P. 1
cau hoi pldc

cau hoi pldc

|Views: 9,836|Likes:
Được xuất bản bởiHoàng Huy Nguyễn

More info:

Published by: Hoàng Huy Nguyễn on Apr 13, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

08/13/2013

pdf

text

original

I. LUẬT TÀI CHÍNH
1. Khái niệm Luật tài chính

a. Đối tường và phương pháp điều chỉnh của Luật tài chính

Đối tượng điều chỉnh của Luật tài chính là những quan hệ phát
sinh gắn liền với việc hình thành và quản lý, sử dụng các nguồn
vốn tiền tệ nhất định như: quỹ ngân sách nhà nước, quỹ của doanh
nghiệp, quỹ của doanh nghiệp bảo hiểm được biểu hiện dưới hình
thái tiền tệ.
Luật tài chính sử dụng hai phương pháp điều chỉnh là:
Phương pháp mệnh lệnh: thể hiện mối quan hệ bất bình đẳng giữa
các chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật tài chính, một bên nhân
danh nhà nước có quyền ra lệnh buộc chủ thể bên kia phải thực hiện
những hành vi nhất định như trong quan hệ thu nộp thuế, cấp phát
kinh phí.

Phương pháp bình đẳng thỏa thuận: thể hiện các chủ thể
tham gia trong quan hệ tài chính bình đẳng về địa vị pháp lý. Sự
bình đẳng thể hiện ở quyền và nghĩa vụ tài chính mà các bên phải
thực hiện hoặc trong trường hợp các bên không phải thực hiện

nghĩa vụ và thể hiện quyền tự quyết định trong khuôn khổ pháp
luật của các chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật tài chính như
các quan hệ phát sinh trong quá trình phân phối nguồn tài chính do
các tổ chức kinh tế tạo ra trong quá trình hình thành, sử dụng quỹ
tiền tệ của các chủ thể khác nhau trong xã hội.

b. Định nghĩa Luật tài chính

Luật tài chính là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt
Nam, bao gồm tập hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban
hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình
hình thành, phân phối và sử dựng các quỹ tiền tệ của các chủ thể
thực hiện hoạt động phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị.

2. Một số chế định cơ bản của Luật tài chính

a, Chế định ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng đối với
sự ổn định và phát triển của nền kinh tế và đời sống xã hội ở
mỗi quốc gia, đối với việc thực hiện các chức năng và nhiệm
vụ của nhà nước.
Nhà nước sử dụng ngân sách nhà nước là một công cụ tài
chính để huy động các nguồn tài chính trong xã hội nhằm
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia,
quản lý và điều tiết vĩ mô nên kinh tế xã hội.

Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước
trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định
và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của nhà nước (Điều 1 Luật ngân sách nhà nước
2002).
Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập
trung dân chủ, công khai minh bạch, có phân công, phân cấp quản
lý, gắn với quyền hạn và trách nhiệm. Ngân sách nhà nước bao

gồm: ngân sách nhà nước trung ương và ngân sách nhà nước địa
phương.
Chế định ngân sách nhà nước là một chế định cơ bản của Luật tài
chính, là tập hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban
hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá
trình hình thành, quản lý và sử dụng quỹ ngân sách nhà
nước, quan hệ trong quá trình lập, chấp hành phê chuẩn
và quyết toán ngân sách nhà nước. Bao gồm các nhóm
quy phạm pháp luật cụ thể:
- Nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh
từ việc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước về lập, chấp
hành, quyết toán ngân sách nhà nước.
- Nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh
trong quá trình thu ngân sách nhà nước.
- Nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh
trong quá trình nhà nước thực hiện hoạt động phân phối
vốn ngân sách nhà nước từ quỹ ngân sách nhà nước.
- Nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh
trong quá trình tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý
thu, chi ngân sách nhà nước.

Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ lớn nhất của nhà nước.
Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và
ngân sách địa phương. Ngân sách nhà nước được hình
thành từ nhiều nguồn thu của các chủ thể thuộc nhiều thành
phần kinh tế khác nhau, bao gồm: các khoản thu mang tính
chất thuế, phí, lệ phí; các khoản thu mang tính chất ngoài
thuế, phí, lệ phí như thu sử dụng vốn ngân sách nhà nước,
thu từ bán, cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước.

b, Chế định thuế

Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện
tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với
phạm trù nhà nước và pháp luật.

- Thuế là một thực thể pháp lý nhân định nhưng sự ra đời và
tồn tại của nó không chỉ phụ thuộc vào ý chí con người mà
còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội của từng
thời kỳ lịch sử nhất định.

- Thuế là khoản nộp bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân có
nghĩa vụ phải nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp
luật, không mang tính chất đối giá và không hoàn trả trực tiếp.
Điều 80 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy
định: “Công dân có nghĩa vụ đóng thuế theo quy định của pháp
luật”. Điều 22 Hiến pháp 1992 quy định “Các cơ sở sản xuất kinh
doanh thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ với ngân sách nhà nước”. Mặt khác, bất kỳ một nhà nước nào
muốn duy trì sự tồn tại và hoạt động của mình đều phải có trong
tay mình những cơ sở vật chất nhất định “thuế khoá là bầu sữa của
chính phủ” để từ đó nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của mình.

Sự tồn tại và phát triển của nhà nước trong từng giai đoạn
lịch sử, đặc điểm của phương thức sản xuất, kết cấu giai
cấp là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến vai trò, nội
dung, đặc điểm của thuế. Do đó, cơ cấu và nội dung của cả
hệ thống pháp luật thuế và từng Luật thuế phải được nghiên
cứu, sửa đổi bổ sung, cải tiến và đổi mới kịp thời nhằm thích
hợp với tình hình, nhiệm vụ của từng giai đoạn. Đồng thời
phải tổ chức bộ máy phù hợp, đủ sức đảm bảo thực hiện
các quy định pháp luật về thuế đã được nhà nước ban hành
trong từng thời kỳ.

Như vậy, thuế là một khoản nộp bắt buộc của các pháp nhân và thể
nhân có nghĩa vụ phải nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định
của pháp luật không mang tính chất đối giá và không hoàn trả trực
tiếp cho người nộp.
Hệ thống thuế ở nước ta hiện nay ban hành dưới hình thức thuế
trực thu bao gồm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh

nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế
chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà đất, thuế môn bài và thuế gián
thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt.

Cơ quan quản lý thu thuế là hệ thống cơ quan thuế, cơ quan
hải quan trong việc quản lý đối tượng nộp thuế, ra thông báo
nộp thuế và đôn đốc đối tượng nộp thuế, và kho bạc nhà
nước thực hiện chức năng thu và quản lý các khoản thu
thuế.

c, Chế định bảo hiểm thương mại

Đề ngăn ngừa và khắc phục những rủi ro xảy ra trong đời
sống kinh tế xã hội, con người đã sử dụng nhiều biện pháp
khác nhau như biện pháp phòng ngừa, biện pháp cứu trợ,
biện pháp bảo hiểm.
Căn cứ vào phương thức hình thành tính chất và mục đích
sử dụng các loại quỹ bảo hiểm tập trung mang tính cộng
đồng mà người ta phân loại 2 hình thức bảo hiểm là bảo
hiểm không mang tính kinh doanh và bảo hiểm thương mại
là hai hình thức chủ yếu:
- Bảo hiểm không mang tính kinh doanh là một loại hình bảo
hiểm do nhà nước thực hiện để nhằm thực hiện chính sách
kinh tế - xã hội, đặt dưới sự bảo trợ không mang tính chất
kiếm lời bao gồm: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
tiền gửi.
- Bảo hiểm thương mại là hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp bảo hiểm trên cơ sở lập quỹ bảo hiểm từ nguồn phí
bảo hiểm mà người tham gia bảo hiểm đóng góp và được
sử dụng để bồi thường, chi trả cho các trường hợp thuộc
diện bảo hiểm.

Chế định bảo hiểm thương mại là một trong những chế định quan
trọng của Luật tài chính, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp

luật được nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội
phát sinh trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm và các quan hệ có
liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

Như vậy, pháp luật kinh doanh bảo hiểm điều chỉnh ba
nhóm quan hệ cơ bản sau:
Nhóm thứ nhất: Các quy phạm pháp luật quy định địa vị
pháp lý của chủ thể kinh doanh bảo hiểm là các doanh
nghiệp bảo hiểm. Loại quy phạm pháp luật này chứa ở các
loại nguồn như: Luật kinh doanh bảo hiểm, các luật về
doanh nghiệp.
Nhóm thứ hai: Các quy phạm pháp luật điều chỉnh về quản
lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

Nhóm thứ ba: Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ kinh
doanh bảo hiểm bao gồm: thu nộp phí bảo hiểm và trả tiền bảo
hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm.
Các quy phạm pháp luật loại này chứa đựng chủ yếu ở luật kinh
doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Bảo hiểm thương mại là một quan hệ kinh doanh được thiết
lập trên cơ sở hợp đồng bình đẳng thỏa thuận giữa một bên
là doanh nghiệp bảo hiểm và một bên là các tổ chức, cá
nhân đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.

- Bên bảo hiểm là các doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập và
hoạt động theo luật kinh doanh bảo hiểm tham gia hợp đồng bảo
hiểm với tư cách là một bên trong quan hệ pháp luật bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm với tư cách là chủ thể thực hiện hoạt động
kinh doanh bảo hiểm thực hiện việc thu phí bảo hiểm và chi trả
tiền bảo hiểm khi có rủi ro bảo hiểm xảy ra.
- Bên tham gia bảo hiểm (bên mua bảo hiểm) là các tổ chức cá
nhân có nhu cầu bảo hiểm hoặc có nghiệp vụ tham gia bảo hiểm

theo quy định của pháp luật là một bên chủ thể tham gia giao kết
hợp đồng bảo hiểm thương mại.
- Tất cả tổ chức cá nhân có thể trở thành chủ thể của hợp đồng bảo
hiểm thương mại mà không phụ thuộc vào họ có tư cách pháp nhân
hoặc không, các tổ chức trong nước hay ngoài nước.
Bên mua bảo hiểm có thể vì lợi ích của mình hoặc của người khác.

Khoản tiền mà người tham gia bảo hiểm nộp cho doanh
nghiệp gọi là phí bảo hiểm. Phí bảo hiểm có thể do các bên
thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định tuỳ theo từng chế độ
bảo hiểm cụ thể.
Bảo hiểm thương mại gồm bảo hiểm con người, bảo hiểm
trách nhiệm dân sự, bảo hiểm tài sản.

II. LUẬT NGÂN HÀNG
1. Khái niệm Luật ngân hàng

a. Đối tường và phương pháp điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh của Luật ngân hàng là các quan hệ xã
hội phát sinh trong quá trình nhà nước thực hiện hoạt động
quản lý nhà nước đối với hoạt động ngân hàng trong nền
kinh tế. Các quan hệ tổ chức và kinh doanh ngân hàng là
các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, thực
hiện hoạt động kinh doanh ngân hàng của các tổ chức tín
dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác.

Phương pháp điều chỉnh của Luật ngân hàng là phương pháp tác động bình đẳng, thỏa thuận.

b. Định nghĩa Luật ngân hàng

Luật ngân hàng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước

tổ chức và quản lý hoạt động ngân hàng, các quan hệ về tổ
chức hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân
hàng của các tổ chức khác.

2. Một số chế định cơ bản của Luật ngân hàng

a, Chế định cho vay của các tổ chức tín dụng

Cho vay là một hình thức cấp tín dụng theo đó tổ
chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử
dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với
điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi.
Hoạt động cho vay của ngân hàng với các khách hàng được
thực hiện thông qua hợp đồng tín dụng.

Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận chung bằng văn bản giữa tổ
chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều
kiện do luật định (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận
ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất
định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm.

Chủ thể của hợp đồng tín dụng bao gồm bên cho vay (tổ
chức tín dụng) với bên vay (tổ chức cá nhân có đủ những
điều kiện do luật định).
Các điều kiện chủ thể đối với bên cho vay bao gồm:
(1) Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân

hàng nhà nước cấp;
(2) Có điều lệ do Ngân hàng nhà nước chuẩn
y;
(3) Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
hợp pháp;

(4) Có ngư ời đại diện đủ năng lực và thẩm
quyền để giao kết hợp đồng tín dụng với khách hàng.
Các điều kiện chủ thể đối với bên vay là các pháp nhân, cá
nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình và doanh nghiệp tư nhân bao
gồm:
- Có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Đối với
các tổ chức (pháp nhân hay tổ chức không phải pháp nhân
nh ư hộ gia đình, tổ hợp tác) còn phải có ng ười đại diện
hợp pháp có năng lực và thẩm quyền đại diện;
- Có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.

Ngoài điều kiện chung là năng lực chủ thể, tổ chức và cá
nhân muốn vay vốn của các tổ chức tín dụng còn phải có thêm
những điều kiện riêng áp dụng đối với từng chế độ cho vay cụ thể.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, các chủ thể cho vay
có thể dưới hình thức có bảo đảm bằng tài sản hoặc khồn
có bảo đảm bằng tài sản do chính các chủ thể thẩm định,
lựa chọn khách hàng và quyết định.

b, Chế định bảo lãnh ngân hàng

Ở Việt Nam, theo khoản 12, Điều 20 Luật Các tổ chức tín
dụng thì bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ
chức tín dụng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ
tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực
hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và
hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.
Tham gia trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng có ba chủ thể
tham gia là bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được
bảo lãnh.
Theo Điều 58 Luật các tổ chức tín dụng, bên bảo lãnh tổ
chức tín dụng có đủ những điều kiện theo luật định, bao

gồm: ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng
thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài, ngân hàng đầu t ư phát triển và một số tổ
chức tín dụng khác được Ngân hàng nhà nước cho phép thực
hiện nghiệp vụ bảo lãnh đối với khách hàng. Ngoài ra, trong
trường hợp đặc biệt, Ngân hàng nhà nước có thể tham gia
với t ư cách là người bảo lãnh khi được Chính phủ chỉ định.
Xét về điều kiện chủ thể, một tổ chức tín dụng chỉ được
quyền thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh đối với khách hàng khi
thỏa mãn các điều kiện là có tư cách pháp nhân và có
người đại diện hợp pháp; đ ược ngân hàng nhà nước cho
phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh đối với khách hàng.

Theo các quy định hiện hành ở Việt Nam, bên nhận bảo lãnh trong
nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng được hiểu là người có quyền thụ hư
ởng một món nợ do người được bảo lãnh thanh toán từ một nghĩa
vụ trong các hợp đồng (chẳng hạn, hợp đồng về xây dựng cơ bản,
hợp đồng tín dụng,...) hay các nghĩa vụ thanh toán ngoài hợp đồng
(chẳng hạn, nghĩa vụ nộp thuế, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng,...).
Khi tham gia hợp đồng bảo lãnh với các tổ chức tín dụng, bên nhận
bảo lãnh phải thỏa mãn những điều kiện chủ thể do pháp luật quy
định nhằm góp phần đảm bảo sự hữu hiệu của hợp đồng. Các điều
kiện đó bao gồm: có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân
sự. Đối với người bảo lãnh là một tổ chức thì tổ chức đó phải có
người đại diện hợp pháp có đủ năng lực và thẩm quyền; có các
giấy tờ, tài liệu hay bằng chứng khác chứng minh quyền chủ nợ
trong một nghĩa vụ cần được bảo đảm.

CÂU HỎI ÔN TẬP

1. Phân biệt thuế trực thu và thuế gián thu.

2. Phân tích chủ thể của hợp đồng tín dụng. Lấy ví dụ minh
hoạ.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->