P. 1
Ban Sac Van Hoa Vn-gs Tran Quoc Vuong

Ban Sac Van Hoa Vn-gs Tran Quoc Vuong

|Views: 268|Likes:
Được xuất bản bởisinhvienmiennui

More info:

Published by: sinhvienmiennui on May 24, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

12/15/2014

pdf

text

original

1 TÌM HIỂU QUAN ĐIỂM VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA CỦA TRẦN QUỐC VƯỢNG QUA TÁC PHẨM

“VĂN HÓA VIỆT NAM – TÌM TÒI VÀ SUY NGẪM”

Nguyễn Thị Tâm Anh *
Theo như lời tự bạch, ông sinh ra vào năm Giáp Tuất (1934) ở tỉnh Hải Dương. Xuất thân từ một gia đình công chức, ông đã kế thừa nghề dạy học của bố và lấy đó làm sự nghiệp suốt đời. Triết lý cuộc đời ông là: vừa làm vừa học, vừa học vừa làm, làm cho chính mình tồn tại và làm cho người khác, vì người khác.

GS Trần Quốc Vượng (1934-2005)

Ông đã đảm nhiệm nhiều chức vụ: Chủ nhiệm Bộ môn Khảo cổ học; Giám đốc Trung tâm Liên Văn hóa – Lịch sử của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và là Trưởng môn Văn hóa học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Ông bảo rằng trong công việc ông thường theo lối tiếp cận liên ngành kết hợp Sử – Khảo cổ – Nhân học – Dân gian học – Môi trường sinh thái học… hay làm ngày làm đêm và hình như lúc nào cũng thích nhâm nhi chút rượu, chút bia… Ông nói “Cho dù tôi phải Struggle for life (Đấu tranh để sống). Song, cái

lãng tử và cô đơn. Nỗi cô đơn của một học giả mang dáng dấp nghệ sỹ.

tôi thích và gắng phấn đấu suốt đời mình vẫn là: Green Peace (Hòa bình – Xanh – Sạch – Đẹp)”. Còn người khác nhìn vào ông thì bảo rằng ông có phần nào hơi

Ngày 8 tháng 8 năm 2005 (2 giờ 55 phút), GS. Trần Quốc Vượng đã ra đi ở cái tuổi tạm được gọi là xưa nay hiếm (71 tuổi) để lại bao nỗi tiếc thương từ lớp học trò, những người đồng nghiệp đến những người chỉ biết ông qua những trang sách ông viết… Cuốn “Văn hóa Việt Nam – Tìm tòi và suy ngẫm” là cuốn sách đầu tiên của ông mà tôi được đọc. Bị cuốn hút ngay bởi lối viết rất cá tính, rất sắc sảo, tôi như đang được “nhâm nhi” những tri thức qua từng trang sách. Ở đây, dưới góc nhìn cá nhân, tôi xin phép trình bày tóm lược quan điểm của ông về bản sắc văn hóa Việt Nam. Cuốn “Văn hóa Việt Nam – Tìm tòi và suy ngẫm” của ông được Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc xuất bản năm 2000. Cần nói thêm rằng ông viết khá nhiều sách, bài báo và tạp chí… (khoảng hơn 36 đầu sách và 300 bài báo…). Thế mới
*

Giáo viên cơ hữu Khoa ĐNÁ học Đại Học Mở Bán công Tp.HCM

1

đã có một thời người ta phủ nhận sự hiện hữu của một nền văn minh và văn hóa Việt Nam. ông nói rằng. lại chiếm trọn phần Đông của bán đảo này nên tính chất bán đảo lại càng nổi bật. khảo cổ học. sinh ra trăm trứng nở trăm con. Những vấn đề chung Diễn trình văn hóa Văn hóa dân gian Nghệ thuật Ứng xử Danh nhân Đề cập đến bản sắc văn hóa Việt Nam. Nhưng. phân bố như sau: I. sau lại chia đôi. khi kế thừa văn hóa truyền thống chúng ta luôn phải kế thừa một cách có chọn lọc và phê phán. phù hợp với lối ứng xử và nhận thức mới. III. IV. Nhưng rồi người ta buộc phải nhìn nhận lại cái quan điểm phiến diện trên qua 2 . văn học và nghệ thuật… Trong cuốn sách này. Cái bản sắc ấy được phản ánh rõ nét trong huyền thoại khởi nguyên luận của người Việt: Mẹ tổ Âu Cơ từ núi xuống lấy Bố tổ Lạc Long Quân từ biển lên. trước hết phải hiểu cho thấu đáo khái niệm truyền thống văn hóa. vừa có tính lịch sử. một nửa ở miền đồi núi. sâu rộng trong nhiều lĩnh vực như sử học. V. Trần Quốc Vượng nhận định rằng trong tổng thể truyền thống của văn hóa loài người cũng như tổng thể truyền thống văn hóa Việt Nam. về mặt địa – văn hóa bản sắc văn hóa Việt Nam là bản sắc bán đảo. phát huy tinh hoa vốn cũ của dân tộc lên một tầm cao mới. Đông Nam Á hải đảo và Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương. vừa mang tính giai cấp… Thế cho nên. Cũng vậy. tiến bộ và truyền thống xấu.2 hay năng lực làm việc của ông mạnh mẽ đến dường nào. điều đáng quý chính là ở chỗ những tác phẩm này đều biểu hiện một tri thức sắc sảo. cũng là Đông Nam Á song có Đông Nam Á lục địa. II. một nửa ở miền sông nước… Trong bài “Nhận nhìn bản sắc của văn hóa Việt Nam”. VI. Tiếp nhận và hội nhập cả các ảnh hưởng lục địa lẫn các ảnh hưởng hải đảo. truyền thống cũ vừa có tính cộng đồng. “có khi biến có khi thường”. Với thái độ dứt khoát. Một truyền thống văn hóa là tốt hay là xấu cũng còn tùy vào bối cảnh lịch sử. Truyền thống vừa có tính ổn định. ông chia làm 6 mục. Do đó. Ông nói. lạc hậu. Trần Quốc Vượng là người theo chủ thuyết Địa – Văn hóa. đều có cả truyền thống tốt. Người ta xếp một cách đơn giản Việt Nam vào trong phạm vi ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc và gọi Việt Nam là “một nước Trung Hoa thu nhỏ lại”.

sau đó trồng cao lương. có chảo. Trong những điều kiện đó. Người Hoa trồng túc – tiểu mễ. người ta thấy văn hóa Việt Nam. giữa con người và thiên nhiên Việt Nam trong khung cảnh Đông Nam Á từ mấy nghìn năm nay. Nông nghiệp Trung Quốc từ khởi thủy. một thế ứng xử. văn hóa Hoàng Hà là khác nhau từ căn bản. văn hóa. kinh tế… để từ đó hình thành một lối sống. Đất trồng trọt của người Trung Quốc ban đầu ở cao nguyên và bình nguyên Hoàng hà là hoàng thổ do gió Tây mang lại. theo nghĩa rộng. những giá trị. với một hệ thống những chuẩn mực. Nền văn minh lúa nước vốn là một nền văn minh Việt cổ và đã tạo nên một thế quân bình bền vững của nền văn hóa xóm làng. sử dụng muôi hay như người Hoa gọi là “văn hóa đỉnh lịch”. những biểu tượng. giống này từ Trung Á truyền vào và cho đến trước thời Tần vẫn không phải là cây lương thực chủ yếu của Trung Quốc. Như vậy. nóng và ẩm. do sông Cái. văn minh sông Hồng và văn hóa Trung Quốc. khô hạn. là một nền nông nghiệp khô. Ví dụ: Lưu vực Hoàng Hà là khu vực khí hậu đại lục lạnh lẽo. văn hóa Việt Nam khác và không phải là văn hóa Trung Quốc. hay kê. đã trồng lúa nước. bao hàm cả kỹ thuật. là nền nông nghiệp lúa nước. Theo ông. gần gũi tiếng Thái – Tày và tiếng Anhdôneziêng trong gia đình ngôn ngữ phương Nam. nhiệt đầy đủ. những quan niệm… tạo nên phong cách diễn tả trí thức và nghệ thuật của con người. phải xuất phát từ những điều kiện tự nhiên rồi sau đó là những điều kiện lịch sử để nhận nhìn về cội nguồn và bản sắc của nền văn hóa Việt Nam. nước dư thừa. lượng mưa ít. rồi trồng lúa mạch kiểu trồng khô. Người Việt trồng cây có củ (khoai các loại) và đặc biệt 6000-7000 năm trước đây. 3 . Người ta thấy tiếng Việt có nền tảng Môn – Khmer. Người Hoa ăn bánh màn thầu. từ cội nguồn. một thái độ tổng quát của con người đối với vũ trụ. Còn đất trồng trọt của người Việt ở lưu vực các dòng sông là phù sa nâu. thiên nhiên và xã hội. có vạc. lượng bốc hơi cao. chứ không phải là ngôn ngữ Hán. là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người. nông nghiệp Việt Nam từ ban đầu. Trong khi đó. ăn cháo kê. sông con bồi đắp mà thành. Và nhờ các di chỉ khảo cổ học.3 các công trình nghiên cứu. Còn lưu vực sông Hồng là khu vực khí hậu gió mùa. là cái vai trò của con người trong vũ trụ đó.

Trong bài này. Tổ quốc của họ với nước. chén mắm và đặc biệt đôi đũa là một sáng tạo của nền văn hóa lúa nước Việt Nam. hồn nhiên. trong tâm thức người Việt. làm lúa thì mối bận tâm hàng đầu cũng là nước: thủy lợi là biện pháp kỹ thuật hàng đầu và thủy tai cũng là cái hại hàng đầu. Đặc điểm nổi bật của tự nhiên Việt Nam là tính chất bán đảo và tính biển đã ngấm đẫm vào nền văn hóa sơ sử Đông Sơn và trở thành một nhân tố hữu cơ của cơ cấu văn hóa Việt cổ. trên một vùng cao nguyên nên người Hoa ưa dùng xe cộ và cưỡi ngựa. làm bánh chưng. từ rất sớm. Và cũng vì thế cho nên. Bữa ăn hàng ngày và món ăn đặc sắc. ông cho biết cố giáo sư Cao Xuân Huy đã đưa ra hình ảnh – biểu tượng nước và đưa ra một triết lý Việt Nam: triết lý nước hay là Nhu đạo. Quân đội lấy ưu thế là kỵ binh còn nhà nước lấy chiến xa làm sức mạnh. bánh dày… Bát cơm. họ đã tự đồng nhất mình với nước. Về phần mình. Và từ thời thượng cổ. ông có viết một bài riêng bàn về khả năng ứng biến của người Việt Nam mà theo ông đó chính là cái gọi là bản lĩnh – bản sắc của văn hóa Việt Nam. Một ví dụ nữa là do đi lại ở miền khô. nếu xem văn hóa là “cái môi trường được con người thích nghi và biến đổi” thì tính sông nước cần được xem là một đặc trưng của văn hóa Việt Nam. người Việt đã nổi tiếng “lặn giỏi. chén tương. Thế cho nên. ông cho rằng đây là một ý tưởng độc đáo và nó đúng – với cái nhìn sinh thái – nhân văn. chân chất của người Việt là món luộc cũng gắn với nước (dùng nước đun sôi mà làm chín). Người Việt đã đồng nhất không gian xã hội. hay trong thủ tục ly hôn ngày xưa là bẻ đũa…) Người Hoa thì ở nhà hầm còn người Việt cổ sáng tạo ra nhà sàn với mái cong độc đáo hình thuyền. các bản làng từ đầu thời đại kim khí về sau đều phần lớn phân bổ ở bờ nước: bờ sông. bơi tài. Người Việt thì ở miền sông nước gắn trồng trọt với chài lưới nên thuyền bè trở thành phương tiện giao thông quan trọng. ăn cơm. 4 . nguyên sơ. thạo thủy chiến. thô phác. cộng đồng lãnh thổ. Các di chỉ từ thời đại đá mới. bờ đầm hay bờ biển. Đôi đũa đã đi vào lĩnh vực vật chất lẫn tinh thần của người Việt (vợ chồng như đũa có đôi. không thể không bận lòng vì nước. người Việt không thể không học hỏi nơi nước nôi và với tấm lòng cởi mở. Làm ruộng. Tiếp theo đó. Con thuyền là hình ảnh quen thuộc của cảnh quan địa lý nhân văn với dòng sông và bến nước. Bởi vậy.4 Còn người Việt ăn xôi. giỏi dùng thuyền”. (VD: người Việt hay nói “Giống nhau như hai giọt nước”).

ông còn đề cập đến biểu tượng con rồng. Nước chảy đá mòn Nhu có thể thắng cương. gốc Tày – Thái. bị “vong thân” để trở thành chính cái bầu hay chính cái ống… Trần Quốc Vượng nói rằng cái xác nhà Việt Nam cũng trải qua bao lần biến đổi. tinh thần ngôn ngữ kiến trúc Việt Nam cổ truyền vẫn là cái hướng nhà (lấy vợ hiền hòa. đến những ngôi nhà cao tầng. Nước thu nhận tất cả vào lòng nhưng không vì thế mà trở thành vô nguyên tắc. Nó thích nghi với nhiều trạng thái: ở dưới nước. duyên dáng và trong sáng. nó cũng có thể bay cao trên trời. Ví dụ: Câu nói “Ở bầu thì tròn. gây mưa tưới nhuần đồng ruộng… 5 . Song. cái thế ứng xử về ăn và về ở. cái chính là nước vẫn giữ được bản chất của mình. Người Việt đã chống lại sự đồng hóa cưỡng bức. với ta và với mọi người. yếu có thể chống mạnh. trong từ vựng tiếng Việt. Yếu tố cốt tử là con người. những dinh thự và biệt thự kiểu Âu – Mỹ trong các đô thị Việt Nam hiện đại. nó có thể xuất hiện trên đất. “ăn hết nhiều chứ ở hết mấy” và cái chính là “đường ăn nếp ở”. những từ gốc Hoa và cả gốc Âu Tây nhưng tiếng Việt vẫn là tiếng Việt. chúng ta vẫn thấy những từ ngữ gốc Môn – Khmer. vùng vẫy trong mây. từ mái nhà Đông Sơn – nhà sàn mái võng cong hình thuyền được chạm khắc trên trống đồng đến nếp nhà tranh dựng trên nền đất bằng. nhưng cũng không vì thế mà đánh mất bản chất của mình. đâu có ý nghĩa lớn lao gì. Rồng cũng như nước. Ông cho rằng đó là biểu tượng của cội nguồn dân tộc. Nước tự biết “gạn đục khơi trong” như người Việt Nam vậy. tìm cách dung hòa và hội nhập mọi sở đắc văn hóa. Chẳng hạn. lại như người Việt Nam vậy. làm nhà hướng nam) và giá trị đạo đức hằng xuyên của người Việt vẫn là “rộng nhà không bằng rộng bụng”. ít có thể địch nhiều… chính đó là bản sắc Việt Nam.5 Nước không câu nệ nơi hình thức. Chúng ta nên hiểu tròn hay dài chỉ là hình thức. nó đâu có bị “tha hóa”. đặc trưng nổi bật là khả năng ứng biến. trên đầm lầy. như một điềm báo mà Lý Thái Tổ khi dời đô từ Hoa Lư về Đại La cho đó là điềm tốt lành. ở ống thì dài”. nó giữ bầu nước của thiên hạ. là tấm lòng trung trinh bất biến: Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn Tào – khê nước chảy vẫn còn trơ trơ! Trong bài này.

biểu tượng con ngựa. những sắc thái riêng có tính gốc nguồn. làng nghề. thực vật không chỉ là thức ăn quan trọng mà còn là nguyên liệu kỹ thuật quan trọng. khiến cho văn hóa của dân tộc này không trở thành “cái bóng” của văn hóa dân tộc khác và ngược lại. của lối sống Việt Nam. văn hóa Việt Nam. Và trong cuốn “Văn hóa Việt Nam – tìm tòi và suy ngẫm” này thì Trần Quốc Vượng cho rằng cái nói lên được bản sắc của văn hóa dân tộc Việt Nam chính là văn hóa dân gian Việt Nam. Những lễ hội gắn với nền văn hóa nông nghiệp sinh ra và phù hợp với khung cảnh xóm làng tiểu nông phong kiến ngày xưa nên không thoát được những 6 . truyền thuyết. văn hóa Tết. có thể định tính văn hóa dân gian Việt Nam là Văn hóa lúa nước với vai trò quan trọng của người phụ nữ. biết công. kết tinh và định hình một nền văn hóa có cơ tầng Đông Nam Á. Thế cho nên không phải ngẫu nhiên mà nền triết học dân gian Việt Nam lại có chủ đề phản thiên mệnh. phản Nho giáo. chiếc vó bè… Từ đó. lễ hội. con thuyền. cái nhìn sinh thái học nhân văn đã cho thấy một đặc điểm lớn của văn hóa dân gian Việt Nam. chuyện về mắm… Theo Trần Quốc Vượng. theo thời gian đã có những mối giao lưu. Nhất vợ nhì trời! Chúng ta nên hiểu rằng nền văn hóa Việt Nam rất đa dạng. Trong phần văn hóa dân gian thì ông nói rằng mất dân gian là mất hồn dân tộc. bản thể của một nền văn hóa. nón lá đến mái nhà tranh. văn hóa ẩm thực. từ rau cỏ. con trâu và nền văn hóa Việt Nam. giao thoa văn hóa nhưng cuối cùng vẫn hội tụ. áo tơi. Nam Đảo và Đông Á… Trong tâm thức mỗi con người Việt Nam. biết cương. đó là nền văn hóa thực vật. Theo cuốn “Hỏi và đáp về văn hóa Việt Nam” cũng do Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc xuất bản năm 2000 thì bản sắc văn hóa dân tộc là hệ thống những đặc tính bên trong. Nó chính là cái để phân biệt văn hóa dân tộc này và văn hóa dân tộc khác. khuôn mặt. là chứng minh thư của văn hóa bất kỳ dân tộc nào. triết lý trầu cau. Tại đây. là căn cước. biết “trông trời trông đất trông mây” rồi tùy thời mà làm ăn theo kiểu “nhất thì nhì thục” là khả năng ứng biến của người Việt Nam. lễ hội là một phần không thể thiếu và đó cũng chính là một trong những yếu tố văn hóa dân gian Việt Nam. Bởi lẽ trong văn hóa dân gian truyền thống.6 Tóm lại. gắn với những đặc tính của chủ thể trở thành nguồn cội. ông gọi cái bản lĩnh – bản sắc biết nhu. ông đã đề cập đến rất nhiều nét văn hóa dân gian Việt Nam như những khía cạnh vật chất của nền văn hóa dân gian. có nhiều thành tố Nam Á. biết thủ. nền tảng.

Nó tương hợp với triết lý của Bác Hồ: Ví không có cảnh đông tàn Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân… 7 . đám đông dân làng (gồm đủ mọi thành phần: nông dân. là thời gian nghỉ ngơi. cuồng nhiệt. vui chơi. thật tài tình khi ông nêu lên những hình ảnh ẩn dụ từ miếng trầu trong văn hóa dân gian Việt Nam. hội hè đình đám thuở xưa vẫn chứa đựng một ý nghĩa tích cực. sự sống vĩnh hằng… Trần Quốc Vượng bảo rằng miếng trầu Việt Nam mang nặng tình người và chở nặng tính người nhất. cường hào) bước vào một thời kỳ sinh hoạt “linh thiêng”.7 khuôn mẫu – những định chế của tôn giáo. dị đoan. vừa là một cá nhân. Đó là nhu cầu thông cảm. Miếng trầu là thứ không thể thiếu trong câu chuyện của người dân Việt. Dẫu vậy. Ngày Tết gắn với sinh hoạt của cư dân nông nghiệp. Ngày Tết còn đi với mùa xuân là mùa của sự sinh sôi. trắng của vôi. rồi ông kết luận rằng triết lý trầu cau chính là triết lý tình nghĩa. ngày Tết Việt Nam chịu ảnh hưởng từ Trung Hoa nhưng đã từ lâu cái Tết hằn sâu trong tâm thức dân gian Việt Nam. Tâm hồn từng con người có lắng lại. Và đó cũng chính là cái “hồn” của lễ hội. Có thể thấy trong cội nguồn. Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá bạc như vôi (Hồ Xuân Hương) Lạ lùng thay. Sau những tháng ngày dồn nén chồng chất của đời sống trần tục. mê tín. Đó là tình cảm cộng đồng. hòa quyện với nhau lại ra sắc thắm của sự sống. vẫn đáp ứng một nhu cầu thầm kín của người dân thôn xóm. từ năm cũ bước qua năm mới. Khá lý thú là bài viết “Triết lý trầu cau”. đổi mới… Đối với ông. Ứng xử hài hòa hai mặt đối lập mà hòa hợp đó là ứng xử cao nhất của xã hội loài người. Cho dù đó là những nhân tố ngoại sinh thì chúng đã được hội nhập hoàn toàn vào cấu trúc văn hóa Việt Nam. sắc xanh của vỏ cau. Trầu cau còn là cái duyên. Tiếp theo. phấn khích. nhu cầu cộng cảm. Một yếu tố cũng mang đậm nét văn hóa Việt Nam chính là Tết. cái tình của vợ chồng và cũng là cái tình nghĩa anh em. địa chủ. sôi nổi. triết lý chung quanh mang tính nguyên hợp và thể hiện tư duy huyền thoại về cái Tết là cái chết tạm thời và sau đó là sự phục sinh của vũ trụ. nhưng không khí chung đâu có thiếu những giờ phút bộc phát. Trần Quốc Vượng đề cập khá nhiều đến truyền thuyết cùng những nghiên cứu của ông trong vấn đề này. mà con người về bản chất lại vừa là một sinh vật xã hội.

người ta đã xây dựng một thể chế lịch về cơ bản xuất phát từ việc nhìn ngắm trăng. Và ông kết luận rằng đó là tâm lý tự ti dân tộc không đúng đắn. những con vật khác đều được Trần Quốc Vượng kể thành những mẩu chuyện thú vị và đầy ý nghĩa. Ông nói rằng thể chế lịch 12 con giáp là của miền Đông Nam Á cổ chứ không phải gốc của Trung Hoa hay Ấn Độ. nhìn ngắm sao: “Mồng một lưỡi trai. Những người chủ của nền văn hóa – văn minh này đã đề cao trên hàng đầu bảng giá trị văn hóa việc nắm vững yếu tố “thì” (thì: thời gian. tháng 10 lại chín”) từ trước công nguyên. con trâu còn là người bạn thân thiết và gần gũi của nhà nông: Trên đồng cạn. mười sáu trăng treo. thời vụ): Nhất thì. đề cao yếu tố “thì” làm hàng đầu việc làm ăn mà lại không có lịch riêng của mình! Ngày xưa. tháng 5 chín. mồng năm liềm giật. Không chỉ dừng lại ở đó. mồng sáu thật trăng… mười rằm trăng náu. mồng ba câu liêm. Triết lý Tết cổ truyền là cái nhìn tâm linh huyền thoại mang tính biểu trưng. con trâu đi bừa Trâu chính là một nét trội của khu vực văn hóa chung Đông Nam Á. con heo… Quê hương của trâu là miền đầm lầy Đông Nam Á. nhì thục Biết sự trời. mười bảy sẩy giường chiếu…” Ông cho rằng khó có thể quan niệm nổi người Việt cổ đã biết trồng lúa hai mùa mỗi năm (“Lúa Giao Chỉ. Ngoài con trâu ra. Đó là con trâu.8 Cái chung ở đây là quy luật tự nhiên của vũ trụ. Vốn xuất phát từ nền văn minh lúa nước nên cư dân trong vùng đều nắm vững thời tiết do đòi hỏi của nghề. Trần Quốc Vượng còn đề cập đến những con vật gần gũi với nền văn hóa Việt Nam. triết lý Bác Hồ. mười đời chẳng khó Và bởi thế. 8 . mồng bốn lưỡi liềm. người ta cũng cố tìm cội nguồn nơi Trung Quốc. với nhiều biểu tượng và pha màu Đạo giáo. Trần Quốc Vượng lại tiếp tục đưa ra một yếu tố văn hóa dân gian hết sức lý thú. dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy. là một ẩn dụ triết lý xã hội về đạo đức nhân sinh. chín 2 mùa. mồng hai lá lúa. con ngựa. Chúng ta nên tự hào rằng lịch chính là thành tựu văn hóa chung của miền văn hóa lúa nước cổ truyền. con chó. mỗi thành tựu văn hóa lớn nào của người Việt Nam. Cái riêng.

uống như thế nào. tính dân gian Việt Nam. Trong cách viết của ông. dân gian. Riêng bản thân tôi. ăn cho no. Và phải nói rằng. Nhưng cũng không thể phủ nhận rằng lối viết ấy có phần hơi khó chịu. Trần Quốc Vượng lên mô hình “ăn” Việt cổ truyền là cơm – rau – cá hay mô hình mở rộng chung cho cả Đông Nam Á là cơm – rau – mắm – ớt trên tảng nền các hệ sinh thái nhiệt đới phồn tạp. Trong túi khôn dân gian Việt Nam. nếu đã có một Hà Nội ngàn năm văn vật thì sao lại không có một di sản văn hóa ẩm thực Việt Nam mà thế hệ đương đại chúng ta cần sưu tầm. trong phần văn hóa dân gian. giữ gìn truyền thống. Với xu hướng mở cửa. ban đầu là để thỏa mãn nhu cầu của cái khát nhưng theo diễn trình lịch sử. Nói như lời một giáo sư người Pháp thì văn hóa ẩm thực Việt Nam có cái gì đó phảng phất Hoa. mà còn để thưởng thức. uống lúc nào lại cũng đã trở thành nghệ thuật. ông đã đi vào vấn đề văn hóa ẩm thực. khác Pháp và đứng vào quãng giữa với nhiều món ăn. tôi đã tìm hiểu và học hỏi được nhiều điều thông qua cuốn sách này. ông thường trình bày một cách tản mạn. phát huy tinh hoa. Một vài quan điểm cá nhân xin mạn phép nêu ra cũng là để bày tỏ tấm lòng trân trọng đối với GS. Tỷ như cụ Tam Nguyên Yên Đổ nói: Rượu ngon không có bạn hiền Không mua không phải không tiền không mua Do đó mà ông không chỉ đơn giản xếp ăn uống vào phạm trù văn hóa vật chất hay văn hóa vật thể của Unesco mà ông lại xếp ẩm thực ăn uống vào văn hóa nói chung bao gồm cả cái hữu thể và cái vô thể. ăn uống được xếp vào “tứ khoái” nhưng ăn ở đây không chỉ là ăn. uống cái gì. Ví dụ như ông đã nói “Tôi thích trích dẫn lời các nhà bác học – để tỏ ra là mình cũng có phần uyên bác…”. chuyện nọ đan xen chuyện kia và rồi thì lại đầy nghịch lý và hay “cà khịa” (đó là nói theo cách nói của ông Đỗ Lai Thúy).9 Cuối cùng. 9 . cái nhận thức và cái tâm linh. còn rất… rất nhiều những từ ngữ mà tôi không hiểu hết được ý nghĩa của nó và có lẽ cũng chưa thể lãnh hội đủ những ý tứ của ông về vấn đề bản sắc văn hóa. Trần Quốc Vượng. món quà dân tộc. Đó là một số nét sơ lược về quan điểm bản sắc văn hóa của ông Trần Quốc Vượng mà tôi đã tổng hợp được qua một số bài viết trong cuốn sách này. uống với ai. tôi không có gì phản đối với những quan điểm của ông và tôi hình như thấy rằng mình đã hơi bị thích thú lối viết văn của ông. kiếm tìm ăn uống theo phổ rộng. ẩm thực Việt Nam đã được toàn cầu hóa. Uống cũng thế. Tìm hiểu bản sắc ăn uống Việt Nam cũng là góp phần tìm hiểu bản sắc văn hóa đậm đà tính dân tộc Việt Nam. có cái gì phảng phất Pháp song nó vẫn khác Hoa. còn lại là vấn đề biến đổi hay giữ gìn bản sắc Việt Nam trong ăn uống. tất nhiên còn rất nhiều hạn chế. nghiên cứu phổ biến. mong nhận được ý kiến đóng góp. Ông bảo rằng nếu đã có một Việt Nam nghìn xưa văn hiến .

long-standing tradition has both community and class characteristics. in conformity with contemporary behavior and perception. vừa có tính lịch sử. tiến bộ và truyền thống xấu. đều có cả truyền thống tốt. (2) (3) SUMMARY Tran Quoc Vuong states that the entire cultural tradition of mankind and of the Vietnamese people embodies both progressive and regressive traditions. Therefore. truyền thống cũ vừa có tính cộng đồng. trang 34. occasionally stable”. Truyền thống vừa có tính ổn định. vừa mang tính giai cấp… Thế cho nên. lạc hậu. phát huy tinh hoa vốn cũ của dân tộc lên một tầm cao mới. 2000. Whether a culture is thought to be progressive or regressive depends on the context of history. we must always inherit with choice and criticism: elevate the traditional quintessence of the people to a new stature. when inheriting traditional culture. Văn hóa Việt Nam – Tìm tòi và suy ngẫm. Likewise. “có khi biến có khi thường”. 984 trang. 10 . khi kế thừa văn hóa truyền thống chúng ta luôn phải kế thừa một cách có chọn lọc và phê phán. Dị vật chí quyển I của Dương Phù đầu thế kỷ I TÓM TẮT Trần Quốc Vượng nhận định rằng trong tổng thể truyền thống của văn hóa loài người cũng như tổng thể truyền thống văn hóa Việt Nam. Tradition has both stable and historical characteristics “occasionally changing. NXB Văn hóa Dân tộc – Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. phù hợp với lối ứng xử và nhận thức mới.10 Chú thích: (1) Trần Quốc Vượng. Một truyền thống văn hóa là tốt hay là xấu cũng còn tùy vào bối cảnh lịch sử. Hà Nội. (tái bản năm 2003) Sđd. Cũng vậy.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->