Chương 6

THU HỒI VÀ TÁI CHẾ CHẤT THẢI RẮN CÁC TRẠM TRUNG CHUYỂN
6.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÁI CHẾ VÀ TÁI SỬ DỤNG LẠI CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ Tái chế là hoạt động thu hồi lại từ chất thải các thành phần có thể sử dụng để chế biến thành các sản phẩm mới sử dụng lại cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất. Tái chế vật liệu: bao gồm các hoạt động thu gom vật liệu có thể tái chế từ dòng rác, xử lý trung gian và sử dụng vật liệu này để tái sản xuất các sản phẩm mới hoặc sản phẩm khác. Tái chế nhiệt: bao gồm các hoạt động khôi phục năng lượng từ rác thải. Củng có thể coi hoạt động tái chế như hoạt động tái sinh lại chất thải thông qua: Tái sinh sản phẩm chuyển hóa hóa học: chủ yếu dùng phương pháp đốt để thành các sản phẩm khí đốt, hơi nóng và các hợp chất hữu cơ. Tái sinh các sản phẩm chuyển hóa sinh học: chủ yếu thông qua quá trình lên men, phân hủy chuyển hóa sinh học, để thu hồi các sản phẩm như: phân bón, khí mêtan, protêin, các loại cồn và nhiều hợp chất hữu cơ khác. Tái sinh năng lượng từ các sản phẩm chuyển hóa: từ các sản phẩm chuyển hóa bằng quá trình sinh học, hóa học có thể tái sinh năng lượng bằng quá trình đốt tạo thành hơi nước và phát điện. Hoạt động tái chế mang lại những lợi ích sau: Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên bởi việc sử dụng vật liệu được tái chế thay cho vật liệu gốc; Giảm lượng rác thông qua việc giảm chi phí đổ thải, giảm tác động môi trường do đổ thải gây ra, tiết kiệm diện tích chôn lấp; Một lợi ích quan trọng là có thể thu lợi nhuận từ hoạt động tái chế; hoạt động tái chế lúc này sẽ mang tính kinh doanh và vì thế có thể giải thích tại sao các vật liệu có thể tái chế hiện được thu gom ngay từ nguồn phát sinh cho tới khâu xử lý và tiêu hủy cuối cùng.

6.2. CÁC HOẠT ĐỘNG TÁI CHẾ VÀ THU HỒI CHẤT THẢI
-1-

Hoạt động tái chế và thu hồi chất thải được thực hiện thông qua hệ thống thu gom chất thải rắn theo mạng lưới 3 cấp gồm: người thu gom, đồng nát và buôn bán phế liệu (hình 6.1). Công nghiệp thu hồi có 3 cấp được chia thành 6 nhóm nghề: 1. Cấp thứ nhất (gồm người đồng nát và người nhặt rác): Hai nhóm người này có cùng chức năng trong hệ thống thu gom, nhưng lại khác nhau về địa điểm hoạt động, công cụ làm việc và nhu cầu vốn lưu động. 2. Cấp thứ hai (gồm những người thu mua đồng nát và người thu mua phế liệu từ người thu nhặt tại bãi đổ rác, người nhặt rác và đồng nát trên vỉa hè trong toàn thành phố): Những người thu mua phế liệu này củng tiến hành theo cách tương tự tại những nơi cố định. 3. Cấp thứ ba: gồm những người buôn bán hoạt động kinh doanh với quy mô lớn hơn ở nhiều địa điểm cố định và các đại lý thu mua thường là điểm nút đặc biệt trong buôn bán như các bên trung gian giữa các ngành công nghiệp và người bán lại. Tùy thuộc vào vị trí, nguồn nguyên liệu, công nghệ sản xuất, thành phần chất thải mà lựa chọn các phương pháp tái sinh khác nhau. Các loại chất thải rắn và xỉ không thể sử dụng được nữa được đổ ở bãi chôn lấp hoặc đổ xuống biển. Tất cả các vật liệu trước và sau khi sử dụng có thể cần cho hoạt động kinh doanh, có trong rác thải đô thị như các chất hữu cơ, kim loại, nhựa, giấy, kinh v.v… được gọi là “vật liệu có thể tái chế”. Hoạt động tái chế củng cần chi phí để thu gom, vận chuyển, chế biến và ngăn chặn các tác động tiêu cực lên môi trường do quá trình tái chế gây ra, do đó, nếu như chi phí tái chế cao hơn lợi ích tái chế thì lúc đó hoạt động tái chế không được coi là hoạt động kinh doanh. Nếu chi phí tái chế thấp hơn lợi ích tái chế thì hoạt động tái chế được coi là hoạt động kinh doanh. Sơ đồ hệ thống thu hồi các chất và dòng lưu chuyển các nguồn vật liệu được thể hiện ở hình 6.2.

-2-

Nguồn phế thải phế liệu

Nhóm thu gom phế liệu Đội quân bới rác tại bãi rác

Nhóm thu mua phế liệu Thu mua tại bãi đổ rác

Nhóm buôn bán và sử dụng lại phế liệu

Bãi chôn lấp
Bãi tập kết tạm thời trạm trung chuyển

Các cơ sở sản xuất ngành công nghiệp Đội quân nhặt rác lưu động Thu mua đồng nát tại kho chứa

Xe đẩy rác tay Đường phố Thùng rác, bể chứa rác
Các hộ gia đình

Đại lý và những người buôn bán

Xuất khẩu

Khác sạn Những người mua đồng nát lưu động Hoạt động thu mua dọc đường phố

Cơ quan Trường học Nhà hàng ăn uống, nhà trọ

Hình 6.1. Sơ đồ mạng lưới thu gom chất thải rắn của tư nhân

-3-

Dòng lưu chuyển các nguồn vật liệu Sản xuất nhựa Sản xuất nhựa Chai PET Sản xuất đóng chai Tái chế Tiêu dùng Sản xuất Tiêu dùng Đổ thải rác Đổ thải rác Hình 6.Tác động môi trường Tiêu hủy cuối cùng (chôn lấp) Sản xuất Phân phối Tiêu dùng Chất thải Tái chế Môi trường toàn cầu (hệ sinh thái) Xử lý trung gian “Xử lý tốt hơn” (tái chế) Tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên kinh tế Hoạt động kinh tế “kinh tế thị trường” Các nguồn tài nguyên tái chế Tái sản xuất Tài nguyên có thể tái chế Các tác động môi trường Hình 6.2a.2c. Mô hình dòng quay vòng giữa hai sản phẩm -4- .

Luật tái chế vỏ hộp và bao bì (1996). củng như bảo vệ được nguồn lực cho các hoạt động này. còn nếu kết quả ngược lại thì có nghĩa là hoạt động tái chế không mang lại hiệu quả. Các hoạt động tái chế rác thải ở Nhật Bản được hỗ trợ bởi hệ thống luật và quy định của nhà nước bao gồm: Luật quản lý rác thải và giữ vệ sinh công cộng (1970).QPET NBr : lợi ích tái chế QPET : lượng chai PET Hoặc: NBr = [PV 1 – PV 2] + [CVE 1 + CVU 1 .3.4. 1 (6. Thay đổi về tổng chi phí đổ thải rác ở Nhật Bản được minh họa trong hình 6.2) dương thì có nghĩa hoạt động tái chế mang lại hiệu quả. 100% các chai thủy tinh và 75% số lượng đồ hộp vỏ kim loại và nhôm được thu hồi và -5- . người ta sử dụng công thức: NBr.1) (6.CRE 1 : chênh lệch chi phí bên ngoài CCW 1 – CCR 1 : chênh lệch chi phí thu gom CDW 1 : chi phí tiết kiệm đổ thải rác Nếu kết quả tính theo phương trình (6. Sự thay đổi về tổng lượng rác đô thị (rác thường) phát sinh ở Nhật Bản được minh họa ở hình 6. Luật thúc đẩy sử dụng các nguồn tài nguyên có thể tái chế (1991).T = NBr. các hoạt động tái chế được dựa trên cơ sở tính toán lượng rác sản sinh ra. chi phí đổ thải và tỉ lệ tái chế. Luật quản lý rác thải (1992). quay vòng và thu hồi chất thải là một trong những giải pháp có hiệu quả về mặt chi phí xử lý và tiêu hủy chất thải. Tỷ lệ phát sinh chất thải trung bình tại Nhật Bản là 1kg/người.ngày. Ở một số nước như Nhật Bản.CRE 1] + [CCW 1 – CCR 1] + CDW Trong đó: PV 1 – PV 2 : chênh lệch về chi phí giữa vật liệu thô CVE 1 + CVU 1 .Để tính lợi ích tái chế. Các hoạt động tái sử dụng . Luật tái chế thiết bị điện (1998).2) Theo con số thống kê tại Nhật Bản năm 1995 có khoảng 50% giấy loại được thu hồi và tái chế.

5 thể hiện lượng các thành phần thu hồi và tái chế từ rác thải thông thường trong vòng 10 năm từ 1985 – 1995 tại Nhật Bản.tái chế. Chính quyền địa phương Người tiêu dùng Hệ thống tái chế chất thải Tái chế Đốt rác. Sơ đồ hệ thống tái chế chất thải tại Đức (Duales System Deutschland).7. chôn lấp * Đầu tư * Đưa ra giá thu gom và tái chế Các công ty sản xuất và bán Hình 6. Chỉ số quản lý rác thải ở một số nước được thể hiện ở bảng 6.Hỗ trợ về giá cả .bao gồm tái chế nhiệt Tái chế .Áp dụng chi phí thu gom và tái chế Công ty sản xuất và bán hàng Hìn 6. được minh họa ở hình 6. Sơ đồ hệ thống tái chế chất thải tại Pháp được minh họa ở hình 6.1.6. chôn lấp Tái chế .Đầu tư . Hình 6. Sơ đồ hệ thống tái chế chất thải tại Pháp -6- .6. Sơ đồ hệ thống tái chế chất thải tại Đức Rác thải bao bì Người tiêu dùng Chất thải khác Chính quyền địa phương (phân loại và thu gom) Đốt.7.

9 58.080 27. Kim loại quý.Bảng 6.năm) Chôn lấp (%) 22. hay vàng từ công nghệ mạ… -7- .8 16 15. dầu hay dung môi thải có thể tái chế sử dụng làm nhiên liệu đốt.420 32. dung môi có thể thu hồi bằng cách chưng cất – các nhà máy sơn có thể giảm nhẹ những vấn đề quản lý phế thải và giảm chi phí mua vật tư hoặc củng có thể thu hồi đồng dạng oxyt hay hydroxyt từ dung dịch ăn mòn đồng.2 29.9 50 83 52 38 75 11 16 82 Đốt (%) 72. Một số loại phế thải hạ cấp từ quá trình này song lại có thể sử dụng cho một quá trình khác.7 77.4 81.7 7.5 Nhiều phế thải nguy hiểm nhưng trong đó vẫn có những thành phần có thể thu hồi hay tái sử dụng được. thu hồi các kim loại quý như bạc từ phế thải ngành ảnh.3 58. Những chất này có thể là: Axit hay kiềm Dung môi.1 15 12.4 269. dầu.590 28.2 5.800 25.0 quốc nội GDP (USD) Nhật Mỹ Đức Pháp Anh Hà Lan Thụy Điển Tây Ban Nha Thụy Sỹ Đan Mạch Canada Việt Nam 41.200 400 701 417 348 347 484 314 323 406 351 646 Chất thải (kg/người.280 19.5 40 13 27 55 5 76 71 8 8 7 20 13 13 10 Ủ sinh học (%) 2 3.250 19.6 8. Kim loại nặng.1 15.1 10 13 Thu hồi tái chế (%) 3. Chỉ số quản lý rác thải ở một số nước trên thế giới năm 1992 Thu nhập Tên nước Dân số (triệu) 125. Dung dịch ăn mòn.1.200 43.8 39.860 26.850 25. Thí dụ: phế thải axit từ một số cơ sở công nghiệp có thể sử dụng như một nguồn nguyên liệu ban đầu cho một đối tượng khác.5 67 68.770 14.

Để phân rã sinh hoạt hoàn toàn plastic có nguồn gốc từ hóa dầu ngày nay cần có một thời gian từ 2 – 4 thế kỷ. sợi tự nhiên… lần lượt được thay thế bằng nhựa. THU HỒI VÀ TÁI CHẾ CHẤT DẺO Ở Việt Nam các sản phẩm chất dẻo bắt đầu thâm nhập vào cuộc sống từ những năm 1960.560 215. nứa. Với những tính năng ưu việt đó. Mặt khác. Bảng 6. năng lượng cần thiết cho việc tạo ra nó củng nhỏ hơn 2 lần. Một số vật dụng gia đình trước đây chế tạo từ tre. Tuy nhiên. vật liệu plastic cũng chiếm lĩnh thị trường trong nhiều lĩnh vực như cấp thoát nước . Những vấn đề đặt ra khi thu gom và tái chế vật liệu chất dẻo: -8- .500 100 100 100 100 284 159 159 640 Chất dẻo Giấy Tính bền vững của chất dẻo dẫn đến sự tồn tại dai dẳng của chúng trong thiên nhiên sau khi sử dụng. giấy đã được thay thế bằng plastic.6. khối lượng vật liệu ban đầu cần thiết để tạo ra nó củng thấp hơn 20 lần. plastic dẫn đầu so với những vật liệu cạnh tranh với nó trong lĩnh vực bao gói như thủy tinh. nhu cầu nước cần cho chế tạo giảm đi 1. trang trí… Vật liệu plastic đã góp phần nâng cao mức độ văn minh của cuộc sống nhưng cũng đặt ra không ít những vấn đề rắc rối liên quan đến công tác bảo vệ môi trường. So sánh mức độ ô nhiễm trong quá trình chế tạo chất dẻo và giấy Chất ô nhiễm Ô nhiễm không khí SO2 NOx COx C Ô nhiễm nước DCO DCO5 100 100 21. dù bị chỉ trích nhiều nhưng vật liệu plastic vẫn được sử dụng rộng rãi do tính ưu việt của nó cả về mặt kinh tế lẫn kỹ thuật.2. so với túi xách catton thì quá trình chế tạo túi xách plastic thải ít ô nhiễm hơn đối với môi trường như trình bày ở bảng 6. Trong công nghiệp và xây dựng.2.5 lần và chất thải rắn giảm đi một nữa. Bao gói thực phẩm bằng lá cây.3.

Chất độ do phân hủy nhiệt plastic gây ra khi đốt rác. Ô nhiễm môi trường nước. So sánh chất lượng. Các nhà môi trường phản đối vật liệu plastic vì những lý do sau đây: Chất độc thải ra trong quá trình chế tạo plastic. Vấn đề tập trung thu hồi và xử lý các chất thải polyme – chất dẻo đòi hỏi phải giải quyết ngay trong điều kiện sản xuất nơi có nhu cầu chất dẻo. Tuy nhiên việc thu gom chất dẻo hiện nay chưa cho phép tạo ra sản phẩm nhựa tái sinh có tỉ lệ chất lượng. Trong khi đó. Xử lý chế biến lại từng loại chất dẻo polyme ngay trong điều kiện sản xuất. sử dụng và tiêu hủy. đặc biệt là chất lượng phân compost chế tạo từ rác. Ngoài ra. giá thành tương đương với kỹ thuât chế tạo sản phẩm từ hạt nhựa nguyên thủy. 2. Theo kết quả của bảng này thì việc thu gom để tái chế chất plastic từ túi xách đã qua sử dụng và chai lọ nhựa có hiệu suất năng lượng xấp xỉ nhau. Tuy nhiên việc thu gom plastic để tái sử dụng hay tiêu hủy chúng cùng với các thành phần chất thải rắn khác củng cần phải được cân nhắc trên khía cạnh kinh tế hơn là khía cạnh kỹ thuật. ở các bãi rác khác người ta phải tiêu tốn một năng lượng đáng kể để thu được một khối lượng chất dẻo có giá trị. Thu hồi tập trung các chất thải và vận chuyển tới nhà máy đặc biệt để chế biến sản phẩm xác định. ở đây chủ yếu đối với các loại chất dẻo dùng phản ứng nhiệt.Mặc dù chất dẻo hiện đang là vật liệu được ưa chuộng và có nhiều hứa hẹn trong tương lai nhưng chúng cũng đồng thời đang bị các nhà môi trường phản đối do mức độ gây ô nhiễm trong quá trình chế tạo. nếu xử lý bằng phương pháp đốt thì hiệu suất năng lượng của chai nhựa PVC chỉ bằng khoảng 50% hiệu suất năng lượng của túi xách. yêu cầu năng lượng để thu gom và tiêu hủy chất thải. đặc biệt là nước để rửa sản phẩm và lọc khói. giá thành vật liệu chất dẻo thu gom. Vấn đề sử dụng chất thải là vật liệu polyme với công nghệ và tính kinh -9- . Ô nhiễm môi trường không khí trong quá trình chuyên chở và tiêu hủy chất thải rắn. Việc thu gom chất dẻo chủ yếu để tái chế làm giảm năng lượng thu hồi bằng bằng phương pháp đốt rác. Làm giảm lượng chất thải rắn. Việc thu gom này chỉ có hiệu quả ở các bãi rác công nghiệp hay bãi rác thương mại. Khả năng tái sinh chất dẻo được xác định trên cơ sở phân tích tổ hợp các thông số sau đây: Cân bằng năng lượng tổng thể. Thực tế có hai hướng: 1.

thùng. THU HỒI VÀ CHẾ BIẾN CÁC SẢN PHẨM CAO SU Trong công nghiệp chế tạo máy. liên quan tới phương hướng sử dụng tiếp theo. bền vững sinh học. sấy nóng. tàng trử một nơi) thì lại gây nhiễm bẫn môi trường và do đó giá thành phá hủy lại cao hơn nhiều từ 6 – 8 lần so với chi phí xử lý và phá hủy các chất thải của đa số các xí nghiệp công nghiệp khác. 4. tất nhiên việc chế biến lại lần hai cũng liên quan với việc tổng hợp polyme và tạo sản phẩm lần đầu. Tốt nhất nên sử dụng chất thải polyme ở dạng làm nguồn nguyên liệu bổ sung. cơ học… Những vật liệu này không bị phân hủy tự nhiên(thối rữa. tan trong nước) mà dùng biện pháp phân hủy cưỡng bức (đốt. Do vậy giải quyết nhiệm vụ này phải gắn liền giữa tập trung – chế biến lại lần hai với việc sử dụng tiếp và sao cho nhuần nhuyễn. Việc ứng dụng công nghệ khả thi để chế biến nguyên liệu polyme thứ cấp sẽ cho phép thỏa mãn các nhu cầu của nền kinh tế quốc dân về loại vật liệu này. 2.10 - . 3. Phân tích kinh tế một cách cẩn thận về các phương pháp gia công chế biến khác nhau. Thông thường các công tác tháo dỡ khá lớn nên giá trị thu hồi không đáng kể. Khi giải quyết vấn đề sử dụng lại vật liệu polyme phải chia ra nhiều bước sau đây: 1. hộp…).tế càng trở nên phức tạp khi phải kể đến việc cải thiện tính chất của vật liệu chất dẻo như: bền vững đối với quá trình oxy hóa.4. hoặc các sản phẩm đã hao mòn bỏ đi rồi hoặc bán thành phẩm bỏ đi (phim. Để lấy miếng cao su từ trong kết cấu ra. phong hóa. đôi khi phải tháo dỡ các nút và các chi tiết ra. 6. Việc chế biến thứ cấp có đặc điểm riêng và là một quá trình công nghệ phức tạp nhiều cấp. Tổ chức thu hồi tập trung các phế thải polyme trong công nghiệp. việc sử dụng các sản phẩm cao su kỹ thuật rất đa dạng. Những nguồn chủ yếu của nguyên liệu polyme để sử dụng làm nguyên liệu thứ cấp là các chất thải công nghệ khi chế biến chất dẻo và tạo sản phẩm bằng phương pháp cơ học. nhưng tỷ lệ về lượng thì lại rất thấp so với khối lượng của sản phẩm. thiết bị có sẵn để chế biến lại lần hai. Tạo lập sơ đồ mới và hoàn thiện các sơ đồ công nghệ có sẵn. Trong đó phức tạp chủ yếu nhất là giải quyết vấn đề sử dụng các sản phẩm bỏ đi và cũ không dùng nữa. Nhận dạng chính xác và nhanh chóng các loại phế thải phế thải nhằm mục đích thu thập phế thải phù hợp với chủng loại vật liệu ban đầu. Mặc dù cao su được sử dụng ở các thiết bị công nghệ các loại. Vì vậy khi thiết bị đã hỏng đi thì người ta đưa ra đống sắt vụn mà không phân chia các bộ phận riêng rẽ .

Trong trương hợp đang xét thì không thể dùng lực lượng của người tiêu thụ. do đó cho phép thu hồi dễ dàng và hoàn toàn. Cao su trở nên giòn và dễ tách khỏi kim loại. chuyển thành bán sản phẩm dẻo. tính dẻo và không bị phá hủy. Vấn đề tổ chức thu nhặt có ý nghĩa rất quan trọng.11 - . theo dạng và lượng. vụn vặt mà số lượng không nhiều. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng thực hiện được vì khó khăn trong việc giao nộp tập trung và không có mạng lưới giao nộp tập trung và không có mạng lưới tổ chức thu hồi thiết bị cao su.được. Trước khi đưa cao su vào hoàn nguyên người ta phải phân loại theo sản phẩm. ta biết trong các loại cao su có tới 5 – 6 đến 20 thành phần chất liệu khác nhau. Chính do sự tản mạn của các sản phẩm từ cao su trong toàn bộ khối lượng thiết bị nên nó gây khó khăn cho việc tổ chức thu nhặt nguyên liệu thứ cấp. sử dụng để hoàn nguyên các chất thải cao su kỹ thuật được. Thực tiễn cho thấy tốt nhất nên thực hiện nghiền sơ bộ trong môi trường nitơ lỏng với nhiệt độ -30 và -60. Cao su hóa dẻo có cấu trúc không gian 3 chiều do các phân tử cao su tạo thành dưới ảnh hưởng của nhiên liệu. ống cao su mềm mang tính chất lẻ tẻ. Vì vậy việc tập trung hóa công tác gia công sơ bộ các chất thải sản xuất phải xét đến hệ thống thu nhặt cao su cũ. Hoàn nguyên cao su là một hướng cơ bản và có lợi nhất trong việc gia công lại các sản phẩm bỏ đi bởi vì cho cao su hoàn nguyên vào lẫn với hỗn hợp cao su thì sẽ tiết kiệm được rất nhiều cao su mới và các thành phần phụ gia khác. Việc tàng trử các chất thải cao su kỹ thuật của các sản phẩm lớn như: săm lốp otô. Việc vận chuyển một lượng nhỏ chất thải trên một khoảng cách dài thì lại không lợi cho xí nghiệp. Công việc đó chỉ có thể thực hiện trong điều kiện của xí nghiệp chế tạo săm lốp hoặc công nghiệp cao su kỹ thuật. xảy ra tình trạng cấm không được giao đồ cao su mới cho xí nghiệp công nghiệp nếu họ không giao nộp lại đồ cũ. Quá trình hoàn nguyên bao gồm: công đoạn chuyển hóa cao su thành vật liệu đàn hồi dẻo rồi tiếp theo là xử lý kỹ thuật và quá trình lưu hóa. bởi vì công nghệ phục hồi tính chất ban đầu của cao su là một quá trình phức tạp nhiều giai đoạn đòi hỏi ở các trạm với thiết bị chuyên dùng cũng như cán bộ được đào tạo chuyên môn. Sự phá hủy các liên kết hấp phụ của muội – cao su – muội củng . Kim loại vẫn giữ tính đàn hồi. người ta nghiền nó thành bột tới mức nhất định nào đó và giải phóng ra các mẫu kim loại đen. nồng độ oxy và các tác động cơ học. Sau khi loại kim loại và các tạp chất khác khỏi cao su. Hỗn hợp thu được sẽ qua khử lưu huỳnh. băng chuyền.

trung hòa nước. Khi dùng các phương pháp khác: hơi.12 - .25 – 3. Ở Liên Xô người ta nghiên cứu đề ra quá trình hoàn nguyên cao su bằng cách phân tán trong môi trường nước chứa nhũ tương. Tính chất bền chắc của cao su chế tạo bằng phương pháp này gần với các thông số tương tự của cao su ban đầu. Sơ đồ công nghệ tái chế lốp cao su được thể hiện ở hình 6.tạo khả năng hình thành sản phẩm phân hủy phân tử thấp.8.0%) là chất cho phép rút ngắn thời gian quá trình và chi phí chất làm mềm và tăng tính dẻo. Giai đoạn cuối cùng của quá trình hoàn nguyên cao su là làm sạch khối lượng đã thu được khỏi các tạp chất lẫn vào và sử dụng cao su khi sản xuất các hỗn hợp công tác để lưu hóa. làm giảm tác động tương hỗ giữa các phân tử trong cao su hoặc cho thêm một ít chất hoạt hóa (0. Sản phẩm thu được có tính dẻo tốt.8. Khử lưu hóa cao su có thể được tiến hành tùy thuộc tính chất của cao su khi sử dụng các phương pháp khác nhau. Khi hoàn nguyên bằng các phương pháp cơ nhiệt để khử lưu hóa diễn ra dưới ảnh hưởng của nhiệt độ 170oC và nhiều tác động cơ học khác trong vòng 1 – 15 phút. Khối lượng phân tán sẽ hình thành sẽ được keo tụ và sấy khô. kiềm… thì người ta thực hiện khử lưu hóa cao su ở nhiệt độ 150 – 200oC với sự có mặt của oxy không khí trong một số giờ. đàn hồi của chất đã hoàn nguyên. Người ta thực hiện khử lưu hóa cao su trên cơ sở cao su tổng hợp với sự có mặt của các chất làm mềm. Công nghệ tái chế lốp cao su . Lốp cao su Thu gom Nhiệt phân Làm vụn Dầu Khí Muội than Chế biến thành hạt và bột cao su Tái sử dụng Sử dụng Công nghệ nặng Sử dụng Hình 6.

5. THU HỒI VÀ TÁI CHẾ CÁC SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP KHÁC Sơ đồ thu hồi và tái chế các sản phẩm khác như bóng đèn hỏng từ các nhà máy chế tạo bóng đèn. máy… được thể hiện ở hình 6. dầu thải từ các xí nghiệp công nghiệp cơ khí. Tái chế bóng đèn ống tại Brazin .13 - .9 và hình 6.6.9.10. chế tạo hoặc trung tâm dịch vụ sửa chữa xe. Bóng đèn ống hỏng Thu gom Đập vỡ Phân loại Đui đèn Thủy tinh Phân loại Tẩy rửa sạch Vật liệu nhôm vụn Làm men cho SX gốm Thủy ngân lọc lại Chế tạo bóng mới Tái sử dụng Sản xuất bóng đèn Ắc quy NaCl Hình 6.

3). cắt nhỏ và phân loại (phương pháp xử lý trung gian) .10. ép… Công nghệ Đốt rác Đốt rác có tái chế nhiệt Đốt rác có hệ thống nung chảy để giảm thể tích (công nghệ mới) Đốt khí có hệ thống nung chảy (mới được sử dụng ở Nhật) Tạo nguồn năng lượng mới từ rác thải (RDF) Chế biến phân compost.6. an toàn cho sức khỏe cộng đồng Tái chế Giảm kích thước bằng các phương pháp nén.14 - . THU HỒI NĂNG LƯỢNG TỪ CHẤT THẢI Hoạt động thu hồi năng lượng từ quá trình xử lý trung gian mà chủ yếu là từ quá trình đốt và quá trình ủ sinh học (bảng 6. Mục đích Giảm khối lượng Thu hồi năng lượng (nhiệt và điện) Giữ ổn định các chất độc hại trong rác thải Giữ vệ sinh.350oC Cô đặc dầu Tách chất bẩn bằng graphite Sử dụng Các chất cặn đáy Đóng thùng Asphalt Sử dụng Hình 6. Công nghệ thu hồi dầu thải ở Hồng Kông 6.Dầu thải Khử nước bằng phương pháp ly tâm Xử lý nước Loại bỏ Chưng cất ở 100 – 160oC Tách dầu nhẹ Nhiên liệu Chưng cất ở 330 .

Rác thải đô thị Tách loại lần 1 Tách loại lần 2 Nghiền lần 1 Sấy khô Tách loại lần 3 Nghiền lần 2 Trộn Làm nguội Sàng Vôi Thành phẩm (RDF) Hình 6. Giá trị nhiệt lượng cao (3000 – 5000 kcal/kg) Chất lượng đồng nhất. Quá trình thu hồi nhiên liệu (RDF) từ rác thải đô thị được thể hiện ở hình 6.Refuse Derived Fuel (RDF) là loại nhiên liệu thu từ rác thải có thể đốt được giống như than (hình 6. vì vậy khi đốt chúng cũng tương tự như đốt rác và cần phải có phương pháp thu gom. Quá trình thu hồi nhiên liệu (RDF) từ rác thải đô thị .11. Xử lý rác thải sinh hoạt để sử dụng làm nhiên liệu cho các nồi chưng để tạo hơi nước điện.15 - . Công nghệ thu hồi khí và nung chảy dựa trên nguyên tắc sử dụng khí đốt thu hồi từ quá trình nung chảy và đồng thời tái thu kim loại không chứa oxyt – đây là loại kim loại có giá trị cao. Tuy nhiên hệ thống này rất đắt vì phải trang bị lò đốt thông thường kèm theo hệ thống nung chảy. Dễ vận chuyển. Sơ đồ hệ thống tạo khí và nung chảy được thể hiện ở hình 6. Không sử dụng lò đốt tại nguồn phát sinh. xử lý lượng khí thoát ra.10b.10b.10). công nghệ thu hồi nhiên liệu mới từ rác củng còn những bất lợi sau: Bản thân nhiên liệu vẫn ở dạng rác thải. Tuy nhiên. Việc đầu tư nhà máy loại này rẻ hơn lò đốt nhưng đòi hỏi chi phí cho các trang thiết bị sử dụng loại nhiên liệu này. Ưu điểm của công nghệ thu hồi nhiên liệu mới từ rác là: Dễ lưu trữ.

1% và 5. . Tại thành phố Hà Nội. trong những năm gần đây.16 - .ngày.8 kg/người. tỷ lệ về thành phần chất rác thải củng có những biến đổi hơn so với những năm trước đó. vệ sinh đô thị và ảnh hưởng xấu đến cảnh quan đô thị và sức khỏe cộng đồng.ngày.13. Theo con số thống kê từ các tỉnh.2%. tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa ngày càng gia tăng mạnh mẽ tại vùng kinh tế trọng điểm đã làm nảy sinh nhiều vấn để nan giải trong công tác bảo bệ môi trường.ngày – 0. hoặc tìm ra một mục đích sử dụng khác. Các hoạt động thu hồi tái chế tại Việt Nam chủ yếu sẽ được tập trung vào các vấn đề sau: Tăng cường thu hồi sản phẩm đã sử dụng để dùng lại cho cùng một mục đích. HOẠT ĐỘNG THU HỒI VÀ TÁI CHẾ CHẤT THẢI TẠI VIỆT NAM ở Việt Nam. Tái sử dụng tập trung chủ yếu vào các loại chai đựng đồ uống. các loại bao bì vận chuyển thông qua khâu lưu thông dưới dạng đặt cọc để khép kín một chu trình: sản xuất – lưu thông – tiêu dùng – lưu thông – sản xuất.6. Tình trạng thu gom và xử lý chất thải rắn đô thị và công chưa đáp ứng yêu cầu hiện nay cũng là một nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm môi trường nước.7%.5%.3 – 0.5 kg/người. khí thải thì chất thải rắn đang thật sự là một mối đe dọa lớn đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng vì lượng thải ngày càng tăng đặc biệt là các chất thải nguy hại ngày càng phong phú về cả số lượng lẫn chủng loại. Ở một số đô thị nhỏ. Ở Hà Nội năm 1995: thành phần nilon. xử lý hoặc chế biến lại để đưa vào nền kinh tế dưới dạng các sản phẩm ban đầu hoặc tạo ra các sản phẩm mới. Lượng rác thải đô thị củng như công nghiệp ngày càng tăng.6kg/người. từ năm 1996 – 1999. thành phố. Tái sử dụng và tái chế chất thải rắn có thể thực hiện tốt ở các khu công nghiệp tập trung trên cơ sở hình thành một hệ thống thông tin để trao đổi chất thải vì trong một số trường hợp chất thải cần phải loại bỏ ở nơi này để trở thành nguyên liệu đầu vào ở nơi khác. Năm 1998. thành phần kim loại vỏ hộp là 1. lượng chất thải rắn bình quân khoảng từ 0. Bên cạnh những khó khăn nhất định trong việc triển khai các biện pháp kỹ thuật và công nghệ xử lý nước thải. tính chất độc hại của rác thải củng tăng. môi trường đất. chất dẻo trong rác thải sinh hoạt là 1. năm 1997 đã tăng lên 4.7. các hoạt động tái chế được thực hiện thông qua sơ đồ lưu chuyển ở hình 6. Khuyến khích các cơ sở tái chế chất thải rắn bằng cách thu hồi các sản phẩm đã qua sử dụng. lượng chất thải rắn phát sinh dao động từ 0.

8.2 kg/người. Giảm giá trị các sản phẩm được tuần hoàn.13.ngày Người nhặt rác Vận chuyển Người thu gom mua phế liệu Bãi chôn lấp Người mua phế liệu Hình 6.5 kg/người Thu gom . nhà hàng.ngày Người mua phế liệu Thu gom bằng xe đẩy tay Người thu gom mua phế liệu Ngành công nghiệp tái chế 12. khách sạn…) 33. các hoạt động tái chế này hiện đang gặp rất nhiều khó khăn: Ô nhiễm môi trường do các hoạt động tái chế sinh ra. tuy nhiên. Trung bình mỗi ngày có hơn 200 tấn vật liệu tái chế được thu gom. 6. . Tuy nhiên hệ thống tái chế cũng đã từng thất bại do mất giá trị tái chế và do vật liệu có thể tái chế được lẫn với rác thải. Sự cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm giá thành rẻ hơn. đường phố và khu chôn lấp do những người thu gom hay người mua thuộc thành phần tư nhân. Chi phí đổ thải rác thải. Các hoạt động tái chế tư nhân hiện đang diễn ra ở Hà Nội dựa trên cơ sở thị trường giống các nước đang phát triển khác.9 – 26. chợ. Chi phí lao động gia tăng.Nguồn sản sinh rác (hộ gia đình.17 - . Sơ đồ lưu chuyển các dòng tái chế rác ở Hà Nội Các vật liệu có thể tái chế được thu gom từ hộ gia đình. chợ . HOẠT ĐỘNG THU HỒI VÀ TÁI CHẾ CHẤT THẢI Ở CÁC NƯỚC Các nước phát triển trước đây cũng sử dụng hệ thống tái chế tương tự ở Việt Nam.

9. Để giảm thiểu lượng rác thải sản sinh. tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 70% và hiện nay giảm xuống còn khoảng 30%. nước Mỹ đã có những chính sách hỗ trợ các hoạt động tái chế và hiện đang cố gắng thiết lập xã hội kinh tế tuần hoàn (nhà sản xuất phải xem xét xem sản phẩm của mình có sinh ra ít chất thải hơn không? Và các chất thải liệu có khả năng tái chế không? Hình 6. và chúng thường được bố trí sao cho thời gian đi và khoảng cách mà các xe thu gom phải chạy .Sản xuất tại Đầu thải cuối cùng .Không có khí thải .Kế toán toàn bộ chi phí Tối ưu hóa Hình 6.ELCA .14.Các nước đã phát triển hiện nay đang thay đổi lối sống là tiêu dùng các sản phẩm tái chế và sẽ phát triển ngành kinh doanh tái chế mới trên cơ sở thị trường.Tài khoản môi trường . tỷ lệ tái chế là hơn 90%. Chúng có thể được dùng để củng cố thêm lượng rác thu gom được từ các xe khác nhau. Khái niệm về một xã hội kinh tế tuần hoàn 6. Đặc điểm của hoạt động thu hồi và tái chế chất thải ở các nước khác Việt Nam ở chỗ họ đã tổ chức các dịch vụ công cộng có trách nhiệm đẩy mạnh tái chế rác bằng ngân sách.18 - .14). Năm 1970. Ví dụ ở Mỹ các đây 250 năm. CÁC TRẠM TRUNG CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN Các trạm chuyển tiếp được sử dụng để tối ưu hóa năng lao động của đội thu gom và đội xe.APR (trách nhiệm nhiều hơn về sản phẩm) .DIE (thiết kế cho môi trường) . Gom rác thải Tái sử dụng Tái chế Xử lý trung gian đúng quy cách .

Có hai loại trạm chuyển tiếp rác thải: Loại phục vụ cho những xe thu gom ban đầu như những xe thủ công. Loại phục vụ cho những loại xe lớn hơn. Đưa các xe ra một cách có trật tự. không phải xếp hàng trên đường quốc lộ.bên ngoài vòng thu gom bình thường của chúng là nhỏ nhất. Cung cấp một hệ thống quản lý giao thông một cách có hiệu quả và trật tự cho những xe thu gom đến (xếp hàng ít nhất. nơi mà các xe thu gom có thể đổ rác của chúng xuống để sau đó rác lại được chất lại lên những xe tải lớn hơn để chuyển một cách kinh tế đến bãi rác ở xa hơn. quay đầu nhanh). bao gồm xe xích lô máy và những xe tải đổ rác nhỏ (những loại này đôi khi được gọi là những điểm chuyển tiếp để phân biệt chúng với loại thứ hai). Giảm đến tối thiểu sự lộn xộn và tác động đến môi trường. thường là những xe cơ giới như những xe thu gom rác thông thường. Việc thiết kế trạm trung chuyển tốt nhằm: . do vậy là một cơ sở đặt tại gần khu vực thu gom. Chuyển từng khối sang hệ thống vận chuyển hoạt động như một bộ phận trung gian giữa hệ thống vận chuyển và các xe thu gom rác thải. các cơ sở này đều có những mục tiêu chung. Các trạm chuyển tiếp còn có thể được dùng để thực hiện một chức năng quan trọng là giảm lượng rác thải đưa đến bãi chôn lấp chung của thành phố và sử dụng lại các vật liệu có khả năng thu hồi. Trạm chuyển tiếp. những xe có động cơ nhỏ.19 - . Bất kể dùng loại chuyển tiếp nào. Xử lý các rác thải thành từng khối đã được chọn trước. Hướng dẫn các xe đến điểm đổ rác. Các mục tiêu của cơ sở chuyển tiếp bao gồm: Đón tiếp những xe thu gom rác thải một cách có trật tự. có thể mang rác thải đến những trạm chuyển tiếp sau vòng thu gom thứ cấp (những loại này đôi khi được gọi là những trạm trung chuyển). tạo điều kiện cho những người bới rác không chính thức lẫn những đội quân bới rác có tổ chức thực hiện công việc phân loại rác để tái sử dụng ngay tại các trạm này. Giảm đến tối thiểu lượng chất thải phải xử lý. Xác định tải trọng của các xe.

Khoảng cách của các vòng thu gom kể từ điểm thu gom cuối cùng. Hình 6. Bảng 6. Trạm chuyển tiếp có thể được sử dụng để giúp cho duy trì hiệu quả chung của toàn hệ thống thu gom rác thải. chúng lại tạo ra thêm các thao tác khác và dù vậy có thể cần phải đánh giá lại hoạt động của các trạm chuyển tiếp. Hình vẽ chỉ ra rằng đối với những tuyến đường ngắn. Lưu ý rằng thời gian là đại lượng có tính quyết định hơn là khoảng cách. khi thời gian và quảng đường giữa nơi thu gom và chôn lấp tăng lên trên 30 phút hay 10 km.20 - . Mặc dù các trạm chuyển tiếp có thể tiết kiệm.- Đảm bảo toàn bộ rác thải đều được chuyển đi hàng ngày và tạo điều kiện thuận lợi cho làm sạch dễ dàng vào cuối ngày. sử dụng trạm trung chuyển sẽ có tính kinh tế hơn(tùy thuộc vào loại xe thu gom). Thời gian để một xe thu gom đi đến điểm dỡ rác thải. Bán kính có hiệu quả kinh tế đối với mỗi loại xe thu gom. . Bảng này chỉ ra rõ ràng những ưu thế của việc sử dụng những phương tiện tiết kiệm năng lượng cho việc vận chuyển những khối lượng lớn rác thải từ điểm chuyển tiếp đến bãi chôn lấp. Đảm bảo toàn bộ rác thải đưa đến đều được chuyển đi theo một phương cách có kiểm tra mà không làm cản trở sự hoạt động của trạm chuyển tiếp. với khoảng cách trên 25 km giữa nơi thu gom và bãi chôn lấp (khoảng hơn 1 – 1.5 giờ lái xe). Các chi phí tương đối tính theo thời gian được công nhận và các chi phí xe cộ từ nơi thải đến bãi rác được coi như một phần của chu trình thu gom hay dùng một hệ vận chuyển trung gian. nếu thời gian đi và về một điểm thu gom rác thải là tương đương hay lớn hơn một nữa thời gian chất rác trong ngày thì trạm trung chuyển lúc đó là cần thiết. Để làm điều này cần xem xét các điểm sau: Số lượng xe đồng thời trong trạm chuyển tiếp. về thời gian giữa điểm thu gom và bãi chôn lấp. Số lượng và loại rác được thu gom. Thông thường.15 minh họa tính kinh tế của việc chuyển tiếp và cách xác định điểm “hoàn vốn” của thời gian/khoảng cách tại Bangkok-Thái Lan.5 trình bày sự so sánh hữu dụng về những chi phí khác nhau của các phương án vận chuyển. sử dụng trạm chuyển tiếp luôn luôn tiết kiệm được chi phí hơn so với một loại xe thu gom trong thành phố. Trong thí dụ này.

5/m3 0.21 - .Hướng dẫn dự án.200 1.000 20.000 0 6.900 118.700 2.54/m3 14.600 5.000/tàu kéo + 2 xà lan) 27.800 Xe tải lớn 30m3 4chuyến/ngày Sử dụng 7 năm (giá 60.000 160.000 30.200 6. Quản lý môi trường chất thải rắn đô thị . thuế… Bảo dưỡng và vận hành hàng năm Tổng chi phí vận chuyển hàng năm Chi phí tính theo m3 rác thải 2. Washington.200(2 người) 6.000 15.000 24.000/xe) Khấu hao hàng năm Lương cho lái xe Lương cho đội ngũ công nhân Bảo hiểm.27/m3 0 0 0 0 0 0 80.100(1 người) 2.200 12.000 60.200 1.Chi phí (USD) Chuyển trực tiếp bằng xe thu gom Chuyển bằng xe tải 3 Chuyển bằng sà lan hay tàu kéo Chi phí cố định và hoạt động của trạm chuyển tiếp (600m /ngày) Các công việc thủ công Thiết bị tĩnh Các loại xe cộ Khấu hao hàng năm Vận hành và bảo dưỡng Tổng các chi phí cố định và hoạt động mỗi năm Tổng các chi phí cố định và hoạt động tính cho 1m3 rác thải Các chi phí vận tải Các giả thiết Xe đổ rác kín 8 m3 2 chuyến/ngày Sử dụng 7 năm (giá 15.600 2.5 không còn đúng.000 36.000 0 0. Ngân hàng thế giới.000 3.500 2. Ghi chú: Giá trị về tiền trong bảng 6.500(5 người) 1. Tài liệu kỹ thuật phát triển đô thị số 5.200 160.500 3.J Coirnhau (1982).000 Xà lan 600 m3 1 chuyến/ngày Sử dụng 30 năm (giá 810.000 80.06/m3 0. . vì thế các giá trị này chỉ nên xem như những giá trị tương đối hơn là giá trị tuyệt đối.66/m3 0.400 Nguồn tài liệu S.600 28.000/xe + 2 toa rơmooc 7.

6.10. CÁC LOẠI TRẠM CHUYỂN TIẾP Chuyển tiếp không dùng thùng côngtennơ: là dạng đơn giản nhất và thường là hình thức chuyển tiếp có hiệu quả nhất khi rác thải được thu gom bằng những xe nhỏ và đổ xuống các bãi mà thường có nền bằng bêtông và đôi khi được xây bao quanh để tăng tính mỹ quan và hạn chế mùi hôi thối, sẽ được chở đến bãi chôn thải bằng các xe thu gom thứ cấp. Các loại rác thải củng có thể đổ trực tiếp vào thùng hở, hoặc các thiết bị có nén ép hay các băng tải chuyển thẳng tới nơi phân tách và xử lý. Các hoạt động ở đây thường làm bằng thủ công hay máy xúc. Chuyển tiếp dùng thùng côngtennơ hoặc các phương tiện lưu chứa: có 3 phương án của loại này sử dụng những xe vận chuyển tầm ngắn. Sơ đồ loại trạm chuyển tiếp có lưu trử được thể hiện ở hình 6.16. Loại 1 : rác thải được thu gom trong những xe thu gom ban đầu sẽ được đổ trực tiếp vào những thùng côngtennơ và chuyển trực tiếp sau đó đến bãi chôn thải. Ở dạng đơn giản nhất, hệ thống này chỉ bao gồm một thùng côngtennơ tại một bãi phẳng và thường chỉ có tường bao xây lững để ngăn dọc theo vỉa hè. Mỗi ngày có một chuyến xe chở chúng đến bãi chôn lấp (hình 6.16a). Loại 2 : gồm một bãi phẳng, với hai tuyến đường một chiều cho những xe thu gom ban đầu và thứ cấp. Các thùng côngtennơ được thu góp bởi những xe thu gom chính sẽ được đặt trên khoảng trống giữa các tuyến đường xe để rồi sau đó sẽ được một xe lớn hơn, có thể chở được một lúc nhiều côngtennơ bốc đi (hình 6.16b). Loại 3 : gồm một bãi phẳng, có những hố chứa những thùng côngtennơ hở ở dưới. Các xe tải thu gom chính sẽ đổ rác trực tiếp xuống các thùng ở dưới đó. Thường có khoảng cách để đặt vài ba thùng một và một xe tải lớn sẽ chở vài thùng một đến bãi chôn thải hàng ngày (hình 6.16c). Thêm vào đó, khi bãi chôn lấp được đặt ở một nơi tương đối xa khu vực thu gom và trung tâm thành phố (thường trên 20 km), các bãi chuyển tiếp thường có thể sử dụng những phương tiện vận tải thứ cấp loại rẻ tiền về năng lượng, thí dụ như đường sắt và đường sông (xà lan). Cách vận chuyển này có thể áp dụng cho những khu vực trung tâm lớn nhất, mà tại đó rác thải có thể được chuyển đi đến những nơi tương đối xa.

- 22 -

Chương 7:

CHÔN LẤP VÀ TIÊU HỦY CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ

7.1. BÃI CHÔN LẤP HỢP VỆ SINH 7.1.1. Khái niệm Trong các phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải rắn, chôn lấp là phương pháp phổ biến và đơn giản nhất. Phương pháp này được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới. Về thực chất, chôn lấp là phương pháp lưu giữ chất thải trong một bãi và có phủ đất lên trên. Chôn lấp hợp vệ sinh là một phương pháp kiểm soát sự phân hủy của chất thải rắn khi chúng được chôn nén và phủ lấp bề mặt. Chất thải rắn trong bãi chôn lấp sẽ bị tan rữa nhờ quá trình phân hủy sinh học bên trong để tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như axit hữu cơ, nitơ, các hợp chất amon và một số khí như CO2, CH4 . Như vậy về thực chất chôn lấp hợp vệ sinh chất thải rắn đô thị vừa là phương pháp tiêu hủy sinh học, vừa là biện pháp kiểm soát các thông số chất lượng môi trường trong quá trình phân hủy chất thải khi chôn lấp. Theo quy định của TCVN 6696 – 2000, bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh(sau đây gọi là bãi chôn lấp) được định nghĩa là: Khu vực được quy hoạch thiết kế, xây dựng để chôn lấp các chất thải phát sinh từ các khu dân cư, đô thị và các khu công nghiệp. Bãi chôn lấp chất thải rắn bao gồm các ô chôn lấp chất thải, vùng đệm, các công trình phụ trợ khác như trạm xử lý nước, trạm xử lý khí thải, trạm cung cấp điện nước, văn phòng làm việc… 7.1.2. Điều kiện chôn lấp các chất thải rắn tại bãi chôn lấp Chất thải rắn được chấp nhận chôn lấp tại bãi chôn lấp hợp vệ sinh là tất cả các chất thải không nguy hại, có khả năng phân hủy tự nhiên theo thời gian, bao gồm: Rác thải gia đình Rác thải chợ, đường phố Giấy, bìa, cành cây nhỏ và lá cây

- 23 -

-

Tro, củi gỗ mục, vãi, đồ da (trừ phế thải da có chứa crôm) Rác thải từ văn phòng khách sạn, nhà hàng ăn uống Phế thải sản xuất không nằm trong danh mục rác thải nguy hại từ các ngành công nghiệp (chế biến lương thực, thực phẩm, thủy sản, rượu bia giải khát, giấy, giày, da…) Bùn sệt thu được từ các trạm xử lý nước (đô thị và công nghiệp) có cặn khô lớn hơn 20% Phế thải nhựa tổng hợp Tro xỉ không chứa các thành phần nguy hại được sinh ra từ quá trình đốt rác thải Tro xỉ từ quá trình đốt nhiên liệu

Rác thải không được chấp nhận chôn lấp tại bãi chôn lấp hợp vệ sinh là tất cả các loại rác có các đặc tính sau: Rác thải thuộc danh mục rác thải nguy hại (quản lý đặc biệt theo quy chế quản lý rác thải nguy hại được ban hành kèm theo nghị định của chính phủ) Rác thải có đặc tính lây nhiễm Rác thải phóng xạ bao gồm những chất có chứa một hoặc nhiều hạt nhân phóng xạ theo quy chế an toàn phóng xạ Các loại tồn dư của thuốc bảo vệ thực vật và những phế thải có chứa hàm lượng PCB cao hơn 50 mg/kg Rác thải dễ cháy và nổ Bùn sệt từ các trạm xử lý nước (đô thị và công nghiệp) có hàm lượng cặn khô thấp hơn 20% Đồ dùng gia đình có thể tích to, cồng kềnh như giường, tủ, bàn, tủ lạnh… Các phế thải vật liệu xây dựng, khai khoáng Các loại đất có nhiễm các thành phần nguy hại vượt quá tiêu chuẩn TCVN 5941 – 1995 quy định đối với chất lượng đất Các loại xác súc vật với khối lượng lớn 7.1.3. Các yếu tố cần xem xét khi lựa chọn bãi chôn lấp a) Quy mô bãi Quy mô bãi chôn lấp chất thải rắn đô thị phụ thuộc vào quy mô của đô thị như dân số, lượng rác thải phát sinh, đặc điểm rác thải… Có thể căn cứ vào đặc điểm đô thị Việt Nam có

- 24 -

2. Điều này tùy thuộc vào bãi đất. là các nơi có các khu vực đất trống vắng. Các yếu tố ảnh hưởng đến các vùng dân cư này là loại chất thải (mức độ độc hại). Đường sá đi đến nơi thu gom rác thải phải đủ tốt và đủ chịu tải cho nhiều xe tải hạng nặng đi lại trong cả năm. nhưng phải có khoảng cách thích hợp với những vùng dân cư gần nhất.1. xe cộ thu gom rác thải. điều kiện hướng gió.25 - . Ngoài ra chú ý các khoảng cách khác để đảm bảo an toàn cho khu vực xung quanh. Tất cả vị trí đặt bãi chôn lấp phải được quy hoạch cách nguồn nước cấp sinh hoạt và nguồn nước sử dụng cho công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm ít nhất là 1000m. Bảng 7. Vì vậy địa điểm các bãi chôn lấp cần phải xa các sân bay.000 65. nguy cơ gây lụt lội… Cần lưu ý thêm là bãi chôn lấp rất hấp dẫn với chim muông. Vị trí bãi chôn lấp phải nằm trong tầm khoảng cách hợp lý.000 > 20.tính đến khả năng phát triển đô thị để phân loại quy mô bãi và có thể tham khảo theo bảng 7. Quy định về khoảng cách tối thiểu từ bãi chôn lấp tới các công trình được ghi ở bảng 7. . một nguy cơ tiềm tàng đối với các loại máy bay thấp.000 200. tính kinh tế không cao.1.50 > 50 Thời hạn sử dụng (năm) < 10 10 – 30 30 – 50 > 50 b) Vị trí Vị trí bãi chôn lấp phải gần nơi phát sinh chất thải. Phân loại quy mô bãi chôn lấp chất thải rắn đô thị TT 1 2 3 4 Quy mô bãi chôn lấp Loại nhỏ Loại vừa Loại lớn Loại rất lớn Dân số (ngàn người) 5 – 10 100 – 350 350 – 1000 > 1000 Lượng chất thải rắn (tấn/năm) 20. nguồn phát sinh rác thải. Tác động của việc mở rộng giao thông củng cần được xem xét.000 Diện tích bãi (ha) 5 10 – 30 30 . địa hình. điều kiện kinh tế.

000 3. Việc lựa chọn vật liệu phủ bề mặt phù hợp là rất cần thiết trong suốt thời gian hoạt động của bãi thải. Để đạt mục đích này có thể sử dụng các biện pháp như tạo vành đai cây xanh. Cần ≥ 500 ≥ 100 ≥ 50 5.000 3. c) Địa chất công trình và thủy văn Địa chất tốt nhất là có lớp đá nền chắc và đồng nhất.000m3/ngđ Công suất nhỏ hơn 10. Nếu lớp đá nền có nhiều vết nứt và vỡ tổ ong thì điều cực kỳ quan trọng là phải đảm bảo lớp phủ bề mặt phải dày và thẩm thấu chậm. vùng đất dễ bị rạn nứt. Quy định về khoảng cách tối thiểu từ hàng rào bãi chôn lấp tới các công trình Công trình Khu trung tâm đô thị Sân bay.000m3/ngđ Công suất nhỏ hơn 100m3/ngđ Các cụm dân cư ở miền núi Cần đặc biệt lưu ý các vấn đề sau: Bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh không được đặt tại các khu vực ngập lụt.000 Khoảng cách tối thiểu (m) 3. các mô đất hoặc các hình thức khác để bên ngoài bãi không nhìn thấy được.Bảng 7.26 - . Không nên sử dụng cát sỏi và đất hữu cơ. Đất cần phải mịn để làm chậm lại quá trình rò rỉ. Bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh phải hòa nhập với cảnh quan môi trường tổng thể trong vòng bán kính 1000m. Hàm lượng sét trong đất càng cao càng tốt để tạo ra khả năng hấp thụ cao và thẩm thấu chậm.000 500 .2. Không được đặt vị trí bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh ở những nơi có tiềm năng nước ngầm lơn. Bao bọc bên ngoài vùng đệm là hàng rào bãi. nên tránh vùng đá vôi và các vết nứt kiến tạo. Bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh phải có một vùng đệm rộng ít nhất 50m cách biệt với bên ngoài. hải cảng Khu công nghiệp Đường giao thông quốc lộ Các công trình khai thác nước ngầm Công suất lớn hơn 10. Hỗn hợp giữa đất sét bùn và cát là lý tưởng nhất. Dòng chảy nước mặt cần tập trung tại một nơi.

cần xem xét thêm các tác động môi trường. địa hình đồng thời tham khảo ý kiến của các cơ quan địa phương đang hoạt động trong lĩnh vực này. Gió có thể cuốn theo rác rưởi rơi vãi ra ngoài khu vực và các phương tiện chuyên chở củng làm rơi vãi rác trong quá trình vận chuyển đến nơi chôn lấp. các loại côn trùng có cánh và các loài gặm nhấm. 7.27 - . Sau cùng là phải giử gìn khu vực sạch sẽ. muỗi.1. . Phân loại bãi chôn lấp hợp vệ sinh Hiện nay trên thế giới thường sử dụng các loại bãi chôn lấp sau (12): Loại 1 . e) Các chỉ tiêu kinh tế Lựa chọn bãi chôn lấp phế thải còn phải chú ý đến kinh tế. chất thải tươi và sự phân hủy của nó tạo ra mùi hôi thối. hiệu quả và làm giảm bớt sự phản kháng của công chúng. d) Những khí cạnh môi trường Quá trình phân hủy các chất hữu cơ tại bãi chôn lấp có thể gây ra một số nguy hại cho môi trường. thu hồi khí tạo thành. Một điều quan trọng nữa là bãi chôn lấp không ở gần các ngã tư đường hoặc không gây cản trở nào khác đối với trục đường giao thông chính. Điều quan trọng để chấp nhận đối với một bãi chôn lấp là cố gắng bố trí bãi chôn lấp xa khỏi tầm nhìn và xa các khu vực giải trí. nổ. Mang rác rưởi cuốn theo gió gây ô nhiễm cho các khu vực xung quanh Gây các vụ cháy. Ngoài các yếu tố đã nêu. Ví dụ một bãi chôn lấp sẽ tạo ra bụi do xử lý và vùi lấp chất thải. Tiếng ồn và khí xả gây xáo trộn.Bãi chôn lấp rác thải đô thị: loại này đòi hỏi có hệ thống thu gom và xử lý nước rò rỉ.4.kiểm soát sự chuyển dịch của mạch nước ngầm và biết chắc chắn tất cả các giếng sử dụng làm nước uống trong khu vực. Các nguy hại này bao gồm: Tạo ra một số vật chủ trung gian gây bệnh như ruồi. Khi xem xét cần sử dụng bản đồ địa chất. thủy văn. Gây ô nhiễm nguồn nước. Lưu lượng phương tiện xe cộ tăng lên có thể gây ách tắc. đây là khả năng đạt được kết quả tốt nhất về chi phí. cố gắng giảm mọi chi phí có thể được để đạt được yêu cầu về vốn đầu tư hợp lý nhưng không được giảm nhẹ lợi ích công cộng và hiệu quả xã hội. địa điểm nên khuất gió và có hướng gió xa hẳn khu dân cư. hệ thống thu gom nước bề mặt.

Bãi chôn lấp yếm khí với hệ thống thông gió tự nhiên. Bãi chôn lấp vệ sinh kị khí với hệ thống thu gom nước rác. Đôi khi cần phải tưới nước cho chất thải khô để tránh bụi khi vận chuyển và tạo độ ẩm cần thiết. Điều cần lưu ý là đối với các ô dùng để chôn lấp ướt và kết hợp. bãi chôn lấp được phân loại thành: . đường ống dễ bị tắc và chi phí cho việc đào đắp lớn. Theo phương thức vận hành. Bãi có cấu tạo để chứa các chất thải chứa nước như bùn nhão.28 - . Ưu điểm: Bãi chôn lấp ướt chỉ thích hợp với vận chuyển chất thải nhão vì để hợp lý hóa vận chuyển bằng đường ống. Bãi chôn lấp ướt: là một khu vực được ngăn để chôn lấp chất thải thường là tro. Chất thải được chôn lấp ở dạng khô hoặc dạng ướt tự nhiên trong đất khô và có độ ẩm tự nhiên. Phương tiện vận chuyển là đường ống. các loại chất thải công nghiệp khó phân hủy… Theo cơ chế phân hủy sinh học. Bãi chôn lấp hiếu khí với nguồn cấp khí cưỡng bức. Loại 3 – Bãi chôn lấp chất thải đã xác định: thường chôn lấp các loại chất thải đã được xác định trước như tro sau khi đốt. Nhược điểm: Bề mặt thoát nước kém. Loại kết hợp: Xử lý bùn ở bãi chôn lấp ướt là rất tốn kém nên thông thường người ta xử lý bùn tại bãi chôn lấp khô cùng với rác thải sinh hoạt. bắt buộc không cho phép nước rác thấm đến nước ngầm trong bất kỳ tình huống nào. Các dạng chính của bãi chôn lấp ướt là dạng bãi chôn lấp chất thải ẩm ướt như bùn nhão được để trong đất. Ở dạng này thường là một khu vực được đổ đất lên. Bãi chôn lấp khô: là dạng phổ biến nhất để chôn lấp chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp. Bãi chôn lấp kị khí với lớp phủ hàng ngày. Vì nước chảy ra thường bị nhiễm bẫn nên cần được tuần hoàn trở lại.Loại 2 – Bãi chôn lấp chất thải nguy hại: loại bãi này đòi hỏi phải có nhiều đầu tư về quản lý và được kiểm soát nghiêm ngặt trong quá trình thi công và vận hành. Bãi chôn lấp được xây dựng ở nơi khô ráo. bãi chôn lấp được phân thành các loại: Bãi chôn lấp kị khí. chất thải nhão chảy tràn và lắng xuống. hoặc các phế thải khai thác mỏ có dạng bùn. Dạng thứ hai là dạng chôn lấp chất thải khô trong đất ẩm ướt. hệ thống thu gom và xử lý nước rác.

Các tài liệu khác có liên quan. các moong khai thác mỏ. Các đê này không có khả năng thấm nước để ngăn chặn sự thẩm thấu của nước rác ra môi trường xung quanh. Nhược điểm: làm tăng mức nguy hiểm của nước rác. bãi chôn lấp khô là thích hợp nhất. rác thải công nghiệp.xã hội hiện trạng và định hướng phát triển trong tương lai. Sơ đồ các loại bãi chôn lấp được thể hiện ở hình 7. kinh tế . các hào. bãi được sử dụng theo phương pháp chôn lấp bề mặt.1. Xung quanh các ô chôn lấp phải xây dựng các đê bao. rác thải thương nghiệp. tuy nhiên nó củng yêu cầu có những bản vẽ chi tiết và những chỉ dẫn kỹ thuật để hướng dẫn cho người vận hành bãi. Các tài liệu ban đầu cần thiết cho công việc thiết kế bao gồm: Các tài liệu về quy hoạch đô thị. Trình tự thiết kế bãi chôn lấp 7.5. Ở điều kiện Việt Nam .1. Rác thải sẽ được chôn lấp theo phương thức lấp đầy. Các tài liệu cần thiết cho việc thiết kế Thiết kế bãi chôn lấp khác với các loại thiết kế khác. rãnh hay thung lũng sẵn có. Các tài liệu về địa hình.29 - .1. Nếu bãi chôn lấp nằm ở khu vực có khả năng gây ô nhiễm cho nguồn nước ngầm thì bùn có hàm lượng hữu cơ và sắt cao không nên chôn lấp ở bãi này. 7. thủy văn.1. điều kiện khí hậu của khu vực. . Chất thải được chất thành đống cao từ 10 – 15m.5. Trong hai kiểu bãi chôn lấp khô và ướt thì bãi chôn lấp khô được áp dụng rộng rãi trên thế giới vì nó phù hợp với việc chôn lấp rác thải sinh hoạt. Ngoài ra theo kết cấu và hình dạng tự nhiên củng có thể phân các bãi chôn lấp thành các loại sau: Bãi chôn lấp nỗi: là các bãi được xây dựng ở những khu vực có địa hình bằng phẳng. Bãi chôn lấp chìm: là các bãi tận dụng điều kiện địa hình tại những khu vực ao hồ tự nhiên. Trên cơ sở đó kết cấu các lớp lót đáy bãi và hành bãi có khả năng chống thấm. Các tài liệu về dân số.Ưu điểm: phương pháp này cho phép kinh phí đầu tư ban đầu củng như chi phí trong vận hành là tương đối nhỏ. địa chất công trình.

2. Nơi thu hồi phế liệu. Đường ra vào. lán che thiết bị. công trình phong hỏa. Các giếng khoan kiểm tra nước rác. Các công trình phục vụ: văn phòng. Vị trí nhà cửa (gồm cầu cân. bởi vì đào hàng tấn rác lên để sửa chữa là không kinh tế. Hệ thống thu gom nước rác và khí ga. Nếu cần thu khí ga thì các công việc chuẩn bị cũng nên được làm trong thời kỳ này. nhà điều hành và nhà nghỉ của nhân viên). Nơi xử lý nước rác hoặc trạm bơm. .7. nơi bảo dưỡng thiết bị. trạm máy phát. Rào chắn. Các khu vực chôn lấp. nhà kho. Kho chứa vật liệu phủ bãi và lớp trên cùng. Hệ thống thoát nước. biển hiệu. trạm cân… a) Bố trí và chuẩn bị mặt bằng: Khi bố trí mặt băng bãi chôn lấp phải lưu ý đến các yếu tố sau: Đường ra vào bãi thải. Hình thành đê. Định hướng nước chảy. b) Hệ thống thu gom và xử lý nước rác: Hệ thống thu gom nước rác củng như hệ thống thoát nước nhất thiết phải được làm trong thời kỳ chuẩn bị bãi ban đầu và phải được kiểm soát chặt chẽ trước khi đổ rác. Nơi vệ sinh gầm xe. Các công trình chủ yếu Các công việc thiết kế cơ bản của một bãi chôn lấp chất thải rắn của bất kỳ một đô thị nào củng phải bao gồm: Dọn mặt bằng.30 - . Lót đáy (lớp chống thấm).5. Rào chắn. kè.1. hệ thống điện nước. Khu vực chôn lấp rác đặc biệt.

Không nên đặt lớp vải địa chất ở giữa rác và hệ thống rãnh thoát. Ngay cả những bãi đã có hệ thống thoát nước đáy củng cần có hệ thống rãnh thoát nước xung quanh bãi. Mục đích của nó là để thu gom nước rác không cho chảy vào nguồn nước mặt hoặc mạch nước ngầm nằm gần bề mặt đất. Hệ thống thoát nước rác tại đáy bãi (hệ thống thoát đáy): hệ thống thoát nước đáy nằm bên dưới lớp rác và trên lớp chống thấm.31 - . Hệ thống này có chức năng dẫn nhanh nước rác ra khỏi bãi. Phương pháp này ngụ ý là nước ngầm bên dưới bãi bị giảm chất lượng và toàn bộ nước rác phát sinh bởi sự rò rỉ nước vào bãi và thẩm thấu vào mạch nước ngầm được bơm ra khỏi giếng. được bố trí xung quanh bãi. Nếu vì một lý do rủi ro nào đó. đảm bảo hạn chế lượng nước trong bãi. Điều bất lợi của phương pháp này là trong hầu hết các trường hợp nước rác sẽ bị pha loãng bằng nước ngầm dẫn đến lượng nước phải bơm lớn quá mức cần thiết. Rãnh thoát nước: rãnh thoát nước có thể là rãnh hở hoặc rãnh kín. vật liệu tổng hợp (vải địa chất) và các đường ống thoát nước. Hệ thống thoát đáy không nên làm dài quá 100m từ ống ngang bên ngoài rãnh. c) Các công trình phụ trợ: Đối với các bãi thải có quy mô lớn và cực lớn (lượng rác hàng năm trên 200. Điều kiện tiên quyết để hệ thống rãnh thoát nước có thể thay thế hệ thống thoát nước đáy là: bãi được bố trí trên nền đất tự nhiên. Bơm nước rác từ giếng lên: việc thu gom nước rác bằng biện pháp bơm từ giếng ống mà chúng được đặt bên trong hoặc xung quanh bãi là phương pháp tương đối dễ làm ở những bãi đang tồn tại nơi mà thiếu hệ thống thu gom nước rác khác hoặc yêu cầu phải bổ sung thêm. Hệ thống thoát nước đáy có thể được làm bằng sỏi. Hệ thống rãnh thoát nước đáy nên làm càng thẳng càng tốt và được lắp khít với đường ống ngang nằm từ bên ngoài dưới chân dốc của bãi.000 tấn. diện tích bãi từ 20ha trở lên) cần phải có đầy đủ các công trình phụ vụ: văn phòng.Thu gom nước rác: để tránh sự rò rỉ nước rác ra xung quanh cần phải có một hệ thống rãnh thoát. hệ thống gom nước rác không thực hiện được chức năng của nó thì sẽ tạo ra sự tích tụ nước rác với áp lực cao trong bãi. Thiết kế hệ thống thoát nước: hệ thống thoát nước đáy nên có diện tích tiếp xúc với rác lớn. bãi chôn lấp nhỏ và độ ngấm nước vào bãi thấp (khu vực có lượng mưa nhỏ và khả năng bốc hơi cao). Hệ thống này dẫn nước rác ra khỏi bãi tới nơi xử lý. rác có độ thấm nước cao. Rãnh hở có độ dốc tối đa 1:1. nhà kho. hệ .5 và có độ dốc tối thiểu 1:100. điều đó dẫn đến sự rò rỉ nước rác.

Khu vực của nhân viên tùy thuộc vào số lượng nhân viên và mức độ hoạt động của bãi. nhà nghỉ cho nhân viên và chổ để xe nằm lân cận lối vào còn nhà để máy móc. Thông thường văn phòng điều hành. số cân… trọng lượng xe không tải của từng xe củng cần được lưu lại trong bộ nhớ của máy tính. Nên đặt khu kho để vật phẩm thu hồi ở những khu vực có hệ thống thoát nước mưa tốt. Một lớp hoàn chỉnh như vậy gọi là ô rác. người lái. khu phân loại phế thải… Toàn bộ các công trình phục vụ cho bãi thải được bố trí bên trong cổng bãi. Nên có một vài bờ dốc thoai thoải để dễ dàng đưa phế liệu thu hồi lại vào các côngtennơ. trạm bảo dưỡng thiết bị. khu thu hồi phế liệu. địa lý và thủy văn của khu vực.32 - . Sơ đồ của bãi chôn lấp hợp vệ sinh được trình bày ở hình 7. Có 3 phương pháp đổ chủ yếu như sau: a) Phương pháp bề mặt Bản chất của phương pháp này là trải những lớp dày 40 – 80 cm lên mặt đất phẳng. chổ rửa xe máy. Nhà cân được đặt ở lối vào để có thể kiểm soát được lượng rác đưa vào bãi hàng ngày. trong đó loại cân nổi trên mặt đất được coi là dễ làm sạch nhất khi rác rơi vào. . địa hình. Cần có máy phát điện diezen phòng khi mất điện. Cần phải thiết kế hệ thống nước cấp. rãnh thoát nước và hệ thống phát thanh. trạm bảo dưỡng thiết bị.3a). nơi vệ sinh gầm xe.2m thì phủ một lớp đất dày từ 10 – 60 cm lên trên rồi lại đầm nén.2. loại rác. Mỗi côngtennơ chứa một loại vật phẩm thu hồi riêng.thống điện nước. bồn nước… nằm ở bên trong. Hệ thống máy tính thường được sử dụng để ghi lại và in ra thẻ cân các thông tin về số xe. Phương pháp đổ chất thải tùy thuộc vào đặc tính của bãi như thông tin về lượng đất phủ bãi có sẵn. đầm nén nó và tiếp tục trải những đợt khác lên trên. Củng cần phải có trạm bảo dưỡng thiết bị phục vụ bãi. Có nhiều loại cân của các hãng sản xuất khác nhau. Nó nên riêng rẽ với các hoạt động khác và có lối đi riêng. 7. Hệ thống phòng chữa hỏa hoạn đồng bộ và các biện pháp phòng ngừa sự cố củng được trang bị. KỸ THUẬT VẬN HÀNH BÃI CHÔN LẤP Trong vận hành bãi chôn lấp.2. Cuối ngày hoặc khi lớp rác dày 2 – 2. Thông thường một con đập bằng đất được làm để rác đổ xuống tỳ vào và để dễ dàng đầm nén rác sau đó (hìn 7. việc đổ chất thải là khâu quan trọng. Khu vực phân loại rác công nghiệp và rác xây dựng được thiết kế có nền cứng (bề mặt cứng) và được rào lại. trạm cân. Khu thu hồi phế liệu nên đặt ở chổ có thể quan sát được.

Thông thường độ sâu của mương khoảng 4 – 5m. sự di chuyển của xe thu gom và thiết bị bãi dễ dàng và an toàn. khai thác mỏ… hình 7. Quá trình vận hành của phương pháp mương rãnh đắt hơn nhiều so với phương pháp bề mặt do chi phí cho việc đào mương và sử dụng thiết bị chuyên dùng. Đất có sét không thấm nước và mạch nước ngầm thấp là thích hợp đối với phương pháp mương rãnh.3b). Phương pháp hồ chứa thường sử dụng bề mặt đất tự nhiên. b) Phương pháp mương rãnh Rác được đổ vào những mương đào.3c). Hố đổ rác thường thấp hơn so với địa hình xung quanh nên gặp rất nhiều khó khăn cho việc kiểm soát nước bề mặt. Các hố khai thác thường thiếu vật liệu phủ nên sự sẵn có vật liệu phụ là mối quan tâm chính khi chọn bãi chôn lấp phế thải theo phương pháp này. Phương pháp bề mặt thường được sử dụng bờ đập nhân tạo để rác tỳ vào. Phương pháp này được vận hành cho đến khi đạt được độ cao mong muốn (thường là đến đỉnh của mương đào) mương phải đủ dài sao cho xe có thể đi lại và rác được đổ dễ dàng và đủ hẹp để có thể đổ rác được đầy mương vào cuối ngày.000m3 đất được đào thì phải chở đi 800m3 đất thừa).Phương pháp đổ bề mặt thường được sử dụng ở những nơi có địa hình bằng phẳng và ít nguy hiểm đến nguồn nước ngầm. Vật liệu phụ lấy từ đất đào mương lên (hình 7. Một chi phí khác nữa là việc vận chuyển đất thừa được đào lên (cứ 1. Độ sâu của mương tùy thuộc vào các điều kiện địa chất của đất và mạch nước ngầm. Các gò rác của phương pháp này thường có độ cao 15m. Nếu các mương được đào thành các hàng vuông góc với hướng gió thì sẽ làm giảm đáng kể lượng rác bay bừa bãi bởi gió. dễ dàng cho việc thoát tán khí metan qua bề mặt nên có thể không cần có thiết bị thu gom khí ga. .33 - . Với phương pháp này. Phương pháp này là phương pháp kinh tế nhất chỉ yêu cầu đào để có đủ lượng đất phủ. Việc đổ rác bắt đầu từ đầu cao của hố và kết thúc ở đầu thấp để tránh ứ đọng nước và tạo một đập tự nhiên cho đống rác tỳ vào để bắt đầu đầm nén. c) Phương pháp hồ chứa Đây là phương pháp sử dụng những hố nhân tạo hoặc tự nhiên cho hoạt động chôn lấp rác (ví dụ: hố đã khai thác đất. Đất đào có thể sử dụng để làm một bờ thềm tạm thời trên mặt mương để định hướng dòng nước chảy bề mặt.

Tuy nhiên kỹ thuật này không được sử dụng khi thiết bị đầm nén của bãi là máy đầm bánh thép. Độ cao gò rác phù hợp nhất là khoảng 2 – 2. Ngày hôm sau.d) Nguyên tắc vận hành Việc vận hành bãi được tuân thủ theo các nguyên tắc sau: Toàn bộ rác chôn lấp được đổ thành từng lớp riêng rẽ. phục thuộc vào khả năng tiếp cận vùng đổ của phương tiện đổ rác và thiết bị đang được sử dụng tại bãi. Ở những bãi áp dụng phương pháp mương rãnh. Nên phủ một lớp đất hoặc vật liệu tương tự dày 20 – 30cm ở những ô rác dùng để chôn lấp rác hữu cơ dễ thối rữa. mương rãnh hay hồ chứa). Khi các lớp rác đã đầm nén xong và gò rác đạt được độ cao thích hợp thì phủ một lớp đất hoặc vật liệu tương tự khác dầy khoảng 10 – 15cm. Khi công việc trong ngày kết thúc. . Mỗi một gò rác cần phải kết thúc trước khi bắt đầu gò tiếp theo. đầm nén và phủ bãi có thể được tiến hành theo một vài cách.34 - . Hệ thống ô chôn lấp rác lại phụ thuộc vào phương tiện chôn lấp. Đảm bảo đủ số lượng công nhân để duy trì bãi theo sự chỉ dẫn. Cần đào tạo và trang bị đầy đủ cho nhân viên làm việc tại bãi. Việc phát triển hệ thống ô rác phải theo ý đồ thiết kế ban đầu và sau đó thực hiện từng bước sao cho toàn bộ kế hoạch được thực hiện đầy đủ. ô rác tạo thành từ ngày hôm trước có thể đóng vai trò như một bức tường cho bề mặt làm việc mới. bề mặt đầm nén sẽ được đầm nén và phủ một lớp đất dày 20cm và sau đó lại được đầm nén lại.5m. Rác cần được phủ đất sau 24 giờ vận hành trong trường hợp bãi vận hành liên tục. Sự quyết định áp dụng phương pháp vận hành bãi phụ thuộc vào phương pháp chôn lấp (bề mặt. Tiến hành những biện pháp phòng ngừa thích đáng để tránh hỏa hoạn. xe ô tô có thể đi trên những ô rác đã được đầm nén và đổ rác xuống bề mặt làm việc mới. e) Phương pháp vận hành Thực tế việc đổ rác. Tiến hành những biện pháp phòng ngừa để đảm bảo sâu bọ không thể sống trong bãi được. Độ dày của mỗi lớp không quá 60cm.

Nó có hiệu quả cao trong việc làm đường xây dựng bãi thải. Mặt cắt ngang đặc trưng của quá trình vận hành chôn lấp được trình bày ở hình 7.4. Bánh xe của chúng có những chiếc vấu hoặc những thanh thép được hàn vào do đó tạo được một lực ngang lên rác bị đầm nén. 7. Máy ủi xúc bánh lốp: có thể là loại máy nông nghiệp nhưng những loại lớn hơn có thể được sử dụng ở bãi chôn lấp. chi phí đầu tư đúng thời gian. Bất lợi chính của nó là bánh lốp thường bị đâm thủng khi đầm nén rác do đó mất nhiều thời gian chết.3. Máy ủi bánh xích di chuyển dễ dàng trong điều kiện bùn lầy. . duy trì và tu bổ cuối ngày cho bãi thải. Tỷ trọng rác sau khi đầm nén của ba dạng thiết bị trên được trình bày ở bảng 7. Máy đầm nén bánh thép đạt được hiệu quả đầm nén cao nhất vì lực nén chỉ tập trung vào bốn bánh xe có vấu. vấn đề kinh tế về người và máy và những đặc thù của nhiệm vụ được thực hiện ở bãi. Loại thiết bị được chọn sẽ tùy thuộc vào phạm vi hoạt động. đầm nén và phủ bãi: Máy ủi bánh xích: được thiết kế đặc biệt để làm đất. tuy nhiên nó không có lợi trong công tác đầm nén rác.3. đảm bảo sự vận hành bãi được kiểm soát và hạn chế trong những khu vực nhỏ.35 - . Máy ủi xúc bánh lốp đầm nén tốt hơn máy ủi xích và nó có nhiều kiểu loại để làm hầu hết những công việc duy trì trên bãi như xây đập. bất kể theo phương pháp chôn lấp nào củng phải chia ra thành những khu nhỏ hơn để xử lý từng loại rác thải riêng và mỗi khu vực nhỏ lại được chia ra thành những ô nhỏ hơn để: giảm sự phát sinh rác thải. đầm nén và phủ rác Chuẩn bị bãi. loại rác được chôn lấp. Máy này thường sử dụng phổ biến ở những bãi chôn lấp nhỏ. Thường có hai loại công việc ở bãi cần đến các thiết bị nặng: San. Có ba dạng thiết bị chính để san ủi. Máy đầm nén bánh thép: là sự kết hợp của đầm nén bánh xích và đầm nén bánh lốp. giảm đến mức tối đa chiều dài đường phải duy trì. dọn bụi cây.Khu vực đổ rác trong một bãi thải. tránh phủ bãi với diện tích lớn. THIẾT BỊ PHỤC VỤ BÃI CHÔN LẤP Việc lựa chọn thiết bị cho bãi chôn lấp rác thải là rất quan trọng cho việc vận hành một bãi chôn lấp có hiệu quả kinh tế và duy trì điều kiện thuận lợi của một bãi thải.

Tỷ trọng rác sau khi đầm nén Dạng thiết bị Máy ủi xích Máy ủi xúc bánh lốp Máy đầm nén bánh thép Tỷ trọng rác sau khi đầm nén (kg/m3) 520 – 620 500 – 570 710 – 950 Năng suất thiết bị chủ yếu được đánh giá thông qua năng suất đầm nén của thiết bị vì đầm nén là công việc chủ yếu trong vận hành bãi. thường 4 – 6 lần Biết được những yếu tố này sẽ tính được tổng số m3 rác được đầm nén trong một giờ. Vốn đầu tư. Ngoài sự phân tích những điểm mạnh.36 - . Việc lựa chọn thiết bị phục vụ bãi chôn lấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố.S. Sơ đồ một số thiết bị sử dụng tại bãi chôn lấp được thể hiện ở hình 7.3. tuổi thọ của thiết bị. . Lợi tức hàng năm do bãi chôn lấp mang lại được tính bằng giá trị trên một tấn rác đã chôn lấp trong bãi và sẽ được chôn lấp tại bãi.L/P = số m3 rác được nén/giờ Trong đó: W: độ rộng nén bằng 2 lần độ rộng bánh xe hoặc dải xích của thiết bị S: tốc độ di chuyển của thiết bị: 3 – 4 km/h đối với máy bánh lốp 2 – 3 km/h đối với máy bánh xích L: độ dày lớp rác được đầm nén (thường khoảng 10cm) P: số lần phải đầm nén để đạt được tỷ trọng thiết kế.6.1) Kích cỡ của bãi chôn lấp (quy mô). Năng suất thiết bị được xác định theo công thức sau: W.Bảng 7. điểm yếu của từng thiết bị . khi lựa chọn thiết bị cần phải xem xét những yếu tố sau đây: - (7. Phương pháp chôn lấp vận hành bãi đã lựa chọn. Giá của thiết bị.

37 - . Trong trường hợp lớp đất tự nhiên của thành ô chôn lấp không đáp ứng được các điều kiện chống thấm này.10-7 cm/s và có chiều dày tối thiểu là 6m. Trường hợp nếu đáy ô chôn lấp có cấu tạo bởi lớp đất đá tự nhiên có hệ số thấm ≤ 1. Có ít nhất 25% khối lượng hạt có kích thước ≤ 0. Có hệ số thấm ≤ 1.5m. Bề mặt của lớp đất tự nhiên của lớp đáy ô chôn lấp phải được xử lý sao cho đạt độ dốc ít nhất 2% để cho phép nước rác tự chảy tập trung về các rãnh thu gom nước rác.7. Phủ lên lớp sét này một lớp màng tổng hợp chống thấm (HDPE) có chiều dày ít nhất 1. CHỐNG THẤM CHO CÁC Ô CHÔN LẤP RÁC THẢI Để ngăn cản sự ô nhiễm đất và nước ngầm do nước rác.005mm. Hệ số thấm này của đất đá phải được xác định tại chổ.10-7cm/s.10-7 cm/s nhưng chiều dầy của lớp đất đá này chỉ có từ 3 – 6m thì đáy và thành ô chôn lấp cần bổ sung một tầng bảo vệ chống thấm theo một trong những giải pháp dưới đây: - Tạo một lớp sét sao cho sau khi đầm chặt và xử lý phải có độ dốc bề mặt tối thiểu 2% và chiều dày 120cm với những đặc tính như sau: Có ít nhất 50% khối lượng hạt có kích thước ≤ 0. cần phải xây dựng một vành đai thành chắn (hoặc tường chắn) chống thấm theo một trong những giải pháp dưới đây: Một vành đai thành (hoặc tường) chắn chống thấm bao bọc xung quanh ô chôn lấp có kết cấu như sau: Thành chắn này phải được cấu tạo bằng vật liệu có hệ số thấm ≤ 1. Thành ô chôn lấp củng phải thỏa mãn các điều kiện chống thấm như đáy ô chôn lấp đã nêu trên. Có độ ẩm nhiều nhất là 30%.075mm. Nếu sử dụng hệ thống chống thấm khác thì hiệu quả chống thấm của hệ thống này phải tuân thủ các điều kiện chống thấm như với đáy δ tự nhiên (k≤ 1.10-7 cm/s và về dầy trên 1m. đáy ô chôn lấp rác thải cần phải được đặt ở những nơi có lớp đất đá tự nhiên đồng nhất với hệ số thấm ≤ 1. Đỉnh của thành chắn tối thiểu phải đạt bằng mặt đất và đáy của nó phải xuyên vào lớp đất sét thỏa mãn các điều kiện về hệ số thấm ≤ 1. Trường hợp lớp đất đá tự nhiên ở đáy ô chôn lấp rác thải không thỏa mãn các yêu cầu về điều .4. Tạo một lớp sét sao cho khi đầm chặt và xử lý phải có chiều dày 60cm.10-7 cm/s. Có chỉ số dẻo ít nhất là 15%.10-7 cm/s) của điều này. Chiều rộng của thành chắn ít nhất là 1m.

khai thác quặng làm ô chôn lấp cần phải tuân theo những điều kiện sau đây: 1) Moong. các biện pháp xử lý chống thấm phải được thực hiện theo quy định.5m. 2) Tầng bảo vệ thứ hai ở phía trên là màng tổng hợp chống thấm có chiều dày ít nhất 1.38 - . 3) Trường hợp moong hoặc mỏ có cao trình đáy nằm ở vị trí thấp hơn so với mực nước ngầm. QUÁ TRÌNH SINH HÓA DIỄN RA TẠI CÁC BÃI CHÔN LẤP RÁC THẢI Các quá trình sinh hóa diễn ra ở bãi chôn lấp chủ yếu do hoạt động của các vi sinh vật sử dụng các hợp chất hữu cơ làm nguồn dinh dưỡng cho các hoạt động sống của chúng.5m. Các loại vi sinh vật phát triển tốt trong các điều kiện môi trường như bảng 7. Các loại vi sinh vật bao gồm: vi khuẩn.5.7. nấm men và nấm mốc. Một màng tổng hợp chống thấm có chiều dày 1. . Khi tận dụng moong. mỏ khai thác phải lộ thiên.5. Nếu lưu lượng nước bình quân ngày thấm vào như đã nói trên lớn hơn 1.10-3 m3 nước trên 1m2 thì không cần thực hiện các biện pháp chống thấm cho đáy và thành ô chôn lấp. Hệ thống hai tầng bảo vệ bằng màng chống thấm nói trên phải được xử lý sao cho chúng có độ dốc bề mặt tối thiểu là 2%.10-3 m3 nước trên 1m2 thì phải được thực hiện các biện pháp chống thấm.kiện chống thấm thì đáy và thành của ô chôn lấp phải được xử lý bằng một hệ thống hai tầng bảo vệ chống thấm như sau: 1) Tầng bảo vệ thứ nhất nằm phía dưới được cấu tạo: - Đáy ô chôn lấp phải được cấu tạo bởi một lớp đá cao ít nhất là 1. Các loại vi khuẩn và nấm đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân giải các hợp chất.5mm được đặt trên lớp sét 60cm này. 7.4.5. sau đó là một lớp đất sét có chiều dày 60cm sau khi đã được đầm chặt. mỏ khai thác đá. 2) Trường hợp moong hoặc mỏ có cao trình đáy nằm ở vị trí cao hơn so với mực nước ngầm. Sơ đồ các dạng kỹ thuật điển hình của lớp lót đáy ô chôn lấp được thể hiện ở hình 7. nếu lưu lượng nước thấm vào bình quân ngày tính cho một năm quan trắc liên tục nhỏ hơn 1.

4. Cơ chế sinh hóa của các quá trình phân hủy trong các bãi chôn lấp được thể hiện ở hình 7.Bảng 7. .Các vi sinh vật ưa nóng: phát triển mạnh mẽ ở nhiệt độ từ 40 – 70oC. Giai đoạn I: giai đoạn thích nghi ban đầu Giai đoạn II: giai đoạn chuyển tiếp Giai đoạn III: giai đoạn tạo axit Giai đoạn IV: giai đoạn lên men metan Giai đoạn V: giai đoạn kết thúc . oC Nồng độ muối.39 - .8.9. Sự phát triển của các loại vi sinh vật theo nhiệt độ ở hình 7. %NaCl pH nồng độ oxy. Mpa Ánh sáng Khoảng giá trị -8 ÷ +110 0–3 1. % Áp suất.Các vi sinh vật ưa ấm: phát triển mạnh mẽ ở nhiệt độ từ 2 – 40oC.Các vi sinh vật ưa ẩm: phát triển mạnh mẽ ở nhiệt độ từ 0 – 20oC. Các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới vi sinh vật [9] Yếu tố môi trường Nhiệt độ.0 – 12 0 – 30 0 – 115 Bóng tối – ánh sáng mạnh Các vi sinh vật tham gia vào quá trình tham gia vào quá trình phân giải tại bãi chôn lấp được chia thành 3 nhóm chủ yếu sau [9]: . .

` .40 - .

41 - .Các hợp chất hữu cơ dạng rắn Các hợp chất hữu cơ dạng hòa tan hoàn toàn Thủy phân Các hợp chất hữu cơ dạng hòa tan Sunphát hóa Lên men Khử sunphát Axit béo + alcohol Axeton hóa Axetat Sunphuaro (H2S) Carbonic (CO2) Hydro (H2) Mêtan hóa (gđ axit) Mêtan hóa (gđ thủy phân) Metan (CH4) Hình 7. Cơ chế sinh hóa của quá trình phân hủy sinh học trong các bãi chôn lấp [10] .9b.

các phản ứng hóa học diễn ra sẽ trội hơn các phản ứng vi sinh vật bởi vì hầu hết các chủng sinh vật bị tiêu diệt ở nhiệt độ 70oC. phần nhỏ (gồm 2-3 chủng loài) là những vi sinh vật tạo metan từ axit axetic. khí cacbonic và khí nitơ. vì vậy điều này phải được . chỉ một thời gian ngắn sau khi bãi rác đi vào hoạt động quá trình phân hủy hiếu khí được diễn ra. tinh bột. Lượng nhiệt năng được tạo thành bên trong các ô chôn lấp được tạo ra nhiều hơn so với lượng nhiệt năng được thoát ra bên ngoài và do đó nhiệt độ bên trong các ô được tăng lên.42 - . Các chất này là nguồn nguyên liệu ban đầu của quá trình lên men hóa. Ở khoảng nhiệt độ này. các amino axit. Khi oxy bị các vi sinh vật hiếu khí tiêu thụ dần thì các vi sinh vật yếm khí bắt đầu xuất hiện và nhiều quá trình lên men khác nhau được bắt đầu diễn ra trong các ô chôn lấp. alcohols sau đó lại được chuyển hóa tiếp tục với sự tham gia của cả các vi sinh vật axeton và các vi sinh vật khử sunphat. Giá trị nhiệt độ tăng tới 60oC – 70oC được kéo dài trong thời gian khoảng 30 ngày. Nếu như có tồn tại nhiều sunphat trong các ô rác chôn lấp thì các vi khuẩn khử sunphat sẽ mang tính trội hơn vi khuẩn metan và như vậy sẽ không có khí metan tạo thành nếu sunphat vẫn tồn tại. alcohols. Trong tổng hợp khí metan tạo thành từ bãi chôn lấp thì có tới 70% được tạo thành từ axit axetic. Trong quá trình phân hủy hiếu khí.Bản chất sinh hóa của quá trình được diễn ra như sau: Thời kỳ ban đầu. Các vi sinh vật tham gia vào quá trình lên men là nhóm vi sinh vật dị dưỡng trong điều kiện yếm khí lẫn kị khí nghiêm ngặt. sử dụng trong việc tiếp nhận năng lượng để kiến tạo nên tế bào mới. chất béo và một lượng năng lượng tỏa ra rất lớn và vì thế có tồn tại một lượng năng lượng đáng kể ở dạng nhiệt. Hàm lượng sunphat có nhiều trong chất thải xây dựng. Có hai nhóm vi sinh vật chủ yếu tham gia vào quá trình tạo metan: phần lớn là nhóm các vi sinh vật tạo metan từ khí nitơ và khí cacbonic. ở giai đoạn này các chất hữu cơ dễ bị oxy hóa sinh hóa thành dạng đơn giản như protêin. Các vi khuẩn khử sunphat và vi khuẩn tạo metan là những vi khuẩn thuộc nhóm vi sinh vật kị khí bắt buộc. Các chất hữu cơ dạng đơn giản. khí cacbonic còn các vi khuẩn khử sunphat thì chỉ tạo ra khí nitơ và khí cacbonic. đường… được chuyển hóa thành các axit béo dễ bay hơi (VFA). Các vi sinh vật axeton tạo ra axit axetic. Các phản ứng hóa học ở nhiệt độ này được diễn ra với tốc độ nhanh. Các axit béo dễ bay hơi (VFA). các polyme ở dạng đa phân tử được vi sinh vật chuyển hóa sang dạng đơn phân tử tồn tại ở dạng tự do. Các polyme đơn phân tử sau đó lại được vi sinh vật hấp thụ.

nhiệt độ của các ô chôn lấp giảm xuống vì các chủng loài vi sinh vật ở giai đoạn này tạo ra ít nhiệt lượng hơn nhiều so với quá trình chuyển hóa hiếu khí (chỉ bằng 7% so với quá trình hiếu khí). Vì vậy vấn đề cần quan tâm khi thiết kế. .43 - . . nước có thể tạo ra xói mòn trên tầng đất nén và những vấn đề lắng đọng trong dòng nước mặt chảy qua.Nước từ các khu vực khác chảy qua có thể thấm xuống các ô chôn rác. kéo theo các chất ô nhiễm từ rác chảy vào tầng đất ở dưới bãi chôn lấp. Quá trình hình thành nước rác: Nước rác được hình thành khi nước thấm vào ô chôn lấp. Nước từ những khu vực khác chảy qua bãi chôn lấp cần phải thu gom bằng hệ thống thoát nước. khí cacbonic và nước.Mực nước ngầm có thể dâng lên vào các ô chôn rác.Nước mưa rơi xuống khu vực bãi chôn lấp sau khi ô rác đầy (ô rác được đóng lại).Nước có thể rỉ vào qua các cạnh (vách) của ô rác.Nước mưa rơi xuống khu vực bãi chôn lấp rác trước khi được phủ đất và trước khi ô rác đóng lại). Như vậy.Nước sẵn có và tự hình thành khi phân hủy rác hữu cơ trong bãi chôn lấp. Nước rất cần cho một số quá trình hóa học và sinh học xảy ra trong bãi chôn lấp để phân hủy rác. Nước có thể thấm vào rác theo một số cách sau đây: .6. rác thải hữu cơ tại các bãi chôn lấp được phân hủy theo nhiều giai đoạn chuyển hóa sinh học khác nhau để tạo ra sản phẩm cuối cùng trong các bãi chôn lấp là khí metan. Trong quá trình chuyển hóa yếm khí và kị khí. . Nước có sẵn trong rác thải là nhỏ nhất. Nếu nồng độ của các axit hữu cơ. Mặt khác. BOD5 cao.quan tâm tránh không đổ phế thải vào bãi chôn lấp rác đô thị để tạo điều kiện cho quá trình hình thàn khí metan. . Sự có mặt của nước trong bãi chôn lấp rác có cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực cho hoạt động của bãi rác. Hệ thống thoát nước không chỉ bảo vệ những khu vực chôn lấp rác khỏi bị xói mòn trong thời gian hoạt động mà còn tiêu thoát lượng nước . 7. KHÁI NIỆM VỀ NƯỚC RỈ RÁC Nước rỉ rác (còn gọi là nước rác) là nước bẩn thấm qua lớp rác của các ô chôn lấp. axit béo dễ bay hơi (VFA) tạo ra càng nhiều thì trong nước rác sẽ có pH thấp (4-5) và có nồng độ COD. xây dựng cho hoạt động của một bãi chôn lấp là kiểm soát nước rác. Nước rác có thể chảy vào các tầng nước ngầm và các dòng nước sạch và từ đó gây ô nhiễm đến nguồn nước uống. .

Các số liệu tiêu biểu về thành phần và tính chất nước rác từ các bãi chôn lấp mới và lâu năm [12] Thành phần Nhu cầu oxy hóa sinh hóa (BOD5). mg/l Tổng lượng cacbon hữu cơ (TOC). Độ nén.000 50 – 1.000 4.000 10 – 800 10 – 800 5 – 40 5 – 100 4 – 80 1. tất cả đều tác động lên thành phần của nước rác. mg/l Sunphat. khí hậu. mg/l Amoniac.000 T.5 50 – 200 100 – 400 20 – 200 20 .0 250 500 60 300 Bãi lâu năm (trên 10 năm) 100 – 200 80 – 160 100 – 500 100 – 400 80 – 120 20 – 40 5 – 10 5 – 10 4–8 200 – 1.5 50 – 1.000 1. Bảng 7. mg/l Độ kiềm theo CaCO3 pH Canxi.000 18.200 50 – 1.000 6.000 – 20. mg/l Tổng lượng sắt. mg/l Othophotpho.000 – 10. mg/l Bãi mới (dưới 2 năm) Khoảng 2. mg/l Clorua.500 200 – 3. mg/l Tổng lượng photpho.6 – 7. Có thể hạn chế được lượng nước mưa ngấm vào ô rác bằng cách trồng lại thảm thực vật sau khi bãi đã đóng.50 . Nước mưa là không có cách nào để ngăn chặn không cho chảy vào ô rác. mùa.5.bình 10. loại và độ dày của nguyên liệu phủ trên cùng củng tác động lên thành phần của nước rác. mg/l Tổng chất rắn lơ lững (TSS).5 – 7.000 200 – 2. mg/l Nhu cầu oxy hóa hóa học (COD).000 – 60. độ ẩm của bãi rác.5.000 500 200 200 25 30 20 3.500 – 20. Các số liệu tiêu biểu về thành phần và tính chất nước rác từ các bãi chôn lấp mới và lâu năm được trình bày ở bảng 7. mức độ pha loãng với nước mặt và nước ngầm và loại rác chôn lấp.44 - .000 6.000 6. Thời gian chôn lấp. mg/l Nitơ hữu cơ.thừa ngấm vào ô rác và tạo ra nước rác.000 3. Thành phần của nước rác: việc tổng hợp và đặc trưng hóa thành phần nước rác là rất khó vì một loạt các điều kiện tác động lên sự hình thành của nước rác. mg/l Nitrat.

Trong giai đoạn tạo axit các hợp chất đơn giản được hình thành như axit béo. vi khuẩn tạo ra khí metan là nổi trội nhất. amino axit và carbôxilic axit.Nồng độ NH4 và nitơ cao. Đặc trưng của nước rác trong giai đoạn này: . Đặc trưng chất lượng của nước rác trong giai đoạn này là: . Giai đoạn tạo thành khí metan có thể tiếp tục đến 100 năm hoặc lâu hơn nữa.BOD cao. .Nồng độ cao các axit béo dễ bay hơi. .BOD thấp. . .pH trung hòa/kiềm. quyết định khả năng pha loãng tự nhiên các chất ô nhiễm trong nước rác trước khi các chất này chảy đến nguồn nước ngầm. phụ thuộc vào bản chất không đồng nhất của rác. Việc dự báo chất lượng nước rác tạo thành được dựa vào “phương pháp cân bằng nước”.45 - . tiếp đến là hai giai đoạn phân hủy: giai đoạn phân hủy yếm khí tùy tiện tạo ra axit và giai đoạn phân hủy yếm khí tuyệt đối tạo ra khí metan. Giai đoạn axit có thể kéo dài vài năm sau khi chôn lấp. Sơ đồ cân bằng nước được thể hiện ở hình 7. . . .Nồng độ các axit béo dễ bay hơi rất thấp. Thành phần của nước rác thay đổi theo các giai đoạn khác nhau của quá trình phân hủy sinh học.Tỷ lệ BOD/COD cao. . Trong giai đoạn tạo metan.pH nghiêng về tính axit.6. . Sau giai đoạn háo khí (một vài tuần).Như vậy sự hình thành khí và nước rác trong quá trình chôn lấp là những mối quan tâm lớn trong công tác vận hành và quản lý các bãi chôn lấp ở các đô thị. Dự đoán khối lượng nước rác: khối lượng nước rác và đặc tính địa chất của tầng đất nằm dưới đáy bãi là những yếu tố chính.Tỷ lệ BOD/COD thấp. Chúng thay thế các axit bằng các sản phẩm cuối cùng là khí metan và cacbonic.Nồng độ NH4 cao.

6. các số liệu về lượng mưa. Sơ đồ cân bằng nước Vật liệu phủ trung gian Nước tiêu thụ trong quá trình hình thành khí ở bãi rác Nước bay hơi Rác đã được nén Phương trình cân bằng nước có thể biểu diễn như sau: ∆SSW = WSW + WTS + WCM + WA(R) – WLG – WWV – WE – WB(L) Trong đó: ∆SSW : lượng nước tích trử trong rác ở bãi rác (kg/m3) WSW : độ ẩm ban đầu của rác thải (kg/m3) WTS : độ ẩm ban đầu của bùn từ trạm xử lý (kg/m3) WCM : độ ẩm ban đầu của vật liệu phủ (kg/m3) WA(R) : lượng nước thấm từ phía trên (nước mưa) (kg/m3) WLG : lượng nước thất thoát trong quá trình hình thành khí thải (kg/m3) WWV : lượng nước thất thoát do bay hơi theo khí thải (kg/m3) WE : lượng nước thất thoát do quá trình hơi hóa bề mặt (kg/m3) WB(L) : lượng nước thoát ra từ phía đáy bãi rác (kg/m3) Trên cơ sở của phương trình cân bằng nước. lượng nước rò rỉ có thể tính theo mô hình vận chuyển một chiều của nước rò rỉ xuyên qua rác nén và đất bao phủ như sau: Q = M(W1 – W2) + [P(1 – R) – E] ×A Trong đó: Q : lưu lượng nước rò rỉ phát sinh ra trong bãi rác (m3/ngày) M : khối lượng rác trung bình ngày (t/ngày) . độ bốc hơi.Nước thải phía trên bãi rác Nước từ vật liệu phủ bề mặt Nước từ chất thải rắn Nước có trong bùn Nước thoát ra từ phía đáy Hình 7.46 - . hệ số giữ nước của rác sau khi nén trong bãi rác.

Hệ thống thu gom này bao gồm: tầng thu gom nước rác và mạng lưới ống thu gom.Tầng thu gom nước rác được đặt ở trên đáy và thành ô chôn lấp và nằm trên tầng chống thấm của đáy ô chôn lấp hoặc trên màng tổng hợp chống thấm tùy theo từng trường hợp. .Có thành bên trong nhẵn và đường kính tối thiểu là 150mm .35 Hệ thống thu gom nước rác: Khi sử dụng lớp chống thấm.W2 : độ ẩm của rác sau khi nén (%) W1 : độ ẩm của rác trước khi nén (%) P : lượng mưa ngày trong tháng lớn nhất (mm/ngày) R : hệ số thoát bề mặt. độ dốc > 7% Đất chặt.22 0.Có độ dốc tối thiểu là 1% .15 – 0. nước rác sẽ được giữ trong bãi chôn lấp và phải được thu đi nếu không nó sẽ chảy tràn ra các cạnh của lớp chống thấm.2 0.075mm .10 – 0.075mm hoặc một màng lọc tổng hợp có hiệu quả lọc . độ dốc 2 – 7% Đất pha cát.47 - .05 – 0.17 0.25 – 0.Có hệ số thấm tối thiểu bằng 1. độ dốc 2 – 7% Đất chặt.15 0. Hệ số thoát nước bề mặt đối với các loại đất phủ Loại đất trên bề mặt Đất pha cát. độ dốc 0 – 2% Đất chặt.Lớp lọc bao quanh đường ống thu gom nước rác bao gồm: một lớp đất có độ hạt ít nhất 5% khối lượng là hạt có đường kính 0.Có ít nhất 5% khối lượng hạt có kích thước ≤ 0.6.18 – 0. lấy theo bảng 7. độ dốc 0 – 2% Đất pha cát. Mạng lưới đường ống thu nước rác này phải đáp ứng yêu cầu sau: . Tầng thu gom nước rác phải có chiều dày ít nhất 50 cm với những đặc tính như sau: .10 0.10-2 cm/s . Bãi chôn lấp rác thải hợp vệ sinh cần phải có một hệ thống thu gom nước rác từ đáy ô chôn lấp và được tập trung dẫn về nơi xử lý trước khi xả ra ngoài .Mạng lưới thu nước rác được đặt ở bên trong tầng thu gom nước rác như đã mô tả ở trên phủ lên toàn bộ đáy ô chôn lấp.13 – 0.6 E : lượng nước bốc hơi lấy bằng 5mm/ngày (thường 5 – 6 mm/ngày) Bảng 7. độ dốc > 7% Hệ số thoát nước bề mặt 0.

trước hết phải có được các số liệu về thành phần và tính chất của nước rác. Các thành phần của nước rác cần phải được xác định khi thiết kế trạm xử lý theo bảng 7. Thường thường. tuy nhiên giá trị của pH có thể thay đổi tùy thuộc vào thành phần của rác thải và tính chất của nền đất. Các công trình thường sử dụng là bể aeroten.8 – 8. . . khi sử dụng lớp chống thấm. . vì vậy khi thiết kế hệ thống thu gom nước rác phải tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản sau: .Hệ thống thu gom phải có khả năng làm sạch vì chúng rất dễ bị bịt kín. COD và các hợp chất của nitơ sẽ được giảm. đĩa lọc sinh học. Quá trình xử lý sơ bộ: Thông thường là các song chắn rác. ở quá trình này pH của nước rác thường 6. Việc thiết kế hệ thống thu gom nước rác phụ thuộc vào những đặc trưng của bãi chôn lấp nhưng có thể tuân thủ theo những hướng dẫn chung như sau : . Việc thiết kế hệ thống thu gom nước rác phụ thuộc vào những đặc trưng của bãi chôn lấp. Sơ đồ điển hình của hệ thống thu gom nước rác được thể hiện ở hình 7.Hệ thống thu gom nước rác phải được thiết kế và lắp đặt để hạn chế khả năng tích tụ nước rác ở đáy ô chôn lấp và phải có độ dốc tối thiểu 1%. hồ thổi khí.tương đương để ngăn chặn sự di chuyển các hạt quá mịn xuống hệ thống thu gom sao cho nước rác tự chảy nhanh nhất xuống hệ thống thu gom.10a. nước rác sẽ được giữ lại trong bãi chôn lấp và phải được thu đi nếu không nó sẽ chảy tràn ra các cạnh của lớp chống thấm.7. Điều này liên quan nhiều đến số lượng ống và khoảng cách đặt ống.10b Xử lý nước rác: để lựa chọn công nghệ xử lý phù hợp.Hệ thống thu gom phải đủ lớn để có thể vận chuyển nước ra khỏi bãi. các phương án bố trí thu gom nước rác được thể hiện ở hình 7. Thông thường. Quá trình xử lý sinh học: Ở quá trình này. BOD.48 - .8. Hình dạng chung nhất của hệ thống thu gom nước rác là chạy vòng quanh chu vi của bãi chôn lấp nhằm hạn chế dòng chảy đi khỏi bãi chôn lấp sau này và sau đó hệ thống này chạy chéo nhau bên trong bãi chôn lấp với đủ đường ống để đưa dòng nước rác lớn nhất ra khỏi bãi.Hệ thống thu gom nước rác phải được thiết kế và lắp đặt để hạn chế khả năng tích tụ nước rác ở đáy ô chôn lấp. Nếu hệ thống thu gom này được đặt sâu trong bãi chôn lấp có nén ép thì phải sử dụng ống dày hơn và phải thực hiện kỹ thuật làm đệm ống đặc biệt để tránh vỡ ống dưới áp suất lớn. hồ lắng sơ bộ. người ta sử dụng những ống được đục lỗ từ 15 – 20 cm có độ bền vững về mặt cấu trúc khi đặt ở bất cứ độ sâu nào trong bãi chôn lấp. bể lọc sinh học… Tóm tắt cơ chế khử BOD trong nước rác được trình bày ở bảng 7.

7. Tóm tắt cơ chế khử COD và độ màu trong nước rác được trình bày ở bảng 7. lắng. cặn lơ lững (SS). Các thành phần của nước rác cần được xác định khi thiết kế trạm xử lý nước rác [17] Thành phần nước rác BOD5.Quá trình hóa – lý: Quá trình này chủ yểu khử COD. mùi Mức độ cần thiết Rất cần khi thiết lập các thông số ban đầu để thiết kế và chọn công nghệ xử lý Yêu cầu đối với các công trình xử lý để đạt chất lượng của dòng xả theo tiêu chuẩn quy định Không nhất thiết phải xem xét khi thiết lập các thông số thiết kế vì những chất này sẽ được khử trong quá trình xử lý các thành phần khác Bảng 7. Tóm tắt cơ chế khử kim loại nặng trong nước rác được trình bày ở bảng 7.8. Bảng 7.9. màu. lượng cặn lơ lững. độ màu. Hiệu suất > 90% độ thấp cao . COD. hấp phụ cacbon hoạt tính và hóa học. coliform Fe2+ . NH + . các kim loại nặng. kim loại nặng và coliform. 4 nitơ tổng số pH.49 - . Các phương pháp ứng dụng bao gồm đóng rắn. Mn2+ . Tóm tắt phương pháp khử BOD trong nước rác Nguyên tắc (1) Xử lý sinh học (2) Hấp phụ cacbon hoạt tính (3) Tuyển nổi Phân hủy sinh học các Hấp phụ các chất hữu Tuyển nổi và tách các chất bẩn hữu cơ bởi hoạt cơ hòa tan bởi các hạt chất lơ lửng và các động của các vi sinh vật Ứng dụng cacbon hoạt tính chất hữu cơ hòa tan Giảm hàm lượng BOD Giảm hàm lượng BOD Sử dụng khi nồng độ trong nước rác ở nồng độ trong nước rác ỏ nồng SS trong nước rác rất cao.10.

Sự tạo thành khí Các bãi chôn lấp là nguồn tạo ra khí sinh học mà trong đó khí metan là thành phần chủ yếu và chiếm một tỷ lệ cao. Như vậy.7. khí ga có hai . Tóm tắt phương pháp khử COD và độ màu trong nước rác (1) Xử lý keo tụ Nguyên tắc Phân hủy sinh học các chất bẩn hữu cơ bởi hoạt động của các vi sinh vật Giảm hàm lượng ứng dụng BOD trong nước rác ở nồng độ cao.9.50 - Keo tụ bằng chất hoạt tính Tác ion kim loại khỏi nước rác sau lắng Thích hợp với nước rác Giá thành xử lý cao.Bảng 7.1. Sự có mặt của khí CO2 ở trong bãi chôn lấp tạo điều kiện cho vi sinh vật kị khí phát triển và từ đó bắt đầu giai đoạn hình thành khí metan. HỆ THỐNG THU GOM KHÍ SINH HỌC TỪ Ô CHÔN LẤP 7. Hiệu suất > 90% (2) Hấp phụ cacbon hoạt tính Hấp phụ các chất hữu cơ hòa tan bởi các hạt cacbon hoạt tính Giảm hàm lượng BOD trong nước rác ở nồng độ thấp Phân hủy sinh học các chất bẩn hữu cơ bởi hoạt động của các vi sinh vật Giảm hàm lượng BOD trong nước rác ở nồng độ cao. Tóm tắt phương pháp khử kim loại nặng trong nước rác Xử lý keo tụ (kiềm) Nguyên tắc Tạo ra dạng hydroxyt của kim loại sau đó lắng (môi trường kiềm) có nồng độ đậm đặc Hấp phụ cacbon hoạt tính Hấp phụ các ion kim loại hòa tan bởi các hạt cacbon hoạt tính Sử dụng khi nồng độ SS trong nước rác rất cao thích hợp khử kim loại trong nước rác có nồng độ thấp 7. Khí sinh học là sản phẩm của quá trình phân hủy các chất hữu cơ có trong bãi chôn lấp. ứng dụng . Thành phần của khí ga trong giai đoạn đầu chủ yếu là carbon dioxit (CO2) và một số loại khí khác như N2 và O2 .7. Hiệu suất > 90% Tuyển nổi và tách các chất lơ lững và các chất hữu cơ hòa tan Sử dụng khi nồng độ SS trong nước rác rất cao (3) Xử lý sinh học (4) Ozon hóa Bảng 7.10.

K (1984) 47.2 2.J (1983) trong Van . Khí metan có thể trở thành mối nguy hiểm gây ra cháy.01 Ghi chú: trích dẫn từ Ham R.5 41.1 41oC 17.thành phần chủ yếu là CH4 và CO2 trong đó CH4 có khoảng từ 50 – 60% và CO2 chiếm khoảng 40 – 50%.8 0.1 1. có nghĩa là nồng độ metan sinh ra không được vượt quá 1.11 chỉ ra các thành phần của khí tạo thành từ hoạt động của bãi chôn lấp. bảng 7. tính theo thể tích.1 0. nổ. ô nhiễm môi trường ở bãi chôn lấp và các khu vực xung quanh.700KJ/m3 1.325 kPa sẽ gây ra cháy trong không khí . Bảng 7. Thành phần của khí tạo thành ở bãi chôn lấp % Thể tích khô Thành phần Metan (CH4) Carbon dioxit (CO2) Nitơ (N2) Oxy (O2) Hydro (H2) Đặc thù Nhiệt độ (tại nguồn) Nhiệt lượng Trọng lượng riêng Độ ẩm Den Broek (1985).K (1984) trong Robinson (1986)và Hocks.04 (so với khí H2) Bão hòa Nguồn dẫn liệu: Theo Hocks – J (1985) 55.5 47.0 3.11.7 0.25% tính theo thể tích ở những nơi sau: 1) Ở trong nhà. một chất khí trong hỗn hợp khí ở nhiệt độ 25oC và ở áp suất 101.51 - Nguồn dẫn liệu: Theo Ham R. Vì vậy việc kiểm tra khí bằng phương pháp thoát tán hoặc thu hồi và chuyển thành nguồn năng lượng là một phần quan trọng trong thiết kế và vận hành bãi chôn lấp phế thải hợp vệ sinh. hoặc các công trình thuộc phạm vi bãi chôn lấp 2) Trong không khí xung quanh thuộc phạm vi bãi chôn lấp Thuật ngữ “giới hạn thấp về cháy nổ” được hiểu là ở nồng độ thấp. . vì vậy các bãi chôn lấp rác thải hợp vệ sinh nhất thiết phải có một hệ thống thu gom và xử lý tất cả các khí sinh học sinh ra từ bãi đảm bảo yểu cầu giới hạn cho phép sao cho: Nồng độ của khí metan sinh ra không được vượt quá 25% giới hạn thấp về cháy nổ .LEL – “Lower Explosive Level”.

có thể áp dụng phương pháp tính toán sau đây: dL = − KL dt (7. Benzen (C6H6) trong điều kiện bãi chôn lấp hoạt động ổn định sau thời gian từ 1 – 2 năm. Toluend (C6H5CH3).Nếu trong phế thải có chứa hóa chất độc hại củng ngăn cản các vi khuẩn tạo khí metan do thiếu hụt dinh dưỡng. Sau đó khả năng sản sinh khí bị giảm dần. . và kéo dài khoảng 20 năm kể từ khi giai đoạn yếm khí đầu tiên xuất hiện. Để dự báo về khả năng thu hồi khí.Khi nhiệt độ trong phế thải tăng củng làm giảm lượng khí. .Ngoài ra.3) Trong đó: L : khối lượng của khí metan còn lại được sinh ra (m3/tấn phế thải khô) t : thời gian sau khi bãi chôn lấp trở thành yếm khí (năm) K: hằng số sinh khí (năm) dL = − Kdt L (7. trong thành phần của khí còn chứa một số khí khác nữa như hydrocacbon (CH2).Lượng nước ở bên ngoài túi khí. thậm chí có bãi chỉ còn là hiện tượng nhỏ giọt (thu hồi khí trong tình trạng ngắt quảng).Lt .4) Tích phân: Lt = Lo.Nếu có độ kiềm tăng làm độ pH giảm do sản sinh axit trong phế thải củng làm giảm lượng khí. đạt được khoảng từ 4 – 14 m3CH4/1 tấn phế thải khô. Tốc độ sản sinh khí thải ở bãi chôn lấp phụ thuộc vào một số yếu tố sau: . .Sự thẩm thấu của lượng cacbon trong thực vật đã cùng axit và rượu hình thành trong quá trình chôn lấp phế thải làm giảm khả năng tạo khí.Do phế thải đóng bánh thành khối quá dầy hoặc quá nhiều mãnh vụn và bột củng làm giảm quá trình sinh khí. khi đó có thể tạm dừng việc thu hồi khí một thời gian. nếu nhiều quá sẽ làm vi khuẩn có thể không đạt được chức năng cao trong quá trình tạo khí.e -kt G = Lo . . Thông thường khí ga ở bãi chôn lấp có sản lượng lớn nhất là 5 năm đầu tiên.52 - . .

e –kt ln ⎢ ln( ⎡ Lt ⎤ –kt ⎥ = ln.G = Lo – Lo.3 ) = 0.kt ⎣ Lo ⎦ 13 ) = .20 130 2.12 Các năm sau khi bãi trở nên yếm khí 2 4 6 8 10 20 30 Khí ga sinh ra được tích lũy (m3/tấn phế thải khô) 27 48 65 78 89 117 126 Khí ga tạo ra trong giai đoạn 2 năm (m3/tấn phế thải khô) 27 21 17 13 11 Khí ga sản sinh trung bình hàng năm trong từng thời kỳ ở cột 1 13. Lt = Lo.5 10.5 8.lne = .12) bảng 7.5 5.kt.6) sử dụng tỷ lệ không đổi này chúng ta có thể lập theo bảng sau(bảng 7.e –kt = Lo(1 – e –kt) Trong đó: G : khối lượng khí metan sản sinh ra đến thời gian t Lo : khối lượng cuối cùng của khí metan sản sinh ra Lt : khối lượng khí metan sản sinh ra sau thời gian t L20 : khối lượng khí metan sản sinh ra sau thời gian 20 năm K.9 . L20 = 10%(130) = 13 m3/tấn phế thải khô.8 0.5) Nếu chúng ta giả sử rằng Lo = 130 m3khí/tấn phế thải khô và 90% lượng khí metan sẽ sản sinh ra trong 20 năm sau khi bãi chôn lấp trở nên yếm khí.5 6. k : hằng số tốc độ sinh khí (7.e = .53 - .k.5 2.11 năm -1 20 k=-( (7.

0 như môi trường xung quanh.7.Đảm bảo lớp đất phủ phải đủ dầy và lèn.2. . Đây là một hệ thống dựa trên các quá trình tự nhiên để đưa khí vào khí quyển hoặc ngăn cản không cho nó chuyển động vào các khu vực không mong muốn. vì nó dễ gây cháy. Thoát tán và thu gom khí Khí metan ở các bãi thải có thể coi là một nguồn gây nguy hiểm.7 – 1 m để ngăn chặn khí thấm qua. Tường đất sét được đắp từ đáy khoang chứa kéo dài lên tận lớp đất phủ và luôn được giữ ẩm sao cho nó không bị khô và nứt tạo ra các khe thoát khí. các ống dẫn thoát nước. được phủ đáy bằng một lớp sỏi. Để thu gom khí tạo thành ở bãi chôn lấp cần phải có sự kiểm soát chặt chẽ bãi chôn lấp phế thải hợp vệ sinh từ khâu thiết kế đến khâu điều hành chôn lấp phế thải và phải đạt các yêu cấu sau: . không an toàn nếu không được phát tán hoặc thu gom để chuyển thành nguồn năng lượng khác. Phía trong tường có đào rãnh thoát khí. trong trường hợp cần thiết cần phải tưới hoặc phun nước cho phế thải. đá đường .Giữ pH ≈ 7. Hệ thống thoát khí bị động: Đối với những bãi chôn lấp quy mô nhỏ và vừa. Hai loại hệ thống cơ bản được thiết kế để kiểm soát và thu hồi năng lượng từ khí metan là : hệ thống thoát khí bị động và hệ thống thoát khí chủ động. Vì vậy vấn đề phòng ngừa an toàn cho tất cả những người điều hành hoặc làm việc trên bãi chôn lấp. Hệ thống này được xây dựng bằng các tường đất sét không thấm nước dầy từ 0.11.Nếu có hiện tượng thiếu hụt dinh dưỡng có thể bù đắp bằng cách phun lên phế thải bùn đặc biệt vét từ cống ngầm. . người ta thường thiết kế một hệ thống thoát khí bị động. nổ và ngạt thở đối với người hay động thực vật ở bãi chôn lấp và các khu vực xung quanh. nhất là các khu vực thoát tán khí ga. .Thí dụ trên đây chỉ là phương pháp ước tính xác định tỷ lệ sản sinh khí tạo thành.54 - . 7. các khu vực có thể tích tụ khí ga. pH < 6.2 sẽ làm ngừng quá trình tạo khí metan trong phế thải. Sơ đồ của hai hệ thống này được thể hiện ở hình 7.Đảm bảo độ ẩm của phế thải rắn từ 40% trở lên. nén chặt chống thẩm thấu khí qua tầng đất phủ. nơi xử lý khí và nơi có hệ thống tập trung khí metan là rất cần thiết. Việc không ngừng tạo ra khí ga ở trong bãi chôn lấp có nghĩa là sự nguy hiểm vẫn còn đang tiếp tục và cần phải có sự quan tâm đặc biệt đến hệ thống thông khí khi thiết kế.

thoát khí. Nếu khu vực thoát khí ở xa nơi chôn lấp thì phải thiết kế hệ thống máy hút khí để đưa khí theo hệ thống ống ra nơi thoát khí. có nhiều phế thải.55 - . các khu sản xuất công nghiệp.giờ) Thực tế cho thấy nếu chiều sâu lớp rác h = 15m.h. Hệ thống thông khí chủ động: Hệ thống thu hồi khí chủ động có thể được thiết kế ở những bãi chôn lấp phế thải lớn. . . Từ các giếng khoan. Thông thường khu vực này được xây dựng ngay cạnh bãi chôn lấp và được quy định là vùng cấm. khí được dẫn tới rãnh thoát khí để đưa vào không khí bằng các rãnh nhỏ hơn hoặc ống nhựa.kính 20 – 40 cm. Những yêu cầu cần đạt được trong hệ thống thoát khí bị động bao gồm: . Giới hạn bán kính của giếng thu hồi khí được xác định theo công thức: R= Q π . bán kính thu hồi khí R = 25÷30m thì sản lượng khí thu được sẽ là Q = 20m3/h. không được để rác.D.7) chỉ áp dụng với những bãi chôn lấp đã . đất lấp vào lòng mương rãnh. Chiều cao ống thoát khí phải cao hơn đỉnh lớp đất tối thiểu là 0.q (7. Khoảng cách đặt giếng thu gom khí: Khoảng cách đặt giếng thu hồi khí thông thường từ 70 – 100m. Chúng thường được xây dựng ở những nơi được xem là có khả năng nguy hiểm nếu như khí thoát vào những tòa nhà ở gần đó hoặc ở những nơi mà sự thu khí ga được xem là có hiệu quả. . đá và hệ thống ống dẫn khí (nếu có) phải luôn được giữ khô để việc thoát khí thực hiện dễ dàng.Tường đất sét phải luôn được giữ ẩm.20 m để khí thoát thẳng ngay trên bãi chôn lấp. Công thức (7.Hệ thống mương rãnh thoát phải sạch sẽ và khô ráo. chống được nứt nẻ.Lớp sỏi. ống cao su… Khu vực thoát khí bị động phải cách biệt hẳn các khu dân cư.Hệ thống thoát khí ga đơn giản là khoan giếng vào lớp phế thải sâu tối thiểu là 1m rồi đặt ống thu.7) Trong đó: R : bán kính thu hồi (m) Q : sản lượng khí (m3/h) D : tỷ trọng của rác thải (tấn/m3) h : chiều sâu của rác thải (m) q : tốc độ tạo khí (m3/tấn.

Ngoài hệ thống thu hồi khí ga thẳng đứng như đã trình bày ở trên.56 - . Ngược lại nếu độ ẩm quá cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến độ ẩm trong khí thu hồi. Mặt khác việc phun nước vào rác thải sẽ giữ cho độ ẩm của rác đảm bảo không cho khí metan thoát vào không khí. Khi rác kết thành khối vững chắc thì phải đóng các ống thép củng được khoan lỗ xung quanh vào giếng khoan.đầy. người ta còn thiết kế hệ thống phun nước vào bãi chôn lấp nhằm đảm bảo độ thủy phân của rác thải. để khắc phục tình trạng này người ta thiết kế hệ thống rút nước thải từ bãi chôn lấp (nước tro). tối đa có thể khoan sâu tới đáy lớp lót. sẽ có hiện tượng không khí lọt vào hệ . Để khí đi vào ống nhựa được dễ dàng. Điểm cần chú ý trong việc thiết kế hệ thống thu hồi khí là chỉ nên thiết kế hệ thống rút được khoảng từ 20 – 70% thể tích khí tạo ra từ bãi thải vì thực tế cho thấy nếu rút quá 70% thể tích khí tạo ra. Nếu rác thải đã đóng kết thành khối vững chắc. các phương pháp đặt các ống thu khí củng khác nhau. Hệ thống rút khí nối với các bơm chân không hay quạt gió bằng một hệ thống ống dẫn đến nơi xử lý thường có hiện tượng ngưng tụ nước ở thành ống vì vậy cần có những vị trí thải nước thích hợp trên hệ thống thu hồi khí. Ống thép phải có đường kính lớn hơn ống nhựa. Hệ thống thu hồi nước tro được đặt ở phía ngoài và thấp hơn bãi chôn lấp. Kích thước ống và vị trí đặt ống tương tự như phương pháp phun thẳng. Xung qunh ống là các tầng đá lọc đảm bảo độ rỗng để thu được tối đa lượng khí ga tạo thành và ngoài ra còn tạo đủ không khí cần thiết để chống lại việc dò khí. người ta có thể đặt trực tiếp ống thu khí ga vào giếng khoan bằng ống nhựa PVC đường kính tối thiểu là 50mm. Để đảm bảo việc thu hồi khí ga được tốt hơn. Nếu đủ điều kiện tạo khí củng như đảm bảo khoảng cách các giếng thu khí từ 70 – 100m thì một giếng thu khí có thể đạt được sản lượng từ 40 – 200m3/h. Nhiều hệ thống rút nước tro qua xử lý lại được bơm phun trở lại cho phế thải. người ta khoan lỗ xung quanh ống nhựa khoảng cách là 15cm. ở những bãi chôn lấp đắp cao theo kiểu cầu vồng có thể áp dụng phương pháp đặt hệ thống thu hồi khí kiểu nằm ngang. Đối với từng loại bãi chôn lấp khác nhau. Phương pháp đặt các ống thu khí phun thẳng là khoan các giếng vào rác thải đã được chôn lấp sâu tối thiểu là 1m. Hình 7. giữ không cho oxy lọt vào các túi khí tạo ra các vi sinh vật ưa khí và kéo theo vi sinh vật kỵ khí ra ngoài và làm chậm quá trình sản sinh khí metan.12 thể hiện chi tiết giếng thu khí ga. Hệ thống thu khí nằm ngang ít được áp dụng.

Chỉ dẫn an toàn đối với khí metan: trong trường hợp chưa có khí thoát tán hoặc thu hồi khí thì ở các vị trí có khả năng tập trung khí có thể gây ra cháy. nếu bãi chôn lấp được phủ một lớp đất dầy 1m trở lên thì tình trạng trên sẽ được khắc phục. cần có cách nhìn tổng quát về khả năng rút được khí ga ở bãi chôn lấp bằng phương pháp dùng sức nén của áp suất không khí cao để xác định vị trí tập trung của khí ga và kiểm tra mức độ phun thẳng lên được của khí ga. Xây dựng một hệ thống thu hồi khí ga cho bãi chôn lấp cần phải sử dụng số tiền vốn khá lớn. . vì vậy kiểm tra xác định chắc chắn khả năng thu hồi khí ga ở bãi chôn lấp là rất cần thiết và phải được chứng minh cụ thể. Không được để một người làm việc trên bãi chôn lấp như đắp đất lên nơi chưa phủ kín phế thải.thống thu khí. Lưu ý rằng: phần này mới chỉ giới thiệu về việc thu hồi khí ga ở bãi chôn lấp. Người làm việc trên bãi chôn lấp phải được đào tạo riêng về sự nguy hiểm của khí và cách cấp cứu. Trong quy trình quản lý bãi chôn lấp rác thải đô thị cần phải được đưa vào các quy định an toàn sau: 1. methyl mecaptans (CH3SH) trong khí gây mùi thối khác biệt. người còn lại có thể đưa người kia về nơi an toàn. Để thiết kế hệ thống thu hồi khí ga có hiệu quả. đào mương hoặc làm sạch mương rãnh… mà phải luôn có ít nhất là hai người và phải được trang bị bảo hộ lao động đầy đủ. Nếu xây dựng bãi chôn lấp mới gần với bãi chôn lấp đã đầy và có hệ thống thu hồi khí ga thì việc thiết kế hệ thống thu hồi khí ga cho bãi chôn lấp mới phải hợp nhất cả hai hệ thống làm một. Có thể sử dụng một lớp lọc bằng đá dầy 1 – 2m để làm giảm mùi. Khí ga có thể loại bỏ khí oxy trong đất và trong phế thải làm rễ cây không phát triển được (bị nghẹt thở). nổ .do vậy cần phủ lên rác một lớp đất dầy để giảm khí tập trung. Để sử dụng được khí ga như một nguồn năng lượng có giá trị còn phải qua các công đoạn xử lý khác theo công nghệ riêng. Các thành phần hydrosunphit (H2S). Sức ép của áp suất nước bên trên khí phun ra khoảng 60cm nước là hoàn toàn phù hợp cho việc tạo khí ở phía dưới.57 - . Mùi này sẽ được loại bỏ nếu khí được thoát tán hoặc đốt cháy. Trong trường hợp một trong hai người bị ngạt khí ga.

4.Cơ quan vận hành (chủ vận hành) bãi chôn lấp không muốn tiếp tục vận hành bãi rác. đồng thời tìm mọi biện pháp giảm các hiện tượng trên đến mức tối thiểu. rào chắn hoặc ít nhất là có dây thừng bao quanh các thiết bị phun khí ga hoặc các giếng khoan đặt thiết bị thu khí. hệ thống thu gom và xử . Việc đóng cửa bãi chôn lấp phải được tuân thủ theo các nguyên tắc sau: 1) Trong mọi trường hơp.58 - . 2) Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày đóng bãi chôn lấp. Trong hoàn cảnh cho phép có thể xây tường. phải kiểm tra nghiêm ngặt để xác định rõ mức độ giảm ô nhiễm ở bãi thải và các khu vực lân cận.Bãi rác đóng cửa với những lý do khác. hiệu quả và khả năng vận hành của tất cả các công trình trong bãi chôn lấp bao gồm: hệ thống chống thấm của bãi chôn lấp. củng như ngăn chặn khả năng gây cháy. Báo cáo này phải do một tổ chức chuyên môn độc lập thực hiện. chủ vận hành bãi chôn lấp phải đệ trình tới cơ quan có thẩm quyền quản lý môi trường một báo cáo hiện trạng đóng bãi. Cấm hút thuốc hoặc đốt lửa trên bãi chôn lấp khí đã có các giếng khoan hoặc khi đã lắp đặt các thiết bị thu khí hay thu hồi khí trên bãi thải. 5. 7. ĐÓNG BÃI VÀ SỬ DỤNG LẠI MẶT BẰNG BÃI CHÔN LẤP RÁC THẢI ĐÔ THỊ 7. cần lắp đặt thiết bị đo để báo trước sự tập trung khí metan mà tìm cách khắc phục hoặc báo cho mọi người đề phòng tránh xa những nơi này. Khi đã có hệ thống thu hồi khí trên bãi chôn lấp.8. Những nơi khí metan có khả năng tập trung tới 5 – 15%. . 3.2. rào chắn để đảm bảo an toàn.Hiện trạng hoạt động.Lượng rác thải được chôn trong bãi chôn lấp đã đạt được dung tích lớn nhất như thiết kế kỹ thuật. bao gồm các nội dung sau: . nổ ở nơi tập trung khí metan.8.1. Điều kiện đóng bãi Việc đóng cửa bãi chôn lấp được thực hiện khi: . cơ quan vận hành bãi chôn lấp phải gửi công văn tới cơ quan có thẩm quyền quản lý môi trường để thông báo chính xác thời gian đóng bãi chôn lấp. . Phải có biển báo.

. 7. .lý nước rác. một sân bóng. Biển báo được đặt ở vị trí dễ nhìn thấy. .10-4cm/s và có ít nhất 20% khối lượng có kích thước ≤ 0. Phục hồi và sử dụng lại mặt bằng bãi chôn lấp Việc sử dụng lại mặt bằng bãi chôn lấp phế thải cần được quan tâm ngay từ giai đoạn thiết kế ban đầu.Làm hài hòa với cảnh quan xung quanh. về chất lượng nước ngầm củng như về phát thải khí sinh học. Hàng rào chắn nhằm ngăn chặn sự xâm nhập tự do.Báo cáo phải làm rõ các trường hợp không tuân thủ các quy định của quy chế này hoặc của giấy phép vận hành và phải chỉ rõ các biện pháp khắc phục. Bãi thải sau khi kết thúc chôn lấp (khoảng 15 năm) sẽ được xây dựng thành một công viên.Khôi phục lại sự màu mỡ và lành mạnh của cảnh quan. Khi quyết định sự lựa chọn sử dụng lại bãi thải cần chú ý những mục tiêu chính liên quan đến việc cải tạo bãi chôn lấp như sau: . .8.Việc tuân thủ những quy định hiện hành của quy chế này hoặc giấy phép liên quan đến lớp phủ cuối cùng củng như phục hồi cảnh quan khu vực bãi chôn lấp.Đảm bảo môi trường cho hệ động thực vật và cân bằng sinh thái.Cho phép sử dụng lại đất một cách linh hoạt trong tương lai và đảm bảo đúng theo quy hoạch. . Cần có kế hoạch đầy đủ cho việc sử dụng lại mặt bằng bãi chôn lấp.Có khả năng ngăn mùi. . nước ngầm.59 - .2. .08mm.Đem lại lợi nhuận sau khi tái sử dụng.Việc tuân thủ các tiêu chuẩn thải về thải nước ra môi trường. . có lợi cho cộng đồng để có thể thuyết phục được những ý kiến phản đối của dân chúng khi tiến hành xây dựng bãi. .không gây cháy. ghi rõ ràng bãi chôn lấp này đã đóng cửa. bãi đỗ xe hoặc nơi vui chơi giải trí. hệ thống thu gom khí sinh học củng như toàn bộ hệ thống giám sát chất lượng nước ngầm. . không thực hiện các hoạt động chôn lấp rác. Những vật liệu thỏa mãn các điều kiện sau đây mới được sử dụng làm vật liệu phủ trung gian giữa các lớp rác thải: 1) Có hệ số thấm ≤ 1.Tại các bãi đã đóng cửa phải dựng rào chắn và gắn biển thông báo. hệ thống quản lý nước mặt. 2) Vật liệu phủ phải có các đặc tính sau: .

Có khả năng ngăn chặn các rác thải nhẹ bay đi. nếu các kết quả phân tích nước rác của các mẫu được lấy tại vị trí cửa vào của trạm xử lý đều thấp hơn hoặc bằng các giới hạn theo quy định TCVN 5945-1995 thì cho phép ngừng xử lý nước rác.Có khả năng ngăn các loại côn trùn. đo lường và phân tích này cũng được áp dụng cho việc giám sát nước ngầm. Lớp vật liệu kết thúc lớp phủ cuối cùng của ô chôn lấp phải là loại đất trồng trọt. khí sinh học. 2) Tầng chống thấm có chiều dày tối thiểu là 45cm với hệ số thấm là 1.. Sơ đồ cấu tạo lớp bao phủ bề mặt ô chôn lấp rác sau khi đóng bãi được thể hiện ở hình 7.10-5 hoặc một lớp màng tổng hợp chống thấm có chiều dày 1mm. 7. Lớp phủ cuối cùng phải có độ dốc tối thiểu là 2% nhưng không vượt quá 30% để hướng dòng chảy ra phía ngoài và tránh xói mòn. Bùn cũng có thể xử lý ở những bãi riêng nhưng phổ biến vẫn là xử lý ở những bãi chôn lấp rác sinh hoạt vì lý do kinh tế. Những chổ bị thủng lỗ. Các cây.9. rạn nứt hoặc lún sụt khi phát hiện thấy ở lớp trên cùng này phải được xử lý và gia cố. lớp phủ cuối cùng được tiến hành thứ tự từ thấp đến cao như sau: 1) Tầng thu gom khí bằng đất với chiều dày tối thiểu 30cm với hệ số thấm là 1. động vật đào bới. Tuy nhiên xử lý bùn với rác sinh hoạt sẽ làm tăng nguy cơ gây ô nhiễm của nước rác đến .10-3cm/s để thu gom khí. XỬ LÝ BÙN TẠI BÃI CHÔN LẤP Việc xử lý bùn tại bãi chôn lấp phế thải rắn là một dạng kết hợp bãi chôn lấp khô và ướt và điều này gây khó khăn hơn cho những người quản lý phế thải.60 - . Khi rác thải ở ô chôn lấp đã đạt được độ cao cho phép. Các tầng này có thể làm bằng vật liệu khác với các quy định đã được mô tả từ (1) đến (4) nói trên. Quy định ngừng lấy mẫu.13 Trong thời gian ít nhất là 5 năm liên tục kể từ ngày đóng bãi. nhưng phải đảm bảo hiệu quả tương đương. 4) Tầng đất trồng trọt có chiều dày tối thiểu 15cm. nếu kết quả phân tích và đo lường liên tục trong 5 năm luôn thấp hơn hoặc bằng các giới hạn cho phép đã quy định TCVN-1995. cỏ được trồng trên lớp này không được phép làm hư hại lớp chông thấm. 3) Tầng đất có chiều dày tối thiểu là 45cm để bảo vệ lớp chống thấm nói trên. .

Hệ thống thu gom và xử lý nước rác phải được chú trọng thích đáng.Nếu bãi chôn lấp nằm ở khu vực có thể gây ô nhiễm cho mạch nước ngầm thì không nên chôn lấp bùn có hàm lượng hữu cơ và kim loại cao ở bãi thải này. Thành phần của bùn và tỷ lệ 4:1 của phế thải rắn so với bùn là thích hợp nhất để áp dụng biện pháp kết hợp xử lý phế thải rắn và bùn trong cùng một bãi thải. nghĩa là bùn có độ ẩm thấp hơn 85%. sẽ tạo ra tình trạng trơn lầy bề mặt làm việc.61 - . nói chung nên xử lý bùn đã ổn định. Do vậy việc xử lý bùn ở những bãi chôn lấp phế thải có một số yêu cầu sau: . Việc xử lý bùn tại bãi chôn lấp thường gặp khó khăn do chất lỏng dính. Loại và lượng phế thải: bùn cặn sau các quá trình xử lý nước thải thường có độ ẩm lớn vì vậy cần phải được khử nước để khâu vận chuyển xử lý tiếp theo được thuận lợi. Các phương pháp khử nước (làm khô) bùn cặn trong điều kiện nhân tạo có thể bao gồm: lọc chân không. . trơn và có mùi với hàm lượng vi khuẩn cao. Trong một vài trường hợp củng có thể xử lý bằng bằng vôi bột. phương pháp mương rãnh là phổ biến nhất. Phương pháp khử nước(làm khô) bùn cặn trong điều kiện tự nhiên. Khi đánh giá độ an toàn của bãi chôn lấp đối với môi trường phải xét đến hàm lượng kim loại trong bùn. . Do vậy để xử lý bùn. sân phơi có mái che hoặc hố phân hủy bùn (ổn định bùn hiếu khí).mạch nước ngầm và nước mặt. sau đó đổ bùn vào cuối cùng là một lớp rác khô lên trên với tỷ lệ 4 tấn rác và 1 tấn bùn. Biện pháp thông thường là đổ rác xuống mương. Nếu gọi: W1 .8) Công thức này chỉ áp dụng đối với bùn cặn có độ ẩm từ 80% trở lên. Sân phơi bùn có thể là loại sân hở. . gây ra mùi xú uế. máy quay li tâm hoặc máy ép lọc. P2 : dung tích cặn và độ ẩm cặn ở trạng thái sau khi cặn đã khử nước Ta sẽ có: W2 = W1 (100 − P1 ) (100 − P2 ) (7. băng lọc. Trừ những trường hợp đặc biệt. P1: dung tích cặn và độ ẩm cặn ở trạng thái ban đầu W2 . Nếu áp dụng phương pháp chôn lấp bề mặt thì khi đổ bùn vào khu vực chôn lấp.Tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường cho bãi chôn lấp.

.62 - .Các biện pháp vận hành đối với việc xử lý bùn tại bãi chôn lấp phế thải rắn theo thứ tự như trên sẽ đảm bảo an toàn về kinh tế.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful