KHÁI NIỆM Phú dưỡng hóa xuất phát từ Hy lạp có nghĩa là “thừa dinh dưỡng”, dùng để mô tả hiện tượng

các ao hồ, hồ chứa nước có bùng nổ và phát triển rong tảo, cuối cùng có thể dẫn đến suy giảm nghiêm trọng chất lượng môi trừơng nước. Hiện tượng phú dưỡng là hiện tượng đáng quan tâm nhất là đối với ao hồ, trong môi trường nước, làm cho rong tảo phát triển mạnh tạo nên ô nhiễm nguồn nước. NGUYÊN NHÂN Các chất oxít Nitơ (NO, N2O, NO5… viết tắt là NOx) xuất hiện trong khí quyển qua quá trình đốt nhiên liệu ở nhiệt độ cao. Trong khí quyển các oxit nitơ sẽ chuyển hóa thành nitrat rồi theo nước mưa xuống đất. Nitrat nằm trên mặt đất theo nước mưa xuống đất và theo nước mưa chảy tràn hay vào cống thóat nước để vào môi trường nước. Các chất tẩy rửa dùng trong sinh hoạt là nguồn cung cấp phospho chính cho nước thải. Hai chất nitơ và phospho thường là nguyên nhân chính trong việc gây ra hiện tượng phú dưỡng làm bùng nổ sự phát triển thực vật. Phospho là 1 trong những nguồn dinh dưỡng cung cấp cho các thực vật dưới nước, gây ô nhiễm và góp phần thúc đẩy hiện tượng phú dưỡng ở các ao hồ làm rong tảo phát triển.Nước giàu chất dinh dưỡng là cho thực vật quang hợp và phát triển mạnh, sinh ra 1 lượng sinh khối lớn. Khi chúng chết đi thì tích tụ lại ở đáy hồ, phân hủy từng phần tiếp tục giải phóng các chất dinh dưỡng như CO2, phospho, nitơ, calci. Nếu hồ không sâu lắm, loài thực vật có rễ ở đáy bắt đầu phát triển làm tăng quá trình tích tụ các chất rắn, sau cùng đầm lầy được hình thành và phát triển thành rừng.

Sự phú dưỡng là gì? Phú dưỡng là hiện tượng thường gặp trong các hồ đô thị, các sông và kênh dẫn nước thải. Biểu hiện phú dưỡng của các hồ đô thị là nồng độ chất dinh dưỡng N, P cao, tỷ lệ P/N cao do sự tích luỹ tương đối P so với N, sự yếm khí và môi trường khử của lớp nước đáy thuỷ vực, sự phát triển mạnh mẽ của tảo và nở hoa tảo, sự kém đa dạng của các sinh vật nước, đặc biệt là cá, nước có màu xanh đen hoặc đen, có mùi khai thối do thoát khí H2S v.v... Nguyên nhân gây phú dưỡng là sự thâm nhập một lượng lớn N, P từ nước thải sinh hoạt của các khu dân cư, sự đóng kín và thiếu đầu ra của môi trường hồ. Sự phú dưỡng nước hồ đô thị và các sông kênh dẫn nước thải gần các thành phố lớn đã trở thành hiện tượng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới. Hiện tượng phú dưỡng hồ đô thị và kênh thoát nước thải tác động tiêu cực tới hoạt động văn hoá của dân cư đô thị, làm biến đổi hệ sinh thái nước hồ, tăng thêm mức độ ô nhiễm không khí của đô thị. Nước bị ô nhiễm kim loại nặng như thế nào? Kim loại nặng có Hg, Cd, Pb, As, Sb, Cr, Cu, Zn, Mn, v.v... thường không tham gia hoặc ít tham gia vào quá trình sinh hoá của các thể sinh vật và thường tích luỹ trong cơ thể chúng. Vì vậy, chúng là các nguyên tố độc hại với sinh vật. Hiện tượng nước bị ô nhiễm kim loại nặng thường gặp trong các lưu vực nước gần các khu công nghiệp, các thành phố lớn và khu vực khai thác khoáng sản. Ô nhiễm kim loại nặng biểu hiện ở nồng độ cao của các kim loại nặng trong nước. Trong một số trường hợp, xuất hiện hiện tượng chết hàng loạt cá và thuỷ sinh vật.

Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm kim loại nặng là quá trình đổ vào môi trường nước nước thải công nghiệp và nước thải độc hại không xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu. Ô nhiễm nước bởi kim loại nặng có tác động tiêu cực tới môi trường sống của sinh vật và con người. Kim loại nặng tích luỹ theo chuỗi thức ăn thâm nhập và cơ thể người. Nước mặt bị ô nhiễm sẽ lan truyền các chất ô nhiễm vào nước ngầm, vào đất và các thành phần môi trường liên quan khác. Để hạn chế ô nhiễm nước, cần phải tăng cường biện pháp xử lý nước thải công nghiệp, quản lý tốt vật nuôi trong môi trường có nguy cơ bị ô nhiễm như nuôi cá, trồng rau bằng nguồn nước thải. Về đầu trang Nước bị ô nhiễm vi sinh vật như thế nào? Sinh vật có mặt trong môi trường nước ở nhiều dạng khác nhau. Bên cạnh các sinh vật có ích có nhiều nhóm sinh vật gây bệnh hoặc truyền bệnh cho người và sinh vật. Trong số này, đáng chú ý là các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn và ký sinh trùng gây bệnh như các loại ký sinh trùng bệnh tả, lỵ, thương hàn, sốt rét, siêu vi khuẩn viêm gan B, siêu vi khuẩn viêm não Nhật bản, giun đỏ, trứng giun v.v... Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ yếu là phân rác, nước thải sinh hoạt, xác chết sinh vật, nước thải các bệnh viện v.v... Để đánh giá chất lượng nước dưới góc độ ô nhiễm tác nhân sinh học, người ta thường dùng chỉ số coliform. Đây là chỉ số phản ánh số lượng trong nước vi khuẩn coliform, thường không gây bệnh cho người và sinh vật, nhưng biểu hiện sự ô nhiễm nước bởi các tác nhân sinh học. Để xác định chỉ số coliform người ta nuôi cấy mẫu trong các dung dịch đặc biệt và đếm số lượng chúng sau một thời gian nhất định. Ô nhiễm nước được xác định theo các giá trị tiêu chuẩn môi trường. Hiện tượng trên thường gặp ở các nước đang phát triển và chậm phát triển trên thế giới. Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 1992, nước bị ô nhiễm gây ra bệnh tiêu chảy làm chết 3 triệu người và 900 triệu người mắc bệnh mỗi năm. Đã có năm số người bị mắc bệnh trên thế giới rất lớn như bệnh giun đũa 900 triệu người, bệnh sán máng 600 triệu người. Để hạn chế tác động tiêu cực của ô nhiễm vi sinh vật nguồn nước mặt, cần nghiên cứu các biện pháp xử lý nước thải, cải thiện tình trạng vệ sinh môi trường sống của dân cư, tổ chức tốt hoạt động y tế và dịch vụ cộng. Nước bị ô nhiễm bởi thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hoá học như thế nào? Ô nhiễm nguồn nước bởi thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hoá học là hiện tượng phổ biến trong các vùng nông nghiệp thâm canh trên thế giới. Trong quá trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hoá học, một lượng đáng kể thuốc và phân không được cây trồng tiếp nhận. Chúng sẽ lan truyền và và tích lũy trong đất, nước và các sản phẩm nông nghiệp dưới dạng dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Tác động tiêu cực khác của sự ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật và phân bón là làm suy thoái chất lượng môi trường khu vực canh tác nông nghiệp như phú dưỡng đất, nước, ô

làm bùng phát các loại thực vật nước (như rong.). trong các khe nứt. MỞ ĐẦU Ao hồ là tài sản vô cùng quý giá của các thành phố trên thế giới. làm ô nhiễm môi trường. và đồng thời cũng là nơi chứa và làm sạch nước thải. Phú dưỡng (eutrophication) là một dạng suy giảm chất lượng nước thường xảy ra ở các hồ chứa. với hiện tượng nồng độ các chất dinh dưỡng N.. mất cân bằng sinh thái. Hơn nữa. có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người". Theo độ sâu phân bố. Khoảng cách giữa vùng thu nhận và vùng khai thác nước thường khá xa. là nguồn cung cấp thực phẩm cho thành phố. Về đầu trang Nước ngầm là gì? "Nước ngầm là một dạng nước dưới đất. bèo v.nhiễm đất. tăng khả năng chống chịu của sâu bệnh đối với thuốc bảo vệ thực vật. Do vậy. hang caxtơ dưới bề mặt trái đất. sạn. Tuy nhiên. ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ và cuộc sống con người. P trong hồ tăng cao. nước. Hồ tại các đô thị nói chung không chỉ là thắng cảnh.. Trong các dải cồn cát vùng ven biển thường có các thấu kính nước ngọt nằm trên mực nước biển. tỷ lệ P/N cao do sự tích luỹ tương đối P so với N. Nước ngầm tầng mặt thường không có lớp ngăn cách với địa hình bề mặt. Loại nước ngầm tầng mặt rất dễ bị ô nhiễm. chất hữu cơ. phụ thuộc vào trạng thái của nước mặt. cát bột kết. Theo không gian phân bố. Vùng khai thác nước có áp. từ vài chục đến vài trăm km. hiện nay các hồ ở đô thị đều bị ô nhiễm nghiêm trọng. . suy giảm các loài thiên địch. có thể chia nước ngầm thành nước ngầm tầng mặt và nước ngầm tầng sâu. các hồ tại đô thị còn có vai trò rất quan trọng: là lá phổi của thành phố. Nước ngầm tầng sâu thường nằm trong lớp đất đá xốp được ngăn cách bên trên và phía dưới bởi các lớp không thấm nước. lục bình. Các lỗ khoan nước ở vùng khai thác thường có áp lực. tạo thành dòng chảy ngầm theo địa hình. chủ yếu là do hiện tượng phú dưỡng. Đặc điểm chung của nước ngầm là khả năng di chuyển nhanh trong các lớp đất xốp. tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời như cặn. giảm tính đa dạng sinh học của khu vực nông thôn. là cỗ máy điều tiết nước mưa. tảo. di tích lịch sử mang lại nhiều giá trị tinh thần cho con người. là nơi vui chơi giải trí cho người dân sống trong khu vực nội thị.v. Vùng chuyển tải nước. làm tăng các chất lơ lửng. Đây là loại nước ngầm có chất lượng tốt và lưu lượng ổn định. là máy điều hoà khí hậu. làm suy giảm lượng ôxy trong nước. thành phần và mực nước biến đổi nhiều. Trong các khu vực phát triển đá cacbonat thường tồn tại loại nước ngầm caxtơ di chuyển theo các khe nứt caxtơ. một lớp nước ngầm tầng sâu thường có ba vùng chức năng: • • • Vùng thu nhận nước.

Các hồ phú dưỡng thường có nồng độ oxy cao trên bề mặt và trong mùa hè. Hơn nữa. cùng với đô thị hóa. Từ phú dưỡng được dùng để chỉ việc bổ sung một cách nhân tạo các chất dinh dưỡng chủ yếu (N và P) vào nước. Mặt khác. sự đóng kín và thiếu đầu ra của môi trường hồ. các hồ bị thu hẹp diện tích để lấy mặt bằng xây dựng. Việc tìm ra nguyên nhân. Ông phân biệt: hồ sạch là hồ chứa ít tảo.1. Do vậy. màu xanh lục khi Clorophyll có 100 mg/m3 làm xấu cảnh quan. Mặt khác tác động nguy hiểm ở góc độ sinh thái là làm giảm nồng độ oxy do phân hủy của các tảo. Sự phú dưỡng nói chung là không tốt. Màu xanh của hồ làm cho việc bơi thuyền và tắm không an toàn vì bẩn. Dựa trên cơ sở thực tế. làm biến đổi hệ sinh thái nước hồ. kiểm soát chất lượng nước hồ là thực sự cần thiết để duy trì chức năng của hồ đô thị. hiện trạng và giải pháp xử lý”. Sự phú dưỡng của các hồ Châu Âu và Bắc Mỹ tăng lên nhanh trong vài chục năm gần đây là do sự gia tăng đô thị hóa và tăng mức sử dụng chất dinh dưỡng trên đầu người. . Tổng quan về phú dưỡng 1. chúng tôi tiến hành nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân và đánh giá sự phú dưỡng trong các hồ đô thị nội thành Hà Nội. CHƯƠNG I. cảnh quan môi trưởng sinh thái của các thành phố. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. đánh giá chất lượng nước hồ đô thị đặc biệt là tình trạng phú dưỡng trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp xử lý. nhưng có nồng độ oxy thấp ở tầng sâu – đây là nguyên nhân gây chết cá (Hình 1 và 2). thực vật lơ lửng. Khái niệm Từ phú dưỡng với nghĩa tổng quát là "giàu dinh dưỡng" được Nauman đưa ra năm 1919 khi trình bày khái niệm về sạch và giàu dinh dưỡng. P từ nước thải sinh hoạt của các khu dân cư. đề tài tiểu luận là “Hiện trạng phú dưỡng ở các hồ đô thị Hà Nội – nguyên nhân. tăng thêm mức độ ô nhiễm không khí của đô thị. mặc dù nghĩa của nó không phải lúc nào cũng đúng. Sự phú dưỡng nước hồ đô thị và các sông kênh dẫn nước thải gần các thành phố lớn đã trở thành hiện tượng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới. đồng thời đề xuất một số giải pháp xử lý ô nhiễm nước hồ.1. còn hồ phú dưỡng là hồ giàu thực vật trôi nổi.1. do đó những chức năng trên bị suy giảm. ảnh hưởng lớn đến kinh tế. Hiện tượng phú dưỡng hồ đô thị và kênh thoát nước thải tác động tiêu cực tới hoạt động văn hoá của dân cư đô thị.Nguyên nhân gây phú dưỡng ở các hồ được xem đến nhiều nhất là sự thâm nhập một lượng lớn N.

10 lần so với P. có ý nghĩa quan trọng để nhận thức quá trình điều hòa sinh trưởng. trong đó tỷ lệ N/P trong nước thải chỉ là 3 lần. Tảo thường sử dụng N cao gấp từ 4 . P thường là nguyên nhân chính của phú dưỡng (so với N) vì đây là yếu tố tăng trưởng hạn chế của tảo trong hồ. Sự tăng trưởng của thực vật trôi nổi là quá trình chủ đạo trong sự hình thành phú dưỡng.Quan niệm hiện nay về phú dưỡng liên quan với sự gia tăng mạnh số lượng P và N có trong ao hồ mà ở điều kiện bình thường có giá trị thấp.4). [1] Có rất nhiều các nguyên tố quan trọng tham gia vào chu trình nguyên tố tạo nên sự phú dưỡng (Hình 3 . .

Khoáng hóa trầm tích 4. Bài tiết 3. Lắng đọng 2. Phân hủy 6. Hợp quang 7. Hô hấp 9.Hình 4: Chu trình cacbon 1. Tử vong 8. Trao đổi CO2 với khí quyển Hình 5: Chu trình Nitơ .5.

6. P từ nước thải sinh hoạt của các khu dân cư. sự đóng kín và thiếu đầu ra của môi trường hồ. tăng thêm mức độ ô nhiễm không khí của đô thị.18g N. là xuất phát điểm quyết định chất lượng môi trường nước và trầm tích đáy. Sự phú dưỡng nước hồ đô thị và các sông kênh dẫn nước thải gần các thành phố lớn đã trở thành hiện tượng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới. Ví dụ: ngành rượu bia ở Anh một ngày thải ra sông 11. Tảo hấp thụ N 2. Nitơrat hóa 15. • Nguồn dinh dưỡng nội tại trong hồ (Internal sources): đây là sản phẩm của quá trình quang hợp. nguồn dinh dưỡng tiềm năng chủ yếu là nguồn photpho và Nitơ luôn được lưu tâm nhiều nhất bởi hai nguồn này là cơ sở vật chất ban đầu. Lắng đọng 13.N. Lắng đọng N lơ lửng 12. 5.P). Tử vong 9. Nguyên nhân của sự phú dưỡng được giải thích như sau: Nước không bị ô nhiễm thường có tỉ lệ N/P <10. thể tích nước thải và mức độ xử lý. Phân hủy nitơ 1. trao đổi chất và năng lượng trong chu trình sống của các loài sinh vật thủy . 10 mg/l. 18. nước thải công nghiệp và nước thoát sau mưa… [3] + Mỗi người một ngày thải 10. Quang hợp 3. Dòng vào ra của HST 17. 16. Khi viết cân bằng vật chất cho N và P sẽ thấy phương thức tốt nhất để chống phú dưỡng là loại bỏ P từ nước thải chứ không phải trồng tảo để loại bỏ N. Phân hủy từ trầm tích 14. Hiện tượng phú dưỡng hồ đô thị và kênh thoát nước thải tác động tiêu cực tới hoạt động văn hoá của dân cư đô thị. làm biến đổi hệ sinh thái nước hồ. Cống dẫn nước thải vào hồ sẽ làm giảm tỷ lệ trên vì N/P trong nước thải là 3 (nước thải đô thị 30mg/l. Bao gồm các nguồn từ đô thị. Nguyên nhân của sự phú dưỡng Nguyên nhân gây phú dưỡng là sự thâm nhập một lượng lớn N. Các chất dinh dưỡng theo nguồn thải vào hồ qua quá trình rửa trôi. Cố định đạm 4. Ví dụ: P từ bột giặt chiếm từ 18 – 65% tổng lượng P trong nước cống từ 6 trạm xử lý của Anh (1971). trong tổng lượng các nguồn nước thải đến hồ. Khi nghiên cứu về môi trường và hệ sinh thái hồ. Bột giặt chứa P cũng trở thành nguồn cung cấp P trong nước thải. Ngành chế biến thực phẩm nói chung thì trong nước thải cũng chứa nhiều N và P.000 m3 nước có nồng độ 156 mgN/l và 20 gP/l. Chuỗi thức ăn 8.8g N và 2.2. xói mòn đất do mưa. Khoáng hóa 10. Lắng đọng 11. Các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay về đầm hồ học đã tổng kết các nguồn dinh dưỡng tiềm năng đến hồ bao gồm: • Nguồn dinh dưỡng ngoại lai (External sources): phân biệt bởi nguồn dinh dưỡng điểm (Point sources) và nguồn phân tán (Diffuse sources). 7.1. từ nước thải sinh hoạt. + Các nguồn từ nông nghiệp: Hoạt động nông nghiệp là một nguồn gây phú dưỡng quan trọng. + Các nguồn dinh dưỡng công nghiệp có mức độ quan trọng tùy theo từng ngành công nghiệp. Do vậy nếu trồng tảo để hạn chế phú dưỡng sẽ càng làm cho tỷ lệ N/P giảm đi.1.

3. Các phương pháp xác định phú dưỡng Phương pháp xác định sự phú dưỡng tức là sử dụng các thông số chỉ sự phú dưỡng để xác định tình trạng phú dưỡng của thủy hệ: • Dựa vào sinh khối. Otenius. photpho là 0. Dựa vào tương quan của dộ phú dưỡng và độ trong để làm thước đo phú dưỡng. sản xuất và các hoạt động khác của đô thị. thông số phytoplakton là một thông số quan trọng đánh giá mức độ phú dưỡng. đòi hỏi sự đánh giá tổng hợp. Các chất dinh dưỡng khác nhau thường có các sinh vật khác nhau: điển hình là 1 số tảo làm chỉ thị cho sự phú dưỡng của hồ như: Olymosa.sinh trong hồ. Việc xác định mức độ và đánh giá diễn biến phú dưỡng không hề đơn giản.03 mg/l. Phần lớn các hồ Hà Nội có nguồn gốc từ các vùng trũng hoặc từ các nhánh sông.1. vitamin. Cyanophyta. với những tiêu chuẩn cụ thể có thể áp dụng cho tất cả các hồ theo từng điều kiện tự nhiên khác nhau.2mg/l. Sự phú dưỡng gây ảnh hưởng trực tiếp và biểu hiện rõ nét qua sự phát triển của phytoplakton. • Xác định các thông số chất lượng nước khác: (Ví dụ: BOD5) Khi hồ ở tình trạng phú dưỡng làm lượng chất hữu cơ trong hồ lớn. Nước là môi trường sống. bởi vậy mức độ dinh dưỡng của thủy vực được biểu hiện không chỉ qua số lượng tảo mà còn qua thành phần loài. • Dựa vào nhóm sinh vật chỉ thị cho sự phú dưỡng đặc biệt là tảo. Do đó. • Dựa vào cân bằng dinh dưỡng trong hồ: là phương pháp xác định các chất như N và P. Thông số DO cũng là một chỉ thị hiệu quả cho sự phú dưỡng. Các hồ đô thị tạo thành một hệ thống nối kết với các sông tiêu thoát nước của thủ đô Hà Nội. còn một số chất dinh dưỡng khác: vi lượng. trên nền đất trẻ. 1. ánh sáng.Ví dụ: tiêu chuẩn của nitơ trong nước là 0. là nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt. hồ tạo nên khung sinh thái. Chlorococeales. Ngoài N và P. Lượng chất hữu cơ này có thể xác định thông qua lượng oxi cần thiết để oxi hóa chúng. phytoplakton của hồ. Các yếu tố như nhiệt độ. sự thoát nước chậm gây ứ đọng cũng có thể là nguyên nhân gây nên hiện tượng nở hoa trong các hồ. Nhưng để đánh giá sự phú dưỡng của hồ cần phải dựa vào tương quan nồng độ giữa chúng. nơi cung cấp thức ăn cho tảo. Các dòng chảy qua kênh. Sự hình thành các hồ đều gắn liền với sự phát triển đô thị./[2]. • Xác định độ trong của nước hồ cũng là một chỉ thị của sự phú dưỡng. . Tổng quan về các hồ đô thị Hà Nội Thành phố Hà Nội nằm ở vùng địa hình thấp của đồng bằng sông Hồng.2. Càng cần nhiều Oxi thì lượng chất hữu cơ càng lớn cũng đồng nghĩa với mức độ giàu dinh dưỡng cao. axit amin cùng tham gia vào việc gây ra sự phú dưỡng. Hồ sẽ ở tình trạng phú dưỡng khi nồng độ phú dưỡng vượt quá giới hạn cho phép. 1.

chiếm khoảng 10 -15% diện tích đô thị. được sử dụng cho mục đích cảnh quan du lịch. Kênh hồ Hà Nội thường nối với nhau tạo thành hệ thống chức năng thống nhất như hệ thống hồ Giảng Võ . Ba Mẫu. đảm nhận các vai trò: tiếp nhận. Các hồ nội thành có diện tích từ một vài ha đến hàng trăm ha hồ lớn nhất là hệ thống hồ Tây .Văn Chương .sông Tô Lịch.3 ha. và nhỏ nhất là 1. hồ Giám . Trúc Bạch.hồ Trúc Bạch.Thành Công . Thủ Lệ. bệnh viện. các hồ còn lại đều đóng vai trò thoát nước và phục vụ vui chơi giải trí. nuôi cá của thành phố. Thiền Quang. Các hồ ngoại thành như hồ Yên Sở hoặc hồ Định Công. Nhưng những hồ này hiện đang ô nhiễm nặng nề do chất thải từ các cơ sở sản xuất. về đa dạng sinh học cũng như về giá trị nguồn nước. Một số hồ tiêu biểu ở Hà Nội có thể kể đến là: Hoàn Kiếm. các hộ gia đình… Tổng diện tích các ao hồ vào khoảng 21. Hà Nội có khoảng hơn 100 hồ.Đống Đa .Do các đô thị có địa hình tương đối bằng phẳng nên mật độ ao hồ và kênh mương thoát nước trong thành phố tương đối cao. nước mưa của lưu vực thoát nước xung quanh sau đó tiêu thoát qua các mương thoát nước của thành phố.8km2. ao trong đó ở khu vực nội thành có 17 hồ thuộc quyền quản lý của Công ty thoát nước. xử lý nước thải thông qua quá trình tự làm sạch và là nơi vui chơi giải trí của nhân dân [4].3 ha. Các hồ này tiếp nhận trực tiếp nước thải. điều hoà nước mưa. Trừ Hồ Tây và hồ Hoàn Kiếm. Thành Công. cảnh quan thiên nhiên và môi trường. Giảng Võ. diện tích 468 ha.Ngọc Khánh . Một số hồ có vai trò quan trọng có giá trị về văn hóa lịch sử. Bảy Mẫu.Trung Tự . Linh Đàm đóng vai trò như các hồ đầu mối. tiếp nhận và điều hoà nước mưa. Hồ Đống Đa Hồ Thủ Lệ Hồ Ngọc Khánh Hồ Tây Hồ 7 Mẫu Hồ Trúc Bạch Chức năng chính của các kênh hồ đô thị là phục vụ thoát nước. Ngọc Khánh… . điều hoà nước mưa và tiếp nhận nước thải hạn chế. Đống Đa. Linh Đàm. Hồ có diện tích lớn nhất là hồ Bảy Mẫu với diện tích 21.sông Lừ… Đây là một khung sinh thái đô thị.

Lưu lượng nước thải chảy vào vượt quá khả năng tự làm sạch của các hồ.CHƯƠNG II. Hào Nam . vì thế không còn giữ được sự trong và sạch. Quá trình phân hủy của chúng kéo theo sự tiêu thụ lớn về oxy trong nước. làm biến mất các loài thủy sinh khác. Các dòng chảy vào hồ thậm chí làm bốc mùi hôi nồng nặc. Theo khảo sát. Mễ Trì. . các hồ đều bị hiện tượng “phú dưỡng” . HIỆN TRẠNG PHÚ DƯỠNG Ở CÁC HỒ ĐÔ THỊ HÀ NỘI Theo kết quả quan trắc định kỳ của Sở Tài nguyên – Môi trường Hà Nội cho thấy: Đa số các hồ ở Hà Nội đang ô nhiễm nghiêm trọng bởi nước thải và trầm tích.hiện tượng tảo nở hoa. như hồ Kim Liên. Sau khi chết đi. đồng thời giải tỏa các chất khí ít nhiều có hại và hôi thối. Nhiều tảo xanh và các loài thực vật nổi phát triển rất nhanh trong nước hồ. các loại tảo tích tụ tại đáy hồ ngày càng dày thêm.

thiếu oxy và làm tăng trầm tích trong hồ. tạo thành những váng nổi lớn che kín mặt một góc hồ (hiện tượng nở hoa). Ô nhiễm và phủ dưỡng dẫn đến sự suy thoái chất lượng nước. Nước hồ được thoát ra ở cống Nam Khang (gần khu vực Nhà thuyền). lượng nước trong các hồ đều cạn. Hồ Gươm cũng đã phải gánh một lượng nước thải sinh hoạt lớn làm hàm lượng chất có chứa nitơ và phốt pho trong nước hồ tăng cao dẫn tới hiện tượng hồ bị phú dưỡng. Trong khi đó. Sự phát triển mạnh mẽ của một số loài tảo lam thuộc chi Microcystis. chỉ số này có thể vượt tới tận 710 lần (hồ Đống Đa) hay 1. số lượng coliform rất lớn. vượt tiêu chuẩn Việt Nam cho phép từ 100 đến 200 lần. Hiện tượng phú dưỡng ở hồ Bảy Mẫu Hồ Bảy Mẫu đóng vai trò như một công trình điều tiết nước mưa cho lưu vực thoát nước Bà Triệu . vào mùa khô. Thanh Nhàn. từ ô nhiễm kim loại nặng đến ô nhiễm vi sinh. Hàng ngày hồ đón nhận một lượng nước thải khá lớn từ các cống phố Trần Bình Trọng (6. Vào mùa khô. dù việc nuôi cá vẫn diễn ra. cống đường Lê Duẩn (2.330 lần (hồ Khương Thượng).5 . Một vài hiện tượng phú dưỡng có thể được kể đến ở các hồ: 2.000 m3/ngđ) và cống Vân Hồ (1.1.1. Giảng Võ. Cùng với sự phát triển kinh tế và dân số của thành phố Hà Nội. 2. Theo kết quả quan trắc phân tích 18 hồ trong nội thành Hà Nội thì chất lượng nước mặt nói chung đều bị ô nhiễm.. cống phố Nguyễn Đình Chiểu (2. tảo lam chết hàng loạt. Theo báo cáo của Chi cục Bảo vệ Môi trường Hà Nội.Trần Bình Trọng . Lưu lượng nước thải chảy vào vượt quá khả năng tự làm sạch của hồ. Đa số các hồ trong nội thành Hà Nội đều bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi nước thải và trầm tích. Chính vì vậy tại nhiều hồ. nhưng nhiều loại cá vừa thả vào đã nổi trắng hồ[5]. và hầu như chỉ được bổ sung bằng nguồn nước sinh hoạt của các khu vực xung quanh.000 m3/ngđ). việc xây dựng tràn lan cũng như hiện tượng suy giảm lượng nước ngầm ở Hà Nội cũng khiến nguồn cung cấp nước cho hồ bị đe dọa.Lê Duẩn (diện tích 21. hình thành các khí NH3 và H2S làm hại đến các thuỷ sinh vật và gây mùi hôi xung quanh khu vực hồ.000 m3/ngđ) đổ vào.000 m3 nước thải của khu vực nội thành đổ vào 4 con sông thoát nước chính và một số hồ của Hà Nội. Kết thúc sự nở hoa.5m. Hiện tượng phú dưỡng ở Hồ Gươm Hồ Gươm hiện đang đứng trước nguy cơ mất dần màu xanh lục huyền ảo và ngày càng bị “lam hóa” vì sự phát triển mạnh mẽ của loài tảo lam.2. Theo một nghiên cứu năm 2006. Thời điểm dễ nhận thấy nhất là vào mùa hè khi nhiệt độ cao. với độ dày của bùn từ 0.3ha) và có thông với hồ Thiền Quang. Thành Công.750 lần (hồ Giảng Võ) và có thể gấp 2.Các hồ gần khu vực đông dân (đón nhận nguồn “dinh dưỡng” từ nguồn nước thải dồi dào) như hồ Đống Đa. . tạo sự thuận lợi cho tảo lam (Cyanophyta) hay còn gọi là vi khuẩn lam (Cyanobacteria) bùng phát khiến nước hồ chuyển sang màu xanh lam.500 m3/ngđ). rồi qua cống đường Đại Cồ Việt và đổ vào sông Sét ở Trường Đại học Bách khoa... hiện mỗi ngày đêm có khoảng 500.

04 3.7 .012 mg/l đều tăng lên so với vùng đầu hồ.13 5. tạo nên màu nước xanh thẫm. Như vậy tổng cả nước thải sinh hoạt và sản xuất xả vào hồ xấp xỉ 12.54 1. Các bọt khí giải phóng từ lớp bùn cặn đầu hồ có thể là nguyên nhân cuốn theo vẩn cặn trong đó có kim loại nặng vào nước. tổng lượng nước thải phân bố trên các tuyến phố trong khu vực nghiên cứu khoảng 8.4 mg/l (Tiêu chuẩn là 1.0 mg/l) và photphat lớn (5. vùng đầu hồ còn có hàm lượng dầu lớn (0. tại miệng cống phố Trần Bình Trọng. Ga Hà Nội: 70 m3/ngđ. vào khoảng 1.890 m3/ngđ. hàm lượng chì là 0. Cung văn hóa Hữu nghị: 300 m3/ngđ. COD = 34 .82 4.98 Điểm 5 4.144 mg/l (Tiêu chuẩn là 0.5 mg/l) làm cho nước hồ bị "phú dưỡng".Cu Ba: 400 m3/ngđ.8 .3 mg/l) gây cản trở quá trình quang hợp và làm giảm lượng oxy hòa tan trong nước. Lý Thường Kiệt.000 m3/ngđ).89 1. không phù hợp với việc nuôi các loại cá sống đáy (xem Bảng 1). Ngoài ra hồ Bảy Mẫu còn nhận một phần nước thải sinh hoạt của các phố Tràng Thi.57 3.1 mg/l) và cadmi là 0. tầng giữa và tầng đáy. Hai Bà Trưng.0 mg/l). Kết quả phân tích DO tại hồ Bảy Mẫu Tầng nước Tầng mặt Tầng giữa Tầng đáy Vị trí lấy mẫu: ..000 m3/ngđ. lượng bùn cặn tích tụ nhiều. Trong khu vực có nhiều cơ quan. Oxy hòa tan là yếu tố quan trọng đối với đời sống của cá và các thủy sinh vật khác: Hàm lượng oxy hòa tan dao động mạnh giữa các tầng mặt. Bảng 1.1. hàm lượng H2S lớn.72 mg/l (Tiêu chuẩn là 35 mg/l) đều lớn hơn quy định cho phép.Lưu vực thoát nước vào hồ Bảy Mẫu tương đối lớn. đặc biệt ở các điểm đầu hồ rất thấp. Phía cuối hồ. phân tích các chỉ tiêu vật lý và hóa học các mẫu nước hồ của Trung tâm Kỹ thuật môi trường Đô thị và Khu Công nghiệp có thể thấy các chỉ tiêu ô nhiễm như BOD5 = 24.98 Điểm 4 5. Trần Quốc Toản.51 2. Trần Nhân Tông. Giá trị DO ở tầng đáy.96 mg/l so với Tiêu chuẩn là 2.61 . Trần Hưng Đạo.0 mg/l so với Tiêu chuẩn là 0.98 4. Vùng đầu hồ.21 Điểm 2 1...4 mg/l (Tiêu chuẩn là 25 mg/l).73 2..00 Điểm 3 4. Qua kết quả khảo sát. Đồng thời có lượng oxy hòa tan thấp (1.50. Trong đó có: Nhà máy Chế tạo điện cơ: 170 m3/ngđ.Điểm 1: Vùng đầu hồ. Ngoài ra. Khách sạn 30/4: 50 m3/ngđ. Trường Đại học Xây dựng. xí nghiệp và các công trình công cộng hàng ngày xả vào hồ một lượng nước thải khá lớn (khoảng gần 2. hàm lượng nitơ amoni lên tới 15.96 1.000 m3/ngđ. Tuy nhiên hầu hết các số liệu đo đạc cho thấy DO nằm ở dưới mức 5 mg/l. Điểm 1 3. Bệnh viện Việt Nam . Theo số liệu điều tra của Trung tâm Môi trường Đô thị và Khu Công nghiệp.

3. Vùng ven bờ và khu vực gần các cống thải nước đã bị ô nhiễm so với tiêu chuẩn nước loại B bởi các thông số sau: Vi sinh (>10. Đây là kết luận được rút ra từ đợt khảo sát chất lượng nước hồ vào tháng 6 . fecal coli). độ trong suốt thấp (<0.Điểm 2: Eo Quán Gió. có nhiều điểm đạt giá trị nhỏ hơn 4 mg/l). PO4) và kim loại nặng (Cu. phốt-pho (0.3. Trong đợt khảo sát này các chỉ tiêu tổng phốt-pho. nước hồ bị pha loãng nên nước hồ sạch hơn nhiều so với mùa kiệt. COD (>35 mg/l). miệng xả cống Đường Lê Duẩn. độ trong suốt và độ bão hòa oxy tầng đáy cho thấy hồ đã bị phú dưỡng.13-0. tại miệng cống phố Nguyễn Đình Chiểu. pH. SiO2. BOD5).05).2001 do Trung tâm môi trường Biển cùng Viện Hóa học.Điểm 5: Cuối hồ. 2. Các thông số hóa học: Vi sinh (coli tổng. Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia thực hiện theo chủ trương của Ban Quản lý Dự án Hạ tầng kĩ thuật xung quanh Hồ Tây.8m) mặc dù độ đục khá nhỏ.13-0.01 – 0. Cd.51 mg/l).Điểm 4: Giữa hồ (ven đảo Hòa Bình) . Hiện tượng phú dưỡng ở Hồ Tây Nước Hồ Tây đang bị ô nhiễm. do các thông số phốt-pho cao (0. Tổng Chlorophyl a chưa được khảo sát.64-9. . các chất dinh dưỡng (NO2.51 mg/l).52 . độ đục). và oxy tầng đáy thấp (nhỏ hơn 1. tại cống ra Nam Khang. các chất hữu cơ (COD. Tuy nhiên với kết quả thu được. cho thấy nước hồ đã bị ô nhiễm.10 2–4 10 . Bảng 2. độ muối. . và hàm lượng dầu (0. pH (7.02 4 . NH3 (>1 mg/l). độ dẫn điện.6 lần so với tầng mặt. Các thông số của đợt khảo sát gồm: Các thông số thủy hóa thông dụng (nhiệt độ. Chỉ tiêu theo OCED – 1982 Chỉ tiêu Tổng phốt pho Tổng Chlorophyl a Độ trong suốt Độ bão hòa ôxy tầng đáy Đơn vị mg/l mg/m3 m % Oligotrophic <1.000 MNP/100 ml). Về độ phú dưỡng của hồ. oxy hòa tan.Điểm 3: Vùng đầu hồ..1.80 Eutrophic >0. cụ thể chất lượng nước hồ được so sánh với chỉ tiêu cho trong Bảng 2. Đợt khảo sát được tiến hành trong mùa mưa ngay sau 2 đợt mưa lớn.02 >10 <2 <10 Toàn bộ hồ đã có biểu hiện của sự phú dưỡng. 1982 có thể đánh giá theo bảng trên. As.23 mg/l). . Hg và Pb) cùng hàm lượng dầu và hàm lượng thuốc trừ sâu nhóm chlorin hữu cơ và phốt-pho hữu cơ. NO3. theo OCED. Zn.5 .01 <4 >4 >80 Mesotrophic 0.

đặc biệt là ở đầu hồ tạo nên quá trình phân hủy yếm khí.. Chất lượng nước hồ Tây cũng biến đổi mạnh theo thời gian. độ pH. nhất là với đợt khảo sát của Trung tâm môi trường Biển 12/2000 ..Kết quả khảo sát sinh vật phù du và sinh vật đáy (12/2000) cũng cho thấy có biểu hiện giàu chất hữu cơ. giải phóng ra H2S. . Lượng bùn cặn tích tụ trong hồ quá lớn. hiện tượng "nở hoa" làm lượng oxy hòa tan trong hồ không ổn định. Nước hồ thường sạch hơn nhiều vào mùa mưa và bẩn hơn vào mùa khô. Theo các kết quả khảo sát do Trung tâm môi trường Biển thực hiện. độ dẫn điện và độ muối. CH4 và nhiều chất độc hại khác. Như vậy. so với các đợt khảo sát trước đây. Nước hồ đạt tiêu chuẩn loại B bởi các thông số : BOD.Chất lượng nước Hồ Tây biến đổi mạnh theo không gian. Có sự suy giảm rõ rệt về thành phần loài động thực vật phù du cũng như số lượng động vật đáy. Nước hồ đạt tiêu chuẩn loại A bởi các thông số kim loại (trừ thủy ngân cần lưu ý ở một vài khu vực) và thuốc trừ sâu các loại. DO. làm độ sâu của hồ giảm dần. Các bọt khí giải phóng khỏi bùn cặn làm nước bị đục trở lại và cuốn theo một số kim loại nặng hòa tan vào nước. NO2. ảnh hưởng đến đời sống của các thủy sinh vật. tiến tới mức độ phú dưỡng của hồ. cho thấy hồ đang tiến dần tới mất sự sống. Trong hồ có thể xuất hiện tảo độc do chất thải của các cơ sở sản xuất xả nước thải vào hồ.Khu vực đông nam bán đảo Phủ Tây Hồ có giá trị pH rất cao vượt quá giới hạn cho phép của tiêu chuẩn này. NO3. oxy hoà tan. nhìn chung càng xa bờ càng đỡ bẩn hơn và vùng phía nam bán đảo Tây Hồ rất đáng lưu ý về nhiệt độ. Chế độ oxy dao động. cho thấy: . . nước hồ ở trạng thái phú dưỡng do phải tiếp nhận nước thải đô thị với hàm lượng nitơ và photpho cao.

giếng tách nước thải phải có ngăn lắng cát và lưới chắn rác. Chức năng của các hồ đô thị được xác định rõ. Để cải tạo và nâng cao hiệu quả thoát nước. mương. cần thiết lập một cơ chế quản lý thống nhất hệ thống kênh hồ đô thị. Ngoài việc bổ sung nước về mùa khô cho hồ bằng nước thải sau khi xử lý đạt yêu cầu còn có thể bổ sung bằng nguồn nước sạch từ các sông hồ khác. hồ hiện nay. Xây dựng các đường bao. tạo cảnh quan cho hồ. không cứng nhắc. ao. xuồng chạy xăng dầu trên hồ. Tuy nhiên vấn đề này. muốn đầu tư có hiệu quả thì phải lựa chọn được giải pháp công nghệ xử lý nước thải thích hợp. Đối với các hồ có vui chơi giải trí nên tạo điều kiện để khuấy trộn nước hồ bằng hệ thống trò chơi trên mặt nước. MỘT SỐ GIẢI PHÁP XỬ LÝ PHÚ DƯỠNG Ở CÁC HỒ ĐÔ THỊ HÀ NỘI Thu gom và xử lý nước thải là việc hết sức cần thiết và quan trọng trong việc khắc phục tình trạng ô nhiễm ở các ao hồ như hiện nay. Nhằm đáp ứng yêu cầu thoát nước và đảm bảo tính bền vững trong hệ thống sinh thái đô thị. . nạo vét kè hồ cũng như lắp đặt các hệ thống sục khí làm giàu oxy cho các hồ nhỏ. việc cải tạo hệ thống kênh hồ đô thị là vấn đề ưu tiên hàng đầu trong các dự án thoát nước và bảo vệ môi trường. trên cơ sở đó xoá bỏ sự chồng chéo trong quản lý. Xử lý nước thải một phần để cấp nước bổ sung. bởi thích hợp là một khái niệm mở và có tính mềm dẻo. Tuy nhiên cũng cần phải hạn chế tối đa việc dùng thuyền. Các giải pháp kỹ thuật để xử lý ô nhiễm. cải tạo hồ có thể như sau: Xây dựng hệ thống cống bao có giếng tách nước thải và nước mưa đợt đầu ra khỏi các hồ nội thành. sử dụng kênh. duy trì mực nước về mùa khô. Nhưng trả lời được câu hỏi như thế nào là công nghệ thích hợp cũng không đơn giản.CHƯƠNG III.

04C5H7O2N + 0..(khử Nitrat). thử nghiệm và phân tích được trong phòng thí nghiệm đã chứng minh sự biến đổi ammonium được xem như một giải thích khả quan.Cải tạo. đổ rác bừa bãi vào sông hồ phải được chấm dứt. sông nên kết hợp với trồng thực vật nước ven bờ. Như vậy. Một số phương pháp đang được áp dụng rộng rãi để xử lý hiện tượng phú dưỡng trong các ao. Phương pháp hồ sinh học kết hợp 3. tạo tế bào mới và một phần thoát nhiệt.. 3. Mực nước và chất lượng nước kênh hồ được kiểm soát thông qua các chương trình quan trắc.7H2O NO3 + 1. đường hai bên và xung quanh kênh.76CO2 + 2. Đặc biệt chú ý đến việc thu hồi sinh khối thực vật để chống tái ô nhiễm nước cũng như cản trở dòng chảy sông hồ thoát nước.400C. kênh. hồ được xây dựng để thuận lợi quản lý và đảm bảo giao thông. mương..1. kè bờ hồ. cần tạo ra trong đó vùng thiếu khí (anoxic).(Nitrobacter).> 0. Khử chất dinh dưỡng bằng phương pháp ANAMMOX Các nghiên cứu. Oxy hóa chất hữu cơ giải phóng nitơ theo phản ứng: NO2 + 0.. Năng lượng sinh ra được sử dụng để thực hiện các quá trình sinh tổng hợp. nhiệt độ từ: 5 .. Việc thả bèo. hồ thường xuyên được duy tu. Việc lấn chiếm. Các hành lang.2. Quá trình dị hóa: Khử ammonium bằng vi khuẩn hóa tự dưỡng (Nitrosomonas. Tuy nhiên việc nuôi trồng thuỷ sản để làm sạch nước cũng cần phải được kiểm soát chặt chẽ. Các kênh hồ phải đảm bảo được mặt thoáng. hồ: 3....67CH3OH + H+ .48N2 + 0.47N2 + 0. thời gian lưu nước trong công trình sẽ tăng lên ảnh hưởng đến hiệu suất xử lý cũng như tính kinh tế của công trình. Các kênh. Hơn nữa..08CH3OH + H+ .. nạo vét..5.065C5H7O2N + 0.1..5 mg/l.44H2O Để loại bỏ chất dinh dưỡng trong công trình xử lý nước thải bằng bùn hoạt tính. rong vào sông hồ cũng góp phần tăng cường quá trình xử lý các chất ô nhiễm. cảnh quan. lượng oxy hòa tan: 0. dung tích cần thiết..> N2 Quá trình đồng hóa: Vi sinh vật dị dưỡng ammonia tham gia quá trình thủy giải đạm phức tạp thành đạm ammonium và đồng hóa để phát triển sinh khối.1..> NO2. Điều kiện tối ưu cho sự phát triển các vi khuẩn nitrat hóa là pH: 7.47CO2 + 1.> 0.1 Khử chất dinh dưỡng bằng phương pháp thiếu khí Xử lý nhằm loại bỏ chất dinh dưỡng trong nước thải thường sử dụng phương pháp sinh học truyền thống dựa vào quá trình biến đổi: NH4+ (Nitrosomonas). Nitrobacter) chuyển ammonium thành nitrat để thu năng lượng.> NO3. nhận thấy rằng .

Ngoài ra. Có thể áp dụng mô hình toán học để xác định sinh khối của phytoplankton và dự báo sự biến động của chúng. dễ phân bố vật liệu lọc. vì sự biến động của sinh khối này liên quan chặt chẽ đến sự phú dưỡng. sẽ rất tốt cho thực vật thủy sinh phát triển. Tùy theo điều kiện mặt nước để sử dụng các nhóm khác nhau. đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công nghệ hiện đại. Trong các loại bãi lọc trồng cây nêu trên. tốn ít diện tích cho hệ thống xử lý… Nhược điểm của phương pháp này chỉ là phải tạo ra sự chênh lệch về gradient dòng chảy.3. Công nghệ Wetland nhân tạo Wetland nhân tạo được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực xử lý nước thải ở các nước trên thế giới như một giải pháp thân thiện với môi trường bằng công nghệ sinh thái. chi phí thấp và ổn định. đó là một trong những phương pháp mang lại hiệu quả kinh tế cao.anammox Theo cơ chế anammox thì muốn khử ammonium thì môi trường đó phải có một lượng NO2 tương ứng. Nhóm thực vật nổi được đánh giá cao và tập trung nghiên cứu nhiều vào các loại : bèo tây. bèo tấm. ta có thể kết hợp quá trình anammox và thiếu khí nhằm rút ngắn thời gian xử lý nhưng hiệu suất vẫn đảm bảo. phạm vi áp dụng rộng rãi. phương pháp xử lý nước thải bằng wetland nhân tạo còn khá mới mẻ. 3. Từ yêu cầu trên. Tại Việt Nam.2. đó là quá trình khử ammonium bởi nhóm vi khuẩn Anammox trong điều kiện kỵ khí. Có hai loại bãi lọc thường được áp dụng là bãi lọc trồng cây ngập nước và bãi lọc trồng cây dòng chảy ngầm với dòng chảy ngang hoặc chảy đứng. Ammonium được xử lý bằng nhiều phương pháp khác nhau.1. Trong đó quá trình khử ammonium trong điều kiện kỵ khí (quá trình Anammox) xảy ra trong điều kiện tự dưỡng mà NO2 đóng vai trò không thể thiếu do vi khuẩn Plactomycetales thực hiện. 3. trong bộ rễ của thực vật . hoa súng…Trong điều kiện nước thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ. để đánh giá và dự báo sự phú dưỡng. nhưng với công nghệ mới này thì quá trình xử lý đơn giản hơn ít tiêu tốn năng lượng và thời gian xử lý.sinh khối đỏ vốn được cho là đặc tính của các vi khuẩn sinh ra từ phản ứng Anammox trong cột phản ứng. Có 2 nhóm chính: nhóm thực vật nổi mặt nước và nhóm thực vật bám rễ xuống đáy hồ. có thể sử dụng chỉ tiêu sinh khối của phytoplankton (thực vật phù du). Hệ thống xử lý nước thải bằng công nghệ wetland bao gồm một bãi lọc trồng cây (constructed wetland). đạt hiệu suất cao. Xanh hóa hồ Hà Nội bằng thực vật thủy sinh Thực vật thủy sinh là những loài cây sống. 3. Công nghệ kết hợp thiếu khí . chưa được áp dụng phổ biến.3. loại bỏ được các vi sinh vật gây bệnh trong nước thải. bãi lọc ngầm trồng cây dòng chảy đứng có nhiều ưu điểm như hiệu quả xử lý cao (đặc biệt là các chất dinh dưỡng trong nước). còn thân lá có thể chìm hoặc nổi trên mặt nước. phát triển trong môi trường ngập nước.

Hà Nội Hồ Văn trước đây nằm trong tổng thể khu di tích Văn Miếu. nước trong hơn. Một vài hình ảnh về dùng thực vật để xử lý ao hồ. Nó chẳng khác gì chiếc ao tù với nước xanh quánh. đây lại là một trong những hồ bị ô nhiễm nặng nhất của Hà Nội. trồng liễu và hoa tạo nên cảnh quan khá đẹp mắt. Hệ rễ cũng giúp cố định các kim loại nặng độc hai đối với môi trường. Thường hay dùng bèo lục bình. Hồ Văn lúc chưa xử lý bằng hóa chất LTH1 Hồ Văn sau 1 tuần làm sạch . sử dụng hết chất hữu cơ hạn chế tảo phát triển.thủy sinh chứa một hệ vi khuẩn phong phú giúp phân giải các chất hữu cơ làm thức ăn cho cây. Khắp mặt nước lềnh phềnh các loại rác thải. Đến thế kỷ 19. cá tôm. khu hồ đã được lát kè. Pháp mới cho xây một con đường cắt ngang hồ Văn và Văn Miếu là phố Quốc Tử Giám ngày nay. sen súng và một số loài cây thủy sinh khác để trồng trên các ao hồ. bèo hoa dâu. trai . Thực vật thủy sinh giúp tăng lượng oxi hòa tan trong nước. Thực tế cho thấy ao hồ có hệ thực vật thủy sinh phát triển mạnh. Hiện nay. bốc mùi nồng nặc. Tuy nhiên. Các mô hình xử lý nước thải bằng cây thủy sinh: Việc sử dụng thực vật thủy sinh vào công nghệ xử lý nước thải được các nhà khoa học nghiên cứu từ khá lâu và áp dụng nhiều nơi khác nhau. cân bằng sinh thái bền vững. sò phát triển. Mô hình xử lý hồ Văn .

xử lý kim loại nặng vì thế giúp nước hồ trong và sạch hơn. thân thiện với môi trường để góp phần xử lý ô nhiễm ở các hồ.Từ ngày 25/6/2008. được nghiên cứu và thử nghiệm thành công trên cơ sở tận dụng các phế thải nông nghiệp. và ô nhiễm không khí. ảnh hưởng mạnh mẽ đến cảnh quan đô thị. tránh nguy cơ gây suy thoái nguồn nước hồ đô thị. Khuyến nghị .Chưa có sự phối kết hợp của các ban ngành liên quan trong vấn đề ngăn ngừa và tìm kiếm giải pháp khắc phục một cách hiệu quả hiện trạng phú dưỡng trong các ao. Chế phẩm được Viện Công nghệ Môi trường. môi trường sinh thái. hồ ở Hà Nội. hồ đều chưa được xử lý do thiếu sự quản lý của các cơ quan chức năng.Tăng cường nghiên cứu và áp dụng phù hợp các giải pháp công nghệ kỹ thuật tiên tiến. hồ chưa được áp dụng rộng rãi tạiViệt Nam nói chung và tại khu vực Hà Nội nói riêng.Các cơ quan chức năng cần phải quản lý chặt chẽ các nguồn nước thải vào các hồ để tránh hiện tượng phú dưỡng làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng nước hồ. có khả năng diệt tảo. .Một số công nghệ xử lý phú dưỡng ở các ao. các hoạt động vui chơi giải trí. LTH 100 là dạng chất lỏng. . . .. và do hệ thống nước thải đô thị không đáp ứng được nhu cầu thực tế. . mùi hơi hắc. . màu trắng. .Nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc ngăn ngừa hiện tượng phú dưỡng.Cần phải nâng cấp cải tạo hệ thống thoát nước thải trong thành phố.Hiện tượng phú dưỡng xảy ra trong các hồ đô thị ở Hà Nội là khá nghiêm trọng. góp phần cải thiện chất lượng nước trong các hồ. nguồn nước. nhóm các nhà khoa học thuộc Vườn ươm doanh nghiệp Công nghệ cao Hòa Lạc đã tiến hành làm sạch hồ bằng công nghệ phun chế phẩm LHT 100. Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đánh giá là không gây ra bất cứ ảnh hưởng nào tới sự sinh trưởng của các sinh vật sinh sống trong hồ.. Đây là chế phẩm thân thiện môi trường. thiếu cơ chế xử phạt. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Kết luận . mất cân bằng sinh thái thủy hệ. khử mùi hôi thối.Hầu hết nước thải ra các ao. giảm phát thải các nguồn ô nhiễm.

nea.wikipedia. http://www.2007-04-13. 2. Trần Đức Hà.Hiện tượng nở hoa nước (water bloom) Thủy triều đỏ (red tide) và hiện tượng nở hoa nước (water bloom) thường làm cho các Ao nuôi thủy sản thất thu hay làm giảm chất lượng thủy sản .TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Luận án thạc sỹ sinh học – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc Gia Hà Nội. Những nhận xét về vi tảo trong một số hồ Hà Nội bị ô nhiễm. đặc biệt là các độc tố có tính chất tích lũy trong cơ thể vật nuôi. Lê Thị Thanh Hương. Nguyễn Xuân Nguyên. trang 56 – 77.imh.vn/tapchi/Toanvan/11-2k1-23.thực vật ở nước . 2004. Lưu Đức Hải.0942968377 6. http://www.vn/b_tintuc_sukien/bc_hoinghi_hoithao/L555thumuccuoi/mlfolder. 3.htm 5. Mối đe dọa của khu hệ động .proz. 1994. http://en. Giáo trình Nguyên lý khoa học môi trường.org/wiki/Eutrophication Thủy triều đỏ (red tide). http://www.com/kudoz/english_to_vietnamese/environment_ecology/2696096eutrophication. 2008.html 7. Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Hà Nội.ac. 4.gov. Chất lượng nước sông hồ và bảo vệ môi trường nước.

nhưng trong trường hợp “nở hoa” mật độ có thể lên trên 10. hiện tượng nở hoa nước (water bloom) là thuật ngữ chỉ sự nở hoa của các loài vi tảo. sự phát triển của các nhà máy chế biến thủy sản. khu vực biển Bình Thuận là nơi có tần suất nở hoa của vi tảo cao nhất. Đến nay. hiện tượng Thủy triều đỏ và nở hoa nước đang gia tăng ở cả 2 khía cạnh tần số/cường độ xuất hiện và phân bố địa lý. hóa chất… cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến sự hình thành Thủy triều đỏ. Ngoài ra. hiện tượng này dường như xảy ra hàng năm vào khoảng tháng 3 đến tháng 8. Kết quả gây nên hiện tượng thiếu ôxy trong các tầng nước làm chết các loài thủy sản. ốc hay cá… và không bị phá hủy trong quá trình đun nấu. trong vài thập kỷ qua. đỏ cho đến vàng xám (người dân ven biển thường gọi là nước cám. Hiện nay. Do vậy cả ngư dân cũng như người tiêu dùng khó có thể xác định được các thực phẩm biển bị nhiễm độc do tảo gây ra. nghề nuôi trồng thủy sản và sức khỏe của con người (nguyên nhân do độc tố tảo có thể được tích lũy trong vài loài động vật thân mềm sò.8. hiện tượng Thủy triều đỏ cũng đã xảy ra ở nhiều nơi. gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống thủy sinh vật. Tuy nhiên. các nhà khoa học đã xác nhận có khoảng trên 300 loài vi tảo đã hình thành sự nở hoa làm thay đổi màu nước. đặc biệt dạng ngộ độc gây tê liệt cơ (PSP) có thể gây tử vong và dạng ngộ độc Ciguatera rất phổ biến trong vùng nhiệt đới. không ảnh hưởng đến mùi vị của thực phẩm. nghề sản xuất giống thủy sản và nuôi lồng các loài tôm hùm. có 5 loại triệu chứng ngộ độc do tiêu thụ thực phẩm biển nhiễm độc tố tảo xảy ra với con người. Tảo chết và chìm xuống đáy thủy vực và bị phân hủy bởi các vi sinh vật khác đặc biệt là vi khuẩn. Đồng thời. H ầu hết các loài vi tảo biển nở hoa thường đưa đến hậu quả làm cho môi trường xấu đi. nhiều nhà khoa học cho rằng hiện tượng nước trồi cũng có quan hệ mật thiết đến sự nở hoa của vi tảo. các chất thải từ hoạt động của con người như nuôi trồng thủy sản thiếu quy hoạch. Tại Việt Nam.000 tế bào/ml) làm biến đổi màu của nước biển từ xanh lục đậm. cá mú cũng thải ra môi trường một lượng dinh dưỡng đáng kể cũng là một điều kiện kích thích sự nở hoa.100 tế bào vi tảo/ml. Cũng trong thời kỳ tháng 7 .thủy văn. khi nhiệt độ ấm lại và cường độ bức xạ cao nhất trong năm. Trong đó có khoảng 1/4 loài (70 . Đây là hiện tượng tự nhiên xảy ra do mật độ tế bào vi tảo gia tăng lên đến hàng triệu tế bào/lít (thông thường có khoảng 10 . Theo các nhà khoa học. Nguyên nhân của hiện tượng trên có liên quan đến các yếu tố môi trường như: nhiệt độ. nước mùn cưa). gây tăng các khí độc. Hi ện tượng nở hoa nước thường xảy .80 loài) gây hiện tượng nở hoa có khả năng sản sinh độc tố đang là mối đe dọa đến khu hệ động vật và thực vật tự nhiên ở nước. độ mặn và hàm lượng muối dinh dưỡng cũng như các trường khí .Thủy triều đỏ (red tide). hiện tượng nước trồi tỏ ra mạnh nhất. hàm lượng oxy hòa tan suy giảm nhanh chóng. Hiện tượng thủy triều đỏ có liên quan chặt chẽ tới sự phú dưỡng của thủy vực. Trong đó. Quá trình này làm thay đổi thành phần hóa học trong nước.

Theo các nhà khoa học. Dinophysis Bà con nuôi thủy sản nên chú ý quản lý chặt chẽ thức ăn cũng như nguồn thải tránh hiện tượng Phú dưỡng của ao nuôi cung như các thủy vực khác nơi nguồn thải tập trung.ra trong các hồ nước ngọt và các ao nuôi thủy sản. Pseudo-nitzschia. có sự cảnh báo để bảo vệ sức khỏe cộng đồng. lâu dài như: Về quy luật phát sinh và lan truyền của hiện tượng Thủy triều đỏ và nở hoa nước. Photpho trong nước-nguồn gốc và việc loại bỏ . trong trường hợp xấu nhất có thể gây hiện tượng phú dưỡng hóa nước bê mặt. Oscillitoria. là kết quả của sự gia tăng nồng độ phophat quá mức trong nước. Hapalosiphon and Anabaenopsis. Anabaena. Việc phân tích PO4-P hoàn toàn cần thiết không chỉ để đáp ứng yêu cầu quan trắc giới hạn xả thải mà còn để đánh giá hiệu suất và chi phí xử lý của quá trình loại trừ photpho. Các nhà máy xử lý nước thải vì thế cần phải loại trừ PO4 trong các quá trình nitrat hóa/đề nitrat hóa hay trong quá trình xử lý hóa học bằng cách tạo kết tủa với photpho. đồng thời đánh giá đầy đủ về những thiệt hại mà nó gây ra. Cylindrospermopsis and Aphanizomenon. Chất dinh dưỡng-Photpho trong nước thải Sự phát triển của tảo. Trên cơ sở đó. Cho nên cần có một giới hạn xả thải về chỉ tiêu PO4-P để ngăn ngừa hiện tượng này. Gyrodiunium. Các loài Tảo thường gây nở hoa nước gây độc hại: Harmful and toxic algae Microcystis. hiện tượng Thủy triều đỏ và nở hoa nước là một trong những vấn đề cấp bách cần được quan tâm nghiên cứu cụ thể. Alexandrium. về sinh thái phát triển và sản sinh độc tố của một số loài vi tảo kể cả các loài đang hình thành có khả năng nở hoa.

Nồng độ để bắt đầu gây ra hiện tượng phú dưỡng là khoảng 0. Tùy vào nồng độ photpho trong nước mà hiện tượng phú dưỡng có thể xảy ra hay không. .2 mg/L PO4-P trong nước động và 0.01mg/L PO4-P trong nước tĩnh. Phòng ngừa nguy hại tiềm ẩn cho nước bề mặt. quá trình phân hủy chúng sẽ cần đến khoảng 150g oxy hòa tan. hướng dẫn 91/271/EEC của EU đã đưa ra các mức giới hạn của nguồn thải trước khi xả vào nguồn tiếp nhận.0050. Phụ thuộc vào công suất của nhà máy xử lý nước thải. Tuy nhiên nếu phân tích photpho tổng (kiểm soát giới hạn thải) thì mẫu phải được đồng nhất và sau đó được thủy phân. các giá trị này có thể là 2 mg/L P-tổng (10000 – 100000 p.1-0. Trước khi phân tích cần xác định dạng tồn tại của photpho. keo hay rắn. Nếu chỉ xác định orth-photphat (mục đích kiểm soát quá trình kết tủa photpho) thì mẫu cần được lọc trước khi phân tích. Chỉ 1g PO4-P trong nước có thể đủ cho nhu cầu 100 g tảo phát triển.Các ảnh hưởng của photpho lên nước mặt Hợp chất photpho là chất dinh dưỡng cần thiết cho thực vật và gây nên sự phát triển của tảo trong nước mặt.e) hay 1 mg/L P-tổng (>100000 p. Khi những loại tảo này chết. Photphat có thể ở dạng hòa tan.e) Photphat có từ đâu? Hợp chất photphat tìm thấy trong nước thải hay được thải ra trực tiếp vào nguồn nước mặt phát sinh từ: Thất thoát từ phân bón có trong đất Chất thải từ người và động vật Các hóa chất tẩy rửa và làm sạch Tổng lượng photpho bao gồm ortho photphat + poly-photphat + hợp chất photpho hữu cơ trong đó ortho photphat luôn chiếm tỉ lệ cao nhất.

kết tủa P). Tổng PO4 (nước uống và nước nồi hơi) .Thành phần P và phương pháp xác định Ortho-photphat (lân hòa tan) Công thức: PO43Chuẩn bị mẫu: Lọc Cuvet: LCK049/349/348/350 Thiết bị phân tích: PHOSPHAX sc (phương pháp molybdate-vanadate) Ứng dụng: Ortho-PO4-P (nước thải.PO4Chuẩn bị mẫu: Đồng nhất.PO4. phân hủy Cuvet: LCK349/348/350 Thiết bị phân tích: PHOSPHAX sigma (phương pháp phosphomolybdate xanh theo EN 1189) Ứng dụng: Tổng PO4-P (nước thải). Ortho-P (nước uống và nước nồi hơi) Polyphotphat Công thức: PO4. phân hủy Hợp chất photpho hữu cơ Công thức: R-PO4 Chuẩn bị mẫu: Đồng nhất. phân hủy Tổng photpho Công thức: Tổng PO4 Chuẩn bị mẫu: Đồng nhất.

Trong thực tế. hai phương pháp này được kết hợp để loại bỏ photpho nhằm giảm chi phí sử dụng hóa chất. Đó là do lượng bùn bị tuần hoàn giữa môi trường kị khí và hiếu khí. Lập biểu đồ giá trị nồng độ theo thời gian từ giá trị đo liên tục và một số điểm được kiểm tra lại theo giá định đo tại phòng thí nghiệm. Phân tích photphat Để phân tích thường xuyên thì trong các quy trình xử lý nước thải một số điểm cần phải được quan trắc liên tục để kiểm soát hiệu suất hoạt động. Đo liên tục nồng độ PO4-P kết hợp với hệ thống kết tủa thải bỏ sẽ cho hiệu quả cao hơn.25 trong dòng vào bể sục khí nơi lượng photpho bị phân hủy gia tăng. Hiệu quả loại trừ bằng phương pháp sinh học phụ thuộc vào lượng hữu cơ dễ bị phân hủy (BOD5). Phương pháp sinh học loại bỏ photphat Photphat có trong bể chứa nhiều hơn so với nhu cầu binh thường trong bùn hoạt tính. Tỉ lệ P/BOD5 là nhỏ hơn 0. PO4-P có thể được phân tích liên tục hoặc tại phòng thí nghiệm. Hơn nữa muối photphat kết tủa sẽ làm tăng lượng bùn thải.03 và N/BOD5 là nhỏ hơn 0. .Sự khử photphat Ngày nay nồng độ trung bình photpho tổng trong nước thải sinh hoạt đầu vào của một nhà máy xử lý vào khoảng 9mg/L nên phải được loại bỏ bớt trước khi thải vào nguồn tiếp nhận. Nhược điểm của phương pháp kết tủa là nó làm tăng hàm lượng muối trong nước và cũng tốn kém chi phí hóa chất tạo lắng. Có phương pháp xử lý: xử lý sinh học loại trừ photpho và xử lý hóa học kết tủa photpho.

Lượng polyphotphat phân hủy kém. tăng lượng hóa chất hoặc cho thêm vào ở nhiều vị trí khác nhau 2. nhôm. Các muối này lắng xuống và lưu lại trong bùn thải. Nếu độ khác biệt thấp. Các nguyên nhân và biện pháp khắc phục: 1. nồng độ ortho-PO4-P thì sẽ rất cao. có thể từ chất tẩy rửa dùng trong công nghiệp Tình trạng này có thể được cải thiện bằng cách loại trừ ngay tại điểm xảy ra hiện tượng khi chất tạo lắng không phản ứng với loại hợp chất này . vôi sữa). trong bể khí khí (kết tủa đồng thời) hay tại bể phản ứng phụ cuối dòng của bể hiếu khí (sau kết tủa). Các nguyên nhân và sự khử nồng độ PO4-P cao Nếu giá trị P tổng trong nhà máy xử lý cao hơn mức bình thường. Tỉ lệ chất rắn cao gây thất thoát bùn Ít bùn hoạt tính dạng sợi kết hợp với việc quá tải lượng nước (do mưa.Phương pháp hóa học loại bỏ photphat bằng kết tủa Các hợp chất ortho-photpho bị kết tủa khi lượng photphat kim loại hòa tan kém và sự có mặt của các hóa chất tạo lắng (muối sắt. thì tỉ lệ hợp chất photpho không hòa tan sẽ cao. Các chất tạo kết tủa có thể được cho vào ở quá trình xử lý sơ bộ (trước kết tủa). Quá ít hóa chất tạo lắng được cho vào hoặc được đưa vào không đúng vị trí thích hợp Kiểm tra liều lượng chất tạo lắng Nếu cần thiết. tuyết tan) Quan trắc độ axit trong bể hiếu khí hoặc hành động để chống lượng bùn lớn 2. Các nguyên nhân và biện pháp khắc phục: 1. Hiệu quả nhất là tại quá trình kết tủa đồng thời và tiết kiệm chi phí nhất. sự khác biệt giữa P tổng và ortho-P phải được đánh giá đầu tiên. Photpho bị vón cục trong bể lắng thứ cấp Nồng độ PO4-P trong dòng ra ở bể lắng thứ cấp thì được cao hơn đáng kể ở quá trình nitrat hóa Tăng lượng oxy hòa tan trong quá trình nitrat hóa hay tăng tỉ lệ bùn tuần hoàn Nếu giá trị giữa P tổng và PO4-P khác biệt lớn.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful