Phân tích một số bài văn lớp 9

Chuyện người con gái Nam Xương Đề 1: Trong truyện “Người con gái Nam Xương”, nhân vật Trương Sinh vội tin câu nói ngây thơ của con trẻ đã nghi oan cho Vũ Nương ruồng rẫy và đánh đuỗi nàng đi. Vũ Nương bị oan ức nên nhảy xuống sông tự vẫn. Em hãy đọc kĩ lại tác phẩm và tìm xem có những chi tiết nào trong truyện tác giả muốn hé mở khả năng có thể tránh được thảm kịch đau thương cho Vũ Nương. Những nguyên nhân nào làm cho thảm kịch đó vẫn diễn ra dẫn đến cái chết đau thương cũa người phụ nữ đức hạnh? Em hãy bình luận về nguyên nhân cái chết đó . HƯỚNG DẪN 1. Đọc kĩ tác phẩm, nắm vững chi tiết, độc lập suy nghĩ để tìm ra những chi tiết mà đề yêu cầu. Tài thắt nút và mở nút là ở chỗ ấy. Mỗi em tìm tòi theo cách của mình miễn là hợp lí. 2. Bình luân về nguyên nhân cái chết của Vũ Nương. Có nguyên nhân trực tiếp do tính nết cá nhân của Trương Linh và nguyên nhân sâu xa của chế độ xã hội từ đó tìm ra ý nghĩa tố cáo và nhân đạo của tác phẩm. BÀI VIẾT THAM KHẢO “Truyền kì mạn lục” là một tác phẩm có giá trị của văn học cổ nước ta thế kỉ XVI, một tập truyện văn thơ đầu tiên bằng chữ Hán ở Việt Nam. Truyện “Người con gái Nam Xương” là một truyện hay trong tác phẩm. Truyện kể rằng, Vũ Thị Thiết là một phụ nữ đức hạnh ở Nam Xương, chồng là Trương Linh, người nhà giàu nhưng không có học, tính lai đa nghi. Triều đình bắt lính, Trương Linh phải tòng quân trong khi vợ đang mang thai. Chồng đi xa mới được mười ngày thì nàng sinh con trai đặt

tên là Đản. Năm sau, giặc tan, việc quân kết thúc, Trương Linh trở về thì con đã biết nói, nhưng đứa trẻ nhất định không nhận Trương Linh làm bố. Nó nói: “Ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư ? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ thin thít. Trước đây thường có một ông đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.” Tính Trương Linh hay ghen, nghe con nói vậy đinh ninh rằng vợ hư, đã vu oan cho Vũ Nương, ruồng rẫy và đánh đuổi nàng đi. Vũ Nương bị oan ức đã nhảy xuống sông tự vẫn. Đọc kĩ tác phẩm, em thấy truyện không phải không hé mở khả năng có thể dễ dàng tránh được thảm kịch đau thương đó. Tài kể chuyện của tác giả là ở chỗ đó, cởi ra rồi lại thắt vào đẩy câu chuyện đi tới, khiến người đọc hứng thú theo dõi và suy nghĩ, chủ đề của tác phẩm từng bước nổi lên theo dòng kể của câu chuyện. Lời con trẻ nghe như thật mà chứa đựng không ít điều vô lí không thể tin ngay được, nếu Trương Sinh biết suy nghĩ, người cha gì mà lạ vậy: “không biết nói, chỉ nín thin thít” chẳng bao giờ bế con mình, mà hệt như “cái máy” - “mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi”. Câu nói đó của đứa trẻ chẳng phải là một câu đố, giảng giải được thì cái chết của Vũ Nương sẽ không xảy ra. Nhưng Trương Linh cả ghen, ít học, thiếu suy nghĩ, đã vô tình bỏ dở khả năng giải quyết tấm thảm kịch, dẫn tới cái chết oan uổng của người vợ mà chàng không phải không có tình yêu thương. Tất nhiên sự đời có thế mới thành chuyện, vả lại trên đơì làm gì có sự ghen tuông sáng suốt. Bi kịch có thể tránh được khi vợ hỏi chuyện kia ai nói, chỉ cần Trương Sinh kể lại lời con nói mọi chuyện sẽ rõ ràng. Vũ Nương sẽ chứng minh cho chồng rõ ở một mình nàng hay đùa với con trỏ vào bóng mình và nói là cha Đản. Mãi sau này, một đêm phòng không vắng vẻ, ngồi buồn dưới bóng đèn khuya, chợt người con chỉ vào bóng mình trên vách mà bảo đó là cha nó, Trương Linh mới tỉnh ngô, thấu hiểu nỗi oan của vợ thì mọi chuyện đã xong. Vũ Nương không còn nữa trên đời. Câu chuyện bắt đầu từ một bi kịch gia đình, một chuyện trong nhà, một vụ ghen tuông. Không ít tác phẩm xưa nay đã viết về cái chuyện thường tình đầy tai hoạ này. Vũ nương không may lấy phải người chồng cả ghen, nguyên nhân trực tiếp dẫn nàng đến cái chết bi thảm là “máu ghen” của người chồng nông nổi. Nhưng sự thực vẫn là sự thực!cái chết oan uổng quá và người chồng độc đoán quá! Một phụ nữ đức hạnh, tâm hồn như ngọc sáng mà bị nghi oan bởi một

chuyện không đâu ở một lời con trẻ, một câu nói đùa của mẹ với con mà phải tìm đến cái chết bi thảm, ai oán trong lòng sông thăm thẳm. Câu chuyện đau lòng vượt ra ngoài khuôn khổ cuả một gia đình, nó buộc chúng ta phải suy nghĩ tới số phận mong manh của con người trong một xã hội mà những oan khuất, bất công, tai hoạ có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối với họ mà những nguyên nhân dẫn đến nhiều khi rất lạ lùng không thể lường trước được. Đó là xã hội phong kiến ở nước ta, nhất là ở thời nó đã suy vong. Xã hội đó đã sinh ra những chàng Trương Sinh, những người đàn ông đặc đầu óc “nam quyền”, chà đạp lên quyền sống của người phụ nữ. Tính ghen tuông của cá nhân cộng với tư tưởng “nam quyền” trong xã hội đã làm nên một Trương Sinh độc đoán đến kỳ cục, khư khư theo ý riêng, nhất thiết không nghe ý kiến của người khác. Đứa trẻ nói thì tin ngay, còn vợ than khóc giãi bày thống thiết thì nhất định không tin, họ hàng, làng xóm phân giải công minh cũng chẳng ăn thua gì. Hậu quả là cái chết thảm thương của Vũ nương mà nguyên nhân sâu xa là chế độ phong kiến bất công cùng chế độ “nam quyền” bất bình đẳng của nó đã gây ra bao nhiêu tai hoạ cho người phụ nữ nói riêng và con người thời đó nói chung.

Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải Mở bài “Nếu là con chim, chiếc lá, Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh Lẽ nào vay mà không trả, Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.” (Tố Hữu) Tố Hữu – nhà thơ cùng quê hương xứ Huế với Thanh Hải – đã viết trong bài “Một khúc ca xuân” những lời tâm niệm thật chân thành, giản dị và tha thiết. Đó là “lặng lẽ dâng cho đời”. Còn Thanh Hải khi viết bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” trước lúc ra đi, không những đã giải bày những suy ngẫm mà còn mong ước được dâng hiến một mùa xuân nho nhỏ của mình cho mùa xuân vĩ đại của đất nước Việt Nam. Sinh ra, lớn lên, hoạt động cách mạng và tham gia công tác văn nghệ suốt hai thời kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ngay chính trên quê hương ruột thịt của mình. Ở địa diểm nào, hoàn cảnh nào ông cũng thể hiện được lẽ sống của mình. Đó là sự giản dị, chân thành, yêu người và khát vọng dâng hiến sức mạnh cho đời như chính cuộc sống và tâm hồn ông. Chúng ta có thể coi bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là món quà cuối cùng mà Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc

muôn thuở và nguyện dâng hiến cho đời. thiết tha và thanh thản. bất ngờ. Từ “giọt” . Một màu tím thật gợn nhẹ như màu tím hoa sim mọc giữa con sông xanh biếc hay như những tà áo dài với màu tím thật nhẹ nhàng của những cô gái Huế. tha thiết và sâu lắng hơn tất cả để cuối cùng thể hiện một Thanh Hải yêu người. nhà thơ vẫn nghĩ đến một mùa xuân bất diệt. Tôi đưa tay tôi hứng”. Khi cuộc đời mình đã bước vào cuối đông. Cảm xúc về mùa xuân mở ra thật ngỡ ngàng. Trong không gian vang vang vui tươi của tiếng chim càng đậm đà chất Huế hơn nhờ dùng đúng chỗ những ngôn từ đặc trưng xứ Huế. Chính vì vậy nó bâng khuâng. Một nét đặc trưng nơi xứ Huế là hình ảnh màu tím. không hề gợn một nét u buồn nào của một cuộc đời sắp tắt. yêu quê hương đất nước và còn là một Thanh Hải sống cho thơ và sống cho đời. Tôi đưa tay tôi hứng”. Một từ “Ơi” đặt ở đầu câu. Ơi con chim chiền chiện Hót cho mà vang trời. Phân tích Hình ảnh của một mùa xuân rất Huế đã được tác giả mở đầu cho bài thơ: “Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc. không gian như tươi tắn hơn. thánh thoát hơn: “Ơi con chim chiền chiện Hót cho mà vang trời. trẻ trung hơn. yêu cuộc sống.về cõi vĩnh hằng. Từng giọt long lanh rơi. Thân bài Giới thiệu chung Trước lúc vĩnh viễn ra đi ông cũng để lại cho đời những vần thơ thật nhân hậu. Từng giọt long lanh rơi. một từ “chi” đứng sau động từ “hát” đã đưa cách nói ngọt ngào. thân thương của Huế vào nhạc điệu của thơ.

Mùa xuân của thiên nhiên. Tất cả như xôn xao…” Hình ảnh mùa xuân của đất trời đọng lại trong lộc non đã theo người cầm súng và người ra đồng. sẽ phát triển. Từ cảm xúc của thiên nhiên. hay chính họ đã đem mùa xuân đến cho mọi miền của tổ quốc thân yêu. đất nước thường gợi lên ở mỗi con người niềm khát khao và hi vọng. trải qua biết bao vất vả và gian lao để vươn lên phía trước và mãi khi mùa xuân về lại được tiếp thêm sức sống để bừng dậy. . Với hình ảnh “người cầm súng” và “người ra đồng”. tin yêu của Thanh Hải đối với đất nước. Nhưng đối với khung sắc trời xuân thì giọt xuân càng làm tăng thêm vẻ đẹp và sự quyến rũ của nó. mạch thơ đã chuyển một cách tự nhiên sang bày tỏ suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa xuân của đất nước. Phải chăng dấu ba chấm như còn muốn thể hiện rằng: đất nước sẽ còn đi lên. Lộc trãi dài nương mạ. của chim muông hoa lá. tác giả đã chuyển cảm nhận về mùa xuân của cuộc sống. Tác giả đã sử dụng biện pháp điệp từ. lạc quan. Những giọng thơ ấy rất giàu sức suy tưởng và làm say đắm lòng người. Mùa xuân người ra đồng. dân tộc.được hiểu theo rất nhiều nghĩa: có thể là “giọt nắng bên thềm”. với Thanh Hải cũng thế. được hình dung qua hình ảnh so sánh rất đẹp: “Đất nước bốn ngàn năm Vất và vào gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước” Đó chính là lòng tự hào. đồng thời cũng thể hiện cảm xúc trọn vẹn của Thanh Hải trước mùa xuân của thiên nhiên đất trời. giọt mưa xuân. giọt sương sớm hay cả tiếng hót của những chú chim chiền chiện. của sông. Một từ “hứng” cũng đủ diễn tả sự trân trọng của nhà thơ đối với vẻ đẹp của trời. Tất cả như hối hả. Lộc giắt đầy trên lưng. đất nước. điệp ngữ như nhấn mạnh và kết thúc một khổ thơ bằng dấu ba chấm. Từ mùa xuân của thiên nhiên đất trời. biểu tượng của hai nhiệm vụ: chiến đấu bảo vệ tổ quốc và lao động tăng gia để xây dựng đất nước với những câu thơ giàu hình ảnh và mang tính gợi cảm: “Mùa xuân người cầm súng. nhân dân và đất nước. sẽ đến với một tầm cao mới mà không có sự dừng chân ngơi nghỉ. Sức sống của “mùa xuân đất nước” còn được cảm nhận qua nhịp điệu hối hả. những âm thanh xôn xao của đất nước bốn ngàn năm.

Thật cảm động và kính phục biết bao khi đọc những vần thơ như lời tổng kết của cuộc đời. góp một nốt trầm vào bản hoà ca bất tận của cuộc đời.cống hiến sức trẻ để không bao giờ thất vọng trước chính bản thân mình.cống hiến tuổi già. chân thành của tác giả nên lời thơ dễ dàng được mọi người tiếp nhận và chia sẻ cho nhau: “Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc”. chuẩn bị ra đi mãi mãi. một cành hoa để hoà nhập vào “mùa xuân lớn” của đất nước. Già . xuất phát từ tiếng lòng thiết tha. Điều tâm niệm của tác giả: “lặng lẽ dâng cho đời” chính là khát vọng chung của mọi người. đất nước mến yêu của chính mình. Đã gọi là cống hiến cho đời thì dù ở tuổi nào đi chăng nữa cũng phải luôn biết cố gắng hết tâm trí để phục vụ và hiến dâng cho quê hương. trẻ . ở mọi lứa tuổi. giản dị và tha thiết – xin được làm một nốt trầm trong bản hoà ca của cuộc đời nhưng là “một nốt trầm xao xuyến”. Nam Bình . Ta làm một cành hoa. một nhà thơ đã gắn bó trọn đời với đất nước. bởi vậy. chứ đâu phải của riêng ai. “Dù là tuổi hai mươi” khi mới tham gia kháng chiến cho đến khi tóc bạc là thời điểm hiện thời vẫn lặng lẽ dâng hiến cho đời và bài thơ này là một trong những bài thơ cuối cùng. quê hương với một khát vọng cân thành và tha thiết: “Ta làm con chim hót. Ta nhập vào hoà ca. Hiến dâng “mùa xuân nho nhỏ” nghĩa là tất cả những gì tốt đẹp nhất. Một nốt trầm xao xuyến” Lời thơ như ngân lên thành lời ca. Thanh Hải đã thể hiện hết mình vì lòng tin yêu cuộc sống và khiêm tốn hiến dâng cho đất nước. Nếu như đoạn đầu Thanh Hải xưng tôi kín đáo và lặng lẽ thì đến đoạn này ông chuyển giọng xưng ta. dù nhỏ bé của mỗi người cho cuộc đời chung cho đất nước. “Một mùa xuân nho nhỏ” cuối cùng của Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc ông bước vào thế giới cực lạc. cho cuộc đời. nhỏ nhẹ. Điều tâm niệm đó thật chân thành. Khát vọng của ông là được làm con chim hót. Kết thúc bài thơ bằng một âm điệu xứ Huế: điệu Nam ai. Vì sao có sự thay đổi như vậy? Ta ở đây là nhà thơ và cũng chính là tất cả mọi người.đây chính là thời điểm mà ông nhìn lại cuộc đời và bộc bạch tâm niệm thiết tha của một nhà cách mạng.

những xúc động của chính tác giả và của cả chúng ta. vấn đề ý nghĩa cuộc sống của mỗi cá nhân được Thanh Hải thể hiện một cách chân thành. sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường. là “một mùa xuân nho nhỏ” góp vào “mùa xuân lớn” của đất nước của cuộc đời chung và bài thơ cũng có ý nghĩa hơn khi Thanh Hải nói về “mùa xuân nho nhỏ” nhưng nói được tình cảm lớn. luôn chứa chan tình cảm. Niềm mong mỏi thiết tha của Bác là miền Nam mau được giải phóng. là hạnh phúc. Lòng thương nhớ. Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến miền Nam. hiểu nhau và giải bày cho nhau. Bài thơ không những chỉ thể hiện dòng cảm xúc trào dâng của nhà thơ mà còn thể hiện hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh bằng những hình ảnh vừa quen thuộc. cất trúc thơ chặt chẽ. ước nguyện sâu lắng nhất… và bài thơ này cũng chính là những điều đúc kết cả cuộc đời của ông. Miền Nam cũng ngày đêm thương nhớ Bác. đất nước. nỗi niềm đau đớn của đồng bào và chiến sĩ miền Nam dồn nén bao nhiêu năm đã được nhà thơ Viễn Phương thể hiện trong bài Viếng lăng Bác. khi Bắc Nam sum họp một nhà thì Bác không còn nữa. Nét đặc sắc của bài thơ là ở chỗ nó đề cập đến một vấn đề lớn và quan trọng “nhân sinh”./. Ông đã giải bày. Nhưng tiếc thay. Với Bác. mong ngày giải phóng để được gặp Bác kính yêu. tâm tình những điều sâu kín nhất trong lòng. giàu hình ảnh. là nỗi đau không lúc nào nguôi: “Miền Nam trong trái tim tôi”. là lời ngợi ca đất nước. Nhà thơ ước nguyện làm một “mùa xuân” nghĩa là sống đẹp. mang âm hưởng dân ca nhẹ nhàng tha thiết. Kết bài Tóm lại bài thơ đã sử dụng thể thơ năm chữ. giọng điệu đã thể hiện đúng tâm trạng. nhạc điệu. bằng giọng văn nhỏ nhẹ như một lời tâm sự. gửi gắm của mình với cuộc đời. miền Nam là niềm vui. thiết tha. và chính lúc đó Thanh Hải đã thả hồn vào thơ.mênh mang tha thiết. Nguồn: ST Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác Sinh thời. Nam Bình Nước non ngàn dặm tình Nước non ngàn dặm mình Nhịp phách tiền đất Huế” Đánh giá chung Những lời tâm sự cuối cùng của người sắp mất luôn là những lời thực sự. một câu chân tình thắm thiết “Mùa xuân ta xin hát Câu Nam ai. biểu hiện niềm tin yêu và gắn bó sâu nặng của tác giả với quê hương. cùng chung một nhịp đập với thơ để ông và thơ luôn được cùng nhau. ngày đêm thương nhớ miền Nam. vừa giàu sức . cảm xúc của tác giả.

là niềm tự hào. Mở đầu bài thơ. Bài thơ rất ngắn gọn. trong tâm khảm nhà thơ. Hàng tre gợi hình ảnh mọi miền quê hương đất nước. khi lần đầu tiên sau giải phóng miền Nam. Tự đáy lòng của người con đến thăm cha. Hàng tre xanh xanh trong vườn Bác gợi cho người đọc nhiều liên tưởng. Chắc rằng. nhà thơ mang theo cả niềm tự hào đó của đồng bào miền Nam để đến với Bác. Trong tim Bác và trong tim miền Bắc. Tình cảm giữa miền Nam và Bác Hồ luôn luôn là tình cảm ruột thịt “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà” (Tố Hữu) và tình cảm của miền Nam đối với Bác cũng là tình cảm nhớ mong da diết “Miền Nam mong Bác nỗi mong cha” (Tố Hữu). là thành đồng Tổ Quốc… Giờ đây. súc tích nhưng có sức gợi tạo nên sự xúc động cho người đọc.khái quát. nhất là hình ảnh miền Nam yêu thương. vừa lung linh gợi cảm. Hình ảnh đầu tiên trong lăng làm nhà thơ xúc động là hình ảnh hàng tre: Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng Hàng tre bát ngát cuốn hút cảm xúc của nhà thơ. Viễn Phương đã bày tỏ ngay tình cảm sâu nặng. ruột thịt của mình bằng câu thơ giản dị: Con ở miềm Nam ra thăm lăng Bác. Viễn Phương nói với Bác: Con ở miền Nam…. Bài thơ ra đời năm 1976. nỗi nhớ thương. tha thiết. Viễn phương ra thăm Lăng Bác. Viễn Phương đã nói hộ chúng ta một chân lý: Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong lòng nhân dân ta. đời đời gắn bó với quê hương làng xóm. Tre kiên cường trong bão táp mưa sa như dân tộc ta vững vàng qua phong ba bão tố. dũng cảm. Câu thơ giản dị nhưng bao hàm một ý nghĩa lớn. thân thuộc. . kiên cường. cũng như mọi người Việt Nam. như Bác Hồ suốt đời sống giản dị nhưng kiên cường tranh đấu vì độc lập tự do của dân tộc. là biểu tượng anh hùng. Miền Nam luôn luôn là nỗi đau chia cắt. Ngôn ngữ thơ tuôn trào theo theo dòng cảm xúc chân thành. Bằng cảm xúc chân thực và ngôn ngữ thơ gợi cảm. cây tre là hình ảnh giản dị. bất khuất. ca ngợi dân tộc. Qua hình ảnh hàng tre quen thuộc tác giả gửi gắm một ý nghĩa tượng trưng nhằm ca ngợi Bác.

nhà thơ đã khái quát được hình ảnh Bác Hồ vĩ đại. mặt trời . Ngày ngày. yêu trăng nồng nàn của Bác. rực rỡ nhất. “Người ta là hoa của đất”. trong sáng và thanh khiết. yêu quí. Cùng với mặt trời ngày ngày đi qua trên lăng là dòng người đi trong thương nhớ. Nhà thơ đã nói hộ chúng rằng: Bác Hồ là mặt trời cách mạng đẹp nhất. Từ ánh điện mờ ở trong lăng. Nhịp thơ chầm chậm như bước chân của dòng người lặng lẽ đi trong suy tưởng. nhà thơ sững sờ. càng gợi ta nghĩ đến tình yêu thiên nhiên. Mặt trời rất đỏ. Không nhiều lời. chỉ một hình ảnh mặt trời rất đỏ.là mặt trời cách mạng. thấy Bác nằm nghỉ. nhà thơ tiếp tục dòng suy tưởng. nghẹn ngào.chúa tể của thiên nhiên . Mà sao nghe nhói ở trong tim Bác nằm đó như đang trong giấc ngủ bình yên sau bảy mươi chín mùa xuân không hề nghỉ. Hình ảnh đó đã đưa người đọc vào một thế giới huyền diệu. Đây là một sáng tạo nghệ thuật có tác dụng bộc lộ nội dung rất hiệu quả. là nguồn ánh sáng rực rỡ không bao giờ tắt.thán phục một mặt trời trong lăng rất đỏ. bao trùm một một không khí thương nhớ Bác không nguôi. nhà thơ liên tưởng đến một hình ảnh rất đẹp: vầng trăng sáng dịu hiền. mãi mãi chiếu rọi con đường đi tới của dân tộc Việt Nam. thành kính kết tràng hoa tình yêu dâng bảy mươi chín mùa xuân của Người. Lời thơ bỗng dạt dào một cảm xúc tự hào. hình ảnh tượng trưng cho Bác Hồ . kính trọng đối với Bác. Ngày ngày… ngày ngày …. nhà thơ thật sâu sắc và tinh tế khi tôn quí nhân dân. Nhiều nhà thơ đã sử dụng hình ảnh mặt trời để thể hiện ánh sáng của lý tưởng cách mạng. chói lọi nhất luôn luôn toả sáng trong tâm hồn người Việt Nam. Đặc biệt xúc động là khi vào trong lăng. nhưng đối sánh hai hình ảnh mặt trời của Viễn Phương quả là rất độc đáo.Hoà vào dòng người thăm lăng. thương nhớ Bác: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân Ai đã từng một lần đi viếng lăng Bác mới hiểu hết hàm ý trong câu thơ của Viễn Phương. thời gian không ngừng trôi và lòng người Việt Nam không bao giờ nguôi tình cảm nhớ thương. . Mỗi người dân là một bông hoa và dòng người đi trong thương nhớ chính là tràng hoa dâng lên Bác. đau đớn: Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền. Vẫn biết trời xanh là mãi mãi . thành kính.

mãi mãi sống trong sự nghiệp của chúng ta. Và nỗi đau không còn kìm ném được nữa. vĩ đại biết bao. Mà sao nghe nhói ở trong tim. rất lớn lao của vũ trụ: mặt trời. thanh khiết. Thương Bác. Và hơn thế nữa. Nhưng con tim nhà thơ đau đớn vô cùng khi đứng trước Người. tất cả các hình ảnh ấy đều gợi cho ta thấy sự bất tử của Bác Hồ. “trăng vào cửa sổ đòi thơ”. Vẫn biết rằng Bác như trời xanh. Nhà thơ đã có nhiều dụng ý khi sử dụng các hình ảnh rất đẹp. Bài thơ ngắn. Bác nằm đó. một tình cảm yêu quý mãnh liệt. Bác như vầng mặt trời rực rỡ. góp tiếng hót. trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”. Cả khi trong ngục: “Người ngắm trăng soi qua cửa sổ. Ở Bác toả ra ánh sáng của trí tuệ thiên tài và lấp lánh ánh sáng của một tâm hồn cao đẹp. thương đến trào nước mắt. bông hoa. nhịp điệu thiết tha. . đến các hình ảnh mặt trời rất đỏ. “trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa…” Giờ đây. Làm sao ngăn được dòng nước mắt thương nhớ Bác-một con người vừa vĩ đại. giữa vầng trăng sáng dịu hiền. “trăng ngân đầy thuyền”. thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Muốn làm bông hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. thanh cao. Đoạn thơ dạt dào tình cảm. Ngoài ra. trời xanh. trời xanh là mãi mãi đã gợi cho người đọc thấy trọn vẹn hình tượng Bác Hồ gần gũi. như vầng trăng sáng dịu hiền. vừa gần gũi thân thiết với chúng ta. Nhà thơ chia tay Bác trong tiếng khóc nấc nở nghẹn ngào. cao quý. nó còn gợi đến hình ảnh quê hương. một con người suốt đời hy sinh. gần gũi của Người. tràng hoa. cùng với hình ảnh cây tre trung hiếu một lần nữa truyền đến người đọc sự xúc động nghẹn ngào.Vầng trăng kia đã bao lần sáng lên trong thơ Người. như bầu trời xanh. vì nỗi thiếu vắng Bác. nhân dân. nó trào lên dữ dội khi nhà thơ chia tay với Bác: Mai về miền Nam. cây tre. chỉ ước muốn biến thành con chim. đất nước. vầng trăng. bảy mươi chín mùa xuân. Các hình ảnh hàng tre xanh xanh. nhưng tác giả đã thành công khi sử dụng hàng loạt hình ảnh ẩn dụ mang tính tượng trưng sâu sắc. Còn hình ảnh hàng tre xanh xanh lại tượng trưng cho cái bình dị. trong giấc ngủ bình yên. trọn vẹn như tình cảm của người con đối với người cha ruột thịt. chỉ một chữ nhói cũng đủ nói lên nỗi quặn đau. Bác vẫn thấy “trung thu trăng sáng như gương”. cống hiến cho dân tộc nay vĩnh viễn nằm lại trong lăng? Nhà thơ lưu lưyến không muốn rời xa Bác. Cả những khi bận rộn việc nước việc quân. vầng trăng sáng dịu hiền. lớn lao của Bác Hồ. giữa bão táp mưa sa. “rằm xuân lồng lộng trăng soi”. thương nhớ không gì bù đắp được vì mất Bác. Những hình ảnh đó tượng trưng cho cái vĩ đại. làn hương quanh nơi Bác nghỉ cho trọn niềm trung hiếu với Người.

Dưới đây là cuộc trò chuyện giữa ông và phóng viên VNQĐ PV: Thưa nhà thơ Viễn Phương. Trong chuồng cọp. Phải đến bài thơ Viếng Lăng Bác. lòng kính phục vô hạn của nhà thơ Viễn Phương và của nhân dân ta đối với Bác Hồ mà bài thơ còn diễn tả thành công hình tượng Bác Hồ vĩ đại bằng những hình ảnh đẹp. làm xúc động hàng triệu trái tim Việt Nam từ 1976 đến nay. Có bài tác giả viết khi bị địch giam cầm ở các trại giam Phú Lợi. trong một lần nào đó. có những ghi bằng than. Trong hai cuộc kháng chiến. nhịp điệu tha thiết. kể rằng: “Lúc tôi 25 tuổi. Trên vách chuồng cọp. không có giấy bút. cảm xúc nồng nàn chân thực. Tôi đọc được bài thơ dài. Hôm nay mười chín tháng năm: Lòng con sáng tựa đêm rằm trung thu Con đang chúc thọ dưới mồ Con đang dựng một rừng cờ trong tim Đêm nay mộng hóa thành chim Bay qua lưới sắt con tìm đến cha Sau này mới biết là thơ Viễn Phương. Viễn Phương sáng tác thầm trong đầu và đọc cho các đồng chí cùng khám nghe. Có những chữ bằng máu.. bị bọn Mỹ – Diệm kết án tử hình rồi chuyển thành trung thân khổ sai và đày ra Côn Đảo. tôi thấy chi chít những chữ ghi bằng nhiều cách khác nhau. Mãi mãi là vị cha già thân thiết. . nghẹn ngào trước sự ra đi của Bác. Viễn Phương chỉ đọc một vài lần. Lê Văn Duyệt. Bài thơ được phổ nhạc càng trở nên truyền cảm sâu xa. yêu quý của chúng ta. tôi được đọc một bài viết của anh Lê Quang Vịnh trên báo Sài Gòn Giải phóng. Viếng lăng Bác không những là tiếng khóc đau đớn. mọi người đều thuộc. Âm hưởng của bài thơ ngân vang mãi trong lòng người đọc.. Tôi nghĩ rằng đó cũng là hạnh phúc lớn của nhà thơ: Góp phần mình vào công cuộc giải phóng đất nước. rồi những khi bị địch bắt đi lao động. Viễn Phương mới thực sự có một bài thơ hay về Bác.Người sống mãi trong lòng nhân dân ta.". họ lại đọc cho bạn tù ở khám khác nghe. trong sự nghiệp của chúng ta. nhà thơ Viễn Phương hoạt động ở Nam Bộ. tôi bị bắt buộc phải nằm dưới hầm suốt ngày. là lòng thương nhớ không nguôi. địa ngục trần gian của nhà tù ấy. bài Chúc thọ dưới mồ. Có những dòng được khắc trên vôi bằng cái xương cá mắm. và đã sáng tác nhiều bài thơ về Bác Hồ. chỗ này ghi một đoạn. cứ vậy thơ Viễn Phương được lan truyền trong nhà tù. chỗ khác ghi một khúc ráp lại rất vần với nhau. Kỳ diệu thay.

Trong nhà tù của giặc. thống nhất. Khi miền Nam giải phóng. cổ các chiến sĩ trong nhà tù. Giản dị. được đến viếng Bác. Chúng tôi đi từ hướng chùa Một Cột. Hoa tươi là nét đẹp của thiên nhiên. Ra khỏi làng. tôi được nối vào dòng người vào lăng Bác. đầy đủ độ chín và ngôn từ. họa. được các đồng chí trong tù thuộc. dân chủ và giàu mạnh như di chúc của Bác. Tôi đã viết bài thơ Chúc thọ dưới mồ. trong sáng. nhac. Sáng hôm ấy mưa phùn. tôi luôn luôn nghĩ về Bác. Bác của chúng ta vốn giản dị. thanh thản. giản dị. nhân dân miền Nam mong muốn đất nước giải phóng để đón Bác vào thăm. hiền từ như đang ngủ. các nhà thơ sống ở Nam Bộ đều có những tác phẩm viết về Bác. Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Đó cũng là hàm chứa sự vĩnh cửu của sự nghiệp Bác Hồ tạo dựng và nhân dân ta. ước mơ ấy không được toại nguyện. Năm 1976. Anh có thể cho biết bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nào? Nhà thơ Viễn Phương: Khi Bác còn sống. Tôi không cầm nổi nước mắt. Đảng ta đã thực hiện: xây dựng một đất nước Việt Nam hoà bình. Đến bên Bác. PV: Phải đến khi đất nước thống nhất. truyền cho nhau. Tôi viết như là ý nghĩ của mình. Lời thơ thật giản dị. sâu sắc cũng là bao quát trong thơ Bác. tôi đi như người mộng du và tứ thơ bật ra: Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát. Người ghét sự cầu kỳ. thơ. vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc ta là nguồn cảm hứng vô tận của người sáng tạo văn. những gốc đào hoa đỏ rực… Tất cả đều thiêng liêng. viếng lăng Bác. Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Mặt trời của vũ trụ đối với mặt trời trong lăng. Và. Tuy lời thơ còn mộc mạc nhưng là tấm lòng thành kính của tôi đối với Người.Nhà thơ Viễn Phương: Hồ Chí Minh. Bác là nguồn động viên. Anh sáng dịu dàng toả xuống như giữa một đêm trăng thanh miền thôn dã. anh mới có Viếng Lăng Bác. những hàng tre xanh sẫm. Hà Nội lây phây trong gió rét. tôi ra Hà Nội. hàng ngày dâng lên Bác rất nhiều nhưng tôi nghĩ đến: . Sương toả mênh mông. mọi người đều muốn ra thăm miền Bắc. Bác nằm đó. đó cũng là tâm tư của nhân dân và chiến sỹ ở Nam Bộ với Bác. Nhưng rồi. độc lập. làm dáng. Tôi nghĩ. ra thăm miền Bắc. ai cũng muốn dừng thật lâu.

Toàn bài Viếng Lăng Bác mang một không khí trang nghiêm. khi nắng trời đã nhuộm đỏ . nhạy cảm khi mùa thu tới. Đây mùa thu tới (Xuân Diệu)… Nhưng nó vẫn có cái hay. tác giả đã tự xác định một thời điểm miêu tả: thời điểm giao mùa. cái độc đáo riêng của một hồn thơ sâu lắng. nhất là những ngòi bút thơ: hễ động bút là mùa thu cứ chực đổ ùa ra trên mặt giấy. là hoa tươi của cuộc sống. một tác giả đã nhận định: “Đề tài "Mùa Thu" bao giờ cũng có vẻ là dễ viết. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Sang thu của Hữu Thỉnh xuất hiện khi trước nó đã có rất nhiều bài thơ nổi tiếng đông tây kim cổ: Thu hứng (Đỗ Phủ). Tưởng như với đề tài thơ mộng muôn thuở này có thể dễ dàng chắp bút. chiến sỹ miền Nam hứa với Bác: Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này (sưu tầm) Sang thu (Hữu Thỉnh) Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. Và dâng cho Bảy mươi chín màu xuân. Chùm thơ thu (Nguyễn Khuyến). Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Nói về đề tài mùa thu.Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng Bảy mươi chín mùa xuân Dòng người vây quanh Bác trở thành hoa. Đó không phải là chính thu. thành kính. Ngay từ tiêu đề. Đoạn kết. tôi mới thấy đề tài này thật là khó” Tại sao lại có nghịch lí trong kinh nghiệm của người sáng tác như vậy? Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. không phải cuối thu. tôi muốn nói lên tình cảm của nhân dân. khi bầu trời xanh ngắt lơ lửng những tầng cao. Mùa thu dường như luôn luôn nấp sẵn trong ngòi bút của chúng ta. Chỉ đến khi bắt đầu cầm bút ngồi trước mặt giấy.

hệ thống động từ toàn bài còn đặc sắc ở chỗ. tất cả các dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn nhưng đã giảm dần mức độ. Có gió. gió se lại bởi chút lạnh xa xăm. Đặc biệt ở góc độ miêu tả tạo vật. cánh chim. hay đám mây cũng không tô điểm cho phong cảnh thu bằng những gam màu đặc trưng của nó. cường độ… Hàng cây như đã quá quen với nắng lửa mưa giông. Có hương ổi. Tinh tế và sống động sao một buổi sáng chớm thu. Nhưng hương ổi “thơm” như thế nào thì thi sĩ hoàn toàn không miêu tả. sương như người khách ngập ngừng nơi đầu ngõ. “chùng chình” “dềnh dàng” “bắt đầu vội vã” “vắt nửa mình”… “Chùng chình” trước hết gợi tả chính xác những làn sương như ngưng lại và nhẹ nhàng tỏa lan ngõ xóm. Không hề có một từ định tính để miêu tả thế giới thu. Làn sương giăng phủ ngõ thôn chẳng được đặc tả ở mức độ (mù mịt) hay màu sắc (trắng mờ). hơn là gợi một cảm giác. mùi hương vừa đặc trưng cho mùa vừa đặc trưng cho làng thôn ngõ xóm. Song trên hết. Thành công nổi bật nhất của bài cũng là ở một hệ thống những động từ miêu tả rất giàu cảm giác: “phả”.. “se”. Truyền thống thơ thường kiến trúc ngôi nhà thu bằng những chất liệu quen thuộc như cúc. Dòng sông. liễu. Se gợi một động thái. không còn dữ dội nữa. nó không chỉ miêu tả chính xác trạng thái của tạo vật mà còn thổi vào tạo vật những cảm giác rất người. nhưng gió se chứ không phải là gió lạnh. được gọi một . Đám mây như tấm khoăn voan của người thiếu nữ.lá bàng.. những cánh chim vội vã tìm về phương ấm áp… Song thời điểm chớm thu không phải chỉ hiển hiện ở những dấu hiệu mơ hồ trong trạng thái biến chuyển của cảnh vật. ngô đồng hay màu trời. Sang thu. Dòng nước thu vốn trong trẻo và sâu hút làm người ta khó mà thấy rõ được sự chuyển động nó nên cảm giác sông lững lờ trôi cũng rất hiện thực. “Hình như thu đã về”… Tiếp tục thể hiện những dấu hiệu mùa thu rõ rệt hơn nhưng ý nghĩa của khổ cuối không chỉ dừng lại ở đó: Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi Con người cảm thấy biết bao biểu hiện khác biệt của thời tiết khi mùa thu tới: mưa và sấm thưa dần. cái tứ kết buộc hệ thống hình ảnh trong bài cũng chỉ gói gọn trong chút “chớm” mỏng manh đó. hay khi cái rét mùa đông đã lẩn vào trong gió…Sang thu nghĩa là mới chớm thu thôi. sắc nước… Hữu Thỉnh hầu như khơi gợi cảm giác về mùa trong trạng thái mơ hồ của tạo vật. mà ở cả chút ngỡ ngàng bâng khuâng của lòng người: “Bỗng nhận ra hương ổi”. duyên dáng nối hai mùa là một liên tưởng thực sự độc đáo.

Đây xứng đáng là một bài thơ thu hay trong thế giới thi ca! ( Sưu tầm đó) Người ta nói mùa thu là mùa của thi nhận.cách hình ảnh là “hàng cây đứng tuổi”.Nhà thơ Xuân Diệu khi cảm nhận về mùa thu cũng nói tới cánh chim : "Chim nghe trời rộng giang thêm cánh" .Tuơng phản với hình ảnh dòng sông à lũ chim :"chim bắt đầu vội vã".Hương thu thấm đẫm ngọt nào trong vạn vật như đc in dấu lung linh .những âm thanh.gấp gáp hơn. suy nghĩ tự nhiên của tác giả.bâng khuâng. Nét độc đáo nhất của bài là những hình ảnh chính xác và giàu sức gợi tạo nên một bức tranh thu giản dị mà sống động.Giợt sương thu là hình ảnh mang tâm trạng ngập ngừng . mưa.đã về " Ngọn jó se ở đây ta có thể hiểu là ngọn gió heo may se se lạnh ban phát cái hương vị còn sót lại của làng quê. tôi chợt thấy nhớ rất nhiều những năm tháng đã qua của mình.huyền ảo qua mỗi vần thơ ở bài Sang Thu của nhà thơ HỮU THỈNH "Bỗng nhận ra.Có phải nhà thơ đang thầm hỏi lòng :thu về từ bao giờ?theo gió hay theo huơng?Thu đến mà ko báo trước để lòng người xao xuyến bâng khuâng Khi cả đất trời vào thu "Sông đựoc lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu " Nhà thơ đã thổi hồn vào cảnh vật để cho dòng sông đc dịp mà thanh thản. Cảm xúc của nhà thơ :"Bỗng". bởi ngõ xóm thân quen ấy.bịn rịn. Cảnh như sâu lắng hơn bởi liên tưởng suy tư về mùa thu đời người. . Nắng. Chính các từ “bất ngờ”.bâng khuâng đang đợi chờ 1 nguời nào đó.Hình ảnh giọt sương thu gợi ta và gợi cảm :"giọt sương chùng chình" gợi tả 1 ngõ nhỏ yên ắng. “đứng tuổi” khiến ý nghĩa của câu thơ không dừng lại ở nét nghĩa tả thực mà có chiều sâu hơn..Ta cảm nhận lũ chim như hình dung đc cái lạnh của thu đã về và cuộc hành trình về phương Nam của chúng bắt đầu với những tiếng gọi nhau . Và có lẽ cũng nhờ giọng điệu êm nhẹ dễ cuốn người đọc vào dòng cảm xúc.của tình yêu.những tiếng đập cánh vội vã. Miền kí ức tuổi thơ được đánh thức bởi mùi hương ổi.của những bài thơ dịu dàng.."hình như" là 2 tâm trạng của nhà thơ:bất ngờ và bối rối. khi đọc bài thơ này.1 không gian sương khói lãng đãng lúc thu về. Không hiểu sao. hàng cây tượng trưng cho con người từng trải mà bao dâu bể biến đổi không còn đáng ngạc nhiên. sấm chớp… hay là những vang động của cuộc đời? Trong tương quan ấy..mà trầm ngâm suy nghĩ.

Lúc ngoảnh lại mới thấy mái tóc pha sương và mình đã ko còn trẻ..Khi chúng ta chưa hết ngỡ ngàng bởi một Xuân Diệu “tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì ” thì đã .Con người lưu luyến chưa muốn chia tay với mùa hạ. đồng điệu .khổ 2 là những biến đổi của cảnh vật thì khổ 3 là tình thu chan chứa. Các hình ảnh nắg.chững chạc mang vẻ đẹp sâu lắng kín đáo nhưng kiêu hãnh tự hào.Đời người đã sang thu từ khi nào.Chút nắng còn sót lại của mùa hạ vàng .Con nguời đứng tuổi ko còn sôi nổi như 1 thời trẻ dại mà tâm trạng của họ trờ nên chín chắn . Bài thơ là bức tranh mùa thu đẹp để ta yêu mến.Cảnh thu. Thiên nhiên sang thu.tạo dáng.cám giác như vừa là thực . Nếu như ở khổ 1 là cảm nhận về sự kì diệu của mùa thu .Đám mây như 1 dãi lụa mềm tạo thành chiếc cầu nối cho nhịp thời gian .đi vào chừng mực rồi ổn định .Thế nhưng tất cả lắng xuống .gif[/IMG] Khoảnh khắc giao mùa có lẽ là khoảnh khắc đẹp đẽ nhất của tự nhiên .tình thu vào nhau thắm thiết.cây đứng tuổi" Có thể nhận ra biện pháp tu từ nhân hoá làm câu thơ mang chiều sâu triết lí .vừa rõ ràng mà lung linh."Vẫn còn bao nhiêu nắng.Hàng cây đứng tuổi vững vàng trước sấm sét .Chỉ còn kết lại bài thơ hình ảnh hàng cây đứng tuổi gợi bao suy nghĩ sâu xa .vang động bất thường trong cuộc sống.thu êm đềm vừa chợt đến đám mây vừa ngỡ ngàng như bước qua bờ bên kia .gợi hình.chỉ còn lại những giọt nắng và vì vậy sự suy nẫm triết lí của nhà thơ đc thể hiện thật đúng lúc.mưa .tự hào về cảnh sắc quê hương đất trời.Đặc sắc nhất là 2 câu thơ : "Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu" Trong đám mây của mùa thu vẫn còn vương chút nắng hạ nên từ "vắt" đc nhà thơ dùng thật sống động.con nguời cũng sang thu. ^__^[IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image001..nó gieo vào lòng người những rung động nhẹ nhàng khiến ta như giao hoà.Bốn mùa luân chuyển như đời nguời vội vã.hình như ko mong đợi mà thu vẫn về.đằm thắm hơn.Những suy ngẫm trong thơ cho ta ý thức sâu hơn về trách nhiệm của con người cuộc đời.vừa là ảo.thử thách của cuộc đời .Liên tưởng của nhà thơ làm bầu trời xanh kia trờ nên kì diệu ..sấm chớp .phải chăng cũng là sự điềm tĩnh bình thản của con người khi đã đi qua bao mưa nắng .Hàng cây đứng tuổi hay đó chính là những nguời đã từng trải qua nhiều khó khăn gian nan của cuộc đời.họ trờ nên nghiêm trang.Trời đã bớt đi những cơn mưa .còn khi bước sang thu.lo toan.tượng trưng cho những bến đổi.

Sương thu đã được nhân hoá . ngọt. hữu tình và chứa chan thi vị .hai chữ “chùng chình” diễn tả rất thơ bước đi chầm chậm của mùa thu . vị giòn.sâu sắc đến vô cùng qua một thoáng “Sang Thu” .những đàn chim vội vã bay về phương nam …Không gian thu thư thái . Mùi hương quê nhà mộc mạc “phả” trong gió thoảng bay trong không gian .cái bỡ ngỡ ban đầu vụt tan biến đi nhường chỗ cho những rung cảm mãnh liệt trước không gian thu vời vợi : Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Sông nước đầy nên mới “dềnh dàng” nhẹ trôi như cố tình chậm lại . chùng chình giăng mắc trên khắp nẻo đường thôn : Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về . đặc biệt là hình ảnh : Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu . mong manh của tạo vật trong phút giao mùa cũng êm đềm.Câu thơ không chỉ tả mà còn gợi liên tưởng đến màu vàng ươm .Và không chỉ có thế . mùa . bâng khuâng như bước đi nhỏ nhẹ của mùa thu .Tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra mùa thu là “hương ổi”. bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kỳ diệu của thiên nhiên trong buổi giao mùa . Câu thơ có hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ . thi sỹ vẫn ngỡ ngàng thốt lên lời thầm thì như tự hỏi :Hình như thu đã về!? Tâm hồn thi sỹ nắm bắt những biến chuyển nhẹ nhàng.gió thu. nhẹ nhàng “ vắt nửa mình sang thu”. hạ chưa qua hết .cả sương thu như cũng chứa đầy tâm trạng.Câu thơ có tính tạo hình không gian những lại có ý nghĩa diễn tả sự vận động của thời gian : thu bắt đầu sang .Không phải là sắc “mơ phai” hay hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác” mà là hương ổi thân quen nơi vườn mẹ đã đánh thức những giác quan tinh tế nhất của nhà thơ : Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se.những rung động man mác. Không gian nghệ thuật của bức tranh thu được mở rộng hơn . hương thơm lựng . Câu thơ giúp ta hình dung về đám mây mỏng nhẹ . chua chua nơi đầu lưỡi của trái ổi vườn quê .kéo dài như tấm khăn voan duyên dáng của người thiếu nữ thảnh thơi . Nếu ở câu thơ đầu tiên nhà thơ “bỗng nhận ra” thu về khá bất ngờ và đột ngột thì sau khi cảm nhận sương thu .gặp một Hữu Thỉnh tinh tế .Cảm giác bất chợt đến với nhà thơ : “bỗng nhận ra” -một sự bất ngờ mà như đã chờ đợi sẵn từ lâu lắm . Bài thơ là những cảm nhận .thong thả.trắng xốp .

thu vừa chớm . “đã vơi dần”. thăng trầm của cuộc đời ít làm con người ta bất ngờ.Ý thơ còn gợi liên tưởng đến con người khi đã lớn tuổi và từng trải thì những giông gió. mơ hồ như cả đất trời đang rùng mình thay áo mới … Khổ thơ thứ ba diễn tả rất rõ sự biến chuyển của không gian và cũng là một thoáng suy tư của nhà thơ trước cảnh vật. Hình ảnh thơ đẹp . giọng thơ êm đềm và những rung động man mác . « Thu ẩm » . « Thu điếu ».Những suy tư đó của tác giả có lẽ đã góp phần làm cho “Sang thu” trở nên giàu ý nghĩa . đất trời : Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi . rất dịu . rất êm . ngôn từ tinh tế . song chỉ là “vẫn còn” . thì Hữu Thỉnh cũng có một chớm « Thu sang » rất nhẹ nhàng êm dịu. tất cả đều là những bài thơ rất nổi tiếng. ^__^ Phân tích bài thơ Sang Thu Mùa thu là một đề tài muôn thuở của các thi nhân Việt Nam. rất nhẹ . nồng hậu của quê nhà .bâng khuâng của tác giả trong buổi giao mùa đã tạo nên một dấu ấn không dễ phai mờ trong lòng bao độc giả . Sông được nước dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Mùa thu của Hữu Thỉnh được mở ra không phải với sắc vàng tươi của . Có lẽ vì vậy mà sau khi đọc “Sang thu” của Hữu Thỉnh ta càng thấy yêu hơn mùa thu thiết tha. Vẫn là nắng. Nếu như Nguyễn Khuyến có chùm thơ thu với ba bài : « Thu vịnh ». Lưu Trọng Lư có « Tiếng thu ». Xuân Diệu có « Đây mùa thu tới » . chớp của mùa hạ vương lại đâu đây . Trong đó có hai khổ thơ rất hay ghi lại cảm xúc của nhà thơ trước cảnh sang thu ở một miền quê nhỏ : Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về. sấm. bị động . mưa. “ cũng bớt bất ngờ” bởi mùa thu đã đến .

cũng chẳng dầy đặc như sương mùa đông. cũng không phải với vị thơm ngon của cốm làng Vòng. Tất cả đều đang .hoa cúc. nó cũng mang hồn người . Nó không tan nhanh như sương mùa hạ. Dường như cái hương thơm dịu ấy chỉ thoang thoảng quanh quất đâu đây. Sông chờ nước mùa thu chăng? Một hình ảnh thơ thật thi vị và lãng mạn. Sương thu không vô cảm. cứ cố nán lại để đợi chờ ai. Con sông tràn trề nước mà hình như cứ không chịu chảy. sương đang chờ ai mà sao lưu luyến thế? Từ láy “chùng chình” tạo cho ta cảm giác “dùng dằng nửa ở nửa về”. Nhịp thơ nhanh và gấp cũng như hơi thở của mùa thu đã bắt đầu đập mạnh. Sông vào mùa này chẳng có mưa to gió lớn nên nước cứ “dềnh dàng”. Thu đến chẳng hề báo trước! Thu sang từ bao giờ Hữu Thỉnh cũng không biết nữa! Ông chỉ nhận ra một sự bất ngờ mà như đã đợi từ lâu lắm. mà là với hương ổi thơm giòn ngọt phả vào trong gió thu. sẽ chẳng ở đâu có cái gió se lạnh ấy ngoài mùa thu của đất Bắc – cái gió se mà từ lâu vẫn được coi là hồn thu Bắc Bộ. Chim bắt đầu vội vã”. Hữ Thỉnh chẳng còn nghĩ gì ngoài cảm xúc đang dâng trào: “Sông được nước dềnh dàng. đề người ta chợt xốn xang trong lòng. ngoài vườn. Làn gió se se lạnh của mùa thu cũng rất khác với cái gió tê tái của mùa đông. chúng phải vội vã bay về phương Nam tránh rét. thậm chí dường như còn độc đáo đến bất ngờ cho cả nhà thơ : “Bỗng nhận ra hương ổi”.thu đã về thật rồi! Khép lại những hoài nghi. Nhưng đàn chim thì không thể dềnh dàng được nữa. Thu sang mang theo hơi thửo của mình và mang theo cả cái vẻ thu mơ màng mờ ảo: “Sương chùng chình qua ngõ” Sương thu cũng có cái nét đặc biệt riêng của nó. Một hương thơm thu một làn heo may thu đã làm nên cái mở độc đáo cho bài thơ. Hương thơm ấy nhẹ nhàng thoảng qua theo gió. Sương đang đợi ai. cũng không quá nhẹ để người ta dễ lãng quên. nhà thơ như chợt bừng tỉnh. Nó chỉ khiến ta hơi co người lại một chút và để rồi thảnh thơi đón nhận cả một lưồng khí thu mát rượt trong lòng. Nó không mang cái mùi thơm hăng hắc như hoa sữa. Có lẽ. Đến sương lúc này cũng là sương thu mà Hữu Thỉnh vẫn còn ngẩn ngơ mãi: “Hình như thu đã về” Ông thờ ơ quá chăng hay bởi lòng ông đang bối rỗi? Thu về tự bao giờ? Từ hương ổi hay từ làn gió heo may? Thu làm lòng người xao xuyến quá chừng để đến nỗi không biết thu đến thực hay mơ! Sau một thoáng bỡ ngỡ. Sương thu là những làn khói mong manh bay vờn nhẹ trên những nãi nhà.

một mùa thu nhẹ nhàng. nữ tính. vàng cháy. gác lên dàn bếp hong khói chống mối mọt. Còn loại nón khâu như ngày nay xuất hiện phải nhờ đến sự ra đời của chiếc kim. Chắc hản phải yêu mùa thu lắm Hữu Thỉnh mới vẽ ra được một bức tranh thu nồng đượm hơi ấm đất trời. được đem là bằng cách dùng một miếng sắt đốt nóng. Nhưng có lẽ sẽ chẳng ai biết mà lại quên được một chớm “Thu sang” của Hữu Thỉnh . Chiếc nón đã được chạm khắc trên những cổ vật như trống đồng Ngọc Lũ. Con số 16 là kết . dùng làm vòng nón. Theo sự phát triển của lịch sử qua các thời đại. Lửa phải vừa độ. nguội quá lá chỉ phẳng lúc đầu. Nguyên liệu làm nón không phức tạp.chuyển mình. tức là vào thời kỳ người ta chế luyện được sắt (khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên). phải “Vắt nửa mình sang thu”. sau lại nhăn như cũ. Tre chọn ống dài vuốt nhọn. đã và sẽ có nhiều bài thơ thu hay. ông viết mùa thu nhưng lại là vào lúc giao mùa. Phải chăng đám mây kia có hai nửa thì một nửa nằm bên mùa hạ. đặt lá lên dùng nắm giẻ vuốt cho phẳng. gần gũi của người phụ nữ Việt Nam . nếu nóng quá thì bị giòn. đang thay đổi. Ở nơi nào cũng vậy. dùng một loại sợi rất dai lấy từ bẹ cây móc (ngày nay người ta thường dùng sợi chỉ nilon) để khâu và tre làm vành. Người ta đốt diêm sinh hơ cho lá trắng ra. nón được tết đan. Cũng viết về mùa thu. nó không còn vương vấn chút gì của mùa hè rực lửa. muốn làm được một chiếc nón phải dùng lá của một loại cọ nhỏ mọc hoang để lợp. Không biết ở đây là mùa thu lưu luyến mùa thạ hay nhà thơ đang mong chờ mùa hạ mà vẫn lưu luyến mùa thu đây? Điêu này thì Hữu Thỉnh thật khác với các nhà thơ khác. trông qua như một cô thôn nữ mộc mạc mà sao lại đằm thắm khó quên đến thế! (sưu tầm) Thuyết minh về chiếc nón lá của người Việt Chiếc nón lá là người bạn thủy chung. Nón Chuông (làng nón nổi tiếng Việt Nam ở làng Chuông.Hà Nội) có 16 lớp vòng. nửa kia thuộc về mùa thu. huyện Thanh Oai . Tàu lá nón khi đem về vẫn còn xanh nhăn nheo. Thậm chí ngay cả đám mây mùa hạ cũng thấy sốt ruột. nồng đượm hơi ấm quê nhà như thế. Trong làng thơ dân tộc. nón cũng có nhiều biến đổi về kiểu dáng và chất liệu. đồng thời tránh cho lá khỏi mốc. Lúc đầu khi chưa có dụng cụ để khâu thắt. Còn Hữu Thỉnh. trên thạp đồng Đào Thịnh vào 2500-3000 năm về trước. Nguyễn Khuyến viết: “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” – có nghĩa là thu của Nguyễn Khuyến đã thực là thu.

váy lĩnh. hay những hình ảnh bụi tre. cho đến nay đã trở thành một nguyên tắc không thay đổi. Dưới vành nón. Cùng với áo dài. chơi hội. Công phu nhất là vừa vẽ chìm dưới lớp lá nón những hoa văn vui mắt. kín đáo. tất cả đều để che chắn cho những con người sống trên một dải đất nắng lắm mưa nhiều. Các cô gái Việt Nam chăm chút chiếc nón như một vật trang sức. Nón có nhiều loại.Tác giả Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932 quê ở huyện Chợ Mới. Người ta gắn lên đỉnh của lòng nón một mảnh gương tròn nho nhỏ để các cô gái làm duyên kín đáo. Con người Việt Nam có tình cảm sâu sắc và gắn bó với chiếc nón lá giản dị dù gặp nó ở bất cứ đâu trên trái đất này.. tác phẩm 1. Trong nghệ thuật. đồng lúa. nón ba tầm như nón thúng nhưng mảnh mai hơn. đôi mắt. ông tham gia bộ đội. mềm mại và kín đáo của người phụ nữ Việt Nam .. chiếc nón còn hướng tới mục đích làm đẹp cho con người và phù hợp với cảm quan thẩm mỹ của người Việt: đẹp một cách tế nhị. cái gáy trắng ngần của cô gái dường như được tôn thêm nét duyên dáng.quả của sự nghiên cứu.. khiến khi nhìn vào chiếc nón chỉ thấy tăm tắp những mũi khâu mịn màng. nón chóp nhọn đầu. Những sợi móc dùng để khâu thường có độ dài. . ngắn khác nhau. phải soi lên nắng mới thấy được gọi là nón bài thơ. chiếc nón được coi là một thứ phục trang truyền thống của phụ nữ Việt Nam . (Sưu tầm) CHIẾC LƯỢC NGÀ ( Trích ) I. che mưa. Muốn khâu cho liên tục thì gần hết sợi nọ phải nối tiếp sợi kia. thắt lưng bao. kín đáo mà không kém phần quyến rũ.. đôi khi là vật để trao đổi tâm tư tình cảm của riêng mình. yếm đào.. những câu thơ trữ tình. Trong thời kì kháng chiến chống Pháp. nụ cười. nón thúng rộng vành. má lúm đồng tiền. Ngoài chức năng che nắng. Và cái tài của người thợ làng Chuông là các múi nối sợi móc được dấu kín.Tác giả. tiết mục múa nón của các cô gái với chiếc áo dài duyên dáng thể hiện tính dịu dàng. áo cánh. những sợi tóc mai.. Nhưng vẻ đẹp của chiếc nón chủ yếu nhờ vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ tạo nên. tỉnh An Giang. lựa chọn qua nhiều năm. Những mũi kim khâu được ước lượng mà đều như đo. đi chợ. Người ta đội nón làm đồng.

hoạt động ở chiến trrường Nam Bộ. 2. Nhưng ông đã hi sinh khi chưa thể gửi món quà ấy cho con gái. tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc anh Sáu phải ra đi. Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng có nhiều thể loại: truyện ngắn. thì tình huống thứ hai lại biểu lộ tình cảm sâu sắc của người cha đối với con. Ở khu căn cứ. Trong một trận càn. Trước lúc nhắm mắt. đến lúc em nhận ra và biểu lộ tình cảm thắm thiết thì anh Sáu lại phải ra đi. mộc mạc. nhưng sâu sắc đậm đà chất Nam Bộ.Tình huống truyện Truyện đã thể hiện tình cha con sâu sắc của hai cha con anh Sáu trong hai tình huống: .Tóm tắt truyện Anh Sáu xa nhà đi kháng chiến.Ở khu căn cứ. làm biên tập cho tuần báo Văn nghệ của Hội nhà văn. Từ năm 1958 ông công tác tại Hội nhà văn Việt Nam. Lối viết của Nguyễn Quang Sáng giản dị.Truyện ngắn Chiếc lược ngà 1. kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hoà bình. Trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Em đối xử với ba như người xa lạ. . anh hi sinh. Đây là tình huống cơ bản của truyện . Bé Thu không nhận ra cha vì cái sẹo trên mặt làm ba em không giống với người trong bức ảnh chụp với má mà em được biết. anh còn kịp trao cây lược cho người bạn với lời nhắn gửi không nói lên lời. công tác tại phòng văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam và bắt đầu viết văn.Nếu tình huống thứ nhất bộc lộ tình cảm mãnh liệt của bé Thu với cha.Cuộc gặp gỡ của hai cha con anh Sáu sau tám năm xa cách. nhưng thật trớ trêu là bé Thu không nhận ra cha. ông tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác. . người cha dồn hết tình cảm yêu quí.Tác phẩm Truyện ngắn Chiếc lược ngà được viết năm 1966. II. nhớ thương đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để tặng cô con gái bé bỏng. tiểu thuyết. Từ sau năm 1954 ông tập kết ra Bắc. Mãi khi con gái lên tám tuổi anh mới có dịp về thăm nhà. anh Sáu dồn hết tình cảm yêu thương và mong nhớ đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà để tặng con gái bé bỏng. Đến lúc thu nhận ra cha. 2. khi tác giả đang hoạt động ở chiến trường Nam Bộ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ và được đưa vào tập truyện cùng tên.

mặt tái đi. hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa”. Trong cái cứng đầu của em có ẩn chứa cả sự kiêu hãnh trẻ thơ về một tình yêu dành cho người cha khác-người trong tấm hình chụp chung với má em.Phân tích diễn biến tâm lí và tình cảm của bé Thu trong lần đầu gặp cha cuối cùng. chân thật. cuối cùng khi bị ông Sáu tức giận đánh một cái thì bỏ về nhà bà ngoại. nay nay bùng ra thật mạnh mẽ và hối .Thái độ và hành động của Thu khi nhận ra người cha . trước phút ông Sáu phải lên đường. . Lần đầu tiên Thu cất tiếng gọi ba và tiếng kêu của nó như xé. rồi “ nó vừa kêu vừa chạy xô tới.Thái độ và hành động của Thu trước khi nhận ra ông Sáu là cha .Trong đêm bỏ về nhà bà ngoại. xa cách. nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó”. khi xuống xuồng còn cố ý khua dây cột xuồng rổn rảng thật to. “ Nó hôn ba nó cùng khắp. Phản ứng tâm lí của em là hoàn toàn tự nhiên. Tâm lí và thái độ ấy của bé Thu được biểu hiện qua hàng loạt chi tiết mà người kể chuyện quan sát và thuật lại rất sinh động: hốt hoảng. và đôi vai nhỏ bé của nó run run” . chỉ gọi trống không với ông Sáu mà không chịu gọi cha. nó còn quá bé nhỏ để có thể hiểu được những tình thế khắc nghiệt. khi ông Sáu được về phép a. Nó hôn tóc. và ông Sáu càng muốn gần con thì đứacon lại càng tỏ ra lạnh nhạt. b. Thu đã được bà giải thích về vết thẹo làm thay đổi khuôn mặt ba nó.Sự ương ngạnh của bé Thu hoàn toàn không đáng trách. Sự nghi ngờ bấy lâu được giải tỏa và ở Thu nảy sinh một trạng thái như là sự ân hận nuối tiếc: “ Nghe bà kể nó nằm im. éo le của đời sống và người lớn cũng không ai kịp chuẩn bị cho nó những khả năng bất thường. Nhưng thật trớ trêu. rồi vụt chạy và kêu thét lên khi mới gặp ông Sáu. tình cảm của em sâu sắc. hất cái trứng cá mà ông đã gắp cho ra khỏi bát.3. em chỉ yêu ba khi tin chắc đó đúng là ba. nhất định không chịu nhờ ông chắt nước nồi cơm to đang sôi. Trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh. đáp lại sự vồ vập của người cha. nó còn chứng tỏ em có cá tính mạnh mẽ. nhanh như một con sóc.Trong buổi sáng cuối cùng. thái độ và hành động của bé Thu đã đột ngột thay đổi hoàn toàn.Gặp lại con sau nhiều năm xa cách với bao nỗi nhớ thương nên ông Sáu không kìm được nỗi vui mừng trong phút đầu nhìn thấy đứa con. “ hai tay nó siết chặt lấy cổ. chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó. khác với hình ba mà nó được biết. nên nó không tin ông Sáu là ba nó chỉ vì trên mặt ông có thêm vết sẹo. Vì thế trong giờ phút chia tay với cha. tình yêu và nỗi mong nhớ với người cha xa cách đã bị dồn nén bấy lâu. bé Thu lại tỏ ra ngờ vực lảng tránh. hôn cổ. lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”.

ông đã vô cùng vui mừng. khi ông Sáu ở trong rừng tại khu căn cứ. tẩn mẩn khắc từng nét: “ Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. nhưng Thu vẫn là một đứa trẻ với tất cả nét hồn nhiên. 5. mất mát. công sức vào việc làm một cây lược: “ Những lúc rỗi. c. cuống quýt có xen lẫn cả sự hối hận. ta thấy tác giả tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ và diễn tả rất sinh động với tấm lòng yêu mến và trân trọng những tình cảm trẻ thơ. Rồi lời dặn của con: “ Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba” đã thúc đẩy ông nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà dành cho con.Khi kiếm được một khúc ngà.Đó là tình cảm thật sâu sắc. Chiếc lược ngà đã thành một vật quí giá.Nỗi day dứt ám ảnh ông suốt nhiều ngày sau khi ông chia tay với gia đình là việc ông đã đánh con khi nóng giận. .Một số nét tính cách của Thu biểu hiện qua tâm lí và hành động . éo le mà chiến tranh đã gây ra cho bao nhiêu con người. sâu nặng của cha con ông Sáu. Nó làm dịu đi nỗi ân hận và chứa đựng bao nhiêu tình cảm yêu mến.hả.Nghệ thuật trần thuật của truyện . . ngây thơ của con trẻ. anh cưa từng chiếc răng lược. mà còn gợi cho người đọc nghĩ đến và thấm thía những đau thương. rồi ông dành hết tâm trí.Phân tích tình cảm cha con sâu nặng ở anh Sáu . thiêng liêng với ông Sáu. . Ở Thu còn có nét cá tính là cứng cỏi tưởng như ương ngạnh. mạnh mẽ. Chứng kiến những biểu hiện tình cảm ấy trong cảnh ngộ cha con ông Sáu phải chia tay. nhưng được biểu hiện tập trung và sâu sắc ở phần sau của truyện. có người không cầm được nước mắt và người kể chuyện thì cảm thấy như có bàn tay ai nắm lấy trái tim mình. Nhưng rồi một tình cảnh đau thương lại đến với ông Sáu: Ông đã hi sinh khi chưa kịp trao vào tay đứa con gái chiếc lược ngà. nhưng cũng thật dứt khoát rạch ròi. tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. sung sướng. . 4.Qua những diễn biến tâm lí của bé Thu được miêu tả trong truyện. nhớ thương mog đợi của người cha đối với đứa con xa cách. “ Trên sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng. bao nhiêu gia đình. thận trọng.Tình cảm của ông Sáu với con đã được thể hiện phần nào trong chuyến về phép thăm nhà.Câu chuyện về chiếc lược ngà không chỉ nói lên tình cha con thắm thiết.

trong một lần ông cùng đoàn cán bộ theo đường dây giao liên. các chi tiết và sự việc và nhân vật khác trong truyện bộc lộ rõ hơn. Người kể chuyện trong vai một người bạn thân thiết của ông Sáu. đầy xúc động với người cha trước lúc chia tay. Đó không chỉ là tình cảm muôn thủa. Cảm nghĩ về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà’’ Cảm nghĩ về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà’’ .. xoay quanh những tình huống khá bất ngờ nhưng tự nhiên. Nguyễn Quang Sáng hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong chiến tranh và sau hòa bình. Ngôn ngữ trong truyện của ông gần với khẩu ngữ và đậm màu sắc Nam Bộ.Truyện Chiếc lược ngà được Nguyễn Quang Sáng viết năm 1966. ý nghĩa tư tưởng của truyện thêm sức thuyết phục. có những yếu tố bất ngờ nhưng hợp lí: bé Thu không nhận cha khi ông Sáu về thăm nhà. hợp lí. dẫn truyện của tác giả thường thoải mái. Tình cha con được miêu tả cảm động ở cả hai phía: người cha cán bộ cách mạng và đứa con gái nhỏ. chia sẻ với các nhân vật. không chỉ là người chứng kiến khách quan và kể lại mà còn bày tỏ sự đồng cảm. Đồng thời qua những ý nghĩ cảm xúc của nhân vật kể chuyện. bấy giờ đã thành một cô giao liên dũng cảm. rất am hiểu và gắn bó với mảnh đất ấy. có tính nhân bản bền vững. Vì thế. mà còn được được thể hiện trong hoàn cảnh ngặt nghèo và éo le của chiến tranh và trong cuộc sống nhiều gian khổ. tự nhiên với giọng thân mật dân dã.Tác giả đã xây dựng được một cốt truyện khá chặt chẽ.Truyện Chiếc lược ngà khá tiêu biểu cho cho những đặc điểm trong nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng. tại chiến trường Nam Bộ trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt. vượt qua một quãng nguy hiểm ở Đồng Tháp Mười.Lựa chọn nhân vật kể chuyện thích hợp. Truyện của ông thường có cốt truyện hấp dẫn. đó là cuộc gặp gỡ tình cờ của nhân vật người kể chuyện với bé Thu. Điều đáng chú ý là truyện ngắn này viết trong hoàn cảnh chiến tranh cá liệt nhưng lại tập trung nói về tình người-cụ thể ở đây là tình cha con trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh và tình đồng chí của những người cán bộ cách mạng. *Những điểm cần lưu ý 1. hi sinh của người cán bộ cách mạng. Là một nhà văn Nam Bộ. tình cảm ấy càng đáng trân trọng và đồng thời nó cũng cho thấy những nỗi đau mà chiến tranh gây ra cho cuộc sống bình thường của mọi người. . 2. Nghệ thuật kể chuyện. rồi lại biểu lộ những tình cảm thật nồng nhiệt. Sự bất ngờ càng gây được hứng thú cho người đọc khi ở phần sau của truyện tác giả còn tạo thêm một bất ngờ nữa.

không ương bướng mà buồn rầu nghĩ ngợi sâu xa. sợ hãi và bỏ chạy…. Thân bài: Phân tích diễn biến tâm lý của nhân vật bé Thu .Giới thiệu được tác giả. sự nuối tiếc. . nôn nóng của cha…Thu ngạc nhiên lạ lùng. cha đi công tác khi Thu chưa đầy một tuổi. . có cá tính bướng bỉnh nhưng yêu thương ba sâu sắc.những hành động chứa đựng sự lảng tránh đó lại hoàn toàn phù hợp với tâm lí trẻ thơ bởi trong suy nghĩ của Thu anh Sáu là người đàn ông lạ lại có vết thẹo trên mặt giần giật dễ sợ. Mở bài: . tác phẩm và nhân vật bé Thu với tài năng miêu tả tâm lý nhân vật. và thái độ hất tung cái trứng cá trong bữa cơm…Từ cự tuyệt nó đã phản ứng mạnh mẽ….sự kiêu hãnh của trẻ thơ về một tình yêu nguyên vẹn trong sáng mà Thu dành cho ba.nó căm ghét cao độ người đàn ông măt thẹo kia. . và khi bị đánh nó đã bỏ đi một cách bất cần….1. muốn nhận ba nhưng e ngại vì đã làm ba giận. ánh mắt cử chỉ hành động của bé Thu như thể hiện sự ân hận. lớn lên em chưa một lần gặp ba được ba chăm sóc yêu thương. trước những hành động vội vã thái độ xúc động. bởi em còn quá nhỏ chưa hiểu được những tình thế khắc nghiệt éo le của đời sống. + Trong hai ngày sau đó Thu hoàn toàn lạnh lùng trước những cử chỉ đầy yêu thương của cha. nó tức giận. đó là phản ứng tâm lí hoàn toàn tự nhiên của một đứa trẻ có cá tính mạnh mẽ… Hành động tưởng như vô lễ đáng trách của Thu lại hoàn toàn không đáng trách mà còn đáng thương. 2. . đất nước có chiến tranh. xử lí nồi cơm sôi.Diễn biến tâm lý của bé Thu trước khi nhận anh Sáu là cha: + Yêu thương ba nhưng khi gặp anh Sáu. .Diễn biến tâm lý của Thu khi nhận ba: + Sự thay đổi thái độ đến khó hiểu của Thu. nó cự tuyệt tiếng ba một cách quyết liệt trong những cảnh huống mời ba vào ăn cơm.Khái quát được cảnh ngộ của gia đình bé Thu.Cảm nhận chung về nhân vật bé Thu.nhân vật chính của đoạn trích “Chiếc lược ngà’’ một cô bé hồn nhiên ngây thơ. tình yêu Thu dành cho ba chỉ gửi trong tấm ảnh ba chụp chung cùng má. Đằng sau những hành động ấy ẩn chứa cả tình yêu thương ba.

..Hãy phân tích để làm rõ vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa cao quý của những công việc thầm lặng. Nhưng chiến tranh dù có tàn khốc bao nhiêu thì tình cảm cha con anh Sáu càng trở lên thiêng liêng sâu lặng. tác giả Nguyễn Thành Long đã gửi gắm chủ đề của câu chuyện vào một lời nhận xét ngắn gọn “trong cái lặng im. trân trọng tình cảm gia đình trong cuộc sống hôm nay. (Sưu tầm) Nhân vật anh thanh niên trong "Lặng lẽ Sa Pa" Trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”.Những năm tháng sống gắn bó với mảnh đất Nam Bộ. trái tim nhạy cảm. thiêng liêng đã tác động sâu sắc đến bác Ba. nhảy thót lên. mọi người … + Sự lý giải nguyên nhân việc hiểu lầm của bé Thu đựợc tác giả thể hiện thật khéo léo đó là do vết thẹo trên mặt người ba khi hiểu ra sự thực Thu “nằm im lăn lộn thở dài như người lớn”. trong lời ước nguyện mua cây lược. đồng thời bộc lộ ấn tượng sâu đậm nhất về nhân vật cũng như toàn bộ tác phẩm. Kết bài: Khẳng định thành công. Vết thẹo không chỉ gây ra nỗi đau về thể xác mà còn hằn nên nỗi đau về tinh thần gây ra sự xa cách hiểu lầm giữa cha con bé Thu.+ Tình yêu thương ba được bộc lộ hối hả ào ạt mãnh liệt khi anh Sáu nói “Thôi ba đi nghe con”.Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh. mạnh mẽ cứng cỏi yêu ghét rạch ròi. tiếng khóc nức nở…Đó là cuộc hội ngộ chia tay đầy xúc động. 3. Tình yêu ấy kết đọng trong âm vang tiếng Ba trong những hành động vội vã: Chạy nhanh như con sóc.Khẳng định lại vấn đề: Ngòi bút miêu tả tâm lý khắc hoạ tính cách nhân vật tinh tế thể hiện được ở bé Thu một cô bé hồn nhiên ngây thơ. Trong sự đối lập của hành động thái độ trước và sau khi nhân ba lại là sự nhất quán về tính cách về tình yêu thương ba sâu sắc. . am hiểu tâm lý của trẻ thơ đã giúp tác giả xây dựng thành công nhân vật bé Thu. Dàn ý chi tiết . hôn ba nó cùng khắp. đất nước”.. . nhân hậu.

nghiên cứu khoa học. phục vụ sản xuất. người đọc thấy vẻ đẹp của Sa Pa hiện lên thật độc đáo. đầy chất thơ. sao lại gọi là một mình được” và anh hiểu rằng công việc của anh còn gắn với công việc của bao anh em đồng chí dưới kia. Đó là anh thanh niên: . “Công việc của cháu gian khổ thật đấy chứ cất nó đi. Đó là những con người miệt mài làm việc.I. anh yêu nó tới mức trong khi mọi người còn ái ngại cho cuộc sống ở độ cao 2600m của anh thì anh lại ước ao được làm việc ở độ cao trên 3000m. Công việc của anh là: đo gió. Thân bài: . tính mây. anh thấy mình “thật hạnh phúc”. đo nắng.. quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa. Mở bài: .. đất nước”. vì cuộc sống của con người. + Anh có những suy nghĩ thật đúng và sâu sắc về công việc đối với cuộc sống con người: “khi ta làm việc.Đọc truyện.Trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”. trong lặng lẽ mà rất khẩn trương vì lợi ích của đất nước. những vất vả của công việc. 1.Trong văn học Việt Nam có những cây bút văn xuôi chỉ chuyên về truyện ngắn và ký – Nguyễn Thành Long là một trong số đó. Khi biết một lần do phát hiện kịp thời một đám mây khô mà anh đã góp phần vào chiến thắng của không quân ta bắn rơi được máy bay Mỹ trên cầu Hàm Rồng.. nhưng truyện còn giới thiệu với chúng ta về vẻ đẹp của con người Sa Pa. + Quan niệm của anh về hạnh phúc thật là đơn giản nhưng cũng thật đẹp. . “Lặng lẽ Sa Pa” là kết quả của chuyến “thâm nhập thực tế” ở Lào Cai của tác giả trong mùa hè năm ấy. Ông được khẳng định như một cây bút truyện ngắn và ký đáng chú ý trong những năm 60 – 70 với cả gần chục sách đã in. đo mưa. anh có những suy nghĩ rất đẹp: + Đối với công việc. Vì anh cho như vậy mới gọi là lý tưởng.Nhân vật chính trong truyện làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu. ta với công việc là một. Điều ấy sẽ được thấy rõ qua nhân vật: anh thanh niên. phục vụ chiến đấu. Sống một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2600m.Vượt lên hoàn cảnh sống. II. .. cháu buồn đến chết mất”. . ông. dựa vào công việc báo trước thời tiết hàng ngày. đo chấn động mặt đất. tác giả Nguyễn Thành Long đã gửi gắm chủ đề của câu chuyện “trong cái lặng im.

lặng lẽ cho đất nước qua lời kể của anh thanh niên: . 11 giờ. vắng vẻ quanh năm suốt tháng một mình trên đỉnh núi cao. dù mưa tuyết giá lạnh thế nào anh cũng trở dậy ra ngoài trời làm việc. rất qúy trọng tình cảm của mọi người. đó là đọc sách. Mới đầu. mời bác lái xe và ông hoạ sĩ uống trà. Bởi anh còn biết tạo niềm vui trong công việc. anh đã vượt qua những gian khổ của hoàn cảnh. anh nhiệt tình giới thiệu với ông những người khác mà anh cho rằng đáng cảm phục hơn anh. làm việc một mình với cỏ cây thiên nhiên Sa Pa. . . Nhờ có sách mà anh tiếp tục học hành.Ở người thanh niên ấy còn có một phong cách sống rất đẹp: + Đó là sự cởi mở. 7 giờ tối và 1 giờ sáng. một đàn gà đẻ trứng.Anh còn có một nếp sống đẹp: Anh tự sắp xếp cuộc sống một mình ở trạm một cách ngăn nắp: có một vườn rau xanh tốt.+ Cuộc sống của anh không cô đơn buồn tủi như người khác nghĩ. Nửa đêm. khao khát được gặp gỡ. tự giác với tinh thần trách nhiệm cao. . không người giám sát. một vườn hoa rực rỡ. Khi ông hoạ sĩ muốn vẽ chân dung anh. anh “thèm người” tới mức phải lấy cây chắn ngang đường ô tô để được nghe tiếng người ! Về sau anh nghĩ: “Nếu đó chỉ là nỗi nhớ phồn hoa đô thị thì thật xoàng” và anh đã vượt qua để sống. để trở thành: “con người cô độc nhất thế gian” mà bất cứ ai đã một lần gặp anh đều mang theo ấn tượng đẹp đẽ. ở anh còn có những hành động thật đẹp đẽ biết bao: + Mặc dù chỉ có một mình. Vì sách chính là người bạn để anh “trò chuyện”. Dẫu phải sống một mình nhưng anh vẫn luôn quan tâm tới người khác: anh gửi biếu gói tam thất cho vợ bác lái xe vừa bị ốm. không một bóng người. 2) Ta còn bắt gặp ở đất Sa Pa những con người làm việc âm thầm. Ngày nào cũng vậy. thành thực cảm thấy công việc và những đóng góp của mình chỉ là nhỏ bé. + Nhưng cái gian khổ nhất là vượt qua được sự cô đơn. được trò chuyện. + Anh còn là người khiêm tốn. chính xác đủ 4 lần trong một ngày vào lúc 4 giờ. đúng giờ “ốp”. tặng hoa cho cô gái. tặng cho người đi xa một giỏ trứng gà tươi. làm việc một cách nghiêm túc.Từ những suy nghĩ đẹp về công việc. hạnh phúc và cuộc sống. mở mang kiến thức. anh làm việc một cách đều đặn. chân thành với khách. Nhờ có sách mà anh chống trọi được với sự vắng lặng quanh năm.

có sức thuyết phục lan toả với những người xung quanh. + Công việc là niềm vui. Anh thanh niên có những suy nghĩ và quan niệm đúng đắn về công việc và cuộc sống. Anh thanh niên có những hành động cao đẹp. niềm đam mê cháy bỏng.. Đúng như tác giả đã viết: “Trong cái lặng im. .. 3) Nhân vật anh thanh niên. cho đất nước”. ngọt hơn trước. chăm chú rình xem cách lấy mật của ong để rồi tự tay thụ phấn cho hàng vạn cây su hào để hạt giống làm ra tốt hơn. anh cán bộ nghiên cứu sét giúp ta hiểu thêm ý nghĩa của những công việc thầm lặng: . Kết bài: Qua phần phân tích trên ta thấy “Lặng lẽ Sa Pa” đang ngân vang trong lòng ta những rung động nhẹ nhàng mà thú vị về những con người âm thầm lặng lẽ nhưng thật đáng yêu. hạnh phúc cho mọi người.A) Đó là ông kỹ sư vườn rau: Ngày này qua ngày khác ngồi trong vườn. Hướng dẫn: Phân tích những phẩm chất cao đẹp. III. + Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi mang lại niềm vui. đáng quý ở anh thanh niên.Cuộc sống lao động giản dị nhưng cao đẹp làm nên vẻ đẹp đích thực của mỗi con người. để xu hào trên toàn miền Bắc ta ăn được to hơn. . tình yêu đất nước. Họ đã dệt lên bài ca về tình yêu tổ quốc. ông kỹ sư vườn rau. suốt ngày chờ sét” để lập bản đồ tìm ra tài nguyên trong lòng đất.Sống cống hiến cho dân tộc. Những con người ấy làm cho anh thanh niên thấy “cuộc đời đẹp quá” đâu còn buồn tẻ “cô độc nhất thế gian”. B) Đó là anh cán bộ nghiên cứu sét: Đã “11 năm không một ngày xa cơ quan” luôn “trong tư thế sẵn sàng. đáng quý ở anh thanh niên. Sưu tầm Phân tích những phẩm chất cao đẹp. sống có ý nghĩa sẽ mang đến cho con người niềm vui và hạnh phúc. cho nhân dân.

vô tư. ông đã có sáng tác đăng báo từ trước cách mạng tháng 8. + Dồn tất cả thời gian công sức. Trân trọng. khoa học. đáng mến trong “Lặng lẽ Sa Pa”. quê ở Hà Bắc. khâm phục những nhân vật đáng quý. chân thành với mọi người. phát biểu cảm nghĩ. sống có lý tưởng. Ông Hai yêu cái làng chợ Dầu của ông thật đậm đà. Nhân vật anh thanh niên giúp ta hiểu thêm về thế hệ cha anh đi trước trong một giai đoạn lịch sử của dân tộc. tha thiết . gắn bó với nông dân và nông thôn. tự nguyện tự giác hoàn thành xuất sắc công việc vốn hết sức vất vả và đơn điệu. hành động của thanh niên chúng ta trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới. lặng thầm.+ Vượt qua mọi khó khăn thử thách để làm quen với cuộc sống chỉ có một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2. Anh thanh niên có phong cách sống rất đáng quý. sầm uất. yêu đến nỗi đi đâu ông cũng khoe về cái làng của ông. + Tổ chức cuộc sống ngăn nắp. Truyện ngắn “Làng” là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân được viết trong thời kì đầu của cuộc khánh chiến chống Pháp (1948). đường trong làng lát toàn bằng đá xanh. phong phú cả về vật chất và tinh thần. cởi mở. Là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Tình cảm và ý nghĩa này đã trở thành phổ biến ở mỗi người nông dân VN ta trong những ngày đầu chống Pháp. + Khiêm tốn. Đây là một tác phẩm độc đáo viết về lòng yêu nước của ông Hai Tu. Nhân vật anh thanh niên tiêu biểu cho những con người lao động mới. Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt nông thôn và cảnh ngộ của người nông dân. Kể về làng chợ Dầu. ông nói một cách say sưa mà không cần biết người nghe có chú ý hay không.600 m. ta nghĩ tới trách nhiệm. đáng trân trọng. lòng yêu nước này xuất phát từ tình yêu quê hương. cống hiến hết mình cho đất nước. (Nguồn: Internet) Phân tích truyện ngắn Làng (Kim Lân) Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài sinh năm 1921. Đánh giá nhân vật. trời mưa đi từ đầu làng đến cuối xóm bùn . Ông khoe làng ông có nhà ngói san sát. yêu làng sâu sắc của ông. Là nhà văn am hiểu sâu sắc.

Quả thật. ông khổ tâm day dứt khôn nguôi. tình yêu đất nước được ông Hai đặt lên trên hết. nên lúc tản cư. những buổi tập quân sự có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập. Hai tình cảm này đã dẫn đến cuộc xung đột nội tâm trong lòng ông. Những ngày ở làng Thắng. nhất là tâm lí của người dân thì Kim Lân mới diễn tả đúng tâm trang nhân vật như vậy. những hào. Phải thực sự am hiểu sâu sắc về con người. sung .” Có thể nói với ông Hai. Tháng 5 ngày 10 phơi rơm và thóc tốt thượng hạng. yêu làng xóm. xấu hổ tan biến. Và từ đó. Nhưng trong đó. vinh dự vì làng mình có cái nét độc đáo. Vì vậy. nhỏ : cây đa. cuộc đời và số phận của ông Hai thật sự gắn bó với buồn vui của làng. Có thể tình yêu nước của họ bắt nguồn từ cái đơn giản. mỗi khi khoe về làng là ông khoe về những ngày khởi nghĩa dồn dập. Tới đây. ông không dám đi đâu hết. nó đã giúp ông hiểu dc sự sai lầm của mình. Ông cảm thấy đâu đớn và nhục nhã vì cái làng chợ Dầu yêu quý của mình theo giặc. Thế rồi.. một tin khác lại đính chính rằng làng ông không theo giặc. làng và nước bay giờ đã trở thành đối địch. Ông còn tự hào về cái sinh phần của tổng đốc làng ông. những ụ.. da mặt tê rân rân” ông lão lặng đi. Nhưng khi cách mạng thành công. Xa làng ông mang theo tất cả nỗi niền thương nhớ. Trò chuyện với con như là để thanh minh cho làng mình. trong những ngày này. Cũng chình từ lúc ấy.không dính đến gót chân. có bề dày lịch sử. lắm công trình không để đâu hết. sân đình… và nâng cao lên đó chính là : tình yêu đất nước. ông thấy tuyệt đường sinh sống và ông nảy ra ý định: “hay là quay về làng ?” nhưng rồi ý nghĩ đó lập tức bị ông lão phản đối ngay vì : “ làng thì yêu thật. Những nỗi lo âu. Tự hào và yêu nơi “ chôn rau cắt rốn” của mình trở thành một truyền thống và tâm lý chung của mọi người nông dân thời bấy giờ. Ông hỏi con: “con ủng hộ ai?” Thằng bá giơ tay mạnh bạo và rành rọt: “ Ùng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm”. ông buộc phải xa làng. không có lấy một hạt thóc đất. yêu miền quê trở nên lòng yêu TQ “. nhưng làng theo Tây thì phải thù. Ông còn khoe cả những hố . suốt ngày ru rú trong nhà và nghe ngóng tin tức. ông Hai suốt ngày ra trụ sở để nghe ngóng tin tức về làng chợ Dầu và ông nghe tin cả làng ông Việt gian theo tây. tưởng như không thể thở được. là chợt nhớ đến câu nói bất hủ của nhà văn I-li-a Ê-ren-bua : “lòng yêu nhà. Cái lòng của bố con ông là thế đấy “chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”. Đến khi mụ chủ nhà đến báo không cho gia đình ông ở nữa. Chính cái tình huống ngặt nghèo khi giặc tràn vào làng. Ông tự hào. nỗi niềm và tâm sự của ông được thể hiện trong những lời trò chuyện của ông với đứa con út. Thay vào đó là nỗi vui mừng. Cổ ông lão “ nghẹn ắng lại. Ông nguyền rủa bọn theo Tây : “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này”.. giếng nướ.

Ông gắn bó với thôn quê. mọi người một lòng theo Bác. tủi nhục. Dàn ý: A. Lời nói của ông hai đúng là lời nói của những người nông dân thời bấy giờ. hả hê: “ bác Thứ đâu rồi ! Bác Thứ làm gì đấy ? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Diễn biến tâm lý của ông Hai từ đầu đến cuối truyện thật cảm đông. Đọc tác phẩm giúp ta hình dung được một thời kỳ chống Pháp sôi nổi của nhân dân. Truyện “Làng” là một tác phẩm khá thành công khi viết về lòng yêu nước. Niềm vui vì làng không theo giặc đã choáng hết tâm trí ông.sướng. Ông đi từ đầu làng đến cuối xóm khoe cái tin làng mình không theo giặc. có lẽ vì vẫy mà cuộc chiến của ta đã dành được thắng lợi vẻ vang. Khi biết làng bị tình nghi theo giặc thì ông đau khổ. tiêu biểu cho tầng lớp nông dân VN sau cách mạng tháng 8. theo Đảng khánh chiến đến cùng. Mọi đau khổ. khoe cả cái việc nhà ông bị đốt cháy một cách sung sướng. ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân . ông sung sướng. từ lâu đã am hiểu người nông dân. Yêu làng đến nỗi đi đâu cũng khoe về làng. thậm chí còn khoe cả tin nhà mình bị đố cháy một cách vui sướng. Đốt nhẵn ! ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính. cái tin làng chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Kim Lân thật thành công trong nghệ thuật xây xựng truyện. Họ đã đặt tình yêu đất nước lên trên tình yêu làng. điều làm ta cảm động đó là ông không hề tiếc hay buồn khi ngôi nhà của ông bị đốt . Xây dựng được những chi tiết ấy. Kim Lân đã thể hiện được tài năng của mình qua tác phẩm này. yêu làng của người nông dân VN thời kháng chiến chống Pháp. hả hê. ông ấy cho biết… cái tin.Mở bài Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Quả thật. chất phác. và khi biết làng mình không theo giặc. đơn giản. một trong những người dân bấy giờ. Bên cạnh đó Kim Lân còn thành công trong việc miêu tả tâm lý nhân vật. Kim Lân rất thành công trong việc khắc họa hình ảnh của ông Hai. nhất là nghệ thật sử dụng ngôn ngữ nhân vật mà ông Hai là điển hình. miêu tả sự phát triển tâm lý nhân vật như vậy. kể cả những từ dung sai: “bác Thứ đâu rồi… Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả”. buồn tủi đã được rũ sạch. Kim Lân đã chứng tỏ được tài nghệ của mình. Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả” Qua lời khoe củ ông Hai. Đi kháng chiến.

. Nghe họ chì . chưa tin. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc. . b. . một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. thích bìh luận. không tin không được. chỗ này giết một tí. làm gì mà thằng Tây không bước sớm”.Khi mới nghe tin xấu đó. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng.Thân bài 1.Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần. người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm. Phải xa làng.Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948. nhân vật ông Hai. tình yêu nước. tinh thần kháng chiến. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới. . . đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. ông nhớ quá cái khong khí “đào đường. cả súng cũng vậy. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc. đắp ụ. B. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người. ông sững sờ. Nhưng khi người ta kể rành rọt. c. rồi ông lo “cái chòi gác. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. đi theo kháng chiến. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc. trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương. tích tiểu thành đại. tình cảm quê hương đất nước. khuân đá…”. Tình yêu làng. xẻ hào.Được cách mạng giải phóng.Ông hay khoe làng. thông qua một con người cụ thể. ngày mai dăm khẩu. chỗ kia giết một tí. a. hôm nay dăm khẩu. ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm. Sau cách mạng. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước. náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế.…” đã xong chưa? . 2.… những đường hầm bí mật. ông xấu hổ lảng ra về.Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến.

d. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Ông luôn hoảng hốt giật mình. lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân. Ông giận những người ở lại làng. . hắt hủi”. Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc. Tình cảm đó sâu nặng. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà. càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng. ông không dám ra ngoài.Tình cảm đối với kháng chiến. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ.Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông . nhìn thấy các con.Ba bốn ngày sau. Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”. vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. . Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. .Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá. ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt. đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. . ta thấy rõ: Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc). gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”. bố của nó. với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông. + Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. + Qua đó.Về đến nhà.chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi. chân thành. bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. . Nhưng tình yêu nước. nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. Khi cái tin kia được cải chính.

Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông. . yêu nước rất mộc mạc.Miêu tả rất cụ thể. Ông Sáu về thăm nhà sau bao năm ở chiến khu với cái tình của người cha nôn nao. cháy bỏng khát khao được gặp con. . ngôn ngữ đối thoại và độc thoại. người đọc thấm thía tình yêu làng. Đứa trẻ hoàn toàn ngơ ngác. hành vi. gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ. 3. sâu nặng của ông Sáu và bé Thu. điều mà ông bấy lâu mong đợi được nghe con gái gọi tiếng “Ba !” không được đền đáp. .Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật. Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động. Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân. C. (sưu tầm)Cảm nhận về tình cha con trong truyện "Chiếc lược ngà" Cảm nhận về tình cha con trong truyện "Chiếc lược ngà" Truyện “Chiếc lược ngà” (Nguyễn Quang Sáng) được viết trong cuộc kháng chiến chống Mĩ nhưng chủ yếu tập trung nói về tình người trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. đối xử với ông như người xa lạ.Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng. . lạnh lùng. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý. Với lòng mong nhớ con.Kết bài: . cao quý trong những người nông dân lao động bình thường.Qua nhân vật ông Hai. chân thành mà vô cùng sâu nặng. Đoạn trích “Chiếc lược ngà” (Sgk Văn 9.dân lao động bình thường. tập I) thể hiện tình cha con thắm thiết. Nhưng ngay từ giây phút đầu. ông càng đón chờ .

tình cảm của con, nó càng cố tình cự nự. Điều đó, khiến ông đau đớn “hai tay buông xuống như bị gãy”. Có những tình huống, tưởng chừng thế nào nó cũng chịu thua, không ương ngạnh được nữa, phải gọi tiếng “Ba”. Nhưng nó vẫn không chịu cất tiếng “Ba” mà ông Sáu chờ đợi. Hành động trẻ con, nói năng cộc lốc, ngang ngạnh của Thu dành cho Ba khiến ông Sáu, bạn ông Sáu và cả người đọc đau lòng và suy nghĩ. Khi có gia đình, hạnh phúc được làm cha, tiếng gọi “Ba” của đứa con gái yêu chưa dành cho ông khiến ông “khổ tâm đến nỗi không khác được, chỉ biết nhìn con vừa khẽ lắc đầu vừa cười”. Phản ứng tâm lí của Thu là hoàn toàn tự nhiên. Thu còn quá bé để có thể hiểu tình thế éo le xảy ra trong chiến tranh. Bản thân người lớn cũng chưa ai chuẩn bị cho Thu ứng phó với bất thường. Điều đó, người đọc cảm được tình cảm chân thật, sâu sắc, mãnh liệt Thu dành cho ba người mà Thu biết trên ảnh, người cha được cô bé ghi sâu trong lòng từ tấm ảnh, không phải người đàn ông xưng là "ba". Đến khi được bà ngoại tháo gỡ thắc mắc trong lòng, về lai lịch vết thẹo, Thu vỡ lẽ đó thực là ba mình. Trăn trở dằn vặt, cùng tình yêu, khát khao bấy lâu mong gặp mặt cha dồn nén, bùng nổ dữ dội, quyết liệt vào giờ phút trước khi người cha lên đường. Tiếng “Ba... a... a... ba !” vỡ ra từ sâu thẳm lòng cô bé. Tiếng kêu mà ba nó chờ đợi bao năm ròng. Tiếng kêu làm nhói tim mọi người. Ông Sáu sung sướng, hạnh phúc nghẹn lời, không cầm được nước mắt. Thu vồ vập, cuống quít, níu giữ cha, níu giữ yêu thương bấy lâu nó mong đợi. “Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”, “hai tay nó xiết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run”. Đối với người cha, đó là tiếng “ba” đầu tiên và cũng là tiếng yêu thương cuối cùng ông được nghe từ con ! Ở chiến khu, ông cố gắng hết sức, thận trọng, tỉ mỉ làm cho con chiếc lược ngà. Ông đặt vào đấy tất cả tình cảm cha con. Chiếc lược trở thành vật thiêng, an ủi ông “gỡ rối phần nào tâm trạng”, nuôi dưỡng tình cha con. Ông thường xuyên “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt”. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ thành một nghệ nhân nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một tác phẩm duy nhất trong đời. Trước khi nhắm mắt xuôi tay, ông Sáu vẫn nhớ chiếc lược, nhờ bạn chuyển lại cho con - cử chỉ chuyển giao đó là một ước nguyện giữ gìn muôn đời tình cảm cha con, ruột thịt. Truyện “Chiếc lược ngà” đã diễn tả một cách cảm động tình cha con thắm thiết, sâu nặng của cha con ông Sáu trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh. Hình ảnh cây lược được gắn vào đó một trái tim thổn thức

tình ruột thịt, khẳng định giá trị nhân bản sâu sắc, cao đẹp thiêng liêng ! (Sưu tầm) Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và "Truyện Kiều" Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và "Truyện Kiều" I.Nguyễn Du 1.Nguyễn Du ( 1765 – 1820 ), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh trưởng trong một gia đình đại quí tộc có truyền thống văn học và nhiều đời làm quan. 2.Nguyễn Du sinh trưởng trong một thời đại có nhiều biến động dữ dội: Xã hội phong kiến Việt Nam bước vào thời kì khủng hoảng sâu sắc, phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra liên tục mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn. Phong trào nông dân Tây Sơn thất bại, chế độ phong kiến triều Nguyễn được thiết lập. 3.Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Du đã sống nhiều năm phiêu bạt trên đất Bắc( 1786 – 1796 ) rồi về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh ( 1796 – 182). Sau khi Nguyễn ánh lên ngôi, Nguyễn Du ra làm quan bất đắc dĩ với triều Nguyễn. Năm 1813 – 1814, ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc, năm 1820 khi chuẩn bị làm chánh sứ sang Trung Quốc lần thứ hai, nhưng chưa kịp đi thì ông bị bệnh và mất tại Huế. 4.Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hoá dân tộc và văn chương Trung Quốc. Cuộc đời từng trải, đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho ông một vốn sống phong phú và niềm cảm thông sâu sắc với những đau khổ của nhân dân. Nguyễn Du là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. 5.Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớn bằng chữ Hán và chữ Nôm. Về chữ Hán Nguyễn Du có ba tập thơ ( Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục ) với tổng số 243 bài. Về chữ Nôm xuất sắc nhất là Đoạn trường tân thanh, thường gọi là Truyện Kiều, ngoài ra còn có Văn chiêu hồn. II.Truyện Kiều 1.Nguồn gốc Truyện Kiều: Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du có dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ( Trung

Quốc ). Nhưng phần sáng tạo của Nguyễn Du là hết sức lớn, mang ý nghĩa quyết định đến sự thành công của tác phẩm. 2.Tóm tắt Truyện Kiều Truyện Kiều bao gồm 3254 câu thơ lục bát và được chia làm 3 phần; -Gặp gỡ và đính ước -Gia biến và lưu lạc -Đoàn tụ 2.Giá trị nội dung và nghệ thuật a.Nội dung: Truyện Kiều có hai giá trị lớn là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo, là tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người, tiếng nói lên án, tố cáo những thế lực xấu xa, tiếng nói khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và những khát vọng chân chính của con người như khát vọng về quyền sống, khát vọng tự do, công lí, khát vọng tình yêu, hạnh phúc… b.Nghệ thuật: Tác phẩm là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngôn ngữ và thể loại. Với Truyện Kiều, ngôn ngữ văn học dân tộc và thể thơ lục bát đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ. Nghệ thuật tự sự đã có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn truyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lí con người. (Sưu tầm) Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. A- Mở bài: - Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. Ông gắn bó với thôn quê, từ lâu đã am hiểu người nông dân. Đi kháng chiến, ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân - Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948, trên số đầu tiên của tạp

… những đường hầm bí mật.…” đã xong chưa? . đi theo kháng chiến. hôm nay dăm khẩu. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới.Thân bài 1.chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. c. B.Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến. ngày mai dăm khẩu. Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. thông qua một con người cụ thể. b. tình yêu nước. chưa tin. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm. . ông nhớ quá cái khong khí “đào đường. . Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc. . tinh thần kháng chiến. không tin không được. Sau cách mạng. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng. ông xấu hổ lảng ra về. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc.Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần. a. khuân đá…”. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc. rồi ông lo “cái chòi gác. Phải xa làng. Tình yêu làng. chỗ này giết một tí. xẻ hào. . ông sững sờ. in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có.Ông hay khoe làng. tình cảm quê hương đất nước. một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. nhân vật ông Hai. tích tiểu thành đại. 2.Được cách mạng giải phóng. làm gì mà thằng Tây không bước sớm”. Nhưng khi người ta kể rành rọt. người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.Khi mới nghe tin xấu đó. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước. thích bìh luận. ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm. ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương. đắp ụ. náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế. cả súng cũng vậy. chỗ kia giết một tí. .

. Khi cái tin kia được cải chính. vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. Ông luôn hoảng hốt giật mình. Tình cảm đó sâu nặng. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ. bố của nó. đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. ông không dám ra ngoài. ta thấy rõ: • Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc).Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường. nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. hắt hủi”. Ông giận những người ở lại làng. + Qua đó. + Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. . ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà.Ba bốn ngày sau. . Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”. lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân. • Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt. với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông. chân thành. lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai.Tình cảm đối với kháng chiến. . . Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”. Nhưng tình yêu nước. .Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá.Về đến nhà. gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ. nhìn thấy các con. d.

C. hành vi. (ST) [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image002. Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động. yêu nước rất mộc mạc. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý. 3. Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân. Đây mùa thu tới.Kết bài: .gif[/IMG] Bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh "Sang Thu" mang cảm xúc bâng khuâng. mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng (Đây mùa thu tới) Thì với Hữu Thỉnh.Miêu tả rất cụ thể.Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông. ngôn ngữ đối thoại và độc thoại. cao quý trong những người nông dân lao động bình thường. "Sang thu" bắt đầu bằng những cảm nhận của nhà thơ trước tín hiệu giao mùa. người đọc thấm thía tình yêu làng.Qua nhân vật ông Hai..Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng. vấn vương trước đất trời trong trẻo đang biến chuyển nhẹ nhàng. . Nếu như thu trong thơ Xuân Diệu bắt đầu với "sắc mơ phai" dệt giữa muôn ngàn cây. chân thành mà vô cùng sâu nặng.Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật. . gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ. đó là: Bông~ nhận ra hương ôi? Phả vào trong gió se . .

ngõ xóm như chào đón thu về. Cái hương vị ấy của vườn mẹ cứ ngào ngạt phả vào không gian. nồng nàn giữa cái nhẹ nhàng. Sự đôi' lập giữa 2 hình ảnh tạo nên 1 nét thu chân thực. hòa vào ko gian thu. chầm chậm. Sự vật sang thu đậm tình cảm cảm xúc. Những cảm nhận của nhà thơ về thu bắt đầu rõ nét hơn. thấm đến tâm hồn người đọc mà gieo vào lòng đọc giả và nhà thơ những cảm xúc riêng. sự vật ấy với những nét cựa quậy chuyển mình sang thu. cuốn vào khứu giác thi nhân. gắn bó tha thiết với quê hương và yêu quê hương nông` nàn thì Vũ Bằng và Hữu Thỉnh mới có những vần thơ rung động lòng người đến vậy! Khổ thơ t2 tiếp tục trong cái mạch cảm xúc mênh mang ấy của nhà thơ Sông đc lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vôi. Nhưng khác hẳn với sự từ tôn' đáng yêu ấy là những cánh chim thu bắt đầu vôi. Bởi Hữu Thỉnh ko chấm lên đó 1 mảng màu vàng nhưng trong cái vị nông` nàn thơm đượm của hương ôi?. mới lạ và độc đáo. là từ tôn'. và cả tác phẩm häi họa "Mùa thu vàng" nôi? tiếng của Lêvitan cũng lấp lánh 1 sắc vàng rực rỡ.Bất ngờ. ta vẫn cảm nhận được cái vàng ươm thi vị ấy. vã bay về phương nam tránh rét. giăng mắc nơi đầu thôn. nhè nhẹ. Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Nhà thơ thấy đám mây ấy. Dòng nước thu êm ả trôi. Ko còn là dòng nc xoáy hay dòng sông mùa hạ vùn vụt lao đầu về phía trước. mùa xuân ơi-mùa xuân của Hà Nôi thân yêu. của Bắc Việt thương mến. dịu dàng như chính chất thu mới đang lan tỏa trong ko gian. Sương chậm rãi. Trong "th ương nhớ 12" Vũ Băng viết: "Đẹp quá đi.1 cảm nhận sâu lắng nhẹ nhàng đọng trong lòng thi nhân. ngỡ ngàng biết bao khi nhà thơ phát hiện ra hương vị thơm đượm. mà đó là dềnh dàng. rề rà như đợi chờ hè qua. vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu.." Phải là 1 con người yêu cuôc sông'. sinh đông. Những cảm nhận tinh tế của nhà thơ cứ thế cuồn cuộn chảy trên trang giấy. đủng đỉnh. Nếu như "Thu điếu" của Nguyễn Khuyến đương thú vị ở các "điệu xanh" thì bỗng buông môt điệu vàng của chiếc lá thu rơi. mát mẻ và đậm chất thu. chào đón thu. thì "Sang thu" mới hơn. Tưởng chừng ko gian chính là 1 bức mành mỏng manh. Là làn sương mỏng manh như tơ liễu buông mành. dềnh dàng.. . se se lạnh của cơn gió heo may đương thưở non tơ. để thi nhân bất chợt cất lên tiếng reo khe khẽ: Hình như thu đã về 1 cảm giác mơ hô`. tinh tế hơn. tràn ra. "Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư long lanh với sắc thu vàng trầm buồn trong thơ mới. Nhẹ thế mà thu-đang-về. lạ hơn. hoài nghi thấp thoáng trong cảm nhận của nhà thơ nhưng lại gợi được sự mong đợi. Sương chùng chình qua ngõ Sưong "chùng chình" qua ngõ.

Cảm nhận sắc nét ấy còn là những hình ảnh thực. bình tĩnh. tôi mới thấy đề tài này thật là khó” Tại sao lại có nghịch lí trong kinh nghiệm của người sáng tác như vậy? Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. 1 sự ngăn cách vô hình. Tưởng như với đề tài thơ mộng muôn thuở này có thể dễ dàng chắp bút. sấm ấy có lẽ chính là những mưa. 1 nửa rực nắng mùa hạ. nhạy cảm khi mùa thu tới. những nắng. những giông bão. Sưu tầm Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. nửa kia dịu mát sắc thu. Đây mùa thu tới (Xuân Diệu)… Nhưng nó vẫn có cái hay. Nhưng tất cả đã giảm về sô' lượng. nhất là những ngòi bút thơ: hễ động bút là mùa thu cứ chực đổ ùa ra trên mặt giấy. vẫn còn dấu ấn của hạ nắng. . cái độc đáo riêng của một hồn thơ sâu lắng. những sấm. Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuôi? Vẫn còn mưa đấy.. Những rung cảm tinh tế đến từng chi tiết nhỏ nhất. chia đám mây làm đôi. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Nói về đề tài mùa thu. Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuôi Phải chăng với những con người từng trải với mưa nắng cuộc đời thì họ đón nhận những thử thách ấy 1 cách vững vàng. Nắng ấy. một tác giả đã nhận định: “Đề tài "Mùa Thu" bao giờ cũng có vẻ là dễ viết. vất vả lo toan của của cuộc đời mà nhà thơ đã cảm nhận đc. nhưng lại gợi suy nghĩ về con người. sấm vẫn còn ầm ì trên các ngọn cây.trong suôt'. Chùm thơ thu (Nguyễn Khuyến). Mùa thu dường như luôn luôn nấp sẵn trong ngòi bút của chúng ta. nắng đấy. những cảm nhận dần đi vào lí trí. Hai dòng thơ vẫn tả cái bước đi êm nhẹ của thiên nhiên. 2 dòng kết chính là thể hiện bàn tay tài hoa của tác giả. Chỉ đến khi bắt đầu cầm bút ngồi trước mặt giấy. vừa bâng khuâng gợi vẻ triết lí. mưa ấy... Đó là 1 khúc sang thu vừa thơ mông. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương… Sang thu của Hữu Thỉnh xuất hiện khi trước nó đã có rất nhiều bài thơ nổi tiếng đông tây kim cổ: Thu hứng (Đỗ Phủ).

Song trên hết. Không hề có một từ định tính để miêu tả thế giới thu. “chùng chình” “dềnh dàng” “bắt đầu vội vã” “vắt nửa mình”… “Chùng chình” trước hết gợi tả chính xác những làn sương như ngưng lại và nhẹ nhàng tỏa lan ngõ xóm. Làn sương giăng phủ ngõ thôn chẳng được đặc tả ở mức độ (mù mịt) hay màu sắc (trắng mờ). hơn là gợi một cảm giác.. hệ thống động từ toàn bài còn đặc sắc ở chỗ.Ngay từ tiêu đề. mà ở cả chút ngỡ ngàng bâng khuâng của lòng người: “Bỗng nhận ra hương ổi”. Truyền thống thơ thường kiến trúc ngôi nhà thu bằng những chất liệu quen thuộc như cúc. Đó không phải là chính thu. Dòng sông. hay đám mây cũng không tô điểm cho phong cảnh thu bằng những gam màu đặc trưng của nó. khi bầu trời xanh ngắt lơ lửng những tầng cao. hay khi cái rét mùa đông đã lẩn vào trong gió…Sang thu nghĩa là mới chớm thu thôi. không phải cuối thu. Tinh tế và sống động sao một buổi sáng chớm thu. tác giả đã tự xác định một thời điểm miêu tả: thời điểm giao mùa. những cánh chim vội vã tìm về phương ấm áp… Song thời điểm chớm thu không phải chỉ hiển hiện ở những dấu hiệu mơ hồ trong trạng thái biến chuyển của cảnh vật. Có hương ổi. nó không chỉ miêu tả chính xác trạng thái của tạo vật mà còn thổi vào tạo vật những cảm giác rất người. “se”. ngô đồng hay màu trời. khi nắng trời đã nhuộm đỏ lá bàng. duyên dáng nối hai mùa là một liên tưởng thực sự độc đáo. sương như người khách ngập ngừng nơi đầu ngõ. sắc nước… Hữu Thỉnh hầu như khơi gợi cảm giác về mùa trong trạng thái mơ hồ của tạo vật. “Hình như thu đã về”… Tiếp tục thể hiện những dấu hiệu mùa thu rõ rệt hơn nhưng ý nghĩa của khổ cuối không chỉ dừng lại ở đó: Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ . Nhưng hương ổi “thơm” như thế nào thì thi sĩ hoàn toàn không miêu tả. Đặc biệt ở góc độ miêu tả tạo vật. cái tứ kết buộc hệ thống hình ảnh trong bài cũng chỉ gói gọn trong chút “chớm” mỏng manh đó. Se gợi một động thái.. mùi hương vừa đặc trưng cho mùa vừa đặc trưng cho làng thôn ngõ xóm. Thành công nổi bật nhất của bài cũng là ở một hệ thống những động từ miêu tả rất giàu cảm giác: “phả”. Dòng nước thu vốn trong trẻo và sâu hút làm người ta khó mà thấy rõ được sự chuyển động nó nên cảm giác sông lững lờ trôi cũng rất hiện thực. liễu. gió se lại bởi chút lạnh xa xăm. Có gió. cánh chim. Đám mây như tấm khoăn voan của người thiếu nữ. nhưng gió se chứ không phải là gió lạnh.

Miền kí ức tuổi thơ được đánh thức bởi mùi hương ổi. Đây xứng đáng là một bài thơ thu hay trong thế giới thi ca. tôi sẽ không nấn ná làm cái việc rút tỉa những thi ảnh và thi tứ tiêu biểu về thời điểm nhạy cảm ấy của thơ ca các thời. Không hiểu sao. “đứng tuổi” khiến ý nghĩa của câu thơ không dừng lại ở nét nghĩa tả thực mà có chiều sâu hơn. Các kênh cảm giác và cả tâm cảm nữa của mỗi hồn thơ dường như đều được huy động tối đa để nắm bắt những làn sóng. tôi chợt thấy nhớ rất nhiều những năm tháng đã qua của mình. khi đọc bài thơ này. Gọn nhẹ hơn. bởi ngõ xóm thân quen ấy. Và có lẽ cũng nhờ giọng điệu êm nhẹ dễ cuốn người đọc vào dòng cảm xúc. Chỉ cần điểm sơ qua những tín hiệu từng được hồn thơ từ cổ chí kim nắm bắt trong những thi ảnh không thôi. những tín hiệu mơ hồ nhất từ những giao chuyển âm thầm trong vạn vật. Mà cùng Hữu Thỉnh. tất cả các dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn nhưng đã giảm dần mức độ. bước ngay…Sang thu . chỉ điểm qua những thi tứ nổi bật dành cho nhịp chuyển mùa thôi.Hữu Thỉnh Chu Văn Sơn [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image003. Chính các từ “bất ngờ”. cường độ… Hàng cây như đã quá quen với nắng lửa mưa giông. Nắng. Con người cùng Tạo vật thảy đều nhạy cảm. sấm chớp… hay là những vang động của cuộc đời? Trong tương quan ấy. chắc cũng không xuể. nghĩa là không tái hiện lại một truyền thống. Sưu tầm Sang Thu . hàng cây tượng trưng cho con người từng trải mà bao dâu bể biến đổi không còn đáng ngạc nhiên. mưa. một tiền đề nữa. Sang thu. cái thời điểm mà sự nhạy cảm của hồn tạo vật luôn thách thức với sự nhạy cảm của hồn người vẫn là thời khắc giao mùa . bao đời nay luôn có sự đua ganh giữa hồn thơ với hồn tạo vật. được gọi một cách hình ảnh là “hàng cây đứng tuổi”.jpg[/IMG] Mùa thu quả nhiên là mùa nhạy cảm bậc nhất trong năm. cũng khó đủ giấy mực rồi. Cảnh như sâu lắng hơn bởi liên tưởng suy tư về mùa thu đời người. Nét độc đáo nhất của bài là những hình ảnh chính xác và giàu sức gợi tạo nên một bức tranh thu giản dị mà sống động./. Cho nên. Tuy nhiên.Trên hàng cây đứng tuổi Con người cảm thấy biết bao biểu hiện khác biệt của thời tiết khi mùa thu tới: mưa và sấm thưa dần.chớm thu. Chả thế mà. suy nghĩ tự nhiên của tác giả. không còn dữ dội nữa.

chả chịu rành mạch gì cả.Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi Thu. 1. Về bố cục. từ góc nhìn vườn ngõ : Bỗng nhận ra hương ổi /Phả vào trong gió se /Sương chùng chình qua ngõ /Hình như thu đã về. thử đi vào cấu trúc của thi phẩm. nắng vẫn còn. mưa đã vơi. chim vội vã. Từ cấu trúc … Trước tiên. với tầm nhìn rộng xa vào bầu trời mặt đất : Sông được lúc dềnh dàng / Chim bắt đầu vội . Về cảnh vật. khổ một nghiêng về những tín hiệu mách bảo sự hiện diện đây đó của mùa thu. sương chùng chình. đây đổi thay tinh tế. Hình thái tổ chức của Sang thu đâu dễ nhận diện. Hay việc chia thành ba khổ thế chỉ hoàn toàn do cảm tính lúc viết của thi sĩ. 1977 Tôi mừng cho Hữu Thỉnh và bài thơ. ngay cả “Sách giáo viên” hướng dẫn người dạy khai thác và soạn giảng chừng như cũng “ bí” trong việc phân định . đến cả những miền chưa từng có mùa thu nữa. sẽ được những tâm hồn ấy mang tới bao nẻo thu. nó vừa giành được một chỗ xứng đáng trong chương trình Văn và Tiếng Việt của nhà trường. Nhưng về ý tứ ? Xem chừng ý khổ này cứ “dính” vào khổ kia. ai chẳng thấy chính tác giả đã tự chia bài thơ thành ba khổ khúc chiết. sấm bớt bất ngờ. Ý đâu có khác gì nhau. Thì quanh đi quẩn lại vẫn là thế : hương ổi. gió se. Kể từ nay. Đến nỗi. thì hình sắc thu sang. vô tổ chức ? Không hẳn. còn ý thơ thì vốn thiếu rành mạch. hương ổi của thi phẩm sẽ phả vào tâm hồn của nhiều thế hệ học trò. sông dềnh dàng. Khổ hai lại nghiêng về những cảnh sắc trời mây sông nước đang chuyển mình sang thu. hàng cây đứng tuổi… chẳng dáng nét thu về. đấy thay đổi tinh vi. Đọc kĩ hơn thì thấy rằng: cùng viết về thiên nhiên lúc giao mùa. nhưng mỗi khổ thơ vẫn nghiêng về một ý.

Mạch cảm và mạch nghĩ bao giờ cũng song hành và chuyển hoá sang nhau trong cùng một dòng tâm tư . ba khổ thơ đã được liên kết thành một chỉnh thể nhuần nhị nhờ vào một trật tự khá tự nhiên : từ gần đến xa. Trong khi đó. khổ hai : tri giác. dù đậm hay nhạt. Khổ đầu : bất giác. là tâm tư của thi sĩ. cảnh trong tình. tiếng thơ khá tinh tế của một thi sĩ đương thời : Mướp tàn sen cũng đi tu / Lá tre đã thả một mùa heo may / Con sông không ốm mà gầy / Mắt em chưa tối đã đầy hoàng hôn. 2. Chúng đan bện với nhau khiến cấu trúc nghệ thuật càng tinh vi phức tạp. dù kín hay lộ. từ hẹp đến rộng.vã/Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu. khổ ba lại nghiêng về những biến đổi bên trong các hiện tượng thiên nhiên và tạo vật : Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa/Sấm cũng bớt bất ngờ/Trên hàng cây đứng tuổi.jpg[/IMG] Thế đấy. vẫn là một kiến trúc ngôn từ với một cấu trúc thật tinh vi. và kết lại ở khổ ba với vẻ trầm ngâm(… Sấm cũng bớt bất ngờ / trên hàng cây đứng tuổi). Không chỉ có thế. đâu phải là thiếu rành mạch. từ ngoài vào trong. Vì thế. từ khổ một đến khổ ba. … đến điệu tâm hồn Cảm nhận tạo vật lúc sang thu. qua phân tích trên đây cũng đủ thấy rằng : một tiếng thơ dù bình dị hồn nhiên thế nào đi nữa. cấu trúc của thi phẩm này. Sau một thoáng ngỡ ngàng ở khổ một (… Hình như thu đã về). Ví như bài Thu cảm. đồng hành với mạch cảnh sắc trên đây. khổ ba : suy ngẫm. có vẻ “dính”. thi phẩm là sự đồng hành và hoá thân vào nhau của ba mạch nội dung vừa rõ nét vừa sống động. bề ngoài. là đến niềm say sưa ở khổ hai (…Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu). bao giờ cũng là tình. Rõ ràng. Cụ thể là mạch cảm nghĩ trước mùa thu. từ thấp đến cao. nhưng bề sâu. thần thái của cảnh thu thường hiện lên qua vẻ tiêu sơ. Cho nên. là các cấp độ của mạch nghĩ. Tương ứng với những cung bậc của mạch cảm. với các lớp cảnh càng ngày càng đi vào chiều sâu… Một trật tự hợp lí tự nhiên bao giờ cũng là điều sinh tử để một sản phẩm nghệ thuật hiện ra như một sinh thể ! Nhưng. đa phần các thi sĩ nghiêng về vẻ biến suy một chiều của cảnh. Trái lại là đằng khác ấy chứ ! Rõ ràng. . cả người khờ khạo nhất cũng phải thấy rằng : thơ thiên nhiên không đơn thuần chỉ có cảnh. Sự đan xen các mạch này là một khía cạnh phức tạp không thể thiếu của cấu trúc. Như vậy. Cùng với cảnh. Tình trong cảnh. Có thể nôm na hoá qua sơ đồ sau : [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/TLC/LOCALS %7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image005.

Lớp từ mang sắc thái đong đếm ở đây mách với ta điều đó. Chẳng phải thế sao ? Chẳng phải bao mạch sống đang cần mẫn chuyển lưu trong lòng tạo vật làm nên cõi sống trường cửu này vốn vẫn tương sinh tương khắc như vậy sao ? Và chẳng phải những vận động trái chiều mà cùng hướng vẫn thường đem đến cho sự sống thế quân bình ngay trong lòng mỗi nhịp biến thiên hay sao ? Cho nên. chậm. đã hiện ra không chỉ có biến thiên. mà lòng đã nặng hơn. nhanh. Tạm đặt tên là nhịp mạnh và nhịp nhẹ. mưa vơi dần… Lúc bất giác nhận ra hương ổi “phả” vào trong gió se. song cả hai đều thuộc về thần thái của mùa thu. ít…) : sương chùng chình. chiêm nghiệm. mưa “vơi dần” rõ là giảm . Toàn cảnh thu trong bước chuyển mùa. sẽ thấy rằng đến đây. tôi ngờ rằng cảm quan quân bình về đời sống đã ngấm ngầm xui thi sĩ tìm đến cái kết điềm tĩnh trước ba động. sấm “bớt bất ngờ” càng giảm. một trong những nét đặc sắc của bài Sang thu là có hai hệ thống tín hiệu báo mùa có vẻ phản trái nhau. câu thơ bỗng có “cú pháp dính”. nhờ lối cảm ấy. Nhờ lối viết nén. Nhưng. Tôi cho rằng. tiêu .Cảm nhận của Hữu Thỉnh khác. khi câu ba nối vào câu kết. Cả ba nghiêng về chiều giảm. vơi (-đầy).chim vội vã . Ba câu trên : nắng “vẫn còn”.trưởng kia lại đan dệt trong nhau khá nhuần nhuyễn tạo nên cái bản giao hưởng gợi cảm của đất trời thu. Trong thiên nhiên đã vậy.vẫn còn bao nhiêu nắng… Nhịp nhẹ thì nghiêng về âm tính (êm. đã ra chiều trầm ngâm với suy ngẫm rồi. một chiều tăng kín đáo : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. không thể không thêm vài lời về cách lập tứ dẫn tới kết. nhiều…) : hương ổi phả . thì cũng là lúc bắt gặp sương “chùng chình” qua ngõ. Trong cuộc đời cũng thế. bớt (thêm) bảo rằng thi sĩ đang suy xét. sắc thái dương tính (mạnh. lời thơ súc tích hẳn nhờ các làn nghĩa giao nhập ràng néo . Và. tâm thế thi sĩ không còn ngỡ ngàng bất giác như khổ một. không đơn tuyến.suy. Đừng nghĩ thi sĩ cố ý đặt bày hai mạch tương phản nhằm chơi trò lạ hoá. Ấy là sự từng trải tăng lên. Nhịp mạnh bao gồm những động thái. mấy chữ “bớt bất ngờ” như một nút buộc. thật thú vị mà cũng thật hiển nhiên là hai nhịp mạnh nhẹ với hệ thống hưng . Để ý một chút. thì chiều giảm đột ngột thành chiều tăng. Luôn thấy được thế quân bình ngay giữa những biến thiên thì ít bất ngờ chao đảo. là cây đã trưởng thành. mà đây đó còn cả thế quân bình. Chính lúc sông “dềnh dàng” là lúc chim “vội vã”. tức là đã giảm . Nó rõ nhất ở khổ ba : Vẫn còn bao nhiêu nắng /Đã vơi dần cơn mưa /Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. Nó chính là hiện tượng trái chiều mà cùng hướng ta vẫn thường thấy trong mỗi cuộc đổi thay. đúc kết. say sưa tri giác như khổ hai. Chiêm nghiệm điều gì ? Về một lẽ đời trong hai chiều biến đổi trái nhau. giấu cương sau nhu này : Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi ? Nói đến câu kết kia. Hệ thống các từ còn (-hết). Có thể xem đó là nét phức điệu trong cảm nhận ngoại giới của hồn thơ Hữu Thỉnh. sông dềnh dàng. Khi nắng “còn” cũng là khi mưa “vơi”.

Ở Sang Thu. Mà ấn tượng nhất hẳn phải là cảnh tượng Có đám mây mùa hạ/Vắt nửa mình sang thu.nhau : sấm bớt gây bất ngờ (sấm đã e cây). có một chất rất dễ nhận : dân gian. khiến đám mây yêu kiều và đỏng đảnh kia có thể vắt nửa mình qua đó mà khoe sắc phô duyên vậy ! Mà đâu chỉ trong quan sát. Đám mây thực thế mà ảo thế ! Cái cách “vắt nửa mình” kia sao mà thi vị ! Có thật chăng một đám mây vốn của mùa hè đang mải mê lấn sân sang mùa thu ? Có mà không có. hay cây bớt bị bất ngờ (cây thôi e sấm)? Có lẽ là cả hai. Hữu Thỉnh còn tỏ ra tinh hơn nữa trong sự đồng điệu với nhịp chuyển mùa. Những hiện tượng riêng lẻ thì gồm cả hai hệ thống tín hiệu trái chiều. luôn cặp kè. thi ảnh nào cũng tài hoa. là lối viết đâu có gì lạ về thi pháp. ra là phép đối ! Thế là nhuyễn. Một cú đảo phách ngoạn mục. thì mới vỡ lẽ: ồ. Điều này khỏi bàn thêm. Bởi đảo mà cứ như không. Chẳng thế mà các chi tiết gợi cảm của thi phẩm đã cuốn hút nhiều người yêu thơ. thật mà không thật. Có lẽ khi đọc các cặp ấy. nhưng xem chừng. Đọc Hữu Thỉnh. Thế mà thi ảnh lại mới. làm định dạng cái vốn mơ hồ. là tinh chứ sao ! . Nhưng cái nhịp luân chuyển chung chi phối vạn vật thì bao giờ cũng khẩn trương và mau lẹ. Mấy chữ ấy đi với nhau thành cặp. mà xem ra lại khó thấy : Đường thi. khiến cái vô hình thành hữu hình. Cứ y như giữa mùa thu và mùa hè vẫn có một lằn ranh làm bằng sợi dây vô hình giăng ra giữa thinh không. tâm trí ta bị trôi theo lời thơ bình đạm. Nào những hương ổi phả vào trong gió se. chỉ lúc chợt ngoái lại. Nhờ ngữ pháp ấy mà cái ý cương kia liền được giấu kín nhẹm. ở thi phẩm này. cái súc tích Đường thi kết hợp với chất hồn nhiên thơ trẻ cứ loáng thoáng đâu đó trong cách nhìn tạo vật. trong cách kiệm lời. Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa”. Còn có một chất khác. đây là lối kết theo kiểu “đảo phách”. cái vế sau mới là chốt hạ. Sao lại cặp kè ? Thì một trong những chiêu rất Hữu Thỉnh chẳng phải là chế tác thi liệu dân gian bằng thi pháp Đường ư ? Cố nhiên. Vẫn còn bao nhiêu nắng-Đã vơi dần cơn mưa. anh không chỉ có chiêu này. Người đọc cũng dễ say với những nét tài hoa trong việc sử dụng nhuần nhuyễn yếu tố cổ điển của thi sĩ. nào sương chùng chình qua ngõ. ít ai để ý đến nghệ thuật tổ chức. có chậm có nhanh. Làm xác định cái không xác định. * Sang thu là bài thơ tinh tế. rồi thì sông được lúc dềnh dàng… xem ra. hô ứng và tiếp ứng nhau làm hiển thị cái nhịp luân chuyển trong tạo vật vốn mải mê mà vô hình. mà hiển lộ nhất là ở phép đối ngẫu được dùng khá nhuyễn : Sông được lúc dềnh dàng-Chim bắt đầu vội vã . hình sắc lại gợi. Nhịp luân chuyển ấy dường như đã nhập vào mấy chữ tưởng rất không đâu mà lại thần tình này: Sông được lúc dềnh dàng/Chim bắt đầu vội vã . thậm chí được nhu hoá. Có thể nói.

Bấy giờ. Trong thực tế. chưa xa gì hơn một lối nói sinh động về sự vật. Sang thu cũng mới là thơ tạo vật. cũng chưa phổ được vào đó hơi thở của thời mình. chưa đủ tạo hẳn ra một lớp nghĩa khác cho văn bản. phát động một lớp nghĩa khác cho bài thơ. Đây là lúc trong lòng đời có bao trăn trở xao động. Lớp nghĩa kia chỉ thực sự bật hầm khi hình ảnh cuối cùng đột hiện : Sấm cũng bớt bất ngờ / Trên hàng cây đứng tuổi. Ai cũng có thể thấy những ẩn ý nào đó thấp thoáng sau lối viết ẩn dụ trong các thi ảnh rải rác ngay từ đầu sương chùng chình.v… Nhưng nếu chỉ có thế thì ý nghĩa của chúng còn lờ mờ. căn cứ quan trọng nhất là văn bản. Nó đâu chỉ nói cây. có sự chất chồng và giao thoa của ba lớp nghĩa : trời đất sang thu. mà còn nói người. Điều này ngẫu nhiên chăng ? vô nghĩa chăng ? Không hẳn. chim vội vã v. Tranh thì tĩnh. Hữu Thỉnh chưa đem đến cái gì mới hơn so với các tiếng thơ thuộc thi đề thu của những người đi trước. Nhờ đó. tự dưng chúng ta thấy các . Nhưng. Ví như hoàn cảnh sáng tác . đời sống sang thu và đời người sang thu. Nó mới là nét tinh vi thuộc về đại cục. Không. Có thể thấy rõ hơn nữa. Tôi muốn nói đến điều khác : ý tưởng bao trùm. Nghĩa là. Có lẽ như những thước phim về cảnh vật thiên nhiên thì phải hơn. mà còn vang lên cả từ tương quan giữa văn bản với những thứ bên ngoài vốn thiết thân với nó nữa. Sang thu đa nghĩa. Chữ “đứng tuổi” bật sáng. chúng ta thấy từ mạch hình ảnh thiên nhiên rải khắp bài thơ bỗng bừng dậy một lớp nghĩa khác gắn với con người và cuộc đời. dễ làm nghèo nghệ thuật. khi nhìn trong tương quan khác. Vì nó ở bề nổi của văn bản thơ. cuộc sống vừa qua khỏi thời chiến đầy khốc liệt đang chuyển sang thời bình êm ả. vì ít nhất. Hai lớp nghĩa sau mới thật là thứ hương ổi riêng mà Hữu Thỉnh phả vào trong thi đề này. đời sống cũng vừa sang thu. Nhưng. những hàm ý kín đáo kia toát lên trước hết từ nghĩa bóng đây đó của các thi ảnh. Tự dưng. sông dềnh dàng. Nhân hoá cây là bề nổi. Nó khiến bài thơ như một bức tranh thiên nhiên. Nhìn bài thơ trong tương quan với thời điểm ấy. tinh thần của thế hệ mình. Tác giả cho biết thời điểm viết Sang thu là mùa thu 1977. Một thi tứ đa tầng khiến hình tượng thơ thành đa nghĩa. thông điệp nghệ thuật của một tác phẩm không chỉ cất lên từ những gì thuộc nội bộ văn bản. chuyển động. Đồng thời. phim mới động. biến động âm thầm và sâu kín của thiên nhiên. Ý tưởng Sang thu được gói kín vào thi tứ. Cảm thụ nghệ thuật. thi phẩm nhỏ đã mang thi tứ lớn. giấu người vào cây là bề sâu. chỉ bó hẹp trong văn bản không thôi. đó vẫn là những tinh tế tiểu tiết và dễ viết. Sự mẫn cảm của tâm hồn thi sĩ đã được dịp phô diễn qua những thi ảnh giàu mỹ cảm trong việc nắm bắt bao vận động. Đôi khi quá chú mục vào cái tinh tế trong tiểu tiết có thể quên sự tinh vi trong đại cục. ở nhiều lần in cũng ghi rõ như vậy. Tất nhiên.Tuy nhiên. Lớp nghĩa thứ nhất dễ thấy. nếu chỉ thế thôi.

Một cái kết quá là khôn ngoan.Nhà thơ Hữu Thỉnh tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Thỉnh. Mùa thu đâu chỉ có biến thiên. Không có nó. quê ở huyện Tam Dương. nhưng Sương chùng chình qua ngõ thật khác với Sông được lúc dềnh dàng. Mùa thu còn là chuyện trưởng thành. sinh năm 1942. tuy đã sang thu. Bước sang thu. thì từ khổ thứ hai đã bảng lảng cái bóng đời. thơ còn nặng về tạo vật. vào binh chủng Tăng . Mùa thu còn tàng ẩn cả những quân bình tự tại nữa. Thì ra. xu thời nào đó nữa ấy chứ ? Đến khổ thứ ba. Tôi ngờ rằng đây là khổ thơ mà anh chàng thi sĩ cũng vừa trải qua một mùa hè bỏng rát đang kín đáo nói về thế hệ mình và chính mình ? Vâng. bao cơn mưa thở than nay cũng đã vơi dần. lớp nghĩa thời sự vốn khuất mình không thể phát sáng được. Sự từng trải đã giúp cây trưởng thành. Đặc biệt từ khổ hai trở đi. mùa thu đâu chỉ có chuyện tiêu sơ. Sang thu đã lẳng lặng thành thơ cuộc đời ! (Nguồn: Sưu tầm) Sang thu SANG THU I.hình ảnh đó đây nhấp nháy lên những nghĩa khác : nghĩa thế sự. ông đã tham gia .Tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm 1. Chẳng phải đó là những nét độc đáo mà Hữu Thỉnh đã đem đến cho một thi đề tưởng đã quá ư quen thuộc hay sao ? Từ thơ tạo vật. Hèn chi. được xả hơi chăng ? Chả phải vô cớ mà thi sĩ đem chữ “được lúc” gắn với cái thói “dềnh dàng” ấy của sông.Thiết giáp rồi trở thành cán bộ văn hóa. Năm 1963. ý ngầm của kẻ viết vừa khó phát lộ vừa khó gói ghém. nó còn muốn nói tới đối tượng sống tuỳ thời. đủ vững trãi đối đầu với mọi ba động. giờ vào thu đã tự cho phép mình được dềnh dàng. “dềnh dàng” đã khó ưa. cái lớp nghĩa thế sự bảng lảng này còn tỏ hơn nữa.Tác giả . hàng cây trẻ hồi nào giờ đã đứng tuổi. Hữu thỉnh nhập ngũ. Nếu ở khổ đầu. nhưng lòng vẫn còn bao nhiêu nắng. Không có chữ “đứng tuổi” cứ như lạc hệ thống này. tuyên huấn trong quân đội và bắt đầu sáng tác thơ. tỉnh Vĩnh Phúc. Chim bắt đầu vội vã có phải chỉ đơn thuần nói về các loài chim lúc sang thu đang gấp gáp bay đi lánh rét không thôi ? Xem ra. “Chùng chình” còn dễ ưa. “Dềnh dàng” đâu chỉ nói về nét riêng của dòng chảy đã chậm hơn khi con sông vào thu. Dường như nó còn ngầm tỏ thái độ về cái điệu sống của những đối tượng nào đó hồi mùa hạ hăng hái xông pha là thế. bao tủi sầu yếu đuối. cùng diễn tả nhịp vận động chầm chậm. mọi suy cảm trên sẽ thành võ đoán. Cũng như thế. Đồng thời. mọi cú giáng của cuộc đời : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi.

những cánh chim bắt đầu vội vã ở cuối buổi hoàng hôn.Hương ổi lan vào không gian. vấn vương trước đất trời trong trẻo đang chuyển biến nhẹ nhàng. .Phân tích bài thơ 1.Tác phẩm chính: Âm vang chiến hào( in chung ). sau đó được in lại nhiều lần trong các tập thơ. .Cảm giác giao mùa được diễn tả thú vị qua đám mây mùa hạ “ vắt nửa mình sang thu” . Thư mùa đông. cảm xúc bâng khuâng qua các từ bỗng. còn sáng nhưng nhạt dần.Biến chuyển trong không gian lúc sang thu được Hữu Thỉnh cảm nhận qua nhiều yếu tố. II. 2. về mùa thu. khô và hơi lạnh ) mang theo hương ổi đang vào độ chín. .Lúc này cũng bớt đi những tiếng sấm bất ngờ gắn cùng những cơn mưa rào mà mùa hạ thường có. viết hay về những con người cuộc sống ở nông thôn.Nhà thơ chợt nhận ra tín hiệu của sự chuyển mùa từ ngọn gió se ( nhẹ. bằng nhiều giác quan và sự rung động thật tinh tế . hình như 2.Dòng sông trôi một cách thanh thản gợi lên vẻ êm dịu của bức tranh thiên nhiên.Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam các khóa III. Nhiều vần thơ thu của ông mang cảm xúc bâng khuâng. . Từ chiến hào tới thành phố. ông đã được Giải thưởng văn học Đông Nam Á. in lần đầu tiên trên báo Văn nghệ. Đường tới thành phố ( trường ca – 1978 ). Những ngày giao mùa này đã ít đi những cơn mưa rào ào ạt. . chuyển động chầm chậm nơi đường thôn ngõ xóm. V.Nắng cuối hạ còn nồng.IV. Hữu Thỉnh được bầu làm Tổng thư kí Hội nhà văn Việt Nam. phả vào trong gió se . hiện tượng thể hiện sự biến đổi của đất trời lúc sang thu ở khổ đầu của bài thơ . .Hoàn cảnh ra đời:Bài thơ Sang thu được Hữu thỉnh sáng tác cuối năm 1977.Hữu Thỉnh là nhà thơ viết nhiều.Tâm trạng ngỡ ngàng. bất ngờ. Từ năm 2000.Những hình ảnh. Với tập thơ Thư mùa đông.Sương đầu thu giăng mắc nhẹ nhàng. .

Phân tích hình ảnh "Đầu súng trăng treo" trong bài thơ "Đồng Chí" của Chính Hữu. Thế mới biết tác giả đắc ý như thế nào về hình ảnh thật đẹp. trăng được Chính Hữu kết tinh thành hình ảnh “đầu súng trăng treo” rất đẹp trong bài thơ Đồng chí của mình. súng và trăng vốn tương phản với nhau. ông muốn gửi gắm suy ngẫm của mìh – khi con người đã từng trải thì cũng vững vàng hơn trước những tác động bất thường của ngoại cảnh của cuộc đời.đó là một hình ảnh tả thực một bức tranh tả thực và sinh động. anh thả hồn theo trăng. vẫn say sưa với ánh trăng. xa cách nhau vời vợi bỗng hoà quyện vào nhau thành một hình tượng gắn liền. Hơn thế nữa. bớt đi những tiếng sấm bất ngờ. ở truyền thuyết “Chú cuội cung trăng” hay Hằng Nga trộm thuốc trường sinh là những mảng đời sống tinh thần bình dị đậm đà màu sắc dân tộc của nhân dân ta. Đêm thanh vắng người lính bên nhau chờ giặc tới.3. thơ mộng. Nhà thơ không phải tả mà chỉ gợi. Đầu súng trăng treo. bị giật mình vì tiếng sấm nữa. Phân tích hình ảnh "Đầu súng trăng treo" trong bài thơ "Đồng Chí" của Chính Hữu. cần hiểu với hai tầng nghĩa.Về hai dòng thơ cuối bài. Lúc sang thu. . người chiến sĩ như không còn vướng bận về cảnh chiến đấu sắp diễn ra. Cũng có thể hiểu: hàng cây không còn bị bất ngờ. Và hình ảnh này cũng thật lạ làm sao. Phải là một người có tâm hồn giàu lãng mạn và một phong thái ung dung bình tĩnh lạc quan thì anh mới có thể nhìn một hình ảnh nên thơ như thế. trăng bảo vệ xóm làng. rất thực nhưng không thiếu nét lãng mạn đó. Không biết tự bao giờ ánh trăng đã đi vào văn học như một huyền thoại đẹp. trăng chếch bóng soi sáng rừng hoang bao la rộng lớn. Chính nhà thơ Hữu Thỉnh đã tâm sự: Với hình ảnh có giá trị tả thực về hiện tượng thiên nhiên này. Sau hơn mười năm làm thơ. anh say sưa ngắm ánh trăng toả ngời trên đỉnh núi. Chính Hữu cho ra mắt tập “Đầu súng trăng treo”. tâm hồn người nông dân “nước mặn đồng chua” hay “đất cày trên sỏi đá” cằn cỗi ngày nào bỗng chốc trở thành người nghệ sĩ đang ngắm nhìn vẻ đẹp ánh trăng vốn có tự ngàn đời. trăng đã đi vào cuộc chiến đấu. chút nữa đây cũng có thể là giây phút cuối cùng ta còn ở trên đời này nhưng ta vẫn “mặc kệ”. Chút nữa đây không biết ai sống chết. soi sáng tình cảm họ. Giữa núi rừng heo hút “rừng hoang sương muối” giữa đêm thanh vắng tĩnh mịch bỗng xuất hiện một ánh trăng treo lơ lửng giữa bầu trời. chỉ đưa hình ảnh nhưng ta liên tưởng nhiều điều. soi sáng tâm hồn họ… Giờ đây.

trăng lên trăng lặn sẽ không còn cái bất ngờ màu nhiệm nữa.trăng là hình ảnh của thanh bình hạnh phúc. Đầu súng trăng treo. Thế nhưng người lính ấy vẫn đứng cạnh nhau để tâm hồn họ vút lên nở thành vầng trăng.hình ảnh thật đẹp và giàu sức khái quát. trăng toả sáng làm ngời ngời lòng người. Lãng mạng nhưng không thoát li. làm sao còn nét lãng mạn? Và hãy thay một lần nữa bằng từ “lên” cũng không phù hợp. Lãng mạn vì con người cần có . cái bồng bềnh thơ mộng của một đêm trăng “đứng chờ giặc tới”. nó tượng trưng cho tư thế lạ quan bình tĩnh. Phải. Tố Hữu cũng có một câu thơ kiểu này: “ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” và Phạm Tiến Duật thì “Và vầng trăng vượt lên trên quầng lửa” hay Hoàng Hữu “Chỉ một nửa vầng trăng thôi một nửa. là khát vọng và cũng là biểu hiện tuyệt vời chất lãng mạn trong bài thơ cách mạng. mục đích chiến đấu mà người lính ấy đang tham gia. ở đây. Họ chiến đấu cho sự thanh bình. cùng chứng kiến cho tình đồng chí đồng đội thiêng liêng của những ngươì linh. Súng là hình ảnh người chiến sĩ gan dạ kiên cường. Súng là con người. vì nó là hiện tượng tự nhiên: trăng tròn rồi khuyết. cả vầng trăng và súng đều tồn tại trên một mặt phẳng và trong hội hoạ nó mang tính biểu tượng cao. trăng như cùng tham gia. Nhưng có lẽ cô kết nhất. Ai bỏ quên ở phía chân trời…”. chẳng thơ mộng chút nào. Ta nên hiểu bài thơ dường như được sáng tác ở thời điểm hiện tại “đêm nay” trong một không gian mà mặt đất là “rừng hoang sương muối” lạnh lẽo và lòng đầy phấp phỏng giặc sẽ tới có nghĩa là cái chết có thể đến từng giây từng phút. lãng mạn của người bảo vệ Tổ quốc. hay nhất vẫn là “Đầu súng trăng treo”. Cái thân của câu thơ “Đầu súng trăng treo” nằm ở từ “treo”. chiến đấu cho ánh trăng mãi nghiêng cười trên đỉnh núi. Trăng truyền thêm sức mạnh cho họ. không quên được nhiệm vụ và trách nhiệm của mình. trăng là đất nước quê hương của bốn nghìn năm văn hiến. trong sạch hơn. ta thử thay bằng từ mọc thì thật thà quá. Nó là biểu tượng. nòng súng chếch lên trời và ánh trăng lơ lửng ngay nòng ngọn súng. Nếu miêu tả hiện thực thì vầng trăng ấy sẽ có hình khối của không gian ba chiều. là đồng chí của anh bộ đội Cụ Hồ.Trăng là hình ảnh người thi sĩ. Ta hãy tưởng tượng xem: giữa đêm khuya rừng núi trập trùng bỗng hiện lên hình ảnh người lính đứng đó với súng khoác trên vai. súng tượng trưng cho chiến đấu. Sự kết hợp hài hoà tạo nên nét lãng mạn bay bổng vừa gợi tả cụ thể đã nói lên lí tưởng. không phải ngẫu nhiên mà Chính Hun lấy hình ảnh “Đầu súng trăng treo” làm tựa đề cho tập thơ của mình. Đó là biểu tượng Khát Vọng Hoà Bình. tắm gội tâm hồn họ thanh cao hơn. từ điểm nhìn xa. Chỉ có trăng “treo”. trăng cũng là bạn. Như đã nói ở trên. Súng và trưng kết hợp nhau.ánh trăng như xua tan cái lạnh giá của đêm sương muối. chỉ có “Đầu súng trăng treo” mới diễn tả hết được cái hay.

thông qua một con người cụ thể. người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. tình yêu nước. . tinh thần kháng chiến.Thân bài 1. trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. B. từ lâu đã am hiểu người nông dân.Internet) Nguồn: Sưu tầm Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Đi kháng chiến. ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân . Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc. Âm hưởng của câu thơ đã đi đúng với xu thế lịch sử của dân tộc. Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước. Và bạn ơi! Bạn hãy thả cùng tôi những chú chim trắng trên bầu trời. Nếu như Elsa Trioslet – nữ văn sĩ Pháp có nói “Nhà văn là người cho máu” thì tôi hãnh diện nói với văn sĩ rằng: Chính Hữu đã cho máu để tạo nên câu thơ tuyệt vời để cống hiến cho cuộc kháng chiến của chúng ta. Hình ảnh trăng và súng đã có nhiều trong thơ Việt Nam nhưng chưa có sự kết hợp kì diệu nào bằng hình ảnh Đầu súng trăng treo của Chính Hữu. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc. tình cảm quê hương đất nước. Ông gắn bó với thôn quê. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới. Trước cái đẹp mà con người trở nên thờ ơ lãnh đạm thì cuộc sống vô cùng tẻ nhạt.những phút sống cho riêng mình.Mở bài: .Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948. hãy hát vang lên ca khúc Hoà Bình vì hình ảnh đầu súng trăng treo mà nhà thơ đã gởi vào đó bao nhiêu khát vọng nay đã thành hiện thực (Nguồn .Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. A.

tích tiểu thành đại.2. . . khuân đá…”. hắt hủi”. ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương. Ông luôn hoảng hốt giật mình. Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi. ông xấu hổ lảng ra về. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm.Về đến nhà. không tin không được. rồi ông lo “cái chòi gác. chưa tin. ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm.Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần. a. Tình yêu làng. b. Ông giận những người ở lại làng. .Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến. thích bìh luận. một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân. Sau cách mạng. đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. . Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà. Phải xa làng. .Được cách mạng giải phóng. c. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc. Nhưng khi người ta kể rành rọt. nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế. ông không dám ra ngoài. chỗ kia giết một tí. náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế. đi theo kháng chiến. làm gì mà thằng Tây không bước sớm”.… những đường hầm bí mật. nhìn thấy các con. càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng. ông nhớ quá cái khong khí “đào đường. ngày mai dăm khẩu.Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ . Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. chỗ này giết một tí. .Ba bốn ngày sau. .Ông hay khoe làng. hôm nay dăm khẩu. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người. in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có. ông sững sờ. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng.…” đã xong chưa? . nhân vật ông Hai. xẻ hào. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp.Khi mới nghe tin xấu đó. cả súng cũng vậy. đắp ụ.

đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ. • Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc. ngôn ngữ đối thoại và độc thoại. . . bố của nó. Nhưng tình yêu nước. hành vi. Tình cảm đó sâu nặng. . Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai.Miêu tả rất cụ thể. gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ.Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông. ta thấy rõ: • Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc).Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường. . vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. d. gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt. 3.Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng. . lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai.quá. . + Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu. + Qua đó. Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân. chân thành. Khi cái tin kia được cải chính.Tình cảm đối với kháng chiến.

có trách nhiệm với Tổ Quốc..Mở Bài: _Tình huống truyện (Nhân một chuyến đi.có mục đích. .đất nước...Những nhân phẩm cao đẹp của người lính(dũng cảm hiên ngang đầy lạc quan.Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật.Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động..nhân dân BÀI LÀM: ( đây là bài tương đối hoàn chỉnh ^^) .qua trò chuyện biết anh chính là người lính lái xe trong "BTVTĐXKK" của PTD.về người lính. DÀN Ý: (dàn ý chi tiết chung ^^) I. III.gặp người sĩ quan.Kết bài: .Kết Bài: _Kết thúc câu chuyện _Suy nghĩ về thế hệ cha anh.có chút ngang tàng trẻ trung.Thân Bài: 1. người đọc thấm thía tình yêu làng. Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý..với nhân dân).Qua nhân vật ông Hai.Tính chất gian khổ khốc liệt mà những người lính lái xe Trường Sơn (TS) phải chịu đựng trong những năm tháng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. C. 2.sống có lí tưởng.) II... cao quý trong những người nông dân lao động bình thường..về trách nhiệm của bản thân đối với gia đình.. chân thành mà vô cùng sâu nặng. Bài Viết Số 03 : Kể lại cuộc gặp gỡ người lính lái xe trong BTVTĐXKK của PTD. yêu nước rất mộc mạc..

kể cho nhau nghe sự ác liệt của những cung đường đã đi qua.Anh sĩ quan lại kể cho tôi nghe trên những cung đường vận chuyển đó anh luôn được gặp những người bạn.Bom đạn của giặc Mỹ đã biến cho những chiếc xe của các anh không còn kính nữa.phía ấy là tương lai của đất nước được giải phóng.tự do.yêu đời.Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm dội xuống những con đường này nhằm cắt đứt sự tiếp viện của miền Bắc cho miền Nam.cái vắt tay qua ô cửa kính vỡ đã làm cho tình đồng đội của họ thấm thiết hơn rồi những bữa cơm bên bếp Hoàng Cầm với những cái bát.có những người đã hy sinh.những người đồng đội của anh.họ vẫn ung dung lái những chiếc xe không kính đó băng băng đi tới trên những chặn đường.Rồi những giây phút nghỉ ngơi trên chiếc võng đu đưa.Có những người còn.sờn lòng.họ nhìn thẳng về phía trước.bụi ùa vào làm những mái tóc đen xanh trở nên trắng xóa như người già.vũ khí.đôi đũa dùng chung..cái chết luôn rình rập bên họ nhưng họ vẫn là những con người lạc quan.của nhân dân được hạnh phúc.tôi gặp người sĩ quan đang đứng thắp hương cho người đồng đội đã mất.gặp mưa thì phải ướt áo thôi.Trong những giây phút gặp gỡ hiểm hoi đó.gió sẽ lùa vào rối áo sẽ khô mau thôi.vượt qua những chặng đường ác liệt.tôi mới hiếu rõ hơn về họ.đạn dược.Mưa cứ tuôn cứ xối nhưng họ vẫn chưa cần thay áo và cứ ráng lái thêm vài trăm cây số nữa.Gian khổ ác liệt.thấy cả ánh sao đêm.Sự dũng cảm của các cô gái thanh niên xung phong luôn đảm bảo .bom đạn của kẻ thù đâu có làm họ nãn chí.được trò chuyện với người chiến sĩ lái xe năm xưa.Tôi và người sĩ quan đó trò chuyện rất vui vẻ và thật tình cờ tôi biết được người sĩ quan này chính là anh lính lái xe trong "Bài Thơ Về Tiểu Ðội Xe Không Kính" của Phạm Tiến Duật năm xưa. Người sĩ quan kể với tôi rằng cuộc kháng chiến của dân tộc ta vô cùng ác liệt..đảm bảo an toàn cho những chuyến hàng rồi họ nghĩ mưa sẽ ngừng.Nhưng không phải vì thế mà họ lùi bước.trên con đường TS này.Ôi! tiếng cười của họ sao thật nhẹ nhõm..những con đường huyết mạch nối giữa miền Nam và miền Bắc lại là nơi ác liệt nhất.tinh nghịch.bọn họ cũng chưa cần rửa rồi nhìn nhau cất tiếng cười ha ha.Họ vẫn vui tươi.Trong những ngày tháng đó anh chính là người lính lái xe làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực.Những chiếc xe không kính lại tiếp tục băng băng trên những tuyến đường ra trận.tôi mới hiểu rõ hơn về sự gian khổ ác liệt mà những người lính lái xe phải chịu đựng ngày đêm.quây quần bên nhau như một đại gia đình của những người lính lái xe TS.Người sĩ quancòn kể với tôi rằng không có kính cũng thật bất tiện nhưng họ vẫn lái những chiếc xe đó..Họ nhìn thấy đất.Nghe anh kể.Nhân một chuyến đi thăm nghĩa trang liệt sĩ.cả nhưng cánh chim sa.Khi được học "Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính" tôi cứ luôn suy nghĩ rằng những khó khăn gian khổ ác liệt đó chỉ có nhân vật trong bài thơ mới vượt qua được nhưng đó là những suy nghĩ sai lầm của tôi bởi được gặp.nhìn thấy trời.Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm nổ sát bên tai phá hủy con đường.

Nghĩ đến hình ảnh những chiếc xe băng băng về phía trước tôi lại nghĩ đến những người lính lái xe.kĩ thuật để xây dựng một đất nước văn minh.lắp bắp hỏi.nắm vững khoa học.Bom đạn Mỹ hạ xuống bất cứ lúc nào.theo dõi tin tức kháng chiến và hỏi thăm về Chợ Dầu .Tiếng chửi văng vẳng của người đàn bà cho con bú khiến ông tê tái :“cha mẹ tiên sư nhà chúng nó .với nhân vật chính là ông Hai .đầy lạc quan.Tình yêu làng của ông càng được bộc lộ một cách sâu sắc và cảm động trong hoàn cảnh thử thách .ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được.đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt .có chút ngang tàng nhưng họ sống và chiến đấu vì Tổ Quốc. Kim Lân đã đặt nhân vật vào tình huống gay gắt để bộc lộ chiều sâu tình cảm của nhân vật. hào hứng.náo nức vì những tin vui của kháng chiến thì gặp những người tản cư.Ông cất tiếng hỏi.cho những chuyến xe thông suốt. Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong tác phẩm “Làng ”của Kim Lân Kim Lân là nhà văn có vốn sống vô cùng phong phú và sâu sắc về nông thôn Việt Nam.vì nhân dân.giọng lạc hẳn đi ”nhằm hy vọng điều vừa nghe không phải là sự thật.những thiếu thốn này không ngăn cản được những chiếc xe vẫn chạy băng băng về phía trước.Ông yêu quí và tự hào về làng Chợ Dầu và hay khoe về nó một cách nhiệt tình.Các sáng tác của ông đều xoay quanh cảnh ngộ và sinh hoạt của người nông dân.hy vọng được nghe những tin tốt lành.nào ngờ biết tin dữ:“Cả làng Việt gian theo Tây ”.phía trước ấy là miền Nam ruột thịt.Tôi khâm phục những người lính lái xe bởi tình yêu nước.giải phóng miền Nam. Ông Hai cũng như bao người nông dân quê từ xưa luôn gắn bó với làng quê của mình.nghe nhắc đến tên làng.hiện đại.yêu làng .nhiệm vụ của họ đang làm vô vùng nguy hiểm. Văn bản “Làng” đươc sáng tác vào thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp .yêu nước và gắn bó với kháng chiến .da mặt tê rân rân .đang phấn chấn.cả ngày lẫn đêm.rồi không có mui xe.một lúc lâu ông mới rặn è è nuốt một cái gì vướng ở cổ. Tôi và anh sĩ quan chia tay nhau sau cuộc gặp gỡ và nói chuyện rất vui.Trước lời khẳng định chắc chắn của những người tản cư.Đó là tin làng chợ Dầu lập tề theo giặc.thùng xe rách xước.Những chuyến hàng của họ đã góp phần tạo nên chiến thắng của dân tộc ta:chiến thắng mùa xuân năm 1975.hiên ngang.Anh sĩ quan còn nói cho tôi biết những chiếc xe ấy không chỉ mất kính mà còn mất cả đèn.ông Hai quay phắt lại.Ở nơi tản cư ông luôn nhớ về làng. đau đớn :“Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại.Từ phòng thông tin ra.cần phải phấn đấu trở thành công dân gương mẫu.một lão nông hiền lành .Đúng là con đường của họ đang đi.Tin bất ngờ ấy vừa lọt vào tai đã khiến ông bàng hoàng.ông tìm cách lảng về.ý chí kiên cường của họ và tôi hiểu rằng thế hệ chúng tôi luôn phải ghi nhớ công ơn của họ.Họ thật dũng cảm.thống nhất đất nước.

tấm lòng bố con ông là như thế đấy.Cải chính cái tin làng chợ Dầu chúng tôi Việt gian theo Tây ấy mà .ông thoáng có ý nghĩ quay về làng nhưng rồi lại gạt phắt ngay bởi “về làng tức là bỏ kháng chiến.phản bội làng.Dù đã xác định thế nhưng ông vẫn không thể dứt bỏ tình cảm của mình đối với quê hương.thiêng liêng. Tình thế của ông càng trở nên bế tắc.ông chỉ còn biết tìm niềm an ủi trong lời tâm sự với đứa con trai nhỏ.Dẫu cả làng Việt gian thì ông vẫn một lòng trung thành với kháng chiến.Những suy nghĩ của ông như những lời nguyện thề son sắt.Ông hỏi con những điều đã biết trước câu trả lời:“Thế nhà con ở đâu?”. thấy họ đều có tinh thần cả “có đời nào lại cam tâm làm cái điều nhục nhã ấy ”.“ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm !”…Những điều ấy ông đã biết.có bao giờ dám đơn sai.Ông Hai sung sướng như được sống lại.Niềm tin.Ông kiểm điểm lại từng người trong óc.Ông Hai đã lựa chọn một cách đau đớn và dứt khoát:“Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù!”.niềm tin và tự hào về làng Dầu có bị lung lay nhưng niềm tin và Cụ Hồ và cuộc kháng chiến không hề phai nhạt.bỏ Cụ Hồ ”.nỗi ngờ giằng xé trong ông.là “cam chịu quay trở lại làm nô lệ cho thằng Tây”.Ông mong “anh em đồng chí biết cho bố con ông.lật đật đi khoe với mọi người.Suốt mấy ngày liền ông chẳng dám đi đâu.Trong lúc tưởng tuyệt đường sinh sống ấy.đau đớn.Ông xúc động.tủi hổ như chính ông là người có lỗi.đang bàn tán đến cái chuyện làng mình.Nỗi ám ảnh.Ông đau xót nghĩ đến cảnh “người ta ghê tởm.“chỉ ở nhà nghe ngóng binh tình”.tuyệt vọng khi bà chủ nhà có ý đuổi gia đình ông với lý do không chứa người của làng Việt gian.Về đến nhà ông chán chường “nằm vật ra giường”.lúc nào cũng nơm nớp tưởng người ta đang để ý.với nước thật sâu nặng.Ông đóng khăn áo chỉnh tề đi với người báo tin và khi trở về “cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi vui rạng rỡ hẳn lên ”.nhìn đàn con nước mắt ông cứ giàn ra “ chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư?Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?”.Ông căm thù những kẻ theo Tây. Trong tâm trạng bị dồn nén và bế tắc ấy.với Cụ Hồ … May thay..Đến đâu cũng chỉ mấy câu“Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ ! Đốt sạch !Đốt nhẵn ! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính.Tấm lòng của ông với làng.Bởì thế mà ông càng xót xa. Tình yêu làng lúc này đã lớn rộng thành tình yêu nước bởi dẫu tình yêu.“thế con ủng hộ ai ?”…Lời đứa con vang lên trong ông thiêng liêng mà giản dị:“Nhà ta ở làng Chợ Dầu”.Nói với con mà thực ra là đang trút nỗi lòng mình.người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước”.được người ta còn thương.Ông mua cho con bánh rán đường rồi vội vã.chết thì chết có bao giờ dám đơn sai ”..vẫn muốn cùng con khắc cốt ghi tâm.day dứt..cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát”.tin đồn thất thiệt về làng Chợ Dầu được cải chính .Ông đau đớn.nước mắt “chảy ròng ròng trên hai má”..ông nắm chặt hai tay lại mà rít lên: “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này ”.nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông.

anh nhận ra thời gian của mình chẳng còn bao lâu nữa . Mất hết cả cơ nghiệp mà ông không hề buồn tiếc.ngôn ngữ đối thoại. Qua nhân vật ông Hai ta hiểu thêm về vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược :Yêu làng.tinh thần hy sinh vì cách mạng của người dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược .Chính vào lúc nhận ra vẻ đẹp và sự giàu có của bến quê cũng là lúc Nhĩ hiểu ra một cách đau xót .Đó là một niềm vui kỳ lạ.Nhĩ để ý “thấy Liên mặc áo vá . bức bối đã góp phần không nhỏ tạo nên thành công của câu chuyện.ánh nắng sớm .yêu nước.” “Ông cứ múa tay lên mà khoe với mọi người”.Mọi sinh hoạt của anh trông cả vào sự chăm sóc của vợ con .Láo!Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả . Căn bệnh liệt gắn chặt Nhĩ vào giưuờng bệnh .sinh động.Bởi lẽ.yêu nước và gắn bó với kháng chiến.bởi một ngưuời “đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất ” lại chưua từng đặt chân lên “cái bờ bên kia sông Hồng ngay truước cửa sổ nhà mình ”.Bị cột chặt trên giuờng bệnh .Có lẽ vì thế mà tác phẩm “Làng ” xứng đáng là một trong những truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại Suy nghĩ về nhân vật Nhĩ trong tác phẩm "BQ" Là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn học kháng chiến chống Mỹ .anh mới cảm nhận thấm thía về nguười vợ của mình .độc thoại và độc thoại nội tâm đa dạng. Toàn bộ câu chuyện xoay quanh nhân vật Nhĩ trong những ngày cuối đời ..vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông …Những cảnh sắc vốn quen thuộc gần gũi nhưung duường nhuư rất mới mẻ đối với anh .thể hiện một cách đau xót và cảm động tình yêu làng.tự nhiên như cuộc sống cùng với những mâu thuẫn căng thẳng.dồn đẩy. Sáng hôm ấy .bằng trực giác .Nguyễn Minh Châu có nhiều những tìm tòi quan trọng góp phần đổi mới văn học nưu?c nhà . Cách miêu tả chân thực.đốt nhẵn như là minh chứng khẳng định làng ông không theo giặc.hạnh phúc.con sông Hồng màu đỏ nhạt .trong sự cháy rụi ngôi nhà của riêng ông là sự hồi sinh về danh dự của làng chợ Dầu anh dũng kháng chiến.Ông khoe nhà mình bị đốt sạch.Chuỗi nghịch lý bắt đầu chính trong những ngày ấy . đồng thời còn thể hiện sự am hiểu và gắn bó sâu sắc của nhà văn với người nông dân và công cuộc kháng chiến của đất nước.Nhĩ phát hiện ra vẻ đẹp lạ lùng của bãi bồi bên kia sông .Truyện ngắn của ông thưuờng chứa đựng những suy ngẫm trải nghiệm sâu sắc về con ngưuời và cuộc đời . “Bến quê ” là tác phẩm tiêu biểu cho đề tài đó .thậm chí còn rất sung sướng.Cảnh vật nơi ấy đẹp nhưu thơ nhưu hoạ :Những bông bằng lăng cuối mùa thưua thớt nhung đậm sắc .

đặt chân lên bãi phù sa màu mỡ .khi Nhĩ tuưởng tuượng chính mình như một nhà thám hiểm đang chậm rãi đặt từng bưuớc chân lên mặt đất dấp dính phù sa . ân hận : “Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm ”.giơ cánh tay gầy guộc “khoát khoát y nhuư đang khẩn thiết ra hiệu cho một ngưuời nào đó ”. Nhĩ đã tìm thấy được nơi nưưuơng tựa là gia đình trong những ngày này ”.Trưuớc khi ốm anh chỉ biết đến những chân trời xa ngát với những công việc cao sang mà thờ ơ .Phải chăng anh đang nôn nóng thúc giục con trai hãy mau hơn kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày ?Và duờng nhưu nó còn có ý nghĩa khái quát hơn :Muốn thức tỉnh mọi ngưuời vưuợt lên những cái vòng vèo hoặc chùng chình trên đưuờng đời để .bình dị mà sâu xa của cuộc sống .Nhĩ -con ngưuời của một thời huy hoàng.chân dung anh khác thưuờng “mặt mũi đỏ rựng .Vì thế đó là sự thức tỉnh pha lẫn niềm ân hận xót xa : “Hoạ chăng chỉ có anh đã từng trải .đứa con không hiểu ưuớc muốn của cha .kiếm tìm . khi nhận ra vẻ đẹp qua ô cửa sổ .Nhĩ nhờ con trai thay mình sang sông .kể cả nguười vợ suốt một đời yêu thuương và tận tuỵ .Với Nhĩ . Không thể tự làm điều mình khao khát. ở cuối chuyện .vô tình với tất cả những gì gần gụi xung quanh .Cậu con trai có thể lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày.Khát khao đó mang ý nghĩa sâu sắc bởi đó chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững .Sự nhận thức này chỉ đến đưưuợc với ta khi đã từng trải . tin cậy sau cả một đời bôn tẩu .”.đó là lúc cuối đời khi phải nằm liệt trên giưuờng bệnh.những giá trị dễ bị ta vô tình .Từ đó Nhĩ nghiệm ra một qui luật khá phổ biến của đời ngưuời “Con nguười ta trên đưuờng đời thật khó tránh đuợc những điều vòng vèo hoặc chùng chình”.Giờ đây Nhĩ mới thực sự thấu hiểu và biết ơn vợ sâu sắc bởi “tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tảo tần và chịu đựng hy sinh từ bao đời xưa và cũng chính nhờ điều đó.Nhĩ bừng dậy nỗi khát khao cháy lòng và vô vọng là một lần đuược đặt chân lên bãi bồi bên kia sông . cho đến khi không còn khả năng đi lại mới phát hiện ra vẻ đẹp của bến quê cũng nhưu sự tảo tần và đức hy sinh của vợ .Anh không trách con vì “nó đã thấy gì hẫp dẫn bên kia sông đâu ”.bỏ qua và quên lãng nhất là lúc còn trẻ khi những khát vọng xa vời vẫy gọi .hai mắt long lanh chứa môt nỗi say mê đầy đau khổ ”.Nhĩ xúc động mạnh .đã đi một cách miễn cưưuỡng và bị cuốn vào trò chơi phá cờ thế trên hè phố .Oái oăm thay .anh nói với vợ những lời xót xa. “những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve bên vai anh ”.đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết mọi sự giàu có lẫn vẻ đep của bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia cả trong những nét tiêu sơ và cái điều riêng anh khám phá thấy giống nhuư một niềm say mê pha lẫn nỗi ân hận đau đớn ” . Song nghịch lý của câu chuyện không chỉ có thế .Nhĩ thu hết tàn lực . Với anh.Khi con đò sắp chạm vào bờ đất bên này .Sự thấu hiểu muộn màng trong những ngày cuối đời dù sao cũng đem lại cho anh sự bình yên. bây giờ đó thực sư? là miền đất xa lắc vì Nhĩ “lực bất tòng tâm ” ” . cuốn nguười ta đi . mà sau nhiều tháng ngày bôn tẩu tìm kiếm.đu nguười lên cửa sổ .Cũng trong buổi sáng hôm ấy.

giống dòng tươi tốt con cháu đông đàn. giữ gìn khuân phép nên gia đình không khi nào phải thất hoà.trân trọng.xanh . Tác phẩm là tiếng nói đồng cảm.“Chuyện người con gái Nam Xương” được rút trong tập những câu chuyện kỳ lạ đó .suy ngẫm của tác giả đã góp phần không nhỏ tạo nên những ấn t?ương riêng cho tác phẩm .Vũ Nương là người phụ nữ bình dân vốn con kẻ khó có một khát khao bao trùm cả cuộc đời-Đó là thú vui nghi gia nghi thất.Ngòi bút miêu tả thiên nhiên đẹp .Càng đi sâu vào câu chuyện ta càng thấy vẻ đẹp của nàng được tác giả tập trung thể hiện rõ nét.ngợi ca của tác giả đối với con người đặc biệt là người phụ nữ.Toàn bộ câu chuyện xoay quanh cuộc đời và số phận bi thảm của người con gái xinh đẹp.Khi tiễn chồng đi lính.chăm sóc thuốc thang tận tình khi mẹ chồng đau yếu. đối với vợ thường phòng ngừa quá sức nhưng nàng khéo léo cư xử.hứơng tới những giá trị đích thực vốn rất gần gũi bình dị mà bền vững ! Bằng cách tạo dựng chuỗi nghịch lý để nhân vật tự nhận thức.gần gũi của gia đình .tinh tế . nàng thực sự là một người mẹ hiền.Những ngày chồng đi xa.Trong những ngày đoàn viên ít ỏi.nết na tên là Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương.chi tiết mang ý nghĩa biểu tưuợng tác giả đã tạo nên ý nghĩa sâu xa cho tác phẩm.Nhân vật chính của tác phẩm là Vũ Nương đã để lại trong lòng người đọc niềm cảm thương sâu sắc.dâu thảo.quê hưuơng .dù Trương Sinh con nhà hào phú tính vốn đa nghi.xứ sở . Suy nghĩ về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”của Nguy Trong văn học Việt Nam đã có không ít tác phẩm mang tên gọi truyền kỳ hoặc có tính chất truyền kỳ song được tôn vinh là “ thiên cổ kỳ bút” thì cho đến nay chỉ có một “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ .ma chay tế lễ chu tất khi mẹ chồng qua đời.suy ngẫm và cách xây dựng nhiều hình ảnh .thức tỉnh trong ta sự trân trọng vẻ đẹp về những gì bình dị .Nàng mang đầy đủ vẻ đẹp của một người phụ nữ lý tưởng “tính đã thuỳ mỵ nết na lại thêm có tư dung tốt đẹp ”.giọng văn thầm trầm ẩn chứa những chiêm nghiệm .Phải nói rằng Nguyễn Dữ không có ý định cho Vũ Nương mang đức tính của một phụ nữ yêu nước hay một mỹ nhân nơi gác tía lầu son . Những dòng cuối cùng của “Bến quê” khép lại nhuưng dưu âm từ những trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và con ngưuười dưuờng nhưu vẫn còn lan toả đâu đây.mong ước lớn nhất của nàng không phải là công danh phú quí mà là khao khát ngày chồng về “mang theo hai chữ bình yên thế là đủ rồi”.Nguyễn Dữ đã đặt những lời ca ngợi đẹp đẽ nhất về Vũ Nương vào miệng của chính mẹ chồng nàng khiến nó trở nên vô cùng ý nghĩa “sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức .

một ngày kia chồng nàng đi chinh chiến trở về.hiếu nghiã ấy còn là một người vợ thuỷ chung đối với chồng . căm ghét xã hội phong kiến bất lương.thiếp nếu đoan trang giữ tiết.trinh bạch gìn lòng.người thiếu phụ đau khổ nguyền rằng:“Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu chồng con rẫy bỏ.đẹp nết đó phải tìm đến cái chết bi thảm?Đó chính là do chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã làm cho gia đình phải li tán.dâu thảo.xinh đẹp .Trong cái nhìn nâng niu trân trọng của ông.trái tim tan nát.đánh đập và đuổi nàng đi bất chấp sự can ngăn của xóm giềng và lời than rớm máu của người vợ trẻ.liễu tàn trước gió ”.Nhịp văn dồn dập .Đến bến Hoàng Giang.mây tạnh.Nhưng tai ác thay .lời văn thống thiết như cực tả nỗi niềm đồng cảm.Dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ.điều đâu bay buộc tiếng chịu nhuốc nhơ.trâm gãy. Đó còn là lễ giáo phong kiến hà khắc với tư tưởng nam quyền độc đoán đã biến Trương Sinh thành một bạo chúa gia đình… Để ngàn đời trên bến Hoàng Giang.cái chết là hành động quyết liệt cuối cùng cần phải có để bảo toàn danh dự . Người phụ nữ dịu dàng .người thiếu phụ trẻ trung xinh đẹp đó một lòng một dạ chờ chồng.đức hạnh của nàng là đức hạnh của một người vợ hiền. trân trọng xã hội tốt đẹp mà em đang sống hôm nay.Trong suốt ba năm chồng đi chinh chiến.tận tuỵ và chung tình đó đáng ra phải được đền bù xứng đáng bằng một gia đình êm ấm.Vũ Nương được mọi người yêu mến bằng tính tình.kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.phẩm hạnh của nàng. ở hiền ắt sẽ gặp lành? Điều gì đã khiến người phụ nữ đẹp người.thần sông có linh xin ngài chứng giám.mắng nhiếc.xuống nước xin làm ngọc Mỵ Nương.Phải chăng đó cũng chính là dụng ý của tác giả:người tốt sẽ được được đền bù xứng đáng.mưa tan.Người thiếu phụ tận tuỵ .tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng . phúc lộc đề huề.sen rũ trong ao. hiếu nghĩa.Có lẽ vì thế mà em càng yêu mến. Suy nghĩ về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam X .vào đất xin làm cỏ Ngu Mĩ…” Với nàng .vun vén cho hạnh phúc.Vũ Nương là con người của gia đình.một người yêu mến cuộc sống gia đình và làm mọi việc để giữ gìn.ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”. chung tình mà bạc mệnh ! Câu chuyện về nàng Vũ Nương khép lại nhưng dư âm về sự bất bình.nghe lời con trẻ đinh ninh là vợ hư. khắc khoải niềm thương và nỗi ám ảnh dai dẳng về một người thiếu phụ trẻ trung.hiếu nghĩa .tuyệt vọng bởi “bình rơi.xót thương của tác giả đối với người thiếu phụ chung tình mà bạc mệnh! Thương nàng ông sáng tạo ra một thế giới thần tiên êm đềm trong chốn làng mây cung nước để Vũ Nương được sống như một nàng tiên . vô nhân đạo thì còn mãi.nuôi con:“cách biệt ba năm giữ gìn một tiết.Không có cơ hội để thanh minh.

Trong cái nhìn nâng niu trân trọng của ông. nàng thực sự là một người mẹ hiền.Nhân vật chính của tác phẩm là Vũ Nương đã để lại trong lòng người đọc niềm cảm thương sâu sắc.nết na tên là Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương.trâm gãy.đức hạnh của nàng là đức hạnh của một người vợ hiền.nghe lời con trẻ đinh ninh là vợ hư.dù Trương Sinh con nhà hào phú tính vốn đa nghi.Vũ Nương là người phụ nữ bình dân vốn con kẻ khó có một khát khao bao trùm cả cuộc đời-Đó là thú vui nghi gia nghi thất.chăm sóc thuốc thang tận tình khi mẹ chồng đau yếu.tận tuỵ và chung tình đó đáng ra phải được đền bù xứng đáng bằng một gia đình êm ấm.tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng .một người yêu mến cuộc sống gia đình và làm mọi việc để giữ gìn.Trong suốt ba năm chồng đi chinh chiến.Dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ.Phải nói rằng Nguyễn Dữ không có ý định cho Vũ Nương mang đức tính của một phụ nữ yêu nước hay một mỹ nhân nơi gác tía lầu son .Nhưng tai ác thay .một ngày kia chồng nàng đi chinh chiến trở về.Trong những ngày đoàn viên ít ỏi.ma chay tế lễ chu tất khi mẹ chồng qua đời.phẩm hạnh của nàng.Khi tiễn chồng đi lính.Vũ Nương được mọi người yêu mến bằng tính tình.mong ước lớn nhất của nàng không phải là công danh phú quí mà là khao khát ngày chồng về “mang theo hai chữ bình yên thế là đủ rồi”.người thiếu phụ trẻ trung xinh đẹp đó một lòng một dạ chờ chồng.Nguyễn Dữ đã đặt những lời ca ngợi đẹp đẽ nhất về Vũ Nương vào miệng của chính mẹ chồng nàng khiến nó trở nên vô cùng ý nghĩa “sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức .đánh đập và đuổi nàng đi bất chấp sự can ngăn của xóm giềng và lời than rớm máu của người vợ trẻ.Không có cơ hội để thanh minh.mắng nhiếc. đối với vợ thường phòng ngừa quá sức nhưng nàng khéo léo cư xử.mây tạnh.giống dòng tươi tốt con cháu đông đàn.dâu thảo.ngợi ca của tác giả đối với con người đặc biệt là người phụ nữ.nuôi con:“cách biệt ba năm giữ gìn một tiết.dâu thảo.ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”.trái tim tan nát.Người thiếu phụ tận tuỵ . Người phụ nữ dịu dàng .xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.Những ngày chồng đi xa. giữ gìn khuân phép nên gia đình không khi nào phải thất hoà.vun vén cho hạnh phúc.“Chuyện người con gái Nam Xương” được rút trong tập những câu chuyện kỳ lạ đó .Toàn bộ câu chuyện xoay quanh cuộc đời và số phận bi thảm của người con gái xinh đẹp.trân trọng. Tác phẩm là tiếng nói đồng cảm.liễu tàn trước .mưa tan. phúc lộc đề huề.hiếu nghiã ấy còn là một người vợ thuỷ chung đối với chồng .Vũ Nương là con người của gia đình.Nàng mang đầy đủ vẻ đẹp của một người phụ nữ lý tưởng “tính đã thuỳ mỵ nết na lại thêm có tư dung tốt đẹp ”.hiếu nghĩa .Trong văn học Việt Nam đã có không ít tác phẩm mang tên gọi truyền kỳ hoặc có tính chất truyền kỳ song được tôn vinh là “ thiên cổ kỳ bút” thì cho đến nay chỉ có một “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ .sen rũ trong ao.Càng đi sâu vào câu chuyện ta càng thấy vẻ đẹp của nàng được tác giả tập trung thể hiện rõ nét.tuyệt vọng bởi “bình rơi.

đẹp nết đó phải tìm đến cái chết bi thảm?Đó chính là do chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã làm cho gia đình phải li tán. hiếu nghĩa.vào đất xin làm cỏ Ngu Mĩ…” Với nàng . căm ghét xã hội phong kiến bất lương.thiếp nếu đoan trang giữ tiết.người thiếu phụ đau khổ nguyền rằng:“Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu chồng con rẫy bỏ.. trân trọng xã hội tốt đẹp mà em đang sống hôm nay.xuống nước xin làm ngọc Mỵ Nương.xinh đẹp .trinh bạch gìn lòng. bồi hồi.cái chết là hành động quyết liệt cuối cùng cần phải có để bảo toàn danh dự .thần sông có linh xin ngài chứng giám..Đến bến Hoàng Giang. Đó còn là lễ giáo phong kiến hà khắc với tư tưởng nam quyền độc đoán đã biến Trương Sinh thành một bạo chúa gia đình… Để ngàn đời trên bến Hoàng Giang. Bài làm Mỗi khi nhắc về mẹ.gió ”.Có lẽ vì thế mà em càng yêu mến.xót thương của tác giả đối với người thiếu phụ chung tình mà bạc mệnh! Thương nàng ông sáng tạo ra một thế giới thần tiên êm đềm trong chốn làng mây cung nước để Vũ Nương được sống như một nàng tiên .lời văn thống thiết như cực tả nỗi niềm đồng cảm. vất vả. Khi viết về người mẹ Chế Lan Viên đã viết : “Con zù lớn vẫn là con của mẹ Đy hết đời lòng mẹ vẫn theo con” (Con cò – Chế Lan Viên) Nguyễn Duy cũng đã viết : “Ta đy trọn kiếp con người Cũng không đy hết mấy lời mẹ ru” ( Nỗi buồn nhớ mẹ ta xưa – Nguyễn Duy) Em hãy nêu suy nghĩ về tình mẹ. Vì vậy mà khi viết về mẹ Chế Lan Viên có câu : . Bởi mẹ chính là người đã chăm sóc.Nhịp văn dồn dập . nuôi nấng ta khôn lớn từng ngày vượt qua bao gian lao. chung tình mà bạc mệnh ! Câu chuyện về nàng Vũ Nương khép lại nhưng dư âm về sự bất bình. thử thách của cuộc đời. Suy nghĩ về tình mẹ qua 2 đoạn thơ .Phải chăng đó cũng chính là dụng ý của tác giả:người tốt sẽ được được đền bù xứng đáng.điều đâu bay buộc tiếng chịu nhuốc nhơ. ở hiền ắt sẽ gặp lành? Điều gì đã khiến người phụ nữ đẹp người. vượt qua tất cả những khó khăn. vô nhân đạo thì còn mãi. khắc khoải niềm thương và nỗi ám ảnh dai dẳng về một người thiếu phụ trẻ trung. chắc hẳn trong lòng mỗi con người chúng ta ko ai là ko khỏi xao xuyến.

mẹ lận đận sớm hôm để lo cho cuộc sống con đc trọn vẹn. Mẹ nuôi nấng. lăn. trìu mến. tận tụy ấy ko thể kể hết đc bằng lời. Mẹ yêu con hơn cả bản thân mình.Ta-go đã viết “ Con sẽ là sóng và mẹ sẽ là bến bờ kì lạ. Như R. mẹ chính là bến bờ vô tận luôn mở rộng lòng để con sà vào đó.p. niếm trải bao cay đắng. mẹ long đong sớm chiều vì công việc để lo cho con đủ miếng cơm. sự yêu thương của mẹ đều được gửi gắn vào những lời ru thiết tha ấy. che chở. suốt cuộc đời mẹ sẽ luôn ở bên con. Con có “đy trọn cả kiếp người” . Công ơn của mẹ ko j` có thể sánh bằng. lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào long mẹ. Niềm mong ước. “Mẹ ơi” hai từ thiết tha ấy luôn đc chúng thốt lên mỗi khj vui hay buồn. manh áo…sự vất vả. một thứ tình cảm đẹp đến mãnh liệt. Tình mẹ thiêng liêng và bất diệt như vậy đó. Những con người đó liệu có còn lương tâm hay ko khi họ đối xử như vậy với chính ruột thịt của mình. lời ru của mẹ là những giai điệu êm dịu. Hãy để ý những đứa trẻ bé bỏng còn phụ thuộc nhiều vào mẹ ta sẽ thấy đy đâu chúng cũng chỉ theo mẹ. bảo vệ cho con. chăm bẵm ta từ khi ta mới chạp chững những bước đầu tiên cho đến khi ta bước những bước đy vững chắc trên con đường đời. vấn đề đang được xã hội lên án gay gắt. Và ko ai biết mẹ con ta ở chốn nào”. con là do mẹ sjnh ra. con lăn. đối xử tệ bạc với cha mẹ. bất hiếu. sẵn sàng hy sinh tất cả cho kon đc h. Đâu có khác nào tự lấy dao cứa vào da thịt mình ? Mẹ là thân cò lặn lội qua bao sóng gió. đối với chúng mẹ là tất cả. sợ hãi hay vui mừng chúng cũng chỉ gọi mẹ. khó khăn để cho kon khôn lớn nên người. Cho zù con có khôn lớn nhường nào. đẹp đẽ nhất của đời người. làm những điều mà ko ai có thể ngờ tới. thay đổi ra sao thỳ con vẫn là con của mẹ. ngọt bùi thỳ “cũng không đy hết đc những lời ru của mẹ”. luôn có một sợi dây vô hình nối . Để “Con zù lớn vẫn là con của mẹ” và “Đy hết đời lòng mẹ vẫn theo con”. Mẹ theo từng bước chân ta từ khi còn bé cho tới lúc trưởng thành.“Con zù lớn vẫn là con của mẹ Đy hết đời lòng mẹ vẫn theo con” Hay như Nguyễn Duy đã viết : “Ta đy trọn kiếp con người Cũng không đy hết mấy lời mẹ ru” Tình mẹ cao cả và bao la. mẹ thức trắng đêm trông nom khi con ốm. Vậy mà trong xã hội hiện nay. Mẹ hi sinh tất cả để giành cho con những gì tốt đẹp nhất. Mẹ như biển cả ôm lấy những ngọn sóng bé bỏng là con. một số người con ko hiểu đc điều ấy. Mẹ và con có một sự liên kết mật thiết.

con còn bế trên tay . Tình mẫu tử ấp áp.. thiêng liêng và bất diệt sẽ theo ta đến suốt cuộc đời. tình mẹ. Con người chúng ta ai cũng đều có rất nhiều thứ tình cảm đẹp như tình bạn. sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân. hãy làm sao cho xứng với những j` mẹ đã làm cho ta. còn với mỗi chúng ta thỳ long hiếu thảo luôn là những tác phẩm đẹp đẽ. một thứ tình cảm bất diệt.. cao cả qua bài thơ "Con cò". thấm đẫm tình thương của mẹ.. như là lời mẹ muốn kể cho con nghe về hình ảnh con cò bằng chất giọng mượt mà. Đặc biệt là hình ảnh người mẹ. Bỏi con người ta có thể gạt bỏ những tình cảm kja bởi một lý do nào đó nhưng đối với tình mẫu tử thỳ cho zù có bất cứ lý do j` đy chăng nữa. Các nhà văn giành hết tình cảm của mình vào các tác phẩm để tặng mẹ . "con vạc". hình ảnh con cò đã được chế lan viên sử dụng làm hình tượng bao trùm lên toàn bài thơ mà đâu đó thấp thoáng có hình ảnh của mẹ. êm ái. cảm ơn mẹ đã sinh ra ta. ở các câu bốn và câu tám chữ. đồng chí… nhưng ko có thứ tình cảm nào có thể vượt qua đc sự thiêng liêng và ấm áp của tình mẫu tử.. có hình . Làm sao có thể gạt bỏ một thứ tình cảm gắn chặt với cuộc đời ta kể từ khj ta bắt đầu làm quen với cuộc đời. Bay từ cửa phủ. và sợi dây vô tình ấy chính là tình yêu thương mẹ giành cho con sẽ bên con đến suốt cuộc đời. đừng để mẹ phải buồn long. bay về đồng đăng. Câu ca dao khá quen thuộc với người Việt Nam.một trong những bài thơ tiêu biểu và nổi tiếng của ông. tình đồng đội. con nào biết đến "con cò"..chặt con với mẹ từ khj con được sinh ra. cho ta đc niếm trải hương vị của cuộc đời. êm ái.. sóng gió của cuộc đời. hình ảnh con cò cũng được mươn để ví cho hình ảnh những người phụ nữ. Phật tổ có câu: “ Nếu ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc Đừng để vương buồn lên mắt mẹ nghe không !” Những ai còn mẹ. những dòng thơ thật nhẹ nhàng. Hãy luôn gìn giữ nó bởi nó chính là nguồn động lực lớn nhất giúp ta vượt qua những khó khăn. con nào biết đến "những cành mềm mẹ hát" nhưng mẹ đã mang cánh cò đến với con trong những lời ru ấm êm của mẹ. khi con còn nằm trong vòng tay của mẹ. đẹp đẽ. còn đc mẹ yêu thương che trở thỳ hãy hiếu thảo với mẹ. nhà thơ trữ tình Chế Lan Viênđã sử dụng hình ảnh cánh có trong những câu ca dao để ca ngợi tình mẹ thiêng liêng. còn đc ở bên mẹ. cũng có lẽ vì thế mà năm 1962.. dịu dàng. quý giá và sâu sắc nhất mà chúng ta có thể tạo ra để tặng cho mẹ của mình. người con cũng ko thể gạt bỏ đc. điệp ngữ "con cò" được nhắc đi nhắc lại như là lời ru ngân nga. Hãy cảm ơn vì điều đó.

gian khổ. nuôi con lớn khôn cả về thể xác lẫn tâm hồn: “Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ” . mỗi lần con vấp ngã. của người phụ nữ một đời vất vả với cuộc sống miêu sinh đầy khó khăn. dòng sữa trắng trong ngọt ngào của mẹ đưa con vào giấc ngủ say nồng. mẹ luôn muốn con yên tâm chìm vào giấc ngủ. cho dù khi con còn tấm bé cho đến lúc trưởng thành. ngàn khe nhưng có bao giờ con hiểu hết lòng của mẹ: . Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con. Cánh cò trong những lời ru lại mang những suy nghĩ triết lý sâu sắc. mẹ là người cho con sự sống.ảnh của một người một đời tần tảo sớm khuya nuôi con khôn lớn. con có đi hết trăm núi.và cánh cò ở đây lại là khát vọng sáng tạo. mẹ vẫn luôn dõi theo những bước đi của con trên đường đời. nhưng dù con có khôn lớn. sẽ là động lực để con đứng dậy và tiếp tục bước đi trên chính đôi chân của mình. mẹ sẽ luôn ở bên con. sẽ cùng nhau sánh bước trên đường đời tương lai. cò "xa tổ". Con và cò là bạn và cũng là con của mẹ. đất nước và rồi con sẽ hiểu được tình yêu mà mẹ dành cho con bao la. Một sự nhân hoá ở cánh cò để diễn tả cho sự chăm chút. mẹ muốn con hãy ngủ ngon để luôn nhìn thấy cánh cò bay lượn không biết mỏi vì đã có mẹ mãi ở bên vỗ về. ý chí vươn lên. Và mẹ lại vỗ về và chắp cánh cho những ước mơ của con trong câu hát ru ấy và trong cả những suy nghĩ của con. cò "sợ xáo măng" gợi lên cho ta biết bao hình ảnh. ……… trước hiên nhà và trong hơi mát câu văn. thế nhưng mẹ vẫn luôn muốn hát cho con nghe về tình yêu quê hương. ân cần của mẹ đối với con. che chở: "Sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân". con sẽ lớn lên và đi trên con đường của chính mình. Con sẽ không ở bên mẹ nữa nhưng con biết có 1 chân lý cuộc đời không bao giờ thay đổi: dù ở gần con dù ở xa con ……. vô tận đến nhường nào. trong lời ru của mẹ không chỉ mang đến cho con những cánh cò mà nó còn mang đến cho con hơi xuân ấm áp. ôi! tình mẹ bao la biết mấy. ngủ yên! ngủ yên! ngủ yên cho cò trắng đến làm quen ……. Mai khôn lớn con theo cò đi học ……. mẹ luôn mong con được hưởng trọn tình yêu thương của tuổi ấu thơ. mẹ nâng niu con trong từng câu hát và cũng là ấp iu nâng giấc con thơ. hình ảnh con cò "ăn đêm". hình ảnh cò lẻ loi một mình kiếm ăn trong đêm tối nhưng phải chăng đó cũng lả hình ảnh của mẹ.. cánh của cò hai đứa đắp chung đôi. cò "sợ gặp cành mềm".

là lúc mẹ gửi gắm trong cánh cò cả cuộc đời mẹ. kết tụ sự hi sinh. vậy mà mẹ luôn vì con. tình mẹ thật thiêng liêng. hình ảnh những con cò thật giản dị nhưng nhờ sự khéo léo của mình. Khi cất lên những lời hát ru. người phụ nữ việt nam . . tất cả những gì mẹ mang đến cho con đều là những tình thương sâu thẳm tận đấy lòng của mẹ. Cho dù con đã trưởng thành. ta đã cảm động biết bao.con đi trăm núi ngàn khe chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm.một hình tượng bất tử. nhưng bất chợt lại cảm thấy hối hận biết bao. rồi có những ngày con đau ốm. hối hận vì những lần đã hiểu lầm mẹ. ai đã hiểu cho tình thương của mẹ. mẹ lại khóc. và hình ảnh cò đã dần đi vào tầm thức của tuổi thơ con. tội nghiệp. đã từng nếm trải nhiều lẽ của cuộc đời thì bao giờ con cũng là con của mẹ và mẹ luôn mong muốn che chở. m ẹ đã hoá thân thành cánh cò mang nhiều ý nghĩa sâu xa. ai đã biết. lại một lần nữa ta đã hiểu được sự chịu đựng của mẹ như thế nào. vì con mà đã nhiều đêm mẹ khóc thầm không ngủ. nó sẽ theo con suốt cuộc đời bởi vì đâu đó trong hình ảnh cánh cò kia đó là hình ảnh của người mẹ con kính yêu thế đấy. chế lan viên đã mượn hình ảnh ấy ví cho hình tượng của người mẹ. vì con mà mẹ phải chịu đựng tất cả. thế nhưng. mẹ luôn là người có tấm lòng bao dung và độ lượng nhất. gian khổ để những lời yêu thương càng thêm sâu sắc. tất cả. À ơi! một con cò thôi ……. mẹ khóc vì thương cho đứa con bé bỏng. trong mỗi chúng ta cũng đã không ít lần hiểu lầm mẹ. đến hát quanh nôi. hình ảnh mẹ luôn đẹp nhất và rực rỡ trong lòng chúng con. mẹ luôn muốn nhận những gì đau khổ và vất vả nhất về mình vì con. lời ru là một khúc hát yêu thương mà mẹ dành cho con. mẹ luôn tha thứ cho những lỗi lầm của con để mong con có thể vững bước trên đường đời. bao dung con như khi con còn thơ bé. cao đẹp. nhưng chúng ta ai nào có biết tâm trạng mẹ lúc ấy. có những cay đắng lẫn ngọt bùi. Hai tiếng “à ơi” quen thuộc trong những lời ru được cất lên thật mượt mà. mẹ luôn mong người bị ốm hôm nay không phải là con mà chính là mẹ. chỉ là một con cò trong lời mẹ hát thôi thế nhưng có biết bao điều vừa gần gũi vừa sâu xa. một triết lý của cuộc sống nhưng sao vẫn rất nhẹ nhàng. mẹ luôn túc trực suốt đêm không chợp mắt. mặc dù CLV không nhắc đến những nếm trải của cuộc đời mẹ song những câu thơ của ông cho ta hiểu thêm rằng trong cánh cò kia chất chứa những nỗi nông sâu của cuộc đời mẹ. không chỉ có thế. trước tình mẹ bao la vô tận đến thế. thật ra. ai nào có biết mẹ đã khóc nhiều như thế.

người đọc vẫn lây lan cảm giác của cậu bé sớm phải chịu thiếu thốn tình cảm. để rồi chợt nhận ra: tình mẫu tử là nguồn sức mạnh thiêng liêng và diệu kỳ. bao giờ mẹ cũng là người tốt nhất. Kỳ diệu thay. Tình cảm của đứa con đã giúp bé vượt qua những thành kiến mà người cô đã gieo rắc vào lòng cậu “Vì tôi biết rõ. Sức chịu đựng của một cậu bé cũng có chừng mực. nhắc đến mẹ tôi. luôn luôn “tươi cười” – khiến hình dung đến loại người “bề ngoài thơn thớt nói cười – mà trong nham hiểm giết người không dao”.cậu bé sinh ra trong một gia đình bất hạnh: người cha nghiện ngập rồi chết mòn. Hồi ký “Những ngày thơ ấu” là kỷ niệm xót xa của cậu bé Hồng. phải bỏ con cái đi tha phương cầu thực. người ta nhớ ngay một giọng văn như trút cả bao xúc động đắng đót vào trong những câu chuyện của ông. Sự tra tấn tinh thần thật ghê gớm. có thể nói cậu bé ấy vẫn còn may mắn hơn bao đứa trẻ lang thang vì còn có một mái nhà và những người ruột thịt để nương tựa sau khi cha mất và mẹ bỏ đi. Tấm lòng trẻ thơ ấy thật đáng quí. Cho đến tận bây giờ. tình mẹ con là mối dây bền chặt không gì chia cắt được. sự tàn nhẫn ấy lại dành cho đứa cháu ruột vô tội của mình. cậu bé Hồng đã phải sống trong cảnh hắt hủi ghẻ lạnh đến cay nghiệt của chính những người trong họ hàng. một người đàn bà đã bị cái tội là goá chồng. Nhưng liệu có thể gọi là gia đình không khi chính những người thân – mà đại diện là bà cô ruột lại đóng vai trò người giám hộ cay nghiệt. Những diễn biến tâm trạng của bé Hồng trong câu chuyện đã được thuật lại bằng tất cả nỗi niềm đau thắt vì những ký ức hãi hùng kinh khiếp của tuổi thơ. nếu chỉ nhìn vào bề ngoài cuộc sống của cậu bé Hồng. Trước khi gặp mẹ: Nói một cách công bằng. cô chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi. Cậu bé phải đối mặt với bà cô cay nghiệt. Đối với bé Hồng. Đoạn trích Trong lòng mẹ là hồi ức đan xen cay đắng và ngọt ngào của chính nhà văn . những trang viết ấy lại giúp chúng ta hiểu ra một điều thật tự nhiên giản dị: Mẹ là người chỉ có một trên đời. Nhưng đời nào lòng thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến…” Nhưng ta cũng nhận ra những vết thương lòng đau nhói mà bé Hồng đã sớm phải gánh chịu. Đáng sợ hơn. nợ nần cùng túng quá. Ta chứng kiến và cảm thương cho từng khoảnh khắc đớn đau. là nguồn an ủi và chở che giúp cho đứa trẻ có thể vượt lên bao đắng cay tủi nhục và bất hạnh. người mẹ cùng túng phải đi tha phương cầu thực. cậu đã trở thành tấm bia hứng chịu thay . mang theo cái dư vị đắng chát của tuổi thơ khát khao tình mẹ. khi đọc lại những trang viết này. chết rục bên bàn đèn thuốc phiện.sưu tầm TLV số 6 suy nghĩ của em về tình mẫu tử trong "trong lòng mẹ" của Nguyên Hồng Nói đến Nguyên Hồng. đẹp nhất.

Hình ảnh mẹ qua những trang viết của nhà văn thật tươi tắn sinh động. Từ nhận thức non nớt. để người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm. là nguồn an ủi và . để sinh nở một cách giấu giếm… Tôi cười dài trong tiếng khóc”. bảo bọc. mang theo cái dư vị đắng chát của tuổi thơ khát khao tình mẹ. mới thấy mẹ có một êm dịu vô cùng”. Có lẽ không cần phải bình luận thêm nhiều __________________ suy nghĩ của em về tình mẫu tử trong "trong lòng mẹ" của Nguyên Hồng Nói đến Nguyên Hồng. để đền đáp lại là cảm giác của đứa con trong lòng mẹ .cảm giác được chở che. Linh cảm và tình yêu dành cho mẹ đã không đánh lừa cậu. để cậu bé được thoả lòng mong nhớ và khát khao bé nhỏ của mình. Ta chợt ghê sợ trước loại người như bà cô – họ vẫn lẩn quất đâu đó quanh ta. cậu bé ấy cũng đã kiên quyết bảo vệ mẹ mình. thành kiến của người đời: “Tôi lại im lặng cúi đầu xuống đất: lòng tôi thắt lại. bất chấp những thành kiến ác độc: “Chỉ vì tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi. để rồi chợt nhận ra: tình mẫu tử là nguồn sức mạnh thiêng liêng và diệu kỳ. Càng thương cho cậu bé Hồng. áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ.cho mẹ những ghẻ lạnh. Cho đến tận bây giờ. liệu rằng cậu bé ấy có khi nào oán trách mẹ mình đã nhẫn tâm bỏ con không? Có lẽ không bao giờ. khi những uất ức nén nhịn có dịp bùng phát. với trò tra tấn gặm nhấm dần niềm tin con trẻ. Liệu ta có hoà chung giọt nước mắt này chăng: “Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đìa ở cằm và cổ”. Thật đẹp khi chúng ta đọc những câu văn. Dường như khoảnh khắc cười dài trong tiếng khóc kia chứa chất sự phẫn nộ và khinh bỉ không cần giấu giếm Trong thâm tâm. tràn trề cảm giác hạnh phúc:“Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ. an ủi. Mỗi khi đứng trước mẹ. Không khóc sao được. Mẹ đã trở về cùng đứa con thân yêu. có lẽ mỗi một người trong chúng ta cũng sẽ cảm nhận được tình me giống như cậu bé Hồng: “Mẹ tôi vừa kéo tay tôi. được thương yêu. Ta xúc động biết bao nhiêu trước khoảnh khắc hồi hộp lo lắng của cậu bé khi sợ mình nhận nhầm mẹ. ta lại càng căm uất sự ghẻ lạnh của người đời trước những số phận bất hạnh. khi đọc lại những trang viết này. người ta nhớ ngay một giọng văn như trút cả bao xúc động đắng đót vào trong những câu chuyện của ông. là sự diệu kỳ giúp cậu bé vượt lên nỗi cay đắng của những ngày xa mẹ. người đọc vẫn lây lan cảm giác của cậu bé sớm phải chịu thiếu thốn tình cảm. bởi lẽ niềm khao khát được gặp lại mẹ lúc nào cũng thường trực trong lòng cậu bé. khi cậu bé có được cảm giác an toàn và được chở che trong vòng tay mẹ. xoa đầu tôi hỏi thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở”. và gãi rôm ở sống lưng cho. khoé mắt tôi đã cay cay” Dù đã kìm nén hết mức nhưng những lời độc ác kia vẫn đạt được mục đích khi đã lấy được những giọt nước mắt tủi nhục của một đứa trẻ không đủ sức tự vệ . Hồi ký “Những ngày thơ ấu” là kỷ niệm xót xa của cậu bé Hồng.

chết rục bên bàn đèn thuốc phiện. Cậu bé phải đối mặt với bà cô cay nghiệt. khoé mắt tôi đã cay cay” Dù đã kìm nén hết mức nhưng những lời độc ác kia vẫn đạt được mục đích khi đã lấy được những giọt nước mắt tủi nhục của một đứa trẻ không đủ sức tự vệ . Từ nhận thức non nớt. nếu chỉ nhìn vào bề ngoài cuộc sống của cậu bé Hồng. Tấm lòng trẻ thơ ấy thật đáng quí. Những diễn biến tâm trạng của bé Hồng trong câu chuyện đã được thuật lại bằng tất cả nỗi niềm đau thắt vì những ký ức hãi hùng kinh khiếp của tuổi thơ. với trò tra tấn gặm nhấm dần niềm tin con trẻ. người mẹ cùng túng phải đi tha phương cầu thực. Ta chứng kiến và cảm thương cho từng khoảnh khắc đớn đau. Nhưng liệu có thể gọi là gia đình không khi chính những người thân – mà đại diện là bà cô ruột lại đóng vai trò người giám hộ cay nghiệt. ta lại càng căm uất sự ghẻ lạnh của người đời trước những số phận bất hạnh.cậu bé sinh ra trong một gia đình bất hạnh: người cha nghiện ngập rồi chết mòn. tình mẹ con là mối dây bền chặt không gì chia cắt được.chở che giúp cho đứa trẻ có thể vượt lên bao đắng cay tủi nhục và bất hạnh. đẹp nhất. nợ nần cùng túng quá. cậu bé ấy cũng đã kiên quyết bảo vệ mẹ mình. cô chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi. những trang viết ấy lại giúp chúng ta hiểu ra một điều thật tự nhiên giản dị: Mẹ là người chỉ có một trên đời. cậu bé Hồng đã phải sống trong cảnh hắt hủi ghẻ lạnh đến cay nghiệt của chính những người trong họ hàng. Càng thương cho cậu bé Hồng. phải bỏ con cái đi tha phương cầu thực. luôn luôn “tươi cười” – khiến hình dung đến loại người “bề ngoài thơn thớt nói cười – mà trong nham hiểm giết người không dao”. Đoạn trích Trong lòng mẹ là hồi ức đan xen cay đắng và ngọt ngào của chính nhà văn . Sự tra tấn tinh thần thật ghê gớm. Kỳ diệu thay. bao giờ mẹ cũng là người tốt nhất. Liệu ta có hoà chung giọt nước mắt này chăng: “Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đìa ở cằm và cổ”. nhắc đến mẹ tôi. Trước khi gặp mẹ: Nói một cách công bằng. Đối với bé Hồng. Nhưng đời nào lòng thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến…” Nhưng ta cũng nhận ra những vết thương lòng đau nhói mà bé Hồng đã sớm phải gánh chịu. Tình cảm của đứa con đã giúp bé vượt qua những thành kiến mà người cô đã gieo rắc vào lòng cậu “Vì tôi biết rõ. Đáng sợ hơn. một người đàn bà đã bị cái tội là goá chồng. Sức chịu đựng của một cậu bé cũng có chừng mực. cậu đã trở thành tấm bia hứng chịu thay cho mẹ những ghẻ lạnh. Ta chợt ghê sợ trước loại người như bà cô – họ vẫn lẩn quất đâu đó quanh ta. thành kiến của người đời: “Tôi lại im lặng cúi đầu xuống đất: lòng tôi thắt lại. sự tàn nhẫn ấy lại dành cho đứa cháu ruột vô tội của mình. có thể nói cậu bé ấy vẫn còn may mắn hơn bao đứa trẻ lang thang vì còn có một mái nhà và những người ruột thịt để nương tựa sau khi cha mất và mẹ bỏ đi. bất chấp những thành kiến ác độc: “Chỉ vì tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những .

liệu rằng cậu bé ấy có khi nào oán trách mẹ mình đã nhẫn tâm bỏ con không? Có lẽ không bao giờ. và gãi rôm ở sống lưng cho. tràn trề cảm giác hạnh phúc:“Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ. khi cậu bé có được cảm giác an toàn và được chở che trong vòng tay mẹ. được thương yêu. Thật đẹp khi chúng ta đọc những câu văn. xoa đầu tôi hỏi thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở”. để người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm.thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi. khi những uất ức nén nhịn có dịp bùng phát. Có lẽ không cần phải bình luận thêm nhiều "Tri thức là sức mạnh" . Mẹ đã trở về cùng đứa con thân yêu. an ủi. để sinh nở một cách giấu giếm… Tôi cười dài trong tiếng khóc”. áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ. Không khóc sao được. để đền đáp lại là cảm giác của đứa con trong lòng mẹ . Ta xúc động biết bao nhiêu trước khoảnh khắc hồi hộp lo lắng của cậu bé khi sợ mình nhận nhầm mẹ.cảm giác được chở che. để cậu bé được thoả lòng mong nhớ và khát khao bé nhỏ của mình. Dường như khoảnh khắc cười dài trong tiếng khóc kia chứa chất sự phẫn nộ và khinh bỉ không cần giấu giếm Trong thâm tâm. Mỗi khi đứng trước mẹ. bởi lẽ niềm khao khát được gặp lại mẹ lúc nào cũng thường trực trong lòng cậu bé. có lẽ mỗi một người trong chúng ta cũng sẽ cảm nhận được tình me giống như cậu bé Hồng: “Mẹ tôi vừa kéo tay tôi. Linh cảm và tình yêu dành cho mẹ đã không đánh lừa cậu. Hình ảnh mẹ qua những trang viết của nhà văn thật tươi tắn sinh động. mới thấy mẹ có một êm dịu vô cùng”. bảo bọc. là sự diệu kỳ giúp cậu bé vượt lên nỗi cay đắng của những ngày xa mẹ.