗi nhớ phồn hoa đô thị thì thật xoàng” và anh đã vượt qua để sống. tự giác với tinh thần trách nhiệm cao.Ở người thanh niên ấy còn có một phong cách sống rất đẹp: + Đó là sự cởi mở. không người giám sát. . hạnh phúc và cuộc sống. anh nhiệt tình giới thiệu với ông những người khác mà anh cho rằng đáng cảm phục hơn anh. Nhờ có sách mà anh tiếp tục học hành. Khi ông hoạ sĩ muốn vẽ chân dung anh. Vì sách chính là người bạn để anh “trò chuyện”. 11 giờ. một vườn hoa rực rỡ. thành thực cảm thấy công việc và những đóng góp của mình chỉ là nhỏ bé. . tặng hoa cho cô gái. để trở thành: “con người cô độc nhất thế gian” mà bất cứ ai đã một lần gặp anh đều mang theo ấn tượng đẹp đẽ. Nửa đêm. + Nhưng cái gian khổ nhất là vượt qua được sự cô đơn. mời bác lái xe và ông hoạ sĩ uống trà. tặng cho người đi xa một giỏ trứng gà tươi. rất qúy trọng tình cảm của mọi người. .Anh còn có một nếp sống đẹp: Anh tự sắp xếp cuộc sống một mình ở trạm một cách ngăn nắp: có một vườn rau xanh tốt. một đàn gà đẻ trứng. làm việc một mình với cỏ cây thiên nhiên Sa Pa. anh đã vượt qua những gian khổ của hoàn cảnh.

suốt ngày chờ sét” để lập bản đồ tìm ra tài nguyên trong lòng đất. 3) Nhân vật anh thanh niên. . để xu hào trên toàn miền Bắc ta ăn được to hơn. Những con người ấy làm cho anh thanh niên thấy “cuộc đời đẹp quá” đâu còn buồn tẻ “cô độc nhất thế gian”. Họ đã dệt lên bài ca về tình yêu tổ quốc. Anh thanh niên có những suy nghĩ và quan niệm đúng đắn về công việc và cuộc sống. . Kết bài: Qua phần phân tích trên ta thấy “Lặng lẽ Sa Pa” đang ngân vang trong lòng ta những rung động nhẹ nhàng mà thú vị về những con người âm thầm lặng lẽ nhưng thật đáng yêu. anh cán bộ nghiên cứu sét giúp ta hiểu thêm ý nghĩa của những công việc thầm lặng: . đáng quý ở anh thanh niên. chăm chú rình xem cách lấy mật của ong để rồi tự tay thụ phấn cho hàng vạn cây su hào để hạt giống làm ra tốt hơn. tình yêu đất nước. Anh thanh niên có những hành động cao đẹp. ngọt hơn trước.A) Đó là ông kỹ sư vườn rau: Ngày này qua ngày khác ngồi trong vườn. cho đất nước”. + Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi mang lại niềm vui. niềm đam mê cháy bỏng. có sức thuyết phục lan toả với những người xung quanh. Hướng dẫn: Phân tích những phẩm chất cao đẹp.Cuộc sống lao động giản dị nhưng cao đẹp làm nên vẻ đẹp đích thực của mỗi con người.Sống cống hiến cho dân tộc.. đáng quý ở anh thanh niên. Sưu tầm Phân tích những phẩm chất cao đẹp.. Đúng như tác giả đã viết: “Trong cái lặng im. B) Đó là anh cán bộ nghiên cứu sét: Đã “11 năm không một ngày xa cơ quan” luôn “trong tư thế sẵn sàng. hạnh phúc cho mọi người. III. sống có ý nghĩa sẽ mang đến cho con người niềm vui và hạnh phúc. + Công việc là niềm vui. ông kỹ sư vườn rau. cho nhân dân.

+ Tổ chức cuộc sống ngăn nắp. Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt nông thôn và cảnh ngộ của người nông dân. hành động của thanh niên chúng ta trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới. phong phú cả về vật chất và tinh thần. + Dồn tất cả thời gian công sức. đáng trân trọng. khoa học. đáng mến trong “Lặng lẽ Sa Pa”. cởi mở. chân thành với mọi người. lặng thầm. Nhân vật anh thanh niên giúp ta hiểu thêm về thế hệ cha anh đi trước trong một giai đoạn lịch sử của dân tộc. ông nói một cách say sưa mà không cần biết người nghe có chú ý hay không. Truyện ngắn “Làng” là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân được viết trong thời kì đầu của cuộc khánh chiến chống Pháp (1948). Anh thanh niên có phong cách sống rất đáng quý. Nhân vật anh thanh niên tiêu biểu cho những con người lao động mới. ta nghĩ tới trách nhiệm. tự nguyện tự giác hoàn thành xuất sắc công việc vốn hết sức vất vả và đơn điệu. vô tư. cống hiến hết mình cho đất nước. (Nguồn: Internet) Phân tích truyện ngắn Làng (Kim Lân) Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài sinh năm 1921.+ Vượt qua mọi khó khăn thử thách để làm quen với cuộc sống chỉ có một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2. Tình cảm và ý nghĩa này đã trở thành phổ biến ở mỗi người nông dân VN ta trong những ngày đầu chống Pháp. trời mưa đi từ đầu làng đến cuối xóm bùn . Đánh giá nhân vật. quê ở Hà Bắc. đường trong làng lát toàn bằng đá xanh. ông đã có sáng tác đăng báo từ trước cách mạng tháng 8. sầm uất. tha thiết . Ông khoe làng ông có nhà ngói san sát. + Khiêm tốn. Là nhà văn am hiểu sâu sắc. khâm phục những nhân vật đáng quý. Đây là một tác phẩm độc đáo viết về lòng yêu nước của ông Hai Tu. Trân trọng. sống có lý tưởng. lòng yêu nước này xuất phát từ tình yêu quê hương. gắn bó với nông dân và nông thôn. Kể về làng chợ Dầu. Là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. yêu đến nỗi đi đâu ông cũng khoe về cái làng của ông. phát biểu cảm nghĩ. yêu làng sâu sắc của ông.600 m. Ông Hai yêu cái làng chợ Dầu của ông thật đậm đà.

ông không dám đi đâu hết. Ông tự hào. là chợt nhớ đến câu nói bất hủ của nhà văn I-li-a Ê-ren-bua : “lòng yêu nhà. vinh dự vì làng mình có cái nét độc đáo. sung .không dính đến gót chân. Tháng 5 ngày 10 phơi rơm và thóc tốt thượng hạng. nó đã giúp ông hiểu dc sự sai lầm của mình. những ụ. giếng nướ.. ông Hai suốt ngày ra trụ sở để nghe ngóng tin tức về làng chợ Dầu và ông nghe tin cả làng ông Việt gian theo tây. không có lấy một hạt thóc đất. Tới đây. Chính cái tình huống ngặt nghèo khi giặc tràn vào làng. Có thể tình yêu nước của họ bắt nguồn từ cái đơn giản. Ông nguyền rủa bọn theo Tây : “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này”. Những nỗi lo âu.. ông buộc phải xa làng. một tin khác lại đính chính rằng làng ông không theo giặc. Hai tình cảm này đã dẫn đến cuộc xung đột nội tâm trong lòng ông. cuộc đời và số phận của ông Hai thật sự gắn bó với buồn vui của làng. mỗi khi khoe về làng là ông khoe về những ngày khởi nghĩa dồn dập. Ông còn tự hào về cái sinh phần của tổng đốc làng ông. làng và nước bay giờ đã trở thành đối địch. Ông cảm thấy đâu đớn và nhục nhã vì cái làng chợ Dầu yêu quý của mình theo giặc. Thế rồi. nỗi niềm và tâm sự của ông được thể hiện trong những lời trò chuyện của ông với đứa con út. Và từ đó. nên lúc tản cư. yêu làng xóm. Nhưng khi cách mạng thành công. Ông hỏi con: “con ủng hộ ai?” Thằng bá giơ tay mạnh bạo và rành rọt: “ Ùng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm”. da mặt tê rân rân” ông lão lặng đi. những hào. Xa làng ông mang theo tất cả nỗi niền thương nhớ. Cổ ông lão “ nghẹn ắng lại.” Có thể nói với ông Hai. sân đình… và nâng cao lên đó chính là : tình yêu đất nước. ông thấy tuyệt đường sinh sống và ông nảy ra ý định: “hay là quay về làng ?” nhưng rồi ý nghĩ đó lập tức bị ông lão phản đối ngay vì : “ làng thì yêu thật. ông khổ tâm day dứt khôn nguôi. suốt ngày ru rú trong nhà và nghe ngóng tin tức. xấu hổ tan biến. Đến khi mụ chủ nhà đến báo không cho gia đình ông ở nữa. Phải thực sự am hiểu sâu sắc về con người. trong những ngày này. nhỏ : cây đa. nhưng làng theo Tây thì phải thù. Tự hào và yêu nơi “ chôn rau cắt rốn” của mình trở thành một truyền thống và tâm lý chung của mọi người nông dân thời bấy giờ. tưởng như không thể thở được. Cũng chình từ lúc ấy. lắm công trình không để đâu hết. tình yêu đất nước được ông Hai đặt lên trên hết. Quả thật. những buổi tập quân sự có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập. Cái lòng của bố con ông là thế đấy “chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”. yêu miền quê trở nên lòng yêu TQ “. Thay vào đó là nỗi vui mừng.. Nhưng trong đó. có bề dày lịch sử. nhất là tâm lí của người dân thì Kim Lân mới diễn tả đúng tâm trang nhân vật như vậy. Vì vậy. Trò chuyện với con như là để thanh minh cho làng mình. Những ngày ở làng Thắng. Ông còn khoe cả những hố .

đơn giản. nhất là nghệ thật sử dụng ngôn ngữ nhân vật mà ông Hai là điển hình. điều làm ta cảm động đó là ông không hề tiếc hay buồn khi ngôi nhà của ông bị đốt . yêu làng của người nông dân VN thời kháng chiến chống Pháp. theo Đảng khánh chiến đến cùng. Đi kháng chiến. Đọc tác phẩm giúp ta hình dung được một thời kỳ chống Pháp sôi nổi của nhân dân. khoe cả cái việc nhà ông bị đốt cháy một cách sung sướng. Yêu làng đến nỗi đi đâu cũng khoe về làng. cái tin làng chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. chất phác. và khi biết làng mình không theo giặc. thậm chí còn khoe cả tin nhà mình bị đố cháy một cách vui sướng.Mở bài Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Xây dựng được những chi tiết ấy. Ông đi từ đầu làng đến cuối xóm khoe cái tin làng mình không theo giặc. Diễn biến tâm lý của ông Hai từ đầu đến cuối truyện thật cảm đông. tủi nhục. Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả” Qua lời khoe củ ông Hai. Kim Lân đã thể hiện được tài năng của mình qua tác phẩm này. mọi người một lòng theo Bác. Kim Lân đã chứng tỏ được tài nghệ của mình. ông sung sướng. Họ đã đặt tình yêu đất nước lên trên tình yêu làng. kể cả những từ dung sai: “bác Thứ đâu rồi… Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả”. từ lâu đã am hiểu người nông dân. Niềm vui vì làng không theo giặc đã choáng hết tâm trí ông. ông ấy cho biết… cái tin. Quả thật. buồn tủi đã được rũ sạch. Lời nói của ông hai đúng là lời nói của những người nông dân thời bấy giờ. hả hê. Truyện “Làng” là một tác phẩm khá thành công khi viết về lòng yêu nước. một trong những người dân bấy giờ. Khi biết làng bị tình nghi theo giặc thì ông đau khổ. miêu tả sự phát triển tâm lý nhân vật như vậy. Kim Lân thật thành công trong nghệ thuật xây xựng truyện. Bên cạnh đó Kim Lân còn thành công trong việc miêu tả tâm lý nhân vật. có lẽ vì vẫy mà cuộc chiến của ta đã dành được thắng lợi vẻ vang. Ông gắn bó với thôn quê. ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân . Đốt nhẵn ! ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính. hả hê: “ bác Thứ đâu rồi ! Bác Thứ làm gì đấy ? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Mọi đau khổ. Dàn ý: A. Kim Lân rất thành công trong việc khắc họa hình ảnh của ông Hai.sướng. tiêu biểu cho tầng lớp nông dân VN sau cách mạng tháng 8.

trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm. Nhưng khi người ta kể rành rọt.Thân bài 1. đắp ụ. thông qua một con người cụ thể. đi theo kháng chiến. 2. thích bìh luận. ngày mai dăm khẩu. ông nhớ quá cái khong khí “đào đường. chỗ này giết một tí. ông xấu hổ lảng ra về. chưa tin. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người. Nghe họ chì . . tích tiểu thành đại. a. tinh thần kháng chiến.Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948. . Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc. một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. cả súng cũng vậy. khuân đá…”. đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê.… những đường hầm bí mật.Khi mới nghe tin xấu đó. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước.Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần. người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.. tình yêu nước. không tin không được. xẻ hào. . tình cảm quê hương đất nước. náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. Phải xa làng.Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến.Ông hay khoe làng. ông sững sờ. Sau cách mạng.…” đã xong chưa? . hôm nay dăm khẩu. b. . làm gì mà thằng Tây không bước sớm”. nhân vật ông Hai. ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương. chỗ kia giết một tí. Tình yêu làng. B. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc. ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm. in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có.Được cách mạng giải phóng. c. rồi ông lo “cái chòi gác.

lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.Về đến nhà. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà. . Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông. . nhìn thấy các con. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ. . hắt hủi”. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt. chân thành. vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân. + Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. . Tình cảm đó sâu nặng. Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”. Nhưng tình yêu nước. ông không dám ra ngoài.Ba bốn ngày sau. + Qua đó. Khi cái tin kia được cải chính. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc. Ông giận những người ở lại làng. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”. càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng. gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ.Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá.chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi. Ông luôn hoảng hốt giật mình.Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông . d. . ta thấy rõ: Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc). bố của nó. ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu.Tình cảm đối với kháng chiến. nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ.

.Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng. đối xử với ông như người xa lạ. . điều mà ông bấy lâu mong đợi được nghe con gái gọi tiếng “Ba !” không được đền đáp.Miêu tả rất cụ thể. Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động. Đứa trẻ hoàn toàn ngơ ngác. lạnh lùng. hành vi. C.dân lao động bình thường. Ông Sáu về thăm nhà sau bao năm ở chiến khu với cái tình của người cha nôn nao.Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật. cháy bỏng khát khao được gặp con. sâu nặng của ông Sáu và bé Thu. người đọc thấm thía tình yêu làng. tập I) thể hiện tình cha con thắm thiết. . . Nhưng ngay từ giây phút đầu. Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân.Kết bài: . yêu nước rất mộc mạc. 3. cao quý trong những người nông dân lao động bình thường. chân thành mà vô cùng sâu nặng.Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông. Với lòng mong nhớ con.Qua nhân vật ông Hai. ngôn ngữ đối thoại và độc thoại. ông càng đón chờ . (sưu tầm)Cảm nhận về tình cha con trong truyện "Chiếc lược ngà" Cảm nhận về tình cha con trong truyện "Chiếc lược ngà" Truyện “Chiếc lược ngà” (Nguyễn Quang Sáng) được viết trong cuộc kháng chiến chống Mĩ nhưng chủ yếu tập trung nói về tình người trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Đoạn trích “Chiếc lược ngà” (Sgk Văn 9. gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý.

tình cảm của con, nó càng cố tình cự nự. Điều đó, khiến ông đau đớn “hai tay buông xuống như bị gãy”. Có những tình huống, tưởng chừng thế nào nó cũng chịu thua, không ương ngạnh được nữa, phải gọi tiếng “Ba”. Nhưng nó vẫn không chịu cất tiếng “Ba” mà ông Sáu chờ đợi. Hành động trẻ con, nói năng cộc lốc, ngang ngạnh của Thu dành cho Ba khiến ông Sáu, bạn ông Sáu và cả người đọc đau lòng và suy nghĩ. Khi có gia đình, hạnh phúc được làm cha, tiếng gọi “Ba” của đứa con gái yêu chưa dành cho ông khiến ông “khổ tâm đến nỗi không khác được, chỉ biết nhìn con vừa khẽ lắc đầu vừa cười”. Phản ứng tâm lí của Thu là hoàn toàn tự nhiên. Thu còn quá bé để có thể hiểu tình thế éo le xảy ra trong chiến tranh. Bản thân người lớn cũng chưa ai chuẩn bị cho Thu ứng phó với bất thường. Điều đó, người đọc cảm được tình cảm chân thật, sâu sắc, mãnh liệt Thu dành cho ba người mà Thu biết trên ảnh, người cha được cô bé ghi sâu trong lòng từ tấm ảnh, không phải người đàn ông xưng là "ba". Đến khi được bà ngoại tháo gỡ thắc mắc trong lòng, về lai lịch vết thẹo, Thu vỡ lẽ đó thực là ba mình. Trăn trở dằn vặt, cùng tình yêu, khát khao bấy lâu mong gặp mặt cha dồn nén, bùng nổ dữ dội, quyết liệt vào giờ phút trước khi người cha lên đường. Tiếng “Ba... a... a... ba !” vỡ ra từ sâu thẳm lòng cô bé. Tiếng kêu mà ba nó chờ đợi bao năm ròng. Tiếng kêu làm nhói tim mọi người. Ông Sáu sung sướng, hạnh phúc nghẹn lời, không cầm được nước mắt. Thu vồ vập, cuống quít, níu giữ cha, níu giữ yêu thương bấy lâu nó mong đợi. “Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”, “hai tay nó xiết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run”. Đối với người cha, đó là tiếng “ba” đầu tiên và cũng là tiếng yêu thương cuối cùng ông được nghe từ con ! Ở chiến khu, ông cố gắng hết sức, thận trọng, tỉ mỉ làm cho con chiếc lược ngà. Ông đặt vào đấy tất cả tình cảm cha con. Chiếc lược trở thành vật thiêng, an ủi ông “gỡ rối phần nào tâm trạng”, nuôi dưỡng tình cha con. Ông thường xuyên “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt”. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ thành một nghệ nhân nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một tác phẩm duy nhất trong đời. Trước khi nhắm mắt xuôi tay, ông Sáu vẫn nhớ chiếc lược, nhờ bạn chuyển lại cho con - cử chỉ chuyển giao đó là một ước nguyện giữ gìn muôn đời tình cảm cha con, ruột thịt. Truyện “Chiếc lược ngà” đã diễn tả một cách cảm động tình cha con thắm thiết, sâu nặng của cha con ông Sáu trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh. Hình ảnh cây lược được gắn vào đó một trái tim thổn thức

tình ruột thịt, khẳng định giá trị nhân bản sâu sắc, cao đẹp thiêng liêng ! (Sưu tầm) Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và "Truyện Kiều" Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và "Truyện Kiều" I.Nguyễn Du 1.Nguyễn Du ( 1765 – 1820 ), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh trưởng trong một gia đình đại quí tộc có truyền thống văn học và nhiều đời làm quan. 2.Nguyễn Du sinh trưởng trong một thời đại có nhiều biến động dữ dội: Xã hội phong kiến Việt Nam bước vào thời kì khủng hoảng sâu sắc, phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra liên tục mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn. Phong trào nông dân Tây Sơn thất bại, chế độ phong kiến triều Nguyễn được thiết lập. 3.Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Du đã sống nhiều năm phiêu bạt trên đất Bắc( 1786 – 1796 ) rồi về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh ( 1796 – 182). Sau khi Nguyễn ánh lên ngôi, Nguyễn Du ra làm quan bất đắc dĩ với triều Nguyễn. Năm 1813 – 1814, ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc, năm 1820 khi chuẩn bị làm chánh sứ sang Trung Quốc lần thứ hai, nhưng chưa kịp đi thì ông bị bệnh và mất tại Huế. 4.Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hoá dân tộc và văn chương Trung Quốc. Cuộc đời từng trải, đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho ông một vốn sống phong phú và niềm cảm thông sâu sắc với những đau khổ của nhân dân. Nguyễn Du là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. 5.Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớn bằng chữ Hán và chữ Nôm. Về chữ Hán Nguyễn Du có ba tập thơ ( Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục ) với tổng số 243 bài. Về chữ Nôm xuất sắc nhất là Đoạn trường tân thanh, thường gọi là Truyện Kiều, ngoài ra còn có Văn chiêu hồn. II.Truyện Kiều 1.Nguồn gốc Truyện Kiều: Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du có dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ( Trung

Quốc ). Nhưng phần sáng tạo của Nguyễn Du là hết sức lớn, mang ý nghĩa quyết định đến sự thành công của tác phẩm. 2.Tóm tắt Truyện Kiều Truyện Kiều bao gồm 3254 câu thơ lục bát và được chia làm 3 phần; -Gặp gỡ và đính ước -Gia biến và lưu lạc -Đoàn tụ 2.Giá trị nội dung và nghệ thuật a.Nội dung: Truyện Kiều có hai giá trị lớn là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo, là tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người, tiếng nói lên án, tố cáo những thế lực xấu xa, tiếng nói khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và những khát vọng chân chính của con người như khát vọng về quyền sống, khát vọng tự do, công lí, khát vọng tình yêu, hạnh phúc… b.Nghệ thuật: Tác phẩm là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngôn ngữ và thể loại. Với Truyện Kiều, ngôn ngữ văn học dân tộc và thể thơ lục bát đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ. Nghệ thuật tự sự đã có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn truyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lí con người. (Sưu tầm) Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. A- Mở bài: - Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Ông gắn bó với thôn quê, từ lâu đã am hiểu người nông dân. Đi kháng chiến, ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân - Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948, trên số đầu tiên của tạp

ông nhớ quá cái khong khí “đào đường. Tình yêu làng. a. một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. hôm nay dăm khẩu. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người. xẻ hào. Nhưng khi người ta kể rành rọt. rồi ông lo “cái chòi gác. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông.Khi mới nghe tin xấu đó. in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có. . Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc. . tích tiểu thành đại. . nhân vật ông Hai. chỗ này giết một tí. thông qua một con người cụ thể. Phải xa làng. b. ngày mai dăm khẩu. đắp ụ. ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm.Được cách mạng giải phóng.…” đã xong chưa? .… những đường hầm bí mật. chỗ kia giết một tí. tình cảm quê hương đất nước. náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế. khuân đá…”. đi theo kháng chiến. . không tin không được. ông xấu hổ lảng ra về. ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới. tinh thần kháng chiến. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng. đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. 2.chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. B. cả súng cũng vậy.Thân bài 1. . thích bìh luận. Sau cách mạng. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước. ông sững sờ.Ông hay khoe làng. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc. tình yêu nước. chưa tin. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc. làm gì mà thằng Tây không bước sớm”.Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần. người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. c. Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi.Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến.

đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân. ta thấy rõ: • Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc). Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”. .Ba bốn ngày sau. Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”. nhìn thấy các con. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. . gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ. + Qua đó. càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng.. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt.Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá. lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Ông luôn hoảng hốt giật mình. với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông. hắt hủi”. bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. bố của nó. .Tình cảm đối với kháng chiến. Nhưng tình yêu nước. chân thành.Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường. ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà. Tình cảm đó sâu nặng. nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. Ông giận những người ở lại làng. . ông không dám ra ngoài. d. Khi cái tin kia được cải chính. + Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ. .Về đến nhà. • Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc. vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu.

Miêu tả rất cụ thể.Kết bài: . .Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật. gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ. cao quý trong những người nông dân lao động bình thường.gif[/IMG] Bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh "Sang Thu" mang cảm xúc bâng khuâng. ngôn ngữ đối thoại và độc thoại. hành vi. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý. .. (ST) [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image002. .Qua nhân vật ông Hai. Đây mùa thu tới.Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông. vấn vương trước đất trời trong trẻo đang biến chuyển nhẹ nhàng. yêu nước rất mộc mạc. mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng (Đây mùa thu tới) Thì với Hữu Thỉnh. Nếu như thu trong thơ Xuân Diệu bắt đầu với "sắc mơ phai" dệt giữa muôn ngàn cây. Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động. C. người đọc thấm thía tình yêu làng.Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng. 3. đó là: Bông~ nhận ra hương ôi? Phả vào trong gió se . Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân. "Sang thu" bắt đầu bằng những cảm nhận của nhà thơ trước tín hiệu giao mùa. chân thành mà vô cùng sâu nặng.

Cái hương vị ấy của vườn mẹ cứ ngào ngạt phả vào không gian. chầm chậm. chào đón thu. hoài nghi thấp thoáng trong cảm nhận của nhà thơ nhưng lại gợi được sự mong đợi. của Bắc Việt thương mến.. cuốn vào khứu giác thi nhân. Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Nhà thơ thấy đám mây ấy. mới lạ và độc đáo. để thi nhân bất chợt cất lên tiếng reo khe khẽ: Hình như thu đã về 1 cảm giác mơ hô`. Là làn sương mỏng manh như tơ liễu buông mành. Nếu như "Thu điếu" của Nguyễn Khuyến đương thú vị ở các "điệu xanh" thì bỗng buông môt điệu vàng của chiếc lá thu rơi. và cả tác phẩm häi họa "Mùa thu vàng" nôi? tiếng của Lêvitan cũng lấp lánh 1 sắc vàng rực rỡ. rề rà như đợi chờ hè qua. Bởi Hữu Thỉnh ko chấm lên đó 1 mảng màu vàng nhưng trong cái vị nông` nàn thơm đượm của hương ôi?. ta vẫn cảm nhận được cái vàng ươm thi vị ấy. giăng mắc nơi đầu thôn." Phải là 1 con người yêu cuôc sông'. gắn bó tha thiết với quê hương và yêu quê hương nông` nàn thì Vũ Bằng và Hữu Thỉnh mới có những vần thơ rung động lòng người đến vậy! Khổ thơ t2 tiếp tục trong cái mạch cảm xúc mênh mang ấy của nhà thơ Sông đc lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vôi. tinh tế hơn. Tưởng chừng ko gian chính là 1 bức mành mỏng manh. ngỡ ngàng biết bao khi nhà thơ phát hiện ra hương vị thơm đượm. Sự đôi' lập giữa 2 hình ảnh tạo nên 1 nét thu chân thực. sự vật ấy với những nét cựa quậy chuyển mình sang thu. lạ hơn. là từ tôn'. Nhẹ thế mà thu-đang-về. ngõ xóm như chào đón thu về. mùa xuân ơi-mùa xuân của Hà Nôi thân yêu.Bất ngờ. vã bay về phương nam tránh rét. Sương chậm rãi. dịu dàng như chính chất thu mới đang lan tỏa trong ko gian. "Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư long lanh với sắc thu vàng trầm buồn trong thơ mới. mà đó là dềnh dàng. se se lạnh của cơn gió heo may đương thưở non tơ. đủng đỉnh. Nhưng khác hẳn với sự từ tôn' đáng yêu ấy là những cánh chim thu bắt đầu vôi. dềnh dàng. Dòng nước thu êm ả trôi. hòa vào ko gian thu. . Trong "th ương nhớ 12" Vũ Băng viết: "Đẹp quá đi. Sương chùng chình qua ngõ Sưong "chùng chình" qua ngõ. nồng nàn giữa cái nhẹ nhàng.1 cảm nhận sâu lắng nhẹ nhàng đọng trong lòng thi nhân. Sự vật sang thu đậm tình cảm cảm xúc.. tràn ra. Ko còn là dòng nc xoáy hay dòng sông mùa hạ vùn vụt lao đầu về phía trước. Những cảm nhận tinh tế của nhà thơ cứ thế cuồn cuộn chảy trên trang giấy. mát mẻ và đậm chất thu. thì "Sang thu" mới hơn. vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu. nhè nhẹ. sinh đông. thấm đến tâm hồn người đọc mà gieo vào lòng đọc giả và nhà thơ những cảm xúc riêng. Những cảm nhận của nhà thơ về thu bắt đầu rõ nét hơn.

Những rung cảm tinh tế đến từng chi tiết nhỏ nhất. Đó là 1 khúc sang thu vừa thơ mông. chia đám mây làm đôi. 1 sự ngăn cách vô hình. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Nói về đề tài mùa thu. Sưu tầm Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. vừa bâng khuâng gợi vẻ triết lí. . tôi mới thấy đề tài này thật là khó” Tại sao lại có nghịch lí trong kinh nghiệm của người sáng tác như vậy? Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. nhạy cảm khi mùa thu tới. Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuôi Phải chăng với những con người từng trải với mưa nắng cuộc đời thì họ đón nhận những thử thách ấy 1 cách vững vàng. Mùa thu dường như luôn luôn nấp sẵn trong ngòi bút của chúng ta. Nhưng tất cả đã giảm về sô' lượng. Nắng ấy. những nắng. vẫn còn dấu ấn của hạ nắng. những sấm. những giông bão.. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Sang thu của Hữu Thỉnh xuất hiện khi trước nó đã có rất nhiều bài thơ nổi tiếng đông tây kim cổ: Thu hứng (Đỗ Phủ). bình tĩnh.. Chỉ đến khi bắt đầu cầm bút ngồi trước mặt giấy. nhất là những ngòi bút thơ: hễ động bút là mùa thu cứ chực đổ ùa ra trên mặt giấy.. cái độc đáo riêng của một hồn thơ sâu lắng. vất vả lo toan của của cuộc đời mà nhà thơ đã cảm nhận đc. nắng đấy. 2 dòng kết chính là thể hiện bàn tay tài hoa của tác giả. Đây mùa thu tới (Xuân Diệu)… Nhưng nó vẫn có cái hay. Cảm nhận sắc nét ấy còn là những hình ảnh thực. 1 nửa rực nắng mùa hạ. Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuôi? Vẫn còn mưa đấy. những cảm nhận dần đi vào lí trí. sấm vẫn còn ầm ì trên các ngọn cây. mưa ấy. nhưng lại gợi suy nghĩ về con người. Hai dòng thơ vẫn tả cái bước đi êm nhẹ của thiên nhiên. Chùm thơ thu (Nguyễn Khuyến).trong suôt'. Tưởng như với đề tài thơ mộng muôn thuở này có thể dễ dàng chắp bút. nửa kia dịu mát sắc thu. sấm ấy có lẽ chính là những mưa. một tác giả đã nhận định: “Đề tài "Mùa Thu" bao giờ cũng có vẻ là dễ viết.

Truyền thống thơ thường kiến trúc ngôi nhà thu bằng những chất liệu quen thuộc như cúc. khi bầu trời xanh ngắt lơ lửng những tầng cao. hay đám mây cũng không tô điểm cho phong cảnh thu bằng những gam màu đặc trưng của nó. Có gió. mùi hương vừa đặc trưng cho mùa vừa đặc trưng cho làng thôn ngõ xóm.Ngay từ tiêu đề. Không hề có một từ định tính để miêu tả thế giới thu. mà ở cả chút ngỡ ngàng bâng khuâng của lòng người: “Bỗng nhận ra hương ổi”. tác giả đã tự xác định một thời điểm miêu tả: thời điểm giao mùa. Dòng sông. nó không chỉ miêu tả chính xác trạng thái của tạo vật mà còn thổi vào tạo vật những cảm giác rất người. liễu. Dòng nước thu vốn trong trẻo và sâu hút làm người ta khó mà thấy rõ được sự chuyển động nó nên cảm giác sông lững lờ trôi cũng rất hiện thực. Se gợi một động thái. những cánh chim vội vã tìm về phương ấm áp… Song thời điểm chớm thu không phải chỉ hiển hiện ở những dấu hiệu mơ hồ trong trạng thái biến chuyển của cảnh vật. hơn là gợi một cảm giác. Song trên hết. cánh chim. “chùng chình” “dềnh dàng” “bắt đầu vội vã” “vắt nửa mình”… “Chùng chình” trước hết gợi tả chính xác những làn sương như ngưng lại và nhẹ nhàng tỏa lan ngõ xóm. Có hương ổi. gió se lại bởi chút lạnh xa xăm. sắc nước… Hữu Thỉnh hầu như khơi gợi cảm giác về mùa trong trạng thái mơ hồ của tạo vật.. hay khi cái rét mùa đông đã lẩn vào trong gió…Sang thu nghĩa là mới chớm thu thôi. nhưng gió se chứ không phải là gió lạnh. sương như người khách ngập ngừng nơi đầu ngõ. “se”. duyên dáng nối hai mùa là một liên tưởng thực sự độc đáo. ngô đồng hay màu trời. Đó không phải là chính thu. Nhưng hương ổi “thơm” như thế nào thì thi sĩ hoàn toàn không miêu tả. Thành công nổi bật nhất của bài cũng là ở một hệ thống những động từ miêu tả rất giàu cảm giác: “phả”. “Hình như thu đã về”… Tiếp tục thể hiện những dấu hiệu mùa thu rõ rệt hơn nhưng ý nghĩa của khổ cuối không chỉ dừng lại ở đó: Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ . hệ thống động từ toàn bài còn đặc sắc ở chỗ. Đặc biệt ở góc độ miêu tả tạo vật. Làn sương giăng phủ ngõ thôn chẳng được đặc tả ở mức độ (mù mịt) hay màu sắc (trắng mờ).. Tinh tế và sống động sao một buổi sáng chớm thu. cái tứ kết buộc hệ thống hình ảnh trong bài cũng chỉ gói gọn trong chút “chớm” mỏng manh đó. không phải cuối thu. Đám mây như tấm khoăn voan của người thiếu nữ. khi nắng trời đã nhuộm đỏ lá bàng.

bởi ngõ xóm thân quen ấy. chắc cũng không xuể. tôi sẽ không nấn ná làm cái việc rút tỉa những thi ảnh và thi tứ tiêu biểu về thời điểm nhạy cảm ấy của thơ ca các thời.Trên hàng cây đứng tuổi Con người cảm thấy biết bao biểu hiện khác biệt của thời tiết khi mùa thu tới: mưa và sấm thưa dần. Các kênh cảm giác và cả tâm cảm nữa của mỗi hồn thơ dường như đều được huy động tối đa để nắm bắt những làn sóng. Chỉ cần điểm sơ qua những tín hiệu từng được hồn thơ từ cổ chí kim nắm bắt trong những thi ảnh không thôi. khi đọc bài thơ này. Gọn nhẹ hơn.jpg[/IMG] Mùa thu quả nhiên là mùa nhạy cảm bậc nhất trong năm. bao đời nay luôn có sự đua ganh giữa hồn thơ với hồn tạo vật./. cái thời điểm mà sự nhạy cảm của hồn tạo vật luôn thách thức với sự nhạy cảm của hồn người vẫn là thời khắc giao mùa . tất cả các dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn nhưng đã giảm dần mức độ. Cảnh như sâu lắng hơn bởi liên tưởng suy tư về mùa thu đời người. những tín hiệu mơ hồ nhất từ những giao chuyển âm thầm trong vạn vật. tôi chợt thấy nhớ rất nhiều những năm tháng đã qua của mình. Sang thu. Đây xứng đáng là một bài thơ thu hay trong thế giới thi ca. Tuy nhiên. chỉ điểm qua những thi tứ nổi bật dành cho nhịp chuyển mùa thôi.Hữu Thỉnh Chu Văn Sơn [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image003. Mà cùng Hữu Thỉnh. cũng khó đủ giấy mực rồi. nghĩa là không tái hiện lại một truyền thống. Nét độc đáo nhất của bài là những hình ảnh chính xác và giàu sức gợi tạo nên một bức tranh thu giản dị mà sống động. Chả thế mà. sấm chớp… hay là những vang động của cuộc đời? Trong tương quan ấy. suy nghĩ tự nhiên của tác giả. cường độ… Hàng cây như đã quá quen với nắng lửa mưa giông.chớm thu. Chính các từ “bất ngờ”. mưa. không còn dữ dội nữa. được gọi một cách hình ảnh là “hàng cây đứng tuổi”. Miền kí ức tuổi thơ được đánh thức bởi mùi hương ổi. Và có lẽ cũng nhờ giọng điệu êm nhẹ dễ cuốn người đọc vào dòng cảm xúc. Không hiểu sao. bước ngay…Sang thu . Sưu tầm Sang Thu . Con người cùng Tạo vật thảy đều nhạy cảm. một tiền đề nữa. “đứng tuổi” khiến ý nghĩa của câu thơ không dừng lại ở nét nghĩa tả thực mà có chiều sâu hơn. hàng cây tượng trưng cho con người từng trải mà bao dâu bể biến đổi không còn đáng ngạc nhiên. Nắng. Cho nên.

hương ổi của thi phẩm sẽ phả vào tâm hồn của nhiều thế hệ học trò. chả chịu rành mạch gì cả. từ góc nhìn vườn ngõ : Bỗng nhận ra hương ổi /Phả vào trong gió se /Sương chùng chình qua ngõ /Hình như thu đã về. còn ý thơ thì vốn thiếu rành mạch. Kể từ nay. nó vừa giành được một chỗ xứng đáng trong chương trình Văn và Tiếng Việt của nhà trường. 1. đến cả những miền chưa từng có mùa thu nữa. gió se. vô tổ chức ? Không hẳn. Ý đâu có khác gì nhau. Từ cấu trúc … Trước tiên. Đến nỗi. thì hình sắc thu sang. chim vội vã. sấm bớt bất ngờ. Hình thái tổ chức của Sang thu đâu dễ nhận diện. hàng cây đứng tuổi… chẳng dáng nét thu về. sương chùng chình. khổ một nghiêng về những tín hiệu mách bảo sự hiện diện đây đó của mùa thu. nhưng mỗi khổ thơ vẫn nghiêng về một ý. 1977 Tôi mừng cho Hữu Thỉnh và bài thơ. sẽ được những tâm hồn ấy mang tới bao nẻo thu. ai chẳng thấy chính tác giả đã tự chia bài thơ thành ba khổ khúc chiết. Về cảnh vật. Hay việc chia thành ba khổ thế chỉ hoàn toàn do cảm tính lúc viết của thi sĩ. Đọc kĩ hơn thì thấy rằng: cùng viết về thiên nhiên lúc giao mùa. Về bố cục. nắng vẫn còn. đấy thay đổi tinh vi. Khổ hai lại nghiêng về những cảnh sắc trời mây sông nước đang chuyển mình sang thu. Nhưng về ý tứ ? Xem chừng ý khổ này cứ “dính” vào khổ kia. Thì quanh đi quẩn lại vẫn là thế : hương ổi. sông dềnh dàng. thử đi vào cấu trúc của thi phẩm. với tầm nhìn rộng xa vào bầu trời mặt đất : Sông được lúc dềnh dàng / Chim bắt đầu vội . mưa đã vơi. đây đổi thay tinh tế. ngay cả “Sách giáo viên” hướng dẫn người dạy khai thác và soạn giảng chừng như cũng “ bí” trong việc phân định .Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi Thu.

Cùng với cảnh. Trong khi đó. dù đậm hay nhạt. Vì thế. 2. cấu trúc của thi phẩm này. tiếng thơ khá tinh tế của một thi sĩ đương thời : Mướp tàn sen cũng đi tu / Lá tre đã thả một mùa heo may / Con sông không ốm mà gầy / Mắt em chưa tối đã đầy hoàng hôn. là đến niềm say sưa ở khổ hai (…Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu). đồng hành với mạch cảnh sắc trên đây. nhưng bề sâu. ba khổ thơ đã được liên kết thành một chỉnh thể nhuần nhị nhờ vào một trật tự khá tự nhiên : từ gần đến xa. là tâm tư của thi sĩ. có vẻ “dính”. qua phân tích trên đây cũng đủ thấy rằng : một tiếng thơ dù bình dị hồn nhiên thế nào đi nữa.vã/Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu. dù kín hay lộ. bao giờ cũng là tình. từ hẹp đến rộng. Mạch cảm và mạch nghĩ bao giờ cũng song hành và chuyển hoá sang nhau trong cùng một dòng tâm tư . từ khổ một đến khổ ba. khổ ba : suy ngẫm. Khổ đầu : bất giác.jpg[/IMG] Thế đấy. Tương ứng với những cung bậc của mạch cảm. thần thái của cảnh thu thường hiện lên qua vẻ tiêu sơ. Như vậy. Cho nên. Rõ ràng. Sự đan xen các mạch này là một khía cạnh phức tạp không thể thiếu của cấu trúc. bề ngoài. Sau một thoáng ngỡ ngàng ở khổ một (… Hình như thu đã về). với các lớp cảnh càng ngày càng đi vào chiều sâu… Một trật tự hợp lí tự nhiên bao giờ cũng là điều sinh tử để một sản phẩm nghệ thuật hiện ra như một sinh thể ! Nhưng. Có thể nôm na hoá qua sơ đồ sau : [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image005. và kết lại ở khổ ba với vẻ trầm ngâm(… Sấm cũng bớt bất ngờ / trên hàng cây đứng tuổi). thi phẩm là sự đồng hành và hoá thân vào nhau của ba mạch nội dung vừa rõ nét vừa sống động. Không chỉ có thế. cả người khờ khạo nhất cũng phải thấy rằng : thơ thiên nhiên không đơn thuần chỉ có cảnh. đâu phải là thiếu rành mạch. … đến điệu tâm hồn Cảm nhận tạo vật lúc sang thu. vẫn là một kiến trúc ngôn từ với một cấu trúc thật tinh vi. từ thấp đến cao. từ ngoài vào trong. cảnh trong tình. khổ ba lại nghiêng về những biến đổi bên trong các hiện tượng thiên nhiên và tạo vật : Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa/Sấm cũng bớt bất ngờ/Trên hàng cây đứng tuổi. Chúng đan bện với nhau khiến cấu trúc nghệ thuật càng tinh vi phức tạp. là các cấp độ của mạch nghĩ. Ví như bài Thu cảm. Cụ thể là mạch cảm nghĩ trước mùa thu. . Trái lại là đằng khác ấy chứ ! Rõ ràng. khổ hai : tri giác. Tình trong cảnh. đa phần các thi sĩ nghiêng về vẻ biến suy một chiều của cảnh.

không thể không thêm vài lời về cách lập tứ dẫn tới kết. sông dềnh dàng. ít…) : sương chùng chình. Hệ thống các từ còn (-hết). mấy chữ “bớt bất ngờ” như một nút buộc. lời thơ súc tích hẳn nhờ các làn nghĩa giao nhập ràng néo . sẽ thấy rằng đến đây.chim vội vã . vơi (-đầy). Luôn thấy được thế quân bình ngay giữa những biến thiên thì ít bất ngờ chao đảo. đã hiện ra không chỉ có biến thiên. tôi ngờ rằng cảm quan quân bình về đời sống đã ngấm ngầm xui thi sĩ tìm đến cái kết điềm tĩnh trước ba động. nhờ lối cảm ấy.trưởng kia lại đan dệt trong nhau khá nhuần nhuyễn tạo nên cái bản giao hưởng gợi cảm của đất trời thu. Lớp từ mang sắc thái đong đếm ở đây mách với ta điều đó. say sưa tri giác như khổ hai. Cả ba nghiêng về chiều giảm. câu thơ bỗng có “cú pháp dính”. Ấy là sự từng trải tăng lên. Trong thiên nhiên đã vậy. mưa vơi dần… Lúc bất giác nhận ra hương ổi “phả” vào trong gió se. Đừng nghĩ thi sĩ cố ý đặt bày hai mạch tương phản nhằm chơi trò lạ hoá. mà lòng đã nặng hơn. Tạm đặt tên là nhịp mạnh và nhịp nhẹ. đúc kết. Để ý một chút. nhanh. chậm. Chẳng phải thế sao ? Chẳng phải bao mạch sống đang cần mẫn chuyển lưu trong lòng tạo vật làm nên cõi sống trường cửu này vốn vẫn tương sinh tương khắc như vậy sao ? Và chẳng phải những vận động trái chiều mà cùng hướng vẫn thường đem đến cho sự sống thế quân bình ngay trong lòng mỗi nhịp biến thiên hay sao ? Cho nên.Cảm nhận của Hữu Thỉnh khác. thật thú vị mà cũng thật hiển nhiên là hai nhịp mạnh nhẹ với hệ thống hưng . song cả hai đều thuộc về thần thái của mùa thu. bớt (thêm) bảo rằng thi sĩ đang suy xét. mưa “vơi dần” rõ là giảm . sấm “bớt bất ngờ” càng giảm. đã ra chiều trầm ngâm với suy ngẫm rồi. Nhờ lối viết nén. giấu cương sau nhu này : Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi ? Nói đến câu kết kia. chiêm nghiệm.vẫn còn bao nhiêu nắng… Nhịp nhẹ thì nghiêng về âm tính (êm. tức là đã giảm . nhiều…) : hương ổi phả . mà đây đó còn cả thế quân bình. Chiêm nghiệm điều gì ? Về một lẽ đời trong hai chiều biến đổi trái nhau. Nó rõ nhất ở khổ ba : Vẫn còn bao nhiêu nắng /Đã vơi dần cơn mưa /Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. một chiều tăng kín đáo : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. thì cũng là lúc bắt gặp sương “chùng chình” qua ngõ. Chính lúc sông “dềnh dàng” là lúc chim “vội vã”. Nó chính là hiện tượng trái chiều mà cùng hướng ta vẫn thường thấy trong mỗi cuộc đổi thay. Nhịp mạnh bao gồm những động thái. sắc thái dương tính (mạnh. thì chiều giảm đột ngột thành chiều tăng. khi câu ba nối vào câu kết. một trong những nét đặc sắc của bài Sang thu là có hai hệ thống tín hiệu báo mùa có vẻ phản trái nhau. là cây đã trưởng thành. Nhưng. tiêu . Toàn cảnh thu trong bước chuyển mùa.suy. tâm thế thi sĩ không còn ngỡ ngàng bất giác như khổ một. Khi nắng “còn” cũng là khi mưa “vơi”. Có thể xem đó là nét phức điệu trong cảm nhận ngoại giới của hồn thơ Hữu Thỉnh. Trong cuộc đời cũng thế. Tôi cho rằng. không đơn tuyến. Và. Ba câu trên : nắng “vẫn còn”.

Nhịp luân chuyển ấy dường như đã nhập vào mấy chữ tưởng rất không đâu mà lại thần tình này: Sông được lúc dềnh dàng/Chim bắt đầu vội vã . Có lẽ khi đọc các cặp ấy. Một cú đảo phách ngoạn mục. Nào những hương ổi phả vào trong gió se. Điều này khỏi bàn thêm. thi ảnh nào cũng tài hoa. Nhờ ngữ pháp ấy mà cái ý cương kia liền được giấu kín nhẹm. khiến cái vô hình thành hữu hình. nào sương chùng chình qua ngõ. Vẫn còn bao nhiêu nắng-Đã vơi dần cơn mưa. Thế mà thi ảnh lại mới. Nhưng cái nhịp luân chuyển chung chi phối vạn vật thì bao giờ cũng khẩn trương và mau lẹ. Những hiện tượng riêng lẻ thì gồm cả hai hệ thống tín hiệu trái chiều. khiến đám mây yêu kiều và đỏng đảnh kia có thể vắt nửa mình qua đó mà khoe sắc phô duyên vậy ! Mà đâu chỉ trong quan sát. làm định dạng cái vốn mơ hồ. * Sang thu là bài thơ tinh tế. Sao lại cặp kè ? Thì một trong những chiêu rất Hữu Thỉnh chẳng phải là chế tác thi liệu dân gian bằng thi pháp Đường ư ? Cố nhiên. cái súc tích Đường thi kết hợp với chất hồn nhiên thơ trẻ cứ loáng thoáng đâu đó trong cách nhìn tạo vật. là tinh chứ sao ! . ra là phép đối ! Thế là nhuyễn. Có thể nói. ít ai để ý đến nghệ thuật tổ chức. rồi thì sông được lúc dềnh dàng… xem ra. Đám mây thực thế mà ảo thế ! Cái cách “vắt nửa mình” kia sao mà thi vị ! Có thật chăng một đám mây vốn của mùa hè đang mải mê lấn sân sang mùa thu ? Có mà không có. Đọc Hữu Thỉnh. Còn có một chất khác. Mà ấn tượng nhất hẳn phải là cảnh tượng Có đám mây mùa hạ/Vắt nửa mình sang thu. là lối viết đâu có gì lạ về thi pháp. có chậm có nhanh. mà hiển lộ nhất là ở phép đối ngẫu được dùng khá nhuyễn : Sông được lúc dềnh dàng-Chim bắt đầu vội vã . Bởi đảo mà cứ như không. cái vế sau mới là chốt hạ. luôn cặp kè. Người đọc cũng dễ say với những nét tài hoa trong việc sử dụng nhuần nhuyễn yếu tố cổ điển của thi sĩ. hình sắc lại gợi. Làm xác định cái không xác định. có một chất rất dễ nhận : dân gian. anh không chỉ có chiêu này. hay cây bớt bị bất ngờ (cây thôi e sấm)? Có lẽ là cả hai. hô ứng và tiếp ứng nhau làm hiển thị cái nhịp luân chuyển trong tạo vật vốn mải mê mà vô hình. Ở Sang Thu. Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa”. nhưng xem chừng. tâm trí ta bị trôi theo lời thơ bình đạm.nhau : sấm bớt gây bất ngờ (sấm đã e cây). thật mà không thật. thì mới vỡ lẽ: ồ. trong cách kiệm lời. Hữu Thỉnh còn tỏ ra tinh hơn nữa trong sự đồng điệu với nhịp chuyển mùa. mà xem ra lại khó thấy : Đường thi. đây là lối kết theo kiểu “đảo phách”. Chẳng thế mà các chi tiết gợi cảm của thi phẩm đã cuốn hút nhiều người yêu thơ. Cứ y như giữa mùa thu và mùa hè vẫn có một lằn ranh làm bằng sợi dây vô hình giăng ra giữa thinh không. thậm chí được nhu hoá. ở thi phẩm này. Mấy chữ ấy đi với nhau thành cặp. chỉ lúc chợt ngoái lại.

v… Nhưng nếu chỉ có thế thì ý nghĩa của chúng còn lờ mờ. Một thi tứ đa tầng khiến hình tượng thơ thành đa nghĩa. sông dềnh dàng. Lớp nghĩa thứ nhất dễ thấy. Ví như hoàn cảnh sáng tác . Nghĩa là. Nhìn bài thơ trong tương quan với thời điểm ấy. Sang thu cũng mới là thơ tạo vật. đời sống cũng vừa sang thu. chuyển động. Trong thực tế. Tôi muốn nói đến điều khác : ý tưởng bao trùm. Nhưng. Không. Nhờ đó. có sự chất chồng và giao thoa của ba lớp nghĩa : trời đất sang thu. Sang thu đa nghĩa. giấu người vào cây là bề sâu. cũng chưa phổ được vào đó hơi thở của thời mình. mà còn vang lên cả từ tương quan giữa văn bản với những thứ bên ngoài vốn thiết thân với nó nữa. ở nhiều lần in cũng ghi rõ như vậy. Đôi khi quá chú mục vào cái tinh tế trong tiểu tiết có thể quên sự tinh vi trong đại cục. Hai lớp nghĩa sau mới thật là thứ hương ổi riêng mà Hữu Thỉnh phả vào trong thi đề này. Tác giả cho biết thời điểm viết Sang thu là mùa thu 1977. Nhân hoá cây là bề nổi. chúng ta thấy từ mạch hình ảnh thiên nhiên rải khắp bài thơ bỗng bừng dậy một lớp nghĩa khác gắn với con người và cuộc đời. Nó đâu chỉ nói cây. Có lẽ như những thước phim về cảnh vật thiên nhiên thì phải hơn. biến động âm thầm và sâu kín của thiên nhiên. chim vội vã v. Chữ “đứng tuổi” bật sáng. chưa đủ tạo hẳn ra một lớp nghĩa khác cho văn bản. Hữu Thỉnh chưa đem đến cái gì mới hơn so với các tiếng thơ thuộc thi đề thu của những người đi trước. Có thể thấy rõ hơn nữa. vì ít nhất. dễ làm nghèo nghệ thuật.Tuy nhiên. phát động một lớp nghĩa khác cho bài thơ. đời sống sang thu và đời người sang thu. đó vẫn là những tinh tế tiểu tiết và dễ viết. Tự dưng. tinh thần của thế hệ mình. chưa xa gì hơn một lối nói sinh động về sự vật. Lớp nghĩa kia chỉ thực sự bật hầm khi hình ảnh cuối cùng đột hiện : Sấm cũng bớt bất ngờ / Trên hàng cây đứng tuổi. căn cứ quan trọng nhất là văn bản. Tất nhiên. Nó mới là nét tinh vi thuộc về đại cục. những hàm ý kín đáo kia toát lên trước hết từ nghĩa bóng đây đó của các thi ảnh. cuộc sống vừa qua khỏi thời chiến đầy khốc liệt đang chuyển sang thời bình êm ả. Ai cũng có thể thấy những ẩn ý nào đó thấp thoáng sau lối viết ẩn dụ trong các thi ảnh rải rác ngay từ đầu sương chùng chình. Điều này ngẫu nhiên chăng ? vô nghĩa chăng ? Không hẳn. phim mới động. Vì nó ở bề nổi của văn bản thơ. Nhưng. chỉ bó hẹp trong văn bản không thôi. thông điệp nghệ thuật của một tác phẩm không chỉ cất lên từ những gì thuộc nội bộ văn bản. nếu chỉ thế thôi. Nó khiến bài thơ như một bức tranh thiên nhiên. Sự mẫn cảm của tâm hồn thi sĩ đã được dịp phô diễn qua những thi ảnh giàu mỹ cảm trong việc nắm bắt bao vận động. Bấy giờ. Đây là lúc trong lòng đời có bao trăn trở xao động. tự dưng chúng ta thấy các . Ý tưởng Sang thu được gói kín vào thi tứ. Tranh thì tĩnh. khi nhìn trong tương quan khác. mà còn nói người. thi phẩm nhỏ đã mang thi tứ lớn. Đồng thời. Cảm thụ nghệ thuật.

Không có nó. Mùa thu còn là chuyện trưởng thành. Cũng như thế. đủ vững trãi đối đầu với mọi ba động. mùa thu đâu chỉ có chuyện tiêu sơ. được xả hơi chăng ? Chả phải vô cớ mà thi sĩ đem chữ “được lúc” gắn với cái thói “dềnh dàng” ấy của sông.Thiết giáp rồi trở thành cán bộ văn hóa. nhưng Sương chùng chình qua ngõ thật khác với Sông được lúc dềnh dàng.Nhà thơ Hữu Thỉnh tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Thỉnh. Chẳng phải đó là những nét độc đáo mà Hữu Thỉnh đã đem đến cho một thi đề tưởng đã quá ư quen thuộc hay sao ? Từ thơ tạo vật. Mùa thu còn tàng ẩn cả những quân bình tự tại nữa. cái lớp nghĩa thế sự bảng lảng này còn tỏ hơn nữa. lớp nghĩa thời sự vốn khuất mình không thể phát sáng được. “Chùng chình” còn dễ ưa. “Dềnh dàng” đâu chỉ nói về nét riêng của dòng chảy đã chậm hơn khi con sông vào thu. mọi cú giáng của cuộc đời : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. Bước sang thu. sinh năm 1942. quê ở huyện Tam Dương. thơ còn nặng về tạo vật. Tôi ngờ rằng đây là khổ thơ mà anh chàng thi sĩ cũng vừa trải qua một mùa hè bỏng rát đang kín đáo nói về thế hệ mình và chính mình ? Vâng. mọi suy cảm trên sẽ thành võ đoán. giờ vào thu đã tự cho phép mình được dềnh dàng. Hữu thỉnh nhập ngũ. Nếu ở khổ đầu. Đồng thời. Năm 1963. Mùa thu đâu chỉ có biến thiên. tuy đã sang thu. nó còn muốn nói tới đối tượng sống tuỳ thời. tỉnh Vĩnh Phúc. thì từ khổ thứ hai đã bảng lảng cái bóng đời. ông đã tham gia .Tác giả . Thì ra. Sang thu đã lẳng lặng thành thơ cuộc đời ! (Nguồn: Sưu tầm) Sang thu SANG THU I. bao tủi sầu yếu đuối. bao cơn mưa thở than nay cũng đã vơi dần. Một cái kết quá là khôn ngoan. xu thời nào đó nữa ấy chứ ? Đến khổ thứ ba. nhưng lòng vẫn còn bao nhiêu nắng. Hèn chi. Sự từng trải đã giúp cây trưởng thành. “dềnh dàng” đã khó ưa. vào binh chủng Tăng . Dường như nó còn ngầm tỏ thái độ về cái điệu sống của những đối tượng nào đó hồi mùa hạ hăng hái xông pha là thế.hình ảnh đó đây nhấp nháy lên những nghĩa khác : nghĩa thế sự. Đặc biệt từ khổ hai trở đi. Không có chữ “đứng tuổi” cứ như lạc hệ thống này.Tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm 1. ý ngầm của kẻ viết vừa khó phát lộ vừa khó gói ghém. Chim bắt đầu vội vã có phải chỉ đơn thuần nói về các loài chim lúc sang thu đang gấp gáp bay đi lánh rét không thôi ? Xem ra. tuyên huấn trong quân đội và bắt đầu sáng tác thơ. cùng diễn tả nhịp vận động chầm chậm. hàng cây trẻ hồi nào giờ đã đứng tuổi.

Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam các khóa III.Nhà thơ chợt nhận ra tín hiệu của sự chuyển mùa từ ngọn gió se ( nhẹ. . hình như 2.Lúc này cũng bớt đi những tiếng sấm bất ngờ gắn cùng những cơn mưa rào mà mùa hạ thường có. những cánh chim bắt đầu vội vã ở cuối buổi hoàng hôn. Nhiều vần thơ thu của ông mang cảm xúc bâng khuâng. ông đã được Giải thưởng văn học Đông Nam Á. sau đó được in lại nhiều lần trong các tập thơ.Hoàn cảnh ra đời:Bài thơ Sang thu được Hữu thỉnh sáng tác cuối năm 1977. .Phân tích bài thơ 1. . in lần đầu tiên trên báo Văn nghệ. bất ngờ.Hữu Thỉnh là nhà thơ viết nhiều. Hữu Thỉnh được bầu làm Tổng thư kí Hội nhà văn Việt Nam. Với tập thơ Thư mùa đông.Tâm trạng ngỡ ngàng.Cảm giác giao mùa được diễn tả thú vị qua đám mây mùa hạ “ vắt nửa mình sang thu” .Những hình ảnh. viết hay về những con người cuộc sống ở nông thôn. V. 2.Sương đầu thu giăng mắc nhẹ nhàng. khô và hơi lạnh ) mang theo hương ổi đang vào độ chín. cảm xúc bâng khuâng qua các từ bỗng. phả vào trong gió se . về mùa thu. hiện tượng thể hiện sự biến đổi của đất trời lúc sang thu ở khổ đầu của bài thơ . Từ năm 2000. còn sáng nhưng nhạt dần. Thư mùa đông. chuyển động chầm chậm nơi đường thôn ngõ xóm. . vấn vương trước đất trời trong trẻo đang chuyển biến nhẹ nhàng.IV. Đường tới thành phố ( trường ca – 1978 ).Nắng cuối hạ còn nồng. .Dòng sông trôi một cách thanh thản gợi lên vẻ êm dịu của bức tranh thiên nhiên. Những ngày giao mùa này đã ít đi những cơn mưa rào ào ạt. bằng nhiều giác quan và sự rung động thật tinh tế . .Biến chuyển trong không gian lúc sang thu được Hữu Thỉnh cảm nhận qua nhiều yếu tố.Hương ổi lan vào không gian. Từ chiến hào tới thành phố. II. .Tác phẩm chính: Âm vang chiến hào( in chung ).

Cũng có thể hiểu: hàng cây không còn bị bất ngờ. Hơn thế nữa. Chút nữa đây không biết ai sống chết. người chiến sĩ như không còn vướng bận về cảnh chiến đấu sắp diễn ra. trăng chếch bóng soi sáng rừng hoang bao la rộng lớn. chút nữa đây cũng có thể là giây phút cuối cùng ta còn ở trên đời này nhưng ta vẫn “mặc kệ”. trăng được Chính Hữu kết tinh thành hình ảnh “đầu súng trăng treo” rất đẹp trong bài thơ Đồng chí của mình. trăng bảo vệ xóm làng. ông muốn gửi gắm suy ngẫm của mìh – khi con người đã từng trải thì cũng vững vàng hơn trước những tác động bất thường của ngoại cảnh của cuộc đời. soi sáng tâm hồn họ… Giờ đây.đó là một hình ảnh tả thực một bức tranh tả thực và sinh động. Phải là một người có tâm hồn giàu lãng mạn và một phong thái ung dung bình tĩnh lạc quan thì anh mới có thể nhìn một hình ảnh nên thơ như thế.Về hai dòng thơ cuối bài. vẫn say sưa với ánh trăng. Đầu súng trăng treo. Phân tích hình ảnh "Đầu súng trăng treo" trong bài thơ "Đồng Chí" của Chính Hữu. tâm hồn người nông dân “nước mặn đồng chua” hay “đất cày trên sỏi đá” cằn cỗi ngày nào bỗng chốc trở thành người nghệ sĩ đang ngắm nhìn vẻ đẹp ánh trăng vốn có tự ngàn đời. anh say sưa ngắm ánh trăng toả ngời trên đỉnh núi. ở truyền thuyết “Chú cuội cung trăng” hay Hằng Nga trộm thuốc trường sinh là những mảng đời sống tinh thần bình dị đậm đà màu sắc dân tộc của nhân dân ta. anh thả hồn theo trăng. Nhà thơ không phải tả mà chỉ gợi. xa cách nhau vời vợi bỗng hoà quyện vào nhau thành một hình tượng gắn liền. chỉ đưa hình ảnh nhưng ta liên tưởng nhiều điều. Sau hơn mười năm làm thơ. bớt đi những tiếng sấm bất ngờ. cần hiểu với hai tầng nghĩa. rất thực nhưng không thiếu nét lãng mạn đó. Giữa núi rừng heo hút “rừng hoang sương muối” giữa đêm thanh vắng tĩnh mịch bỗng xuất hiện một ánh trăng treo lơ lửng giữa bầu trời. Đêm thanh vắng người lính bên nhau chờ giặc tới. . Và hình ảnh này cũng thật lạ làm sao. Chính nhà thơ Hữu Thỉnh đã tâm sự: Với hình ảnh có giá trị tả thực về hiện tượng thiên nhiên này. Chính Hữu cho ra mắt tập “Đầu súng trăng treo”. Phân tích hình ảnh "Đầu súng trăng treo" trong bài thơ "Đồng Chí" của Chính Hữu.3. Không biết tự bao giờ ánh trăng đã đi vào văn học như một huyền thoại đẹp. thơ mộng. trăng đã đi vào cuộc chiến đấu. Thế mới biết tác giả đắc ý như thế nào về hình ảnh thật đẹp. Lúc sang thu. súng và trăng vốn tương phản với nhau. bị giật mình vì tiếng sấm nữa. soi sáng tình cảm họ.

cái bồng bềnh thơ mộng của một đêm trăng “đứng chờ giặc tới”. không quên được nhiệm vụ và trách nhiệm của mình. Súng là con người. Đó là biểu tượng Khát Vọng Hoà Bình. trăng như cùng tham gia. trăng là đất nước quê hương của bốn nghìn năm văn hiến. Súng là hình ảnh người chiến sĩ gan dạ kiên cường. Nếu miêu tả hiện thực thì vầng trăng ấy sẽ có hình khối của không gian ba chiều. Ta hãy tưởng tượng xem: giữa đêm khuya rừng núi trập trùng bỗng hiện lên hình ảnh người lính đứng đó với súng khoác trên vai. trong sạch hơn. làm sao còn nét lãng mạn? Và hãy thay một lần nữa bằng từ “lên” cũng không phù hợp. Nó là biểu tượng. tắm gội tâm hồn họ thanh cao hơn. nó tượng trưng cho tư thế lạ quan bình tĩnh. Nhưng có lẽ cô kết nhất. Đầu súng trăng treo. trăng lên trăng lặn sẽ không còn cái bất ngờ màu nhiệm nữa. Họ chiến đấu cho sự thanh bình. là đồng chí của anh bộ đội Cụ Hồ. là khát vọng và cũng là biểu hiện tuyệt vời chất lãng mạn trong bài thơ cách mạng.trăng là hình ảnh của thanh bình hạnh phúc. súng tượng trưng cho chiến đấu. mục đích chiến đấu mà người lính ấy đang tham gia. nòng súng chếch lên trời và ánh trăng lơ lửng ngay nòng ngọn súng.Trăng là hình ảnh người thi sĩ. trăng cũng là bạn. lãng mạn của người bảo vệ Tổ quốc. cùng chứng kiến cho tình đồng chí đồng đội thiêng liêng của những ngươì linh. Lãng mạng nhưng không thoát li. chẳng thơ mộng chút nào. Lãng mạn vì con người cần có . ta thử thay bằng từ mọc thì thật thà quá. cả vầng trăng và súng đều tồn tại trên một mặt phẳng và trong hội hoạ nó mang tính biểu tượng cao. trăng toả sáng làm ngời ngời lòng người. không phải ngẫu nhiên mà Chính Hun lấy hình ảnh “Đầu súng trăng treo” làm tựa đề cho tập thơ của mình.ánh trăng như xua tan cái lạnh giá của đêm sương muối. từ điểm nhìn xa. chỉ có “Đầu súng trăng treo” mới diễn tả hết được cái hay. Cái thân của câu thơ “Đầu súng trăng treo” nằm ở từ “treo”. Như đã nói ở trên. Thế nhưng người lính ấy vẫn đứng cạnh nhau để tâm hồn họ vút lên nở thành vầng trăng. Chỉ có trăng “treo”. Súng và trưng kết hợp nhau. Tố Hữu cũng có một câu thơ kiểu này: “ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” và Phạm Tiến Duật thì “Và vầng trăng vượt lên trên quầng lửa” hay Hoàng Hữu “Chỉ một nửa vầng trăng thôi một nửa. ở đây. Ta nên hiểu bài thơ dường như được sáng tác ở thời điểm hiện tại “đêm nay” trong một không gian mà mặt đất là “rừng hoang sương muối” lạnh lẽo và lòng đầy phấp phỏng giặc sẽ tới có nghĩa là cái chết có thể đến từng giây từng phút. vì nó là hiện tượng tự nhiên: trăng tròn rồi khuyết. Ai bỏ quên ở phía chân trời…”. Sự kết hợp hài hoà tạo nên nét lãng mạn bay bổng vừa gợi tả cụ thể đã nói lên lí tưởng. Trăng truyền thêm sức mạnh cho họ. chiến đấu cho ánh trăng mãi nghiêng cười trên đỉnh núi. hay nhất vẫn là “Đầu súng trăng treo”.hình ảnh thật đẹp và giàu sức khái quát. Phải.

Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Và bạn ơi! Bạn hãy thả cùng tôi những chú chim trắng trên bầu trời. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới. .Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. B. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc. tinh thần kháng chiến. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước. thông qua một con người cụ thể. Nếu như Elsa Trioslet – nữ văn sĩ Pháp có nói “Nhà văn là người cho máu” thì tôi hãnh diện nói với văn sĩ rằng: Chính Hữu đã cho máu để tạo nên câu thơ tuyệt vời để cống hiến cho cuộc kháng chiến của chúng ta. Đi kháng chiến. trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. Ông gắn bó với thôn quê. tình cảm quê hương đất nước. người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.Mở bài: . ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân . Âm hưởng của câu thơ đã đi đúng với xu thế lịch sử của dân tộc. hãy hát vang lên ca khúc Hoà Bình vì hình ảnh đầu súng trăng treo mà nhà thơ đã gởi vào đó bao nhiêu khát vọng nay đã thành hiện thực (Nguồn .Thân bài 1. A.những phút sống cho riêng mình. Hình ảnh trăng và súng đã có nhiều trong thơ Việt Nam nhưng chưa có sự kết hợp kì diệu nào bằng hình ảnh Đầu súng trăng treo của Chính Hữu. tình yêu nước.Internet) Nguồn: Sưu tầm Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. từ lâu đã am hiểu người nông dân.Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948. Trước cái đẹp mà con người trở nên thờ ơ lãnh đạm thì cuộc sống vô cùng tẻ nhạt.

thích bìh luận.Ba bốn ngày sau. . c. b. Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi. nhân vật ông Hai. Nhưng khi người ta kể rành rọt. đi theo kháng chiến. lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân.Được cách mạng giải phóng. ông sững sờ. . ông nhớ quá cái khong khí “đào đường. đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. rồi ông lo “cái chòi gác. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. ngày mai dăm khẩu. ông không dám ra ngoài. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người. hôm nay dăm khẩu. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng. Sau cách mạng. a. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. xẻ hào.Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến. ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm.…” đã xong chưa? .Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ . Tình yêu làng. chỗ này giết một tí. nhìn thấy các con.Khi mới nghe tin xấu đó. ông xấu hổ lảng ra về.2. Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”. . không tin không được. náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế. tích tiểu thành đại. Phải xa làng. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm. cả súng cũng vậy. đắp ụ. Ông luôn hoảng hốt giật mình.… những đường hầm bí mật. in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có. . . làm gì mà thằng Tây không bước sớm”.Về đến nhà. càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng.Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần. khuân đá…”.Ông hay khoe làng. nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. Ông giận những người ở lại làng. . chỗ kia giết một tí. hắt hủi”. . Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc. một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. chưa tin. ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà.

+ Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân. . ngôn ngữ đối thoại và độc thoại. . . hành vi. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt. vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. Nhưng tình yêu nước. đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai.quá. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”.Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông.Tình cảm đối với kháng chiến. ta thấy rõ: • Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc). Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ. + Qua đó. gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ. 3.Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường. bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. d. . . Tình cảm đó sâu nặng. Khi cái tin kia được cải chính. chân thành. với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông.Miêu tả rất cụ thể. lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. . bố của nó. • Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc. gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ.Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng. ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu.

.có chút ngang tàng trẻ trung. người đọc thấm thía tình yêu làng.đất nước. DÀN Ý: (dàn ý chi tiết chung ^^) I.Kết bài: ..Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động.sống có lí tưởng.Thân Bài: 1.. III.Tính chất gian khổ khốc liệt mà những người lính lái xe Trường Sơn (TS) phải chịu đựng trong những năm tháng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. C.) II.Những nhân phẩm cao đẹp của người lính(dũng cảm hiên ngang đầy lạc quan. cao quý trong những người nông dân lao động bình thường.Kết Bài: _Kết thúc câu chuyện _Suy nghĩ về thế hệ cha anh.Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật.. Bài Viết Số 03 : Kể lại cuộc gặp gỡ người lính lái xe trong BTVTĐXKK của PTD.về người lính.có mục đích.Qua nhân vật ông Hai. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý..với nhân dân). yêu nước rất mộc mạc..qua trò chuyện biết anh chính là người lính lái xe trong "BTVTĐXKK" của PTD.về trách nhiệm của bản thân đối với gia đình..gặp người sĩ quan... 2. chân thành mà vô cùng sâu nặng.Mở Bài: _Tình huống truyện (Nhân một chuyến đi..nhân dân BÀI LÀM: ( đây là bài tương đối hoàn chỉnh ^^) .có trách nhiệm với Tổ Quốc. .

Người sĩ quan kể với tôi rằng cuộc kháng chiến của dân tộc ta vô cùng ác liệt.thấy cả ánh sao đêm.Sự dũng cảm của các cô gái thanh niên xung phong luôn đảm bảo .phía ấy là tương lai của đất nước được giải phóng.tự do.cả nhưng cánh chim sa.Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm nổ sát bên tai phá hủy con đường.những con đường huyết mạch nối giữa miền Nam và miền Bắc lại là nơi ác liệt nhất.tôi mới hiếu rõ hơn về họ.họ vẫn ung dung lái những chiếc xe không kính đó băng băng đi tới trên những chặn đường.Nghe anh kể.đảm bảo an toàn cho những chuyến hàng rồi họ nghĩ mưa sẽ ngừng.Trong những ngày tháng đó anh chính là người lính lái xe làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực.bom đạn của kẻ thù đâu có làm họ nãn chí.Có những người còn.Khi được học "Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính" tôi cứ luôn suy nghĩ rằng những khó khăn gian khổ ác liệt đó chỉ có nhân vật trong bài thơ mới vượt qua được nhưng đó là những suy nghĩ sai lầm của tôi bởi được gặp.tôi mới hiểu rõ hơn về sự gian khổ ác liệt mà những người lính lái xe phải chịu đựng ngày đêm.yêu đời..Gian khổ ác liệt.quây quần bên nhau như một đại gia đình của những người lính lái xe TS.Những chiếc xe không kính lại tiếp tục băng băng trên những tuyến đường ra trận.được trò chuyện với người chiến sĩ lái xe năm xưa.Nhân một chuyến đi thăm nghĩa trang liệt sĩ.Tôi và người sĩ quan đó trò chuyện rất vui vẻ và thật tình cờ tôi biết được người sĩ quan này chính là anh lính lái xe trong "Bài Thơ Về Tiểu Ðội Xe Không Kính" của Phạm Tiến Duật năm xưa.Trong những giây phút gặp gỡ hiểm hoi đó.tôi gặp người sĩ quan đang đứng thắp hương cho người đồng đội đã mất..Bom đạn của giặc Mỹ đã biến cho những chiếc xe của các anh không còn kính nữa.tinh nghịch.Anh sĩ quan lại kể cho tôi nghe trên những cung đường vận chuyển đó anh luôn được gặp những người bạn.cái vắt tay qua ô cửa kính vỡ đã làm cho tình đồng đội của họ thấm thiết hơn rồi những bữa cơm bên bếp Hoàng Cầm với những cái bát..Họ vẫn vui tươi.vũ khí.gặp mưa thì phải ướt áo thôi.Họ nhìn thấy đất.Mưa cứ tuôn cứ xối nhưng họ vẫn chưa cần thay áo và cứ ráng lái thêm vài trăm cây số nữa..đôi đũa dùng chung.bọn họ cũng chưa cần rửa rồi nhìn nhau cất tiếng cười ha ha.trên con đường TS này.của nhân dân được hạnh phúc.nhìn thấy trời.Ôi! tiếng cười của họ sao thật nhẹ nhõm.gió sẽ lùa vào rối áo sẽ khô mau thôi.những người đồng đội của anh.sờn lòng.họ nhìn thẳng về phía trước.Người sĩ quancòn kể với tôi rằng không có kính cũng thật bất tiện nhưng họ vẫn lái những chiếc xe đó.kể cho nhau nghe sự ác liệt của những cung đường đã đi qua.vượt qua những chặng đường ác liệt.cái chết luôn rình rập bên họ nhưng họ vẫn là những con người lạc quan.có những người đã hy sinh.Rồi những giây phút nghỉ ngơi trên chiếc võng đu đưa.Nhưng không phải vì thế mà họ lùi bước.bụi ùa vào làm những mái tóc đen xanh trở nên trắng xóa như người già.đạn dược.Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm dội xuống những con đường này nhằm cắt đứt sự tiếp viện của miền Bắc cho miền Nam.

nào ngờ biết tin dữ:“Cả làng Việt gian theo Tây ”.hiên ngang.nhiệm vụ của họ đang làm vô vùng nguy hiểm.Anh sĩ quan còn nói cho tôi biết những chiếc xe ấy không chỉ mất kính mà còn mất cả đèn.hiện đại.cả ngày lẫn đêm.giọng lạc hẳn đi ”nhằm hy vọng điều vừa nghe không phải là sự thật.Ở nơi tản cư ông luôn nhớ về làng.Bom đạn Mỹ hạ xuống bất cứ lúc nào.Từ phòng thông tin ra.Họ thật dũng cảm. Văn bản “Làng” đươc sáng tác vào thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp .Tôi khâm phục những người lính lái xe bởi tình yêu nước.với nhân vật chính là ông Hai .thùng xe rách xước.Tin bất ngờ ấy vừa lọt vào tai đã khiến ông bàng hoàng.giải phóng miền Nam.vì nhân dân. Kim Lân đã đặt nhân vật vào tình huống gay gắt để bộc lộ chiều sâu tình cảm của nhân vật.ông tìm cách lảng về.hy vọng được nghe những tin tốt lành.theo dõi tin tức kháng chiến và hỏi thăm về Chợ Dầu . đau đớn :“Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại.Đúng là con đường của họ đang đi.nghe nhắc đến tên làng.một lão nông hiền lành .rồi không có mui xe.lắp bắp hỏi.Tiếng chửi văng vẳng của người đàn bà cho con bú khiến ông tê tái :“cha mẹ tiên sư nhà chúng nó .ý chí kiên cường của họ và tôi hiểu rằng thế hệ chúng tôi luôn phải ghi nhớ công ơn của họ.Ông yêu quí và tự hào về làng Chợ Dầu và hay khoe về nó một cách nhiệt tình.kĩ thuật để xây dựng một đất nước văn minh.đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt .Đó là tin làng chợ Dầu lập tề theo giặc. Ông Hai cũng như bao người nông dân quê từ xưa luôn gắn bó với làng quê của mình.yêu làng .Nghĩ đến hình ảnh những chiếc xe băng băng về phía trước tôi lại nghĩ đến những người lính lái xe.một lúc lâu ông mới rặn è è nuốt một cái gì vướng ở cổ.nắm vững khoa học.những thiếu thốn này không ngăn cản được những chiếc xe vẫn chạy băng băng về phía trước.cần phải phấn đấu trở thành công dân gương mẫu.Trước lời khẳng định chắc chắn của những người tản cư.đầy lạc quan.Ông cất tiếng hỏi.thống nhất đất nước. Tôi và anh sĩ quan chia tay nhau sau cuộc gặp gỡ và nói chuyện rất vui.có chút ngang tàng nhưng họ sống và chiến đấu vì Tổ Quốc.ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được.Tình yêu làng của ông càng được bộc lộ một cách sâu sắc và cảm động trong hoàn cảnh thử thách .cho những chuyến xe thông suốt.ông Hai quay phắt lại.yêu nước và gắn bó với kháng chiến .Những chuyến hàng của họ đã góp phần tạo nên chiến thắng của dân tộc ta:chiến thắng mùa xuân năm 1975.phía trước ấy là miền Nam ruột thịt. Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong tác phẩm “Làng ”của Kim Lân Kim Lân là nhà văn có vốn sống vô cùng phong phú và sâu sắc về nông thôn Việt Nam.Các sáng tác của ông đều xoay quanh cảnh ngộ và sinh hoạt của người nông dân.da mặt tê rân rân . hào hứng.náo nức vì những tin vui của kháng chiến thì gặp những người tản cư.đang phấn chấn.

tấm lòng bố con ông là như thế đấy..niềm tin và tự hào về làng Dầu có bị lung lay nhưng niềm tin và Cụ Hồ và cuộc kháng chiến không hề phai nhạt.lật đật đi khoe với mọi người.phản bội làng.nhìn đàn con nước mắt ông cứ giàn ra “ chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư?Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?”.chết thì chết có bao giờ dám đơn sai ”.Tấm lòng của ông với làng. Tình thế của ông càng trở nên bế tắc.lúc nào cũng nơm nớp tưởng người ta đang để ý.Nỗi ám ảnh.nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông.là “cam chịu quay trở lại làm nô lệ cho thằng Tây”.Bởì thế mà ông càng xót xa.có bao giờ dám đơn sai.ông nắm chặt hai tay lại mà rít lên: “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này ”.Dẫu cả làng Việt gian thì ông vẫn một lòng trung thành với kháng chiến. Trong tâm trạng bị dồn nén và bế tắc ấy.Ông đau xót nghĩ đến cảnh “người ta ghê tởm.đang bàn tán đến cái chuyện làng mình.Trong lúc tưởng tuyệt đường sinh sống ấy..Ông kiểm điểm lại từng người trong óc.Ông hỏi con những điều đã biết trước câu trả lời:“Thế nhà con ở đâu?”.Cải chính cái tin làng chợ Dầu chúng tôi Việt gian theo Tây ấy mà .vẫn muốn cùng con khắc cốt ghi tâm.nỗi ngờ giằng xé trong ông..cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát”.“thế con ủng hộ ai ?”…Lời đứa con vang lên trong ông thiêng liêng mà giản dị:“Nhà ta ở làng Chợ Dầu”. Tình yêu làng lúc này đã lớn rộng thành tình yêu nước bởi dẫu tình yêu.được người ta còn thương.nước mắt “chảy ròng ròng trên hai má”.“chỉ ở nhà nghe ngóng binh tình”.thiêng liêng.với nước thật sâu nặng.Ông mua cho con bánh rán đường rồi vội vã.Ông mong “anh em đồng chí biết cho bố con ông.ông thoáng có ý nghĩ quay về làng nhưng rồi lại gạt phắt ngay bởi “về làng tức là bỏ kháng chiến.Về đến nhà ông chán chường “nằm vật ra giường”.người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước”.Dù đã xác định thế nhưng ông vẫn không thể dứt bỏ tình cảm của mình đối với quê hương.Ông đau đớn.ông chỉ còn biết tìm niềm an ủi trong lời tâm sự với đứa con trai nhỏ.Những suy nghĩ của ông như những lời nguyện thề son sắt.Ông đóng khăn áo chỉnh tề đi với người báo tin và khi trở về “cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi vui rạng rỡ hẳn lên ”. thấy họ đều có tinh thần cả “có đời nào lại cam tâm làm cái điều nhục nhã ấy ”.tin đồn thất thiệt về làng Chợ Dầu được cải chính .Ông xúc động.với Cụ Hồ … May thay.tủi hổ như chính ông là người có lỗi.bỏ Cụ Hồ ”.Ông căm thù những kẻ theo Tây.Suốt mấy ngày liền ông chẳng dám đi đâu.Nói với con mà thực ra là đang trút nỗi lòng mình.day dứt.Niềm tin..Ông Hai sung sướng như được sống lại.Đến đâu cũng chỉ mấy câu“Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ ! Đốt sạch !Đốt nhẵn ! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính.đau đớn.“ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm !”…Những điều ấy ông đã biết.tuyệt vọng khi bà chủ nhà có ý đuổi gia đình ông với lý do không chứa người của làng Việt gian.Ông Hai đã lựa chọn một cách đau đớn và dứt khoát:“Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù!”.

Đó là một niềm vui kỳ lạ.độc thoại và độc thoại nội tâm đa dạng.đốt nhẵn như là minh chứng khẳng định làng ông không theo giặc. Căn bệnh liệt gắn chặt Nhĩ vào giưuờng bệnh .Láo!Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả . Cách miêu tả chân thực..dồn đẩy.con sông Hồng màu đỏ nhạt . Qua nhân vật ông Hai ta hiểu thêm về vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược :Yêu làng. “Bến quê ” là tác phẩm tiêu biểu cho đề tài đó .sinh động.Bị cột chặt trên giuờng bệnh .yêu nước và gắn bó với kháng chiến.thể hiện một cách đau xót và cảm động tình yêu làng. Toàn bộ câu chuyện xoay quanh nhân vật Nhĩ trong những ngày cuối đời .bằng trực giác .Mọi sinh hoạt của anh trông cả vào sự chăm sóc của vợ con . đồng thời còn thể hiện sự am hiểu và gắn bó sâu sắc của nhà văn với người nông dân và công cuộc kháng chiến của đất nước.Chính vào lúc nhận ra vẻ đẹp và sự giàu có của bến quê cũng là lúc Nhĩ hiểu ra một cách đau xót .trong sự cháy rụi ngôi nhà của riêng ông là sự hồi sinh về danh dự của làng chợ Dầu anh dũng kháng chiến.ánh nắng sớm .yêu nước.Nguyễn Minh Châu có nhiều những tìm tòi quan trọng góp phần đổi mới văn học nưu?c nhà .Nhĩ để ý “thấy Liên mặc áo vá .Truyện ngắn của ông thưuờng chứa đựng những suy ngẫm trải nghiệm sâu sắc về con ngưuời và cuộc đời .ngôn ngữ đối thoại.tinh thần hy sinh vì cách mạng của người dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược .vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông …Những cảnh sắc vốn quen thuộc gần gũi nhưung duường nhuư rất mới mẻ đối với anh .Ông khoe nhà mình bị đốt sạch.hạnh phúc.tự nhiên như cuộc sống cùng với những mâu thuẫn căng thẳng.Nhĩ phát hiện ra vẻ đẹp lạ lùng của bãi bồi bên kia sông . Mất hết cả cơ nghiệp mà ông không hề buồn tiếc. Sáng hôm ấy .anh nhận ra thời gian của mình chẳng còn bao lâu nữa .Bởi lẽ.Chuỗi nghịch lý bắt đầu chính trong những ngày ấy .thậm chí còn rất sung sướng.bởi một ngưuời “đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất ” lại chưua từng đặt chân lên “cái bờ bên kia sông Hồng ngay truước cửa sổ nhà mình ”.anh mới cảm nhận thấm thía về nguười vợ của mình .Có lẽ vì thế mà tác phẩm “Làng ” xứng đáng là một trong những truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại Suy nghĩ về nhân vật Nhĩ trong tác phẩm "BQ" Là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn học kháng chiến chống Mỹ .Cảnh vật nơi ấy đẹp nhưu thơ nhưu hoạ :Những bông bằng lăng cuối mùa thưua thớt nhung đậm sắc .” “Ông cứ múa tay lên mà khoe với mọi người”. bức bối đã góp phần không nhỏ tạo nên thành công của câu chuyện.

Cũng trong buổi sáng hôm ấy.Khát khao đó mang ý nghĩa sâu sắc bởi đó chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững . tin cậy sau cả một đời bôn tẩu .vô tình với tất cả những gì gần gụi xung quanh .đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết mọi sự giàu có lẫn vẻ đep của bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia cả trong những nét tiêu sơ và cái điều riêng anh khám phá thấy giống nhuư một niềm say mê pha lẫn nỗi ân hận đau đớn ” .Từ đó Nhĩ nghiệm ra một qui luật khá phổ biến của đời ngưuời “Con nguười ta trên đưuờng đời thật khó tránh đuợc những điều vòng vèo hoặc chùng chình”.Anh không trách con vì “nó đã thấy gì hẫp dẫn bên kia sông đâu ”. “những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve bên vai anh ”. bây giờ đó thực sư? là miền đất xa lắc vì Nhĩ “lực bất tòng tâm ” ” .Nhĩ -con ngưuời của một thời huy hoàng.Nhĩ nhờ con trai thay mình sang sông .Vì thế đó là sự thức tỉnh pha lẫn niềm ân hận xót xa : “Hoạ chăng chỉ có anh đã từng trải . Song nghịch lý của câu chuyện không chỉ có thế .chân dung anh khác thưuờng “mặt mũi đỏ rựng .giơ cánh tay gầy guộc “khoát khoát y nhuư đang khẩn thiết ra hiệu cho một ngưuời nào đó ”.đặt chân lên bãi phù sa màu mỡ .đã đi một cách miễn cưưuỡng và bị cuốn vào trò chơi phá cờ thế trên hè phố . ở cuối chuyện . Không thể tự làm điều mình khao khát.đu nguười lên cửa sổ . khi nhận ra vẻ đẹp qua ô cửa sổ .Khi con đò sắp chạm vào bờ đất bên này .hai mắt long lanh chứa môt nỗi say mê đầy đau khổ ”.Phải chăng anh đang nôn nóng thúc giục con trai hãy mau hơn kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày ?Và duờng nhưu nó còn có ý nghĩa khái quát hơn :Muốn thức tỉnh mọi ngưuời vưuợt lên những cái vòng vèo hoặc chùng chình trên đưuờng đời để .Nhĩ bừng dậy nỗi khát khao cháy lòng và vô vọng là một lần đuược đặt chân lên bãi bồi bên kia sông .Sự thấu hiểu muộn màng trong những ngày cuối đời dù sao cũng đem lại cho anh sự bình yên.kiếm tìm . Với anh.bỏ qua và quên lãng nhất là lúc còn trẻ khi những khát vọng xa vời vẫy gọi . mà sau nhiều tháng ngày bôn tẩu tìm kiếm.bình dị mà sâu xa của cuộc sống .Trưuớc khi ốm anh chỉ biết đến những chân trời xa ngát với những công việc cao sang mà thờ ơ .Sự nhận thức này chỉ đến đưưuợc với ta khi đã từng trải . cuốn nguười ta đi .Oái oăm thay .”.Với Nhĩ .những giá trị dễ bị ta vô tình . ân hận : “Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm ”.đó là lúc cuối đời khi phải nằm liệt trên giưuờng bệnh.đứa con không hiểu ưuớc muốn của cha . Nhĩ đã tìm thấy được nơi nưưuơng tựa là gia đình trong những ngày này ”. cho đến khi không còn khả năng đi lại mới phát hiện ra vẻ đẹp của bến quê cũng nhưu sự tảo tần và đức hy sinh của vợ .khi Nhĩ tuưởng tuượng chính mình như một nhà thám hiểm đang chậm rãi đặt từng bưuớc chân lên mặt đất dấp dính phù sa .Cậu con trai có thể lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày.Nhĩ xúc động mạnh .Nhĩ thu hết tàn lực .anh nói với vợ những lời xót xa.kể cả nguười vợ suốt một đời yêu thuương và tận tuỵ .Giờ đây Nhĩ mới thực sự thấu hiểu và biết ơn vợ sâu sắc bởi “tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tảo tần và chịu đựng hy sinh từ bao đời xưa và cũng chính nhờ điều đó.

dù Trương Sinh con nhà hào phú tính vốn đa nghi.Những ngày chồng đi xa.Phải nói rằng Nguyễn Dữ không có ý định cho Vũ Nương mang đức tính của một phụ nữ yêu nước hay một mỹ nhân nơi gác tía lầu son .ma chay tế lễ chu tất khi mẹ chồng qua đời.chi tiết mang ý nghĩa biểu tưuợng tác giả đã tạo nên ý nghĩa sâu xa cho tác phẩm.chăm sóc thuốc thang tận tình khi mẹ chồng đau yếu.quê hưuơng .thức tỉnh trong ta sự trân trọng vẻ đẹp về những gì bình dị .Nhân vật chính của tác phẩm là Vũ Nương đã để lại trong lòng người đọc niềm cảm thương sâu sắc.mong ước lớn nhất của nàng không phải là công danh phú quí mà là khao khát ngày chồng về “mang theo hai chữ bình yên thế là đủ rồi”.“Chuyện người con gái Nam Xương” được rút trong tập những câu chuyện kỳ lạ đó . đối với vợ thường phòng ngừa quá sức nhưng nàng khéo léo cư xử. Tác phẩm là tiếng nói đồng cảm.nết na tên là Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương.Trong những ngày đoàn viên ít ỏi.hứơng tới những giá trị đích thực vốn rất gần gũi bình dị mà bền vững ! Bằng cách tạo dựng chuỗi nghịch lý để nhân vật tự nhận thức.xứ sở .giọng văn thầm trầm ẩn chứa những chiêm nghiệm .giống dòng tươi tốt con cháu đông đàn.trân trọng.Khi tiễn chồng đi lính.ngợi ca của tác giả đối với con người đặc biệt là người phụ nữ.Càng đi sâu vào câu chuyện ta càng thấy vẻ đẹp của nàng được tác giả tập trung thể hiện rõ nét.gần gũi của gia đình . Suy nghĩ về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”của Nguy Trong văn học Việt Nam đã có không ít tác phẩm mang tên gọi truyền kỳ hoặc có tính chất truyền kỳ song được tôn vinh là “ thiên cổ kỳ bút” thì cho đến nay chỉ có một “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ . Những dòng cuối cùng của “Bến quê” khép lại nhuưng dưu âm từ những trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và con ngưuười dưuờng nhưu vẫn còn lan toả đâu đây.Nàng mang đầy đủ vẻ đẹp của một người phụ nữ lý tưởng “tính đã thuỳ mỵ nết na lại thêm có tư dung tốt đẹp ”.Vũ Nương là người phụ nữ bình dân vốn con kẻ khó có một khát khao bao trùm cả cuộc đời-Đó là thú vui nghi gia nghi thất.Nguyễn Dữ đã đặt những lời ca ngợi đẹp đẽ nhất về Vũ Nương vào miệng của chính mẹ chồng nàng khiến nó trở nên vô cùng ý nghĩa “sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức .suy ngẫm của tác giả đã góp phần không nhỏ tạo nên những ấn t?ương riêng cho tác phẩm .dâu thảo.Toàn bộ câu chuyện xoay quanh cuộc đời và số phận bi thảm của người con gái xinh đẹp. nàng thực sự là một người mẹ hiền. giữ gìn khuân phép nên gia đình không khi nào phải thất hoà.tinh tế .xanh .Ngòi bút miêu tả thiên nhiên đẹp .suy ngẫm và cách xây dựng nhiều hình ảnh .

trân trọng xã hội tốt đẹp mà em đang sống hôm nay.Trong suốt ba năm chồng đi chinh chiến.Vũ Nương được mọi người yêu mến bằng tính tình.thần sông có linh xin ngài chứng giám.trâm gãy. chung tình mà bạc mệnh ! Câu chuyện về nàng Vũ Nương khép lại nhưng dư âm về sự bất bình.mây tạnh.ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”.kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.dâu thảo.hiếu nghĩa .vào đất xin làm cỏ Ngu Mĩ…” Với nàng . vô nhân đạo thì còn mãi.Không có cơ hội để thanh minh.một người yêu mến cuộc sống gia đình và làm mọi việc để giữ gìn.trái tim tan nát.xót thương của tác giả đối với người thiếu phụ chung tình mà bạc mệnh! Thương nàng ông sáng tạo ra một thế giới thần tiên êm đềm trong chốn làng mây cung nước để Vũ Nương được sống như một nàng tiên .xuống nước xin làm ngọc Mỵ Nương. ở hiền ắt sẽ gặp lành? Điều gì đã khiến người phụ nữ đẹp người. Người phụ nữ dịu dàng . hiếu nghĩa.mắng nhiếc.điều đâu bay buộc tiếng chịu nhuốc nhơ.nghe lời con trẻ đinh ninh là vợ hư.thiếp nếu đoan trang giữ tiết. phúc lộc đề huề.đức hạnh của nàng là đức hạnh của một người vợ hiền.phẩm hạnh của nàng.Nhịp văn dồn dập .liễu tàn trước gió ”.đánh đập và đuổi nàng đi bất chấp sự can ngăn của xóm giềng và lời than rớm máu của người vợ trẻ.một ngày kia chồng nàng đi chinh chiến trở về.Trong cái nhìn nâng niu trân trọng của ông.sen rũ trong ao.lời văn thống thiết như cực tả nỗi niềm đồng cảm.tuyệt vọng bởi “bình rơi.trinh bạch gìn lòng.xinh đẹp .người thiếu phụ đau khổ nguyền rằng:“Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu chồng con rẫy bỏ.vun vén cho hạnh phúc.Nhưng tai ác thay .Vũ Nương là con người của gia đình.Phải chăng đó cũng chính là dụng ý của tác giả:người tốt sẽ được được đền bù xứng đáng.cái chết là hành động quyết liệt cuối cùng cần phải có để bảo toàn danh dự . Suy nghĩ về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam X .Dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ.Đến bến Hoàng Giang. căm ghét xã hội phong kiến bất lương.mưa tan.Có lẽ vì thế mà em càng yêu mến. khắc khoải niềm thương và nỗi ám ảnh dai dẳng về một người thiếu phụ trẻ trung.người thiếu phụ trẻ trung xinh đẹp đó một lòng một dạ chờ chồng.nuôi con:“cách biệt ba năm giữ gìn một tiết.hiếu nghiã ấy còn là một người vợ thuỷ chung đối với chồng .tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng . Đó còn là lễ giáo phong kiến hà khắc với tư tưởng nam quyền độc đoán đã biến Trương Sinh thành một bạo chúa gia đình… Để ngàn đời trên bến Hoàng Giang.đẹp nết đó phải tìm đến cái chết bi thảm?Đó chính là do chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã làm cho gia đình phải li tán.tận tuỵ và chung tình đó đáng ra phải được đền bù xứng đáng bằng một gia đình êm ấm.Người thiếu phụ tận tuỵ .

mưa tan.dâu thảo.Dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ. đối với vợ thường phòng ngừa quá sức nhưng nàng khéo léo cư xử.Vũ Nương là người phụ nữ bình dân vốn con kẻ khó có một khát khao bao trùm cả cuộc đời-Đó là thú vui nghi gia nghi thất.hiếu nghĩa .sen rũ trong ao.hiếu nghiã ấy còn là một người vợ thuỷ chung đối với chồng .nuôi con:“cách biệt ba năm giữ gìn một tiết.dâu thảo.Vũ Nương được mọi người yêu mến bằng tính tình.Toàn bộ câu chuyện xoay quanh cuộc đời và số phận bi thảm của người con gái xinh đẹp.Trong những ngày đoàn viên ít ỏi.Càng đi sâu vào câu chuyện ta càng thấy vẻ đẹp của nàng được tác giả tập trung thể hiện rõ nét.dù Trương Sinh con nhà hào phú tính vốn đa nghi.phẩm hạnh của nàng.nết na tên là Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương.ngợi ca của tác giả đối với con người đặc biệt là người phụ nữ.ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”.trân trọng.Những ngày chồng đi xa. giữ gìn khuân phép nên gia đình không khi nào phải thất hoà.tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng .Trong suốt ba năm chồng đi chinh chiến.mắng nhiếc. Người phụ nữ dịu dàng .đức hạnh của nàng là đức hạnh của một người vợ hiền.vun vén cho hạnh phúc.Phải nói rằng Nguyễn Dữ không có ý định cho Vũ Nương mang đức tính của một phụ nữ yêu nước hay một mỹ nhân nơi gác tía lầu son .xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.đánh đập và đuổi nàng đi bất chấp sự can ngăn của xóm giềng và lời than rớm máu của người vợ trẻ.Nhưng tai ác thay .Nhân vật chính của tác phẩm là Vũ Nương đã để lại trong lòng người đọc niềm cảm thương sâu sắc.Nguyễn Dữ đã đặt những lời ca ngợi đẹp đẽ nhất về Vũ Nương vào miệng của chính mẹ chồng nàng khiến nó trở nên vô cùng ý nghĩa “sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức . Tác phẩm là tiếng nói đồng cảm.tuyệt vọng bởi “bình rơi.giống dòng tươi tốt con cháu đông đàn.một người yêu mến cuộc sống gia đình và làm mọi việc để giữ gìn.Người thiếu phụ tận tuỵ .một ngày kia chồng nàng đi chinh chiến trở về.người thiếu phụ trẻ trung xinh đẹp đó một lòng một dạ chờ chồng.trâm gãy.nghe lời con trẻ đinh ninh là vợ hư.liễu tàn trước .mong ước lớn nhất của nàng không phải là công danh phú quí mà là khao khát ngày chồng về “mang theo hai chữ bình yên thế là đủ rồi”. nàng thực sự là một người mẹ hiền. phúc lộc đề huề.trái tim tan nát.mây tạnh.“Chuyện người con gái Nam Xương” được rút trong tập những câu chuyện kỳ lạ đó .tận tuỵ và chung tình đó đáng ra phải được đền bù xứng đáng bằng một gia đình êm ấm.ma chay tế lễ chu tất khi mẹ chồng qua đời.Trong cái nhìn nâng niu trân trọng của ông.Vũ Nương là con người của gia đình.Nàng mang đầy đủ vẻ đẹp của một người phụ nữ lý tưởng “tính đã thuỳ mỵ nết na lại thêm có tư dung tốt đẹp ”.Không có cơ hội để thanh minh.chăm sóc thuốc thang tận tình khi mẹ chồng đau yếu.Khi tiễn chồng đi lính.Trong văn học Việt Nam đã có không ít tác phẩm mang tên gọi truyền kỳ hoặc có tính chất truyền kỳ song được tôn vinh là “ thiên cổ kỳ bút” thì cho đến nay chỉ có một “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ .

đẹp nết đó phải tìm đến cái chết bi thảm?Đó chính là do chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã làm cho gia đình phải li tán.xót thương của tác giả đối với người thiếu phụ chung tình mà bạc mệnh! Thương nàng ông sáng tạo ra một thế giới thần tiên êm đềm trong chốn làng mây cung nước để Vũ Nương được sống như một nàng tiên .Có lẽ vì thế mà em càng yêu mến. Khi viết về người mẹ Chế Lan Viên đã viết : “Con zù lớn vẫn là con của mẹ Đy hết đời lòng mẹ vẫn theo con” (Con cò – Chế Lan Viên) Nguyễn Duy cũng đã viết : “Ta đy trọn kiếp con người Cũng không đy hết mấy lời mẹ ru” ( Nỗi buồn nhớ mẹ ta xưa – Nguyễn Duy) Em hãy nêu suy nghĩ về tình mẹ. vượt qua tất cả những khó khăn.cái chết là hành động quyết liệt cuối cùng cần phải có để bảo toàn danh dự .điều đâu bay buộc tiếng chịu nhuốc nhơ. Đó còn là lễ giáo phong kiến hà khắc với tư tưởng nam quyền độc đoán đã biến Trương Sinh thành một bạo chúa gia đình… Để ngàn đời trên bến Hoàng Giang. chắc hẳn trong lòng mỗi con người chúng ta ko ai là ko khỏi xao xuyến. hiếu nghĩa.Nhịp văn dồn dập .thiếp nếu đoan trang giữ tiết.Đến bến Hoàng Giang.người thiếu phụ đau khổ nguyền rằng:“Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu chồng con rẫy bỏ. vô nhân đạo thì còn mãi. ở hiền ắt sẽ gặp lành? Điều gì đã khiến người phụ nữ đẹp người. căm ghét xã hội phong kiến bất lương.trinh bạch gìn lòng.xinh đẹp . trân trọng xã hội tốt đẹp mà em đang sống hôm nay. bồi hồi. Vì vậy mà khi viết về mẹ Chế Lan Viên có câu : .xuống nước xin làm ngọc Mỵ Nương. thử thách của cuộc đời.thần sông có linh xin ngài chứng giám. khắc khoải niềm thương và nỗi ám ảnh dai dẳng về một người thiếu phụ trẻ trung.vào đất xin làm cỏ Ngu Mĩ…” Với nàng . Bài làm Mỗi khi nhắc về mẹ..lời văn thống thiết như cực tả nỗi niềm đồng cảm.Phải chăng đó cũng chính là dụng ý của tác giả:người tốt sẽ được được đền bù xứng đáng. vất vả. nuôi nấng ta khôn lớn từng ngày vượt qua bao gian lao.gió ”. chung tình mà bạc mệnh ! Câu chuyện về nàng Vũ Nương khép lại nhưng dư âm về sự bất bình.. Suy nghĩ về tình mẹ qua 2 đoạn thơ . Bởi mẹ chính là người đã chăm sóc.

sẵn sàng hy sinh tất cả cho kon đc h. niếm trải bao cay đắng. đẹp đẽ nhất của đời người. chăm bẵm ta từ khi ta mới chạp chững những bước đầu tiên cho đến khi ta bước những bước đy vững chắc trên con đường đời. manh áo…sự vất vả. khó khăn để cho kon khôn lớn nên người. ngọt bùi thỳ “cũng không đy hết đc những lời ru của mẹ”.p. trìu mến. che chở. Mẹ nuôi nấng. bất hiếu. lời ru của mẹ là những giai điệu êm dịu. Tình mẹ thiêng liêng và bất diệt như vậy đó. Mẹ theo từng bước chân ta từ khi còn bé cho tới lúc trưởng thành. Để “Con zù lớn vẫn là con của mẹ” và “Đy hết đời lòng mẹ vẫn theo con”. luôn có một sợi dây vô hình nối . Vậy mà trong xã hội hiện nay. Những con người đó liệu có còn lương tâm hay ko khi họ đối xử như vậy với chính ruột thịt của mình. Công ơn của mẹ ko j` có thể sánh bằng. một thứ tình cảm đẹp đến mãnh liệt. mẹ thức trắng đêm trông nom khi con ốm. Mẹ yêu con hơn cả bản thân mình. lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào long mẹ. mẹ lận đận sớm hôm để lo cho cuộc sống con đc trọn vẹn. đối xử tệ bạc với cha mẹ. Như R. Mẹ và con có một sự liên kết mật thiết. sợ hãi hay vui mừng chúng cũng chỉ gọi mẹ. Và ko ai biết mẹ con ta ở chốn nào”. một số người con ko hiểu đc điều ấy. Cho zù con có khôn lớn nhường nào. vấn đề đang được xã hội lên án gay gắt. Mẹ hi sinh tất cả để giành cho con những gì tốt đẹp nhất. tận tụy ấy ko thể kể hết đc bằng lời. bảo vệ cho con. Con có “đy trọn cả kiếp người” .Ta-go đã viết “ Con sẽ là sóng và mẹ sẽ là bến bờ kì lạ. đối với chúng mẹ là tất cả. “Mẹ ơi” hai từ thiết tha ấy luôn đc chúng thốt lên mỗi khj vui hay buồn. làm những điều mà ko ai có thể ngờ tới. thay đổi ra sao thỳ con vẫn là con của mẹ. mẹ long đong sớm chiều vì công việc để lo cho con đủ miếng cơm.“Con zù lớn vẫn là con của mẹ Đy hết đời lòng mẹ vẫn theo con” Hay như Nguyễn Duy đã viết : “Ta đy trọn kiếp con người Cũng không đy hết mấy lời mẹ ru” Tình mẹ cao cả và bao la. sự yêu thương của mẹ đều được gửi gắn vào những lời ru thiết tha ấy. con là do mẹ sjnh ra. mẹ chính là bến bờ vô tận luôn mở rộng lòng để con sà vào đó. con lăn. Hãy để ý những đứa trẻ bé bỏng còn phụ thuộc nhiều vào mẹ ta sẽ thấy đy đâu chúng cũng chỉ theo mẹ. lăn. Niềm mong ước. suốt cuộc đời mẹ sẽ luôn ở bên con. Mẹ như biển cả ôm lấy những ngọn sóng bé bỏng là con. Đâu có khác nào tự lấy dao cứa vào da thịt mình ? Mẹ là thân cò lặn lội qua bao sóng gió.

đừng để mẹ phải buồn long. đẹp đẽ. Con người chúng ta ai cũng đều có rất nhiều thứ tình cảm đẹp như tình bạn. dịu dàng.. nhà thơ trữ tình Chế Lan Viênđã sử dụng hình ảnh cánh có trong những câu ca dao để ca ngợi tình mẹ thiêng liêng. sóng gió của cuộc đời. Hãy luôn gìn giữ nó bởi nó chính là nguồn động lực lớn nhất giúp ta vượt qua những khó khăn.một trong những bài thơ tiêu biểu và nổi tiếng của ông. ở các câu bốn và câu tám chữ. khi con còn nằm trong vòng tay của mẹ. có hình .. Bỏi con người ta có thể gạt bỏ những tình cảm kja bởi một lý do nào đó nhưng đối với tình mẫu tử thỳ cho zù có bất cứ lý do j` đy chăng nữa. hình ảnh con cò cũng được mươn để ví cho hình ảnh những người phụ nữ. Đặc biệt là hình ảnh người mẹ. êm ái. cho ta đc niếm trải hương vị của cuộc đời. Hãy cảm ơn vì điều đó. hãy làm sao cho xứng với những j` mẹ đã làm cho ta. Làm sao có thể gạt bỏ một thứ tình cảm gắn chặt với cuộc đời ta kể từ khj ta bắt đầu làm quen với cuộc đời. tình mẹ. còn đc ở bên mẹ. Tình mẫu tử ấp áp. một thứ tình cảm bất diệt. điệp ngữ "con cò" được nhắc đi nhắc lại như là lời ru ngân nga.chặt con với mẹ từ khj con được sinh ra. "con vạc". Bay từ cửa phủ. những dòng thơ thật nhẹ nhàng. Phật tổ có câu: “ Nếu ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc Đừng để vương buồn lên mắt mẹ nghe không !” Những ai còn mẹ. quý giá và sâu sắc nhất mà chúng ta có thể tạo ra để tặng cho mẹ của mình.... con còn bế trên tay . và sợi dây vô tình ấy chính là tình yêu thương mẹ giành cho con sẽ bên con đến suốt cuộc đời. tình đồng đội. con nào biết đến "những cành mềm mẹ hát" nhưng mẹ đã mang cánh cò đến với con trong những lời ru ấm êm của mẹ. con nào biết đến "con cò". thấm đẫm tình thương của mẹ. Câu ca dao khá quen thuộc với người Việt Nam. hình ảnh con cò đã được chế lan viên sử dụng làm hình tượng bao trùm lên toàn bài thơ mà đâu đó thấp thoáng có hình ảnh của mẹ. cũng có lẽ vì thế mà năm 1962. người con cũng ko thể gạt bỏ đc. đồng chí… nhưng ko có thứ tình cảm nào có thể vượt qua đc sự thiêng liêng và ấm áp của tình mẫu tử. cảm ơn mẹ đã sinh ra ta.. như là lời mẹ muốn kể cho con nghe về hình ảnh con cò bằng chất giọng mượt mà. bay về đồng đăng. còn với mỗi chúng ta thỳ long hiếu thảo luôn là những tác phẩm đẹp đẽ.. thiêng liêng và bất diệt sẽ theo ta đến suốt cuộc đời. sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân. còn đc mẹ yêu thương che trở thỳ hãy hiếu thảo với mẹ. Các nhà văn giành hết tình cảm của mình vào các tác phẩm để tặng mẹ . cao cả qua bài thơ "Con cò". êm ái.

trong lời ru của mẹ không chỉ mang đến cho con những cánh cò mà nó còn mang đến cho con hơi xuân ấm áp. ý chí vươn lên. mẹ nâng niu con trong từng câu hát và cũng là ấp iu nâng giấc con thơ. Một sự nhân hoá ở cánh cò để diễn tả cho sự chăm chút. mỗi lần con vấp ngã. vô tận đến nhường nào. cho dù khi con còn tấm bé cho đến lúc trưởng thành. ngủ yên! ngủ yên! ngủ yên cho cò trắng đến làm quen ……. ……… trước hiên nhà và trong hơi mát câu văn. ân cần của mẹ đối với con. cánh của cò hai đứa đắp chung đôi. sẽ là động lực để con đứng dậy và tiếp tục bước đi trên chính đôi chân của mình. ôi! tình mẹ bao la biết mấy. con sẽ lớn lên và đi trên con đường của chính mình. cò "xa tổ". dòng sữa trắng trong ngọt ngào của mẹ đưa con vào giấc ngủ say nồng. che chở: "Sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân". mẹ luôn muốn con yên tâm chìm vào giấc ngủ. gian khổ. ngàn khe nhưng có bao giờ con hiểu hết lòng của mẹ: . Con sẽ không ở bên mẹ nữa nhưng con biết có 1 chân lý cuộc đời không bao giờ thay đổi: dù ở gần con dù ở xa con ……. hình ảnh cò lẻ loi một mình kiếm ăn trong đêm tối nhưng phải chăng đó cũng lả hình ảnh của mẹ. hình ảnh con cò "ăn đêm". mẹ muốn con hãy ngủ ngon để luôn nhìn thấy cánh cò bay lượn không biết mỏi vì đã có mẹ mãi ở bên vỗ về.ảnh của một người một đời tần tảo sớm khuya nuôi con khôn lớn. mẹ là người cho con sự sống. mẹ vẫn luôn dõi theo những bước đi của con trên đường đời. của người phụ nữ một đời vất vả với cuộc sống miêu sinh đầy khó khăn. nuôi con lớn khôn cả về thể xác lẫn tâm hồn: “Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ” . cò "sợ gặp cành mềm".. cò "sợ xáo măng" gợi lên cho ta biết bao hình ảnh. thế nhưng mẹ vẫn luôn muốn hát cho con nghe về tình yêu quê hương. Mai khôn lớn con theo cò đi học ……. mẹ luôn mong con được hưởng trọn tình yêu thương của tuổi ấu thơ. Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con. con có đi hết trăm núi.và cánh cò ở đây lại là khát vọng sáng tạo. đất nước và rồi con sẽ hiểu được tình yêu mà mẹ dành cho con bao la. nhưng dù con có khôn lớn. Con và cò là bạn và cũng là con của mẹ. sẽ cùng nhau sánh bước trên đường đời tương lai. mẹ sẽ luôn ở bên con. Cánh cò trong những lời ru lại mang những suy nghĩ triết lý sâu sắc. Và mẹ lại vỗ về và chắp cánh cho những ước mơ của con trong câu hát ru ấy và trong cả những suy nghĩ của con.

con đi trăm núi ngàn khe chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm. Khi cất lên những lời hát ru. không chỉ có thế. . mặc dù CLV không nhắc đến những nếm trải của cuộc đời mẹ song những câu thơ của ông cho ta hiểu thêm rằng trong cánh cò kia chất chứa những nỗi nông sâu của cuộc đời mẹ. tội nghiệp. lại một lần nữa ta đã hiểu được sự chịu đựng của mẹ như thế nào. trước tình mẹ bao la vô tận đến thế. chỉ là một con cò trong lời mẹ hát thôi thế nhưng có biết bao điều vừa gần gũi vừa sâu xa. mẹ luôn là người có tấm lòng bao dung và độ lượng nhất. đã từng nếm trải nhiều lẽ của cuộc đời thì bao giờ con cũng là con của mẹ và mẹ luôn mong muốn che chở. mẹ lại khóc. lời ru là một khúc hát yêu thương mà mẹ dành cho con. có những cay đắng lẫn ngọt bùi. tình mẹ thật thiêng liêng. đến hát quanh nôi. kết tụ sự hi sinh. thế nhưng. mẹ luôn mong người bị ốm hôm nay không phải là con mà chính là mẹ. vậy mà mẹ luôn vì con. mẹ luôn muốn nhận những gì đau khổ và vất vả nhất về mình vì con. mẹ luôn túc trực suốt đêm không chợp mắt. hình ảnh mẹ luôn đẹp nhất và rực rỡ trong lòng chúng con. hình ảnh những con cò thật giản dị nhưng nhờ sự khéo léo của mình. Cho dù con đã trưởng thành. tất cả. vì con mà mẹ phải chịu đựng tất cả.một hình tượng bất tử. m ẹ đã hoá thân thành cánh cò mang nhiều ý nghĩa sâu xa. mẹ khóc vì thương cho đứa con bé bỏng. chế lan viên đã mượn hình ảnh ấy ví cho hình tượng của người mẹ. gian khổ để những lời yêu thương càng thêm sâu sắc. rồi có những ngày con đau ốm. ai đã biết. nó sẽ theo con suốt cuộc đời bởi vì đâu đó trong hình ảnh cánh cò kia đó là hình ảnh của người mẹ con kính yêu thế đấy. Hai tiếng “à ơi” quen thuộc trong những lời ru được cất lên thật mượt mà. tất cả những gì mẹ mang đến cho con đều là những tình thương sâu thẳm tận đấy lòng của mẹ. và hình ảnh cò đã dần đi vào tầm thức của tuổi thơ con. trong mỗi chúng ta cũng đã không ít lần hiểu lầm mẹ. À ơi! một con cò thôi ……. người phụ nữ việt nam . thật ra. cao đẹp. là lúc mẹ gửi gắm trong cánh cò cả cuộc đời mẹ. mẹ luôn tha thứ cho những lỗi lầm của con để mong con có thể vững bước trên đường đời. ai đã hiểu cho tình thương của mẹ. hối hận vì những lần đã hiểu lầm mẹ. ai nào có biết mẹ đã khóc nhiều như thế. nhưng chúng ta ai nào có biết tâm trạng mẹ lúc ấy. một triết lý của cuộc sống nhưng sao vẫn rất nhẹ nhàng. ta đã cảm động biết bao. vì con mà đã nhiều đêm mẹ khóc thầm không ngủ. bao dung con như khi con còn thơ bé. nhưng bất chợt lại cảm thấy hối hận biết bao.

để rồi chợt nhận ra: tình mẫu tử là nguồn sức mạnh thiêng liêng và diệu kỳ. Kỳ diệu thay. Tình cảm của đứa con đã giúp bé vượt qua những thành kiến mà người cô đã gieo rắc vào lòng cậu “Vì tôi biết rõ. Đáng sợ hơn. bao giờ mẹ cũng là người tốt nhất. Đối với bé Hồng. nếu chỉ nhìn vào bề ngoài cuộc sống của cậu bé Hồng. nợ nần cùng túng quá. cô chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi. người ta nhớ ngay một giọng văn như trút cả bao xúc động đắng đót vào trong những câu chuyện của ông. người đọc vẫn lây lan cảm giác của cậu bé sớm phải chịu thiếu thốn tình cảm. những trang viết ấy lại giúp chúng ta hiểu ra một điều thật tự nhiên giản dị: Mẹ là người chỉ có một trên đời. nhắc đến mẹ tôi. là nguồn an ủi và chở che giúp cho đứa trẻ có thể vượt lên bao đắng cay tủi nhục và bất hạnh. cậu đã trở thành tấm bia hứng chịu thay . phải bỏ con cái đi tha phương cầu thực. Hồi ký “Những ngày thơ ấu” là kỷ niệm xót xa của cậu bé Hồng.cậu bé sinh ra trong một gia đình bất hạnh: người cha nghiện ngập rồi chết mòn. Nhưng liệu có thể gọi là gia đình không khi chính những người thân – mà đại diện là bà cô ruột lại đóng vai trò người giám hộ cay nghiệt. Tấm lòng trẻ thơ ấy thật đáng quí. cậu bé Hồng đã phải sống trong cảnh hắt hủi ghẻ lạnh đến cay nghiệt của chính những người trong họ hàng. Ta chứng kiến và cảm thương cho từng khoảnh khắc đớn đau. Trước khi gặp mẹ: Nói một cách công bằng. luôn luôn “tươi cười” – khiến hình dung đến loại người “bề ngoài thơn thớt nói cười – mà trong nham hiểm giết người không dao”. có thể nói cậu bé ấy vẫn còn may mắn hơn bao đứa trẻ lang thang vì còn có một mái nhà và những người ruột thịt để nương tựa sau khi cha mất và mẹ bỏ đi. Sự tra tấn tinh thần thật ghê gớm. tình mẹ con là mối dây bền chặt không gì chia cắt được. Đoạn trích Trong lòng mẹ là hồi ức đan xen cay đắng và ngọt ngào của chính nhà văn .sưu tầm TLV số 6 suy nghĩ của em về tình mẫu tử trong "trong lòng mẹ" của Nguyên Hồng Nói đến Nguyên Hồng. Cho đến tận bây giờ. Nhưng đời nào lòng thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến…” Nhưng ta cũng nhận ra những vết thương lòng đau nhói mà bé Hồng đã sớm phải gánh chịu. Những diễn biến tâm trạng của bé Hồng trong câu chuyện đã được thuật lại bằng tất cả nỗi niềm đau thắt vì những ký ức hãi hùng kinh khiếp của tuổi thơ. người mẹ cùng túng phải đi tha phương cầu thực. một người đàn bà đã bị cái tội là goá chồng. Cậu bé phải đối mặt với bà cô cay nghiệt. khi đọc lại những trang viết này. sự tàn nhẫn ấy lại dành cho đứa cháu ruột vô tội của mình. chết rục bên bàn đèn thuốc phiện. đẹp nhất. Sức chịu đựng của một cậu bé cũng có chừng mực. mang theo cái dư vị đắng chát của tuổi thơ khát khao tình mẹ.

bất chấp những thành kiến ác độc: “Chỉ vì tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi. để cậu bé được thoả lòng mong nhớ và khát khao bé nhỏ của mình. khi những uất ức nén nhịn có dịp bùng phát. Mẹ đã trở về cùng đứa con thân yêu. là nguồn an ủi và . để sinh nở một cách giấu giếm… Tôi cười dài trong tiếng khóc”. khi cậu bé có được cảm giác an toàn và được chở che trong vòng tay mẹ. mới thấy mẹ có một êm dịu vô cùng”. áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ. người ta nhớ ngay một giọng văn như trút cả bao xúc động đắng đót vào trong những câu chuyện của ông. tràn trề cảm giác hạnh phúc:“Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ. người đọc vẫn lây lan cảm giác của cậu bé sớm phải chịu thiếu thốn tình cảm. Hình ảnh mẹ qua những trang viết của nhà văn thật tươi tắn sinh động. Từ nhận thức non nớt. có lẽ mỗi một người trong chúng ta cũng sẽ cảm nhận được tình me giống như cậu bé Hồng: “Mẹ tôi vừa kéo tay tôi. bảo bọc. Ta xúc động biết bao nhiêu trước khoảnh khắc hồi hộp lo lắng của cậu bé khi sợ mình nhận nhầm mẹ. liệu rằng cậu bé ấy có khi nào oán trách mẹ mình đã nhẫn tâm bỏ con không? Có lẽ không bao giờ.cho mẹ những ghẻ lạnh. an ủi. bởi lẽ niềm khao khát được gặp lại mẹ lúc nào cũng thường trực trong lòng cậu bé. được thương yêu. để đền đáp lại là cảm giác của đứa con trong lòng mẹ . Cho đến tận bây giờ. Càng thương cho cậu bé Hồng. Có lẽ không cần phải bình luận thêm nhiều __________________ suy nghĩ của em về tình mẫu tử trong "trong lòng mẹ" của Nguyên Hồng Nói đến Nguyên Hồng. Thật đẹp khi chúng ta đọc những câu văn. Dường như khoảnh khắc cười dài trong tiếng khóc kia chứa chất sự phẫn nộ và khinh bỉ không cần giấu giếm Trong thâm tâm. Hồi ký “Những ngày thơ ấu” là kỷ niệm xót xa của cậu bé Hồng. để rồi chợt nhận ra: tình mẫu tử là nguồn sức mạnh thiêng liêng và diệu kỳ. và gãi rôm ở sống lưng cho. với trò tra tấn gặm nhấm dần niềm tin con trẻ. Linh cảm và tình yêu dành cho mẹ đã không đánh lừa cậu. là sự diệu kỳ giúp cậu bé vượt lên nỗi cay đắng của những ngày xa mẹ. thành kiến của người đời: “Tôi lại im lặng cúi đầu xuống đất: lòng tôi thắt lại. khoé mắt tôi đã cay cay” Dù đã kìm nén hết mức nhưng những lời độc ác kia vẫn đạt được mục đích khi đã lấy được những giọt nước mắt tủi nhục của một đứa trẻ không đủ sức tự vệ . Mỗi khi đứng trước mẹ. để người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm. ta lại càng căm uất sự ghẻ lạnh của người đời trước những số phận bất hạnh. khi đọc lại những trang viết này. cậu bé ấy cũng đã kiên quyết bảo vệ mẹ mình.cảm giác được chở che. Liệu ta có hoà chung giọt nước mắt này chăng: “Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đìa ở cằm và cổ”. xoa đầu tôi hỏi thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở”. Không khóc sao được. mang theo cái dư vị đắng chát của tuổi thơ khát khao tình mẹ. Ta chợt ghê sợ trước loại người như bà cô – họ vẫn lẩn quất đâu đó quanh ta.

chở che giúp cho đứa trẻ có thể vượt lên bao đắng cay tủi nhục và bất hạnh. cậu bé ấy cũng đã kiên quyết bảo vệ mẹ mình. cô chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi.cậu bé sinh ra trong một gia đình bất hạnh: người cha nghiện ngập rồi chết mòn. Càng thương cho cậu bé Hồng. chết rục bên bàn đèn thuốc phiện. nợ nần cùng túng quá. bất chấp những thành kiến ác độc: “Chỉ vì tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những . một người đàn bà đã bị cái tội là goá chồng. cậu bé Hồng đã phải sống trong cảnh hắt hủi ghẻ lạnh đến cay nghiệt của chính những người trong họ hàng. Tình cảm của đứa con đã giúp bé vượt qua những thành kiến mà người cô đã gieo rắc vào lòng cậu “Vì tôi biết rõ. người mẹ cùng túng phải đi tha phương cầu thực. cậu đã trở thành tấm bia hứng chịu thay cho mẹ những ghẻ lạnh. luôn luôn “tươi cười” – khiến hình dung đến loại người “bề ngoài thơn thớt nói cười – mà trong nham hiểm giết người không dao”. nếu chỉ nhìn vào bề ngoài cuộc sống của cậu bé Hồng. Nhưng liệu có thể gọi là gia đình không khi chính những người thân – mà đại diện là bà cô ruột lại đóng vai trò người giám hộ cay nghiệt. Sức chịu đựng của một cậu bé cũng có chừng mực. Kỳ diệu thay. những trang viết ấy lại giúp chúng ta hiểu ra một điều thật tự nhiên giản dị: Mẹ là người chỉ có một trên đời. bao giờ mẹ cũng là người tốt nhất. với trò tra tấn gặm nhấm dần niềm tin con trẻ. đẹp nhất. Ta chợt ghê sợ trước loại người như bà cô – họ vẫn lẩn quất đâu đó quanh ta. có thể nói cậu bé ấy vẫn còn may mắn hơn bao đứa trẻ lang thang vì còn có một mái nhà và những người ruột thịt để nương tựa sau khi cha mất và mẹ bỏ đi. sự tàn nhẫn ấy lại dành cho đứa cháu ruột vô tội của mình. Ta chứng kiến và cảm thương cho từng khoảnh khắc đớn đau. Liệu ta có hoà chung giọt nước mắt này chăng: “Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đìa ở cằm và cổ”. Từ nhận thức non nớt. Tấm lòng trẻ thơ ấy thật đáng quí. Nhưng đời nào lòng thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến…” Nhưng ta cũng nhận ra những vết thương lòng đau nhói mà bé Hồng đã sớm phải gánh chịu. Đối với bé Hồng. Những diễn biến tâm trạng của bé Hồng trong câu chuyện đã được thuật lại bằng tất cả nỗi niềm đau thắt vì những ký ức hãi hùng kinh khiếp của tuổi thơ. nhắc đến mẹ tôi. tình mẹ con là mối dây bền chặt không gì chia cắt được. Trước khi gặp mẹ: Nói một cách công bằng. phải bỏ con cái đi tha phương cầu thực. Đáng sợ hơn. Đoạn trích Trong lòng mẹ là hồi ức đan xen cay đắng và ngọt ngào của chính nhà văn . thành kiến của người đời: “Tôi lại im lặng cúi đầu xuống đất: lòng tôi thắt lại. Sự tra tấn tinh thần thật ghê gớm. Cậu bé phải đối mặt với bà cô cay nghiệt. khoé mắt tôi đã cay cay” Dù đã kìm nén hết mức nhưng những lời độc ác kia vẫn đạt được mục đích khi đã lấy được những giọt nước mắt tủi nhục của một đứa trẻ không đủ sức tự vệ . ta lại càng căm uất sự ghẻ lạnh của người đời trước những số phận bất hạnh.

liệu rằng cậu bé ấy có khi nào oán trách mẹ mình đã nhẫn tâm bỏ con không? Có lẽ không bao giờ. Mỗi khi đứng trước mẹ. Dường như khoảnh khắc cười dài trong tiếng khóc kia chứa chất sự phẫn nộ và khinh bỉ không cần giấu giếm Trong thâm tâm. mới thấy mẹ có một êm dịu vô cùng”. để cậu bé được thoả lòng mong nhớ và khát khao bé nhỏ của mình. Hình ảnh mẹ qua những trang viết của nhà văn thật tươi tắn sinh động. Không khóc sao được. Thật đẹp khi chúng ta đọc những câu văn.thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi. áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ. khi những uất ức nén nhịn có dịp bùng phát. khi cậu bé có được cảm giác an toàn và được chở che trong vòng tay mẹ. bởi lẽ niềm khao khát được gặp lại mẹ lúc nào cũng thường trực trong lòng cậu bé. có lẽ mỗi một người trong chúng ta cũng sẽ cảm nhận được tình me giống như cậu bé Hồng: “Mẹ tôi vừa kéo tay tôi. an ủi.cảm giác được chở che. để đền đáp lại là cảm giác của đứa con trong lòng mẹ . xoa đầu tôi hỏi thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở”. để người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm. là sự diệu kỳ giúp cậu bé vượt lên nỗi cay đắng của những ngày xa mẹ. để sinh nở một cách giấu giếm… Tôi cười dài trong tiếng khóc”. Linh cảm và tình yêu dành cho mẹ đã không đánh lừa cậu. và gãi rôm ở sống lưng cho. Mẹ đã trở về cùng đứa con thân yêu. Có lẽ không cần phải bình luận thêm nhiều "Tri thức là sức mạnh" . được thương yêu. Ta xúc động biết bao nhiêu trước khoảnh khắc hồi hộp lo lắng của cậu bé khi sợ mình nhận nhầm mẹ. tràn trề cảm giác hạnh phúc:“Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ. bảo bọc.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful