P. 1
truyen kieu

truyen kieu

|Views: 102|Likes:
Được xuất bản bởikittyandpooh

More info:

Published by: kittyandpooh on Mar 29, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

10/30/2012

pdf

text

original

Truyện Kiều là tên gọi phổ biến của tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh (chữ Hán

: 斷腸新聲) của đại thi hào Nguyễn Du. Tác phẩm này đã đưa Nguyễn Du lên hàng danh nhân văn hoá thế giới.[cần dẫn nguồn] Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, truyện được viết ra sau khi ông đi sứ nhà Thanh về và theo lời truyền thì Phạm Quý Thích đã cho khắc in vào khoảng từ năm 1820 đến năm 1825, thường được gọi là "bản Kinh". Bản khắc in đó nay không còn nữa nhưng còn lưu lại những phiên bản di dịch ít nhiều. Ngoài "bản Kinh" do Phạm Quý Thích cho khắc in, một số dị bản nữa được in sau đó ở Hà Nội do các nhà in phát hành, thường gọi là "bản Phường". Nguyên bản tác phẩm Truyện Kiều được viết bằng chữ Nôm, gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát. Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc. Hiện nay, ở Việt Nam lưu truyền một số dị bản của tác phẩm này. Bản nôm cổ nhất còn lưu giữ là bản "Liễu Văn Đường" khắc in năm Tự Đức thứ 19 (1866), mới phát hiện ở tỉnh Nghệ An Truyện Kiều là tiểu thuyết viết bằng thơ lục bát. Truyện phản ánh xã hội đương thời thông qua cuộc đời của nhân vật chính Vương Thuý Kiều. Xuyên suốt tác phẩm là chữ "tâm" theo như Nguyễn Du đã tâm niệm "Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu" (nghĩa là "Linh Sơn chỉ ở lòng người thôi"). Ngày nay, Truyện Kiều của Nguyễn Du là một trong những tác phẩm văn học Việt Nam được giới thiệu rộng rãi nhất đến với các du khách cũng như các nhà nghiên cứu nước ngoài. Theo Giáo sư Nguyễn Lộc ("Từ điển Văn học" tập II - Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1984) trang 455 viết: "Đoạn trường tân thanh là một truyện thơ Nôm viết bằng thể lục bát, dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc. Có thuyết nói Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc (1814-1820). Có thuyết nói Nguyễn Du viết trước khi đi sứ, có thể vào thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình (1804-1809). Thuyết sau này được nhiều người chấp nhận" Nội dung: 3 phần [SGK] Hàng trăm năm qua, Truyện Kiều vẫn luôn tồn tại trong đời sống của dân tộc Việt. Đây là một trong số ít các tác phẩm lớn được nhiều người dân đủ mọi tầng lớp học thuộc lòng. Đối đáp bằng những ngôn từ, lời lẽ trong truyện Kiều cũng đã trở thành một hình thức sinh hoạt văn hoá của một số cộng đồng người Việt như lẩy Kiều, trò Kiều, vịnh Kiều, tranh Kiều, bói Kiều... Ngày nay, tên một số nhân vật và địa danh trong Truyện Kiều được sử dụng trong đời sống với nghĩa tương tự: Sở Khanh: chỉ những người đàn ông phụ tình. Tú Bà: chỉ những người phụ nữ môi giới, bảo kê cho gái mại dâm. Hoạn Thư: chỉ những người phụ nữ có máu ghen thái quá. Lầu xanh: nơi chứa gái mại dâm. Giá trị hiện thực Phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội đương thời là cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỉ XIX (xã hội đồng tiền, xấu xa đồi bại và những bất công). Phản ánh thân phận thấp hèn của người phụ nữ trong xã hội, đặc biệt là nỗi khổ của nhiều phụ nữ có nhan sắc: "Hồng nhan bạc mệnh". Giá trị nhân đạo Ca ngợi phẩm chất đẹp đẽ và tài sắc của người phụ nữ. Thông cảm và đồng cảm sâu sắc trước nỗi khổ của con người,đặc biệt là với nỗi khổ của người phụ nữ dưới xã hội phong kiến Thể hiện khao khát trong tình yêu, hạnh phúc lứa đôi Ước mơ tự do công bằng trong cuộc sống. Giá trị nghệ thuật Ngôn ngữ Bài thơ viết dưới dạng văn học dân gian. Bên cạnh đó Nguyễn Du còn vận dụng linh hoạt thành công các thành ngữ , ca dao, các điển cố điển tích vào trong Truyện Kiều khiến cho bộ truyện Nôm đã trở thành một tập Đại thành ngôn ngữ của căn học dân tộc. Ngôn ngữ độc thoại được vận dụng tài tình để bộc lộ nội tâm nhân vật Ngôn ngữ đối thoại thể hiện tinh tế tính cánh và hoàn cảnh nhân vật Tả người Nhân vật chính diện: Ngòi bút ước lệ, dùng hình ảnh thiên nhiên tả người. Là nhân vật lý tưởng hóa của Nguyễn Du Nhân vật phản diện: Tả thực, là nhân vật hiện thực hóa của Nguyễn Du Tả cảnh Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình sinh động, khắc họa rõ nét nội tâm nhân vật. Truyện Kiều được Nguyễn Du chuyển dịch, sáng tạo từ cuốn tiểu thuyết “Truyện Kim Vân Kiều" của Thanh Tâm Tài Nhân, tên thật là Tử Văn Trường, quê ở huyện Sơn Am, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc.

kính trên nhường dưới. tiếng việt đã đạt đến trình độ đỉnh cao ngôn ngữ nghệ thuật bỉu đạt. truyện kiều có 2 giá trị lớn là hiện thực &nhân đạo. có nhiều lúc đã trở thành vấn đề xã hội. vì thế ta nên sử dụng ngôn ngữ sao cho phù hợp với từng hoàn cảnh. học mở. có ảnh hưởng lớn đến xã hội. lạ cái”. nghệ thuật tự sự. nó còn thể hiện lối sống có phép tắc. cha mẹ. “Học ăn. Mặt khác. Bên cạnh vấn đề học nói là học gói. đề cao kon ngừ từ vẻ đẹp hình thức. miêu tả trong tác phẩm thật đa dạng. sự lên án. sự trân trọng. Vua Minh Mạng là người đầu tiên đứng ra chủ trì mở văn đàn ngâm vịnh truyện Kiều và sai các quan ở Hàn Lâm Viện chép lại cho đời sau. về nghệ thuật. học nói. từng đối tượng. Mộng Liên Đường. có bố cục theo 3 phần truyền thống của tác phẩm cổ điển: p1:Gặp gỡ & đính ước p2: Gia biến & lưu lạc p3:Đoàn tụ. kết hợp giữa ngôn ngữ dân tộc& ngôn ngữ bác học. mà người xưa đã dạy: “Ăn trông nồi. Truyện Kiều còn được tầng lớp trên say mê đọc. luận... Còn “học ăn” là thế nào? là vấn đề thuộc phạm trù văn hoá ẩm thực. ta giao tiếp với nhiều lớp người khác nhau: công nhân. cân nhắc từng lời ăn tiếng nói. học gói. sau đến cha mẹ. đến TK. mở thế nào cho nó đẹp về hình thức. Ví dụ: Khi ta đóng một cái đinh lên tường để treo một cái ảnh. Người vợ khi mới về nhà chồng còn“lạ nước. tư cách đạo đức của con người hiểu biết hay không. cái gì muốn biết ta cũng phải học. học nói..học gói. một bài học mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. vốn hiểu biết). khách. khách khứa. khi ngồi trong mâm cơm có đầy đủ mọi người như: ông bà. có văn hoá. biết cách nói năng với bố mẹ cho lễ phép. tục uống”. Trong cuộc sống.” Dạy con phải dạy từ nhỏ. từ không biết đến biết. về nội dung. câu nói phải có chủ ngữ. lịch sự trong sinh hoạt ẩm thực. Vậy thế nào là học nói? Từ xa xưa cha ông ta đã nói: “Dạy con từ thuở còn thơ. Ăn thế nào cho có văn hoá? Nói thế nào cho lễ phép. tìm tòi sáng tạo để mang về cho mình những kiến thức cần thiết của đời sống xã hội. nhưng phần sáng tạo của ND là rất lớn. có ý nghĩa về nội dung? Đó chính là vấn đề nề nếp gia phong của gia đình.Truyện Kiều đã được nhân dân ta đón nhận một cách say sưa. trí thức.. nhà vua thường triệu tập các vị khoa bảng trong triều đến viết và vịnh Truyện Kiều ở văn đàn. nôit bật là ngôn ngữ & thể loại. Vậy thế nào là “Học”? Học là học hỏi. tiếp xúc với chồng hoặc cha mẹ chồng phải nói năng cẩn thận để khỏi mất lòng. được lòng mọi người. tác phẩm đã phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội đương thời với bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thống trị & số phận những kon ngừ bị áp bức đau khổ.. chọn miếng ngon ăn trước. từng con người cụ thể. song cũng phải học đóng cho thẳng thì ảnh treo mới cân và đẹp. anh chị. Nhân vật chính là người kon gái tài sắc Thúy Kiều. biểu cảm& thẩm mĩ. đặc biệc là số phận bi kịc của ngừ phụ nữ. ở Khu Văn Lâu. phẩm chất đến những ước mơ. Không chỉ ảnh hưởng sâu sắc trong tầng lớp thị dân. thứ bộ trưởng. Điều này làm nên giá trị của kiệt tác truyện kiều. thầy cô giáo. Học ăn là thể hiện nét văn hoá đẹp. bố mẹ uốn nắn cho con những cái sai. có nhận thức thì giải quyết vấn đề “Học ăn. ta phải ăn thế nào để mọi người khỏi chê cười là người “tham ăn. TK có những thành tựu lớn về nhìu mặt.ăn hùng hục. có tri thức (vốn sống. thể hiện mình là người có văn hoá. lịch thiệp? Gói. tố cáo những thế lực tàn bạo. Cuộc sống rất phong phú. Truyện kiều của nguyễn du là tác phẩm tiêu biểu nhất của thể loại truyện nôm trong văn học trung đại VN.. ND là kon người có trái tim giàu lòng yêu thương.”. học mở” Đây là lời răn dạy của cha mẹ đối với con cái trong gia đình. dòng tộc. tránh ăn theo kiểu thô tục . tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy". chủ nhân trong lời tựa Truyện Kiều cũng đề cao tấm lòng của ND:"nếu không có con mắt trông thấy cả 6 cõi. đó chính là nghệ thuật mang nét văn hoá... Học nói là một nghệ thuật trong giao tiếp sao cho khéo léo. Gói như thế nào cho thích mắt mọi người. tiêu biểu là cuộc tranh luận xung quanh luận đề "Chánh học và tà thuyết" giữa cụ Nghè Ngô Đức Kế và ông Phạm Quỳnh thu hút rất nhiều người của 2 phía cùng luận chiến. để tránh những điều tiếng trong cuộc sống hàng ngày. cho đẹp không phải là . ND dựa vào cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh tâm tài nhân (TQ).. chính nhà thơ đã từng viết trong Truyện Kiều: "chữ tâm kia mới= 3 chữ tài".. đó chính là kinh nghiệm sống của dân gian truyền lại cho con cháu. Muốn vậy ta phải “Học nói”. TK mang giá trị nhân đạo với những nội dung cơ bản: niềm thương cảm sâu sắc trc những đau khổ của kon ngừ. khát vọng chân chính. Đến đời Tự Đức.nghĩa là dạy cho con đạo lý làm người. từ đơn giản đến phức tạp. học mở” sẽ có hiệu quả vì nó là một vấn đề rất tế nhị của đời sống xã hội. tuy đơn giản. không để ý những người xung quanh. văn minh. dạy cho con những điều hay lẽ phải.. trên còn có ông bà. Nói một cách khác là con người phải có hiểu biết. dòng tộc. ăn lấy được. từ dễ đến khó..

ưng ý mọi người. . rèn luyện. phấn đấu. quan sát. giáo dục con người rất hay trong cuộc sống. học mở mà là ý nghĩa chung của công việc hàng ngày. muốn làm tốt. học mở tuy đơn giản song đòi hỏi con người phải học tập. có con mắt nghệ thuậtmới tạo ra được những sản phẩm đẹp. Bởi vậy học gói. làm việc theo pháp luật”. Câu nói của dân gian có tác dụng răn dạy. nhưng lại có những người rất vụng về. tu dưỡng bản thân. chu đáo. quy định ta phải tuân theo kiểu như “Sống. thành công một việc gì đều phải học hỏi. ta quen gọi là “bàn tay vàng”.chuyện dễ dàng (vấn đề thẩm mỹ). Mở rộng ra với xã hội là luật lệ. Vấn đề ở đây không phải là học gói. muốn đạt kết quả cao phải học tập. có nề nếp. phải ngăn nắp. khéo léo. cẩn thận. Đó là bài học quý báu của cha ông để lại cho chúng ta những điều hay lẽ phải. có khuôn phép trong gia đình. sắp xếp đâu ra đấy. Vì thực tế cho thấy có những người rất khéo tay.

Nàng tưởng tượng đến lúc mình đã chết. thì mới có thể thu hút sự quan tâm của người khác. kỉ vật ấy có ý nghĩa tượng trưng cho hạnh phúc của nàng. Hơn thế nữa. nói hết với em. nhớ liệt kê tất cả. tính cách. Đoạn trích Truyện Kiều này có nhan đề "Trao duyên" gồm 34 câu (từ câu 723 đến câu 756) được in trong sách giáo khoa môn Văn lớp 10.8 . Thúy Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để lấy tiền đút lót cho quan lại cứu cha và em. ai mà không đau khổ. còn gánh tương tư mà nhờ người khác giúp đỡ cũng là điều hiếm thấy xưa nay. ở đây là gửi duyên. 2. Vì vậy. Đoạn thơ không chỉ có chuyện trao duyên mà còn chất chứa bao tâm tư trĩu nặng của Thúy Kiều. nàng phải lạy em như lạy một ân nhân. địa vị. Phím đàn với mảnh hương nguyền. đặc điểm.Kết luận nhưng ý đã vừa nêu ở trên. Phải có lời giới thiệu cuốn hút. không chỉ hi sinh tình yêu mà hi sinh cả cuộc đời để cứu cha.sẽ thưa.Giới thiệu sơ qua các nhân vật trong truyện. như đọc thấu tất cả nỗi lòng nhân vật. vì tình máu mủ ai nỡ chối nhau? Vì vậy. Bởi vì không có cách nào khác là phải nhờ em. Nguyễn Du thật tài tình. đoạn nào nhất của tác phẩm văn học đó. Rõ ràng. đó cũng là lẽ thường tình.” Không phải nhờ mà là cậy. Tuy nhiên. Đây là một trong những đoạn thơ mở đầu cuộc đời lưu lạc đau khổ của Thúy Kiều. nghĩ mình không giữ trọn lời đính ước với người yêu. Thuý Kiều nhờ cậy Thuý Vân thay mình trả nghĩa. Nhan đề đoạn trích là Trao duyên nhưng trớ trêu thay đây không phải là cảnh trao duyên thơ mộng của những đôi nam nữ mà ta thường gặp trong ca dao xưa. nàng phải dốc cạn với em mới có thể thanh thản ra đi. Mở đầu đoạn thơ là 8 câu tâm sự của Thúy Kiều. các tác phẩm đã xuất bản. một bậc bề trên. Thúy Kiều không chỉ trao duyên mà còn trao cả nỗi đau của mình cho em gái.Bạn thích chương nào. Chiếc thoa với bức tờ mây. phải nói với em bằng những lời lẽ nhún nhường gần như van vỉ: Cậy em…. với người xưa. Đau xót làm sao khi buộc phải cắt đứt tình riêng của mình ra thành của chung! Biết vậy nhưng Thúy Kiều cũng đã trao cho em với tất cả tấm lòng tin cậy của tình ruột thịt. thế mà vì mình giờ đây bỗng giữa đường đứt gánh. cho dù người đó chính là em gái mình? Tình yêu đôi lứa vốn có chút ít ích kỉ bên trong.Lời giới thiệu. Có thể nói bước này là bước quan trọng. đã nhờ cậy em là Thúy Vân thay mình gắn bó với chàng Kim.Tóm tắt nội dung chính của truyện. Khi Vương Ông và Vương Quan bị bắt do có kẻ vu oan. Nàng thuyết phục em mới khéo làm sao:“Ngày xuân …thơm lây. Trong hoàn cảnh bi thương của mình. ko được quá dài dòng 2. Bước 3 . suốt từ đầu đến cuối đoạn thơ không hề thấy lời nói của Thúy Vân. Nhưng. vì nàng hiểu nỗi khó khăn.2 . nhờ người khác giúp đỡ được. chỉ có chén nước mới giải được mối oan tình. với tất cả sự thiêng liêng của tình yêu với chàng Kim. tác giả muốn đề cập tới là gì. sự tế nhị của gánh nặng này. gửi tình của mình cho người khác. Bước 2: 2. Thúy Vân vốn là cô gái vô tư. Lời tâm sự sao . mạch lạc. Gánh tương tư đâu có nhẹ nhàng gì. giới thiệu sơ qua về tác giả. Bây giờ. không còn là của riêng của nàng nữa mà đã trở thành của chung của cả ba người. bán mình cứu cha. Kiều mới phải cậy em..1 . Thúy Kiều trước phút dấn thân vào quãng đời lưu lạc. nàng phải trao cho em. nó phản ánh như thế nào.3 . những kỉ vật thiêng liêng ấy. Thúy Kiều phải giành cho mình phần hi sinh lớn hơn.Kim Trọng thường được giấu kín trong lòng ít khi người ta thổ lộ với người thứ ba. chị nhờ em giúp chị với tất cả lòng tin của chị. nói tới nội dung gì. minh chứng cho tình yêu của nàng với chàng Kim. Nỗi đau khổ vì không giữ trọn lời đính ước với chàng Kim đã buộc Thúy Kiều phải nói thật. dễ nghe. vốn là kỉ vật riêng của Thúy Kiều. tác phẩm ca ngợi. tiểu sử.Nội dung chính. Đêm cuối cùng trước ngày ra đi theo Mã Giám Sinh.Bước 1 . Thúy Kiều như người đang dốc bầu tâm sự. dễ gì trong phút chốc lại phải trao sang tay người khác. thơ ngây trong gia đình họ Vương lúc vạ gió tai bay. Kể ra. thân thế. gánh nặng vật chất thì san sẻ được. phải thưa. và giải thích vì sao? 2. kỉ niệm đẹp đẽ của một thời ào ạt trở về. Trao duyên cho em nhưng nào đã dễ trút đi gánh nặng? Bao nhiêu kỉ niệm ngày xưa của mối tình đầu. phải giãi bày tất cả. Có đọc mới hiểu được. Thúy Vân cũng phải hi sinh tình yêu của mình để giúp chị. âm dương cách biệt. 2.. Những kỉ vật thiêng liêng nàng vẫn giữ.Nhân vật bạn yêu thích.7 . Nhờ em nhưng cũng là gửi gắm vào em. quan điểm.5 . ở đây.Nhân vật này có thực hay không có thực. suy nghĩ của tác giả thông qua lời thoại của nhân vật. Bao nhiêu tin tưởng bao nhiêu thiêng liêng đặt cả vào từ cậy ấy! Cũng không phải chỉ nói mà là thưa. cho biết lí do vì sao? 2. hay chỉ là sự tưởng tượng của tác giả nhằm để hư cấu thôi 2. nhờ người khác chắp nối mối tình dang dở của mình. Khi đó. Thúy Kiều phải bộc lộ tất cả với Thúy Vân.4 .” Trên hết giữa chị với em là tình máu mủ. về mối tình của mình với chàng Kim.Phân tích về tác phẩm theo cảm nghĩ của bản thân …. kèm với lạy. mới phải lạy. Phải thiêng liêng đến mức nào mới có sự "thay bậc đổi ngôi" giữa hai chị em như thế. "Trao duyên". cứu em. oan hồn trở về lẩn quất bên chàng Kim. ca ngợi tình yêu đôi lứa hay là phản ánh bộ mặt xã hội. một mối tình thiêng liêng như Thúy Kiều . Vậy mà. lấy Kim Trọng.

nhưng: sầu đong càng lắc càng đầy là như thế! Tình duyên dẫu có cố tình dứt bỏ vẫn còn vương tơ lòng là như vậy. cày sâu tốt lúa”? Miếng giữa làng bằng sàng trong bếp. làm ăn. dù là gói hay mơ thì con người luôn cần đến sự dũng cảm trước sự thật. không dám nhận trách nhiệm. Ăn như thế nào là ăn đúng. thức ăn là quý giá. cách dùng từ phù hợp trước từng đối tượng. ăn dày. ăn chơi thậm chí là. Nhưng. ăn sương. nếu chỉ nghĩ cha ông ta chỉ lo ăn thì con cháu chúng ta đã nhầm to. không phung phí dù có dư thừa vì nhiều người còn không có . đầy mâu thuẫn và khát vọng tình yêu của Thúy Kiều.mà thương! Cuối đoạn thơ nàng tưởng như mình đang nói với người yêu. Tư tưởng nhân đạo trong đoạn trích góp phần tạo nên giá trị đặc sắc của tác phẩm.. Điều đó chẳng đáng cảm phục lắm sao? Giải thích tư tưởng nhân đạo: xót thương. vẫn không làm sao kể cho xiết muôn vàn ái ân giữa nàng với chàng. Ăn như thế nào. ăn mỏng. Phải chăng. Còn nói không phải chỉ để mà nói. Tại sao cha ông ta lại bàn nhiều đến thế cái chuyện ăn? Không có gì lạ ở một miền đất nghèo. lối sống. đã nhờ em trả nghĩa cho Kim Trọng nhưng những đau khổ vì tình duyên tan vỡ trong tâm trí nàng vẫn không nguôi.. nàng đành gửi chàng trăm nghìn lạy. vất vả cơ cực suốt đời cái sự ăn nó quan trọng và gần gũi lắm. Chỉ cần nghe nói là biết trình độ và khả năng tư duy của người ấy! Người xưa dạy phải uốn lưỡi 7 lần mới nói. tốt khoe” là một cách ứng xử mở mà không mở. Thế nhưng. thì không dám thay đổi. để cho người bao nhiêu. Nguyễn Du giúp người đọc nhìn thấu tâm trạng đau khổ của Thúy Kiều. chứng tỏ cái sự nói quan trọng đến mức nào. biết kính trên. vậy thì tâm với tầm phỏng có ích gì. để “nhai kỹ no lâu. ăn ở. Đồng cảm với nỗi đau Thúy Kiều trước bi kịch tình yêu tan vỡ. ăn bao nhiêu. vẫn còn trăm nghìn điều muốn nói với chàng. Bởi vì người ta có thể hi sinh mọi thứ vì tình yêu. trước nạn tham nhũng. ăn nên làm ra... Ở đó là cách sống. nó liên quan đến vị thế cái tôi với tư cách là một con người xã hội. đa chiều và. trừ những câu đầu tâm sự với Thúy Vân. ăn trộm. Gói là cách hiểu đúng về nghĩa của cụm từ “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. nặng nề để mắng mỏ người khác + Học gói: Phải biết gói ghém cho vừa đủ. bao thế hệ! Đoạn thơ. + Học nói: Nói chuyện phải ôn hòa. Càng hiểu nàng bao nhiêu. Gói có thể là cách “hành xử theo đúng cương vị”. Vẫn còn mang nặng nợ tình với Kim Trọng. Cũng có thể là “áo rách khéo vá hơn lành vụng may”. không dùng lời thô tục. nàng xót xa cho duyên phận của mình tơ duyên ngắn ngủi. vì mỗi câu nói đều phản ánh chính xác của tư duy. mới càng thấm thía hơn cái nghĩa sắc như dao cau của minh triết tự ngàn xưa. “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.. đều liên quan đến chuyện xấu xa. tất cả đều phải học. khối lượng từ phong phú hay nghèo nàn.Đặc biệt thấu hiểu tâm trạng phức tạp. trân trọng phẩm chất. Nàng gọi Kim Trọng là tình quân. ăn nằm. Gói và mơ là hai từ bí ẩn và đa nghĩa nhất. Thúy Kiều vẫn phải thốt lên đau đớn: “Ôi Kim Lang…. ăn cướp. còn thực chất là đoạn độc thoại nội tâm của Thúy Kiều. trao duyên cho Thúy Vân. đồng cảm với nỗi khổ. Nói theo cấp độ âm thanh nào cho một cử tọa bao nhiêu người. ăn chắc mặc bền. hầu như trong đa số các trường hợp.. Thật đau khổ biết bao: trao duyên rồi. Nỗi lòng vẫn ngổn ngang tâm sự. Bây giờ.. mặc dù Kiều đã giãi bày hết nỗi khổ tâm riêng của mình với em. Cuối đoạn thơ. vẫn biết mình phận bạc. khó gì thì khó. vừa đủ. nói bừa nói ẩu. Không có dũng. Trong kho tàng tục ngữ ca dao dân ca rất nhiều câu bàn đến việc ăn. còn nàng thì lại hi sinh tình yêu vì chữ hiếu. Tất nhiên. một lần nữa Nguyễn Du đã thể hiện đúng quy luật tâm lí của con người: cái gì đong mà lắc thì vơi.từ đây!” Phải chăng đây là tiếng thơ kêu xé lòng mà sau này nhà thơ Tố Hữu đã nói thay bao người. nhường dưới. không giữ được trọn lời thề nguyền với chàng. thưa gửi lễ phép. trân trọng vẻ đẹp nhân phẩm của Thúy Kiều. ăn tiền. không phung phí nữa ăn nữa bỏ. “Xấu che. ăn không phải xấu hổ. ta càng thương nàng bấy nhiêu.Đầu TK 19 nói riêng và VHVN nói chung. đã nhờ em trả nghĩa cho chàng Kim rồi mà nỗi buồn thương vẫn chất chứa trong lòng nàng Kiều. làm phong phú thêm nội dung nhân đạo của VHVN cuối TK 18. + Học ăn: Phải biết ăn uống đúng mực. văn hoá. Chẳng hạn tâm và tầm là chưa đủ. cảm phục nàng bấy nhiêu. quả là điều khó vô cùng. không làm chủ được từ ăn tức là đã sai lầm về mặt đạo đức. Với nghệ thuật thể hiện tài tình. Cái chuyện ăn nó đa nghĩa. ăn nói. Mở so sánh với gói còn cao hơn một bậc. nâng niu khát vọng và lên án tố cáo những thế lực chà đạp con người. nàng tự coi mình là người phụ bạc.. và nó trở thành nguyên tắc suốt cả đời người.

cái gì đáng tha thứ nên tha thứ. + Học mở: Phải biết mở rộng tấm lòng với mọi người chung quanh.không có mặc.ăn. .

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->