Phân tích bài thơ "Nói với con" của Y Phương (Nguồn Lê Bá Duy

)
wwwkimson | 18 December, 2010 20:00 Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Trùng Khánh - Cao Bằng ,thấm nhuần những tinh hoa, cái đẹp của dân tộc Tày , Y Phương (1948) là một nhà thơ tiêu biểu cho các dân tộc miền núi ."Thơ Y Phương như một bức tranh thổ cẩm đan dệt nhiều màu sắc khác nhau ,phong phú và đa dạng ,nhưng trong đó có một màu sắc chủ đạo ,âm điệu chính là bản sắc dân tộc rất đậm nét và độc đáo .Nét độc đáo đó nằm ở cả nội dung và hình thức .Với Y Phương ,thơ của dân tộc Tày nói riêng và thơ Việt Nam nói chung có thêm một giọng điệu mới ,một phong cách mới "( Từ điển tác giả ,tác phẩm văn học Việt Nam ). Đi từ đề tài quen thuộc :tình cảm cha con ,phụ tử thiêng liêng ,nhưng với Y Phương ,trong làng thơ Việt Nam đã có thêm một lối đi ,1 giai điệu mới . Khác với "Chiếc lược ngà ",tình cha con được đặt trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh ,tình cha con trong bài thơ được thể hiện qua lời tâm tình của người cha .Người cha đã bộc lộ lòng yêu thương con qua ước mong con sống xứng đáng ,phát huy truyền thống của,gia đình , quê hương. Mượn lời người cha nói với con về tình yêu thương của cha mẹ ,sự đùm bọc của quê hương với con ,nhà thơ đã gợi về nguồn sinh dưỡng trong mỗi người chúng ta .Mở đầu bài thơ là khung cảnh gia đình ấm cúng ,đầy ắp tiếng nói cười .Mười một câu thơ như tràn đầy những đầm ấm ,yên vui của tình cảm gia đình ,tình cảm quê hương : "Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ caì nan hoa Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa Con đường cho những tấm lòng Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời ." Một mái nhà có mẹ có cha và con hạnh phúc vì được sống hạnh phúc trong tình yêu thương .Cha mẹ đã dìu dắt ,nâng đỡ con từ những bướcđi đầu tiên ,đã tìm thấy niềm vui từ con .Hơn thế nữa ,con còn được sinh ra ,lớn lên trong tình yêu thương ,vẻ đẹp của "đồng mình ".

"Người đồng mình" yêu lắm con ơi !" Lao động tuy vất vả nhưng cuộc sống của "người đồng mình"tươi vui, mà rất ngọt ngào . Dáng vẻ tuy thô sơ , công việc tuy nặng nhọc (đan lờ , ken vách ) nhưng tâm hồn "người đồng mình "lãng mạn biết bao nhiêu :Họ làm một cách nghệ thuật những công việc của mình (cài nan hoa ,câu hát ) .Con thật hạnh phúc vì con được sống giữa những con người như vậy -- những con người khéo tay ,yêu thiên nhiên ,yêu lao động, lạc quan và nhân hậu .Thiên nhiên đồng mình cũng rất đẹp : Rừng núi quê hương thơ mộng đã dành cho con những gì tinh tuý nhất (hoa ) ,đã nuôi dưỡng con về cả tâm hồn ,lối sống ,"tấm lòng ". Và từng ngày ,con đã lớn lên ...có cha mẹ nâng đón và mong chờ ,có thiên nhiên thơ mộng, có cuộc sống lao động gắn bó .Con đã trưởng thành trong nghĩa tình của quê hương như vậy đó . Nói với con những điều đó ,cha mong cho con hiểu những tình cảm cội nguồn đã sinh dưỡng con ,để con yêu cuộc sống hơn . Dặn dò con về quê hương ,về "đồng mình ", cha càng muốn con phải khắc cốt ghi xương nơi mình đã sống ,đã trưởng thành . Cuộc sống của "người đồng mình " vất vả ,gian nan "thương lắm con ơi ": "Sống trên đá ..đá gập ghềnh / Sống trong thung ..thung nghèo đói ../Lên thác xuống ghềnh ..cực nhọc .." Nhưng tự hào lắm con ơi ,người đồng mình đã,đang và sẽ luôn sống đẹp .Họ có sức sống mạnh mẽ :vất vả nhưng khoáng đạt ,gắn bó với quê hương .Họ " ko chê ,ko lo "gian khổ, mà vẫn sống tràn đầy "như sông như suối " .Họ mộc mạc,chân chất nhưng giàu ý chí ,niềm tin ,mong xây dựng quê hương tốt đẹp hơn : "Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục ". Sự đối lập giữa bên ngoài :"thô sơ da thịt" nhưng bên trong ko hề nhỏ bé về tâm hồn ,người đồng mình có ý chí tự làm chủ cuộc sống của mình. Qua "sự liên tưởng phong phú sáng tạo "tự đục đá kê cao quê hương ",người đồng mình là những con người lao động cần cù ,có nghị lực ,niềm tin ,mà tầm vóc ,nỗi buồn ,chí hướng của họ là cái cao ,xa chiều kích của trái đất (Cao đo nỗi buồn /Xa nuôi chí lớn ) .Họ giữ gìn bản sắc dân tộc mà vẫn làm rạng rỡ quê hương như vậy bởi họ yêu quê hương sâu nặng và luôn lấy quê hương làm chỗ dựa tinh thần .Người cha muốn con yêu là yêu những điều đó , yêu những đức tính cao đẹp của người đồng mình . Cả đoạn thơ như âm vang trong những lời tự hào ,sự gắn bó và tình yêu tha thiết của người cha về quê hương .Nó như trở thành một hành khúc mạnh mẽ ngợi ca quê hương .Và ,lời nhắc nhở của người cha với con chính là một nốt nhấn kết lại bản hành khúc của quê hương : "Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường

Ko bao giờ được nhỏ bé Nghe con ". Cho con thấy tình yêu thương ,niềm tin tưởng của cha ,người cha mong con biết sống sao cho tốt ,cho xứng đáng với tình cảm của cha .Cho con hiểu cuộc sống của người đồng mình ,người cha muốn con cảm thương với những khó khăn ,vất vả để khao khát đi xây dựng quê hương .Ca ngợi những đức tính cao đẹp của người đồng mình ,cha đã truyền cho con vẻ đẹp sức mạnh của truyền thống quê hương ,mong con sống có tình nghĩa ,biết chấp nhận gian khó ,vươn lên bằng ý chí của mình ,vững vàng trên đường đời. Điều lớn lao nhất mà người cha muốn truyền cho con chính là lòng tự hào với quê hương và niềm tự tin khi bước vào đời .Nói với con mà chính là cha đã trao tặng cho con .Cha đã vun đắp cho con những tình cảm tốt đẹp , cho con một hành trang quý và đã sẵn sàng tung cánh cho con bay đi khắp mọi nơi . Bài thơ ko dài với 28 câu thơ tự do ,có câu 2 chữ ,có câu 10 chữ ,tất cả bay theo cảm xúc tự nhiên ,dạt dào của ý thơ .Giọng thơ tha thiết ,trìu mến . Ngọt ngào làm sao từng tiếng nhắc nhở ,dặn dò " yêu lắm con ơi ", "thương lắm con ơi " ,"Con ơi ..nghe con !" .Đẹp làm sao các hình ảnh thơ vừa cụ thể, mộc mạc,cô đọng mà vừa phong phú ,sinh động,giàu chất thơ."Rừng cho hoa / Con đương cho những tấm lòng ...".Những đặc sắc về nghệ thuật cộng hưởng hài hoà với những cung bậc tình cảm khác nhau của cha đã tạo nên dư âm sâu lắng cho bài thơ .Tiếng thơ trong "Nói với con " là tiếng lòng của Y Phương ,tiếng lòng về tình yêu và niềm tự hào đối với quê hương ,dân tộc . Tiếng cha nói với con hay chính là lời trao gửi thế hệ vậy ! * Xưa nay tình mẫu tử là đề tài phong phú cho thơ ca. Nhưng những bài thơ về tình cha con thì có lẽ khá ít. Bài thơ "Nói với con" cuả Y Phương là 1 trong những tác phẩm hiếm hoi đó. Bài thơ thể hiện tình cảm gia đình êm ấm, tình quê hương tha thiết, ngọt ngào và ngợi ca truyền thống nghĩa tình, sức sống mạnh mẽ của người dân tộc miền núi. Cảm nhận đầu tiêntrong lời cha nói là hình ảnh con lớn lên trong tình yêu thương của cha mẹ, sự đùm bọc, che chở của người đồng mình, của quê hương. Bài thơ mở ra với khung cảnh gia đình ấm cúng, đầy ấp giọng nói tiếng cười: Chân phải.... ....tiếng cười. Khung cảnh ấy đẹp như 1 bức tranh: hình ảnh em bé ngây thơ lẫm chẫm tập đi, bi bô tập nói trong vòng tay, trong tình yêu thương, chăm sóc, nâng niu của cha mẹ; hình ảnh cha mẹ giang rộng vòng tay, chăm chút từng bước đi, từng bước đi, từng nụ cười, tiếng nói của con. Gia đình chính là cái nôi êm ái, tổ ấm để con sống, lớn khôn và trường

thành trong niềm yêu thương con cái. Đó là không khí thường thấy trong các gia đình hạnh phúc. Nhưng cách diễn đạt ở đay có nét độc đáo riêng cảu người miền núi: nói bằng hình ảnh cụ thể. Điệp ngữ "bước tới", trong tình cảm người cha, ko khỏi niềm sung sướng, tự hào. Không chỉ có gia đình, con còn lớn lên, trưởng thành trong cuộc sống lao động, trong quê hường sâu nặng nghĩa tình: Người đồng mình yêu lắm con ơi ...........tấm lòng Một cách nói rất riêng, rất ngộ : "người đồng mình", là người miền mình, người vùng mình, là những người cùng sống trên 1 miền đất, cùng quê hương, cùng 1 dân tộc. Đó là cách nói mộc mạc, mang túnh địa phương của dân tộc Tày nhưng giàu sức biểu cảm, Tác giả vận dụng lối diễn đạt của người dân tộc miền núi để xây dựng hình ảnh thơ. Những suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc đều được diễn tả trực tiếp bằng hình ảnh. Đan lờ để bắt cá, dưói bàn tay của người Tày, những nan trúc, nan tre đã trở thành "nan hoa". Vách nhà ko chỉ ken bằng gỗ mà còn đc ken bằng "câu hát". Rừng đâu chỉ cho nhìu gỗ quý, lâm sản mà còn cho hoa. Ba đông từ "đan", "cài", "ken" còn thể hiện sự đoàn kết, gắn bó cảu quê hương. Lao động đã đem đến cho con bao điều tốt đẹp, "người đồng mình" và quê hương ấp ủ, nuôi sống con trong tình thương yuê, trong tình đoàn kết buôn làng. Và con đường đâu chỉ để đi mà nó còn cho "những tấm lòng" nhân hậu, bao dung, nghĩa tình. Con đường đó là hình bóng thân thuôc của quê hương, còn in dấu những bước chân đi xuôi ngược, làm ăn sinh sống của buôn làng, nên nó mang 1 ý nghĩa thật to lớn trong quá trình khôn lớn của con. Sung sứong nhìn con khôn lớn, nha thơ suy ngẫm về tình làng bản quê nhà, về cội nguồn hạnh phúc: Cha mẹ ... ....trên đời Không chỉ gọi cho con về nguồn sinh dưỡng, cha còn nói với con về những đức tính cao đẹp của "người đồng mình" và ước mơ của cha về con. Đó là lòng yêu lao động, hăng say lao động với cả tấm lòng. Đó là sức sống bền bỉ mạnh mẽ vượt wa mọi khó khăn, gian khổ. Người đồng mình thương lắm con ơi ...........Không lo cực nhọc Trước hết đó là tình thương yêu, đùm bọc nhau. Cách nói mộc mạc mà chứa đựng bao ân tình rất cảm động đó được lặp đi lặp lai như một điệp khúc trong bài ca. Chính tình thưong đó là sức mạnh để "người đồng mình" vượt wa bao gian khổ cuộc đời. Những câu thơ ngắn, đối xứng nhau "cao đo nỗi buồn xa nuôi chí lớn" diễn tả thật mạnh mẽ chí khí của "người đồng mình": sống vất vả, nghèo đói, cực nhọc, lam lũ nhưng có chí lớn, luôn yêu quý tự hào, gắn bó với quê hương. Đó là phẩm chất thứ hai. Thứ ba, về cách sống, người cha muốn giáo dục con sống phải có nghĩa tình, chung thủy với quê hương, bit chấp nhận vượt wa gian nan, thử thách bằng ý chí và niềm tin của mình. Không chê bai, phản bội quê hưong : "không chê...không chê....không lo" dù quê

hồn nhiên. một phong cách miền núi với ngôn ngữ "thổ cẩm" rất độc đáo. còn vất vả. Trong đội ngũ cả dân tộc ra trận thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Phân tích "Những ngôi sao xa xôi" của Lê Minh Khuê (Lê Bá Duy) wwwkimson | 18 December. điệp ngữ. ko bao giờ được sống tầm thường. có tác dụng truyền cảm manh mẽ. khăn piêu. nhưng ko hề nhỏ bé về tâm hồn. người cha nhấn mạnh truyền thống của người đồng mình: Người đồng mình thô sơ da thịt . lưu truyền và bảo vệ phong tục tốt đẹp của mình biết tự hào với truyền thống quê hương. thấm thía. "Người đòng mình sống khoáng đạt. Họ sáng tạo. với cảm xúc. . Viết về Trường Sơn. Hai tiếng ấy nghe sao mà thân thương trìu mến wá. vững bước trên đường đời. khi rút ngắn. Y Phương đã thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng. tuy "thô sơ da thịt". điệp cấu trúc câu và nhịp thơ rất linh họat . Bài thơ có giọng điệu nhò nhẹ. Lời cha nói với con mà cũng là lời dạy con về bài học đạo lý làm người. Họ xây dựng quê hương bằng chính sức lực và sự bền bỉ của mình: "tự đục đá kê cao quê hương".. cuộc sống mộc mạc thiếu thốn. nhỏ bé.Nghe con Truyền thống ấy thật đáng tự hào.. với quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sống. Trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại nối liền Bắc .bởi chiếm số đông trong lực lượng này là nữ thanh niên. không thể thiếu hình ảnh các cô gái thanh niên xung phong .. lực lượng thanh niên xung phong có một vai trò hết sức quan trọng: tham gia mở đường. tạo nên bởi điệp từ... lúc vươn dài.hương còn nghèo. ý chí nghị lực và đặc biệt là khát vọng xây dựng quê hương. đoàn xe ra trận. bảo đảm cho con đường huyết mạch ấy luôn được thông suốt cho những đoàn quân.. phá bom. san lấp hố bom. 2010 20:03 1.Nam. mạnh mẽ "như sông như suối-lên thác xuống ghềnh-ko lo cực nhọc". sức sống mạnh mẽ của quê hưong và dân tộc mình.. có sự góp mặt của một "binh chủng" đặc biệt: Thanh niên xung phong. áo chàm. kỳ vọng. Đoạn thơ rất dồi dào nhạc điệu. ích kỷ.. ăn mặc giản dị. ca ngợi truyền thống cần cù. Văn học thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đã ghi lại được nhiều hình ảnh đẹp. lời thơ giản dị. chân tình và rất mới lạ trong phong cách. vừa là lời dặn dò nhắc nhở ý chí tình của nhười cha đối với đứa con thân yêu. chắc nịch mà lay độg. Qua đó. gợi nhắc tình cảm gắn bó với truyền thống. Để nhắc nhở giáo dục con. Hai tiếng "nghe con" kết thúc bài thơ với tấm lòng thương yêu. tư duy rất riêng. Bài thơ giúp ta hiểu thêm sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của 1 dân tộc miền núi. dặn dò con cần tự tin.

Nhưng điều gì làm nên sức hấp dẫn riêng của truyện ngắn này. háo hức trước một cơn mưa đá đến bất chợt giữa vùng trọng điểm.nhân vật xưng tôi. Tác giả Lê Minh Khuê có thể làm được điều đó.Trường Sơn Tây. 2. yêu thương nhau trong tình đồng đội dù mỗi người một cá tính. Nguyễn Đình Thi (Lá đỏ). đo khối lượng đất đá phải san lấp do bom địch gây ra. Cuộc sống của ba cô gái ở nơi trọng điểm giữa chiến trường dù khắc nghiệt và nguy hiểm nhưng vẫn có những niềm vui hồn nhiên của tuổi trẻ. tiểu thuyết của Đào Vũ (Con đường mòn ấy). Truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê góp thêm những chân dung đẹp. mà thường đan xen giữa hiện tại và hồi tưởng quá khứ. giữa ban ngày và máy bay địch có thể ập đến bất cứ lúc nào. truyện Những ngôi sao xa xôi đã làm nổi bật chủ nghĩa anh hùng và vẻ đẹp tâm hồn của thế hệ trẻ Việt Nam trong hoàn cảnh chiến tranh. cô gái thanh niên xung phong). cũng là một nhân vật chính. . Đó là mạch truyện được triển khai theo dòng tâm trạng của nhân vật kể chuyện. Truyện được trần thuật theo ngôi thứ nhất . những giây phút thanh thản. Nhiệm vụ của họ là quan sát địch ném bom. không theo trình tự thời gian sự kiện. cách kể ấy cũng tạo thuận lợi để tác giả miêu tả thế giới nội tâm nhân vật qua những độc thoại nội tâm. và đoạn kết là cảnh các cô gái hồn nhiên. đó là nghệ thuật trần thuật và miêu tả tâm lý nhân vật. Công việc của họ hết sức nguy hiểm vì thường xuyên phải chạy trên cao điểm. đánh dấu vị trí các trái bom chưa nổ và phá bom. đó là kiểu cốt truyện tâm lý.chân thực. 3. Truyện kể về cuộc sống và công việc thường ngày của một tổ trinh sát mặt đường gồm ba cô gái thanh niên xung phong tại một trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Gửi em. truyện ngắn của Đỗ Chu (Ráng đỏ). truyện được kể tập trung vào sự kiện một lần phá bom của tổ trinh sát. và cũng là đóng góp riêng của tác giả? Theo tôi. Phương Định. Nhưng lựa chọn cách trần thuật này cũng là một thử thách không dễ với tác giả. mơ mộng và đặc biệt là rất gắn bó. dưới chân cao điểm. Cũng như nhiều tác phẩm văn học thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Lâm Thị Mỹ Dạ (Khoảng trời . Có thể coi. Đồng thời. bởi vì nhà văn đã từng sống cuộc sống của những thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Họ ở trong một cái hang. vì người viết phải thực sự am hiểu nhân vật của mình và có khả năng hóa thân cao độ vào nhân vật xưng tôi trong truyện. tách xa đơn vị. trong thơ Phạm Tiến Duật (Trường Sơn Đông .. rồi Nho bị thương. mọi hình ảnh và sự kiện.. thậm chí đã nhập vai nhân vật Phương Định một cách thuần thục. con người ở nơi trọng điểm ác liệt của chiến tranh sẽ được hiện lên qua cái nhìn và thái độ của chính người trong cuộc. Lựa chọn cách kể như vậy. Sự lựa chọn vai kể như trên đi liền với một đặc điểm nữa trong nghệ thuật trần thuật của truyện.hố bom). cao cả của các cô gái thanh niên xung phong. chân thực và sinh động vào loại hình tượng nhân vật khá quen thuộc ấy của văn học một thời. Riêng ở phần cuối.

Người tổ trưởng ấy chiến đấu rất dũng cảm. không hề lên gân.Thống nhất với sự lựa chọn vai kể như trên. ngay cả trong hoàn cảnh chiến trường (Nho thích thêu thùa. còn chị Thao lớn tuổi hơn nên những mơ ước và dự định về tương lai cũng thiết thực hơn. kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. nhất là các anh lính để ý và có thiện cảm. Trong ba người thì Nho và Phương Định trẻ hơn nên cũng hồn nhiên và giàu mơ mộng. không chút sợ hãi. truyện đã có một thứ ngôn ngữ và giọng điệu rất phù hợp với nhân vật. Mối hiểm nguy và sự căng thẳng luôn phải đối mặt với cái chết đã được các cô gái cảm nhận với sự bình tĩnh. hay mơ mộng. Ba cô gái có nhiều nét giống nhau và họ là một tập thể nhỏ rất gắn bó. Ở nơi trọng điểm ác liệt. Thần chết là một tay không thích đùa. Hắn ta lẩn trong ruột những quả bom. Điều đó làm cô thấy vui và cả tự hào. một cái cổ cao. chị Thao chăm chép bài hát. chỉ huy rất kiên cường nhưng lại rất sợ khi phải nhìn thấy máu và còn sợ cả vắt nữa. qua cái giọng bình thản pha một chút hóm hỉnh. Định thích ngắm mình trong gương. nhạy cảm. tỏ ra kín đáo giữa đám đông. loại câu kể xen với câu tả và cách diễn đạt rất gần với khẩu ngữ. Cô tự đánh giá: Tôi là con gái Hà Nội. ngồi bó gối mơ mộng và hát). Truyện có ba nhân vật: Phương Định. Đấy đúng là ngôn ngữ của tuổi trẻ ở giữa chiến trường. Thường cứ thuộc một điệu nhạc nào đó rồi bịa ra lời mà hát. Phương Định là cô gái hồn nhiên. Cô biết mình được nhiều người.. hàng ngày giáp mặt với hiểm nguy và cái chết. Nhưng mỗi nhân vật vẫn là một cá tính.. đồng thời cũng là nhân vật trung tâm của truyện. hai bím tóc dày tương đối mềm. Nho và Thao. 4. cao giọng. tâm hồn trong sáng và nhiều mơ mộng. nhưng cô lại không hay biểu lộ tình cảm của mình. tôi là một cô gái khá. hay mơ mộng và thích hát (Tôi mê hát. Nói một cách khiêm tốn. chiến đấu dũng cảm. Phương Định là nhân vật kể chuyện. Lời tôi bịa lộn xộn mà ngớ . nhiều mơ ước. Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: "Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!". Chúng ta nhớ đến chi tiết về cô thanh niên xung phong trong thơ Phạm Tiến Duật: Em ở Thạch Kim sao lại đùa anh nói là Thạch Nhọn. Họ cũng thích làm đẹp cho cuộc sống của mình. và đó chính là thành công của tác giả trong xây dựng nhân vật. Mà ban ngày chạy trên cao điểm không phải là chuyện chơi. tại một vùng trọng điểm ác liệt và ở họ đều hình thành những phẩm chất chung của người chiến sĩ thanh niên xung phong: Tinh thần trách nhiệm cao đối với nhiệm vụ. Cũng như các cô gái mới lớn. dễ vui mà cũng dễ trầm tư. yêu thương nhau. Phương Định nhạy cảm và quan tâm đến hình thức của mình. Ở họ còn có những nét chung của các cô gái trẻ: dễ xúc cảm. tưởng như là kiêu kỳ. Nhạy cảm. nhưng chưa dành riêng tình cảm cho một ai. nhưng ở cô vẫn không mất đi sự hồn nhiên. Truyện thường dùng các câu ngắn. Cái miệng em ngoa cho chúng bạn cười giòn. lòng dũng cảm không sợ hy sinh. Ba cô gái từ những miền quê khác nhau đến với con đường Trường Sơn. nhưng vẫn rất tự nhiên. tình đồng đội gắn bó. Ví dụ đây là lời nhân vật Phương Định kể về công việc của các cô: Còn chúng tôi thì chạy trên cao điểm cả ban ngày.

Thần kinh căng như chão. Tôi thích dân ca quan họ mềm mại. ý nghĩ dù chỉ thoáng qua trong giây lát. Nhanh lên một tí! Vỏ quả bom nóng. đôi khi bò ra mà cười một mình. Những bài hành khúc bộ đội hay hát trên những ngả đường mặt trận. vô tư của tuổi trẻ và gợi về những kỷ niệm tuổi thơ với những trận mưa nơi thành phố quê . máy bay đang ầm ì xa dần. Một dấu hiệu chẳng lành. vô tư bên người mẹ. kề sát với cái chết im lìm và bất ngờ. Các anh ấy không thích kiểu đi khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước đi. Có thể nổ bây giờ. văn bản truyện đưa vào sách giáo khoa đã lược đi nhiều đoạn hồi tưởng của nhân vật). vừa làm dịu mát tâm hồn trong hoàn cảnh căng thẳng. tim đập bất chấp cả nhịp điệu. Cô có một thời học sinh hồn nhiên. thì bất chợt một cơn mưa kéo đến. căng thẳng. từng cảm giác của con người như cũng trở nên sắc nhọn hơn: Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói. Mặc dù đã rất quen công việc nguy hiểm này. Tâm lý nhân vật Phương Định được bộc lộ qua những lời kể.ngẩn đến tôi cũng ngạc nhiên. tôi không sợ nữa. bị thương. quay lại nhìn cảnh đoạn đường một lần nữa. Từ khung cảnh và không khí chứa đầy sự căng thẳng đến cảm giác là các anh cao xạ ở trên kia đang dõi theo từng động tác. Tâm lý nhân vật Phương Định trong một lần phá bom đã được miêu tả rất cụ thể. hồi hộp và cả sự lo lắng khi Nho bị sập hầm. có thể chốc nữa. không khí bàng hoàng. để rồi lòng dũng cảm ở cô như được kích thích bởi sự tự trọng: Tôi đến gần quả bom. cử chỉ của mình. chân chạy mà vẫn biết rằng khắp chung quanh có nhiều quả bom chưa nổ. nhưng mỗi lần vẫn là một thử thách với thần kinh cho đến từng cảm giác.. Đây là cảm giác của một người chạy trên cao điểm giữa ban ngày và giữa những loạt bom của máy bay địch.. mà lại là một trận mưa đá. Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. lời tự bạch một cách tự nhiên như lời trò chuyện với bạn đọc . Sau một trận chiến đấu của ba cô gái để phá bốn quả bom giữa vùng trọng điểm. Tôi thích nhiều bài. nó đánh thức dậy sự hồn nhiên. Một tiếng động sắc đến gai người cứa vào da thịt tôi. Nó vừa là niềm khao khát. Tôi sẽ không đi khom. Cảm thấy có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình. Nhưng nhất định sẽ nổ. Thích ngồi bó gối mơ màng).một kiểu độc thoại nội tâm đơn giản. khốc liệt của chiến trường. chạy về hang. Thích Ca-chiu-sa của Hồng quân Liên Xô. Đoạn kết truyện cũng là một sáng tạo rất thành công của tác giả. Cơn mưa ấy làm dịu cả bầu không khí ngột ngạt ở bên ngoài hang và cũng làm dịu mát tâm hồn ba côn gái sau những căng thẳng của một trận chiến đấu. Tiếp đó là cảm giác căng thẳng chờ đợi tiếng nổ của quả bom. một căn buồng nhỏ ở một đường phố yên tĩnh trong những ngày thanh bình trước chiến tranh ở thành phố của mình. thở phào. (Để đỡ dài. thậm chí một ngày có thể phải phá tới năm quả bom. Ở bên quả bom. Những kỷ niệm ấy luôn sống lại trong cô ngay giữa chiến trường dữ dội. Phương Định là con gái Hà Nội vào chiến trường. dịu dàng. tinh tế đến từng cảm giác. Rồi khi xong việc.

vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng và tâm hồn trong sáng của những cô gái thanh niên xung phong ở nơi trọng điểm ác liệt trên đường Trường Sơn. cũng là tiêu biểu cho vẻ đẹp của cả thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đến đây thì người đọc đã cảm nhận được trọn vẹn vẻ đẹp của Những ngôi sao xa xôi . . Những ngôi sao lấp lánh một thứ ánh sáng không rực rỡ mà sáng trong.hương. tưởng như xa mà lại rất gần.

. Không gian và những cảm xúc ấy vốn quen thuộc.Cảnh vật được miêu tả theo tầm nhìn của Nhĩ. nằm liệt giường. tạo thành một không gian có chiều sâu. từ gần đến xa. . Mở bài : .để rồi cuối cùng nhận ra cái quy luật đầy nghịch lý của đời người : con người ta trên ường đời thật khó tránh khỏi được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình. đến vòm trời và sau cùng là bãi bồi bên kia sông.. phải nhờ vào sự chăm sóc của vợ con. 2.Giới thiệu khái quát tác phẩm.. gần gũi nhưng lại rất mới mẻ với Nhĩ. tưởng như lần đầu tiên anh cảm nhận được tất cả vẻ đẹp và sự giàu có của nó. Cảm nhận về Liên : .. Một buổi sáng đầu thu.Rồi cái bãi bồi bên kia sông hiện ra .Nơi gần gũi mà cả đời Nhĩ dù đã đi khắp mọi nơi trên trái đát lại chưa bao giờ đi tới đó. DÀN Ý CHI TIẾT : I. Tóm tắt truyện: Cốt truyện thật đơn giản nhưng mang tính triết lý. day dứt đã ra đời và đã một thời gây xôn xao dư luận : từ Bức tranh mở đường cho sự đổi mới văn học vào những năm đầu của thập kỷ 80 ở thế kỷ trước cho đến Phiên chợ Giát là tác phẩm cuối cùng viết trên giường bệnh. đất trời lúc giao mùa với hoa bằng lăng tím thẫm. Hàng loạt những truyện ngắn trăn trở.. bốn năm trước khi nhà văn từ giã cõi đời. tác giả : Nguyễn Minh Châu. Thân bài : 1. rộng : từ những bông hoa bằng lăng ngay phía ngoài cửa sổ đến con sông Hồng với màu đỏ nhạt lúc đã vào thu... 2010 20:05 Đề : Phân tích truyện ngắn "Bến quê" của Nguyễn Minh Châu. b.Nhĩ khao khát được một lần đặt chân lê cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình . với nước con sông Hông một màu đỏ nhạt.Tất cả đều được cảm nhận bằng những cảm xúc tinh tế. II. . Những cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật Nhĩ trên giường bệnh : a.Phân tích truyện ngắn "Bến quê" của Nguyễn Minh Châu wwwkimson | 18 December.. mang tính trải nghiệm sâu sắc có ý nghĩa tổng kết về cuộc đời của một con người : Nhĩ mắc bệnh hiểm nghèo. Cảm nhận của nhân vật Nhĩ về vẻ đẹp thiên nhiên : buổi sáng đầu thu được nhìn từ khung cửa sổ căn phòng mình : .Giới thiệu tác phẩm : Bến quê ... Nhà văn đã từng bước khám phá cái thế giới nội tâm ở mỗi con người trong những tình huống đầy mâu thuẫn và nghịch lý mà Bến quê là một truyện ngắn xuất sắc trong tập truyện ngắn cùng tên được xuất bản năm 1985. từ cửa sổ nhìn ra. * Đoạn văn mở bài : Nguyễn Minh Châu là cây bút xuất sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại.

. nên làm một cách miễn cưỡng và ròi bị cuốn hút vào trò chơi hấp dẫn nó gặp trên đường đi.. cảm nhận "những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve bên vai" và Nhĩ nhận ra tất cả tình yêu thương. hướng tới những giá trị đích thực giản dị. Và trớ trêu thay. Cảm nhận về bản thân : . lần đầu tiên Nhĩ nhận ra vẻ đẹp của cảnh vật bình dị và gần gũi xung quanh mình.Khao khát được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông : + Buổi sáng hôm ấy.Nhĩ đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày này". một loại nhân vật nổi lên trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu giai đoạn sau 1975. + Hành động kỳ quặc của Nhĩ cuối truyện khi thấy con đò ngang vừa chạm mũi vào bờ đất bên này sông. và cũng chính nhờ có điều đó mà sau những ngày tháng bôn tẩu tìm kiếm. Nhĩ đã thu hết tàn lực dồn vào một cử chỉ có vẻ kỳ quặc :" Anh đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô người ra ngoài.biểu hiện sự nôn nóng thúc giục cậu con trai hãy mau lên kẻo lỡ chuyến đò càng tô đậm niềm khao khát của anh. khi con người còn lao theo nhữgn ham muốn xa vời. Anh đang nôn nóng thúc giục cậu con trai hãy mau kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày. Nhĩ khao khát được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông. Chính trong những ngày cuối đời. bình thường mà sâu xa của đời sống . 3. nhất là lúc còn trẻ. Không nên sa vào những cái vòng vèo. tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tần tảo và chịu đựng hy sinh từ bao đời xưa. "cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa nhà mình" lại là "một chân trời gần gũi mà lại xa lắc vì chưa hề bao giờ đi đến". + Lại càng trớ trêu hơn nữa khi anh nhờ thằng con trai thựchiện ước muốn của mình. để rồi có thể lỡ chuyến đò ngang duy nhất trong ngày.".Lần đầu tiên Nhĩ "để ý thấy Liên đang mặc tấm áo vá".. gần gũi. đã thấm thía những sướng vui và cay đắng .. với con người "đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất như Nhĩ. chùng chình trên đường đời dứt ra khỏi. và cùng với sự thức tỉnh ấy thường là những ân hận xót xa . c.. Anh không trách đứa con trai bởi giống như anh ngày trước. Nghệ thuật truyện : . Nhĩ mới thực sự thấu hiểu với lòng biết ơn sâu sắc người vợ của mình :"cũng như cánh bãi bồi đang nằm phơi mình bên kia. vô tình. Sự thức nhận này chỉ đến được với người ta ở cái độ đã từng trải. giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát . sự tần tảo và đức hy sinh thầm lặng của vợ. Nhĩ đã chiêm nghiệm được cái quy luật phổ biến của đời người :"con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái vòng vèo hoặc chùng chình ". Nhân vật Nhĩ là nhân vật tư tưởng. bền vững. . Từ hoàn cảnh của mình.y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó. Điều khao khát ấy chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững."nó đã thấy có gì hấp dẫn ở bên kia sông đâu". thằng con trai anh cũng không hiểu được niềm khao khát của cha nó. từ đứa con trai.những giá trị thường bị người ta lãng quên.Xây dựng nhân vật tư tưởng.

khi tư tưởng nghệ thuật của ông đã trở nên sâu sắc. Ông như một ngôi sao băng vút qua bầu trời. .Cách xây dựng tình huống nghịch lý. hầu như mọi hình ảnh đều mang hai lớp nghĩa : nghĩa thực và ý nghĩa biểu tượng. Đứa con trai của Nhĩ đã sa vào một đám chơi phá cờ thế trên lề đường : sự chùng chình. đầy hứa hẹn. . sáng loà rồi tan biến vào cõi vĩnh hằng nhưng với di sản văn học ông để laiï cho đời. Những chiêm nghiệm. vẫn mang cái nhìn từng trải chắc chắn của con người đã tôi luyện qua lò lửa chiến tranh. Kết bài : . suy ngẫm.Nguyễn Minh Châu là nhà văn đi được xa nhất trên con đường đổi mới văn học. III. khi cơn lũ đầu nguồn dồn về. tiếng những tảng đất lở ởû bờ sông bên này. mỗi người lính có một ngã rẽ riêng để trở về với cuộc đời thường nhật. . Bông hoa bằng lăng cuối mùa . thân thuộc.Trần thuật theo dòng tâm trạng của nhân vật.Tác phẩm mang tính hiện đại. tính nhân văn sâu sắc. Nhưng trong cách cảm. cách nghĩ của ông trong "Bến quê" là có cơ sở hợp với tính nhân văn và đáp ứng được yêu cầu thời đại.Miêu tả tâm lý tinh tế. . khung cảnh thiên nhiên : là vẻ đẹp của đời sống trong những cái gần gũi. Chính bằng ngòi bút ấy. * Đoạn văn kết bài : Có thể ở đâu đó những điều cảm nhận của Nguyễn Minh Châu chưa phải đã đạt đến độ khái quát sâu sắc. Hành động và cử chỉ của Nhĩ :thức tỉnh con người. Một đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật truyện : Sáng tạo hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng . Tiếc thay cái chết đã đến khi sức sáng tạo của nhà văn đang tràn đầy.Hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng. bị liệt toàn thân. với diễn biến tâm trạng . bến sông. ta bắt gặp như vô tình cái bãng hình nhà văn Nguyễn Minh Châu. triết lý đã được chuyển hoá vào trong đời sống nội tâm của nhân vật. làm cho những ai yêu mến Nguyễn Minh Châu bỗng cảm thấy hụt hẫng tiếc nuối. Đi hầu hết khắp nơi trên thế giới. Bãi bồi. không thể đi đâu được.Nhà văn đã gửi gắm qua nhân vật nhiều điều quan sát. bài viết thứ 2 Bước ra khỏi chiến tranh. bình dị. Có lẽ sẽ chẳng ai . Nhân vật không bị biến thành cái loa phát ngôn cho tác giả. . vòng vèo mà trên đường đời người ta khó tránh khỏi. tiếp tục tìm tòi lặng lẽ. đổ ụp vào trong giấc ngủ của Nhĩ lúc gần sáng :Sự sống của nhân vật Nhĩ đã ở vào những ngày cuối cùng. mang đầy trải nghiệm về một đời người. sâu sắc. đặc biệt là với truyện ngắn Bến quê cũng đáng để cho chúng ta tự hào và đủ để an ủi linh hồn ông ở thế giới bên kia. Trong Bến quê. Trở về lặng lẽ. triết lý về cuộc đời và con người. Trong vô vàn cái bãng lặng lẽ trở về ấy. ngòi bút Nguyễn Minh Châu vẫn chứa đựng những khám phá mới mẻ. nhà văn đã dựng lên một "Bến quê" mang ý nghĩa triết lí.

§ã có lần anh nhận ra trong một dòng suy nghĩ hài hước cái hoàn cảnh không biết phải gọi là bi kịch hay hài kịch của bản thân:"Nhĩ nhận thấy hoàn cảnh của mình thật buồn cười. vẫn là nghịch lí. Mở đầu trang truyện. ân hận nhưng những cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp bình dị. Có ngờ đâu cả cuộc đời Nhĩ đã từng in gót khắp năm châu mà chưa tùng một lần đặt chân lên cái bờ sông trước mặt mình. Nghịch lí cuộc đời. dưới ngòi bút tài hoa là thứ công cụ đắc lực nhất. những nghịch lí vượt khỏi dự định. bằng tổng kết qua biết bao trải nghiệm con người mới nhận ra triết lí mà cuộc đời nào rồi . còn đôi bàn tay người vợ tần tảo dường như là đôi bàn tay người mẹ thủa nào. Như một định mệnh. Cũng như nhiều tác phẩm của mình. Và số mệnh lại một lần nữa cất cao tiếng nói. sinh hoạt chủ yếu nhờ vào sự giúp đỡ của Liên. vẫn sắp đặt một ®ịnh mệnh để Tuấn. gần gũi của quê hương thì vẫn còn lắng đọng mãi mãi trong sâu thẳm tâm hồn mỗi người đọc chúng ta.con anh. Anh giờ đây dâu có khác một đứa trẻ là mấy. miền đất cuộc đời anh mãi mãi chẳng thể đặt chân lên. tự nhích người di chuyển vài chục phân trên tấm nệm khó bằng bay nửa vòng Trái Đất. Có lẽ những nghịch lí ấy. "Cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi ở bên kia sông Hồng.sà vào đám cờ phá thế ven đường và m¬ ước cháy bỏng đến cuối cuộc đời anh mới chiêm nghiệm ra tắt vụt trong vô vọng. tận hưởng sự thích thú được chăm sóc và chơi với" Đó là nghịch lí hay số mệnh? Đã là số mệnh sao lại phũ phàng đến thế?Có lẽ nào nghịch lí cuộc đời đã nhiều lần bắt anh day dứt thế chăng? Trong những ngày như thế. Nguyễn Minh Châu đã khai thác rất thành công tình huống truyện mang đầy nghịch lí. lúc này đang phô ra trước cửa sổ gian gác nhà Nhĩ một thứ màu vàng thau xen lẫn với màu xanh non-Những sắc màu quen thuộc quá.gấp lại trang sách "Bến quê" mà không cảm thấy một nỗi buồn bồi hồi. Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên Trái Đất. ngay trước khung cửa sổ. Vậy mà. ước muốn. anh có nhiều thời gian hơn để suy ngẫm và chiªm nghiệm về cuộc đời trong những ngày tháng đã qua. Nhĩ nhận ra vẻ đẹp của cái bãi bồi bên kia s«ng Hồng. sự hiểu biết và cả toan tính của con người. y như một đứa bé mới đẻ đang toa toét cười với tất cả. Liệt toàn thân. thể hiện một chiều sâu triết lí. tư tưởng. trong "Bến quê". xúc động trào dâng. có chút gì đó se sẽ xót xa. bất chấp lời khẩn khoản tha thiết nhất của Nhĩ. gần một năm nay căn bệnh quái ác đã cột chặt lấy anh vào giường bệnh. nhưng là một nghịch lí con người đã quên bẵng bấy lâu. Có chút gì đó se sẽ buồn."Suốt cuộc đời. như da thịt. Bằng suy ngẫm. hình ảnh Nhĩ -nhân vật chínhhiện lên trong hoàn cảnh thật đángthương. Đó có lẽ cũng là một nhận thức về cuộc đời mà nhà văn lặng lẽ gửi vào tình huống mang nghịch lí phũ phàng với cái tâm hồn khắc khoải trong những ngày tháng cuối cuộc sống và số phận con người chứa đầy những ngẫu nhiên. Chiếc giường bệnh dường như là chiếc nôi. hơi thở của đất màu mỡ". vẫn hiện về trong miªn man kí ức.

Nắng soi lên dòng s«ng uốn lượn mềm mại. dù chỉ cách đôi bờ ngầu đỏ của con song quen thuộc mãi mãi là miền đất xa lắc. đó là cái bãi bồi bên kia s«ng. Cay đắng nào bằng khi nhận ra cảnh vật kia. số phận đã cướp đoạt khỏi tay anh. trong cái dòng chảy của suy ngẫm và tình cảm mới xuất hiện nơi Nhĩ. con người đã ngàn lần phô ra trước mắt. Đó là những b«ng hoa bằng lăng nở muộn sắc đang phai giữa không gian vời vợi trong vắt của bầu trời. trên đôi tay gầy gò. chiếu vào cuộc đời Nhĩ cái nhìn gần gũi. "Lần đầu tiên Nhĩ để ý thấy Liên đang mặc tấm áo vá" đó cũng là lần đầu tiên nỗi buồn về gia đình quặn lên trong anh. Anh có thời gian để ngắm nhìn nó nhưng thời gian để bước đi. Nếu thiên nhiên khiến Nhĩ say mê và thất vọng thì những người thân gợi lên trong anh nỗi buỗn xen lẫn những mặc cảm. nó mang màu sắc và chiều sâu nội tâm rất chủ quan của cá nhân nhân vật trữ tình. Nhưng khi tình yêu ấy chớm nở. suy ngẫm sâu sắc. Sáng đầu thu hiện lên trong không gian gần xa như một bức tranh lên cái thần của cảnh sắc. hiền lành đã quen thuộc bấy lâu. chiều sâu của bãi bồi ngay trước khung cửa sổ. Chỉ có những vẻ đẹp gần gũi thiêng liêng là có thể cho ta chỗ dựa. chan chứa trải nghiệm. trìu mến hơn tất cả những gì anh đã từng được biết. say sưa khám phá cái ẩn mình bên trong lớp vỏ gần gũi. Có lẽ anh đã yêu. Nhĩ đã thấu hiểu sự vất vả. thiên nhiên như đẹp hơn. Đến với nó chỉ là giấc mơ xa vời tầm tay. là người vợ tần tảo giàu đức hi sinh. chùng chình cuộc sống giăng ra trước lối. Anh thấy nó đẹp đến kì lạ. soi lên cái chiều rộng. đỏ nhàn nhạt màu nước phù sa. yêu tha thiết sự giàu có. xót xa tê tái. đến lúc này anh mới thấm thía. triết lí về đời người. "Bến quê" được viết theo cách nhìn và tâm trạng của nhân vật Nhĩ. Những ngày cuối cuộc đời. ngạc nhiên đến thích thú. đây là những phút cuối cùng anh được sống thanh thản giữa quê hương. cũng là lúc con người Nhĩ nhận ra nó đã nhen lên trong vô vọng. bước trên đường đời khó tránh khỏi những vòng vèo. bởi vì đó là lần đầu tiên anh say sưa chiêm ngưỡng nó. của trái tim: ..cũng phải đón nhận : Con người ta. Cũng phải thôi. giữa những cảnh vật. Trong câu nói của anh với Liên có sự bỏ lửng như sự tắc nghẽn của tâm hồn. chiêm ngưỡng trong sự bất ngờ. Nhĩ say sưa chiêm ngưỡng vẻ đẹp đến kì lạ áy. nâng cho ta tiếp bước trên đường đời. hi sinh thầm lặng của người vợ hiền thảo. sau bao ngày in gót khắp năm châu. Ngòi bút Nguyễn Minh Châu đã tạo nên một sức hút mạnh mẽ khi xây dựng nhân vật Nhĩ mang những tình cảm. Nó là tâm điÓm cũng là cái thần sắc của bức tranh. Với Nhĩ. về ý nghĩa của những điều ta chiêm nghiệm được từ cuộc sống và cuộc đời mỗi con người.. đơn sơ. gần gũi mà vô cùng mới mẻ của thiên nhhiên. Cái nghèo khó của gia đình không giấu được qua mảnh vá trên chiếc áo Liên đang mặc.

đến khi khát khao thì anh không thể cất bước để tiến về miền đất ấy nữa. Nhĩ không dám nói điều đó. lặng lẽ của vợ. Mơ ước rồi cũng là vô vọng. tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tần tảo và chịu đựng hi sinh từ bao đời xưa". khó khăn Liên lặng lẽ gánh vác để lo cho gia đình.. Đến khi mơ ước. Rất nhiều.Một miền đất của trù phú và mơ ước. mãi mãi trọn vẹn nguyên phẩm chất: :Cũng như cánh bãi bồi đang nằm phơi mình bên kia . rất nhiều nơi xa xăm Nhĩ đã bước chân qua vậy mà. Câu hỏi anh bất chợt hỏi vợ như một sự tính toán thời gian vể cái ngày anh biết chắc sẽ đến nay mai.Cái tưởng chừng dễ dàng nhất người ta thường hay bỏ qua và rồi sau này lại phải hối tiếc về điều đó. Có lẽ trong những lần khắc khoải hướng ánh mắt sang bãi bồi bên kia song."Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm. gấp gáp hơn trước khi những đốm tàn của ngọn lửa sự sống tắt lịm hẳn.. nước mắt đắng cay Liên đã nuốt thầm. giàu đức hi sinh. Nhà văn Giắc Lân-đơn từng viết: "Thiên nhiên có nhiều cái nhắc nhở con người về cái chết". chúng cũng như cuộc đời anh. Cuộc đời Liên từ khi sống với anh cũng đâu có khác trước. người cha chưa bao giờ trọn ven. "Một đời người đàn bà trên những bậc gỗ mòn lõm". Anh như một nhà thám hiểm. trong tâm hồn Nhĩ cháy lên một cái gì đó mơ hồ như một dự cảm. Có lẽ anh cũng hiểu rằng màu sắc của những chùm bằng lăng bỗng trở nên đậm sắcc hơn. Anh là trụ cột của gia đình mà chưa một lần anh làm cho gia đình ấy được sung sướng. Với Nhĩ có lẽ cũng vậy thôi. khi đã nhận ra vẻ đẹp rất đỡi bình dị gần gũi của cảnh vật. Cảm giác về cái chết treo lơ lửng dường như thôi thúc cái khát khao trong anh cháy bỏng hơn. vì nó là lưỡi dao cứa vào long anh. Trong có dường như còn chứa chan cả mồ hôi. cứa cả vào long vợ. cái bãi bồi ngay bên kia thôi chưa một lần anh đặt bàn chân tới. Đó là sự xúc động khi anh tìm được cho mình nơi nương tựa là gia đình. Tuy khoảng trời kia chỉ cách ô cửa sổ của Nhĩ thôi nhưng dường như mãi mãi xa vô cùng tận. Cái ngắt quãng ấy là bao vất vả. tàn tạ. đã chịu đựng. là người vợ tần tảo.mà em vẫn nín thinh" Nhĩ không nói mà cũng không dám nói. một cái gì đó cháy bỏng như một khát khao. không ít lần Nhĩ mang trong lòng những suy ngẫm. héo hắt dần. Ở nơi anh trào dâng bao xúc cảm. Vào cái buổi sáng đầu thu ấy. Đó là sự thương cảm với cuộc đời tần tảo. Qua những lời dịu dàng của Liên anh đã hiểu tình yêu Liên dành cho mình nhưng điều đó càng khiến anh day dứt vì trách nhiệm của người chồng. Những ngày cuối cùng này anh chỉ có một khát khao duy nhất: được đặt chân lên bờ đất phía bên kia sông. những tảng đất đổ oà vào giấc ngủ. Nó âm thầm như cái âm điệu câm lặng của dấu ba chấm. Dường như bằng trực giác Nhĩ đã nhận ra thời gian của đời mình chẳng còn bao lâu nữa. những trải .Mới đây thôi anh đã khám phá ra cái vẻ đẹp diệu kì của cái bên kia song. them khát khám phá chân trời mới nhưng con tàu đi tới thì đã mãi mãi ở lại với biển khơi. chuẩn bị cho sự đứt lìa khỏi cuộc sống.

Nhĩ không trách Tuấn. một niềm hạnh phúc giản đơn chiêm nghiệm từ cả cuộc đời. chỉ có ai không do dự. Nhưng ở đời người ta khó tránh khỏi những điều vòng vèo. tất cả niềm tin vào Tuấn. Niềm ân hận và xót xa khi con người đã nhận thức được quy luật khắc nghiệt của cuộc đời. anh dường như đang níu giữ cho mình một cái gì đó? Có thể là niềm hạnh phúc nhỏ nhoi mà tha thiết kia chăng? Hay đó còn là một lẽ sống. Với anh đó phải chăng là niềm hạnh phúc cuối cùng anh có thể hưởng trước khi nhắm mắt xuôi tay. bến đậu của những giá trị tinh thần gẫn gũi mà ý nghĩa. Cánh buồn chỉ một lần duy nhất qua song. Nhĩ dã cố hết sức để thúc giục đứa con giúp anh hoàn thành nốt cái khát khao còn dang dở. vừa run lẩy bẩy. đơn sơ. Anh đã từng một thời như Tuấn. "giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát y như đang khẩn thiết ra hiệu cho ai đó". như chính quê hương.nghiệm về chính bản thân. đã tưởng tượng thấy Tuấn. Cái bờ bên kia không dừng lại ở ý nghĩa hiện thực nữa. Tiếng nện dép ra bờ xa dần mang theo bao háo hức của tâm hồn người cha tội nghiệp. Đường đời cũng như thế. chùng chình. nơi quê hương mà con người bồng bột với nhiều ham muốn thời trai trẻ đã bỏ qua. con đò như một phần vẻ của cuộc sống. Ngay khi đó con đò ước mơ cập bến. Nhĩ đã cố hết sức để gửi đến mọi người lời nhắn nhủ thức tỉnh. Chỉ có anh. Bãi bồi. Thu hết mọi sức tàn Nhĩ bấu chặt vả mười đầu ngón tay vào cái hậu cửa sổ. thoát khỏi sự vòng vèo. Nhưng kìa. phần cuộc mà mỗi con người đều muốn khám phá dù biết rằng nó là không giới hạn. Chỉ có anh mới hiểu nó ý nghĩa đến nhường nào với mỗi con người trong cuộc sống. Nhĩ đang đu mình ra ngoài. Anh đành gửi gắm tất cả tình cảm. Hành động cuối cùng của giấc mơ. anh hiểu ở cái tuổi như Tuấn. nhờ Tuấn giúp anh đặt chân lên cái bên kia song ước mơ. nó hàm chứa những giá trị biểu tượng vô cùng thiêng liêng. đã nếm trải rất nhiều tình cảm. Nhĩ đã hi cọng. những giá trị bình dị giản đơn kia. một giá trị tinh thần thiêng liêng anh đã rút ra trong những ngày cuối cùng trước khi giã từ cuộc sống. Tuấn đâu có thể hiểu được ý nghĩa thiêng liêng chứa trong ước muốn của cha. không chậm chạp dềnh dàng mới có thể bước vững vàng đi tới phía trưoiức. đã từng trải. bến bờ ấy cũng có thể là bến đậu quê hương. Anh giữ trọn trong tâm hồn khao khát và ước mơ. Đó cũng là chân lí cuộc đời. chùng chình chúng tax a vào để . Người ta chưa đủ chin chắn để nhận ra vẻ đẹp thưc sự. bến đậu cuộc đời. Nó là một sự thức tỉnh có xen niềm ân hận và nỗi xót xa. đã đi qua rất nhiều phương trời. vẻ đẹp vẹn nguyên cả trong những nét tiêu sơ của cuộc đời. Cậu sà vào ván cờ phá thế trên đường tự nhiên như cách con người vướng phải những cám dỗ trong cuộc sống. Khao khát tìm đến những giá trị gần gũi nhưng đích thực trong cuộc sống. cảm xúc mới thấy yêu thấy quý. Nhĩ đã phát hiện chân lí ấy để rồi hồi hộp và say mê chờ đợi được khám phá nó trong tấm gương cuộc đời. Bến bờ ấy cũng có thể làcuộc đời chưa đi tới. bến song. giản dị gắn bó như chính gia đình. như một nhà thám hiểm chậm rãi bước khoan thai trên cái bãi bồi trước khung cửa sổ. Nhĩ không thể đặt chân lên con đò đưa đến khát khao.

cái hay tô điểm cho cuộc đời chung của chúng ta. một trái tim chỉ biết tìm cái đẹp. Nguyễn Minh châu đã gửi gắm trải nghiệm ấy đến cả cuộc đời. Nó chứa trong biểu tượng nhung cũng đẹp. Đáng quý trọng biết bao một trái tim như thế. cũng gần gũi như chinh cuộc đời.hướng đến những giá trị đích thực mà gần gũi trong cuộc sống. Mot cuộc đời đã có những tháng ngày vất vả. hẳn sẽ có những khoảng lặng trầm lắng chứa cả cay đắng lẫn giọt nước mắt sót xa. nhọc nhằn giữa dòng đời bon chen. Có lẽ. đến tất cả mọi người như để thưc tỉnh. Một cuộc đờia đã trải qua mưa bom bão đạn chiến tranh. Nó thiêng liêng như cô đúc cả cuộc đời con người vậy. Lời nhắn nhủ của Nhĩ cũng có thể là lời cuối cùng của cuộc đời anh. Suy nghĩ ấy hẳn sâu sắc lắm. qua "Bến quê". Nguyễn Minh Châu đã gửi gắm những suy ngẫm là trải nghiệm của cả cuộc đời. như để nhắc nhơ con người về tình cảm đẹp đẽ nhất. cuộc đời chung và đáp lại những công hiến to lớn như thế? . để tô điểm them cho cuộc đời mỗi chúng ta. Tại sao chúng ta không thể song đẹp hơn nữa. Sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Nguyễn Minh châu hoá thân vò nhân vật để nhắn nhủ những lời tha thiết chân thành đến như thế. hẳn thiết tha lắm. Bằng trái tim đầy xúc cảm của một nhà văn.

tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật. Mở bài : ..Kết hợp giữa hiện thực hào hùng với cảm hứng lãng mạn cách mạng. . dạt dào sức sống. khoẻ.Hoàn cảnh sáng tác : năm 1969.Lời thơ giàu suy tưởng.Bài thơ hay trong chùm thơ đạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969 . nhịp điệu.1970. trong cuộc chiến đấu gian khổ của những chiến sĩ lái xe đường Trường Sơn thời chống Mỹ. bài thơ khắc hoạ vẻ đẹp hình ảnh. giàu tình đồng chí đồng đội của những người chiến sĩ lái xe. Bút pháp hiện thực. Phạm Tiến Duật có giọng thơ mang chất lính.Bài thơ hay trong chùm thơ đạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969 . đặc sắc với nhãn tự trái tim. câu thơ cuối toả sáng chủ đề.1975. âm hưởng sử thi chặng đường 30 năm chống xâm lược của dân tộc 1945 . . không còn kính chắn gió. tả thực không cường điệu không mỹ lệ hóa.Bài thơ tái hiện hành trình gian khổ nhưng rất anh hùng của các chiến sĩ vận tải đoàn 559 trên tuyến lửa Trường Sơn những năm chống Mỹ. DÀN Ý CHI TIẾT : I. II. như văn xuôi. . quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ để giải phóng miền Nam. Trên những chiếc xe bị bom đạn ác liệt của kẻ thù tàn phá.Phân tích "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật (Thầy Lê Bá Duy) wwwkimson | 18 December. bất chấp gian khổ hy sinh. thống nhất đất nước. III. Từ hình ảnh những chiếc xe không kính độc đáo. Là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ những năm chống Mỹ "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước . 2010 20:07 Đề : Phân tích "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật. Kết bài : . Thân bài : 1.1970. nhưng giàu nghệ thuật. .Hoàn cảnh sáng tác : năm 1969.Giọng điệu sôi nổi. Mở bài : .các chiến sĩ lái xe vẫn hiên ngang. tinh nghịch vui tươi. "Bài thơ về tiểu . có chút ngang tàng của chất lính. 2. Ngôn ngữ thơ mộc mạc như lời nói hàng ngày.. 3. nhạc điệu linh hoạt. tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật. tính cách dũng cảm. không mui không đèn. . trong cuộc chiến đấu gian khổ của những chiến sĩ lái xe đường Trường Sơn thời chống Mỹ.. vui tươi. thùng xe bị xước.Mà lòng phơi phới dậy tương lai"(Tố Hữu). giàu suy tưởng. DÀN Ý : I. tinh nghịch. lạc quan. yêu nước.

trời đổ cơn mưa Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ. 2. ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng như người già . II.Hình ảnh thơ lạ : + Hình ảnh xe cộ tàu thuyền đi vào trong thơ thường là được "mỹ lệ hoá". "lãng mạn hoá" và thường mang ý nghĩa tượng trưng hơn tả thực : Đùng đùng gió giục mây vần Một xe trong cõi hồng trần như bay (chiếc xe đưa Thuý Kiều ra đi với Mã Giám Sinh . + Điệp từ "nhìn" như một niềm sảng khoái bất tận .Thái độ bất chấp gian khổ. + Hình ảnh những chiếc xe không kính là hình ảnh thực. qua cảm nhận của tác giả trở thành hình ảnh lãng mạn.Hai chữ bài thơ nói lên cách khai thác hiện thực : không phải chỉ viết về những chiếc xe không kính.Nguyễn Du) Tế Hanh trong bài Quê hương tả con thuyền rất lãng mạn :Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo. nhìn thẳng. chất thơ của tuổi trẻ Việt Nam vượt lên những khắc nghiệt của chiến tranh. mạnh mẽ vượt trường giang Chính Phạm Tiến Duật trong bài thơ "Trường Sơn Đông. không có mui xe. giọng thơ thản nhiên . .đội không kính" (trong chùm thơ được giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969-1970) được Phạm Tiến Duật viết năm 1969 là bài thơ tự do mang phong cách đó. Cái độc đáo dã bộc lộ ngay từ nhan đề bài thơ .Nguyên nhân : "Bom giật. hiểm nguy : Không có kính. . chất thơ rất đẹp từ hình ảnh ấy. 3. chỉ viết về hiện thực khốc liệt của chiến tranh mà chủ yếu khai thác chất thơ vút lên từ hiện thực ấy. thùng xe có xước.Không có kính.Tư thế ung dung mà hiên ngang : + Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất. Sáng tạo độc đáo nhất là hình ảnh những chiếc xe không kính : . bom rung kính vỡ đi rồi" . Ấn tượng thực. Truyện Kiều . không có đèn. Vẻ đẹp của hình ảnh người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn: . . "nhìn thẳng" :hiên ngang. + Diễn tả cụ thể cảm giác của người lính lái xe : Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái. ."Không có kính không phải vì xe không có kính" : câu thơ như một câu văn xuôi. Trường Sơn Tây" : Anh lên xe. Thân bài : 1. nhìn trời.

+ Sức mạnh để chiếc xe băng mình ra trận chính là sức mạnh của trái tim người lính. ta rất giàu dũng khí Sống chẳng cúi đầu. lại đi. gió lùa mau khô thôi + "Không có kính. là ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam. ừ thì.. giữa cái không có và cái có. thống nhất Tổ quốc. Từ sự giản dị của ngôn từ.Đánh giá bài thơ.. * Liên hệ thơ Tố Hữu : Tố Hữu đã ca ngợi : Thiếu tất cả. yêu đời. thống nhất Tổ quốc : Không có kính.Điều làm nên sức mạnh để người lính vượt qua khó khăn chính là tình yêu nước.Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. + Niềm vui . nhẹ nhàng... giữa bên ngoài và bên trong."điệp khúc tạo nên giọng điệu ngang tàng. ta lại hoá anh hùng Sức nhân nghĩa mạnh hơn cường bạo III. bài thơ đã khắc hoạ. chết vẫn ung dung Giặc muốn ta nô lệ.Phong cách thơ Phạm Tiến Duật. ừ thì ướt áo Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay. tôn vính vẻ đẹp phẩm giá . chất lính của bài thơ bắt nguồn từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam thời chống Mỹ mà chính nhà thơ đã sống. Không có kính.."chưa cần . rồi xe không có đèn Không có mui xe.. bất chấp.. sự sáng tạo của hình ảnh chi tiết. lái trăm cây số nữa Mưa ngừng. lạc quan của người lính : Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy "Lại đi. Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây.. Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước : Chỉ cần trong xe có một trái tim. Kết bài : . . đã trải nghiệm. thùng xe có xước. Nhớ. + Nghệ thuật tương phản giữa vật chất và tinh thần. trời xanh thêm" :câu thơ với năm thanh bằng và điệp ngữ lại đi tạo âm điệu thanh thản.Chất giọng trẻ. một trái tim nồng nàn tình yêu nước và sôi trào ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam. "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Lửa đèn. sự linh hoạt của nhạc điệu. . Hình ảnh bầu trời xanh phơi phới một niềm lạc quan.

khoẻ. Hìmh ảnh những chiếc xe không kính không hiếm trong chiến tranh chống Mỹ trên đường Trường Sơn lửa đạn nhưng phải là một chiến sĩ. Mục đích miêu tả những chiếc xe không kính là nhằm ca ngợi những chiến sĩ lái xe. Xưa nay. giải thích về "những chiếc xe không kính" thật đơn giản. "Bài thơ về tiểu đội không kính" (trong chùm thơ được giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969-1970) được Phạm Tiến Duật viết năm 1969 là bài thơ tự do mang phong cách đó. Những câu thơ nhịp điệu nhanh mà vẫn nhịp nhàng đều đặn khiến .hình ảnh có sức hấp dẫn đặc biệt vì nó chân thực. hy sinh.1975.Mà lòng phơi phới dậy tương lai"(Tố Hữu). mới trở thành hư hỏng : không còn kính chắn gió. Trong buồng lái không kính chắn gió. dạt dào sức sống. Mở đầu bài thơ là hình ảnh những chiếc xe không kính chắn gió . BÀI VIẾT THAM KHẢO : Là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ những năm chống Mỹ "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước . hình ảnh xe cộ trong chiến tranh đi vào thơ ca thường được mỹ lệ hoá. Không tô vẽ. Đó là những con người trẻ trung. không mui không đèn. tư thế ung dung. thùng xe bị xước. coi thường gian khổ. giàu suy tưởng. độc đáo. thực tế đến trần trụi như cách tả của Phạm Tiến Duật. tượng trưng ước lệ chứ không được miêu tả cụ thể. hình dung mức độ ác liệt của chiến tranh. Phạm Tiến Duật đã ghi nhận. nhìn trời. mới lạ. nhìn thẳng. hoà nhập với cảm hứng lãng mạn cách mạng và âm hưởng sử thi hào hùng của văn học Việt Nam trong ba mươi năm chống xâm lược 1945 . nhưng chính cái thực đã làm người suy nghĩ. họ có cảm giác mạnh mẽ khi phải đối mặt trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài.con người. nghệ thuật. tự nhiên : Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Bom đạn ác liệt của chiến tranh đã tàn phá làm những chiếc xe ban đầu vốn tốt. Phạm Tiến Duật có giọng thơ mang chất lính. không cường điệu mà tả thực. tinh nghịch vui tươi. so sánh và điệp ngữ : Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất. trực tiếp sẵn sàng chiến đấu cùng những người lính lái xe thì nhà thơ mới phát hiện được chất thơ của hình ảnh ấy để đưa vào thơ ca một cách sáng tạo. Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái. bom đạn giặc Mỹ. một nghệ sĩ tâm hồn nhạy cảm. Những cảm giác ấy được nhà thơ ghi nhận tinh tế sống động qua những hình ảnh thơ nhân hoá. Với bút pháp hiện thực như bút pháp miêu tả "anh bộ đội cụ Hồ thời chống Pháp" của Chính Hữu trong bài Đồng chí (1948).

ừ thì ướt áo Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay. có tính cách ngang tàng: Không có kính. Yêu đời. Các chiến sĩ lái xe không hề lùi bước trước gian khổ. lời nói thường ngày thể hiện hình ảnh đẹp. Những khoảnh khắc của chiến tranh. gợi cảm. tự tin. con đường cách mạng. Không có kính. lý tưởng đã gắn bó nhau như ruột thịt.người đọc liên tưởng đến nhịp bánh xe trên đường ra trận. phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. Những người lính lái xe hiên ngang. Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa. giữa sống chết. những người lính lái xe luôn lạc quan tin tưởng chiến thắng. tính ngang tàng thể hiện rõ nét trong thơ. Tình đồng chí. Hiên ngang. tiếng cười sảng khoái của họ làm quên đi những nguy hiểm. trước kẻ thù mà trái lại "tiếng hát át tiếng bom". cảm nhận đã biểu hiện thái độ bình tĩnh thản nhiên trước những nguy hiểm của chiến tranh. bất chấp gian khổ. "Trời xanh thêm" vì lòng người phơi phới say mê trước những chặng đường đã đi và đang đến. "cánh chim". hình ảnh."con đường" đến cả "sao trời". đồng đội keo sơn gắn bó là phẩm chất của người lính. Tất cả sự vật. "Trời xanh thêm" vì lòng người luôn có niềm tin về một ngày mai chiến thắng. lại đi trời xanh thêm. Hình ảnh "con đường chạy thẳng vào tim" gợi liên tưởng về con đường ra mặt trận. Các anh nhìn thấy từ "gió". vì có ung dung thì mới thấy đầy đủ như thế. cảm xúc mà các chiến sĩ lái xe trực tiếp nhìn thấy. Thế giới bên ngoài ùa vào buồng lái với tốc độ chóng mặt tạo những cảm giác đột ngột cho người lái. con đường chiến đấu. họ xem đây là cơ hội để thử thách sức mạnh ý chí. gió lùa khô. ùa vào buồng lái" thật sinh động. . Những câu thơ lặp cấu trúc tự nhiên như văn xuôi. những người lính trẻ từ những miền quê khác nhau nhưng cùng một nhiệm vụ. ừ thì có bụi. lái trăm cây số nữa Mưa ngừng. Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi. mau thôi. Câu thơ "nhìn nhau mặt lấm cười ha ha" biểu lộ sâu sắc sự lạc quan ấy. Phạm Tiến Duật từng là thành viên của đoàn 559 vận tải chiến đấu ở Trường Sơn nên chất lính. gia đình : Những chiếc xe từ trong bom rơi Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. Hình ảnh "những cánh chim sa.

lạc quan. Hai câu cuối âm điệu đối chọi lại. hình ảnh đậm nét. đã trải nghiệm. lạc quan. cảm hứng và suy tưởng vừa bay bổng vừa sâu sắc để hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của những chiến sĩ vận tải Trường Sơn. kiên cường.. vì cuộc chiến đấu giành độc lập. trôi chảy. kết đọng ở "trái tim" gan góc. chiến thắng không phải là vũ khí. Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây. gốc rễ anh hùng của mỗi người cầm lái tích tụ. mà nhạc điệu hình ảnh rất đẹp.. Khổ thơ cuối cùng vẫn giọng thơ mộc mạc. "con mắt của thơ". ta rất giàu dũng khí Sống chẳng cúi đầu. Thiếu phương tiện vật chất nhưng những chiến sĩ vận tải Đoàn 559 vẫn hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ. thống nhất cho cả nước. không mui. bài thơ đã khắc hoạ. thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Chỉ cần trong xe có một trái tim. chất lính của bài thơ bắt nguồn từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam thời chống Mỹ mà chính nhà thơ đã sống. toả sáng vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trong bài thơ. không đèn. nêu cao phẩm chất con người Việt Nam anh hùng như Tố Hữu đã ca ngợi : Thiếu tất cả. công cụ mà là con người giàu ý chí. Lòng yêu nước là một động lực tạo cho họ ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam. Hai câu đầu dồn dập những mất mát khó khăn do quân thù gieo xuống. toả sáng khổ thơ.. đánh bại giặc Mỹ và tay sai để thống nhất Tổ quốc : Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe. hăm hở hướng ra tiền tuyến lớn với tình cảm thiêng liêng "vì miền Nam". anh hùng. do đường trường gây ra : xe không kính. Aån sau ý nghĩa câu thơ "chỉ cần trong xe có một trái tim" là chân lý của thời đại chúng ta :sức mạnh quyết định. Chói ngời. đầy chông gai bom đạn. sự linh hoạt của nhạc điệu. sự sáng tạo của hình ảnh chi tiết. thùng xe bị xước . rất thơ. tôn vính vẻ đẹp phẩm giá con người. bất ngờ thú vị. quyết thắng. Hai dòng thơ ngắt làm bốn khúc "không có kính/ rồi xe không có đèn / Không có mui xe / thùng xe có xước" như bốn chặng gập ghềnh. Đoàn xe đã chiến thắng. cả bài thơ là hình ảnh "trong xe có một trái tim" . vượt lên bom đạn.Chất giọng trẻ. ta lại hoá anh hùng Sức nhân nghĩa mạnh hơn cường bạo "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Lửa đèn. khúc khuỷu. Nhớ. có lòng yêu nước sâu sắc. Có thể cả bài thơ hay nhất là câu cuối. làm bật lên chủ đề. hoà nhập với cảm hứng lãng mạn cách mạng và âm hưởng . Cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe.. Bốn dòng thơ dựng hai hình ảnh đối lập đầy kịch tính. Điệp ngữ "không có" nhắc lại ba lần như nhân lên những thử thách khốc liệt. trẻ trung sôi nổi.dũng cảm. chứa chan tình yêu nước này. chết vẫn ung dung Giặc muốn ta nô lệ.. Từ sự giản dị của ngôn từ. giàu tình đồng chí đồng đội.

sử thi hào hùng của văn học Việt Nam trong ba mươi năm chống xâm lược 1945 .1975. .

một tiền đề nữa. Chỉ cần điểm sơ qua những tín hiệu từng được hồn thơ từ cổ chí kim nắm bắt trong những thi ảnh không thôi. bao đời nay luôn có sự đua ganh giữa hồn thơ với hồn tạo vật. cũng khó đủ giấy mực rồi. 2010 11:34 Mùa thu quả nhiên là mùa nhạy cảm bậc nhất trong năm. Tuy nhiên. Con người cùng Tạo vật thảy đều nhạy cảm. những tín hiệu mơ hồ nhất từ những giao chuyển âm thầm trong vạn vật. Gọn nhẹ hơn. Cho nên.Sang thu" của Hữu Thỉnh wwwkimson | 19 December. Mà cùng Hữu Thỉnh. cái thời điểm mà sự nhạy cảm của hồn tạo vật luôn thách thức với sự nhạy cảm của hồn người vẫn là thời khắc giao mùa chớm thu. Chả thế mà. nghĩa là không tái hiện lại một truyền thống. tôi sẽ không nấn ná làm cái việc rút tỉa những thi ảnh và thi tứ tiêu biểu về thời điểm nhạy cảm ấy của thơ ca các thời. chắc cũng không xuể. chỉ điểm qua những thi tứ nổi bật dành cho nhịp chuyển mùa thôi. Sang thu Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi Thu. 1977 . Các kênh cảm giác và cả tâm cảm nữa của mỗi hồn thơ dường như đều được huy động tối đa để nắm bắt những làn sóng.. bước ngay..

Kể từ nay. đấy thay đổi tinh vi. Nhưng về ý tứ ? Xem chừng ý khổ này cứ "dính" vào khổ kia. Trong khi đó. Hình thái tổ chức của Sang thu đâu dễ nhận diện. Về cảnh vật.... với các lớp cảnh càng ngày càng đi vào chiều sâu. chẳng dáng nét thu về. cảnh trong tình. và kết lại ở khổ ba với vẻ trầm ngâm(. từ thấp đến cao. Đọc kĩ hơn thì thấy rằng: cùng viết về thiên nhiên lúc giao mùa. thì hình sắc thu sang. từ góc nhìn vườn ngõ : Bỗng nhận ra hương ổi /Phả vào trong gió se /Sương chùng chình qua ngõ /Hình như thu đã về. thử đi vào cấu trúc của thi phẩm. đến cả những miền chưa từng có mùa thu nữa. sương chùng chình.. với tầm nhìn rộng xa vào bầu trời mặt đất : Sông được lúc dềnh dàng / Chim bắt đầu vội vã/Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu. Cùng với cảnh. Sự đan xen các mạch này là một khía cạnh phức tạp không thể thiếu của cấu trúc.. sấm bớt bất ngờ. ngay cả "Sách giáo viên" hướng dẫn người dạy khai thác và soạn giảng chừng như cũng " bí" trong việc phân định . cả người khờ khạo nhất cũng phải thấy rằng : thơ thiên nhiên không đơn thuần chỉ có cảnh. sẽ được những tâm hồn ấy mang tới bao nẻo thu. nó vừa giành được một chỗ xứng đáng trong chương trình Văn và Tiếng Việt của nhà trường. Đến nỗi. đồng hành với mạch cảnh sắc trên đây. là đến niềm say sưa ở khổ hai (. khổ ba lại nghiêng về những biến đổi bên trong các hiện tượng thiên nhiên và tạo vật : Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa/Sấm cũng bớt bất ngờ/Trên hàng cây đứng tuổi. Từ cấu trúc . ai chẳng thấy chính tác giả đã tự chia bài thơ thành ba khổ khúc chiết. Sau một thoáng ngỡ ngàng ở khổ một (. còn ý thơ thì vốn thiếu rành mạch. Cụ thể là mạch cảm nghĩ trước mùa thu.Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu). Trước tiên. từ hẹp đến rộng. Hình như thu đã về). Thì quanh đi quẩn lại vẫn là thế : hương ổi. Tình trong cảnh. nắng vẫn còn. Cho nên. Hay việc chia thành ba khổ thế chỉ hoàn toàn do cảm tính lúc viết của thi sĩ.. Như vậy. Về bố cục. Ý đâu có khác gì nhau. gió se. dù đậm hay nhạt.... . chim vội vã. 1. dù kín hay lộ.. bao giờ cũng là tình. mưa đã vơi. từ ngoài vào trong. Khổ hai lại nghiêng về những cảnh sắc trời mây sông nước đang chuyển mình sang thu. nhưng mỗi khổ thơ vẫn nghiêng về một ý. ba khổ thơ đã được liên kết thành một chỉnh thể nhuần nhị nhờ vào một trật tự khá tự nhiên : từ gần đến xa. chả chịu rành mạch gì cả. khổ một nghiêng về những tín hiệu mách bảo sự hiện diện đây đó của mùa thu... Một trật tự hợp lí tự nhiên bao giờ cũng là điều sinh tử để một sản phẩm nghệ thuật hiện ra như một sinh thể ! Nhưng. Sấm cũng bớt bất ngờ / trên hàng cây đứng tuổi).Tôi mừng cho Hữu Thỉnh và bài thơ. hàng cây đứng tuổi. hương ổi của thi phẩm sẽ phả vào tâm hồn của nhiều thế hệ học trò. đây đổi thay tinh tế. là tâm tư của thi sĩ. vô tổ chức ? Không hẳn. sông dềnh dàng.

qua phân tích trên đây cũng đủ thấy rằng : một tiếng thơ dù bình dị hồn nhiên thế nào đi nữa. 2. khổ ba : suy ngẫm.vẫn còn bao nhiêu nắng. Nhịp mạnh bao gồm những động thái. tiêu trưởng kia lại đan dệt trong nhau khá nhuần nhuyễn tạo nên cái bản giao hưởng gợi cảm của đất trời thu. bề ngoài.. Toàn cảnh thu trong bước chuyển mùa. Có thể nôm na hoá qua sơ đồ sau : Thế đấy. là các cấp độ của mạch nghĩ. nhanh. Chúng đan bện với nhau khiến cấu trúc nghệ thuật càng tinh vi phức tạp.. thi phẩm là sự đồng hành và hoá thân vào nhau của ba mạch nội dung vừa rõ nét vừa sống động. Mạch cảm và mạch nghĩ bao giờ cũng song hành và chuyển hoá sang nhau trong cùng một dòng tâm tư ... mưa vơi dần. một trong những nét đặc sắc của bài Sang thu là có hai hệ thống tín hiệu báo mùa có vẻ phản trái nhau. từ khổ một đến khổ ba. không đơn tuyến. chậm. thần thái của cảnh thu thường hiện lên qua vẻ tiêu sơ. Có thể xem đó là nét phức điệu trong cảm nhận ngoại giới của hồn thơ Hữu Thỉnh. có vẻ "dính". đâu phải là thiếu rành mạch. Khổ đầu : bất giác. đa phần các thi sĩ nghiêng về vẻ biến suy một chiều của cảnh. nhưng bề sâu.. Trái lại là đằng khác ấy chứ ! Rõ ràng. ít. Vì thế. Lúc bất giác nhận ra hương ổi "phả" vào trong gió se. thật thú vị mà cũng thật hiển nhiên là hai nhịp mạnh . Chính lúc sông "dềnh dàng" là lúc chim "vội vã". Luôn thấy được thế quân bình ngay giữa những biến thiên thì ít bất ngờ chao . Chẳng phải thế sao ? Chẳng phải bao mạch sống đang cần mẫn chuyển lưu trong lòng tạo vật làm nên cõi sống trường cửu này vốn vẫn tương sinh tương khắc như vậy sao ? Và chẳng phải những vận động trái chiều mà cùng hướng vẫn thường đem đến cho sự sống thế quân bình ngay trong lòng mỗi nhịp biến thiên hay sao ? Cho nên.suy. Tạm đặt tên là nhịp mạnh và nhịp nhẹ.. đã hiện ra không chỉ có biến thiên. vẫn là một kiến trúc ngôn từ với một cấu trúc thật tinh vi. Tương ứng với những cung bậc của mạch cảm.) : sương chùng chình.. mà đây đó còn cả thế quân bình. . Tôi cho rằng. Nhịp nhẹ thì nghiêng về âm tính (êm..) : hương ổi phả chim vội vã . cấu trúc của thi phẩm này. nhiều. khổ hai : tri giác. Khi nắng "còn" cũng là khi mưa "vơi". đến điệu tâm hồn Cảm nhận tạo vật lúc sang thu. Cảm nhận của Hữu Thỉnh khác. tiếng thơ khá tinh tế của một thi sĩ đương thời : Mướp tàn sen cũng đi tu / Lá tre đã thả một mùa heo may / Con sông không ốm mà gầy / Mắt em chưa tối đã đầy hoàng hôn. Rõ ràng. Nó chính là hiện tượng trái chiều mà cùng hướng ta vẫn thường thấy trong mỗi cuộc đổi thay. sông dềnh dàng.Không chỉ có thế. song cả hai đều thuộc về thần thái của mùa thu.. nhờ lối cảm ấy.. Đừng nghĩ thi sĩ cố ý đặt bày hai mạch tương phản nhằm chơi trò lạ hoá.nhẹ với hệ thống hưng . thì cũng là lúc bắt gặp sương "chùng chình" qua ngõ. sắc thái dương tính (mạnh. Ví như bài Thu cảm.

câu thơ bỗng có "cú pháp dính". nào sương chùng chình qua ngõ. Nó rõ nhất ở khổ ba : Vẫn còn bao nhiêu nắng /Đã vơi dần cơn mưa /Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. tức là đã giảm .đảo. mưa "vơi dần" rõ là giảm . có chậm có nhanh. bớt (-thêm) bảo rằng thi sĩ đang suy xét. mấy chữ "bớt bất ngờ" như một nút buộc. Đám mây thực thế mà ảo thế ! Cái cách "vắt nửa mình" kia sao mà thi vị ! Có thật chăng một đám mây vốn của mùa hè đang mải mê lấn sân sang mùa thu ? Có mà không có. Nhịp luân chuyển ấy dường như đã nhập vào mấy chữ tưởng rất không đâu mà lại thần . Trong cuộc đời cũng thế. thật mà không thật. làm định dạng cái vốn mơ hồ. hay cây bớt bị bất ngờ (cây thôi e sấm)? Có lẽ là cả hai. Nhờ lối viết nén. Một cú đảo phách ngoạn mục. đúc kết.. Cả ba nghiêng về chiều giảm. Nào những hương ổi phả vào trong gió se. thi ảnh nào cũng tài hoa. vơi (-đầy). say sưa tri giác như khổ hai. nhưng xem chừng. Thế mà thi ảnh lại mới. sẽ thấy rằng đến đây. ở thi phẩm này. Nhưng. đã ra chiều trầm ngâm với suy ngẫm rồi. Và. sấm "bớt bất ngờ" càng giảm. Điều này khỏi bàn thêm. xem ra. Lớp từ mang sắc thái đong đếm ở đây mách với ta điều đó. Mà ấn tượng nhất hẳn phải là cảnh tượng Có đám mây mùa hạ/Vắt nửa mình sang thu. Chẳng thế mà các chi tiết gợi cảm của thi phẩm đã cuốn hút nhiều người yêu thơ. Chiêm nghiệm điều gì ? Về một lẽ đời trong hai chiều biến đổi trái nhau. cái vế sau mới là chốt hạ. Làm xác định cái không xác định. chiêm nghiệm. giấu cương sau nhu này : Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi ? Nói đến câu kết kia. Cứ y như giữa mùa thu và mùa hè vẫn có một lằn ranh làm bằng sợi dây vô hình giăng ra giữa thinh không. rồi thì sông được lúc dềnh dàng. khiến cái vô hình thành hữu hình. là lối viết đâu có gì lạ về thi pháp. Ba câu trên : nắng "vẫn còn". * Sang thu là bài thơ tinh tế. không thể không thêm vài lời về cách lập tứ dẫn tới kết. Có thể nói. hình sắc lại gợi. thậm chí được nhu hoá. Những hiện tượng riêng lẻ thì gồm cả hai hệ thống tín hiệu trái chiều. Hệ thống các từ còn (-hết).. một chiều tăng kín đáo : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. khiến đám mây yêu kiều và đỏng đảnh kia có thể vắt nửa mình qua đó mà khoe sắc phô duyên vậy ! Mà đâu chỉ trong quan sát. đây là lối kết theo kiểu "đảo phách". lời thơ súc tích hẳn nhờ các làn nghĩa giao nhập ràng néo nhau : sấm bớt gây bất ngờ (sấm đã e cây). Hữu Thỉnh còn tỏ ra tinh hơn nữa trong sự đồng điệu với nhịp chuyển mùa. Trong thiên nhiên đã vậy. Bởi đảo mà cứ như không. Để ý một chút. tôi ngờ rằng cảm quan quân bình về đời sống đã ngấm ngầm xui thi sĩ tìm đến cái kết điềm tĩnh trước ba động. Nhờ ngữ pháp ấy mà cái ý cương kia liền được giấu kín nhẹm. là cây đã trưởng thành. khi câu ba nối vào câu kết. Nhưng cái nhịp luân chuyển chung chi phối vạn vật thì bao giờ cũng khẩn trương và mau lẹ. tâm thế thi sĩ không còn ngỡ ngàng bất giác như khổ một. thì chiều giảm đột ngột thành chiều tăng. mà lòng đã nặng hơn. Ấy là sự từng trải tăng lên.

phim mới động. Nó khiến bài thơ như một bức tranh thiên nhiên. mà hiển lộ nhất là ở phép đối ngẫu được dùng khá nhuyễn : Sông được lúc dềnh dàngChim bắt đầu vội vã . Tôi muốn nói đến điều khác : ý tưởng bao trùm. thì mới vỡ lẽ: ồ. Nó mới là nét tinh vi thuộc về đại cục. Nó đâu chỉ nói cây. Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa". mà xem ra lại khó thấy : Đường thi. Nhân hoá cây là bề nổi. Đọc Hữu Thỉnh. Người đọc cũng dễ say với những nét tài hoa trong việc sử dụng nhuần nhuyễn yếu tố cổ điển của thi sĩ. Đôi khi quá chú mục vào cái tinh tế trong tiểu tiết có thể quên sự tinh vi trong đại cục. ra là phép đối ! Thế là nhuyễn. Sự mẫn cảm của tâm hồn thi sĩ đã được dịp phô diễn qua những thi ảnh giàu mỹ cảm trong việc nắm bắt bao vận động. đó vẫn là những tinh tế tiểu tiết và dễ viết. Mấy chữ ấy đi với nhau thành cặp. Hai lớp nghĩa sau mới thật là thứ hương ổi riêng mà Hữu Thỉnh phả vào trong thi đề này. ít ai để ý đến nghệ thuật tổ chức. Ai cũng có thể thấy những ẩn ý nào đó thấp thoáng sau lối viết ẩn dụ trong các thi ảnh rải rác ngay từ đầu sương chùng chình. Còn có một chất khác. anh không chỉ có chiêu này. thi phẩm nhỏ đã mang thi tứ lớn. tâm trí ta bị trôi theo lời thơ bình đạm. tinh thần của thế hệ mình. luôn cặp kè. Một thi tứ đa tầng khiến hình tượng thơ thành đa nghĩa. những hàm ý kín đáo kia toát lên trước hết từ nghĩa bóng đây đó của các thi ảnh. Có lẽ như những thước phim về cảnh vật thiên nhiên thì phải hơn. Vẫn còn bao nhiêu nắng-Đã vơi dần cơn mưa. Lớp nghĩa thứ nhất dễ thấy. hô ứng và tiếp ứng nhau làm hiển thị cái nhịp luân chuyển trong tạo vật vốn mải mê mà vô hình. Sang thu cũng mới là thơ tạo vật. chưa đủ tạo hẳn ra một lớp nghĩa khác cho văn bản. Tất nhiên. Tranh thì tĩnh.. chuyển động. Nhờ đó. là tinh chứ sao ! Tuy nhiên. nếu chỉ thế thôi. Đồng thời. Chữ "đứng tuổi" bật sáng. giấu người vào cây là bề sâu.tình này: Sông được lúc dềnh dàng/Chim bắt đầu vội vã .. Ý tưởng Sang thu được gói kín vào thi tứ. Nhưng. chim vội vã v. Nhưng nếu chỉ có thế thì ý nghĩa của chúng còn lờ mờ. mà còn nói người. chưa xa gì hơn một lối nói sinh động về sự vật. trong cách kiệm lời.v. đời sống sang thu và đời người sang thu. Vì nó ở bề nổi của văn bản thơ. Có lẽ khi đọc các cặp ấy. biến động âm thầm và sâu kín của thiên nhiên. Sao lại cặp kè ? Thì một trong những chiêu rất Hữu Thỉnh chẳng phải là chế tác thi liệu dân gian bằng thi pháp Đường ư ? Cố nhiên. sông dềnh dàng. Không. Lớp nghĩa kia chỉ thực sự bật hầm khi hình ảnh cuối cùng đột hiện : Sấm cũng bớt bất ngờ / Trên hàng cây đứng tuổi. cái súc tích Đường thi kết hợp với chất hồn nhiên thơ trẻ cứ loáng thoáng đâu đó trong cách nhìn tạo vật. Sang thu đa nghĩa. phát động một lớp nghĩa khác cho bài thơ. có một chất rất dễ nhận : dân gian. vì ít nhất. Hữu Thỉnh chưa đem đến cái gì mới hơn so với các tiếng thơ thuộc thi đề thu của những người đi trước. cũng chưa phổ được vào đó hơi thở của thời mình. . có sự chất chồng và giao thoa của ba lớp nghĩa : trời đất sang thu. Ở Sang Thu. chỉ lúc chợt ngoái lại.

tuy đã sang thu. Nhưng. thông điệp nghệ thuật của một tác phẩm không chỉ cất lên từ những gì thuộc nội bộ văn bản. Mùa thu còn tàng ẩn cả những quân bình tự tại nữa. giờ vào thu đã tự cho phép mình được dềnh dàng. Cảm thụ nghệ thuật. chỉ bó hẹp trong văn bản không thôi. nó còn muốn nói tới đối tượng sống tuỳ thời. hàng cây trẻ hồi nào giờ đã đứng tuổi. ý ngầm của kẻ viết vừa khó phát lộ vừa khó gói ghém. thì từ khổ thứ hai đã bảng lảng cái bóng đời. Cũng như thế. Nếu ở khổ đầu. tự dưng chúng ta thấy các hình ảnh đó đây nhấp nháy lên những nghĩa khác : nghĩa thế sự. được xả hơi chăng ? Chả phải vô cớ mà thi sĩ đem chữ "được lúc" gắn với cái thói "dềnh dàng" ấy của sông. Không có nó. Mùa thu đâu chỉ có biến thiên. cuộc sống vừa qua khỏi thời chiến đầy khốc liệt đang chuyển sang thời bình êm ả. bao tủi sầu yếu đuối.Tự dưng. Thì ra. Sang thu đã lẳng lặng thành thơ cuộc đời ! Chu Văn Sơn . cái lớp nghĩa thế sự bảng lảng này còn tỏ hơn nữa. mọi suy cảm trên sẽ thành võ đoán. Sự từng trải đã giúp cây trưởng thành. mùa thu đâu chỉ có chuyện tiêu sơ. lớp nghĩa thời sự vốn khuất mình không thể phát sáng được. "Dềnh dàng" đâu chỉ nói về nét riêng của dòng chảy đã chậm hơn khi con sông vào thu. "Chùng chình" còn dễ ưa. nhưng lòng vẫn còn bao nhiêu nắng. Hèn chi. Nghĩa là. Trong thực tế. cùng diễn tả nhịp vận động chầm chậm. ở nhiều lần in cũng ghi rõ như vậy. mà còn vang lên cả từ tương quan giữa văn bản với những thứ bên ngoài vốn thiết thân với nó nữa. đời sống cũng vừa sang thu. chúng ta thấy từ mạch hình ảnh thiên nhiên rải khắp bài thơ bỗng bừng dậy một lớp nghĩa khác gắn với con người và cuộc đời. Ví như hoàn cảnh sáng tác . Bước sang thu. Có thể thấy rõ hơn nữa. Bấy giờ. Chim bắt đầu vội vã có phải chỉ đơn thuần nói về các loài chim lúc sang thu đang gấp gáp bay đi lánh rét không thôi ? Xem ra. mọi cú giáng của cuộc đời : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. Mùa thu còn là chuyện trưởng thành. Điều này ngẫu nhiên chăng ? vô nghĩa chăng ? Không hẳn. căn cứ quan trọng nhất là văn bản. Tác giả cho biết thời điểm viết Sang thu là mùa thu 1977. Một cái kết quá là khôn ngoan. Không có chữ "đứng tuổi" cứ như lạc hệ thống này. xu thời nào đó nữa ấy chứ ? Đến khổ thứ ba. Đặc biệt từ khổ hai trở đi. nhưng Sương chùng chình qua ngõ thật khác với Sông được lúc dềnh dàng. Đây là lúc trong lòng đời có bao trăn trở xao động. dễ làm nghèo nghệ thuật. Dường như nó còn ngầm tỏ thái độ về cái điệu sống của những đối tượng nào đó hồi mùa hạ hăng hái xông pha là thế. khi nhìn trong tương quan khác. thơ còn nặng về tạo vật. Nhìn bài thơ trong tương quan với thời điểm ấy. đủ vững trãi đối đầu với mọi ba động. Chẳng phải đó là những nét độc đáo mà Hữu Thỉnh đã đem đến cho một thi đề tưởng đã quá ư quen thuộc hay sao ? Từ thơ tạo vật. Tôi ngờ rằng đây là khổ thơ mà anh chàng thi sĩ cũng vừa trải qua một mùa hè bỏng rát đang kín đáo nói về thế hệ mình và chính mình ? Vâng. bao cơn mưa thở than nay cũng đã vơi dần. "dềnh dàng" đã khó ưa. Đồng thời.

.. Không hề có một từ định tính để miêu tả thế giới thu. Nói về đề tài mùa thu. cái độc đáo riêng của một hồn thơ sâu lắng. Có gió. Nhưng hương ổi "thơm" như thế nào thì thi sĩ hoàn toàn không miêu tả.. khi nắng trời đã nhuộm đỏ lá bàng. nhạy cảm khi mùa thu tới. liễu.. cái tứ kết buộc hệ thống hình ảnh trong bài cũng chỉ gói gọn trong chút "chớm" mỏng manh đó. Đó không phải là chính thu. Ngay từ tiêu đề. sắc nước. Có hương ổi. Chỉ đến khi bắt đầu cầm bút ngồi trước mặt giấy. cánh chim.. Làn sương giăng phủ ngõ thôn chẳng được đặc tả ở mức độ (mù mịt) hay màu sắc (trắng mờ). Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương. Đây mùa thu tới (Xuân Diệu).. Mùa thu dường như luôn luôn nấp sẵn trong ngòi bút của chúng ta. "Sang thu" của Hữu Thỉnh xuất hiện khi trước nó đã có rất nhiều bài thơ nổi tiếng đông tây kim cổ: Thu hứng (Đỗ Phủ). khi bầu trời xanh ngắt lơ lửng những tầng cao. hơn là gợi một cảm giác.Hữu Thỉnh hầu như khơi gợi cảm giác về mùa trong trạng thái mơ hồ của tạo vật. nhất là những ngòi bút thơ: hễ động bút là mùa thu cứ chực đổ ùa ra trên mặt giấy. mùi hương vừa đặc trưng cho mùa vừa đặc trưng cho làng thôn ngõ xóm... Truyền thống thơ thường kiến trúc ngôi nhà thu bằng những chất liệu quen thuộc như cúc. "se". tác giả đã tự xác định một thời điểm miêu tả: thời điểm giao mùa. Se gợi một động thái. ngô đồng hay màu trời. "chùng chình" "dềnh dàng" "bắt đầu vội vã" "vắt . Thành công nổi bật nhất của bài cũng là ở một hệ thống những động từ miêu tả rất giàu cảm giác: "phả". tôi mới thấy đề tài này thật là khó" Tại sao lại có nghịch lí trong kinh nghiệm của người sáng tác như vậy? Có lẽ vì nàng thu "thơ mộng muôn thủa" luôn có xu hướng "rủ rê" ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. hay khi cái rét mùa đông đã lẩn vào trong gió...Phân tích bài thơ Sang Thu của Hữu Thỉnh (Bài tham khảo) Có lẽ vì nàng thu "thơ mộng muôn thủa" luôn có xu hướng "rủ rê" ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. Đặc biệt ở góc độ miêu tả tạo vật. một tác giả đã nhận định: "Đề tài "Mùa Thu" bao giờ cũng có vẻ là dễ viết.. Chùm thơ thu (Nguyễn Khuyến). Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương. Nhưng nó vẫn có cái hay.. Tưởng như với đề tài thơ mộng muôn thuở này có thể dễ dàng chắp bút. nhưng gió se chứ không phải là gió lạnh. Dòng sông. không phải cuối thu.Sang thu nghĩa là mới chớm thu thôi. hay đám mây cũng không tô điểm cho phong cảnh thu bằng những gam màu đặc trưng của nó.

những cánh chim vội vã tìm về phương ấm áp. tôi chợt thấy nhớ rất nhiều những năm tháng đã qua của mình.. mưa. bởi ngõ xóm thân quen ấy. Hàng cây như đã quá quen với nắng lửa mưa giông. hay là những vang động của cuộc đời? Trong tương quan ấy. không còn dữ dội nữa. suy nghĩ tự nhiên của tác giả. Sang thu. mà ở cả chút ngỡ ngàng bâng khuâng của lòng người: "Bỗng nhận ra hương ổi"... "đứng tuổi" khiến ý nghĩa của câu thơ không dừng lại ở nét nghĩa tả thực mà có chiều sâu hơn.. gió se lại bởi chút lạnh xa xăm. Nét độc đáo nhất của bài . được gọi một cách hình ảnh là "hàng cây đứng tuổi". khi đọc bài thơ này. hệ thống động từ toàn bài còn đặc sắc ở chỗ. Chính các từ "bất ngờ".nửa mình"... Đám mây như tấm khoăn voan của người thiếu nữ. "Chùng chình" trước hết gợi tả chính xác những làn sương như ngưng lại và nhẹ nhàng tỏa lan ngõ xóm. nó không chỉ miêu tả chính xác trạng thái của tạo vật mà còn thổi vào tạo vật những cảm giác rất người.. sấm chớp. Nắng. Tinh tế và sống động sao một buổi sáng chớm thu. cường độ. hàng cây tượng trưng cho con người từng trải mà bao dâu bể biến đổi không còn đáng ngạc nhiên. Cảnh như sâu lắng hơn bởi liên tưởng suy tư về mùa thu đời người. Song thời điểm chớm thu không phải chỉ hiển hiện ở những dấu hiệu mơ hồ trong trạng thái biến chuyển của cảnh vật. Miền kí ức tuổi thơ được đánh thức bởi mùi hương ổi. "Hình như thu đã về". duyên dáng nối hai mùa là một liên tưởng thực sự độc đáo. Song trên hết. tất cả các dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn nhưng đã giảm dần mức độ. Không hiểu sao. sương như người khách ngập ngừng nơi đầu ngõ. Và có lẽ cũng nhờ giọng điệu êm nhẹ dễ cuốn người đọc vào dòng cảm xúc.. Tiếp tục thể hiện những dấu hiệu mùa thu rõ rệt hơn nhưng ý nghĩa của khổ cuối không chỉ dừng lại ở đó: Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi Con người cảm thấy biết bao biểu hiện khác biệt của thời tiết khi mùa thu tới: mưa và sấm thưa dần... Dòng nước thu vốn trong trẻo và sâu hút làm người ta khó mà thấy rõ được sự chuyển động nó nên cảm giác sông lững lờ trôi cũng rất hiện thực.

Câu truyện xoay quanh tình huống gặp mặt của bé Thu và ông Sáu. Câu chuyện khắc họa hình ảnh một nhân vật bé Thu đầy ấn tượng và tinh tế.Khi ông Sáu đi kháng chiên chống Pháp.Dòng sông thơ ấu(1985).Vẫn viết về một đề tài dường như đã cũ song truyện mang nhiều giá trị nhân văn sâu sắc. Nguyễn Quáng Sáng sinh năm 1933 ở An Giang. cho dù bị đánh..một người chiến sỹ dù ở sa trường vẫn luôn cặm cụi làm một chiếc lược để tặng đứa con gái bé bỏng. vĩnh cửu dù trong chiến tranh.lúc đó bé .mộc mạc nhưng sâu sắc.Các tác phẩm chính là Chiếc lược ngà(1968).Có lẽ vì sinh ra va hoạt động chủ yếu ở miền Nam nên các tác phẩm của ông hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ. Song nếu đọc truyện ngắn "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng. hơn thế lại ca ngợi tình cha con thiêng liêng.Có người nhận xét rằng "tình phụ tử không thể ấm áp và đẹp đẽ như tình mẫu tử".là những hình ảnh chính xác và giàu sức gợi tạo nên một bức tranh thu giản dị mà sống động.xoay quanh những câu truyện đời thường nhưng ý nghĩa.Sau năm 1945.Mùa gió chướng(1975).một cô bé nhỏ mới tám tuổi nhưng nhất quyết không nhận người khác làm bố.xây dựng tình huống bất ngờ và ca ngợi tình cha con thắm thiết.Chiếc lược ngà viết năm 1966 tại chiến trường Nam Bộ chống Mỹ .Nguyễn Quang Sáng có lỗi viết văn giản dị. ông tập kết ra Bắc và bắt đầu viết vănn. khẳng định nghệ thuật miêu tả tâm lý đặc sắc.Thời kỳ kháng chiến chống Pháp ông tham gia bộ đội và hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. có thể bạn sẽ phải có cái nhìn khác mới mẻ và chân thực hơn. Đây xứng đáng là một bài thơ thu hay trong thế giới thi ca! Phân tích tình cảm cha con trong truyện "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng wwwkimson | 19 December.là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Quang Sáng. 2010 11:48 Có câu nói: "Những tình cảm đẹp sẽ là động lực mạnh mẽ trong tâm hồn mỗi người!"Vì lòng yêu cha... Vì lòng thương con.

ông Sáu dùng mọi cách để gần gũi nhưng con bé vẫn không chịu gọi một tiếng "Ba".là một cô bé giàu cá tính.Song bé Thu lại không chịu nhận cha vì vết thẹo trên má làm ông Sáu không giống như bức ảnh chụp chung với má.mạng mẽ.Trước khi nhắm mắt ông chỉ kịp trao cây lược cho người bạn nhờ chuyển lại cho con mình.dù là bị mẹ quơ đũa dọa đánh.Khi ông có dịp thăm nhà thì con gái đã lên 8 tuổi. ông cặm cụi làm chiếc lược cho con gái.song thiết nghĩ chính thái độ ngang ngạnh đó lại là biểu hiện vô cùng đẹp đẽ mà đứa con dành cho người cha yêu quý.Trong ba ngày ở nhà.không phải bởi thời gian đã làm ông Sáu già đi mà do cái thẹo trên má.dù là bị ông Sáu đánh.cuối cùng khi ông Sáu tức giận đánh một cái thì bỏ về nhà bà ngoại.nhưng điều khiến người đọc phải bất ngờ là sự nhất quán trong tính cách của bé.có lập trường bền chặt. Đến khi bé Thu nhận ra cha mình thì cũng là khi ông Sáu phải ra đi.Những ngày chiến đầu trong rứng.Bé Thu gây ấn tượng cho người đọc về một cô bé dường như lì lợm đến ghê gớm.biết đến cái cay xè của mùi thuốc súng và sự khắc nghiệt của cuộc sống người chiến sỹ.Thu chưa đầy một tuổi.bé Thu luôn bộc lộ một con người kiên quyết .Có người cho rằng tác giả đã xây dựng tính cách bé Thu hơi "thái quá".Vết thẹo.Cái cảm giác đó không đơn thuần là sự bướng bỉnh của một cô bé đỏng đảnh.khi mà trong mọi tình huống em cũng nhất quyết không gọi tiếng "Ba" . Ông hứa sẽ mang về tặng con một cái lược ngà.dù là bị dồn vào thế bí.Nguyễn Quang Sáng đã khéo léo xây dựng nhiều tình huống thử thách cá tính của bé Thu.Người cha ấy không giống ông Sáu.thẳng thắn .bộc lộ phần nào đó tính cách cứng cỏi ngoan .hay khi hất cái trứng mà ông Sáu gắp cho xuống. Hình ảnh bé Thu là nhân vật trọng tâm của câu chuyện.Có lẽ trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh.nó còn quá bé để có thể biết đến sự khốc liệt của bom lửa đạn.nhiễu sách mà là sự kiên định. được tác giả khắc họa hết sức tinh tế và nhạy bén. dấu tích của chiến tranh đã hằn sâu làm biến dạng khuôn mặt ông Sáu.Trong tâm trí bé Thu chỉ có duy nhất hình ảnh của một người cha "chụp chung trong bức ảnh với má".Chiếc lược làm xong chưa kịp trao cho con gái thì ông đã hi sinh.bướng bỉnh và gan góc.

cô bé ấy có bướng bỉnh.dẫu có vẻ như cứng rắn và mạnh mẽ trước tuổi.săn sóc.già giặn hơn tuổi. ngây thơ của con trẻ.khua thật to.Khi đến ngày ông Sáu phải .Có một sự đối lập trong những hành động của bé Thu.Có lẽ co bé muốn mọi người trong nhà biết bé sắp đi .cưng nựng nó.với tất cả nét hồn nhiên.dù người cha ấy chưa hề bồng bế nó.gan góc.giờ trỗi dậy.bé Thu "cầm đũa gắp lại cái trứng cá để vào chén rồi lặng lẽ đứng dậy.Nó gần như chưa có chú ấn tượng nào về cha.vào cái giây phút mà cha con phải tạm biệt nhau.chăm lo cho nó.Dù như thế thì bé Thu vẫn chỉ là một đứa trẻ 8 tuổi hồn nhiên.Có cảm giác bé Thu sợ ông Sáu sẽ nhìn thấy những giot nước mắt trong chính tâm tư của mình? Hay bé Thu dường như lờ mờ nhận ra mình có lỗi?Lại một loạt hành động tiếp theo "Xuống bến nó nhảy xuống xuồng.nhưng ở khía cạnh khác cô bé vẫn mong được yêu quý vỗ về.mở lòi tói.dỗ dành.tình cảm có sâu sắc.mạnh mẽ thế nào thì Thu vẫn chỉ là một đứa trẻ mới 8 tuổi.mẹ nó sang dỗ dành mấy nó cũng không chịu về".cường của cô gian liên giải phóng sau này.Song khi "Chiều đó.Nhà văn tỏ ra rất am hiểu tâm lý của trẻ thơ và diễn tả rất sinh động với tấm lòng yêu mến và trân trọng một cách đẹp đẽ.cố làm cho dây lòi tói khua rổn rang .Tình cha con trong Thu giữ gìn bấy lâu nay.làm cho nó một món đồ chơi kể từ khi nó bắt đầu làm quen với cuộc sống.Khi bị ba đánh.mà chạy ra vỗ về.Có ai ngờ một cô bé không được gặp cha từ năm 1 tuổi vẫn luôn vun đắp một tình yêu bền bỉ và mãnh liệt với cha mình.có vòng tay rộng để ôm nó vào lòng ra sao?Tình cảm mãnh liệt trong nó ngăn không cho nó nhận một người đàn ông lại kia làm bố.song chắc không ít lần nó đã tự tưởng tượng hình ảnh người cha nó tài giỏi nhường nào.rồi lấy dầm bơi qua sông".thật khó để phủ nhận bé Thu là đứa bé giàu tính cảm.khi mà bé Thu nhận ra cha.cao lớn nhường nào.thiêng liêng những tâm tư tình cảm vô giá ấy.bước ra khỏi mâm".giữa một bên là sự cứng cỏi.cái cá tính cố chấp một cách trẻ con của bé Thu được tác giả khắc họa vừa gần gũi.vừa tinh tế. Nhưng xét cho cùng. Ở đoạn cuối.Bé Thu bỏ đi lúc bữa cơm nhưng lại có ý tạo tiếng động gây sự chú ý.

đi.vì nhiệm vụ cao cả mà phải tham gia chiến đấu..Bên cạnh hình ảnh bé Thu.truyện ngắn "Chiếc lược ngà" ca ngợi tình cha con sâu đậm mà đẹp đẽ.Và rồi đến khi cha nó chào nó trước khi đi.Lần đầu tiên nó cảm nhận mơ hồ về niềm sung sướng của một đứa con có cha.tiếng gọi mà ba nó tha thiết được nghe một lần.Tiếng gọi ấy không chỉ khiến ba nó bật khóc mà còn mang một giá trị thiêng liêng với nó."Nó hôn ba nó cùng khắp.Sau ngần ấy năm tham gia kháng chiến.làm nó cứ đứng nguyên ở ấy.Bao nhiêu mơ ước.có cá tính mạnh mẽ.nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó".". ông Sáu vẫn luôn nung nấu khao khát cháy bỏng là được gặp con và nghe con gọi một tiếng cha.kiên quyết nhưng vẫn hồn nhiên.bướng bỉnh của con bé làm tổn thương những tình cảm da diết nhất trong lòng ông.nó bỗng kêu hét lên "Ba. Không chỉ khắc họa thành công nhân vật bé Thu.Nó không nén nổi tình cảm như trước đây nữa.dường như nó thèm khát cái sự ấm áp của tình cảm gia đình .Tiếng kêu "Ba" từ sâu thẳm trái tim bé Thu.hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa".tiếng gọi mà ba nó đã dùng mọi cách để ép nó gọi trong mấy ngày qua.hôn cổ.Nó hôn tóc.hình ảnh ông Sáu được giới thiệu là người lính chiến tranh..nhưng lại có cái gì chặn ngang cổ họng nó.quê hương. Ông Sáu càng muốn gần gũi thì dường như sự lạnh lùng."lúc đứng ở góc nhà.nó cũng muốn chạy lại và ôm hôn cha nó lắm chứ.Nhưng cái ngày gặp lại con thì lại nảy sinh một nỗi éo le là bé Thu không nhận cha.khao khát như muốn vỡ òa ra tring một tiếng gọi cha.Còn gì đau đớn hơn một người cha giàu lòng thương con mà bị chính đứa con gái ấy từ .Ngòi bút nhà văn khẳng định một nhân vật giảu tình cảm.bỏ lại gia đình.hôn vai."vừa kêu vừa chạy xô đến nhanh như một con sóc. ước mong cha nó sẽ nhận ra sự có mặt của nó.Dường như bé Thu đã lớn lên trong đầu óc non nớt của nó.tiếng gọi ba gần gũi lần đầu tiên trong đời nó như thể nó là đứa trẻ mới bi bô tập nói.con bé cứng cỏi mạnh mẽ ngày hôm nào lại "như thể bị bỏ rơi".lúc đứng tựa cửa và cứ nìn mọi người vây quanh ba nó.và đặc biệt ông là người yêu con tha thiết.có cảm giác mọi tình cảm trong lòng bé Thu bỗng trào dâng.ngây thơ:Nhân vật bé Thu.

chứa chất trong lòng.dù chỉ sáng tạo môt tác phẩm duy nhất trong đời.".Những giọt nước mắt hiếm hoi của một cuộc đời từng trải nhiều gian khổ vất vả.có lúc lại thương xót. đó là mong ước đơn sơ của con gái bé bỏng trong giây pút cha con từ biệt.quen với cái chết cận kề lại là người vô cùng yếu mền trước con gái mình."Ông gò lưng khắc từng nét.nỗi nhớ con dồn cả vào công việc làm chiếc lược ấy..có lúc dồn nén.chỉ có một ánh mắt với niềm ước nguyện cháy bỏng mong người bạn của mình sẽ là người thực hiện nốt lời hứa duy nhất của mình với con..tiếng gọi muộn màng nhưng lại có ý nghĩa đẹp đẽ! Ai có thể ngờ được một người lính dạn dày nơi chiến trường. Ông Sáu hi sinh mà không kịp trăn trối điều gì." Ông thận trọng tỉ."Một loạt hành động cảm động như khẳng định tình cha con sâu đậm."Khi ông Sáu tùm được khúc ngà sung sướng như trẻ con vớ được quà".Tình cảm ông Sáu dành cho bé Thu trở nên thiêng liêng.song lại rơi khi lần đầu tiên ông cảm nhận được sự ấm áp của cha con thực sự!("Không ghìm được xúc động và không muôn cho con thấy mình khóc.Cuối truyện có chi tiết ông Sáu đưa tay vào túi.có lúc lại "mừng mừng tủi tủi" cho ông Sáu khi mà bé Thu cất tiếng gọi "Ba".Nhưng đối với người cha thì đó là mơ ước đầu tiên và duy nhất.Lòng yêu con đã biến một người chiến sỹ trở thành một nghệ nhân sáng tạo tài tình. Ông nâng niu chiếc lược như nâng niu đứa con bé nhỏ của mình.cho nên nó cứ thôi thúc trong lòng ông..chẳng làm gì được cho con.Có lẽ ông biết rằng mình cũng không đúng vì suốt bảy năm trời chẳng thể về thăm con."Ba về!Ba mua cho con một cây lược nghe ba!".anh Sáu một tày ôm con.móc lấy cây lược.Tình cảm của ông sáu khiến người ta phải thấy ấm lòng .thì có thể ông Sáu và bé Thu sẽ có nhiều thời gian vui vẻ.chối.Có thể coi việc bé Thu hất cái trứng ra khỏi chén như một ngòi nổ làm bùng lên những tình cảm mà bấy lâu nay ông dồn nén.giá gì bé Thu nhận ra ông Sáu sớm hơn.hạnh phúc.cao cả và mãnh liệt hơn biết bao khi ông tự tay làm chiếc lược ngà cho con.nên nhân những ngày này ông muốn bù đắp cho con phần nào.đưa cho bác Ba và nhìn một hồi lâu.một tay rút khăn lau nước mắt").Tất cả tình yêu.Nhưng sợ rằng một câu truyện như vậy sẽ chẳng thể gây được cảm động cho người đọc với những xúc cảm khác nhau.Giá gì không có cái bi kịch ấy..mỉ.

và cảm động sâu sắc.chiến tranh khiến cuộc gặp gỡ của hai cha con vô cùng éo le.lòng căm thù đã biến Thu trở thành một cô giao liên dũng cảm. Đó thật sự là tội ác.Câu chuyện như một lời tố cáo chiến tranh phi nghĩa gây đổ máu vô ích.bất khuất.là tổ ấm gia đình không còn trọn vẹn.mạnh mẽ.làm nhà nhà li tán.rồi một lần nữa chiến tranh lại khắc nghiệt để ông Sáu chưa kịp trao chiếc lược ngà đến tận tay cho con mà đã phải hi sinh trên chiến trường.nha văn mới có . "Chiếc lược ngà" như một câu chuyện cổ tích hiện đại.(Người đọc có thể bắt gặp tình huống này một lần nữa ở truyện "Chuyện người con gái Nam Xương").Có thể chiếc lược ấy chưa chải đượcmais tóc của bé Thu nhưng lại gỡ rối được tâm trạng của ông.và là minh chứng chứng kiến lòng yêu thương vô bờ bến của ông Sáu với con.và cũng là bài ca đẹp tồn tại vĩnh cửu của tình cha con. đơn sơ mà đằm thắm. Người mất.là hiện hữu của tình cha con bất tử giữa ông Sáu và bé Thu.thành công trong việc xây dựng hình thượng bé Thu và gửi gắm thông điệp đẹp về tình cha con.sống hết minh vì cách mạng kháng chiến của quê hương.Song cái chúng ta thấy lại không có sự bi lụy ma là sức mạnh.gạch nối giữa cái mất mát và sự tồn tại.những đau thương mất mát mà chiến tranh tàn bạo đã gây ra.Nhân vật ông Ba-người kể chuyện hay chính là nhà văn Nguyễn Quang Sáng.người người xa nhau vĩnh viễn.chiến tranh làm khuôn mặt ông Sáu biến dạng. đã gắn bó với cuộc đời con người mất mát xích lại gần nhau để cung đứng lên hát tiếp bài ca chiến thắng.bị thử thác. Chiếc lược ngà xuất hiện đánh dấu một kết cấu vòng tròn cho câu chuyện.nhân hậu mà rất kiên cường.Chiếc lược ngà là kết tinh tình phụ tử mộc mạc.kỳ diệu.Chính chiến tranh đã làm cho con người phải xa nhau.chiếc lược ngà vẫn còn ở đây.người còn nhưng kỷ vật duy nhất. (Nhan đề của chuyện cũng là "Chiếc lược ngà"!) Cái mất mát lớn nhất mà thiên truyện ngắn đề cập là những người đã khuất.phải là người từng trải.gắn bó máu thịt với những con người giàu tình yêu.

nhưng từ chính trong gian khổ khốc liệt.bất ngờ. .và cả tình của một người cha với con gái.hơn nữa lại có giọng văn dung di.có những thứ tình cảm đẹp vẫn nảy nở: tình đồng chí.tình cảm gia đình.cảm động! Chiến tranh là hiện thực đau xót của nhân loại.sáng tạo nhiều hình tượng với các chi tiết sinh động.Truyện ngắn "Chiếc lược ngà" là một áng văn bất hủ ca ngợi tình phụ tử giản dị mà thiêng liêng.thể nhập hồn được vào các nhân vật.như nhân vật bé Thu.với những con người giàu tình cảm và đẹp đẽ.tình yêu đôi lứa.

yêu làng sâu sắc của ông. là chợt nhớ đến câu nói bất hủ của nhà văn I-li-a Ê-ren-bua : "lòng yêu nhà. ông Hai suốt ngày ra trụ sở để nghe ngóng tin tức về làng chợ Dầu và ông nghe tin cả làng ông Việt gian theo tây. mỗi khi khoe về làng là ông khoe về những ngày khởi nghĩa dồn dập. Và từ đó. tưởng như không thể thở được. Đây là một tác phẩm độc đáo viết về lòng yêu nước của ông Hai Tu.Phân tích "Làng" . ông nói một cách say sưa mà không cần biết người nghe có chú ý hay không. Ông còn tự hào về cái sinh phần của tổng đốc làng ông. yêu làng xóm. trời mưa đi từ đầu làng đến cuối xóm bùn không dính đến gót chân.. Kể về làng chợ Dầu. sân đình. và nâng cao lên đó chính là : tình yêu đất nước. Ông cảm thấy đâu đớn và nhục nhã vì cái làng chợ Dầu yêu quý của mình theo giặc. giếng nướ. vinh dự vì làng mình có cái nét độc đáo. Ông khoe làng ông có nhà ngói san sát. Tới đây. Quả thật. ông buộc phải xa làng..Kim Lân wwwkimson | 19 December.. ông đã có sáng tác đăng báo từ trước cách mạng tháng 8. Chính cái tình huống ngặt nghèo khi giặc tràn vào làng. Cổ ông lão " nghẹn ắng lại. có bề dày lịch sử. những hào. không có lấy một hạt thóc đất. Ông nguyền rủa bọn theo Tây : "chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã . Có thể tình yêu nước của họ bắt nguồn từ cái đơn giản. lòng yêu nước này xuất phát từ tình yêu quê hương. những buổi tập quân sự có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập.. yêu đến nỗi đi đâu ông cũng khoe về cái làng của ông.. sầm uất. Là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Ông tự hào. 2010 11:49 Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài sinh năm 1921. Ông còn khoe cả những hố . cuộc đời và số phận của ông Hai thật sự gắn bó với buồn vui của làng. những ụ. nó đã giúp ông hiểu dc sự sai lầm của mình. đường trong làng lát toàn bằng đá xanh. nhỏ : cây đa. Vì vậy. nên lúc tản cư. gắn bó với nông dân và nông thôn. da mặt tê rân rân" ông lão lặng đi. Tình cảm và ý nghĩa này đã trở thành phổ biến ở mỗi người nông dân VN ta trong những ngày đầu chống Pháp. ông khổ tâm day dứt khôn nguôi. Truyện ngắn "Làng" là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân đc viết trong thời kì đầu của cuộc khánh chiến chống Pháp (1948). Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt nông thôn và cảnh ngộ của người nông dân. Ông Hai yêu cái làng chợ Dầu của ông thật đậm đà. yêu miền quê trở nên lòng yêu TQ ". Nhưng khi cách mạng thành công. Là nhà văn am hiểu sâu sắc. lắm công trình không để đâu hết. Tháng 5 ngày 10 phơi rơm và thóc tốt thượng hạng. Những ngày ở làng Thắng. tha thiết . quê ở Hà Bắc. Xa làng ông mang theo tất cả nỗi niền thương nhớ. Tự hào và yêu nơi " chôn rau cắt rốn" của mình trở thành một truyền thống và tâm lý chung của mọi người nông dân thời bấy giờ.

trong những ngày này. theo Đảng khánh chiến đến . Diễn biến tâm lý của ông Hai từ đầu đến cuối truyện thật cảm đông. cái tin. Thay vào đó là nỗi vui mừng. Đọc tác phẩm giúp ta hình dung được một thời kỳ chống Pháp sôi nổi của nhân dân. ông không dám đi đâu hết. chất phác. Họ đã đặt tình yêu đất nước lên trên tình yêu làng. Trò chuyện với cn như là để thanh minh cho làng mình. Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả". điều làm ta cảm động đó là ông không hề tiếc hay buồn khi ngôi nhà của ông bị đốt . kể cả những từ dung sai: "bác Thứ đâu rồi. Quả thật. Cái lòng của bố con ông là thế đấy "chết thì chết có bao giờ dám đơn sai" Thế rồi. Mọi đau khổ. tiêu biểu cho tầng lớp nông dân VN sau cách mạng tháng 8. Truyện "Làng" là một tác phẩm khá thành công khi viết về lòng yêu nước. ông thấy tuyệt đường sinh sống và ông nảy ra ý định: "hay là quay về làng ?" nhưng rồi ý nghĩ đó lập tức bị ông lão phản đối ngay vì : " làng thì yêu thật. tình yêu đất nước được ông Hai đặt lên trên hết.thế này". suốt ngày ru rú trong nhà và nghe ngóng tin tức. bên cạnh đó Kim Lân còn thành công trong việc miêu tả tâm lý nhân vật. Kim Lân rất thành công trong việc khắc họa hình ảnh của ông Hai. Ông đi từ đầu làng đến cuối xóm khoe cái tin làng mình không theo giặc. nỗi niềm và tâm sự của ông được thể hiện trong những lời trò chuyện của ông với đứa con út. nhất là tâm lí của người dân thì Kim Lân mới diễn tả đúng tâm trang nhân vật như vậy. đơn giản. Cũng chình từ lúc ấy. Kim Lân thật thành công trong nghệ thuật xây xựng truyện. Nhưng trong đó. Khi biết làng bị tình nghi theo giặc thì ông đâu khổ. ông ấy cho biết. nhất là nghệ thật sử dụng ngôn ngữ nhân vật mà ông Hai là điển hình. Xây dựng được những chi tiết ấy.. khoe cả cái việc nhà ông bị đốt cháy một cách sung sướng. một tin khác lại đính chính rằng làng ông không theo giặc. hả hê: " bác Thứ đâu rồi ! Bác Thứ làm gì đấy ? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. nhưng làng theo Tây thì phải thù. Lời nói của ông hai đúng là lời nói của những người nông dân thời bấy giờ.. miêu tả sự phát triển tâm lý nhân vật như vậy. cái tin làng chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. và khi biết làng mình không theo giặc... thậm chí còn khoe cả tin nhà mình bị đố cháy một cách vui sướng. Hai tình cảm này đã dẫn đến cuộc xung đột nội tâm trong lòng ông. tủi nhục. Kim Lân đã chứng tỏ được tài nghệ của mình. Kim Lân đã thể hiện được tài năng của mình qua tác phẩm này. buồn tủi đã được rũ sạch. Niềm vui vì làng không theo giặc đã choáng hết tâm trí ông. Láo ! Láo hết ! toàn là sai sự mục đích cả" Qua lời khoe củ ông Hai. Đốt nhẵn ! ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính. Yêu làng đến nỗi đi đâu cũng khoe về làng. làng và nước bay giờ đã trở thành đối địch. Những nỗi lo âu. hả hê. một trong những người dân bấy giờ. Đến khi mụ chủ nhà đến báo không cho gia đình ông ở nữa. ông sung sướng. yêu làng của người nông dân VN thời kháng chiến chống Pháp. Ông hỏi con: "con ủng hộ ai?" Thằng bá giơ tay mạnh bạo và rành rọt: " Ùng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm"." Có thể nói với ông Hai. Phải thực sự am hiểu sâu sắc về con người. xấu hổ tan biến. sung sướng. mọi người một lòng theo Bác.

" đã xong chưa? . những đường hầm bí mật. một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai.Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948. vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông. cả súng cũng vậy. Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước. Phải xa làng. . Đi kháng chiến.. không tin không được. tích tiểu thành đại. đắp ụ. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới. Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc. ông sững sờ. Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm. Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc..Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần. in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có. có lẽ vì vẫy mà cuộc chiến của ta đã dành được thắng lợi vẻ vang.. ngày mai dăm khẩu. đi theo kháng chiến. tình cảm quê hương đất nước. Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc. Tình yêu làng. thông qua một con người cụ thể. từ lâu đã am hiểu người nông dân. hôm nay dăm khẩu. nhân vật ông Hai. 2. .Khi mới nghe tin xấu đó. tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người. . ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm. c. tình yêu nước. Dàn ý: Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 . ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương. rồi ông lo "cái chòi gác. b. tinh thần kháng chiến. Nhưng khi người ta kể rành rọt. Ông gắn bó với thôn quê... ông xấu hổ lảng ra về.1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc. B. trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc. chỗ này giết một tí. . người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. thích bìh luận.Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến.Được cách mạng giải phóng. . xẻ hào. làm gì mà thằng Tây không bước sớm". Sau cách mạng.Ông hay khoe làng. chỗ kia giết một tí. ông nhớ quá cái khong khí "đào đường.". đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê. ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân ... Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi.Thân bài 1. chưa tin.cùng. náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi "Cứ thế. khuân đá. a. ở ông Hai tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng..

. vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu. ngôn ngữ đối thoại và độc thoại. gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ. + Qua đó.Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng. . lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân. Ông luôn hoảng hốt giật mình. Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt. Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà. bố của nó. d. Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động. Ông giận những người ở lại làng.Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông.Ba bốn ngày sau. . Nhưng tình yêu nước.Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí "Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước" của người nông dân lao động bình thường. lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: "Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù". Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông". . .. chân thành. ta thấy rõ: Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc). Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp.Về đến nhà. . . ông không dám ra ngoài. Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ. 3. Nhân vạt ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân. đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ. Nhưng cái tâm lí "không có lửa làm sao có khói". càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó "cũng bị người ta rẻ rúng. hành vi. . bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai.Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá. nhìn thấy các con.Tình cảm đối với kháng chiến. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. hắt hủi". với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này: + Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: "ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!" nữa là ông. Tình cảm đó sâu nặng. + Ông mong "Anh em đồng chí biết cho bố con ông.Miêu tả rất cụ thể. gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ. Khi cái tin kia được cải chính. nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ "đổ đốn" ra thế. Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc. ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu.

Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật.C. . chân thành mà vô cùng sâu nặng. cao quý trong những người nông dân lao động bình thường.Kết bài: . Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý.Qua nhân vật ông Hai. người đọc thấm thía tình yêu làng. yêu nước rất mộc mạc. .

khi xa chồng và khi chồng trở về. chúng ta chỉ biết Vũ nương là người “có tư dung tốt đẹp”. khi chia tay. Có lẽ đó cũng là bi kịch của muôn đời. quát giàu ý nghĩa nhân văn. Con người đẹp. Tính cách nhân vật được thể hiện qua hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ với chồng và mẹ chồng. nàng nuôi con thơ. Vũ nương tỏ bày không được thì tự vẫn. Trong con mắt của người mẹ chồng ấy. nhưng căn bản là người chồng mù quáng đa nghi. sống chết. tính cách của Vũ nương được thể hiện ở lời đưa tiễn. Ngòi bút Nguyễn Dữ tỏ ra già dặn. Ðến khi người chồng đi chinh chiến trở về nghi oan cho nàng. vùa góp phần làm rõ những yếu tố ở phần thực. khi hành động. đẹp một cách có văn hoá. thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu trở về quê cũ. thiết tha với hạnh phúc này phải chết . Trong những ngày xa chồng. Những kẻ như thế xưa nay tùng gây ra bao nỗi . thân mẫu của Trịnh Trang Công trong Ðông Chu liệt quốc đã gây ra bao chuyện phiền phức dẫn đến cảnh đầu rơi máu chảy chỉ vì bà ghét Trịnh Trang Công khi xưa sinh ngược khiến bà phải đau đớn. Ngày xưa. Người con gái Nam Xương Vũ Thị Thiết là nhân vật chính xuyên suốt hai phần của tác phẩm. giống giòng tươi tốt… xanh kia quyết chẳng phụ con. khi thông qua lời nói. nhà văn đã để cho chính người mẹ chồng ấy nhận xét về tấm lòng hiếu thảo của nàng trước khi bà cụ qua đời: “Sau này trời giúp người lành ban cho phúc trạch. thiếu sáng suốt. Phía sau tấn bi kịch của Vũ nương có một cuộc sống chinh chiến. Nguyễn Dữ không chú trọng việc miêu tả hình thức. Tù cách nói đến nội dung của những câu nói hiện lên một Vũ nương dịu dàng. Dường như Nguyễn Dữ đã tập trung những nét đẹp điển hình của người phụ nữ Việt Nam vào hình tượng Vũ nương. đó là chỗ éo le phức tạp trong đời sống tâm hồn con người. Ðó là một tâm hồn đẹp. Chuyện tình duyên. Phần truyền kì vùa làm cho câu chuyện thêm lung linh hư ảo. gây cách biệt. Khi chung sống với nhau. Chỗ kì bút của Nguyễn Dữ là đã bắt nắm được một tình huống éo le như vậy. vấn đề mà Chuyện người con gái Nam Xương đặt ra là vấn đề có tính khái. Chuyện đời vẫn thế. loạn li. Bằng mối liên hệ giữa hai phần. nhân vật bộc lộ cá tính của mình. khi thái độ hình ảnh Vũ nương hiện lên là một người trong trắng thuỷ chung. tự trọng. Phần thực là cơ sở để xây dựng phần truyền kì (phần thực. thiết tha với hạnh phúc. Nét riêng của Chuyện người con gái Nam Xương là hai yếu tố thực và truyền kì không đan xen vào nhau mà kết cấu thành hai phần. thương chồng và giàu lòng vị tha. Mối quan hệ đó diễn ra ở những thời điểm khác nhau. một tâm hồn có văn hoá. Vấn đề này biết bao nhà văn xưa nay tùng trăn trở. không hư danh. nàng là “người lành”. cũng như con đã chẳng nỡ phụ mẹ”. Ở tùng thời điểm ấy.Phan tich nhan vat Vu Nuong trong chuyen nguoi con gai Nam Xuong Bài 1 : Nghĩ chuyện trên đời kì lạ thật. Bởi vậy. hiếu thảo nhưng cũng là một người phụ nữ khí khái. tôi muốn nói thực của văn học).Ðó chính là bi kịch về số phận con người. Khi thì cách xủ thế. chăm sóc mẹ chồng như mẹ đẻ của mình. Trong văn chương nước ta cũng như thế giới không hiếm những câu chuyện xen những yếu tố truyền kì. hay ghen nên “nàng giữ gìn khuôn phép” cho gia đình hoà thuận. biết Trương Sinh là người có tính đa nghi. số phận của con người lại được định đoạt tù một câu chuyện đùa về một cái bóng. Nàng nghĩ đến những khó nhọc. gian nguy của người chồng trước rồi mới nhận ra sự lẻ loi của mình. chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên”. nhà văn làm nổi bật tính cách nhân vật và thể hiện chủ đề của tác phẩm. Nàng nói với chồng: “Lang quân đi chuyến này. giàu lòng vị tha. Mối quan hệ với Trương Sinh diễn ra trên bốn thời điểm: khi chồng ở nhà. chứ không sống “chịu tiếng nhuốc nhơ”. Khi tiễn chồng đi tòng quân.

Bởi chính nàng đã lấy cái bóng làm cái hình. hay ghen nên “nàng giữ gìn khuôn phép” cho gia đình hoà thuận. chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên”. không hư danh. nàng nuôi con thơ. trở về sống trong Quy động của Nam Hải Long Vương… đó là cuộc sống đời đời. biết Trương Sinh là người có tính đa nghi. Cũng qua đó. hay ghen nên “nàng giữ gìn khuôn phép” cho gia đình hoà thuận. Mối quan hệ đó diễn ra ở những thời điểm khác nhau. khi chia tay. Nàng nghĩ đến những khó nhọc. lấy cái hư làm cái thật. -->cơ sự cũng vì vậy mà nảy sinh. Phần truyền kì trong câu chuyện là chuyện Vũ nương không chết. Vũ nương không sống được ở cõi đời thì sẽ sống vĩnh hằng ở cõi tiên. Trích: Tính cách nhân vật được thể hiện qua hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ với chồng và mẹ chồng. thiết tha với hạnh phúc. Nàng quả thật là một con người thiện căn. Bài 2 : Người con gái Nam Xương Vũ Thị Thiết có "tư dung tốt đẹp". Chồng nàng :Trương Sinh là người có tính đa nghi. Nhà văn đã tạo ra một cuộc gặp gỡ kì thú giữa Phan Lang . Nhà văn đã đi sâu khai thác những vẻ đẹp và nỗi đau khổ xót xa phức tạp của tâm hồn con người. Khi chung sống với nhau. một tâm hồn có văn hoá. Ở tùng thời điểm ấy. đổ vỡ trong đời.. thương chồng và giàu lòng vị tha. gian nguy của người chồng trước rồi mới nhận ra sự lẻ loi của mình. Nguyễn Dữ muốn khẳng định một chân lí nghệ thuật: cái Ðẹp là bất tủ. nhà văn đã để cho chính người mẹ chồng ấy nhận xét về tấm lòng hiếu thảo của nàng trước khi bà cụ qua đời: “Sau này trời giúp .Tính cách nhân vật được thể hiện qua hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ với chồng và mẹ chồng. Trong những ngày xa chồng. Tất nhiên trong tấn bi kịch này có phần của Vũ nương. Nàng nói với chồng: “Lang quân đi chuyến này. nhà văn khẳng định một chân lí nghệ thuật phảng phất như trong các truyện cổ dân gian… Thánh Gióng về trời. Nàng vùa là nạn nhân nhưng cũng là tác nhân.oan trái. thiết tha gắn bó với quê hương đời sống mà không được sống.. An Dương Vương xuống biển… kì lạ mà cũng rất thực. Khi tiễn chồng đi tòng quân. nhất là người phụ nữ trong xã hội đương thời như Vũ nương. tính cách của Vũ nương được thể hiện ở lời đưa tiễn.với Vũ Nương nơi động tiên. Mối quan hệ với Trương Sinh diễn ra trên bốn thời điểm: khi chồng ở nhà. Ngòi bút Nguyễn Dữ tỏ ra già dặn.một người dương thế . nhân vật bộc lộ cá tính của mình. Tính cách của nàng và bi kịch như được tô đậm khơi sâu một lần nữa. Cho nên vấn đề tưởng chùng rất riêng ấy lại là vấn đề điển hình của cuộc sống. Nói cho cùng. thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu trở về quê cũ. Nhưng dụng ý của nhà văn đưa phần truyền kì vào câu chuyện không chỉ có thế. Tù cách nói đến nội dung của những câu nói hiện lên một Vũ nương dịu dàng. Âu đó cũng là một bài học sâu sắc của muôn đời vậy. Cuộc gặp gỡ ấy đã làm sáng tỏ thêm những phẩm chất của Vũ nương. Khi Phan Lang nhắc đến chuyện nhà của tổ tiên thì Vũ nương “ứa nước mắt khóc”. vì nàng là cái Ðẹp. hiện thực của câu chuyện là hiện thực về tấm lòng của nhà văn trước những vấn đề của cuộc sống. chăm sóc mẹ chồng như mẹ đẻ của mình. khi xa chồng và khi chồng trở về. Ðó cũng là một thứ sản phẩm hằng có trong xã hội con người.

Bởi chính nàng đã lấy cái bóng làm cái hình. của ý thức (consciousness) và tiềm thức (subconsciousness).xã hội. Nguyễn Dữ muốn khẳng định một chân lí nghệ thuật: cái Ðẹp là bất tủ. Phía sau tấn bi kịch của Vũ nương có một cuộc sống chinh chiến. Trong con mắt của người mẹ chồng ấy. khi thông qua lời nói. Phần truyền kì trong câu chuyện là chuyện Vũ nương không chết. Bởi vậy. lấy cái hư làm cái thật.một người dương thế . đồng thời khẳng định giá trị thực thể của chủ nhân. Khi Phan Lang nhắc đến chuyện nhà của tổ tiên thì Vũ nương “ứa nước mắt khóc”. Nhà văn đã tạo ra một cuộc gặp gỡ kì thú giữa Phan Lang . loạn li. Con người đẹp. đẹp một cách có văn hoá. nàng là “người lành”. chứ không sống “chịu tiếng nhuốc nhơ”. Tất nhiên trong tấn bi kịch này có phần của Vũ nương. Cho nên vấn đề tưởng chùng rất riêng ấy lại là vấn đề điển hình của cuộc sống. Vũ nương không sống được ở cõi đời thì sẽ sống vĩnh hằng ở cõi tiên. Dường như Nguyễn Dữ đã tập trung những nét đẹp điển hình của người phụ nữ Việt Nam vào hình tượng Vũ nương. vấn đề mà Chuyện người con gái Nam Xương đặt ra là vấn đề có tính khái. thiếu sáng suốt. Nhưng dụng ý của nhà văn đưa phần truyền kì vào câu chuyện không chỉ có thế. khi thái độ hình ảnh Vũ nương hiện lên là một người trong trắng thuỷ chung. Những kẻ như thế xưa nay tùng gây ra bao nỗi oan trái. như trong truyện cổ của Hans Christian Andersen (1805-1875) hay trong William Wilson[4] của Edgar Allan Poe (1809-1849). gây cách biệt. thiết tha gắn bó với quê hương đời sống mà không được sống. cùng những quan hệ biện chứng giữa ý thức và tiềm thức của nó. Vấn đề này biết bao nhà văn xưa nay tùng trăn trở. vì nàng là cái Ðẹp.người lành ban cho phúc trạch. Nàng quả thật là một con người thiện căn. thiết tha với hạnh phúc này phải chết . cũng như con đã chẳng nỡ phụ mẹ”." Cái bóng có lúc lại trở thành một phân thân nổi loạn chống lại chủ nhân của nó. Ðó là một tâm hồn đẹp. Chiếc bóng sinh động của con người âm thầm song hành với chủ nhân của nó qua những hành vi mang giá trị đạo đức . giàu lòng vị tha. Chính do có thể được dùng như hình tượng văn học để thể hiện con người với tư cách một thực-thể-đạo-đức. Khi thì cách xủ thế. khi hành động. được quy định bởi những thiết chế đạo đức nhất định. . Tính cách của nàng và bi kịch như được tô đậm khơi sâu một lần nữa. Ðó cũng là một thứ sản phẩm hằng có trong xã hội con người. Vũ nương tỏ bày không được thì tự vẫn. Cuộc gặp gỡ ấy đã làm sáng tỏ thêm những phẩm chất của Vũ nương. quát giàu ý nghĩa nhân văn. Ðến khi người chồng đi chinh chiến trở về nghi oan cho nàng. trở về sống trong Quy động của Nam Hải Long Vương… đó là cuộc sống đời đời. đổ vỡ trong đời. hiếu thảo nhưng cũng là một người phụ nữ khí khái. tự trọng. -Cái bóng: Phân thân và phản thân "Con người là một thực thể xã hội sống.Ðó chính là bi kịch về số phận con người. thậm chí đối lập nhau. Có lẽ đó cũng là bi kịch của muôn đời. Âu đó cũng là một bài học sâu sắc của muôn đời vậy.với Vũ Nương nơi động tiên. Nhân cách tiềm thức được hình tượng hóa thành phân thân. nhưng căn bản là người chồng mù quáng đa nghi. giống giòng tươi tốt… xanh kia quyết chẳng phụ con. Trong mỗi con người đều tồn tại nhiều “tiếng nói” khác nhau. Nàng vùa là nạn nhân nhưng cũng là tác nhân.

và hình bóng người chồng không lúc nào xa rời nàng-->Liệu như thế có phải là đáng trách khi gián tiếp gây ra cơn ghen của Trương Sinh(đêy là suy nghĩ của mình. chàng Trương gạn hỏi nguồn cơn. mẹ già sớm quy tiên. thác nguyện chỉ một điều: “Xin Trời xanh kia chớ phụ dâu mới. lý giải sai lầm tình huống nọ. con bèn kêu khóc chẳng khứng đi. vì người chết sẽ thôi không nói được nữa.người phát ngôn của thông tin tày trời nọ - . cùng tính cả ghen của Trương đã khiến chàng lạc lối. thời giấu lời con chẳng nói.” Dắt con ra thăm mộ mẹ là việc chàng làm trước tiên: “Hỏi mồ mẹ thửa ở đâu. “sỉ nhục nhiều phương. nàng chẳng hề muốn gieo tai họa cho ai khác. đó là cha. Nàng Vũ ở lại nhà. Chỉ có điều do hướng giải đoán không rõ. bằng dâu mới chưng chẳng phụ mẹ già vậy. lẽ ra bé Đản . “thời mẹ già đã từ nhà. người chỉ đến lúc đêm về.”[23] Chàng thụ khổ. tròn phận nàng dâu hiếu nghĩa. quy hết tội tình cho vợ. Trương nhiếc móc vợ.” "Ở cấp độ nội tâm cao hơn. mẹ hiền tần tảo.Câu chuyện về cái bóng của mình mà Vũ Nương kể cho con nàng nghe chẳng qua như thể đang tâm sự với chính mình .^^. lời trối ấy chỉ mình nàng nghe. chỉ còn là đơn tuyến. là người bị bội phản “Đến khi nghe lời con nói. với chàng Trương. ngỡ mình là nạn nhân. Đản bảo chàng chẳng giống người nó từng gọi là cha.”[25] Đến đây.nhân chứng nay sẽ là người để chàng Trương thực hiện vế sau của câu: “Đi hỏi già.[22] Trong tình huống đặc biệt này. Mẹ chồng và con trẻ là hai chứng nhân khả tín nhất cho tấm lòng son sắc của nàng. lặng thinh theo mẹ không rời: “Ngươi chỉn hay nói. Khi chàng Trương xuất ngũ trở về. thời chưng ngờ sự cuốn đay xin lửa kia rễ bám càng sâu gắn mà chẳng khả cởi vậy. cả người “đố” lẫn người “giải” đều chăm chắm vào một con người nào đấy có thực (xuất nhân): với Đản.để an ủi ngóc ngách nào đó trong tâm hồn nàng :chồng nàng đang ở một nơi nào đó . “song dõi hỏi thửa lời ấy bởi đâu chưng lại.”[18] Bé Đản . đòi thời ruồng đuổi”.cái bóng tỏ ra rất hiệu quả trong việc diễn tả những ngóc ngách tâm lý. Nhân chứng thân thiết duy nhất còn lại nay là bé Đản. con người có được cái nhìn phản thân thông qua nhãn quan đạo đức không ngừng kiến tạo và chuyển hóa từ những quan hệ trong môi trường sống và từ tha nhân . Song chửa từng đến cùng con là Đản này dắt ẵm vậy. về nhà hỏi trẻ. nhưng khi nàng Vũ “xin giãi lòng ấy.” “láng giềng chưng bảo. Chỉ âu lo với niềm bất hạnh của chính mình. Dắt con một mình đi.”[24] Trương nín lặng. mẹ Đản ngồi thời cũng ngồi. tình cảm." Trích: Biên cương bị ngoại xâm. họ hàng chưng nói. Đáng tiếc. chẳng nghe vào tai vậy. mặc cởi lo ngờ. đặc biệt là cái ghen. bằn bặt vậy.) Bởi "con tim không chỉ đơn giản là một vật chỉ biết làm theo ý ta muốn. chàng Trương phải sung binh ra miền quan ải.những người vun đắp nên các mối quan hệ nọ.”[17] Lời trối trăng của người mẹ cũng là lời chứng cho đức hạnh của nàng khi chồng đồn thú biên viễn xa xăm. Trương tri giác. kiến văn hạn hẹp.”[20] “Mẹ Đản đi thời cũng đi. Kênh giao tiếp song phương giữa hai vợ chồng bị cắt đứt.”[19] Sững sờ khi thấy Đản không nhận mình là cha. Thế nhưng. chẳng kịp thấy mặt con. chinh phụ tiết trinh. khác chẳng bằng cha thuở nọ lặng vậy.”[21] Mấy lời miêu tả thơ ngây của Đản tựa như những câu thai đố mà chàng Trương phải giải. đấy hẳn phải là gian phu. tự dằn vặt mình và làm khổ người. con trẻ đã học nói vậy.

đến số phận con người.. "Hãy quan tâm đến thân phận người phụ nữ. Và điều quan trọng hơn hết để có được hạnh phúc là phải thực sự hiểu được nhau. thái độ ghen tuông cay nghiệt và mù quáng của chàng Trương đã giết chết người vợ đoan chính đáng thương. nên tìm đến cái chết . cả thời gian dài.." (Lê Thánh Tông) -->Chiếc bóng giờ đây khiến ta hoài nghi nó có phải là một thế lực vô hình ngăn cản con người . an ủi nàng sống. Trước kia. Chứng quả đã dôi vầng nhật nguyệt.. nàng đã trắng tay.đặc biệt là người phụ nữ đến với hạnh phúc . hay Chen Cai trong Cái bóng.. tối tăm. Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ. Miếu ai như miếu vợ chàng Trương. đối thoại tưởng tượng giữa người và bóng vẫn có thể thiết lập được. Bao nhiêu công sức. Sự im lặng và khinh bạc của chàng Trương đã đẩy nàng Vũ đến cực điểm bi phẫn. tâm sức chắt chiu để vun đắp gìn giữ cái gia đình bé nhỏ đã trở nên hoàn toàn vô nghĩa. bơ vơ. tôn trọng lẫn nhau và tránh xa những ngộ nhận đáng tiếc. Chiếc bóng -tấm lòng yêu thương ->trở thành nguyên nhân của nỗi oan bi kịch. nhưng giữ hạnh phúc cho được lâu bền lại càng là một điều khó khăn hơn. "Nghi ngút đầu ghềnh toả khói hương. nhưng nàng đi đến cái chết thật bình tĩnh : tắm gội chay sạch. Thế nhưng. Không ai hỏi đến. Đản. Hãy tôn vinh hạnh phúc và đừng làm bất cứ điều gì có thể làm huỷ hoại tổn thương đến hạnh phúc đôi lứa và gia đình. nàng vò võ với một chiếc bóng. dẫu câm lặng. dựa trên cơ sở hợp nhất và phân thân: Thiếp với chàng tuy hai mà một. nhìn bóng mình thiếp tưởng dáng ai trên tường. Có được hạnh phúc đã là một điều khó khăn.. giờ như một kênh thông báo vô hiệu hóa. Và cũng như Rokujo trong Nguyên thị vật ngữ. Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng. Cung nước chi lo luỵ đến nàng. vậy nên. nhân chứng cuối cùng. Giải oan chẳng mấy lọ đàn tràng. Cái chết ấy là sự đầu hàng số phận nhưng cũng là lời tố cáo thói ghen tuông ích kỉ.. không lối thoát. . ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng . Dẫu bóng câm lặng. vũ phu của đàn ông và luật lệ phong kiến hà khắc dung túng cho sự độc ác. tắt sóng lặng câm.phải được xét hỏi “ba mặt một lời” để vãn hồi sự câu thông cần thiết giữa hai vợ chồng. sự im lặng của chồng nay đẩy nàng đến quyết định quyên sinh. Thực chất là Vũ Nương đã bị bức tử. sự hồ đồ. Qua đây bàn bạc mà chơi vậy. Đản lặng thinh như chưa từng nói ra chi tiết oan khiên nọ. nhưng vẫn là nguồn động viên. Đó là tất cả ý nghĩa mà chúng ta có thể nhận ra được từ : Chuyện người con gái Nam Xương.