Phân tích bài thơ "Nói với con" của Y Phương (Nguồn Lê Bá Duy

)
wwwkimson | 18 December, 2010 20:00 Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Trùng Khánh - Cao Bằng ,thấm nhuần những tinh hoa, cái đẹp của dân tộc Tày , Y Phương (1948) là một nhà thơ tiêu biểu cho các dân tộc miền núi ."Thơ Y Phương như một bức tranh thổ cẩm đan dệt nhiều màu sắc khác nhau ,phong phú và đa dạng ,nhưng trong đó có một màu sắc chủ đạo ,âm điệu chính là bản sắc dân tộc rất đậm nét và độc đáo .Nét độc đáo đó nằm ở cả nội dung và hình thức .Với Y Phương ,thơ của dân tộc Tày nói riêng và thơ Việt Nam nói chung có thêm một giọng điệu mới ,một phong cách mới "( Từ điển tác giả ,tác phẩm văn học Việt Nam ). Đi từ đề tài quen thuộc :tình cảm cha con ,phụ tử thiêng liêng ,nhưng với Y Phương ,trong làng thơ Việt Nam đã có thêm một lối đi ,1 giai điệu mới . Khác với "Chiếc lược ngà ",tình cha con được đặt trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh ,tình cha con trong bài thơ được thể hiện qua lời tâm tình của người cha .Người cha đã bộc lộ lòng yêu thương con qua ước mong con sống xứng đáng ,phát huy truyền thống của,gia đình , quê hương. Mượn lời người cha nói với con về tình yêu thương của cha mẹ ,sự đùm bọc của quê hương với con ,nhà thơ đã gợi về nguồn sinh dưỡng trong mỗi người chúng ta .Mở đầu bài thơ là khung cảnh gia đình ấm cúng ,đầy ắp tiếng nói cười .Mười một câu thơ như tràn đầy những đầm ấm ,yên vui của tình cảm gia đình ,tình cảm quê hương : "Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ caì nan hoa Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa Con đường cho những tấm lòng Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời ." Một mái nhà có mẹ có cha và con hạnh phúc vì được sống hạnh phúc trong tình yêu thương .Cha mẹ đã dìu dắt ,nâng đỡ con từ những bướcđi đầu tiên ,đã tìm thấy niềm vui từ con .Hơn thế nữa ,con còn được sinh ra ,lớn lên trong tình yêu thương ,vẻ đẹp của "đồng mình ".

"Người đồng mình" yêu lắm con ơi !" Lao động tuy vất vả nhưng cuộc sống của "người đồng mình"tươi vui, mà rất ngọt ngào . Dáng vẻ tuy thô sơ , công việc tuy nặng nhọc (đan lờ , ken vách ) nhưng tâm hồn "người đồng mình "lãng mạn biết bao nhiêu :Họ làm một cách nghệ thuật những công việc của mình (cài nan hoa ,câu hát ) .Con thật hạnh phúc vì con được sống giữa những con người như vậy -- những con người khéo tay ,yêu thiên nhiên ,yêu lao động, lạc quan và nhân hậu .Thiên nhiên đồng mình cũng rất đẹp : Rừng núi quê hương thơ mộng đã dành cho con những gì tinh tuý nhất (hoa ) ,đã nuôi dưỡng con về cả tâm hồn ,lối sống ,"tấm lòng ". Và từng ngày ,con đã lớn lên ...có cha mẹ nâng đón và mong chờ ,có thiên nhiên thơ mộng, có cuộc sống lao động gắn bó .Con đã trưởng thành trong nghĩa tình của quê hương như vậy đó . Nói với con những điều đó ,cha mong cho con hiểu những tình cảm cội nguồn đã sinh dưỡng con ,để con yêu cuộc sống hơn . Dặn dò con về quê hương ,về "đồng mình ", cha càng muốn con phải khắc cốt ghi xương nơi mình đã sống ,đã trưởng thành . Cuộc sống của "người đồng mình " vất vả ,gian nan "thương lắm con ơi ": "Sống trên đá ..đá gập ghềnh / Sống trong thung ..thung nghèo đói ../Lên thác xuống ghềnh ..cực nhọc .." Nhưng tự hào lắm con ơi ,người đồng mình đã,đang và sẽ luôn sống đẹp .Họ có sức sống mạnh mẽ :vất vả nhưng khoáng đạt ,gắn bó với quê hương .Họ " ko chê ,ko lo "gian khổ, mà vẫn sống tràn đầy "như sông như suối " .Họ mộc mạc,chân chất nhưng giàu ý chí ,niềm tin ,mong xây dựng quê hương tốt đẹp hơn : "Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục ". Sự đối lập giữa bên ngoài :"thô sơ da thịt" nhưng bên trong ko hề nhỏ bé về tâm hồn ,người đồng mình có ý chí tự làm chủ cuộc sống của mình. Qua "sự liên tưởng phong phú sáng tạo "tự đục đá kê cao quê hương ",người đồng mình là những con người lao động cần cù ,có nghị lực ,niềm tin ,mà tầm vóc ,nỗi buồn ,chí hướng của họ là cái cao ,xa chiều kích của trái đất (Cao đo nỗi buồn /Xa nuôi chí lớn ) .Họ giữ gìn bản sắc dân tộc mà vẫn làm rạng rỡ quê hương như vậy bởi họ yêu quê hương sâu nặng và luôn lấy quê hương làm chỗ dựa tinh thần .Người cha muốn con yêu là yêu những điều đó , yêu những đức tính cao đẹp của người đồng mình . Cả đoạn thơ như âm vang trong những lời tự hào ,sự gắn bó và tình yêu tha thiết của người cha về quê hương .Nó như trở thành một hành khúc mạnh mẽ ngợi ca quê hương .Và ,lời nhắc nhở của người cha với con chính là một nốt nhấn kết lại bản hành khúc của quê hương : "Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường

Ko bao giờ được nhỏ bé Nghe con ". Cho con thấy tình yêu thương ,niềm tin tưởng của cha ,người cha mong con biết sống sao cho tốt ,cho xứng đáng với tình cảm của cha .Cho con hiểu cuộc sống của người đồng mình ,người cha muốn con cảm thương với những khó khăn ,vất vả để khao khát đi xây dựng quê hương .Ca ngợi những đức tính cao đẹp của người đồng mình ,cha đã truyền cho con vẻ đẹp sức mạnh của truyền thống quê hương ,mong con sống có tình nghĩa ,biết chấp nhận gian khó ,vươn lên bằng ý chí của mình ,vững vàng trên đường đời. Điều lớn lao nhất mà người cha muốn truyền cho con chính là lòng tự hào với quê hương và niềm tự tin khi bước vào đời .Nói với con mà chính là cha đã trao tặng cho con .Cha đã vun đắp cho con những tình cảm tốt đẹp , cho con một hành trang quý và đã sẵn sàng tung cánh cho con bay đi khắp mọi nơi . Bài thơ ko dài với 28 câu thơ tự do ,có câu 2 chữ ,có câu 10 chữ ,tất cả bay theo cảm xúc tự nhiên ,dạt dào của ý thơ .Giọng thơ tha thiết ,trìu mến . Ngọt ngào làm sao từng tiếng nhắc nhở ,dặn dò " yêu lắm con ơi ", "thương lắm con ơi " ,"Con ơi ..nghe con !" .Đẹp làm sao các hình ảnh thơ vừa cụ thể, mộc mạc,cô đọng mà vừa phong phú ,sinh động,giàu chất thơ."Rừng cho hoa / Con đương cho những tấm lòng ...".Những đặc sắc về nghệ thuật cộng hưởng hài hoà với những cung bậc tình cảm khác nhau của cha đã tạo nên dư âm sâu lắng cho bài thơ .Tiếng thơ trong "Nói với con " là tiếng lòng của Y Phương ,tiếng lòng về tình yêu và niềm tự hào đối với quê hương ,dân tộc . Tiếng cha nói với con hay chính là lời trao gửi thế hệ vậy ! * Xưa nay tình mẫu tử là đề tài phong phú cho thơ ca. Nhưng những bài thơ về tình cha con thì có lẽ khá ít. Bài thơ "Nói với con" cuả Y Phương là 1 trong những tác phẩm hiếm hoi đó. Bài thơ thể hiện tình cảm gia đình êm ấm, tình quê hương tha thiết, ngọt ngào và ngợi ca truyền thống nghĩa tình, sức sống mạnh mẽ của người dân tộc miền núi. Cảm nhận đầu tiêntrong lời cha nói là hình ảnh con lớn lên trong tình yêu thương của cha mẹ, sự đùm bọc, che chở của người đồng mình, của quê hương. Bài thơ mở ra với khung cảnh gia đình ấm cúng, đầy ấp giọng nói tiếng cười: Chân phải.... ....tiếng cười. Khung cảnh ấy đẹp như 1 bức tranh: hình ảnh em bé ngây thơ lẫm chẫm tập đi, bi bô tập nói trong vòng tay, trong tình yêu thương, chăm sóc, nâng niu của cha mẹ; hình ảnh cha mẹ giang rộng vòng tay, chăm chút từng bước đi, từng bước đi, từng nụ cười, tiếng nói của con. Gia đình chính là cái nôi êm ái, tổ ấm để con sống, lớn khôn và trường

thành trong niềm yêu thương con cái. Đó là không khí thường thấy trong các gia đình hạnh phúc. Nhưng cách diễn đạt ở đay có nét độc đáo riêng cảu người miền núi: nói bằng hình ảnh cụ thể. Điệp ngữ "bước tới", trong tình cảm người cha, ko khỏi niềm sung sướng, tự hào. Không chỉ có gia đình, con còn lớn lên, trưởng thành trong cuộc sống lao động, trong quê hường sâu nặng nghĩa tình: Người đồng mình yêu lắm con ơi ...........tấm lòng Một cách nói rất riêng, rất ngộ : "người đồng mình", là người miền mình, người vùng mình, là những người cùng sống trên 1 miền đất, cùng quê hương, cùng 1 dân tộc. Đó là cách nói mộc mạc, mang túnh địa phương của dân tộc Tày nhưng giàu sức biểu cảm, Tác giả vận dụng lối diễn đạt của người dân tộc miền núi để xây dựng hình ảnh thơ. Những suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc đều được diễn tả trực tiếp bằng hình ảnh. Đan lờ để bắt cá, dưói bàn tay của người Tày, những nan trúc, nan tre đã trở thành "nan hoa". Vách nhà ko chỉ ken bằng gỗ mà còn đc ken bằng "câu hát". Rừng đâu chỉ cho nhìu gỗ quý, lâm sản mà còn cho hoa. Ba đông từ "đan", "cài", "ken" còn thể hiện sự đoàn kết, gắn bó cảu quê hương. Lao động đã đem đến cho con bao điều tốt đẹp, "người đồng mình" và quê hương ấp ủ, nuôi sống con trong tình thương yuê, trong tình đoàn kết buôn làng. Và con đường đâu chỉ để đi mà nó còn cho "những tấm lòng" nhân hậu, bao dung, nghĩa tình. Con đường đó là hình bóng thân thuôc của quê hương, còn in dấu những bước chân đi xuôi ngược, làm ăn sinh sống của buôn làng, nên nó mang 1 ý nghĩa thật to lớn trong quá trình khôn lớn của con. Sung sứong nhìn con khôn lớn, nha thơ suy ngẫm về tình làng bản quê nhà, về cội nguồn hạnh phúc: Cha mẹ ... ....trên đời Không chỉ gọi cho con về nguồn sinh dưỡng, cha còn nói với con về những đức tính cao đẹp của "người đồng mình" và ước mơ của cha về con. Đó là lòng yêu lao động, hăng say lao động với cả tấm lòng. Đó là sức sống bền bỉ mạnh mẽ vượt wa mọi khó khăn, gian khổ. Người đồng mình thương lắm con ơi ...........Không lo cực nhọc Trước hết đó là tình thương yêu, đùm bọc nhau. Cách nói mộc mạc mà chứa đựng bao ân tình rất cảm động đó được lặp đi lặp lai như một điệp khúc trong bài ca. Chính tình thưong đó là sức mạnh để "người đồng mình" vượt wa bao gian khổ cuộc đời. Những câu thơ ngắn, đối xứng nhau "cao đo nỗi buồn xa nuôi chí lớn" diễn tả thật mạnh mẽ chí khí của "người đồng mình": sống vất vả, nghèo đói, cực nhọc, lam lũ nhưng có chí lớn, luôn yêu quý tự hào, gắn bó với quê hương. Đó là phẩm chất thứ hai. Thứ ba, về cách sống, người cha muốn giáo dục con sống phải có nghĩa tình, chung thủy với quê hương, bit chấp nhận vượt wa gian nan, thử thách bằng ý chí và niềm tin của mình. Không chê bai, phản bội quê hưong : "không chê...không chê....không lo" dù quê

Đoạn thơ rất dồi dào nhạc điệu. người cha nhấn mạnh truyền thống của người đồng mình: Người đồng mình thô sơ da thịt . Lời cha nói với con mà cũng là lời dạy con về bài học đạo lý làm người.. Y Phương đã thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng. tuy "thô sơ da thịt".. ý chí nghị lực và đặc biệt là khát vọng xây dựng quê hương. Bài thơ giúp ta hiểu thêm sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của 1 dân tộc miền núi. hồn nhiên. lực lượng thanh niên xung phong có một vai trò hết sức quan trọng: tham gia mở đường. phá bom.. kỳ vọng. gợi nhắc tình cảm gắn bó với truyền thống.. tư duy rất riêng. một phong cách miền núi với ngôn ngữ "thổ cẩm" rất độc đáo. mạnh mẽ "như sông như suối-lên thác xuống ghềnh-ko lo cực nhọc".bởi chiếm số đông trong lực lượng này là nữ thanh niên. ca ngợi truyền thống cần cù. điệp cấu trúc câu và nhịp thơ rất linh họat . bảo đảm cho con đường huyết mạch ấy luôn được thông suốt cho những đoàn quân. Viết về Trường Sơn. còn vất vả. áo chàm. vừa là lời dặn dò nhắc nhở ý chí tình của nhười cha đối với đứa con thân yêu. khăn piêu. Bài thơ có giọng điệu nhò nhẹ.. đoàn xe ra trận. cuộc sống mộc mạc thiếu thốn. Họ sáng tạo. với cảm xúc. khi rút ngắn. Trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại nối liền Bắc . Văn học thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đã ghi lại được nhiều hình ảnh đẹp.. ích kỷ. chắc nịch mà lay độg.hương còn nghèo. Qua đó. "Người đòng mình sống khoáng đạt. Trong đội ngũ cả dân tộc ra trận thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.Nam. thấm thía. có sự góp mặt của một "binh chủng" đặc biệt: Thanh niên xung phong. không thể thiếu hình ảnh các cô gái thanh niên xung phong . Hai tiếng ấy nghe sao mà thân thương trìu mến wá. Để nhắc nhở giáo dục con. có tác dụng truyền cảm manh mẽ. Hai tiếng "nghe con" kết thúc bài thơ với tấm lòng thương yêu. dặn dò con cần tự tin. lời thơ giản dị. điệp ngữ. với quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sống. nhưng ko hề nhỏ bé về tâm hồn. Họ xây dựng quê hương bằng chính sức lực và sự bền bỉ của mình: "tự đục đá kê cao quê hương". 2010 20:03 1.Nghe con Truyền thống ấy thật đáng tự hào. Phân tích "Những ngôi sao xa xôi" của Lê Minh Khuê (Lê Bá Duy) wwwkimson | 18 December. lưu truyền và bảo vệ phong tục tốt đẹp của mình biết tự hào với truyền thống quê hương. chân tình và rất mới lạ trong phong cách. san lấp hố bom. ăn mặc giản dị. ko bao giờ được sống tầm thường.. sức sống mạnh mẽ của quê hưong và dân tộc mình. tạo nên bởi điệp từ.. lúc vươn dài. vững bước trên đường đời. nhỏ bé. .

mơ mộng và đặc biệt là rất gắn bó. mà thường đan xen giữa hiện tại và hồi tưởng quá khứ. Lâm Thị Mỹ Dạ (Khoảng trời . đó là kiểu cốt truyện tâm lý. trong thơ Phạm Tiến Duật (Trường Sơn Đông . Đó là mạch truyện được triển khai theo dòng tâm trạng của nhân vật kể chuyện.chân thực.hố bom). Truyện được trần thuật theo ngôi thứ nhất . tiểu thuyết của Đào Vũ (Con đường mòn ấy). giữa ban ngày và máy bay địch có thể ập đến bất cứ lúc nào. Lựa chọn cách kể như vậy. rồi Nho bị thương. truyện Những ngôi sao xa xôi đã làm nổi bật chủ nghĩa anh hùng và vẻ đẹp tâm hồn của thế hệ trẻ Việt Nam trong hoàn cảnh chiến tranh. Nhưng lựa chọn cách trần thuật này cũng là một thử thách không dễ với tác giả. Truyện kể về cuộc sống và công việc thường ngày của một tổ trinh sát mặt đường gồm ba cô gái thanh niên xung phong tại một trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. cách kể ấy cũng tạo thuận lợi để tác giả miêu tả thế giới nội tâm nhân vật qua những độc thoại nội tâm. những giây phút thanh thản. Truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê góp thêm những chân dung đẹp. háo hức trước một cơn mưa đá đến bất chợt giữa vùng trọng điểm. mọi hình ảnh và sự kiện. bởi vì nhà văn đã từng sống cuộc sống của những thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Gửi em. Nhiệm vụ của họ là quan sát địch ném bom. đo khối lượng đất đá phải san lấp do bom địch gây ra. tách xa đơn vị. 2. truyện được kể tập trung vào sự kiện một lần phá bom của tổ trinh sát. Riêng ở phần cuối. Sự lựa chọn vai kể như trên đi liền với một đặc điểm nữa trong nghệ thuật trần thuật của truyện. Phương Định. Công việc của họ hết sức nguy hiểm vì thường xuyên phải chạy trên cao điểm. và đoạn kết là cảnh các cô gái hồn nhiên.Trường Sơn Tây. không theo trình tự thời gian sự kiện. Nhưng điều gì làm nên sức hấp dẫn riêng của truyện ngắn này. cô gái thanh niên xung phong). đó là nghệ thuật trần thuật và miêu tả tâm lý nhân vật. đánh dấu vị trí các trái bom chưa nổ và phá bom. cao cả của các cô gái thanh niên xung phong. Có thể coi.. thậm chí đã nhập vai nhân vật Phương Định một cách thuần thục. 3. truyện ngắn của Đỗ Chu (Ráng đỏ).nhân vật xưng tôi. . yêu thương nhau trong tình đồng đội dù mỗi người một cá tính. Tác giả Lê Minh Khuê có thể làm được điều đó. cũng là một nhân vật chính. dưới chân cao điểm. chân thực và sinh động vào loại hình tượng nhân vật khá quen thuộc ấy của văn học một thời. con người ở nơi trọng điểm ác liệt của chiến tranh sẽ được hiện lên qua cái nhìn và thái độ của chính người trong cuộc. Cũng như nhiều tác phẩm văn học thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Họ ở trong một cái hang. Cuộc sống của ba cô gái ở nơi trọng điểm giữa chiến trường dù khắc nghiệt và nguy hiểm nhưng vẫn có những niềm vui hồn nhiên của tuổi trẻ.. vì người viết phải thực sự am hiểu nhân vật của mình và có khả năng hóa thân cao độ vào nhân vật xưng tôi trong truyện. Đồng thời. Nguyễn Đình Thi (Lá đỏ). và cũng là đóng góp riêng của tác giả? Theo tôi.

Mà ban ngày chạy trên cao điểm không phải là chuyện chơi. Phương Định là nhân vật kể chuyện. truyện đã có một thứ ngôn ngữ và giọng điệu rất phù hợp với nhân vật. hai bím tóc dày tương đối mềm. Nói một cách khiêm tốn.Thống nhất với sự lựa chọn vai kể như trên. Đấy đúng là ngôn ngữ của tuổi trẻ ở giữa chiến trường. Mối hiểm nguy và sự căng thẳng luôn phải đối mặt với cái chết đã được các cô gái cảm nhận với sự bình tĩnh. còn chị Thao lớn tuổi hơn nên những mơ ước và dự định về tương lai cũng thiết thực hơn. Người tổ trưởng ấy chiến đấu rất dũng cảm.. Ba cô gái có nhiều nét giống nhau và họ là một tập thể nhỏ rất gắn bó. yêu thương nhau. Họ cũng thích làm đẹp cho cuộc sống của mình. tưởng như là kiêu kỳ. không chút sợ hãi.. Hắn ta lẩn trong ruột những quả bom. Ở nơi trọng điểm ác liệt. tình đồng đội gắn bó. hàng ngày giáp mặt với hiểm nguy và cái chết. nhưng ở cô vẫn không mất đi sự hồn nhiên. hay mơ mộng. kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. tôi là một cô gái khá. Lời tôi bịa lộn xộn mà ngớ . qua cái giọng bình thản pha một chút hóm hỉnh. Nhạy cảm. Thường cứ thuộc một điệu nhạc nào đó rồi bịa ra lời mà hát. Cô tự đánh giá: Tôi là con gái Hà Nội. đồng thời cũng là nhân vật trung tâm của truyện. Định thích ngắm mình trong gương. nhất là các anh lính để ý và có thiện cảm. nhạy cảm. Ở họ còn có những nét chung của các cô gái trẻ: dễ xúc cảm. ngay cả trong hoàn cảnh chiến trường (Nho thích thêu thùa. Ví dụ đây là lời nhân vật Phương Định kể về công việc của các cô: Còn chúng tôi thì chạy trên cao điểm cả ban ngày. Truyện thường dùng các câu ngắn. chị Thao chăm chép bài hát. Ba cô gái từ những miền quê khác nhau đến với con đường Trường Sơn. loại câu kể xen với câu tả và cách diễn đạt rất gần với khẩu ngữ. Truyện có ba nhân vật: Phương Định. tỏ ra kín đáo giữa đám đông. Phương Định là cô gái hồn nhiên. nhiều mơ ước. nhưng cô lại không hay biểu lộ tình cảm của mình. một cái cổ cao. Chúng ta nhớ đến chi tiết về cô thanh niên xung phong trong thơ Phạm Tiến Duật: Em ở Thạch Kim sao lại đùa anh nói là Thạch Nhọn. Điều đó làm cô thấy vui và cả tự hào. chỉ huy rất kiên cường nhưng lại rất sợ khi phải nhìn thấy máu và còn sợ cả vắt nữa. lòng dũng cảm không sợ hy sinh. Nho và Thao. Trong ba người thì Nho và Phương Định trẻ hơn nên cũng hồn nhiên và giàu mơ mộng. ngồi bó gối mơ mộng và hát). Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: "Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!". Cái miệng em ngoa cho chúng bạn cười giòn. Cũng như các cô gái mới lớn. tâm hồn trong sáng và nhiều mơ mộng. không hề lên gân. Nhưng mỗi nhân vật vẫn là một cá tính. chiến đấu dũng cảm. tại một vùng trọng điểm ác liệt và ở họ đều hình thành những phẩm chất chung của người chiến sĩ thanh niên xung phong: Tinh thần trách nhiệm cao đối với nhiệm vụ. Thần chết là một tay không thích đùa. 4. Cô biết mình được nhiều người. dễ vui mà cũng dễ trầm tư. hay mơ mộng và thích hát (Tôi mê hát. nhưng vẫn rất tự nhiên. Phương Định nhạy cảm và quan tâm đến hình thức của mình. nhưng chưa dành riêng tình cảm cho một ai. và đó chính là thành công của tác giả trong xây dựng nhân vật. cao giọng.

có thể chốc nữa.ngẩn đến tôi cũng ngạc nhiên. tim đập bất chấp cả nhịp điệu. Cơn mưa ấy làm dịu cả bầu không khí ngột ngạt ở bên ngoài hang và cũng làm dịu mát tâm hồn ba côn gái sau những căng thẳng của một trận chiến đấu. Mặc dù đã rất quen công việc nguy hiểm này. cử chỉ của mình. Những kỷ niệm ấy luôn sống lại trong cô ngay giữa chiến trường dữ dội. Rồi khi xong việc. Tôi thích dân ca quan họ mềm mại. ý nghĩ dù chỉ thoáng qua trong giây lát. lời tự bạch một cách tự nhiên như lời trò chuyện với bạn đọc . thở phào. Tiếp đó là cảm giác căng thẳng chờ đợi tiếng nổ của quả bom. Thích ngồi bó gối mơ màng). Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. kề sát với cái chết im lìm và bất ngờ. nó đánh thức dậy sự hồn nhiên. vừa làm dịu mát tâm hồn trong hoàn cảnh căng thẳng. Tâm lý nhân vật Phương Định trong một lần phá bom đã được miêu tả rất cụ thể. một căn buồng nhỏ ở một đường phố yên tĩnh trong những ngày thanh bình trước chiến tranh ở thành phố của mình. mà lại là một trận mưa đá. hồi hộp và cả sự lo lắng khi Nho bị sập hầm. Tôi thích nhiều bài. thì bất chợt một cơn mưa kéo đến. đôi khi bò ra mà cười một mình. Nó vừa là niềm khao khát. Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói. Đoạn kết truyện cũng là một sáng tạo rất thành công của tác giả. Nhanh lên một tí! Vỏ quả bom nóng. không khí bàng hoàng.. vô tư của tuổi trẻ và gợi về những kỷ niệm tuổi thơ với những trận mưa nơi thành phố quê . dịu dàng. tinh tế đến từng cảm giác. Có thể nổ bây giờ. chạy về hang. chân chạy mà vẫn biết rằng khắp chung quanh có nhiều quả bom chưa nổ. Thích Ca-chiu-sa của Hồng quân Liên Xô. Nhưng nhất định sẽ nổ. khốc liệt của chiến trường. Sau một trận chiến đấu của ba cô gái để phá bốn quả bom giữa vùng trọng điểm. Tôi sẽ không đi khom. quay lại nhìn cảnh đoạn đường một lần nữa. Ở bên quả bom. máy bay đang ầm ì xa dần. Các anh ấy không thích kiểu đi khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước đi. Cảm thấy có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình. Đây là cảm giác của một người chạy trên cao điểm giữa ban ngày và giữa những loạt bom của máy bay địch. Từ khung cảnh và không khí chứa đầy sự căng thẳng đến cảm giác là các anh cao xạ ở trên kia đang dõi theo từng động tác. văn bản truyện đưa vào sách giáo khoa đã lược đi nhiều đoạn hồi tưởng của nhân vật). vô tư bên người mẹ.một kiểu độc thoại nội tâm đơn giản. Những bài hành khúc bộ đội hay hát trên những ngả đường mặt trận. Tâm lý nhân vật Phương Định được bộc lộ qua những lời kể. Một dấu hiệu chẳng lành. tôi không sợ nữa. Thần kinh căng như chão. căng thẳng. thậm chí một ngày có thể phải phá tới năm quả bom. Cô có một thời học sinh hồn nhiên. để rồi lòng dũng cảm ở cô như được kích thích bởi sự tự trọng: Tôi đến gần quả bom. từng cảm giác của con người như cũng trở nên sắc nhọn hơn: Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. nhưng mỗi lần vẫn là một thử thách với thần kinh cho đến từng cảm giác. Một tiếng động sắc đến gai người cứa vào da thịt tôi.. (Để đỡ dài. Phương Định là con gái Hà Nội vào chiến trường. bị thương.

Những ngôi sao lấp lánh một thứ ánh sáng không rực rỡ mà sáng trong. cũng là tiêu biểu cho vẻ đẹp của cả thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng và tâm hồn trong sáng của những cô gái thanh niên xung phong ở nơi trọng điểm ác liệt trên đường Trường Sơn. tưởng như xa mà lại rất gần. Đến đây thì người đọc đã cảm nhận được trọn vẹn vẻ đẹp của Những ngôi sao xa xôi .hương. .

. Mở bài : .. từ gần đến xa. từ cửa sổ nhìn ra. Hàng loạt những truyện ngắn trăn trở. Những cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật Nhĩ trên giường bệnh : a.. 2.để rồi cuối cùng nhận ra cái quy luật đầy nghịch lý của đời người : con người ta trên ường đời thật khó tránh khỏi được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình.Rồi cái bãi bồi bên kia sông hiện ra .Tất cả đều được cảm nhận bằng những cảm xúc tinh tế. day dứt đã ra đời và đã một thời gây xôn xao dư luận : từ Bức tranh mở đường cho sự đổi mới văn học vào những năm đầu của thập kỷ 80 ở thế kỷ trước cho đến Phiên chợ Giát là tác phẩm cuối cùng viết trên giường bệnh. nằm liệt giường..Nơi gần gũi mà cả đời Nhĩ dù đã đi khắp mọi nơi trên trái đát lại chưa bao giờ đi tới đó. Tóm tắt truyện: Cốt truyện thật đơn giản nhưng mang tính triết lý. phải nhờ vào sự chăm sóc của vợ con. đất trời lúc giao mùa với hoa bằng lăng tím thẫm. với nước con sông Hông một màu đỏ nhạt.Nhĩ khao khát được một lần đặt chân lê cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình ... Một buổi sáng đầu thu. Cảm nhận của nhân vật Nhĩ về vẻ đẹp thiên nhiên : buổi sáng đầu thu được nhìn từ khung cửa sổ căn phòng mình : . tác giả : Nguyễn Minh Châu. tạo thành một không gian có chiều sâu. Không gian và những cảm xúc ấy vốn quen thuộc.Giới thiệu khái quát tác phẩm. gần gũi nhưng lại rất mới mẻ với Nhĩ.Giới thiệu tác phẩm : Bến quê . . đến vòm trời và sau cùng là bãi bồi bên kia sông. bốn năm trước khi nhà văn từ giã cõi đời. Thân bài : 1.Cảnh vật được miêu tả theo tầm nhìn của Nhĩ. b.Phân tích truyện ngắn "Bến quê" của Nguyễn Minh Châu wwwkimson | 18 December. II. tưởng như lần đầu tiên anh cảm nhận được tất cả vẻ đẹp và sự giàu có của nó.. mang tính trải nghiệm sâu sắc có ý nghĩa tổng kết về cuộc đời của một con người : Nhĩ mắc bệnh hiểm nghèo. . Nhà văn đã từng bước khám phá cái thế giới nội tâm ở mỗi con người trong những tình huống đầy mâu thuẫn và nghịch lý mà Bến quê là một truyện ngắn xuất sắc trong tập truyện ngắn cùng tên được xuất bản năm 1985. * Đoạn văn mở bài : Nguyễn Minh Châu là cây bút xuất sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại. rộng : từ những bông hoa bằng lăng ngay phía ngoài cửa sổ đến con sông Hồng với màu đỏ nhạt lúc đã vào thu. DÀN Ý CHI TIẾT : I. 2010 20:05 Đề : Phân tích truyện ngắn "Bến quê" của Nguyễn Minh Châu. Cảm nhận về Liên : ....

Cảm nhận về bản thân : .Khao khát được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông : + Buổi sáng hôm ấy. Nhĩ đã thu hết tàn lực dồn vào một cử chỉ có vẻ kỳ quặc :" Anh đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô người ra ngoài. vô tình.Nhĩ đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày này". với con người "đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất như Nhĩ. từ đứa con trai. Nhân vật Nhĩ là nhân vật tư tưởng.. bình thường mà sâu xa của đời sống . Nhĩ đã chiêm nghiệm được cái quy luật phổ biến của đời người :"con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái vòng vèo hoặc chùng chình ". "cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa nhà mình" lại là "một chân trời gần gũi mà lại xa lắc vì chưa hề bao giờ đi đến".. c."nó đã thấy có gì hấp dẫn ở bên kia sông đâu". Nhĩ mới thực sự thấu hiểu với lòng biết ơn sâu sắc người vợ của mình :"cũng như cánh bãi bồi đang nằm phơi mình bên kia. Và trớ trêu thay. Anh đang nôn nóng thúc giục cậu con trai hãy mau kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày.Lần đầu tiên Nhĩ "để ý thấy Liên đang mặc tấm áo vá". Nghệ thuật truyện : . gần gũi.". + Lại càng trớ trêu hơn nữa khi anh nhờ thằng con trai thựchiện ước muốn của mình.y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó. Từ hoàn cảnh của mình. và cũng chính nhờ có điều đó mà sau những ngày tháng bôn tẩu tìm kiếm.những giá trị thường bị người ta lãng quên.. bền vững. cảm nhận "những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve bên vai" và Nhĩ nhận ra tất cả tình yêu thương. thằng con trai anh cũng không hiểu được niềm khao khát của cha nó. khi con người còn lao theo nhữgn ham muốn xa vời.. 3. một loại nhân vật nổi lên trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu giai đoạn sau 1975. . + Hành động kỳ quặc của Nhĩ cuối truyện khi thấy con đò ngang vừa chạm mũi vào bờ đất bên này sông. Điều khao khát ấy chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững.Xây dựng nhân vật tư tưởng. đã thấm thía những sướng vui và cay đắng . nhất là lúc còn trẻ.biểu hiện sự nôn nóng thúc giục cậu con trai hãy mau lên kẻo lỡ chuyến đò càng tô đậm niềm khao khát của anh. Sự thức nhận này chỉ đến được với người ta ở cái độ đã từng trải. tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tần tảo và chịu đựng hy sinh từ bao đời xưa. và cùng với sự thức tỉnh ấy thường là những ân hận xót xa . chùng chình trên đường đời dứt ra khỏi. lần đầu tiên Nhĩ nhận ra vẻ đẹp của cảnh vật bình dị và gần gũi xung quanh mình. Anh không trách đứa con trai bởi giống như anh ngày trước. hướng tới những giá trị đích thực giản dị. Chính trong những ngày cuối đời. để rồi có thể lỡ chuyến đò ngang duy nhất trong ngày. nên làm một cách miễn cưỡng và ròi bị cuốn hút vào trò chơi hấp dẫn nó gặp trên đường đi. Không nên sa vào những cái vòng vèo. sự tần tảo và đức hy sinh thầm lặng của vợ.. giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát . Nhĩ khao khát được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông.

Đi hầu hết khắp nơi trên thế giới.Hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng. đặc biệt là với truyện ngắn Bến quê cũng đáng để cho chúng ta tự hào và đủ để an ủi linh hồn ông ở thế giới bên kia. Tiếc thay cái chết đã đến khi sức sáng tạo của nhà văn đang tràn đầy. bị liệt toàn thân. sáng loà rồi tan biến vào cõi vĩnh hằng nhưng với di sản văn học ông để laiï cho đời. Trong Bến quê. . suy ngẫm. Đứa con trai của Nhĩ đã sa vào một đám chơi phá cờ thế trên lề đường : sự chùng chình.Tác phẩm mang tính hiện đại. sâu sắc. * Đoạn văn kết bài : Có thể ở đâu đó những điều cảm nhận của Nguyễn Minh Châu chưa phải đã đạt đến độ khái quát sâu sắc. Kết bài : . bến sông. . không thể đi đâu được. Hành động và cử chỉ của Nhĩ :thức tỉnh con người. Bông hoa bằng lăng cuối mùa . Nhân vật không bị biến thành cái loa phát ngôn cho tác giả. tiếng những tảng đất lở ởû bờ sông bên này. Những chiêm nghiệm. triết lý về cuộc đời và con người. khi tư tưởng nghệ thuật của ông đã trở nên sâu sắc. Chính bằng ngòi bút ấy. Nhưng trong cách cảm. đổ ụp vào trong giấc ngủ của Nhĩ lúc gần sáng :Sự sống của nhân vật Nhĩ đã ở vào những ngày cuối cùng.Cách xây dựng tình huống nghịch lý.Nguyễn Minh Châu là nhà văn đi được xa nhất trên con đường đổi mới văn học. hầu như mọi hình ảnh đều mang hai lớp nghĩa : nghĩa thực và ý nghĩa biểu tượng. .Miêu tả tâm lý tinh tế. vòng vèo mà trên đường đời người ta khó tránh khỏi. III. thân thuộc. tiếp tục tìm tòi lặng lẽ. Ông như một ngôi sao băng vút qua bầu trời. mỗi người lính có một ngã rẽ riêng để trở về với cuộc đời thường nhật. nhà văn đã dựng lên một "Bến quê" mang ý nghĩa triết lí. với diễn biến tâm trạng . Một đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật truyện : Sáng tạo hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng . Có lẽ sẽ chẳng ai . ta bắt gặp như vô tình cái bãng hình nhà văn Nguyễn Minh Châu. bình dị. tính nhân văn sâu sắc. khung cảnh thiên nhiên : là vẻ đẹp của đời sống trong những cái gần gũi. Trong vô vàn cái bãng lặng lẽ trở về ấy. Bãi bồi. ngòi bút Nguyễn Minh Châu vẫn chứa đựng những khám phá mới mẻ. triết lý đã được chuyển hoá vào trong đời sống nội tâm của nhân vật. mang đầy trải nghiệm về một đời người. cách nghĩ của ông trong "Bến quê" là có cơ sở hợp với tính nhân văn và đáp ứng được yêu cầu thời đại. vẫn mang cái nhìn từng trải chắc chắn của con người đã tôi luyện qua lò lửa chiến tranh. bài viết thứ 2 Bước ra khỏi chiến tranh.Trần thuật theo dòng tâm trạng của nhân vật. đầy hứa hẹn. . Trở về lặng lẽ. khi cơn lũ đầu nguồn dồn về. làm cho những ai yêu mến Nguyễn Minh Châu bỗng cảm thấy hụt hẫng tiếc nuối. .Nhà văn đã gửi gắm qua nhân vật nhiều điều quan sát.

lúc này đang phô ra trước cửa sổ gian gác nhà Nhĩ một thứ màu vàng thau xen lẫn với màu xanh non-Những sắc màu quen thuộc quá. thể hiện một chiều sâu triết lí. ngay trước khung cửa sổ. những nghịch lí vượt khỏi dự định. Vậy mà. xúc động trào dâng. Cũng như nhiều tác phẩm của mình. §ã có lần anh nhận ra trong một dòng suy nghĩ hài hước cái hoàn cảnh không biết phải gọi là bi kịch hay hài kịch của bản thân:"Nhĩ nhận thấy hoàn cảnh của mình thật buồn cười. tự nhích người di chuyển vài chục phân trên tấm nệm khó bằng bay nửa vòng Trái Đất. Nghịch lí cuộc đời. Như một định mệnh. vẫn sắp đặt một ®ịnh mệnh để Tuấn. Liệt toàn thân. ước muốn. trong "Bến quê". hình ảnh Nhĩ -nhân vật chínhhiện lên trong hoàn cảnh thật đángthương. bất chấp lời khẩn khoản tha thiết nhất của Nhĩ. Có chút gì đó se sẽ buồn. anh có nhiều thời gian hơn để suy ngẫm và chiªm nghiệm về cuộc đời trong những ngày tháng đã qua. sự hiểu biết và cả toan tính của con người. như da thịt. còn đôi bàn tay người vợ tần tảo dường như là đôi bàn tay người mẹ thủa nào. tư tưởng. Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên Trái Đất. có chút gì đó se sẽ xót xa. Và số mệnh lại một lần nữa cất cao tiếng nói. Bằng suy ngẫm. Anh giờ đây dâu có khác một đứa trẻ là mấy. Chiếc giường bệnh dường như là chiếc nôi. tận hưởng sự thích thú được chăm sóc và chơi với" Đó là nghịch lí hay số mệnh? Đã là số mệnh sao lại phũ phàng đến thế?Có lẽ nào nghịch lí cuộc đời đã nhiều lần bắt anh day dứt thế chăng? Trong những ngày như thế. ân hận nhưng những cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp bình dị.sà vào đám cờ phá thế ven đường và m¬ ước cháy bỏng đến cuối cuộc đời anh mới chiêm nghiệm ra tắt vụt trong vô vọng. Mở đầu trang truyện. Đó có lẽ cũng là một nhận thức về cuộc đời mà nhà văn lặng lẽ gửi vào tình huống mang nghịch lí phũ phàng với cái tâm hồn khắc khoải trong những ngày tháng cuối cuộc sống và số phận con người chứa đầy những ngẫu nhiên.con anh. vẫn hiện về trong miªn man kí ức. sinh hoạt chủ yếu nhờ vào sự giúp đỡ của Liên. hơi thở của đất màu mỡ". "Cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi ở bên kia sông Hồng. dưới ngòi bút tài hoa là thứ công cụ đắc lực nhất. Nguyễn Minh Châu đã khai thác rất thành công tình huống truyện mang đầy nghịch lí."Suốt cuộc đời. nhưng là một nghịch lí con người đã quên bẵng bấy lâu. Có ngờ đâu cả cuộc đời Nhĩ đã từng in gót khắp năm châu mà chưa tùng một lần đặt chân lên cái bờ sông trước mặt mình. gần gũi của quê hương thì vẫn còn lắng đọng mãi mãi trong sâu thẳm tâm hồn mỗi người đọc chúng ta. miền đất cuộc đời anh mãi mãi chẳng thể đặt chân lên. Nhĩ nhận ra vẻ đẹp của cái bãi bồi bên kia s«ng Hồng.gấp lại trang sách "Bến quê" mà không cảm thấy một nỗi buồn bồi hồi. y như một đứa bé mới đẻ đang toa toét cười với tất cả. bằng tổng kết qua biết bao trải nghiệm con người mới nhận ra triết lí mà cuộc đời nào rồi . gần một năm nay căn bệnh quái ác đã cột chặt lấy anh vào giường bệnh. vẫn là nghịch lí. Có lẽ những nghịch lí ấy.

thiên nhiên như đẹp hơn. xót xa tê tái.. chiều sâu của bãi bồi ngay trước khung cửa sổ. chan chứa trải nghiệm. Trong câu nói của anh với Liên có sự bỏ lửng như sự tắc nghẽn của tâm hồn. dù chỉ cách đôi bờ ngầu đỏ của con song quen thuộc mãi mãi là miền đất xa lắc. cũng là lúc con người Nhĩ nhận ra nó đã nhen lên trong vô vọng. sau bao ngày in gót khắp năm châu. đỏ nhàn nhạt màu nước phù sa. ngạc nhiên đến thích thú. say sưa khám phá cái ẩn mình bên trong lớp vỏ gần gũi. trong cái dòng chảy của suy ngẫm và tình cảm mới xuất hiện nơi Nhĩ. Đến với nó chỉ là giấc mơ xa vời tầm tay. yêu tha thiết sự giàu có. "Bến quê" được viết theo cách nhìn và tâm trạng của nhân vật Nhĩ. chùng chình cuộc sống giăng ra trước lối. của trái tim: . con người đã ngàn lần phô ra trước mắt. nâng cho ta tiếp bước trên đường đời. "Lần đầu tiên Nhĩ để ý thấy Liên đang mặc tấm áo vá" đó cũng là lần đầu tiên nỗi buồn về gia đình quặn lên trong anh. Sáng đầu thu hiện lên trong không gian gần xa như một bức tranh lên cái thần của cảnh sắc. Nhưng khi tình yêu ấy chớm nở. đến lúc này anh mới thấm thía. Những ngày cuối cuộc đời. hiền lành đã quen thuộc bấy lâu. bước trên đường đời khó tránh khỏi những vòng vèo. là người vợ tần tảo giàu đức hi sinh. Có lẽ anh đã yêu. Nếu thiên nhiên khiến Nhĩ say mê và thất vọng thì những người thân gợi lên trong anh nỗi buỗn xen lẫn những mặc cảm. soi lên cái chiều rộng.cũng phải đón nhận : Con người ta. số phận đã cướp đoạt khỏi tay anh. Cay đắng nào bằng khi nhận ra cảnh vật kia. chiếu vào cuộc đời Nhĩ cái nhìn gần gũi. hi sinh thầm lặng của người vợ hiền thảo. triết lí về đời người. Chỉ có những vẻ đẹp gần gũi thiêng liêng là có thể cho ta chỗ dựa. về ý nghĩa của những điều ta chiêm nghiệm được từ cuộc sống và cuộc đời mỗi con người. Nhĩ đã thấu hiểu sự vất vả. Anh thấy nó đẹp đến kì lạ. Với Nhĩ. đây là những phút cuối cùng anh được sống thanh thản giữa quê hương. Nó là tâm điÓm cũng là cái thần sắc của bức tranh. chiêm ngưỡng trong sự bất ngờ. Cũng phải thôi. Anh có thời gian để ngắm nhìn nó nhưng thời gian để bước đi. đơn sơ. Cái nghèo khó của gia đình không giấu được qua mảnh vá trên chiếc áo Liên đang mặc. giữa những cảnh vật. Nhĩ say sưa chiêm ngưỡng vẻ đẹp đến kì lạ áy. Nắng soi lên dòng s«ng uốn lượn mềm mại. nó mang màu sắc và chiều sâu nội tâm rất chủ quan của cá nhân nhân vật trữ tình. đó là cái bãi bồi bên kia s«ng.. Đó là những b«ng hoa bằng lăng nở muộn sắc đang phai giữa không gian vời vợi trong vắt của bầu trời. suy ngẫm sâu sắc. bởi vì đó là lần đầu tiên anh say sưa chiêm ngưỡng nó. Ngòi bút Nguyễn Minh Châu đã tạo nên một sức hút mạnh mẽ khi xây dựng nhân vật Nhĩ mang những tình cảm. trìu mến hơn tất cả những gì anh đã từng được biết. trên đôi tay gầy gò. gần gũi mà vô cùng mới mẻ của thiên nhhiên.

gấp gáp hơn trước khi những đốm tàn của ngọn lửa sự sống tắt lịm hẳn. Với Nhĩ có lẽ cũng vậy thôi. khó khăn Liên lặng lẽ gánh vác để lo cho gia đình. mãi mãi trọn vẹn nguyên phẩm chất: :Cũng như cánh bãi bồi đang nằm phơi mình bên kia .. them khát khám phá chân trời mới nhưng con tàu đi tới thì đã mãi mãi ở lại với biển khơi. Đó là sự xúc động khi anh tìm được cho mình nơi nương tựa là gia đình.Một miền đất của trù phú và mơ ước. Dường như bằng trực giác Nhĩ đã nhận ra thời gian của đời mình chẳng còn bao lâu nữa. Cuộc đời Liên từ khi sống với anh cũng đâu có khác trước.Mới đây thôi anh đã khám phá ra cái vẻ đẹp diệu kì của cái bên kia song.Cái tưởng chừng dễ dàng nhất người ta thường hay bỏ qua và rồi sau này lại phải hối tiếc về điều đó. người cha chưa bao giờ trọn ven. chúng cũng như cuộc đời anh. tàn tạ. là người vợ tần tảo. Có lẽ anh cũng hiểu rằng màu sắc của những chùm bằng lăng bỗng trở nên đậm sắcc hơn.. khi đã nhận ra vẻ đẹp rất đỡi bình dị gần gũi của cảnh vật. Anh như một nhà thám hiểm. đã chịu đựng.mà em vẫn nín thinh" Nhĩ không nói mà cũng không dám nói. rất nhiều nơi xa xăm Nhĩ đã bước chân qua vậy mà. Những ngày cuối cùng này anh chỉ có một khát khao duy nhất: được đặt chân lên bờ đất phía bên kia sông. Đó là sự thương cảm với cuộc đời tần tảo. trong tâm hồn Nhĩ cháy lên một cái gì đó mơ hồ như một dự cảm. chuẩn bị cho sự đứt lìa khỏi cuộc sống. Đến khi mơ ước. Trong có dường như còn chứa chan cả mồ hôi. Rất nhiều. một cái gì đó cháy bỏng như một khát khao. tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tần tảo và chịu đựng hi sinh từ bao đời xưa". những trải . Cái ngắt quãng ấy là bao vất vả. "Một đời người đàn bà trên những bậc gỗ mòn lõm". Tuy khoảng trời kia chỉ cách ô cửa sổ của Nhĩ thôi nhưng dường như mãi mãi xa vô cùng tận. Vào cái buổi sáng đầu thu ấy. đến khi khát khao thì anh không thể cất bước để tiến về miền đất ấy nữa. Câu hỏi anh bất chợt hỏi vợ như một sự tính toán thời gian vể cái ngày anh biết chắc sẽ đến nay mai. lặng lẽ của vợ."Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm. nước mắt đắng cay Liên đã nuốt thầm. héo hắt dần. cứa cả vào long vợ. Qua những lời dịu dàng của Liên anh đã hiểu tình yêu Liên dành cho mình nhưng điều đó càng khiến anh day dứt vì trách nhiệm của người chồng. Nhĩ không dám nói điều đó. Ở nơi anh trào dâng bao xúc cảm. cái bãi bồi ngay bên kia thôi chưa một lần anh đặt bàn chân tới. giàu đức hi sinh. Cảm giác về cái chết treo lơ lửng dường như thôi thúc cái khát khao trong anh cháy bỏng hơn. Nhà văn Giắc Lân-đơn từng viết: "Thiên nhiên có nhiều cái nhắc nhở con người về cái chết". Nó âm thầm như cái âm điệu câm lặng của dấu ba chấm. Mơ ước rồi cũng là vô vọng. những tảng đất đổ oà vào giấc ngủ. Có lẽ trong những lần khắc khoải hướng ánh mắt sang bãi bồi bên kia song. vì nó là lưỡi dao cứa vào long anh. không ít lần Nhĩ mang trong lòng những suy ngẫm. Anh là trụ cột của gia đình mà chưa một lần anh làm cho gia đình ấy được sung sướng.

Anh đành gửi gắm tất cả tình cảm. Ngay khi đó con đò ước mơ cập bến. chùng chình chúng tax a vào để . Nó là một sự thức tỉnh có xen niềm ân hận và nỗi xót xa. một niềm hạnh phúc giản đơn chiêm nghiệm từ cả cuộc đời. Nhĩ đã cố hết sức để gửi đến mọi người lời nhắn nhủ thức tỉnh. đã nếm trải rất nhiều tình cảm. chùng chình. phần cuộc mà mỗi con người đều muốn khám phá dù biết rằng nó là không giới hạn. Anh giữ trọn trong tâm hồn khao khát và ước mơ. Đó cũng là chân lí cuộc đời. những giá trị bình dị giản đơn kia. đơn sơ. Thu hết mọi sức tàn Nhĩ bấu chặt vả mười đầu ngón tay vào cái hậu cửa sổ. như chính quê hương. Khao khát tìm đến những giá trị gần gũi nhưng đích thực trong cuộc sống. bến đậu cuộc đời. Chỉ có anh mới hiểu nó ý nghĩa đến nhường nào với mỗi con người trong cuộc sống. Nhưng kìa. như một nhà thám hiểm chậm rãi bước khoan thai trên cái bãi bồi trước khung cửa sổ. Nhĩ không thể đặt chân lên con đò đưa đến khát khao. anh dường như đang níu giữ cho mình một cái gì đó? Có thể là niềm hạnh phúc nhỏ nhoi mà tha thiết kia chăng? Hay đó còn là một lẽ sống. Nhĩ dã cố hết sức để thúc giục đứa con giúp anh hoàn thành nốt cái khát khao còn dang dở. vừa run lẩy bẩy. đã đi qua rất nhiều phương trời. "giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát y như đang khẩn thiết ra hiệu cho ai đó". Tuấn đâu có thể hiểu được ý nghĩa thiêng liêng chứa trong ước muốn của cha. Nhĩ đã hi cọng. Chỉ có anh. bến song.nghiệm về chính bản thân. Nhĩ đã phát hiện chân lí ấy để rồi hồi hộp và say mê chờ đợi được khám phá nó trong tấm gương cuộc đời. bến đậu của những giá trị tinh thần gẫn gũi mà ý nghĩa. Nhĩ không trách Tuấn. nó hàm chứa những giá trị biểu tượng vô cùng thiêng liêng. giản dị gắn bó như chính gia đình. Cậu sà vào ván cờ phá thế trên đường tự nhiên như cách con người vướng phải những cám dỗ trong cuộc sống. nhờ Tuấn giúp anh đặt chân lên cái bên kia song ước mơ. bến bờ ấy cũng có thể là bến đậu quê hương. chỉ có ai không do dự. Người ta chưa đủ chin chắn để nhận ra vẻ đẹp thưc sự. nơi quê hương mà con người bồng bột với nhiều ham muốn thời trai trẻ đã bỏ qua. anh hiểu ở cái tuổi như Tuấn. vẻ đẹp vẹn nguyên cả trong những nét tiêu sơ của cuộc đời. Niềm ân hận và xót xa khi con người đã nhận thức được quy luật khắc nghiệt của cuộc đời. Với anh đó phải chăng là niềm hạnh phúc cuối cùng anh có thể hưởng trước khi nhắm mắt xuôi tay. Tiếng nện dép ra bờ xa dần mang theo bao háo hức của tâm hồn người cha tội nghiệp. Cái bờ bên kia không dừng lại ở ý nghĩa hiện thực nữa. Đường đời cũng như thế. Anh đã từng một thời như Tuấn. Bãi bồi. cảm xúc mới thấy yêu thấy quý. đã tưởng tượng thấy Tuấn. Hành động cuối cùng của giấc mơ. thoát khỏi sự vòng vèo. đã từng trải. Nhưng ở đời người ta khó tránh khỏi những điều vòng vèo. Bến bờ ấy cũng có thể làcuộc đời chưa đi tới. tất cả niềm tin vào Tuấn. một giá trị tinh thần thiêng liêng anh đã rút ra trong những ngày cuối cùng trước khi giã từ cuộc sống. con đò như một phần vẻ của cuộc sống. Cánh buồn chỉ một lần duy nhất qua song. không chậm chạp dềnh dàng mới có thể bước vững vàng đi tới phía trưoiức. Nhĩ đang đu mình ra ngoài.

cũng gần gũi như chinh cuộc đời. đến tất cả mọi người như để thưc tỉnh. Suy nghĩ ấy hẳn sâu sắc lắm. Một cuộc đờia đã trải qua mưa bom bão đạn chiến tranh. Bằng trái tim đầy xúc cảm của một nhà văn. Nó thiêng liêng như cô đúc cả cuộc đời con người vậy. Đáng quý trọng biết bao một trái tim như thế. Nó chứa trong biểu tượng nhung cũng đẹp. hẳn sẽ có những khoảng lặng trầm lắng chứa cả cay đắng lẫn giọt nước mắt sót xa. Nguyễn Minh Châu đã gửi gắm những suy ngẫm là trải nghiệm của cả cuộc đời. Nguyễn Minh châu đã gửi gắm trải nghiệm ấy đến cả cuộc đời. để tô điểm them cho cuộc đời mỗi chúng ta. như để nhắc nhơ con người về tình cảm đẹp đẽ nhất. Sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Nguyễn Minh châu hoá thân vò nhân vật để nhắn nhủ những lời tha thiết chân thành đến như thế. Có lẽ. một trái tim chỉ biết tìm cái đẹp.hướng đến những giá trị đích thực mà gần gũi trong cuộc sống. Mot cuộc đời đã có những tháng ngày vất vả. cuộc đời chung và đáp lại những công hiến to lớn như thế? . nhọc nhằn giữa dòng đời bon chen. Lời nhắn nhủ của Nhĩ cũng có thể là lời cuối cùng của cuộc đời anh. Tại sao chúng ta không thể song đẹp hơn nữa. hẳn thiết tha lắm. qua "Bến quê". cái hay tô điểm cho cuộc đời chung của chúng ta.

Mở bài : . có chút ngang tàng của chất lính. .Giọng điệu sôi nổi. nhạc điệu linh hoạt.. . II.Hoàn cảnh sáng tác : năm 1969. câu thơ cuối toả sáng chủ đề.Mà lòng phơi phới dậy tương lai"(Tố Hữu). lạc quan. Trên những chiếc xe bị bom đạn ác liệt của kẻ thù tàn phá. trong cuộc chiến đấu gian khổ của những chiến sĩ lái xe đường Trường Sơn thời chống Mỹ. đặc sắc với nhãn tự trái tim. Ngôn ngữ thơ mộc mạc như lời nói hàng ngày. nhưng giàu nghệ thuật. tính cách dũng cảm..Kết hợp giữa hiện thực hào hùng với cảm hứng lãng mạn cách mạng. 2. tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật.Bài thơ hay trong chùm thơ đạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969 . khoẻ. Phạm Tiến Duật có giọng thơ mang chất lính.1975. dạt dào sức sống. tả thực không cường điệu không mỹ lệ hóa.1970. âm hưởng sử thi chặng đường 30 năm chống xâm lược của dân tộc 1945 . DÀN Ý CHI TIẾT : I. giàu tình đồng chí đồng đội của những người chiến sĩ lái xe. 2010 20:07 Đề : Phân tích "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật. tinh nghịch. . .Bài thơ tái hiện hành trình gian khổ nhưng rất anh hùng của các chiến sĩ vận tải đoàn 559 trên tuyến lửa Trường Sơn những năm chống Mỹ. giàu suy tưởng. 3..Lời thơ giàu suy tưởng. Bút pháp hiện thực. thống nhất đất nước. . trong cuộc chiến đấu gian khổ của những chiến sĩ lái xe đường Trường Sơn thời chống Mỹ. tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật. vui tươi. bất chấp gian khổ hy sinh.Phân tích "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật (Thầy Lê Bá Duy) wwwkimson | 18 December.Bài thơ hay trong chùm thơ đạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969 . không mui không đèn. bài thơ khắc hoạ vẻ đẹp hình ảnh. III. nhịp điệu. yêu nước. Từ hình ảnh những chiếc xe không kính độc đáo.Hoàn cảnh sáng tác : năm 1969.1970. Mở bài : . Thân bài : 1. Kết bài : .các chiến sĩ lái xe vẫn hiên ngang. quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ để giải phóng miền Nam. tinh nghịch vui tươi. Là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ những năm chống Mỹ "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước . như văn xuôi. không còn kính chắn gió. DÀN Ý : I. "Bài thơ về tiểu . thùng xe bị xước.

Nguyên nhân : "Bom giật.Nguyễn Du) Tế Hanh trong bài Quê hương tả con thuyền rất lãng mạn :Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo. nhìn thẳng. chỉ viết về hiện thực khốc liệt của chiến tranh mà chủ yếu khai thác chất thơ vút lên từ hiện thực ấy. + Hình ảnh những chiếc xe không kính là hình ảnh thực. Vẻ đẹp của hình ảnh người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn: .Không có kính. thùng xe có xước. .Thái độ bất chấp gian khổ. "nhìn thẳng" :hiên ngang. + Diễn tả cụ thể cảm giác của người lính lái xe : Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái. . "lãng mạn hoá" và thường mang ý nghĩa tượng trưng hơn tả thực : Đùng đùng gió giục mây vần Một xe trong cõi hồng trần như bay (chiếc xe đưa Thuý Kiều ra đi với Mã Giám Sinh . . 3. Trường Sơn Tây" : Anh lên xe. không có mui xe. Truyện Kiều . chất thơ của tuổi trẻ Việt Nam vượt lên những khắc nghiệt của chiến tranh. Cái độc đáo dã bộc lộ ngay từ nhan đề bài thơ . Ấn tượng thực.đội không kính" (trong chùm thơ được giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969-1970) được Phạm Tiến Duật viết năm 1969 là bài thơ tự do mang phong cách đó. + Điệp từ "nhìn" như một niềm sảng khoái bất tận . qua cảm nhận của tác giả trở thành hình ảnh lãng mạn. . không có đèn. 2.Tư thế ung dung mà hiên ngang : + Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất. II. chất thơ rất đẹp từ hình ảnh ấy. bom rung kính vỡ đi rồi" . ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng như người già ."Không có kính không phải vì xe không có kính" : câu thơ như một câu văn xuôi. nhìn trời. giọng thơ thản nhiên .Hình ảnh thơ lạ : + Hình ảnh xe cộ tàu thuyền đi vào trong thơ thường là được "mỹ lệ hoá". Sáng tạo độc đáo nhất là hình ảnh những chiếc xe không kính : . mạnh mẽ vượt trường giang Chính Phạm Tiến Duật trong bài thơ "Trường Sơn Đông. Thân bài : 1. trời đổ cơn mưa Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ.Hai chữ bài thơ nói lên cách khai thác hiện thực : không phải chỉ viết về những chiếc xe không kính. hiểm nguy : Không có kính.

"điệp khúc tạo nên giọng điệu ngang tàng. thống nhất Tổ quốc : Không có kính.. Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây. trời xanh thêm" :câu thơ với năm thanh bằng và điệp ngữ lại đi tạo âm điệu thanh thản.Chất giọng trẻ.. "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Lửa đèn.. giữa cái không có và cái có.. ừ thì.Đánh giá bài thơ. đã trải nghiệm.. Không có kính."chưa cần . . bất chấp. ừ thì ướt áo Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay. . sự sáng tạo của hình ảnh chi tiết. giữa bên ngoài và bên trong. thống nhất Tổ quốc.Điều làm nên sức mạnh để người lính vượt qua khó khăn chính là tình yêu nước. ta rất giàu dũng khí Sống chẳng cúi đầu. là ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam.Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. một trái tim nồng nàn tình yêu nước và sôi trào ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam. Kết bài : . + Nghệ thuật tương phản giữa vật chất và tinh thần. lại đi.. Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước : Chỉ cần trong xe có một trái tim. nhẹ nhàng. Nhớ. thùng xe có xước. chết vẫn ung dung Giặc muốn ta nô lệ. Từ sự giản dị của ngôn từ. + Sức mạnh để chiếc xe băng mình ra trận chính là sức mạnh của trái tim người lính. chất lính của bài thơ bắt nguồn từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam thời chống Mỹ mà chính nhà thơ đã sống. lạc quan của người lính : Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy "Lại đi.Phong cách thơ Phạm Tiến Duật.. * Liên hệ thơ Tố Hữu : Tố Hữu đã ca ngợi : Thiếu tất cả. + Niềm vui .. sự linh hoạt của nhạc điệu. tôn vính vẻ đẹp phẩm giá . rồi xe không có đèn Không có mui xe. yêu đời. ta lại hoá anh hùng Sức nhân nghĩa mạnh hơn cường bạo III. lái trăm cây số nữa Mưa ngừng. gió lùa mau khô thôi + "Không có kính. bài thơ đã khắc hoạ. Hình ảnh bầu trời xanh phơi phới một niềm lạc quan.

bom đạn giặc Mỹ. giàu suy tưởng. BÀI VIẾT THAM KHẢO : Là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ những năm chống Mỹ "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước .1975. mới trở thành hư hỏng : không còn kính chắn gió. tư thế ung dung. hình dung mức độ ác liệt của chiến tranh. Hìmh ảnh những chiếc xe không kính không hiếm trong chiến tranh chống Mỹ trên đường Trường Sơn lửa đạn nhưng phải là một chiến sĩ. khoẻ. "Bài thơ về tiểu đội không kính" (trong chùm thơ được giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969-1970) được Phạm Tiến Duật viết năm 1969 là bài thơ tự do mang phong cách đó. dạt dào sức sống. Những cảm giác ấy được nhà thơ ghi nhận tinh tế sống động qua những hình ảnh thơ nhân hoá. tinh nghịch vui tươi. Phạm Tiến Duật đã ghi nhận. nhìn trời. coi thường gian khổ. trực tiếp sẵn sàng chiến đấu cùng những người lính lái xe thì nhà thơ mới phát hiện được chất thơ của hình ảnh ấy để đưa vào thơ ca một cách sáng tạo. Với bút pháp hiện thực như bút pháp miêu tả "anh bộ đội cụ Hồ thời chống Pháp" của Chính Hữu trong bài Đồng chí (1948). Đó là những con người trẻ trung. nghệ thuật. hoà nhập với cảm hứng lãng mạn cách mạng và âm hưởng sử thi hào hùng của văn học Việt Nam trong ba mươi năm chống xâm lược 1945 . nhìn thẳng. mới lạ. Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái. một nghệ sĩ tâm hồn nhạy cảm. so sánh và điệp ngữ : Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất. hình ảnh xe cộ trong chiến tranh đi vào thơ ca thường được mỹ lệ hoá. hy sinh.Mà lòng phơi phới dậy tương lai"(Tố Hữu). không mui không đèn. độc đáo. tượng trưng ước lệ chứ không được miêu tả cụ thể. Xưa nay.con người. nhưng chính cái thực đã làm người suy nghĩ. Phạm Tiến Duật có giọng thơ mang chất lính. giải thích về "những chiếc xe không kính" thật đơn giản. Trong buồng lái không kính chắn gió. thùng xe bị xước. không cường điệu mà tả thực.hình ảnh có sức hấp dẫn đặc biệt vì nó chân thực. thực tế đến trần trụi như cách tả của Phạm Tiến Duật. tự nhiên : Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Bom đạn ác liệt của chiến tranh đã tàn phá làm những chiếc xe ban đầu vốn tốt. Những câu thơ nhịp điệu nhanh mà vẫn nhịp nhàng đều đặn khiến . họ có cảm giác mạnh mẽ khi phải đối mặt trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài. Mở đầu bài thơ là hình ảnh những chiếc xe không kính chắn gió . Không tô vẽ. Mục đích miêu tả những chiếc xe không kính là nhằm ca ngợi những chiến sĩ lái xe.

người đọc liên tưởng đến nhịp bánh xe trên đường ra trận. con đường chiến đấu. Yêu đời. tự tin. Hiên ngang."con đường" đến cả "sao trời". "Trời xanh thêm" vì lòng người luôn có niềm tin về một ngày mai chiến thắng. gió lùa khô. gợi cảm. trước kẻ thù mà trái lại "tiếng hát át tiếng bom". hình ảnh. có tính cách ngang tàng: Không có kính. mau thôi. con đường cách mạng. những người lính lái xe luôn lạc quan tin tưởng chiến thắng. Những câu thơ lặp cấu trúc tự nhiên như văn xuôi. bất chấp gian khổ. những người lính trẻ từ những miền quê khác nhau nhưng cùng một nhiệm vụ. lại đi trời xanh thêm. Các anh nhìn thấy từ "gió". Hình ảnh "con đường chạy thẳng vào tim" gợi liên tưởng về con đường ra mặt trận. . ừ thì có bụi. cảm nhận đã biểu hiện thái độ bình tĩnh thản nhiên trước những nguy hiểm của chiến tranh. Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi. Tất cả sự vật. Phạm Tiến Duật từng là thành viên của đoàn 559 vận tải chiến đấu ở Trường Sơn nên chất lính. vì có ung dung thì mới thấy đầy đủ như thế. lời nói thường ngày thể hiện hình ảnh đẹp. Các chiến sĩ lái xe không hề lùi bước trước gian khổ. Thế giới bên ngoài ùa vào buồng lái với tốc độ chóng mặt tạo những cảm giác đột ngột cho người lái. lý tưởng đã gắn bó nhau như ruột thịt. Không có kính. "Trời xanh thêm" vì lòng người phơi phới say mê trước những chặng đường đã đi và đang đến. Tình đồng chí. lái trăm cây số nữa Mưa ngừng. tính ngang tàng thể hiện rõ nét trong thơ. Câu thơ "nhìn nhau mặt lấm cười ha ha" biểu lộ sâu sắc sự lạc quan ấy. "cánh chim". Những khoảnh khắc của chiến tranh. đồng đội keo sơn gắn bó là phẩm chất của người lính. ừ thì ướt áo Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay. phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. Những người lính lái xe hiên ngang. giữa sống chết. Hình ảnh "những cánh chim sa. tiếng cười sảng khoái của họ làm quên đi những nguy hiểm. gia đình : Những chiếc xe từ trong bom rơi Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. ùa vào buồng lái" thật sinh động. họ xem đây là cơ hội để thử thách sức mạnh ý chí. cảm xúc mà các chiến sĩ lái xe trực tiếp nhìn thấy. Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa.

chứa chan tình yêu nước này. chết vẫn ung dung Giặc muốn ta nô lệ. Có thể cả bài thơ hay nhất là câu cuối. toả sáng khổ thơ. trôi chảy. nêu cao phẩm chất con người Việt Nam anh hùng như Tố Hữu đã ca ngợi : Thiếu tất cả. trẻ trung sôi nổi. Thiếu phương tiện vật chất nhưng những chiến sĩ vận tải Đoàn 559 vẫn hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ. khúc khuỷu. ta rất giàu dũng khí Sống chẳng cúi đầu. không đèn. Đoàn xe đã chiến thắng. đánh bại giặc Mỹ và tay sai để thống nhất Tổ quốc : Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe. sự linh hoạt của nhạc điệu. thống nhất cho cả nước. giàu tình đồng chí đồng đội. quyết thắng. do đường trường gây ra : xe không kính.. hoà nhập với cảm hứng lãng mạn cách mạng và âm hưởng . Từ sự giản dị của ngôn từ. ta lại hoá anh hùng Sức nhân nghĩa mạnh hơn cường bạo "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Lửa đèn. làm bật lên chủ đề. đã trải nghiệm.dũng cảm. lạc quan. cả bài thơ là hình ảnh "trong xe có một trái tim" . công cụ mà là con người giàu ý chí. không mui. Hai câu đầu dồn dập những mất mát khó khăn do quân thù gieo xuống. có lòng yêu nước sâu sắc.. kiên cường. Chói ngời. hình ảnh đậm nét. lạc quan. bất ngờ thú vị.Chất giọng trẻ. chất lính của bài thơ bắt nguồn từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam thời chống Mỹ mà chính nhà thơ đã sống. Hai dòng thơ ngắt làm bốn khúc "không có kính/ rồi xe không có đèn / Không có mui xe / thùng xe có xước" như bốn chặng gập ghềnh. anh hùng. sự sáng tạo của hình ảnh chi tiết. Aån sau ý nghĩa câu thơ "chỉ cần trong xe có một trái tim" là chân lý của thời đại chúng ta :sức mạnh quyết định. rất thơ. Bốn dòng thơ dựng hai hình ảnh đối lập đầy kịch tính.. kết đọng ở "trái tim" gan góc. đầy chông gai bom đạn. gốc rễ anh hùng của mỗi người cầm lái tích tụ. "con mắt của thơ". thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Chỉ cần trong xe có một trái tim. hăm hở hướng ra tiền tuyến lớn với tình cảm thiêng liêng "vì miền Nam". Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây. mà nhạc điệu hình ảnh rất đẹp. Khổ thơ cuối cùng vẫn giọng thơ mộc mạc. Điệp ngữ "không có" nhắc lại ba lần như nhân lên những thử thách khốc liệt. cảm hứng và suy tưởng vừa bay bổng vừa sâu sắc để hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của những chiến sĩ vận tải Trường Sơn. Hai câu cuối âm điệu đối chọi lại. tôn vính vẻ đẹp phẩm giá con người.. chiến thắng không phải là vũ khí. vì cuộc chiến đấu giành độc lập.. toả sáng vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trong bài thơ. Lòng yêu nước là một động lực tạo cho họ ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam. Nhớ. Cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe. thùng xe bị xước . bài thơ đã khắc hoạ. vượt lên bom đạn.

sử thi hào hùng của văn học Việt Nam trong ba mươi năm chống xâm lược 1945 .1975. .

Chả thế mà. một tiền đề nữa. cái thời điểm mà sự nhạy cảm của hồn tạo vật luôn thách thức với sự nhạy cảm của hồn người vẫn là thời khắc giao mùa chớm thu. nghĩa là không tái hiện lại một truyền thống. chỉ điểm qua những thi tứ nổi bật dành cho nhịp chuyển mùa thôi. Mà cùng Hữu Thỉnh. Con người cùng Tạo vật thảy đều nhạy cảm. Các kênh cảm giác và cả tâm cảm nữa của mỗi hồn thơ dường như đều được huy động tối đa để nắm bắt những làn sóng. Tuy nhiên. những tín hiệu mơ hồ nhất từ những giao chuyển âm thầm trong vạn vật. 2010 11:34 Mùa thu quả nhiên là mùa nhạy cảm bậc nhất trong năm. tôi sẽ không nấn ná làm cái việc rút tỉa những thi ảnh và thi tứ tiêu biểu về thời điểm nhạy cảm ấy của thơ ca các thời. Gọn nhẹ hơn.. chắc cũng không xuể. Cho nên. cũng khó đủ giấy mực rồi. bước ngay. bao đời nay luôn có sự đua ganh giữa hồn thơ với hồn tạo vật. Chỉ cần điểm sơ qua những tín hiệu từng được hồn thơ từ cổ chí kim nắm bắt trong những thi ảnh không thôi. Sang thu Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi Thu. 1977 ..Sang thu" của Hữu Thỉnh wwwkimson | 19 December.

1.. Nhưng về ý tứ ? Xem chừng ý khổ này cứ "dính" vào khổ kia.. Trước tiên. chim vội vã. ai chẳng thấy chính tác giả đã tự chia bài thơ thành ba khổ khúc chiết.. Trong khi đó. Khổ hai lại nghiêng về những cảnh sắc trời mây sông nước đang chuyển mình sang thu.Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu). Cho nên. Đọc kĩ hơn thì thấy rằng: cùng viết về thiên nhiên lúc giao mùa. Cùng với cảnh. đấy thay đổi tinh vi. nó vừa giành được một chỗ xứng đáng trong chương trình Văn và Tiếng Việt của nhà trường. đến cả những miền chưa từng có mùa thu nữa. nhưng mỗi khổ thơ vẫn nghiêng về một ý.. sông dềnh dàng. sương chùng chình.. Sấm cũng bớt bất ngờ / trên hàng cây đứng tuổi). cảnh trong tình. Đến nỗi.. Từ cấu trúc . Cụ thể là mạch cảm nghĩ trước mùa thu. Thì quanh đi quẩn lại vẫn là thế : hương ổi. vô tổ chức ? Không hẳn. còn ý thơ thì vốn thiếu rành mạch. khổ ba lại nghiêng về những biến đổi bên trong các hiện tượng thiên nhiên và tạo vật : Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa/Sấm cũng bớt bất ngờ/Trên hàng cây đứng tuổi. dù đậm hay nhạt.. thử đi vào cấu trúc của thi phẩm. Về cảnh vật.Tôi mừng cho Hữu Thỉnh và bài thơ. ngay cả "Sách giáo viên" hướng dẫn người dạy khai thác và soạn giảng chừng như cũng " bí" trong việc phân định . Hay việc chia thành ba khổ thế chỉ hoàn toàn do cảm tính lúc viết của thi sĩ. từ thấp đến cao. từ góc nhìn vườn ngõ : Bỗng nhận ra hương ổi /Phả vào trong gió se /Sương chùng chình qua ngõ /Hình như thu đã về. Về bố cục. và kết lại ở khổ ba với vẻ trầm ngâm(. . Ý đâu có khác gì nhau. Tình trong cảnh. từ ngoài vào trong.. sấm bớt bất ngờ. cả người khờ khạo nhất cũng phải thấy rằng : thơ thiên nhiên không đơn thuần chỉ có cảnh. là tâm tư của thi sĩ. Sự đan xen các mạch này là một khía cạnh phức tạp không thể thiếu của cấu trúc.. ba khổ thơ đã được liên kết thành một chỉnh thể nhuần nhị nhờ vào một trật tự khá tự nhiên : từ gần đến xa. hàng cây đứng tuổi. Một trật tự hợp lí tự nhiên bao giờ cũng là điều sinh tử để một sản phẩm nghệ thuật hiện ra như một sinh thể ! Nhưng. Kể từ nay. đây đổi thay tinh tế. thì hình sắc thu sang. sẽ được những tâm hồn ấy mang tới bao nẻo thu. đồng hành với mạch cảnh sắc trên đây. Như vậy. hương ổi của thi phẩm sẽ phả vào tâm hồn của nhiều thế hệ học trò. bao giờ cũng là tình. từ hẹp đến rộng. mưa đã vơi. nắng vẫn còn. Sau một thoáng ngỡ ngàng ở khổ một (. gió se.. khổ một nghiêng về những tín hiệu mách bảo sự hiện diện đây đó của mùa thu. dù kín hay lộ. Hình như thu đã về). với tầm nhìn rộng xa vào bầu trời mặt đất : Sông được lúc dềnh dàng / Chim bắt đầu vội vã/Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu.. Hình thái tổ chức của Sang thu đâu dễ nhận diện. chẳng dáng nét thu về. là đến niềm say sưa ở khổ hai (. chả chịu rành mạch gì cả.. với các lớp cảnh càng ngày càng đi vào chiều sâu.

nhiều.. nhờ lối cảm ấy. là các cấp độ của mạch nghĩ. Luôn thấy được thế quân bình ngay giữa những biến thiên thì ít bất ngờ chao . Ví như bài Thu cảm. không đơn tuyến. chậm. sắc thái dương tính (mạnh. Chính lúc sông "dềnh dàng" là lúc chim "vội vã". đa phần các thi sĩ nghiêng về vẻ biến suy một chiều của cảnh. Nó chính là hiện tượng trái chiều mà cùng hướng ta vẫn thường thấy trong mỗi cuộc đổi thay.nhẹ với hệ thống hưng . khổ ba : suy ngẫm. Vì thế.. Khổ đầu : bất giác. mà đây đó còn cả thế quân bình. Lúc bất giác nhận ra hương ổi "phả" vào trong gió se.. Chẳng phải thế sao ? Chẳng phải bao mạch sống đang cần mẫn chuyển lưu trong lòng tạo vật làm nên cõi sống trường cửu này vốn vẫn tương sinh tương khắc như vậy sao ? Và chẳng phải những vận động trái chiều mà cùng hướng vẫn thường đem đến cho sự sống thế quân bình ngay trong lòng mỗi nhịp biến thiên hay sao ? Cho nên. thật thú vị mà cũng thật hiển nhiên là hai nhịp mạnh . Rõ ràng. nhanh. nhưng bề sâu. đâu phải là thiếu rành mạch.suy.. Tôi cho rằng.Không chỉ có thế. đến điệu tâm hồn Cảm nhận tạo vật lúc sang thu. đã hiện ra không chỉ có biến thiên. từ khổ một đến khổ ba. vẫn là một kiến trúc ngôn từ với một cấu trúc thật tinh vi.) : hương ổi phả chim vội vã . thi phẩm là sự đồng hành và hoá thân vào nhau của ba mạch nội dung vừa rõ nét vừa sống động. Trái lại là đằng khác ấy chứ ! Rõ ràng. Chúng đan bện với nhau khiến cấu trúc nghệ thuật càng tinh vi phức tạp. cấu trúc của thi phẩm này. một trong những nét đặc sắc của bài Sang thu là có hai hệ thống tín hiệu báo mùa có vẻ phản trái nhau. Nhịp nhẹ thì nghiêng về âm tính (êm. Có thể nôm na hoá qua sơ đồ sau : Thế đấy. ít. tiêu trưởng kia lại đan dệt trong nhau khá nhuần nhuyễn tạo nên cái bản giao hưởng gợi cảm của đất trời thu. Khi nắng "còn" cũng là khi mưa "vơi". 2. tiếng thơ khá tinh tế của một thi sĩ đương thời : Mướp tàn sen cũng đi tu / Lá tre đã thả một mùa heo may / Con sông không ốm mà gầy / Mắt em chưa tối đã đầy hoàng hôn. thì cũng là lúc bắt gặp sương "chùng chình" qua ngõ. mưa vơi dần. sông dềnh dàng. Cảm nhận của Hữu Thỉnh khác. Tương ứng với những cung bậc của mạch cảm. qua phân tích trên đây cũng đủ thấy rằng : một tiếng thơ dù bình dị hồn nhiên thế nào đi nữa. Nhịp mạnh bao gồm những động thái... Toàn cảnh thu trong bước chuyển mùa. song cả hai đều thuộc về thần thái của mùa thu. có vẻ "dính". bề ngoài.) : sương chùng chình. Đừng nghĩ thi sĩ cố ý đặt bày hai mạch tương phản nhằm chơi trò lạ hoá.vẫn còn bao nhiêu nắng. khổ hai : tri giác. Có thể xem đó là nét phức điệu trong cảm nhận ngoại giới của hồn thơ Hữu Thỉnh. thần thái của cảnh thu thường hiện lên qua vẻ tiêu sơ. Tạm đặt tên là nhịp mạnh và nhịp nhẹ. Mạch cảm và mạch nghĩ bao giờ cũng song hành và chuyển hoá sang nhau trong cùng một dòng tâm tư ... ...

Nhờ lối viết nén. Hệ thống các từ còn (-hết). thậm chí được nhu hoá. sẽ thấy rằng đến đây. có chậm có nhanh. Hữu Thỉnh còn tỏ ra tinh hơn nữa trong sự đồng điệu với nhịp chuyển mùa. Những hiện tượng riêng lẻ thì gồm cả hai hệ thống tín hiệu trái chiều. khiến đám mây yêu kiều và đỏng đảnh kia có thể vắt nửa mình qua đó mà khoe sắc phô duyên vậy ! Mà đâu chỉ trong quan sát. thì chiều giảm đột ngột thành chiều tăng. thật mà không thật. Bởi đảo mà cứ như không. Nhịp luân chuyển ấy dường như đã nhập vào mấy chữ tưởng rất không đâu mà lại thần . mà lòng đã nặng hơn. là cây đã trưởng thành. say sưa tri giác như khổ hai. tôi ngờ rằng cảm quan quân bình về đời sống đã ngấm ngầm xui thi sĩ tìm đến cái kết điềm tĩnh trước ba động. Nhờ ngữ pháp ấy mà cái ý cương kia liền được giấu kín nhẹm. Thế mà thi ảnh lại mới. một chiều tăng kín đáo : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. sấm "bớt bất ngờ" càng giảm. tức là đã giảm . nào sương chùng chình qua ngõ. Nào những hương ổi phả vào trong gió se. giấu cương sau nhu này : Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi ? Nói đến câu kết kia. Ba câu trên : nắng "vẫn còn". không thể không thêm vài lời về cách lập tứ dẫn tới kết. đúc kết. bớt (-thêm) bảo rằng thi sĩ đang suy xét. làm định dạng cái vốn mơ hồ. là lối viết đâu có gì lạ về thi pháp. Đám mây thực thế mà ảo thế ! Cái cách "vắt nửa mình" kia sao mà thi vị ! Có thật chăng một đám mây vốn của mùa hè đang mải mê lấn sân sang mùa thu ? Có mà không có. mưa "vơi dần" rõ là giảm . Lớp từ mang sắc thái đong đếm ở đây mách với ta điều đó. Chẳng thế mà các chi tiết gợi cảm của thi phẩm đã cuốn hút nhiều người yêu thơ. Cả ba nghiêng về chiều giảm.. Và. mấy chữ "bớt bất ngờ" như một nút buộc. Để ý một chút. Điều này khỏi bàn thêm. vơi (-đầy). ở thi phẩm này. đây là lối kết theo kiểu "đảo phách". Một cú đảo phách ngoạn mục. thi ảnh nào cũng tài hoa. Chiêm nghiệm điều gì ? Về một lẽ đời trong hai chiều biến đổi trái nhau. hay cây bớt bị bất ngờ (cây thôi e sấm)? Có lẽ là cả hai. Nhưng cái nhịp luân chuyển chung chi phối vạn vật thì bao giờ cũng khẩn trương và mau lẹ. câu thơ bỗng có "cú pháp dính". Mà ấn tượng nhất hẳn phải là cảnh tượng Có đám mây mùa hạ/Vắt nửa mình sang thu. cái vế sau mới là chốt hạ.. tâm thế thi sĩ không còn ngỡ ngàng bất giác như khổ một. Có thể nói. lời thơ súc tích hẳn nhờ các làn nghĩa giao nhập ràng néo nhau : sấm bớt gây bất ngờ (sấm đã e cây). xem ra. Trong thiên nhiên đã vậy. rồi thì sông được lúc dềnh dàng. chiêm nghiệm. nhưng xem chừng.đảo. Ấy là sự từng trải tăng lên. * Sang thu là bài thơ tinh tế. đã ra chiều trầm ngâm với suy ngẫm rồi. Làm xác định cái không xác định. Trong cuộc đời cũng thế. khiến cái vô hình thành hữu hình. Cứ y như giữa mùa thu và mùa hè vẫn có một lằn ranh làm bằng sợi dây vô hình giăng ra giữa thinh không. khi câu ba nối vào câu kết. hình sắc lại gợi. Nhưng. Nó rõ nhất ở khổ ba : Vẫn còn bao nhiêu nắng /Đã vơi dần cơn mưa /Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi.

vì ít nhất. biến động âm thầm và sâu kín của thiên nhiên. chim vội vã v. chưa đủ tạo hẳn ra một lớp nghĩa khác cho văn bản. cái súc tích Đường thi kết hợp với chất hồn nhiên thơ trẻ cứ loáng thoáng đâu đó trong cách nhìn tạo vật. Đôi khi quá chú mục vào cái tinh tế trong tiểu tiết có thể quên sự tinh vi trong đại cục. Ở Sang Thu. Chữ "đứng tuổi" bật sáng. Không. thi phẩm nhỏ đã mang thi tứ lớn.tình này: Sông được lúc dềnh dàng/Chim bắt đầu vội vã . Nhờ đó. mà xem ra lại khó thấy : Đường thi.v. Nhưng. đó vẫn là những tinh tế tiểu tiết và dễ viết. cũng chưa phổ được vào đó hơi thở của thời mình. Hữu Thỉnh chưa đem đến cái gì mới hơn so với các tiếng thơ thuộc thi đề thu của những người đi trước. Tranh thì tĩnh. chỉ lúc chợt ngoái lại. Nó khiến bài thơ như một bức tranh thiên nhiên. Một thi tứ đa tầng khiến hình tượng thơ thành đa nghĩa.. phát động một lớp nghĩa khác cho bài thơ. chuyển động. Mấy chữ ấy đi với nhau thành cặp. sông dềnh dàng. nếu chỉ thế thôi. có một chất rất dễ nhận : dân gian. có sự chất chồng và giao thoa của ba lớp nghĩa : trời đất sang thu. Sao lại cặp kè ? Thì một trong những chiêu rất Hữu Thỉnh chẳng phải là chế tác thi liệu dân gian bằng thi pháp Đường ư ? Cố nhiên. Nhân hoá cây là bề nổi. ít ai để ý đến nghệ thuật tổ chức. Lớp nghĩa thứ nhất dễ thấy. . Sang thu cũng mới là thơ tạo vật. Ai cũng có thể thấy những ẩn ý nào đó thấp thoáng sau lối viết ẩn dụ trong các thi ảnh rải rác ngay từ đầu sương chùng chình. Lớp nghĩa kia chỉ thực sự bật hầm khi hình ảnh cuối cùng đột hiện : Sấm cũng bớt bất ngờ / Trên hàng cây đứng tuổi. Tất nhiên. Có lẽ khi đọc các cặp ấy. luôn cặp kè. tinh thần của thế hệ mình. Người đọc cũng dễ say với những nét tài hoa trong việc sử dụng nhuần nhuyễn yếu tố cổ điển của thi sĩ. Sang thu đa nghĩa. Nó mới là nét tinh vi thuộc về đại cục. mà còn nói người. Đọc Hữu Thỉnh. Ý tưởng Sang thu được gói kín vào thi tứ. những hàm ý kín đáo kia toát lên trước hết từ nghĩa bóng đây đó của các thi ảnh. là tinh chứ sao ! Tuy nhiên. đời sống sang thu và đời người sang thu. Tôi muốn nói đến điều khác : ý tưởng bao trùm. Sự mẫn cảm của tâm hồn thi sĩ đã được dịp phô diễn qua những thi ảnh giàu mỹ cảm trong việc nắm bắt bao vận động. giấu người vào cây là bề sâu. Nó đâu chỉ nói cây. Đồng thời. anh không chỉ có chiêu này. hô ứng và tiếp ứng nhau làm hiển thị cái nhịp luân chuyển trong tạo vật vốn mải mê mà vô hình. Vì nó ở bề nổi của văn bản thơ. phim mới động. Nhưng nếu chỉ có thế thì ý nghĩa của chúng còn lờ mờ. Còn có một chất khác. Có lẽ như những thước phim về cảnh vật thiên nhiên thì phải hơn. mà hiển lộ nhất là ở phép đối ngẫu được dùng khá nhuyễn : Sông được lúc dềnh dàngChim bắt đầu vội vã . tâm trí ta bị trôi theo lời thơ bình đạm. thì mới vỡ lẽ: ồ. Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa". ra là phép đối ! Thế là nhuyễn. trong cách kiệm lời. Vẫn còn bao nhiêu nắng-Đã vơi dần cơn mưa. chưa xa gì hơn một lối nói sinh động về sự vật. Hai lớp nghĩa sau mới thật là thứ hương ổi riêng mà Hữu Thỉnh phả vào trong thi đề này..

Sự từng trải đã giúp cây trưởng thành. ở nhiều lần in cũng ghi rõ như vậy. Chim bắt đầu vội vã có phải chỉ đơn thuần nói về các loài chim lúc sang thu đang gấp gáp bay đi lánh rét không thôi ? Xem ra. Không có nó. thông điệp nghệ thuật của một tác phẩm không chỉ cất lên từ những gì thuộc nội bộ văn bản. Nếu ở khổ đầu. Nhưng. mọi suy cảm trên sẽ thành võ đoán. căn cứ quan trọng nhất là văn bản. Cảm thụ nghệ thuật. Đây là lúc trong lòng đời có bao trăn trở xao động. "dềnh dàng" đã khó ưa. Đặc biệt từ khổ hai trở đi. chỉ bó hẹp trong văn bản không thôi. nhưng Sương chùng chình qua ngõ thật khác với Sông được lúc dềnh dàng. Mùa thu còn tàng ẩn cả những quân bình tự tại nữa. Mùa thu đâu chỉ có biến thiên. cuộc sống vừa qua khỏi thời chiến đầy khốc liệt đang chuyển sang thời bình êm ả. đủ vững trãi đối đầu với mọi ba động. "Chùng chình" còn dễ ưa. nhưng lòng vẫn còn bao nhiêu nắng. Tôi ngờ rằng đây là khổ thơ mà anh chàng thi sĩ cũng vừa trải qua một mùa hè bỏng rát đang kín đáo nói về thế hệ mình và chính mình ? Vâng. Có thể thấy rõ hơn nữa. mọi cú giáng của cuộc đời : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. đời sống cũng vừa sang thu. Thì ra. Sang thu đã lẳng lặng thành thơ cuộc đời ! Chu Văn Sơn . tự dưng chúng ta thấy các hình ảnh đó đây nhấp nháy lên những nghĩa khác : nghĩa thế sự. tuy đã sang thu. Hèn chi. Chẳng phải đó là những nét độc đáo mà Hữu Thỉnh đã đem đến cho một thi đề tưởng đã quá ư quen thuộc hay sao ? Từ thơ tạo vật. Không có chữ "đứng tuổi" cứ như lạc hệ thống này. cùng diễn tả nhịp vận động chầm chậm. Đồng thời. Nghĩa là. Trong thực tế. dễ làm nghèo nghệ thuật. mà còn vang lên cả từ tương quan giữa văn bản với những thứ bên ngoài vốn thiết thân với nó nữa. bao cơn mưa thở than nay cũng đã vơi dần. Điều này ngẫu nhiên chăng ? vô nghĩa chăng ? Không hẳn. Dường như nó còn ngầm tỏ thái độ về cái điệu sống của những đối tượng nào đó hồi mùa hạ hăng hái xông pha là thế. thơ còn nặng về tạo vật. Bước sang thu. Mùa thu còn là chuyện trưởng thành. nó còn muốn nói tới đối tượng sống tuỳ thời. bao tủi sầu yếu đuối. lớp nghĩa thời sự vốn khuất mình không thể phát sáng được. được xả hơi chăng ? Chả phải vô cớ mà thi sĩ đem chữ "được lúc" gắn với cái thói "dềnh dàng" ấy của sông. xu thời nào đó nữa ấy chứ ? Đến khổ thứ ba. hàng cây trẻ hồi nào giờ đã đứng tuổi. Một cái kết quá là khôn ngoan.Tự dưng. giờ vào thu đã tự cho phép mình được dềnh dàng. chúng ta thấy từ mạch hình ảnh thiên nhiên rải khắp bài thơ bỗng bừng dậy một lớp nghĩa khác gắn với con người và cuộc đời. "Dềnh dàng" đâu chỉ nói về nét riêng của dòng chảy đã chậm hơn khi con sông vào thu. mùa thu đâu chỉ có chuyện tiêu sơ. cái lớp nghĩa thế sự bảng lảng này còn tỏ hơn nữa. Cũng như thế. khi nhìn trong tương quan khác. Tác giả cho biết thời điểm viết Sang thu là mùa thu 1977. Nhìn bài thơ trong tương quan với thời điểm ấy. Ví như hoàn cảnh sáng tác . ý ngầm của kẻ viết vừa khó phát lộ vừa khó gói ghém. thì từ khổ thứ hai đã bảng lảng cái bóng đời. Bấy giờ.

Sang thu nghĩa là mới chớm thu thôi. hay đám mây cũng không tô điểm cho phong cảnh thu bằng những gam màu đặc trưng của nó. tác giả đã tự xác định một thời điểm miêu tả: thời điểm giao mùa. tôi mới thấy đề tài này thật là khó" Tại sao lại có nghịch lí trong kinh nghiệm của người sáng tác như vậy? Có lẽ vì nàng thu "thơ mộng muôn thủa" luôn có xu hướng "rủ rê" ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. cái tứ kết buộc hệ thống hình ảnh trong bài cũng chỉ gói gọn trong chút "chớm" mỏng manh đó... cánh chim. "chùng chình" "dềnh dàng" "bắt đầu vội vã" "vắt . Nói về đề tài mùa thu. không phải cuối thu. "Sang thu" của Hữu Thỉnh xuất hiện khi trước nó đã có rất nhiều bài thơ nổi tiếng đông tây kim cổ: Thu hứng (Đỗ Phủ). Đặc biệt ở góc độ miêu tả tạo vật. Nhưng hương ổi "thơm" như thế nào thì thi sĩ hoàn toàn không miêu tả. Se gợi một động thái. ngô đồng hay màu trời.. Đây mùa thu tới (Xuân Diệu). Không hề có một từ định tính để miêu tả thế giới thu.. Ngay từ tiêu đề. cái độc đáo riêng của một hồn thơ sâu lắng. Có gió... Tưởng như với đề tài thơ mộng muôn thuở này có thể dễ dàng chắp bút. một tác giả đã nhận định: "Đề tài "Mùa Thu" bao giờ cũng có vẻ là dễ viết.. Truyền thống thơ thường kiến trúc ngôi nhà thu bằng những chất liệu quen thuộc như cúc. nhất là những ngòi bút thơ: hễ động bút là mùa thu cứ chực đổ ùa ra trên mặt giấy. liễu. nhạy cảm khi mùa thu tới. Mùa thu dường như luôn luôn nấp sẵn trong ngòi bút của chúng ta.Phân tích bài thơ Sang Thu của Hữu Thỉnh (Bài tham khảo) Có lẽ vì nàng thu "thơ mộng muôn thủa" luôn có xu hướng "rủ rê" ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. khi nắng trời đã nhuộm đỏ lá bàng...Hữu Thỉnh hầu như khơi gợi cảm giác về mùa trong trạng thái mơ hồ của tạo vật.. hơn là gợi một cảm giác. Có hương ổi. Thành công nổi bật nhất của bài cũng là ở một hệ thống những động từ miêu tả rất giàu cảm giác: "phả". khi bầu trời xanh ngắt lơ lửng những tầng cao.. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương. hay khi cái rét mùa đông đã lẩn vào trong gió. Nhưng nó vẫn có cái hay. Đó không phải là chính thu.. Chùm thơ thu (Nguyễn Khuyến). Chỉ đến khi bắt đầu cầm bút ngồi trước mặt giấy. Làn sương giăng phủ ngõ thôn chẳng được đặc tả ở mức độ (mù mịt) hay màu sắc (trắng mờ). nhưng gió se chứ không phải là gió lạnh. sắc nước. mùi hương vừa đặc trưng cho mùa vừa đặc trưng cho làng thôn ngõ xóm. Dòng sông. "se".

Sang thu.. sấm chớp. Miền kí ức tuổi thơ được đánh thức bởi mùi hương ổi. "đứng tuổi" khiến ý nghĩa của câu thơ không dừng lại ở nét nghĩa tả thực mà có chiều sâu hơn. Tinh tế và sống động sao một buổi sáng chớm thu.. Đám mây như tấm khoăn voan của người thiếu nữ.. Tiếp tục thể hiện những dấu hiệu mùa thu rõ rệt hơn nhưng ý nghĩa của khổ cuối không chỉ dừng lại ở đó: Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi Con người cảm thấy biết bao biểu hiện khác biệt của thời tiết khi mùa thu tới: mưa và sấm thưa dần. mà ở cả chút ngỡ ngàng bâng khuâng của lòng người: "Bỗng nhận ra hương ổi". Dòng nước thu vốn trong trẻo và sâu hút làm người ta khó mà thấy rõ được sự chuyển động nó nên cảm giác sông lững lờ trôi cũng rất hiện thực. nó không chỉ miêu tả chính xác trạng thái của tạo vật mà còn thổi vào tạo vật những cảm giác rất người. hàng cây tượng trưng cho con người từng trải mà bao dâu bể biến đổi không còn đáng ngạc nhiên.. Và có lẽ cũng nhờ giọng điệu êm nhẹ dễ cuốn người đọc vào dòng cảm xúc. Nắng. được gọi một cách hình ảnh là "hàng cây đứng tuổi". Hàng cây như đã quá quen với nắng lửa mưa giông. bởi ngõ xóm thân quen ấy.. hay là những vang động của cuộc đời? Trong tương quan ấy. gió se lại bởi chút lạnh xa xăm... Song trên hết. tất cả các dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn nhưng đã giảm dần mức độ.nửa mình". cường độ. hệ thống động từ toàn bài còn đặc sắc ở chỗ... Song thời điểm chớm thu không phải chỉ hiển hiện ở những dấu hiệu mơ hồ trong trạng thái biến chuyển của cảnh vật. sương như người khách ngập ngừng nơi đầu ngõ. mưa. những cánh chim vội vã tìm về phương ấm áp. suy nghĩ tự nhiên của tác giả. tôi chợt thấy nhớ rất nhiều những năm tháng đã qua của mình. Chính các từ "bất ngờ". không còn dữ dội nữa. Không hiểu sao.. khi đọc bài thơ này. "Chùng chình" trước hết gợi tả chính xác những làn sương như ngưng lại và nhẹ nhàng tỏa lan ngõ xóm. duyên dáng nối hai mùa là một liên tưởng thực sự độc đáo. "Hình như thu đã về". Nét độc đáo nhất của bài . Cảnh như sâu lắng hơn bởi liên tưởng suy tư về mùa thu đời người.

khẳng định nghệ thuật miêu tả tâm lý đặc sắc.Có người nhận xét rằng "tình phụ tử không thể ấm áp và đẹp đẽ như tình mẫu tử". cho dù bị đánh. Vì lòng thương con.là những hình ảnh chính xác và giàu sức gợi tạo nên một bức tranh thu giản dị mà sống động.một người chiến sỹ dù ở sa trường vẫn luôn cặm cụi làm một chiếc lược để tặng đứa con gái bé bỏng. ông tập kết ra Bắc và bắt đầu viết vănn.Khi ông Sáu đi kháng chiên chống Pháp.Thời kỳ kháng chiến chống Pháp ông tham gia bộ đội và hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Câu chuyện khắc họa hình ảnh một nhân vật bé Thu đầy ấn tượng và tinh tế.một cô bé nhỏ mới tám tuổi nhưng nhất quyết không nhận người khác làm bố.xây dựng tình huống bất ngờ và ca ngợi tình cha con thắm thiết.Các tác phẩm chính là Chiếc lược ngà(1968).Mùa gió chướng(1975). Đây xứng đáng là một bài thơ thu hay trong thế giới thi ca! Phân tích tình cảm cha con trong truyện "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng wwwkimson | 19 December.mộc mạc nhưng sâu sắc.Vẫn viết về một đề tài dường như đã cũ song truyện mang nhiều giá trị nhân văn sâu sắc. 2010 11:48 Có câu nói: "Những tình cảm đẹp sẽ là động lực mạnh mẽ trong tâm hồn mỗi người!"Vì lòng yêu cha.Có lẽ vì sinh ra va hoạt động chủ yếu ở miền Nam nên các tác phẩm của ông hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ. có thể bạn sẽ phải có cái nhìn khác mới mẻ và chân thực hơn.lúc đó bé . Nguyễn Quáng Sáng sinh năm 1933 ở An Giang. hơn thế lại ca ngợi tình cha con thiêng liêng. Câu truyện xoay quanh tình huống gặp mặt của bé Thu và ông Sáu..Nguyễn Quang Sáng có lỗi viết văn giản dị.Dòng sông thơ ấu(1985). Song nếu đọc truyện ngắn "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng..là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Quang Sáng.Chiếc lược ngà viết năm 1966 tại chiến trường Nam Bộ chống Mỹ . vĩnh cửu dù trong chiến tranh..Sau năm 1945.xoay quanh những câu truyện đời thường nhưng ý nghĩa.

khi mà trong mọi tình huống em cũng nhất quyết không gọi tiếng "Ba" .dù là bị mẹ quơ đũa dọa đánh.Trong ba ngày ở nhà.Vết thẹo.cuối cùng khi ông Sáu tức giận đánh một cái thì bỏ về nhà bà ngoại.Có người cho rằng tác giả đã xây dựng tính cách bé Thu hơi "thái quá".Có lẽ trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh.bộc lộ phần nào đó tính cách cứng cỏi ngoan . Hình ảnh bé Thu là nhân vật trọng tâm của câu chuyện.hay khi hất cái trứng mà ông Sáu gắp cho xuống. được tác giả khắc họa hết sức tinh tế và nhạy bén.thẳng thắn .mạng mẽ.biết đến cái cay xè của mùi thuốc súng và sự khắc nghiệt của cuộc sống người chiến sỹ.Những ngày chiến đầu trong rứng. Ông hứa sẽ mang về tặng con một cái lược ngà. ông cặm cụi làm chiếc lược cho con gái.là một cô bé giàu cá tính.có lập trường bền chặt.Khi ông có dịp thăm nhà thì con gái đã lên 8 tuổi.Nguyễn Quang Sáng đã khéo léo xây dựng nhiều tình huống thử thách cá tính của bé Thu.song thiết nghĩ chính thái độ ngang ngạnh đó lại là biểu hiện vô cùng đẹp đẽ mà đứa con dành cho người cha yêu quý.Người cha ấy không giống ông Sáu.Chiếc lược làm xong chưa kịp trao cho con gái thì ông đã hi sinh.dù là bị ông Sáu đánh.Trong tâm trí bé Thu chỉ có duy nhất hình ảnh của một người cha "chụp chung trong bức ảnh với má".Song bé Thu lại không chịu nhận cha vì vết thẹo trên má làm ông Sáu không giống như bức ảnh chụp chung với má.Bé Thu gây ấn tượng cho người đọc về một cô bé dường như lì lợm đến ghê gớm. Đến khi bé Thu nhận ra cha mình thì cũng là khi ông Sáu phải ra đi.bé Thu luôn bộc lộ một con người kiên quyết . ông Sáu dùng mọi cách để gần gũi nhưng con bé vẫn không chịu gọi một tiếng "Ba". dấu tích của chiến tranh đã hằn sâu làm biến dạng khuôn mặt ông Sáu.Cái cảm giác đó không đơn thuần là sự bướng bỉnh của một cô bé đỏng đảnh.Trước khi nhắm mắt ông chỉ kịp trao cây lược cho người bạn nhờ chuyển lại cho con mình.không phải bởi thời gian đã làm ông Sáu già đi mà do cái thẹo trên má.Thu chưa đầy một tuổi.bướng bỉnh và gan góc.nhưng điều khiến người đọc phải bất ngờ là sự nhất quán trong tính cách của bé.nhiễu sách mà là sự kiên định.nó còn quá bé để có thể biết đến sự khốc liệt của bom lửa đạn.dù là bị dồn vào thế bí.

nhưng ở khía cạnh khác cô bé vẫn mong được yêu quý vỗ về. Nhưng xét cho cùng.với tất cả nét hồn nhiên.mạnh mẽ thế nào thì Thu vẫn chỉ là một đứa trẻ mới 8 tuổi.cao lớn nhường nào.làm cho nó một món đồ chơi kể từ khi nó bắt đầu làm quen với cuộc sống.gan góc.Song khi "Chiều đó.thiêng liêng những tâm tư tình cảm vô giá ấy.Nó gần như chưa có chú ấn tượng nào về cha.Có một sự đối lập trong những hành động của bé Thu.giờ trỗi dậy.mà chạy ra vỗ về.vừa tinh tế.song chắc không ít lần nó đã tự tưởng tượng hình ảnh người cha nó tài giỏi nhường nào.khi mà bé Thu nhận ra cha.Có cảm giác bé Thu sợ ông Sáu sẽ nhìn thấy những giot nước mắt trong chính tâm tư của mình? Hay bé Thu dường như lờ mờ nhận ra mình có lỗi?Lại một loạt hành động tiếp theo "Xuống bến nó nhảy xuống xuồng.cái cá tính cố chấp một cách trẻ con của bé Thu được tác giả khắc họa vừa gần gũi.tình cảm có sâu sắc. Ở đoạn cuối.vào cái giây phút mà cha con phải tạm biệt nhau.bước ra khỏi mâm".Khi bị ba đánh.dỗ dành.Nhà văn tỏ ra rất am hiểu tâm lý của trẻ thơ và diễn tả rất sinh động với tấm lòng yêu mến và trân trọng một cách đẹp đẽ.Khi đến ngày ông Sáu phải .mẹ nó sang dỗ dành mấy nó cũng không chịu về".cưng nựng nó.chăm lo cho nó.khua thật to.dẫu có vẻ như cứng rắn và mạnh mẽ trước tuổi.thật khó để phủ nhận bé Thu là đứa bé giàu tính cảm.Tình cha con trong Thu giữ gìn bấy lâu nay.cô bé ấy có bướng bỉnh.có vòng tay rộng để ôm nó vào lòng ra sao?Tình cảm mãnh liệt trong nó ngăn không cho nó nhận một người đàn ông lại kia làm bố.bé Thu "cầm đũa gắp lại cái trứng cá để vào chén rồi lặng lẽ đứng dậy.mở lòi tói.Có ai ngờ một cô bé không được gặp cha từ năm 1 tuổi vẫn luôn vun đắp một tình yêu bền bỉ và mãnh liệt với cha mình.săn sóc.cố làm cho dây lòi tói khua rổn rang .cường của cô gian liên giải phóng sau này.rồi lấy dầm bơi qua sông".Bé Thu bỏ đi lúc bữa cơm nhưng lại có ý tạo tiếng động gây sự chú ý.Có lẽ co bé muốn mọi người trong nhà biết bé sắp đi .dù người cha ấy chưa hề bồng bế nó. ngây thơ của con trẻ.giữa một bên là sự cứng cỏi.Dù như thế thì bé Thu vẫn chỉ là một đứa trẻ 8 tuổi hồn nhiên.già giặn hơn tuổi.

ngây thơ:Nhân vật bé Thu.và đặc biệt ông là người yêu con tha thiết.nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó".nhưng lại có cái gì chặn ngang cổ họng nó.tiếng gọi mà ba nó đã dùng mọi cách để ép nó gọi trong mấy ngày qua.có cá tính mạnh mẽ.".quê hương.Sau ngần ấy năm tham gia kháng chiến.nó cũng muốn chạy lại và ôm hôn cha nó lắm chứ.bỏ lại gia đình.tiếng gọi ba gần gũi lần đầu tiên trong đời nó như thể nó là đứa trẻ mới bi bô tập nói.Tiếng kêu "Ba" từ sâu thẳm trái tim bé Thu..vì nhiệm vụ cao cả mà phải tham gia chiến đấu..nó bỗng kêu hét lên "Ba."vừa kêu vừa chạy xô đến nhanh như một con sóc.Ngòi bút nhà văn khẳng định một nhân vật giảu tình cảm. Ông Sáu càng muốn gần gũi thì dường như sự lạnh lùng. ước mong cha nó sẽ nhận ra sự có mặt của nó.bướng bỉnh của con bé làm tổn thương những tình cảm da diết nhất trong lòng ông.Tiếng gọi ấy không chỉ khiến ba nó bật khóc mà còn mang một giá trị thiêng liêng với nó."lúc đứng ở góc nhà.Lần đầu tiên nó cảm nhận mơ hồ về niềm sung sướng của một đứa con có cha.hôn vai.truyện ngắn "Chiếc lược ngà" ca ngợi tình cha con sâu đậm mà đẹp đẽ.lúc đứng tựa cửa và cứ nìn mọi người vây quanh ba nó.hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa".hình ảnh ông Sáu được giới thiệu là người lính chiến tranh.Còn gì đau đớn hơn một người cha giàu lòng thương con mà bị chính đứa con gái ấy từ .đi.khao khát như muốn vỡ òa ra tring một tiếng gọi cha.Và rồi đến khi cha nó chào nó trước khi đi.làm nó cứ đứng nguyên ở ấy."Nó hôn ba nó cùng khắp. Không chỉ khắc họa thành công nhân vật bé Thu.tiếng gọi mà ba nó tha thiết được nghe một lần.Dường như bé Thu đã lớn lên trong đầu óc non nớt của nó.có cảm giác mọi tình cảm trong lòng bé Thu bỗng trào dâng.con bé cứng cỏi mạnh mẽ ngày hôm nào lại "như thể bị bỏ rơi".hôn cổ.Nó không nén nổi tình cảm như trước đây nữa.Bên cạnh hình ảnh bé Thu.Nó hôn tóc.kiên quyết nhưng vẫn hồn nhiên.Bao nhiêu mơ ước.Nhưng cái ngày gặp lại con thì lại nảy sinh một nỗi éo le là bé Thu không nhận cha. ông Sáu vẫn luôn nung nấu khao khát cháy bỏng là được gặp con và nghe con gọi một tiếng cha.dường như nó thèm khát cái sự ấm áp của tình cảm gia đình .

" Ông thận trọng tỉ.chỉ có một ánh mắt với niềm ước nguyện cháy bỏng mong người bạn của mình sẽ là người thực hiện nốt lời hứa duy nhất của mình với con.có lúc lại thương xót..chối.Giá gì không có cái bi kịch ấy. đó là mong ước đơn sơ của con gái bé bỏng trong giây pút cha con từ biệt.Lòng yêu con đã biến một người chiến sỹ trở thành một nghệ nhân sáng tạo tài tình.móc lấy cây lược."...chứa chất trong lòng.một tay rút khăn lau nước mắt").song lại rơi khi lần đầu tiên ông cảm nhận được sự ấm áp của cha con thực sự!("Không ghìm được xúc động và không muôn cho con thấy mình khóc.Có lẽ ông biết rằng mình cũng không đúng vì suốt bảy năm trời chẳng thể về thăm con.Nhưng sợ rằng một câu truyện như vậy sẽ chẳng thể gây được cảm động cho người đọc với những xúc cảm khác nhau.quen với cái chết cận kề lại là người vô cùng yếu mền trước con gái mình.có lúc dồn nén.tiếng gọi muộn màng nhưng lại có ý nghĩa đẹp đẽ! Ai có thể ngờ được một người lính dạn dày nơi chiến trường.nỗi nhớ con dồn cả vào công việc làm chiếc lược ấy.Nhưng đối với người cha thì đó là mơ ước đầu tiên và duy nhất.Tình cảm ông Sáu dành cho bé Thu trở nên thiêng liêng.hạnh phúc.chẳng làm gì được cho con.Tình cảm của ông sáu khiến người ta phải thấy ấm lòng . Ông nâng niu chiếc lược như nâng niu đứa con bé nhỏ của mình.cho nên nó cứ thôi thúc trong lòng ông.cao cả và mãnh liệt hơn biết bao khi ông tự tay làm chiếc lược ngà cho con.Những giọt nước mắt hiếm hoi của một cuộc đời từng trải nhiều gian khổ vất vả.Cuối truyện có chi tiết ông Sáu đưa tay vào túi.giá gì bé Thu nhận ra ông Sáu sớm hơn.anh Sáu một tày ôm con.Có thể coi việc bé Thu hất cái trứng ra khỏi chén như một ngòi nổ làm bùng lên những tình cảm mà bấy lâu nay ông dồn nén."Ba về!Ba mua cho con một cây lược nghe ba!".nên nhân những ngày này ông muốn bù đắp cho con phần nào.dù chỉ sáng tạo môt tác phẩm duy nhất trong đời.đưa cho bác Ba và nhìn một hồi lâu.thì có thể ông Sáu và bé Thu sẽ có nhiều thời gian vui vẻ. Ông Sáu hi sinh mà không kịp trăn trối điều gì.."Một loạt hành động cảm động như khẳng định tình cha con sâu đậm."Khi ông Sáu tùm được khúc ngà sung sướng như trẻ con vớ được quà".Tất cả tình yêu.có lúc lại "mừng mừng tủi tủi" cho ông Sáu khi mà bé Thu cất tiếng gọi "Ba".mỉ."Ông gò lưng khắc từng nét.

Có thể chiếc lược ấy chưa chải đượcmais tóc của bé Thu nhưng lại gỡ rối được tâm trạng của ông.gạch nối giữa cái mất mát và sự tồn tại.bất khuất. "Chiếc lược ngà" như một câu chuyện cổ tích hiện đại.Chính chiến tranh đã làm cho con người phải xa nhau.những đau thương mất mát mà chiến tranh tàn bạo đã gây ra.mạnh mẽ. đơn sơ mà đằm thắm. Đó thật sự là tội ác.là tổ ấm gia đình không còn trọn vẹn.sống hết minh vì cách mạng kháng chiến của quê hương.người còn nhưng kỷ vật duy nhất.chiến tranh làm khuôn mặt ông Sáu biến dạng.Câu chuyện như một lời tố cáo chiến tranh phi nghĩa gây đổ máu vô ích. Chiếc lược ngà xuất hiện đánh dấu một kết cấu vòng tròn cho câu chuyện.gắn bó máu thịt với những con người giàu tình yêu.nhân hậu mà rất kiên cường.Nhân vật ông Ba-người kể chuyện hay chính là nhà văn Nguyễn Quang Sáng.chiến tranh khiến cuộc gặp gỡ của hai cha con vô cùng éo le.thành công trong việc xây dựng hình thượng bé Thu và gửi gắm thông điệp đẹp về tình cha con.lòng căm thù đã biến Thu trở thành một cô giao liên dũng cảm.nha văn mới có .và cảm động sâu sắc.và là minh chứng chứng kiến lòng yêu thương vô bờ bến của ông Sáu với con. đã gắn bó với cuộc đời con người mất mát xích lại gần nhau để cung đứng lên hát tiếp bài ca chiến thắng.Chiếc lược ngà là kết tinh tình phụ tử mộc mạc.chiếc lược ngà vẫn còn ở đây.phải là người từng trải.là hiện hữu của tình cha con bất tử giữa ông Sáu và bé Thu.kỳ diệu.Song cái chúng ta thấy lại không có sự bi lụy ma là sức mạnh.người người xa nhau vĩnh viễn.và cũng là bài ca đẹp tồn tại vĩnh cửu của tình cha con.bị thử thác.làm nhà nhà li tán. (Nhan đề của chuyện cũng là "Chiếc lược ngà"!) Cái mất mát lớn nhất mà thiên truyện ngắn đề cập là những người đã khuất.rồi một lần nữa chiến tranh lại khắc nghiệt để ông Sáu chưa kịp trao chiếc lược ngà đến tận tay cho con mà đã phải hi sinh trên chiến trường. Người mất.(Người đọc có thể bắt gặp tình huống này một lần nữa ở truyện "Chuyện người con gái Nam Xương").

.có những thứ tình cảm đẹp vẫn nảy nở: tình đồng chí.bất ngờ.tình cảm gia đình.nhưng từ chính trong gian khổ khốc liệt.sáng tạo nhiều hình tượng với các chi tiết sinh động.cảm động! Chiến tranh là hiện thực đau xót của nhân loại.và cả tình của một người cha với con gái.hơn nữa lại có giọng văn dung di.Truyện ngắn "Chiếc lược ngà" là một áng văn bất hủ ca ngợi tình phụ tử giản dị mà thiêng liêng.tình yêu đôi lứa.với những con người giàu tình cảm và đẹp đẽ.thể nhập hồn được vào các nhân vật.như nhân vật bé Thu.

Là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. mỗi khi khoe về làng là ông khoe về những ngày khởi nghĩa dồn dập. da mặt tê rân rân" ông lão lặng đi.. sầm uất. ông nói một cách say sưa mà không cần biết người nghe có chú ý hay không. Có thể tình yêu nước của họ bắt nguồn từ cái đơn giản. Truyện ngắn "Làng" là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân đc viết trong thời kì đầu của cuộc khánh chiến chống Pháp (1948). và nâng cao lên đó chính là : tình yêu đất nước.Kim Lân wwwkimson | 19 December. Ông còn khoe cả những hố . yêu làng xóm. Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt nông thôn và cảnh ngộ của người nông dân. Quả thật.. vinh dự vì làng mình có cái nét độc đáo. là chợt nhớ đến câu nói bất hủ của nhà văn I-li-a Ê-ren-bua : "lòng yêu nhà. trời mưa đi từ đầu làng đến cuối xóm bùn không dính đến gót chân. Tự hào và yêu nơi " chôn rau cắt rốn" của mình trở thành một truyền thống và tâm lý chung của mọi người nông dân thời bấy giờ. Đây là một tác phẩm độc đáo viết về lòng yêu nước của ông Hai Tu. giếng nướ. Tình cảm và ý nghĩa này đã trở thành phổ biến ở mỗi người nông dân VN ta trong những ngày đầu chống Pháp. Và từ đó.Phân tích "Làng" . những ụ. yêu miền quê trở nên lòng yêu TQ ". nhỏ : cây đa. lòng yêu nước này xuất phát từ tình yêu quê hương. Ông Hai yêu cái làng chợ Dầu của ông thật đậm đà.. Nhưng khi cách mạng thành công. Tới đây. lắm công trình không để đâu hết. Chính cái tình huống ngặt nghèo khi giặc tràn vào làng. Những ngày ở làng Thắng. ông buộc phải xa làng. Kể về làng chợ Dầu. không có lấy một hạt thóc đất.. Ông khoe làng ông có nhà ngói san sát. nên lúc tản cư. những hào. tưởng như không thể thở được. yêu đến nỗi đi đâu ông cũng khoe về cái làng của ông. Tháng 5 ngày 10 phơi rơm và thóc tốt thượng hạng. Ông cảm thấy đâu đớn và nhục nhã vì cái làng chợ Dầu yêu quý của mình theo giặc. những buổi tập quân sự có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập. ông Hai suốt ngày ra trụ sở để nghe ngóng tin tức về làng chợ Dầu và ông nghe tin cả làng ông Việt gian theo tây. nó đã giúp ông hiểu dc sự sai lầm của mình. Ông tự hào. yêu làng sâu sắc của ông. ông đã có sáng tác đăng báo từ trước cách mạng tháng 8. Ông còn tự hào về cái sinh phần của tổng đốc làng ông. Cổ ông lão " nghẹn ắng lại. gắn bó với nông dân và nông thôn. đường trong làng lát toàn bằng đá xanh. sân đình. Ông nguyền rủa bọn theo Tây : "chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã . ông khổ tâm day dứt khôn nguôi. 2010 11:49 Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài sinh năm 1921. có bề dày lịch sử. Là nhà văn am hiểu sâu sắc. Xa làng ông mang theo tất cả nỗi niền thương nhớ. quê ở Hà Bắc. tha thiết . Vì vậy. cuộc đời và số phận của ông Hai thật sự gắn bó với buồn vui của làng..

tủi nhục. Yêu làng đến nỗi đi đâu cũng khoe về làng. theo Đảng khánh chiến đến .thế này". nỗi niềm và tâm sự của ông được thể hiện trong những lời trò chuyện của ông với đứa con út. bên cạnh đó Kim Lân còn thành công trong việc miêu tả tâm lý nhân vật. Họ đã đặt tình yêu đất nước lên trên tình yêu làng. hả hê: " bác Thứ đâu rồi ! Bác Thứ làm gì đấy ? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Kim Lân đã chứng tỏ được tài nghệ của mình. Truyện "Làng" là một tác phẩm khá thành công khi viết về lòng yêu nước. suốt ngày ru rú trong nhà và nghe ngóng tin tức. Phải thực sự am hiểu sâu sắc về con người. miêu tả sự phát triển tâm lý nhân vật như vậy. Kim Lân đã thể hiện được tài năng của mình qua tác phẩm này. Những nỗi lo âu. Cái lòng của bố con ông là thế đấy "chết thì chết có bao giờ dám đơn sai" Thế rồi.. sung sướng. trong những ngày này. Xây dựng được những chi tiết ấy. Đến khi mụ chủ nhà đến báo không cho gia đình ông ở nữa. điều làm ta cảm động đó là ông không hề tiếc hay buồn khi ngôi nhà của ông bị đốt .. nhất là tâm lí của người dân thì Kim Lân mới diễn tả đúng tâm trang nhân vật như vậy. một trong những người dân bấy giờ. Nhưng trong đó. Cũng chình từ lúc ấy. Ông đi từ đầu làng đến cuối xóm khoe cái tin làng mình không theo giặc. Đọc tác phẩm giúp ta hình dung được một thời kỳ chống Pháp sôi nổi của nhân dân. Khi biết làng bị tình nghi theo giặc thì ông đâu khổ. buồn tủi đã được rũ sạch. thậm chí còn khoe cả tin nhà mình bị đố cháy một cách vui sướng. ông sung sướng. cái tin. tiêu biểu cho tầng lớp nông dân VN sau cách mạng tháng 8. Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả". nhưng làng theo Tây thì phải thù. đơn giản. Niềm vui vì làng không theo giặc đã choáng hết tâm trí ông. Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả" Qua lời khoe củ ông Hai. ông thấy tuyệt đường sinh sống và ông nảy ra ý định: "hay là quay về làng ?" nhưng rồi ý nghĩ đó lập tức bị ông lão phản đối ngay vì : " làng thì yêu thật. tình yêu đất nước được ông Hai đặt lên trên hết. Lời nói của ông hai đúng là lời nói của những người nông dân thời bấy giờ. Kim Lân thật thành công trong nghệ thuật xây xựng truyện. Mọi đau khổ. Hai tình cảm này đã dẫn đến cuộc xung đột nội tâm trong lòng ông. nhất là nghệ thật sử dụng ngôn ngữ nhân vật mà ông Hai là điển hình. hả hê. kể cả những từ dung sai: "bác Thứ đâu rồi. yêu làng của người nông dân VN thời kháng chiến chống Pháp. chất phác. Thay vào đó là nỗi vui mừng. làng và nước bay giờ đã trở thành đối địch. Quả thật. Trò chuyện với cn như là để thanh minh cho làng mình. Ông hỏi con: "con ủng hộ ai?" Thằng bá giơ tay mạnh bạo và rành rọt: " Ùng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm". và khi biết làng mình không theo giặc. cái tin làng chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. một tin khác lại đính chính rằng làng ông không theo giặc. khoe cả cái việc nhà ông bị đốt cháy một cách sung sướng.. Kim Lân rất thành công trong việc khắc họa hình ảnh của ông Hai. ông ấy cho biết. Đốt nhẵn ! ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính. ông không dám đi đâu hết. xấu hổ tan biến.. Diễn biến tâm lý của ông Hai từ đầu đến cuối truyện thật cảm đông. mọi người một lòng theo Bác." Có thể nói với ông Hai.

Dàn ý: Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 . chưa tin. hôm nay dăm khẩu. 2.1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc.. làm gì mà thằng Tây không bước sớm". ông nhớ quá cái khong khí "đào đường. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc. tích tiểu thành đại. b. thích bìh luận. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới. in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có." đã xong chưa? .. Tình yêu làng. có lẽ vì vẫy mà cuộc chiến của ta đã dành được thắng lợi vẻ vang..".. từ lâu đã am hiểu người nông dân. đắp ụ. B. ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm. ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân . Đi kháng chiến. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc.Ông hay khoe làng. tinh thần kháng chiến.Thân bài 1. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người.. . Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi.. khuân đá. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. Sau cách mạng.cùng. xẻ hào. thông qua một con người cụ thể. cả súng cũng vậy. đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. Phải xa làng. những đường hầm bí mật. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng. Nhưng khi người ta kể rành rọt. .. . rồi ông lo "cái chòi gác. tình yêu nước. nhân vật ông Hai.Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến. tình cảm quê hương đất nước.Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần.. ông xấu hổ lảng ra về. c. đi theo kháng chiến. .Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước. người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.Được cách mạng giải phóng. ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm. ông sững sờ. Ông gắn bó với thôn quê. một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai. chỗ kia giết một tí. a. ngày mai dăm khẩu. . không tin không được. náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi "Cứ thế. trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. chỗ này giết một tí.Khi mới nghe tin xấu đó.

bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai. Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp. gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ.Về đến nhà. . . hắt hủi".Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông. Ông giận những người ở lại làng. . + Qua đó. ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu. bố của nó. hành vi. chân thành.Tình cảm đối với kháng chiến. 3. ta thấy rõ: Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc). càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó "cũng bị người ta rẻ rúng. . Khi cái tin kia được cải chính.Ba bốn ngày sau. . Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt. + Ông mong "Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. Ông luôn hoảng hốt giật mình. Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc.. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà.Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông". Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ. d. . . . Nhưng cái tâm lí "không có lửa làm sao có khói". nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ "đổ đốn" ra thế.Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá.Miêu tả rất cụ thể. Tình cảm đó sâu nặng. Nhưng tình yêu nước. lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: "Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù". với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: "ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!" nữa là ông. lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân. Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động. đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân. vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. ngôn ngữ đối thoại và độc thoại. nhìn thấy các con. ông không dám ra ngoài. gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ.Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí "Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước" của người nông dân lao động bình thường.

C. . . người đọc thấm thía tình yêu làng.Qua nhân vật ông Hai.Kết bài: . Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý. cao quý trong những người nông dân lao động bình thường. chân thành mà vô cùng sâu nặng.Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật. yêu nước rất mộc mạc.

Ðó chính là bi kịch về số phận con người. tự trọng. Nét riêng của Chuyện người con gái Nam Xương là hai yếu tố thực và truyền kì không đan xen vào nhau mà kết cấu thành hai phần. Chỗ kì bút của Nguyễn Dữ là đã bắt nắm được một tình huống éo le như vậy. cũng như con đã chẳng nỡ phụ mẹ”. đẹp một cách có văn hoá. khi thông qua lời nói. khi chia tay. Ðến khi người chồng đi chinh chiến trở về nghi oan cho nàng. gây cách biệt. khi hành động. loạn li. nàng là “người lành”. Khi chung sống với nhau. thiết tha với hạnh phúc. thiết tha với hạnh phúc này phải chết . Khi tiễn chồng đi tòng quân. Phần thực là cơ sở để xây dựng phần truyền kì (phần thực. vấn đề mà Chuyện người con gái Nam Xương đặt ra là vấn đề có tính khái. Có lẽ đó cũng là bi kịch của muôn đời. hay ghen nên “nàng giữ gìn khuôn phép” cho gia đình hoà thuận. Ngòi bút Nguyễn Dữ tỏ ra già dặn. thiếu sáng suốt. hiếu thảo nhưng cũng là một người phụ nữ khí khái. Mối quan hệ đó diễn ra ở những thời điểm khác nhau. vùa góp phần làm rõ những yếu tố ở phần thực. Bằng mối liên hệ giữa hai phần. gian nguy của người chồng trước rồi mới nhận ra sự lẻ loi của mình. tôi muốn nói thực của văn học). Bởi vậy. biết Trương Sinh là người có tính đa nghi. Mối quan hệ với Trương Sinh diễn ra trên bốn thời điểm: khi chồng ở nhà. quát giàu ý nghĩa nhân văn. Ngày xưa. Những kẻ như thế xưa nay tùng gây ra bao nỗi . nàng nuôi con thơ. Nàng nói với chồng: “Lang quân đi chuyến này. Phần truyền kì vùa làm cho câu chuyện thêm lung linh hư ảo. Nàng nghĩ đến những khó nhọc. Người con gái Nam Xương Vũ Thị Thiết là nhân vật chính xuyên suốt hai phần của tác phẩm. Vũ nương tỏ bày không được thì tự vẫn. chúng ta chỉ biết Vũ nương là người “có tư dung tốt đẹp”. Trong con mắt của người mẹ chồng ấy. nhưng căn bản là người chồng mù quáng đa nghi. khi thái độ hình ảnh Vũ nương hiện lên là một người trong trắng thuỷ chung. số phận của con người lại được định đoạt tù một câu chuyện đùa về một cái bóng. không hư danh. Trong văn chương nước ta cũng như thế giới không hiếm những câu chuyện xen những yếu tố truyền kì. nhà văn làm nổi bật tính cách nhân vật và thể hiện chủ đề của tác phẩm. nhà văn đã để cho chính người mẹ chồng ấy nhận xét về tấm lòng hiếu thảo của nàng trước khi bà cụ qua đời: “Sau này trời giúp người lành ban cho phúc trạch. tính cách của Vũ nương được thể hiện ở lời đưa tiễn. một tâm hồn có văn hoá. Nguyễn Dữ không chú trọng việc miêu tả hình thức. thân mẫu của Trịnh Trang Công trong Ðông Chu liệt quốc đã gây ra bao chuyện phiền phức dẫn đến cảnh đầu rơi máu chảy chỉ vì bà ghét Trịnh Trang Công khi xưa sinh ngược khiến bà phải đau đớn. Tù cách nói đến nội dung của những câu nói hiện lên một Vũ nương dịu dàng. thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu trở về quê cũ. Con người đẹp. Tính cách nhân vật được thể hiện qua hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ với chồng và mẹ chồng. đó là chỗ éo le phức tạp trong đời sống tâm hồn con người. thương chồng và giàu lòng vị tha. chăm sóc mẹ chồng như mẹ đẻ của mình. Dường như Nguyễn Dữ đã tập trung những nét đẹp điển hình của người phụ nữ Việt Nam vào hình tượng Vũ nương.Phan tich nhan vat Vu Nuong trong chuyen nguoi con gai Nam Xuong Bài 1 : Nghĩ chuyện trên đời kì lạ thật. giống giòng tươi tốt… xanh kia quyết chẳng phụ con. khi xa chồng và khi chồng trở về. giàu lòng vị tha. Ở tùng thời điểm ấy. Chuyện đời vẫn thế. Khi thì cách xủ thế. chứ không sống “chịu tiếng nhuốc nhơ”. Ðó là một tâm hồn đẹp. sống chết. Chuyện tình duyên. nhân vật bộc lộ cá tính của mình. Vấn đề này biết bao nhà văn xưa nay tùng trăn trở. Trong những ngày xa chồng. chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên”. Phía sau tấn bi kịch của Vũ nương có một cuộc sống chinh chiến.

Bài 2 : Người con gái Nam Xương Vũ Thị Thiết có "tư dung tốt đẹp". -->cơ sự cũng vì vậy mà nảy sinh. Nàng vùa là nạn nhân nhưng cũng là tác nhân.oan trái. Bởi chính nàng đã lấy cái bóng làm cái hình.. khi xa chồng và khi chồng trở về. nhất là người phụ nữ trong xã hội đương thời như Vũ nương. thiết tha gắn bó với quê hương đời sống mà không được sống. Nhà văn đã đi sâu khai thác những vẻ đẹp và nỗi đau khổ xót xa phức tạp của tâm hồn con người.Tính cách nhân vật được thể hiện qua hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ với chồng và mẹ chồng. Nàng nghĩ đến những khó nhọc. tính cách của Vũ nương được thể hiện ở lời đưa tiễn. Nàng nói với chồng: “Lang quân đi chuyến này. biết Trương Sinh là người có tính đa nghi. khi chia tay.một người dương thế . lấy cái hư làm cái thật. Phần truyền kì trong câu chuyện là chuyện Vũ nương không chết. chăm sóc mẹ chồng như mẹ đẻ của mình. Nhưng dụng ý của nhà văn đưa phần truyền kì vào câu chuyện không chỉ có thế. nàng nuôi con thơ. Ngòi bút Nguyễn Dữ tỏ ra già dặn. một tâm hồn có văn hoá. thiết tha với hạnh phúc. Tính cách của nàng và bi kịch như được tô đậm khơi sâu một lần nữa. Chồng nàng :Trương Sinh là người có tính đa nghi. vì nàng là cái Ðẹp. Nhà văn đã tạo ra một cuộc gặp gỡ kì thú giữa Phan Lang . Tù cách nói đến nội dung của những câu nói hiện lên một Vũ nương dịu dàng. hay ghen nên “nàng giữ gìn khuôn phép” cho gia đình hoà thuận. Khi tiễn chồng đi tòng quân. nhân vật bộc lộ cá tính của mình. Khi chung sống với nhau. không hư danh. Cũng qua đó. Cuộc gặp gỡ ấy đã làm sáng tỏ thêm những phẩm chất của Vũ nương. Nguyễn Dữ muốn khẳng định một chân lí nghệ thuật: cái Ðẹp là bất tủ. Trích: Tính cách nhân vật được thể hiện qua hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ với chồng và mẹ chồng. Nói cho cùng. hay ghen nên “nàng giữ gìn khuôn phép” cho gia đình hoà thuận.. thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu trở về quê cũ. hiện thực của câu chuyện là hiện thực về tấm lòng của nhà văn trước những vấn đề của cuộc sống. Ðó cũng là một thứ sản phẩm hằng có trong xã hội con người. chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên”. Vũ nương không sống được ở cõi đời thì sẽ sống vĩnh hằng ở cõi tiên. nhà văn khẳng định một chân lí nghệ thuật phảng phất như trong các truyện cổ dân gian… Thánh Gióng về trời. nhà văn đã để cho chính người mẹ chồng ấy nhận xét về tấm lòng hiếu thảo của nàng trước khi bà cụ qua đời: “Sau này trời giúp . gian nguy của người chồng trước rồi mới nhận ra sự lẻ loi của mình. thương chồng và giàu lòng vị tha. Ở tùng thời điểm ấy. đổ vỡ trong đời. Trong những ngày xa chồng. trở về sống trong Quy động của Nam Hải Long Vương… đó là cuộc sống đời đời. An Dương Vương xuống biển… kì lạ mà cũng rất thực. Mối quan hệ với Trương Sinh diễn ra trên bốn thời điểm: khi chồng ở nhà. Cho nên vấn đề tưởng chùng rất riêng ấy lại là vấn đề điển hình của cuộc sống. Nàng quả thật là một con người thiện căn. Âu đó cũng là một bài học sâu sắc của muôn đời vậy. Tất nhiên trong tấn bi kịch này có phần của Vũ nương. Khi Phan Lang nhắc đến chuyện nhà của tổ tiên thì Vũ nương “ứa nước mắt khóc”. Mối quan hệ đó diễn ra ở những thời điểm khác nhau.với Vũ Nương nơi động tiên.

như trong truyện cổ của Hans Christian Andersen (1805-1875) hay trong William Wilson[4] của Edgar Allan Poe (1809-1849). vấn đề mà Chuyện người con gái Nam Xương đặt ra là vấn đề có tính khái. chứ không sống “chịu tiếng nhuốc nhơ”. Nhà văn đã tạo ra một cuộc gặp gỡ kì thú giữa Phan Lang . Nhưng dụng ý của nhà văn đưa phần truyền kì vào câu chuyện không chỉ có thế. lấy cái hư làm cái thật. đồng thời khẳng định giá trị thực thể của chủ nhân.xã hội. Vấn đề này biết bao nhà văn xưa nay tùng trăn trở." Cái bóng có lúc lại trở thành một phân thân nổi loạn chống lại chủ nhân của nó. Nàng quả thật là một con người thiện căn. Trong con mắt của người mẹ chồng ấy. Có lẽ đó cũng là bi kịch của muôn đời. Chiếc bóng sinh động của con người âm thầm song hành với chủ nhân của nó qua những hành vi mang giá trị đạo đức . Những kẻ như thế xưa nay tùng gây ra bao nỗi oan trái. hiếu thảo nhưng cũng là một người phụ nữ khí khái. đẹp một cách có văn hoá. nàng là “người lành”. -Cái bóng: Phân thân và phản thân "Con người là một thực thể xã hội sống. Ðến khi người chồng đi chinh chiến trở về nghi oan cho nàng. thậm chí đối lập nhau. Trong mỗi con người đều tồn tại nhiều “tiếng nói” khác nhau. Vũ nương không sống được ở cõi đời thì sẽ sống vĩnh hằng ở cõi tiên. Cho nên vấn đề tưởng chùng rất riêng ấy lại là vấn đề điển hình của cuộc sống. Cuộc gặp gỡ ấy đã làm sáng tỏ thêm những phẩm chất của Vũ nương. Dường như Nguyễn Dữ đã tập trung những nét đẹp điển hình của người phụ nữ Việt Nam vào hình tượng Vũ nương. Âu đó cũng là một bài học sâu sắc của muôn đời vậy. quát giàu ý nghĩa nhân văn. Khi Phan Lang nhắc đến chuyện nhà của tổ tiên thì Vũ nương “ứa nước mắt khóc”. cũng như con đã chẳng nỡ phụ mẹ”. thiếu sáng suốt. gây cách biệt. Nguyễn Dữ muốn khẳng định một chân lí nghệ thuật: cái Ðẹp là bất tủ. khi hành động.một người dương thế . loạn li. . Bởi chính nàng đã lấy cái bóng làm cái hình. Phía sau tấn bi kịch của Vũ nương có một cuộc sống chinh chiến. thiết tha với hạnh phúc này phải chết . khi thái độ hình ảnh Vũ nương hiện lên là một người trong trắng thuỷ chung. cùng những quan hệ biện chứng giữa ý thức và tiềm thức của nó. đổ vỡ trong đời. của ý thức (consciousness) và tiềm thức (subconsciousness). Tất nhiên trong tấn bi kịch này có phần của Vũ nương. Tính cách của nàng và bi kịch như được tô đậm khơi sâu một lần nữa. vì nàng là cái Ðẹp. khi thông qua lời nói. Khi thì cách xủ thế. Ðó cũng là một thứ sản phẩm hằng có trong xã hội con người.với Vũ Nương nơi động tiên. Chính do có thể được dùng như hình tượng văn học để thể hiện con người với tư cách một thực-thể-đạo-đức. giống giòng tươi tốt… xanh kia quyết chẳng phụ con. Nhân cách tiềm thức được hình tượng hóa thành phân thân. Nàng vùa là nạn nhân nhưng cũng là tác nhân.Ðó chính là bi kịch về số phận con người. giàu lòng vị tha. Bởi vậy. thiết tha gắn bó với quê hương đời sống mà không được sống. Con người đẹp. tự trọng. nhưng căn bản là người chồng mù quáng đa nghi. trở về sống trong Quy động của Nam Hải Long Vương… đó là cuộc sống đời đời. Ðó là một tâm hồn đẹp. Phần truyền kì trong câu chuyện là chuyện Vũ nương không chết. được quy định bởi những thiết chế đạo đức nhất định. Vũ nương tỏ bày không được thì tự vẫn.người lành ban cho phúc trạch.

đặc biệt là cái ghen. bằn bặt vậy. mặc cởi lo ngờ. con bèn kêu khóc chẳng khứng đi. Nàng Vũ ở lại nhà. chàng Trương gạn hỏi nguồn cơn. thời chưng ngờ sự cuốn đay xin lửa kia rễ bám càng sâu gắn mà chẳng khả cởi vậy. kiến văn hạn hẹp.người phát ngôn của thông tin tày trời nọ - . đấy hẳn phải là gian phu. tự dằn vặt mình và làm khổ người. Trương nhiếc móc vợ.” “láng giềng chưng bảo. lẽ ra bé Đản .”[21] Mấy lời miêu tả thơ ngây của Đản tựa như những câu thai đố mà chàng Trương phải giải.”[18] Bé Đản . quy hết tội tình cho vợ. đòi thời ruồng đuổi”. “song dõi hỏi thửa lời ấy bởi đâu chưng lại. Kênh giao tiếp song phương giữa hai vợ chồng bị cắt đứt. tròn phận nàng dâu hiếu nghĩa. “thời mẹ già đã từ nhà. khác chẳng bằng cha thuở nọ lặng vậy.những người vun đắp nên các mối quan hệ nọ.để an ủi ngóc ngách nào đó trong tâm hồn nàng :chồng nàng đang ở một nơi nào đó .[22] Trong tình huống đặc biệt này.”[20] “Mẹ Đản đi thời cũng đi. Nhân chứng thân thiết duy nhất còn lại nay là bé Đản. Trương tri giác. vì người chết sẽ thôi không nói được nữa. Chỉ có điều do hướng giải đoán không rõ. về nhà hỏi trẻ.Câu chuyện về cái bóng của mình mà Vũ Nương kể cho con nàng nghe chẳng qua như thể đang tâm sự với chính mình . mẹ Đản ngồi thời cũng ngồi.cái bóng tỏ ra rất hiệu quả trong việc diễn tả những ngóc ngách tâm lý. ngỡ mình là nạn nhân. đó là cha. thời giấu lời con chẳng nói.và hình bóng người chồng không lúc nào xa rời nàng-->Liệu như thế có phải là đáng trách khi gián tiếp gây ra cơn ghen của Trương Sinh(đêy là suy nghĩ của mình. cả người “đố” lẫn người “giải” đều chăm chắm vào một con người nào đấy có thực (xuất nhân): với Đản." Trích: Biên cương bị ngoại xâm. thác nguyện chỉ một điều: “Xin Trời xanh kia chớ phụ dâu mới.”[24] Trương nín lặng.”[19] Sững sờ khi thấy Đản không nhận mình là cha. Đản bảo chàng chẳng giống người nó từng gọi là cha. cùng tính cả ghen của Trương đã khiến chàng lạc lối. chinh phụ tiết trinh. con trẻ đã học nói vậy. chẳng nghe vào tai vậy. Dắt con một mình đi.”[23] Chàng thụ khổ. lời trối ấy chỉ mình nàng nghe.nhân chứng nay sẽ là người để chàng Trương thực hiện vế sau của câu: “Đi hỏi già. con người có được cái nhìn phản thân thông qua nhãn quan đạo đức không ngừng kiến tạo và chuyển hóa từ những quan hệ trong môi trường sống và từ tha nhân .”[25] Đến đây. họ hàng chưng nói. Mẹ chồng và con trẻ là hai chứng nhân khả tín nhất cho tấm lòng son sắc của nàng.) Bởi "con tim không chỉ đơn giản là một vật chỉ biết làm theo ý ta muốn. với chàng Trương. nàng chẳng hề muốn gieo tai họa cho ai khác. Đáng tiếc. chẳng kịp thấy mặt con. lặng thinh theo mẹ không rời: “Ngươi chỉn hay nói. Thế nhưng. nhưng khi nàng Vũ “xin giãi lòng ấy.” Dắt con ra thăm mộ mẹ là việc chàng làm trước tiên: “Hỏi mồ mẹ thửa ở đâu. Chỉ âu lo với niềm bất hạnh của chính mình. bằng dâu mới chưng chẳng phụ mẹ già vậy. mẹ hiền tần tảo. Khi chàng Trương xuất ngũ trở về. người chỉ đến lúc đêm về. Song chửa từng đến cùng con là Đản này dắt ẵm vậy. tình cảm. chỉ còn là đơn tuyến.”[17] Lời trối trăng của người mẹ cũng là lời chứng cho đức hạnh của nàng khi chồng đồn thú biên viễn xa xăm. mẹ già sớm quy tiên. lý giải sai lầm tình huống nọ. “sỉ nhục nhiều phương.” "Ở cấp độ nội tâm cao hơn. là người bị bội phản “Đến khi nghe lời con nói.^^. chàng Trương phải sung binh ra miền quan ải.

đối thoại tưởng tượng giữa người và bóng vẫn có thể thiết lập được. Đó là tất cả ý nghĩa mà chúng ta có thể nhận ra được từ : Chuyện người con gái Nam Xương. nhưng giữ hạnh phúc cho được lâu bền lại càng là một điều khó khăn hơn.. bơ vơ. Đản lặng thinh như chưa từng nói ra chi tiết oan khiên nọ. Miếu ai như miếu vợ chàng Trương. Trước kia.. Thực chất là Vũ Nương đã bị bức tử.phải được xét hỏi “ba mặt một lời” để vãn hồi sự câu thông cần thiết giữa hai vợ chồng. Dẫu bóng câm lặng.. tâm sức chắt chiu để vun đắp gìn giữ cái gia đình bé nhỏ đã trở nên hoàn toàn vô nghĩa. cả thời gian dài.. Đản. Hãy tôn vinh hạnh phúc và đừng làm bất cứ điều gì có thể làm huỷ hoại tổn thương đến hạnh phúc đôi lứa và gia đình.đặc biệt là người phụ nữ đến với hạnh phúc . thái độ ghen tuông cay nghiệt và mù quáng của chàng Trương đã giết chết người vợ đoan chính đáng thương. vậy nên. Giải oan chẳng mấy lọ đàn tràng. Cung nước chi lo luỵ đến nàng. Bao nhiêu công sức." (Lê Thánh Tông) -->Chiếc bóng giờ đây khiến ta hoài nghi nó có phải là một thế lực vô hình ngăn cản con người . tôn trọng lẫn nhau và tránh xa những ngộ nhận đáng tiếc. ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng . Chiếc bóng -tấm lòng yêu thương ->trở thành nguyên nhân của nỗi oan bi kịch. dựa trên cơ sở hợp nhất và phân thân: Thiếp với chàng tuy hai mà một. sự hồ đồ. "Nghi ngút đầu ghềnh toả khói hương. Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng. Và điều quan trọng hơn hết để có được hạnh phúc là phải thực sự hiểu được nhau. an ủi nàng sống. nàng đã trắng tay. Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ. tối tăm. Không ai hỏi đến. Có được hạnh phúc đã là một điều khó khăn. Thế nhưng. không lối thoát. Qua đây bàn bạc mà chơi vậy. nên tìm đến cái chết . . dẫu câm lặng. đến số phận con người. nhìn bóng mình thiếp tưởng dáng ai trên tường.. tắt sóng lặng câm. "Hãy quan tâm đến thân phận người phụ nữ. hay Chen Cai trong Cái bóng. nàng vò võ với một chiếc bóng. Và cũng như Rokujo trong Nguyên thị vật ngữ. giờ như một kênh thông báo vô hiệu hóa.. Sự im lặng và khinh bạc của chàng Trương đã đẩy nàng Vũ đến cực điểm bi phẫn. nhưng vẫn là nguồn động viên. sự im lặng của chồng nay đẩy nàng đến quyết định quyên sinh. vũ phu của đàn ông và luật lệ phong kiến hà khắc dung túng cho sự độc ác. nhân chứng cuối cùng. nhưng nàng đi đến cái chết thật bình tĩnh : tắm gội chay sạch. Cái chết ấy là sự đầu hàng số phận nhưng cũng là lời tố cáo thói ghen tuông ích kỉ. Chứng quả đã dôi vầng nhật nguyệt.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful